Container Icon

Tổng hợp các cách thở có ý thức giúp chữa lành


 
Các phương pháp thở có ý thức (conscious breathing) được ứng dụng rộng rãi trong yoga, thiền, và các phương pháp chữa lành tự nhiên. Những kỹ thuật này giúp cải thiện sức khỏe thể chất, tinh thần và cảm xúc. Dưới đây là tổng hợp một số phương pháp thở chữa lành phổ biến:
1. Thở Bụng (Diaphragmatic Breathing)

Cách thực hiện:
  • Ngồi hoặc nằm thoải mái.
  • Đặt một tay lên ngực và tay kia lên bụng.
  • Khi hít vào qua mũi, cảm nhận bụng phồng lên, tay trên ngực không di chuyển.
  • Thở ra từ từ qua miệng, cảm nhận bụng xẹp xuống.
Lợi ích:
  • Giảm căng thẳng và lo âu.
  • Tăng cường oxy cho cơ thể.
  • Hỗ trợ hệ tiêu hóa và cải thiện giấc ngủ.

2. Thở 4-7-8 (Relaxing Breath)


Cách thực hiện:
  • Hít vào qua mũi trong 4 giây.
  • Giữ hơi thở trong 7 giây.
  • Thở ra từ từ qua miệng trong 8 giây.
Lợi ích:
  • Làm dịu hệ thần kinh.
  • Hỗ trợ chữa mất ngủ.
  • Giảm phản ứng căng thẳng cấp tính.

3. Thở Luân Phiên (Nadi Shodhana)


Cách thực hiện:
  • Ngồi thoải mái, giữ lưng thẳng.
  • Dùng ngón tay cái bịt lỗ mũi phải, hít vào qua lỗ mũi trái.
  • Đóng lỗ mũi trái bằng ngón tay áp út, mở lỗ mũi phải và thở ra.
  • Lặp lại, đổi bên.
Lợi ích:
  • Cân bằng năng lượng cơ thể.
  • Giảm căng thẳng và cải thiện sự tập trung.
  • Thanh lọc hệ hô hấp.

4. Thở Wim Hof


Cách thực hiện:
  • Hít sâu qua mũi hoặc miệng, sau đó thở ra nhanh và ngắn.
  • Lặp lại khoảng 30 lần, sau đó giữ hơi thở ở trạng thái thở ra trong vài giây (hoặc lâu hơn nếu có thể).
Lợi ích:
  • Tăng cường hệ miễn dịch.
  • Giảm viêm trong cơ thể.
  • Tăng năng lượng và cải thiện tâm trạng.

5. Thở Box (Box Breathing)


Cách thực hiện:
  • Hít vào trong 4 giây.
  • Giữ hơi thở trong 4 giây.
  • Thở ra trong 4 giây.
  • Giữ hơi trong 4 giây trước khi bắt đầu lại.
Lợi ích:
  • Cải thiện khả năng tập trung.
  • Giảm căng thẳng và lo âu.
  • Làm chậm nhịp tim và ổn định tâm trí.

6. Thở Nhẹ (Buteyko Breathing)


Cách thực hiện:
  • Hít vào nhẹ nhàng và nông qua mũi.
  • Giữ hơi thở vài giây, sau đó thở ra từ từ.
  • Tập trung vào việc duy trì hơi thở nhẹ, không sâu.
Lợi ích:
  • Hỗ trợ điều trị các bệnh hô hấp như hen suyễn.
  • Cải thiện lượng CO2 cân bằng trong cơ thể.
  • Giảm mệt mỏi và cải thiện giấc ngủ.

7. Thở Sóng (Wave Breathing)


Cách thực hiện:
  • Hít vào sâu, tập trung để hơi thở di chuyển từ bụng lên ngực như một làn sóng.
  • Thở ra từ từ, cảm nhận làn sóng đi ngược lại.
Lợi ích:
  • Thúc đẩy sự kết nối giữa cơ thể và tâm trí.
  • Tăng cường năng lượng.
  • Giải phóng cảm xúc bị kìm nén.

8. Thở Tâm Thanh (Bhramari)

Cách thực hiện:
  • Hít sâu qua mũi.
  • Khi thở ra, phát âm "hummm" như tiếng ong kêu.
Lợi ích:
  • Làm dịu hệ thần kinh.
  • Giảm đau đầu và huyết áp.
  • Tăng cường sự tập trung và giảm căng thẳng.

9. Thở Dài (Extended Exhalation)


Cách thực hiện:
  • Hít vào nhẹ nhàng và sâu qua mũi trong 4 giây.
  • Thở ra chậm rãi qua miệng trong 6-8 giây.
Lợi ích:
  • Kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm, giúp thư giãn.
  • Cải thiện khả năng xử lý cảm xúc.

10. Thở Holotropic

Holotropics breathwork là công trình nghiên cứu được sáng tạo và đặt tên bởi Stanislav Grof. Ông là một nhà tâm thần học người Séc, một trong những người sáng lập ra lĩnh vực tâm lý học siêu nhân cách và là nhà nghiên cứu về việc sử dụng các trạng thái không bình thường của ý thức cho mục đích khám phá, chữa bệnh, mở mang và hiểu biết sâu sắc về tâm hồn con người.

Công dụng & bản chất

Do bản chất của nó là Diaphragm breathing nên các công dụng về sức khỏe là y hệt.Ngoài ra một tác dụng quan trọng khác của kĩ thuật này là giúp bạn vào trạng thái thức thần/trạng thái ý thức bị biển đổi.

Về bản chất thì việc thở nhanh này, làm thay đổi nồng độ O2/Co2, là một trong rất nhiều cách kích hoạt luân xa (chakra) trong cơ thể mình. Mình sẽ viết thêm một số phương pháp nữa để mọi người nghiên cứu.

Về bản chất thì việc thở nhanh này, làm thay đổi nồng độ O2/Co2, là một trong rất nhiều cách kích hoạt luân xa (chakra) trong cơ thể mình. Mình sẽ viết thêm một số phương pháp nữa để mọi người nghiên cứu.

Cách thực hiện:
  • Thở nhanh, sâu và có kiểm soát trong một khoảng thời gian dài, thường được thực hành trong môi trường hướng dẫn an toàn.
  • Bước 1: hít thở chậm và sâu tầm 1 phút bằng kĩ thuật Diaphragm breathing
  • Bước 2: khi thấy ổn định, bắt đầu tăng dần tốc độ lên, hít thở sâu với tốc độ tối đa
  • Bước 3: thực hiện bước 2 đến khi bạn bắt đầu cảm nhận đầu mình nhẹ đi, xúc giác cơ thể nhạy cảm, và ý thức bắt đầu chuyển sang trạng thái khácBạn có thể thực hiện bước này bao lâu tùy ý bạn. Có thể vài phút cũng có thể vài giờ
  • Bước 4: khi muốn dừng lại, ở lần hít vào cuối cùng. Hãy nín thở giữ không khí trong cơ thể càng lâu càng tốt, sau đó thở chậm dần ra và quan sát sự thay đổi trong cơ thể bạn.
Lợi ích:
  • Giải phóng cảm xúc bị kìm nén.
  • Tăng cường sự kết nối với tiềm thức.
  • Hỗ trợ chữa lành chấn thương tâm lý.

11. THIỀN NIỆM HƠI THỞ ĀNĀPĀNASATI


1. Nhận biết hơi thở vào ra:
Có ba vị trí cho hành giả để tâm là: da ở cửa mũi, da ở chóp mũi, da ở môi trên. Hành giả phải chọn một trong ba điểm ấy để làm điểm tựa cho sự nhận biết hơi thở được dễ dàng.
Với điểm xúc chạm ở vùng cửa mũi, khi hơi thở vào ra sẽ có sự tiếp xúc với điểm xúc chạm này, hành giả sẽ dễ dàng nhận thấy hơi thở. Để tâm ở điểm xúc chạm đồng thời ghi nhận hơi thở vào ra, nhưng hành giả không nên để cho tâm theo hơi thở đi sâu vào trong mũi, đi xuống ngực hay xuống bụng. Hành giả cũng không được để tâm đi theo hơi thở ra quá xa khỏi điểm xúc chạm. Hành giả chỉ nên nhận biết hơi thở ở ngay cửa mũi ấy mà thôi. Điều này cũng tương tự như để tâm ở chóp mũi và môi trên.
Hành giả cứ duy trì sự nhận biết hơi thở vào ra như vậy trong suốt thời gian hành thiền, khi đi kinh hành và trong mọi oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi khác. Sự tu tập được duy trì miên mật, không gián đoạn cho đến khi tâm trở nên nhu nhuyễn, thiện xảo, thuần thục và hợp nhất với hơi thở thì định tướng (nimitta) có thể xuất hiện.
Lúc đầu hành giả sẽ thấy hơi thở có màu xám như khói. Nếu vẫn giữ được tâm một cách bình thản và ổn định trên hơi thở thì không bao lâu sau màu xám như khói ấy sẽ trở nên trắng như bông gòn. Nếu hành giả vẫn giữ tâm thiền ổn định trên hơi thở thì màu trắng ấy sẽ trở nên rực sáng và tỏa chiếu. Hành giả cần lưu ý rằng, dù ánh sáng có thể xuất hiện như vậy nhưng ta không được vội chuyển tâm sang quan sát ánh sáng mà vẫn phải để tâm nhận biết hơi thở vào ra để cho ánh sáng ấy càng lúc càng tỏa sáng rực rỡ và mạnh mẽ hơn. Nhưng nếu như trong trường hợp nimitta vẫn không xuất hiện thì hành giả chuyển sang nhận biết hơi thở dài, ngắn.
2. Nhận biết hơi thở dài, ngắn:
Thở vô dài, vị ấy tuệ tri tôi thở vô dài;
Hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri tôi thở ra dài;
Hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri tôi thở vô ngắn;
Hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri tôi thở ra ngắn.
Vẫn để tâm ở một điểm xúc chạm, chóp mũi hoặc môi trên, rồi hành giả nhận biết hơi thở đang đi vào, đi ra, có khi dài, có khi ngắn. Đó là vì khoảng thời gian của hơi thở vào ra có khi nhanh khi chậm, khi thô khi tế không đồng đều. Tập trung, chú ý quan sát, hành giả sẽ nhận biết được hơi thở vào ra có khi ngắn, có khi dài.
Duy trì định tâm trên hơi thở một cách an ổn và đều đặn như vậy trong mỗi thời ngồi từ một giờ đến hai giờ hoặc càng lâu càng tốt. Khi ấy, nimitta tướng có thể xuất hiện. Nếu nimitta xuất hiện, hành giả vẫn cứ tiếp tục chú tâm vào hơi thở để cho tướng ấy càng lúc càng trở nên mạnh mẽ và vững chắc. Nếu định tướng chưa xuất hiện thì hành giả có thể chuyển sang nhận biết toàn thân hơi thở.
3. Nhận biết toàn thân hơi thở:
“Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập”.
Mỗi hơi thở vào hay ra đều có ba giai đoạn là giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuối. Vì có sự tỉnh giác được tăng cường để quan sát hơi thở vào ra một cách trọn vẹn từ đầu đến cuối, nên được gọi là cảm giác toàn thân hơi thở.
Cứ tu tập như vậy trong mỗi thời ngồi cho đến khi tâm được thuần thục, tạp niệm lắng xuống, tâm không còn đi lang thang sang các đối tượng khác thì nimitta tướng có thể xuất hiện. Cũng như trước, hành giả không nên chuyển tâm sang ánh sáng vội, mà vẫn duy trì sự nhận biết hơi thở thì ánh sáng ấy sẽ được ổn định và phát triển.
4. Nhận biết hơi thở vào ra an tịnh:
“An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập.
An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập”.
Khi chánh niệm được duy trì liên tục trên đối tượng thì vọng tâm càng lúc càng giảm dần, tâm nhận biết đối tượng càng lúc càng chuyên nhất hơn và hơi thở cũng tự động trở nên nhẹ nhàng và an tịnh hơn. Lúc này, hành giả vẫn quan sát hơi thở vào ra, ngắn dài hoặc toàn thân hơi thở của hơi thở vi tế đó.
Trong khi hành thiền trên hơi thở, hành giả cũng không nên niệm đến các khái niệm như “vào-ra”, “dài-ngắn”, “toàn thân” hay “an tịnh”. Hành giả chỉ cần hiểu được tính chất của nó rồi giữ vững định tâm trên hơi thở là được.
Nimitta tướng có thể xuất hiện ở bất cứ giai đoạn nào khi mà tâm hành giả được khéo duy trì định tĩnh trên hơi thở. Khi thấy nó lần đầu tiên hành giả không nên quá phấn chấn, thích thú hay sợ hãi khiến cho tâm bị dao động. Tâm dao động thì định tướng ấy sẽ không tồn tại lâu được. Nếu hành giả vẫn định tĩnh duy trì định tâm đều đặn trên hơi thở, nimitta ấy sẽ càng trở nên rực sáng hơn rồi hòa nhập làm một với hơi thở. Lúc ấy, hành giả sẽ thành công.
5. Đếm hơi thở:
Có thêm một phương pháp khác cho việc tu tập niệm hơi thở, đó là đếm hơi thở. Phương pháp này dành cho người có quá nhiều tạp niệm, nhất là đối với một số hành giả mới bắt đầu tu tập có tâm còn nhiều vọng tưởng thô tháo thì áp dụng phương pháp đếm hơi thở vào ra:
• Khi hơi thở đi vào đi ra, đếm 1;
• Khi hơi thở đi vào đi ra, đếm 2;
• …
Đếm theo cách như vậy cho đến 10 thì quay trở lại đếm từ 1 đến 10 như trước. Cứ duy trì định tâm trên hơi thở như vậy trong suốt thời ngồi thiền và mọi oai nghi khác cho đến khi các vọng tưởng giảm dần, việc tu tập tiến bộ hơn thì hành giả nên chuyển sang các phương pháp nhận biết hơi thở khác như đã trình bày ở trên.
6. Nimitta (Định tướng):
Muốn chứng đắc được thiền thì hành giả nhất định phải phát khởi được nimitta (định tướng). Đó là ấn chứng của thiền định. Có nimitta thì hành giả mới phát triển được định tâm vào đến các tầng thiền và an trú trong các tầng thiền đó.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm Ánh Sáng, Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, có bốn loại hào quang này: Hào quang của mặt trời, hào quang của mặt trăng, hào quang của lửa và hào quang của trí tuệ. Trong bốn loại hào quang ấy thì hào quang của trí tuệ là thù thắng hơn cả. Và này các Tỳ kheo, có bốn loại ánh sáng này: Ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của mặt trăng, ánh sáng của ngọn lửa và ánh sáng của trí tuệ. Trong bốn loại ánh sáng ấy thì ánh sáng của trí tuệ là thù thắng hơn cả.”
Khi tâm đã được khéo tu tập, an trú vững chắc trên bất cứ một đề mục thiền nào thì cũng đều tỏa ra một loại ánh sáng. Đó là một nhóm tổng hợp sắc do tâm sinh. Nó có đủ tám yếu tố là: Đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất. Hành giả sẽ phân biệt được các loại sắc này ở giai đoạn hành thiền tứ đại và phân biệt sắc pháp. Vì tâm thiền định tĩnh không có cấu uế, nên nó tạo ra các nhóm sắc trong sáng. Và vì trong các nhóm sắc có yếu tố hỏa đại và có màu sắc nên nó có ánh sáng. Ánh sáng ấy được gọi là nimitta hay định tướng.
6.1. Có 3 loại định tướng đó là:
• Chuẩn bị tướng;
• Học tướng;
• Tợ tướng.
Khi hành giả nhận biết hơi thở vào ra và tâm được định tĩnh trên hơi thở, hành giả có thể thấy hơi thở chuyển sang một loại màu xám, như một đám mây, hoặc như màu khói thuốc thì đó là chuẩn bị tướng.
Hành giả cứ tiếp tục hành thiền, không bao lâu sau, tướng màu xám ấy sẽ sáng dần lên, chuyển sang màu trong như nước đá, hoặc trắng như bông gòn thì đó là học tướng.
Hành giả tiếp tục hành thiền cho đến khi màu trắng ấy trở nên rực sáng và tỏa chiếu thì đó là tợ tướng.
6.2. Các hình dạng của định tướng:
Tùy theo sự suy tưởng của mỗi người mà định tướng sẽ có những hình dáng sai biệt. Có người thấy định tướng giống như những bông hoa, giống như trái núi, như ngọn tháp, như thảm vải, như mặt trời, mặt trăng, cây cối…
Tất cả những hình tướng khác biệt như vậy đều do sự suy tưởng khác biệt mà ra. Điều quan trọng là hành giả không nên suy xét đến những khía cạnh về màu sắc cũng như hình dáng của định tướng.
Định tướng ấy khi mới xuất hiện thì vẫn còn non yếu. Hành giả không nên chú tâm vào nó mà vẫn phải định tâm trên hơi thở thì định tướng sẽ dần dần sát nhập lại và hợp nhất với hơi thở. Lúc đó, định tướng sẽ tỏa sáng mạnh mẽ và vững chắc.
7. Chuyển tâm từ nhận biết hơi thở sang nhận biết tợ tướng:
Định tâm trên hơi thở được duy trì đều đặn thì định tướng càng trở nên tỏa sáng và bao trùm tâm hành giả. Lúc này, hơi thở càng trở nên vi tế vì định tướng đã lấn át và chiếm chỗ. Hành giả có thể chuyển tâm sang nhận biết tướng. Với tâm nhận biết trọn vẹn định tướng, việc tu tập thiền của hành giả sẽ tiến bộ hơn.
Tuy nhiên, khi chuyển tâm sang tướng mà tướng ấy không ổn định, ánh sáng có vẻ dao động và mờ đi thì hành giả lại để tâm vào nhận biết hơi thở và phát triển định thêm nữa.
Tùy theo ba-la-mật (pāramī) và tùy theo sự nỗ lực đúng cách của mỗi người mà việc chứng đắc các tầng thiền có thể nhanh hay chậm khác nhau. Mặc dù vậy, cũng như bà chánh cung Hoàng hậu giữ gìn bào thai của vua Chuyển Luân Thánh Vương, hành giả phải giữ gìn, chăm sóc định tướng của mình, đừng để nó mất đi.
Ở giai đoạn này, một số hành giả có thể dễ dàng đạt đến an chỉ định, một số có thể rơi trở lại hữu phần. Khi tâm rơi vào hữu phần, hành giả cảm thấy như mình không còn biết gì cả, hoặc tâm hành giả bị gián đoạn sự nhận biết định tướng dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn. Một khi hành giả giữ vững niềm tin và nỗ lực tinh tấn đúng cách thì hành giả có thể chứng đắc các tầng thiền.
Vì vậy, để tránh rơi vào hữu phần, và để đạt đến các tầng thiền, hành giả cần có sự trợ giúp của các yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài như:
7.1/ Một nơi hành thiền thích hợp: Yên tĩnh, không ồn ào, phù hợp với sự độc cư, viễn ly. Điều đó cũng có nghĩa là hành giả cần phải tránh những nơi không thích hợp, những nơi ồn ào, tụ tập đông người, thiếu sự yên tịnh.
7.2/ Thời tiết thích hợp: Không quá lạnh, không quá nóng.
7.3/ Thức ăn phù hợp: Đủ dinh dưỡng và dễ tiêu hóa.
7.4/ Con người thích hợp: Đó là thân cận với các bậc trí, thường trao đổi trình pháp với vị thiền sư, những vị có kinh nghiệm về pháp hành.
Trong thời gian đang tu tập, hành giả được khuyến cáo phải giữ sự độc cư và im lặng, không nên tụ tập, luận bàn nói chuyện thế gian. Hành giả cũng không nên dùng các dụng cụ máy móc như điện thoại, vi tính, mạng internet,… vì đó là những thứ làm chướng ngại cho việc chứng đắc thiền của hành giả.
7.5/ Vệ sinh cá nhân sạch sẽ: Cắt bỏ râu tóc, móng tay; dọn dẹp phòng xá chỗ ở gọn gàng, thông thoáng.
7.6/ Quân bình 5 căn: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn. Nếu một trong năm căn này mà thái quá thì nó sẽ lấn át các căn khác khiến cho tâm bị mất thăng bằng. Ví dụ:
• Niềm tin mạnh quá sẽ tạo nên sự xúc động khiến cho định suy yếu.
• Tinh tấn mạnh quá thì hành giả sẽ chóng mỏi mệt dễ sinh chán nản không kéo dài định được lâu.
• Định mà thái quá thì tâm dễ rơi vào trạng thái thụ động, hôn trầm và trì trệ.
• Tuệ thái quá thì tâm sẽ phân tích và quan sát các đối tượng ngoài đề mục.
Vì thế, hành giả phải quân bình giữa tín căn và tuệ căn và quân bình giữa tinh tấn với định. Ví dụ, khi hành giả tin tưởng vào tợ tướng này sẽ là phương tiện để đạt đến các pháp thượng nhân là tín, hành giả cũng tuệ tri rõ ràng tợ tướng đang hiện diện là tuệ.
Khi tác ý đến tinh tấn thì tâm hành giả sẽ trở nên phấn chấn và dao động, vì vậy hành giả cũng phải tác ý đến an tịnh để tâm được quân bình lại.
Còn chánh niệm thì luôn cần thiết trong mọi trường hợp, khi chánh niệm có mặt thì các căn khác sẽ được đồng đều, đề mục cũng không bị lãng quên. Niệm sẽ giữ cho tâm không đi lang thang đến những chuyện quá khứ, vị lai. Vì vậy khéo duy trì chánh niệm trên đề mục thiền, hành giả sẽ đạt được mục đích.
7.7/ Quân bình bảy giác chi:
Bảy giác chi là:
  • Trạch pháp giác chi;
  • Tinh tấn giác chi;
  • Hỷ giác chi;
  • Khinh an giác chi;
  • Xả giác chi;
  • Định giác chi;
  • Niệm giác chi.
Khi tâm thiền của hành giả ở trạng thái thụ động, chán nản không tích cực thì cần tác ý đến ba giác chi đầu là trạch pháp, tinh tấn và hỷ để hỗ trợ và nâng đỡ tâm thiền. Ví dụ: hành giả thấy biết rõ ràng đề mục là trạch pháp; tinh tấn hướng tâm vào đề mục là tinh tấn; hân hoan thích thú với đề mục là hỷ.
Khi tâm thiền của hành giả trở nên dao động, đi lang thang, khó chế ngự thì cần tác ý đến khinh an, xả và định để chế ngự và an tịnh tâm. Ví dụ: Hành giả nhẹ nhàng, nới lỏng tâm với đề mục là khinh an; giữ tâm bình thản trung bình với đề mục là xả; gom tâm vào đề mục là định; không quên đề mục là niệm.
Năm căn và bảy giác chi này nếu được khéo huấn luyện, khéo quân bình, khéo tu tập, làm cho sung mãn thì hành giả có thể vượt qua cận định và tiến vào an chỉ định.
Định cận hành là giai đoạn gần sát với tầng thiền nên gọi là cận định, vì nó thường rơi vào hữu phần, định còn gián đoạn chưa được nhất tâm nên chưa phải tầng thiền.
Định an chỉ là tầng thiền Jhana. Khi hành giả đạt đến an chỉ định, tâm hành giả sẽ nhận biết tợ tướng liên tục không gián đoạn trong nhiều giờ. Nếu muốn, hành giả có thể an trú trong tầng thiền đó suốt đêm hoặc suốt ngày.
8. Phân biệt các thiền chi:
Muốn nhập vào các tầng thiền hay muốn tiến lên các tầng thiền cao hơn, hành giả cần phải phân biệt các thiền chi. Có 5 thiền chi của sơ thiền là:
• Tầm (Vitakka): Hướng và đặt tâm vào tợ tướng.
• Tứ (Vicāra): Duy trì và bám sát tâm trên tợ tướng.
• Hỉ (Pīti): Hoan hỷ, thích thú với tợ tướng.
• Lạc (Sukha): Thỏa mãn, dễ chịu với tợ tướng.
• Nhất tâm (Ekaggatā): Hợp nhất tâm với tợ tướng, hay giữ tâm lặng lẽ trên tợ tướng.
Trước hết, hành giả hãy thiết lập lại định tướng cho đến khi ánh sáng của thiền rực rỡ và tỏa chiếu. Rồi hành giả hướng tâm xuống vùng bên trái, phía sâu dưới trái tim của hành giả. Đây là nơi tâm hữu phần bhavanga hay ý môn sáng trong an trú. Bằng trí tuệ của mình, hành giả nhận biết được tâm hữu phần bhavanga ấy đang sinh khởi liên tục. Mỗi lần kiểm tra bhavanga từ 3 giây đến giây, rồi lại trở về chú tâm trên đề mục.
Tiếp sau đó, hành giả sẽ kiểm tra tợ tướng xuất hiện trong ý môn bhavanga. Khi để tâm trên hơi thở, hành giả thấy tợ tướng cùng với hơi thở. Khi hướng tâm xuống ý môn bhavanga, hành giả cũng thấy tợ tướng trong ý môn. Bằng cách kiểm tra nhiều lần, hành giả sẽ phân biệt được tợ tướng và ý môn.
Sau khi đã phân biệt được tợ tướng xuất hiện trong ý môn rồi, hành giả hãy phân biệt các thiền chi, mỗi lần một chi.
a. Tầm (Vitakka): Hướng và đặt tâm trên tợ tướng.
Hành giả vừa quan sát trạng thái hướng tâm, vừa ghi nhận trạng thái tâm ấy là tầm (Vitakka). Nếu hành giả đã đạt đến an chỉ định thì sự hướng tâm là rõ ràng và mạnh mẽ. Trong trường hợp hành giả chưa đạt an chỉ định thì các chi thiền yếu ớt và không rõ ràng, hành giả cần phát triển định thêm.
b. Tứ (Vicāra): Duy trì và bám sát tợ tướng.
Do sự có mặt của tầm nên tứ phải có mặt. Tầm như con ong bay về phía bông hoa. Tứ như con ong đậu lại, bám sát lấy hoa và hút mật. Cần phải hiểu và thấy được đặc tính duy trì, bám sát của tâm trên tợ tướng, hành giả ghi nhận trạng thái tâm ấy là tứ (Viccara).
c. Hỉ (Pīti): Là hân hoan, thích thú với tợ tướng.
Hỉ là một trong năm thứ cảm thọ: khổ thọ, lạc thọ, hỉ thọ, ưu thọ và xả thọ. Hỉ thuộc về cảm thọ của tâm. Giống như con ong mừng rỡ, thích thú với mùi vị sắc hương của hoa, cũng vậy hành giả ghi nhận sự hoan hỷ, thích thú của tâm với tợ tướng là hỉ (Pīti).
d. Lạc (sukha): Là sự thoải mái, dễ chịu với tợ tướng.
Lạc cũng là một trong năm loại cảm thọ. Ở đây nó thuộc về cảm thọ của thân, ví như con ong đang thưởng thức mật hoa một cách thỏa mãn và dễ chịu. Cũng vậy, hành giả ghi nhận sự thoải mái, dễ chịu với tợ tướng ấy là lạc (Sukha).
e. Nhất tâm (Ekaggatā): Là sự hợp nhất tâm với tợ tướng.
Đó là trạng thái an tịnh, lặng lẽ, gom tâm lại, an trú tâm trên một đối tượng. Hành giả quan sát, phân biệt, nhận biết và ghi nhận trạng thái tâm ấy là nhất tâm (Ekaggatā).
Bằng cách phân biệt nhiều lần, mỗi lần thêm vào một chi cho đến khi hành giả có thể thấy cả năm chi trong một lần.
9. Tu tập các pháp thuần thục:
Sau khi đã phân biệt thành công cả năm thiền chi rồi hành giả sẽ thực hành năm pháp thuần thục đối với sơ thiền.
Năm pháp thuần thục đó là:
• Thuần thục trong nhập thiền;
• Thuần thục trong xuất thiền;
• Thuần thục trong việc quyết định thời gian nhập thiền;
• Thuần thục quan sát các thiền chi;
• Thuần thục phản khán các thiền chi.
Hành giả cần phải thuần thục trong việc nhập vào tầng thiền bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu mà hành giả muốn, cũng như việc xuất ra khỏi tầng thiền ấy.
Trước khi nhập thiền, hành giả phải tác ý đến thời gian mà mình sẽ an trú và hành giả phải xuất thiền đúng thời gian mà mình đã quyết định. Nhờ thực hành thuần thục việc quyết định thời gian nhập thiền, các thiền chứng của hành giả càng lúc càng tiến bộ hơn, định lực được an trú vững chắc hơn.
Sau mỗi lần xuất thiền, hành giả phải thực hành kiểm tra, phân biệt các thiền chi.
Chứng và an trú nhị thiền:
Sau khi đã hoàn toàn thuần thục với sơ thiền, hành giả có thể tiến lên nhị thiền. Tuy nhiên, nếu sơ thiền của hành giả vẫn chưa được tu tập thuần thục mà hành giả đã cố gắng tiến lên nhị thiền thì hành giả chẳng những không đạt được nhị thiền mà còn làm thối lui cả sơ thiền ấy.
Như Đức Phật đã nói về ví dụ con bò cái: Vì quen sống trong núi, chưa quen sống nơi đồng bằng, cho nên khi nó ra đồng bằng và thấy những đám cỏ non và nước mát, nó muốn thưởng thức thứ cỏ chưa từng được thưởng thức và muốn uống thứ nước chưa từng được uống ấy. Do nó bước đi không khéo nên bị thụt chân giữa đám bùn lầy. Nó chẳng những không được thưởng thức cái chưa từng được thưởng thức mà cũng không thể trở về chỗ cũ được.
Nếu sơ thiền của hành giả chưa được tu tập thuần thục mà hành giả đã cố gắng lên nhị thiền, hành giả có thể không đạt được nhị thiền mà cũng không trở lại được sơ thiền. Hành giả bị mắc kẹt giữa hai tầng thiền giống như con bò bị thụt chân giữa đám bùn lầy.
Vì vậy hành giả phải tu tập cho thuần thục 5 pháp với sơ thiền rồi mới cố gắng tiến lên nhị thiền.
Trước hết, hành giả hãy thiết lập lại sơ thiền cho đến khi định được sung mãn, ánh sáng đã trở nên rực rỡ, tỏa chiếu và xuyên thấu.
Xuất khỏi sơ thiền, hành giả suy xét đến những bất lợi của sơ thiền: Sơ thiền còn gần với trạng thái của định cận hành, còn gần với năm triền cái; hơn nữa, bản thân nó cũng có sự dao động của tầm và tứ; hai thiền chi này là thô tháo và không an tịnh. Hành giả mong muốn đạt được nhị thiền mà ở đó chỉ có hỉ, lạc, nhất tâm an tịnh hơn.
Rồi hành giả nhập lại sơ thiền, sau đó xuất ra khỏi sơ thiền, phân biệt các thiền chi, đồng thời tác ý loại bỏ hai thiền chi tầm và tứ rồi nhập vào nhị thiền chỉ có ba thiền chi là hỉ, lạc, nhất tâm.
Khi đã chứng đắc nhị thiền, hành giả sẽ thực hành năm pháp thuần thục với nhị thiền cũng như với sơ thiền.
Chứng và an trú tam thiền:
Sau khi đã tu tập thỏa mãn năm pháp thuần thục với nhị thiền, hành giả có thể tu tập lên tam thiền.
Muốn chứng đắc tam thiền, hành giả cũng thiết lập lại sơ thiền, rồi nhị thiền. Khi ánh sáng của định đã trở nên sung mãn, rực rỡ và tỏa chiếu, hành giả xuất ra khỏi nhị thiền và suy xét đến những bất lợi của nhị thiền: Tầng thiền này còn có hỉ là thô tháo, làm cho tâm dao động; nó không an tịnh như tam thiền chỉ có lạc với nhất tâm. Hành giả mong muốn chứng đắc tam thiền.
Rồi hành giả nhập vào nhị thiền, sau đó lại xuất ra khỏi nhị thiền, phân biệt các thiền chi, đồng thời tác ý loại bỏ thiền chi hỉ và nhập vào tam thiền chỉ có lạc với nhất tâm.
Sau khi chứng đắc tam thiền, hành giả cũng thực hành năm pháp thuần thục với tam thiền như với sơ thiền và nhị thiền.
Chứng và an trú tứ thiền:
Cũng như trước, hành giả cần thiết lập lại lần lượt sơ thiền, nhị thiền và tam thiền cho đến khi ánh sáng của định sung mãn, rực rỡ và tỏa chiếu.
Hành giả xuất ra khỏi tam thiền, suy xét đến những bất lợi của tam thiền: Tầng thiền này còn có thiền chi lạc là thô, không an tịnh bằng tứ thiền chỉ có xả với nhất tâm.
Sau đó hành giả nhập lại tam thiền, rồi xuất ra khỏi tam thiền, phân biệt các thiền chi, đồng thời với tác ý loại bỏ thiền chi lạc và nhập vào tứ thiền chỉ có xả với nhất tâm. Rồi hành giả thực hành 5 pháp thuần thục với tứ thiền cũng như với các tầng thiền khác.
Với sự chứng đắc tứ thiền, hơi thở hoàn toàn dừng lại. Đó cũng là sự chứng đắc cao nhất đối với thiền hơi thở.
Với nền tảng là tứ thiền của thiền hơi thở, hành giả có thể tu tập dễ dàng các đề mục thiền định khác trong số 40 đề mục thiền định, hoặc hành giả cũng có thể dùng tứ thiền hơi thở làm nền tảng để tu tập các đề mục thiền tuệ như phân biệt danh sắc, duyên khởi và tam tướng vô thường – khổ – vô ngã để chứng đắc tuệ đạo và tuệ quả ngay trong kiếp sống này.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
12. Hơi thở satori tokyo


Hơi thở Satori Tokyo là một phương pháp thở lấy cảm hứng từ triết lý thiền định và nghệ thuật chữa lành của Nhật Bản, đặc biệt nhấn mạnh đến việc đạt được trạng thái "satori" – tức là sự giác ngộ hay nhận thức sâu sắc trong triết học Thiền tông.
Ý nghĩa của "Satori"
  • Satori trong tiếng Nhật có nghĩa là "giác ngộ" hoặc "nhận thức". Đây là một khoảnh khắc bừng tỉnh, khi tâm trí nhận ra bản chất thực sự của vạn vật.
  • Hơi thở Satori Tokyo tập trung vào việc sử dụng nhịp thở như một công cụ để làm dịu tâm trí, giải phóng cảm xúc bị kìm nén và kết nối với bản chất sâu xa của chính mình.
Các nguyên tắc chính của Hơi thở Satori Tokyo
  1. Chú tâm vào hiện tại: Mỗi hơi thở là cơ hội để đưa tâm trí về giây phút hiện tại.
  1. Nhẹ nhàng và tự nhiên: Không cần ép buộc hơi thở, mà để nó tự chảy tự nhiên như dòng nước.
  1. Kết hợp với ý thức tâm linh: Hơi thở được kết hợp với các yếu tố như hình dung ánh sáng, âm thanh hoặc câu thần chú để tăng cường sự tập trung.

Cách thực hành Hơi thở Satori Tokyo
Chuẩn bị không gian:
  • Tìm một nơi yên tĩnh, không bị xao nhãng.
  • Ngồi thoải mái trong tư thế kiết già (hoặc bất kỳ tư thế nào bạn thấy dễ chịu).
Bắt đầu bằng hơi thở sâu:
  • Hít vào sâu qua mũi trong 4 giây, tưởng tượng bạn đang hít vào nguồn năng lượng thanh khiết.
  • Giữ hơi trong 4 giây, tập trung cảm nhận năng lượng lan tỏa khắp cơ thể.
  • Thở ra chậm rãi qua miệng trong 6-8 giây, cảm nhận mọi căng thẳng, tiêu cực được giải phóng.
Nhấn mạnh sự hiện diện:
  • Lặp lại chu kỳ thở trên, nhưng lần này chú ý đến không gian xung quanh: âm thanh, ánh sáng, và cảm giác cơ thể.
  • Nếu tâm trí lạc đi, nhẹ nhàng đưa sự chú ý trở lại hơi thở.
Tích hợp thiền Satori:
  • Khi thở, lặp lại trong tâm trí một từ hoặc câu ngắn mang tính thiền định, ví dụ: "Tĩnh lặng", "Ánh sáng", hoặc "Tôi là".
  • Tưởng tượng bạn đang hòa vào dòng chảy của vũ trụ.
Kết thúc nhẹ nhàng:
  • Trước khi hoàn thành, dành vài phút thở tự nhiên và cảm nhận sự thay đổi trong cơ thể, tâm trí, và cảm xúc.

Lợi ích của Hơi thở Satori Tokyo
  • Giảm căng thẳng và lo âu: Giúp hệ thần kinh được thư giãn và ổn định cảm xúc.
  • Tăng cường nhận thức: Hỗ trợ bạn kết nối với hiện tại, giảm thiểu sự xao nhãng và lo âu về tương lai hoặc quá khứ.
  • Khai mở tâm linh: Giúp bạn đạt được sự an lạc, giác ngộ, và nhận thức sâu sắc hơn về bản thân.
  • Cân bằng năng lượng: Tái tạo năng lượng tích cực, giải phóng cảm xúc bị đè nén.


14. Hơi thở Breath of Fire (Hơi thở lửa)


Breath of Fire (Hơi thở Lửa) là một kỹ thuật thở năng động và mạnh mẽ, thường được sử dụng trong Kundalini Yoga. Phương pháp này nổi bật với nhịp thở nhanh, mạnh và liên tục qua mũi, kết hợp cùng chuyển động cơ bụng, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần.
Cách thực hiện Breath of Fire
Tư thế chuẩn bị:
  • Ngồi thoải mái trong tư thế hoa sen (sukhasana) hoặc trên ghế với lưng thẳng.
  • Nhắm mắt và tập trung vào điểm giữa hai chân mày (gọi là third eye).
Kỹ thuật thở:
  • Hít vào và thở ra nhanh, đều đặn qua mũi.
  • Chuyển động của hơi thở bắt nguồn từ cơ bụng:
  • Khi thở ra: Co bụng vào sâu (ép không khí ra ngoài).
  • Khi hít vào: Thả lỏng bụng (không cần ép hít vào, hơi thở sẽ tự động vào).
  • Tốc độ: Bắt đầu chậm, sau đó tăng dần (khoảng 2-3 nhịp thở mỗi giây).
Thời lượng:
  • Người mới bắt đầu: 30 giây đến 1 phút.
  • Tăng dần đến 3-5 phút khi đã quen.
Lưu ý:
  • Giữ nhịp thở đều đặn, không căng thẳng.
  • Tránh kỹ thuật này nếu bạn đang mang thai, có vấn đề về hô hấp, tim mạch, hoặc chóng mặt.

Lợi ích của Breath of Fire
Tăng năng lượng và sự tập trung:
  • Giúp kích thích hệ thần kinh trung ương, cải thiện sự tỉnh táo và tập trung.
Giải độc cơ thể:
  • Thở nhanh giúp tăng cường thải độc qua phổi và hỗ trợ tuần hoàn máu.
Kích thích hệ tiêu hóa:
  • Massage nhẹ nhàng các cơ quan nội tạng thông qua chuyển động của cơ bụng.
Cân bằng hệ thần kinh:
  • Làm dịu căng thẳng, lo âu, và hỗ trợ sự cân bằng cảm xúc.
Tăng cường khả năng hô hấp:
  • Làm khỏe cơ hoành và mở rộng dung tích phổi.
Kích hoạt năng lượng Kundalini:
  • Trong Kundalini Yoga, kỹ thuật này được cho là giúp đánh thức năng lượng tiềm ẩn (Kundalini) tại đáy cột sống.

Mẹo thực hành
  • Bắt đầu chậm: Nếu bạn cảm thấy khó khăn, hãy thực hiện chậm rãi và nghỉ ngơi khi cần.
  • Không gồng ép: Thả lỏng cơ mặt, cổ và vai, chỉ tập trung vào bụng.
  • Hít thở tự nhiên khi cần: Nếu cảm thấy chóng mặt hoặc khó chịu, dừng lại và hít thở bình thường.

Ứng dụng trong thực tế
  • Breath of Fire thường được sử dụng trong các bài tập yoga để làm nóng cơ thể trước khi vào các tư thế (asana).
  • Có thể thực hiện như một phần của buổi sáng để tăng cường năng lượng cho ngày mới.
Hãy thử nghiệm và cảm nhận tác dụng của Breath of Fire để cơ thể và tâm trí của bạn thêm mạnh mẽ và sáng suốt! 
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

15. hơi thở Holotropic Breathwork


Holotropic Breathwork (Hơi thở Holotropic) là một phương pháp thở mạnh mẽ được thiết kế để giúp người thực hành khám phá trạng thái ý thức mở rộng và chữa lành từ bên trong. Phương pháp này được phát triển bởi bác sĩ tâm lý Stanislav GrofChristina Grof vào những năm 1970. Nó kết hợp kỹ thuật thở nhanh, âm nhạc kích thích, và sự hướng dẫn để đưa người thực hành vào trạng thái nhận thức sâu sắc.
Nguyên tắc của Holotropic Breathwork
  • Holotropic có nghĩa là "hướng đến sự toàn vẹn" (holos: toàn thể, trepein: hướng tới).
  • Phương pháp này dựa trên ý tưởng rằng hơi thở có thể kích hoạt tiềm năng tự chữa lành của cơ thể và giúp giải phóng cảm xúc bị kìm nén, chấn thương tâm lý, hoặc năng lượng tiêu cực.

Cách thực hành Holotropic Breathwork
Phương pháp này thường được thực hiện trong một môi trường có hướng dẫn bởi các chuyên gia được đào tạo. Đây là các bước cơ bản:
Chuẩn bị môi trường:
  • Một không gian an toàn, yên tĩnh với ánh sáng dịu nhẹ.
  • Thường có âm nhạc chuyên biệt (thường là nhạc thiền hoặc âm nhạc giúp kích thích cảm xúc).
Đặt ý định:
  • Người thực hành đặt ý định rõ ràng trước khi bắt đầu, như muốn hiểu sâu hơn về cảm xúc, vượt qua một nỗi đau, hoặc tìm kiếm sự kết nối tâm linh.
Bắt đầu kỹ thuật thở:
  • Hít thở nhanh và sâu qua miệng, không dừng giữa các nhịp.
  • Thở liên tục với một tốc độ ổn định, tập trung vào nhịp thở sâu.
Trạng thái ý thức mở rộng:
  • Trong quá trình thở, người thực hành có thể cảm nhận các trạng thái cảm xúc sâu sắc, ký ức từ quá khứ, hoặc trải nghiệm giác ngộ tâm linh.
  • Có thể xảy ra các cảm giác vật lý như rung động, nhiệt độ tăng, hoặc cảm giác nhẹ nhàng.
Kết thúc:
  • Sau khi kết thúc chu kỳ thở (thường kéo dài từ 1 đến 3 giờ), người tham gia nghỉ ngơi và thực hiện các hoạt động tích hợp như vẽ, viết nhật ký, hoặc chia sẻ cảm nhận.

Lợi ích của Holotropic Breathwork
Giải phóng cảm xúc bị kìm nén:
  • Giúp bạn đối diện và vượt qua các ký ức hoặc chấn thương tâm lý chưa được xử lý.
Kết nối với bản thân sâu sắc hơn:
  • Cải thiện nhận thức về cơ thể, tâm trí, và linh hồn.
Tăng khả năng tự chữa lành:
  • Kích hoạt các cơ chế tự chữa lành trong cơ thể.
Trạng thái giác ngộ:
  • Một số người trải nghiệm cảm giác kết nối với vũ trụ, sự hiểu biết tâm linh, hoặc trạng thái siêu nhận thức.
Giảm căng thẳng và lo âu:
  • Tạo ra sự thư giãn sâu sắc sau khi giải phóng năng lượng bị đè nén.

Lưu ý khi thực hành Holotropic Breathwork
  • Cần hướng dẫn chuyên nghiệp: Phương pháp này mạnh mẽ và có thể khơi gợi cảm xúc hoặc ký ức sâu sắc, nên thực hiện dưới sự giám sát của người hướng dẫn được đào tạo.
  • Không thực hiện khi có các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng: Người có tiền sử bệnh tim, động kinh, huyết áp cao, hoặc rối loạn tâm thần nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thực hiện.
  • Không ép buộc bản thân: Hãy để hơi thở diễn ra tự nhiên và không cố gắng kiểm soát trạng thái ý thức.

Tích hợp sau khi thực hành
Sau buổi thực hành, việc tích hợp trải nghiệm là rất quan trọng:
  • Viết nhật ký: Ghi lại những cảm giác, hình ảnh hoặc suy nghĩ xuất hiện.
  • Nghỉ ngơi: Cơ thể và tâm trí có thể cần thời gian để cân bằng lại.
  • Tương tác nhẹ nhàng: Thực hiện các hoạt động sáng tạo như vẽ tranh hoặc làm đồ thủ công.

Holotropic Breathwork là một hành trình mạnh mẽ và có thể thay đổi cuộc sống khi được thực hiện đúng cách. 
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

17. hơi thở Pranayama

Pranayama là một tập hợp các kỹ thuật thở trong yoga, nhằm kiểm soát và điều hòa hơi thở để cải thiện sức khỏe thể chất, tinh thần và tinh thần. Từ "Pranayama" xuất phát từ tiếng Phạn:
  • Prana: năng lượng sống, khí lực.
  • Ayama: mở rộng hoặc kiểm soát.
  • Nói cách khác, Pranayama là nghệ thuật kiểm soát năng lượng sống thông qua hơi thở.

Lợi ích của Pranayama
  1. Cân bằng tâm trí và cơ thể:
  • Làm dịu hệ thần kinh, giảm căng thẳng và lo âu.
  1. Tăng cường năng lượng:
  • Cải thiện lưu thông khí trong cơ thể, giúp bạn cảm thấy tràn đầy năng lượng.
  1. Hỗ trợ sức khỏe thể chất:
  • Tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện chức năng tim mạch và phổi.
  1. Phát triển nhận thức tâm linh:
  • Tăng sự kết nối với bản thân và hỗ trợ thiền định sâu hơn.

Các loại Pranayama phổ biến
Nadi Shodhana (Hơi thở luân phiên qua mũi)
  • Mục đích: Làm sạch các kênh năng lượng (nadi) và cân bằng hai bán cầu não.
  • Cách thực hiện:
  • Ngồi thẳng, dùng tay phải để bịt lỗ mũi phải.
  • Hít vào qua lỗ mũi trái, sau đó bịt lỗ mũi trái và thở ra qua lỗ mũi phải.
  • Lặp lại, thay đổi bên.
  • Thời gian: 5-10 phút.
Kapalabhati (Hơi thở làm sạch sọ)
  • Mục đích: Giải độc cơ thể và tăng năng lượng.
  • Cách thực hiện:
  • Ngồi thẳng, hít vào sâu qua mũi, sau đó thở ra mạnh qua mũi bằng cách co bụng vào.
  • Hít vào tự nhiên, lặp lại thở ra mạnh.
  • Thời gian: 30-50 lần mỗi chu kỳ, thực hiện 3 chu kỳ.
Bhastrika (Hơi thở ống bễ)
  • Mục đích: Tăng cường năng lượng và làm nóng cơ thể.
  • Cách thực hiện:
  • Hít vào sâu qua mũi, phồng bụng lên, sau đó thở ra mạnh qua mũi, ép bụng vào.
  • Lặp lại nhịp thở mạnh, nhanh.
  • Thời gian: 1-3 phút.
Bhramari (Hơi thở ong)
  • Mục đích: Làm dịu tâm trí, giảm lo âu.
  • Cách thực hiện:
  • Hít vào sâu qua mũi, sau đó thở ra chậm, tạo âm thanh “hummm” như tiếng ong.
  • Nhắm mắt, tập trung vào âm thanh rung động.
  • Thời gian: 5-7 phút.
Ujjayi (Hơi thở chiến thắng)
  • Mục đích: Tăng sự tập trung, làm dịu tâm trí.
  • Cách thực hiện:
  • Hít vào sâu qua mũi, tạo âm thanh nhẹ trong cổ họng, giống như tiếng sóng biển.
  • Thở ra qua mũi, duy trì âm thanh trong cổ họng.
  • Thời gian: 3-5 phút.

Hướng dẫn thực hành Pranayama
Không gian yên tĩnh:
  • Thực hành ở nơi không bị xao nhãng, tốt nhất vào buổi sáng sớm hoặc trước khi đi ngủ.
Tư thế thoải mái:
  • Ngồi thẳng trong tư thế hoa sen (sukhasana) hoặc tư thế thiền (padmasana).
Tập trung vào hơi thở:
  • Nhắm mắt và đưa sự chú ý vào nhịp thở.
Thời gian:
  • Bắt đầu với 5-10 phút mỗi ngày, sau đó tăng dần.
Lưu ý sức khỏe:
  • Không ép buộc hơi thở hoặc thực hành khi quá đói, no, hoặc mệt mỏi.
  • Nếu cảm thấy chóng mặt, dừng lại và thở tự nhiên.

6 kỹ thuật thở Pranayama bạn có thể thử ngay tại nhà

Có rất nhiều kỹ thuật thở Pranayama, mỗi kỹ thuật được thiết kế để mang đến những lợi ích khác nhau cho cơ thể. Dưới đây là một số kỹ thuật hít thở Pranayama trong yoga mà bạn có thể thử áp dụng ngay tại nhà.

Kỹ thuật thở luân phiên (Nadi Shodhan Pranayama)

Kỹ thuật thở luân phiên giúp thông xoang mũi, tăng lượng oxy cung cấp lên não và giảm căng thẳng hiệu quả. Bạn có thể thực hiện kỹ thuật thở này trước khi đi ngủ để giúp thư giãn tinh thần và ngủ ngon hơn.

Các bước thực hiện như sau:

  • Bước 1: Đầu tiên, bạn ngồi hoặc nằm thật thoải mái trên sàn, cố gắng thở hết hơi ra.
  • Bước 2: Sau đó, hãy dùng ngón cái của bàn tay phải để bịt cánh mũi phải lại và từ từ hít vào bằng cánh mũi trái. Chú ý hít một hơi thật sâu để hơi thở đi đến bụng thay vì chỉ dừng lại ở ngực.

Bước 3: Sau khi đã hít đầy không khí, bạn dùng ngón đeo nhẫn của bàn tay phải chặn cánh mũi trái lại và giữ yên như vậy trong vài giây.

Bước 4: Thả ngón tay cái khỏi mũi và bắt đầu thở ra hết hơi qua cánh mũi phải. Tạm dừng một vài giây rồi hít vào qua cánh mũi phải.

Bước 5: Tiếp tục chặn cả hai cánh mũi, giữ yên trong vài giây rồi từ từ thở ra qua cánh mũi trái. Vậy là bạn đã hoàn thành một vòng thở.

Bạn có thể thực hiện tối đa 10 vòng thở, hãy cố gắng hít thở thật đều và chậm rãi, đồng thời chú ý đến phản hồi của cơ thể.

Kỹ thuật thở con ong (Bhramari Pranayama)

Kỹ thuật thở con ong có thể giúp bạn lấy lại sự bình tĩnh trong trường hợp đang rơi vào trạng thái lo lắng, bất an hay giận dữ. Phép thở này còn giúp giảm đau đầu và cải thiện khả năng tập trung vô cùng hiệu quả chỉ với các bước đơn giản sau:

  • Bước 1: Bạn ngồi thẳng lưng trên sàn, dùng lòng bàn tay bịt hai tai và nhắm mắt lại.
  • Bước 2: Tiếp theo, hãy hít vào thật sâu bằng cả hai mũi.
  • Đến bước 3: Bạn từ từ thở ra bằng miệng tạo ra âm thanh (Bee) như tiếng ong vo ve trong cổ họng.
  • Bước 4: Hãy cố gắng cảm nhận rung động của âm thanh trong đầu. Tiếp tục hít vào và lặp lại kỹ thuật này 5-10 lần.

Hơi thở của sư tử (Simhasana Pranayama)

Hơi thở của sư tử là một kỹ thuật giúp bạn kéo giãn lưỡi, hàm và toàn bộ cơ mặt. Như các kỹ thuật hít thở Pranayama khác trong yoga, hơi thở sư tử có tác dụng giảm căng thẳng và tiếp thêm năng lượng cho bạn.

Đây cũng là một bài tập vui tươi, đơn giản mà bạn có thể hướng dẫn cho gia đình cùng thực hiện.

  • Bước 1: Đầu tiên, hít vào một hơi thật sâu bằng mũi.
  • Bước 2: Thè lưỡi và mở miệng to hết cỡ. Thở thật mạnh bằng miệng, tạo thành âm thanh “ha”.
  • Bước 3: Thu lưỡi trở về trạng thái bình thường như lúc hít vào. Lặp lại 4 lần.

Hơi thở đại dương hay hơi thở chiến thắng (Ujjayi Pranayama)

Kỹ thuật thở Pranayama này có tác dụng tăng cường sức bền và khả năng điều khiển tâm trí, giải phóng căng thẳng và ức chế, giảm đau đầu, tăng cường hệ thần kinh và tiêu hóa…

Khi mới bắt đầu, bạn có thể thực hiện kỹ thuật hơi thở đại dương 5 phút mỗi ngày.

Các bước thực hiện như sau:

  • Bước 1: Bạn hãy ngồi hoặc nằm với tư thế thật thoải mái, thả lỏng cơ thể và nhẹ nhàng nhắm mắt lại. Đặt hai tay lên đùi hoặc thả lỏng hai bên.
  • Bước 2: Hít vào thật sâu và chậm bằng mũi, từ từ cảm nhận luồng không khí đi vào mũi, lên phía trên đầu ống mũi rồi đi xuống ống khí quản để vào phổi
  • Bước 3: Sau đó thở ra thật chậm và nhẹ nhàng bằng mũi. Cảm nhận luồng không khí đi từ phổi đi qua ống khí quản và ra ngoài đầu ống mũi.
  • Bước 4: Tập trung vào hơi thở và lắng nghe hơi thở của bạn để xoa diệu tâm trí.

Hơi thở mạnh (Bhastrika Pranayama)

Bài tập hơi thở mạnh giúp cung cấp nhiều năng lượng, tăng tỉ lệ trao đổi chất, tăng cường quá trình tiêu thụ calorie, thư giãn tinh thần và cải thiện khả năng tập trung.

Đặc biệt, bài tập này còn giúp chữa các bệnh như hen suyễn, đau đầu, các vấn đề về thần kinh, dạ dày, viêm khớp và đau họng. Ngoài ra, kỹ thuật thở mạnh còn giúp đẩy chất độc ra khỏi cơ thể và chữa lành các bệnh liên quan đến bài tiết, giúp da dẻ hồng hào.

Lưu ý: bệnh nhân có huyết áp cao hoặc bệnh về tim mạch không nên luyện tập kỹ thuật thở này.

  • Bước 1: Ngồi ở tư thế thoải mái, giữ cho lưng thẳng
  • Bước 2: Hít vào thật sâu bằng mũi căng tròn bụng lên
  • Đếm bước 3: Thở ra thật mạnh bằng mũi đưa toàn bộ không khí ra ngoài.

Bạn có thể thực hiện từ bên mũi trái và phải để dễ cảm nhận và thực hiện. Bài tập này nên được tập luyện mỗi ngày theo thời lượng tăng dần (không quá 5 phút), tránh tập luyện gấp và quá nhanh.

Hơi thở làm mát (Sitali Pranayama)

Đúng như tên gọi của mình, hơi thở làm mát có tác dụng điều hòa thân nhiệt và đặc biệt hữu ích trong những ngày hè nóng nực.

Bạn có thể thực hiện kỹ thuật này theo các bước sau đây:

  • Bước 1: Bạn ngồi thẳng lưng trên sàn, cố gắng thư giãn phần bụng và giữ cằm song song với sàn.
  • Bước 2: Chu môi và hít vào từ từ giống như đang hút không khí bằng một chiếc ống hút.
  • Đến bước 3: Khép miệng lại và thở ra bằng mũi. Bạn có cảm thấy hơi mát lan tỏa trong cơ thể không?

Pranayama là một phần không thể thiếu của yoga, giúp bạn đạt được sự hài hòa giữa cơ thể, tâm trí, và tinh thần. Hãy thử nghiệm từng kỹ thuật và cảm nhận tác động tích cực mà chúng mang lại! 🌿
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

18. Hơi thở tumo
Hơi thở Tummo (còn gọi là hơi thở nội nhiệt) là một kỹ thuật thở cổ xưa trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, thường được các tu sĩ thực hành để tạo ra "nhiệt bên trong". Phương pháp này được biết đến như một phần của thực hành tâm linh sâu sắc nhằm kiểm soát năng lượng của cơ thể và tâm trí. Tummo có nghĩa là "ngọn lửa bên trong" trong tiếng Tây Tạng.
Mục đích của Hơi thở Tummo
  • Tạo ra năng lượng và nhiệt để giữ ấm cơ thể, đặc biệt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
  • Làm sạch các năng lượng tắc nghẽn trong cơ thể.
  • Kết nối sâu sắc giữa cơ thể, tâm trí và tinh thần.
  • Nâng cao ý thức tâm linh và sức mạnh nội tại.

Nguyên lý hoạt động của Tummo
Hơi thở Tummo tập trung vào việc kích hoạt luồng năng lượng chạy qua các kênh năng lượng chính trong cơ thể (được gọi là nadi hoặc kinh mạch trong truyền thống yoga). Năng lượng này được tưởng tượng như ngọn lửa bùng cháy tại trung tâm bụng dưới, làm ấm cơ thể và mang lại sự giác ngộ tâm linh.

Cách thực hiện Hơi thở Tummo
Đây là quy trình cơ bản, nhưng cần lưu ý rằng Tummo là một kỹ thuật mạnh mẽ và nên được thực hành dưới sự hướng dẫn của chuyên gia để đảm bảo an toàn.
Chuẩn bị:
  • Ngồi thoải mái trong tư thế thiền (lotus position hoặc half-lotus), giữ lưng thẳng.
  • Nhắm mắt và thư giãn cơ thể, tập trung vào hơi thở tự nhiên.
Tập trung vào vùng bụng dưới:
  • Đưa sự chú ý đến khu vực bụng dưới (dưới rốn). Đây là nơi được gọi là hara hoặc tâm hỏa.
Hít thở sâu:
  • Hít vào thật sâu qua mũi, cảm nhận luồng không khí tràn đầy phổi và di chuyển xuống bụng.
  • Khi thở ra qua mũi, tưởng tượng rằng bạn đang thổi bùng ngọn lửa trong bụng.
Tạo hơi thở mạnh:
  • Sau vài nhịp thở chậm, bắt đầu thở mạnh hơn, sâu hơn và nhanh hơn, đồng thời giữ sự tập trung vào bụng dưới.
Tưởng tượng "ngọn lửa Tummo":
  • Hình dung một ngọn lửa ấm áp bùng cháy ở bụng dưới, lan tỏa nhiệt đến toàn bộ cơ thể. Ngọn lửa này giúp bạn cảm thấy ấm áp và mạnh mẽ.
Giữ hơi thở:
  • Sau một chu kỳ thở mạnh, hít vào sâu và giữ hơi thở trong vài giây (hoặc lâu hơn nếu thoải mái), tập trung vào ngọn lửa.
Thả lỏng:
  • Thở ra chậm rãi và thư giãn toàn bộ cơ thể, cảm nhận năng lượng lan tỏa khắp người.
Lặp lại:
  • Thực hiện từ 3-5 chu kỳ tùy theo khả năng và cảm giác thoải mái.

Lợi ích của Hơi thở Tummo
Tăng khả năng chịu lạnh:
  • Các tu sĩ Tây Tạng thực hành Tummo có thể ngồi trong tuyết và làm khô khăn ướt bằng nhiệt cơ thể.
Tăng năng lượng và sự tập trung:
  • Giúp tăng cường khả năng tập trung và cảm giác tỉnh táo.
Hỗ trợ thiền định:
  • Tummo giúp bạn đạt được trạng thái tâm linh sâu sắc hơn.
Giải tỏa căng thẳng và cảm xúc bị kìm nén:
  • Kích hoạt hệ thần kinh đối giao cảm, giúp giảm lo âu và căng thẳng.
Thúc đẩy tuần hoàn máu:
  • Hơi thở mạnh và tập trung giúp tăng lưu thông máu trong cơ thể.

Lưu ý khi thực hành Tummo
  • Thực hành dưới sự hướng dẫn: Vì Tummo là một kỹ thuật phức tạp và mạnh mẽ, người mới nên tìm đến các chuyên gia hoặc hướng dẫn viên có kinh nghiệm.
  • Thận trọng với sức khỏe: Tránh thực hành nếu bạn có vấn đề về tim mạch, huyết áp cao, hoặc các bệnh lý nghiêm trọng.
  • Không thực hiện trong môi trường nguy hiểm: Ví dụ, không thực hành trong nước hoặc khi bạn đang ở nơi nhiệt độ quá thấp nếu chưa quen với phương pháp.

Hơi thở Tummo là một trong những kỹ thuật thở cổ xưa mang lại lợi ích vượt bậc cả về mặt thể chất và tâm linh. Nếu được thực hành đúng cách, nó có thể giúp bạn khai thác tiềm năng sâu sắc của chính mình!
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

19. Ngưng khí công của Trung Quốc
Ngưng khí công là một kỹ thuật trong hệ thống khí công Trung Quốc, nhấn mạnh vào việc tập trung năng lượng nội tại (khí) thông qua kiểm soát hơi thở, tâm trí và sự tĩnh lặng. Đây là một phương pháp giúp cân bằng năng lượng, cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần, đồng thời hỗ trợ việc kết nối sâu sắc với chính mình.
Ngưng khí là gì?
  • "Ngưng khí" có nghĩa là giữ lại hoặc tập trung khí (năng lượng sống, hay còn gọi là Qi trong tiếng Trung Quốc).
  • Kỹ thuật này liên quan đến việc điều chỉnh hơi thở để làm dịu tâm trí và cơ thể, từ đó giúp khí lưu thông một cách tự nhiên trong cơ thể.

Nguyên tắc cơ bản của ngưng khí công
Tâm tĩnh:
  • Tâm trí cần được làm dịu, không để bị phân tâm bởi suy nghĩ hoặc cảm xúc.
  • Thường kết hợp thiền định để đưa cơ thể vào trạng thái thư giãn sâu.
Hơi thở chậm và sâu:
  • Hơi thở cần được điều chỉnh, chậm rãi và sâu để hỗ trợ dòng chảy khí trong cơ thể.
Tập trung vào "Đan điền":
  • Đan điền là khu vực ngay dưới rốn, nơi được coi là trung tâm năng lượng trong cơ thể.
  • Trong ngưng khí công, người thực hành tập trung ý thức vào đan điền để thu hút và lưu trữ năng lượng.
Tư thế thoải mái:
  • Người thực hành thường đứng trong tư thế Trạm Trang (đứng như cây), ngồi thiền, hoặc nằm thư giãn.

Cách thực hành ngưng khí công
Chuẩn bị:
  • Chọn một nơi yên tĩnh, không bị quấy rầy.
  • Mặc quần áo thoải mái, đứng hoặc ngồi với tư thế thẳng lưng.
Thư giãn cơ thể:
  • Nhắm mắt và thả lỏng toàn bộ cơ thể, từ đầu đến chân.
  • Cảm nhận cơ thể trở nên nhẹ nhàng và thoải mái.
Hơi thở tự nhiên:
  • Bắt đầu với hơi thở tự nhiên, không ép buộc.
  • Từ từ hít vào sâu qua mũi, cảm nhận hơi thở đi xuống bụng.
Tập trung vào đan điền:
  • Khi thở ra, tưởng tượng năng lượng từ khắp cơ thể hội tụ về đan điền.
  • Hãy duy trì ý thức ở khu vực này mà không phân tán suy nghĩ.
Ngưng khí:
  • Sau khi thở đều, bạn có thể giữ khí trong giây lát sau khi hít vào sâu.
  • Trong thời gian ngưng khí, tưởng tượng năng lượng đang lưu trữ và làm mạnh thêm đan điền.
Thở ra chậm rãi:
  • Khi thở ra, tưởng tượng mọi căng thẳng, độc tố và năng lượng tiêu cực được đẩy ra ngoài cơ thể.
Lặp lại:
  • Thực hành từ 5 đến 15 phút hoặc lâu hơn nếu cảm thấy thoải mái.

Lợi ích của ngưng khí công
Cải thiện sức khỏe tổng thể:
  • Kích thích tuần hoàn khí trong cơ thể, cải thiện chức năng hô hấp, tiêu hóa và tim mạch.
Tăng cường năng lượng:
  • Lưu trữ và làm mạnh năng lượng nội tại, giúp bạn cảm thấy tràn đầy sức sống.
Giảm căng thẳng và lo âu:
  • Làm dịu tâm trí, giảm căng thẳng, và giúp đạt được trạng thái cân bằng tinh thần.
Phát triển tâm linh:
  • Hỗ trợ hành trình nội tâm, tăng khả năng tự nhận thức và kết nối với bản thể sâu sắc.

Lưu ý khi thực hành ngưng khí công
  • Không nên ép buộc hơi thở: Hơi thở cần tự nhiên, không gượng ép, để cơ thể và tâm trí tự thích nghi.
  • Không thực hành khi đói hoặc no: Trạng thái cơ thể cần thoải mái, tránh lúc cơ thể quá mệt mỏi hoặc chưa sẵn sàng.
  • Kiên trì và đều đặn: Lợi ích của ngưng khí công sẽ được cảm nhận rõ hơn khi bạn thực hành đều đặn.
  • Tránh tập quá sức: Nếu cảm thấy khó chịu, hãy dừng lại ngay lập tức và nghỉ ngơi.

Ngưng khí công không chỉ là một phương pháp tập luyện mà còn là cách để khám phá bản thân và duy trì sự cân bằng trong cuộc sống. Thực hành đều đặn sẽ giúp bạn đạt được sức khỏe và sự an yên từ sâu bên trong. 🌿
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

20. hơi thở khoảng trống của chân lý
Hơi thở khoảng trống của chân lý (The Breath of the Gap of Truth) không phải là một thuật ngữ chính thức trong các hệ thống thở hoặc phương pháp thiền truyền thống mà tôi biết. Tuy nhiên, cụm từ này có thể được hiểu theo một cách rộng hơn trong ngữ cảnh của các phương pháp thiền hoặc thực hành tâm linh, có thể mang ý nghĩa sâu sắc liên quan đến khoảng trống hoặc khoảnh khắc yên tĩnh, nơi không có sự can thiệp của suy nghĩ và chỉ còn lại sự hiện hữu thuần khiết.
Khái niệm về "khoảng trống" trong thiền và hơi thở
  • Khoảng trống trong thiền thường ám chỉ những khoảnh khắc của sự tĩnh lặng tuyệt đối, nơi tâm trí không còn dính líu vào suy nghĩ, cảm xúc hay những phán xét.
  • Hơi thở trong những khoảnh khắc này có thể trở thành một công cụ để kết nối sâu sắc với bản thểtận hưởng sự hiện diện mà không cần bất kỳ sự phân tâm nào từ thế giới bên ngoài.
Ứng dụng trong thiền và hơi thở
  • Hơi thở là cánh cửa: Trong các phương pháp thiền, hơi thở được xem là một phương tiện tuyệt vời để kết nối với khoảng trống của sự hiện hữu. Hơi thở là cầu nối giữa cơ thể và tâm trí, nơi chúng ta có thể thả lỏng hoàn toàn và không có sự phân tán.
  • Không gian giữa các nhịp thở: Khi bạn tập trung vào hơi thở, có thể nhận thấy rằng giữa mỗi nhịp thở vào và thở ra, có một khoảng trống – một khoảnh khắc của sự vắng lặng, một khoảng nghỉ, nơi tâm trí được giải thoát khỏi sự ồn ào của suy nghĩ.
  • Tập trung vào sự hiện diện: Trong khi thực hành thiền hoặc các kỹ thuật thở, việc chú ý vào khoảng trống giữa các nhịp thở có thể giúp tạo ra một không gian yên bình, nơi các suy nghĩ không còn chi phối, và bạn chỉ còn lại chân lý của sự tồn tại, là chính mình, không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài.
Phương pháp thực hành hơi thở với "khoảng trống"
  1. Tìm một không gian yên tĩnh: Ngồi hoặc nằm thoải mái, đảm bảo bạn không bị xao nhãng.
  1. Chú ý vào hơi thở: Bắt đầu hít vào và thở ra một cách tự nhiên, không cố gắng điều khiển hơi thở.
  1. Tập trung vào khoảnh khắc chuyển tiếp: Khi bạn thở vào, và khi bạn thở ra, hãy để tâm trí bạn nghỉ lại trong những khoảnh khắc chuyển tiếp giữa các nhịp thở. Đây là khoảng trống của hơi thở.
  1. Cảm nhận sự hiện diện: Trong những khoảnh khắc này, chỉ có sự hiện diện của bạn trong không gian yên tĩnh, không có suy nghĩ, không có cảm giác lo lắng hay căng thẳng.
  1. Giữ khoảng trống trong tâm trí: Mỗi lần bạn thở ra, tưởng tượng rằng bạn đang thải ra tất cả sự căng thẳng, và khi hít vào, bạn hấp thụ sự bình yên của khoảng trống đó.

Lợi ích của thực hành hơi thở khoảng trống
  • Giảm căng thẳng: Hơi thở sâu và chậm rãi giúp giảm bớt căng thẳng và lo âu, tạo ra sự thư giãn sâu sắc.
  • Tăng khả năng tập trung: Việc chú ý vào khoảng trống giữa các nhịp thở giúp tăng cường khả năng chú ý và giảm sự phân tâm.
  • Khám phá bản thể: Khi bạn trở nên ít phụ thuộc vào suy nghĩ và cảm xúc, bạn có thể kết nối sâu sắc với bản thể của mình và trải nghiệm sự tự do từ những giới hạn bên ngoài.

Dù "hơi thở khoảng trống của chân lý" không phải là một thuật ngữ phổ biến, nhưng ý tưởng về việc tìm kiếm khoảng trống trong thiền và hơi thở là rất mạnh mẽ. Việc thực hành này có thể mang lại những lợi ích sâu sắc về mặt tâm linh và sức khỏe. 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Chakra- Luân xa





 Chakras, Sanskrit: चक्र, romanized: cakra, lit. 'wheel, circle'; Pali: cakka) are various focal points used in a variety of ancient meditation practices, collectively denominated as Tantra, part of the inner traditions of Hinduism and Buddhism.

The concept of the chakra arose in Hinduism. Beliefs differ between the Indian religions, with many Buddhist texts consistently mentioning five chakras, while Hindu sources reference six or seven. Early Sanskrit texts speak of them both as meditative visualizations combining flowers and mantras and as physical entities in the body.Within Kundalini yoga, the techniques of breathing exercises, visualizations, mudras, bandhas, kriyas, and mantras are focused on manipulating the flow of subtle energy through chakras.

The modern "Western chakra system" arose from multiple sources, starting in the 1880s with H. P. Blavatsky and other Theosophists, followed by Sir John Woodroffe's 1919 book The Serpent Power, and Charles W. Leadbeater's 1927 book The Chakras. Psychological and other attributes, rainbow colours, and a wide range of supposed correspondences with other systems such as alchemy, astrology, gemstones, homeopathy, Kabbalah and Tarot were added later.

Lexically, chakra is the Indic reflex of an ancestral Indo-European form *kʷékʷlos, whence also "wheel" and "cycle" (Ancient Greek: κύκλος, romanized: kýklos). It has both literal and metaphorical uses, as in the "wheel of time" or "wheel of dharma", such as in Rigveda hymn verse 1.164.11 pervasive in the earliest Vedic texts.

In Buddhism, especially in Theravada, the Pali noun cakka connotes "wheel". Within the Buddhist scriptures refferred to as the Tripitaka, Shakyamuni Buddha variously refers the "dhammacakka", or "wheel of dharma", connoting that this dharma, universal in its advocacy, should bear the marks characteristic of any temporal dispensation. Shakyamuni Buddha spoke of freedom from cycles in and of themselves, whether karmic, reincarnative, liberative, cognitive or emotional.

In Jainism, the term chakra also means "wheel" and appears in various contexts in its ancient literature. As in other Indian religions, chakra in esoteric theories in Jainism such as those by Buddhisagarsuri means a yogic energy center.

The word chakra appears to first emerge within the Vedas, though not in the sense of psychic energy centers, rather as chakravartin or the king who "turns the wheel of his empire" in all directions from a center, representing his influence and power. The iconography popular in representing the Chakras, states the scholar David Gordon White, traces back to the five symbols of yajna, the Vedic fire altar: "square, circle, triangle, half moon and dumpling".

The hymn 10.136 of the Rigveda mentions a renunciate yogi with a female named kunannamā. Literally, it means "she who is bent, coiled", representing both a minor goddess and one of many embedded enigmas and esoteric riddles within the Rigveda. Some scholars, such as D.G. White and Georg Feuerstein, have suggested that she may be a reference to kundalini shakti and a precursor to the terminology associated with the chakras in later tantric traditions.

Breath channels (nāḍi) are mentioned in the classical Upanishads of Hinduism from the 1st millennium BCE, but not psychic-energy chakra theories. Three classical Nadis are Ida, Pingala and Sushumna in which the central channel Sushumna is said to be foremost as per Kṣurikā-Upaniṣhad. The latter, states David Gordon White, were introduced about 8th-century CE in Buddhist texts as hierarchies of inner energy centers, such as in the Hevajra Tantra and Caryāgiti. These are called by various terms such as cakka, padma (lotus) or pitha (mound). These medieval Buddhist texts mention only four chakras, while later Hindu texts such as the Kubjikāmata and Kaulajñānanirnaya expanded the list to many more.

In contrast to White, according to Feuerstein, early Upanishads of Hinduism do mention chakras in the sense of "psychospiritual vortices", along with other terms found in tantra: prana or vayu (life energy) along with nadi (energy carrying arteries). According to Gavin Flood, the ancient texts do not present chakra and kundalini-style yoga theories although these words appear in the earliest Vedic literature in many contexts. The chakra in the sense of four or more vital energy centers appear in the medieval era Hindu and Buddhist texts.

The Chakras are part of esoteric ideas and concepts about physiology and psychic centers that emerged across Indian traditions. The belief held that human life simultaneously exists in two parallel dimensions, one "physical body" (sthula sarira) and other "psychological, emotional, mind, non-physical" it is called the "subtle body" (sukshma sarira).This subtle body is energy, while the physical body is mass. The psyche or mind plane corresponds to and interacts with the body plane, and the belief holds that the body and the mind mutually affect each other. The subtle body consists of nadi (energy channels) connected by nodes of psychic energy called chakra. The belief grew into extensive elaboration, with some suggesting 88,000 chakras throughout the subtle body. The number of major chakras varied between various traditions, but they typically ranged between four and seven. Nyingmapa Vajrayana Buddhist teachings mention eight chakras and there is a complete yogic system for each of them.

The important chakras are stated in Hindu and Buddhist texts to be arranged in a column along the spinal cord, from its base to the top of the head, connected by vertical channels. The tantric traditions sought to master them, awaken and energize them through various breathing exercises or with assistance of a teacher. These chakras were also symbolically mapped to specific human physiological capacity, seed syllables (bija), sounds, subtle elements (tanmatra), in some cases deities, colors and other motifs.

Belief in the chakra system of Hinduism and Buddhism differs from the historic Chinese system of meridians in acupuncture.[6] Unlike the latter, the chakra relates to subtle body, wherein it has a position but no definite nervous node or precise physical connection. The tantric systems envision it as continually present, highly relevant and a means to psychic and emotional energy. It is useful in a type of yogic rituals and meditative discovery of radiant inner energy (prana flows) and mind-body connections. The meditation is aided by extensive symbology, mantras, diagrams, models (deity and mandala). The practitioner proceeds step by step from perceptible models, to increasingly abstract models where deity and external mandala are abandoned, inner self and internal mandalas are awakened.

These ideas are not unique to Hindu and Buddhist traditions. Similar and overlapping concepts emerged in other cultures in the East and the West, and these are variously called by other names such as subtle body, spirit body, esoteric anatomy, sidereal body and etheric body. According to Geoffrey Samuel and Jay Johnston, professors of Religious studies known for their studies on Yoga and esoteric traditions:

Ideas and practices involving so-called 'subtle bodies' have existed for many centuries in many parts of the world. (...) Virtually all human cultures known to us have some kind of concept of mind, spirit or soul as distinct from the physical body, if only to explain experiences such as sleep and dreaming. (...) An important subset of subtle-body practices, found particularly in Indian and Tibetan Tantric traditions, and in similar Chinese practices, involves the idea of an internal 'subtle physiology' of the body (or rather of the body-mind complex) made up of channels through which substances of some kind flow, and points of intersection at which these channels come together. In the Indian tradition the channels are known as nadi and the points of intersection as cakra.

— Geoffrey Samuel and Jay Johnston, Religion and the Subtle Body in Asia and the West: Between Mind and Body

Number of chakras


There is no consensus in Hinduism about the number of chakras because the concept of chakras has been evolved and interpreted differently by various sects, schools of thought, and spiritual traditions within Hinduism over the centuries. While some traditions follow the seven main chakra system, others recognize additional chakras or a different number of chakras. The lack of a universally accepted standard has led to variation and diversity in the interpretation and understanding of chakras within Hinduism. There are several sects within Hinduism that have their own unique interpretations and understandings of the concept of chakras. Here are some of the major sects that have different perspectives on chakras:

Bhakti Yoga: In Bhakti Yoga, the number of chakras varies, but the focus is often on the heart chakra as the center of spiritual devotion.

Ayurveda (3): In Ayurveda, there are three main chakras, known as the "Marmas," which are considered to be the focal points of the physical, mental, and spiritual energies in the body.

Shaivism (5): In Shaivism, there are five chakras, with the focus being on the heart and crown chakras.

Tantra (6): In Tantra, there are traditionally said to be four to six chakras, with the crown chakra being considered the highest.

Kashmir Shaivism (6–7): In Kashmir Shaivism, there are six or seven chakras, with the focus being on the awakening of the divine energy within.

Hatha Yoga (7): In Hatha Yoga, there are seven main chakras, but some Hatha Yoga traditions also recognize additional chakras.

Kundalini Yoga (7): In Kundalini Yoga, there are seven main chakras, but additional minor chakras are also recognized.

Nath Tradition (8): In the Nath tradition, there are eight main chakras, with the emphasis being on the awakening of the divine energy through these centers.

Vaishnavism (12): In Vaishnavism, there are twelve chakras, with the emphasis being on the spiritual ascent through these centers.

The classical eastern traditions, particularly those that developed in India during the 1st millennium AD, primarily describe nadi and chakra in a "subtle body" context. To them, they are in same dimension as of the psyche-mind reality that is invisible yet real. In the nadi and cakra flow the prana (breath, life energy). The concept of "life energy" varies between the texts, ranging from simple inhalation-exhalation to far more complex association with breath-mind-emotions-sexual energy. This prana or essence is what vanishes when a person dies, leaving a gross body. Some of this concept states this subtle body is what withdraws within, when one sleeps. All of it is believed to be reachable, awake-able and important for an individual's body-mind health, and how one relates to other people in one's life. This subtle body network of nadi and chakra is, according to some later Indian theories and many New Age speculations, closely associated with emotions.



Hindu tantra

Main article: Kundalini energy

Esoteric traditions in Hinduism mention numerous numbers and arrangements of chakras, of which a classical system of six-plus-one, the last being the Sahasrara, is most prevalent. This seven-part system, central to the core texts of hatha yoga, is one among many systems found in Hindu tantric literature. Hindu Tantra associates six Yoginis with six places in the subtle body, corresponding to the six chakras of the six-plus-one system.

Association of six yoginis with chakra locations in the Rudrayamala Tantra

Place in subtle body Yogini

1. Muladhara Dakini

2. Svadhisthana Rakini

3. Manipura Lakini

4. Anahata Kakini

5. Vishuddhi Shakini

6. Ajna Hakini

The Chakra methodology is extensively developed in the goddess tradition of Hinduism called Shaktism. It is an important concept along with yantras, mandalas and kundalini yoga in its practice. Chakra in Shakta tantrism means circle, an "energy center" within, as well as being a term for group rituals such as in chakra-puja (worship within a circle) which may or may not involve tantra practice. The cakra-based system is a part of the meditative exercises that came to be known as yoga.

Buddhist tantra

Main article: Vajrayana

The esoteric traditions in Buddhism generally teach four chakras. In some early Buddhist sources, these chakras are identified as: manipura (navel), anahata (heart), vishuddha (throat) and ushnisha kamala (crown). In one development within the Nyingma lineage of the Mantrayana of Tibetan Buddhism a popular conceptualization of chakras in increasing subtlety and increasing order is as follows: Nirmanakaya (gross self), Sambhogakaya (subtle self), Dharmakaya (causal self), and Mahasukhakaya (non-dual self), each vaguely and indirectly corresponding to the categories within the Shaiva Mantramarga universe, i.e., Svadhisthana, Anahata, Visuddha, Sahasrara, etc. However, depending on the meditational tradition, these vary between three and six. The chakras are considered psycho-spiritual constituents, each bearing meaningful correspondences to cosmic processes and their postulated Buddha counterpart.

A system of five chakras is common among the Mother class of Tantras and these five chakras along with their correspondences are:

Basal chakra (Element: Earth, Buddha: Amoghasiddhi, Bija mantra: LAM)

Abdominal chakra (Element: Water, Buddha: Ratnasambhava, Bija mantra: VAM)

Heart chakra (Element: Fire, Buddha: Akshobhya, Bija mantra: RAM)

Throat chakra (Element: Wind, Buddha: Amitabha, Bija mantra: YAM)

Crown chakra (Element: Space, Buddha: Vairochana, Bija mantra: KHAM)

Chakras clearly play a key role in Tibetan Buddhism, and are considered to be the pivotal providence of Tantric thinking. And, the precise use of the chakras across the gamut of tantric sadhanas gives little space to doubt the primary efficacy of Tibetan Buddhism as distinct religious agency, that being that precise revelation that, without Tantra there would be no Chakras, but more importantly, without Chakras, there is no Tibetan Buddhism. The highest practices in Tibetan Buddhism point to the ability to bring the subtle pranas of an entity into alignment with the central channel, and to thus penetrate the realisation of the ultimate unity, namely, the "organic harmony" of one's individual consciousness of Wisdom with the co-attainment of All-embracing Love, thus synthesizing a direct cognition of absolute Buddhahood

According to Samuel, the buddhist esoteric systems developed cakra and nadi as "central to their soteriological process". The theories were sometimes, but not always, coupled with a unique system of physical exercises, called yantra yoga or 'phrul 'khor. Chakras, according to the Bon tradition, enable the gestalt of experience, with each of the five major chakras, being psychologically linked with the five experiential qualities of unenlightened consciousness, the six realms of woe.

The tsa lung practice embodied in the Trul khor lineage, unbaffles the primary channels, thus activating and circulating liberating prana. Yoga awakens the deep mind, thus bringing forth positive attributes, inherent gestalts, and virtuous qualities. In a computer analogy, the screen of one's consciousness is slated and an attribute-bearing file is called up that contains necessary positive or negative, supportive qualities. Tantric practice is said to eventually transform all experience into clear light. The practice aims to liberate from all negative conditioning, and the deep cognitive salvation of freedom from control and unity of perception and cognition.

A Tibetan illustration of the subtle body showing the central channel, two side channels, and five chakras
A Tibetan thangka showing six chakras


Seven chakra system
The most studied chakra system incorporates six major chakras along with a seventh centre generally not regarded as a chakra. These points are arranged vertically along the axial channel (sushumna nadi in Hindu texts, Avadhuti in some Buddhist texts). According to Gavin Flood, this system of six chakras plus the sahasrara "center" at the crown first appears in the Kubjikāmata-tantra, an 11th-century Kaula work.
It was this chakra system that was translated in the early 20th century by Sir John Woodroffe (also called Arthur Avalon) in his book The Serpent Power. Avalon translated the Hindu text Ṣaṭ-Cakra-Nirūpaṇa meaning the examination (nirūpaṇa) of the six (ṣaṭ) chakras (cakra).
The Chakras are traditionally considered meditation aids. The yogi progresses from lower chakras to the highest chakra blossoming in the crown of the head, internalizing the journey of spiritual ascent.[60] In both the Hindu kundalini and Buddhist candali traditions, the chakras are pierced by a dormant energy residing near or in the lowest chakra. In Hindu texts she is known as Kundalini, while in Buddhist texts she is called Candali or Tummo (Tibetan: gtum mo, "fierce one").
Below are the common new age description of these six chakras and the seventh point known as sahasrara. This new age version incorporates the Newtonian colours of the rainbow not found in any ancient Indian system.

One schema of seven chakras is as follows, from bottom to top: 1. Muladhara 2. Svadhisthana 3. Manipura 4. Anahata 5. Vishuddhi 6. Ajna 7. Sahasrara. The colours are modern

New age descriptions of the chakras
Sahasrara
Sahasrara (Sanskrit: सहस्रार, IAST: Sahasrāra, English: "thousand-petalled", with many alternative names and spellings)
 "Thousand-petaled" Crown 1000 White or Violet -
Mantra & element: Time & Space , Divine Consciousness

Highest spiritual centre, pure consciousness, containing neither object nor subject. When the feminine Kundalini Shakti rises to this point, it unites with the masculine Shiva, giving self-realization and samadhi. In esoteric Buddhism, it is called Mahasukha, the petal lotus of "Great Bliss" corresponding to the fourth state of Four Noble Truths.

Hatha yoga
Image of a Sahasrara Chakra with 1000 petals, in 20 layers of 50 petals each.
The Sahasrara is described in a few medieval hatha yoga texts including the Śivasaṃhitā and the Tirumantiram, but not within the Paścimāmnāya and Nath traditions; the Kubjikamatatantra describes only the six lower chakras. The scriptures vary in the position of the Sahasrara; the Shiva Samhita states that it is beyond the body, whereas others place it at the fontanelle or brahmarandhra on the top of the head where the soul leaves the body at death.
The Sahasrara is described as a lotus flower with 1,000 petals of different colors. These are arranged in 20 layers, each with approximately 50 petals. The pericarp is golden and within it a circular moon region is inscribed with a luminous triangle, which can be either upward- or downward-pointing.
Function
Often referred to as a thousand-petaled lotus, it is said to be the most subtle chakra in the system, relating to pure consciousness, and it is from this chakra that all the other chakras emanate. When a yogi is able to raise their kundalini (energy of consciousness) up to this point, the state of Nirvikalpa Samādhi is experienced.
Practices
Exercises for the Sahasrāra Chakra are:
Shirshasana
Vrikshasana
Khatu Pranam
Chanting Om
Kriya Yoga
There are also special Meditations on the Sahasrāra Chakra.

Ajna or Agya आज्ञा
Position: Between eyebrows
No. of petals: 2
Modern colour: Indigo
Mantra & element: Om (Light Or Darkness)
Guru chakra, or in New Age usage third-eye chakra, the subtle center of energy, where the tantra guru touches the seeker during the initiation ritual. He or she commands the awakened kundalini to pass through this centre.
Corresponds to the upper dantien in the Qigong system.

Vishuddha

Position: Throw
No. of petals:: 16
Modern colour: Blue
Mantra & element: Ham (space)
16 petals covered with the sixteen Sanskrit vowels. Associated with the element of space (akasha). The residing deity is Panchavaktra shiva, with 5 heads and 4 arms, and the Shakti is Shakini.
In esoteric Buddhism, it is called Sambhoga and is generally considered to be the petal lotus of "Enjoyment" corresponding to the third state of Four Noble Truths.

Anahata

Position: Heart
No. of petals:: 12
Modern colour: Green
Mantra & element: Yam (Air)
Within it is a yantra of two intersecting triangles, forming a hexagram, symbolising a union of the male and female, and the element of air (vayu). The presiding deity is Ishana Rudra Shiva, and the Shakti is Kakini.
In esoteric Buddhism, this Chakra is called Dharma and is generally considered to be the petal lotus of "Essential nature" and corresponding to the second state of Four Noble Truths.
Corresponds to the middle dantien in the Qigong system.

Manipura

Charkra: Manipura
Position: Navel
No. of petals:: 10
Modern colour: Yellow
Mantra & element: Ram (Fire)
For the Nath yogi meditation system, this is described as the Madhyama-Shakti or the intermediate stage of self-discovery. This chakra is represented as a downward pointing triangle representing fire in the middle of a lotus with ten petals. The presiding deity is Braddha Rudra, with Lakini as the Shakti.

Svadhishthana


Charkra: Svadhishthana
Position: Root of sexual organs
No. of petals:: 6
Modern colour: Orange
Mantra & element: Vam (Water)
Svadhisthana is represented with a lotus within which is a crescent moon symbolizing the water element. The presiding deity is Brahma, with the Shakti being Rakini (or Chakini).
In esoteric Buddhism, it is called Nirmana, the petal lotus of "Creation" and corresponding to the first state of Four Noble Truths.Corresponds to the lower dantien in the Qigong system.

Muladhara

Charkra: Muladhara
Position: Base of spine
No. of petals:: 4
Modern colour: Red
Mantra & element: Lam (Earth)
Dormant Kundalini is often said to be resting here, wrapped three and a half, or seven or twelve times. Sometimes she is wrapped around the black Svayambhu linga, the lowest of three obstructions to her full rising (also known as knots or granthis). It is symbolised as a four-petaled lotus with a yellow square at its center representing the element of earth.
The seed syllable is Lam for the earth element. All sounds, words and mantras in their dormant form rest in the muladhara chakra, where Ganesha resides, while the Shakti is Dakini. The associated animal is the elephant


      -----------------------------------------------------*****---------------------------------------------------------

Luân xa, tiếng Phạn: चक्र, chuyển tự: cakra, nghĩa đen là 'bánh xe, vòng tròn'; tiếng Pali: cakka) là nhiều điểm hội tụ khác nhau được sử dụng trong nhiều phương pháp thiền cổ xưa, được gọi chung là Tantra, một phần của truyền thống bên trong của Ấn Độ giáo và Phật giáo.

Khái niệm về luân xa xuất hiện trong Ấn Độ giáo. Niềm tin khác nhau giữa các tôn giáo Ấn Độ, với nhiều văn bản Phật giáo liên tục đề cập đến năm luân xa, trong khi các nguồn Ấn Độ giáo đề cập đến sáu hoặc bảy luân xa. Các văn bản tiếng Phạn ban đầu nói về chúng vừa là hình ảnh thiền kết hợp hoa và thần chú vừa là các thực thể vật lý trong cơ thể. Trong Kundalini yoga, các kỹ thuật của các bài tập thở, hình ảnh hóa, mudra, bandha, kriyas và thần chú tập trung vào việc điều khiển dòng năng lượng tinh tế qua các luân xa.

"Hệ thống luân xa phương Tây" hiện đại xuất phát từ nhiều nguồn, bắt đầu từ những năm 1880 với H. P. Blavatsky và những nhà Thông Thiên Học khác, tiếp theo là cuốn sách The Serpent Power năm 1919 của Sir John Woodroffe và cuốn sách The Chakras năm 1927 của Charles W. Leadbeater. Các thuộc tính tâm lý và các thuộc tính khác, màu sắc cầu vồng và nhiều sự tương ứng được cho là có với các hệ thống khác như thuật giả kim, chiêm tinh học, đá quý, liệu pháp vi lượng đồng căn, Kabbalah và Tarot được thêm vào sau đó.

Về mặt từ vựng, chakra là phản xạ Ấn Độ của dạng tổ tiên Ấn-Âu *kʷékʷlos, do đó cũng có "bánh xe" và "chu kỳ" (tiếng Hy Lạp cổ: κύκλος, chuyển tự: kýklos). Nó có cả nghĩa đen và nghĩa bóng, như trong "bánh xe thời gian" hoặc "bánh xe pháp", chẳng hạn như trong câu thánh ca Rigveda 1.164.11 phổ biến trong các văn bản Vệ Đà sớm nhất.

Trong Phật giáo, đặc biệt là trong Theravada, danh từ Pali cakka có nghĩa là "bánh xe". Trong các kinh Phật được gọi là Tripitaka, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có nhiều cách gọi khác nhau là "dhammacakka", hay "bánh xe pháp", ám chỉ rằng pháp này, có tính phổ quát trong sự ủng hộ của nó, nên mang những dấu hiệu đặc trưng của bất kỳ sự phân chia thời gian nào. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói về sự giải thoát khỏi các chu kỳ trong và của chính chúng, cho dù là nghiệp chướng, luân hồi, giải thoát, nhận thức hay cảm xúc.

Trong đạo Jain, thuật ngữ chakra cũng có nghĩa là "bánh xe" và xuất hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau trong văn học cổ đại. Giống như các tôn giáo Ấn Độ khác, chakra trong các lý thuyết bí truyền trong đạo Jain như của Buddhisagarsuri có nghĩa là trung tâm năng lượng yoga.

Từ chakra dường như xuất hiện lần đầu tiên trong kinh Vệ Đà, mặc dù không theo nghĩa là các trung tâm năng lượng tâm linh, mà là chakravartin hoặc vị vua "quay bánh xe đế chế của mình" theo mọi hướng từ một trung tâm, tượng trưng cho ảnh hưởng và quyền lực của ông. Học giả David Gordon White cho biết biểu tượng phổ biến trong việc tượng trưng cho các luân xa có nguồn gốc từ năm biểu tượng của yajna, bàn thờ lửa Vệ Đà: "hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình bán nguyệt và hình bánh bao".

Bài thánh ca 10.136 của Rigveda đề cập đến một yogi từ bỏ với một người phụ nữ tên là kunannamā. Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là "người uốn cong, cuộn tròn", tượng trưng cho cả một nữ thần nhỏ và một trong nhiều câu đố và câu đố bí truyền được nhúng trong Rigveda. Một số học giả, chẳng hạn như D.G. White và Georg Feuerstein, đã gợi ý rằng cô ấy có thể là một tham chiếu đến kundalini shakti và là tiền thân của thuật ngữ liên quan đến luân xa trong các truyền thống tantra sau này.

Các kênh hơi thở (nāḍi) được đề cập trong Upanishads cổ điển của Ấn Độ giáo từ thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên, nhưng không phải là các lý thuyết về luân xa năng lượng tâm linh. Ba Nadi cổ điển là Ida, Pingala và Sushumna trong đó kênh trung tâm Sushumna được cho là quan trọng nhất theo Kṣurikā-Upaniṣhad. David Gordon White cho biết, sau này đã được giới thiệu vào khoảng thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên trong các văn bản Phật giáo như các hệ thống phân cấp của các trung tâm năng lượng bên trong, chẳng hạn như trong Hevajra Tantra và Caryāgiti. Chúng được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như cakka, padma (hoa sen) hoặc pitha (gò). Các văn bản Phật giáo thời trung cổ này chỉ đề cập đến bốn luân xa, trong khi các văn bản Ấn Độ giáo sau này như Kubjikāmata và Kaulajñānanirnaya đã mở rộng danh sách này thành nhiều luân xa hơn nữa.

Ngược lại với White, theo Feuerstein, Upanishads đầu tiên của Ấn Độ giáo có đề cập đến luân xa theo nghĩa "xoáy tâm linh", cùng với các thuật ngữ khác được tìm thấy trong tantra: prana hoặc vayu (năng lượng sống) cùng với nadi (động mạch mang năng lượng). Theo Gavin Flood, các văn bản cổ không trình bày các lý thuyết yoga theo phong cách luân xa và kundalini mặc dù những từ này xuất hiện trong các tài liệu Vệ Đà sớm nhất trong nhiều bối cảnh. Luân xa theo nghĩa là bốn hoặc nhiều trung tâm năng lượng quan trọng xuất hiện trong các văn bản Ấn Độ giáo và Phật giáo thời trung cổ.

Luân xa là một phần của các ý tưởng và khái niệm bí truyền về sinh lý học và các trung tâm tâm linh xuất hiện trong các truyền thống Ấn Độ. Niềm tin cho rằng cuộc sống con người đồng thời tồn tại trong hai chiều song song, một "cơ thể vật chất" (sthula sarira) và "cơ thể tâm lý, cảm xúc, tâm trí, phi vật chất" khác được gọi là "cơ thể vi tế" (sukshma sarira). Cơ thể vi tế này là năng lượng, trong khi cơ thể vật chất là khối lượng. Tâm lý hoặc mặt phẳng tâm trí tương ứng và tương tác với mặt phẳng cơ thể, và niềm tin cho rằng cơ thể và tâm trí ảnh hưởng lẫn nhau. Cơ thể vi tế bao gồm các nadi (kênh năng lượng) được kết nối bởi các nút năng lượng tâm linh được gọi là luân xa. Niềm tin phát triển thành sự giải thích sâu rộng, với một số gợi ý 88.000 luân xa trên khắp cơ thể vi tế. Số lượng luân xa chính thay đổi tùy theo các truyền thống khác nhau, nhưng chúng thường dao động trong khoảng từ bốn đến bảy. Giáo lý Phật giáo Nyingmapa Vajrayana đề cập đến tám luân xa và có một hệ thống yoga hoàn chỉnh cho mỗi luân xa.

Các luân xa quan trọng được nêu trong các văn bản Ấn Độ giáo và Phật giáo được sắp xếp theo cột dọc theo tủy sống, từ gốc đến đỉnh đầu, được kết nối bằng các kênh dọc. Các truyền thống Mật tông tìm cách làm chủ chúng, đánh thức và tiếp thêm năng lượng cho chúng thông qua các bài tập thở khác nhau hoặc với sự hỗ trợ của một giáo viên. Các luân xa này cũng được biểu tượng hóa thành khả năng sinh lý cụ thể của con người, âm tiết hạt giống (bija), âm thanh, các yếu tố tinh tế (tanmatra), trong một số trường hợp là các vị thần, màu sắc và các họa tiết khác.

Niềm tin vào hệ thống luân xa của Ấn Độ giáo và Phật giáo khác với hệ thống kinh tuyến trong châm cứu của Trung Quốc cổ đại. Không giống như sau này, luân xa liên quan đến cơ thể tinh tế, trong đó nó có một vị trí nhưng không có nút thần kinh xác định hoặc kết nối vật lý chính xác. Các hệ thống Mật tông hình dung nó liên tục hiện diện, có liên quan cao và là phương tiện để truyền năng lượng tâm linh và cảm xúc. Nó hữu ích trong một loại nghi lễ yoga và khám phá thiền định về năng lượng bên trong rạng rỡ (dòng chảy prana) và kết nối giữa tâm trí và cơ thể. Thiền được hỗ trợ bởi biểu tượng học, thần chú, sơ đồ, mô hình (thần và mandala) mở rộng. Người thực hành tiến từng bước từ các mô hình có thể nhận thức được, đến các mô hình ngày càng trừu tượng hơn, nơi thần và mandala bên ngoài bị bỏ rơi, bản ngã bên trong và mandala bên trong được đánh thức.

Những ý tưởng này không chỉ có trong các truyền thống Ấn Độ giáo và Phật giáo. Các khái niệm tương tự và chồng chéo đã xuất hiện trong các nền văn hóa khác ở phương Đông và phương Tây, và chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như thể tinh tế, thể tinh thần, giải phẫu bí truyền, thể thiên văn và thể etheric. Theo Geoffrey Samuel và Jay Johnston, các giáo sư nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng với các nghiên cứu về Yoga và các truyền thống bí truyền:

Những ý tưởng và thực hành liên quan đến cái gọi là 'thể tinh tế' đã tồn tại trong nhiều thế kỷ ở nhiều nơi trên thế giới. (...) Hầu như tất cả các nền văn hóa của con người mà chúng ta biết đều có một số khái niệm về tâm trí, tinh thần hoặc linh hồn khác biệt với cơ thể vật lý, nếu chỉ để giải thích những trải nghiệm như ngủ và mơ. (...) Một tập hợp con quan trọng của các thực hành thể tinh tế, đặc biệt được tìm thấy trong các truyền thống Mật tông Ấn Độ và Tây Tạng, và trong các thực hành tương tự của Trung Quốc, liên quan đến ý tưởng về 'sinh lý học tinh tế' bên trong của cơ thể (hay đúng hơn là phức hợp cơ thể-tâm trí) bao gồm các kênh mà các chất nào đó chảy qua và các điểm giao nhau mà các kênh này gặp nhau. Trong truyền thống Ấn Độ, các kênh được gọi là nadi và các điểm giao nhau là cakra.

— Geoffrey Samuel và Jay Johnston, Tôn giáo và Thể tinh tế ở Châu Á và Phương Tây: Giữa Tâm trí và Cơ thể

Số lượng luân xa

Không có sự thống nhất trong Ấn Độ giáo về số lượng luân xa vì khái niệm luân xa đã được phát triển và diễn giải khác nhau bởi nhiều giáo phái, trường phái tư tưởng và truyền thống tâm linh trong Ấn Độ giáo qua nhiều thế kỷ. Trong khi một số truyền thống tuân theo hệ thống bảy luân xa chính, những truyền thống khác lại công nhận các luân xa bổ sung hoặc số lượng luân xa khác nhau. Việc thiếu một tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi đã dẫn đến sự khác biệt và đa dạng trong cách diễn giải và hiểu biết về luân xa trong Ấn Độ giáo. Có một số giáo phái trong Ấn Độ giáo có cách diễn giải và hiểu biết riêng về khái niệm luân xa. Sau đây là một số giáo phái chính có quan điểm khác nhau về luân xa:

Bhakti Yoga: Trong Bhakti Yoga, số lượng luân xa thay đổi, nhưng trọng tâm thường là luân xa tim như là trung tâm của sự sùng kính tâm linh.

Ayurveda (3): Trong Ayurveda, có ba luân xa chính, được gọi là "Marmas", được coi là điểm hội tụ của năng lượng vật lý, tinh thần và tâm linh trong cơ thể.

Shaivism (5): Trong Shaivism, có năm luân xa, tập trung vào luân xa tim và luân xa đỉnh đầu.

Tantra (6): Trong Tantra, theo truyền thống, người ta cho rằng có bốn đến sáu luân xa, trong đó luân xa đỉnh đầu được coi là cao nhất.

Kashmir Shaivism (6–7): Trong Kashmir Shaivism, có sáu hoặc bảy luân xa, tập trung vào sự thức tỉnh của năng lượng thiêng liêng bên trong.

Hatha Yoga (7): Trong Hatha Yoga, có bảy luân xa chính, nhưng một số truyền thống Hatha Yoga cũng công nhận các luân xa bổ sung.

Kundalini Yoga (7): Trong Kundalini Yoga, có bảy luân xa chính, nhưng các luân xa phụ bổ sung cũng được công nhận.

Truyền thống Nath (8): Trong truyền thống Nath, có tám luân xa chính, tập trung vào sự thức tỉnh của năng lượng thiêng liêng thông qua các trung tâm này.

Vaishnavism (12): Trong Vaishnavism, có mười hai luân xa, tập trung vào sự thăng hoa về mặt tinh thần thông qua các trung tâm này.

Các truyền thống phương Đông cổ điển, đặc biệt là những truyền thống phát triển ở Ấn Độ trong thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, chủ yếu mô tả nadi và luân xa trong bối cảnh "cơ thể vi tế". Đối với họ, chúng ở cùng một chiều với thực tại tâm lý-tâm trí vô hình nhưng có thật. Trong nadi và luân xa, prana (hơi thở, năng lượng sống) chảy. Khái niệm "năng lượng sống" khác nhau giữa các văn bản, từ hít vào-thở ra đơn giản đến sự liên kết phức tạp hơn nhiều với hơi thở-tâm trí-cảm xúc-năng lượng tình dục. Prana hay bản chất này là thứ biến mất khi một người chết, để lại một cơ thể thô. Một số khái niệm này nêu rằng cơ thể vi tế này là thứ rút lui vào bên trong, khi một người ngủ. Tất cả những thứ này được cho là có thể tiếp cận, có thể thức tỉnh và quan trọng đối với sức khỏe cơ thể-tâm trí của một cá nhân, và cách một người liên hệ với những người khác trong cuộc sống của mình. Mạng lưới cơ thể vi tế này của nadi và luân xa, theo một số lý thuyết Ấn Độ sau này và nhiều suy đoán của Thời đại mới, có liên quan chặt chẽ với cảm xúc

Mật tông Hindu

Bài viết chính: Năng lượng Kundalini

Các truyền thống bí truyền trong Ấn Độ giáo đề cập đến nhiều con số và cách sắp xếp luân xa, trong đó hệ thống cổ điển gồm sáu cộng một, hệ thống cuối cùng là Sahasrara, là phổ biến nhất. Hệ thống bảy phần này, là trung tâm của các văn bản cốt lõi của hatha yoga, là một trong nhiều hệ thống được tìm thấy trong văn học mật tông Hindu. Mật tông Hindu liên kết sáu Yoginis với sáu vị trí trong cơ thể vi tế, tương ứng với sáu luân xa của hệ thống sáu cộng một.

Liên kết sáu Yoginis với các vị trí luân xa trong Rudrayamala Tantra

Vị trí trong cơ thể vi tế Yogini

1. Muladhara Dakini

2. Svadhisthana Rakini

3. Manipura Lakini

4. Anahata Kakini

5. Vishuddhi Shakini

6. Ajna Hakini

Phương pháp luân xa được phát triển rộng rãi trong truyền thống nữ thần của Ấn Độ giáo gọi là Shaktism. Đây là một khái niệm quan trọng cùng với yantra, mandala và kundalini yoga trong quá trình thực hành. Chakra trong tantrism Shakta có nghĩa là vòng tròn, một "trung tâm năng lượng" bên trong, cũng như là một thuật ngữ cho các nghi lễ nhóm như trong chakra-puja (thờ cúng trong vòng tròn) có thể hoặc không liên quan đến thực hành tantra. Hệ thống dựa trên cakra là một phần của các bài tập thiền định được gọi là yoga.

Mật tông Phật giáo

Bài viết chính: Kim Cương thừa

Các truyền thống bí truyền trong Phật giáo thường dạy bốn luân xa. Trong một số nguồn Phật giáo ban đầu, các luân xa này được xác định là: manipura (rốn), anahata (tim), vishuddha (họng) và ushnisha kamala (đỉnh đầu). Trong một sự phát triển trong dòng Nyingma của Mantrayana của Phật giáo Tây Tạng, một khái niệm phổ biến về luân xa theo thứ tự tinh tế và tăng dần như sau: Nirmanakaya (bản ngã thô), Sambhogakaya (bản ngã tinh tế), Dharmakaya (bản ngã nhân quả) và Mahasukhakaya (bản ngã phi nhị nguyên), mỗi luân xa tương ứng một cách mơ hồ và gián tiếp với các phạm trù trong vũ trụ Shaiva Mantramarga, tức là Svadhisthana, Anahata, Visuddha, Sahasrara, v.v. Tuy nhiên, tùy thuộc vào truyền thống thiền định, chúng thay đổi từ ba đến sáu. Các luân xa được coi là thành phần tâm lý-tâm linh, mỗi luân xa đều có sự tương ứng có ý nghĩa với các quá trình vũ trụ và đối tác Phật giáo được giả định của chúng.

Một hệ thống gồm năm luân xa là phổ biến trong lớp Mật điển Mẹ và năm luân xa này cùng với sự tương ứng của chúng là:

Luân xa cơ bản (Nguyên tố: Đất, Phật: Amoghasiddhi, Thần chú Bija: LAM)

Luân xa bụng (Nguyên tố: Nước, Phật: Ratnasambhava, Thần chú Bija: VAM)

Luân xa tim (Nguyên tố: Lửa, Phật: Akshobhya, thần chú Bija: RAM)

Luân xa cổ họng (Nguyên tố: Gió, Phật: A Di Đà, thần chú Bija: YAM)

Luân xa vương miện (Nguyên tố: Không gian, Phật: Vairochana, thần chú Bija: KHAM)

Luân xa rõ ràng đóng một vai trò quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng và được coi là yếu tố quan trọng then chốt của tư duy Mật tông. Và, việc sử dụng chính xác các luân xa trên toàn bộ các sadhana tantra không tạo ra nhiều chỗ để nghi ngờ hiệu quả chính của Phật giáo Tây Tạng như một tác nhân tôn giáo riêng biệt, đó là sự mặc khải chính xác rằng, nếu không có Tantra thì sẽ không có Luân xa, nhưng quan trọng hơn, nếu không có Luân xa, thì sẽ không có Phật giáo Tây Tạng. Các thực hành cao nhất trong Phật giáo Tây Tạng chỉ ra khả năng đưa các prana tinh tế của một thực thể vào sự liên kết với kênh trung tâm, và do đó thâm nhập vào sự nhận ra sự thống nhất tối thượng, cụ thể là "sự hài hòa hữu cơ" của ý thức cá nhân về Trí tuệ với sự đồng đạt được Tình yêu bao trùm tất cả, do đó tổng hợp một nhận thức trực tiếp về Phật quả tuyệt đối.

Theo Samuel, các hệ thống bí truyền của Phật giáo đã phát triển cakra và nadi như "trung tâm của quá trình cứu rỗi của họ". Các lý thuyết đôi khi, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, được kết hợp với một hệ thống các bài tập thể dục độc đáo, được gọi là yantra yoga hoặc 'phrul 'khor. Theo truyền thống Bon, luân xa cho phép hình thái của trải nghiệm, với mỗi luân xa chính trong năm luân xa, được liên kết về mặt tâm lý với năm phẩm chất trải nghiệm của ý thức chưa giác ngộ, sáu cõi đau khổ.

Thực hành tsa lung được thể hiện trong dòng dõi Trul khor, giải tỏa các kênh chính, do đó kích hoạt và lưu thông prana giải thoát. Yoga đánh thức tâm trí sâu sắc, do đó mang lại các thuộc tính tích cực, hình thái vốn có và phẩm chất đức hạnh. Trong phép loại suy máy tính, màn hình ý thức của một người được xếp thành hàng và một tệp mang thuộc tính được gọi lên chứa các phẩm chất hỗ trợ tích cực hoặc tiêu cực cần thiết. Thực hành Mật tông được cho là cuối cùng sẽ biến mọi trải nghiệm thành ánh sáng trong. Bài tập này nhằm mục đích giải thoát khỏi mọi điều kiện tiêu cực và sự cứu rỗi nhận thức sâu sắc của sự tự do khỏi sự kiểm soát và sự thống nhất của nhận thức và nhận thức.

Một hình minh họa của Tây Tạng về cơ thể vi tế cho thấy kênh trung tâm, hai kênh phụ và năm luân xa

Một bức thangka Tây Tạng cho thấy sáu luân xa

Hệ thống bảy luân xa

Hệ thống luân xa được nghiên cứu nhiều nhất bao gồm sáu luân xa chính cùng với một trung tâm thứ bảy thường không được coi là luân xa. Các điểm này được sắp xếp theo chiều dọc dọc theo kênh trục (sushumna nadi trong các văn bản Ấn Độ giáo, Avadhuti trong một số văn bản Phật giáo). Theo Gavin Flood, hệ thống sáu luân xa này cộng với "trung tâm" sahasrara ở đỉnh đầu lần đầu tiên xuất hiện trong Kubjikāmata-tantra, một tác phẩm Kaula thế kỷ 11.

Chính hệ thống luân xa này đã được Sir John Woodroffe (còn gọi là Arthur Avalon) dịch vào đầu thế kỷ 20 trong cuốn sách The Serpent Power của ông. Avalon đã dịch văn bản Ấn Độ giáo Ṣaṭ-Cakra-Nirūpaṇa có nghĩa là sự kiểm tra (nirūpaṇa) của sáu (ṣaṭ) luân xa (cakra).

Theo truyền thống, các luân xa được coi là phương tiện hỗ trợ thiền định. Yogi tiến triển từ luân xa thấp hơn đến luân xa cao nhất nở rộ ở đỉnh đầu, nội tâm hóa hành trình thăng hoa về mặt tâm linh.[60] Trong cả truyền thống kundalini của Ấn Độ giáo và candali của Phật giáo, các luân xa bị xuyên thủng bởi một năng lượng tiềm ẩn nằm gần hoặc ở luân xa thấp nhất. Trong các văn bản Ấn Độ giáo, cô được gọi là Kundalini, trong khi trong các văn bản Phật giáo, cô được gọi là Candali hoặc Tummo (tiếng Tây Tạng: gtum mo, "kẻ hung dữ").

Dưới đây là mô tả phổ biến của thời đại mới về sáu luân xa này và điểm thứ bảy được gọi là sahasrara. Phiên bản thời đại mới này kết hợp các màu sắc của Newton trong cầu vồng không có trong bất kỳ hệ thống Ấn Độ cổ đại nào.

Một lược đồ gồm bảy luân xa như sau, từ dưới lên trên: 1. Muladhara 2. Svadhisthana 3. Manipura 4. Anahata 5. Vishuddhi 6. Ajna 7. Sahasrara. Màu sắc thì hiện đại

Mô tả về luân xa thời đại mới

Sahasrara

Sahasrara (tiếng Phạn: सहस्रार, IAST: Sahasrāra, tiếng Anh: "ngàn cánh", với nhiều tên gọi và cách viết khác nhau) hoặc luân xa vương miện được coi là luân xa chính thứ bảy trong các truyền thống yoga Sanatan. Luân xa được biểu thị bằng màu tím.

"Ngàn cánh" Vương miện 1000 Trắng hoặc Tím -

(Thời gian & Không gian, Ý thức thiêng liêng) Trung tâm tâm linh cao nhất, ý thức thuần túy, không chứa đựng cả chủ thể lẫn đối tượng. Khi Kundalini Shakti nữ tính vươn lên đến điểm này, nó hợp nhất với Shiva nam tính, mang lại sự tự giác ngộ và samadhi. Trong Phật giáo bí truyền, nó được gọi là Mahasukha, hoa sen cánh hoa của "Đại phúc" tương ứng với trạng thái thứ tư của Tứ diệu đế.

Hình ảnh Luân xa Sahasrara với 1000 cánh hoa, gồm 20 lớp, mỗi lớp 50 cánh hoa.
Hatha yoga
Sahasrara được mô tả trong một số văn bản hatha yoga thời trung cổ bao gồm Śivasaṃhitā và Tirumantiram, nhưng không có trong các truyền thống Paścimāmnāya và Nath; Kubjikamatatantra chỉ mô tả sáu luân xa thấp hơn. Các kinh sách khác nhau về vị trí của Sahasrara; Shiva Samhita nói rằng nó nằm ngoài cơ thể, trong khi những người khác đặt nó ở thóp hoặc brahmarandhra trên đỉnh đầu, nơi linh hồn rời khỏi cơ thể khi chết.
Sahasrara được mô tả là một bông hoa sen với 1.000 cánh hoa có nhiều màu sắc khác nhau. Chúng được sắp xếp thành 20 lớp, mỗi lớp có khoảng 50 cánh hoa. Vỏ hoa có màu vàng và bên trong nó là một vùng mặt trăng tròn được khắc một hình tam giác phát sáng, có thể hướng lên trên hoặc hướng xuống dưới.
Chức năng
Thường được gọi là hoa sen ngàn cánh, nó được cho là luân xa tinh tế nhất trong hệ thống, liên quan đến ý thức thuần túy, và chính từ luân xa này mà tất cả các luân xa khác phát ra. Khi một yogi có thể nâng kundalini (năng lượng ý thức) của họ lên đến mức này, trạng thái Nirvikalpa Samādhi sẽ được trải nghiệm.
Thực hành
Các bài tập cho Luân xa Sahasrāra là:
Shirshasana
Vrikshasana
Khatu Pranam
Tụng Om
Kriya Yoga
Ngoài ra còn có Thiền định đặc biệt về Luân xa Sahasrāra.

Ajna or Agya आज्ञा
Vị trí: Ở giữa 2 lông mày 
Số cánh hoa: 2
Màu hiện đại: Chàm
Mantra & yếu tố: Om (Ánh sáng hay Bóng tối)
Luân xa Guru, hay trong cách sử dụng của Thời đại mới là luân xa con mắt thứ ba, trung tâm năng lượng tinh tế, nơi mà vị thầy tantra chạm vào người tìm kiếm trong nghi lễ nhập môn. Người đó ra lệnh cho kundalini đã thức tỉnh đi qua trung tâm này.
Tương ứng với dantien trên trong hệ thống Khí công

Vishuddha

Vị trí: Cổ họng
Số cánh hoa: 16
Màu hiện đại: Màu xanh
Mantra & yếu tố: Ham (Không gian)
16 cánh hoa được phủ bằng mười sáu nguyên âm tiếng Phạn. Liên quan đến nguyên tố không gian (akasha). Vị thần cư trú là Panchavaktra shiva, có 5 đầu và 4 tay, và Shakti là Shakini.
Trong Phật giáo bí truyền, nó được gọi là Sambhoga và thường được coi là hoa sen cánh hoa của "Sự tận hưởng" tương ứng với trạng thái thứ ba của Tứ diệu đế.

Anahata

Vị trí: Trái tim
Số cánh hoa:: 12
Màu sắc hiện đại: Xanh lá cây
Mantra & nguyên tố: Yam (Không khí)
Bên trong là một yantra gồm hai hình tam giác giao nhau, tạo thành một hình lục giác, tượng trưng cho sự kết hợp của nam và nữ, và nguyên tố không khí (vayu). Vị thần chủ trì là Ishana Rudra Shiva, và Shakti là Kakini.
Trong Phật giáo bí truyền, Luân xa này được gọi là Dharma và thường được coi là hoa sen cánh hoa của "Bản chất cốt lõi" và tương ứng với trạng thái thứ hai của Tứ diệu đế.
Tương ứng với đan điền ở giữa trong hệ thống Khí công.

Manipura

Luân xa: Manipura
Vị trí: Rốn
Số cánh hoa:: 10
Màu sắc hiện đại: Vàng
Mantra & nguyên tố: Ram (Lửa)
Đối với hệ thống thiền Nath yogi, điều này được mô tả là Madhyama-Shakti hoặc giai đoạn trung gian của quá trình tự khám phá. Luân xa này được biểu thị bằng một hình tam giác hướng xuống tượng trưng cho lửa ở giữa một bông sen có mười cánh hoa. Vị thần chủ trì là Braddha Rudra, với Lakini là Shakti.

Svadhishthana


Charkra: Svadhishthana
Vị trí: Gốc của cơ quan sinh dục
Số cánh hoa:: 6
Màu sắc hiện đại: Cam
Mantra & yếu tố: Vam (Nước)
Svadhisthana được biểu thị bằng một bông sen bên trong có hình trăng lưỡi liềm tượng trưng cho yếu tố nước. Vị thần chủ trì là Brahma, với Shakti là Rakini (hoặc Chakini).
Trong Phật giáo bí truyền, nó được gọi là Nirmana, hoa sen cánh hoa của "Sáng tạo" và tương ứng với trạng thái đầu tiên của Tứ diệu đế. Tương ứng với đan điền thấp hơn trong hệ thống Khí công.

Muladhara

Luân xa: Muladhara
Vị trí: Gốc cột sống
Số cánh hoa:: 4
Màu sắc hiện đại: Đỏ
Mantra & nguyên tố: Lam (Đất)
Kundalini ngủ đông thường được cho là nghỉ ngơi ở đây, được quấn ba vòng rưỡi, hoặc bảy hoặc mười hai vòng. Đôi khi cô ấy được quấn quanh Svayambhu linga màu đen, thấp nhất trong ba chướng ngại vật cản trở sự vươn lên hoàn toàn của cô ấy (còn được gọi là nút thắt hoặc Granthi). Nó được tượng trưng bằng một bông sen bốn cánh với một hình vuông màu vàng ở giữa tượng trưng cho nguyên tố đất.
Âm tiết hạt giống là Lam cho nguyên tố đất. Tất cả âm thanh, từ ngữ và thần chú ở dạng ngủ đông đều nằm trong luân xa muladhara, nơi Ganesha ngự trị, trong khi Shakti là Dakini. Động vật liên quan là voi



  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS