Container Icon

Trái Đất Đang Trong Thời Kỳ Vô Cùng Quan Trọng, Bạn Đã Biết Chưa?

Chưa bao giờ trong lịch sử Trái Đất của chúng ta, lại đón nhận nhiều sự kiện vũ trụ đặc biệt quan trọng như ngày hôm nay.

Các bạn nên tự hào khi mình đang thực sự sống trong thời đại này, trên hành tinh này.

675-trai-dat-dang-trong-thoi-ky-vo-cung-quan-trong-ban-da-biet-chua-1.jpg

Để tôi điểm qua một vài sự kiện trong đó:

1. Thái Dương hệ chúng ta, trong đó có Trái Đất, đang bước vào dải năng lượng cao tần phát ra từ Trung Tâm Ngân Hà (kéo dài từ 1950 - 2100) mà mỗi 108 triệu năm mới có 1 lần. Nếu sự xuất hiện dạng người vượn lần đầu tiên cách đây khoảng 100 triệu năm trước thì có thể nói đây là lần đầu tiên nhân loại trải nghiệm điều này. Sự kiện này là sự kiện chính mà sẽ kích hoạt các sự kiện khác đi cùng.

675-trai-dat-dang-trong-thoi-ky-vo-cung-quan-trong-ban-da-biet-chua-2.jpg

2. Trái Đất đang bước vào cung Bảo Bình, cung hòa bình và thịnh vượng (bắt đầu năm 2012, kéo dài 2160 năm), bắt đầu 1 chu kỳ hoàng đạo mới, cứ mỗi 25.920 năm một chu kỳ.

3. Kết thúc chu kỳ 36.000 năm phát triển tâm linh của đức Sanat Kumara, đấng Chủ quản Hành tinh, đi cùng với đó là sự thăng lên tinh thần của nhiều linh hồn nhân loại.

675-trai-dat-dang-trong-thoi-ky-vo-cung-quan-trong-ban-da-biet-chua-3.jpg

4. Sự quyết định thử nghiệm của Đấng Tạo Hóa khi lần đầu tiên nâng cấp trực tiếp một hành tinh từ cảnh giới vật lý đậm đặc lên cảnh giới ether.

5. Sự giúp đỡ của đấng Tinh Quân Hòa Bình đang giáng linh lên đức Christ-Di Lặc, đại diện cho Quyền Năng, sự giúp đỡ của Đấng Hóa Thân Tổng Hợp, đại diện cho Ý Chí, sự giúp đỡ của Đức Phật Thích Ca, đại diện cho Minh Triết, và sự tái lâm của Đức Christ trở lại trần gian, đại diện cho Bác Ái, đang đến với Trái Đất trong thời điểm này.

6. Sự giúp đỡ của hàng ngàn sinh mệnh ánh sáng đến từ các ngôi sao khác trong Ngân Hà cũng như các Thiên Hà lân cận đang neo đậu năng lượng của mình xung quanh hành tinh và nhập thế trên hành tinh này. Điều này giải thích lý do vì sao gần đây hay xuất hiện các UFO được người dân ghi hình lại và các vòng tròn trên các cánh đồng.

7. Sự chuyển đổi ý thức từ 3D lên 5D của Mẹ Trái Đất cùng với sự nâng cấp lên cảnh giới ether

675-trai-dat-dang-trong-thoi-ky-vo-cung-quan-trong-ban-da-biet-chua-4.jpg

8. Sự thăng lên tập thể của một số lượng lớn nhân loại từ cơ thể vật lý đậm đặc lên cơ thể ether hay còn gọi là cơ thể ánh sáng, cơ thể cầu vồng.

Sự kiện quan trọng nhất có thể kể đến, đó chính là Thái Dương hệ, bao gồm Trái Đất, đang đi vào dải năng lượng cao tần phát ra từ trung tâm Ngân Hà mà cứ mỗi 108 triệu năm mới có 1 lần. Năng lượng này là vô cùng mạnh mẽ, nó sẽ cung cấp rất nhiều năng lượng cho hành tinh chúng ta, nhờ đó mà hành tinh có thể nâng cấp trực tiếp từ vật chất vật lý đậm đặc lên vật chất ether.

Trước đây điều này là chưa từng xảy ra trong lịch sử vũ trụ. Thông thường khi một hành tinh đi đến chu kỳ của nó, nó sẽ đi vào thời kỳ ngủ đông,sau đó vật chất vật lý được giải thể, và các đấng bề trên cùng với các thiên thần sẽ xây dựng thế giới ether để cho nhân loại sau này nhập thể. Nhưng giờ đây, kế hoạch sẽ thay đổi. Trái đất sẽ nhận năng lượng nhiều hơn, và nâng cao rung động vật chất vật lý lên cao hơn cho đến khi nó tiệm cận với rung động của vật chất ether, và một bước nhảy lượng tử sẽ xảy ra, toàn bộ hành tinh sẽ chuyển sang cảnh giới ether. Cho nên sẽ có 1 điểm cắt, thời điểm mà toàn bộ hành tinh chuyển sang cõi giới ether.

675-trai-dat-dang-trong-thoi-ky-vo-cung-quan-trong-ban-da-biet-chua-5.jpg

Vì đây là lần đầu tiên nó diễn ra trong lịch sử vũ trụ, cho nên không ai biết điều gì sẽ thực sự diễn ra. Tất cả đã được lên kế hoạch, tất cả đã được chuẩn bị, tất cả đang hành động, nhưng nó sẽ xảy ra như thế nào thì chưa ai biết được, ngay cả ở tầm mức cao nhất.

Vì thế cho nên Trái Đất đang nhận được sự quan tâm và giúp đỡ đặc biệt từ các thành viên khác trong dãy Ngân Hà. Nhiều sinh mệnh tinh thần đã đến đây, quan sát điều gì đang diễn ra. Nhiều người đã nhập thế xuống Trái Đất, để trải nghiệm trực tiếp cái điều sẽ xảy đến. Tất cả đều đang rất háo hức. Vâng, điều này giải thích vì sao thời gian này lại xuất hiện nhiều vấn đề có liên quan đến người ngoài hành tinh đến như vậy, và nó cũng giải thích vì sao dân số trên Trái Đất lại phát triển một cách chóng mặt như vậy. Một hành tinh thông thường được lên kế hoạch cho khoảng 550.000 người cư trú, tuy nhiên, ở Trái Đất hiện tại là 7.685.567.942 người(2019).

" Hầu hết các hành tinh, nhưng đặc biệt là hành tinh này, nguyên bản chỉ được thiết kế cho năm trăm năm mươi ngàn người. Nửa triệu người. Đó là kích thước theo dự tính dành cho nó. Nhiều người đang đầu thai ở đây để trải nghiệm tất cả những thay đổi lớn này. Trái Đất đã bị hư hỏng và biến đổi vượt quá khả năng sửa chữa. Thật không may hành tinh này đã thay đổi theo những cách như vậy mà không có một cảm giác nào về việc trở lại bất kỳ điều gì nguyên thủy ban đầu". (Theo Vũ Trụ Xoắn 2).

Với những người chỉ có ý thức trên cảnh giới vật lý, dính mắc nặng nề với vật chất(3D), hầu như không biết nhiều về những gì đang xảy ra. Họ vẫn đang làm những công việc bình thường, sống một cuộc sống bình thường, không quan tâm hoặc cố tình lờ đi những gì đang thực sự diễn ra. Họ sẽ sống một cuộc sống bình thường, chết một cách bình thường, và rời khỏi Trái Đất, tái sinh trên 1 hành tinh 3D nào đó, hành tinh mà tương thích với tầng thứ tư tưởng của họ, bởi Trái Đất sau này sẽ là một hành tinh 5D, nó sẽ không tiếp nhận những con người với ý thức 3D nữa.

(Nói thêm về con người với các ý thức:

3D: người sống với bản năng sinh tồn và dục vọng

4D: người sống với sự thức tỉnh tâm linh, yêu thương và hòa hợp

5D: người sống với tình yêu và sự sáng tạo, vượt qua tính hai mặt nhị nguyên đối lập.)

Với những người có sự quan tâm về tâm linh, sống với tình yêu và sự hòa hợp, đang trên con đường phát triển tâm linh, những người đang thức tỉnh, thời gian này sẽ là một cơ hội tuyệt vời cho họ. Nhân sự kiện này, với sự giúp đỡ từ khắp mọi nơi, họ sẽ mau chóng thức tỉnh, mau chóng giác ngộ hơn bao giờ hết. Cùng với đó là sự thăng lên về mặt vật lý từ cơ thể vật lý đậm đặc sang cơ thể ether một cách dễ dàng. Điều này trước đây là vô cùng khó khăn đối với nhân loại ngay cả với các bậc Đạo sư, khi mà tính tới thời điểm bây giờ chỉ có khoảng 300 người được ghi nhận là thực hiện thành công sự thăng lên về mặt vật lý(có thể kể đến vài hành giả Yoga và các vị đại thành tựu Mật Tông). Tuy nhiên giờ đây, sự thăng lên là dễ dàng hơn khi trong thế kỷ này có khoảng vài chục triệu người sẽ được thăng lên.

Vậy thăng lên cơ thể ether sẽ có lợi ích gì?

Sau đây tôi sẽ điểm qua một vài lợi ích mà các bạn đạt được khi chuyển đổi sang cơ thể ether, cơ thể ánh sáng.

Thứ nhất, thân thể ether sẽ không có bệnh tật. Nó là trơ đối với mọi tác động từ môi trường bên ngoài.

Thứ 2, nó không cần ăn uống để duy trì hoạt động, bởi nó sống nhờ hấp thụ năng lượng Mặt Trời và năng lượng từ môi trường ether.

Thứ 3, nó có thể duy trì bao lâu chúng ta muốn. Điều này có nghĩa là nó bất tử. Chúng ta chỉ chết đi khi chúng ta không muốn dùng nó nữa.

Thứ 4, nó dễ dàng di chuyển khắp mọi nơi chỉ với tư tưởng. Có nghĩa là ta có thể bay lượn, biến mất ở nơi này và xuất hiện ở nơi khác, di chuyển ở khắp mọi nơi mà không cần dùng tới đôi chân.

Thứ 5, nó có thể thay hình đổi dạng với bất kỳ hình dạng nào mà nó tập trung vào.

Thứ 6, với cơ thể này, ta sẽ tàng hình đối với những người 3D và 4D, mặc dù ta vẫn thấy họ. Hoặc ta sẽ xuất hiện trước mắt họ như những người ánh sáng.

Thứ 7, ta sẽ tiếp xúc với một thế giới ether xinh đẹp sẵn có của Trái Đất, nơi được coi là môi trường sống của thế giới thần tiên, trong đó có các thiên thần và các tinh linh tiên nữ.

Có thể nói, với việc thăng lên cơ thể ether, ta nghiễm nhiên trở thành 1 vị Tiên và sẽ sống ở thế giới thần tiên.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 1

PHẦN 1

Tâm ý:

Tịnh hay bất tịnh

Tri hay thông tri

Hoặc hóa duyên hữu sự

Hoặc tự duyên tư trì

Kỳ 1 - Dẫn nhập

Đã từ lâu, tự tính con người không hẳn là Phật, mà là Ma - Phật cùng tồn tại.

Trên con đường tu học để tiến bộ, tại sao nên chọn Phật mà không nên chọn Ma. Vì rằng, Ma cũng là con của Đức Thượng Đế Tối Cao (sau đây gọi bằng các danh từ: Cha/ Đấng Sáng Tạo/ Đức Thượng Đế). Ma cũng làm việc cho Cha và cũng sở hữu các sức mạnh, quyền năng rất tốt. So với người đồng cấp tu Phật, thì pháp lực của Ma sẽ mạnh hơn.

Lý do nằm ở chỗ, sự tự do sáng tạo của Phật và Ma khác nhau. Trong khi Ma bị gông cùm, phong ấn, tù đày phần lớn thời gian, và công việc chỉ được Cha dùng đến khi cần cho các công cuộc nhất định, ví như công cuộc đại tái tạo khi chuyển thế từ thời kỳ mạt kiếp Hạ nguyên sang thời kỳ thánh đức Thượng nguyên. Đối với Phật, Cha cho tu học, thử thách chỉ trong những đoạn thời gian nhất định, còn lại Cha cho hưởng an lạc và ký thác công cuộc sáng tạo mà Cha vĩnh hằng theo đuổi.

Tu Phật khổ trong lúc học, tu Ma khổ ải triển miên.

Vũ trụ cần phát triển để làm động lực cho sự tồn tại của mình. Do đó, Cha sẽ không cho giới học Phật nghỉ ngơi, thanh thản luôn luôn. Bởi vì, sự sao nhãng của các con Cha sẽ làm vũ trụ chậm phát triển, ngừng phát triển. Vũ trụ bị thu hẹp là mong muốn của Ma Vương, từ thuở Thiên Ngoại Ma Vương dụ dỗ các con của Cha ăn trái cấm.

Cha tiên tri và biết được điều xảy ra trong vũ trụ mà Cha cai quản, nhưng vì sự phát triển của Vũ trụ, Cha đã để cho các con của mình nếm trái cấm. Từ đó các con bị nhiễm trần, các con phải chịu khó tu học hòng thoát khỏi sự ràng buộc của Ma Vương.

Mặc dù Thiên Ngoại Ma không thuộc sự cai quản của Cha, nhưng con cái của chúng, sinh ra trong Vũ trụ mà Cha cai quản, nên Cha biết rành chúng.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 2. Sơ Lược Về Không Gian Đa Chiều

PHẦN 2. SƠ LƯỢC VỀ KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU

Con của Cha, tồn tại ở hình dáng con người (hiện đại) đang am hiểu và sử dụng không gian Vũ trụ mà Cha sáng tạo trong phạm vi rất hạn hẹp.

Con người chỉ có thể hiểu biết và sử dụng không gian 3 chiều (3D) mà không hề biết sự tồn tại của các chiều không gian cao hơn nữa.

Không gian vũ trụ này không phải là bất biến, bởi vì nó đang được mở rộng trong từng sát na, với sự góp công của hàng tỉ sinh linh tồn tại trong nó. Đánh bại Thiên Ma, Thiên Ngoại Ma, từng bước khống chế không gian loạn lưu, gieo mầm hỗn độn và diễn sinh không gian là công việc của các Bậc Đại Năng điều hành, với sự góp sức của hàng tỉ tỉ trường năng lượng tích cực của các sinh linh khác.

Không gian vũ trụ không chỉ là không gian 3D, điều đó may mắn sao đã được khoa học chứng minh (có nghĩa rằng có nhiều người tin vào điều đó). Nhưng có chút không may, nó lại ràng buộc lòng tin con người vào điều chỉ có thể thấy được bằng 2 con mắt. Trong khi vũ trụ là không gian đa chiều.

1917-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-2-1.jpg

Tính đến chiều thứ 7:

- Chiều không gian thứ 4 là chiều tồn tại của các vong linh, thần linh. Không gian 4 chiều (4D) là một nấc trung gian, nó lệ thuộc rất nhiều vào không gian 3D để tồn tại. Do đó, các thực thể tồn tại ở chiều không gian nay cần được con người xây dựng những công trình như đền chùa miếu nhất định để được an trụ.

- Không gian 5D tạo bởi từ không gian 3D và chiều thứ 4, chiều thứ 5. Các động thiên, xứ sở thần tiên được xây dựng trong từ không gian 5D trở đi. Không gian 5 chiều (5D) là không gian tồn tại của vị Thánh và bậc tương đương.

- Không gian 6 chiều (6D) tạo bởi từ không gian 4D và chiều thứ 5, thứ 6. Không gian 6D là không gian tồn tại của các vị Bồ Tát và các bậc tương đương.

- Không gian 7 chiều (7D) tạo bởi từ không gian 5D và chiều thứ 6, thứ 7. Không gian 7D là không gian tồn tại của các vị Phật và các bậc tương đương.

Không gian 3D là không gian căn bản, các không gian đa chiều mặc dù siêu việt nhưng cơ bản phải neo trụ vào các vị trí trong không gian 3D. Các vị trí đó đã được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: tiết điểm không gian, cánh cổng không gian, đường hầm không gian…

Người ta có thể tìm thấy không gian 4D để hầu hết các điểm của không gian 3D. Còn không gian 5D trở lên thì không hẳn vậy. Những vị trí trong không gian 3D xuất hiện cánh cổng tương thông với không gian chiều thứ 5 (và hơn nữa) đều là những nơi linh thiêng. Những nơi mà sách phong thủy xưa gọi là long huyệt có thể là những điểm như vậy. Tại các vị trí đó, con người trong không gian vật lý có cơ hội giao tiếp với các thực thể trong các chiều không gian đa chiều. Vì thế, những vị trí đó thường xảy ra tranh chấp giữa hai thế lực Phật - Ma. Người không có sự linh mẫn, khi giao tiếp với thực thể trong chiều không gian đa chiều bậc cao vì vậy dễ mắc sai lầm khi thực thể đó là thành phần thuộc Ma giới.

Cho nên sách nói, khi không có sự dẫn dắt của chân sư, việc lần mò, tự tìm kiếm cơ hội giao tiếp với thế giới vô hình (cũng là thế giới của các không gian đa chiều bậc cao) là một điều nguy hiểm.

Vậy liệu chúng ta, những con người trong không gian vật lý, có khả năng nình thấy không gian chiều thứ 4 trở lên không?


Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 3. Nhìn Thấy Không Gian 4D Trở Lên

PHẦN 3. NHÌN THẤY KHÔNG GIAN 4D TRỞ LÊN

Có rất nhiều trước tác nói về sự tồn tại của vong hồn, thần linh. Xưa nay xảy ra nhiều tình huống mà người ta khẳng định là quan sát được sự tồn tại của các thực thể đó. Cơ bản có thể chia thành 2 loại tình huống.

Tình huống khoa học:

- Sử dụng máy ảnh, máy quay phim, vô tình ghi lại được hình ảnh các vong linh, thần linh.

Tình huống phi khoa học như:

- Nhìn thấy trong lúc mộng mị;

- Nhìn thấy khi trải qua kinh nghiệm cận tử;

- Những người tu đạo nhìn thấy bằng việc sử dụng con mắt thứ 3.

Những tình huốn phi khoa học tổng kết lại 1 điều rằng, con người có khả năng nhìn thấy sinh linh tồn tại ở các chiều không gian từ 4 chiều trở lên. Tuy nhiên, hình thức chủ động và thụ động là hoàn toàn khác nhau. Đa phần các tình huống kinh nghiệm kể lại đều là thụ động.

Thiền gia đây đó nói rằng, mở được con mắt thứ 3 sẽ có khả năng nhìn thấy thần linh, tiên, Phật… Điều đó là hữu lý, bởi vì, con mắt thứ 3 (còn được gọi là Thần Nhãn) được Đấng Sáng Tạo tạo ra với mục đích thiêng liêng và có rất nhiều chức năng. Người thế giới 3D không tiếp cận được với không gian từ chiều thứ 4 thường gọi đó là pháp thuật, quyền năng…

Đối với tình huống khoa học, bằng một cơ chế phù hợp nào đó, khi thiết bị ghi nhận ánh sáng và vẽ lại thông tin, ánh sáng tại các chiều không gian từ 4 trở lên đã được ghi lại. Vì vậy, khi trả lại thông tin ghi nhận bằng hình ảnh, người ta phát hiện ra trong khung hình có những hình ảnh mà lúc trước không hề nhìn thấy trong không gian 3D.

Như vậy, từ hai tình huống khoa học và phi khoa học đều cho thấy, nhìn thấy không gian từ chiều thứ 4 trở lên là hoàn toàn có thể.

Nhưng tại sao trong các câu chuyện kể của dân gian, trong các kinh sách có lâu năm nói thật nhiều những câu chuyện về thần thánh mà người hiện đại lại cảm thấy mờ mịt với các vấn đề đó. Dần dần họ cho rằng chuyện thần thánh chỉ là trí tưởng tượng.

Thực ra, điều này liên quan đến đặc tính liên kết giữa các chiều không gian theo các thời kỳ và sẽ được giới thiệu trong kỳ tiếp theo với tựa đề "Đặc tính liên kết giữa các chiều không gian theo các thời kỳ".

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 4. Đặc Tính Liên Kết Giữa Các Chiều Không Gian Theo Các Thời Kỳ

PHẦN 4. ĐẶC TÍNH LIÊN KẾT GIỮA CÁC CHIỀU KHÔNG GIAN THEO CÁC THỜI KỲ

Lực liên kết giữa các chiều không gian không là bất biến mà thay đổi theo từng thời kỳ, tùy thuộc cơ bản vào vị trí giữa vạn ngàn tinh tú trong Vũ trụ. Ứng với mỗi thời kỳ Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên, lực liên kết giữa các chiều không gian khác nhau. Đi cùng với sự biến đổi đó của Thiên đạo, thiên luật thay đổi thông suốt từ vô vi đến hữu vi, từ không gian đa chiều bậc cao đến không gian vật lý.

Để dễ dàng tiếp cận, lấy lý thuyết chiêm tinh học về 12 cung hoàng đạo để giải thích. Mười hai cung hoàng đạo được biết đến đó là: Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên Bình, Thiên Yết, Nhân Mã, Ma Kết, Bảo Bình và Song Ngư. Mỗi kỷ nguyên ứng với một cung hoàng đạo dài khoảng 2160 năm, tùy thuộc vào kích thước các chòm sao và những yếu tố vô hình khác. Lực liên kết giữa các chiều không gian do đặc tính của các chòm sao quyết định. Có 3 tình huống:

- Lực phân kỳ: Là thời kỳ mà lực liên kết giữa các chiều không gian yếu đi, việc di chuyển từ chiều không gian càng cao xuống chiều càng thấp trở nên khó khăn;

- Lực trung hòa: Là thời kỳ mà lực liên kết giữa các chiều tương đối ổn định, không quá khó khăn, cũng không dễ dàng di chuyển giữa các chiều không gian;

- Lực hội tụ: Là thời kỳ mà lực liên kết giữa các chiều không gian mạnh lên, việc di chuyển qua lại giữa các chiều trở nên dễ dàng.

1919-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-4-dac-tinh-lien-ket-giua-cac-chieu-khong-gian-theo-cac-thoi-ky-1.jpg

Điều này giải thích được vì sao có những giai đoạn lịch sử nghe toàn chuyện thần tiên xuất hiện, có giai đoạn thì chuyện thần tiên nghe thật xa xôi cứ như là trí tưởng tượng của con người mà thôi.

Thời kỳ Song Ngư, con người phát triển tính cá nhân và có xu hướng trọng vật chất, là một thời kỳ mà lực phân kỳ của các chiều không gian rất lớn. Lực phân kỳ thời kỳ này lớn đến mức người địa cầu đa số đã tin rằng, Thần Phật chỉ lại trí tưởng tượng của một nhóm người yếu đuối, đi tìm sự giúp của trí tưởng tượng, là một phép “A Quy” để tránh khổ đau.

Trước đó, thời kỳ Bạch Dương, con người phục tùng Thiên luật và trọng danh dự, là một thời kỳ liên kết có tính trung hòa, với sự thừa kế đặc tính hội tụ của thời kỳ Kim Ngưu. Thời kỳ này Thần Phật dễ dàng xuất hiện cạnh con người, và giúp cho con người địa cầu tất cả mọi mặt trong cuộc sống. Do vậy, nhiều kiến trúc cổ còn tồn tại thể hiện sự vĩ đại của nó, mà thời kỳ Song Ngư đỉnh cao cũng không thể nào so sánh được.

May thay, thời kỳ Bảo Bình tới đây, là một thời kỳ tính liên kết hội tụ rất mạnh mẽ, con người sẽ thức tỉnh tinh thần và phụng sự Đấng Sáng Tạo. Chư vị Phật Tiên sẽ sát cánh cùng con người địa cầu trong một kỷ nguyên đẹp đẽ, hiếm có trong lịch sử nhân loại.

1919-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-4-dac-tinh-lien-ket-giua-cac-chieu-khong-gian-theo-cac-thoi-ky-2.jpg

Đặc tính liên kết của các chiều không gian theo thời kỳ là một trong những mấu chốt quan trọng để các bậc đại năng đưa ra các quyết định về chương trình công việc được sắp xếp cho hàng thiên niên kỷ (cũng được gọi là Thiên Cơ).

Với không gian đa chiều và đặc tính của nó, nhiều câu chuyện hoặc tâm linh hoặc khoa học về vượt thời gian, người ngoài hành tinh… được giải thích trong một trật tự logic. Để nói nhiều hơn về các điều đó, kỳ tới sẽ tiếp tục với chủ đề thời gian vĩnh hằng và mối quan hệ giữa thời gian và không gian đa chiều.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 5. Thời Gian Vật Lý, Thời Gian Vĩnh Hằng Và Thời Gian Đa Chiều

PHẦN 5. THỜI GIAN VẬT LÝ, THỜI GIAN VĨNH HẰNG VÀ THỜI GIAN ĐA CHIỀU

“Thời gian” là một thành tố kỳ lạ của vũ trụ, nó “chảy” thông suốt qua mọi chiều không gian và tác động lên tất cả các không gian mà nó chảy qua. Đâu đó trong vĩnh hằng thời gian là bất biến, tuy nhiên, qua các không gian đa chiều khác nhau, thời gian sẽ ngắn dài khác nhau.

Để dễ lý giải, ta xem có các “loại thời gian” sau đây:

- “Thời gian vật lý” là thời gian “chảy” trong không gian 3D.

- “Thời gian vĩnh hằng” là thời gian “chảy” trong toàn thể vũ trụ.

- “Thời gian đa chiều” là thời gian “chảy” trong không gian đa chiều (từ chiều thứ 4 trở lên).

Trong cùng một đại lượng “thời gian vĩnh hằng”, “thời gian vật lý” là lớn nhất và “thời gian đa chiều” bé dần trong chiều không gian lớn dần.

Giống như một phương trình nhiều biến số, khi số biến số càng nhiều, thì tác động của một biến số lên tổng thể càng bé đi.

1920-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-5-thoi-gian-vat-ly-thoi-gian-vinh-hang-va-thoi-gian-da-chieu-1.jpg

Sách xưa cũng như sách nay, người tìm hiểu huyền học sẽ dễ dàng bắt gặp những khái niệm như “Một ngày ở trên trời bằng một năm ở trần gian”. Vì khi các thiền nhân xuất thể đi về các không gian bậc cao, họ lang thang trên đó 1 khoảng thời gian tưởng ngắn, nhưng khi quay về thì thời gian vật lý đã trôi qua thật dài. Câu nói trên là một đánh giá định tính của đặc tính thời gian. Có lẽ tới một thời điểm nào đó, bằng huyền môn hoặc bằng khoa học, người ta sẽ tính được một ngày trong không gian 7D dài bằng bao nhiêu ngày trong không gian 6D, một ngày trong không gian 6D dài bằng bao nhiêu ngày trong không gian 5D… một các định lượng.

Từ Thức khi lên tiên sống được một thời gian (có lẽ là đi vào động thiên ở không gian 5D), tới khi quay về đã nhiều năm trôi qua, trong làng không còn ai biết ông cả. Đây là một dẫn chứng của dân gian (trong vô vàn dẫn chứng) cho thấy tính biến thiên theo không gian của thời gian. Cũng trong chuyện Từ Thức lên tiên, dân gian biết đến cánh cổng đi vào tiên giới mà khi đi vào thì thấy, khi trở lại tìm không ra. Đó là vì sao?

Khoa học cũng cho rằng, khi thiết bị bay đạt vận tốc bay bằng hoặc hơn vận tốc ánh sáng, không gian và thời gian bị bóp méo và con người có thể du hành xuyên thời gian. Đây cũng là một giả thuyết của khoa học chứng minh cho tính biến thiên của thời gian. Tuy nhiên, có một sự nhầm lẫn ở đây. Sự nhầm lẫn đó là bởi vì, không phải thời gian bị thiết bị bay bóp méo, mà là thiết bị bay bằng cơ chế phù hợp đã đi vào chiều không gian bậc cao, do đó thời gian bay của thiết bị trong không gian này chênh lệch nhiều lần so với thời gian bay trong không gian vật lý. Vì vậy, khi họ dừng bay và trở ra không gian vật lý, thời gian đã trôi qua nhiều năm, và các nhà khoa học lầm tưởng đó là du hành xuyên thời gian.

Vậy thì, vì sao Từ Thức không tìm ra cánh cửa đi vào cõi tiên khi quay lại đúng chỗ vào năm xưa, và vì sao thiết bị bay đạt vận tốc ánh sáng lại có thể đi xuyên không gian? Đó là vì đặc tính của ánh sáng. Ánh sáng có những quyền năng đặc biệt và đó sẽ là chủ đề của kỳ tiếp theo.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 6. Ánh Sáng Và Quyền Năng Của Nó

PHẦN 6. ÁNH SÁNG VÀ QUYỀN NĂNG CỦA NÓ

Sự thay đổi của vật chất thay đổi rất nhiều theo các bậc không gian đa chiều khác nhau. Đi vào không gian đa chiều bậc càng cao, vật chất càng nhẹ đi. Con người kỷ Song Ngư là một điển hình về nặng thể vật chất, họ gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều tinh thần lực nếu muốn đi vào không gian bậc cao.

May thay, ánh sáng là một loại vật chất hiếm hoi có thể đi thông qua hầu hết các chiều không gian mà khó gặp cản trở. Ánh sáng có rất nhiều công năng, vì sự huyền diệu của nó, nên gọi các công năng đó là quyền năng.

Việc các thiết bị ghi hình vô tình chụp được các thực thể (người ta thường gọi là Thần, Ma…) chính là nhờ công năng của ánh sáng. Ánh sáng vượt qua không gian 3D, tiến nhập vào không gian đa chiều và ghi lại hình ảnh của các thực thể này. Sau đó nhờ thiết bị ghi hình mã hóa, trả lại cho con người thấy hình ảnh.

1921-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-6-anh-sang-va-quyen-nang-cua-no-1.jpg

Con người trong kỳ Bảo Bình sẽ hướng nền khoa học vào công năng của ánh sáng, giúp họ có thể tìm cách di chuyển vào chiều không gian thứ 4 và hy vọng tiếp tục di chuyển vào các chiều không gian cao hơn nữa. Ánh sáng cũng tồn tại nhiều cung bậc khác nhau, thể hiện quyền năng của nó. Ví như ánh sáng Phật màu vàng có quyền năng vô cùng to lớn, nếu ánh sáng này được dùng như một lực phá hủy, thế giới sẽ nhanh chóng sụp đổ. Thế nên, Cha cho chư vị đức Phật sử dụng ánh sáng này chỉ khi họ thắng được tâm ma, đắc quả vị Phật để giúp ích cho chúng sinh, phụng sự đại công cuộc dưỡng dục sinh cơ, phát triển Vũ trụ mà Cha hằng định chí.

Công nghệ ánh sáng sẽ phát triển và bỏ công nghệ điện tử lại phía sau. Công nghệ ánh sáng là công nghệ đồng hành với không gian đa chiều, còn công nghệ điện tử có thể nói chỉ là công cụ bị hạn chế rất nhiều trong vật chất truyền dẫn, khiến nó có tính năng như không gian 2 chiều.

Đến cuối kỷ nguyên Song Ngư, người ta bắt đầu sử dụng tới các thiết bị 3D. Chúng ta liền thấy được thuộc tính của ánh sáng với những mô hình 3D, màn trình chiều ánh sáng 3D. Những công nghệ như công nghệ Laser cũng được chú trọng phát triển. Trong các bộ phim, câu chuyện viễn tưởng, người hiện đại đã bắt đầu có những cảm nhận về công nghệ ánh sáng và những quyền năng của nó. Trong bộ phim Cuộc chiến tranh giữa các vì sao, các thanh gươm ánh sáng là một ấn tượng đặc biệt… Đó là những tín hiệu của một sự khởi đầu về công nghệ ánh sáng mà luôn đi kèm với khai phá không gian.

1921-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-6-anh-sang-va-quyen-nang-cua-no-2.jpg

Ánh sáng có quyền năng dịch chuyển xuyên không gian, dịch chuyển phi trọng lượng, và nhiều ứng dụng khác nữa. Các nền văn minh trong quá khứ thực ra đã biết sử dụng các quyền năng của ánh sáng:

- Dịch chuyển phi trọng lượng: Người Ai Cập cổ đại đã di chuyển những khối cự thạch bằng ánh sáng. Thời đó, người và thần sống được phép ở gần nhau. Các vị Thần Ai Cập đã dùng ánh sáng tinh thần để nhấc các tảng cự thạch, di chuyển lên thuyền bè chuyên chở, và lại dùng ánh sáng tinh thần để sắp xếp các tảng cự thạch lên Kim tự tháp. Quyền năng của ánh sáng làm cho các tảng cự thạch được thoát khỏi ràng buộc không gian vật lý 3D, nên chúng trở nên nhẹ đi khiến người ta dễ dàng di chuyển. Khi các vị thần dứt nguồn ánh sáng, các tảng cự thạch lại nặng nề như vốn có.

- Dịch chuyển xuyên không gian: Chuyện Từ Thức lên tiên của Việt Nam là một ví dụ về quyền năng dịch chuyển xuyên không gian của ánh sáng. Cánh cổng đi vào cõi tiên là một cánh cổng ánh sáng. Khi Từ Thức đi vào tiên cảnh, cánh cổng ánh sáng đang được mở ra. Đến khi chàng nhớ quê trở về, quay trở lại thì cánh cổng đã đóng và chàng đi không cách nào tìm lại được.

Kỷ nguyên mới sẽ là kỷ nguyên phát triển của công nghệ ánh sáng, bởi những nền tảng trong “chương trình công việc” của các Bậc Đại Năng hoàn tất cho cư dân quả địa cầu này trong một thời gian dài đã khá đầy đủ. Chúng ta có khoa học đã tiệm cận năng lực khai phá công nghệ này, chúng ta có các công trình cổ đại là một minh chứng về năng lực kỳ vĩ của các thần nhân. Có một điều nên ghi nhớ, khoa học giúp công nghệ ánh sáng tiếp cận với đại chúng, còn huyền môn, nơi những người hiền tề tựu mới là chốn thực sự nắm giữ quyền năng của ánh sáng.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 7. Sơ Lược Về Con Mắt Thứ 3

PHẦN 7. SƠ LƯỢC VỀ CON MẮT THỨ 3

Con mắt thứ 3 được sách vở, thiền môn nhắc đến thật nhiều, đó là cánh cửa mở ra thế giới tâm linh, cũng là cánh cửa giúp con người tiếp cận không gian đa chiều. Người tiến hóa càng cao, con mắt thứ 3 càng phát triển và nhìn thấu chiều không gian càng cao.

Trong kho tàng pháp nhãn, Cha đang sở hữu hơn 3000 con đường tiến hóa khác nhau của Con mắt thứ 3. Một trong số các cao nhân tu thành, có pháp nhãn viên mãn được sách vở nhắc thật nhiều là Nhị Lang Thần. Bằng vào việc mở bung Con mắt thứ 3, Nhị Lang Thần có được 72 phép thần thông biến hóa.

Một vài nguyên tắc cơ bản của Con mắt thứ 3 đó là:

Tâm nhãn kết nối với hư không, tùy thuộc vào căn nguyên của mỗi người để biết hư không đó xa hay gần.

Thị nhãn kết nối vi diệu với hệ thống dây thần kinh (hữu và vô) của não bộ, sẽ gồm có một số phần cơ bản như sau:

- Khối tiếp nhận thông tin

- Khối chuyển hóa thông tin

- Khối cảm nhận tinh thần

- Khối hóa dụng tinh thần

1922-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-7-so-luoc-ve-con-mat-thu-3-1.jpg

Tiếp nhận và chuyển hóa thông tin nôm na như đầu vào và đầu ra tiến trình. Mức độ đầu tiên khi người tu học sử dụng Con mắt thứ 3 đó là cảm giác. Họ bắt đầu cảm thấy như có người nói chuyện với mình, cảm thấy có thần linh… Tất cả những hiện tượng đó đều nói lên rằng, Con mắt thứ 3 đã hoạt động và “thấy” được chiều không gian từ thứ 4 trở lên.

Trong khối tiếp nhận thông tin có một cảm quan (biến) đảm nhận chức năng cảm quang. Khi con người tu học tiến hóa đủ lực, biến cảm quang phát triển viên mãn là lúc người tu có thể nhìn được chân thật hình ảnh của các chiều không giao bậc cao. Việc ghi nhận được thực hiện theo những cơ chế phức tạp, trong đó gồm cả phương cách, Con mắt thứ 3 xuất thông tin cảm nhận sang 2 nhục nhãn và người ta thấy được thông qua nhục nhãn.

Khối cảm nhận tinh thần và khối hóa dụng tinh thần giúp người tiến hóa cảm nhận tiếp thu trí huệ, xây dựng pháp lực khi họ tiếp xúc với kho tàng tri thức, kho tàng năng lượng trong các không gian đa chiều. Điều này nói lên việc vì sao các thiền nhân ngồi thiền hàng giờ, hàng tháng và hơn nữa mà ngộ được trí huệ, đắc được thần thông.

Pháp đồ Cửu Trùng Đài của Lục Tổ Huệ Năng đặt cho Con mắt thứ 3 cái tên là Hư vô huyện lý là vì vậy. Đả thông huyệt này, con người ngoài giao tiếp được với các chiều không gian bậc cao, trong tiếp xúc được với các kho tàng tri thức, thần thông của vũ trụ.

Liên quan đến quyền năng của ánh sáng, khai mở Con mắt thứ 3 đến trình độ nhất định sẽ giúp con người thực hiện được việc xuyên qua không gian, khu vật dịch vật…

Do vậy, trách nhiệm phát triển công nghệ ánh sáng của thời kỳ mới rơi lên vai của những con người tiến hóa. Họ học hỏi, họ nghiên cứu, họ sáng chế và hướng dẫn chúng dân bằng huyền môn và bằng khoa học. Để trong thời đại mới, con người có thể sử dụng công nghệ ánh sáng mà phụng sự cho đại công cuộc phát triển sinh cơ, mở rộng vũ trụ.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 8. Vật Chất Đa Dạng Trong Không Gian Đa Chiều Bậc Cao

PHẦN 8. VẬT CHẤT ĐA DẠNG TRONG KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU BẬC CAO

Vũ trụ này là không gian đa chiều, tiến nhập không gian đa chiều bậc càng cao đại biểu cho năng lực tiến hóa của con người càng cao. Sự sống của sinh linh ở các không gian đa chiều bậc cao là sự thật và trước khi nói về nó, hãy nói về vật chất trong không gian gian đa chiều bậc cao.

Vật chất rất đa dạng và phong phú khi đi vào không gian đa chiều, bậc càng cao càng có nhiều vật chất quý hiếm. Để dễ hình dung, hãy nói về một số nguyên tố hóa học và sự tồn tại của nó ở các không gian.

Nói về Oxy.

Ở không gian 3D, Oxy tồn tại dưới dạng bình thường có O2, mà một ít tồn tại được ở dạng O3. O3 sẽ không bền vững mà có xu hướng trở về dạng O2. Sở dĩ việc đó xảy ra như vậy, vì luật của không gian 3D là vật chật nặng nề, nên ngay cả thể khí của một loại nguyên tố cũng phải tồn tại ở dạng nặng nề, ổn định nhất của nó.

Tuy nhiên, ở không gian 4D, O5 tồn tại và khá ổn định. Lên tới không gian 6D, O9 là một thể vật chất phổ biến.

Điều thú vị là sinh linh ở không gian 3D rất yêu thích khí O5 và O9. Các loại hoa khi nhận được O5của các linh tinh (Fairy) cấp dưỡng, hoa sẽ nở tươi hơn và xinh hơn (tức là hoa nở theo tự nhiên) so với việc nở do các chất kích thích hóa học. Các linh tinh di chuyển vào không gian 4D và chở O5 về cho hoa. Hoa phải hấp thu ngay khi linh tinh đưa về, nếu không O5­ sẽ liền tan thành O2. Khi hoa bị ngắt đi, linh tinh tiếp tục theo hoa một khoảng thời gian để chăm sóc. Sau đó bỏ đi, hoa cũng sẽ héo nhanh chóng.

Các nhiếp ảnh gia phát hiện ra rằng, khi chụp hoa trồng được chăm bón với nhiều hóa chất ở các nhà vườn, ảnh sẽ không giàu sức sống bằng các bông hoa trồng ở trong nhà dân hoặc hoa dại. Bởi lẽ, dưới sự mô tả của anh sáng, sinh cơ của các bông hoa được linh tinh cấp dưỡng bằng O5 sẽ mạnh mẽ, dồi dào hơn các bông hoa được con người cấp dưỡng bằng các mánh khóe.

Bài thiền học lấy khí O9 của các thiền gia cũng là một điều mới mẻ. Cách đây cũng không nhiều năm lắm, tại Việt Nam, một số thiền gia đã thực hành bài học này. Trải nghiệm chung nhất của các thiền gia là khi tiếp cận được với O9 trong người cảm thấy thư thái, thoải mái.

1923-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-8-vat-chat-da-dang-trong-khong-gian-da-chieu-bac-cao-1.jpg

Nói về Au

Cũng như các vật chất khác, Au tồn tại trong không gian 3D và các không gian đa chiều, bậc càng cao thể của Au càng nhẹ.

Kinh sách có nói nhiều về kim thân.

Người có kim thân có thể đi vào ra các chiều không gian, tối thiểu đạt tới chiều thứ 7. Bởi vì người đắc đạo có được kim thân là thân thể có năng lực tổng hợp được Au đa hình thái, phù hợp với không gian tương ứng.

Khi tồn tại ở không gian 3D, họ phô thân thể dưới dạng bình thường, nhưng khi bước vào chiều thứ 7, thân thể được chuyển sang trạng thái Au9 với một màu vàng óng.

Các vật chất khác cũng tuân theo quy luật như vậy. Ở không gian đa chiều bậc càng cao, nguyên tố tương ứng tồn tại dưới dạng vật chất càng nhẹ (ứng với cân bằng năng lượng càng cao). Không gian đa chiều cũng có đất lửa gió nước, cũng có núi cao, sông dài nhưng nhẹ nhàng hơn. Vậy mới có nhiều cảnh thần tiên với non bồng, nhược thủy.

Một vài điều suy ngẫm

Ở thời kỳ Song Ngư, lực liên kết không gian phân kỳ quá mạnh, vật chất được coi trọng, và coi trọng thái quá. Con người lầm tưởng năng lực của một đời người chính là sở hữu nhiều vật chất và có địa vị xã hội cao. Nhưng đến thời kỳ Bảo Bình, lực liên kết không gian hội tụ (cũng sẽ rất mạnh), con người mới hiểu ra rằng, năng lực chân chính là sở hữu trí huệ và quyền năng tâm linh. Người có khả năng ra vào chiều không gian càng cao là có quyền năng càng cao (cũng là tiến hóa càng cao). Đó cũng là lúc, vật chất vật lý (của không gian 3D) bắt đầu bị coi nhẹ, người “giàu có” là người có khả năng tiếp cận và sử dụng vật chất của các không gian đa chiều, bậc càng cao càng là người “giàu có”. Các thiền sư, đạo nhân lúc này sẽ được nhìn nhận như là những người “giàu có”, các bộ môn về tinh thần học, tâm thức học, tâm linh… được coi trọng và phát triển.

Câu nói vật chất là phù du nghe chừng cũng sẽ không hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ, quan niệm về vật chất của thời kỳ Bảo Bình đã hoàn toàn thay đổi. Biết về các chiều không gian, biết về sự tồn tại của những bậc nhân loại đã tiến hóa Thần Thánh Tiên Phật, con người sẽ không còn hồ đồ như trước nữa, họ sẽ dấn thân lên một con đường tu học và xây dựng mới. Ở kỷ nguyên đó, tinh thần và những “vật chất” phục vụ cho tinh thần sẽ được coi trọng, coi trọng tuyệt đối.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 9. Sự Sống Ở Không Gian Đa Chiều Bậc Cao & Người Ngoài Hành Tinh

PHẦN 9. SỰ SỐNG Ở KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU BẬC CAO & NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH

Sinh linh tồn tại trong không gian chiều càng cao sẽ có trạng thái vật chất càng nhẹ. Các chủng loài sinh linh đa dạng cũng bao gồm thực vật, động vật và con người. Trường năng lượng của các cá thể và tổng thể sinh linh sẽ tương hợp với trường năng lượng của không gian đó.

Cách nói cõi vô hình là một cách nói khác và có lẽ sẽ thay đổi khi con người tiến bộ tiến nhập các chiều không gian cao hơn. Cho đến chiều không gian thứ 7, người ta vẫn thấy các vị Phật hình dáng con người, thấy được sông dài lả lướt, thấy được núi non bồng bềnh, thấy được đền đài kiến trúc, thấy được mây lành bay bay…

Đồng dạng nguyên tố với không gian vật lý, nhưng vật chất tồn tại ở dạng nhẹ hơn và mức năng lượng cân bằng cao hơn. Thêm vào đó, nhiều nguyên tố mà bảng hệ thống tuần hoàn của nhân loại chưa đề cập đến cũng sẽ tìm được trong các không gian bậc cao.

Đã có những thước phim cho rằng, mặt trăng có tồn tại “Người ngoài hành tinh” và bề mặt mặt trăng xuất hiện những nguyên tố kim loại mà ở quả địa cầu phải tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Đó là vì, “người ngoài hành tinh” có nền văn minh cao hơn người địa cầu hiện đại, họ khai thác và sử dụng được nhiều vật chất hơn những thứ hiện có trong không gian 3D.

Trong không gian đa chiều bậc cao, các kiến trúc được xây dựng phù hợp với mức cân bằng năng lượng của nó. Các yếu tố đất lửa gió nước cũng đầy đủ để diễn sinh và cấu thành sự sống. Thực vật, động vật phong phú và đa dạng, với sức mạnh và trí thông minh cao hơn thực vật, động vật sống trong không gian 3D. Linh thú cũng sống trong các chiều không gian đó, với linh tính càng cao thì đạt đến chiều không gian càng cao.

1924-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-9-su-song-o-khong-gian-da-chieu-bac-cao--nguoi-ngoai-hanh-tinh-1.jpg

VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA "NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH”

“Người ngoài hành tinh” là một danh từ lạ lẫm mà con người của thời kỳ Song Ngư gán cho họ. Thực ra “người ngoài hành tinh” là người của những nền văn minh cổ xưa của quả địa cầu này. Họ đã phát triển nền văn minh rất rực rỡ, tiến nhập được không gian 4D, 5D và có thể đã đạt tới 6D. Tuy nhiên, vì ma tính nổi lên, họ cho rằng mình đã siêu nhiên và có quyền năng thắng được Đức Thượng Đế dẫn đến làm nhiều điều sai trái. Kết quả, Đức Thượng Đế đã xóa sổ nền văn minh của các chủng người này, nhưng không hoàn toàn tuyệt chủng. Những con người có tâm tính thiện lương được Cha giữ lại, hội đồng chư Thiên bàn bạc và giao cho họ một số vùng đất để tiếp tục sinh tồn. Họ buộc phải hoạt động hạn chế, không được thường xuyên xuất hiện ở chiều không gian 3D.

“Người ngoài hành tinh” sống được trên mặt trăng, dưới lòng biển, trong lòng đất, nơi mà con người hiện đại chưa đủ sức đặt chân đến. Thiết bị di chuyển của quá siêu tưởng so với loài người hiện đại. Trong đó có đĩa bay, một thiết bị có khả năng xuyên qua không gian đa chiều. Một ít người địa cầu đã quan sát được, nhưng thưởng chỉ một lúc thì mất dấu.

“Người ngoài hành tinh” là hiện hữu. Tuy nhiên, họ chịu sự hạn chế của Đức Thượng Đế. Nếu Cha để cho chủng người hiện đại của Địa cầu xảy ra chiến tranh với “Người ngoài hành tinh” để giành lấy không gian sống, loại người hiện đại chỉ có thất bại.

Phật tính là điều Đức Thượng Đế mong muốn các con của mình hướng tới. Ngài đang cho chúng ta - những con người hiện đại cơ hội đó.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 10. Phương Thức Giao Tiếp Thay Đổi Theo Các Chiều Không Gian

PHẦN 10. PHƯƠNG THỨC GIAO TIẾP THAY ĐỔI THEO CÁC CHIỀU KHÔNG GIAN

Ở không gian đa chiều bậc cao, sự giao tiếp của các thực thể diễn ra như thế nào? Nếu giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và viết, có lẽ nói được nửa câu thì không gian 3D đã chuyển được nửa ngày. Như vậy thì phận sự chăm sóc, dưỡng dục sinh cơ của chúng sinh trong không gian 3D của các bậc đại năng không thể thực hiện được.

Bởi vậy, không gian bậc càng cao, phương thức giao tiếp càng tinh vi. Trước đây khoa học truyền tin xa bằng tín hiệu tương tự, hiện nay truyền tín hiệu số theo gói. Ở không gian đa chiều bậc cao, các thực thể có thể giao tiếp bằng thông điệp tư tưởng, suy nghĩ của người truyền muốn đến và suy nghĩ của người tiếp muốn nhận là hoàn thành giao tiếp. Cao hơn nữa, sự giao tiếp diễn ra bằng sự giao hòa ánh sáng. Các bản khế ước, chương trình nghị sự của các bậc đại năng được thực hiện dễ dàng bằng việc giao hòa các khối ánh sáng và năng lượng, hoạch định nên con đường diễn sinh, tiến hóa cho vũ trụ…

Về kinh sách, cũng có nhiều hình thái khác nhau để người học đạo có thể tiếp cận. Có thể chia thành 3 chủng loại cơ bản: hữu tự kinh, pháp tự kinh và vô tự kinh.

- Hữu tự kinh cũng giống như sách vở ở không gian 3D, đây là phương thức giao tiếp đơn giản và thô lậu nhất. Hữu tự kinh chuyển từ không gian đa chiều bậc cao xuống 3D có thể thực hiện bằng đàn cơ chẳng hạn.

- Pháp tự kinh thực ra cũng đã xuất hiện ở không gian 3D nhờ công nghệ khoa học, ví như các đĩa quang chứa đựng thông tin được đọc bằng máy vi tính. Tại các không gian bậc cao, pháp tự kinh là các đồ vật chứa thông tin, tri thức được các pháp sư dùng những phương cách nhất định ghi vào đó. Người đọc bằng phương cách thích hợp sẽ xem được thông tin, tri thức trong đó. Trong tu tiên truyện, các ngọc giản là pháp tự kinh vậy. Thông thường pháp tự kinh ghi và đọc bằng tinh thần lực.

- Vô tự kinh cũng là đồ vật chứa đựng thông tin, tuy nhiên không đơn giản như pháp tự kinh. Vô tự kinh cũng gồm nhiều đẳng cấp, từ đơn giản tới phức tạp. Vô tự kinh khác pháp tự kinh ở chỗ, sự diễn sinh từ vô tự sang hữu tự phụ thuộc vào người tiếp nhận. Vì vậy, không phân biệt ngôn ngữ hay phương cách, miễn người đọc vô tự kinh đủ năng lực tiếp nhận. Một số bản vô tự kinh đặc biệt có linh tính và tự sinh hóa kiến thức cho mình. Một đạo sư tiếp nhận 1 bản vô tự kinh loại này, đi theo vô số năm tháng, kiến thức tích lũy trong bản kinh đó được tăng trưởng. Khi cần dùng đến, xem lại sẽ rất hữu ích cho vị đạo sư đó. Sẽ có những tình huống mà vô tự kinh cùng hòa đồng với trí huệ của đạo sư.

Khi các thiền nhân đủ sức giao tiếp với các thực thể tại các không gian đa chiều bậc cao, thiền nhân sẽ có cơ hội được thụ pháp hoặc trực tiếp hoặc qua kinh thư. Phương pháp thụ pháp trực tiếp sẽ tốn rất nhiều thời gian cho thiền nhân, vì thời gian của không gian bậc cao chênh lệch lớn với không gian 3D. Đó là lý do các thiền nhân cần rất nhiều thời gian nhập định nếu muốn thụ pháp trực tiếp.

Cũng có phương pháp giao tiếp khác là các thiền nhân nhanh chóng nhận được kinh sách (pháp tự hoặc vô tự kinh) từ bề trên và trở lại không gian 3D. Lúc đó thông tin, tri thức đã nằm trong bản kinh, thần hồn lưu giữ. Thiền nhân tĩnh tọa, tự mình mở kinh sách xem học mới đặng đủ thời gian tu học.

Phương thức giao tiếp và sự tu học thay đổi rất lớn khi tiến nhập các không gian bậc càng cao. Người gặp duyên lành, một lần được chân sư dẫn dắt tiến nhập được tàng kinh nào đó, được tiếp nhận một họa đồ thư có linh tính chẳng hạn, chặng đường tu học của lập tức chuyển biến sang một cung bậc khác. Hà Đồ, Lạc Thư là hai bộ vô tự kinh nổi tiếng từ xưa vậy. Tuy nhiên, pháp tự kinh và vô tự kinh đối với người ở thế giới 3D là vô hình kinh, họ không thấy được nên sinh ra lắm mối nghi. Thực hành tu học thông qua hữu hình hữu tự kinh vấp phải những sự chấp trước và hàng rào khái niệm của ngôn ngữ. Có những bản kinh lại được dịch thông qua mấy lần ngôn ngữ, chân nghĩa lệch lạc. Như vậy mới thấy hữu hình kinh quá nhiều hạn chế.

Phương thức giao tiếp trong không gian đa chiều là đa dạng, chúng sinh tùy thời có thể chọn cách tu học sao cho phù hợp với bản thân để hiệu quả tinh tấn là tốt nhất.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 11. Quốc Độ Trên Các Không Gian Đa Chiều

PHẦN 11. QUỐC ĐỘ TRÊN CÁC KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU

Người học đạo sẽ nghe thật nhiều về hai chữ “Quốc độ”, là nơi những linh hồn thanh thản siêu thoát được đi về sau khi bỏ lại thân xác vật lý.

Trong vũ trụ không gian đa chiều có rất nhiều quốc độ. Cha cho các con của Cha khi đạt tới quả vị nhất định được quyền mở ra quốc độ để độ chúng sinh. Quốc độ xuất hiện từ không gian 6D trở lên. Trong không gian 5D, các không gian sinh tồn cũng được mở ra rất nhiều, nhưng Cha không khuyến khích mở ra quốc độ vì sợ làm các con Cha lười nhác trễ nãi việc tu học tinh tấn. Khi sinh linh tiến nhập được không gian 6D, 7D với các quốc độ cõi Trời, cõi Phật, nhận thức liền thay đổi thật nhiều và định chí tu học lúc đó mới đủ lớn.

Hình dung một quốc độ như một quốc gia bình thường ở không gian 3D. Vị Tiên Phật làm chủ quốc độ đó được ví với Vua. Vị ấy điều hành và chịu trách nhiệm cho sự diễn sinh, phồn thịnh của quốc độ đó. Cư dân của một quốc độ có nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể sinh ra và lớn lên ở quốc độ đó, cũng có thể được tuyển chọn từ các không gian khác đưa đến.

Đối với người địa cầu của chúng ta, quốc độ của Phật A-Di-Đà, quốc độ của Chúa Giê-su là nơi chúng ta được khuyến khích hướng tới. Vì định chí của Phật A-Di-Đà, của Chúa Giê-su là độ người địa cầu chúng ta. Nhưng không phải chỉ có quốc độ của 2 Ngài, mà còn nhiều quốc độ của nhiều vị Tiên Phật khác nữa. Các vị cổ Phật cũng để mắt tới con người địa cầu chúng ta, nhưng tiêu chuẩn của các ngài khắt khe hơn. Trong Phong thần diễn nghĩa có một vài tình tiết hay ho. Các ngài cổ Phật tranh tuyển người xuất chúng, phù hợp về quốc độ của các Ngài. Kỳ Phong thần đợt này cũng xảy ra chuyện như vậy. Một số người tiến hóa sẽ được rước về quốc độ của các vị cổ Phật.

Quốc độ Bạch Quang ở không gian 6D cũng là một quốc độ phồn thịnh. Chào đón kỷ nguyên mới, quốc độ Bạch Quang sẽ được người địa cầu biết đến một cách phổ biến.

1926-vu-tru-nay-la-khong-gian-da-chieu-phan-11-quoc-do-tren-cac-khong-gian-da-chieu-1.jpg

Quốc độ là đặc ân hay sự ràng buộc đối với các vị Phật Tiên?

Thực ra đó là một sự lựa chọn. Các vị Phật Tiên hoàn toàn có thể từ chối việc lập ra quốc độ khi đã được Cha thông tri. Như thế thì họ có thể đi chu du trong khắp cả vũ trụ, tích góp đạo hạnh, tự mình tu học không theo chương trình của Cha. Thế nhưng, diễn sinh và phát triển một quốc độ lại là một con đường tu đạo hiệu quả. Thông qua việc hòa nhập và dung dưỡng vạn vạn sinh linh trong quốc độ của mình, các vị Phật Tiên mới có thể hòa mình với đạo một cách triệt để. Hạn chế của việc lập ra quốc độ là vị Phật Tiên đó phải gắn liền sinh mệnh của mình với quốc độ, không thể tự mình lang thang đây đó. Để tái thiết tu học, tích lũy công đức, ngoài chăm lo quốc độ của mình, các ngài thường phân thân đầu thai khắp các cấp không gian để tu học. Từ đó, năng lực cai quản chúng sinh của các ngài được lớn mạnh, định chí của các ngài đặt trên con đường phát triển lên đặng toàn năng. Biết đâu, nhiều tỉ năm tiếp theo, Cha sẽ chọn một vị Vua của một quốc độ nào đó thay Cha cai quản vũ trụ này.

Đối với chúng sinh, vãng sinh về một quốc độ nào đó là một phúc duyên, nhưng không có nghĩa là trường cửu. Nếu chỉ có nghỉ ngơi và hưởng thụ thanh nhàn, sinh linh không thể nào tiến hóa. Do đó, hết kỳ hạn hoặc đến lúc phù hợp, chúng sinh được cho đi đầu thai để tiếp tục tu học, tiến hóa.

Người hiền mới được độ về quốc độ của Phật Tiên, người càng tiến hóa thì năng lực hoạt động của họ trên quốc độ càng cao. Vì vậy, chớ nên lấy việc vãng sinh về một miền quốc độ nào đó làm đích đến của việc tu học, hãy lấy việc tinh tấn và hiệu quả của tinh tấn làm đầu. Trong 8 tỷ dân địa cầu hiện tại, số người từ các miền quốc độ không gian bậc cao phân thân đầu thai làm người chẳng ít chút nào. Những vị như vậy mà chỉ khăn khắn tu đặng thanh nhẹ kịp trở về thì lúc xưa phát nguyện nhân sinh e hơi uổng công.

Trên tuân thiên cơ, dưới dựa thời vận, những con người thừa hành sứ mệnh chớ quên điều đó. Người từ các quốc độ Phật đã vậy, người phụng sự Thiên Đình càng phải cầm chắc điều đó.

Vũ Trụ Này Là Không Gian Đa Chiều: Phần 12. Sứ Mệnh Của Thiên Đình (Kỳ Chót)

PHẦN 12. SỨ MỆNH CỦA THIÊN ĐÌNH (KỲ CHÓT)

Trong vũ trụ không gian đa chiều này, Thiên Đình không phải là tổ chức tối cao nhất, nhưng có thể xem là một trong những tổ chức quan trọng nhất. Ví như, quốc độ của các Đức Phật cai quản thuộc về không gian 7D, nhiều vị tiên trưởng thành tựu quả vị trên Chân Tiên cũng vượt qua không gian 6D. Các vị ấy không phải chỉ có vui mây thưởng nguyệt vĩnh hằng mà thường xuyên phải chăm lo xây dựng quốc độ của mình, cứu độ chúng sinh… Trong khi đó, Thiên Đình với hạch tâm là điện Linh Tiêu chỉ được xây dựng tại không gian 6D. Thế nhưng Thiên Đình là tổ chức chịu trách nhiệm chính về việc vận hành vũ trụ theo ý muốn của các bậc đại năng và Đấng Sáng Tạo.

Để giải thích, phải nói một chút về Thiên cơ.

Khi các bậc đại năng và Cha diễn sinh Thiên cơ, mỗi vị đại năng thả một quả cầu năng lượng bao hàm hiểu biết, mong muốn và lực đạo của mình để hòa chung với nhau. Đặng cuối cùng là Cha cũng thả ra một quả cầu, cũng bao hàm hiểu biết, mong muốn và lực đạo của mình, nhưng thêm một đặc quyền nữa là định chí của Đấng Sáng Tạo trong đó. Chừng đó, các quả cầu tự giao hòa và sinh diễn Thiên cơ. (Nên các bậc đại năng đều hiểu biết Thiên cơ, nhưng không ai ra được một dự ngôn chính xác 100% được cả, vì định chí của Đấng Sáng Tạo là biến số cuối cùng).

Thiên cơ diễn sinh, phải có tổ chức thừa hành. Trọng trách đó được giao lên vai của tổ chức có tên gọi là Thiên Đình. Bên dưới Thiên Đình là muôn vàn tổ chức khác như các Tiên Cung, Diêm Phủ, Long Cung… các tổ chức hữu hình trong cõi 3D cũng đều chịu sự chi phối của Thiên Đình và v.v… Có thể nói, phạm vi quản sự của Thiên Đình trải rộng trên hầu hết không gian từ 6D trở xuống.

Thiên Đình sắc phong, các thủ lĩnh tại Tiên Cung, Diêm Phủ, Long Cung… sẽ phụng sự Thiên Đình làm việc.

Nói thêm một chút, không gian 7D và cao hơn nữa, Thiên Đình không có quyền quản sự. Ở các tầng không gian đó, Thiên Đình sẽ có đồng minh, có trung lập, có bất đồng, và có cả đối đầu.

Tuy nhiên, đừng xem thường con người của Thiên Đình. Rất nhiều trong số họ đạt được quả vị của con người ở các không gian bậc cao như Phật và cao hơn nữa. Điện Linh Tiêu và kiến trúc kèm theo - hội sở chính của Thiên Đình là một khối kiến trúc rất đặc biệt trong vũ trụ này. Cái tên Linh Tiêu Bảo Điện không phải là sính ngữ. Trong Bảo Điện có nhiều động thiên ẩn, mật; nhiều cánh cổng không gian câu thông với “thượng giới”. Những thế lực ẩn mật đó mới thực sự là căn cơ của Thiên Đình. Chúng ta biết đến Tam Thanh chẳng hạn, các vị đó thường xuyên ngao du “thượng giới”, ít khi tham gia triều chính thiên triều. Nhưng mỗi lần Thiên Đình nguy biến đều có dấu ấn công đức của các ngài để lại.

Đã có những câu chuyện, bộ phim nói về thời kỳ Thiên Đình bị Ma vương chiếm đóng. Cái đó cũng xảy ra. Tuy nhiên thời gian chiếm đóng sẽ không thể kéo dài được. Căn cơ của Thiên Đình vững chắc, Ma vương chiếm được điện Linh Tiêu cũng chỉ là trung tâm thừa hành của Thiên Đình, các không gian ẩn mật và cánh cổng mở ra “thượng giới” Thiên ma không thể nào xâm nhập. Hết kì kiếp nạn, Ngọc Hoàng Thượng Đế lại quy vị, thiết lập lại triều chính, thưởng phạt phân minh.

Kỳ kiếp nạn của Thiên Đình xảy ra vào thời kỳ không gian có lực phân kỳ mạnh nhất, khi mà chúng sinh không gần được Phật Tiên, họ mất đi niềm tin vào Thượng đế nên bị Thiên ma lợi dụng, phá quấy và dấy lên cuộc đại phản nghịch. Các bậc đại năng liền lấy cơ hội đó, kiến thiết một đại trường thi cho chúng sinh. Đại trường thi đó lúc được đẩy lên cao trào có cái tên thường gọi là Hội Long Hoa. Hội Long Hoa là một quá trình, không phải một sự kiện như nhiều người lầm tưởng.

Đến năm 2020 thì đại trường thi xem như kết thúc, Ngọc Hoàng Thượng Đế quy vị và ngài đang xét công luận tội chúng sinh, ban cho thi hành án, sắp đặt lại trật tự thế giới.

Những gì đang xảy ra ở thế giới 3D hiện nay đang cho chúng ta thấy tường tận hoặc tội trạng của chúng sinh và sự thi hành án. Chúng ta cũng đang chờ đợi Phong thần bảng kỳ này, điều đó sẽ sớm đến.

Nếu Hội Long Hoa là một quá trình, thì Hội Long Vân lại là một sự kiện. Cái tên Hội Long Vân thực sự là mới mẻ đối với đại chúng.

Ngọc Hoàng Thượng Đế, chủ điện Linh Tiêu là người chịu trách nhiệm cai quản các tổ chức từ không gian 6D trở xuống, đặng việc vận hành của Vũ trụ theo đúng Thiên cơ mà các bậc đại năng ở Thượng Thiên xếp đặt. Ông chủ điện Linh Tiêu không vì thế mà là người “thấp bé” hơn so với chư vị Tiên Phật khác. Ông ta, người Cha cõi 6D là hiện thân của Đấng Sáng Tạo, là phân thân của vị Cha cả toàn năng.

Vì sao?

Vì Cha thấy các con xa Cha, làm điều phiền muộn, nên Cha đã hóa ra thật nhiều phân thân trên hầu các cấp không gian, để tiện giao tiếp với các con của Cha. Cõi thấp, cõi cao gì Cha cũng có mặt cả. Người địa cầu tu học chưa rành, đã vội phân biệt ngôi cao ngôi thấp, nhận Phật không nhận Cha. Nên nhớ, cõi Phật bắt đầu ở không gian 7D, trong khi vũ trụ toàn thể có nhiều chiều hơn 7. Chỉ có các con Cha khờ khạo mới thị phi bàn chuyện cao thấp, chứ Phật là Tỉnh Thức, đâu có gì là ngôi vị.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Vũ Trụ Diễn Sinh

 Kỳ 1. Gieo Mầm Hỗn Độn, Vũ Trụ Diễn Sinh

Vũ trụ này từ vô thủy vốn là một mảng vô hạn không gian hỗn loạn, không chiều không hướng, không có sinh linh, không có vật chất, bất kỳ thứ gì trụ định đều không có, chỉ có những năng lượng tối va chạm và tranh chấp lẫn nhau vô cùng vô tận.

Sau đó, có một thứ xuất hiện được gọi là Hỗn độn. Hỗn độn được gieo mầm vào trong vũ trụ này. Hỗn độn mang theo kho tàng tri thức, những quy luật vận hành toàn vẹn cho một vũ trụ toàn thể. Từ đó, năng lượng bắt đầu có sự giao hòa theo những quy luật nhất định, tạo ra một quả cầu năng lượng cực kỳ khổng lồ. Quả cầu lớn dần lớn dần trong vô hạn không gian hỗn loạn.

Một ngày nọ, quả cầu năng lượng tích đủ năng lượng cần thiết, nó nổ tung ra và bắt đầu hình thành vũ trụ. Dựa theo tri thức Hỗn độn, vụ nổ có chủ đích đó đã kích mở ra không gian có chiều hướng, tạo ra những thứ mà có thể vận chuyển theo quy luật đó là năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên.

Hỗn độn tiếp tục tác động lên năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên theo những quy luật nhất định. Theo đó, năng lượng bản nguyên hội tụ tạo ra vật chất, tinh thần bản nguyên hội tụ tạo ra linh vật.

Các vật chất cơ bản dần dần được hình thành theo nguyên tắc hội tụ năng lượng. Các hạt vật chất nhỏ nhất, các nguyên tố đất nước gió lửa, các hành tình, các dãi thiên hà từ đó qua nhiều tỷ năm dần dà được tạo lập. Nhưng đó sẽ là chuyện về sau. Khởi nguyên vũ trụ giai đoạn đầu, chưa có ánh sáng của định lực, không gian mặc dù đã trụ định nhưng chưa mở ra nhiều chiều, nó là một mảng hồng mông tử khí (khí màu tím), vô cùng vô tận.

Đối với linh vật, chúng tích lũy tinh thần bản nguyên mà hình thành. Khi linh vật tích lũy tinh thần bản nguyên tới mức độ nhất định, đủ về lượng sẽ thay đổi về chất sẽ khai mở ra linh trí. Từ có linh trí, linh vật tiếp tục tinh thần bản nguyên và được tích lũy thêm kiến thức về vũ trụ. Khi tích lũy đủ lượng tinh thần bản nguyên và kiến thức về vũ trụ, linh vật tiếp tục thay đổi về chất, thăng lên cấp linh tính và được gọi là Linh căn. Linh căn là linh vật được tạo thành từ tinh thần bản nguyên và có kiến thức về vũ trụ. Cấp độ tiến hóa của linh căn được thể hiện ở mức tích lũy tinh thần bản nguyên (là tinh thần lực) và kiến thức về vũ trụ (là trí huệ), tinh thần lực và trí huệ có tác động tương hổ lẫn nhau.

Rất nhiều tỷ năm về sau, muôn loài đi tìm con đường tìm về cội nguồn, kết nối hồng hoang để tinh tấn, tiến hóa, tăng trưởng giá trị tích lũy tinh thần lực và trí huệ cho linh căn theo muôn vàn phương cách khác chính nhau. Đó chính là tu đạo vậy!

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 2. Không Gian Hồng Hoang

KỲ 2. KHÔNG GIAN HỒNG HOANG

Sau vụ nổ có chủ đích của khối năng lượng khổng lồ, không gian có chiều hướng bắt đầu hình thành. Phát triển chiều hướng lên đến chiều thứ 3 thì được trụ định. Không gian 3D được hình thành và là không gian khởi nguyên của vũ trụ. Không gian tiếp tục diễn sinh và phát triển. Cho đến nay, vũ trụ ngoài các cấp không gian đa chiều với hữu hình hữu tướng sinh linh, còn có các cấp không gian bên trong vô hình vô tướng sinh linh. Các cấp vô hình vô tướng đó là không gian hồng hoang, nơi sinh sống của muôn hồn tiến hóa và nơi linh hồn luôn muốn tiến về - Cội đạo.

Không gian hồng hoang cũng lại chia thành cao thấp. Sâu nhất trong không gian hồng hoang là cấp Tử mông vô cực, kế đến là Hồng hoang thái cực, và ngoài cùng là Hư vô lưỡng cực.

Tử mông vô cực là không gian cao cấp nhất của Vũ trụ, cội nguồn của Đạo. Trong không gian đó, các Linh Căn vô vi vô ngã, trôi nổi thuận theo Thiên Đạo, hòa mà không tan, hợp mà không mất. Linh Căn được phép hấp thu khí tử mông, là căn khí cực phẩm của Vũ trụ để tăng trưởng tinh thần lực và trí huệ. Tử mông vô cực tuy rằng cấp dưỡng không gian tồn tại và tinh tấn cho chúng linh căn riêng biệt, nhưng toàn thể không gian Tử mông vô cực vẫn là một khối thống nhất. Và toàn bộ tầng không gian này chính là Cội Đạo, là Đại Linh Căn Đại Ngã, là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Chí Tôn, là Chúa Cha, là Thượng Đế của các Đấng Thượng Đế…

Tiếp đến là không gian Hồng hoang thái cực. Nếu không gian Tử mông vô cực là vô ngôi, toàn thể linh căn đều hòa vào Cội đạo, thì không gian Hồng hoang thái cực hình thành phải là hữu ngôi. Vũ trụ diễn sinh đến đây, Cội đạo đã biết, chúng linh căn liền nương Thiên đạo, chia tách trọng trách cho các đại Linh căn tiến hóa để vận hành Vũ trụ, đặng cho vũ trụ phát triển. Không gian Hồng hoang thái cực bấy giờ mới có Hội đồng Thượng đế/Hội đồng các Đấng Sáng Tạo và Hội đồng lại bầu tiếp người đứng đầu là Đức Thượng Đế vậy.

Cấp ngoài cùng của không gian Hồng hoang là không gian Hư vô lưỡng cực. Tại không gian này, các linh căn bắt đầu phân chia tính âm dương, tiện cho phụ trách vận hành tinh thần lực của nhật nguyệt, phụ trách vận hành tinh thần lực và năng lượng vật chất trong các không gian hữu hình tiếp theo. Nhiệm vụ được giao, các linh căn hình thành các tổ chức quản sự về linh hồn, phụ trách các công việc về nhân quả, luân hồi… đặng sao cho linh hồn khi đầu thai xuống các không gian hữu hình việc tu học thuận thiên đạo mà kết quả tu học là tốt nhất có thể.

Đến đây, chúng ta dừng lại một chút để lặp lại câu hỏi muôn đời: Đức Thượng Đế là ai?

Thiết nghĩ, mỗi một chúng ta đều có thể chọn riêng cho mình một đáp án đấy. Các đáp án ấy chung quy rơi vào các tình huống:

- Đức Thượng Đế vô ngôi là Cội đạo, là Thiên đạo, là tất cả Vũ trụ. Ngài luôn hiện hữu bên cạnh chúng ta, chỉ có chúng ta không cảm nhận được Ngài. Ngài giao tiếp với chúng ta là phi ngôn ngữ, chỉ có ánh sáng linh quang của Ngài đâu đó, thời điểm vi diệu nào đó lóe sáng lên trong sâu thẳm linh hồn của bạn. Và bạn sẽ nhận ra những khoảng khắc đó nếu tìm về bên trong chính mình đủ sâu sắc.

- Đức Thượng Đế hữu ngôi là người đứng đầu Hội Đồng Thượng Đế hoặc cả Hội Đồng Thượng Đế, hoặc vị Giáo chủ mà bạn hữu duyên hoặc vị Vua của một quốc độ mà bạn hữu duyên… Tất cả chúng ta đều có trong nhân duyên của mỗi linh hồn. Những vị Thượng đế cũng có nguyện nhân sinh, họ nguyện độ cho những linh hồn hướng về họ, nương tựa sự giúp đỡ của họ. Các vị đó nói chuyện với bạn bằng nhiều phương cách như: lời thì thầm trong tai, kinh sách để lại, những giấc mơ, linh ảnh lúc thiền định, kinh vô ngôn, kinh vô tự v.v… Và những hành trình công phu nhất của họ đó là chiết linh, giáng sinh cõi hữu hình để cứu độ chúng sinh.

Ta vẫn còn những điều thắc mắc như: Linh hồn và linh căn khác nhau ở đâu? Linh căn nằm ở cội Đạo, vậy phải chăng khi ta trở về cội Đạo thì không còn thân hữu hình, không còn tính cá nhân nữa. Nếu vũ trụ phát triển mà Linh hồn thì về Cội đạo mất tự do thì tính hiếu sinh của Vũ trụ có còn không?...

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 3. Thượng Cổ Linh Căn Và Hội Đồng Thượng Đế

KỲ 3. THƯỢNG CỔ LINH CĂN VÀ HỘI ĐỒNG THƯỢNG ĐẾ

Thời điểm ban đầu những linh căn xuất hiện, vũ trụ chưa có ánh sáng - thứ ánh sáng phổ quát giúp vật chất trụ định. Vũ trũ chỉ là một mảng Hồng hoang tràn đầy năng lượng và linh vật, linh căn du hành, bôn tẩu. Những linh căn xuất hiện từ thời đó gọi là Thượng cổ linh căn. Dưới định luật của hỗn độn, trong buổi đầu Hồng hoang đó cũng đã xuất hiện sự tuyển chọn linh căn. Các linh căn nổi bật được Hồng hoang chú trọng bồi tài sẽ được đánh dấu bằng những ấn ký, gọi là Hồng hoang ấn ký. Chữ vạn giữa ngực phật A Di Đà là một minh họa về Hồng hoang ấn ký vậy.

Các linh căn thụ lĩnh Hồng hoang ấn ký có vai trò rất quan trọng cho quá trình diễn sinh vũ trụ, thiết lập thế giới về sau. Bởi vì, nương theo định luật của hỗn độn, không gian hỗn loạn cũng được sắp xếp có chiều hướng, huống chi chỉ là sự hỗn loạn của các trường năng lượng tốt xấu. Quả địa cầu hiện nay đang thời kỳ thăng cấp, điều đó được thực hiện bởi khá nhiều Thượng cổ linh căn hiện cùng chiết linh xuống thế để giúp sức cải tạo địa cầu. Trong số họ, lại có một số linh căn có Hồng hoang ấn ký. Lành thay, Thiên Cấm Sơn đã được an bài, chọn làm nơi tụ họp chính của các linh căn có Hồng hoang ấn ký. Thiên Cấm Sơn còn là Trận Nhãn của Vạn Linh Trận với sứ mệnh vận chuyển cùng Thiên cơ, kịp kỳ tiến nhập kỷ nguyên mới đang diễn ra ngày nay.

Lại nói, Linh căn thuở hồng hoang phát triển thành xã hội. Xã hội thời điểm đó tuy không gian có vật chất tồn tại ở dạng năng lượng và mờ mờ mịt mịt, nhưng trật tự tinh thần đã phân trên dưới rõ ràng.Vũ trụ phát triển cần có quản sự. Các linh căn nổi bật được chọn ra, sau lại chọn tiếp hội đồng quản sự. Hội đồng quản sự lại chọn ra người đứng đầu. Về sau, người ta gọi Hội đồng quản sự đó là Hội đồng Thượng Đế/Hội đồng các Đấng Sáng Tạo; người đứng đầu Hội đồng đó được gọi là Đức Thượng Đế... như đã trình bày ở kỳ trước.

Sau khi bầu ra Thượng đế, Hội đồng làm việc và sắp xếp chương trình phát triển cho vũ trụ. Đó là một tiến trình sáng tạo của các Đấng Toàn Năng và được gọi là Thiên cơ. Thiên cơ có thời gian dài ngắn tùy thuộc tình trạng của Vũ trụ.

Quay lại công cuộc sáng tạo vũ trụ. Thời điểm Hồng hoang, linh vật hấp thu tinh thần và lớn mạnh nhưng không có hình hài cụ thể, bởi linh vật lúc đó chưa trụ lên vật chất. Để kiến tạo vật chất, các Đấng Sáng Tạo đã đi đến quyết định quan trọng thuộc hàng bậc nhất của Vũ trụ này, họ đã sáng tạo ra ánh sáng và kiến thiết các tầng không gian đa chiều. Trạng thái trụ định, sự cân bằng của vật chất phụ thuộc vào mối quan hệ giữa “năng lượng và khối lượng” so với “không gian lực và tác động của ánh sáng” (xem phương trình RB = KnD.f(c) đã trình bày tại “Ánh sáng và con đường tâm linh”).

Thượng Đế, Hội đồng Thượng đế là những người bận rộn bậc nhất trong Vũ trụ này. Họ chưa bao giờ dừng làm việc. Công việc của họ là đảm bảo sự vận hành và phát triển của Vũ trụ phù hợp với Thiên đạo. Để Vũ trụ ngày một sinh động hơn, đẹp hơn, các Đấng Sáng Tạo nương vào các quy luật của Vũ trụ để tạo ra vật chất mới, thúc đẩy linh vật phát triển, thúc đẩy những hành tinh mới, thiên hà mới, thế giới…

Đồng hành với sáng tạo ánh sáng và khai mở không gian, Đức Thượng đế đã thực hiện một quyết định rất quan trọng làm cơ sở cho Vũ trụ này càng thiên biến vạn hóa, sôi động muôn phần. Đó là việc cho hàng vạn vạn linh hồn rời quê hương của họ, rời không gian hồng hoang để tiến nhập các không gian đa chiều hữu hình hữu thể, tham gia công cuộc Vũ trụ diễn sinh.

Vậy linh hồn là gì? Họ rời quê hương đi bằng phương tiện gì? Tồn tại ở không gian bậc hữu hình như thế nào? Và họ sẽ quay về quê hương của mình như thế nào? Câu trả lời sẽ dần hé mở trong các kỳ tiếp theo.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 4. Khái Quát Về Linh Hồn

KỲ 4. KHÁI QUÁT VỀ LINH HỒN

Vũ trụ diễn sinh từ năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên bởi vì đặc tính diệu dụng của 2 thành tố này. Trong khi năng lượng bản nguyên duy trì vận chuyển yêu cầu sự tương liên (kết nối tương ứng và duy trì liên tục không ngắt quãng) thì tinh thần bản nguyên lại có khả năng thu phát gian đoạn. Chính vì vậy, những tồn tại được kiến tạo từ tinh thần nguyên bản có khả năng thu phát gián đoạn.

Ánh sáng là một thành tố được kiến tạo từ tinh thần bản nguyên.

Linh vật khi tích lũy tinh thần lực đến một giá trị nhất định sẽ có khả năng phát ra ánh sáng. Ánh sáng này chính là linh quang, khác với thứ ánh sáng phổ quát đã được giới thiệu trong bài viết “ánh sáng và con đường tâm linh” trước đây. (Để khỏi nhầm lẫn, bài viết sau đây sẽ dùng từ “linh quang”).

Linh quang có được kiến tạo từ tinh thần lực và linh vật có khả năng thu phát tùy ý. Linh quang so với với ánh sáng phổ quát điểm chung và riêng như sau: i) Điểm chung là ánh sáng mang theo ý chí của linh căn, mong muốn thực hiện một công việc gì đó, độ sáng của ánh sáng phụ thuộc vào lượng tinh thần lực tích lũy và mức tích cực của tư tưởng. ii) Điểm riêng là linh quang có phạm vi chiếu sáng hạn chế, tùy thuộc vào ý chí của linh căn; trong khi ánh sáng phổ quát sẽ truyền đi xa nhất có thể.

Trong không gian Tử mông vô cực, các linh căn không phát ra linh quang của riêng mình mà hòa ánh sáng vào chung với không gian Tử mông, tạo thành khối Đại Linh Quang. Trong không gian Hồng hoang vô cực, các linh căn phát ra linh quang mỗi lúc vận hành Thiên cơ còn thông thường thu lại tĩnh dưỡng, thu nạp tinh thần lực.

Đến không gian Hư vô lưỡng cực, toàn bộ linh căn hoạt động trong ánh linh quang của mình. Bởi vì, linh căn khi đã ở không gian Hư vô lưỡng cực đều đã có ý chí của mình, đều có công việc gì đó hoặc cho sự tinh tấn của linh căn hoặc phụng sự diễn sinh cho vũ trụ.

Có thể nói, linh căn khi khoác lên trên mình ánh sáng linh quang và trụ định ở trạng thái đó thì được gọi linh hồn. Vì thế, đã là linh hồn thì sẽ có phận sự của riêng mình, mọi linh hồn đều phải thực hiện hành trình của mình mới có thể quy về Cội đạo. Một chút gợi nhớ, theo phương trình tiến hóa, lúc này linh hồn có e^kφ = 1, nhưng đã có a ≠ 1. Do đó, linh hồn nhất định phải hạ nhập không gian hữu hình hữu thể để thực hiện con đường tiến hóa của mình.

Linh hồn khi ở không gian Hư vô lưỡng cực sẽ không chịu lực bài xích không gian, vì không gian được kiến tạo thích ứng với sự tồn tại của tinh thần lực. Khi hạ nhập không gian hữu hình hữu thể, do chịu các yếu tố tác động đến từ luật vật chất cân bằng nên linh hồn phải có cơ chế bảo vệ. Vì vậy, trước khi hạ nhập không gian hữu hình, linh hồn tiếp tục được khoác lên mình 1 lớp áo năng lượng. Lớp năng lượng này được kiến thiết từ năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên, để vừa phù hợp với linh hồn vừa phù hợp với không gian hữu hình.

Trạng thái linh hồn được bao bọc bởi lớp năng lượng đó được gọi là nguyên thần, và lớp năng lượng đó được gọi là nguyên khí.

Hình thành nguyên thần, lúc này linh hồn mới chính thức được trang bị đầy đủ phương tiện đặng đầu thai vào các sinh linh tại không gian hữu hình.

Khi nguyên khí cạn là lúc linh hồn phải trở về cõi hồn. Nhưng, đa số linh hồn lại bị mắc kẹt bởi vì tác động của luật nhân quả, luật luân hồi.

Vì vậy, chỉ có tu học mới tìm được con đường trở về quê hương, trở về Cội đạo!

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 5. Vũ Trụ Diễn Sinh Thuận, Linh Hồn Tu Học Nghịch

KỲ 5. VŨ TRỤ DIỄN SINH THUẬN, LINH HỒN TU HỌC NGHỊCH

Linh hồn hạ nhập không gian hữu hình, tiến trình vũ trụ diễn sinh được thúc đẩy mạnh mẽ và sôi động. Thiên địa từ đó lập ra các tầng thế giới - đó là một mốc son đáng nhớ. Từ mốc son đó, khái niệm tiên thiên và hậu thiên được hình thành và nhắc đến mãi về sau.

Các linh căn, linh hồn hình thành trước thời điểm đó, được gửi từ không gian Hồng hoang xuống thế giới hữu hình thì được gọi là linh căn, linh hồn tiên thiên. Các linh căn, linh hồn tuân theo nguyên tắc tích lũy tinh thần lực mà nên hình tại không gian hữu hình được gọi là linh căn, linh hồn hậu thiên.

Thời kỳ thành lập thiên địa, các linh hồn tự do lựa chọn hình thái hữu hình lúc hạ nhập không gian hữu hình. Nhiều chủng loài từ thời thượng cổ, duy trì cho đến ngày nay vẫn là chủng loài mạnh mẽ. Các chủng loài đó thường không chọn không gian 3D làm nơi sinh tồn nên loài người chúng ta không thể nhìn thấy chúng, càng khó thấy trong thời kỳ lực phân kỳ không gian mạnh mẽ. Sự sàng lọc muôn loại chủng loài cũng bắt đầu từ đó. Mãi thật lâu về sau mới xuất hiện con người với hình thái như chúng ta ngày nay.

Vũ trụ diễn sinh, không gian dần mở rộng theo vòng xoắn ốc. Phía bên ngoài là không gian 3D, 4D và tăng dần lên vào bên trong. Các chủng loài mới, các vật chất mới, hành tinh mới, thiên hà mới cũng mở rộng dần theo vòng tròn xoắn ốc. Vũ trụ được mở mang rộng dần, rộng dần. Đó hành trình thuận, giúp năng lượng vũ trụ chuyển hóa và định hình thành vật chất trên khắp các chiều không gian hữu hình.

Vũ trụ mở rộng, năng lượng tối tại các vùng biên của nó liên tục được chuyển hóa, cung cấp cho vũ trụ nguồn năng lượng bản nguyên mới, tinh thần bản nguyên mới. Từ đó, vạn vật và sinh linh có được cơ hội tựu hình tựu thể, tinh tấn linh hồn.

Linh hồn đồng hành cùng vũ trụ trong hành trình đó. Thế nhưng, để tiến hóa, linh hồn cần thực hiện hành trình ngược, tiến vào bên trong vòng xoắn ốc. Bởi vì đối với linh hồn tiên thiên thì đó là hành trình hồi hương sau một thực hiện thiên mệnh, còn linh hồn hậu thiên thì cũng cần tìm về nơi cội nguồn để hoàn thiện chính mình. Tinh thần lực và trí huệ vũ trụ trụ tại không gian hồng hoang mới là nơi không còn dính mắc, mới được vĩnh tồn cùng thiên địa.

Trong hành trình tiến nhập không gian hữu hình, không phải toàn bộ linh hồn đều thả mình xuống thế. Nếu làm vậy, không gian Hồng hoang vô chủ, vũ trụ không có tinh thần lực để vận hành từ gốc cội.

Linh căn vốn dĩ được tích lũy từ tinh thần bản nguyên và trí huệ vũ trụ mà hình thành. Khi linh căn có lượng tinh thần lực đủ lớn, nó có khả năng chiết linh - tách ra một phần tinh thần lực để thành một linh căn nhỏ hơn với trí huệ tương tự nhưng cần được củng cố. Linh căn chính (sở hữu lượng tinh thần lực lớn hơn) lúc này gọi là nguyên căn. Linh căn chiết linh và nguyên căn luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Bởi vì đặc tính của tinh thần có khả năng cách không thu phát và cảm ứng nên linh căn chiết linh và nguyên căn có thể cách không liên lạc được với nhau. Đặc điểm này là cơ sở quan trọng trong việc các bậc Đại Năng gửi chiết linh xuống các không gian hữu hình thực hiện công việc vận hành vũ trụ theo Thiên cơ.

Đến đây, ta thấy rằng, linh hồn có vai trò then chốt trong quá trình vũ trụ diễn sinh. Chỉ có điều có vẻ như là nghịch lý: vũ trụ diễn sinh thuận và có linh hồn đồng hành, linh hồn tu học nghịch để cho vũ trụ phát triển…

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 6. Khái Niệm Về Thiên Đạo, Thiên Luật, Thiên Cơ Và Thiên Hình

KỲ 6. KHÁI NIỆM VỀ THIÊN ĐẠO, THIÊN LUẬT, THIÊN CƠ VÀ THIÊN HÌNH

Qua các kỳ trước chúng ta đã cơ sở để hình dung được rằng, vũ trụ hình thành dưới thiên đạo, các bậc đại năng xây dựng nên thiên luật và diễn sinh vũ trụ bằng thiên cơ.

Vậy thì:

- Thiên đạo là những luật lệ của vũ trụ được sinh ra trong quá trình hỗn độn diễn sinh vũ trụ, do hỗn độn quy định.

- Thiên luật là luật lệ do các Đấng Sáng Tạo quy định để phù hợp với quá trình diễn sinh phát triển của Vũ trụ.

Thiên luật được quy định sao cho phải phù hợp với Thiên đạo thì Vũ trụ mới thuận lợi phát triển.

- Thiên cơ là kế hoạch, chương trình hành động để phát triển Vũ trụ của các Đấng Sáng Tạo lập ra.

Ba khái niệm trên khá là rõ ràng.

Về lý, vạn sinh linh trong vũ trụ đều có thể thoát được thiên cơ, ngoài được thiên luật nhưng không bao giờ phá được thiên đạo. Bởi vì Thiên đạo là sinh mệnh của Vũ trụ. Thiên đạo chỉ mất đi khi vũ trụ hoại. Vũ trụ hoại thì sinh linh không còn.

Con người được các Đấng Sáng Tạo dung dưỡng, tạo điều kiện cho phát triển trong các chương trình tu học nằm trong Thiên cơ. Nên nếu có thể nắm bắt được Thiên cơ ít nhiều thì rất có ý nghĩa cho việc tu học và tinh tấn. Trong giai đoạn chuyển đổi trời đất hiện nay, khá nhiều môn phái bế quan tu luyện, không thu nhận thêm đệ tử mới và thường kèm với dặn dò của chân sư là lẳng lặng quan sát Thiên cơ chuyển vận mà từ đó được tinh tấn. Trái Thiên cơ không có nghĩa là trái Thiên đạo, nhưng con người rất rất nhỏ nhoi, tốt nhất là thuận Thiên cơ.

Không theo Thiên luật có nghĩa sống ngoài vòng quản sự của Đấng Sáng Tạo. Đấng Sáng Tạo có ích kỉ đến mức phế bỏ sinh linh đi không? Câu trả lời là không. Tuy nhiên, trước đó, Đấng Sáng Tạo sẽ thử thách sinh linh thật nhiều, để đảm bảo rằng, sinh linh không làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của Vũ trụ. Thiên hình được dùng trong các tình huống đó.

Thiên hình có hai lớp: khảo thiên pháp và khảo thiên tâm. Để dễ hình dung, lấy chuyện Tôn Ngộ Không trái lệnh trời, bỏ chức Bật Mã Ôn về tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh mà kiến giải.

- Khảo thiên pháp: Đây là hình thức thử thách pháp lực của sinh linh. Nếu sinh linh không đủ mạnh, ra ngoài vòng bao bọc của các Đấng Sáng Tạo, gặp phải các thế lực hắc ám, gặp phải không gian hỗn loạn liệu còn tồn tại được không? Để tránh cho sinh linh gặp tình huống đó mà không thể vượt qua, Thiên đình phải khảo thiên pháp. Đó là lý do vì sao Tôn Ngộ Không bị phạt hành hình đủ kiểu. Nhưng vĩ đại thay, ông ta vượt qua.

- Khảo thiên tâm: Sau khi Ngộ Không thoát được khảo thiên pháp, Phật tổ Như Lai đến khảo thiên tâm. Ngộ Không đã không thể vượt qua lần khảo thí này. Tinh thần của Phật tổ Như Lai là hoàn toàn hòa hợp tinh thần của Vũtrụ toàn thể. Ngộ Không có đến tận đâu đi nữa thì không gian đó vẫn là không gian trong vũ trụ toàn thể, do đó ông ta không thoát được sự quan sát Như Lai. Không qua được cửa khảo thiên tâm, Đại Thành liền bị nhốt lại 500 năm dưới Ngũ Hành Sơn để tới khi đi thỉnh kinh cùng Đường Tăng. Đó là lộ trình tiến hóa tinh thần lực, tiến hóa tâm Không của Đại Thánh vậy.

Cho đến khi ông ta hoàn thành lộ trình đó, đến đất Phật thỉnh kinh, ông ta được phong là Đấu Chiến Thắng Phật. Điều đó có ý nghĩa ra sao? Có phải là ông ta tay chân đấm đá hơn Phật không? Dĩ nhiên đây là một câu hỏi hài hước. Ngộ Không đắc quả vị như vậy, ý nói ông ta hoàn toàn được tự do, được phép sống ngoài thiên luật hay không chịu sự câu thúc của Đấng Sáng Tạo. Vậy, “thắng trời” là Tề Thiên Đại Thánh, hay “thắng phật” là Đấu Chiến Thắng Phật chung quy cũng chỉ là ngoài sự câu thúc của Thiên luật mà thôi.

Khá khác với tác phẩm Tây Du Ký, Đại Thánh là nhân vật đại hùng, đại lực, đại từ bi. Ngài là một biểu tượng của trời đất, là tấm gương khuyến học cho các linh căn, linh hồn hậu thiên. Ngài luôn phấn đấu trên con đường tiến hóa. Thành tựu của Ngài vì thế được thần tiên các cõi ngưỡng mộ, đem một phần câu chuyện của Ngài mà hóa duyên hữu tự, ẩn truyền tâm pháp. Mặc dù được đặc ân của trời đất, đứng ngoài Thiên luật, nhưng Đại Thánh vẫn lựa chọn phụng sự Thiên cơ, tham gia cứu độ chúng sinh.

Đối với thiên đạo thì không có ngoại lệ, sinh linh không thể trái thiên đạo.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 7. Thiên Cơ Và Những Dòng Chảy Của Vũ Trụ

KỲ 7. THIÊN CƠ VÀ NHỮNG DÒNG CHẢY CỦA VŨ TRỤ

Bản kế hoạch của các vị đại năng về chương trình phát triển của vũ trụ được kiến thiết từ vô số tinh thần lực hội tụ mà thành. Thiên cơ rộng, bao phủ toàn thể vũ trụ. Hạch tâm của Thiên cơ là khối đại tinh thần lực hội tụ, kết cấu hoàn mỹ được đặt tại không gian Hồng hoang. Vòng ngoài được vận hành bởi muôn ức linh hồn tại Hư vô lưỡng cực, tinh thần lực chúng linh được hòa vào muôn vạn dòng chảy vô hình trong không gian Hồng hoang thái cực và trụ định vững vàng tại tâm là không gian Tử mông vô cực.

Kết cấu từ tinh thần bản nguyên nên Thiên cơ không có hình tướng. Chúng linh có thể tiếp xúc và cảm ngộ bằng linh ảnh.

1955-vu-tru-dien-sinh-ky-7-thien-co-va-nhung-dong-chay-cua-vu-tru-1.jpg

Linh ảnh của Thiên cơ tại không gian hồng hoang đã được nhiều linh hồn tiến hóa nhìn thấy hoặc được các vị chân sư giúp nhìn thấy. Có thể nói, hình tượng con mắt thượng thiên là hình ảnh dễ hình dung nhất của Thiên cơ. Thiên cơ là tinh thần của vũ trụ. Từ không gian vô hình, tinh thần của vũ trụ thẩm thấu ra những chiều không gian, chảy vào vô số dòng năng lượng, len lẫn vào ý chí trong muôn ức linh hồn.

Tại các không gian hữu hình, dưới sự vận hành của Thiên cơ, các dòng chảy năng lượng, dòng chảy tinh thần được thực hiện liên tục và có trật tự. Các vì tinh tú, các vầng thái dương được cấp dưỡng năng lượng và tình thần liên tục không dứt. Năng lượng và tinh thần của các muôn vì tinh tú, thái dương lại được gửi đến vạn vật bằng con đường ánh sáng. Nhờ đó mà vũ trụ được trụ định, vận hành và mở rộng. “Ánh sáng truyền năng lượng theo định chí của Đấng Sáng Tạo” là vậy. Mặt trời sẽ không bao giờ tắt, trừ khi Vũ trụ này băng hoại!

Như những kinh mạch trong cơ thể con người, như những vòng hải lưu trong lòng đại dương, như những dòng đối lưu trong bầu khí quyển, Vũ trụ vận hành với ngàn ngàn vạn vạn dòng chảy năng lượng & tinh thần, lớn nhỏ khác nhau, bao phủ thương khung, tàng nhập vạn vật.

Thiên cơ được định lập kết cấu bởi các vị đại năng, được gia lực bởi muôn ức chúng sinh, được điều hành bởi các vị Thiên đế, được tham gia bởi muôn ức chúng sinh.

Xuất phát từ không gian Hồng hoang, nhưng vì tinh thần có khả năng cảm ứng cách không, nên hễ có sự rung cảm của sinh linh, Thiên cơ liền giao cảm tương ứng. Thiên cơ mạnh lên khi sinh linh trong vũ trụ có tinh thần tích cực, thiên cơ yếu đi khi sinh linh trong vũ trụ có tinh thần tiêu cực. Tinh thần tích cực đồng thuận với xu hướng của sinh cơ. Nên nói, vũ trụ diễn sinh càng mạnh mẽ thì thiên cơ càng vững chắc và ngược lại.

Thiên cơ được thay đổi khi Vũ trụ hoàn thành một giai đoạn của mình. Trong một số trường hợp, Thiên cơ được tái lập hoặc bổ sung ứng với việc vũ trụ sẵn sàng cho việc diễn sinh một thế giới mới.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 8. Cơ Chế Chuyển Hóa Năng Lượng Tối

KỲ 8. CƠ CHẾ CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG TỐI

Thiên cơ vận hành, tinh thần vũ trụ tàng nhập đến tất cả mọi ngõ ngách của vũ trụ. Chính nhờ vậy, sinh linh thực hiện được sứ mệnh của mình, hòa vào dòng chảy tiến hóa, tạo lập, mở rộng và sáng tạo thế giới vật chất, đó là phận sự hữu hình. Bên cạnh đó, cho dù là nắm bắt được hay không, muôn ức sinh linh trong vũ trụ đều đang thực hiện phận sự vô hình trong tiến trình mở rộng vũ trụ.

Đặc tính của tinh thần cho phép thu phát ngắt quãng, cách không cảm ứng nên thông qua các dòng chảy tinh thần mà Thiên cơ đã định lập, các vị đại năng tại các không gian bậc cao hoặc không gian hồng hoang có thể theo đó mà thu thập tinh thần lực để sử dụng cho công việc của mình.

Một đặc tính khác của tinh thần là mức độ hữu ích, năng lực sáng tạo của tinh thần phụ thuộc vào tính tích cực của tinh thần. Cùng một lượng tinh thần bản nguyên tích lũy, tinh thần có tính tích cực càng cao thì lực sáng tạo càng cao.

Dựa vào hai đặc tính này, các vị đại năng hướng dòng, tinh thần lực được thu góp và sử dụng cho công việc chuyển hóa năng lượng tối thành năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên. Hỗn độn tuy là cơ sở để năng lượng tối chuyển hóa nhưng quy mô, hiệu quả chuyển hóa của năng lượng tối phụ thuộc vào tinh thần lực áp đặt lên nó…

Quả là nhiều khái niệm rối rắm.

Tuy nhiên, may mắn cho chúng ta, những điều này tương ứng với những thông điệp yêu thương, tần số rung động, niềm tin, ánh sáng của các tôn giáo. Nói rõ hơn, khi con người sống với thái độ lạc quan tích cực, yêu thương chân tính thì trong vô hình, chúng ta sẽ nhận được lại những kết quả tốt đẹp hơn, sự sống được mở rộng và chúng ta cùng có được một thế giới tươi đẹp hơn.

Năng lượng tối, thứ vô thủy vô chung này không nghĩ lại chính là kho tàng của vũ trụ. Bởi vì từ trong thăm thẳm, vạn vật đều muốn vươn lên, để đẹp đẽ hơn, để tích cực hơn, để hướng chân thiện mỹ toàn vẹn. Năng lượng tối chính nhờ đặc tính này mà chịu luật hỗn độn, chịu lực của tinh thần tích cực mà chịu tách thành năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên.

Vũ trụ toàn thể có tinh thần lực càng lớn thì năng lực mở rộng vũ trụ càng lớn. Để mở rộng vũ trụ, con đường các bậc đại năng vẫn thường làm là xây dựng những thế giới mới. Trước khi “xây dựng công trình”, các bậc đại năng cũng phải thực hiện lập những “bản thiết kế thế giới mới”.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 9. Những Bản Thiết Kế Thế Giới Mới

KỲ 9. NHỮNG BẢN THIẾT KẾ THẾ GIỚI MỚI

Có được ánh sáng, có được không gian, có được vật chất, có các linh hồn thực hiện sứ mệnh, các Đấng Sáng Tạo lại họp bàn chương trình kiến tạo ra thế giới. Để kiến tạo ra một thế giới mới, các Đấng Sáng Tạo dùng hiểu biết của mình về Thiên đạo để lập ra những chương trình xây dựng thế giới, như ngôn ngữ thường gọi hiện nay là những bản thiết kế. Họ dùng năng lượng và ý chí để tạo để một bản “Vũ trụ diễn sinh họa đồ thư” (sau đây gọi “họa đồ thư”). Đôi khi bản thiết kế được mô tả có dạng quyển trục như trong các phim tiên hiệp, ví dụ như Sơn hà xã tắc đồ của Thái Ất Chân Nhân trong phim hoạt hình Na Tra - Ma Đồng Giáng Thế.

Bản họa đồ thư đó có linh tính và mang thật nhiều thông tin cần thiết, như các quy luật sắp xếp vật chất và tinh thần, quy luật vận hành vật chất và tinh thần, quy luật tiến hóa của vật chất và tinh thần, quy luật tuyển chọn sinh linh tiến hóa, quy luật không gian, quy luật ánh sáng, quy luật khuyến khích thưởng phạt nhân quả… Bản họa đồ thư cho việc kiến tạo này có vai trò nhỏ thì giống ADN của một loài, lớn thì giống Hỗn độn của Vũ trụ toàn thể. Dựa vào nó mà diễn sinh từng bước từng bước ra các hệ thống hành tinh mới, diễn sinh ra thiên hà mới, diễn sinh ra thế giới mới. Linh vật trụ định trong trạng thái vật chất ổn định thì được gọi là sinh linh. Thế giới bắt đầu có sự sống và tiếp tục diễn sinh, tiếp tục tiến hóa.

Một điều thú vị, không rõ tin vui hay không vui, đó là để tạo ra một bản thiết kế hoàn chỉnh, sẽ có một vài bản họa đồ thư bị lỗi hoặc chưa hoàn mĩ. Đối với các Đấng Sáng Tạo đó là thứ vứt đi, nhưng đối với các sinh linh tu học thì đó là một tài sản vô giá. Bọn họ, những người tu học chắc chắn giành nhau đi tìm. Từ vũ trụ diễn sinh tới nay, các họa đồ thư vứt đi đó đã khó còn lưu lạc vô chủ, mà chúng nằm trong các Tàng kinh của các thế giới đa chiều bậc cao. Trong việc tu học, các bậc chân sư cũng có những cuộc thi của họ. Ở các cuộ thi đó, học trò được chọn của các vị chân sư giỏi sẽ có cơ hội nhận được phần thưởng là các bản họa đồ thư thiếu khuyết đó. Một người học trò nhận được họa đồ thư, họ bắt đầu học và hiểu hơn về vũ trụ, hiểu hơn về thế giới. Một quốc độ được lập ra với tri thức dày dạn được tích lũy từ các bản họa đồ thư là chuyện vẫn thường xảy ra.

Công việc giảng dạy về Vũ trụ học là công việc của các bậc chân sư. Từ cổ đến nay đã có rất nhiều kinh sách mô tả về nó, phù hợp cho từng thời kỳ. Bên cạnh đó, để khuyến học, vào những thời điểm phi thường của Vũ trụ, một số tiểu bối tập tễnh đi trên con đường tiếp bước tiền nhân cũng được phép thông tri đến chúng linh những kiến giải về vũ trụ. (Đây cùng là lý do vì sao giai đoạn gần đây, cực kỳ nhiều thông điệp cùng được viết ra và phổ biến.)

Bởi vì bản thân các họa đồ thư tuy mang những quy luật toàn thể nhưng luôn có sự khác biệt, thêm vào đó, hóa chuyển tri thức từ vô hình sang hữu hình hữu tự sao cho phù hợp với thời đại cũng là một lần làm hao chân nghĩa của họa đồ thư. Kinh vô tự không có tính phổ quát, kinh hữu tự thì chân nghĩa hao hụt.

Sự tồn tại nhiều kiến giải nói trên không có gì là tồi tệ. Chúng sinh có cơ hội tiếp cận kiến giải phù hợp nhất với sự tiến hóa của mình. Để làm được điều đó, cần có một tiền đề là: Người theo học đạo biết mở lòng lĩnh ngộ sao cho tính phổ quát là rộng nhất, lợi lạc là lớn nhất.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 10. Không Gian Xoắn Ốc Tương Liên

KỲ 10. KHÔNG GIAN XOẮN ỐC TƯƠNG LIÊN

Sau khi sáng tạo ra ánh sáng, đồng hành với những thuộc tính đặc biệt của nó, các Đấng Sáng Tạo đã xây dựng được bản thiết kế vũ trụ không gian đa chiều. Từ đó, lấy bậc các không gian Hồng hoang làm trung tâm, các Bậc đại năng diễn sinh ra các không gian nhiều chiều. Khởi thủy, không gian vũ trụ bắt đầu trụ định từ không gian 3D và phát triển rộng dần theo chiều xoắn ốc, đẩy cấp không gian 3D xa dần trung tâm không gian Hồng hoang.

Toàn thể các cấp bậc không gian từ hữu hình đến vô hình có sự tương liên theo hình xoắn ốc. Hình dung này có thể giúp ích chúng ta thực hiện một số kiến giải về tâm linh.

Xét chuyển động quay tròn của vật có dạng là dây hình xoắn ốc ta thấy:

- Một trở lực rất nhỏ tại tâm cũng làm cho toàn bộ dây xoắc ốc dao động mạnh, càng ra ngoài dây xoắc ốc dao động càng mạnh.

- Nếu trở lực xuất hiện ở không gian phía ngoài dây xoắc ốc, bằng lực ly tâm, trở lực sẽ dễ dàng bị phá bỏ và vượt qua. Trở lực phía ngoài cũng gây ảnh hưởng đến sự ổn định của phía trong dây xoắn ốc, do đó, tránh được càng nhiều trở lực thì dây xoắn ốc quay càng ổn định.

- Quỹ đạo quay của phía ngoài cùng của dây là dài nhất, và càng vào phía trong càng ngắn. Điều này cũng tương ứng với lý giải về thời gian ở không gian 3D dài hơn thời gian ở không gian bậc cao trong khi vũ trụ toàn thể đang cùng trôi trong một chu trình.

- Xem xét quỹ đạo quay của điểm gần tâm trong dây xoắn ốc có thể tính toán được quỹ đạo quay của các điểm phía ngoài dây xoắn ốc. Do đó, hiểu biết về thế giới tâm linh (hay là các không gian bậc cao, không gian Hồng hoang), hiểu biết về Thiên cơ sẽ có năng lực dự đoán về tương lai.

Kiến tạo ra Thiên cơ, các bậc đại năng đã nắm rõ sự vận hành của toàn bộ các không gian trong mối quan hệ xoắn ốc tương liên. Những việc to tát xảy ra ở không gian 3D cũng chỉ là một chi tiết hết sức vụn vặt tại các không gian bậc cao hơn, hoặc có khi chỉ là một cái chớp sáng tại không gian Hồng hoang. Hình dung không gian xoắn ốc tương liên cũng có thể giúp ta hiểu được vì sao một số giấc mơ mãi lâu sau mới thành hiện thực. Bởi lẽ, một sự kiện tương ứng đã xảy ra ở chiều không gian bậc cao đã được thần hồn ta ghi nhận. Giấc mơ được biểu đạt bằng những hình ảnh mà trí não 3D của chúng ta quen thuộc và tiếp nhận được (dĩ nhiên, đó không phải là tất cả kịch bản cho những giấc mơ).

Cũng chính vì sự kiện xảy ra ở không gian bậc càng thấp càng phụ thuộc vào không gian bậc cao, nên chúng ta dễ biết cái gì gọi là “vô vi nhi vi, vạn vật tự quy”. Bởi lẽ, ở không gian 3D, sự cố gắng, chủ động của sinh linh có khi chỉ chiếm khoảng 20% kết quả trả về, bởi 80% còn lại đã được quyết định ở các không gian bậc cao. Vì 80% còn lại đó quá mơ hồ cho lý trí thông thường nên người ta thường cho đó là số mệnh. Huyền học địa cầu nâng cấp rất nhanh trong giai đoạn gần đây, thuật ngữ “Higher self” là một thuật ngữ xuất sắc để giải thích cho tình huống này. Có thể nói lại rằng, 80% kết quả trả về cho công việc của một người ở không gian 3D là do các “Higher self” của họ thực hiện ở các không gian lớn hơn 3D, còn 20% còn lại là do họ thực hiện ở không gian 3D. Dĩ nhiên, “Higher self” của người càng cao thì tỷ lệ hoàn thành công việc ở không gian bậc cao càng cao; còn đối với các “Higher self” bị “cầm tù” và mất khả năng cảm ứng “Higher self” thì con số lại khác. Vất vả với nợ nghiệp mình tạo ra, vòng luân hồi của những người có “Higher self” bị cầm tù họ thật là đằng đẵng.

Nói đến đây chúng ta đã vấp khái “số mệnh” thường biết. Vậy liệu rằng số mệnh có tồn tại không, vì chúng ta đã có các bề trên, có sự nâng đỡ, tại sao lại phải chịu khổ chịu cực đủ thể loại…?

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 11. Số Mệnh

KỲ 11. SỐ MỆNH

Ở các kỳ trước, chúng ta đã bàn về Thiên đạo, Thiên luật và Thiên cơ. Một sinh linh khi đi đầu thai, dưới quy định của thiên luật, các vị Thiên sứ chấp sự sẽ sắp đặt cho sinh linh mang sứ mệnh, trả quả, chịu khổ hình hoặc hưởng phúc… bằng cách xem xét sự tác động của Thiên đạo để tính toán cho “số mệnh” của sinh linh đó. Hay nói cách khác, các vị Thiên sứ sẽ tính toán giờ sinh, nơi sinh, sắp đặt một vài tình tiết nhân quả cho sinh linh sao cho tuân thủ Thiên đạo, phù hợp với Thiên cơ. Quy luật vận hành của các vì tinh tú ảnh hưởng đến số mệnh của sinh linh là Thiên đạo; tính toán lựa chọn và tác động nhân quả cho sinh linh sao cho phù hợp với Thiên đạo là nhiệm vụ của Thiên sứ thực hiện theo Thiên luật. Sinh linh đầu thai phải trả nhân quả là Thiên đạo, sinh linh quên chuyện tiền kiếp là Thiên luật, sinh linh tu học sao cho tinh tấn hiệu quả thì nên nương vào Thiên cơ.

Vì thế, nếu sinh linh sinh ra mà hoàn toàn không có ký ức về tiền kiếp, điều đó chứng tỏ sinh linh đó nằm trong quản sự của Thiên luật. Nói điều này để nhắc rằng, những đạo hữu tu đạo chưa hình dung được sự vận hành của Thiên đạo, Thiên luật thì chớ nên cho rằng đạo hạnh, pháp lực là do mình tự có, do mình tự đắc chứ không có bề trên, không có Đấng Sáng Tạo nào cả. Trường hợp sinh linh sinh ra mà ký ức tiền kiếp hoàn toàn không mất, vậy thì Thiên sứ nào đó đã để sai sót phận sự, hoặc sinh linh đó là một tồn tại mà Thiên đình sẽ phải tìm kiếm.

Phương đông nói uống canh Mạnh Bà trước khi đầu thai, phương tây cũng có nói về Thiên sứ cho thuộc uống để sinh linh quên ký ức. Những mẫu chuyện đó nhằm để mô tả sự vận hành của Thiên luật.

Vì sao Thiên luật lại kỳ quái như vậy, bắt người ta quên ký ức của mình? Xin thưa, đó là vì hiệu quả của việc tu học. Đối với con người ký ức nhân duyên một kiếp thật sự là quý giá, nhưng đối với linh hồn đó lại là một sự trở ngại. Cho nên tốt nhất là làm cho linh hồn quên đi. Việc quên đi ký ức gây ra trở ngại khá là lớn cho linh hồn vì mất đi sự tương liên của quá trình tu luyện. Trong điều kiện khó khăn, sinh linh vẫn có niềm tin tưởng ở tâm linh, tin tưởng vào Đấng Sáng Tạo mà tự mình tinh tấn, đó chính là mong muốn của Đức Thượng Đế. Trong quá trình học tập, các sinh linh mạnh dần lên và tới một ngày, họ nhớ lại được tiền kiếp, thấy được sự vận hành của các không gian bậc cao và dự cảm được tương lai, cao hơn là kết nối được với các kho tri thức, năng lượng của Vũ trụ từ đó giúp đỡ các sinh linh khác đang còn mãi miết chìm trong mờ mịt, khổ đau ngay tại không gian mình đang hiện hữu.

Quay lại nói về chuyện trả quả, hay cụ thể hơn là quả khổ. Các vị Thiên sứ căn cứ tinh thần lực của sinh linh để tính toán xem một kiếp nhân sinh thì sinh linh có khả năng trả quả được nhiều ít. Nó giống như quý vị nợ ngân hàng, thu nhập hàng tháng của quý vị tốt thì phương án trả nhiều hàng tháng là có thể, còn ngược lại, thu nhập không tốt thì phải trả chầm chậm thôi. Vì thế, cuộc đời của quý vị đang diễn ra ba chìm bảy nổi thì hãy hiểu rằng: thứ nhất, quý vị mắc nợ thật nhiều nên phải trả nhiều; thứ hai, quý vị là người có năng lực nên mới có khả năng trả nhiều nợ như vậy trong một kiếp nhân sinh. Vậy hãy ngừng oán thán số mệnh cực khổ của mình, và thay bằng thái độ biết ơn bề trên đã kiến tạo cho bạn cuộc sống mà ở đó, cơ hội tiến hóa của bạn đang là cao nhất có thể.

Vậy thì, nhân quả quyết định số mệnh là Thiên đạo; cải hóa nhân sinh, tạo điều kiện tu tập tốt nhất có thể thuận theo số mệnh là Thiên luật; thuận nhân duyên tu tập tinh tấn hiệu quả, “lái thuyền” số mệnh phải biết nương vào Thiên cơ.

Đời người, không gì quý hơn tu học tinh tấn.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 12. Lặng Ngắm Thiên Cơ, Đợi Ngày Chuyển Thế

KỲ 12. LẶNG NGẮM THIÊN CƠ, ĐỢI NGÀY CHUYỂN THẾ

Một vị chân sư dạy rằng, đã chín tỷ năm, đến nay con thuyền nhân quả cập bến cho một lần đại ân xá. Vì thế, Hội Long Hoa đợt này thật đặc sắc vô cùng so với những Hội Long Hoa trước đó.

Một chu trình tiến hóa cho chúng linh tu học trải qua 3 kỳ, Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên đang dần kéo lên tấm màn kết cuộc. Chúng linh rồi sẽ sớm biết mình đang ở nấc thang nào của hành trình tiến hóa tâm linh.

Trong suốt lịch sử của loài người, lần theo truyền kỳ của huyền môn của phương đông, ta đã biết qua hai đợt phong thần: Đợt thứ nhất xảy ra vào kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế, kỳ đó văn tự chưa có tính phổ quát nên con người không được lưu lại bằng tác phẩm văn học, chỉ còn truyền thuyết mà thôi. Đợt thứ hai xảy ra vào thời Võ Vương phạt Trụ. Tác phẩm Phong thần diễn nghĩa thi vị hóa câu chuyện, đưa ra thật nhiều thông tin mà giới tu chân vẫn thường tra cứu, khảo nghiệm.

Và kỳ Long Hoa Hội này là đợt phong thần thứ 3. Chúng ta sẽ có những danh vị thần tiên mới, có thoái vị, có quy vị, có thăng cấp… Thật là sôi nổi đó mà.

Rồi sau đó, vào Kỷ nguyên mới chúng ta sẽ có gì hay?

Câu trả lời là có rất nhiều thứ hay, ta hãy vụn vặt kể đến một vài thứ:

- Tuổi thọ tăng lên: Khi linh hồn hạ nhập không gian hữu hình, linh hồn phải “khoác áo” ánh sáng và năng lượng tương ứng, được cấp nguyên khí để tồn tại. Nguyên khí là đại lượng bị hao mòn bởi lực bài xích không gian. Ở kỷ nguyên mới, lực không gian hội tụ mạnh nên nguyên khí có tốc độ hao mòn thấp và từ đó tuổi thọ của con người tăng lên. Sách sử có ghi lại rằng ông Bành Tổ thọ 800 tuổi, thời đại Hùng Vương tuổi thọ thường đạt trên 100 tuổi. Đứng ở kiến giải bằng không gian lực, việc này dễ hiểu là vậy. Tuổi thọ tăng, cơ hội tu học tiến hóa của con người sẽ tốt hơn rất nhiều.

- Các trường học pháp thuật sẽ xuất hiện và phổ biến: Bởi không gian 3D và không gian bậc cao được kéo lại gần nhau, việc sử dụng vật chất nhẹ của không gian bậc cao tại không gian bậc thấp hơn sẽ trở nên dễ dàng hơn. Khả năng vận dụng tinh thần lực của linh hồn cũng trở nên dễ dàng hơn. Do đó, quyền năng của tâm linh sẽ dễ phát huy hơn so với thời đại ngày nay. Điều này cũng đã được an bài để dễ hình dung. Con người hiện đại đã có những dự cảm về việc đó qua các tác phẩm như Harry Porter, các bộ tiên hiệp của Trung Quốc...

- Mức năng lượng tích cực của Mẹ Trái Đất nâng cao, cái xấu ô trược dễ dàng bị đẩy xa. Cái gọi là “hồng trần” khiến loài người chịu khổ chịu sầu bao lâu nay sẽ được giảm bớt rất nhiều trong xã hội loài người mới, nhiều vùng đất không có. Bởi vì Địa cầu đã được tiếp cận lên cấp không gian cao hơn với ánh sáng đón nhận cao cấp hơn “hồng trần quang”. Hơn nữa, một số nơi trên bề mặt địa cầu còn là cõi thần tiên tại thế, những nơi mật độ linh khí đậm đặc. Sấm truyền đã nói nhiều về vùng đất Bảy Núi với Thiên Cấm Sơn là trung tâm sẽ là nơi tề tựu người hiền. Trong số họ, 108 vị chấp chưởng quản sự cõi thần tiên tại thế cũng được rõ ràng dần thân phận. Dĩ nhiên, “lý lịch” của họ không phải là thông tin phổ quát.

- Khoa học và huyền môn được xích lại gần nhau. Con người sẽ được thụ hưởng các sản phẩm ứng dụng tiện ích chưa từng có. Các sản phẩm giao thoa giữa công nghệ và pháp thuật sẽ giúp cuộc sống của con người an nhàn hơn, đặng để họ có thời gian hướng nội, tìm kiếm sự tiến bộ, thăng hoa cho linh thể của mình.

Và còn phong phú hơn nữa…

Nhiều, rất nhiều linh hồn đang cảm ứng tốt và quay về tìm lấy chính mình. Trong số họ, có không ít người trung thành với con đường đạo học, các đệ tử huyền môn đều đã đón nhận thông điệp của Vũ trụ linh thiêng: Lặng ngắm Thiên cơ, đợi ngày chuyển thế!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS