Container Icon

DỊ DUNG CỦA KIM DUNG

 Điều tôi muốn nói đó chính là những nội dung dị thường, tiềm ẩn, tận đáy ý thức của mọi miền tư duy chung trong hầu hết chúng ta xưa nay! Trong một giới hạn những gì tôi có thể quan sát thấy trên các diễn đàn về Kim Dung xưa nay nói chung. Chưa hề bắt gặp một ai có thể khai thác được những giá trị thực tại trầm tích ấy cả!?

Miền tài nguyên không gian sâu lắng này, những giá trị tri thức vẫn đang ngủ yên cùng thời gian, quên thức. Và hôm nay, tôi đã quyết lấy miền địa phương này làm thao trường. Qua đó, chúng ta thao dợt ngôn ngữ u mặc dần quen, hầu làm kinh nghiệm cho những cuộc du hành vào xứ Thiền mà thực luận những gì sắp phải đến. Thế hệ hôm nay, nhất định phải vượt vũ môn để hóa rồng mà mặc sức vẫy vùng nơi biển cả ngôn ngữ dân tộc.
Cái xưa nay gọi là; “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp việt nam” đó. Chỉ đơn thuần là dạng ngôn ngữ lạch sông trong bến bờ mà thôi. Giống Rồng Tiên nay mai, nhất định rồi sẽ ngậm ngọc, nhả châu u mặc, một khi đã ra đến biển cả. Một nơi vốn là thủ phủ cội nguồn nguyên thủy.
Biển Đông ư? Hãy chờ đấy, nay mai ta về…
Đó, chính là tinh hoa của văn u mặc. Gợi ý, nhắc lại: Chữ Việt, có căn nguyên cội nghĩa từ chữ Búa Sấm mà hóa ra. Vậy hoàn nguyên bản thể đó cũng có nghĩa như; Việt Ngữ = Sấm Ngôn vậy. Mặc ai U hay Minh. Vì đâu nên nỗi trớ trêu gây ra phản tác dụng bởi câu đạo cùng tắc biến như: Gốc xưa từ U Việt, nhánh vừa đâm ra Việt Minh, nay lại lạc mất tinh hoa vừa hé nhụy!? Nào ai biết nơi đâu đã Minh hay U mà đảo điên giá trị cội rễ dân tộc anh linh này. Dẫu sao thì Tòa Công Luận đã lập rồi. Không một ai có thể không đứng trước vành móng ngựa trước khi bước qua phía bên kia không gian chiều thứ tư cho được cả.
Kiệm lời:
Vậy người anh cả của dân tộc Việt hôm nay vẫn đang giữ một di ngôn như: “Thao trường đổ mồi hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Các bạn đừng ngại mà cùng thao lược, trao đổi nhé. Vì chúng ta còn lấy đó làm hành trang cho cuộc du hành trong xứ Thiền đang đợi chờ phía trước. Và sau đây, tôi đưa ra một vài gợi ý chung. Gợi ý làm điển hình nội dung một vài phân cảnh trong thao trường Tiếu Ngạo Giang Hồ đang được khai thác những giá trị tiềm năng ngôn ngữ u mặc. Các bạn dựa trên điểm tựa đó, suy ra mà khai thác tiếp nhé. Vì đang còn quá nhiều những tài nguyên chờ các bạn khai quật để còn tự đắc ý nữa. Vậy, miền địa phương mà tôi đưa nhát cuốc đầu tiên khai quật kho tàng tri thức. Chính là bối cảnh chung liên quan đến sự việc giam cầm và giải thoát Nhậm Ngã Hành. Kim Dung đã che giấu ý gì trong nội dung đó.
Các bạn cùng tham gia quan sát cũng như theo dõi điển hình thứ nhất nhé;
Nếu dựa theo ý của cái tên Nhậm Ngã Hành như tôi và các bạn đã từng bàn qua. Và đọc tiếp thì nhân vật này còn có dị hiệu khác nữa là; Vọng Phong Nhi Đào! Vì theo như giang hồ truyền tai bí kíp đệ nhất thiên hạ thuộc về Quỳ Hoa Bảo Điển. Thế nên cái “bút hiệu” đó có nghĩa là Ngóng chờ một ngọn gió Đông của mùa Xuân, mang đến sắc Hoa Đào rồi vậy. Té ngửa nghĩa ra thành ý là Nhậm Ngã Hành trông mong một ngọn gió Đông Hoàng để mà xưng đế võ lâm kia. Bá mộng như thiên hạ từng nghĩ ư? Chẳng là cái đinh gỉ gì trong mắt của Đại Ma đầu này hết cả. Vì ông ta đã vất bỏ cả Quỳ Hoa lẫn Tịch Tà vào quá khứ quên lãng hết đi rồi. Bởi cái tính cố chấp (Ngã Hành=Bất Thối Chuyển), khiến Đông Phương Bất Bại âm thầm luyện Quỳ Hoa sau lưng mà soán ngôi đi mất.
Cái siêu dị vượt ngoài mọi tri kiến của mọi người mà Kim Dung đã dụng chính là cách giam cầm được Giáo Chủ của Ma Đạo ở chỗ dĩ độc trị độc như; Nhậm Ngã Hành vốn không ưa các loài hoa nói chung. Thế nhưng ông vẫn mong ngóng một cánh Hoa Đào vốn là chúa xuân nguyên thủy nơi đất Bắc làm cội rễ. Biết điểm yếu đấy, cho nên ta thấy Đông Phương Bất Bại đã dùng sự đối lập với Hao Đào đất Bắc bằng Hoa Mai tận Trời Nam mà giam giữ Nhậm Ngã Hành.
Vì nơi đó có tên là “Cô Mai Trang”!!! Tất nhiên, nếu như mong Hoa Đào nơi đất Bắc, thì sự cô độc trong trang trại Hoa Mai là phong tỏa hoàn toàn Nhậm Ngã Hành mất đi rồi vậy. Bởi là Đông Phương Bất Bại, thế nên ông ta mới biết Đông Phong có đến hai chúa xuân là Hoa Đào và cả Hoa Mai nữa. Mà Nhậm Ngã Hành vốn rất dị ứng với các loài Hoa nói chung.
Nào đã thôi đâu. Còn bắt 4 cao thủ bao gồm Cầm, Kỳ, Thi, Họa. Làm đại diện cho bốn mùa Hoa để canh gác nữa chứ! Điều đó phải gọi thành tên là Giang Nam Tứ Hữu đi rồi. Nhậm Ngã Hành đành phải thúc thủ tận đáy tây hồ suốt 12 năm là tất yếu rồi vậy. Mà nữa; Con số 12 này đại diện cho một chu kỳ của một tuần giáp. Và cũng là đại diện cho 12 tháng trong một năm vậy. Vì nhất định phải qua đủ 4 mùa hoa thì sau đó mới lại đến Mùa Xuân mà mong Vọng Phong Nhi Đào tiếp cho được.
Lại bàn ở một phân cảnh khác, cùng thời điểm đang thảo luận thì ta thấy; Hứa Vấn Thiên Tả Sứ. Có nghĩa là kẻ đã Hỏi Trời (đọc được Thiên Thư) và trời Hứa đúng quy luật cũng như thời hạn đó là “lỏng then Tạo”. Còn Tả Sứ thì theo như nghĩa mà trong trang này tôi đã có từng bàn qua cùng các bạn rồi đấy. Vậy ở đây tôi gọi là Tả Xứ theo nghĩa riêng độc lập nhé (vì chung, sẽ lại thành ra Tả Sứ).
Nếu chiếu theo quy luật đồ hình của Lạc Thư nói chung thì: Từ Tiết Hạ Chí đến Tiết Đại Tuyết là Nghịch hành, là hành tả xứ. Vì hành theo hữu xứ thì tính từ Tiết Đông Chí đến Mang Chủng. Vậy ta quan sát theo bản thân là Tả hành qua các Xứ đó để về lại quy trình Đón Gió Đông mà ra. Thế nên nhân vật này có tên là Tả sứ Hứa Vấn Thiên. Là người duy nhất có khả năng tìm ra và giải cứu Nhậm Ngã Hành mà thôi.
Thế cho nên khi gặp Lệnh Hồ Xung. “Vấn Thiên” liền đọc được tượng trời trong Khúc Quảng Lăng Tán mà Lệnh Hồ Xung đang mang trên mình. Tất nhiên, việc mà hai kẻ giang hồ đểu khách này, mang khúc Quảng Lăng Tán ra dụ khị 4 anh em Cầm, Kỳ, Thi, Họa, là không bàn cãi đến để làm gì nữa rồi các bạn nhé.
Dĩ nhiên, ta thấy Lệnh Hồ Xung có kỵ Hoa bao giờ đâu mà Cô Mai Trang giam cầm cho được. Các bạn thấy đấy, tay giang hồ lãng tử này cứ nốc rượu bí tỷ như thế. Mọi hoa cũng phải nát hết chứ mơ tưởng gì đến việc giam với cầm cho được. Ví như có đến tứ Hoa tuyệt sắc, từng vây quanh tỏa hương như Nhậm Doanh Doanh, Nghi Lâm, Nhạc Linh San và Lam Phụng Hoàng cũng đành chịu.
Vấn đề là khi nào diễn viên này thoát ra, thì đạo diễn chỉ việc sắp xếp cho hợp cảnh nữa mà thôi (gớm Kim Dung thật đấy).
Riêng tôi thì thấy rằng; Bức tranh mà Kim Dung vẽ ra cảnh Lệnh Hồ Xung luyện Hấp Tinh Đại Pháp trong lồng sắt, dưới đáy Cô Mai Trang dạng “da cọp” là có hơi thô rồi vậy (không cười ngạo cả thiên hạ được đâu ngài Kim Dung nhé).
Và tiếp đến, với điển hình gợi ý thứ hai cùng các bạn nữa là:
Vậy chúng ta xét thấy cho đến tận lúc này. Cuốn nhạc phổ mà Lệnh Hồ Xung mang trên người đó chỉ là khúc Quảng Lăng Tán mà thôi. Ta chưa có thể gọi là khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ cho được. Dò trở lại quá khứ các cảnh trước đó. Ta phát giác việc Khúc Dương dẫn Lệnh Hồ Xung vào Bãi Sậy? (lại cây sậy?! vấn đề này, tôi e rằng các bạn tham thiền qua 49 ngày thì mới có thể bàn tiếp rồi vậy. Thứ cho là hiện nay không lĩnh hội nỗi khi bàn đến. Tôi khất lại và dồn chung với việc còn thiếu nợ các bạn về lịch sử trong giai đoạn Đinh Tiên Hoàng với việc Cờ Lau tập trận khi trước trên Trang Ký Sự này).
Nguyên do cũng bởi không bàn đến Phật giáo được, vì nhiều các bạn thuộc hệ thiên hạ các chúng phật tử tại việt nam hiện nay, phủ chụp quan điểm. Dẫn đến thiếu nền tảng tri thức, làm chiếc phao để bám vào mà có thể bơi đến vùng biển cả tri kiến này được.
Rồi Khúc Dương đã bất chợt hốt ngộ, phát hiện ra Khúc Quảng Lăng Tán thất lạc suốt bao lâu. Và ông đã nhờ Lệnh Hồ Xung mang tin đến cho kẻ thổi Tiêu là Lưu Chính Phong. Lưu Chính phong ngộ thiên cơ. Vậy là lập tức vất hết tất cả danh vọng cũng như gia đình mà rửa tay trước võ lâm quần hùng, bất kể chính tà. Và hai vị đã hoàn tất khúc Quảng Lăng Tán bất hủ rồi giao lại cho Lệnh Hồ Xung mà mãn nguyện, phủi tay rửa luôn đời cho xong.
Vậy trong chúng ta, đã có huệ nhãn nào đủ nhìn thấy và lắng nghe được tiếng cười ngạo giang hồ đó xuất hiện ở đâu hay không vậy? Độc chiêu của Kim Dung trong tác phẩm này chính là Vô chiêu thắng hữu chiêu đấy các bạn ạ. Vậy thì tôi sẽ lột trần tiếng cười ngạo đó mà Kim Dung đã cố tình giấu ở… cận cảnh cuối khi;
Các phái giang hồ quyết định thống lĩnh quần hùng để độc bá võ lâm trong trận chiến cuối cùng. Một rừng nhất định không thể chấp nhận việc có hai hổ cho được. Ta thấy trong giai đoạn này, cớ gì mà khiến cho Nhậm Ngã Hành cười đến chết đi vậy?!
Là bởi:
Ông chợt nhìn thấy tất cả thiên hạ trong giang hồ đang hóa thành mộng du quan điểm về một đường lối duy nhất, đã mãi ủ mộng xưa nay. Vì chính ông đã vất bỏ Quỳ Hoa Bảo Điển lẫn Tịch Tà Kiếm Phổ, do biết bí kíp đó chỉ dẫn đến kẻ lai cái trong thiên hạ mà thôi. Trong khi thiên hạ cứ mãi tranh nhau đi tìm nó bằng mọi giá, để làm minh chủ!? Ngay cả như Đông Phương Bất Bại, vốn là đệ nhất thì cũng đã bị ông tiêu diệt mất rồi. Nay lại còn hai kẻ thi nhau luyện thành tuyệt kỹ lai cái tiếp theo để giành nữa là Nhạc Bất Quần và Lâm Bình Chi nữa! Trong khi hai phái tinh hoa của võ lâm là Thiếu Lâm và Võ Đang cũng đã theo Lệnh Hồ Xung rồi. Mà Lệnh Hồ Xung lại đang là con rể của mình!! Thế mà thiên hạ khắp giang hồ lại còn ôm mộng đánh lên Hắc Mộc Nhai nữa mới khiến cho thoát đỉnh khôi hài đi!!!
Chính vì điều này mà khiến cho Nhậm Ngã Hành cười đến đột quỵ mà chết đi vậy. Đó chính là tiếng cười xứng danh gọi là Tiếu ngạo Giang Hồ thành tên như tác phẩm mà ta thiên hạ chúng ta đã biết qua.
Và rồi khúc Tiếu Ngạo đó, chỉ xuất hiện khi Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh từ bỏ mọi ảo mộng của thiên hạ, mặc giang hồ mãi trong mộng du mà cùng tấu khúc Tiêu Dao. Vì thế, khi khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ thật sự hình thành. Chính là lúc kết thúc tác phẩm này mà thôi vậy.
Tôi lưu ý cuối: Cô Mai Trang là nơi giam cầm Nhậm Ngã Hành. Trong khi đó, Cô Mai Trang cũng lại chính là nơi mà Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh thành thân đấy các bạn ạ.
Mời các bạn lại tiếp tục cùng bàn thảo… mà không sợ phải cái gọi là lộng ngôn bao giờ.
Đó cũng là Đạo.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

DNA HỒ TÔN

 Nhân vì bạn Đức Hiệp có hỏi về Nước Chiêm Thành còn có tên khác là Hồ Tôn thì phải? Tôi sẽ thiết kế cái nền móng đó và các bạn cùng chung tay xây dựng và tô điểm cho hoàn thiện chuỗi DNA của dòng Sử Thiêng này nhé.

Vậy chúng ta cùng về nguồn, “Khảo Sử”: Được xem như là sự gia cố vững chắc thêm hơn cho nền móng của học thuyết này tại góc độ quan sát của lịch sử ở tầng sâu hơn.
Qua trang này thì chúng ta cũng đã biết được là cái Chân Linh Bản Thể mà ta thường gọi là cái Linh Khí hoặc Chính Khí của Đại Vũ Trụ. Là Hồn Thiêng của núi sông, đi vào Tiểu Vũ Trụ, hóa Máu, tàng Thần và ngụ trong Tim. Vị Thần này thường khi ra vào và tế tự nơi Cung Nê Hoàn, thế nên ta mới nghe gọi là “Huyết Khí Dưỡng Não”. Điều này ngụ ý của Tạo Hóa có nghĩa là con Tim luôn thổn thức, kích hoạt tư duy, thắp lên ánh đuốc tri thức, soi rọi và thắp sáng toàn miền đêm đen của lịch sử.
Phàm, đã là phả hệ của giống nòi Thần Tiên. Cớ sao lại đến đỗi không nhận ra được cái lối quanh co, bện xoắn vào nhau như chuỗi DNA này vậy!? Thế nhưng, những linh cảm về sự di truyền của một giống nòi oai linh đã từng thất lạc đâu đó trong cội nguồn của dòng Sử Thiêng, luôn thổn thức trong tầng sâu thẳm của mỗi ý thức dân tộc Việt.
Thế cho nên, trên lối tìm về Động Hoa Vàng ngày ấy, có mô hình thiết kế chuỗi DNA đó như sau:
Trong giai đoạn cuối Nhà Hán đến đầu Nhà Đường. Người Hán nói chung đã phát hiện ra vùng mà họ gọi là Lâm Ấp hay Tượng Lâm đấy. Chính là dòng của giống Việt Thường mà bà Âu Cơ đã dẫn 50 con khi xưa đi mở cõi mà ra! Bởi dòng này có cội nguồn tại Hồ Phiên Dương, thế nên căn cứ vào đó mà Người Hán đã gọi thành tên Hồ Tôn! Và tên Nước Hồ Tôn với ám chỉ ý tại; Tôn từ chữ Tử - Tôn, là Con - Cháu. Hồ; có nghĩa là ý chỉ gốc ở Hồ Phiên Dương và Động Đình khi xưa mà ra cả thôi. Vậy Hồ Tôn có nghĩa đích thị là nước này thuộc dòng con cháu của người Thường Việt bên Hồ Phiên Dương.
Thế nên ta mới chứng kiến có sự kiện Nhà Đường lại âm mưu liên kết với Nước Phù Nam, phía sau lưng, hòng đánh úp Nước Hồ Tôn này để tuyệt diệt mọi tông tích đi rồi vậy. Thế nhưng Người Hán đâu có thể nào ngờ được rằng: Nước Phù Nam lại là do chính những người con trai theo Mẹ ngày đó đã hình thành từ Phạm Mạn vâng theo ý chỉ của Vua Phạm Hùng bên Nước Hồ Tôn mà ra. Vì sợi dây “Xích Thằng” (DNA) đó vốn có nguồn gốc từ hai chữ Phù Lưu sinh ra cả thôi!!!
Các bạn của thế hệ hôm nay ạ. Cổ ngữ Phù Lưu chính là tên của Dây Trầu và Cây Cau nói chung đấy các bạn ạ!!
Thật thú vị trong kinh ngạc đến sững sờ trước kịch bản của Hóa Công!!!
Sau khi lắng dư vị cảm xúc cùng những nhịp tim rung động linh cảm thiêng liêng của cội nguồn xuống. Chúng ta lại tiếp tục với chuỗi DNA đó như sau: Ta có thể xét thấy trong hồ sơ bổ sung cáo trạng những thực tại này từ nhóm khảo sát có tên gọi là Viễn Đông Bác Cổ có ghi: Nước Phù Nam còn có tên gọi khác khi đó là Nước Chí Tôn để phân ra với Nước Hồ Tôn nữa kia kìa!
Lại nguyên do cái tên Chí Tôn là bởi từ cách gọi của Ấn Độ trong thời Phật Thích Ca tại thế mà ra cả! Để dẫn đến nguồn này, ta phải vào link của Thiên Thư mới có được. Bởi “Sử Tại Thiên Thư” có chép và tôi điểm mạch phong thủy, mang ra bàn thảo cùng các bạn rằng;
Xưa nay chúng ta chỉ nghe nhắc qua loa đến hai dòng sông có xuất phát nguồn từ dãy Himalaya tại Ấn Độ thôi. Tất nhiên ai ai cũng biết đó chính là cái nóc nhà của thế giới rồi. Là cái khí núi làm gốc rễ căn nguyên cội nguồn của vũ trụ. Thế nên hai dòng sông thủy mạch là sông Ấn và sông Hằng được làm tiêu biểu nền tảng của đạo lý. Vấn đề là chúng ta đã không đủ xem xét chi tiết sự việc rồi dẫn đến lạc mất chân lý đi. Bởi vì xưa nay ta cứ cho rằng dòng thủy mạch của sông Hằng cùng khí núi Himalaya hun đúc nên Phật Giáo. Còn dòng sông Ấn thì lại sinh ra đạo Hindu. Cả hai dòng này đều chảy trên địa phận của Ấn Độ, thế là họ chung đúc lại mà gọi thành Ấn Độ Giáo làm quốc giáo đến tận hôm nay (Hindu). Đã mấy ai ngờ và xem xét được rằng; Cái nóc nhà chung của thế giới đó, còn che cho cả vùng thuộc về Pakistan, Apganistan nữa. Và dòng sông Ấn lại đổ ra Vịnh Oman. Thế nên nhất định vùng Trung Đông với Đạo Hồi Giáo hòa cùng Do Thái Giáo cũng phải được nhắc đến. Chúng ta đã bỏ sót qua điều này rồi vậy. Do chỉ xét giới hạn trong phạm vi biên của Ấn Độ.
Thế nhưng, chìm khuất trong trang sử kín của Thiên Thư. Đã bị lãng quên trong ký ức chung của nhân loại chúng ta là; Thuở Sáng Thế, Kinh Thánh còn mô tả trong Vườn Địa Đàng đó. Có đến những 4 dòng sông chảy ra toàn miền chứ không phải chỉ hai dòng như tôi vừa nêu ở các dòng trên. Vậy dòng thứ 3 chảy ra từ dãy Himalaya được xem xét đến chính là dòng sông Dương Tử! Thuộc lãnh địa của Nước Xích Quỷ, trước thời Thích Ca tại thế đấy các bạn ạ! Tất nhiên Đạo Thần Tiên vốn là của giống nòi Tiên Rồng làm cội rễ nền tảng được xem xét. Đối với những quan điểm mù lòa ý thức hệ nòi giống và u mê về đạo lý thì biết sao cho nổi rằng khi Phật tại thế thì tương đương cùng giai đoạn cuối thời Hùng Vương bên nước Văn Lang rồi vậy. Bên Trung Quốc là thời Xuân Thu, thuộc về Đông Chu. Và thủy mạch của dòng sông thứ tư lại tiềm ẩn giữa dòng sông Hằng và Dương Tử chính là dòng Cửu Long (Mê Kông). Điều này Tạo Hóa mô phỏng giống như chiều Thời Gian tiềm ẩn trong 3 chiều Không Gian vậy! Tất nhiên, điều này không qua được Huệ Nhãn của Phật Thích Ca trong đương thời khi đấy cho được bao giờ cả.
Lại còn có một thực tại tiềm ẩn giữa các dòng sử trong giai đoạn này là; Còn có một nhóm người Việt Thường, di loạn từ cuộc chiến Nhà Thương với Nước Xích Quỹ, tản cư sang Ấn Độ theo hướng Mianma! Và Phật Thích Ca biết rất rõ về dòng giống Thần Tiên này trong giai đoạn khi đó đang lưu vong tại Ấn Độ. Và ta thấy cái cổ ngữ của Nhà Phật nhắc đến những cái tên nước như: Thiên Trúc, Phù Đồ, Phạm Thiên v.v… nơi cuối dòng Cửu Long bao gồm là Hồ Tôn và Chí Tôn (Chiêm Thành và Phù Nam) rồi vậy. Thế nên dấu ấn của Kiều Trần Như và Đề Bà Đạt Đa trong toàn vùng khu vực này là không phải ngạc nhiên hay bàn cãi nữa. Vậy câu hỏi mà tôi đặt ra cho các bạn là vị Thần Shilva của khu vực này tôn thờ. Nếu không phải là cốt tưởng nhớ về hình tượng của Chiến Thần Xi Vưu tiềm ẩn trong đó thì có còn là vị thần nào cho được nữa đây? Ta phải biết Kiều Trần Như tuy đã theo Phật Thích Ca, thế nhưng tư tưởng cội rễ của ông vẫn là Kỳ Na Giáo. Tất cả những văn hóa tín ngưỡng trên toàn miền DNA này, đều đã chỉ rõ điều đó.
Ta có thể cũng cố hồ sơ dày hơn cho sự kiện này từ các tư liệu của Viễn Đông Bác Cổ còn đầy ra cả đấy. Điển hình như việc các học giả có tranh cãi đến thế nào đi chăng nữa. Họ vẫn cứ công nhận về hai tộc của Họ Cau và Họ Dừa tại khu vực này là vốn có huyết thống từ xưa với nhau vậy. Bởi tại:
Chuỗi DNA này có gốc tại cây Cau và Trầu từ Nước Văn Lang mà ra cả thôi! Là Phù Lưu. Từ nguyên này dẫn ra Phù Nam, Phù Đồ, Phù Tang v.v… Thế nên toàn vùng địa phương này vẫn cứ có tục lệ ăn Trầu Cau mà thành văn hóa tưởng nhớ cội nguồn một cách vô thức mà không cách gì thoát ra khỏi sự ràng buộc đó cho được cả!! Tất nhiên, chỉ có dòng chính thống mới biết và dụng Trầu Cau cho việc kết duyên mà thôi nhé. Còn lại là chỉ “ăn theo” cho “có lệ” vậy thôi.
Tôi lại nhiều chuyện mà tán thêm rằng: Không phải ngẫu nhiên mà thiên hạ xưa nay cứ truyền tai nhau về sự việc có một “Tiên Lão” cứ ngồi dưới bóng Trăng, phía bên ngoài Cung Quảng Hàn. Lựa mãi những sợi Chỉ đỏ thắm (Xích Thằng, Phù Lưu) mà bện xoắn, se duyên, tạo thành chuỗi DNA bao giờ cả!!! Là dòng giống Thần Tiên mà. Thế nên chỉ giống nòi này mới có thể hiểu được chiếc áo của Tiên Huyền Nữ mặc trong Cung Hàn là Thiên Y với Vũ Điệu Nghê Thường được. Và di chỉ ấy, đã được phản ảnh với tên gọi “Thiên Y A Na” của Bà Chúa Xứ Nước Hồ Tôn này vậy! Đích thị là Bà Âu Cơ, thuộc dòng Thường Việt, vốn là dòng được truyền di ấn từ Tiên Huyền Nữ trong nhóm Bách Việt mà ra tỏng đi rồi còn gì. Vì chữ A Na còn có nghĩa là Nữ, là Âm tính. Và Thiên Y lại chính là chiếc áo bằng lông chim, vốn là biểu tượng của Tiên Huyền Nữ khi xưa truyền lại cho đời sau làm bằng mà tìm về Tiên Tổ!
Tôi đã quyết xăn tay áo, vén mây mù che phủ ngàn năm để cho tỏ mặt Chị Hằng cùng thế hệ hôm nay như các dòng ở trên. Tất nhiên toàn vùng là chế độ Mẫu Hệ. Thiên Thư vẫn còn nhắc sờ sờ trước mắt bao kẻ tục đòi đến tận hôm nay mà có thấy được đâu những giá trị như: Các địa danh như ĐắkLắc, ĐăkNông, ĐăkMin còn có nghĩa là: Đắk có nghĩa là Hồ! Vậy điều này cũng đồng nghĩa là Hồ Lắc, Hồ Nông, Hồ Min, vân vân nữa!! Là gốc từ Hồ Phiên Dương với dòng Thường Việt, đến Nước Hồ Tôn của Bà Âu Cơ, để rồi hiện nay vẫn tồn tại và sống mãi cùng núi sông của Việt Nam vậy. Loài người không cách gì có thể xóa hay chối bỏ những giá trị thực tại tiềm ẩn của mô hình vũ trụ tự nhiên đó được bao giờ. Mỗi khi được hiển lộ, thế tục chỉ có thể tròn mắt kinh ngạc chứ không có thể hiểu thấu cho nổi được những quy luật của tự nhiên mà ta quen gọi là thiên cơ đó. Thường thì người trí sững sờ, rồi chìm lắng sâu trong mặc tưởng, trầm tư... Kẻ ngu lại tiếp tục cãi cố, nông nổi một cách ấu trĩ và mãi ngụp lặn trong biển tạp tri kiến, tìm cứu cánh trong cơn chết đuối tư duy…
Lại nhắc chừng thêm cho mà xem xét lại cái tích Bà Chúa Ngọc đã biến từ Thiên Y A Na là bởi quan điểm có tàng âm ý từ con cháu Nhà Nguyễn về sau. Không khéo lại gây lạc xa hơn nữa cho nguyên bản gốc mà Hồn Thiêng, Anh Linh Dân Tộc ngàn đời Tạc Bia Trời trong đó cho mai sau đấy. Đó là sự việc gốc Trầm Kỳ trôi ra Biển Bắc. Vậy Thái Tử Bắc Hải ở đây không có nghĩa là Trung Quốc cho được. Mà là xét theo địa phận của Chiên Thành thì Bắc Hải ở đây có nghĩa là Nước Văn Lang so với Chiêm Thành rồi vậy. Không khéo thì trước tòa công luận của tương lai phải chịu án đào thải ra khỏi ý thức hệ dân tộc cùng giống nòi Thần Tiên, mà có nên chớ như thế. Thế nên ta phải đủ tri thức để hiểu rằng: Dòng thủy mạch cần phải quan sát chính là dòng Cửu Long chứ không hề là bất kỳ dòng nào cho được nữa. Xét riêng về địa phận của Khánh Hòa, tôi có chỉ rõ đó chính là địa phận của nước Chiêm Thành và Phù Nam khi xưa. Ranh giới là tại Cổng Trời, là Đèo Phụng Hoàng giáp với Đắklắk hiện nay. Vậy thì đó là sự chia ly và ngóng chờ nhóm 20 con dòng Cha đi mở cõi là Phù Nam chứ không được lầm lẫn với sự ngóng chờ, chia ly của Lạc Long và Âu Cơ trước đó cho được đâu nhé. Đặc biệt khu vực của nước Chiêm Thành này lại có một dòng sông huyền thoại chảy ngược bất hủ! Đó chính là dòng sông Đắk Bla, có xuất phát nguồn tại núi Ngọc Linh thuộc Kon Tum, tựa hồ như một con “ngựa chứng” vậy! Thế nhưng khi ta dò mạch thì sự ngược đó lại hóa ra xuôi. Bằng tưởng xuôi theo quan điểm của thế nhân thì lại thành ngược cùng ý của Tạo Hóa!! Vì dòng sông chảy ngược này lại tìm mọi cách vượt qua dãy Trường Sơn mà đổ hòa vào đúng với dòng Cửu Long!!! Đó chính là Địa Lý Phong Thủy Đại Cuộc. Không thể cứ đứng tưởng tượng linh tinh theo cái biết thiển cận rồi suy diễn Bảo Giang Môn một cách khôi hài nữa. Lý giải không nổi lại đổ tại Thiên Cơ.
Từ đây, suy ra một câu hỏi và giả thuyết được xây dựng dựa trên những mô hình của tự nhiên, được thiết kế từ Thợ Tạo đó như sau:
Nếu giả định là ngày đó Phật Thích Ca đang truy tìm một thực tại đạo lý tại giống nòi Thần Tiên này thì sao? Ta lại phải chọn giá trị xác xuất giữa một và hai khái niệm Đúng và Sai thôi nhé. Nếu ta chọn Sai, thì điều này phù hợp với xưa nay rồi. Và đạo lý cuối cùng vẫn mãi tiềm ẩn. Thế nhân chúng ta vẫn cứ mãi khổ đau suốt 2.500 năm qua ngày một chìm đắm sâu hơn nữa trong hỗn loạn.
Bằng như ta chọn Đúng? Vậy Phật Thích Ca mong gì ở những kẻ gốc tại dòng máu Thần Tiên này còn lạc mất cội nguồn tổ tiên và dững dưng chối bỏ giống nòi chính mình như thế. Mong gì họ làm sáng tỏ những oan khốc từ đạo Phật (nếu có) cho được nữa? Lại Chúa nào mà bảo ta phải bỏ thờ lạy Tổ Tiên, Ông Bà đi mới được cơ chứ?! Nếu ta bỏ như thế, Chúa có trông cậy gì kẻ đó thờ mình ở tương lai về sau cho được đây? Không hề có những điều phi lý như thế cho được. Bằng như trong Kinh Thánh là có. Sao ta không đủ đức tính công bình mà Chúa đã trông cậy ở loài người mà suy rằng: Đó chính là một thử thách mà Chúa đã đặt ra khiến con cái loài người không đủ để vượt qua nổi được. Tất nhiên ai vượt qua, kẻ đó xứng đáng thắp lên ngọn đuốc của sự sáng, soi lối bước vào Thiên Đàng rồi vậy. Lời Chúa trong Cựu Ước: “Nếu ngươi phán xét bất cứ một điều gì. Ngươi hãy đeo trước ngực bảng Công Bình và Sự Thật. Ngươi được quyền xét luôn cả Chúa của các Ngươi nữa”!!! “Ôi! ta biết tìm ở đâu cho ra một kẻ công bình để phân xử cho ta đây?”.!!!
Vậy, nếu muốn thờ Chúa hay Phật. Trước hết thì ta phải biết thờ lạy chính Tổ Tiên, Ông Bà của ta trước đã. Đó chính là Đạo Lý. Thiên hạ cứ mãi lầm lạc trong mê muội đến bao giờ nữa đây? Càng lên tiếng bênh vực một cách mê muội trong Phật giáo, mà không biết một tí gì và dững dưng về chính cội nguồn của bản thân mình. Kẻ đó chính là một điển hình cho sự đào thải của quy luật tự nhiên từ Tạo Hóa hôm nay. Tôi lên án và khẳng định thế. Vậy ai muốn lên tiếng bảo vệ Phật. hoặc Chúa. Trước hết hãy bảo vệ chính Tổ Tiên, cội nguồn của Giống Nòi Thần Tiên này đã. Sau rồi hẵng nói đến chuyện Thuyết Pháp có thành Đạo Lý được hay không. Các bạn thấy đấy; Đầy rẫy oan khốc cả. Kẻ Mù mà cứ lớn tiếng nói chuyện đường dài với các nẻo Thiên Lý diệu vợi Sơn Khê!!! Làm gì có chuyện ra Biển Cả cho được. Sở dĩ Phật có dụ ngôn về Con Rùa Mù tìm bọng cây mục để ra biển là bởi: Nó vốn mang Kinh Dịch là Phù Đồ trên lưng đấy.
Xã hội hôm nay có Hằng Hà Sa Số các “Ông Thầy, Bà Bói” đang ra sức “bói ra ma…”, gây nát loạn cả Kinh Dịch mà còn chưa có thể với tới thực tại Chân Lý. Thường thì các Thầy Bói phải đắc sở Mù nữa mới có thể phát huy được đúng Sở Thặng Thiên Ý. Có đâu phần cho những kẻ Thừa, Sở Hữu Dư cái Mù thì lấy đâu tri kiến được nữa mà “Nói Pháp và Cãi Pháp” cứ ra rả như thế?! Chỉ tổ được nước gây rối loạn trật tự xã hội thêm thôi. Nếu các bạn muốn dụng Dịch, hãy cứ “Chiêm, Gẫm” những Hiện Tượng mà tôi đang nói xem. Đó chính là sự Kiến Ngộ chỗ Đắc Sở Dụng của Kinh Dịch rồi vậy.
Bởi người Việt chúng ta chính là cái gen DNA từ giống nòi Thần Tiên kia mà. Một dân tộc đang nắm giữ Mật Mã Di Truyền của Tạo Hóa Ký Gửi từ ngày Người gây hình vũ trụ.
Hãy tỉnh thức cho kịp kỳ. Tôi đang ra sức lay tỉnh ý thức dân tộc Việt chúng ta hôm nay đấy các bạn ạ. Tất nhiên là tôi tự biết tìm cách tránh lay chuyển những dạng Bất Thối Chuyển hiện nay. Cứ để cho quy luật của tự nhiên thực thi việc Chuyển Thối họ đi thôi vậy.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Sự đoàn kết của những chú kiến

 


Hàng chục con kiến bị rơi vào chai nước 5 lít được để mở suốt đêm. Chúng vùng vẫy trong làn nước trong suốt, như thể từng con đang chiến đấu giành giật sự sống.


Ban đầu, tôi tưởng rằng chúng đang dìm nhau để sống sót, con này giẫm đạp lên con kia để tự cứu mình.


Tôi quay đi, quyết định không can thiệp.


Nhưng hai tiếng sau, sự tò mò khiến tôi nhìn lại vào trong chai một lần nữa.


Và tôi sững sờ: những con kiến vẫn còn sống! Chúng đã tạo thành một “hòn đảo sống” - một kim tự tháp nhỏ - trong đó vài con làm điểm tựa để nâng những con khác nổi lên khỏi mặt nước, như thể cả một cộng đồng đang hợp sức tồn tại.


Tôi nín thở quan sát. Những con ở dưới bị ngập nước, nhưng không mãi mãi. Một lúc sau, chúng được thay phiên bởi những con từ tầng trên. Những con khỏe mạnh tự nguyện lặn xuống, còn những con mệt mỏi từ từ trèo lên - không chen lấn, không xô đẩy. Không con nào tìm cách thoát thân trước. Chúng phối hợp nhịp nhàng và dìu nhau vượt qua cơn thảm họa.


Tôi không thể đứng ngoài nữa. Tôi tìm một chiếc thìa nhỏ, nhẹ nhàng luồn vào cổ chai. Khi thấy "cứu viện", từng con kiến lần lượt trèo lên - ngay ngắn, không hoảng loạn. Mọi việc đang diễn ra suôn sẻ, cho đến khi một con kiến yếu sức trượt trở lại xuống nước, chỉ còn cách miệng chai vài phân.


Và rồi, điều khiến tôi nhớ cả đời đã xảy ra. Con kiến áp chót, gần như đã ra ngoài, bỗng quay đầu. Nó tụt xuống, như muốn nói: “Cố lên anh bạn, tôi sẽ không bỏ cậu lại đâu!” Nó lặn xuống, bám lấy con đang đuối sức kia.Nhưng nó không thể kéo bạn mình ra một mình. Tôi đưa thìa lại gần, và cả hai cùng được cứu.


Câu chuyện đó khiến tôi xúc động hơn bất kỳ cuốn sách hay bộ phim nào về tình bạn và sự hy sinh. Tôi đi qua cả một cơn bão cảm xúc: từ phán xét vì đã nghĩ kiến là loài vô cảm, đến ngỡ ngàng trước sức bền của chúng, rồi là ngưỡng mộ kỷ luật, tinh thần dũng cảm, sự hy sinh… và cuối cùng là xấu hổ. Xấu hổ vì con người. Vì chính chúng ta. Vì sự thờ ơ, vì những lần ta bỏ rơi nhau chỉ để mưu cầu lợi ích cá nhân. Vì hiếm hoi lắm mới có ai chịu quay lại để cứu người yếu thế. Chúng ta xây tường ngăn cách thay vì dựng nên những cây cầu sống kết nối. Nếu những sinh vật nhỏ bé như kiến còn có thể đoàn kết và vị tha đến thế, thì tại sao con người - loài bậc cao - lại thường xuyên quay lưng trước nỗi đau của đồng loại?


Và nếu ai đó chưa biết sống sao cho đúng, thì hãy học từ loài kiến.


(Sưu tầm)

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Rác trong nhà bạn

 


NHỮNG ĐỘC TỐ TRONG NGÔI NHÀ BAO GỒM:

 1. Những vật dụng bạn không còn sử dụng.

 2. Quần áo bạn không thích hoặc đã lâu không dùng. Đặc biệt là đồ lót bị hỏng.

 3. Những đồ vật bị hỏng.

 4. Thiệp và thư cũ.

 5. Cây cảnh đã chết hoặc đang bệnh.

 6. Hóa đơn và tạp chí cũ.

 7. Những món đồ gợi nhớ về quá khứ.

 8. Nếu bạn có con, hãy bỏ đi những món đồ chơi không còn sử dụng, hỏng hóc hoặc không hoạt động.

 9. Giày dép hỏng.


KHI BẠN DỌN DẸP CHÚNG ĐI:

 1. Sức khỏe sẽ được cải thiện.

 2. Sự sáng tạo tăng lên.

 3. Các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn.

 4. Năng lực lý trí phát triển hơn.

 5. Tâm trạng được cải thiện.


CÂU HỎI GIÚP BẠN THANH LỌC:

 • Tại sao mình giữ món này?

 • Nó có còn phù hợp với con người hiện tại của mình không?

 • Mình sẽ cảm thấy thế nào nếu buông bỏ nó?


PHÂN LOẠI VÀ XỬ LÝ:

 1. Để quyên góp.

 2. Để vứt bỏ.

 3. Để bán.


SỰ THANH LỌC BÊN TRONG PHẢN CHIẾU RA BÊN NGOÀI:

 1. Tránh âm thanh quá lớn.

 2. Giảm ánh sáng chói.

 3. Tránh màu sắc quá bão hòa.

 4. Tránh mùi hóa chất.

 5. Giảm bớt những ký ức buồn.

 6. Hoàn thành những dự án dang dở.

 7. Nuôi dưỡng nguồn năng lượng tích cực trong ngôi nhà của bạn.


Hãy thực hiện việc dọn dẹp tổng thể, sử dụng hộp để phân loại.

Bắt đầu với ngăn kéo, tủ và hoàn thành từng khu vực một, hãy làm theo nhịp độ của bạn…


a) Rác.

b) Những món cần sửa.

c) Tái chế.

d) Phân vân.

e) Quà tặng.

f) Đem cho.

g) Đem bán.


Khi bạn dọn dẹp, hãy để ý xem điều gì đang thay đổi trong chính mình.

Khi chúng ta làm sạch ngôi nhà vật chất, chúng ta cũng đang sắp xếp lại tâm trí và trái tim mình.

Hãy tập buông bỏ những vật chất chỉ đang chiếm chỗ trong cuộc sống bạn – và rồi bạn sẽ dần học được cách buông bỏ cả những điều lớn lao hơn.


Chúc bạn luôn được bình an và may mắn.


Nguồn Recession

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Hồng Ân Thiên Chúa - Lễ Phục Sinh

                                     

 -|- CHƯƠNG TRÌNH ĐỌC KINH THÁNG 4 -|-

.:*¨`*:.  Chúa Nht Đi L Phc Sinh .:*¨`*:. 

1. Lời Giới Thiệu và ý chỉ cầu nguyện cho các Linh Hồn: (Mời Sophie)
Xin kính chào quý anh chị em thân mến, chúng ta đã đến giờ đọc kinh cầu nguyện của phòng Hồng Ấn Thiên Chúa trong ngày. Thân mời quý anh chị em cùng lắng đọng và cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa trong giờ kinh nguyện hôm nay, để chúng ta cùng thờ phượng, tôn vinh danh Chúa và kính nhớ Mẹ Maria cùng các Thánh, cũng như để cho lời cầu nguyện của chúng ta được Thiên Chúa chấp nhận một cách xứng đáng.
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cùng với toàn thể Giáo Hội Hoàn Vũ để mừng Đại Lễ Phục Sinh Alleluia – Alleluia
Hôm nay Chúa đã phục sinh, lòng chúng ta hãy trào dâng niềm vui mừng hân hoan vì Chúa đã về nhà Cha. Ngài đã hứa Thiên Đàng cho người trộm lành, Ngài cũng đã hứa Thiên Đàng cho nhng ai tin vào Ngài” Ta đi để dọn chổ cho các con, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó với Thầy “. Đó chính là nền tảng niềm tin của chúng ta. Chúng ta tin tưng vào Đấng hằng sống để chúng ta được sống muôn đời.
Chúa Giêsu phục sinh luôn hiện diện giữa những kẻ tin Người sống lại để mang lại cho họ niềm vui và an bình trong cuộc sống mới.
Trong cuộc đời của chúng ta, có nhiều lúc chúng ta thấy mình qúa yếu đuối, tội lỗi nên chúng ta ngã lòng muốn buông trôi luôn, có nhiều lúc chúng ta thấy mình bị ác tâm và tội lỗi của kẻ xấu tấn công mạnh quá nên bị nhận chìm trong tăm tối mênh mông… những lúc đó chúng ta chán nản vô cùng. Nhưng mầu nhiệm Chúa Giêsu Phục Sinh dạy cho chúng ta rằng đừng nên ngã lòng bởi vì cuối cùng thì ánh sáng sẽ luôn chiến thắng, sự thiện sẽ luôn chiến thắng sự ác.
Xin niềm vui Phục Sinh sẽ biến đổi chúng ta thành con người mới. Con người của ân sủng, con người của tự do không bị những đam mê thấp hèn thống trị. Những thói đời gian dối làm mất đi phẩ giá cao quý của con ngưi được tạo dựng nên giống hình ảnh Chúa. Ước gì niềm tin Chúa đã Phục Sinh giúp chúng ta biết chiến đấu mỗi ngày để chiến thắng cái ác, chiếc thắng tật xấu bằng những hy sinh khổ chế, bằng cuộc sống bác ái yêu thương để mai này chúng ta cũng đuợc phục sinh vinh hiển với Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chết đau thương và sống lại vinh hiển để cứu chuộc chúng con. Xin nâng đỡ chúng con trên đường thánh giá hôm nay, để chúng con biết vuợt qua mọi ích kỷ nhỏ nhen để quảng đại va yêu thương. Vượt qua những tự ái tự kiêu để tha thứ bao dung. Vuợt qua mọi đau khổ cực nhọc để dấn thân hy sinh, cố gắng sống xứng đáng với tình yêu thương hải hà của Chúa Giêsu Phục sinh là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
Cùng trong tâm tình khấn nguyện, chúng con phó dâng lên Chúa: Các linh hồn tổ tiên ông bà, cha me, anh chi em thân bằng quyến thuộc bạn hữu của chúng con đã ly trần, các linh hồn thai nhi Các linh hồn mồ côi và các linh hồn đàng con trong lữa luyện tội. và với nhữ ý nguyện thầm kín riêng tư của từng anh chi em chúng con đây. Xin Chúa đón nhận và Thánh Hóa chúng con nên những nhân chứng của Chúa. Amen!

2. Hát Bài Thánh Ca Phục Sinh: (Mời Vân)

3. Kinh Đức Chúa Thánh Thần: (Mời Sophie)

Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng, chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con, là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt l
ửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con, chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống.
Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.
Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời, xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các Thánh Tông Đồ,  thì rày chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống an ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen
 
4. Thánh Thi: (Mời  .....
Đoàn áo trắng, mau chỉnh tể hàng ngũ,
Đã vượt qua Hồng Hải thật diệu huyền,
Hãy tiến vào dự yến tiệc Con Chiên
Dâng lên Đức Ki-tô lời ca ngợi!
Cùng nếm thử, nào anh em ta hỡi
Thánh Thể Ngài trên thập tự hiến dâng
Uống cho say ly bửu huyết đỏ hồng
Để ta sống cho Chúa Trời mãi mãi.
Ôi phúc cả! Đêm dài Vượt Qua ấy,
Lúc thiên thần chinh phạt khắp dân Ai,
Bổng vùng lên đoàn dân thánh của Ngài
Thoát xiềng xích Pha-ra-ô độc dữ.
Chiên Vượt Qua là Ki-tô Đức Chúa
Đỗ máu đào vô tội cứu sinh linh
Này bánh không men nuôi dưỡng lòng thành,
Hồn trinh trắng khỏi sa vòng tục lụy.
Ôi Tế Vật từ trời cao giáng thế,
Duy mình Ngài phá vở ngục âm ty
Bao tù nhân, Ngài giải phóng đưa về
Rồi ân thưởng phúc trường sinh bất diệt.
Tử thần hỡi, từ đây ngươi đã chết
Lúc Con Người ra khỏi mộ hiên ngang,
Chúa phục sinh khi mở cửa thiên đàng,
Đã ra lệnh giam ngươi vào ngục tối.
Ôi Giê-su, chúng con hằng mong mỏi,
Ngài trở thành niềm hoan lạc Vượt Qua
Đã tái sinh thì xin lượng hải hà,
Cho gia nhập đoàn hùng binh chiến thắng!
Muôn vinh hiển, dâng lên tòa cao sáng
Kính tôn Cha và Thánh Tử phục sinh
Hằng trị vì cùng với Chúa Thánh Linh
Từ muôn thuở đến thiên thu vạn đại.
 
5. Thánh  Vịnh  109 Đức Kito là Vua các Thượng Tế: (Mời Sophie)
Bà Maria Mácđala và một bà khác cũng gọi là Maria đã đến viếng mồ Chúa Ha-lê-lui-a!.
"Bên hửu Cha đây, Con lên ngự trị,
Để rồi bao địch thù,
Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân Con".
Từ Xi-on, Đức Chúa sẽ mở rộng,
Quyền vương đế của Ngài: *
Giửa lòng địch quân, xin Ngài làm bá chủ.
Đức Chúa phán bảo rằng:
"Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh,
Vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh.
"Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện,
Tự lòng Cha, Cha đã sinh ra con".
Đức Chúa đã một lần thề ước,
Ngươi sẽ chẳng rút lời, *
Rằng: "Muôn thuở, Con là Thượng Tế
theo phẩm trật Men-ki-xê-đê".
Tâu Chúa Thượng, Đức Chúa ở bên hửu Ngài
Sẽ đập tan vương bá ngày phẩn nộ.
Dọc đường, Chúa Thượng tôi uống nơi mạch suối,
Nên sẽ ngẩng đầu thật hiên ngang.
Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,
Cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,
Tự muôn đời và chính hiện nay, Luôn mãi đến thiên thu vạn đại. A-men.
Bà Maria Mácđala và một bà khác cũng gọi là Maria đã đến viếng mồ Chúa Ha-lê-lui-a!.

6.   Thánh Vịnh 113a: (Mời  ....)
Chúa Giải Thoát It-Ra-En Ra Khỏi Ai Cập  
Này các bà hãy đến mà xem nơi đã an táng Chúa. Ha-lê-lui-a!.
      Thuở It-ra-en ra khỏi Ai-cập,
thuở nhà Gia-cóp rời bỏ ngoại bang,*
thì Giu-đa trở thành nơi Chúa ngự,
It-ra-en nên lãnh địa của Người.
Vừa thấy thế, biển liền trốn chạy,
sông Gio-đan cũng chảy ngược giòng.*
Ví tựa bầy chiên, núi đồi nhảy nhót,
như thể đàn cừu, gò nổng tung tăng.
Biển kia ơi, việc gì mà trốn chạy?
Gio-đan hỡi! cớ chi chảy ngược dòng?
Kìa núi đồi, sao nhảy nhót ví tựa bầy chiên?
Này gò nổng, sao tung tăng như thể đàn cừu?
Trước Thánh Nhan Chúa, hỡi địa cầu, hãy rung chuyển,
trước thánh nhan Chúa Trời nhà Gia-cóp,*
Người biến đá tảng thành hồ ao,
và sỏi đá nên mạch nước dồi dào.
Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,
Cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,
Tự muôn đời và chính hiện nay, Luôn mãi đến thiên thu vạn đại. A-men.
Này các bà hãy đến mà xem nơi đã an táng Chúa. Ha-lê-lui-a!.

7.   Kinh Vinh Danh: (Mời  ....)
Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm. Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời, là Chúa Cha toàn năng.
Lạy Con Một Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô. Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên Thiên Chúa, là Con Đức Chúa Cha. Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con; Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn. Chúa ngự bên hữu Đức Chúa Cha, xin thương xót chúng con. Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Đấng Tối Cao, cùng Đức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Đức Chúa Cha. Amen.

8. Ca Vịnh: (Mời  ....)
Hôn Lễ Chiên Thiên Chúa
Đức Chúa là Thiên Chúa toàn năng đã lên ngôi hiển trị. Ha-le-lui-a! Ha-lê-lui-a!.
Thiên Chúa ta thờ là Đấng Cứu Độ,
Đấng vinh hiển uy quyền. *
Những lời Người phán quyết
đều chân thật công minh.
Ha-lê-lui-a! Ha-lê-lui-a!
Nào ca ngợi Chúa đi,
hỡi tất cả những tôi trung của chúa, *
hỡi những ai lớn nhỏ
hằng kính sợ Người.
Ha-lê-lui-a! Ha-lê-lui-a!
Đức Chúa là Thiên Chúa toàn năng
đã lên ngôi hiển trị: *
Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ
dâng Chúa lời tôn vinh.
Ha-lê-lui-a! Ha-lê-lui-a!
Vì nay ta đã tới ngày
cử hành hôn lễ Chiên Thiên Chúa, *
và Hiền Thê của Người
đã điểm trang lộng lẫy.
Ha-lê-lui-a! Ha-lê-lui-a!.
Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,
Cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,
Tự muôn đời và chính hiện nay, Luôn mãi đến thiên thu vạn đại. A-men.
Đức Chúa là Thiên Chúa toàn năng đã lên ngôi hiển trị. Ha-le-lui-a! Ha-lê-lui-a!.
9. Kinh Lạy Cha
10. Kinh Kính Mừng (Mời 
11. Kinh Sáng Danh & Lời Nguyện Fatima:  (Mời 
12. Kinh Hãy Nhớ:(Mời 
Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Ðức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà Ðức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời.  Nhân vì sự ấy, con lấy lòng trông cậy than van, chạy đến sấp mình xuống dưới chân Ðức Mẹ, là Nữ Đồng Trinh trên hết các kẻ đồng trinh, xin Ðức Mẹ đoái đến con là kẻ tội lỗi.  Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế, xin chớ bỏ lời con kêu xin, một dủ lòng thương mà nhận lời con cùng. Amen

10.  Bàn Tiệc Lời Chúa:   (Mời 
BÀI ĐỌC I: Cv 10, 34a. 37-43
"Chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại".
Bài trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: "Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Đấng người ta đã giết treo Người trên thập giá.
Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội".
Đó là lời Chúa.

11. Đáp Ca & ALLELUIA: (Mời ....)
Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23
Đáp: Đây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó (c. 24).
1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Đức từ bi của Người muôn thuở".
2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa.
3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta.

12. BÀI ĐỌC II: (Mời  .....)
Cl 3, 1-4
"Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự".
Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.
Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Đức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.
Đó là lời Chúa.
CA TIẾP LIÊN
Các Kitô hữu hãy tiến dâng
lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua.
Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ:
Đức Kitô vô tội đã hoà giải tội nhân với Chúa Cha.
Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ,
tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị.
Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghe
bà đã thấy gì trên quãng đường đi?
Tôi đã thấy mồ Đức Kitô đang sống
và vinh quang của Đấng Phục Sinh,
thấy các thiên thần làm chứng,
thấy khăn liệm và y phục.
Đức Kitô là hy vọng của tôi đã phục sinh,
Người đi trước chư vị tới xứ Galilêa.
Chúng tôi biết Đức Kitô đã sống lại thật từ cõi chết!
Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con.

ALLELUIA: 1 Cr 5, 7b-8a
All. All. - Lễ Vượt Qua của chúng ta là Đức Kitô đã hiến tế vậy chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa - All.

13. PHÚC ÂM: (Mời  .....
Ga 20, 1-9
"Người phải sống lại từ cõi chết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu".
Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ.
Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.
Đó là lời Chúa.

15. Suy niệm  
Sau ngày Chúa chịu chết, các môn đệ rơi vào một tình trạng thê thảm: buồn rầu, sợ hãi, chán nản, thất vọng.
Còn đâu niềm vui khi được ở bên người Thầy yêu dấu. Còn đâu an ủi khi thấy những người đói khát được ăn no, người bệnh tật được chữa lành, kẻ tội lỗi được tha thứ, người chết được sống lại. Còn đâu niềm hy vọng tràn trề khi chứng kiến ma quỷ bị xua đuổi.
Tất cả đã chìm vào quá khứ. Giờ đây sự ác đã chiến thắng, sự dữ đã thống trị. Cả một bầu trời tang tóc phủ trùm trên những người tin Chúa. Tâm hồn các ngài như đã chết. Niềm tin yêu hy vọng của các ngài như cùng bị chôn táng trong mộ với người Thầy yêu quý.
Giữa lúc ấy, Chúa sống lại khải hoàn. Chúa Giêsu Phục Sinh đã khiến cuộc đời các ngài thay đổi tận gốc rễ.
Khi tảng đá lấp cửa mộ tung ra cũng là lúc tâm hồn các ngài thoát khỏi màn đêm vây phủ. Khi gặp được Chúa Phục Sinh, tâm hồn các ngài bừng lên sức sống mới. Máu chảy rần rần. Tim đập rộn ràng. Mắt sáng. Miệng tươi.
Các ngài như người đã chết nay sống lại. Chúa Giêsu đã Phục Sinh tâm hồn các ngài. Sự sống mới của Chúa đã tràn vào các ngài. Ơn Phục Sinh đã được ban cho các ngài. Sự sợ hãi đã trở thành mạnh dạn. Sự yếu đuối đã trở nên mạnh mẽ. Sự thất vọng đã biến thành hy vọng. Nỗi sầu khổ đã biến thành niềm vui.
Cảm nghiệm ơn Phục Sinh rồi, các môn đệ không còn có thể ngồi yên trong căn phòng đóng kín cửa nữa. Các ngài mở tung cửa, hăng hái ra đi đem Tin Mừng Phục Sinh chia sẻ cho mọi người. Các ngài muốn vực dậy những mảnh đời đang chết dần mòn. Các ngài muốn phục hồi những tâm hồn đang héo úa. Các ngài muốn thế giới biến đổi trong một đời sống mới, tươi vui, hạnh phúc, dồi dào hơn.
Hôm nay Chúa muốn cho tất cả mọi người chúng ta, noi gương các Thánh Tông đồ, tiếp nối công việc của Chúa, đem ơn Phục Sinh đến với mọi người.
Có những người đang chết dần mòn vì không đủ cơm ăn áo mặc. Có những cuộc đời tàn lụi đi vì bệnh hoạn tật nguyền. Có những tấm thân gầy mòn vì lao lực vất vả. Có những cuộc đời trẻ thơ bị giam kín trong tăm tối thất học, nghèo nàn. Tất cả đang đợi chờ được Phục Sinh.
Có những tâm hồn đang ủ rũ vì buồn phiền. Có những mạch máu như ngừng chảy vì đau khổ. Có những trái tim đang tan nát vì bị phản bội. Có những cuộc đời cay đắng vì thất bại. Có những tương lai bị chôn kín trong những nấm mồ đen tối không lối thoát. Tất cả đang đợi chờ ơn Phục Sinh.
Nhất là có những tâm hồn đang lún sâu trong vũng lầy tội lỗi. Có những linh hồn đang tự huỷ hoại trong đam mê tiền bạc, quyền lợi, danh vọng. Có những niềm tin héo úa vì lạc hướng. Có những đời sống đang rỉ máu vì chia rẽ bất hoà. Có những cuộc đời đang chao đảo vì gặp khó khăn thử thách. Tất cả đang đợi chờ ơn Phục Sinh.
Đem Tin Mừng Phục Sinh đó là giúp cuộc đời anh em thoát khỏi những bế tắc, giúp cho linh hồn anh em được sống cao thượng và khôi phục niềm tin yêu của anh em vào Thiên Chúa, vào con người và vào cuộc đời.
Tuy nhiên, để có thể đem Tin Mừng Phục Sinh đến với mọi người, bản thân ta cần được Phục Sinh trước.
Trong chính bản thân ta cũng đang chất chứa những mầm mống chết chóc đó là những tội lỗi, đam mê, dục vọng. Trong chính bản thân ta cũng đang ấp ủ những lực lượng tàn phá đó là thói kiêu căng, ích kỷ, chia rẽ, bất hoà, tham lam, bất công. Trong chính bản thân ta đức tin đang héo úa, lòng mến đang nguội lạnh, niềm hy vọng đang lụi tàn.
Để đón nhận được ơn Phục Sinh và để ơn Phục Sinh có thể thấm vào mọi ngõ ngách trong tâm hồn, ta phải cộng tác với Chúa, tẩy trừ mọi lực lượng sự chết ra khỏi tâm hồn ta. Cuộc chiến đấu sẽ khốc liệt vì ta phải chiến đấu với chính bản thân mình. Nhưng với ơn Chúa Phục Sinh trợ giúp, chắc chắn ta sẽ toàn thắng.
 
16.  Cùng hiệp lời cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu phục sinh
Lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt,
xin hãy gọi tên chúng con
như Chúa đã gọi tên chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.
Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc,
xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài
như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.
Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi,
xin hãy đến và đứng giữa chúng con
như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.
Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em,
xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con
như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.
Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì,
xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn,
như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.
Chúng con cầu xin Chúa, xin Chúa nhậm lời chúng con!  
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
xin tỏ mình ra cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày,
để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến,
và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.
Chúng con cầu xin Chúa, xin Chúa nhậm lời chúng con!  

17.  Kinh Cầu Lòng Chúa Thương Xót:
     Ôi Thiên Chúa, Đấng đầy lòng trắc ẩn, Đấng duy nhất tốt lành, con chạy đến van xin lòng thương xót Chúa, mặc dầu sự khốn nạn của con rất to lớn và việc xúc phạm con lại quá nhiều, con vẫn tín thác vào tình thương Chúa – bởi vì Chúa là Đấng xót thương, từ xưa tới nay, con chưa từng nghe một người nào tín thác vào lòng thương xót Chúa mà bị thất vọng.
Ôi Thiên Chúa từ bi, chỉ mình Chúa mới phán xét con. Chúa không bao giờ từ chối khi con thống hối ăn năn chạy tới lòng thương xót Chúa, nơi mà chưa có một linh hồn nào bị từ chối, mặc dù họ là một linh hồn vô cùng tội lỗi, lời Chúa Giêsu, con Cha, đã bảo đảm với con rằng: “ Thà rằng trời đất này có biến ra không, nhưng lòng thương xót của Ta luôn ấp ủ mọi linh hồn tín thác “
Lạy Chúa Giêsu là bạn tri kỷ của những trái tim lẻ loi cô độc, Chúa là thiên đàng. Là Đấng Cứu Độ, là niềm an bình trong những giây phút buồn phiền giữa biển hoang mang nghi ngại, Chúa Là ánh sáng chiếu soi bước đường con đi, Chúa là tất cả của một linh hồn cô độc, Chúa biết sự yếu mềm của chúng con, và giống như một danh y tốt lành, Chúa an ủi và chữa lành mọi đau đớn của chúng con. Amen
 
18.  Kinh Cám Ơn:
Con cám ơn Đức Chúa trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời mà lại sinh ra con, cho con được làm người, cùng hằng gìn giữ con hằng che chở con, lại cho ngôi hai xuống thế làm người, chuộc tội chịu chết trên Cây Thánh Giá vì con, lại cho con được Đạo Thánh Đức Chúa Trời cũng chịu nhiều ơn nhiều phép Hội Thánh nữa, và đã cho phần xác con (ngày/đêm) hôm nay được mọi sự lành, lại cứu lấy con kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp.
Vậy các Thánh ở trên nước Thiên Đàng, cám ơn Đức Chúa Trời thế nào, thì con cùng hợp cùng các Thánh mà dâng lên Chúa, cùng cám ơn như vậy Amen
 
19. Kinh Trông Cậy và Các Câu Lạy:
Chúng con trông cậy rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện, trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng.
Hằng cha chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen
 
Thưa: Lạy rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu.
Đáp: Thương xót chúng con.
Thưa: Lạy Trái Tim cực thanh cực tịnh rất Thánh Đức Bà Maria.
Đáp: Cầu cho chúng con.
Thưa: Lạy Ông thánh Giuse là bạn thanh sạch Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh.
Đáp: Cầu cho chúng con.
Thưa: Các Thánh Tử Vì Đạo nước Việt Nam.
Đáp: Cầu cho chúng con.
Thưa: Nữ Vương ban sự bình an.
Đáp: Cầu cho chúng con.
Lạy Đức Trinh Vương Hòa Bình là Mẹ thương xót, xin ban ơn cải thiện và thánh hóa dân tộc Việt Nam nhỏ bé chúng con.
Hỡi các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin cầu bầu Chúa, Mẹ ban ơn thánh hóa đặc biệt các Chủ Chăn dân tộc Việt Nam.
Xin Đức Trinh Nữ Maria cùng Thánh Tử chúc lành cho chúng con. Amen.
Xin Thiên Chúa toàn năng ban phúc lành cho  tất cả chúng ta, xin Người che chở chúng ta khỏi sự dữ và dẫn đưa tới cuộc sống muôn đời. Amen.
Nhân danh Cha † và Con † và Thánh Thần †. Amen.


                    ------------------------------------------                 ---------------------------------------------

Phần 2: Giờ tìm hiểu Kinh Thánh - 

Hãy Làm Việc Lành Trong Khiêm Hạ

Cùng tìm hiểu câu  sau: 
Mt6:3-4 Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.


 I. HỌC LỜI CHÚA

  1. TIN MỪNG: Mt 6,1-6,16-18

(1) Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời ban thưởng. (2) Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. (3) Còn anh khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, (4) để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh. (5) Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: Chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: Chúng đã được phần thưởng rồi. (6) Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh. (16) Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: Chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. (17) Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, (18) để không ai thấy là anh ăn chay, ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.

  1. Ý CHÍNH:

Sau khi trình bày về sự công chính mới trong việc tuân giữ các giới răn, Đức Giê-su đề cập tới một nền đạo đức mới là phải làm các việc lành thế nào cho phù hợp với tinh thần mới của Người. Điều cốt yếu khi làm các việc đạo đức là phải khiêm tốn và theo thánh ý Chúa Cha: Tránh làm các việc đạo đức như cầu nguyện để được người ta ca tụng; Tránh khua chiêng đánh trống khi bố thí để tìm tiếng khen nơi người đời; Tránh làm bộ mặt rầu rĩ khi ăn chay để mong được thiên hạ nể phục.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 1-2: + Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng. Chớ có phô trương cho thiên hạ thấy: Đức Giê-su đòi hỏi các môn đệ của Người phải tránh thói đạo đức giả hình của các người Pha-ri-sêu (Biệt Phái), là những kẻ “nói mà không làm”, “làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy” (x Mt 23,3.5). + Bố thí: Thời Đức Giê-su, bố thí là việc công chính bậc nhất (x Hc 7,10). Hình như người ta ưa làm việc bố thí công khai, nên dễ đưa tới sự phô trương bề ngoài để được người khác ca tụng. + Đừng có khua chiêng đánh trống: Rất có thể những người Pha-ri-sêu thời bấy giờ dùng chiêng trống để loan báo cho người ăn xin nghèo khó tập trung lại nhận quà. Tuy nhiên, không thấy bản văn nào nói đến việc này. Do đó, ta có thể coi đây chỉ là một ví dụ có tính phóng đại để làm nổi bật đòi hỏi tinh thần khiêm tốn, mà Đức Giê-su muốn các môn đệ của Người phải có, khi làm các việc đạo đức. + Chúng đã được phần thưởng rồi: Lời khen của người đời chính là phần thưởng dành cho những ai làm việc bố thí chỉ nhằm mục đích tự nhiên. Do đó, họ sẽ không được hưởng công phúc thiêng liêng trước mặt Chúa Cha trên trời.

– C 3-4: + Đừng “cho tay trái biết việc tay phải làm”: Là một kiểu nói có nghĩa là phải giữ kín, đừng nói cho người khác biết việc mình đang làm. Người môn đệ Đức Giê-su cần tránh cho mọi người biết việc bố thí của mình, nên phải thực hiện trong sự âm thầm khiêm tốn.

– C 5-6: + Cầu nguyện: Chính Đức Giê-su đã làm gương và dạy các môn đệ về sự cầu nguyện (x. Mt 14,23). Theo các huấn thị của Người rải rác trong các Tin Mừng thì lời cầu nguyện phải như sau: Phải cầu nguyện cách khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa (x Lc 18,10-14) và người đời (x Mt 6,5-6); Phải chân thành, phát xuất tự đáy lòng (x Mt 6,7); Phải tin tưởng vào lòng nhân từ của Chúa Cha (x Mt 6,8; 7,7-11) và kiên trì nài xin (x Lc 11,5-8; 18,1-8). Lời cầu nguyện sẽ chỉ được Chúa chấp nhận khi cầu nguyện với lòng tin (x Mt 21,22); Khi cầu nguyện nhân danh Đức Giê-su (x. Mt 18,19-20); và khi xin Chúa ban những điều tốt lành (x Mt 7,11). + Chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư cho người ta thấy: Ở đây Đức Giê-su không đả kích việc cầu nguyện công khai và có tính cộng đồng (x Mt 18,19-20), nhưng Người chỉ muốn tránh ý đồ phô trương công đức để được ca tụng. + Hãy vào phòng đóng cửa lại mà cầu nguyện cùng Cha của anh: Đức Giê-su gợi lại cách thức của ngôn sứ Ê-li-a khi ông cầu nguyện để làm cho đứa bé mới chết được sống lại (x 2 V 4,33). Cách thức cầu nguyện kín đáo này trái với cách phô trương của những kẻ giả hình. Cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa. “Vào phòng” là hồi tâm, đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa nhờ đức tin. Thiếu điều này sẽ không còn là sự cầu nguyện đích thực nữa.

– C 16-18: + Ăn chay: Đã từ rất lâu, dân Ít-ra-en có tục lệ ăn chay mỗi khi có tang chế (x 2 Sm 3,35), khi cầu xin Chúa một ơn đặc biệt (2 Sm 12,16). Ăn chay theo luật Mô-sê là nhịn ăn uống vào lúc ban ngày. Sự nhịn ăn uống này sẽ kéo dài trong một thời gian lâu hay mau tùy trường hợp. Trong thời gian ăn chay, người ta sẽ không tắm rửa, để râu tóc mọc dài, và mặc một loại quần áo vải thô đặc biệt. Thời Đức Giê-su, dân Do Thái chỉ buộc phải ăn chay trong lễ Xá Tội vào mùng mười tháng Bảy, tức khoảng cuối tháng Chín dương lịch (x. Lv 16,29-31; Cv 27,9), trong ngày kỷ niệm Đền thờ bị tàn phá và những lúc gặp thiên tai. Riêng người Pha-ri-sêu còn tự nguyện ăn chay mỗi tuần hai lần (x. Lc 18,12), nhưng việc chay tịnh chỉ mang tính bề ngoài nhằm phô trương (x Mc 2,18), nên Đức Giê-su đã không chấp nhận sự khổ chế này của họ (x Mc 2,19-20). + Còn anh, khi ăn chay…: Đức Giê-su muốn cho các môn đệ của Người phải ăn chay trong sự kín đáo khiêm tốn: thay vì rắc tro lên mặt, để râu tóc bù xù, quần áo dơ bẩn… thì họ phải rửa mặt, chải dầu thơm giống như họ vẫn thường làm mỗi khi đi ra đường để người khác không biết họ đang ăn chay.

  1. CÂU HỎI:

– HỎI : 

1) Khi nói: “Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh” (c. 4b.6b.18b), phải chăng Đức Giê-su cổ võ một thứ luân lý vụ lợi: Cho đi để được nhận lại ? 

2) Muốn có giá trị trước mặt Thiên Chúa và đón nhận được nhiều ơn lành Chúa ban, thì trong Mùa Chay chúng ta cần tránh và cần làm những công việc gì ? 

3) Nguồn gốc và ý nghĩa của nghi thức xức tro trong ngày lễ Tro ra sao ?

– ĐÁP:

1) Đức Giê-su không dạy chúng ta tìm lợi ích cho bản thân mình khi làm việc thiện để được Chúa trả công. Vì nếu như vậy thì Người đã hứa ban thưởng cho họ những gì thuộc về thế gian như tiền bạc, sức khỏe, thành công… Nhưng ở đây Người không nói rõ họ sẽ được Chúa Cha ban cho phần thưởng gì. Nơi nhiều đoạn khác, phần thưởng được hứa hầu như luôn là Nước Trời hay một trong những hoa trái thiêng liêng của nó là sự sống muôn đời (x. Mt 25,46; Mc 10,30). Các môn đệ sẽ được tham dự vào quyền bá chủ của Người (x. Lc 22,28-29), được xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en trong ngày tận thế (x. Mt 19,28). Như vậy, phần thưởng Đức Giê-su hứa cho những kẻ làm việc lành đều qui hướng về mầu nhiệm Cánh Chung sau này, và được Chúa ban cho không, không do việc làm của họ đáng được thưởng, mà chỉ vì tình thương và lòng nhân hậu vô biên của Người mà thôi (Dụ ngôn đầy tớ vô dụng: Lc 17,7-10). Hơn nữa, phần thưởng ở đây còn là chính Thiên Chúa. Những ai làm việc thiện trước mặt Thiên Chúa, với ý hướng làm vui lòng Ngài và nhằm tôn vinh Ngài, thì sẽ được gặp gỡ Ngài, được nhìn thấy nhan Ngài và sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời.

2) Muốn cho việc ăn chay có giá trị trước mặt Thiên Chúa, thì cần tránh cách ăn chay hình thức bề ngoài như dân Do thái đã bị Đức Chúa quở trách. Nhưng để xứng đáng được Chúa chấp nhận, việc ăn chay phải kèm theo các việc lành như I-sai-a tuyên sấm: “Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn…”. Nào, cách ăn chay mà Đức Chúa ưa thích chẳng phải thế này đó sao: “Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm… Chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ. Thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục”. Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành. Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi. Bấy giờ ngươi kêu lên Đức Chúa sẽ nhận lời, ngươi cầu cứu Người liền đáp: “Có Ta đây!” (Is 58,6b-9a).

3) Về nguồn gốc và ý nghĩa của nghi thức xức tro: Lễ nghi xức tro đã thay đổi như sau: những ai phạm tội nặng công khai, như chối bỏ đức tin, giết người, ngoại tình… sẽ bị loại trừ ra khỏi cộng đoàn. Để được hòa nhập trở lại, họ phải thi hành việc sám hối công khai trong Mùa Chay như sau:

– Đầu tiên vào Thứ Tư trước Chúa nhật I Mùa Chay, các tội nhân công khai sẽ phải tập trung trong nhà thờ chính toà. Sau khi mỗi tội nhân lần lượt công khai xưng thú các tội đã phạm, Đức Giám mục sẽ trao cho họ một chiếc áo nhặm để mặc vào và rắc một ít tro trên đầu họ. Sau đó họ sẽ từ nhà thờ đi đến một tu viện để có giờ hồi tâm sám hối. Đến sáng Thứ Năm Tuần thánh, họ sẽ lại đến nhà thờ chính toà. Sau khi xem xét thái độ sám hối của hối nhân trong Mùa Chay, Đức giám mục sẽ ban phép xá giải các tội lỗi cho họ và giao hoà họ lại với cộng đoàn. Từ dây, họ sẽ được tham dự vào các buổi cử hành bí tích.

– Khi xức tro trên đầu hối nhân, chủ sự sẽ đọc một trong hai câu: Là thân cát bụi sẽ trở về với cát bụi” (St 3,19)hoặc: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Các Thừa Tác Viên không có chức thánh cần phải được chuẩn bị nghi thức và học thuộc các câu nói trên.

– Tro dùng trong phụng tự từ thời Cựu Ước để biểu tượng cho u buồn, cái chết và sự thống hối. Mordecai đã mặc áo vải thô và xức tro khi nghe chiếu chỉ tru diệt dân Do Thái (x. Et 4,1). Ông Gióp cũng mặc áo vải thô và xức tro khi sám hối (x. G 42, 6). Dân thành Ninivê ăn chay, mặc áo nhặm, ngồi trên đống tro (x. Gn 3, 5-6) khi Giona rao giảng về sự thống hối và hoán cải.

Chúa Giê-su nói về sự cần thiết cho một số người tội lỗi để làm việc đền tội, là mang áo nhặm và xức tro (x. Mt 11, 21). Từ thế kỷ thứ hai, Giáo Hội đã dùng tro trong nghi thức Sám Hối. Nhiều Giáo Phụ nhắc đến việc thực hành này.

Lòng sám hối sẽ thúc bách các tín hữu dấn thân sống Tin Mừng, bằng việc từ bỏ mọi xa hoa không cần thiết và thể hiện tình liên đới với người đau khổ.

II. SỐNG LỜI CHÚA

  1. LỜI CHÚA: “Khi bố thí đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6,3).
  2. CÂU CHUYỆN:

1) CẦU NGUYỆN LÀ LẮNG NGHE LỜI CHÚA:

Một cụ già có thói quen ngồi bất động hằng giờ ở cuối nhà thờ. Một ngày nọ, cha xứ hỏi cụ là Chúa đã nói gì với cụ. Cụ trả lời :

– Thưa cha, Chúa chẳng nói gì cả, Ngài chỉ nghe con nói.

– Vậy à ? Thế thì cụ nói gì với Chúa ?

– Dạ, con cũng chẳng nói gì, con chỉ nghe Chúa !

Thực ra, đỉnh cao của cầu nguyện là sự hoàn toàn kết hợp với Chúa, lúc đó không còn ai nói ai nghe mà chỉ có sự im lặng, để con tim nói với nhau. Chúng ta có thể nói đây là một sự thinh lặng hùng biện, không nói gì mà lại nói rất nhiều. Vì thế cầu nguyện có 4 mức độ :

  1. a) Ta nói và Chúa nghe.- b) Chúa nói và ta nghe.- c) Không ai nói nhưng cả hai cùng nghe.- d) Không có nói mà cũng chẳng có ai nghe.

Ngoài ra chúng ta còn thực hành lời Chúa: “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22,40). Làm sao chúng ta có thể luôn cầu nguyện khi chúng ta có trăm công nghìn việc phải làm? Hãy biến mọi công việc ta làm trở thành lời cầu nguyện. Hãy cùng làm việc với Chúa, làm vì lòng mến Chúa và phục vụ Chúa đang hiện thân nơi những người nghèo khổ chung quanh chúng ta. Qua đó những việc chúng ta làm và những lời chúng ta nói đều vì Chúa, trong Chúa, với Chúa và để cứu rỗi các linh hồn… như thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng đã nêu gương cho chúng ta.

2) CHỖ NÀO TRONG NHÀ THỜ LOÀI CHUỘT ÍT BỊ QUẤY RẦY NHẤT ?

Có một con chuột cống sống trong một ngôi nhà thờ cổ ở miền quê nước Pháp. Một hôm khi đi lang thang trong nhà thờ kiếm cái gì ăn cho đỡ đói, bỗng nó gặp một con chuột khác cũng đang đi tìm thức ăn. Hai con chuột làm quen và hỏi thăm về chỗ ở của nhau. Con thứ nhất tâm sự: “Tớ đang sống chui rúc dưới gầm tòa giải tội trong nhà thờ này, nhưng chẳng mấy khi được yên thân. Vì lúc nào cũng có người đến xưng tội làm mất giấc ngủ của tớ !”. Nghe vậy, chuột thứ hai cảm thông với bạn nên đề nghị: “Vậy thì bạn hãy dọn đến ở chung với tớ. Chỗ tớ đang ở vừa ấm áp sạch sẽ, lại vừa yên tĩnh và ít bị quấy rầy !” Chuột thứ nhất ngạc nhiên nói: “Có một chỗ ở lý tưởng như thế trong nhà thờ này thật ư ? Hãy cho tớ biết là chỗ nào vậy ?”. Chuột thứ hai đáp: “Đó là thùng quyên góp giúp đỡ người nghèo đặt ở cuối nhà thờ này đấy !”.

3) BÁC ÁI YÊU THƯƠNG THA NHÂN LÀ CÁCH ĂN CHAY ĐẸP Ý CHÚA NHẤT:

Một vị ẩn tu sống đơn độc trên ngọn núi cao. Ngày đêm ông ăn chay cầu nguyện. Ông ăn chay rất nghiêm ngặt và cầu nguyện rất tha thiết. Ðể thưởng công, Chúa cho xuất hiện một ngôi sao trên đầu núi. Khi nào ông ít ăn chay và không cầu nguyện thì ngôi sao bị lu mờ đi. Khi ông gia tăng ăn chay cầu nguyện thì ngôi sao lại rực sáng lên.

Một hôm ông muốn leo lên đỉnh cao nhất của ngọn núi. Khi ông chuẩn bị lên đường thì một bé gái trong làng đến thăm và ngỏ ý muốn đi cùng với ông lên núi. Thày trò hăng hái lên đường. Đường càng lên cao thì càng dốc và khó đi. Mặt trời mỗi lúc càng nắng gắt. Hai thày trò đều bị ướt đẫm mồ hôi và bị khát nước, nhưng theo luật giữ chay nghiêm ngặt nên thầy trò đều không dám uống nước. Vị ẩn tu không dám uống vì sợ phá chay mất hết công phúc trước mặt Chúa. Nhưng khi thấy em bé mỗi lúc bị mệt thêm, vị ẩn tu thương hại em nên mở chai nước ra uống. Lúc ấy em bé mới dám mở chai nước mang theo ra uống. Uống nước xong, em cảm thấy khỏe hơn và mỉm cười rất tươi như bày tỏ lòng biết ơn thày. Thày ẩn tu ngước mắt nhìn lên ngôi sao trên đỉnh núi vì sợ ngôi sao kia biến mất vì hành động không hãm mình vừa qua. Nhưng lạ thay, trên đầu núi thày thấy không phải một mà có đến hai ngôi sao sáng xuất hiện. Thì ra, để thưởng công lòng bác ái yêu thương tha nhân của thày, Chúa đã cho xuất hiện thêm một ngôi sao nữa.  

4) TÁC HẠI CỦA RƯỢU TRÊN CON NGƯỜI :

Trong kho tàng chuyện cổ nước Pháp có câu chuyện về tác hại của rượu trên con người như sau:

Khi ông Nô-e trồng nho, Sa-tan lấy làm lạ nên tiến lại gần hỏi:

– Ông đang trồng gì thế?

– Cây nho.

– Nó có lợi gì không?

– Có chứ. Trái nó vừa đẹp mắt, vừa ngon miệng. Từ trái nho, ta còn có thể làm ra rượu giúp lòng người hưng phấn nữa.

– Vậy thì để tôi giúp ông.

Sa-tan mới giết một con chiên, một con sư tử, một con lừa và một con heo. Sa-tan lấy máu của chúng tưới vào gốc cây nho. Thế là cây nho lớn rất nhanh. Ông Nô-e lấy trái nho làm rượu.

Từ đó trở đi người ta uống một chút rượu vào thì sẽ vui vẻ và dễ thương như con chiên; uống thêm chút nữa thì trở nên mạnh bạo như con sư tử; Nếu uống thêm ly nữa thì sẽ hóa ra ngu dốt như con lừa; Nếu lại uống thêm nữa thì… sẽ tìm hưởng lạc thú bất chính như con heo vậy. Giữ chay sẽ giúp người ta biết lúc nào phải dừng lại. Một người có bản lãnh, sẽ có khả năng làm chủ mình là người biết dừng lại đúng lúc.

  1. SUY NIỆM:

1) YÊU THƯƠNG LÀ CHO ĐI: Cho nhiều là dấu hiệu yêu nhiều. Thánh Phao-lô đã khuyên các kỳ mục ở Ê-phê-xô như sau: “Và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy: Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Thánh Gia-cô-bê dạy các tín hữu phải có một đức tin hành động như sau: “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hàng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích gì ?” (Gc 2,15-16).

2) HÃY BỐ THÍ CHIA SẺ CƠM ÁO CHO THA NHÂN: Việc đạo đức chúng ta cần quan tâm thực hiện trong Mùa Chay này là sự bố thí chia sẻ « cơm áo gạo tiền » cho những kẻ nghèo đói bệnh tật. Việc bố thí này tuy khó thực hiện, nhưng sẽ mang lại nhiều hữu ích cho tâm hồn ta:

– Khó thực hiện vì “Đồng tiền liền khúc ruột”: Chỉ những người quảng đại mới thực hiện được tốt công việc bác ái chia sẻ này.

– Việc bố thí giúp ta sử dụng đồng tiền Chúa ban theo ý Chúa muốn: Ý thức được giá trị tương đối của tiền bạc ; Biết dùng tiền để làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn ; Giúp ta biết từ bỏ của cải vật chất để có thể thuộc về Chúa trọn vẹn như lời Đức Giê-su khuyên thanh niên giàu có muốn nên hoàn thiện: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà chia sẻ cho người nghèo, để sẽ có được một kho báu trên trời, rồi hãy đến đây theo tôi” (Mc 10,21).

– Bố thí còn là cách đền tội hữu hiệu: Sứ thần Ra-pha-en đã khuyên bảo hai cha con Tô-bi-a như sau: “Bố thí đi đôi với đời sống công chính, thì tốt hơn có của mà cư xử bất công. Làm phúc bố thí thì tốt hơn có nhiều vàng bạc. Việc bố thí sẽ cứu người ta khỏi chết và sẽ tẩy sạch mọi tội lỗi. Những người làm phúc bố thí chắc sẽ được sống lâu” (Tb 12,8-9).

3) CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ? :

Trong Mùa Chay, ngoài việc chăm chỉ dự lễ đọc kinh tại nhà thờ, chúng ta cần tham dự các buổi tĩnh tâm và hồi tâm xét mình Mùa Chay để khám phá ra mình mang mối tội đầu hoặc thói hư nào nơi bản thân để tu sửa và sửa bằng cách nào ?

– Việc đạo đức: Ngoài việc năng dự lễ và rước lễ hằng ngày, chúng ta nên làm thêm vài ba việc hãm mình hay việc bác ái để đền tội, quyết tâm sửa một thói hư như: Chửi thề tục tĩu, lười biếng đọc kinh tối gia đình, hay uống rượu say xỉn, dự lễ Chúa Nhật trễ, xem phim ảnh xấu…

– Hãy dốc lòng làm một việc tốt đối lập với thói xấu, và nói một lời nguyệt tắt như: “Lạy Chúa, xin ban ơn Thánh Thần giúp con chừa bỏ được thói ưa nói xấu những kẻ không ưa con hoặc con không ưa họ, bằng cách kể ra một điều tốt của họ với người khác, để mỗi ngày con được nên tốt lành giống Chúa nhiều hơn”.

– Đấm ngực kèm theo lời xin Chúa tha tội mỗi lần đọc kinh cáo mình.

  1. LỜI CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Cùng với toàn thể Hội Thánh, con bắt đầu bước vào Mùa Chay. Con xin tạ ơn Chúa đã ban cho con một thời gian thuận lợi để có dịp duyệt xét lại đời con, hầu phát huy điều tốt và chấn chỉnh các sai lỗi thiếu sót nơi bản thân mình. Xin chiếu dọi ánh sáng Lời Chúa để con nhận ra con người yếu hèn của con. Nhất là xin đổ Thần Khí Chúa nâng đỡ con. Chỉ nhờ ơn Chúa giúp, con mới có thể trỗi dậy và quyết tâm đi xưng tội để quay về làm hòa với Chúa sau mỗi lần vấp ngã.

– LẠY CHÚA. Trong cuộc sống hằng ngày, con thường tỏ ra ích kỷ, khép kín cửa lòng trước tha nhân. Đôi lúc con cũng làm được một vài việc tốt, nhưng con lại muốn được nhiều người biết và khen ngợi con. Hôm nay xin Chúa giúp con biết ăn ở khiêm tốn theo lời Chúa dạy: “Đừng cho tay trái biết việc tay phải làm”, để con làm vui lòng Chúa và xứng đáng được Chúa ban thưởng hạnh phúc Nước Trời ở đời sau.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS