Container Icon

Chiếc áo giáp quý hiếm hơn 800 năm trước được phát hiện ở Ireland

 


Gần đây, một người dân địa phương ở hạt Longford, Ireland, đã tìm thấy một chiếc áo giáp và bảo quản trong nhà kho của mình. Theo các nhà nghiên cứu, lịch sử của chiếc áo này có thể được bắt nguồn từ ít nhất 800 năm trước trong thời kỳ trung cổ ở châu u, theo Epoch Times.

Câu chuyện bắt đầu với một tổng giám đốc của Granard Knights & Conquests( một trung tâm di sản ở Longford) tên là Darcy (Bartle D’Arcy). Khi anh đi ra ngoài vào một ngày tháng 8 và mang theo một bản sao của chiếc áo giáp thì đột nhiên một vài người dân địa phương bước tới và nói rằng trong nhà kho của họ cũng có một cái áo giống hệt như cái của anh ấy.

“Lúc đó, tôi đang mang một chiếc áo giáp trùm đầu, và khi một số người dân địa phương ở Longford tiếp cận tôi và nói rằng họ cũng có chiếc áo giáp như thế này trong nhà kho của họ, tôi đã rất ngạc nhiên”. Darcy nói với thời báo Epoch Times

Anh nói thêm: “Tôi nói, ‘Ý bạn là bạn có thứ này trong nhà kho của bạn?'”

Vài ngày sau đó, họ lấy chiếc áo giáp và kể lại với anh rằng chiếc áo giáp được phát hiện khi người ta dùng máy xúc để thoát nước cách đây hai năm, kể từ đó nó đã được giữ trong một cái thùng.

Darcy cho biết trong một tuyên bố: “Ban đầu chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi chỉ nhặt được một vài mảnh vụn, nhưng tôi không ngờ nó lại là một chiếc áo giáp còn nguyên vẹn”.

Lịch sử của chiếc áo giáo cổ này có thể lâu hơn thời kỳ Norman.
Lịch sử của chiếc áo giáo cổ này có thể lâu hơn thời kỳ Norman. (Ảnh minh họa: Pixabay)

Nhân viên giáo dục của trung tâm di sản là Déirdre Orme cho biết rằng chiếc áo giáp được cho là có niên đại khoảng năm 1172 sau Công nguyên, khi người Norman xâm lược Longford và liên kết nó với kỵ sĩ Norman Richard De Tuite, người đã xây dựng một lâu đài bằng gỗ trên Granard Motte vào năm 1199 sau Công nguyên.

Có thể hiểu, áo giáp dài hay còn gọi là “áo giáp” giống như một chiếc áo khoác dài và bao phủ bên ngoài quần áo, được làm bằng kim loại được sử dụng trong các cuộc chiến tranh thời xưa. Chiếc áo có diện tích bảo vệ lớn, nhẹ và linh hoạt. Nó có chức năng phòng thủ nhất định chống lại các loại vũ khí sắc nhọn như kiếm, giáo và cung tên bắn từ khoảng cách xa, đặc biệt bảo vệ tốt nhất chống lại các cuộc tấn công từ vũ khí sắc bén (chẳng hạn như kiếm).

Darcy nói thêm: “Chúng tôi nghĩ rằng nó có liên quan gì đó đến lâu đài này, bởi vì chiếc áo giáp rất đắt. Bởi vì nó là một di tích lịch sử, thuộc tài sản của đất nước Ireland, nó hiện được đặt trong Bảo tàng Quốc gia Ireland”.

Chiếc áo giáp cổ đại này đã được một chuyên gia vũ khí thời trung cổ tên là Rolf Hammer, người ‘tái hiện lịch sử’ của Trung tâm di sản Granard Knights & Conquests kiểm tra và nghiên cứu. Sau khi xem xét, ông không tìm thấy dấu kìm hay vết cứa nào trên chiếc áo giáp, có nghĩa là thời gian đúc của nó thậm chí còn sớm hơn thời gian cuộc xâm lược của người Norman.

Darcy nói với Epoch Times: “Lịch sử của nó có thể lâu hơn thời kỳ Norman, vì nó được phát hiện gần Pháo đài Ring (Ring Fort) (chủ yếu là các khu định cư được xây dựng vào thời kỳ đồ đồng cách đây 1.000 năm).

Theo Thejournal.ie, người phát hiện đã đào nó ra từ than bùn.

Ông cho rằng chính là nhờ nước đã giúp nó có thể giữ nguyên vẹn trong ngần ấy năm. Bởi vì “nó sẽ bị gỉ sét khi có nước và không khí, và chỉ trong môi trường nước, nó mới có thể được bảo quản trong một thời gian dài”.

Mặc dù Darcy hy vọng sẽ mang nó trở lại Longford nhưng Bảo tàng Quốc gia Ireland sẽ khôi phục lại cổ vật này để người dân địa phương có cơ hội tận mắt chứng kiến ​​di sản quý hiếm này.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Vành đai Photon (1)

 


THE PHOTON BELT – VÀNH ĐAI PHOTON - PHẦN 1


Nếu bạn nào đọc bài chuỗi sự thật của tôi thì sẽ biết rằng tôi còn một sự thật chưa muốn tiết lộ vào thời điểm này và một sự thật khác sẽ được tách ra là một bài riêng biệt. 


Trước khi chia sẻ sự thật riêng biệt này, tôi muốn cung cấp cho các bạn về một kiến thức liên quan. Mô tả cho các bạn Trái Đất và chúng ta đang ở đâu trong chu kỳ tiến hóa vĩ đại


Có bao giờ trong chuỗi ngày cơm áo gạo tiền, bạn ngẫm lại thấy một ngày bây giờ trôi qua thật nhanh so với lúc trước. Một ngày cứ như chỉ 18-20 tiếng so với 20-30 năm trước? Đối với những người đã sống từ thập niên 1950 thì một ngày của họ còn thấy nhanh hơn rất nhiều. Một tuần, một tháng, một năm cũng trôi qua nhanh hơn


Tôi còn nhớ lúc còn nhỏ, lúc còn học tiểu học, giờ nghỉ giải lao chỉ 30’ nhưng chúng tôi có thể chơi đủ trò, chơi nhảy dây, rượt đuổi, té lên té xuống mấy hiệp. Vậy mà bây giờ tôi thấy 30' chỉ loay hoay 1 chút xíu là hết thời gian. 


Ngày hôm nay tôi sẽ chia sẻ cho bạn kiến thức về Vành đai Photon, thời gian bị rút ngắn do chúng ta đang ở trong một vị trí rất đặc biệt này, trong Vành đai Photon (Photon Belt).


Photon belt - hay vành đai Photon là một cái tên không xa lạ nếu bạn đọc cuốn "Thông điệp từ các đấng sáng tạo". Tuy nhiên tôi sẽ bổ sung một vài thông tin khác nằm ngoài cuốn sách


Rất ít thông tin về Vành đai Photon (Ánh sáng) đã từng được cung cấp cho người dân trên Trái đất/Shan của chúng ta. Hầu hết những lời nói dối đã che đậy Sự thật này để ngăn cản người dân hiểu được tương lai và xác định số phận của họ. 


Vành đai Photon là một dải năng lượng ánh sáng hình đĩa nằm vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất. Dải sáng này bao quanh Mặt trời Trung tâm vĩ đại, Alcione (Mặt trời trung tâm lớn của Chòm sao Pleiades). Nó bắt nguồn từ Mặt trời Trung tâm Vĩ đại nhất của Dải Ngân hà và kéo dài ra khắp toàn bộ thiên hà. Do đó, tất cả các thiên thể trong Dải Ngân hà tại một thời điểm nào đó trên quỹ đạo của chúng đều đi qua Vành đai Photon.


Vành đai Photon là một dải năng lượng photon (ánh sáng) tích điện cao, tập trung cao độ và năng lượng photon (ánh sáng) cực kỳ mạnh mẽ, không nhìn thấy được. Hình bên dưới cho thấy rằng một quỹ đạo của hệ mặt trời của chúng ta xoay quanh Alcione trong 26.000 năm, quỹ đạo có bốn giai đoạn hoặc khoảng thời gian riêng biệt. 


Trong một quỹ đạo hoàn chỉnh, chúng ta đi qua Vành đai Photon hai lần, một chu kỳ toàn ánh sáng, và chúng ta đi qua một ngày/đêm hai lần. Các chu kỳ của Vành đai Photon dài 2.000 năm một lần và chu kỳ ngày/đêm dài 11.000 năm. Điều này tạo nên tổng cộng 26.000 năm.


Trong khoảng thời gian ngày/đêm khoảng 11.000 năm, một nền văn minh được sinh ra và phát triển. Sự thật sẽ được đưa đến cho loài người bởi những người mang đến sự thật, và bằng sự tự do lựa chọn, con người chọn có tuân theo Luật của Chúa (Thượng đế) và của Tạo hóa hay không. 


Nếu nền văn minh không đạt được mức độ hài hòa và cân bằng hoàn toàn với Quy luật của Chúa và Quy luật của sự sáng tạo, hành tinh đó sẽ bị quét sạch khỏi mọi bóng tối và tội ác khi nó đi qua Vành đai Photon. 


Khi hành tinh lại bước vào khoảng thời gian 11.000 năm ngày/đêm tiếp theo, một nền văn minh mới lại được sinh ra trên hành tinh đó.


Ngược lại, Vành đai Photon trải dài 2.000 năm là thời kỳ hoàn toàn của Ánh sáng và Thanh lọc. Tất cả bóng tối và cái ác đều bị loại bỏ khi một thiên thể di chuyển qua Vành đai Photon. Nếu một nền văn minh đã đạt đến mức độ hoàn toàn hài hòa và cân bằng trong Luật của Chúa và Sự sáng tạo, thì việc tẩy rửa như vậy sẽ không cần thiết. Điều này vẫn CHƯA BAO GIỜ xảy ra trên Shan (Trái Đất)!

(Shan là tên của Trái Đất mà Đấng Tạo Hóa của chúng ta gọi)


Vành đai Photon là một chiều không gian cao hơn với tần số rung động cao hơn, trong đó tất cả đều là ánh sáng và tất cả chân lý được tiết lộ. Không ai có thể che giấu ánh sáng và sự thật trong suốt thời gian đó. Đó là thực tại Ánh sáng thuần khiết của ĐẤNG TẠO HÓA của chúng ta.


Trái đất của chúng ta, Shan, đã trải qua chu kỳ này hàng trăm lần trong Quỹ đạo chu kỳ lớn 206 triệu năm của nó --- thời gian con người ở trên Shan. 


Một nền văn minh có thể đạt đến sự hài hòa và cân bằng chỉ trong một ngày/đêm của chu kỳ khai sáng nền văn minh (trong trường hợp này là 11.000 năm) nhưng điều này chưa bao giờ xảy ra trên Shan. Không có nền văn minh Shan nào từng đạt đến sự hài hòa và cân bằng hoàn toàn với Quy luật của Thượng đế và của Tạo hóa. Trên thực tế, mỗi nền văn minh ngày càng trở nên xấu xa, đồi bại và vô đạo đức hơn.


Sự tồn tại của hành tinh chiều thứ ba được thiết kế như một phòng học để con người học các bài học về sự phát triển linh hồn theo tiêu chuẩn chiều thứ năm. Người Shan đã không hoàn thành mục tiêu này và đã tái sinh từ kiếp sống này sang các kiếp sống khác để thử lại. 


Bây giờ là "năm học" cuối cùng mà nền văn minh cuối cùng của mật độ 3 được cho phép trên Shan. Trái đất của chúng ta, Shan, đã giành được quyền và đã yêu cầu chuyển sang một chiều không gian cao hơn. Điều này hiện đang xảy ra.


Quá trình tẩy rửa của Shan hiện đã bắt đầu. Shan đã đi vào rìa của Vành đai Photon vào năm 1962. Điều này có ý nghĩa gì đối với cư dân của Shan? Họ sẽ trải qua những thay đổi thời tiết khắc nghiệt về nhiệt độ và lượng mưa. 


Sự thay đổi theo mùa từ mùa đông sang mùa hè hoặc mùa hè sang mùa đông với rất ít giai đoạn chuyển tiếp từ mùa xuân sang mùa thu sẽ xảy ra. 


Những cơn bão lớn, lũ lụt khắc nghiệt, động đất lớn và những vụ phun trào núi lửa khổng lồ đều sẽ góp phần loại bỏ ô nhiễm, chất độc và năng lượng tiêu cực của con người khỏi Shan. Shan sẽ quét sạch tất cả con người ở chiều thứ 3 và nền văn minh của nó khi cô ấy chuyển sang chiều không gian thứ 5. 


Tại sao lại như vậy? Điều này là bởi luật vũ trụ tối cao. Không có ma quỷ/cái ác hoặc tồn tại bất kỳ một ảo ảnh chiều thứ 3 nào được phép vào Cõi vũ trụ của chiều thứ 5 trở lên.


Cần lưu ý rằng Shan là một hành tinh rất bất thường. Là một hành tinh đẹp nhất với vô số dạng sống của thực vật, động vật và con người. Shan ở vị trí là giao lộ của Vũ trụ như một hành tinh dự trữ cho các hành tinh khác. 


Vì sự phong phú và vẻ đẹp của nó, nó đã được chọn làm hành tinh "nhà tù" bởi Lucifer, một tổng lãnh thiên thần, khi ông ta rời Cõi vũ trụ với đội quân nổi loạn chống lại Chúa/Đấng sáng tạo Aton. Lucifer đã chọn hành tinh đẹp nhất để sinh sống và thực hiện những kế hoạch xấu xa của mình. 


Vì vậy, Shan đã bị gán cho một "khuyết tật" lớn trong việc thiết lập một nền văn minh khai sáng. Shan trở thành người khắc nghiệt nhất trong các "giáo viên" vì những bài học khó nhất. 


Vì lý do này, nhiều "Master" thăng thiên (Bậc thầy thăng thiên) đã trở lại Shan vào thời điểm này để học những bài học tuyệt vời và hỗ trợ việc chế ngự Lucifer/Satan và băng Dark Brotherhood của ông ta. Shan là một phòng học đặc biệt dành cho "những đứa trẻ có năng khiếu" --- một khóa học khó khăn để học những bài học khó. Đáng buồn thay, hầu hết đã thất bại trong khóa học.



  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Thủy tinh sa mạc là sản phẩm của bom nguyên tử cổ đại?

 


Nhiều người cho rằng bom nguyên tử là sản phẩm của nền văn minh của nhân loại hiện đại. Nhưng bằng chứng về loại vũ khí chết chóc này không chỉ đến từ các câu Kinh thánh của người Hindu mà còn từ việc phát hiện các khối thủy tinh do nung chảy rải rác khắp các sa mạc trên thế giới...

Bảy năm sau vụ thử hạt nhân ở Alamogordo, New Mexico, Hoa Kỳ, trong lúc cha đẻ của bom nguyên tử, Tiến sĩ J. Robert Oppenheimer, đang giảng bài tại một trường đại học, một sinh viên đã hỏi ông rằng đó có phải là vụ thử nguyên tử đầu tiên trên thế giới hay không.

Và ông đã trả lời: “Đúng vậy, trong thời hiện đại”.

Câu trả lời của Oppenheimer nghe rất ẩn ý và không thể hiểu được vào thời điểm đó. Thực ra, nó có thể ám chỉ đến các văn bản Hindu cổ đại mô tả một thảm họa tận thế không liên quan đến các vụ phun trào núi lửa hoặc các hiện tượng tự nhiên đã biết khác. Oppenheimer, người say mê nghiên cứu tiếng Phạn cổ, có lẽ đã đề cập đến một đoạn văn trong "The Bhagavad Gita" mô tả một thảm họa toàn cầu do “một vũ khí không xác định” gây ra.

Các văn bản Hindu cổ đại mô tả những trận chiến lớn đang diễn ra và một loại vũ khí không xác định đã gây ra sự hủy diệt trên quy mô rộng lớn. Bản thảo minh họa trận chiến Kurukshetra, được ghi lại trong sử thi Mahabharata. (Nguồn ảnh:Wikipedia)
Các văn bản Hindu cổ đại mô tả những trận chiến lớn đang diễn ra và một loại vũ khí không xác định đã gây ra sự hủy diệt trên quy mô rộng lớn. Bản thảo minh họa trận chiến Kurukshetra, được ghi lại trong sử thi Mahabharata. (Nguồn ảnh: Wikipedia)

Mặc dù việc nói về sự tồn tại của vũ khí nguyên tử trước chu kỳ văn minh của nhân loại hiện nay có thể gây chấn động cho cộng đồng khoa học, bằng chứng về nó dường như đang được tìm thấy ở nhiều nơi trên hành tinh của chúng ta.

Các khối thủy tinh nung chảy trong sa mạc

Vào tháng 12/1932, trong lúc Patrick Clayton, một nhà khảo sát của Cục Khảo sát Địa chất Ai Cập, lái xe giữa các cồn cát thuộc Biển Cát Lớn, gần với Cao nguyên Saad ở Ai Cập, thì ông đột ngột phát hiện thấy tiếng lạo xạo dưới bánh xe. Sau khi dừng lại để xem xét nguyên nhân gây ra âm thanh, ông đã tìm thấy những mảnh thủy tinh lớn trong cát.

Phát hiện này đã thu hút sự chú ý của các nhà địa chất trên thế giới khi đó và đặt ra một trong những ẩn đố lớn nhất cho khoa học hiện đại. Hiện tượng nào có thể có khả năng làm tăng nhiệt độ của cát trong sa mạc lên ít nhất là 3.300 độ F (1.815 độ C) để tạo thành những khối thủy tinh này?

Trong khi đi ngang qua tầm bắn tên lửa White Sands của Alamogordo, Albion W. Hart, một trong những kỹ sư đầu tiên tốt nghiệp Học viện Công nghệ Massachusetts, đã quan sát thấy rằng các khối thủy tinh giống hệt với những khối thủy tinh mà ông Clayton tìm thấy ở sa mạc châu Phi.

Tuy nhiên, hình dạng của những mảnh thủy tinh trong sa mạc cho thấy, nếu chúng thực sự được tạo thành từ vụ nổ bom nguyên tử, thì vụ nổ phải mạnh hơn 10.000 lần so với vụ nổ ở New Mexico.

Nhiều nhà khoa học đã tìm cách giải thích về những khối thủy tinh lớn được tìm thấy ở các sa mạc ở Libya, Sahara, Mojave và nhiều nơi khác trên thế giới. Họ cho rằng chúng là sản phẩm của những vụ va chạm thiên thạch khổng lồ. Tuy nhiên, do không có hố va chạm nào được tìm thấy trong sa mạc, lý thuyết này tỏ ra không hợp lý.

Nếu các thiên thạch gây ra sự hình thành của các khối thủy tinh sa mạc, thì các hố va chạm nằm ở đâu? (Ảnh: Wikipedia)
Nếu các thiên thạch gây ra sự hình thành của các khối thủy tinh sa mạc, thì các hố va chạm nằm ở đâu? (Ảnh: Wikipedia)

Hơn nữa, các loại đá thủy tinh được tìm thấy ở sa mạc Libya có độ trong suốt và độ tinh khiết (99%), không phù hợp với trường hợp của các thiên thạch rơi, trong đó sắt và các vật liệu khác được trộn lẫn với thủy tinh nóng chảy sau vụ va chạm.

Mặc dù vậy, các nhà khoa học đã đề xuất rằng các thiên thạch gây ra đá thủy tinh có thể đã phát nổ vài dặm trên bề mặt Trái đất, tương tự như Sự kiện Tunguska.

Tuy nhiên, điều này không giải thích được làm thế nào mà hai trong số các khu vực được tìm thấy gần nhau trong sa mạc Libya đều tìm thấy các khối thủy tinh sa mạc - xác suất xảy ra hai vụ va chạm với thiên thạch trên không gần nhàu như vậy là rất thấp. Nó cũng không giải thích sự vắng mặt của nước trong các mẫu vật khi những khu vực va chạm này được cho là đã ngập trong nước khoảng 14.000 năm trước.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bí ẩn về “ngọn lửa vĩnh cửu” không bao giờ tắt ngay cả dưới thác nước

 


“Ngọn lửa vĩnh cửu” đã được người dân bản địa tôn thờ hàng trăm năm và được coi là hiện thân của Thần thánh, sự vĩnh hằng. Có một tin đồn tâm linh rằng ngọn lửa này sẽ chỉ bị dập tắt khi trái đất trải qua một cuộc đại diệt chủng. Vì vậy, lửa còn cháy bao lâu thì những điều tốt đẹp vẫn còn.

Công viên Chestnut Ridge ở Buffalo, New York, Mỹ từ lâu đã nổi tiếng và thu hút lượng lớn du khách bởi nơi đây có thác nước Eternal Flame (có nghĩa là ngọn lửa vĩnh cửu). Ngọn lửa vĩnh cửu là một thác nước rất nhỏ, không có vẻ đẹp gì đặc biệt, nhưng trong khe hở nhỏ bên dưới nó lại có một ngọn lửa “bất tử”.

Kể từ khi được người dân bản địa phát hiện ra cách đây hàng trăm năm, ngọn lửa nhỏ này chưa bao giờ bị dập tắt trong suốt 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Dù dòng nước chảy quanh co, dù không khí có ẩm ướt đến đâu, ngọn lửa muôn đời cũng không thể dập tắt. Và ngay cả khi mọi người cố gắng tìm cách dập lửa, nó vẫn sẽ bùng phát trở lại ngay lập tức.

Ngọn lửa được cho là đã được thắp sáng hàng ngàn năm trước bởi thổ dân châu Mỹ.
Ngọn lửa được cho là đã được thắp sáng hàng ngàn năm trước bởi thổ dân châu Mỹ. (Ảnh: Wikipedia)

Ngọn lửa bất diệt cháy mãi bất chấp mọi quy luật của tự nhiên

Những người dân bản địa ở đây đã tôn thờ “Ngọn lửa vĩnh cửu” trong hàng trăm năm và được coi là hiện thân của Thần thánh, sự vĩnh hằng. Ở đây còn lưu truyền một truyền thuyết tâm linh rằng ngọn lửa này sẽ chỉ bị dập tắt khi trái đất trải qua một cuộc đại diệt chủng. Vì vậy, lửa còn cháy bao lâu thì những điều tốt đẹp vẫn còn. Đến thời hiện đại, các nhà khoa học trên khắp thế giới đã cố gắng lý giải hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ này.

Cho đến năm 2013, một nghiên cứu lớn từ nhóm nghiên cứu của Đại học Indiana (Mỹ) do giáo sư Arndt Schimmelmann đứng đầu đã giải thích rất nhiều điều về ngọn lửa nổi tiếng, mặc dù nó vẫn chưa thể được tiết lộ hoàn toàn chính xác 100% phép thuật của nó.

Ngọn lửa nhỏ đã trở thành một biểu tượng tâm linh và thu hút khách du lịch

Trên thực tế, hiện tượng ngọn lửa bất tử cháy mãi với thời gian còn tồn tại ở một số nơi khác trên thế giới. Những đám cháy này nằm trên những tảng đá sét cổ, nhiệt độ cực cao và nguồn khí tự nhiên tích tụ trong lòng đất. Vì vậy, chúng giống như những ngọn đuốc và mãi mãi được tiếp sức bằng khí ẩn dưới lớp đá.

Tuy nhiên, "ngọn lửa vĩnh cửu" ở New York không đáp ứng các điều kiện như vậy và nó khác so với những ngọn lửa ở nơi khác. Cả hai yếu tố này có nghĩa là đá phiến sét bên dưới ngọn lửa New York không thể tạo ra khí giống như các ngọn lửa khác trên thế giới.

Và các nhà nghiên cứu thừa nhận rằng họ không chắc chắn chính xác khí đốt New York đang được sản xuất như thế nào.

Các phép đo cho thấy những tảng đá dưới ngọn lửa ở đây không đủ nóng để gây ra phản ứng này. Chúng chỉ có nhiệt độ tương đương với một tách trà nóng. Hơn nữa, cấu trúc của phiến đá không giống với cấu tạo của phiến đất sét.

Ngọn lửa đặc biệt có thể mang lại lợi ích to lớn cho ngành địa chất và khai thác tài nguyên

Tuy nhiên, các nhà khoa học khẳng định bên dưới ngọn lửa vẫn là nguồn khí đốt tự nhiên nhưng với những tính chất đặc biệt khác hẳn thông thường. Các nghiên cứu sau đó cho thấy khí rò rỉ xung quanh khu vực thác chứa tỷ lệ etan và propan đặc biệt cao. Nhiều khả năng tại vùng đất này tồn tại một mỏ khí khổng lồ ẩn sâu khoảng 400 mét dưới lòng đất. Các nhà địa chất vẫn đang tích cực thăm dò và nghiên cứu nguồn khí khổng lồ này. Nhiều người cho rằng nếu giải mã được bí mật về “ngọn lửa vĩnh cửu”, con người sẽ tìm ra cách khai thác khí tự nhiên dưới lòng đá hiệu quả hơn.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Những người có khả năng bay lơ lửng trên không trung: Siêu năng lực hay chỉ là tưởng tượng?

 


Dù khoa học ngày nay chưa tìm ra một lời giải hợp lý cho khinh công nhưng một điều rõ ràng rằng khả năng con người bay lên không trung là có tồn tại. Nó không phải là điều đơn giản chỉ nhờ vào kỹ thuật và kiến thức của khoa học hiện đại mà có thể giải thích rõ ràng được.

Con người từ thời xa xưa vẫn không ngừng tìm tòi những thiết bị có thể bay lượn trong không gian. Liệu có khi nào tin rằng con người thực sự có khả năng bay lơ lửng trong không gian ở khoảng cách 1m mà không cần bất cứ sự trợ giúp nào hay không?

Mặc dù khoa học kỹ thuật đã phát triển và có những thành tựu vượt bậc, tuy nhiên, vẫn tồn tại những khả năng mà cho tới nay con người vẫn chưa giải thích được. Những bài tập yoga bay, đi bộ trên mặt nước, thuật khinh công … vẫn là những bí ẩn chưa thể giải đáp.

Những người tập yoga có khả năng bay lên khỏi mặt đất.
Những người tập yoga có khả năng bay lên khỏi mặt đất. (Ảnh minh họa: Pixabay)

Một số người tập luyện yoga lâu năm được cho là có khả năng bay lơ lửng trong không trung từ 50 cm – 1m. Đây được gọi là các Guru. Khoa học hiện đại gần như bất lực và không thể giải thích hiện tượng này.

Những người có khả năng bay trong lịch sử

Theo các ghi chép lưu lại thì khả năng tự bay trong không khí đã tồn tại rất lâu ở Ấn Độ và Tây Tạng.

Điều này hiện diện xung quanh chúng ta là có thật khiến nhiều người cứ ngỡ rằng việc bay trên mặt đất chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng hay sức mạnh của thế lực siêu nhiên nào đó ngoài tầm hiểu biết của con người.

Ông là một trong những nhà yoga hàng đầu Ấn độ đã công bố bức ảnh ông bay lơ lửng trên mặt đất vào cuối thế kỷ 19. Subbayah Pullivar nổi tiếng với màn biểu diễn bay trên không.
Ông là một trong những nhà yoga hàng đầu Ấn độ đã công bố bức ảnh ông bay lơ lửng trên mặt đất vào cuối thế kỷ 19. Subbayah Pullivar nổi tiếng với màn biểu diễn bay trên không. (Ảnh: Paperblog)

Subbayah Pullivar đã tập yoga hơn 20 năm ở trong một căn lều và có thể dùng một thanh gậy chống xuống đất và nhấc toàn cơ thể bay lơ lửng trên không. Ông có thể nhắm nghiền mắt và giữ liên tục như vậy trong 4 phút liền.

Ông là một trong những nhà yoga hàng đầu Ấn độ đã công bố bức ảnh ông bay lơ lửng trên mặt đất vào cuối thế kỷ XIX. Subbayah Pullivar nổi tiếng với màn biểu diễn bay trên không. 

Sau khi tiếp đất, chân tay của ông cứng đờ và phải xoa bóp, ngâm trong nước lạnh liên tục mới trở về trạng thái ban đầu. 

Một số các giáo sĩ Bà la môn ở Ấn Độ hay các ninja Nhật Bản cũng được cho là có khả năng này chứ không những chỉ có những người tập yoga lâu năm.

Cậu bé người Anh tên Henry Jones là một trường hợp khá đặc biệt. Năm Jones 12 tuổi, bỗng nhiên cậu có khả năng bay lên trần nhà. Tuy nhiên hiện tượng này chỉ kéo dài khoảng 1 năm và sau đó biến mất hoàn toàn. Mặc dù không hề luyện tập yoga hay một loại võ công nào nhưng cậu vẫn có khả năng bay lơ lửng.

Giáo sĩ đạo Tin Lành phương Tây là Joseph Capertino, người có khả năng bay lên không trung được nhắc nhiều nhất trong sách báo. Giới khoa học đã quan sát Josef khinh thân 100 lần và ghi chép những nhận xét trong tài liệu chính thức. Tuy nhiên, cũng chính tài khinh thân đã đẩy cuộc đời ông vào chốn long đong, tuyệt vọng do một số kẻ cho rằng ông là phù thủy.

Tranh vẽ Josef trong trạng thái lơ lửng trong không khí. (Ảnh: Techrum)
Tranh vẽ Josef trong trạng thái lơ lửng trong không khí. (Ảnh: Techrum)

Ông sinh ra trong một gia đình mộ đạo ở miền Nam Italia. Để luyện đến trạng thái xuất thần theo phương pháp yoga, ngay từ bé, Josef đã phải chịu đựng mọi gian khổ. Giáo sĩ đạo Tin Lành này có thể lơ lửng trong không khí khoảng 2 tiếng đồng hồ. Tranh vẽ Josef trong trạng thái lơ lửng trong không khí . 

Người có thể khinh thân nổi tiếng nhất thế kỷ XIX là Daniel Douglas Hewm. 

Trong trạng thái nhập thiền, ông có khả năng nhấc mình trôi bồng bềnh lên tận trần nhà. Hewm đã biểu diễn năng lực đặc biệt này trước hàng nghìn khán giả, họ thừa nhận rằng không phát hiện ra bất cứ sự lừa đảo nào ở đây. Trong đó có cả những người nổi tiếng như Thackeray, Mark Twain, Napoléon III, cùng những nhà chính trị, bác sĩ, khoa học gia.

Tranh vẽ Daniel Douglas Hewm biểu diễn khả năng bay lượn.
Tranh vẽ Daniel Douglas Hewm biểu diễn khả năng bay lượn. (Ảnh: skepticblog.org)

Đó là những bằng chững ít ỏi về khả năng bay lơ lửng trong không trung của con người. 

Giải mã bí ẩn đằng sau khả năng biết bay của con người

Có rất nhiều tranh cãi xoay quanh khả năng biết bay của con người. Một số các nhà khoa học cho rằng đây chỉ là màn ảo thuật đánh lừa thị giác con người và hoàn toàn đi ngược lại định luật vạn vật hấp dẫn. Một số nghiên cứu cho rằng khinh công thực ra là sản phẩm của trường sinh học.

Trong kho tàng võ thuật Trung Hoa, cũng có nhắc đến việc con người có khả năng bay lượn (hay còn gọi là khinh công) thông qua tập luyện. Công việc này gồm 2 phần:

Một phần luyện ngoại công gồm các phương pháp tập luyện nhằm mục đích làm cho cơ thể linh hoạt, nhẹ nhàng, bước đi nhanh nhẹn. Cách thường thấy là bọc mo sắt vào chân, rồi tập nhảy trên những cây cọc. Khi tháo bọc sắt, đi lại thấy nhẹ nhàng như gió.

Phần khác gồm các phương pháp tọa thiền luyện tĩnh công nhằm khơi gợi tiềm năng trong cơ thể và giảm nhẹ sức hút của Trái đất. Việc này nghe có vẻ khó tin nhưng trên thực tế rất khoa học và không có gì quá khó hiểu.

Khi kết hợp nhuần nhuyễn hai phần đó, người tập luyện sẽ rất nhanh chóng đạt được khả năng khinh thân. 

Luyện khinh công mà không tu luyện nội tâm sẽ rất khó đạt cảnh giới cao.
Luyện khinh công mà không tu luyện nội tâm sẽ rất khó đạt cảnh giới cao. (Ảnh: Pixabay)

Vật lý học hiện đại cho rằng nếu xảy ra vụ nổ Bigbang như nhiều giả thuyết công nhận thì sẽ không chỉ nổ ra một chiều không thời gian

Nghiên cứu của một nhà vật lý Xô Viết chỉ ra rằng, có ít nhất 24 chiều không thời gian với kích cỡ khác nhau đồng thời tồn tại.

Theo thuyết tương đối của Einstein, mọi vật chất nếu không thuộc về một chiều không thời gian thì nó sẽ không chịu sự ước chế của trường không-thời gian đó. Vật chất trong thân thể họ về cơ bản đã không còn thuộc về thời không này. Đây chính là lý do những người luyện khí công thường trẻ lâu hơn hay thân thể của rất nhiều vị cao tăng đã không bị mục nát sau khi viên tịch hàng trăm năm. Nó không chịu ước chế của thời – không hiện tại chúng ta đang sinh sống, trong đó có cả lực hút hay sức hút của Trái Đất. Người luyện khinh công hay luyện tĩnh công giúp họ chuyển hóa vật chất trong cơ thể họ sang một dạng mới có năng lượng cao hơn rất nhiều.

Vật chất thuộc về thời không khác không chịu ước chế của các quy luật trong thời không hiện hữu.
Vật chất thuộc về thời không khác không chịu ước chế của các quy luật trong thời không hiện hữu. (Ảnh minh họa: Pixabay)

Nếu chỉ luyện ngoại công, thông thường chỉ có thể giúp nhảy bật cao, băng rào, vượt tường, nhào lộn…

Để luyện tập được khinh công thượng thừa thực sự phải trải qua một phen gian khổ, nó khó hơn các công phu khác rất nhiều. Vì vậy, người học đã ít, người đạt đến công phu tuyệt kỹ lại càng hiếm hoi.

Những người biết khinh hành, họ có thể ngày đi vài trăm dặm, trên những nơi địa hình núi non hiểm trở, thậm chí còn có thể chạy trên mặt nước.

Người công phu cao hơn có thể đạt được khả năng khinh hành như đi bộ cực nhanh hoặc chạy trên mặt nước. 

Còn những ai thật sự có thể đạt được cảnh giới cao thâm sẽ có thân thể linh thông như chim én, nhẹ nhàng lướt đi như gió. 

Ngoài ra, giới tu luyện thường có một quy định rằng không cho phép thể hiện năng lực siêu thường trong xã hội nhân loại hiện nay, đa số họ thường mai danh ẩn tích, ở những nơi thâm sơn cùng cốc, không cho con người biết đến. Bởi vì họ không được phá hoại trạng thái hiện nay của con người, nếu không những năng lực hoặc thần thông ấy nhanh biến mất.

Nếu được biểu diễn thì họ chỉ làm dưới mác ảo thuật hoặc thể hiện ở trong núi sâu rừng già, nơi không có người biết. 

Mặc dù vậy, rất nhiều tài liệu hay thậm chí một số chương trình thực tế giúp chúng ta thấy rằng khinh công là thật sự tồn tại.

Câu chuyện về Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi tới Trung Quốc là chỉ bằng 1 cọng lau vượt sông Trường Giang rộng lớn vẫn được lưu truyền trong Phật giáo.

Người Dao tại Việt Nam ở bản Thành Công, xã Lãng Công (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) còn lưu giữ nhiều phong tục nguyên sơ, trong đó có tục làm lễ “xưng tội”và cũng hay kể chuyện về ông thầy mo có khả năng bay lơ lửng trên không. Nếu có lời nào dối trá hoặc không kể hết thì ông thầy mo cứ từ từ lơ lửng bay lên phía bàn thờ. Còn nếu kể thật lòng mình thì ông thầy mo lại từ từ hạ xuống. Trong khung cảnh thành kính, người “xưng tội” ngồi đối diện với bàn thờ treo trên tường, thầy mo ngồi ngay dưới bàn thờ và quay mặt về phía người “xưng tội”. Sau khi thực hiện một số nghi lễ, người “xưng tội” phải kể hết những điều xấu xa mình đã làm trong năm qua.

Trong tác phẩm “Huyền thuật và các pháp sư Tây Tạng” của nhà thám hiểm người Anh David Neel có đoạn: “Vào lúc chiều tà, chúng tôi cưỡi ngựa qua miền cao nguyên rộng lớn, bỗng xuất hiện phía xa xa một chấm đen nhỏ xíu. Qua ống nhòm, tôi nhận ra một người đang sải bước hết sức lạ lùng, nhanh khôn tả. Không thể nói rằng vị thiền sư ấy đang chạy. Cứ mỗi sải bước, nhà sư lại bay trong không trung, bồng bềnh về phía trước giống như một quả bóng đàn hồi. Chúng tôi đã nhìn theo gần 3 cây số. Nhưng rồi ông rẽ ngoặt khỏi con đường ngựa chạy, bay vọt lên sườn núi và mất hút trong dãy núi trập trùng bao bọc".

Đối với người xưa, điều này không có gì quá huyền hoặc. Cách thức nghiên cứu chú trọng thân thể người, vũ trụ và không gian đem lại cho họ rất nhiều huyền cơ bí ẩn. Nếu con người không thay đổi phương pháp nghiên cứu hay nhận thức mà hiện nay sử dụng thì vĩnh viễn không biết được những điều siêu thực đang tồn tại hiện nay. 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS