Container Icon

Mối quan hệ giữa núi lửa phun trào, băng giá với vết đen Mặt trời

 


Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng hiện tượng thời tiết bất thường như băng giá và những tai họa như núi lửa phun trào không liên quan gì đến những sự việc xảy ra trong vũ trụ, nhưng nhiều người cho rằng có thể nguyên nhân là do vết đen Mặt trời.

Vùng Bắc Mỹ đã từng đón nhận những đợt giá lạnh kỷ lục vào đầu năm ngoái. Đài thiên văn Washington ở New Hampshire ghi nhận nhiệt độ của đợt gió lạnh lên tới -73,3 ° C (- 100 ° F) trong tuần đầu tiên của tháng một. Điều kiện khắc nghiệt này sẽ khiến lớp da người của chúng ta bị đóng băng chỉ sau 30 giây và gây ra tổn thương vĩnh viễn chỉ sau vài phút tiếp xúc. Nhiệt độ đủ lạnh để làm đóng băng những con cự đà sống dưới những tán cây ở phía nam Florida.

Khi hàng triệu người cố gắng hết sức để giữ ấm cơ thể, thì Mặt trời đang hiển thị có ít vết đen hơn và phát ra ít năng lượng hơn khi nó đang hướng tới mức tối thiểu của chu kỳ Mặt trời. Chu kỳ tối thiểu/tối đa của Mặt trời trung bình là 11 năm và chu kỳ tối thiểu hiện tại được dự đoán sẽ đạt điểm thấp nhất vào năm nay.

Các vết đen đủ lớn để có thể nhìn thấy bằng mắt thường đã được đề cập trong lịch sử, hồ sơ đầu tiên về vết đen Mặt trời là bản vẽ của John vùng Worcester, Anh quốc vào năm 1128.

Bản vẽ vết đen Mặt trời năm 1128 của John vùng Worcester, Anh quốc. (Ảnh: Wikipedia)

Vào đầu năm 1600, việc sử dụng kính viễn vọng kết hợp với các công nghệ khác như camera phòng tối, cho phép các nhà thiên văn học như Galileo và Johannes Kepler thực hiện các quan sát chi tiết về bề mặt Mặt trời. Những người quan sát Mặt trời đầu tiên này đã rất ngạc nhiên khi chứng kiến những đốm đen di chuyển trên bề mặt Mặt trời, họ bắt đầu theo dõi và ghi lại quá trình hoạt động của chúng, hồ sơ về thời gian Mặt trời ngưng trệ hoạt động (Tiểu băng hà) đã được ghi chép khá chi tiết.

Tiểu băng hà đã bắt đầu vào năm 1645 và kết thúc vào năm 1715. Khoảng thời gian này được đặc trưng bởi lượng năng lượng thấp bất thường phát ra từ Mặt trời. Các nhà thiên văn học lưu ý rằng số lượng vết đen đã giảm từ 40.000-50.000 xuống dưới 50.

Sông Thames năm 1894 bị đóng băng hoàn toàn.

Một trong những vụ phun trào núi lửa lớn nhất trong 600 năm qua đã xảy ra vào thời kỳ Tiểu băng hà. Đây là vụ phun trào núi lửa ở quần đảo Long Island thuộc Papua New Guinea. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Úc cho biết trong tháng 11 năm 2017 : “Chúng tôi ước tính sự phun trào núi lửa này đã xảy ra vào khoảng giữa năm 1651 và 1671 sau Công nguyên với độ chính xác là 95,4%”. Sự kiện này đã giải phóng hơn 4km khối (2,5 dặm khối) tro núi lửa vào bầu khí quyển, lượng tro này kết hợp với các khí núi lửa như lưu huỳnh, phản xạ trở lại khá nhiều cường độ ánh sáng Mặt trời làm cho Trái đất càng trở nên lạnh hơn do chỉ tiếp nhận được mức năng lượng Mặt trời tối thiểu.

Tro núi lửa phản xạ và ngăn cản năng lượng mặt trời đến Trái đất. (Ảnh: NASA)

Nhưng làm thế nào những gì xảy ra trên bề mặt Mặt trời cách chúng ta 148 triệu km (92 triệu dặm) lại có thể gây ra phun trào núi lửa trên Trái đất?

Một bài báo được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Địa vật lý đã cho biết kết quả nghiên cứu về mối liên hệ giữa cực tiểu Mặt trời và sự tăng trưởng hoạt động của các núi lửa trên Trái đất.

Các nhà nghiên cứu tin rằng các tai lửa Mặt trời là có liên quan đến hoạt động của các núi lửa trên Trái đất. Bão Mặt trời đập vào bầu khí quyển Trái đất với lực mạnh như vậy, chúng phá vỡ các mô hình lưu thông gió bình thường. Sự xáo trộn này trong đại dương khí quyển làm thay đổi vòng quay Trái đất, từ đó gây ra một loạt các trận động đất nhỏ, do đó các ứng suất dồn nén được giải phóng qua bề mặt mặt đất mà hạn chế được các thảm khốc lớn.

Các khu vực dễ bị động đất khi gặp phải các đợt áp suất thấp nghiêm trọng cũng trải qua một hiện tượng tương tự, khi một cơn bão cuộn vào và áp suất khí quyển giảm xuống, nó cho phép bề mặt Trái đất khu vực này giãn nở ra một chút, giải phóng năng lượng tàng trữ trong lòng đất tạo nên vô số chấn động nhỏ mà không gây phá hủy lớn.

Vết đen Mặt trời ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết và núi lửa phun trào trên Trái đất. (Ảnh: NASA)

Ngày 20 tháng 3 năm 2017 các nhà khoa học không nhìn thấy các vết đen Mặt trời hiển thị trên màn hình của các đài quan sát Mặt trời. Chưa đầy 5 tháng sau, hai ngọn núi lửa ở Indonesia bắt đầu hoạt động. Núi Sinabung trên đảo Java bắt đầu phun tro vào ngày 2 tháng 8. Núi Agung trên đảo Bali bắt đầu ầm ầm phun trào vào ngày 10 tháng 8 và đến tháng 9, các quan chức đã ra lệnh sơ tán hơn 122.000 người sống gần núi lửa. 844 trận động đất đã được ghi nhận vào ngày 25 tháng 9. Mãi đến cuối tháng 11 núi lửa bắt đầu phun tro cao 4km (2,5 dặm) vào khí quyển, khiến các sân bay lân cận buộc phải tạm dừng các chuyến bay.

Vào ngày 5 tháng 1 năm 2018, núi lửa trên đảo Kadovar, gần Papua New Guinea, bắt đầu phun trào mà không có cảnh báo. Đây là lần đầu tiên ghi nhận được ngọn núi lửa này phun trào, buộc người dân địa phương phải sơ tán để đảm bảo an toàn.

Nhiệt độ băng giá của Bắc cực trên hầu hết Bắc Mỹ có thể ít nhất một phần là bị ảnh hưởng do thời tiết Mặt trời và núi lửa phun trào? Câu trả lời có lẽ đang tiếp tục chờ các nhà khoa học nghiên cứu sâu hơn nữa.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bộ nhớ nằm bên ngoài não bộ?

 


Sau nhiều thập kỷ điều tra, các nhà khoa học vẫn không thể giải thích được tại sao không có phần não nào có vẻ chịu trách nhiệm lưu trữ ký ức.

Hầu hết mọi người cho rằng ký ức phải tồn tại ở đâu đó trong đầu chúng ta. Mặc dù đã cố gắng hết sức, các nhà khoa học vẫn không thể xác định vùng não nào thực sự lưu trữ những gì chúng ta gặp phải. Có khi nào những ký ức thực sự lại nằm ở trong một không gian bên ngoài cấu trúc vật lý của chúng ta?

Nhà sinh vật học, tác giả và nhà điều tra Tiến sĩ Rupert Sheldrake lưu ý rằng việc nghiên cứu tâm trí đang đi theo hai hướng trái ngược nhau. Phần lớn các nhà khoa học đã tìm kiếm bên trong hộp sọ, nhưng ông nhìn ra bên ngoài.

Theo Sheldrake, tác giả của nhiều cuốn sách và bài báo khoa học, bộ nhớ không nằm trong bất kỳ khu vực nào của não bộ, mà thay vào đó là một trường bao quanh và thấm vào não. Trong khi đó, bộ não hoạt động như một bộ giải mã luồng thông tin được tạo ra bởi sự tương tác của mỗi cá nhân với môi trường bao quanh đó.

Trong bài viết của mình, Tâm trí, Trí nhớ và Cộng hưởng hình thái nguyên mẫu và Tập thể vô thức được công bố trên tạp chí Tâm lý học, Sheldrake so sánh bộ não với một chiếc TV để giải thích cách thức tâm trí tương tác với não bộ:

“Nếu tôi làm hỏng TV để bạn không thu được tín hiệu của một số kênh nhất định, hoặc nếu tôi làm cho TV bị mất tiếng bằng cách phá hỏng bộ phận liên quan đến âm thanh và bạn vẫn có thể xem được hình ảnh nhưng không thể nghe thấy âm thanh, điều này sẽ không chứng minh rằng âm thanh hoặc hình ảnh được lưu trữ bên trong TV.

Đây chỉ đơn thuần cho thấy là tôi đã làm hỏng hệ thống điều chỉnh nên bạn không thể bắt được tín hiệu chính xác nữa. Như vậy, việc mất trí nhớ do tổn thương não không chứng minh rằng bộ nhớ được lưu trữ bên trong não. Trong thực tế, hầu hết mất trí nhớ là tạm thời, ví dụ: mất trí nhớ sau chấn động, thường là tạm thời.

Sự phục hồi bộ nhớ này rất khó giải thích theo các lý thuyết thông thường: nếu ký ức bị phá hủy vì mô nhớ đã bị phá hủy, thì chúng không thể quay lại được; vậy mà chúng vẫn thường hồi phục lại được’’, ông viết.

Sheldrake tiếp tục bác bỏ quan niệm cho rằng ký ức được chứa trong não bộ, ông tin rằng các thí nghiệm quan trọng đã bị giải thích sai. Trong những thí nghiệm này, các bệnh nhân đã nhớ lại một cách sống động những cảnh trong quá khứ khi các khu vực của não được kích thích bằng điện.

Tuy các nhà nghiên cứu kết luận rằng các khu vực bị kích thích phải tương ứng một cách hợp lý với bộ nhớ chứa đựng ký ức, nhưng Sheldrake đưa ra một cái nhìn khác khi ông xem lại sự kiện tương tự trên truyền hình: “... nếu tôi kích thích mạch điều chỉnh của TV và nó chuyển sang một kênh khác, thì điều này sẽ không chứng minh thông tin được lưu trữ bên trong mạch điều chỉnh’’, ông viết.

Theo quan điểm của Sheldrake, có một trường hình thái chi phối mọi thứ, từ hành vi của động vật và con người chúng ta, cũng như tác động đến các hệ thống văn hóa và xã hội, đến các tinh thể và hệ thống hành tinh.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Giả thuyết Gaia: Sự sống, hơi thở của Trái đất

 


Giả thuyết Gaia là gì? Giả thuyết Gaia được đặt theo tên của nữ thần Trái đất theo văn hóa Hy Lạp cổ đại, lý thuyết này cho rằng hành tinh của chúng ta là một thực thể sống, đang thở và có thể tự điều chỉnh.

"Bản tính tự nhiên là Trí tuệ!". Nhiều người đã quen thuộc với cụm từ này, nhưng nó đúng như thế nào?

Nếu chúng ta tìm hiểu xu hướng của các giả thuyết khoa học ngày nay, và xem xét cái nào trong số chúng xóa nhòa ranh giới giữa vật lý hữu hình và thần bí, chúng ta sẽ thấy dẫn đầu trong số đó là giả thuyết Gaia. Trong bốn thập kỷ qua ý tưởng về một "Trái đất là một thực thể sống" tiếp tục đưa ra những bằng chứng cụ thể, đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau ngày càng nhiều hơn.

Ví dụ, không khí mà chúng ta đang hít thở - oxy là một yếu tố không thể thiếu đối với tất cả các sinh vật sống, từ vi khuẩn, động vật đến con người. Khí này chiếm khoảng 21% thể tích của bầu khí quyển trái đất, do một số sinh vật (thực vật) liên tục giải phóng ra (gọi là quá trình quang hợp). Oxy còn là một nguyên tố rất dễ phản ứng, có khả năng kết hợp với các loại khí và khoáng chất khác trong khí quyển và vỏ Trái đất, và cũng có thể biến mất hoàn toàn ở dạng giải phóng.

Mặc dù ở trạng thái không thực sự ổn định, bầu khí quyển của Trái đất vẫn luôn cung cấp dưỡng khí cho sự sống tương đối hài hòa. Đây là một trong những quan sát mà Nhà hóa học James Lovelock mô tả tại một hội thảo khoa học được tổ chức tại Princeton năm 1969. Thách thức khái niệm tự nhiên đơn thuần như một trò chơi may rủi, Lovelock khẳng định rằng Trái đất đang tự vận hành như một sinh vật sống khổng lồ, tổ chức tất cả các dạng vật chất cả hữu cơ và vô cơ với mục tiêu tạo ra một môi trường để duy trì sự sống. Ông đã đạt được nhiều thành tựu trong quá khứ, nhưng đáng chú ý nhất là tạo ra các thiết bị cảm biến tiên tiến cho tàu vũ trụ Viking trong chuyến thám hiểm sao Hỏa. Ý tưởng của Lovelock về một Trái đất sống đã chịu sự chỉ trích gay gắt từ các đồng nghiệp.

Một luận điểm khác mà Lovelock nêu ra là nồng độ mặn của nước biển không thay đổi, vẫn duy trì ở mức tối ưu cho sự tồn tại của sự sống. Khoa học đã phát hiện ra rằng nước trong các dòng sông liên tục kéo muối khoáng vào đại dương, nhưng khi nước biển bốc hơi tạo thành mây, nó không mang theo muối. Nếu chúng ta tuân theo một lối suy nghĩ logic chặt chẽ, chúng ta sẽ kết luận rằng nồng độ muối trong đại dương sẽ tăng theo thời gian. Điều này đã không xảy ra trong thực tế. Nồng độ muối vẫn không thay đổi trong nhiều thế kỷ. Theo những người ủng hộ Giả thuyết Gaia, điều này là do khả năng của một người khổng lồ đang duy trì trạng thái cân bằng ở bên trong, một hiện tượng trùng khớp về mặt khoa học (mặc dù thường được áp dụng cho các sinh vật cấu tạo bởi các tế bào) đó là "cân bằng nội môi".

Một số người tin rằng câu trả lời đằng sau hiện tượng kỳ dị này có thể được tìm thấy trong sự hình thành của các mỏ muối: theo thời gian nước tạo thành vịnh và sau đó bị chặn lại. Nước bên trong bay hơi và chỉ còn lại muối. Phần đất này sau đó được bao phủ bằng bụi và đất sét, cuối cùng được chuyển thành đá rắn, ngăn không cho bất cứ dòng sông nào trong tương lai có thể kéo muối đi. Cơ chế này có thể điều chỉnh một cách ngẫu nhiên nồng độ muối, sao cho các sinh vật biển bao gồm cả cá và những sinh vật khác luôn luôn có thể tồn tại. Theo những người ủng hộ giả thuyết, nó không chỉ đơn thuần là sản phẩm của hoàn cảnh ngẫu nhiên, mà là một quá trình do chính Gaia kiểm soát.

Một ví dụ gần đây hơn ủng hộ sự tồn tại của Gaia đến từ một khám phá được thực hiện bởi các nhà khoa học tại Đại học Hồng Kông, người dẫn đầu là Jiu Liao. Trong quá trình nghiên cứu dọc bờ biển, nhóm điều tra viên này nhận thấy rằng thủy triều dường như làm cho đáy biển "thở", không khí và hơi ẩm được thay thế tuần hoàn qua áp lực nước dưới đáy biển. Hơi thở này có thể được nhận thấy trong những trường hợp rõ ràng nhất khi bọt khí nổi lên từ tầng đáy ven biển. Thủy triều dường như ảnh hưởng đến sự chuyển động nhịp nhàng của đáy đại dương, tạo ra hiệu ứng có vẻ giống với hô hấp nhưng với tần suất chậm hơn, nguyên nhân là do kích thước tương đối to lớn của Trái đất.

Bằng chứng về sự sống, hơi thở của trái đất không dừng lại ở đó: các báo cáo đương đại của các nhà khoa học của đài thiên văn Mauna Loa của Hawaii dựa trên những thu thập thông qua các trạm quan sát địa lý, chứng minh rằng nồng độ carbon dioxide, từ năm 1955 đến 1995, đã thay đổi theo kiểu lên xuống nhịp nhàng, một số giải thích đó là hiện tượng mặt đất hít vào và thở ra.

Giả thuyết Gaia đã bác bỏ quan niệm rằng, các điều kiện thích hợp cho cuộc sống đã được duy trì trong hàng ngàn năm chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên - sự mong manh của sự sống trên Trái đất đều do các quá trình đơn lập tạo nên một cách tình cờ. Ý tưởng Trái đất như một sinh vật sống cho đến nay đã thu hút được nhiều người hoài nghi hơn những người ủng hộ, nhưng tư duy của các nhà khoa học đang thay đổi khi nhiều bằng chứng tiếp tục xuất hiện.


Các vòng tròn bí ẩn tiết lộ "lớp da" của Trái đất?


Giả thuyết Gaia là gì? Giả thuyết Gaia được đặt theo tên của nữ thần Trái đất theo văn hóa Hy Lạp cổ đại, lý thuyết này cho rằng hành tinh của chúng ta là một thực thể sống, đang thở và có thể tự điều chỉnh.

"Bản tính tự nhiên là Trí tuệ!". Nhiều người đã quen thuộc với cụm từ này, nhưng nó đúng như thế nào?

Nếu chúng ta tìm hiểu xu hướng của các giả thuyết khoa học ngày nay, và xem xét cái nào trong số chúng xóa nhòa ranh giới giữa vật lý hữu hình và thần bí, chúng ta sẽ thấy dẫn đầu trong số đó là Giả thuyết Gaia. Trong bốn thập kỷ qua ý tưởng về một "Trái đất là một thực thể sống" tiếp tục đưa ra những bằng chứng cụ thể, đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau ngày càng nhiều hơn.

Trên các cánh đồng cỏ sa mạc cát ở Namibia, miền nam châu Phi xuất hiện vô số điểm trơ trụi dị thường, hình vòng tròn. Các vòng tròn này thường có đường kính từ 3 - 20 mét nằm xen kẽ giữa bạt ngàn cây bụi và cỏ ngắn. Giả thiết rằng số lượng tổng cộng của các vòng tròn trong khu vực tương đối ổn định, ông Walter Tschinkel – một nhà sinh vật học tại Đại học Florida (Mỹ) đã sử dụng các ảnh vệ tinh để xem mức độ phát triển của các vòng tròn từ khi bắt đầu xuất hiện tới lúc biến mất (cây cỏ mọc lại như xung quanh). Việc đó mang tới kết quả ước tính sơ bộ vòng đời của các vòng tròn, hầu hết chúng tồn tại trong khoảng 30 – 60 năm.

Đi tìm nguyên nhân xuất hiện các vòng tròn

Giới khoa học gọi đây là "những vòng tròn thần tiên" (fairy circle). Chuyên gia sinh học Stephan Getzin từ ĐH Göttingen (Đức) cho rằng những vòng tròn này là do loài mối, và cuộc chiến cạnh tranh nguồn nước khốc liệt giữa các bụi cây.

Các "vòng tròn tiên" kỳ lạ xuất hiện trên những cánh đồng cỏ sa mạc cát ở Namibia. (Ảnh: Wikipedia)

Nhưng khi đi tìm các bằng chứng rõ ràng hơn thì hóa ra mọi chuyện không phải đúng như vậy, Getzin và các cộng sự từ Israel và Úc đã xem xét hàng chục vòng tròn tại thị trấn Newman thuộc Tây Úc (Úc cũng có những vòng tròn thần tiên này). Họ đào 154 cái hố, trải dài 12 km.

Kết quả, họ nhận thấy nền đất có tỷ lệ đất sét tương tự với đất bên trong vòng tròn, đồng thời không thể tìm thấy con đường mối đào. Hay nói cách khác, loài mối không phải là thủ phạm ở đây.

Để chắc chắn hơn, họ sử dụng drone để đánh dấu từng khu vực trên bản đồ, xem những nơi nào thảm thực vật bị mối tấn công rõ ràng nhất.

"Khoảng cách giữa các mảng thực vật do mối gây ra chỉ bằng phân nửa so với các vòng tròn thần tiên" - Getzin cho biết.

"Về tổng thể, nghiên cứu cho thấy đúng là mối có thể xây tổ quanh khu vực có vòng tròn thần tiên, nhưng chúng hầu như không có liên quan đến sự hình thành các vòng tròn thần tiên đó".

Sự giống nhau trong phân bố giữa các vòng tròn thần tiên và các tế bào da người

Giáo sư Robert Sinclair, trưởng khoa Sinh - toán thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Okinawa (OIST) của Nhật cho rằng những mẫu hoa văn phân bố của các vòng tròn thần tiên được phát hiện rất giống mẫu hoa văn phân bố của tế bào da người, ông nói: "Đây là một sự trùng hợp hoàn toàn kỳ lạ và đáng kinh ngạc".

Các tế bào da (trái) và các vòng tròn thần tiên được phát hiện có kiểu hoa văn gần giống hệt nhau. (Ảnh: OIST)

Giáo sư Sinclair và cộng sự - Haozhe Zhang - tin rằng, họ đã nhận diện được một phần nhỏ nhưng quan trọng của vấn đề, bằng cách so sánh sự phân bố của các vòng tròn thần tiên với các tế bào da.

Theo tạp chí Ecological Complexity (Phức tạp sinh thái), nhóm của giáo sư Sinclair đã sử dụng ảnh chụp vệ tinh của các vòng tròn thần tiên và một máy tính để vẽ ra các đường phân chia giữa mỗi cặp vòng tròn, nhằm tạo cho chúng các giới hạn vô hình tương tự như vách tế bào. Máy tính sau đó đếm số lượng khu vực "láng giềng" bao quanh mỗi vòng tròn thần tiên.

Các chuyên gia sau đó sử dụng kết quả nghiên cứu của một nhóm nhà khoa học khác, vốn cũng tính toán các khu vực láng giềng của tế bào da theo cách tương tự cách đây vài năm. Họ phát hiện, các kết quả gần như giống hệt nhau: phần lớn các tế bào da và các vòng tròn thần tiên đều có 6 "láng giềng". Và tỉ lệ các vòng tròn thần tiên có 4,5,6,7, 8 và 9 láng giềng, về cơ bản tương tự như ở các tế bào da.

Các chuyên gia cho biết, những mẫu hoa văn trên có cơ sở để giống nhau, đó là vì cả các tế bào da và các vòng tròn tiên đều đang đấu tranh giành không gian sống.

Ý tưởng Trái đất như một sinh vật sống cho đến nay vẫn thu hút được nhiều người hoài nghi hơn những người ủng hộ, nhưng tư duy của các nhà khoa học đang thay đổi khi nhiều bằng chứng tiếp tục xuất hiện.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Có phải kiến thức của Nikola Tesla bắt nguồn từ một nơi khác trong vũ trụ?

 


Nikola Tesla đã hình dung ra hình ảnh về những công nghệ mới từ rất lâu trước thời đại của ông. Những hình ảnh này tràn ngập tâm trí ông. Ông từng tuyên bố đã tiếp xúc với những sinh vật từ thế giới khác. Ông đã và vẫn là một bí ẩn đối với nhân loại.

Vào ngày 7 tháng 1 năm 1943, Nikola Tesla qua đời vì một cơn đau tim trên tầng 33 của khách sạn New Yorker. Vài giờ sau khi ông chết, cháu trai của ông đến phòng 3327 và phát hiện ra rằng thi thể của Tesla, cũng như các bản vẽ và ghi chú của ông, đã bị lấy đi.

Có những cáo buộc cho rằng FBI đã thu giữ các bản ghi chú của Tesla và nhanh chóng xếp chúng vào loại "tuyệt mật". Các ghi chú chính thức là không có gì đáng kể đã được tìm thấy.

Nhiều nhà nghiên cứu độc lập tuyên bố rằng các ghi chú bị mất chứa đựng một kế hoạch bí mật cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại từ một nền văn minh ngoài Trái đất. Điều này dẫn đến những giả thuyết rằng Nikola Tesla đã thu thập được kiến thức từ một nơi khác trong vũ trụ.

Tại sao các ghi chú của ông lại được chính phủ Hoa Kỳ quan tâm như vậy?

Tesla được sinh ra vào thời điểm trùng với một lời tiên tri của một người Kabbalistic cổ đại. Theo nhà tiên tri, cánh cổng trí tuệ sẽ mở ra trên Trái đất và nhân loại sẽ tìm thấy những thủ lĩnh của mình. Những người sinh ra vào thời điểm đó là ai? Nikola Tesla và Albert Einstein. Nhưng còn điều gì khác không ngoài những lời tiên tri liên quan đến Nikola Tesla?

Đã có nhiều học giả khác nhau trong lịch sử có ảnh hưởng đến sự tiến bộ trong khoa học của loài người. Các ví dụ nổi bật là GalileoCopernicus, Da Vinci, Einstein và Tesla chắc chắn cũng thuộc loại này. Tất cả họ đều liên quan đến những phát kiến mới, điều mà tại thời điểm đó là không thể nếu họ được sinh ra với một bộ óc bình thường.

Các nhà khoa học tham gia vào các dự án của Tesla cho rằng ông là một người kế thừa con người (human successor). Nếu đúng như vậy, thì Nikola Tesla đã thu nhận được kiến thức từ các thế lực ngoài hành tinh và tạo ra những khám phá đáng kinh ngạc.

Nikola Tesla biết rằng có một cơ sở trong vũ trụ, có thể được sử dụng bởi cả nhân loại, miễn là họ biết cách điều chỉnh các giác quan của mình một cách hợp lý. Nhà khoa học tin vào truyền thuyết về những tòa tháp truyền năng lượng giống như các Obelisks mà chúng ta tìm thấy trên khắp thế giới. Theo một số nhà khoa học, những tòa tháp đã từng được kết nối và thu thập từ trường của Trái đất.

Tại sao kiến thức của Nikola Tesla rơi vào quên lãng?

Một đêm, Nikola Tesla đang theo dõi giông bão ở độ cao 960 km bằng máy phát khuếch đại của mình. Sau đó, ông đột nhiên bắt được tín hiệu từ một nguồn không xác định. Chúng là một chuỗi ba xung động nghe có vẻ toán học. Sau nhiều cân nhắc, ông tin rằng chúng đến từ không gian vũ trụ. Đột nhiên, Tesla thay đổi và bắt đầu nói rằng cấu tạo của các nguyên tử giống như hệ Mặt trời và ánh sáng có thể hoạt động như sóng và hạt.

Theo một số thuyết âm mưu, Einstein đã được sử dụng bởi các loài ngoài hành tinh khác nhưng lại nhận được giải Nobel vì ý tưởng tương tự. Bohr và Rutherford cũng nhận được giải Nobel vì đã khám phá ra rằng các nguyên tử giống như những hệ Mặt trời nhỏ.

Tuy nhiên, Tesla chưa bao giờ nhận được bất kỳ sự công nhận hay giải thưởng nào cho cùng một khám phá được thực hiện ở giai đoạn trước đó. Theo một số nhà nghiên cứu, việc những nhà xét duyệt đối xử bất công với ông là do ông say mê người ngoài hành tinh. Cũng có thể do Tesla đơn giản không phải là kiểu nhà khoa học cho phép sự kiểm soát từ bên ngoài, điều khiến chính phủ và các cơ quan bí mật không thể sử dụng ông.

Đây là lý do tại sao rất nhiều khám phá của ông không những bị bỏ quên mà còn bị từ chối. Thế giới của chúng ta có thể sẽ không phát triển như chúng ta biết ngày nay nếu những phát minh ẩn giấu của ông đã được chấp nhận và tiết lộ cho công chúng.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Phát hiện Thánh đường cổ, nơi được cho là Chúa Giê-su đã thực hiện một phép màu

 


Các nhà khảo cổ học tin rằng họ đã khai quật được một thánh đường cổ, địa điểm của một trong những phép lạ nổi tiếng nhất của Chúa Giê-su: chữa lành cho một người phụ nữ bị chảy máu trong suốt 12 năm. Theo Kinh thánh, người phụ nữ chỉ chạm vào áo choàng của Chúa Giê-su và đã được chữa khỏi bệnh một cách thần kỳ.

Theo New York Post, Đại học Haifa đã khai quật được một thánh đường cổ ở Cao nguyên Golan, Israel. Cụ thể hơn, đây là một nhà thờ nằm ở Banias, một khu vực được gọi là Caesaria của Philip vào thời Chúa Giêsu. Người ta tin rằng nhà thờ cổ này được xây dựng trên đỉnh một nơi linh thiêng của Hy Lạp và có niên đại ít nhất là năm 320 sau Công nguyên.

Di tích của thánh đường cổ Banias khi được phát hiện tại Vườn quốc gia Banias ở Israel. Việc phát hiện ra nhà thờ này tiếp nối với một phát hiện ấn tượng khác - nhà thờ này chính là nơi người ta tin rằng Chúa Giê-su đã nói với Peter để truyền bá đạo Cơ đốc.
Di tích của thánh đường cổ Banias khi được phát hiện tại Vườn quốc gia Banias ở Israel. Việc phát hiện ra nhà thờ này tiếp nối với một phát hiện ấn tượng khác - nhà thờ này chính là nơi người ta tin rằng Chúa Giê-su đã nói với Peter để truyền bá đạo Cơ đốc. (Ảnh: Cơ quan quản lý công viên và thiên nhiên)

Giáo sư Adi Erlich đã dẫn dắt nhóm các nhà khảo cổ học của bà để thực hiện cuộc khai quật và đã mang lại những tảng đá được chạm khắc hình thánh giá cũng như sàn gạch có hình thánh giá cực kỳ hấp dẫn. Erlich tin rằng những tảng đá này được những người hành hương tôn giáo vào khoảng năm 400 sau Công nguyên đặt vào nhà thờ, nhiều thế hệ sau khi địa điểm này được sử dụng như một thánh đường, để tưởng nhớ phép màu mà Chúa Giê-su đã thực hiện ở đó.

Theo Kinh thánh, Chúa Giê-su đang trên đường đến nhà của một người đàn ông để chữa bệnh cho đứa con gái ốm yếu của anh ta, thì người phụ nữ bị chảy máu đã đến gần Ngài. Khi người phụ nữ chạm vào chiếc áo choàng của Chúa Giê-su, “ngay lập tức máu của cô ấy ngừng chảy và cô ấy cảm thấy trong cơ thể mình được giải thoát khỏi sự đau khổ bao lâu nay”.

Các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy một bệ thờ với dòng chữ Hy Lạp từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Điều này xác định rõ ràng địa điểm này là nơi thờ cúng thần Pan trước khi có sự xuất hiện của Cơ đốc giáo.

Nhưng liệu cơ sở này có thực sự là nơi của phép màu được cho là đã xảy ra ở đây hay không vẫn chưa được khẳng định rõ ràng. Tuy nhiên, điều rõ ràng là việc khám phá ra di tích lịch sử này là một sự xoay chuyển kỳ diệu của chính số phận.

Theo The Times of Israel, nhóm của Erlich cũng tin rằng đây là nhà thờ lâu đời nhất ở Israel và được xây dựng để tưởng nhớ việc Chúa Giê-su tiết lộ mình chính là Đấng Messiah cho môn đồ Peter.

Địa điểm này được cho là đã được xây dựng trên đỉnh một nơi linh thiêng thời La Mã để thờ thần Pan của Hy Lạp từ thế kỷ thứ ba. Erlich nói thêm rằng những người xây dựng nhà thờ Cơ đốc giáo từ thế kỷ thứ tư và thứ năm có khả năng đã điều chỉnh thánh đường của người ngoại giáo La Mã thành một thánh đường phục vụ đức tin mới của Chúa Giê-su.

Sàn gạch hình chữ thập là nơi mà các chuyên gia tin rằng đánh dấu nơi Chúa Giê-su chữa lành cho người phụ nữ ốm yếu được mô tả trong Kinh thánh.
Sàn gạch hình chữ thập là nơi mà các chuyên gia tin rằng đánh dấu nơi Chúa Giê-su chữa lành cho người phụ nữ ốm yếu được mô tả trong Kinh thánh. (Ảnh: Cơ quan quản lý Công viên và Thiên nhiên Israel)

Erlich tin rằng thánh đường cổ này bắt đầu phục vụ các tín đồ Thiên chúa giáo vào năm 320 sau Công nguyên, và bà tin rằng nó chủ yếu được sử dụng như một thánh đường để tưởng nhớ mối quan hệ giữa Chúa Giê-su và đệ tử của ngài, Peter, ngoài phép lạ mà Ngài thực hiện đối với người phụ nữ bị chảy máu.

Có vẻ như bất kể nhà thờ cổ này có thực sự là nơi thực hiện một trong những phép lạ nổi tiếng nhất của Chúa Giê-su hay không, nó vẫn là một phần của bộ sưu tập lịch sử gồm những khám phá gần đây của các nhà khảo cổ học về lòng tin vào Chúa của những người theo Cơ đốc giáo.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS