Container Icon

MIT dự báo từ năm 1972: Xã hội văn minh sẽ sụp đổ trong thế kỷ này

 


Một nghiên cứu của MIT từ năm 1972 dự báo tăng trưởng kinh tế quá nhanh sẽ dẫn đến sự sụp đổ của xã hội văn minh vào giữa thế kỷ 21. Thật đáng tiếc, dự báo của MIT đang đi đúng lộ trình.

Dựa trên dữ liệu thực nghiệm, giám đốc của KPMG, một trong những công ty kiểm toán lớn nhất thế giới, đã đưa ra một nghiên cứu mới dựa trên nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ (MIT) dự báo từ nửa thế kỷ trước về nguy cơ sụp đổ của nền văn minh công nghiệp.

Trong khi thế giới mong đợi sự phục hồi tăng trưởng kinh tế sau đại dịch, nghiên cứu đặt ra những vấn đề cấp thiết về những nguy cơ của nền văn minh công nghiệp trước đại dịch, nếu nó vẫn vận hành một cách 'bình thường'.

Năm 1972, một nhóm các nhà khoa học MIT đã nghiên cứu nguy cơ dẫn đến quá trình sụp đổ nền văn minh qua mô hình động lực học hệ thống do Câu lạc bộ Rome (viện nghiên cứu toàn cầu nhằm giải quyết các vấn đề chính trị quốc tế) công bố. Mô hình xác định "giới hạn của tăng trưởng" (LtG) sắp xảy ra, có nghĩa là nền văn minh công nghiệp đang trên đà sụp đổ vào một thời điểm nào đó trong thế kỷ 21 do khai thác quá mức nguồn tài nguyên của hành tinh.

Ngay sau khi dự báo của MIT được công bố rộng rãi đã tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi và bị chỉ trích dữ dội vì dự báo bị coi là u ám và các chuyên gia đã trình bày sai các phát hiện cũng như phương pháp dự báo. Dù vậy, dự báo của MIT đã được chứng minh bởi một nghiên cứu mới đây của KPMG, một trong những công ty kế toán 'Big Four' dựa trên doanh thu toàn cầu.

Giới hạn của tăng trưởng

Lần đầu tiên, Gaya Herrington, một nhà phân tích hàng đầu thuộc công ty kiểm toán lớn toàn cầu đã thực hiện nghiêm túc mô hình "giới hạn của tăng trưởng". Bà là tác giả của nghiên cứu, đồng thời là Trưởng nhóm Phân tích Hệ thống Động và Tính bền vững tại KPMG ở Hoa Kỳ. Bà quyết định thực hiện nghiên cứu như một dự án cá nhân để hiểu rõ hơn mô hình của MIT đã đứng vững trước thử thách của thời gian như thế nào.

Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Sinh thái Công nghiệp Yale vào tháng 11/2020 và cả trên website của KPMG (pdf). Nghiên cứu kết luận, quỹ đạo kinh doanh thông thường hiện tại của nền văn minh toàn cầu đang hướng tới sự suy giảm cuối cùng của kỳ tăng trưởng kinh tế trong thập kỷ tới — và tệ nhất, có thể gây ra sự sụp đổ xã hội vào khoảng năm 2040.

Nghiên cứu không được liên kết hay đại diện cho KPMG và không nhất thiết phản ánh quan điểm của KPMG. Herrington đã thực hiện nghiên cứu này như một phần mở rộng của luận án Thạc sĩ của bà tại Đại học Harvard với tư cách là cố vấn cho Câu lạc bộ Rome. Tuy nhiên, KPMG đã trích dẫn lời của bà như sau:

“Viễn cảnh sụp đổ không hề hấp dẫn, tôi tò mò muốn biết kịch bản nào sẽ sát nhất với dữ liệu thực nghiệm hiện nay. Rốt cuộc, chúng ta đã có dữ liệu thực nghiệm sau vài thập kỷ từ cuốn sách bán chạy nhất trong những năm 70 dự báo về mô hình thế giới, những dữ liệu này giúp cho việc so sánh trở nên có ý nghĩa. Thật ngạc nhiên, tôi không thể tìm thấy những nỗ lực nghiên cứu nào gần đây cho việc này. Vì vậy, tôi quyết định tự mình làm điều đó”.

Với tiêu đề "Cập nhật các giới hạn của tăng trưởng: So sánh mô hình World3 với dữ liệu thực nghiệm", nghiên cứu cố gắng đánh giá mô hình World3 của MIT và so sánh với dữ liệu thực nghiệm mới. Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng tình huống xấu nhất của mô hình đã phản ánh chính xác các diễn biến trong thực tế, trong đó nghiên cứu cuối cùng được hoàn thành vào năm 2014.

Nguy cơ sụp đổ nền văn minh công nghiệp

Phân tích của Herrington kiểm tra dữ liệu trên 10 biến số chính, đó là dân số, tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử vong, sản lượng công nghiệp, sản xuất lương thực, dịch vụ, tài nguyên không tái tạo, ô nhiễm hữu cơ bền, phúc lợi và môi trường sinh thái. Bà nhận thấy dữ liệu mới nhất, sát nhất với hai kịch bản cụ thể là ‘BAU2’ (kinh doanh như thường lệ) và ‘CT’ (công nghệ toàn diện).

Nghiên cứu kết luận: "Kịch bản BAU2 và CT cho thấy sự ngừng tăng trưởng sẽ diễn tra trong vòng một thập kỷ hoặc lâu hơn kể từ bây giờ. Cả hai kịch bản đều chỉ ra việc tiếp tục kinh doanh như bình thường, tức là theo đuổi tăng trưởng liên tục, là điều không thể.

Ngay cả khi kết hợp sự phát triển với việc áp dụng công nghệ chưa từng có, hoạt động kinh doanh như bình thường theo mô hình của LtG chắc chắn sẽ dẫn đến sự sụt giảm về vốn công nghiệp, sản lượng nông nghiệp và phúc lợi trong thế kỷ này".

Herrington cho biết, trong các mô hình World3 của MIT, sự sụp đổ “không có nghĩa là nhân loại sẽ không còn tồn tại”, mà là “tăng trưởng kinh tế và công nghiệp sẽ dừng lại, và sau đó suy giảm, điều này sẽ ảnh hưởng đến sản xuất lương thực và mức sống … Về mặt thời gian, kịch bản BAU2 cho thấy một sự sụt giảm mạnh có thể bắt đầu vào khoảng năm 2040”.

Kịch bản tăng trưởng của nền văn minh Kinh doanh như thường lệ (BAU). (Nguồn: Báo cáo advisory.kpmg.us)
Kịch bản tăng trưởng của nền văn minh Kinh doanh như thường lệ (BAU). (Nguồn: Báo cáo advisory.kpmg.us)

Sự tăng trưởng sẽ kết thúc?

Trong kịch bản “công nghệ toàn diện”, sự suy giảm kinh tế có thể diễn ra với một loạt các hậu quả tiêu cực, tuy nhiên điều này không dẫn đến sự sụp đổ xã hội.

Kịch bản tăng trưởng của nền văn minh: Công nghệ toàn diện (CT). (Nguồn: Báo cáo advisory.kpmg.us)
Kịch bản tăng trưởng của nền văn minh: Công nghệ toàn diện (CT). (Nguồn: Báo cáo advisory.kpmg.us)

Thật đáng tiếc, kịch bản có mức độ sát thực tế thấp nhất so với dữ liệu thực nghiệm mới lại là ‘SW’ (thế giới ổn định), nền văn minh đi theo con đường bền vững và trải qua sự suy giảm nhỏ trong tăng trưởng kinh tế, dựa trên sự kết hợp trong đổi mới công nghệ, đầu tư rộng rãi vào y tế công cộng và giáo dục.

Kịch bản tăng trưởng của nền văn minh Thế giới ổn định (SW). (Nguồn: Báo cáo advisory.kpmg.us)
Kịch bản tăng trưởng của nền văn minh Thế giới ổn định (SW). (Nguồn: Báo cáo advisory.kpmg.us)

Mặc dù cả hai kịch bản kinh doanh như thường lệ (BAU2) và công nghệ toàn diện (CT) đều chỉ ra sự kết thúc tăng trưởng kinh tế sẽ diễn ra trong khoảng 10 năm tới. Trong đó, kịch bản BAU2 cho thấy một mô hình sụp đổ rõ ràng, còn kịch bản CT cho thấy khả năng sụt giảm trong tương lai diễn ra khá nhẹ nhàng, không có thiệt hại nghiêm trọng nào xảy ra, ít nhất là đối với nhân loại nói chung.

Herrington kết luận trong nghiên cứu của mình, cả hai kịch bản "có sự liên kết khá chặt chẽ không chỉ với dữ liệu quan sát được". Điều này cho thấy, tương lai vẫn đang rộng mở phía trước.

Cơ hội hiếm hoi để điều chỉnh chính sách phát triển

Thật vô ích khi tập trung vào việc theo đuổi tăng trưởng kinh tế liên tục. Nghiên cứu chỉ ra rằng tiến bộ công nghệ và tăng cường đầu tư vào các dịch vụ công không chỉ tránh được nguy cơ sụp đổ mà còn dẫn đến một nền văn minh ổn định và thịnh vượng mới, hoạt động an toàn trong phạm vi hành tinh. Nhưng chúng ta thực sự chỉ có một thập kỷ tới để thay đổi hướng đi.

Nghiên cứu kết luận: “Tại thời điểm này, kịch bản CT và BAU2 có dữ liệu sát thực tế nhất cho thấy tốc độ tăng trưởng chậm lại và cuối cùng là ngừng tăng trưởng trong vòng một thập kỷ tới, trong khi mô hình World3 của MIT vẫn để ngỏ và chưa rõ liệu đà suy giảm tiếp theo có tạo nên sự sụp đổ hay không”.

Mặc dù kịch bản “thế giới ổn định” có mức độ sát thực tế thấp nhất nhưng vẫn có thể xảy ra khi xã hội thay đổi một cách có chủ ý hướng tới mục tiêu khác ngoài tăng trưởng. Mô hình "giới hạn của tăng trưởng" ngụ ý rằng cánh cửa cơ hội sẽ không mở lâu.

Trong lần thuyết trình tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2020 với tư cách là giám đốc của KPMG, Herrington đã lập luận về ‘tăng trưởng’ — một cách tiếp cận bất khả tri để duy trì tăng trưởng là tập trung vào các mục tiêu và ưu tiên kinh tế khác.

Bà nói: “Thay đổi thứ tự các ưu tiên xã hội của chúng ta không cần phải bất đắc dĩ chấp nhận những hoạt động có hậu quả tiêu cực ngắn hạn nhưng có kết quả tích cực trong dài hạn. Hoạt động của con người có thể tái tạo và năng lực sản xuất của chúng ta có thể được chuyển đổi. Trên thực tế, chúng ta có thể thấy những ví dụ điển hình vẫn đang diễn ra. Việc mở rộng những nỗ lực này sẽ tạo ra một thế giới đầy cơ hội nhưng bền vững”.

Bà cũng lưu ý, để ứng phó với đại dịch COVID-19, chúng ta đã phát triển nhanh chóng và triển khai sản xuất vaccine với tốc độ chưa từng có, điều này chứng tỏ con người chúng ta có khả năng ứng phó nhanh chóng và tích cực trước những thách thức toàn cầu. Chúng ta cũng có thể thiết lập một cách tiếp cận kiên quyết như vậy đối với cuộc khủng hoảng môi trường.

Herrington chia sẻ: “Thật không dễ dàng để triển khai những thay đổi, luôn có những thách thức trong quá trình chuyển đổi. Tuy vậy, hoàn toàn có thể thực hiện để hướng tới một tương lai bền vững và toàn diện”.

Dữ liệu tốt nhất hiện có cho thấy, những gì chúng ta quyết định hành động trong vòng 10 năm tới sẽ xác định số phận lâu dài của nền văn minh nhân loại chúng ta.

Mặc dù cơ hội khá mong manh nhưng Herrington đã chỉ ra “sự phát triển nhanh chóng” các ưu tiên về môi trường, xã hội và quản trị Nhà nước hiệu quả, đây là cơ sở cho sự lạc quan, báo hiệu sự thay đổi trong tư duy đang diễn ra ở cả chính phủ và doanh nghiệp.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Các nhà khoa học cho biết lõi trong của Trái đất đang bắt đầu quay theo hướng ngược lại

 


Các nhà khoa học phát hiện rằng lõi trong của Trái đất có thể đang bắt đầu đảo chiều quay và điều này có ý nghĩa đối với sự hiểu biết của chúng ta về cách lớp lõi ảnh hưởng đến các lớp khác của Trái đất.

Cấu trúc của Trái đất và phát hiện trước đây về lõi trong

Hành tinh của chúng ta bao gồm nhiều lớp. Lớp mỏng bên ngoài, được gọi là lớp vỏ, bao gồm chủ yếu là đá rắn và thường dày khoảng 30 đến 50 km ở các khu vực lục địa, mặc dù ở các vùng đại dương, độ dày trung bình chỉ khoảng 6 km.

Bên dưới lớp vỏ là lớp phủ có độ dày khoảng 2.900 km, chiếm 84% tổng thể tích của Trái đất. Lớp này bao gồm vật liệu đá đậm đặc hơn lớp vỏ và chủ yếu là rắn, mặc dù sự tan chảy có thể xảy ra ở một số khu vực cục bộ do áp suất cao.

Bên dưới lớp phủ là lõi Trái đất, với phần bên trong và bên ngoài. Lõi ngoài kéo dài khoảng 2.260 km và chủ yếu bao gồm sắt và niken nóng chảy. Tại trung tâm của hành tinh chúng ta là lõi trong có độ dày khoảng 1.220 km và được cho là ở thể rắn. Nó chủ yếu bao gồm chủ yếu là hợp kim sắt-niken, với một lượng rất nhỏ các nguyên tố khác.

Vào giữa những năm 1990, một trong những tác giả của nghiên cứu mới nhất - Xiaodong Song, người liên kết với Phòng thí nghiệm SinoProbe tại Trường Khoa học Trái đất và Không gian tại Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc - cùng với Paul Richards tại Đại học Columbia đã cung cấp bằng chứng quan sát đầu tiên về sự quay độc lập của lõi trong.

Họ phát hiện ra rằng lõi trong đang quay theo hướng từ tây sang đông, cùng hướng với Trái đất, mặc dù nhanh hơn một chút so với lớp phủ và lớp vỏ. Chuyển động quay này được điều khiển chủ yếu bởi các hiệu ứng điện từ tại lõi ngoài lỏng bao quanh, cũng như các tương tác hấp dẫn với lớp phủ.

Tuy nhiên, kể từ khám phá này, đã có một số vấn đề chưa được giải quyết liên quan đến hiểu biết của chúng ta về chuyển động quay của lõi trong như tốc độ quay và sự thay đổi tốc độ quay này.

Phát hiện lõi trong đang bắt đầu đảo chiều quay

Những vấn đề nói trên đã thúc đẩy Xiaodong và đồng nghiệp Yi Yang, người cũng liên kết với Phòng thí nghiệm SinoProbe, thu thập thêm dữ liệu trong thời gian dài hơn để thử nghiệm các mô hình khác nhau. Và trong nghiên cứu mới này, họ đã phân tích các sóng địa chấn được tạo ra bởi các trận động đất lặp lại tự nhiên đi qua lõi Trái đất kể từ những năm 1960.

Động đất lặp lại là những trận động đất giống hệt nhau về vị trí và hình học nhưng xảy ra vào những thời điểm khác nhau.

Các tác giả nói với Newsweek: "Sóng địa chấn từ một cặp trận động đất lặp lại thường có dạng sóng giống hệt nhau đến cùng một trạm. Tuy nhiên, khi sóng từ các trận động đất lặp lại tương tác với lõi trong của Trái đất, chúng có thể hiển thị các dạng sóng và thời gian đến khác nhau vì chúng phản ánh các cấu trúc lõi trong khác nhau”.

Sử dụng những sóng địa chấn này, các nhà nghiên cứu có thể suy ra mô hình xoay của lõi trong trong nhiều thập kỷ qua, tiết lộ các chi tiết mới về quá trình này và mối liên hệ của nó với các lớp khác của Trái đất.

Dữ liệu của các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, từ đầu những năm 1970 đến khoảng năm 2009, lõi trong quay nhanh hơn lớp phủ và bề mặt của Trái đất. Sau đó, từ năm 2009 đến năm 2011, vòng quay của nó dường như tạm ngưng. Kể từ đó, các vòng quay dường như đang dần đảo chiều.

Các tác giả cho biết: “Bằng chứng cho sự đảo chiều kể từ năm 2009 là khá mạnh mẽ về mặt thống kê với mức độ tin cậy trên 95%”.

Họ cũng cho biết những thay đổi này có thể là một phần của dao động diễn ra trong khoảng bảy thập kỷ, với một điểm đảo chiều trước đó xảy ra vào đầu những năm 1970.

Các tác giả cho biết: “Những kết quả này giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về cách bên trong Trái đất vận hành và cách các lớp khác nhau của hệ thống tương tác với nhau như một tổng thể. Các dao động nhiều thập kỷ như vậy cũng tồn tại trong các lớp khác củaTrái đất, chẳng hạn như lõi ngoài, lớp phủ và bề mặt, cho thấy có thể có một hệ thống Trái đất cộng hưởng”.

Có hai lực chính tác động lên lõi trong. Đầu tiên là lực điện từ. Từ trường của Trái đất được tạo ra bởi chuyển động của chất lỏng trong lõi ngoài. Từ trường tác động lên lõi trong bằng kim loại được cho là sẽ khiến lõi này quay. Lực khác tác động lên lõi trong là lực hấp dẫn. Lớp phủ và lõi trong khác nhau đáng kể về các đặc điểm vật lý của chúng, do đó lực hấp dẫn giữa chúng có xu hướng kéo lõi trong đến vị trí cân bằng hấp dẫn.

Các nhà nghiên cứu cho biết: “Nếu hai lực không cân bằng, lõi trong sẽ tăng tốc hoặc giảm tốc. Sự dao động 70 năm của lõi trong có khả năng được điều khiển bởi lực điện từ và lực hấp dẫn”.

Các nhà khoa học cho biết dao động này tương quan với những thay đổi định kỳ tương tự trong các quan sát địa vật lý khác, chẳng hạn như sự thay đổi từ trường hoặc độ dài của ngày.

Bất chấp những phát hiện, các tác giả cho biết có một số hạn chế đối với nghiên cứu, bao gồm thực tế là thời lượng của dữ liệu địa chấn có sẵn bị hạn chế.

Các nhà khoa học cho biết: “Chúng tôi chưa quan sát thấy toàn bộ chu kỳ dao động bảy thập kỷ theo đề xuất, với dữ liệu thu thập trong chưa đầy sáu thập kỷ. Các trạm địa chấn kỹ thuật số hiện đại bắt đầu được triển khai trên toàn cầu từ những năm 1990. Nhiều dữ liệu địa chấn cổ xưa hơn nằm trong hồ sơ giấy, nhưng chúng khá rải rác và khó truy cập”.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Sudan mới là nơi có nhiều kim tự tháp nhất thế giới, hơn cả Ai Cập

 


Nằm ngay cạnh Ai Cập, điểm giao giữa châu Phi và Trung Đông, đất nước Sudan mới là quốc gia có số lượng kim tự tháp lớn nhất thế giới, gần gấp đôi ở Ai Cập.

Nói đến kim tự tháp, nhiều người nghĩ ngay đến Ai Cập với nhiều di tích nổi tiếng mê hoặc lòng người. Tuy nhiên, ít người biết rằng đất nước Sudan nằm ngay cạnh Ai Cập mới là nước có nhiều kim tự tháp nhất thế giới, với số lượng gần gấp đôi ở Ai Cập.

Theo thống kê, số lượng kim tự tháp ở Sudan là khoảng 255 chiếc, trong khi đó con số này ở Ai Cập là 138. Những kim tự tháp này nằm trên nhiều bãi cát sa mạc gần thành phố cổ Meroë, minh chứng cho một chương lịch sử châu Phi hùng tráng chưa được lịch sử nhắc đến.

Sudan từng là quê hương của Vương quốc Kush, đối thủ của đế chế Ai Cập. Thành phố Meroë trở thành thủ đô của Kush, đây cũng là nơi chôn cất hơn 30 vị vua trong các kim tự tháp.

Trong khoảng thời gian 200 năm, khoảng năm 3000 trước Công nguyên, các pharaoh Ai Cập đã đưa quân đội về phía nam dọc theo sông Nile để tìm kiếm vàng, đá granit, lông đà điểu và nô lệ.

Họ tiến hành xây dựng những pháo đài kiên cố, nhiều ngôi đền để đánh dấu, chứng tỏ sự thống trị của mình.

Khu vực bị chinh phục là nơi sinh sống của người Nubia, những cư dân đầu tiên ở thung lũng trung tâm sông Nile, miền bắc Sudan và miền nam Ai Cập ngày nay. Khi đế chế Ai Cập sụp đổ vào năm 1070 trước Công nguyên, triều đại Nubia, do Alara lãnh đạo đã đi đầu trong quá trình phục hưng văn hóa, trong đó có việc xây dựng các kim tự tháp của riêng họ.

Các địa điểm khảo cổ Kim tự tháp Nubian ở Sudan và Ai Cập ngày nay.
Các địa điểm khảo cổ Kim tự tháp Nubian ở Sudan và Ai Cập ngày nay. (Ảnh: Google Maps)

Điểm khác biệt của kim tự tháp ở Sudan với ở Ai Cập

Kim tự tháp ở Sudan có nhiều điểm khác biệt so với kim tự tháp ở Ai Cập. Đầu tiên là về kích thước. Ví dụ như kim tự tháp ở Meroe, Sudan, chỉ có chiều cao trung bình từ 6-30m, thấp hơn nhiều so với đại kim tự tháp ở Ai Cập, cao trung bình lên tới 138m. Về tổng thể chung thì kim tự tháp ở Sudan cũng có độ dốc hơn và phần nền hẹp hơn so với kim tự tháp ở Ai Cập.

Quần thể kim tự tháp ở Sudan.
Quần thể kim tự tháp ở Sudan. (Ảnh: Wikipedia)

Thứ 2 là về cấu trúc. Thông thường, các kim tự tháp ở Ai Cập thường được xây dựng độc lập và đứng một mình, không kim tự tháp nào đứng cạnh kim tự tháp nào hay bất kỳ công trình nào khác. Tuy nhiên, kim tự tháp ở Sudan lại được xây liền kề với đền thờ ngay kế bên. Bên trong kim tự tháp chứa nhà nguyện, phòng chôn với bức tường bao phủ bởi chữ tượng hình và phù điêu, miêu tả cuộc sống của người dân thời bây giờ. Ngoài ra, màu sắc của kim tự tháp ở Sudan cũng đậm hơn, rất đặc trưng bởi được làm từ đá kim sa, đá granite và hàm lượng sắt trong đá cao.

Kim tự tháp ở Sudan sẽ thường được xây dựng liền kề với nhà nguyện, đền thờ.
Kim tự tháp ở Sudan sẽ thường được xây dựng liền kề với nhà nguyện, đền thờ. (Ảnh: Public Domain)

Trải qua nhiều biến động, những kim tự tháp ở Sudan đa phần không còn được nguyên vẹn, trong tình trạng hư hỏng do sự xâm nhập và phá hủy của những kẻ trộm mộ và săn kho báu từ những năm 1800. Có những kim tự tháp giờ đây chỉ còn là gạch vụn.

Theo trang báo quốc tế, gần 40 kim tự tháp của Sudan đã bị nhà thám hiểm người Italy Giuseppe Ferlini (1797-1870) tàn phá bằng cách cho nổ tung để tìm kho báu và cổ vật những năm 1880. Trong số đó, có thể kể tới mộ của Amanishkheto, một nữ hoàng chiến binh Nubia. Đồ tạo tác, trang sức bằng vàng và bạc khai quật sẽ được người này bán lại cho bảo tàng châu Âu. Một số được Vua Louis I của Bavaria mua lại và hiện đặt trong Bảo tàng Ai Cập ở Berlin.

Ngoài ra, còn nhiều những bí ẩn về kim tự tháp ở Sudan. Liệu người Kushite có sử dụng phương pháp làm kim tự tháp của người Ai Cập? Mất bao lâu để xây kim tự tháp như vậy? Điều gì đã xảy ra với nền văn hóa người Kushite? Đây đều là những câu hỏi chưa có lời giải đáp.

Mặc dù ít nổi tiếng hơn so với nhóm các kim tự tháp ở Giza ở Ai Cập, khu phức hợp kim tự tháp ở Sudan rất đáng chú ý. Các kim tự tháp chủ yếu là lăng mộ của hoàng gia, đã được công nhận là Di sản Thế giới của UNESCO, nhưng không nhiều kim tự tháp mở cửa đón khách thăm quan.

Ánh Dương tổng hợp

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Phát hiện Thánh đường cổ, nơi được cho là Chúa Giê-su đã thực hiện một phép màu



Các nhà khảo cổ học tin rằng họ đã khai quật được một thánh đường cổ, địa điểm của một trong những phép lạ nổi tiếng nhất của Chúa Giê-su: chữa lành cho một người phụ nữ bị chảy máu trong suốt 12 năm. Theo Kinh thánh, người phụ nữ chỉ chạm vào áo choàng của Chúa Giê-su và đã được chữa khỏi bệnh một cách thần kỳ.

Theo New York Post, Đại học Haifa đã khai quật được một thánh đường cổ ở Cao nguyên Golan, Israel. Cụ thể hơn, đây là một nhà thờ nằm ở Banias, một khu vực được gọi là Caesaria của Philip vào thời Chúa Giêsu. Người ta tin rằng nhà thờ cổ này được xây dựng trên đỉnh một nơi linh thiêng của Hy Lạp và có niên đại ít nhất là năm 320 sau Công nguyên.

Di tích của thánh đường cổ Banias khi được phát hiện tại Vườn quốc gia Banias ở Israel. Việc phát hiện ra nhà thờ này tiếp nối với một phát hiện ấn tượng khác - nhà thờ này chính là nơi người ta tin rằng Chúa Giê-su đã nói với Peter để truyền bá đạo Cơ đốc.
Di tích của thánh đường cổ Banias khi được phát hiện tại Vườn quốc gia Banias ở Israel. Việc phát hiện ra nhà thờ này tiếp nối với một phát hiện ấn tượng khác - nhà thờ này chính là nơi người ta tin rằng Chúa Giê-su đã nói với Peter để truyền bá đạo Cơ đốc. (Ảnh: Cơ quan quản lý công viên và thiên nhiên)

Giáo sư Adi Erlich đã dẫn dắt nhóm các nhà khảo cổ học của bà để thực hiện cuộc khai quật và đã mang lại những tảng đá được chạm khắc hình thánh giá cũng như sàn gạch có hình thánh giá cực kỳ hấp dẫn. Erlich tin rằng những tảng đá này được những người hành hương tôn giáo vào khoảng năm 400 sau Công nguyên đặt vào nhà thờ, nhiều thế hệ sau khi địa điểm này được sử dụng như một thánh đường, để tưởng nhớ phép màu mà Chúa Giê-su đã thực hiện ở đó.

Theo Kinh thánh, Chúa Giê-su đang trên đường đến nhà của một người đàn ông để chữa bệnh cho đứa con gái ốm yếu của anh ta, thì người phụ nữ bị chảy máu đã đến gần Ngài. Khi người phụ nữ chạm vào chiếc áo choàng của Chúa Giê-su, “ngay lập tức máu của cô ấy ngừng chảy và cô ấy cảm thấy trong cơ thể mình được giải thoát khỏi sự đau khổ bao lâu nay”.

Các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy một bệ thờ với dòng chữ Hy Lạp từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Điều này xác định rõ ràng địa điểm này là nơi thờ cúng thần Pan trước khi có sự xuất hiện của Cơ đốc giáo.

Nhưng liệu cơ sở này có thực sự là nơi của phép màu được cho là đã xảy ra ở đây hay không vẫn chưa được khẳng định rõ ràng. Tuy nhiên, điều rõ ràng là việc khám phá ra di tích lịch sử này là một sự xoay chuyển kỳ diệu của chính số phận.

Theo The Times of Israel, nhóm của Erlich cũng tin rằng đây là nhà thờ lâu đời nhất ở Israel và được xây dựng để tưởng nhớ việc Chúa Giê-su tiết lộ mình chính là Đấng Messiah cho môn đồ Peter.

Địa điểm này được cho là đã được xây dựng trên đỉnh một nơi linh thiêng thời La Mã để thờ thần Pan của Hy Lạp từ thế kỷ thứ ba. Erlich nói thêm rằng những người xây dựng nhà thờ Cơ đốc giáo từ thế kỷ thứ tư và thứ năm có khả năng đã điều chỉnh thánh đường của người ngoại giáo La Mã thành một thánh đường phục vụ đức tin mới của Chúa Giê-su.

Sàn gạch hình chữ thập là nơi mà các chuyên gia tin rằng đánh dấu nơi Chúa Giê-su chữa lành cho người phụ nữ ốm yếu được mô tả trong Kinh thánh.
Sàn gạch hình chữ thập là nơi mà các chuyên gia tin rằng đánh dấu nơi Chúa Giê-su chữa lành cho người phụ nữ ốm yếu được mô tả trong Kinh thánh. (Ảnh: Cơ quan quản lý Công viên và Thiên nhiên Israel)

Erlich tin rằng thánh đường cổ này bắt đầu phục vụ các tín đồ Thiên chúa giáo vào năm 320 sau Công nguyên, và bà tin rằng nó chủ yếu được sử dụng như một thánh đường để tưởng nhớ mối quan hệ giữa Chúa Giê-su và đệ tử của ngài, Peter, ngoài phép lạ mà Ngài thực hiện đối với người phụ nữ bị chảy máu.

Có vẻ như bất kể nhà thờ cổ này có thực sự là nơi thực hiện một trong những phép lạ nổi tiếng nhất của Chúa Giê-su hay không, nó vẫn là một phần của bộ sưu tập lịch sử gồm những khám phá gần đây của các nhà khảo cổ học về lòng tin vào Chúa của những người theo Cơ đốc giáo.

Ánh Dương

Theo Timesofisrael/allthatinteresting

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ghi chú về 'Đại kim tự tháp' của nhà bác học Newton tiết lộ nghiên cứu của ông để dự đoán ngày tận thế


 Nhà bác học Isaac Newton là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất lịch sử, người đã thay đổi cách hiểu của chúng ta về sự vận động của vũ trụ. Tuy nhiên, ông cũng có một số ý tưởng khá độc đáo khác lúc sinh thời.

Các ghi chú chi tiết chưa được công bố do nhà vật lý nổi tiếng người Anh viết đã hé lộ bí mật về các kim tự tháp Ai Cập cổ đại.

Theo những nét vẽ nguệch ngoạc của Newton vào thế kỷ 17, chúng ta có thể thấy ông có niềm tin rằng các phép đo về cấu trúc có thể giúp ông dự đoán ngày tận thế.

Trong một cuộc đấu giá do hãng Sotheby's phát động, 3 trang ghi chú nguệch ngoạc của nhà bác học huyền thoại dự kiến sẽ đem về số tiền hàng trăm ngàn USD (tương đương hàng tỷ VNĐ).

Các ghi chú có niên đại từ những năm 1680. Trong đó, nhà bác học ghi lại những suy ngẫm của ông về Đại kim tự tháp Ai Cập, các đơn vị đo lường cổ đại và lời tiên tri trong Kinh thánh. Buổi đấu giá đã kết thúc vào thứ Ba (ngày 15/12).

Theo hãng đấu giá, những tờ ghi chú gần như bị tiêu hủy vĩnh viễn khi chúng bị thiêu rụi trong một vụ hỏa hoạn khi con chó của Newton, Diamond, nhảy lên bàn và hất đổ một ngọn nến.

Hãng đấu giá Sotheby's viết: “Các kim tự tháp ở Giza không chỉ là những tuyệt tác kiến trúc vĩ đại nhất còn tồn tại của thế giới cổ đại: Đối với Newton cũng như nhiều người khác, chúng là những chiếc chìa khóa có thể mở ra những bí mật sâu sắc”.

“Đại kim tự tháp có thể giúp ông thu thập sự hiểu biết về lời tiên tri trong Kinh thánh; nó có thể chỉ dẫn cho ông đến kiến thức về thời điểm của ngày tận thế”.

"Ông ấy cũng có thể đã hy vọng rằng nó có thể cung cấp bằng chứng cho Thuyết vạn vật hấp dẫn của mình."

Trong các ghi chú bị thiêu cháy, Newton, người đã nghiên cứu các kim tự tháp vào cuối thế kỷ 17 khi ở Woolsthorpe Manor ở Lincolnshire, tuyên bố rằng việc giải mã bí mật của chúng có thể giúp con người giải đáp những bí ẩn khác về thế giới.

Ông đang sốt sắng cố gắng tìm ra đơn vị đo lường được người Ai Cập cổ đại sử dụng khi xây dựng kỳ quan cuối cùng còn sót lại của thế giới.

Newton tin rằng người cổ đại biết cách đo Trái đất, và bằng cách tìm ra cách họ đã đo các kim tự tháp, ông sẽ có thể tính được chu vi hành tinh của chúng ta.

Ông hy vọng rằng điều này sẽ chỉ dẫn ông đến các phép đo cổ xưa khác, cho phép ông tính toán các kích thước của Đền thờ Solomon - bối cảnh của ngày tận thế.

Điều này được cho là sẽ giúp ông dự đoán được ngày tận thế.

Newton nổi tiếng với các lý thuyết về toán học và thiên văn học, nhưng ông cũng đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu mà ngày nay được xếp vào loại khoa học huyền bí.

Newton giữ bí mật các quan điểm về siêu nhiên vì sợ hủy hoại sự nghiệp danh tiếng của ông trong khoa học và triết học.

Ông Gabriel Heaton, chuyên gia về bản thảo của Sotheby’s, nói với Observer: “Đây thực sự là những ghi chú hấp dẫn bởi vì trong đó bạn có thể thấy Newton đang cố gắng tìm ra bí mật của các kim tự tháp”.

“Các trang giấy đưa bạn đến thẳng trung tâm của một số câu hỏi sâu sắc nhất mà Newton đang nghiên cứu”.

Ngài Isaac vẫn là một cái tên quen thuộc gần 300 năm kể từ khi ông qua đời nhờ những ý tưởng khoa học đột phá của ông.

Các lý thuyết của ông về lực hấp dẫn và chuyển động đã thay đổi hiểu biết của chúng ta về vũ trụ bằng cách giải thích chuyển động của các vật thể trong các điều kiện hàng ngày.

Trong suốt sự nghiệp khoa học kéo dài hàng thập kỷ của mình, nhà vật lý này được cho là đã viết nhiều đến mức có thể lấp đầy 150 cuốn sách dài tiểu thuyết.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nikola Tesla: Kim tự tháp là các trạm phát năng lượng cực mạnh



Nikola Tesla đã trăn trở rất nhiều về hình dáng, vị trí của các Kim tự tháp Ai Cập cổ đại và lấy đó làm cơ sở cho một số nghiên cứu và phát minh đáng kinh ngạc của ông. Ông cũng cho biết cảm giác không thể quên được khi ông là người đầu tiên tiếp nhận được các tín hiệu chào hỏi từ hành tinh khác.

Nikola Tesla có thể được cả thế giới coi là một nhà khoa học điên khùng, nhưng những phát minh của ông đã thực sự làm thay đổi thế giới và đặt nền móng cho những tiến bộ công nghệ không thể tưởng tượng được.

Nikola Tesla: Kim tự tháp là các trạm phát năng lượng cực mạnh

Bên cạnh những bằng sáng chế và phát minh hiển nhiên mà chúng ta đã từng nghe đến như công nghệ đài phát thanh, động cơ, điện, và đặc biệt là công nghệ dòng điện xoay chiều đang cung cấp năng lượng cho hầu hết thế giới ngày nay, Tesla còn có nhiều sở thích khác khiến mỗi chúng ta đều ngạc nhiên.

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của ông là về các kim tự tháp Ai Cập. Giống như nhiều người khác, ông ấy tin rằng những công trình kiến trúc cổ đại này tất nhiên có mục đích cao cả hơn nhiều khi mà mọi người hiện nay cho rằng đó chỉ là nơi để ướp xác của các Pharaoh Ai Cập.

Lý thuyết của ông là các kim tự tháp Ai Cập có thể là các trạm phát năng lượng cực mạnh và điều này trùng hợp với một số ý tưởng và dự án khác của ông về truyền năng lượng.

Khi đưa ra ý kiến của mình về các kim tự tháp, ông cho rằng vị trí của chúng có liên quan nhiều đến sức mạnh của chúng. Do đó, Tesla đã chọn các địa điểm cho các thí nghiệm của mình tương tự như với nơi mà các kim tự tháp đã được xây dựng. Đó là Trạm thí nghiệm Colorado Springs của ông và Tháp Wardencliff của ông ấy gần New York. Những kế hoạch của ông đã được xây dựng đặc biệt để thử nghiệm các khả năng truyền năng lượng không dây.

Tháp Wardenclyffe do Nikola Tesla xây dựng cao hơn 56m ở Shoreham, Long Island, New York. Ngoài việc có thể truyền tin nhắn qua Đại Tây Dương, ông đã hình dung tòa tháp là một cơ sở viễn thông không dây và cũng có thể cung cấp năng lượng thắp sáng toàn bộ Thành phố New York.
Tháp Wardenclyffe do Nikola Tesla xây dựng cao hơn 56m ở Shoreham, Long Island, New York. Ngoài việc có thể truyền tin nhắn qua Đại Tây Dương, ông đã hình dung tòa tháp là một cơ sở viễn thông không dây và cũng có thể cung cấp năng lượng thắp sáng toàn bộ Thành phố New York. (Ảnh: Getty)

Chưa kể đến sở thích rõ ràng của ông ấy đối với môn số học. Rất nhiều câu chuyện đã được kể và viết về nỗi ám ảnh của ông ấy với ba con số cụ thể - 3,6,9. Theo Nikola Tesla, ba con số này là chìa khóa cho mọi kiến thức trong vũ trụ.

Tương tự như vậy, nhiều người đã gợi ý và đưa ra giả thuyết rằng Tesla đã từng trăn trở rất nhiều về một mối quan tâm khác của ông đối với hình dạng của các kim tự tháp và một ngôn ngữ toán học phổ thông. Chúng ta thực sự biết rất ít về cấu tạo chính xác của các kim tự tháp, mục đích thực sự của chúng và liệu chúng có thực sự là một nguồn năng lượng mạnh mẽ hay không.

Nikola Tesla: Người ngoài hành tinh đã liên lạc với tôi

Đánh giá các giả thuyết như vậy, người ta dễ dàng rơi vào các giả thuyết khác nhau về người ngoài hành tinh cổ đại. Tesla tuyên bố rằng người ngoài hành tinh đã liên lạc với ông vào mùa hè năm 1899, khi Nikola Tesla, ngồi một mình trong phòng thí nghiệm của mình ở Colorado Springs, đang ghi lại những tín hiệu nhịp điệu bất thường.

Sau đó, ông mô tả chúng giống như những con số. Sau khi ghi lại các tín hiệu vô tuyến từ không gian, Tesla tin rằng ông đã nhận được những nỗ lực kết nối từ Sao Kim hoặc Sao Hỏa.

“Tôi đã ghi lại những tín hiệu điện mà dường như không thể giải thích được. Chúng yếu ớt và gần như vô hình, nhưng các tín hiệu đó đảm bảo sâu sắc với tôi rằng chẳng bao lâu nữa tất cả mọi người trên thế giới sẽ nhìn lên bầu trời. Tin tốt là cuối cùng chúng ta đã nhận được một thông điệp từ một thế giới khác ”.

Đó chính là những gì mà Tesla cho chúng ta biết. Trong bài báo của mình, Tesla đã mô tả vấn đề của liên lạc không dây ở khoảng cách xa. Vào thời gian đó, khi cho rằng ánh sáng có thể mang thông tin liên lạc là hoàn toàn không thực tế, và bản thân Tesla cũng nhận ra rằng năng lượng được yêu cầu mạnh hơn nhiều so với năng lượng thích hợp cho nhân loại.

Mặt khác, liên lạc vô tuyến đòi hỏi ít năng lượng hơn và do đó dễ thiết lập hơn nhiều trong thực tế. Và trong khi Tesla đang nghiên cứu về các thiết bị có thể gửi tín hiệu vô tuyến mạnh mẽ đến các nước láng giềng trên hành tinh của chúng ta, thì ông cũng đồng thời làm việc trên các thiết bị có thể ghi lại các tín hiệu đến với chúng ta, cũng như nghiên cứu khả năng kim tự tháp có thể là nguồn và trạm phát năng lượng cực mạnh.

“Tôi sẽ không bao giờ quên được cảm giác đầu tiên khi nhận ra rằng mình đang quan sát một thứ vô cùng quan trọng đối với nhân loại. Cảm giác mình là người đầu tiên tiếp nhận được những lời chào hỏi từ hành tinh khác không ngừng lớn lên trong tôi ”, ông nói.

Chỉ một năm sau, Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ hỏi ông rằng thành tựu vĩ đại nhất của nhân loại sẽ là gì trong thế kỷ tới. Thế kỷ 21 này đã thực sự mang đến cho chúng ta những bất ngờ về rất nhiều các loại công nghệ không dây, vật lý lượng tử, nanô hay các tín hiệu từ vũ trụ.

Con người chúng ta không hề đơn độc trong vũ trụ, chỉ có điều là làm sao để có thể kết nối với các không gian khác. Như nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chia sẻ, thế kỷ 21 là thế kỷ tâm linh, hy vọng rằng con người sẽ có những khám phá về con đường mới tiếp cận vũ trụ trong tương lai gần.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Có thể du hành thời gian nếu di chuyển vượt qua tốc độ ánh sáng?

 


Những ẩn đố về khả năng du hành, không chỉ vào không gian mà còn vào quá khứ hoặc tương lai, sẽ mở ra vô số điều thú vị cho nhân loại, truyền cảm hứng cho vô số cuốn sách và bộ phim viễn tưởng.

Trong bộ phim Siêu nhân năm 1978, nhân vật trong phim đã quay ngược thời gian bằng cách bay vòng quanh địa cầu nhanh hơn tốc độ ánh sáng.

Về mặt lý thuyết, liệu có thể du hành thời gian không?

Cho đến nay, chúng ta thậm chí còn chưa tiến gần đến tốc độ ánh sáng, vật thể nhân tạo nhanh nhất, một tàu thăm dò không gian, di chuyển với tốc độ chỉ 150 km/giây.

Với những tiến bộ công nghệ hiện đại, về mặt lý thuyết, liệu chúng ta có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng? Và giống như siêu nhân, chúng ta có thể du hành vào quá khứ hay tương lai hay không?

Chúng tôi đã hỏi 6 chuyên gia về vật lý thiên văn, thiên văn học và vật lý, “Có thể du hành thời gian bằng cách đi nhanh hơn tốc độ ánh sáng không?”, dưới đây là những gì chúng tôi nhận được…

Chúng ta có trải nghiệm thời gian khác nhau khi di chuyển không?

Thuyết tương đối của Einstein xác định rằng thời gian không phải là phổ quát - nó là tương đối. Thí nghiệm Hafele-Keating năm 1971 phát hiện ra rằng một chiếc đồng hồ đang bay trên một chiếc máy bay sẽ chạy với tốc độ chậm hơn những chiếc đồng hồ trên mặt đất.

Chiếc đồng hồ đang bay trên một chiếc máy bay sẽ chạy với tốc độ chậm hơn những chiếc đồng hồ trên mặt đất. (Ảnh minh họa: Mikegi/Pixabay)
Chiếc đồng hồ đang bay trên một chiếc máy bay sẽ chạy với tốc độ chậm hơn những chiếc đồng hồ trên mặt đất. (Ảnh minh họa: Mikegi/Pixabay)

Gần đây hơn, đồng hồ nguyên tử chính xác đã được phát hiện chạy ở các tốc độ khác nhau khi một chiếc được di chuyển so với chiếc còn lại. Hiện tượng này được gọi là 'sự giãn nở thời gian'.

Tiến sĩ Sean Matt, một chuyên gia về thiên văn học và vật lý thiên văn từ Đại học Exeter ở Anh, cho biết: "Nếu một người di chuyển gần với tốc độ ánh sáng, thời gian sẽ hoạt động khác với chúng ta thường làm. Theo cách này, người ta có thể tiến lên ở trong thời gian nhanh hơn so với thời gian bị bỏ lại. Vì vậy, về mặt lý thuyết là có thể du hành tới tương lai, nhưng một người không thể quay trở lại".

Có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng không?

Tất cả các chuyên gia đều đồng ý rằng không thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng, điều này cũng được quy định trong lý thuyết của Einstein.

Tiến sĩ Eric Tittley, một chuyên gia về thiên văn và vật lý thiên văn từ Đại học Edinburgh (Anh), giải thích: "Không có vật thể hoặc thông tin nào có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Vấn đề không phải là không có đủ năng lượng để đẩy nó đi nhanh như vậy. Từ góc độ bên ngoài, bất kỳ năng lượng bổ sung nào được thêm vào một cơ thể để đưa nó đến và vượt qua tốc độ ánh sáng chỉ tăng tốc nó một cách tiệm cận với tốc độ ánh sáng".

“Tiệm cận” có nghĩa là một cái gì đó ngày càng tiến gần hơn với tốc độ ánh sáng, nhưng không bao giờ hoàn toàn đạt tới nó.

Không một vật thể nào có thể di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng bởi vì khi vật thể di chuyển nhanh hơn, chúng sẽ nặng hơn. Ánh sáng có thể truyền với tốc độ ánh sáng bởi vì nó không có khối lượng.

Du hành với tốc độ có thể thay đổi trải nghiệm của bạn về thời gian, nhưng du hành thời gian bằng cách di chuyển nhanh hơn tốc độ ánh sáng thì thật đáng buồn là không thể.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS