Container Icon

Nhân loại đã qua 22 lần ‘tận thế’? Bí ẩn nhập định siêu việt trên dãy Himalaya



Giáo sư Ernst Muldashev và những nhà khoa học hàng đầu thế giới đã dấn thân vào một hành trình kỳ lạ, phát hiện những điều chấn động từ dãy Himalaya.

Như chúng ta đã biết ở phần 1, đạo sư Daram đã cho Giáo sư Muldashev biết rằng trên Trái Đất có ít nhất 22 nền văn minh tiền sử với trình độ phát triển cao đã từng tồn tại và bị hủy diệt; và loài người chúng ta hiện nay thoát thai từ người Lemuria và người Atlan.

Liệu người Lemuria và người Atlan có thực sự tồn tại?

Giáo sư Muldashev cho rằng chính những người khổng lồ Lemuria - với trình độ văn minh và công nghệ rất cao đã xây dựng lên những công trình đá khổng lồ, tinh xảo ở Ai Cập - như các khu đền thờ, các tượng đài bằng đá, Đại kim tự tháp và tượng nhân sư ở cao nguyên Giza.

Năm 1864, luật sư, nhà động vật học người Anh Philip Lutley Sclater đề xuất rằng từ xa xưa, Ấn Độ, Châu Phi và Madagascar là các phần của một lục địa đã biến mất - có hình tam giác trải rộng nam Ấn Độ Dương, gọi là Lemuria.

Lemuria được cho là một lục địa xa xưa đã biến mất có hình tam giác trải rộng ở khu vực Ấn Độ Dương, Châu Phi và Madagascar. (ảnh: quorancd.net)
Lemuria được cho là một lục địa xa xưa đã biến mất có hình tam giác trải rộng ở khu vực Ấn Độ Dương, Châu Phi và Madagascar. (ảnh: quorancd.net)

Trước đó, nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại Plato có viết rằng: Trong quá khứ đã tồn tại một hòn đảo ở Đại Tây Dương có nền văn minh Atlantis phát triển rực rỡ. Nhưng hòn đảo này đã chìm xuống đáy biển chỉ trong một ngày, một đêm - bởi động đất và lũ lụt vào 9.000 năm trước thời của ông.

Tại thành phố Luxor, Ai Cập, còn sót lại 2 tượng đài bằng đá: một chiếc cao 29m - nặng 330 tấn; chiếc khác cao 25m - nặng khoảng 280 tấn. Cả hai đều được làm bằng đá granite nguyên khối, bề mặt mài nhẵn và được chạm khắc các hình tượng với nét khắc vô cùng tinh xảo và chính xác.

Một tượng đài bằng đá cao 25m còn lại bên trái lối vào đền Luxor, Ai Cập (tượng đài bên phải đã bị chuyển về Paris, Pháp) (ảnh qua: amazonaws.com)
Một tượng đài bằng đá cao 25m còn lại bên trái lối vào đền Luxor, Ai Cập (tượng đài bên phải đã bị chuyển về Paris, Pháp) (ảnh qua: amazonaws.com)

Tại khu mỏ đá ở Aswan, cách Luxor hơn 200km, còn có một tượng đài bằng đá granite nguyên khối dài 42m, nặng khoảng 1.200 tấn đang được chế tác dở dang.

Ở khu lăng mộ Rekhmire thuộc thành phố Luxor, người ta thấy những hình ảnh người trong các bức phù điêu. Nếu so sánh tương quan giữa người và động vật trong hình thì sẽ phát hiện “điều kỳ lạ”. Đó là những người cao ngang với chú hươu cao cổ, một con voi cũng chỉ cao bằng một nửa người đàn ông. Như vậy, những người trong hình có chiều cao ít nhất là 5m.

Trong cuộn giấy cói 3.000 năm tuổi mang tên “Djedkhonsuiefankh” được trưng bày tại Bảo tàng Cairo, Ai Cập, người ta thấy xuất hiện một vật thể kỳ lạ - có hình dáng thuôn tròn, với 3 chân chống, cùng hai cánh chìa ra hai bên, nó đang phát sáng rực rỡ và có hình dáng bề ngoài khá giống một UFO hình đĩa bay.

Như vậy, thông tin những người khổng lồ Lemuria hậu kỳ với trình độ văn minh và công nghệ rất cao - đã xây dựng lên những công trình khổng lồ, tinh xảo ở Ai Cập - có thể là hợp lý. Điều này giúp giáo sư Muldashev có thêm tư liệu cho việc khám phá nguồn gốc loài người của mình.

Cuộc trò chuyện hé lộ bí ẩn về xô-ma-chi

Quay về hành trình của đoàn thám hiểm, nhiều điều sẽ được hé mở qua cuộc trò chuyện của Muldashev và vị lạt ma trường phái Bonpo, trong chuyến thám hiểm Tây Tạng lần thứ nhất vào năm 1996.

Vị lạt ma cho biết trong hang động ở Tây Tạng có nhiều người xô-ma-chi. Nhưng không ai nhìn thấy họ trong hang, là vì các hang động đó đóng kín, có lối vào bí mật. Mặt khác, hang động trong núi này nhiều vô kể, và có biết bao nhiêu là nhánh, ngoài những Người đặc biệt thì không ai biết về chúng.

Điều này khiến giáo sư Ernst Muldashev tò mò, ông hỏi: “Có thể làm quen với những Người đặc biệt đó được không, thưa ngài?”

Lạt ma Bonpo cho biết điều đó được, nhưng vô ích. Tất cả họ sẽ trả lời rằng “Ngay với Chúa Trời tôi cũng không nói ra điều đó”. Những Người đặc biệt đó cho rằng tiền bạc, sự sống nơi trần gian không là gì cả nếu đem so với sự vĩ đại của Người! Họ thuộc dưới quyền của Người, là đầy tớ của Người! Việc nhận tiền đối với họ là tội phạm thượng.

Giáo sư Ernst Muldashev thắc mắc rằng “nếu trong số những Người đặc biệt đó có một kẻ phẩm chất kém, phản bội lời thề thì sao? Nếu hắn ta cử ai đó lọt vào hang thì sao?”

Vị lạt ma cho biết điều này tương đương với việc giết người, vì người vào đó sẽ phải đối mặt với cái chết. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng mọi cái đều do Người định đoạt, được phép vào hay không cũng phải do Người.

Như vậy, lạt ma giáo phái Bonpo đã khẳng định sự tồn tại của các hang động trong đó có người nhập xô-ma-chi. Nhưng ông cũng khẳng định rằng sẽ nguy hiểm đến tính mạng để có thể vào các động này.

Lạt ma giáo phái Bonpo (giữa) và Muldashev (trái) (nguồn: Muldashev)
Lạt ma giáo phái Bonpo (giữa) và Muldashev (trái) (nguồn: Muldashev)

Đoàn của giáo sư Muldashev tiếp tục vượt qua đèo núi, tới một bản làng Tây Tạng nằm ở độ cao gần 3.000 mét. Tại đây, họ đã có cơ hội gặp gỡ những Người đặc biệt trông nom động xô-ma-chi.

Người đặc biệt thứ nhất 60 tuổi, người thứ hai 95 tuổi. Cả hai đều trông trẻ hơn tuổi. Họ đều có gia đình và sinh sống như mọi người trong bản.

Ba ngày đầu, hai Người đặc biệt nói về nhiều đề tài khác nhau, nhưng hễ động đến xô-ma-chi là họ im lặng ngay tức thì. Nếu cứ hỏi mãi, thì họ trả lời cụt lủn: “Đó là bí mật”. Sang đến ngày thứ 5, khi đã tạo được sự tin tưởng và thân thiện, họ cởi mở hơn.

Trò chuyện với Người đặc biệt thứ nhất 60 tuổi

Giáo sư Muldashev được Người đặc biệt (60 tuổi) cho biết: Người canh giữ động cần được đại hội các lạt ma phê chuẩn, đồng thời phải có khả năng nhập định thành công để ra vào động trong trạng thái định và được sự cho phép của “Ngài” - chính là người ở trong động xô-ma-chi.

Ông cho biết ông đến động xô-ma-chi một lần trong tháng, lưu lại trung bình ba tiếng đồng hồ. Ông không vào tất cả các gian, mà chỉ vào gian được phép vào.

Giáo sư Muldashev lại hỏi: “Trước khi vào động ngài có khấn không?”

Người đặc biệt cho biết trước khi vào động một tuần, ông bắt đầu tham thiền. Còn khi bước vào gian đầu tiên, cách biệt với gian xô-ma-chi một cái ngách, ông bắt đầu khấn và gia tăng thiền.

Giáo sư Muldashev muốn biết ông có cảm thấy tác động của các lực khác thường không. Người này cho biết ông có cảm thấy. Việc cầu khấn và tăng cường thiền là để thích nghi với tác động của lực đó. Nếu không, có thể sẽ chết, vì sẽ cảm thấy đầu đau kinh khủng. Thật nguy hiểm chết người nếu đã bước vào động mà chưa cảm thấy sẵn sàng.

Muldashev hỏi chi tiết thêm về việc tiếp xúc với người xô-ma-chi, rằng họ có mở miệng khi nói chuyện không? Thân thể họ trông thế nào? Họ có mặc quần áo không?

Người đặc biệt nói: “Họ khẽ mở miệng, nhưng hiếm khi nói chuyện”. “Thân thể gần như bình thường, có thể hơi vàng hơn một tí”. “Ngài có mặc quần áo, nhưng cũng có thể chẳng mặc gì”.

Về con mắt thứ ba, người đặc biệt cho biết ông chưa bao giờ nhìn thấy nó. Về tư thế của người xô-ma-chi, ông trả lời rằng: “Ngài tọa trong tư thế Đức phật. Thân xác Ngài lạnh và chắc nịch”.

Trò chuyện với Người đặc biệt thứ hai 95 tuổi

Khi giáo sư Muldashev đến gặp Người đặc biệt lớn tuổi, ông cũng chỉ cung cấp thông tin rất dè dặt nhưng lại vô cùng quý giá cho đoàn thám hiểm.

Ông cho biết rằng: một số người xô-ma-chi có lồng ngực nhỏ, số khác bình thường. Có người to lớn, có người như những người bình thường. Hộp sọ của họ đủ kiểu. Một số thì to, số khác to và dài như hình tháp, số nữa thì bình thường. Tóc người nào cũng dài.

Ông cũng nói rằng “con mắt thứ ba” chỉ là biểu tượng. Người xô-ma-chi có hai con mắt to, trông khác thường. Trong trạng thái xô-ma-chi, hai mắt khép hờ.

Theo bức hình mà Muldashev mô phỏng người xô-ma-chi, ông nói: “Nếu trong động có khuôn mặt như trên hình vẽ thì thân thể của họ to và béo. Nếu là khuôn mặt kiểu bình thường thì người cũng nhỏ bé hơn”.

Người đặc biệt 95 tuổi trông giữ động xô-ma-chi Tây Tạng (trái), phiên dịch Kiram (giữa) và phó đoàn khảo sát Valery Lobankov (phải) (nguồn: Muldashev)
Người đặc biệt 95 tuổi trông giữ động xô-ma-chi Tây Tạng (trái), phiên dịch Kiram (giữa) và phó đoàn khảo sát Valery Lobankov (phải) (nguồn: Muldashev)

Như vậy, theo thông tin mà Người đặc biệt lớn tuổi cung cấp, trong hang động xô-ma-chi có cả những người bình thường lẫn người khổng lồ của các chủng tộc khác nhau, với các đặc trưng cơ thể khác nhau, bao gồm cả người Lemuria giống như bức hình giả định của Muldashev.

Giáo sư Muldashev lại hỏi: “Có phải những người thuộc các nền văn minh trước đây vẫn được bảo quản trong trạng thái xô-ma-chi không?” 

Người đặc biệt cho biết việc đó có thể làm được. Người xô-ma-chi có thể ở trong động nghìn năm, triệu năm và lâu hơn thế nữa, tùy thuộc vào sức mạnh tâm linh.

Khi Muldashev đột ngột hỏi câu hỏi chính rằng họ có thể vào trong động xô-ma-chi được không, động cơ của họ là tốt lành. Người đặt biệt 95 tuổi trả lời: “Các vị không qua được thử thách đâu. Ngoài tôi và Người đặc biệt ít tuổi hơn, không ai qua được hết… Việc đó nguy hiểm chết người”.

Nhưng hôm sau, ông quyết định cho phép một người trong đoàn vào gian đầu tiên của động. Ông nhấn mạnh rằng nếu cảm thấy trong người khó chịu, hãy quay về ngay, nếu không, sẽ phải chết.

Đoàn thám hiểm nhất trí để Giáo sư Muldashev vào động xô-ma-chi.

Hành trình vào động xô-ma-chi của Giáo sư Muldashev

Động xô-ma-chi cách bản làng khoảng 2-3 cây số. Cửa vào của nó giống như vô số các hốc đá bình thường khác.

Kể về quá trình vào động, Muldashev viết: “Đi được một vài mét... tôi thấy rét... Đi tiếp 15-20 mét tôi dừng lại và không cảm thấy tác động gì... Vừa đi vừa lắng nghe cảm giác của mình, mọi cái đều bình thường. Nhưng cách cửa vào ngách 1, 2 mét, tôi cảm thấy hơi bồn chồn. 

Thoạt đầu tôi tưởng mình sợ và cố gắng trấn áp cảm giác đó. Khi bước vào ngách bỗng tôi thấy sợ mà không biết vì sao, đi tiếp vài chục mét cảm giác đó bỗng biến mất, nhưng thay vào đó là nỗi tức giận ghê gớm vô cớ. Đi tiếp vài chục bước nữa thì thấy đầu đau. 

Nói chung, tôi có thể nói mình là người gan dạ, không phải lần đầu tiên tôi trèo núi vào hang. Tôi cảm thấy rõ ràng tâm trạng sợ hãi và phẫn uất từ đâu đó đến, tức là nguyên nhân không ở trong bản thân tôi. 

Bước tiếp vài chục bước nữa, cảm giác uất ức gia tăng, còn đầu đau như búa bổ. Nén chịu cảm giác đó, tôi đi tiếp gần 10 mét nữa. Đầu đau tới mức tưởng như không chịu được nữa… Tôi cố tập trung để giải thoát nỗi đau”. 

Đó quả là một cuộc chiến sinh tử trong nội tâm của giáo sư Muldashev. Ông cho biết mình phải huy động hết ý chí để chiến đấu với cái đau khủng khiếp, nhưng không có kết quả gì, đầu ông như muốn vỡ tung. Nhưng khó chịu nhất lại chính là tâm trạng uất ức không biết vì đâu, khiến ông muốn trở ra ngoài.

Ông cố chiếu đèn về cuối ngách. Nén cơn đau và tâm thần rối loạn, Muldashev nhìn về phía trước… Những gì nhìn thấy khiến ông kinh ngạc: “Gì thế? Nhẽ nào đó là hình thù những người đang ngồi nhập xô-ma-chi. Đúng, có vẻ như hình người. Dưới ánh sáng của chiếc đèn, tôi thấy họ khổng lồ”.

Không thể chịu đựng thêm, ông quay trở ra, ông biết rằng nếu chỉ cần tiến thêm một chút nữa về phía trước là ông sẽ bỏ mạng.

Muldashev xúc động nghĩ: “Người Lemuria, người Atlan! Họ còn sống, hàng triệu năm nay họ vẫn sống... Ngài mới mạnh mẽ làm sao! Ngài bí ẩn đó là ai? Là người Lemuria-Atlan chăng? Họ không cần được canh giữ, họ mạnh hơn con người trên mặt đất nhiều… Tôi sẽ không bao giờ thắng được Ngài, nếu không được phép của Ngài…”.

Song vẫn còn chút ít nghi hoặc, rằng biết đây mình đã tưởng tượng ra mọi thứ, giáo sư Muldashev quyết định quay lại. Mọi cái lặp lại theo trình tự cũ, cũng lại là tâm trạng uất ức quen thuộc và cơn đau đầu như búa bổ. Càng tiến lên ông càng không chịu được nữa, ông đành quay lại. Lần kiểm nghiệm thứ ba cũng như thế, ông không thể bước tiếp tới chỗ có cảm giác mạnh nhất.

Tâm sự về điều này, Giáo sư Muldashev chia sẻ: “Tôi buồn vì cách người xô-ma-chi chỉ còn vài mét mà không thể đến được với họ. Tôi hoàn toàn cảm nhận được bức rào cản tâm năng của nó, đối với tôi, đó là cái gì đó bí hiểm và hùng mạnh”.

Không chỉ vậy, trong các lần thám hiểm Tây Tạng tiếp theo, đoàn thám hiểm còn có nhiều lần tiếp xúc với các hang động có người xô-ma-chi và cơ chế bảo vệ bằng năng lượng đặc biệt “bất khả xâm nhập”. Có kiểu rào chắn sẽ hút năng lượng, hoặc sẽ gây mù tạm thời cho người bước vào.

Chia sẻ về chuyến thám hiểm lần 1, Giáo sư Muldashev cho biết: “Động xô-ma-chi mới hé mở bức màn bí mật của nó, nhưng chưa mở hoàn toàn. Liệu sẽ có ai đó, vào lúc nào đó, khám phá ra điều bí mật lớn lao của loài người hay không?” 

Vậy bí mật lớn nhất của các hang động xô-ma-chi là gì? Vì sao những Người đặc biệt luôn nói rằng “Với Thượng đế tôi cũng không nói ra điều đó”? 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Choáng ngợp thấy sư tử vàng nặng cả tấn cùng vô số báu vật trong ngôi mộ cổ 2000 năm



Các nhà khảo cổ học tại Tân Cương Trung Quốc vô cùng choáng váng khi phát hiện ra vô số báu vật thuộc hàng "quốc bảo" trong ngôi mộ cổ 2.000 năm. Trong đó bao gồm một con sư tử vàng nặng tới 1 tấn.

Viện Di tích Văn hóa và Khảo cổ học Tân Cương cho biết, những ngôi mộ cổ này thuộc về thời kỳ từ Xuân Thu Chiến Quốc đến thời nhà Tần và nhà Hán, chủ nhân của các ngôi mộ đều là người dân tộc thiểu số du mục.

Đường sắt Nam Tân Cương  bắt đầu từ Turfan, đi qua Yuergou, Korla (Kurla) và Kashgar, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống giao thông vận tải ở khu vực Tân Cương của Trung Quốc.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện một lăng mộ chứa đầy vàng cùng các báu vật vô giá.
Các nhà khảo cổ đã phát hiện một lăng mộ chứa đầy vàng cùng các báu vật vô giá. (Ảnh chụp màn hình )

45 năm trước công nhân đường sắt xây dựng nhà ga Yuergou đã phát hiện ra hàng loạt mộ cổ có quy mô lớn nhỏ khác nhau. Trong số những ngôi mộ này, có một ngôi mộ đặc biệt hơn cả. Nó chứa vô số báu vật thuộc hàng quốc bảo bằng vàng, bao gồm một con sư tử vàng nặng tới 1 tấn, khiến cả nước và thậm chí cả thế giới phải sửng sốt.

Các nhà khảo cổ học đã khai quật được tổng số hơn 20 ngôi mộ lớn nhỏ, trong đó còn có nhiều đồ đồng và đồ gốm nhưng không có ngôi mộ nào có giá trị khảo cổ đáng kể.

Cụ thể, năm 1976, trong quá trình xây dựng nhà ga Yuergou, các công nhân đường sắt đào được nhiều ngôi mộ cổ.

Lăng mộ này còn được gọi là "Lăng mộ vàng". Trong số này có một lăng mộ vô cùng lớn, mà số lượng vàng bạc và báu vật được tìm thấy trong lăng mộ này cũng nhiều vô kể, có thể nói là nhiều chưa từng thấy.

Hạt vàng được phát hiện trong lăng mộ.
Hạt vàng được phát hiện trong lăng mộ. (Ảnh chụp màn hình )

Đây là một lăng mộ thẳng đứng, có chiều sâu 7,1 mét, dài khoảng 6,56 mét, rộng 4,22 mét, được ốp đá cuội, hình dáng thô và đơn giản, phản ánh lối sống du mục cổ đại. Có 8 tấm kim bài bằng vàng khắc hình con hổ, 4 chiếc đai lưng vàng hình con hổ, một tấm kim bài hình sư tử và hơn 200 đồ trang trí bằng vàng khác như hoa vàng, hạt vàng được phát hiện trong lăng mộ.

"Bảo vật" sơn mài có một không hai trong lăng mộ cổ giúp chấm dứt tranh cãi liệu Trung Quốc có khả năng làm đồ sơn mài hoàn hảo trong thời Chiến quốc, nhà Tần, nhà Hán hay không. 

 Tuy nhiên, điều này càng khiến công chúng tò mò và quan tâm đến nó.

Đáng tiếc rằng, kết quả khai quật "Lăng mộ vàng" đã không được công bố cho công chúng vì nhiều lý do đặc biệt khác nhau.

Mỹ nhân chủ lăng mộ cổ

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, chủ nhân lăng mộ có thể sống cách đây 2.135 năm, là nữ - một mỹ nhân chỉ khoảng 30 tuổi khi qua đời.

Một tấm kim bài hình sư tử và hơn 200 đồ trang trí bằng vàng khác như hoa vàng.
Một tấm kim bài hình sư tử và hơn 200 đồ trang trí bằng vàng khác như hoa vàng. (Ảnh chụp màn hình)

Đặc biệt, có một lỗ khoan trên hộp sọ của chủ nhân lăng mộ. Theo các nhà khảo cổ, đây có thể là nguyên nhân dẫn đến cái chết của cô.

Khối lượng báu vật đồ sộ trong "Lăng mộ vàng" khiến các nhà khảo cổ lẫn công chúng đều tò mò chủ nhân của nó là ai, có thân thế đặc biệt gì.

Tuy nhiên, các vật liệu và hoa văn trong lăng mộ cũng tương thích với các quý tộc Xiongnu, sinh sống trong khu vực này ở thời kỳ sau và cũng thích vàng.

Việc khoan lỗ trên hộp sọ được cho là sẽ giảm áp lực nội sọ giúp người mắc chứng đau đầu dễ chịu hơn nhưng kỹ thuật này rất khó, chỉ bất cẩn một chút sẽ khiến người bệnh tử vong.

Dân tộc du mục ở Bắc Á cổ đại từng sử dụng kỹ thuật khoan lỗ trên hộp sọ để chữa bệnh đau đầu. 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bí ẩn hiện tượng cao tăng Tây Tạng viên tịch hóa thành cầu vồng



Hiện tượng hồng hóa thường xảy ra đối với các vị cao tăng đắc đạo ở một cảnh giới nhất định nào đó trong tu luyện. Lúc viên tịch, cơ thể của họ hóa thành ánh sáng cầu vồng mà bay đi.

Hiện tượng hồng hóa là gì?

Hồng hóa là hiện tượng của rất nhiều cao tăng Tây Tạng khi viên tịch đã hóa thành ánh sáng cầu vồng ngay trước mặt mọi người.

Tùy vào cảnh giới tu luyện của người đó mà họ có thể hồng hóa toàn bộ hoặc một bộ phận. Hồng hóa nghĩa là có thể biến cơ thể thành ánh sáng và biến mất hoàn toàn. Có trường hợp thì cơ thể vẫn còn lại y nguyên nhưng sẽ bị thu nhỏ lại, chỉ còn khoảng 20 – 30 cm. Có người không hồng hóa được toàn bộ thì sẽ để lại móng tay, móng chân và tóc.

Một trường hợp điển hình là Vị Lạt ma Nga Vi Lộ ở huyện Nhưỡng Đường cùng với Lạt ma Na Hy Kham Bố ở huyện Ban Mã đã viên tịch ở đền Tu Quả và đền Tri Khâm. Đó là vào năm 1969, sau khi viên tịch thì cơ thể họ đã thu nhỏ lại chỉ còn khoảng 30 cm.

Một trường hợp khác là Lạt ma (chỉ các cao tăng Tây Tạng) Á Đương Lang Mộc ở chùa Trà Lang. Vào năm 1958, do tình hình phức tạp ở Tây Tạng vào thời điểm đó, Lạt ma (chỉ các cao tăng Tây Tạng) Á Đương Lang Mộc ở chùa Trà Lang đã bị bắt nhầm vào trại lao động. Có lần ông ở trong phòng mấy ngày liền mà không thấy ra ngoài. Việc này khiến cho nhân viên quản giáo chú ý nên đã đến để kiểm tra. Khi mở cửa bước vào thì phát hiện ra Lạt ma đã viên tịch rồi. Hơn nữa, điều kinh ngạc là cơ thể ông đã thu nhỏ lại như một cánh tay.

Thân thể trước (trái) và sau khi trải qua quá trình hồng hóa (phải) của một vị Lạt ma. (Ảnh: Gaia)
Thân thể trước (trái) và sau khi trải qua quá trình hồng hóa (phải) của một vị Lạt ma. (Ảnh: Gaia)

Các trường hợp cao tăng Tây Tạng viên tịch hóa thành ánh sáng cầu vồng

Hiện tượng hồng hóa nghe có vẻ còn xa lạ đối với nhiều người nhưng nó cũng không phải là hiếm. Dưới đây là hai trường hợp hiếm hoi được chụp hình lại:

Như hình ảnh được ghi lại, vị cao tăng ngồi đả tọa, sau đó xung quanh có một vầng ánh sáng bao bọc lấy vị cao tăng này. Một lúc sau thì hình ảnh người này dần dần biến mất và các vầng ánh sáng cũng biến mất theo.

Lạt ma A Sắc A Quýnh.
Lạt ma A Sắc A Quýnh. (Ảnh: NTDVN)

Đây là trường hợp ở vùng Tây Nam, Tứ Xuyên, trên cao nguyên Thanh Tạng, có một vị Lạt ma tên là A Sắc A Quýnh; sau khi viên tịch đã hóa thành ánh sáng tuyệt đẹp rồi biến mất vào hư không.

Quá trình biến thành ánh sáng của Lạt ma A Sắc A Quýnh.
Quá trình biến thành ánh sáng của Lạt ma A Sắc A Quýnh. (Ảnh: NTDVN)

Vào năm 2006, anh Vương, tổng giám đốc của hãng hàng không Hải Nam đã kịp thời ghi lại được khoảnh khắc viên tịch hiếm hoi của vị cao tăng. Lạt ma A Tông Bạch Lạc ở Tây Tạng là Sư phụ của anh. Một ngày nọ, anh bỗng nhận được cuộc gọi từ vị Lạt ma rằng ông sắp viên tịch, yêu cầu anh lập tức đi đến Hồng Kông.

Nghe vậy anh Vương đã vội sửa soạn dụng cụ và chụp lại được 4 bức ảnh ghi lại cảnh viên tịch lặng lẽ của vị cao tăng. Ở bức ảnh đầu tiên, vị cao tăng A Tông Bạch Lạc ngồi bình thường với chiếc quạt lông công đặt trước ngực.

Lạt ma A Tông Bạch Lạc.
Lạt ma A Tông Bạch Lạc. (Ảnh: NTDVN)

Đến bức hình thứ hai thì vị cao tăng dần trở nên trong suốt. Đây chính là khởi đầu của quá trình hồng hóa.

Cơ thể dần trong suốt.
Cơ thể dần trong suốt. (Ảnh: NTDVN)
Bức ảnh thì ba thì đầu và cơ thể ông đã biến mất; chỉ còn thấy màu thân thể nhàn nhạt và chiếc quạt lông.
Bức ảnh thì ba thì đầu và cơ thể ông đã biến mất; chỉ còn thấy màu thân thể nhàn nhạt và chiếc quạt lông. (Ảnh: NTDVN)

Ở bức ảnh cuối cùng thì ở hiện trường chỉ còn thấy các luồng ánh sáng trắng và đỏ, vị cao tăng đã biến mất không chút dấu vết.

Chỉ còn lại luồng ánh sáng trắng đỏ.
Chỉ còn lại luồng ánh sáng trắng đỏ. (Ảnh: NTDVN)

Cùng lúc đó ở trên bầu trời khu Cửu Long, Hồng Kông đã xuất hiện cầu vồng đôi, một cảnh tượng tuyệt đẹp hiếm có đã được đăng tải trên các tờ báo sau đó.

Những điều trong truyền thuyết không phải là mê tín

Trương Quốc Hoa, nguyên Tư lệnh quân khu Tây Tạng vào năm 1952 là một người không tin và cho đây chỉ là truyền thuyết trong Phật giáo Tây Tạng, nhưng khi tận mắt chứng kiến thì vô cùng kinh ngạc và thán phục.

Trương Quốc Hoa là người không biết gì về Phật Giáo Tây Tạng. Ngày hôm đó, ở địa phương có một vị cao tăng là Sách Lang Nam Kiệt đã nhờ người đưa thư cho Trương, nói rằng sáng hôm sau ông sẽ rời khỏi Tây Tạng. Do đó ông tưởng ‘rời khỏi Tây Tạng’ tức là vị Lạt ma này sắp lên đường đi xa. Vì vậy sáng hôm sau Trương đã đến để tiễn chân.

Khi đến chùa, họ thấy các tăng nhân trong chùa đều đến và ngồi vây quanh vị Lạt ma. Họ trương thấy vị Lạt Ma đang ngồi ở giữa Đại Kinh Đường, không có dáng vẻ gì là sắp xuất hành. Trương Quốc Hoa không hiểu nên cùng các vệ binh đứng xem.

Một lúc sau, vị Lạt ma từ từ bay lên không trung, sau đó lại hạ xuống, cứ như thế 3 lần trước sự kinh ngạc của mọi người. Sau đó thì bất ngờ nghe một tiếng nổ lớn “Ầm”, giống như là tiếng sấm rồi vị Lạt ma biến mất, mọi người chỉ thấy một chòm mây đỏ bay lên trời.

Do sự khác biệt giữa các Pháp môn tu luyện, quá trình hồng hóa của người tu luyện cũng sẽ khác nhau. Có hai kiểu khá phổ biến:

Một kiểu là người tu trước khi lâm chung, thì muốn ở một mình trong phòng, cơ thể không di động trong bảy ngày sau khi chết. Lúc đó căn phòng sẽ tràn ngập ánh sáng cầu vồng kỳ lạ. Vào ngày thứ tám, mọi người sẽ mở cửa phòng, và thấy cơ thể của người tu đã biến mất, chỉ còn lưu lại tóc và móng tay. Một kiểu khác cũng là ở một mình, nhưng cho phép các đệ tử thân cận ngồi bên cạnh. Người tu ngồi đả tọa như bình thường, thân thể tự bốc cháy biến thành ánh sáng cầu vồng bay lên trời.

Khoa học chưa thể giải thích

Hiện tượng các cao tăng Tây Tạng viên tịch và hóa thành ánh sáng cầu vồng vẫn còn là bí ẩn không thể giải thích của khoa học hiện đại.

Trương Quốc Hoa sau khi chứng kiến cảnh tượng đó vô cùng chấn động và cũng không thể không tin như trước nữa. Về sau ông đã tích cực bảo vệ tăng lữ và văn vật văn hóa của Phật Giáo Tây Tạng, giúp chùa chiền khỏi bị phá hoại khi ông đảm nhiệm chức Tư lệnh quân khu Tây Tạng.

Qua nhiều năm tu luyện, cơ thể của người tu hành hội tụ năng lượng to lớn. Năng lượng đó sẽ chuyển hóa nhục thân thành một chất sáng tối nguyên sơ tổ thành thân thể. Cơ thể dung hòa trong ánh sáng và sau đó hoàn toàn biến mất.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Hàng trăm biểu tượng cổ đại bí ẩn được tìm thấy ở Qatar



Các sa mạc ở Qatar chứa đầy những biểu tượng bí ẩn và tàn tích của quá khứ xa xưa. Ẩn trong vùng đất hoang ở sa mạc đông bắc Qatar có gần 900 tác phẩm chạm khắc đá vôi cổ đại. Mục đích và nguồn gốc của những tác phẩm này vẫn chưa được giải đáp. 

Trong hơn 60 năm qua, các nhà khảo cổ học đã khám phá và lập danh mục các bức tranh khắc đá ở Al Jassasiya, cách Doha khoảng một giờ đồng hồ.

Bạn đã bao giờ nghe nói về Al Jassasiya, nơi có nhiều tranh khắc đá nhất Qatar chưa?

Có bao nhiêu bức tranh khắc đá?

Địa điểm này được phát hiện vào năm 1957. Một nhóm các nhà khảo cổ học Đan Mạch đã dành sáu tuần để ghi lại toàn bộ địa điểm dài 700 mét dưới dạng bản vẽ và ảnh. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy gần 900 bức chạm khắc cổ đại.

Những bức tranh khắc đá ở Qatar bao nhiêu tuổi?

Có ngạc nhiên không khi các nhà nghiên cứu không thể thống nhất về ngày hoặc thời gian xuất xứ gần đúng của những bức tranh khắc đá này?

Đã có nhiều lý thuyết khác nhau trong nhiều thập kỷ qua.

Việc xác định niên đại của các tác phẩm chạm khắc trên đá vẫn là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất đối với các nhà khảo cổ học. Các nghiên cứu trước đó không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy những bức tranh khắc đá có tuổi đời hơn vài trăm năm. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng không tìm thấy bằng chứng thuyết phục rằng chúng được tạo ra gần đây.

Các giả thuyết khác cho rằng các bức chạm khắc không dưới vài nghìn năm tuổi. Mặc dù các nhà khảo cổ học đã tiến hành các nghiên cứu mới bằng các phương pháp tiên tiến hiện đại, nhưng bí ẩn này vẫn chưa được giải đáp.

Các loại chạm khắc

Những bức tranh khắc đá đã được tìm thấy ở nhiều địa điểm khác nhau ở Qatar nhưng những bức tượng ở Al Jassasiya thì khác hẳn. Khoảng một phần ba trong số 874 hình chạm khắc giống với hình dấu cốc, được tìm thấy trên khắp thế giới.

Tuy nhiên, có những hình ảnh hoàn toàn độc đáo như mô tả tàu buồm, được minh họa dưới dạng tuyến tính; điều này theo nghĩa đen có nghĩa là chúng được nhìn thấy từ chế độ xem bằng mắt chim hoặc nhìn từ trên cao.

Hầu hết các tác phẩm chạm khắc trên đá ở Al Jassasiya giống với hình dấu cốc. Một số được sắp xếp theo các mô hình rõ ràng trong khi những cái khác dường như hoàn toàn ngẫu nhiên. (Ảnh: Wikimedia Commons / CC BY 2.0)
Hầu hết các tác phẩm chạm khắc trên đá ở Al Jassasiya giống với hình dấu cốc. Một số được sắp xếp theo các mô hình rõ ràng trong khi những cái khác dường như hoàn toàn ngẫu nhiên. (Ảnh: Wikimedia Commons / CC BY 2.0)

Cách sắp xếp của các bức tranh khắc đá

Bên cạnh vấn đề về niên đại, các nhà nghiên cứu đã gặp khó khăn trong việc tìm hiểu mục đích và cách sắp xếp của các bức tranh khắc đá ở Al Jassasiya.

Ví dụ, các hình dấu cốc được đề cập ở trên khác nhau về thứ tự sắp xếp. Một số dường như được sắp xếp theo các mẫu, chẳng hạn như theo hình hoa thị và theo hàng. Những cái khác dường như được chạm khắc theo thứ tự hoàn toàn ngẫu nhiên.

Đơn vị lưu trữ, bản đồ sao, hay một trò chơi cổ xưa?

Một lần nữa, chúng ta có một số giả thuyết trong tay và không có cái nào là một kết luận chắc chắn. Người ta đã sử dụng các tác phẩm chạm khắc trên đá để làm gì? Mục đích của họ là gì?

Một số ý kiến cho rằng các lỗ tròn có thể đã được chạm khắc phù hợp với bầu trời như những gì người ta nhìn thấy từ nhiều thế kỷ trước. Đây là một giả thuyết phổ biến thường xuất hiện trong các cuộc thảo luận về các di chỉ cổ đại bí ẩn.

Một giả thuyết khác cho rằng các mô hình giống như một trò chơi board thông thường - trò chơi Mancala, đã tồn tại từ thời cổ đại. Trong khi chúng ta không thể bác bỏ ngay cả những giả thuyết bất thường nhất. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số lỗ hổng quá nhỏ trong khi những lỗ khác được đặt trên sườn dốc, không trùng với yêu cầu của trò chơi.

Giả thuyết thứ ba và cũng là giả thuyết phổ biến nhất cho rằng những chiếc cốc có thể được dùng để cất giữ. Khu vực này trước đây là điểm dừng chân quan trọng của những người buôn bán ngọc trai và các nhà nghiên cứu cho rằng có thể mọi người đã sử dụng cái gọi là cốc để làm kho lưu trữ của họ.

Các tác phẩm chạm khắc trên đá về một chiếc cốc và một con thuyền ở Al Jassasiya. (Ảnh: Wikimedia Commons / CC BY 2.0)
Một tác phẩm chạm khắc trên đá về một chiếc cốc và một con thuyền ở Al Jassasiya. (Ảnh: Wikimedia Commons / CC BY 2.0)

Các tác phẩm chạm khắc thuyền ở Al Jassasiya là bằng chứng về trình độ tư duy trừu tượng cao

Như đã đề cập trước đó, các hình chạm khắc thuyền ở Al Jassasiya đặc biệt độc đáo, và những hình khắc như vậy chưa được tìm thấy ở những nơi khác.

Các nhà khoa học không có manh mối về lý do tại sao lại có nhiều hình khắc thuyền tại địa điểm này nhưng ai cũng biết rằng thuyền / tàu có ý nghĩa biểu tượng quan trọng trong tín ngưỡng cổ đại.

Điều quan trọng ở đây là mô tả thực tế của các con thuyền. Hầu hết có thể bị nhầm lẫn do chúng giống với hình dạng cá. Nhưng sự tồn tại của các mái chèo là khá rõ ràng và điều này cho thấy các mô tả là các con thuyền.

Nhìn từ trên cao, việc tạo ra những bức chạm khắc đó là bằng chứng cho thấy mức độ sáng tạo cao của các nghệ nhân. Vì những người cổ đại sẽ không biết những con tàu nhìn từ trên cao như thế nào, các bức chạm khắc thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng cao.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS