Kriya Yoga: Con đường chắc chắn dẫn đến sự khai sáng!
Vô ngã
Buông bỏ không chỉ là đặt xuống những mối khổ, mà còn thả trôi cả niềm vui.
Buông không chỉ là tạm biệt những suy nghĩ tiêu cực, mà còn quên đi những suy nghĩ tích cực, biết rằng suy nghĩ không phải là ta, hay của ta.
Buông không chỉ là xả li những cảm xúc như giận, ghen, buồn, lo, mà còn tách mình ra khỏi những cảm xúc như ưa thích, vui vẻ, háo hức.
Buông không chỉ là làm hành động thiện và hạn chế hành động ác, mà còn chấm dứt hành động lúc nó hoàn thành, không mang nó theo đến giây tiếp theo nữa.
Buông không chỉ là không chấp vào hình tướng, mà còn không vướng bận vào cái vô hình tướng nữa.
Buông không chỉ là lựa chọn ở cạnh người yêu mình, hết mình trong tình yêu, mà còn nhận biết rằng dù hôm nay ta và người khớp với nhau đến mấy, đồng điệu với nhau ra sao, giây tiếp theo sự trật nhịp vẫn có thể như thường. Buông là lựa chọn đi cùng nhau, miễn là tại đúng thời điểm đó ta còn mong muốn như thế, bằng cả con tim, khối óc, cơ thể, toàn bộ bản thể mình.
Buông không chỉ là biết rằng những tên gọi, chức vị, vị trí trong xã hội, sự công nhận hay tiền bạc là vô thường, mà mê đắm vào vô thường sinh khổ. Mà buông còn là dám cháy hết mình với công việc, như cây nến, biết rằng điểm kết thúc sẽ đến, nhưng không vì thế mà thoái lui, không tham gia.
Buông không chỉ là trụ vào chính mình để không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, mà còn không đồng hóa mình với nhân vật tôi. Đây không phải là tôi, hay của tôi.
Buông không phải là sự phủ định, chống lại, hay đối đầu. Từ "không phải" được tìm thấy rất nhiều trong các bài mình viết, nhưng mình không đi từ cực này qua cực bên kia, như kiểu không cái này thì nhất định là cái kia. Thực chất, tinh thần mình truyền đạt là phi nhị nguyên, không phải này cũng chẳng phải kia. Buông chỉ đơn giản là thả lỏng, không còn bám chấp, vướng bận mà thôi. Mình sẽ liên tục đặt xuống, cho đến khi rơi vào tĩnh lặng vô biên. Ngày nào mình còn viết (ngôn ngữ cũng là trong nhị nguyên), ngày đó mình sẽ vẫn còn dùng từ "không phải". :))
Buông là đặt xuống khái niệm tốt-xấu, trắng-đen, đúng-sai. Thậm chí, buông là không cảm thấy muốn điều này hơn điều kia. Đơn giản chào đón mọi điều đến-đi, sinh-diệt.
Buông không phải là thái độ thoát ly khỏi cuộc sống, ngược lại, buông là sống thực sự tại đây và bây giờ, bằng cái đầu rỗng rang của đứa trẻ, bằng trái tim tròn đầy chưa từng có vết xước.
Trải nghiệm tất cả mọi thứ, nhưng không dính mắc vào thứ gì.
Cho phép Tự nhiên được tuôn chảy, không giữ lại điều chi. Trở thành một dòng sông, chứ không là một cái bình giữ khư khư nước cũ. Sự thịnh vượng thực sự nằm ở dòng tiền tự do chảy vào và ra, chứ không phải tích trữ, tính toán. Tình yêu thực sự nằm ở tự do cho đi và nhận lại, chứ không phải "hi sinh", phụ thuộc hay mong cầu.
Quá trình trưởng thành tâm linh thực sự là một quá trình buông xả, gỡ bỏ những thứ không phải ta, hay của ta. Nhưng cái bỏ này nằm trong tâm thức, chẳng liên quan gì đến việc từ bỏ bên ngoài. Bạn có thể từ bỏ công việc, nhưng vẫn tham gia vào bộ máy. Bạn có thể bỏ người yêu, nhưng liên tục nhắc đến họ. Bạn có thể bỏ tiền bạc, địa vị, xã hội, để lên núi ẩn tu, nhưng vẫn ám ảnh về nó trong mọi lúc ngồi thiền. Thế thì cái bỏ đó là hình thức, không hơn. Ngược lại, bạn có thể buông bỏ tất cả, nhưng chẳng mất thứ gì, khi nhận ra rằng những thứ bạn đang vướng vào để định nghĩa về "Tôi là ai?", không thường hằng, và chẳng phải là bạn.
Để biết Sự thật, bản lai diện mục hằng có, chẳng còn cách nào khác ngoài việc liên tục thả đi (chứ không phải là chống đối hay phủ nhận) những gì không phải là tôi hay của tôi. Nếu bạn chưa hoàn thành bước đặt xuống, thì sự khẳng định của bạn là lệch lạc. Người ta quá dễ dàng để khẳng định "Ta là Thượng đế." (Là Phật, là Đấng Sáng tạo, là Vũ trụ,...); hoặc "Tất cả là Một." Nhưng nếu thật tâm trái tim bạn không thấy thế, bạn chỉ như những con vẹt lặp lại lời dạy của người đi trước mà thôi. Sâu bên trong bạn biết đó là giả, tự bạn còn cảm thấy nực cười.
Thế thì hãy tiếp tục buông xả, từng sát na, từng giây, từng phút. Tỉnh thức là một quá trình chán phèo như vậy đó: tham gia vào cuộc sống, trải nghiệm hết mình và buông bỏ. Thậm chí trong từng giai đoạn của "vòng lặp" trên, hãy luôn tách mình ra để quan sát. Tham gia hết mình nhưng quan sát. Trải nghiệm toàn tâm toàn ý nhưng nhận biết. Buông bỏ trong chánh niệm.
Hành trình tâm linh thực sự không hẳn là một con đường nơi đích đến là một điểm nào đó xác định, hay khi giác ngộ thì bạn trở thành bậc giác ngộ. Chính xác hơn, đây là hành trình mà đích đến nằm ngay tại nơi bạn đang đứng. Bạn đã về, và bạn đã đến. Nhưng mà, không có người giác ngộ. Khi bạn bỏ "người" đi, giác ngộ mới hiển lộ. Do đó, chẳng có ai giác ngộ ở đó để bạn tôn thờ hay ngưỡng mộ, chỉ có một Cái Không vô biên, vô tận, hiện diện trong vạn vật, trong ta, trong tất cả .
Starseed đa chiều kích - Những bậc thầy thăng lên thật sự
VÙNG ĐẤT TỨ LINH, NHÂN KIỆT
Cảnh Tượng Âm Gian Chân Thực Được Kể Lại Sau Một Giấc Mơ
Từ xưa đến nay, có rất nhiều các câu chuyện liên quan đến nhân quả báo ứng, chuyện kể về địa ngục. Tại các miếu thờ ở nhiều nơi hoặc dân gian nhiều vùng đều ghi chép lại những câu chuyện này, thậm chí vẽ lại thành những bức họa, chi tiết từng chuyện một… khiến cho người xem không khỏi ghê sợ, từ đó mà không quên giữ gìn phẩm hạnh của mình. Nhưng mà, xã hội thời thế đổi thay, đạo đức xuống dốc bại hoại, nhân tâm đều đang dần dần bị ăn mòn, ô nhiễm hàng ngày, khiến cho chính mình gieo xuống những hậu quả khủng khiếp đáng sợ, tạo thành nguyên nhân thống khổ khôn cùng trong tương lai.
Một người phụ nữ ở Hồ Bắc đã từng kể rằng bà đã tự mình trải qua một chuyến “viếng thăm” xuống âm phủ, câu chuyện được bà kể lại như sau:
Vào thời gian Nhật Bản đánh chiếm Trung Quốc, máy bay Nhật loạn tạc quê hương của tôi – tỉnh Hồ Bắc và các huyện thành xung quanh. Tôi năm đó 22 tuổi, cha mẹ dẫn anh chị em tôi, chị dâu và các cháu, chạy thẳng tới đầu cầu đứng bắt xe lửa tới Trùng Khánh. Nhưng mẹ tôi cuối cùng vì không chịu nổi những mệt mỏi, sợ hãi nên đã kiệt sức và chết trên đường đi. Cả nhà phải ly tán, tôi và chị dâu phải ẩn náu tại một vùng quê ở Kim Ngưu. Mỗi ngày tôi đều mong nhớ cha mẹ, không biết họ bây giờ đang ở nơi đâu? Do vậy, đến đêm trăng rằm, tôi hướng lên trời mà bái lạy, cầu mong, hy vọng có thể biết được chỗ của cha mẹ.
Ba ngày sau, vào một buổi chiều nắng ráo, tôi bởi vì nhớ cha mẹ, đau xót u sầu mà ngủ thiếp đi. Chợt thấy có một người xuất gia dáng vẻ trang nghiêm, tay cầm phất trần nói với tôi: “Đi thôi! Đi vào trong đó thôi!”. Vị trưởng giả xuất gia kia lại nói: “Ngươi chẳng phải là muốn nhìn thấy cha mẹ của mình sao? Ta sẽ đưa ngươi đi!”. Hơn nữa còn bảo tôi đi trước, tôi mời trưởng giả đi trước, nhưng ông cứ bảo tôi hãy đi trước, không thể từ chối, tôi đành bước đi. Chỉ thấy hai bên đường hoa cỏ đều là một màu xanh, sạnh sẽ và tươi mát. Không lâu sau trước mắt hiện ra một cái thành, cửa thành vừa rộng lại vừa cao, phải ngẩng đầu mới nhìn thấy, trên cửa sắt này có sắp thành hàng bao nhiêu là bát lớn đựng đinh sắt.
Tôi cùng với trưởng giả đi vào, ở phía sau cổng thành có một cái cửa sổ lớn trong suốt. Trưởng giả bảo tôi đứng chờ để ông đi đăng ký, tôi hỏi: “Tại sao lại phải ghi danh?”. Ông nói: “Vì ngươi còn phải đi về!”. Khi ông đăng ký thì tôi nhìn thấy một người thanh niên mặc đồ trắng vải poplin kẻ sọc màu xanh lam, áo ngắn quần dài đứng ghi sổ, vừa nhìn qua chẳng phải là người anh họ bên nhà bác tôi đây sao? Tôi vui mừng kêu lên: “Anh họ! Anh họ!”. Nhưng không hiểu sao dường như anh không nghe thấy, vô tri vô giác, coi như không có chuyện gì vậy, trưởng giả vào sổ xong, quay lại rồi dẫn tôi đi tiếp.
Đi không xa, thấy một thảo nguyên rộng lớn, đang nằm có nào là trâu, ngựa, dê, hươu, đủ các con vật loại bốn chân, nhiều không đếm hết. Ở ven đường, trâu bò đều trừng mắt nhìn tôi, khiến tôi rất sợ, không dám đi, trưởng giả dùng phất trần giương lên, chúng liền di chuyển vào bên trong. Tôi nghĩ thầm, các con vật đó đều vẫn còn sống.
Tiếp tục đi về phía trước, tôi nhìn thấy một rừng rậm lớn, trên cây có rất nhiều các loại chim với đủ các màu sắc và hoa văn xinh đẹp, dưới cây còn có rất nhiều gà, vịt, ngan, đủ các con vật loại hai chân.
Đi thêm một đoạn, nhìn thấy người chị họ của tôi thân thể trần truồng, chỗ lưng eo phủ một tấm vải trắng. Chị ngồi ở tảng đá trên mặt đất, tóc dài phủ đến thắt lưng, trước ngực hình như đang ôm một đứa bé, bộ dạng chị tôi giống như vừa mới ngủ dậy, còn chưa rửa mặt. Tôi gọi: “Chị họ! Chị họ!”, nhưng chị cũng giống như vậy, không nghe không thấy gì, cũng chẳng ngẩng đầu lên.

Tôi không chần chừ, lại đi về phía trước, trưởng giả vẫn như cũ, đi theo phía sau tôi. Đi tới một đoạn không xa, thấy một cột sắt nung cháy, bốc hơi ngùn ngụt, có một người ôm chặt trên đó, giống như là được dùng thạch cao mà dính lên đó vậy. Tôi vừa nhìn, người này chẳng phải là thiếu gia Kỳ Gia, hàng xóm của tôi đây sao? Hắn vì sao lại bị giày vò ở đây? Trưởng giả đáp: “Hắn làm hại con gái của nhà người ta (tức là dụ dỗ gian dâm với con gái nhà người ta), cho nên chịu tội báo này”. Chà! Trên đời này nhà hắn vốn là buôn bán đồ gỗ, rất giàu có, nghe nói có cả một nhà kho toàn là tiền bạc và đồ trang sức, cũng thường giúp đỡ người nghèo khó. Người thiếu gia kia học hành cũng tử tế, đối nhân xử thế cũng thoải mái cởi mở, nhưng lại không tránh được ham muốn sắc dục mà làm việc ác, vậy là chính mình phải nhận quả báo. Thật là đáng tiếc thay!
Tiếp tục nhìn về phía trước, chao ôi! Một quỷ mặt xanh đang cầm một cái xiên sắt lớn, hướng cái xiên lên một người mà đâm mà chém, thân người kia tan nát, bụng bị thủng lỗ chỗ, ruột rơi hết cả ra ngoài. Lại có quỷ dạ xoa mổ bụng, moi tim, móc mắt, dùng móc câu móc vào lưỡi, rán người trên chảo dầu, dùng cưa sắt cưa người ra làm đôi, còn đem người đến một tảng đá lớn mà mài, mài đến mức máu chảy lênh láng. Trong số đó cũng có người la hét, hoặc kêu rên rỉ, âm thanh phát ra thật đau đớn thê lương. Trước cảnh tượng này, mắt tôi không mở ra nổi, tai cũng không đành lòng nghe, cả người run lẩy bẩy. Tôi không hỏi trưởng giả, đoán biết rằng đây là những chúng sinh làm việc ác nay đang phải tiếp thụ quả báo thống khổ. Ôi! Chúng sinh! Chúng sinh à! Thật đáng buồn đáng tiếc!

Tôi quả thực không muốn xem cảnh đó nữa, vừa lúc này bên cạnh có một con đường khác, vì thế tự nhiên xoay người, rồi đi, đi trên con đường đó, theo trưởng lão chỉ dẫn, tôi đi đến một căn phòng. Ôi! Rõ ràng thấy mẹ tôi đang ngồi trên giường, em gái tôi ngồi ở bên cạnh mẹ. Tôi vô cùng vui mừng, gọi mẹ, chạy về phía mẹ, muốn chạy lại ôm bà. Nhưng mà bất lực, không thể ôm được, mà mẹ tôi cũng dường như không hay biết gì, vô tri vô giác. Trong lòng tôi rất buồn, cho rằng mẹ chỉ yêu em gái, không nhìn thấy đứa con gái này, không biết tôi hàng ngày đều mong nhớ bà.
Trưởng giả lại bảo tôi đi về phía trước, tôi đành phải miễn cưỡng mà đi thôi. Trưởng giả nói với tôi: “Hãy đi xem anh trai ngươi”. Tôi hỏi: “Anh tôi đang bị giam giữ ở kia sao?”. Trưởng giả nói: “Hắn không phạm trọng tội, chỉ là đối với người vợ bất hiếu không biết đường dạy dỗ, thiếu trách nhiệm của một người chồng”. Qua không lâu sau, chúng tôi đi đến chỗ đó, là một tòa nhà lầu. Nghĩ rằng anh trai ở trên lầu, tôi đi lên bậc thang, liền thấy anh trai ngồi trước bàn bấm bàn tính. Tôi vui mừng gọi: “Anh trai, anh trai!”. Nhưng mà cũng giống như anh họ, chị họ, mẹ và em gái tôi, anh trai tôi cũng vô tri vô giác, không thấy không nghe gì, tôi thật không thể hiểu nổi!
Trưởng giả lại bảo tôi đi tiếp, tựa hồ như đi một đoạn ngắn, cảm thấy cảnh quan đẹp phi thường, tĩnh mịch và thoáng đãng. Bản thân tôi cũng cảm thấy khoan khoái tự tại. Tới một căn phòng lớn phát ra ánh sáng màu vàng, chung quanh là cửa sổ trong suốt, chỉ thấy cha tôi đang ngồi trong đó tọa thiền. Thấy tôi tới, cha liền nói: “Con tới đây làm gì?”
Chưa kịp trả lời, trưởng giả nhìn cha tôi rồi vuốt cằm ra hiệu. Cha tôi cũng gật đầu hiểu ý. Tôi nói với cha: “Con không đi nữa!”, rồi lập tức vui mừng ngồi ngay cạnh bên phải cha. Mà cha tôi dù chưa được kể, cũng biết được những nơi tôi đã đi qua. Chỉ một lát sau, trưởng giả lại ý muốn bảo tôi rời đi, không thể làm gì tôi lại phải miễn cưỡng chạy đi.

Không lâu sau, đi đến một cái cầu, cái cầu này rộng chừng bốn, năm tấc, tôi vừa mới bước chân lên lại lùi lại vì sợ. Trưởng giả lại giương cái phất trần, nói: “Không phải sợ!”. Vì thế tôi tiếp tục bước lên, thấy rằng cầu thật chắc chắn, không bị lung lay, có thể đi về phía trước được. Vừa nhìn xuống phía dưới, chao ôi, toàn là máu loãng màu đỏ, có rất nhiều người không rõ là nam hay nữ bò lổm nhổm, mỗi người đều không mặc quần áo, lại có rắn quấn quanh người bò ngọ nguậy, tôi hỏi trưởng giả: “Xảy ra chuyện gì vậy?”. Trưởng giả đáp: “Máu ở dưới sông, đây chính là dâm dục!”. “Vậy phải làm thế nào mới thoát ra được?”, tôi hỏi. Trưởng giả nói: “Cần phải tu”. Tôi hỏi: “Tu như thế nào?”. Trưởng giả nói: “Việc ác đừng làm, làm nhiều việc thiện”. Tôi tựa hồ minh bạch “A” một tiếng.
Tiếp tục đi về phía trước, không lâu, lại nhìn xuống, ôi, màu xanh, màu xanh, là biển? là trời? Tôi ngẩng đầu nhìn lên. Trời và nước một màu, giống như cảnh vật của ngày hè vậy, bầu trời quang đãng, một màu xanh trong suốt. Đang mải ngắm nhìn, trưởng giả bỗng đẩy tôi một cái, thân thể của tôi tựa như biến thành một quả bóng cao su mà lăn, lăn xuống … khiến tôi sợ hết hồn hết vía. Choàng tỉnh mở mắt ra nhìn, thì thấy mình đang nằm trên giường, mồ hôi ướt đẫm quần áo, tim vẫn còn đang đập thình thịch. Thì ra là mơ, nhớ lại cảnh trong mơ, rõ ràng như thật.
Năm 1945, chiến tranh kháng Nhật thắng lợi, tôi trở về ngôi nhà cũ ở quê nhà, đi vào trong phòng khách, quả nhiên ở đó có 3 bài vị thờ anh họ, chị họ và anh trai tôi. Bác và chị dâu nắm tay tôi, khóc lóc kể lể về những mất mát chia ly sau chiến tranh. Tôi an ủi bác và chị dâu, đợi hai người ngưng khóc rồi hỏi anh họ tôi khi chết có phải là mặc quần áo vải poplin sọc xanh, áo cộc quần dài hay không? Bác sợ hãi vội vàng nắm tay tôi nói: “Cháu vẫn chưa chết đấy chứ, làm sao cháu biết được vậy?”. Tôi nói: “Cháu nhìn thấy các anh chị. Tại sao để chị họ không mặc quần áo vậy?”. Bác lại một lần nữa kinh hãi: “Cháu gái, cháu không thể chết được, thần linh phù hộ cháu tôi bình an vô sự”. Tôi liền kể cho bác và chị dâu về chuyện mà tôi đã trải qua dưới âm phủ, “Đó là chuyện hai năm trước đây, cháu chẳng phải vẫn bình an trở về đây hay sao?”
Sau khi nghe tôi kể, bác định thần lại một chút, nói cho tôi biết anh họ chết khi mặc bộ quần áo trắng kẻ sọc xanh, áo cộc quần dài. Bác kể: “Chị họ sinh con được 10 ngày, thời tiết hôm đó rất nóng, muốn bác gội đầu giúp. Vừa mới gội đầu xong, đang chải đầu, định tắm thân thì kêu người không khỏe, bác vội vàng tìm tấm vải bố đắp nửa thân dưới cho nó, nhưng đúng vào lúc đó thì tắt thở, qua mấy ngày sau, đứa bé cũng chết. Nhưng mà, trước khi đưa vào quan tài, bác đều cho chúng mặc áo liệm dài, trong quan tài cũng trải chăn cẩn thận. Hai vợ chồng chúng qua đời trong cùng một tháng”.
Anh họ và chị họ là vợ chồng, cũng là con gái, con rể của bác, trong nhà tuy có tiền, nhưng sau khi chết vong người cũng không nhận được những gì người nhà mặc cho, trải cho. Khi còn sống mặc dù là vợ chồng, sau khi chết vì nghiệp báo khác nhau, nên sẽ đi đến các nơi khác nhau, như không hề quen biết nhau vậy.
Chỉ có cha tôi lúc còn sống vì luôn tu dưỡng đạo đức, giáo dục con cái, nào là “Vô lễ chớ nói, phi lễ chớ nhìn, vô lễ chớ nghe, vô lễ chớ động”, “Thà rằng người phụ ta, ta không thể phụ và trách người”, “Dĩ thứ kỷ chi tâm thứ nhân, dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ” (đem cái lòng tha mình để tha người, đem cái lòng trách người để trách mình). Bởi vì tôi được cha dạy bảo từ bé như mưa dầm thấm đất vậy nên đã thành thói quen. Bấy giờ chưa tu luyện, mặc dù chưa làm được tốt hết những điều cha dạy, nhưng được nghe những đạo lý đó cũng khiến tôi cảm giác tự tại, thụ ích vô cùng. Cũng bởi vì cha tôi lúc sinh tiền tu luyện, nên khi gặp tôi thì có thể nhận biết và nói chuyện, trong khi gặp những người khác lại có sự khác biệt, họ không nhận ra tôi.

Ngày nay, con người chịu ảnh hưởng bởi nền giáo dục hiện đại, rất nhiều người coi thuyết vô thần làm chân lý, coi chuyện thiên đường địa ngục, thiện ác hữu báo là “mê tín”. Nhưng mà, trong nhiều sách vở đều có ghi chép lại những câu chuyện có thật trong các tôn giáo khiến người ta không khỏi chấn động. Mặt khác, từ xa xưa đến nay, có không ít những câu chuyện được kể lại và lưu truyền bởi những người sau khi đi đến “thế giới bên kia”.
Hy vọng rằng, câu chuyện này có thể khiến cho những ai không tin thần có một chút gợi ý và suy tư, bởi dẫu sao thì mỗi sinh mệnh đều là cần phải tự chính mình quý trọng.
Từ bi chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất
Ngày xưa ở một tu viện tĩnh mịch trên một ngọn núi xa xôi nọ, có một nhóm các tu sĩ quyết tâm tu luyện để thăng hoa cảnh giới tinh thần dưới sự giám hộ và dẫn dắt của một vị sư trụ trì đáng kính. Nhiều người trong số họ đã đạt được thành tựu lớn và trở thành những bậc thầy vĩ đại như chính người thầy của mình.
Một hôm nọ, có một vị tiểu đệ tử ăn cắp bị bắt quả tang. Ai nấy trong tu viện đều tức giận. Sao lại có một việc nhơ nhuốc đến thế diễn ra tại nơi tôn nghiêm này? Họ đi bẩm việc này lên trụ trì. Tuy nhiên, sư trụ trì tỏ ra thờ ơ. Ông phớt lờ sự việc và không trừng phạt kẻ cắp đó.
Thế rồi một lần nữa người ta lại thấy kẻ cắp hành động. Tuy nhiên khi các đệ tử trong tu viện tức tối đến bẩm báo, sư trụ trì vẫn không trừng phạt cậu ta.
Tất cả các vị tu sĩ đều thấy sư trụ trì cư xử thật bất công. Sự bất bình ngày càng dâng cao và đi xa đến mức các đệ tử đã đồng lòng ký vào một bức thư thỉnh cầu mong sư trụ trì xử lý tên ăn cắp kia cho thích đáng, nếu hắn bị đuổi khỏi tu viện thì càng tốt. Còn nếu sư trụ trì vẫn chọn cách bao che cho kẻ phạm tội, thì bọn họ thấy rằng tốt nhất là nên bỏ tu viện mà đi cho rồi.
Nghĩ đến những lần bị ăn cắp chưa được đền bù thỏa đáng còn kẻ cắp thì vẫn nhởn nhơ, chúng đệ tử cảm thấy vô cùng căm tức. Trong lúc bộc phát ra những cơn giận, các vị tu sĩ đã bỏ qua phong thái điềm đạm, khoan dung của người tu hành, còn tu viện thì trở nên lộn xộn. Đến lúc đó, trụ trì đã cho triệu tập tất cả các đệ tử của ông lại.
Đó là một đêm khuya, khí trời lạnh lẽo, mọi người đều muốn được nghỉ ngơi, nhưng trụ trì nghĩ rằng đã đến lúc phải giải quyết sự việc này một cách dứt điểm.
Ông dùng ánh mắt yêu thương trìu mến để nhìn từng người đệ tử của mình và nói: “Các con là những đệ tử ngoan của ta, các con có thể phân định được đúng sai. Giả sử các con rời đi, ta chắc chắn các con sẽ dễ dàng được các tu viện khác thu nhận”.
Chúng đệ tử lắng nghe sư phụ nói những lời chậm rãi và cũng cảm nhận được lòng quan tâm chân thành mà sư phụ dành cho họ cùng nội tâm sâu thẳm của ông. Sư trụ trì tiếp tục nói với giọng từ bi: “Vậy còn người anh em không thể phân biệt đúng sai kia của các con thì sao? Ai sẽ thu nhận và dạy bảo cậu bé nếu đến cả ta cũng không chấp nhận cậu?”
“Cậu bé còn non dại và cần ta giúp đỡ, ta cũng chỉ muốn mang lại cho cậu ấy những điều tốt nhất. Cứ mãi làm những việc xấu xa dại dột đó tức là cậu ấy tự chuốc lấy khổ đau và quả báo cho bản thân, tuy nhiên cậu ấy vẫn chưa ý thức ra được. Nghĩ đến đó thôi là ta lại cảm thấy thật đau lòng.”
Giọng nói của vị sư già vẫn đều đều: “Cho nên ta mới không đuổi cậu ấy, kể cả khi làm như vậy nghĩa là ta sẽ phải chứng kiến cảnh từng người các con bỏ tu viện này mà đi.”
Đột nhiên từ trong chúng tu sĩ đang tập hợp trong lễ đường, cậu bé ăn cắp kia bước ra quỳ trước sư phụ và các sư huynh của mình. Những lời nói chậm rãi từ bi của sư phụ giống như tiếng sét đánh tan màn mây u tối và tội lỗi trong con người cậu, cậu biết là cậu đã sai và ân hận vô cùng. Nước mắt rơm rớm, cậu cầu xin được mọi người tha thứ và thề từ nay sẽ quyết tâm sửa đổi.
Cơn giận của những sư huynh ban nãy còn kịch liệt phản đối cậu bé bỗng tan biến. Họ chỉ đứng đó, im lặng. Ai nấy đều cảm nhận được năng lượng từ bi của vị sư già bao trùm cả tu viện.
Một vị tu sĩ cảm thấy rất hối hận. Vị này bước ra và nói: “Sao chúng con lại để bản thân mình tức giận như vậy chứ? Ngay từ ngày đầu tiên nhâp môn, thầy đã dạy chúng con phải dùng từ bi đối đãi chúng sinh, nhưng khi gặp một xíu mất mát về của cải vật chất, chúng con đã hoàn toàn quên mất lời dạy của thầy.”
Một tu sĩ khác tiếp lời: “Ban đầu ai trong chúng chúng con cũng đều muốn đến đây để tu hành khổ hạnh và đề cao tâm tính. Vậy mà… Chúng con đã rút ra bài học từ chuyện này. Chúng con xin hứa sẽ không nhốn nháo và phàn nàn như trước nữa.”
Vị tu sĩ thứ ba thở dài, đáp: “Đúng vậy. Sao lại bỏ tu viện đi được chứ! Lần sau chúng con sẽ cư xử phải phép hơn. Con muốn nói một điều rằng… qua buổi tối hôm nay, con không bao giờ quên được lòng từ bi của sư phụ. Đó là điều mà cả đời này con mãi mãi ghi nhớ trong tim.”
Đối với người tiểu đệ tử “tội lỗi” nọ, lòng bao dung của vị trụ trì già đã thay đổi cuộc đời cậu. Từ đó trở đi, cậu chỉ ước ao rằng bản thân có thể tu hành thật tốt để có được lòng từ bi giống như sư phụ của mình. Cậu đã ngộ ra rằng lòng từ bi chính là một loại năng lượng đẹp đẽ nhiệm màu, có thể thực sự cải biến con người ta trở nên tốt đẹp hơn. Nó mềm mại hiền hòa và êm ái giúp xoa dịu mọi khổ đau, mất mát, giúp lòng người thanh tịnh, nhưng nó cũng chứa đựng sức mạnh vô biên có thể làm tan chảy cả những trái tim sắt đá nhất.
Vậy là từ đó, không cần ai bày biểu, cậu tự biết đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của bản thân, cậu luôn để ý đến cảm nhận của người khác, chủ động giúp đỡ đồng môn và nhắc nhở bản thân đừng ích kỷ mà hãy sống trung thực với tấm lòng vị tha rộng mở. Mỗi khi mở mắt thức dậy vào buổi bình minh, cậu tự nhủ đây sẽ là một ngày trọn vẹn để cậu tu dưỡng tâm từ bi.
Nhờ ngày này qua tháng nọ siêng năng tu tâm dưỡng tính nên trong lòng cậu luôn duy trì một loại cảm giác bình hòa tự tại và tâm trí trở nên yên tĩnh. Do đó cậu bé có thể ngồi thiền thật lâu, khiến đồng môn khâm phục. Khả năng này đến từ sự thăng hoa nội tâm khi cậu đi trên con đường trở về với bản chất thiện lương trong sáng của chính mình.
Thời gian trôi qua, những ấn tượng của đồng môn về một cậu bé ăn cắp không còn nữa, mà giờ đây người ta biết đến một nhà sư có trái tim nhân từ dành cho tất cả chúng sinh. Vị sư trẻ nhận được sự kính trọng của đồng môn, sư trụ trì thì vô cùng vui mừng khi thấy đệ tử của mình thay đổi tích cực.
Thời gian lại chầm chậm trôi, người đệ tử đó đã trở thành một vị tôn sư, dùng lòng từ bi và trắc ẩn để cảm hóa và dạy dỗ những thế hệ đệ tử tiếp theo.











