Container Icon

Người xưa đã tìm ra lực vạn vật hấp dẫn trước Newton



Chúng ta không biết rằng hầu hết những khám phá đáng kinh ngạc mà chúng ta xem như hiện đại, trên thực tế đã có từ hàng ngàn năm trước, trong các nền văn minh cổ đại cực kỳ tối tân.

Có một phát biểu rằng: “Các vật thể rơi xuống bề mặt Trái Đất là do một lực kéo của trái đất. Do đó, trái đất, các hành tinh, chòm sao, mặt trăng và mặt trời được đưa vào quỹ đạo nhờ lực kéo này”. 

Phải chăng đây là phát biểu của Newton về lực hấp dẫn? Không, đó là câu nói của Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học thời cổ đại, cách thời Newton sống 500 năm.

Nhà toán học và thiên văn học thời cổ đại Bhaskaracharya II. (Ảnh: chụp từ video)
Nhà toán học và thiên văn học thời cổ đại Bhaskaracharya II. (Ảnh: chụp từ video)

Còn câu này thì thế nào - “Bất cứ vật thể nào của tạo hoá cũng đều được tạo ra từ các nguyên tử và đến lượt mình, các nguyên tử lại liên kết với nhau để tạo nên các phân tử” - phải chăng đây là cách giải thích ngắn gọn về thuyết nguyên tử của Dalton? Nhưng không, đó lại là câu nói của nhà hiền triết Kashyap, cách thời Dalton sống khoảng 2.500 năm.

Câu hỏi thú vị được đặt ra là: Tại sao chúng ta không được biết về những điều này ở trường học?

Chúng ta đều biết, nhà khoa học Isaac Newton là người đã phát minh ra Định luật vạn vật hấp dẫn, và John Dalton là cha đẻ của Thuyết nguyên tử. Cả 2 khám phá này đều là tiền đề cho sự phát triển của vật lý cơ học và nền khoa học lượng tử ngày nay. Nhưng điều bất ngờ là trên thực tế, cách đây hàng ngàn năm, những lý thuyết này đã được các nhà hiền triết và triết gia Ấn Độ khám phá, ghi chép và dạy cho các học trò của mình. 

Dưới đây là 6 ví dụ điển hình nhất cho thấy cổ nhân đã tiến bộ và “đi xa” hơn chúng ta được biết rất nhiều trong lĩnh vực khoa học. 

1. Thuyết nguyên tử đã được phát minh từ 2.600 năm trước tại Ấn Độ

Ngày nay, nhà hóa học và vật lý học người Anh tên John Dalton được ghi nhận là người đầu tiên phát triển thuyết nguyên tử.

Tuy nhiên, khoảng 2.500 năm trước thời Dalton, một nhà khoa học và triết học người Ấn Độ cổ đại đã biết đến các nguyên lý của hạt nguyên tử và ghi chép về lý thuyết này - ông là Acharya Kanad, sinh năm 600 TCN tại bang Gujarat, Ấn Độ. Tên thật của ông là Kashyap.

Nhà khoa học và triết học Acharya Kanad đã biết đến các nguyên lý của hạt nguyên tử và ghi chép về lý thuyết này từ cách đây 2.600 năm. (Ảnh: chụp từ video)
Nhà khoa học và triết học Acharya Kanad đã biết đến các nguyên lý của hạt nguyên tử và ghi chép về lý thuyết này từ cách đây 2.600 năm. (Ảnh: chụp từ video)

Cái tên Kanad bắt nguồn từ chuyến hành hương của ông đến Prayag. Những người hành hương trong đoàn làm vương vãi hoa và gạo mà họ cúng tế tại chùa. Ông đi theo nhặt từng hạt một.

Khi được hỏi tại sao lại nhặt những hạt gạo mà cả ăn xin cũng không lấy, Kashyap nói rằng, mỗi hạt gạo tự chúng dường như không có giá trị, nhưng hàng trăm hạt gạo có thể tạo nên bữa ăn cho một người, nhiều bữa ăn có thể nuôi sống một gia đình, và rốt cục toàn bộ nhân loại được hợp thành từ nhiều gia đình khác nhau. Do đó, ngay cả một hạt gạo cũng có giá trị không kém mọi của cải quý giá trên thế gian. Kể từ đó, mọi người bắt đầu gọi ông là ‘Kanad’, từ ‘Kan’ trong tiếng Phạn có nghĩa là ‘hạt nhỏ nhất’. 

Ông gọi những hạt mà không thể phá vỡ thêm được là “parmanu” hay “anu” (tức nguyên tử). Kanad cho rằng con người không thể cảm nhận hay quan sát bằng mắt thường những vật chất nhỏ này, và bằng cách nào đó mà các hạt nguyên tử đã kết hợp với nhau - khi đó chúng sẽ tạo ra một “dwinuka” (tức phân tử đôi hay phân tử nhị nguyên).

Ông cũng đưa ra ý tưởng rằng, các nguyên tử có thể kết hợp theo nhiều cách khác nhau tạo ra các chất khác nhau.

Acharya Kanad là cha đẻ của thuyết nguyên tử. (Ảnh: chụp từ video)
Acharya Kanad là cha đẻ của thuyết nguyên tử. (Ảnh: chụp từ video)

Acharya Kanad mở trường dạy triết học để truyền đạt các ý tưởng về nguyên tử và bản chất của vũ trụ. Ông được coi là "cha đẻ của thuyết nguyên tử".

Cuối cùng, nhà hiền triết Acharya Kanad kết luận rằng: “Bất cứ vật thể nào của tạo hoá cũng đều được tạo ra từ các nguyên tử, và đến lượt mình, các nguyên tử lại liên kết với nhau để tạo nên các phân tử”.

Ảnh mô tả nhà hiền triết Acharya Kanad và kết luận của ông.
Ảnh mô tả nhà hiền triết Acharya Kanad và kết luận của ông. (Ảnh: chụp từ video)

2. Định luật vạn vật hấp dẫn 

Chúng ta được học trong sách giáo khoa rằng, một quả táo đã rơi trúng đầu của Newton và nhờ đó, ông đã khám phá ra định lực vạn vật hấp dẫn. Nói cách khác, Newton được tuyên bố là người đầu tiên phát minh ra định luật này. 

Tuy nhiên, trên thực tế lại rất khác biệt. Chính Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học sinh ra tại Bijapur, bang Karnataka ngày nay của Ấn Độ, mới là người đầu tiên khám phá ra lý thuyết về trọng lực. Những khám phá của ông ra đời trước lý thuyết về trọng lực của Isaac Newton khoảng 500 năm. 

Nhà hiền triết này viết trong một cuốn sách của mình: “Các vật thể rơi xuống bề mặt Trái Đất là do một lực kéo của trái đất. Do đó, trái đất, các hành tinh, chòm sao, mặt trăng và mặt trời được đưa vào quỹ đạo nhờ lực kéo này”.

Không chỉ khám phá ra định luật trọng lực, Bhaskaracharya còn được gọi là nhà toán học vĩ đại nhất của Ấn Độ thời trung cổ. Tác phẩm chính của ông có nhan đề là Siddhānta Shiromani, được chia thành 4 phần, đề cập đến số học, đại số, toán học, hành tinh và hình cầu. Trong đó nổi bật nhất là ‘Lilaviti’ và ‘Bijaganita’ - thảo luận về rất nhiều thứ, từ vị trí của các hành tinh, hiện tượng nhật thực và nguyệt thực nói riêng, cho đến các kiến thức vũ trụ học nói chung. 

Ông còn có một chuyên luận khác tựa là Karaṇa Kautūhala về vi tích phân - là một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ông là người tiên phong trong lĩnh vực này - trước các nhà bác học Newton và Leibniz hơn nửa thiên niên kỷ. 

Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học sinh, mới là người đầu tiên khám phá ra lý thuyết về trọng lực. (Ảnh: chụp từ video)
Bhaskaracharya II, một nhà toán học và thiên văn học sinh, mới là người đầu tiên khám phá ra lý thuyết về trọng lực. (Ảnh: chụp từ video)

Vào ngày 20/11/1981, Tổ chức Nghiên cứu Vũ trụ Ấn Độ (ISRO) đã phóng vệ tinh mang tên ông lên không gian, cho thấy sự tôn vinh tài năng toán học và thiên văn học của ông. Vậy mà chúng ta lại không được biết về những điều này ở trường học nhỉ?

3. Máy bay phản lực và tàu vũ trụ thời cổ đại?

Đối với những người đam mê khoa học, chúng ta không còn xa lạ với hai cái tên Orville Wright và Wilbur Wright - hay còn gọi là anh em nhà Wright - được biết đến là những người đầu tiên thử nghiệm thành công về máy bay bay trên không.

Tuy nhiên, có nhiều minh chứng khác chỉ ra rằng, ngành hàng không đã được phát triển từ giai đoạn trước Công nguyên, từ hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn năm trước. Thông qua hai bộ sử thi Ramayana và Mahabharata, trong đó, nhà hiền triết Maharishi Bhardwaj đã mô tả những chiếc máy bay có khả năng ‘tan biến’ và di chuyển đến các hành tinh khác.

Nhà hiền triết Maharishi Bhardwaj đã mô tả những chiếc máy bay từ rất xa xưa. (Ảnh: chụp từ video)
Nhà hiền triết Maharishi Bhardwaj đã mô tả những chiếc máy bay từ rất xa xưa. (Ảnh: chụp từ video)

Không chỉ vậy, bộ cổ thư Vaimanika Prakarana của nhà hiền triết này còn có các thảo luận xoay quanh ngành hàng không. Đây có thể được coi là một cuốn sách khoa học cổ đại về công nghệ hàng không. Nó bao gồm tám chương, một trăm đề mục, và 500 tiểu mục. 

Trong đó, Bhardwaj đã miêu tả máy bay hàng không, được phân làm 3 loại: một loại di chuyển từ nơi này sang nơi khác; một loại di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác; và một loại có thể du hành từ hành tinh này sang hành tinh khác. Các cỗ máy bay này có tên chung là Vimana trong tiếng Phạn cổ.

Các cỗ máy bay này có tên chung là Vimana trong tiếng Phạn cổ. (Ảnh: chụp từ video)
Các cỗ máy bay này có tên chung là Vimana trong tiếng Phạn cổ. (Ảnh: chụp từ video)

4. Vũ khí tia nhiệt

Nói về các loại vũ khí lợi hại, chương trình “Mythbusters” trên kênh Discovery Channel năm 2004 đã mô tả một loại vũ khí rằng: “Nhiều lá chắn bằng đồng được đánh bóng để phản chiếu các tia sáng mặt trời vào thuyền quân địch”. 

Đây chính là lý thuyết do nhà toán học người Hy Lạp Ác-si-mét (mất năm 212 TCN) đề ra - để phát triển một loại vũ khí tia nhiệt. Và thật kinh ngạc khi điều này “vượt quá” kỹ năng của chương trình “Mythbusters”. Tại sao nói như vậy?

Bản thảo minh họa, Madrid Skylitze, cho thấy Lửa Hy Lạp đang được sử dụng để chống lại đoàn quân nổi loạn Thomas the Slav. (Ảnh: Wikimedia Commons)
Bản thảo minh họa, Madrid Skylitze, cho thấy Lửa Hy Lạp đang được sử dụng để chống lại đoàn quân nổi loạn Thomas the Slav. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Bởi vì chương trình này đã không thể tái tạo loại vũ khí cổ đại này và tuyên bố rằng đây chỉ là một truyền thuyết.

Nhưng bất ngờ thay, chỉ một năm sau, các sinh viên Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã chứng minh thành công “Vũ khí tia nhiệt” của Ác-si-mét  - cho thấy lý thuyết này là có thật và rất “lợi hại”. Vào năm 2005, những sinh viên này đã đốt cháy một con thuyền ở bến cảng San Francisco nhờ sử dụng thứ vũ khí 2.200 năm tuổi này. 

Các sinh viên Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã chứng minh thành công “Vũ khí tia nhiệt” của Ác-si-mét. (Ảnh: chụp từ video)
Các sinh viên Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã chứng minh thành công “Vũ khí tia nhiệt” của Ác-si-mét. (Ảnh: chụp từ video)

5. Bê tông La Mã

Các khối kiến trúc La Mã rộng lớn đã tồn tại hàng nghìn năm qua là minh chứng cho tính siêu việt của bê tông La Mã so với bê tông hiện đại, vốn sẽ xuất hiện dấu hiệu xuống cấp chỉ sau 50 năm. 

Gần đây, các nhà nghiên cứu đã cố gắng hé mở bí ẩn về độ bền của những khối bê tông cổ đại này. Thành phần bí mật của nó là tro bụi núi lửa. 

Một bài viết của Trung tâm Thông tin trường Đại học California ở Berkeley vào năm 2013 đã tuyên bố rằng, đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu hiểu được cách mà hợp chất canxi-nhôm-silicat-hydro cực kỳ bền vững, kết nối với các chất liệu khác nhau. Quá trình tạo thành loại bê tông này sẽ tạo ra lượng khí thải CO2 thấp hơn so với quá trình tạo ra bê tông hiện đại. 

Theo kết quả phân tích các khối bê tông La Mã nằm yên mình hơn 2.000 năm dưới đáy biển Địa Trung Hải, các nhà khoa học nhận thấy mẫu bê tông này có cấu trúc rất khác biệt xi măng hiện đại, và là một chất kết dính vô cùng bền chắc. 

Bê tông thời xưa có tuổi thọ hơn 2.000 năm thay vì 50 năm như hiện nay. (Ảnh: chụp từ video)
Bê tông thời xưa có tuổi thọ hơn 2.000 năm thay vì 50 năm như hiện nay. (Ảnh: chụp từ video)

Cần nhớ rằng, vào giữa thế kỷ 20, kết cấu bê tông được thiết kế với tuổi thọ kỳ vọng chỉ 50 năm, vậy mà các bến cảng La Mã cổ đại đã tồn tại hơn 2.000 năm qua, hứng chịu đủ mọi tác động hóa học và cơ học từ môi trường biển mà vẫn bền vững lạ thường.

6. Kính uốn dẻo

Ba ghi chép cổ đại về một loại chất liệu gọi là vitrum flexile, hay kính uốn dẻo, có thể sẽ thay đổi suy nghĩ của chúng ta về các vật liệu hoá học hiện đại. 

Cách đây cả nghìn năm sau khi con người lần đầu tiên phát minh ra loại nhựa dẻo này, tác giả Petronius đã viết về việc một người thợ làm kính đã trình lên Hoàng đế Tiberius (trị vì từ 14–37 SCN) một chiếc bình trong suốt. Chiếc bình được thử nghiệm bằng cách ném xuống sàn nhưng chỉ hơi sứt mẻ, chứ không bị vỡ, và người thợ làm kính nhanh chóng gõ nó trở lại hình dạng ban đầu. Lo sợ các loại kim loại quý như vàng, bạc sẽ bị giảm giá trị, Hoàng đế Tiberius đã ra lệnh chém đầu người thợ kính để giữ bí mật về chất liệu vitrum flexile.

Hoàng đế Tiberius đã ra lệnh chém đầu người thợ kính để giữ bí mật về chất liệu vitrum flexile. (Ảnh: chụp từ video)
Hoàng đế Tiberius đã ra lệnh chém đầu người thợ kính để giữ bí mật về chất liệu vitrum flexile. (Ảnh: chụp từ video)

Vào năm 2012, công ty sản xuất kính Corning đã ra mắt loại “Kính cây liễu.” Với tính chất kháng nhiệt và mềm dẻo vừa đủ để cuộn lại, loại kính này đặc biệt hữu dụng khi chế tạo các tấm năng lượng mặt trời.

Nếu người thợ làm kính người La Mã xấu số đã thật sự phát minh ra chất vitrum flexile, thì có vẻ như ông đã đi trước thời đại chúng ta cả nghìn năm.

Giới khoa học ngày nay vẫn luôn tự hào về những thành tựu đạt được trong vài trăm năm thăng hoa phát triển kể từ giai đoạn cách mạng công nghiệp ở Anh, khi cho ra đời vô số phát minh công nghệ tiên tiến - đã cung cấp tiện ích cho cuộc sống của chúng ta trên đủ mọi phương diện. 

Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết về lịch sử, và chủ yếu do hệ thống giáo dục không cập nhật phát hiện mới, chúng ta không biết rằng, hầu hết những khám phá đáng kinh ngạc mà chúng ta xem là hiện đại, trên thực tế đã có từ hàng ngàn năm trước.

Liệu những hiểu biết của chúng ta về văn minh cổ đại phải chăng còn quá non nớt và sơ sài? Liệu trí tuệ cổ nhân có “lạc hậu” như chúng ta vẫn nghĩ? 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đảo Phục Sinh bí ẩn là do người tiền sử xây dựng

 


Gần 900 bức tượng đá khổng lồ với kích thước, hình dạng, tư thế độc đáo tạo nên sự hấp dẫn và bí ẩn lớn đối với du khách tham quan Đảo Phục sinh. Nhưng có một câu hỏi mà khiến nhân loại trăn trở mãi không thôi, đó là: Ai là người đã tạo nên chúng? 

Theo Wikipedia, “Đảo Phục Sinh (tiếng Rapa Nui gọi là 'Rapa Nui' , tiếng Tây Ban Nha gọi là Isla de Pascua) là một hòn đảo ở đông nam Thái Bình Dương, thuộc chủ quyền Chile, nằm ở cực đông nam Tam giác Polynesia”.

Đảo Phục Sinh cách đất liền khoảng 3.512km, được thuyền trưởng người Hà Lan Roggeveen phát hiện ra đúng ngày lễ phục sinh năm 1772, vì vậy nó được mang tên Đảo Phục sinh.

Nơi đây có gần 1.000 bức tượng đá Moai kỳ lạ khổng lồ, mang hình dáng hết sức đặc biệt: chỉ có phần đầu, thân trên, một phần dưới thắt lưng và không thấy chân. Nặng tới hàng chục tấn, quãng đường từ nơi chạm khắc đến vị trí đặt chúng ước tính khoảng 18km.

Nói đến Đảo Phục Sinh, vẫn luôn có những câu hỏi muôn thuở: ai mới thực sự là chủ nhân của những bức tượng này? Bài viết này sẽ giới thiệu 6 giả thuyết ấn tượng về vùng đất bí ẩn này.

1. Moai – Những bức tượng khổng lồ không lời giải

Đã từ lâu nhiều người cho rằng, những bức tượng Moai đơn giản chỉ có phần đầu nhô lên khỏi mặt đất chứ không có gì hơn. Tuy nhiên, một phát hiện gần đây cho thấy, phần bị lấp sâu dưới đất của chúng còn nhiều hơn những gì trồi trên bề mặt.

Không ai ngờ phía dưới những chiếc đầu tượng Moai lại chứa đựng cả một bức tượng khổng lồ.

Những cuộc khai quật đầu tiên được thực hiện vào năm 1914 đã cho thấy một số các cơ thể của hai pho tượng đá núi lửa khổng lồ, có thể nặng tới 88 tấn và cao đến 10 mét. Cá biệt có bức nặng 270 tấn và cao 21 mét.

Các nhà khoa học phát hiện thấy hầu hết những pho tượng Moai này đều được tạc từ đá của ngọn núi lửa Rano Raraku, xếp hàng hướng ra biển. Những pho tượng đá mặt người được cho là có niên đại hơn 6.000 năm đôi khi phân bố rải rác ngẫu nhiên, hoặc đôi khi lại theo một trật tự đặc biệt, khó hiểu.

2. Cách thức xây dựng khác thường

Cho đến nay, chưa ai lý giải được làm thế nào và vì lý do gì mà những bức tượng đá và tường đá khổng lồ như vậy có thể được tạo ra? Họ đưa ra giả thuyết rằng hòn đá được khai thác trên đảo, sau đó đã được chạm khắc và trang trí tại các mỏ đá, rồi cuối cùng những bức tượng đã được dùng phương pháp cột dây vào kéo “đi bộ” chầm chậm đến vị trí cuối cùng của chúng.

Thế nhưng, người ta cũng không tìm thấy bất cứ vật dụng, công cụ nào phục vụ cho việc khai thác, chế tác, di chuyển các công trình đá trên đảo. Điều này khiến cho nguồn gốc của chúng vẫn là một ẩn số.

Một điều thú vị khác là cách xây dựng các bức tường đá ở Đảo Phục sinh rất tương đồng cách xây dựng tường đá ở khu di chỉ khảo cổ nổi tiếng Saksaywaman ở Peru - với các tảng đá nặng hàng tấn được xếp đặt, lồng ghép, khóa vào nhau một cách khéo léo, kín khít đến mức người ta nghi ngờ rằng những người xây dựng công trình này biết cách làm mềm các viên đá khi xây dựng.

Trong cuốn sách “Vũ trụ xoắn”, nhà thôi miên hồi quy danh tiếng Dolores Cannon cho biết qua thôi miên hồi quy, bà biết rằng người chủng tộc Lemuria có thể làm những bức tượng này, củng cố và di chuyển chúng bằng sức mạnh tâm linh. Và điều này được thực hiện bởi các linh mục, pháp sư và những người đứng đầu các bộ lạc.

Các nhà khoa học hiện đại không thể xác định niên đại của chúng vì đá có từ thời nguyên thủy. Đá được lấy từ những ngọn núi gần đó. Nhưng chúng được tạc bởi sự tập trung của các dạng năng lượng. Đá được các hướng năng lượng làm cho dễ uốn nắn và tạo hình trên các tảng đá này.

Đá được vận chuyển bằng phương pháp thần giao cách cảm. Đó là lý do tại sao không có dấu vết nào còn lại.

3. Dân cư biến mất bí ẩn

Cư dân đảo là người Rapa Nui đã sống tách biệt với thế giới và biến mất hoàn toàn bí ẩn vào thập niên 1860. Và sau rất nhiều năm, bí ẩn ấy ngày càng trở nên kỳ lạ.

"Chuyện gì đã xảy ra trên đảo Phục Sinh?" là câu hỏi đã được giới khoa học nhắc đi nhắc lại trong hàng thế kỷ.

Tiến sĩ Cedric Puleston từ ĐH California chia sẻ: "Dù gần như biệt lập, dân đảo Phục Sinh vẫn tạo dựng được một hệ thống xã hội khá phức tạp”.

“Chúng tôi đã giải mã được 1 phần của bí ẩn - về số người thực sự trên đảo Phục Sinh trước khi nó sụp đổ. Nghiên cứu cho thấy hòn đảo có thể chứa tối đa 17.500 người vào thời kỳ cực thịnh”.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã thử xét nghiệm tiềm năng sản xuất của hòn đảo. Theo đó, 19% diện tích đảo có thể đã được dùng để trồng khoai lang - thực phẩm chính của dân đảo. Sau đó, họ xem xét tỉ lệ sinh/tử dựa trên nguồn cung thực phẩm, và đưa ra một con số cụ thể.

Nhưng quan trọng hơn, nếu như dân số mất tích lên tới 17.500 người, thì rõ ràng, phải có một sự kiện gì đó với quy mô lớn đã diễn ra, mà con người hiện tại chưa giải mã được.

Hình ảnh mô tả đảo phục sinh nhìn từ trên cao. (Ảnh: earthobservatory.nasa.gov)
Hình ảnh mô tả đảo phục sinh nhìn từ trên cao. (Ảnh: earthobservatory.nasa.gov)

Và liệu họ có phải là chủ nhân các bức tượng không? Chúng ta hãy cùng xem qua giả thuyết tiếp theo.

4. Ai là chủ nhân của các bức tượng?

Ở đảo Phục Sinh này từng tồn tại một nền văn minh phát triển - đó là sự thật. Bằng chứng là những bức tượng thần bằng đá được dựng đều khắp trên đảo. Nhưng dường như công việc đã bị ngừng lại đột ngột. Trên đảo hiện vẫn có một số ít người bản xứ nhưng họ không hề biết bất cứ điều gì về tổ tiên mình.

Theo hầu hết các nhà nghiên cứu, những tộc người man dã chắc chắn không đủ sức lực và trí lực để điêu khắc và dựng lên những bức tượng đá nặng hàng chục tấn, có chiều cao từ 3 - 20 mét, mà quan trọng nhất là sắp xếp, bố trí chúng một cách rất khoa học và mỹ thuật khắp đảo.

Trong tác phẩm “Giáo điều kỳ bí”, nữ triết gia và là nhà thông thiên học Helena Blavatsky cũng đưa ra một giả thuyết không kém phần… bí hiểm.

Bà cho rằng đảo Phục Sinh là một phần của Lemuria - một vùng đất cổ xưa huyền thoại, một nền văn minh tiền sử. Trong số cư dân sống trên đảo, ngoài người Lemuria còn có người Atlantis. Theo truyền thuyết thì cả hai giống người này đều rất cao, có thể từ 7 - 18 mét. Vì vậy, đối với họ, việc chế tác và lắp đặt những bức tượng cỡ 10 mét không có gì là khó.

Nhưng rồi xảy ra một trận đại hồng thủy, từng được nhắc đến trong truyền thuyết của người bản địa: "Từ trên bầu trời và từ bên trong lòng đất sấm sét bỗng nổ ra, nước biển dâng cao ngùn ngụt…", khiến hòn đảo chìm nhanh xuống biển.

Theo bà Blavatskaya, vài thế kỷ sau, mảnh đất này đã trồi lên từ dưới đáy biển. Khi đảo trồi lên, nhiều bức tượng vẫn còn ở trong tư thế gần như ban đầu, nhưng cũng có vài bức đã bị ngã đổ trong quá trình "sụt xuống - trồi lên".

5. Nguồn gốc chữ viết kỳ lạ

Năm 1864, Eugène Eyraud, nhà truyền giáo của Giáo hội Công giáo La Mã đã đến Đảo Phục sinh để truyền giáo. Ông đã phát hiện ra chữ viết rongo-rongo - được coi là ngôn ngữ mẹ đẻ của hòn đảo này. Nó được tìm thấy trên 26 tấm bảng gỗ ghi loại chữ tượng hình kỳ lạ, cây trượng của thủ lĩnh Đảo Phục sinh, một bức tượng người chim.

Hình ảnh mô tả phần giữa của tấm gỗ được khắc chữ rongo-rongo được tìm thấy trên Đảo Phục sinh. (Ảnh: Wikipedia)
Hình ảnh mô tả phần giữa của tấm gỗ được khắc chữ rongo-rongo được tìm thấy trên Đảo Phục sinh. (Ảnh: Wikipedia)

Theo Eugène, dường như loại chữ viết rongo-rongo không có nguồn gốc từ Đảo Phục sinh, mà chúng được truyền đến hòn đảo này từ xa xưa. Vậy người ta tìm thấy loại chữ viết này ở đâu?

Nhà nhân chủng học nổi tiếng người Na Uy Thor Heyerdahl phát hiện rằng nơi duy nhất mà loại chữ viết rongo-rongo này được tìm thấy là nơi những người da đỏ đầu tiên sống xung quanh Hồ Titicaca trên dãy núi Andes ở Nam Mỹ, vắt ngang qua Peru và Boliva. Vậy bằng cách nào mà ngôn ngữ của những người ở dãy Andes cách Đảo phục sinh gần 4.000km có thể xuất hiện ở nơi đây?

Nhà thôi miên hồi quy Dolores Cannon cho biết đó là chữ viết của những người tạo ra các bức tượng, tức người Lemuria. Nhưng bất cứ ai đọc được cũng không thấy có tác dụng gì vì họ không có được năng lượng tâm linh.

6. Loạt công trình bí ẩn trên Trái Đất đều là mắt xích của nhau

Ở thời đại cách đây hàng nghìn năm, tại sao con người có thể tạo nên công trình đồ sộ, ẩn chứa nhiều ý nghĩa như thế với Trái Đất và vũ trụ?

Khi câu hỏi này chưa được giải đáp thì người ta lại phát hiện những điều kỳ lạ khác: Hàng loạt các công trình bí ẩn khác trên thế giới có mối liên kết "dị thường" với nhau.

Cụ thể, theo các nhà khoa học, các công trình cổ đại bí ẩn có sự kết nối với nhau theo hình tròn: như kim tự tháp Giza (Ai Cập), ốc đảo Siwa (Ai Cập), cao nguyên đá sa thạch Tassili n'Ajjer (sa mạc Sahara), quần thể kim tự tháp Paratoari (Peru), thành cổ Ollantaytambo (Peru), "Thành phố đã mất của người Inca" Machu Picchu (Peru), đường Nazca (Peru), Đảo Phục Sinh (Chile), Đảo Aneityum, Đền Preah Vihear (Campuchia), Di chỉ Sukhothai (Thái Lan), Thị trấn Pyay (Myanmar), Đền Khajuraho (Ấn Độ), Di tích Mohenjo Daro (ở Pakistan), "Thành phố của người Ba Tư" Persepolis, Thành phố cổ Ur (Iraq), Thành cổ Petra (Jordan).

Một số nhà khảo cổ học cho rằng những bức tượng ở Đảo Phục sinh đã được tạo ra vào khoảng thế kỷ thứ 12. Tuy nhiên thật khó mà hình dung được cần bao nhiêu người và bao nhiêu thời gian mới có thể tạc được gần 1.000 bức tượng nặng hàng chục thậm chí hàng trăm tấn như thế - với công cụ chỉ bằng những chiếc búa và đục thô sơ, chưa kể đến việc di chuyển chúng từ nơi chế tác đến vị trí đặt cũng là khối lượng công việc khổng lồ.

Ngoài ra, đã có những bằng chứng khảo cổ về mối quan hệ mật thiết về hình dáng khuôn mặt của các bức tượng đá, công nghệ xây tường, nguồn gốc của ngôn ngữ rongo-rongo... giữa Đảo Phục sinh và đất nước Peru - cho thấy giữa 2 nơi có một mối liên hệ sâu sắc về văn hóa, lịch sử. Phải chăng 2 khu vực này đều có cùng một nguồn gốc văn hóa, cùng một trình độ kỹ thuật xây dựng?

Khoa học cũng đã có những bằng chứng xác thực được rằng Đại Kim tự tháp Giza ở Ai Cập, quần thể đền Ăng-co-vát và các hình vẽ, đường băng trên cao nguyên Nazca, Peru có thể là các công trình của văn hóa tiền sử, là nền văn hóa có trước nền văn hóa 5.000 năm hiện nay của chúng ta.

Vậy phải chăng các tượng đá Moai và các bức tường đá ở Đảo Phục sinh, vốn cùng nằm trên cùng một đường tròn vòng quanh trái đất với các di chỉ cổ đại bên trên - cũng được xây dựng bởi một nền minh tiền sử có trình độ công nghệ rất cao và đã bị hủy diệt vì một lý do nào đó?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Hình ảnh người cổ đại xuất hiện kỳ lạ trên bầu trời Aegean - Châu Âu năm 1945, thế giới song song thực sự tồn tại?



Luôn có những điều kỳ lạ xảy ra xung quanh chúng ta, và thậm chí một số hiện tượng không thể dùng khoa học hiện đại để giải thích. Vũ trụ song song có thực sự tồn tại? Vào những năm 1940, hơn 2.000 người đã nhìn thấy cận cảnh ảo ảnh cùng một lúc, nhưng những người liên quan gọi đó là sự biến dạng của thời gian và không gian. Vậy điều gì đã thực sự xảy ra vào năm đó? Một loạt các câu hỏi không thể giải thích đã thúc đẩy các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu chuyên sâu và khám phá không gian và thời gian của vũ trụ.

Có một người đàn ông Trung Quốc nói rằng ông nhìn thấy những điều kỳ lạ "trên ban công của nhà ông, ở Cổng phía Nam", và chỉ có phía nam Quảng trường Thiên An Môn xuất hiện các huyền thoại và truyền thuyết, đó có phải là những điều mà ông đã thực sự nhìn thấy?

Sơ đồ của Cổng Nantian.
Sơ đồ của Cổng Nantian. (Ảnh chụp màn hình TV / Video thời nhà Đường mới)

Sự kiện ảo ảnh vào những năm 1940 có đề cập đến một cảnh tượng kỳ diệu xuất hiện trên Biển Aegean của Châu Âu vào năm 1945. Vào thời điểm đó, mọi người đang vui chơi trên bãi biển và phơi nắng thì thấy trên bầu trời đột nhiên xuất hiện nhiều hình người khổng lồ, những người này không chỉ mang theo vũ khí cổ, mà còn mặc quần áo bộ tộc nguyên thủy cổ đại đang phi ngựa nước đại trên cánh đồng cát. Hiện tượng này thu hút sự chú ý của rất nhiều người, khi đó hơn 2.000 người trên bãi biển chứng kiến ​​cảnh tượng này đã xôn xao bàn tán một thời gian lâu.

Một số người cho rằng đây là một hiện tượng ảo ảnh bình thường , nhưng tại sao nó lại hiện ra khung cảnh cổ xưa? Ảo ảnh xảy ra trên thế giới thường là những điều đang xảy ra ở một góc khác của thế giới, và do khúc xạ ánh sáng mặt trời gây ra. Ảo ảnh trên biển Aegean có phải do sự biến dạng của thời gian và không gian? Các nhà khoa học cũng đã đưa ra giải thích như vậy về hiện tượng này, nhưng vẫn chưa có câu trả lời xác đáng.

Một số người cho rằng ảo ảnh là có thật, nhưng hiện tượng nó khúc xạ không phải là cảnh tượng trên trái đất, mà là một thế giới song song hoặc một hình ảnh phản chiếu của thời gian và không gian khác. Khi đó, thời gian và không gian đều bị biến dạng, sau khi ánh sáng mặt trời khúc xạ, hình ảnh phản chiếu của không gian khác lại trái đất nên mới xuất hiện cảnh tượng này.

Mặc dù lời giải thích này có vẻ hợp lý nhưng đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi sự việc này xảy ra và chúng ta không có cách nào xác minh được. Điều này cũng đã trở thành một bí ẩn lớn chưa được giải đáp trong lịch sử nhân loại. Có lẽ nhân loại sẽ có thể giải thích được hiện tượng này trong tương lai.

Bộ lạc nguyên thủy cổ đại

Con người cổ đại phi nước đại trên chiến trường.
Con người cổ đại phi nước đại trên chiến trường. (Ảnh chụp màn hình video)

Nhiều người liên tưởng đến một hiện tượng bí ẩn khác sau khi nhìn thấy ảo ảnh ở biển Aegean, được gọi là Trận sóng thần tuyết ma. Hiện tượng này cũng rất đáng ngạc nhiên, cảnh tượng tuyết mà mọi người nhìn thấy trong ảo ảnh này thực chất giống như một cơn sóng thần, nhưng nó không tồn tại ngoài đời thực. Do đó, nhiều người cảm thấy rằng khung cảnh được phản chiếu bởi ảo ảnh này không phải là những gì thực sự xảy ra trong cuộc sống thực, mà là từ các không gian khác.

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, chúng ta cũng đã và đang trên con đường khám phá vũ trụ, tuy chưa tìm ra lối đi và sự chuyển đổi của thế giới song song nhưng nhiều nhà khoa học cho rằng thế giới song song có thật, ông Hawking cũng đã tiên đoán rằng trong vòng 10 năm nữa loài người có thể tìm thấy các vũ trụ song song.

Vũ trụ không phải là số ít mà là một không gian đa chiều, có lẽ trong một khoảng thời gian nhất định, thời gian và không gian đã bị bóp méo, và hiện tượng thời gian và không gian khác sẽ được phản ánh trong thế giới hiện tại. Con người trên trái đất cũng sẽ du hành đến một thời gian và không gian khác. Những kết luận này có vẻ khó tin đối với chúng ta, nhưng không ai có thể đảm bảo liệu tương lai có trở thành hiện thực hay không.

Vũ trụ song song

Vũ trụ song song.
Vũ trụ song song. (Ảnh minh họa: Pixabay)

Vì vậy, nhận thức của con người trước vũ trụ vẫn còn rất nhỏ bé, mặc dù chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã tạo ra nền văn minh và công nghệ rực rỡ, nhưng nó không có gì đáng nói khi so sánh với vũ trụ khổng lồ.

Mặc dù ngày nay chúng ta không có cách nào giải thích được những hiện tượng kỳ diệu này, nhưng trong tương lai, với sự phát triển không ngừng của khả năng nghiên cứu và phát triển, sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ sẽ ngày càng sâu sắc hơn. Có lẽ đến lúc đó, nền văn minh nhân loại sẽ đạt được bước tiến nhảy vọt về chất, và tất cả những câu đố chưa được giải đáp sẽ được hé lộ.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bí ẩn 1.600 tấn vàng chìm dưới đáy hồ nhưng không một ai dám trục vớt



Kho báu ẩn giấu ở hồ Baikal là một trong những câu chuyện thu hút nhiều sự chú ý và tò mò của nhiều người. Người dân ở đây không ai dám đi đánh cá, nguyên do bí ẩn đằng sau này là gì?

Có nhiều người vào núi săn tìm kho báu nhưng cuối cùng vẫn không tìm thấy gì, khiến những bảo vật này trở thành một bí ẩn trong lịch sử. Tuy nhiên, ở hồ Baikal của Nga, nơi cũng lưu hành truyền thuyết khoảng 1600 tấn vàng , không ai dám đi đánh cá, nguyên do ở đây là gì?

Đô đốc hải quân lừng danh - Kolchak.
Đô đốc hải quân lừng danh - Kolchak. (Ảnh: Wikipedia)

Hồ Baikal là hồ nước ngọt lớn nhất ở Âu Á, còn được gọi là Hồ Mặt Trăng. Nó được gọi là "Bắc Hải" ở Trung Quốc cổ đại, và nó là khu vực hoạt động chính của các bộ lạc phía bắc, trong đó chi nhánh của người Mông Cổ có dân số đông. Về chuyện 1.600 tấn vàng ‘nằm ngủ’ dưới đáy hồ, có thể bắt nguồn từ việc sau khi Sa hoàng Nicholas II buộc phải thoái vị, chế độ Nga bị tê liệt, các sĩ quan và quý tộc bắt đầu ủng hộ vị đô đốc hải quân lừng danh - Kolchak.

Năm 1918, Kolchak tự thành lập chính phủ tối cao của Nga. Vào tháng 8 năm 1919, quân của ông ta bị Hồng quân đánh bại và bắt đầu rút lui, Kolchak muốn vận chuyển vàng từ kho bạc về phía đông, định chạy trốn qua Siberia đến Thái Bình Dương để tìm kiếm sự giúp đỡ của Nhật Bản.

Với 500.000 quân đi theo Kolchak và 750.000 người lưu vong, những người hoài niệm về Sa hoàng, hơn 1,2 triệu người đã bắt đầu một chuyến bay vĩ đại. Ngoài ra còn có một bí mật đáng kinh ngạc ẩn trong đó, đó là 1600 tấn vàng đã đi đâu? Họ đến thị trấn nhỏ Tomsk, cách Omsk hơn 1.000 km về phía đông, nhiệt độ ở đây lên tới âm 60 độ, trong tiết trời lạnh giá, nhiên liệu trong xe cạn kiệt, họ chỉ có thể kéo vàng cốm bằng xe trượt.

Lúc này băng tuyết càng ngày càng dày đặc, những người đi cùng hắn lần lượt bắt đầu chết cóng, khi họ nghỉ ngơi một đêm ở Nikolaevsk, 200.000 người chết cóng. Khi họ vượt qua Omsk đến hồ Baikal , chỉ có 250.000 người cuối cùng trong số hơn 1,2 triệu người, và 1.600 tấn vàng. Nhiệt độ của hồ Baikal đã lên tới âm 69 độ, họ đi bộ trên mặt băng đóng băng, thời tiết cực lạnh khiến hàng nghìn người thiệt mạng, và họ cũng không vượt qua được hồ Baikal. Khi mùa xuân đến làm tan băng vào ngày hôm sau, 25 triệu và 1600 tấn vàng đã bị chìm xuống đáy hồ Baikal. Tuy nhiên, một số người nói rằng công nghệ tiên tiến như vậy, tại sao không trục vớt?

Các chuyên gia cho rằng, không phải không trục vớt mà ngại trục vớt. Bởi vì độ sâu trung bình của hồ Baikal là 774 mét, nơi sâu nhất là 1742 mét. Hơn nữa, do hồ Baikal không được bao phủ bởi các sông băng thuộc Đệ tứ, nên các loài động vật nước ngọt thuộc Đệ tam vẫn tồn tại trong hồ và việc trục vớt ngẫu nhiên có thể gây ra tổn thất. Vì hồ Baikal là hồ nước ngọt sâu nhất và lâu đời nhất thế giới trong thế kỷ qua, hồ Baikal và 1600 tấn vàng cuối cùng đã biến mất của "vàng sa hoàng" đã dẫn đến cơn sốt săn tìm kho báu của nhiều "thợ săn kho báu". Tuy nhiên, người ta khẳng định cách đây không lâu đã tìm thấy một vật kim loại sáng bóng như vàng dưới đáy hồ, nếu đây thực sự là báu vật thất lạc của Sa hoàng thì hiện tại nó trị giá hơn 90 tỷ đô la Mỹ.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS