Container Icon

Xá Lợi Phật là gì? Vì sao thiêu nghìn độ không cháy?

 


Rất nhiều người trên thế giới đã từng được chiêm ngưỡng những viên xá lợi tại một số ngôi chùa.  Các hạt Xá Lợi được biết đến là những hạt tinh thể với đủ màu sắc long lanh, phát ra ánh sáng như ngọc, rắn như kim cương, dùng búa đập không vỡ, và thiêu dưới lửa ngàn độ cũng không cháy. Những hạt tinh thể này là những gì còn sót lại trong đống tro tàn sau khi hỏa thiêu một nhà tu hành nào đó.

Xá Lợi có nghĩa là gì?

Xá lợi là từ ngữ phiên âm tiếng Phạn “Sarira” có nghĩa đen là những hạt cứng. Theo ghi chép trong lịch sử Phật giáo khi Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni viên tịch, các tín đồ đã đem xác của Ngài đi hỏa táng, sau khi lửa tàn, họ phát hiện thấy trong thành phần tro còn lại có lẫn rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau cứng như thép. Hơn nữa chúng còn lóng lánh và tỏa ra những tia sáng giống như những viên ngọc. Họ đếm được cả thảy 84.000 viên đứng đựng đầy trong 8 học và 4 đấu nó được đặt tên là Xá Lợi. 

(Ảnh cắt từ video RadioSongđep)

Đây được coi là một bảo vật đặc biệt quý hiếm của Phật giáo về sau này. Trong lịch sử đã có rất nhiều cao tăng là người tu luyện có thành tựu lớn sau khi viên tịch đều để lại Xá lợi .Vào tháng 12 năm 1990, cao tăng Singapore là Hồng Tuyền Pháp Sư đã viên tịch, mọi người tìm được chồng tro cốt của ông có 480 viên Xá Lợi lóng lánh như pha lê, có viên sáng rực lấp lánh như kim cương.

(Ảnh cắt từ video RadioSongđep)

Một trường hợp khác có viên Xá Lợi to như quả trứng vịt là của Pháp Sư Khoan Năng, chủ trì Tây Sơn Tây, tại Thạch am ở huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ông viên tịch vào ngày 27 tháng 09 năm 1989, thọ 93 tuổi.  Sau khi hỏa thiêu người ta tìm thấy trong đống tro tàn có 3 viên Xá Lợi màu xanh lục, đường kính của mỗi viên nên tới 3 đến 4cm .

Những viên ngọc lục bảo Kumārajīva là của cao tăng quốc sư Thời Hậu Tần, Ông là nhà phiên dịch kinh Phật lớn sánh ngang với với Đường Huyền trang. Trước khi viên tịch ông tuyên thệ với mọi người rằng: “Nếu kinh thư do ta phiên dịch không có sai lầm, thế thì sau khi thân thể ta hỏa thiêu cái lưỡi sẽ không bị thiêu cháy”.

Sau đó không lâu Kumārajīva viện tịch, khi hỏa thiêu quả nhiên thi thể của ông đều cháy hết chỉ có chiếc lưỡi còn nguyên vẹn không bị hư tổn. Hiện nay Xá Lợi của Kumārajīva đang được thờ phụng ở tháp Tháp Cưu Ma La Thập thuộc Thành phố Vũ Uy , tỉnh Cam Túc.

Xá Lợi ngũ sắc tại sao nung nóng hàng ngàn độ mà vẫn không bị cháy?

  • Có chuyên gia nói đó là sỏi sau khi hỏa thiêu sẽ biến thành Xá Lợi

 Nói như vậy cũng không thuyết phục vì nếu đó là sỏi thì nhiều người khác cũng không có, tại sao sau khi hỏa thiêu những người này lại không có xá lợi. Ngoài ra nếu một người khi còn sống mà trong thân thể có nhiều sỏi như thế này thì người đó không thể sống được. Trong khi đó những cao tăng có Xá lợi đại đa số là những người già thân thể khỏe mạnh, tại sao chụp X quang siêu âm lại không tìm thấy bất kỳ dị vật cứng nào?. 

  •  Có người nói Xá lợi là do nguyên nhân ăn chay trong thời gian dài

Ở trên thế giới có hàng trăm ngàn người đã ăn chay, tại sao khi hỏa thiêu cũng không có xá lợi mà chỉ là có ở các cao tăng. Hơn nữa ở Tây Tạng do môi trường Cao Nguyên khắc nghiệt các tăng nhân vì để sinh tồn nên cũng ăn thịt nhưng trong các tăng nhân Tây Tạng số người sau khi thiêu có xá lợi còn nhiều hơn các tăng nhân vốn chị ăn chay. Điều này chứng minh rằng ăn chay và Xá Lợi không có quan hệ tất yếu nào có một cách giải thích về sự hình thành của Xá Lợi.

  • Khoa học giải thích sự hình thành các hạt Xá Lợi

Tiến sĩ Max Planck, người nhận giải Nobel vật lý năm 1918, có kết luận: “không có bất cứ vật chất nào tồn tại trên thế giới, và vật chất được cấu tạo từ các lượng tử rung động liên tục”. Ở một khía cạnh khác, ta cũng có thể nói rằng năng lượng và vật chất là một và chúng có thể hoán chuyển cho nhau.

Trong cuốn sách “Những bàn tay ánh sáng”, Tiến sĩ Barbara Ann Brenna cho rằng: “Vật chất chỉ đơn giản là năng lượng chuyển động chậm lại hoặc kết tinh lại. Thân thể con người là năng lượng”.

Ở đây có thể đưa ra một ví dụ ấy là con người có thể hấp thụ năng lượng từ vũ trụ, những ai có thể làm được việc này chính là những vị tăng, những người tu hành chân chính tu luyện thực sự phải là trở về với bản tính chân thật, đồng hóa với đặc tính của vũ trụ. Khi đó năng lượng của vũ trụ có thể kết tinh trong cơ thể của người tu luyện.  Khi năng lượng tích tụ nhiều rồi thì nó có thể thay thế tế bào của cơ thể và biến nó thành vật chất cao năng lượng và vật chất cao năng lượng này chính là Xá Lợi.

Chúng ta có thể xem đây là một cách giải thích về sự hình thành của Xá Lợi. Mặc dù khoa học đã đạt được rất nhiều thành tựu tuy nhiên có rất nhiều điều bí ẩn trong vũ trụ và ngay trên thân thể người mà các chuyên gia chưa thể giải thích được.

Nếu chiểu theo quan niệm hiện đại, những gì liên quan đến tâm linh và tu hành thì còn huyền bí hơn nữa. Nhưng xác thực là chúng hiện hữu và đã được ghi chép trong nhiều sử sách.

Có lẽ chỉ khi chúng ta thay đổi nhận thức thì mới có thể tìm được phương pháp tiếp cận và cảm nhận một cách đúng đắn về phương diện này.

Quá trình nghiên cứu các hạt Xá Lợi của các nhà khoa học

Năm 1966, khi tiến hành sửa chữa Tháp Mộc, chùa Phật Cung, huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc (xây dựng vào năm 1056), người ta bất ngờ phát hiện ra hai chiếc răng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được giấu kín trong 1 bức tượng tại tầng thứ 4 của tháp. Trên 2 xá lợi răng này có đính rất nhiều hạt xá lợi nhỏ cỡ hạt gạo, tròn, màu đỏ sẫm.

Vài chục năm trở lại đây giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng huyền bí được nhà Phật nói đến trong kinh điển. Khi các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu hiện tượng lưu lại các hạt Xá Lợi của các tu sĩ Phật giáo, họ đã gặp phải không ít khó khăn trở ngại.

Tiến sĩ Hoa kỳ Cao Bân cùng một số chuyên gia khác đã một trong hai chiếc răng này. Họ đưa ra kết luận rằng vật chất được tìm trong xá lợi răng có một số tính chất đặc biệt. Bề mặt của nó rất cứng, kết cấu vô cùng chắc chắn và không bị hư hại khi nén dưới áp lực cực đại.

Tiến sĩ Cao Bân cho biết các viên xá lợi này dường như không phải là vật chất đến từ Trái Đất này, nó có đặc tính giống loại kim cương Lonsdale được tìm thấy trong một thiên thể vũ trụ rơi vào Trái Đất; và giá trị mỗi viên lên đến 25 triệu USD.

Bà cho biết, khi lần đầu tiên tham quan xá lợi tại chùa ở Minneapolis Hoa Kỳ, cảm nhận về năng lượng của các viên xá lợi cực kì mạnh mẽ, mặc dù bà không phải là một tín đồ Phật giáo.

Bà nói rằng: “ Khi vào ngôi chùa tôi lập tức cảm thấy một trạng thái nhận thức mãnh liệt, cảm giác như thực sự chính Đức Phật đang ở đó. Cảm giác này không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. Đó là một cảm giác rộng lớn và sâu thẳm, cảm giác yên bình trong tim một cách kỳ lạ. Sự tĩnh lặng này dường như là vô hạn và tôi cảm thấy lúc đó không gian và thời gian như đồng tại và tôi cảm nhận được nguồn năng lượng này toả ra từ các viên xá lợi này”. Bà cũng nói rằng chưa bao giờ trải qua cảm giác như vậy ở ngoài đời thường.

Các nhà khảo cổ học cho thấy những ghi chép về những viên Xá lợi là đúng sự thật như ghi chép. Một nhà khảo cổ học người Pháp, ông W.C Peppé, khi tiến hành khảo cổ tại vùng Piprava, phía Nam Népal, đã tìm thấy những viên xá lợi đựng trong một chiếc hộp bằng đá.

Trên hộp có khắc dòng chữ văn tự Brahmi và người ta đã dịch ra được nội dung của nó là “Xá lợi này là một phần của Đức Phật, do bộ tộc Sakya nước Savatthi thờ phụng”. Khám phá này đã chứng minh những gì được ghi lại trong Kinh Trường A Hàm và rải rác ở những sách kinh điển khác có viết về việc phân chia Xá Lợi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại sau khi Đức Phật nhập niết bàn là có thật.

 Điều kỳ lạ là trải qua hơn 25 thế kỷ,  Xá Lợi của Đức Phật vẫn còn nguyên vẹn lấp lánh màu sắc.

Một phần của bộ sưu tập 10.000 xá lợi tại chùa Lư Sơn, Rosemead, California, Hoa Kỳ (
Một phần của bộ sưu tập 10.000 xá lợi tại chùa Lư Sơn, Rosemead, California, Hoa Kỳ (Ảnh qua mahastupa.org)

Hiện tượng nhục thân bất hoại ở Việt Nam

Dưới đây là ảnh chụp nhục thân không bị mục rữa của Vũ Khắc Minh, tăng nhân Việt Nam sống vào thế kỷ 17. Ảnh do AFP chụp vào ngày 15/6/2001 tại tỉnh Hà Tây ở miền Bắc Việt Nam. Vị tăng nhân vẫn giữ nguyên tư thế xếp bằng đả tọa của người tu hành, biểu thị rõ ông đã viên tịch khi ngồi tọa thiền.

Vị tăng nhân vẫn giữ nguyên tư thế xếp bằng đả tọa của người tu hành, biểu thị rõ ông đã viên tịch khi ngồi tọa thiền.
Vị tăng nhân vẫn giữ nguyên tư thế xếp bằng đả tọa của người tu hành, biểu thị rõ ông đã viên tịch khi ngồi tọa thiền.

Theo Chanhkien.net: “Các nhà khoa học Việt Nam nói nhục thân không bị mục rữa của Vũ Khắc Minh so với những xác ướp ở các nơi trên thế giới là có khác biệt rất lớn. Đó là bởi vì nội tạng của ông vẫn được bảo tồn một cách hoàn hảo, với tim, não và gan đều còn nguyên vẹn. Từ góc độ khoa học, không thể không nói đây là một kỳ tích. Đồng thời cũng thuyết minh thân thể không bị mục rữa của Vũ Khắc Minh là có khác biệt căn bản với những xác ướp thông thường. Xác ướp là người ta tiến hành xử lý thi thể nên mới bảo trì được. Còn rất nhiều cao tăng (bao gồm nhục thân không bị mục nát của rất nhiều cao tăng Trung Quốc thời cổ đại) lại là do tự thân tu hành nên mới đạt được.

Ngoài ra ,nhiều người có thể đã nghe qua các câu chuyện về thân thể bất hoại trong giới tu luyện ở Trung Quốc. Chẳng hạn như, có thân thể trần thế của một vị thần tại núi Cửu Hoa, thân thể của Từ Minh hòa thượng tại chùa Địa Tạng, và nhiều trường hợp khác nữa. Tuy vậy, hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Trung Quốc; nó cũng tồn tại trong thế giới phương Tây.

Vị Thánh Thiên Chúa giáo Bernadette Brown từ trần năm 1879. Vào năm 1909, thi hài của bà được đào lên để chôn cất lại tại nơi khác. Hai bác sĩ đã chứng kiến cảnh khai quật. Họ nhìn thấy thi hài vẫn còn trong trạng thái rất tốt. Nhờ vào chiếc quan tài bảo quản rất tốt mà một nữ tu đã chứng kiến bằng chứng về việc chôn cất 30 năm trước.

Vào tháng 3 năm 2001, thi hài của đức Giáo hoàng John XXIII đã được đào lên vì đức Giáo hoàng tại vị đã quyết định rằng vị Giáo hoàng tiền nhiệm của ông cần một nơi an nghỉ mới để có đủ chỗ cho rất đông người tới viếng mộ của ngài tại khu hầm mộ của Nhà thờ Thánh Peter (St. Peter’s Basilica) ở Rome. Thật đáng kinh ngạc là, mặc dù đức Giáo hoàng John XXIII đã qua đời từ 37 năm về trước, thân thể của ngài vẫn còn trong tình trạng rất tốt.

Đã có nhiều ví dụ trong lịch sử về việc thi thể được đào lên rồi đem chôn lại. Người ta không thể phủ định việc các tài liệu xác nhận rằng có nhiều thân thể bất hoại. Có nhiều ghi chép về những người đã được phong thánh vào thời Trung cổ tại Anh, thi hài của họ không bị mục nát bất chấp nhiệt độ và sự ẩm ướt, trong đó bao gồm Thánh Cuthbert, Werburgh, Waltheof, và Guthlac”.

Sự tồn tại của các hạt Xá lợi Phật không chỉ biểu đạt cho Đức Hạnh lòng từ bi và Trí Huệ vĩ đại của các bậc Giác Ngộ mà đó còn là minh chứng về những Thần tích của Phật Pháp đối với xã hội hiện đại.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Vết bớt bẩm sinh có thể là “ấn ký” nào đó của kiếp trước?

 


Chắc hẳn trong chúng ta đã từng hỏi tại sao lại có một vết trên cơ thể lúc sinh ra mà người ta gọi là bớt bẩm sinh. Tuy nhiên không phải ai cũng có vết bớt đặc biệt này, có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân hình thành của nó nhưng từ góc độ của những người tu luyện, thì vết bớt này quả thật là hình thành do một ấn ký của tiền kiếp.

Vết bớt là gì?

Vết bớt giống như một vệt màu hồng, màu đỏ hay xanh nhạt có thể phẳng hay gồ ghề, nằm ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể.

Theo thống kê có khoảng hơn 10% các em bé sơ sinh có vết bớt này và chúng có thể xuất hiện trong vài tuần đầu tiên sau khi sinh.

Hầu hết các vết bớt này không di truyền, cũng như không phải do ảnh hưởng nào trong quá trình mang thai gây ra. Cho tới nay, nguyên nhân chính xác tại sao lại xuất hiện vết bớt vẫn chưa được biết rõ. 

Câu chuyện có thật được ghi chép trong  “Thái Bình Quảng Ký” .

Gia đình Trương Khắc Cần có truyền thống tín Thần, mấy đời đều phụng Thần Hoa Nhạc. Mỗi khi gặp khó khăn họ thường cầu xin Thần linh giúp đỡ và kết quả đều rất linh nghiệm. Trương Khắc Cần thi đỗ Minh Kinh sau đó lấy một người thiếp. Tuy rằng ông rất yêu thương người vợ nhưng họ lại không có con. Do đó mẹ của ông đã cầu nguyện Thần linh và quả nhiên sau này người thiếp đã hạ sinh một bé trai đặt tên là Tối Lân.

Ông Trương đỗ tiến sĩ một thời gian ngắn sau đó thì cưới thêm một người vợ nhưng nhiều năm trôi qua mà vẫn không có tin vui. Lần này mẹ của ông lại đi cầu xin Thần linh ban cho con cái, và kết quả cũng được như mong đợi. 

Tuy nhiên từ đó về sau, Tối Lân lại trở nên yếu đi, không còn khoẻ mạnh như trước. Một đêm nọ, bà mẹ của ông nằm mơ thấy một người đeo Kim Ấn nói với bà: “Mệnh con trai của ngươi hiếm có con, đứa con đầu là ta đưa đến. Bây giờ lại sinh đứa thứ hai, vậy thì đứa đầu nhất định sẽ không được bảo toàn, đây không phải là việc mà năng lực của ta có thể cứu được.” Nói xong ông cảm ơn đồ cúng của họ, sau đó rời đi.

Không lâu sau đó, Tối Lân bị chết non. Trước khi chôn cất người nhà bôi chu sa trên cánh tay phải và bôi màu đen trên lông mày.

Nhiều năm qua đi, ông Trương nhận chức huyện lệnh ở Lợi Châu, sau khi mãn nhiệm ông vẫn ở lại đó. Một lần khi ông ghé thăm nhà của phó huyện thì gặp một cô bé. Ông nhìn cô bé thấy rất  giống với Tối Lân bèn đem chuyện này kể cho mẫu thân. Mẫu thân ông sai người đưa cô bé đến để gặp một chút, cô bé cũng vui vẻ đồng ý đến gặp, và còn nói với người làm trong nhà: “Nơi đó cũng là nhà của tôi”. Đến khi cô bé đến, bà quan sát cánh tay và chân mày của cô bé thì thấy dấu tích vẫn còn, sau đó phái người đưa cô bé về nhưng cô lưu luyến không muốn rời đi.

Vết bớt kỳ thực là một ký hiệu để kiếp sau một số người thuận tiện tìm đến người này.( Ảnh minh hoạ: Pixabay)

Vết chàm chính là ấn ký của kiếp trước

Luân hồi chuyển thế là chủ đề đã không còn xa lạ, có rất nhiều câu chuyện ví dụ về mối quan hệ giữa vết bớt và kiếp trước.

Sau khi con trai Trương Khắc Cần mất, người nhà lưu luyến khôn nguôi nên làm ấn ký, quả đúng là sau khi chết rồi chuyển sinh thật sự có mang theo ấn ký. 

Còn có một câu chuyện có thật khác ở Ấn Độ được đăng trên tạp chí India Today. Câu chuyện kể về một cậu bé tên là Titu, được sinh ra trước sự ngạc nhiên của mọi người vì vết bớt trên thái dương giống hệt một vết sẹo do chấn thương gây ra. Sau này cậu bé thường nói với cha mẹ rằng cậu là một người đàn ông sống ở Agra và chết do bị cướp bắn vào đầu.

Mẹ của cậu bé Titu quá tò mò nên đã đưa cậu bé tới Agra để tìm hiểu. Thật kinh ngạc là cậu bé rất thành thục với con đường tìm đến nhà của một người đàn ông đã chết cách đây vài năm vì bị cướp tấn công, Titu còn có thể gọi tên vanh vách những người trong nhà và kể kỉ niệm mà chỉ người trong gia đình kia mới biết.

Ảnh minh hoạ: (Pixabay)

Nhà tâm thần học nổi tiếng người Pháp - Giáo sư Ian Stevenson đã nghiên cứu 10.623 trường hợp về hiện tượng đầu thai, luân hồi và ông nhận thấy rằng: Những người có thể đưa ra bằng chứng về sự tồn tại của mình ở tiền kiếp thường có những vết bớt rất rõ ràng liên quan đến một vài sự kiện trong kiếp trước của họ. 

Vết bớt kỳ thực là một ký hiệu để kiếp sau một số người thuận tiện tìm đến người này. Nó được sử dụng nhiều hơn trong giới tu luyện.

Trong giới tu luyện người ta cho rằng ấn ký còn có mục đích khác. Nếu một người không thể viên mãn trong kiếp tu hành đó thì khi chuyển sinh Sư Phụ của người này sẽ cấp cho họ một ấn ký để kiếp sau có thể tìm thấy đệ tử dễ dàng.

Tuy nhiên một số người bình thường cũng có thể làm được việc này. Khi chúng ta nhìn vào vết bớt của mình thì có thể liên tưởng đến những thứ của kiếp trước.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Thể tùng quả - Con mắt thứ 3 bên trong não bộ

 


Hàng ngàn năm qua, người ta đã công nhận tuyến tùng là một bộ phận cơ thể người có thể kết nối với các cảnh giới thâm sâu, như là một cánh cửa tiến nhập vào không gian khác. Trong khi khái niệm này phai mờ theo thời gian thì khoa học đã bắt đầu tập trung nỗ lực vào việc tìm hiểu các chức năng tiềm ẩn của “con mắt ẩn” này.

Thời trẻ, tôi và cha thường hay bàn luận về những chủ đề khoa học và những điều huyền bí. Một trong những chủ đề thú vị nhất mà tôi có thể nhớ là hiện tượng trải nghiệm cận tử, trong đó các bệnh nhân mà có biểu hiện chết lâm sàng thuật lại về những cuộc du ngoạn tạm thời ở bên ngoài cơ thể vật lý của họ. Cha tôi thường nhấn mạnh: trong nhiều năm học tại trường y, ông đã học được rằng, con người có thể quan sát những cảnh tượng từ bên ngoài cơ thể bằng các cơ quan vượt ra khỏi đôi mắt vật lý.

Hai mươi năm sau, khi tôi cũng ở trong hành lang của trường đại học đó, một giáo sư giải phẫu đã tiết lộ một sự thật mà cha tôi đã không giải thích được trong các cuộc nói chuyện của chúng tôi. Ông nói về một bí mật được che giấu trong một mạng lưới các tế bào rất nhỏ và không dễ nhìn thấy, nhưng vẫn có thể kiểm soát các quá trình trao đổi chất quan trọng. Đó là con mắt thứ ba.

Con mắt thứ ba

Hãy tưởng tượng một cơ quan thị giác có thể nhìn vào không gian bên ngoài thế giới vật lý của chúng ta. Sinh vật lạ nào sở hữu khả năng kỳ lạ như vậy? Con người. Đó là do thể tùng quả nằm ở trung tâm của đầu não người, nó không chỉ có khả năng cảm nhận ánh sáng bên ngoài giống như cặp mắt thường của chúng ta, mà cấu trúc thực tế của nó cũng tương tự như cặp mắt thường nhưng ở trạng thái nguyên thủy hơn.

Tuyến tùng thực hiện một loạt các chức năng quan trọng của cơ thể, như phát triển giới tính, trao đổi chất và sản xuất melatonin. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã tìm thấy các đặc trưng của tuyến tùng thông qua một giải thích đơn giản. Do cấu trúc độc đáo của cơ quan này, các nhà khoa học đã kết luận rằng nó phải từng phục vụ một số chức năng hiện đang tiềm ẩn. Y học hiện đại đã tiết lộ rằng tuyến ẩn sâu trong trung tâm não này chứa các tế bào cảm quang. Tuy nhiên, ý kiến được đồng thuận nhiều nhất là các tính năng này chỉ mô tả các khả năng tiềm ẩn từ thời kỳ đầu trong quá trình tiến hóa của chúng ta.

Theo sự hiểu biết của khoa học tiến hóa về tuyến tùng thì cơ quan này từng tồn tại như một hệ thống các sợi thần kinh bị rối loạn nằm bên ngoài bề mặt của hộp sọ. Nó chuyên nắm bắt những thay đổi ánh sáng, cung cấp cho chúng ta nhiều khả năng trốn thoát hơn trong trường hợp bị kẻ săn mồi tấn công. Sự nhận thức này cho thấy tuyến tùng thực hiện các chức năng tương tự như cặp mắt thường, sự khác biệt duy nhất là sự thoái hóa của nó rút vào trong sọ não.

Một giả thuyết gần đây được đề xuất bởi David Klein, người đứng đầu Khoa thần kinh học tại Viện Sức khỏe và Phát triển Con người Quốc gia (NICHD), cho thấy võng mạc nguyên thủy đã thực hiện chức năng kép của cả việc chụp ảnh và sản xuất melatonin. Ông tin rằng theo thời gian chức năng thứ hai này đã chuyển sang tuyến tùng, một cơ quan được giải phóng, trong khi sự thoái hóa của võng mạc như một sản phẩm của melatonin ở động vật có vú mà vẫn không có lời giải thích mạch lạc.

Mặc dù ngày nay, tuyến tùng được công nhận là tốt cho việc tiết ra các chất nội sinh, nhưng chắc chắn rằng nó vẫn chứa một khả năng cảm quang quan trọng, một cơ chế hoàn chỉnh được công nhận về mặt khoa học.

Đáng ngạc nhiên, nếu cả hai mắt bị loại bỏ và đường giải phẫu từ phía trước của tuyến này được tiếp xúc với ánh sáng, cơ quan này vẫn có thể phản hồi được với kích thích tương tự như mắt thường. Thực tế này khiến một số nhà nghiên cứu xem xét liệu tuyến tùng có nhiều chức năng hơn là một con mắt thoái hóa hay không. Điều gì sẽ xảy ra nếu nhiều cơ chế của bộ não vẫn bị hiểu lầm nằm trong không gian hình nón nhỏ bé này?

Một cánh cửa tới nhận thức cao hơn

Theo Tiến sĩ Sérgio Felipe de Oliveira, Thạc sĩ Khoa học tại Đại học Y São Paulo, giám đốc của Phòng khám Tâm trí Pineal, sự gia tăng hoạt động của tuyến tùng có liên quan mật thiết đến hoạt động tâm linh như thị giác hoặc thiền định.

Hơn nữa, bên cạnh các chức năng nội tiết của tuyến tùng (kiểm soát vùng não điều khiển thân nhiệt và cảm giác đói, khát; và nhịp sinh học, và bảo vệ các gốc tự do), nó cũng chịu trách nhiệm phát ra N, N-dimethyltryptamine (DMT), được một số người gọi là “phân tử tinh thần”. Việc giải phóng ra các phân tử này được coi là một trong những chất dẫn truyền thần kinh gây ảo giác mạnh nhất mà con người biết đến. Nó tăng lên trong khi ngủ, trong một số trạng thái thiền định, trong các trải nghiệm cận tử, hay trong khi ăn các loại thực vật gây ảo giác.

Bức tranh có từ thế kỷ 17 do nhà giả kim Robert Fludd vẽ, diễn tả 'con mắt thứ ba' liên hệ với các "thế giới cao hơn'. (Ảnh: Robert Fludd/Wikipedia)

Thay cho những hoài nghi về tính hợp lệ đối với những kiến thức chuyên sâu về không gian khác, thì người ta tin rằng những trải nghiệm như vậy chỉ là hiện tượng hóa học bị giới hạn trong não bộ. Nhưng các nhà khoa học gặp khó khăn khi cố gắng đưa ra một lời giải thích hợp lý cho mối quan hệ giải phóng DMT (và hệ quả của sự hình thành hình ảnh trong tuyến tùng) với những trải nghiệm cận tử.

Điều đó được công nhận bởi Tiến sĩ Rick Strassman, người đã thực hiện các nghiên cứu toàn diện về tác động của DMT ở con người. Nghiên cứu này bắt đầu từ việc tiếp cận tuyến tùng như một cánh cửa bẩm sinh để tiến nhập vào không gian khác hơn là một con mắt còn sót lại để sản xuất hormone.

Quan điểm này về tuyến tùng không phải là mới. Nó đại diện cho luân xa thứ sáu của Ajna được nói đến trong truyền thuyết Vệ đà, cánh cửa của Brahma như được biết đến trong Ấn Độ giáo, Con mắt thứ ba của người Trung Quốc cổ đại, Nê hoàn cung trong Đạo giáo, hay Tòa ngự linh hồn theo Descartes. Liệu rằng hình nón nhỏ bé này nằm ẩn trong trung tâm của não bộ thể hiện tiềm năng để tiếp cận không gian khác mà khoa học đơn giản là không thể nắm bắt?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Người tiền sử từng có con mắt thứ ba?

 


Trong thần thoại truyền thống, có thể thấy nhiều vị Thần có ba mắt, ngoài một đôi mắt bình thường như tất cả mọi người thì trên trán còn có một con mắt khác. Con mắt này gọi là thiên mục, nó có khả năng nhìn thấu các tầng không gian, thấy được chân tướng của vũ trụ.

Tuy nhiên người cổ đại cho rằng, bất kỳ ai cũng đều có con mắt thứ ba này, chỉ có điều chúng ta thường không bao giờ để ý tới sự tồn tại của nó và cũng không biết làm thế nào để khai mở con mắt thứ ba này.

Con mắt thứ ba không dễ thấy bởi vì con người qua thời gian sinh sống đã khiến con mắt vốn nằm ngoài trán này rời khỏi vị trí ban đầu, không còn nằm trên bề mặt mà nằm ẩn sau trong phần trên đại não, mà y học hiện nay gọi đó thể tùng quả.

Có một con mắt chân thực trong não người, nó có thể là cửa sổ giao tiếp với thế giới khác.
Có một con mắt chân thực trong não người, nó có thể là cửa sổ giao tiếp với thế giới khác. (Ảnh minh hoạ: ĐKN)

Tương truyền, trong vòng 4,6 tỷ năm trên Trái đất đã xuất hiện 4 Kỷ nguyên Mặt trời. Mỗi kỷ nguyên vào lúc cuối cùng đều kết thúc kèm theo những thảm họa và sự biến mất của một nền văn minh, đồng thời từ đó cũng là sự tái sinh của một nền văn minh khác. 

Từ xa xưa người Maya đã sở hữu kiến thức vũ trụ đáng kinh ngạc.
Từ xa xưa người Maya đã sở hữu kiến thức vũ trụ đáng kinh ngạc (Ảnh minh hoạ: dkn.news)

Trong lịch của người Maya, thời kỳ Mặt trời đầu tiên là nền văn minh Gendaya, họ có cái mà người hiện đại gọi là siêu năng lực nên còn được gọi là nền văn minh siêu năng lực. Và họ là nền văn minh gần gũi nhất với các vị Thần. 

Theo truyền thuyết, nền văn minh Gandaya được sinh ra ở lục địa Gandaya, sau vụ phun trào của một ngọn núi lửa ngầm, lục địa này đã nổi lên từ đáy biển cách đây 96,2 nghìn năm. Thời kỳ thịnh vượng của nền văn minh Gendaya nên cách đây vào khoảng 760.000 năm.

Vào thời điểm đó, kích thước tiêu chuẩn của nam giới là 2m, trong khi đối với phụ nữ là 1m8, điều kỳ diệu và thú vị nhất là có một con mắt màu xanh lục bảo ở giữa trán của người đàn ông, đó là con mắt thứ ba. 

Vào thời điểm đó, việc sinh sản của con người không dựa vào thụ thai nhân tạo, mà khi muốn có con họ phải dựa thương lượng với các vị Thầni và các nhà ngoại cảm, sau đó gửi đứa trẻ vào cơ thể mẹ. Vì vậy, đàn ông và phụ nữ có siêu năng lực khác nhau, và tử cung của phụ nữ là cơ quan của siêu năng lực.

Người ta nói rằng trong thời đại này, con người chủ yếu dựa vào siêu năng lực của mình, và ở mỗi quốc gia khác nhau con người có tồn tại những siêu năng lực khác nhau. Tuy nhiên qua thời gian một nền văn minh như vậy đã không tiếp tục chấp nhận ý chỉ của Thần và sự bảo vệ của Thần. Cuối cùng, toàn bộ lục địa đã bị nhấn chìm trong biển nước, và nền văn minh Gendaya biến mất từ đó.

Truyền thuyết kể rằng sau khi Gandayas trở về thế giới bên kia, họ đã tạo ra thế giới của những người trường sinh bất tử, thế giới của Tengu và thế giới của phép thuật ở phương Tây. Vào thời điểm đó, một số người đã sống sót và trở thành những người khai thuỷ mở đầu cho nền văn minh tiếp theo. 

Tuy nhiên, có một số người có khả năng đặc biệt ở thời hiện đại, nhưng người ta thường tin rằng từ trường và cấu trúc cơ thể của họ khác với người thường.

Tuy nhiên, vì hầu hết các ghi chép về nền văn minh này đều đến từ các truyền thuyết, nên thực sự có một số mô tả các chi tiết nhỏ không chính xác, nhưng hầu hết các sự thật đã được truyền lại qua nhiều thế hệ con người.

Lịch của người Maya được xem là có độ chính xác đáng kinh ngạc và chứa nhiều điều bí ẩn kỳ diệu trong lịch sử nhân loại.
Lịch của người Maya được xem là có độ chính xác đáng kinh ngạc và chứa nhiều điều bí ẩn kỳ diệu trong lịch sử nhân loại. (Ảnh minh hoạ: Pixabay)

Nền văn minh Maya đã biến mất từ lâu nhưng từ những vết tích còn lại có thể thấy họ có trình độ phát triển văn hóa, nghệ thuật, thiên văn học, toán học, lịch pháp… cao đến mức đáng ngạc nhiên. Đặc biệt, lịch của người Maya được xem là có độ  chính xác đáng kinh ngạc và chứa nhiều điều bí ẩn kỳ diệu trong lịch sử nhân loại. Những dự ngôn xa xưa của người Maya về tương lai rất chính xác và hiện tại vẫn còn được lưu truyền và chứng nghiệm cho tới ngày nay… 

Vô số nền văn minh đã xuất hiện và đã trải qua những giai đoạn phát triển rất thịnh vượng. Nhưng những đặc điểm thực sự của những nền văn minh này có thể được coi là truyền thuyết hay không?. 

Đối với những nền văn minh đã từng tồn tại trên Trái đất, tuy một số nền văn minh tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng đã gây chấn động thế giới trong một thời gian dài và để lại nhiều dấu vết không thể xóa nhòa trong lịch sử lâu đời của Trung Quốc.

Khoa học khám phá ra con mắt thứ ba

Các nhà khoa học đã nhận ra sự tương đồng giữa thể tùng và con mắt từ thời cổ đại. Nhiều người trong số họ cho rằng thể tùng chính là một con mắt thoái hóa.

Thời Hy Lạp cổ đại, bác sĩ Herophilus Vào thế kỷ thứ ba TCN, đã phát hiện ra trong não người có một bộ phận nhỏ hình quả thông, có kích thước bằng móng tay út. Ngày nay, các nhà khoa học gọi bộ phận đặc biệt đó là thể tùng quả.

Thể tùng quả có tên tiếng Anh là Pineal Gland. Đây là tuyến nội tiết nhỏ trong não bộ của các loài động vật có xương sống. Thể tùng nằm gần trung tâm của não, nơi giao nhau của 2 đồi não, là nơi sản xuất ra hooc-môn có tên là melatonin. Melatonin là chất có ảnh hưởng đến quá trình sinh sôi ở tế bào và hệ thống miễn dịch, đồng thời cũng là một chất chống oxy hóa.

Thể tùng trong bộ não người (ảnh: Telese Winslow)Vị trí thể tùng trong bộ não người. Ảnh: hipercultura.comBộ phận đánh số 23 là thể tùng trong bộ não người.
Thể tùng trong bộ não người (ảnh: Telese Winslow)Vị trí thể tùng trong bộ não người. Ảnh: hipercultura.comBộ phận đánh số 23 là thể tùng trong bộ não người.( Ảnh chụp màn hình/YouTube)

Khoa học hiện đại đã công nhận con mắt thứ ba này, tuy nhiên họ đã phát hiện rằng thể tùng của hầu hết mọi người đều bị vôi hoá (là sự tích tụ muối calci trong mô cơ thể. Nó thường xảy ra trong quá trình hình thành xương, nhưng calci có thể lắng đọng một cách bất thường trong mô mềm, khiến nó cứng lại). Nó giống như một cục canxi nằm giữa bộ não.

Nhiều nhà khoa học tin rằng sự vôi hoá thể tùng làm mù con mắt thứ ba,  do đó chúng ta không có được các năng lực đặc biệt. Tuy nhiên trên thế giới có một số người vẫn có thể sử dụng được con mắt này.

Ví dụ như Yogamaatha một bé gái 9 tuổi đến từ Ấn Độ có thể đọc được những gì viết trong tờ giấy đặt trước mặt dù bịt 3 tấm khăn lên mắt. Hay trường hợp của cô bé 7 tuổi Cẩm Linh tại Làng Phú Đô, Nam Từ Liêm, Hà Nội. 

Ảnh: nguoiduatin.vn

Một vài phóng viên đã đến kiểm chứng khả năng đặc biệt này của em vào năm 2016. Họ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi cô bé đọc truyện vanh vách và phân biệt các loại màu sắc, tô màu cho tranh trong khi bị kín mắt bằng băng đô.

Trên thế giới cũng có rất nhiều người sở hữu khả năng đặc biệt này.

Con mắt thứ ba trong quan điểm tôn giáo

Trong một số tôn giáo, người ta đã không còn xa lạ với sự tồn tại của con mắt thứ 3 này trong khi khoa học còn hiểu biết hạn chế về nó. Họ cho rằng con mắt thứ ba này có thể khiến một người nhìn thấy các không gian và giao tiếp với thế giới mà mắt thường không thấy được.

Tuy nhiên ở các trường phái tu luyện khác nhau người ta có những cách gọi không giống nhau. Trong tín ngưỡng Vệ Đà, con mắt thứ ba được gọi là luân xa thứ sáu, trong Ấn Độ giáo, nó được gọi là cửa sổ của thần Brahma, các Đạo sĩ ở Trung Quốc thì gọi nó là Nê Hoàn Cung, còn người cổ đại Trung Quốc gọi nó là Thiên Mục.

(Ảnh minh hoạ: Pixabay)

Phật giáo có nhiều nhà sư thực hành tu luyện có thể khai mở được con mắt này, không những vậy họ còn có thể có những siêu năng lực khác được gọi như là: nhìn thấy các cảnh tượng từ xa (dao thị), nhìn thấy được quá khứ và tương lai (túc mệnh thông), thậm chí đọc được ý nghĩ người khác (tha tâm thông)… Trong các câu chuyện cổ của Phật giáo đều có ghi lại các khả năng này.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS