Container Icon

Bí ẩn về cột đá 'Quỷ dữ' ở Anh



Ở trung tâm hạt Yorkshire (Anh) xuất hiện ba cột đá thẳng đứng, cao lần lượt 5,5 - 6,7 và 6,8m. Chúng xếp thành hàng ngang, dọc theo hướng Đông nam - Tây bắc. Kể từ năm 1709, nước Anh đã tích cực khai quật và lý giải những cột đá này. Cho đến nay, bí ẩn về các cột đá này vẫn chưa được lý giải rõ ràng.

Mũi tên của quỷ

"Mũi tên của quỷ" này là chỉ ba cột đá có nhiều mũi tên đứng sừng sững đầy bí ẩn. Theo ghi chép của người Anh, ba cột đá ở Yorkshire có khả năng là phần còn lại của một hàng 4-5 cột đá. Nó nằm gần thị trấn Aldborough, Yorkshire, cách xa lộ A1 chưa đầy 200m.

Niên đại của ba cây cột này cách nhau khá xa, thuộc thời đại đồ đá mới hoặc đồ đồng (khoảng 1200 năm trước Công nguyên). Đây là tảng đá đứng cao nhất ở Vương quốc Anh, được biết đến với nhiều tên gọi ở địa phương. Ví dụ như Devil's Bolts, Three Sisters, Three Hounds nhưng phổ biến nhất là tên gọi The Devil's Arrows có nghĩa là “mũi tên của quỷ”.

Niên đại của ba cây cột này cách nhau khá xa, thuộc thời đại đồ đá mới hoặc đồ đồng (khoảng 1200 năm trước Công nguyên).
Niên đại của ba cây cột này cách nhau khá xa, thuộc thời đại đồ đá mới hoặc đồ đồng (khoảng 1200 năm trước Công nguyên). (Ảnh: Scienceinfor)

Trong thần thoại Yorkshire thế kỷ XVII, có một cư dân ở Aldborough đã chọc giận ma quỷ. Trong cơn giận dữ, con quỷ đã nhổ trụ đá dài và lớn ở ngôi làng How Hilltop gần đó thành những mũi tên, và phóng vào Aldborough. Nhờ thiên thần nhanh tay ngăn cản (hoặc ác quỷ nhắm không đúng mục tiêu), mũi tên đã chệch mục tiêu, rơi xuống rìa Aldborough.

Con quỷ đầu tiên cao 6,8m so với mặt đất, nổi tiếng với cột đá cao thứ hai ở Anh (sau cột đá cao 8m ở Rudston). Nó có mặt cắt 1,4 x 1,2m, đứng trên một khoảnh đất trống mọc đầy cỏ dại.

Con quỷ thứ hai cách 110m, cao 6,7m, tiết diện 1,5 x 1,2m và hơi nghiêng về hướng Nam. Con quỷ thứ ba đi tiếp 60m, cao 5,5m, tiết diện 2,6 x 1,4m.

Người dân Yorkshire còn đồn thổi, nếu ai đó đi vòng vòng gặp ma quỷ 12 lần ngược chiều kim đồng hồ thì ma quỷ sẽ xuất hiện. Có lẽ, quan niệm này đã xuất hiện vào thời Trung cổ, trong thời kỳ mà Cơ đốc giáo loại trừ tà giáo.

Theo ghi chép lịch sử của Anh, vào năm 1709, Yorkshire đã tiến hành cuộc khai quật những cột đá quỷ đầu tiên. Họ kẻ một đường đồng mức cách cột đá đứng chính giữa 2,7m đào sâu xuống đất.

Ở độ sâu 1,5m dưới mặt đất, người dân phát hiện xung quanh cột đá có rất nhiều đá, sỏi, đất sét nén chặt. Bên dưới lớp hỗn độn này để lộ chân cột đá là một phiến đá phẳng hình vuông. Rõ ràng, cột đá đã được đẽo, mài, mài nhẵn, sau đó được chôn, gia cố bằng đá dăm và lấp đất lên trên.

Năm 1876 và 1881, Yorkshire lần lượt khai quật chân của hai con quỷ còn lại. Họ phát hiện ra rằng tất cả chúng đều được 'trồng' theo cùng một cách với cột đá ở trung tâm. Trong đó, cột dưới chôn nông hơn (1,4m) và cột cao chôn sâu hơn (1,8m).

Cả 3 mũi tên đều có cùng một loại sạn thạch. Ở Anh, đây là loại đá phổ biến, nhưng đặc biệt không có ở Aldborough. Theo thời gian, các mũi tên đều bị bào mòn bởi thời tiết. Tuy nhiên, chúng vẫn giữ nguyên dấu vết hình dạng ban đầu. Đây là những rãnh dọc, sâu kéo dài từ đỉnh xuống và những vết lõm bao quanh thân.

Ý kiến ​​khác cho rằng các rãnh dọc và vết lõm là điều bình thường. Cột đá sẽ không quá bền và hoàn toàn có thể bị mưa gió phong hóa nhiều tạo thành những vết tích như có bàn tay con người can thiệp.

Cột đá thứ 4

Nhiều người cho rằng đường dây đưa quỷ ở Aldborough phải có 4 trụ đá. Họ trích dẫn báo cáo của nhà thám hiểm thời Trung cổ John Leland, được viết vào khoảng những năm 1530. Leland ghi rõ, có 4 cột đá xếp thành một hàng.

Khoảng 30 năm sau, một nhà thám hiểm thời Trung cổ khác, William Camden, báo cáo rằng cây cột thứ tư đã được đào bởi những người săn kho báu. Họ tưởng mình giấu vàng bạc dưới mũi tên nên chặt phá, lục tung cột để tìm.

Có rất nhiều suy đoán về số phận của con quỷ thứ 4. Một số người nói rằng, khi xây dựng cây cầu bắc qua sông Tutt, cư dân của Aldborough đã sử dụng nó như một vật liệu. Một số khu vườn địa phương cũng tuyên bố đang lưu giữ những gì còn lại của con quỷ. Một số nghiên cứu cho rằng cây cột thứ tư đang ngủ sâu dưới lòng đất.

Nhiều khả năng, các cột đá là một phần của cảnh quan nghi lễ thời tiền sử của người dân trên thung lũng này.
Nhiều khả năng, các cột đá là một phần của cảnh quan nghi lễ thời tiền sử của người dân trên thung lũng này. (Ảnh: Scienceinfor)

Theo văn hóa dân gian Yorkshire, cung quỷ bao gồm 5 hoặc nhiều cột đá. Các mũi tên sẽ đi thẳng về phía Tây bắc dọc theo Aldborough dẫn đến sông Ure. Nhiều khả năng, các cột đá là một phần của cảnh quan nghi lễ thời tiền sử của người dân trên thung lũng này.

Trở lại với ba mũi tên của Aldborough, giới khảo cổ học Anh vẫn còn hoài nghi. Họ không biết chúng đã được 'trồng' từ khi nào, do ai trồng và nhằm mục đích gì.

Hiện tại, có hai giả thuyết về các cột đá quỷ dữ ở Aldborough: Đầu tiên, nó có thể là tượng đài chiến thắng của người La Mã. Thứ hai, đó cũng có thể là một đài quan sát mặt trăng, phục vụ một số mục đích tôn giáo.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Shambhala - Vương quốc bí ẩn trong lòng đất Tây Tạng, hay cõi tiên tại nhân gian



Trong suốt hàng thế kỷ, các vị Lạt Ma Tây Tạng đã tìm kiếm vị trí một vùng đất bí ẩn - nơi không bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn của con người, nơi những người thăng hoa về tâm linh cư ngụ - song họ đã ra đi mà chưa một lần trở lại. Có thể họ đã tìm thấy miền đất bí ẩn và ở luôn lại đó, cũng có thể họ đã bỏ mạng trong hành trình tìm kiếm vương quốc huyền thoại này - vương quốc Shambhala!

Shambhala được coi là một vùng đất linh thiêng, nơi chỉ những người có trái tim hướng thiện, và phẩm hạnh cao quý mới có thể thấy được. Theo giáo lý Phật giáo Tây Tạng, Shambhala nghĩa là “cõi tịnh độ và an nhiên của phật tử”.

Vùng đất Shambala được đề cập cụ thể trong pháp môn Kalachakra của Mật tông như một thiên đường duy nhất tồn tại trong hành tinh của chúng ta.

“Shambala là một vương quốc, nơi các thần tiên sinh sống, những sinh mệnh vượt ra khỏi sự hủy diệt và tàn phá của thời gian và lịch sử, những sinh mệnh sẽ sẵn sàng cứu thế giới nhân loại trong giờ phút cần thiết”, trích đoạn trong sách của pháp môn Kalachakra của Mật tông.

Các tín đồ Phật giáo truyền thống tin rằng vương quốc này tồn tại ở một nơi nào đó trong vùng Himalaya, Tây Tạng, và được canh giữ bởi những vị thần linh với sức mạnh siêu nhiên. Điều này càng làm cho Shambhala trở nên hấp dẫn và bí ẩn hơn.

Vậy, vị trí thực sự của vương quốc thần tiên Shambhala rốt cuộc ở đâu?

Đi tìm vùng đất tâm linh Shambhala 

Nhiều bằng chứng cho thấy vũ trụ tồn tại rất nhiều thế giới với tầng thứ riêng, tọa lạc tại những vị trí đặc định, mà nếu con người muốn tìm đến thì phải đạt được một số yêu cầu nhất định. Thánh địa hay vương quốc Shambhala là một trong vô số những địa danh thần bí như thế.

Trong thế kỷ 20, các nhà thám hiểm đã bắt đầu hành trình tìm kiếm Shambhala. Nhiều người cho rằng, Shambhala tại Tây Tạng đã bị chôn vùi đâu đó dưới những lớp tuyết dày nằm trên đỉnh dãy núi Himalaya hùng vĩ.

Kể từ đó, chưa ai phát hiện được vị trí chính xác của vương quốc Shambhala, ngoại trừ thông tin rằng thị trấn Zhongdian - đã được đổi tên thành Shangri-la với ý nghĩa “vùng đất tâm linh” vào năm 2011 - nằm trong khu vực biên giới giữa Trung Quốc - Tây Tạng.

Khi nhà triết học Nga Nicholas Roerich thực hiện cuộc hành trình qua những ngọn núi Trung Á vào năm 1926, ông và những người dẫn đường bị sốc khi chứng kiến một cảnh tượng đáng kinh ngạc. Đó là một quả cầu vàng đang lơ lửng trên bầu trời, di chuyển từ dãy núi Altai (nằm trên khu vực biên giới Nga, Trung Quốc, Mông Cổ và Kazakhstan) đến phương bắc với tốc độ đáng kinh ngạc. Quả cầu sau đó chuyển một mạch về phía tây, rồi nhanh chóng biến mất.

Hành trình của ông Roerich không chỉ là một cuộc thám hiểm đơn thuần, bởi ông mang theo một mảnh vỡ của tảng đá Cintamani huyền thoại (là một đồ vật của Đức Phật - được cho là có thể thực hiện điều ước và là đại diện cho các giá trị cũng như giáo lý của Đức Phật).

Nhà triết học Roerich cố gắng trả nó về đúng vị trí ở trung tâm của vương quốc Shambhala, và quả cầu vàng có thể là dấu hiệu của sự chào đón.

Các tín đồ Phật giáo không phải là những người duy nhất cảm thấy hứng thú với sự tồn tại của Shambhala.
Các tín đồ Phật giáo không phải là những người duy nhất cảm thấy hứng thú với sự tồn tại của Shambhala. (Ảnh: Pxhere)

Các tín đồ Phật giáo không phải là những người duy nhất cảm thấy hứng thú với sự tồn tại của Shambala. Thậm chí Đức quốc xã đã từng bị mê hoặc với ý tưởng về một xã hội hoàn hảo về mặt Tâm linh, đến nỗi họ đã phái một vài phái đoàn đi tìm kiếm địa danh huyền thoại này.

Thuyết trái đất rỗng - Hay vương quốc dưới lòng đất

Cũng có một số ý kiến rằng, Shambhala thực chất nằm dưới lòng đất. Ý tưởng này được củng cố bởi niềm tin vào thuyết “Trái đất rỗng” (Hollow Earth Theory) (do nhà thiên văn học Edmund Harley khởi xướng lần đầu tiên vào năm 1692). Thuyết này cho rằng hành tinh chúng ta phần lớn là rỗng ruột, chứa bên trong một không gian trống rỗng rộng lớn, có thể chứa thảm thực vật và các dạng thức của sự sống.

Một tấm bản đồ ở Neuschwabenland, Nam Cực của Đức Quốc xã gần đây đã được công bố, nó được tìm thấy trong một tàu ngầm U-boat của Đức Quốc xã. Nội dung tấm bản đồ nói lên rằng Trái Đất là một quả cầu rỗng. Phần dưới của bản đồ mô tả thành phố Shambhala.

Thành phố này trùng khớp với lời kể của các nhà sư Tây Tạng. Trong nhiều năm, họ cũng tin rằng Shambhala là một thành phố nằm dưới bề mặt hành tinh chúng ta. Tấm bản đồ đã cho thấy vị trí thực sự của thành phố huyền thoại này.

Trong cuốn sách “Quái thú, Nhân loại và Thần thánh”, nhà văn Ferdinand Ossendowski (1876-1945) đã ghi lại trải nghiệm của chính ông ở Nga, trong một chuyến hành trình đến Mông Cổ.

Trong chương 46 của cuốn sách nói về ‘Vương quốc dưới lòng đất’, ông kể về một sự kiện bất ngờ, đó là khi những người dẫn đường Mông Cổ đột ngột dừng lại, nhảy xuống khỏi lạc đà của họ và bắt đầu cầu nguyện, lặp đi lặp lại các từ ngữ kỳ lạ: “Om! Mani padme Hum!”.

Khi kết thúc, một trong số họ giải thích:

“Bạn thấy không? Những con lạc đà rung tai trong sợ hãi? Những đàn ngựa trên cánh đồng đứng im chú tâm và mấy đàn cừu và gia súc cúi đầu xuống mặt đất? Bạn có thấy những con chim ngừng bay…

Tất cả sinh mệnh sống đang sợ hãi cầu nguyện và chờ đợi định mệnh của mình. Vì thế ngay lúc này. Và bất cứ khi nào cũng sẽ là thời điểm vị Vương của thế giới - ngự trị nơi cung điện dưới lòng đất quyết định vận mệnh cho tất cả mọi người trên Trái Đất“.

Lục địa chìm dưới đáy biển?

Trong cuốn sách của mình, nhà văn Ossendowski tuyên bố đã khám phá ra “bí mật của những bí mật”, đó là huyền thoại về vương quốc dưới lòng đất. Ông nhìn thấy một hang động, hay một “cánh cửa khói” - nơi mà người dân địa phương cho biết rằng một bộ lạc cổ đã đi vào một “vương quốc dưới lòng đất”.

Đại Bảo tháp tại Trung tâm Núi Shambhala, Colorado, Hoa Kỳ, một bảo tháp theo phong cách Tây Tạng hay còn gọi là chorten.
Đại Bảo tháp tại Trung tâm Núi Shambhala, Colorado, Hoa Kỳ, một bảo tháp theo phong cách Tây Tạng hay còn gọi là chorten. (Ảnh: Commons Wikimedia)

Cuối cùng, sau nhiều nghi vấn được đặt ra, Ossendowski công bố một số sự việc được cho là sự thật về vương quốc bí ẩn này, liên quan tới Shambhala.

“Đó cũng không phải là cái gì đó quá kỳ lạ. Hai đại dương lớn nhất của phương Đông và phương Tây, thuở xưa từng là hai lục địa; giờ nó đã chìm xuống đáy biển, những người dân của họ đã đi vào vương quốc dưới lòng đất. Có rất nhiều người và rất nhiều dân tộc khác nhau...”.

Cho tới gần đây, nơi kỳ lạ dưới lòng đất này được biết đến là thành phố dưới lòng đất Agharta - được cho là một tên gọi khác của chốn thần bí Shambhala. Ossendowski miêu tả đây là một địa danh của những kì quan công nghệ tiên tiến (bao gồm cả đĩa bay), nơi ở của các cao tăng, nhà khoa học và các “siêu nhân” sở hữu sức mạnh đáng kinh ngạc.

Theo đó, thế giới Agharta dưới lòng đất rất rộng lớn, và Shambhala được coi là thủ đô của Agharta, mặc dù nó có kiến trúc thuần phương Tây. Những cánh cổng dẫn vào thế giới dưới lòng đất được cho là tồn tại ở các địa cực, hay trong những hang động và đường hầm tổ ong trên khắp thế giới.

Một số người tin rằng có thể xem Shambhala hay Agharta là một dạng của nền văn minh, thừa hưởng từ những tàn tích của Lemuria và Atlantis - hai châu lục đã từng bị phá hủy. Nhà văn Ossendowski cũng nói rằng người dân của nền văn minh này nắm giữ sức mạnh to lớn, nếu bị khiêu khích, họ có thể cho “nổ tung toàn bộ bề mặt hành tinh của loài người và biến nó thành sa mạc”.

Cõi an nhiên và tịnh độ 

Huyền thoại về Shambhala có thể được tìm thấy trong những giáo lý của Mật Tông Kalachakra, nghĩa là “những chu kỳ thời gian”, đây là một pháp tu của Mật Tông Tây Tạng. Đó là “miền đất tịnh độ”, với thành phố tròn tựa một bông sen, tồn tại trong một không gian giữa vật chất và tinh thần. Thủ phủ của Shambhala là Kalapa, nằm ở trung tâm của vương quốc, nơi mà Vương của thế giới tọa lạc trên ngai vàng của mình.

Theo lời tiên tri còn lại thì: “Khi thế giới chúng ta chìm trong chiến tranh và đau khổ, và khi tất cả bị tàn phá thì Chúa tể của thế giới sẽ hiện lên từ Shambala, cùng với một đội quân hùng mạnh, ông sẽ xua đuổi bóng tối ra khỏi Trái Đất. Một thời đại hòa bình và thịnh vượng sẽ bắt đầu từ đó”. 

Điều đó có nghĩa là vương quốc này mang sứ mệnh vô cùng trọng đại, đó là, “sẵn sàng cứu vớt thế giới vào thời khắc cần thiết”.

Một số Lạt ma cho biết Shambhala có đỉnh ẩn khuất trong màn sương. Đây được coi là một địa điểm huyền bí vừa hữu hình vừa vô hình. Cũng là nơi giao thoa giữa Trái Đất và thế giới cao tầng hơn.

Liệu có khả năng Shambhala là một cánh cửa liên thông giữa các thời-không khác nhau? Điều này giải thích tại sao những người từng tìm kiếm địa điểm này đều một đi không trở lại. Có lẽ họ đã đi xuyên qua các cánh cổng vô hình liên kết thế giới chúng ta với các chiều không gian khác.

Một trong những người đứng đầu Phật giáo Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, tin rằng chỉ những người có tâm thuần tịnh mới có thể đến thăm Shambala.

“Chỉ những người có mối quan hệ cơ duyên thực sự đặc biệt mới có thể đến đó, thông qua mối liên hệ với sự Tu tập tâm linh mà họ đạt đến mức độ giác ngộ nào đó. Đây hoàn toàn không phải là nơi mà mỗi người chúng ta có thể tìm thấy. Chúng ta chỉ có thể nói rằng đó là một cõi tịnh độ, một cõi tịnh độ trong cõi người. Và trừ khi một người có đủ đức hạnh, thì mới đến đó được. Người bình thường thì sẽ không thể thực sự đến đó được”, ông nói trong một bài phát biểu năm 1985 và được đăng trên trang Ancient Code.

Shambhala cũng được nhắc đến trong thần thoại Hindu như là nơi sinh ra đại diện thứ 10 của Chúa Vishnu - được đặt tên là Kalki, một hóa thân được tiên tri sẽ xuất hiện trên Trái đất vào thời điểm “cái ác lên đến đỉnh điểm”.

Đại diện của Chúa Vishnu sẽ tiêu diệt tất cả những kẻ xấu xa và giúp những người tốt sống sót, đồng thời mở ra một thời kỳ hoàng kim mới kéo dài 10.000 năm.

Thay lời kết

Đôi khi chúng ta cứ mải tìm kiếm những điều tốt đẹp từ bên ngoài, hay kỳ vọng người khác đem đến niềm vui, hạnh phúc cho bản thân mình. Nhưng có câu nói rằng “Nếu bạn không tìm được người tốt, hãy trở thành chính họ". 

Vậy nếu như không tìm thấy miền đất Tịnh thổ ở bên ngoài như Shambhala, chúng ta hãy biến tâm tính của chính mình thành miền đất tịnh thổ, nơi an lạc, mang lại sự yêu thương, tin tưởng, dễ chịu cho những người xung quanh - thông qua việc tu dưỡng bản thân từ những việc nhỏ nhất…

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bí ẩn sức mạnh của âm thanh



Ở xứ sở huyền bí Tây Tạng có những câu chuyện khiến người ta phải kinh ngạc. Một trong số đó là việc các Lạt-ma ở đây sử dụng sức mạnh của âm thanh - để nâng những khối đá nặng hàng tấn lên độ cao hàng trăm mét. Họ đã dùng phương pháp này để xây dựng các tu viện cheo leo trên vách đá!

Tây Tạng được mệnh danh là thánh địa Phật giáo linh thiêng lâu đời. Cũng chính vì vậy, nơi đây đã xuất hiện rất nhiều kỳ tích mà thế giới không thể tưởng tượng được.

Liệu con người có thể điều khiển đồ vật bay lên, hay khiến tảng đá nặng cả tấn tự dịch chuyển đến nơi mong muốn? Điều này tưởng chừng như chỉ có trong những bộ phim viễn tưởng. Nhưng ở Tây Tạng, điều này là có thể.

Năm 1939, một bác sĩ Thuỵ Điển đã tận mắt chứng kiến các Lạt-ma Tây Tạng dựa vào tấu nhạc và niệm kinh mà nâng được khối đá nặng hàng tấn lên không trung, rồi đặt gọn khối đá vào vị trí của công trình xây dựng. Chắc chắn ở đây phải có một điều bí ẩn nào đó.

Dùng âm thanh để di chuyển khối đá lớn ở Tây Tạng

Năm 1997, trong cuốn sách “The Bridge to Infinity”, tác giả Bruce Cathie đã kể về câu chuyện do chính Tiến sĩ y khoa Jarl, người Thụy Điển, tốt nghiệp đại học Oxford tận mắt chứng kiến.

Trong lần ghé thăm Tây Tạng để chữa bệnh cho một Lạt-ma, tiến sĩ Jarl đã chứng kiến các tăng nhân ở đây sử dụng âm thanh từ những cây kèn dài và niệm chú - để đưa những tảng đá nặng hàng tấn lên những vách núi thẳng đứng cao hàng trăm mét.

Tiến sĩ thấy rằng xung quanh sườn núi là những vách đá cao chót vót, có một hang động cách mặt đất 250m - là nơi mà các tăng nhân muốn đưa một tảng đá có kích thước 1 x 1,5 m lên.

Để làm được điều này, họ đã dùng 13 chiếc trống và 6 chiếc kèn, xếp thành một hình cung là một phần tư hình tròn có bán kính 63 m, được đặt cố định trên các giá treo và có thể điều chỉnh để hướng chính xác về tảng đá.

Gần 200 tăng nhân xếp thành các hàng khoảng 8 đến 10 người/hàng, đứng ở phía sau 19 nhạc cụ này. Khi tất cả mọi người đã vào vị trí, một tăng nhân phát tín hiệu bắt đầu trình diễn.

Những chiếc trống nhỏ tạo thành âm thanh sắc nhọn có tần số cao phi thường, những chiếc trống lớn tạo âm thanh trầm hơn với cường độ cực lớn và ngân dài. Các tăng nhân phía sau đồng thanh tụng kinh với nhịp độ càng lúc càng nhanh.

Không có gì xảy ra trong 4 phút đầu tiên. Nhưng khi tiếng trống và tiếng tụng niệm càng lúc càng dồn dập, thì tảng đá bắt đầu lắc lư rồi đột nhiên bay lên không trung theo hướng cửa động - với tốc độ tăng dần. Sau 3 phút đi lên, nó hạ một cách nhẹ nhàng xuống cửa động trên vách đá.

Cảnh tượng diễn ra thật phi thường. Những tảng đá (cùng kích thước với những tảng đá dùng để xây kim tự tháp) chỉ mất 3 phút để vào đúng vị trí. Bằng cách này, họ đã di chuyển được 5-6 tảng đá lớn trong một giờ.

Một hình vẽ mô tả hiện trường các nhà sư Tây Tạng nâng phiến đá lên hàng trăm mét nhờ sức mạnh của âm thanh.
Một hình vẽ mô tả hiện trường các nhà sư Tây Tạng nâng phiến đá lên hàng trăm mét nhờ sức mạnh của âm thanh. (nguồn: bibliotecapleyades.net)

Vị tiến sĩ sợ rằng mình có thể bị thôi miên, nên đã đặt máy quay phim để quay lại toàn bộ quá trình. Những đoạn tài liệu này vì lý do nào đó đã bị các nhà chức trách của Anh “phân loại” và đến nay nó vẫn chưa được công bố ra công chúng.

Cảnh tượng ngoạn mục này đã hé lộ một bí mật từ lâu nay, đó là sự rung động và nén của trường âm thanh có thể làm mất tác dụng của lực hấp dẫn.

Ngày nay, có nhà khoa học phát hiện ra tính phản trọng lực của âm thanh, cũng có thể khiến đồ vật bay lên.

Mật mã Mạn Đà La kích hoạt máy bay 88 vạn năm trước?

Trong sử thi Ramayana - bảo thư quốc gia của Ấn Độ vào thế kỷ thứ 4 sau CN, có mô tả về một cảnh chiến tranh vào 88 vạn năm trước. Đó là một thời kỳ vô cùng xa xôi, nhưng nếu chứng kiến chiến tranh thời viễn cổ này, sẽ có thể khiến người hiện đại phải choáng váng bởi vũ khí dùng thời đó vô cùng huyền diệu và mạnh mẽ.

Phương tiện thời này sử dụng là các chiến xa trên không gọi là Vimana.

Vimana có các loại và cách sử dụng khác nhau, tương đương với các động cơ khác nhau, dùng làm nhiệm vụ trinh sát. Chúng còn có khả năng tàng hình. Có loại chuyên dùng để chiến đấu, có loại dùng để chở người.

Vimana loại lớn có thể chở được tới hơn trăm người, khá giống với máy bay hành khách ngày nay. Nó có thể xuất hiện hoặc biến mất tùy theo ý muốn của chủ nhân.

Theo như sử thi Ramayana nói rằng, trong một ngày nó có thể bay xuyên qua khắp tiểu lục địa Nam Á - có nghĩa là nó có thể bay 2.110 km.

Điều gây kinh ngạc nhất là động lực của phi cơ thực ra lại là một chú ngữ cổ đại. Chính là khi bạn nói một câu Thần chú nào đó liền có thể khởi động hệ thống động lực của phi cơ, cũng giống như câu ‘vừng ơi mở ra’ của Alibaba.

Nó hoàn toàn được điều khiển bằng giọng nói. Có lẽ cách giải thích này khiến con người ngày nay không thể tiếp nhận được, vì thế mọi người đều coi Ramayana như huyền thoại cổ đại.

Tuy nhiên, vào những năm 1960 của thế kỷ 20, nhà khoa học Thụy Sĩ Hans Jenny đã công bố các bức ảnh cùng câu chuyện khiến cả thế giới sửng sốt. Đó chính là ông niệm âm “Om” - chữ đầu tiên trong câu thần chú phổ biến trong Phật giáo - Om Mani Padme Hum – Lục Tự Đại Minh Chú.

Ông vừa đọc được câu chú này trong một cuốn sách giới thiệu về Tây Tạng và muốn thử dùng nó. Sau đó, sự việc kỳ lạ xảy ra. Cát thạch anh mà ông đặt trên tấm kim loại dần dần kết hợp thành một hình ảnh cực kỳ phức tạp. Điều khiến nhà khoa học Hans vô cùng kinh ngạc là nó quá giống với biểu tượng Mạn Đà La (Mandala) trong cuốn sách ông vừa đọc.

Mandala Kim cương giới, Tây Tạng, thế kỷ 19. Các vị Thần ở trong và ngoài một vòng tròn khép kín ở giữa mandala.
Mandala Kim cương giới, Tây Tạng, thế kỷ 19. Các vị Thần ở trong và ngoài một vòng tròn khép kín ở giữa mandala. (Ảnh: Wikipedia)

Mạn Đà La (Mandala) là từ tiếng Phạn - ngôn ngữ Ấn Độ cổ, ý nghĩa có thể dịch là “bánh xe tròn đầy đủ” (viên luân cụ túc). Đại ý là bên trong nó có vô tận các hình tròn đan xen với nhau - chứa tất cả bí mật của sinh mệnh và vũ trụ.

Hết lần này tới lần khác, Hans tiến hành lặp lại thực nghiệm này và đều cho ra rất nhiều hình dạng Mandala khác nhau. Điều này dẫn đến một suy đoán rằng: Thần chú thực sự có hình ảnh, phù hiệu và năng lượng đặc biệt tương ứng.

Khi mọi người nhận ra sự kỳ diệu này của âm thanh, trên khắp thế giới diễn ra hàng loạt các cuộc thực nghiệm liên quan.

Chiếc kèn didgeridoo của thổ dân châu Úc

Con người ngày nay không ngừng khám phá tác dụng của âm thanh, trong đó có hiệu ứng thú vị mà sóng âm của chiếc kèn didgeridoo phát ra.

Kèn didgeridoo là loại kèn truyền thống của người thổ dân Châu Úc, có chiều dài từ 1 đến 3m, phần rỗng bên trong của chiếc kèn là những hốc cộng hưởng đặc biệt - được tạo một cách tự nhiên bởi côn trùng.

Người ta đã phát hiện rằng âm thanh từ những chiếc kèn này khi phát ra và phản xạ từ mặt đất có thể tạo ra sóng dừng - khiến những tờ giấy mỏng được giữ lơ lửng trong không khí tại vị trí của nút sóng dừng, như video dưới đây:

Hay thú vị hơn, người ta dùng sóng âm chiếc kèn didgeridoo để tạo ra những con sóng dừng của dòng suối.

Một trường hợp khác là quả bóng bay lên với âm tần nhất định. Một hôm, nhà vật lý học Angelo Esposito của đại học Colombia đang ở phòng thí nghiệm thu dọn đồ, ông thuận tay đặt quả bóng bàn vào trong máy phát âm tần bên cạnh, rồi bật máy; bất ngờ ông chứng kiến quả bóng bàn dần dần bay lơ lửng lên.

Angelo nhanh chóng thay đổi tần số âm và phát hiện: Chỉ với âm tần nhất định thì quả bóng mới bay lên, âm tần khác nhau cũng khiến quả bóng bay lên cao thấp khác nhau.

Điều này mang đến bất ngờ thú vị cho giới học thuật. Nhưng dường như, người xưa đã có những bước tiến vượt xa các nhà khoa học ngày nay. Vào thế kỷ thứ X, nhà lịch sử Arap Al-Masudi có viết một câu chuyện về việc ông tới thăm Ai Cập và đã được nghe một thông tin bí mật cổ.

Bí mật Ai Cập cổ về công nghệ xây dựng Kim tự tháp

Al Masudi viết rằng Kim Tự Tháp được xây dựng như thế này: “Những người xây dựng trước tiên dùng giấy cói có phép thuật ấn vào 4 mặt dưới của phiến đá to cần phải di chuyển, sau đó dùng cây gậy bằng vàng gõ vào phiến đá đó, nó sẽ phát ra âm thanh với tần số đặc biệt.

Tiếp theo là cảnh tượng kinh ngạc, phiến đá dần dần bay lên không, tới một độ cao thì dừng ở trên đó. Rồi người cầm gậy đi gõ phiến khác khiến nó bay lên nhờ sóng âm, khiến các tảng đá khổng lồ bay lên...

Trong cả quá trình này, cây gậy bằng vàng đóng vai trò quan trọng nhất. Thông thường, người cầm gậy sẽ sắp xếp các khối đá, để chúng bay lên phía trước mình khoảng 45m thì dừng lại, giống như dừng lại để kiểm tra đội ngũ đã chỉnh tề chưa… Sau đó người cầm gậy tiếp tục gõ vào đá, phát ra hiệu lệnh, cho phép chúng tiếp tục bay, cho tới khi các tảng đá tới được vị trí cần thiết”.

Người cầm gậy đó giống như người điều phối tại công trường thi công, chỉ huy máy móc; lại cũng giống như nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc giao hưởng. Điều này khác xa với những gì chúng ta tưởng tượng về hình ảnh những người nô lệ cực nhọc dưới nắng gắt, bị những quản đốc cầm roi da quát mắng, hay phải dùng ròng rọc, đòn bẩy, đắp đất làm dốc để đẩy những khối đá xây dựng Kim Tự Tháp.

Thực ra, tại một nghi lễ Thần bí, họ đã dùng phương thức rất nghệ thuật, đó là cầm cây gậy vàng, gõ chỗ này, gõ chỗ kia, cuối cùng kiến tạo nên Kim Tự Tháp vĩ đại.

Từ lĩnh vực khoa học, thì thực sự rất khó tìm ra cách nào giải thích hợp lý hơn. Nhưng lý giải từ góc độ của ‘thanh lưu học’ mới nổi lên gần đây, thì câu chuyện trên không hề huyễn hoặc.

Lạp tử âm thanh phonon có đặc tính phản trọng lực. Nó có thể khiến quả bóng bàn bay lơ lửng trên không, đương nhiên cũng có thể khiến tảng đá to bay lên. Vấn đề chỉ là chúng ta có thể tìm ra được chìa khóa vận dụng một cách hiệu quả loại năng lượng này hay không.

Ngày nay, các nhà khoa học cũng có thể dùng các máy phát âm thanh và loa công suất lớn cộng hưởng với nhau để nâng những tảng đá nặng hàng chục đến hàng trăm cân

Chắc hẳn chúng ta đều sẽ ngạc nhiên về tác dụng to lớn của âm thanh, như các cao tăng Tây Tạng có thể vận dụng nó để nâng các phiến đá lớn, và biết đâu trong tương lai, loài người cũng có thể vận dụng phương pháp này vận chuyển các vật liệu để xây nhà, hay chuyển đồ mà không cần mất sức thì sao nhỉ!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS