Container Icon

Bí mật đáng sợ về “cổng địa ngục” ở Nga gây chấn động thế giới



Tại sao dự án siêu hố sâu Kola ở Nga lại bị yêu cầu dừng lại đột ngột? Những tiếng kêu la ghê rợn của hàng ngàn người phát ra từ lòng đất có phải là ảo giác? Bí ẩn về “cổng địa ngục” đã gây chấn động thế giới.

Siêu lỗ khoan Kola

Lỗ khoan siêu sâu Kola là kết quả của một dự án khoan khoa học của Liên Xô cũ tại Quận Pechengsky, trên Bán đảo Kola. Dự án đã cố gắng khoan sâu nhất có thể vào lớp vỏ Trái Đất. Lỗ khoan được bắt đầu vào ngày 24 tháng 5 năm 1970 bằng cách sử dụng Uralmash-4E, và sau đó là giàn khoan Uralmash-15000.

Lỗ khoan Kola được cho là siêu sâu nhất thế giới hiện nay đạt 12.262 mét. Hố siêu sâu nhất này được các nhà khoa học Nga ví như thành tựu nghiên cứu khoa học lớn thứ ba sau trạm vũ trụ và tàu thám hiểm biển sâu.

Dự án khoan này ở Liên Xô cũ bắt đầu từ đầu những năm 1960 và kết thúc cho đến khi Liên Xô sụp đổ.

Theo Dean Dunn trên tạp chí Geoscience: “Vào năm 1960-1962, sự kết hợp giữa lợi ích kinh tế và lòng tự tin quốc gia trong cuộc chạy đua không gian đã thúc đẩy các nhà khoa học Liên Xô cũ lên kế hoạch khoan một ‘Lỗ hổng của Nga’, mục tiêu là đạt được ranh giới giữa lớp vỏ bên ngoài và bên trong của Trái đất trước chương trình khoan của Hoa Kỳ".

Một bài báo trên Internet với hình ảnh và video giới thiệu rằng cuộc khoan khoa học này là “kế hoạch khoan biển sâu” đầu tiên do Hoa Kỳ đề xuất, và “kế hoạch đổ bộ lên mặt trăng” được ca ngợi là hai kỳ công lớn của nhân loại trong những năm 1960.

Cấu trúc thượng tầng của lỗ khoan Kola Superdeep, 2007.
Cấu trúc thượng tầng của lỗ khoan Kola Superdeep, 2007. (Ảnh: Wikipedia)

Có thông tin cho rằng vị trí khoan được chọn ở khu vực Pachinga không thể tiếp cận, công việc thăm dò bắt đầu vào ngày 24 tháng 5 năm 1970 và kết thúc vào năm 1994.

Năm 1983, giếng đã được khoan tới độ sâu 12.000 mét, và sau đó nó đã được quyết định ngừng khoan tiếp 262 mét cuối cùng được thực hiện từ năm 1983 đến 1993 và mất mười năm.

Tại sao lại ngừng khoan?

Một số hiện tượng khó tin và kỳ lạ đã xảy ra khi các nhà khoa học cho biết sau khi mũi khoan sâu hơn 3 km đã xảy ra một số hiện tượng khó tin và kỳ lạ, người ta nghe thấy tiếng hú và la hét của con người phát ra từ lỗ khoan, và hiện tượng này hoàn toàn không thể dùng khoa học để giải thích.

Lý do chính thức vào thời điểm đó là không đủ kinh phí, nhưng theo những người trong cuộc, lý do thực sự là một số hiện tượng siêu nhiên đã xuất hiện trong giếng khoan. Một nhân viên kỹ thuật khoan khẳng định: “Không có vấn đề kinh phí nào cả, mà là vì có ‘yêu ma’ chui ra khỏi đáy giếng nên công việc khoan phải dừng lại”.

Các nhà nghiên cứu thực địa nhớ lại: “Khi độ sâu của mũi khoan đạt gần đến 13.000 mét, đã phát ra tiếng động lạ khi khoan. Họ đặt một micro chịu nhiệt vào giếng, đồng thời, họ cũng đặt các loại cảm biến khác. “Một âm thanh rất lạ, giống như ‘tiếng hét của con người’ đã được ghi lại”.

Họ khẳng định rằng: “Âm thanh giống như tiếng kêu của tội nhân từ địa ngục, rồi đột nhiên có một tiếng ᥒổ lớn, và sau đó, không một âm thanh nào được nghe thấy trong nhiều ngày”.

Theo thông tin trên một tờ báo của Phần Lan: “Máy khoan của Nga đã khoan qua cổng địa ngục, khi khoan sâu hơn 3 km đã xảy ra một số hiện tượng kỳ lạ, mũi khoan va vào một vật liệu nào đó rất nóng dưới lòng đất, mặc dù điểm nóng chảy của mũi khoan gần bằng nhiệt độ bề mặt của mặt trời, có khi thả mũi khoan xuống, chỉ rút được sợi dây thừng”.

Từ lỗ khoan phát ra âm thanh giống như tiếng kêu khóc của hàng vạn người.
Từ lỗ khoan phát ra âm thanh giống như tiếng kêu khóc của hàng vạn người. (Ảnh minh họa: Pixabay)

Báo cáo dẫn lời Tiến sĩ Dimir Asagov, một nhà địa chất học nổi tiếng của Liên Xô cũ, cho biết sau khi họ khoan một lỗ sâu 9 dặm bằng máy, một con quái vật có khuôn mặt xanh và răng nanh đã bay ra khỏi đó.

Sau đó, họ đưa một chiếc radio xuống hố, và nghe thấy những tiếng hét chói tai và thảm thiết, như thể vô số người đang phải chịu đựng nỗi đau lớn.

Ông nói: “Mọi thứ vẫn bình thường khi bắt đầu khoan, nhưng ở độ sâu khoảng 9 dặm, chiếc máy khoan đột ngột quay rất dữ dội, cho thấy có một khoảng trống khổng lồ dưới mặt đất”. Năm 1994, Liên Xô khoan thông đến lối vào địa ngục, các nhà khoa học tận mắt nhìn thấy ma quỷ và nghe thấy các oan hồn gào thét. Assakov nói rằng: “Theo hiển thị của máy đo nhiệt độ, nhiệt độ tại đó đạt 2.000 độ C. Nhưng lúc thu hồi mũi khoan thăm dò, điều đáng sợ hơn nữa là cùng với khí nóng phun ra từ lỗ khoan còn có một con quái thú lớn với răng nanh và một đôi mắt hung ác, nó giống như một con dã thú đang nổi giận không ngừng hét lên, sau một hồi liền bay đi”.

Lúc đó có một số công nhân nhìn thấy con quái vật liền sợ đến nỗi tháo chạy thục mạng, nhưng chúng tôi lại quyết định ở lại với hy vọng tìm hiểu đến tận cùng. Chúng tôi đã đưa một máy thu âm xuống lỗ khoan, thiết bị này vốn dĩ được thiết kế để thu nhận các âm thanh về sự dịch chuyển trong lòng Trái Đất. Nhưng chuyện kỳ quái là âm thanh thu nhận được không phải là âm thanh của sự dịch chuyển trong lòng Trái Đất mà là tiếng kêu thảm thiết của con người”.

Assakov cho hay: “Lúc ban đầu, chúng tôi tưởng rằng do máy thu âm có vấn đề, nhưng sau khi đã sửa chữa thì lại có thể chứng minh được những âm thanh đó thật sự phát ra từ dưới lỗ khoan. Nó không chỉ là tiếng kêu khóc của một người, mà là của hàng vạn người”.

Nhà địa chất học của Liên Xô cũ cho rằng: “Trước đây tôi không tin vào thiên đàng hay địa ngục, nhưng là một nhà khoa học, bây giờ tôi không thể không khẳng định sự tồn tại của địa ngục. Khỏi phải nói, chúng tôi đều vô cùng kinh ngạc đối với phát hiện này. Nhưng chúng tôi đều biết rằng những gì mắt thấy tai nghe được này đều không phải là ảo giác, và chúng tôi cũng khẳng định tuyệt đối, chúng tôi đã mở ra cánh cổng địa ngục”.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Kinh ngạc: Bộ tộc Kogi sống giữa rừng sâu như người nguyên thủy nhưng biết hết mọi việc sắp diễn ra khắp thế giới



Tộc người Kogi trú ngụ trên dãy núi Sierra Nevada, Colombia, nơi quanh năm mây mù bao phủ khiến thế giới phải kinh ngạc: Họ có thể biết được mọi chuyện đã và đang diễn ra trên khắp Trái Đất.

Người Kogi có một vóc dáng nhỏ nhắn, nước da ngăm đen, mái tóc xoăn tự nhiên và cả nam lẫn nữ đều để dài. Điều đặc biệt nữa là tất cả mọi người trong bộ tộc đều mặc trang phục màu trắng giống nhau. Họ sống trong những ngôi nhà nhỏ làm bằng gỗ và lá cây, rất mát mẻ và sạch sẽ.

Tất cả mọi người trong bộ tộc đều mặc trang phục màu trắng giống nhau.
Tất cả mọi người trong bộ tộc đều mặc trang phục màu trắng giống nhau. (Ảnh: Wikipedia)

Bộ tộc này có nguồn gốc từ nền văn minh Tairona, bộ tộc thiểu số người da đỏ Kogi ngụ trên dãy núi Sierra Nevada, Colombia, đây là vùng đất hoang vu quanh năm mây mù bao phủ, hầu như rất ít người lui tới nơi này.

Họ tự cô lập mình với thế giới bên ngoài, không giao tiếp với những người đến từ thế giới hiện đại. Cùng lắm các cư dân của bộ tộc cũng chỉ giới hạn mình giao thiệp với một vài bộ tộc lân cận mà thôi.

Sống hòa hợp với tự nhiên

Nhờ sự hòa hợp với tự nhiên, một lối sống an nhiên, tự tại mà con người nơi đây có tuổi thọ hết sức cao, trung bình lên tới 100 tuổi. Họ gần như không mắc bệnh, rất khỏe mạnh, ngay cả sâu răng cũng không một ai bị.

Theo quan niệm người Kogi: “nếu sống thuận theo thiên nhiên thì không thể nào có bệnh được, bệnh tật chỉ là hậu quả của những gì trái với tự nhiên. Ngoài ra sự tương giao của con người với thiên nhiên hết sức mật thiết, khi thiên nhiên bị phá hoại thì chắc chắn con người sẽ chịu nhiều ảnh hưởng và khi đó sẽ có đủ các bệnh tật kỳ lạ và thiên tai xảy ra”.

Nhờ sự hòa hợp với tự nhiên, một lối sống an nhiên, tự tại mà con người nơi đây có tuổi thọ hết sức cao.
Nhờ sự hòa hợp với tự nhiên, một lối sống an nhiên, tự tại mà con người nơi đây có tuổi thọ hết sức cao. (Ảnh: Wikipedia)

Ăn chay

Người Kogi đều tâm niệm rằng: “Quả đất là nơi sinh sống của muôn loài, vậy tại sao loài người lại ăn thịt các loài khác? Mọi loài vật đều biết đau đớn, tại sao lại ăn “cái đang đau khổ?”.

Tất cả người trong bộ tộc Kogi đều ăn chay, không một ai ăn thịt, cá hay bất cứ loài động vật nào, kể cả côn trùng. Thức ăn chính của họ là hoa, củ, quả và lá cây… Đây là một thói quen tự nhiên đã có từ trước tới nay của bộ tộc nơi đây, không có bất cứ một sự ràng buộc nào. Theo họ, việc ăn uống như vậy là thể hiện của sự thiện lương trong tâm hồn.

Tuy không liên hệ nhiều với thế giới bên ngoài nhưng những con người nơi đây lại rất thông thái mọi chuyện. Các cư dân của bộ tộc Kogi khẳng định rằng: “Tổ tiên chúng tôi xuất hiện trên trái đất này rất xa xưa, xưa hơn tổ tiên của loài người của thế giới ngoài kia rất nhiều. Chúng tôi biết rõ trong quá khứ và biết chắc những gì sắp xảy ra với trái đất này”.

Không tích trữ lương thực, thực phẩm

Người Kogi gieo trồng một cách hết sức đơn giản và thô sơ, điều đặc biệt là họ không bao giờ tích trữ lương thực. Không có bất cứ một biện pháp khoa học hay hóa chất nào được áp dụng và sử dụng nơi đây.

Theo họ, việc tích trữ khiến con người ta trở nên ích kỷ, tham lam, vô tình tạo nên sự muốn chiếm hữu nhiều hơn từ đó dẫn khởi sự chiếm đoạt, khơi nguồn nhiều ích kỷ. Ngoài ra, sự dư thừa còn làm rối loạn trật tự của tự nhiên, phát sinh những biến đổi khôn lường.

Thiền định tu tập trong vòng 9 năm

Tất cả các thanh niên trong bộ tộc đều phải trải qua một khóa thiền định tu tập trong vòng 9 năm để được xem là trưởng thành. Họ sẽ ngồi quay mặt vào vách đá để khám phá, suy ngẫm về sự liên kết, giao thoa, hòa hợp của trời đất, con người và tự nhiên.

Người Kogi không thờ bất cứ một vị Thần nào, cũng không có các hoạt động tâm linh hay tôn giáo nào cả.

Để có thể tĩnh tâm, hoàn thiện bản thân mình hơn, người Kogi thường dùng một thanh gỗ nhỏ chọc vào chiếc cối gỗ bên trong có chứa vôi, cho đến khi vôi tan thành bột rồi thỉnh thoảng chấm vào lưỡi để nhắc nhở bản thân mình phải mài dũa tâm và thân hơn, hiểu rõ sống sao cho đúng đắn và vẹn toàn. Từ đó ý thức được nhiều điều kỳ diệu của sinh mệnh và vũ trụ.

Nhưng người già nhất trong làng (Trưởng lão) sẽ có nhiệm vụ truyền cho thế hệ trẻ những kinh nghiệm và sự hiểu biết về những điều được gọi là bí mật của vũ trụ. Họ cũng được truyền giảng một cách rất kỹ lưỡng về tâm thức của chính mình.

Các vị Trưởng lão trong làng buổi sáng thường dành rất nhiều thời gian để tĩnh tâm, họ gọi là “giao cảm với tâm thức của vũ trụ”. Mặc dù họ không hề rời khỏi đỉnh núi nơi họ đang sinh sống nhưng người Kogi nhờ vào giao cảm này mà có thể biết được nhiều điều xảy ra ở khắp nơi trên thế giới.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bí mật: Công năng ‘dịch chuyển vật thể bằng ý nghĩ’ của các lạt ma Tây Tạng



Công năng ban vận là có thật? Trong lịch sử đều có ghi chép cụ thể, người cổ xưa có thể nâng khối đá nặng đến 300 tấn. Bí ẩn đằng sau sự việc này là gì?

Năm 1939, một bác sĩ Thuỵ Điển đã tận mắt chứng kiến các lạt ma Tây Tạng dựa vào tấu nhạc và niệm kinh mà nâng được khối đá nặng hàng tấn lên không trung, rồi đặt gọn khối đá vào chỗ xây dựng. Bí ẩn đằng sau sự việc này là gì?

Học giả, chuyên gia phân tích các vấn đề xã hội Văn Chiêu đã dựa vào những chứng cứ xác thực, giải thích vấn đề này rằng việc các tăng nhân Tây Tạng làm được như vậy là dựa vào ít nhất hai loại sóng là sóng âm và sóng điện não để kích hoạt và sử dụng năng lượng điểm không.

Nói về công năng ban vận, thì thực ra, trong lịch sử đều có ghi chép cụ thể, người cổ xưa có thể nâng khối đá nặng đến 300 tấn, nếu tìm ra bí mật của họ, chúng ta có thể khám phá ra nguyên lý chế tạo động cơ vĩnh cửu.

Một nhóm tăng nhân Tây Tạng dựa vào tụng kinh để di chuyển khối đá lớn

Năm 1939, một bác sĩ người Thuỵ Điển đồng thời là tiến sĩ Đại học Oxford tên Jarre đã thấy một cảnh tượng khiến anh kinh ngạc không nói nên lời.

Một hôm tăng lữ đưa Jarre đến một đồi cỏ ngay vách núi cao chót vót, vốn dĩ những tăng nhân cần phải xây dựng một bức tường đá cao… 250m trên mặt phẳng đó. Cảnh tượng tiếp theo khiến Jarre đến cuối đời vẫn không quên.

Bác sĩ Jarre khi đó thấy hai con bò Tây Tạng kéo một khối đá lớn - cao 1m dài 1,5m, so với các khối đá ở kim tự tháp Ai Cập thì không khác là mấy. Phía trước khối đá có 6 kèn dài Tây Tạng và 13 cái trống. Trống lớn so với phiến đá thì kích thước không khác mấy, còn trống nhỏ thì bằng 1/5 khối đá. Tất cả mặt trống đều làm bằng sắt. Dùi trống cũng làm bằng sắt. Những nhạc khí này đều được treo cố định trên một giá đỡ, xếp thành hình 1/4 cung tròn.

Khoảng 200 tăng nhân ở phía sau các nhạc khí này, họ xếp thành hàng, mỗi hàng từ 8 đến 10 người. Sau đó các tăng nhân bắt đầu thổi kèn đánh trống. Các nhạc cụ phát ra âm thanh đinh tai nhức óc. Lúc này tất cả các tăng nhân bắt đầu tụng niệm kinh văn, hơn nữa tốc độ càng ngày càng nhanh.

Trong 4 phút đầu không có gì xảy ra cả, nhưng cùng với tiếng trống và tốc độ tụng kinh càng ngày càng nhanh, phiến đá bắt đầu lắc lư dao động. Đột nhiên phiến đá tăng tốc vọt lên không trung, trôi nổi bồng bềnh. 3 phút sau, nó hạ xuống chỗ nền cần xây dựng trên vách núi.

Bác sĩ Jarre cũng không thể tin vào những gì mình thấy. Câu chuyện này nghe thật là huyền hoặc ly kỳ, và nó cũng được ghi lại trong một cuốn sách tên ‘Ai tạo ra vũ trụ này? Điều tra hiện trường’, tác giả là David Wilcock.

Câu chuyện về di chuyển các khối đá lớn cách mặt đất

Puma Punku – Cổng sư tử châu Mỹ

Quang cảnh tàn tích của Pumapunku.

Vào thế kỷ XVI, một nhà lịch sử học người Tây Ban Nha đã đến vùng núi Andes ở Nam Mỹ. Ông thấy đâu đâu cũng là di tích kiến trúc làm bằng đá lớn. Điều này khiến ông vô cùng kinh ngạc. Từng phiến từng phiến đá lớn rải rác trên những cánh đồng hoang vu. Mỗi phiến đá ước chừng nặng trên vài tấn, có phiến nặng trên 300 tấn. Nhà lịch sử học này hỏi người dân bản địa: ‘Đây là thứ gì?’. Họ trả lời: ‘Đây gọi là Puma Punku, ý nghĩa là Cổng sư tử châu Mỹ’.

Sau đó nhà lịch sử học lại hỏi: ‘Kiến trúc này là do người Inca các người tạo ra đúng không?’.

Người dân bản địa khi đó cười ha ha nói: ‘Làm sao có thể chứ?!’.

Họ nói một cách thần bí: ‘Kỳ thực trước khi người Inca chúng tôi đến đây, kiến trúc này đã tồn tại ở đây rồi, nó là do một dân tộc thần bí kiến tạo nên. Chủng tộc thần bí này có kỹ thuật tiên tiến hơn nhân loại. Họ chỉ cần niệm chú ngữ thần chú thì những khối đá lớn đối với họ mà nói là như không có trọng lượng, rất nhanh là xây xong rồi’.

Nhưng các nhà khảo cổ học đương nhiên không để tâm truyền thuyết nhân gian này. Họ bắt đầu giám định, sau đó công bố rằng đó là di tích kiến trúc có từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 5. Nhưng điều các chuyên gia không có cách nào trả lời được đó là: Puma Punku ở trên cao nguyên sa mạc thuộc dãy Andes, nơi này cách mặt nước biển hơn 4.000 m, thế thì những phiến đá nặng vài tấn, thậm chí trên cả trăm tấn - đã được vận chuyển lên đỉnh núi như thế nào đây? Hơn nữa xung quanh Puma Punku không có bất cứ mỏ đá nào, thế thì những khối đá kia chỉ có thể được vận chuyển từ nơi khác tới.

Với điều kiện vận chuyển hiện nay, muốn vận chuyển khối đá nặng như vậy, xác thực là vô cùng khó khăn, huống chi là người Inca cổ đại.

Có một câu chuyện rất đáng để lật lại. Đây là câu chuyện mà người Inca giải thích về di tích những khối đá lớn:

Thủ đô đế quốc Inca là Cuzco, gần đó có một địa điểm quan trọng là Sacsayhuaman. Không biết chính xác di tích này tồn tại từ khi nào, nhưng toàn bộ di tích là được dùng những khối đá nặng mấy chục tấn đến trên trăm tấn để xếp lên. Từng có một vị quốc vương Inca muốn phục chế Sacsayhuaman. Ông trưng dụng hơn 20 nghìn người để thay nhau di chuyển một khối đá nặng hơn 100 tấn.

Đoạn đường từ bãi đá đến Sacsayhuaman phải vượt qua một ngọn núi cao. Lúc này sự cố đã xảy ra. Tại nơi dốc cao chót vót, phiến đá mất kiểm soát rồi lăn xuống sườn núi, đè chết 3.000 người. Quốc vương đành phải dừng công trình này.

Câu chuyện này nói rõ rằng người Inca không có đủ sức mạnh kỹ thuật ấy để xây dựng một thành lũy kiểu như Sacsayhuaman. Giới khảo cổ ngày nay cho rằng Puma Punku đã là đống hoang tàn từ 15 nghìn năm trước, cũng chính là nói, nó được người xưa xây dựng từ trước cả 15 nghìn năm. Càng kỳ lạ hơn nữa là người nguyên thuỷ làm thế nào mới có thể di chuyển những khối đá hàng mấy chục tấn đến một cao nguyên cách mặt biển cao đến vậy? Phải chăng họ từng sở hữu nền văn minh tiên tiến?

Và nếu những người này giống như những tăng nhân Tây Tạng mà chúng ta đề cập ở phần đầu, thế thì việc xây dựng được kiến trúc như Puma Punku sẽ không quá khó.

Đương nhiên điều này nghe có vẻ rất huyền hoặc, nhưng chúng ta từ một góc độ khác mà lý giải thì sự huyền ảo sẽ giảm đi khá nhiều.

Năng lượng điểm không trong chân không: Bí mật của động cơ vĩnh cửu

Các nhà khoa học đánh giá rằng, lý luận về năng lượng điểm không có giá trị rất lớn, mặc dù có thể vận dụng hay không thì chúng ta chưa thể bàn đến, nhưng trên lý luận thì có giá trị rất lớn.

Năm 1948, nhà vật lý học Hendrik Casimir đã chứng thực được sự tồn tại của năng lượng điểm không. Thế là hiệu ứng vật lý này được gọi là hiệu ứng Casimir. Ý nghĩa là gì? Nói một cách đơn giản chính là chân không không phải là không. Trong chân không, giữa hai tấm kim loại không mang điện. Do sự thăng giáng lượng tử, hai tấm kim loại ấy vẫn phát sinh lực hấp dẫn. Nhưng hiệu ứng này chỉ có ở hai vật thể với cự ly rất gần, ở cấp độ nanomet mới có thể trắc định được.

Năng lượng điểm không này nơi nào cũng có, chúng ta thường dùng chân không để đóng gói, trong đó cũng có chủng năng lượng này.

Đương nhiên mọi người nghĩ, trong chân không đã là có năng lượng phong phú như thế, lại là năng lượng bất tận, dùng mãi không hết, vậy thì tại sao không lấy ra sử dụng? Đó là bởi vì ý tưởng tuy phong phú nhưng thực tế lại rất hạn chế.

Xác thực là có người muốn dùng năng lượng điểm không để chế tạo động cơ vĩnh cửu, tự vận động vĩnh viễn.

Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA đã từng có một ý tưởng hiện thực hơn. Họ muốn lấy năng lượng điểm không từ trong chân không chuyển hoá thành lực đẩy, để cho động cơ tàu vũ trụ sử dụng nguồn năng lượng này, có thể bay xa hơn một chút.

Vào năm 2016, các nhà khoa học thuộc phòng thí nghiệm của NASA đã thảo luận vấn đề này. Thông thường mà nói, trong giới khoa học, nếu muốn xem xét một hạng mục kỹ thuật mới có thể thành công hay không, thì việc đầu tiên là xem có cơ sở lý luận để chống đỡ cho nó hay không.

Tin tốt là các nhà khoa học cho rằng dùng hiệu ứng Casimir để chế tạo động cơ đẩy plasma chân không là có thể làm được. Nói cụ thể hơn một chút, chính là lấy ‘trường điểm không’ làm thành một bức tường thấp, con người nhảy lên tường, rồi từ đó giậm nhảy, ngay lập tức có thể bay được một đoạn. Dự kiến trong thời gian 10 năm, trong 1 mét vuông mặt cắt động cơ - mỗi giây gia tốc được 0,1m.

Nghe có vẻ hiệu quả gia tốc này không cao lắm, nhưng nếu thành công, tất cả năng lượng đều lấy được trong chân không, thì động cơ phi thuyền không cần mang theo nguồn năng lượng mà sử dụng nguồn năng lượng điểm không. Vậy thì ước mơ động cơ vĩnh cửu của con người có thể thực hiện được.

Cổ vật kỳ lạ

Một trường hợp khác mình chứng cho điều này là câu chuyện về giáo sư nổi tiếng Ernst Muldashev và những nhà khoa học hàng đầu thế giới đã dấn thân vào một hành trình kỳ lạ, phát hiện những điều chấn động từ dãy Himalaya. Trong quá trình này, họ đã từng đến khu bảo tháp Svaiambanat, Nepal, và thấy rằng tại đây có trưng bày một tượng đài có hình dáng kỳ lạ bằng đồng, trông giống như con tôm.

Giáo sư Muldashev.
Giáo sư Muldashev. (Ảnh: Wikipedia)

Giáo sư Muldashev được giới thiệu đến Kiram - người có nhiệm vụ trông giữ kho sách cổ Tây Tạng bằng tiếng Phạn và đã đọc rất nhiều văn bản Tây Tạng. Rồi anh ta bị đuổi việc vì đã đọc những văn bản mà không ai được phép đọc.

Kiram cho biết tượng đài kỳ lạ này là một cỗ máy của người xưa, được dùng cho mục đích... xây núi. Trong các bản văn Tây Tạng viết rằng cỗ máy này bay lên và tiện núi để tạo hình cho chúng.

Muldashev hỏi tiếp rằng máy này tiện núi như thế nào. Mắt Kiram sáng lên khi cho biết núi được tiện bởi năng lượng vi tế thoát ra tại vị trí các càng tiếp hợp. Và cỗ máy đó thực hiện điều mà con người đang nghĩ.

Muldashev hỏi tiếp rằng năng lượng nào đã khởi động cỗ máy đó. Kiram cho biết trong các văn bản viết rằng năng lượng ý nghĩ của con người, tức tâm năng, đã khởi động nó. Nhưng điều chính yếu không phải ở đó...

Kiram bên cạnh cỗ máy bí mật để xây dựng các tượng đài của người xưa, được cho là đã được sử dụng cho việc xây dựng núi thiêng Kailash.
Kiram bên cạnh cỗ máy bí mật để xây dựng các tượng đài của người xưa, được cho là đã được sử dụng cho việc xây dựng núi thiêng Kailash. (Nguồn: Muldashev)

Kiram cho biết điều quan trọng là phải biết câu thần chú để khởi động cỗ máy này. Không có câu chú cỗ máy sẽ bất động. Nhưng Mantra được truyền khẩu rất bí mật. Điều này phải chăng giống như việc niệm chú của các lạt ma Tây Tạng?

Lạt ma Tây Tạng đã điều động được ‘năng lượng điểm không’ vô xứ bất tại

Quay lại các tăng nhân Tây Tạng trong câu chuyện lúc đầu của chúng ta, liệu họ có đang nắm giữ những bí mật của nhân loại? Các lạt ma chỉ dựa vào niệm kinh và âm nhạc lại khiến khối đá bay lên không trung. Tuy không động tay không động chân, nhưng ít nhất ở đây họ có sử dụng hai loại sóng với tần số chấn động khác nhau. Một loại là sóng âm, một loại nữa là sóng điện não của các tăng nhân.

Họ không ngừng gia tăng tốc độ niệm kinh, tần số sóng âm khác cũng càng ngày càng dày, đột nhiên trường chấn động này khiến khối đá bay lên không trung, hơn nữa được đặt chính xác vào công trình. Đây chính là miêu tả từ một góc độ khác của loại hiện tượng kỳ dị này.

Hiện tượng này trong giới vật lý thật khó mà giải thích, bởi vì nâng hạ phiến đá phải cần máy móc mới có thể làm được, đây là công việc của cần cẩu. Vậy mà những tăng nhân dựa vào tấu nhạc niệm kinh làm sao có thể khởi tác dụng của cần cẩu đây? Điều duy nhất có thể nghĩ đến là họ điều động năng lượng khác, chính là năng lượng điểm không vô xứ bất tại. Đây chính là giải thích hợp lý cho câu chuyện này.

Còn như việc họ vì sao thông qua tấu nhạc và niệm kinh mà có thể điều động chủng năng lượng này, hay quá trình cụ thể phát sinh như thế nào, thì phải mở rộng nghiên cứu nhiều hơn nữa mới có thể tìm ra được điều huyền diệu ở trong đó.

Công năng siêu thường là có thật? Trên thế giới đã từng ghi nhận nhiều trường hợp những người sở hữu siêu năng lực, mà con người bình thường không cách nào đạt tới được. Những siêu năng lực này về bản chất là khác với ảo thuật, bởi đây không chỉ đơn thuần là mẹo đánh lừa thị giác hay tâm trí, mà chúng vượt xa khả năng giải thích của các định luật vật lý thông thường, thậm chí đi ngược lại chúng.

Những điều trên mặc dù chúng ta chưa thể hoàn toàn lý giải, nhưng cũng đã đem lại những khám phá thú vị cho nhân loại.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bí ẩn nhục thân bất hoại của Lạt ma và dự ngôn chấn động toàn thế giới



Mặc dù không dùng chất bảo quản Formol, nhục thân bất hoại của vị Lạt ma này vẫn tồn tại 90 năm sau khi viên tịch. Bằng chứng về thân thể kim cương bất hoại của Lạt ma sau đây không chỉ khiến chúng ta ngạc nhiên mà ông còn để lại một dự ngôn chấn động toàn thế giới.

Một hiện tượng bí ẩn mà giới khoa học hiện đại không giải thích được: “Xác thịt không hư thối”, tức thân thể kim cương bất hoại trong Phật gia mà không có bất kỳ biện pháp ướp xác hay bảo quản nào.

Hanbo Lama thứ 12 (Pandido Khambo Lama) của Phật giáo Tây Tạng

Hanbo Lama thứ 12 (Pandido Khambo Lama), tên là Itigilow, là hóa thân của Hanbo Lama thứ 11 của Phật giáo Tây Tạng. Kể từ năm 1927, Lạt ma Hanbo của Phật giáo Tây Tạng viên tịch đã 90 năm nhưng thi hài của Ngài vẫn nguyên vẹn như còn sống, không hề bị hư hoại, khiến giới học thuật bàng hoàng.

Ông đã xây dựng các tu viện, xuất bản kinh sách và cống hiến hết mình cho sự phục hưng của Phật giáo. Vì thông thạo y học, ông đã tạo ra một bộ bách khoa toàn thư về dược học, đồng thời ông cũng sử dụng kỹ năng y học tuyệt vời của mình để chữa bệnh cho người dân địa phương.

Sau khi chết cơ thể chúng ta phải mất bao lâu để phân hủy? Có lẽ các chuyên gia sẽ đưa ra một con số, một chuỗi các quá trình. Ví như cơ thể sẽ giống một “bữa tiệc” vi khuẩn, chúng sinh sôi và phân hủy phần thịt. Nếu không có bất kỳ biện pháp ướp xác hay bảo quản nào thì thi thể sẽ nhanh chóng bị phân hủy, thi thể để trong điều kiện nóng và ẩm ướt thì càng tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.

Năm 1911, Hanbo Lama thứ 12 trở thành nhà lãnh đạo của Phật giáo Tây Tạng ở Buryatia, Nga. Từ năm 1913 đến năm 1917, ông mở ngôi chùa Phật giáo đầu tiên ở St.Petersburg, Nga.

Lời tiên tri về khủng bố đỏ của vị Lạt ma Hanbo đã trở thành sự thật

Một năm trước khi qua đời, tức là năm 1926, ông đã tiên đoán rằng “khủng bố đỏ đang đến gần”, tức là phong trào cộng sản sắp phát động và mở ra một cuộc tàn sát chống lại loài người. Dự đoán này sớm trở thành hiện thực, CPSU (Đảng Cộng sản Liên Xô) đã giết chết 30 triệu người Nga trong 10 năm sau đó.

CPSU không chỉ tàn sát người dân của mình mà còn kích thích bạo lực và khủng bố. Trước đây Lạt ma Hanbo luôn đặt câu hỏi cho mình rằng: “Tại sao cứ chế độ CPSU này lên ngôi là bằng mọi cách nào đó nó sẽ tìm cách tiêu diệt và loại bỏ các tôn giáo, bác bỏ Thần, khiến con người rời xa nguồn cội của chính mình?”

Một sự thật là những quốc gia hay triều đại trong quá khứ muốn phồn thịnh và phát triển, mọi người dân trong đất nước đó đều kính Thần, tin vào thiện hữu thiện báo ác hữu ác báo. Nhưng có vẻ như từ khi chế độ “ấy” lên ngôi, những giá trị tốt đẹp trên lại ngày càng bị miệt thị, phí bảng, họ luôn đội cho các tôn giáo, tín ngưỡng một chiếc mũ lớn có tên là “mê tín”.

Kể từ khi Liên Xô đàn áp tôn giáo, bạo lực hoành hành trong phong trào ở Nga và lời tiên tri về khủng bố đỏ của vị Lạt ma Hanbo đã trở thành sự thật.

Nhục thân bất hoại của Lạt ma Hanbo thứ 12

Nhục thân bất hoại của Lạt ma Hanbo thứ 12 đã mở ra cánh cửa cho thế giới khám phá các hiện tượng tồn tại trong lĩnh vực tâm linh.

Để làm xác ướp, cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để loại bỏ hoàn toàn nước trong các mô cơ thể, mới có thể bảo quản được phần thịt. Tuy nhiên, mô da của cơ thể Lạt ma Hanbo vẫn mềm mại. Hiện tượng này không xảy ra trên xác ướp. Xác chết bình thường sẽ trở nên cứng, xác sẽ được phân hủy, và xác sẽ có mùi do phân hủy. Tuy nhiên, không có hiện tượng nào trong số những hiện tượng trên xuất hiện trong da thịt của Lạt ma Hanbo.

Vào ngày 15 tháng 6 năm 1927, Lạt ma Hanbo thứ 12 viên tịch. Trước đó, ông đã ra lệnh cho các nhà sư 30 năm sau hãy đến thăm ông. Vào năm 1955 và 1973 vị lạt ma của tu viện lặng lẽ mở quan tài bằng gỗ, thấy rằng Lạt ma Hanbo vẫn trong tư thế thiền định, thân thể của ông không bị hư hỏng.

Các chuyên gia Nga đã nghiên cứu cơ thể bất hoại của Lạt ma Hanbo và phát hiện ra rằng da, tóc, móng tay và các mô cơ thể khác của ông không khác gì da của người sống. Cấu trúc protein trong cơ thể vẫn chưa bị phá hủy, và nó vẫn giống như người sống.

Protein chiết xuất có thể được bảo quản từ 3 đến 5 năm ở nhiệt độ âm 80°C. Tuy nhiên, cấu trúc protein trong Lạt ma Hanbo không bị ảnh hưởng bởi thời gian, nhiệt độ và môi trường, thân thể của ông được bảo quản trong suốt 90 năm.

Chuyên gia của Trung tâm Pháp y Liên bang Nga. Giáo sư Viktor Zvyagin nói rằng họ đã lấy đi một lượng nhỏ tóc, da và móng tay của Lạt ma Hanbo để nghiên cứu với sự đồng ý của học viện Phật giáo. Sau khi nghiên cứu bằng phương pháp đo quang phổ hồng ngoại, người ta thấy rằng mô protein của thịt vẫn có đặc tính vận động, trong quan tài không có mùi thi thể và cho đến nay vẫn chưa có.

Có người hỏi Zvyiajin rằng liệu ông có thể nghĩ rằng Lama Hanbo vẫn còn sống hay không, ông nói, “Không. Nhiệt độ của ông ấy dưới 20 độ, đó chắc chắn là minh chứng của cái chết”.

Giáo sư Galina Yershova, Đại học Nhân văn Quốc gia Nga, cho biết khi mở quan tài nơi Lạt ma đang yên nghỉ, họ ngửi thấy một mùi thơm. Các khớp của Lama có thể uốn cong dễ dàng, và các cơ của ông vẫn linh hoạt như một người sống.

Cơ thể bất hoại của Lạt ma Hanbo thứ 12 đã mở ra cánh cửa cho thế giới khám phá các hiện tượng tồn tại trong lĩnh vực tâm linh. Con người có thể liên tục nâng cao đạo đức của mình thông qua thực hành các nguyên lý của Đức Phật, đồng thời làm cho cơ thể trở nên thanh khiết và thuần tịnh.

Thân thể kim cương bất hoại của Lạt ma Hanbo không phải là thân thể duy nhất có hiện tượng như vậy mà điều này có rất nhiều bằng chứng ở cả phương Đông và phương Tây.

Mãi đến năm 2002, bí mật về thân kim cương bất hoại của Lạt ma Hanbo mới được tiết lộ với thế giới. Bác sĩ bệnh học Yuriy Tampereyev đã thực hiện một cuộc kiểm tra toàn diện về cơ thể nguyên vẹn, từ đầu đến chân. Các chuyên gia đều không tìm thấy dấu vết của việc xử lý nhân tạo da thịt, không vết mổ, không khâu, không tiêm thuốc, v.v. Thi thể của Lama Hanbo được bảo quản rất tốt, nhưng nó không phải là xác ướp.

Damba Ayusheev, nhà lãnh đạo hiện tại của Phật giáo Nga, nói rằng nghiên cứu này “khuyến khích các Phật tử quyết tâm tu hành và cũng giúp những người vô thần loại bỏ nghi ngờ về thế giới tâm linh”.

Ở Việt Nam cũng có hiện tượng “thân kim cương bất hoại” của các thiền sư

Chỉ cần chúng ta để ý một chút sẽ thấy hầu như tất cả những người đạt đến trạng thái “xác thịt không hư hoại” đều là người tu luyện.

Trong các tài liệu chính sử của Việt Nam cũng ghi chép về việc Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, thiền sư Giác Hải để lại xá lợi toàn thân sau khi tọa hóa. Tuy nhiên, trải qua binh biến, giặc dã, hiện xá lợi toàn thân của những tổ sư này không còn nữa.

Tượng Từ Đạo Hạnh tại chùa Thầy.,Bí ẩn nhục thân bất hoại của Lạt ma và dự ngôn chấn động toàn thế giới
Tượng Từ Đạo Hạnh tại chùa Thầy. (Ảnh: Wikipedia)

Ngoài ra còn có thân kim cương bất hoại của hai thiền sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh – Chùa Đậu, huyện Thường Tín, Hà Nội. Các thiền sư tọa hóa (viên tịch khi đang ngồi thiền), tới vài trăm năm, cả nghìn năm, vẫn được bảo tồn đặc biệt tốt không cần hóa chất bảo quản…

Hầu hết các tín ngưỡng của họ đều ẩn chứa ý nghĩa trân trọng cuộc sống như không sát sinh, từ bi với người khác, bao dung với người khác và đối xử chân thành với vạn vật.

Thân thể bất hoại đã trở thành một bí ẩn của cơ thể con người mà khoa học hiện đại không thể lý giải, nhưng đối với những người tu luyện, hiện tượng này là bình thường.

Thân thể bất hoại đã phá vỡ quy ước “Nếu chất hữu cơ mất đi sự sống, nó sẽ phân hủy ở trạng thái tự nhiên”. Nó thách thức các lý thuyết về chất hữu cơ và chất vô cơ trong hóa học hiện đại, và cho thấy những hạn chế của hiểu biết khoa học ngày nay.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS