Container Icon

12 sự thật khoa học đáng sợ khiến ai cũng kinh ngạc



Xung quanh chúng ta là một thế giới có vô vàn điều kì diệu và bí ẩn. Có những điều mang lại sự thú vị, hấp dẫn người đọc; nhưng cũng có những sự thật khoa học thật đáng sợ. Những sự thật khoa học thú vị đến đáng sợ dưới đây sẽ khiến bạn không khỏi kinh ngạc. Hãy cùng chúng tôi khám phá một số điều.

  1. Axit trong dạ dày đủ mạnh để phá hủy thép không gỉ

Một trong những sự thật khoa học khiến chúng ta vô cùng kinh ngạc là nồng độ đậm đặc của axit dạ dày có khả năng phá hủy hoàn toàn thép không gỉ. Thép không gỉ thường nóng chảy ở nhiệt độ khoảng 1.510oC. Xương tan chảy ở nhiệt độ chỉ nhỉnh hơn một chút là 1.650oC. Do vậy, nếu lấy lượng axit dạ dày ra khỏi cơ thể, nó có thể hủy hoại toàn bộ xương của con người chúng ta.

Làm thế nào lượng axit này có thể tồn tại trong cơ thể mà không ảnh hưởng tới sức khỏe con người? Rất may, cơ thể con người có một hệ thống tiêu hóa vô cùng hoàn hảo. Axit dạ dày trong cơ thể con người về cơ bản là axit clohydric được tạo ra bởi lớp tế bào niêm mạc dạ dày, tế bào thành cũng như các tuyến dạ dày. Có nghĩa là, khu vực chứa axit dạ dày có cấu tạo tương tự như khu vực tạo ra axit. Do vậy mà cơ thể chúng ta luôn được bảo vệ an toàn.

  1. Bọ chét khỏe và di chuyển nhanh hơn tàu vũ trụ

Bạn có thể không nhận ra bọ chét vì thân chúng chỉ dài khoảng 1,5 mm. Bọ chét là loài khỏe phi thường. Chúng có thể đẩy những quả bóng nặng hơn bản thân mình gấp 30 lần, có thể quay những vòng ngựa gỗ mà trọng lượng gấp 20.000 lần thể trọng trung bình của chúng.

Ngoài ra bọ chét có tốc độ nhảy vô cùng nhanh. Bọ chét có thể nhảy xa tới 35 cm và cao tới 20 cm. Hơn nữa, chúng có thể gia tăng vận tốc cao hơn 140 lần so với vận tốc rơi tự do. Chúng cũng có thể di chuyển với tốc độ nhanh hơn tốc độ của tàu vũ trụ.

Làm thế nào loài bọ chét có khả năng này? Bí mật nằm ở giải phẫu của chính con bọ chét. Tất cả chúng đều có một loại protein co giãn, gần giống như cao su, giúp chúng vận động đạt đến tốc độ siêu nhanh và khỏe. Chúng sử dụng protein này để dự trữ năng lượng và giải phóng khi cần để vận động như một loại lò xo siêu nhạy.

Bọ chét di chuyển nhanh hơn tàu vũ trụ là một sự thật khoa học không thể tưởng tượng.
Bọ chét di chuyển nhanh hơn tàu vũ trụ là một sự thật khoa học không thể tưởng tượng. (Ảnh: Wikipedia)
  1. Núi Everest là một nghĩa địa dưới lớp băng tuyết

Người ta cho rằng công việc nguy hiểm nhất trên hành tinh là làm hướng dẫn viên cho đỉnh núi Everest. Nhưng nhiều người vẫn tập luyện và trải nghiệm thách thức khó tin này hàng năm. Và mỗi năm, đỉnh Everest lại đưa ra báo cáo về số người thiệt mạng tại thung lũng tử thần.

Khu vực tử thần của Everest là nơi đã cướp đi sinh mạng của nhiều nhà leo núi bởi thời tiết khắc nghiệt, lượng oxy thấp và gió mạnh trong hành trình lên tới đỉnh. Tuy nguy hiểm nhưng công việc hướng dẫn leo núi là kế sinh nhai duy nhất của những người sống trong bộ tộc Sherpa và họ tận dụng cơ hội này một cách tốt nhất có thể.

Ngọn núi Everest chứa đầy thi thể của những người đã chết vì nhiều lý do khác nhau. Có những người chết vì bị cóng do giá lạnh. Một số người không vượt qua được trận bão tuyết. Một số chết vì tuyết lở.

Bất kỳ ai chết trong khu vực tử thần, nghĩa địa của họ sẽ là thung lũng cầu vồng. Đẩy xác chết xuống thung lũng cầu vồng trở nên cần thiết vì tuyến đường xuyên qua thung lũng tương đối hẹp, mỗi lần chỉ vừa một người leo núi. Việc giải cứu xác chết gần như không thể. Điều cần thiết phải làm là đẩy xác chết xuống để nhường đường cho người leo núi. Do vậy, các xác chết chất dưới thung lũng cầu vồng ngày một nhiều.

  1. Bạn có thể ăn phải côn trùng mọi lúc mà không nhận ra

Đây là một trong những sự thật khoa học có thể khiến bạn kinh ngạc. Bạn có thể ăn phải nhiều côn trùng hơn những gì bạn cảm nhận được. Côn trùng có thể ở trong bao bì hay xâm nhập vào thực phẩm hoặc đồ uống trong quá trình sản xuất.

Nơi nhiều côn trùng nhất mà chúng ta thường ăn phải là sâu bọ thực vật, rau và các sản phẩm từ trái cây. Rau và trái cây thường được trồng trong môi trường tự nhiên, và do vậy sâu bọ cũng có trong cả quá trình thu hoạch của người nông dân. Một nghiên cứu cho thấy trung bình chúng ta ăn một số loại sâu bọ lên tới 140.000 lần mỗi năm, nhiều trong số chúng có kích thước siêu nhỏ.

Sự thật khoa học là chúng ta vẫn thỉnh thoảng ăn côn trung mà không biết.
Sự thật khoa học là chúng ta vẫn thỉnh thoảng ăn côn trung mà không biết. (Ảnh: pxhere)
  1. Số nguyên tử trong một cốc nước nhiều hơn số cốc nước trong đại dương là sự thật khoa học thú vị

Ai cũng biết biển và đại dương chiếm 70% bề mặt trái đất và là nơi chứa nhiều nước nhất, do vậy thật kỳ lạ khi cho rằng có thứ gì có thể vượt qua kỷ lục này. Tuy nhiên, thật bất ngờ, số lượng nguyên tử trong một cốc nước lại nhiều hơn số cốc nước đong được từ đại dương.

Một cốc chứa 200ml nước có số lượng nguyên tử là 6.6855 x 10 đến lũy thừa thứ 24 (hoặc 6.6855 * 10 ^ 24). Trong khi chúng ta đếm số cốc 200ml nước từ đại dương chỉ có thể đếm được 6,67 x 10 đến lũy thừa thứ 21 (hoặc 6,67 * 10 ^ 21). Có nghĩa là nguyên tử trong một cốc nước nhiều hơn rất nhiều cốc nước đong được từ đại dương. Trên thực tế, nó nhiều hơn khoảng 1.600 lần.

  1. Hệ thống miễn dịch là kẻ thù của đôi mắt 

Hệ thống miễn dịch của cơ thể con người thật tuyệt vời, chúng ta duy trì sự sống theo đúng nghĩa đen. Nếu không có hệ thống miễn dịch, con người trở nên ốm yếu, không có khả năng chống lại bệnh tật.

Trên thực tế, thuốc kháng sinh không thực sự giúp cơ thể loại bỏ nhiễm trùng. Thuốc kháng sinh chỉ giúp giải quyết các triệu chứng do nhiễm trùng gây ra, hệ thống miễn dịch mới chính là thứ loại bỏ nhiễm trùng.

Tuy nhiên, hệ thống miễn dịch của con người lại không phải là fan hâm mộ của đôi mắt. Đôi mắt được bảo vệ bởi mí mắt, lông mi và nhiều cơ quan khác. Đôi mắt vẫn có một hệ thống miễn dịch nhỏ hỗ trợ nhưng hệ thống miễn dịch đó đến từ bên ngoài chứ không phải bên trong cơ thể.

Hệ thống miễn dịch bên trong cơ thể được coi là kẻ thù của đôi mắt. Nếu chúng có thể tiếp cận với mắt, chúng có thể tàn phá khiến đôi mắt có thể bị mù hoàn toàn. Nhưng hệ thống miễn dịch bên trong cơ thể thường không tiếp cận được với mắt, vì vậy đây không phải là vấn đề lớn đối với con người.

  1. Người tự tin thường kém hiểu biết 

Trong tâm lý học, hiệu ứng Dunning–Kruger là một dạng thiên kiến nhận thức trong đó mọi người đánh giá khả năng nhận thức của họ cao hơn năng lực thực tế.

Thông qua Hiệu ứng Dunning-Kruger, người ta phát hiện rằng những người tự tin nhất về một chủ đề cụ thể có xu hướng ít hiểu biết về chủ đề đó. Tương tự, những người thiếu tự tin về một chủ đề cụ thể lại thường có xu hướng hiểu rõ hơn về chủ đề đó. Điều này gây ra một chút khó hiểu nhưng chúng ta hãy cùng đọc phân tích dưới đây.

Về cơ bản, một người thiếu tự tin khiến họ cảm thấy luôn thiếu thứ gì đó. Còn một người tự tin sẽ cảm thấy như họ biết nhiều hơn những gì họ thực sự có thể làm và đơn giản là họ không biết những điều họ không biết.

  1. Cơ thể con người chứa nhiều tế bào vi khuẩn hơn gấp 10 lần tế bào của chính con người

Tiến sĩ Carolyn Bohach, một nhà vi sinh vật học của đại học Idaho, Hoa Kỳ cho biết, tế bào vi khuẩn trong cơ thể con người nhiều hơn khoảng 10 lần so với tế bào của chính con người, nhưng điều này không đáng lo ngại, rất nhiều vi khuẩn là có lợi cho cơ thể và chúng ta cần chúng để duy trì sự sống.

Vi khuẩn có rất nhiều nhiệm vụ chuyên biệt. Một số vi khuẩn thậm chí còn tạo ra các chất hóa học cụ thể giúp con người hấp thụ và sử dụng hợp lý các chất dinh dưỡng từ thực phẩm chúng ta ăn. Quá trình này mang lại năng lượng mà chúng ta sử dụng hàng ngày. Con người cần một số dạng vi khuẩn để giúp cho hệ thống miễn dịch hoạt động bình thường. Một trong những loại phổ biến nhất là vi khuẩn đường ruột, không chỉ giúp chúng ta tiêu hóa thức ăn đúng cách, mà còn giúp cơ thể trao đổi chất và sản xuất ra một số vitamin.

  1. Vụ nổ siêu tân tinh Betelgeuse sẽ thắp sáng bầu trời trong nhiều tháng

Sự thật khoa học là vẫn luôn có những vụ nổ hành tinh xung quanh chúng ta và hành tinh của chúng ta không là ngoại lệ.
Sự thật khoa học là vẫn luôn có những vụ nổ hành tinh xung quanh chúng ta và hành tinh của chúng ta không là ngoại lệ. (Ảnh minh họa: Pxhere)

Betelgeuse là ngôi sao sáng thứ hai trong chòm sao Orion và là ngôi sao sáng thứ mười trên bầu trời đêm. Betelgeuse có kích thước vô cùng lớn, gấp 370 lần mặt trời. Độ sáng của ngôi sao cũng lớn hơn Mặt trời 10.000 lần. Đây là lý do tại sao chúng ta có thể quan sát thấy Betelgeuse dễ dàng. Tuy nhiên, ngôi sao này cách Trái đất 430 năm ánh sáng.

Một ngày sắp tới nào đó, ngôi sao siêu khổng lồ Betelgeuse này sẽ phát nổ thành một siêu tân tinh, đó sẽ là một cảnh tượng vô cùng hiếm. Do kích thước quá lớn nên chúng ta sẽ quan sát được khi nào vụ nổ sắp xảy ra. Một lượng lớn ánh sáng đi kèm với vụ nổ sẽ thắp sáng bầu trời của chúng ta ít nhất từ 2 đến 3 tháng trên toàn thế giới. Điều đáng nói là, Betelgeuse đã gần hết tuổi thọ và có thể bùng nổ vào bất cứ khi nào kể từ bây giờ.

  1. Vẫn còn tồn tại các bộ tộc ăn thịt người là sự thật khoa học

Ăn thịt đồng loại là điều con người coi đó là đó phương sách cuối cùng. Tuy nhiên, ở một số nơi trên thế giới, việc giết và ăn thịt người không phải không còn tồn tại. Sự thật kinh hoàng này khiến các nhà khoa học tốn không ít giấy mực.

Trong các xã hội ăn thịt đồng loại, người ta cho rằng thịt người có phần tương đối giống với thịt lợn và có nhiều mối liên hệ chặt chẽ với thịt lợn. Các van tim của lợn được sử dụng để thay thế một số van tim ở người, và da của lợn được cho là dai như da của con người. Do vậy các sinh viên y khoa thường thực hành cắt mổ nội tạng lợn trong trường hợp tử thi người không có sẵn. Chúng ta có lẽ nên cẩn thận khi ăn thịt xông khói nhập khẩu từ các nước khác.

  1. Ong bắp cày biến gián thành xác sống là một sự thật khoa học

Một con ong bắp cày xanh ngọc (Jewel Wasp) sẽ chỉ giao phối một lần trong đời. Sau khi giao phối, con cái sẽ có hàng chục quả trứng được thụ tinh. Trong thời gian sinh sản, nó sẽ sử dụng thị giác và âm thanh để tìm một con gián và tấn công. Nhưng thật không dễ dàng khi tấn công gián vì gián có kích thước lớn gấp sáu lần so với ong bắp cày.

Ong bắp cày phải dùng ngòi của mình để chích nọc độc vào não con gián khiến nó tê liệt nhưng vẫn còn sống. Một khi nọc độc can thiệp vào cơ thể, gián không thể chạy trốn để tự cứu mình. Sau đó, ong bắp cày sử dụng cơ thể gián để ấp trứng cho nó. Sau hai ngày, trứng ong bắt đầu nở ra. Ấu trùng bắt đầu ăn nội tạng và cơ thể gián trong khi con gián vẫn còn sống.

Khi gián bị gặm nhấm tới lúc cơ thể trống rỗng, ấu trùng sẽ tiết dịch kháng khuẩn vào các bề mặt bên trong xác chết của gián. Trong tháng tiếp theo, ấu trùng hóa nhộng bên trong vỏ gián. Cuối cùng, nó phá vỡ xác chết của gián và trở thành một con ong trưởng thành.

  1. Thời gian có khả năng không tồn tại là sự thật khoa học huyền bí

Tất cả chúng ta đều ở trên Trái đất cùng một lúc. Chúng ta có thể cảm ơn Albert Einstein về khái niệm của Thuyết tương đối rằng thời gian không hoạt động theo cách chúng ta giả định. Nếu Einstein đúng thì quá khứ, hiện tại và thậm chí cả tương lai đều không thực sự tồn tại.

Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là chúng ta đang chia sẻ thời gian với những người di chuyển cùng tốc độ tương tự như chúng ta. Nếu chúng ta bắt kịp siêu tốc độ của nhân vật anh hùng hư cấu Flash do hãng truyện tranh DC Comics phát hành, thời gian sẽ di chuyển chậm hơn. Nhân vật Flash có thể du hành xuyên thời gian. Điều này có khả năng xảy ra, nhưng con người hiện chưa thể di chuyển với tốc độ nhanh khủng khiếp như vậy.

Nếu chúng ta đến một hành tinh khác… chúng ta sẽ điều chỉnh tốc độ của mình theo tốc độ thời gian của nơi đó. Có nghĩa, “sự thật đích thực” không thực sự tồn tại. Điều duy nhất tồn tại là thời gian và cách chúng ta điều chỉnh nó.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Người xưa đã tìm ra lực vạn vật hấp dẫn trước Newton



Chúng ta không biết rằng hầu hết những khám phá đáng kinh ngạc mà chúng ta xem như hiện đại, trên thực tế đã có từ hàng ngàn năm trước, trong các nền văn minh cổ đại cực kỳ tối tân.

Có một phát biểu rằng: “Các vật thể rơi xuống bề mặt Trái Đất là do một lực kéo của trái đất. Do đó, trái đất, các hành tinh, chòm sao, mặt trăng và mặt trời được đưa vào quỹ đạo nhờ lực kéo này”. 

Phải chăng đây là phát biểu của Newton về lực hấp dẫn? Không, đó là câu nói của Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học thời cổ đại, cách thời Newton sống 500 năm.

Nhà toán học và thiên văn học thời cổ đại Bhaskaracharya II. (Ảnh: chụp từ video)
Nhà toán học và thiên văn học thời cổ đại Bhaskaracharya II. (Ảnh: chụp từ video)

Còn câu này thì thế nào - “Bất cứ vật thể nào của tạo hoá cũng đều được tạo ra từ các nguyên tử và đến lượt mình, các nguyên tử lại liên kết với nhau để tạo nên các phân tử” - phải chăng đây là cách giải thích ngắn gọn về thuyết nguyên tử của Dalton? Nhưng không, đó lại là câu nói của nhà hiền triết Kashyap, cách thời Dalton sống khoảng 2.500 năm.

Câu hỏi thú vị được đặt ra là: Tại sao chúng ta không được biết về những điều này ở trường học?

Chúng ta đều biết, nhà khoa học Isaac Newton là người đã phát minh ra Định luật vạn vật hấp dẫn, và John Dalton là cha đẻ của Thuyết nguyên tử. Cả 2 khám phá này đều là tiền đề cho sự phát triển của vật lý cơ học và nền khoa học lượng tử ngày nay. Nhưng điều bất ngờ là trên thực tế, cách đây hàng ngàn năm, những lý thuyết này đã được các nhà hiền triết và triết gia Ấn Độ khám phá, ghi chép và dạy cho các học trò của mình. 

Dưới đây là 6 ví dụ điển hình nhất cho thấy cổ nhân đã tiến bộ và “đi xa” hơn chúng ta được biết rất nhiều trong lĩnh vực khoa học. 

1. Thuyết nguyên tử đã được phát minh từ 2.600 năm trước tại Ấn Độ

Ngày nay, nhà hóa học và vật lý học người Anh tên John Dalton được ghi nhận là người đầu tiên phát triển thuyết nguyên tử.

Tuy nhiên, khoảng 2.500 năm trước thời Dalton, một nhà khoa học và triết học người Ấn Độ cổ đại đã biết đến các nguyên lý của hạt nguyên tử và ghi chép về lý thuyết này - ông là Acharya Kanad, sinh năm 600 TCN tại bang Gujarat, Ấn Độ. Tên thật của ông là Kashyap.

Nhà khoa học và triết học Acharya Kanad đã biết đến các nguyên lý của hạt nguyên tử và ghi chép về lý thuyết này từ cách đây 2.600 năm. (Ảnh: chụp từ video)
Nhà khoa học và triết học Acharya Kanad đã biết đến các nguyên lý của hạt nguyên tử và ghi chép về lý thuyết này từ cách đây 2.600 năm. (Ảnh: chụp từ video)

Cái tên Kanad bắt nguồn từ chuyến hành hương của ông đến Prayag. Những người hành hương trong đoàn làm vương vãi hoa và gạo mà họ cúng tế tại chùa. Ông đi theo nhặt từng hạt một.

Khi được hỏi tại sao lại nhặt những hạt gạo mà cả ăn xin cũng không lấy, Kashyap nói rằng, mỗi hạt gạo tự chúng dường như không có giá trị, nhưng hàng trăm hạt gạo có thể tạo nên bữa ăn cho một người, nhiều bữa ăn có thể nuôi sống một gia đình, và rốt cục toàn bộ nhân loại được hợp thành từ nhiều gia đình khác nhau. Do đó, ngay cả một hạt gạo cũng có giá trị không kém mọi của cải quý giá trên thế gian. Kể từ đó, mọi người bắt đầu gọi ông là ‘Kanad’, từ ‘Kan’ trong tiếng Phạn có nghĩa là ‘hạt nhỏ nhất’. 

Ông gọi những hạt mà không thể phá vỡ thêm được là “parmanu” hay “anu” (tức nguyên tử). Kanad cho rằng con người không thể cảm nhận hay quan sát bằng mắt thường những vật chất nhỏ này, và bằng cách nào đó mà các hạt nguyên tử đã kết hợp với nhau - khi đó chúng sẽ tạo ra một “dwinuka” (tức phân tử đôi hay phân tử nhị nguyên).

Ông cũng đưa ra ý tưởng rằng, các nguyên tử có thể kết hợp theo nhiều cách khác nhau tạo ra các chất khác nhau.

Acharya Kanad là cha đẻ của thuyết nguyên tử. (Ảnh: chụp từ video)
Acharya Kanad là cha đẻ của thuyết nguyên tử. (Ảnh: chụp từ video)

Acharya Kanad mở trường dạy triết học để truyền đạt các ý tưởng về nguyên tử và bản chất của vũ trụ. Ông được coi là "cha đẻ của thuyết nguyên tử".

Cuối cùng, nhà hiền triết Acharya Kanad kết luận rằng: “Bất cứ vật thể nào của tạo hoá cũng đều được tạo ra từ các nguyên tử, và đến lượt mình, các nguyên tử lại liên kết với nhau để tạo nên các phân tử”.

Ảnh mô tả nhà hiền triết Acharya Kanad và kết luận của ông.
Ảnh mô tả nhà hiền triết Acharya Kanad và kết luận của ông. (Ảnh: chụp từ video)

2. Định luật vạn vật hấp dẫn 

Chúng ta được học trong sách giáo khoa rằng, một quả táo đã rơi trúng đầu của Newton và nhờ đó, ông đã khám phá ra định lực vạn vật hấp dẫn. Nói cách khác, Newton được tuyên bố là người đầu tiên phát minh ra định luật này. 

Tuy nhiên, trên thực tế lại rất khác biệt. Chính Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học sinh ra tại Bijapur, bang Karnataka ngày nay của Ấn Độ, mới là người đầu tiên khám phá ra lý thuyết về trọng lực. Những khám phá của ông ra đời trước lý thuyết về trọng lực của Isaac Newton khoảng 500 năm. 

Nhà hiền triết này viết trong một cuốn sách của mình: “Các vật thể rơi xuống bề mặt Trái Đất là do một lực kéo của trái đất. Do đó, trái đất, các hành tinh, chòm sao, mặt trăng và mặt trời được đưa vào quỹ đạo nhờ lực kéo này”.

Không chỉ khám phá ra định luật trọng lực, Bhaskaracharya còn được gọi là nhà toán học vĩ đại nhất của Ấn Độ thời trung cổ. Tác phẩm chính của ông có nhan đề là Siddhānta Shiromani, được chia thành 4 phần, đề cập đến số học, đại số, toán học, hành tinh và hình cầu. Trong đó nổi bật nhất là ‘Lilaviti’ và ‘Bijaganita’ - thảo luận về rất nhiều thứ, từ vị trí của các hành tinh, hiện tượng nhật thực và nguyệt thực nói riêng, cho đến các kiến thức vũ trụ học nói chung. 

Ông còn có một chuyên luận khác tựa là Karaṇa Kautūhala về vi tích phân - là một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ông là người tiên phong trong lĩnh vực này - trước các nhà bác học Newton và Leibniz hơn nửa thiên niên kỷ. 

Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học sinh, mới là người đầu tiên khám phá ra lý thuyết về trọng lực. (Ảnh: chụp từ video)
Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học sinh, mới là người đầu tiên khám phá ra lý thuyết về trọng lực. (Ảnh: chụp từ video)

Vào ngày 20/11/1981, Tổ chức Nghiên cứu Vũ trụ Ấn Độ (ISRO) đã phóng vệ tinh mang tên ông lên không gian, cho thấy sự tôn vinh tài năng toán học và thiên văn học của ông. Vậy mà chúng ta lại không được biết về những điều này ở trường học nhỉ?

3. Máy bay phản lực và tàu vũ trụ thời cổ đại?

Đối với những người đam mê khoa học, chúng ta không còn xa lạ với hai cái tên Orville Wright và Wilbur Wright - hay còn gọi là anh em nhà Wright - được biết đến là những người đầu tiên thử nghiệm thành công về máy bay bay trên không.

Tuy nhiên, có nhiều minh chứng khác chỉ ra rằng, ngành hàng không đã được phát triển từ giai đoạn trước Công nguyên, từ hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn năm trước. Thông qua hai bộ sử thi Ramayana và Mahabharata, trong đó, nhà hiền triết Maharishi Bhardwaj đã mô tả những chiếc máy bay có khả năng ‘tan biến’ và di chuyển đến các hành tinh khác.

Nhà hiền triết Maharishi Bhardwaj đã mô tả những chiếc máy bay từ rất xa xưa. (Ảnh: chụp từ video)
Nhà hiền triết Maharishi Bhardwaj đã mô tả những chiếc máy bay từ rất xa xưa. (Ảnh: chụp từ video)

Không chỉ vậy, bộ cổ thư Vaimanika Prakarana của nhà hiền triết này còn có các thảo luận xoay quanh ngành hàng không. Đây có thể được coi là một cuốn sách khoa học cổ đại về công nghệ hàng không. Nó bao gồm tám chương, một trăm đề mục, và 500 tiểu mục. 

Trong đó, Bhardwaj đã miêu tả máy bay hàng không, được phân làm 3 loại: một loại di chuyển từ nơi này sang nơi khác; một loại di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác; và một loại có thể du hành từ hành tinh này sang hành tinh khác. Các cỗ máy bay này có tên chung là Vimana trong tiếng Phạn cổ.

Các cỗ máy bay này có tên chung là Vimana trong tiếng Phạn cổ. (Ảnh: chụp từ video)
Các cỗ máy bay này có tên chung là Vimana trong tiếng Phạn cổ. (Ảnh: chụp từ video)

4. Vũ khí tia nhiệt

Nói về các loại vũ khí lợi hại, chương trình “Mythbusters” trên kênh Discovery Channel năm 2004 đã mô tả một loại vũ khí rằng: “Nhiều lá chắn bằng đồng được đánh bóng để phản chiếu các tia sáng mặt trời vào thuyền quân địch”. 

Đây chính là lý thuyết do nhà toán học người Hy Lạp Ác-si-mét (mất năm 212 TCN) đề ra - để phát triển một loại vũ khí tia nhiệt. Và thật kinh ngạc khi điều này “vượt quá” kỹ năng của chương trình “Mythbusters”. Tại sao nói như vậy?

Bản thảo minh họa, Madrid Skylitze, cho thấy Lửa Hy Lạp đang được sử dụng để chống lại đoàn quân nổi loạn Thomas the Slav. (Ảnh: Wikimedia Commons)
Bản thảo minh họa, Madrid Skylitze, cho thấy Lửa Hy Lạp đang được sử dụng để chống lại đoàn quân nổi loạn Thomas the Slav. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Bởi vì chương trình này đã không thể tái tạo loại vũ khí cổ đại này và tuyên bố rằng đây chỉ là một truyền thuyết.

Nhưng bất ngờ thay, chỉ một năm sau, các sinh viên Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã chứng minh thành công “Vũ khí tia nhiệt” của Ác-si-mét  - cho thấy lý thuyết này là có thật và rất “lợi hại”. Vào năm 2005, những sinh viên này đã đốt cháy một con thuyền ở bến cảng San Francisco nhờ sử dụng thứ vũ khí 2.200 năm tuổi này. 

Các sinh viên Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã chứng minh thành công “Vũ khí tia nhiệt” của Ác-si-mét. (Ảnh: chụp từ video)
Các sinh viên Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã chứng minh thành công “Vũ khí tia nhiệt” của Ác-si-mét. (Ảnh: chụp từ video)

5. Bê tông La Mã

Các khối kiến trúc La Mã rộng lớn đã tồn tại hàng nghìn năm qua là minh chứng cho tính siêu việt của bê tông La Mã so với bê tông hiện đại, vốn sẽ xuất hiện dấu hiệu xuống cấp chỉ sau 50 năm. 

Gần đây, các nhà nghiên cứu đã cố gắng hé mở bí ẩn về độ bền của những khối bê tông cổ đại này. Thành phần bí mật của nó là tro bụi núi lửa. 

Một bài viết của Trung tâm Thông tin trường Đại học California ở Berkeley vào năm 2013 đã tuyên bố rằng, đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu hiểu được cách mà hợp chất canxi-nhôm-silicat-hydro cực kỳ bền vững, kết nối với các chất liệu khác nhau. Quá trình tạo thành loại bê tông này sẽ tạo ra lượng khí thải CO2 thấp hơn so với quá trình tạo ra bê tông hiện đại. 

Theo kết quả phân tích các khối bê tông La Mã nằm yên mình hơn 2.000 năm dưới đáy biển Địa Trung Hải, các nhà khoa học nhận thấy mẫu bê tông này có cấu trúc rất khác biệt xi măng hiện đại, và là một chất kết dính vô cùng bền chắc. 

Bê tông thời xưa có tuổi thọ hơn 2.000 năm thay vì 50 năm như hiện nay. (Ảnh: chụp từ video)
Bê tông thời xưa có tuổi thọ hơn 2.000 năm thay vì 50 năm như hiện nay. (Ảnh: chụp từ video)

Cần nhớ rằng, vào giữa thế kỷ 20, kết cấu bê tông được thiết kế với tuổi thọ kỳ vọng chỉ 50 năm, vậy mà các bến cảng La Mã cổ đại đã tồn tại hơn 2.000 năm qua, hứng chịu đủ mọi tác động hóa học và cơ học từ môi trường biển mà vẫn bền vững lạ thường.

6. Kính uốn dẻo

Ba ghi chép cổ đại về một loại chất liệu gọi là vitrum flexile, hay kính uốn dẻo, có thể sẽ thay đổi suy nghĩ của chúng ta về các vật liệu hoá học hiện đại. 

Cách đây cả nghìn năm sau khi con người lần đầu tiên phát minh ra loại nhựa dẻo này, tác giả Petronius đã viết về việc một người thợ làm kính đã trình lên Hoàng đế Tiberius (trị vì từ 14–37 SCN) một chiếc bình trong suốt. Chiếc bình được thử nghiệm bằng cách ném xuống sàn nhưng chỉ hơi sứt mẻ, chứ không bị vỡ, và người thợ làm kính nhanh chóng gõ nó trở lại hình dạng ban đầu. Lo sợ các loại kim loại quý như vàng, bạc sẽ bị giảm giá trị, Hoàng đế Tiberius đã ra lệnh chém đầu người thợ kính để giữ bí mật về chất liệu vitrum flexile.

Hoàng đế Tiberius đã ra lệnh chém đầu người thợ kính để giữ bí mật về chất liệu vitrum flexile. (Ảnh: chụp từ video)
Hoàng đế Tiberius đã ra lệnh chém đầu người thợ kính để giữ bí mật về chất liệu vitrum flexile. (Ảnh: chụp từ video)

Vào năm 2012, công ty sản xuất kính Corning đã ra mắt loại “Kính cây liễu.” Với tính chất kháng nhiệt và mềm dẻo vừa đủ để cuộn lại, loại kính này đặc biệt hữu dụng khi chế tạo các tấm năng lượng mặt trời.

Nếu người thợ làm kính người La Mã xấu số đã thật sự phát minh ra chất vitrum flexile, thì có vẻ như ông đã đi trước thời đại chúng ta cả nghìn năm.

Giới khoa học ngày nay vẫn luôn tự hào về những thành tựu đạt được trong vài trăm năm thăng hoa phát triển kể từ giai đoạn cách mạng công nghiệp ở Anh, khi cho ra đời vô số phát minh công nghệ tiên tiến - đã cung cấp tiện ích cho cuộc sống của chúng ta trên đủ mọi phương diện. 

Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết về lịch sử, và chủ yếu do hệ thống giáo dục không cập nhật phát hiện mới, chúng ta không biết rằng, hầu hết những khám phá đáng kinh ngạc mà chúng ta xem là hiện đại, trên thực tế đã có từ hàng ngàn năm trước.

Liệu những hiểu biết của chúng ta về văn minh cổ đại phải chăng còn quá non nớt và sơ sài? Liệu trí tuệ cổ nhân có “lạc hậu” như chúng ta vẫn nghĩ? 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS