Container Icon

Hành thiện vui nhất là không cầu người biết, thi ân kỵ nhất là đợi được đáp đền

 

Khi chúng ta đứng trước lựa chọn phải làm người cho đi hay người nhận lại, tin rằng có rất nhiều người sẽ thích lựa chọn trở thành người được nhận. Nhưng thực ra, cho đi sẽ khiến bản thân hạnh phúc hơn so với nhận lại, đó là niềm vui đến từ sâu thẳm trong tâm…

Mỗi người chúng ta khi đến thế giới này, từ nhỏ đến lớn trong mỗi giai đoạn đều không thể tách rời khỏi việc nhận sự giúp đỡ của người khác: sự giáo dưỡng của bố mẹ, kiến thức của thầy cô, sự tương trợ của bạn bè …, có thể nói trong cuộc đời chúng ta, bất kể lúc nào, bất kể nơi nào đều không thể tách rời những ân huệ mà người khác cho mình.

Thi ân không cần người phải báo đáp, đó mới chính là sự lương thiện cao nhất. (Ảnh: Pinterest)

Khi đứng trước lựa chọn cho đi hay nhận lại, không ít người mong sẽ được nhận lại, nhưng đâu biết rằng hạnh phúc thực sự lại ở chỗ biết cho đi. Có câu rằng: “Tặng người hoa hồng, tay còn lưu hương”, giúp đỡ người khác là đang tạo niềm vui cho chính mình.

Biết cách giúp người hoàn thành ước vọng, hiểu được thế nào là phó xuất, đây thật sự là biểu hiện của nhân cách chói sáng, đồng thời cũng là một lại trí huệ đối nhân xử thế.

Phó xuất là một loại cho đi, nhưng không cần phải chờ mong sự báo đáp của người khác. Khi chúng ta giúp đỡ người khác, cũng là đang giúp đỡ chính mình. Làm người nên có một trái tim lương thiện, lúc nào cũng suy nghĩ cho người khác, thi ân không cần người phải báo đáp, đó mới chính là sự lương thiện cao nhất.

1. Hành thiện mà muốn người biết, đó không phải thiện

Sự lương thiện cao nhất, là đặt mình vào vị trí người khác mà suy nghĩ. Một mực truy cầu báo đáp, thì sẽ thường bỏ qua cảm nhận của đối phương, dù cho có làm việc thiện, cũng có thể tạo ra sự tổn thương cho người khác.

Trong “Lễ Ký” có ghi chép một câu điển cố “Không ăn đồ bố thí” như sau: Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, thiên tai nhân họa không ngừng. Có một năm, nước Tề bị mất mùa, lão bá tánh không có cơm ăn, rất nhiều người vì đói mà chết.

Có một người tên là Kiềm Ngao, vì muốn lấy danh tiếng, đã phân phát đồ ăn cho người dân bị nạn trên đường. Kiềm Ngao sợ rằng người khác không biết mình đang “làm việc tốt”, cố ý hét to với người đi đường: “Đồ ăn không cần trả tiền đây! Mau đến ăn đi!”.

Không ngờ rằng, người trên đường chẳng một ai thèm để ý tới ông ta. Khó khăn lắm mới có một người dân bị nạn đi ngang qua, Kiềm Ngao liền chặn người này lại, dùng giọng điệu cao cao nói với người đó: “Này, ta kêu ngươi đấy! Qua đây ăn đi!”.

Ông ta vốn dĩ cho rằng người dân này sẽ cảm ơn đại đức của mình, sẽ dập đầu bái tạ, nhưng nào ngờ người đó trừng mắt nhìn ông ta và nói: “Ta thà chết đói, chứ không ăn!”.

Khi ban ân huệ cho người khác, đừng thể hiện bản thân để người khác cảm thấy rằng bạn rộng rãi hào phóng, thì họ sẽ nhận lấy ân huệ của bạn. Nếu giúp người khác chỉ vì muốn được báo đáp, trong lòng sẽ luôn tính toán, vậy thì hành thiện chẳng qua chỉ là một màn biểu diễn giả tạo, mà sự “bố thí” giả tạo này, với người với ta đều không được xem là một việc tốt.

Chỉ có sự nhân từ thương cảm phát ra từ trong tâm, mới có thể khiến người khác cảm thấy ấm áp và hạnh phúc. Nếu vậy thì ân huệ mà ta cho đi, mới có thể phát ra ánh hào quang. Nếu như có mục đích xấu xa, sẽ như hạ thấp người khác, kiểu hành động cho đi này không được tính là cao quý.

Trong “Chu Tử Gia Huấn” có nói: “Thiện dục nhân tri, bất thị chân thiện; ác khủng nhân tri, tiện thị đại ác”, ý rằng làm thiện muốn người ta thấy, điều thiện ấy không thực; Làm ác sợ người ta biết, điều ác ấy mới thật to. Sự lương thiện phát ra từ trong tâm, giống như một cơn mưa mùa xuân, lặng lẽ tưới nhuần vạn vật.

2. Vui vẻ hành thiện, không cầu người biết

Tăng Quốc Phiên từng nói: “Hành thiện vui nhất là không cầu người biết”. Người xưa hành thiện tích đức, chú trọng khiêm tốn. Mặc dùng không khoa trương, nhưng chỉ cần bạn làm, công đức và phúc đức sẽ cứ dần dần tích lũy, phù hộ cho con cháu đời sau.

Nhưng nếu làm thiện chỉ vì để đạt được phúc báo và tán thưởng, nhiễm lòng tham công danh lợi lộc, dù cho có làm thiện bao nhiêu đi nữa, cũng rất khó để mà cảm thấy vui vẻ thật sự.

Trong “Chiến Quốc Sách – Ngụy Sách” có nói: “Nhân chi hữu đức vu ngã dã, bất khả vong dã; ngô chi hữu đức vu nhân dã, bất khả bất vong dã”. Ý nói, người khác đối xử với bạn có ân huệ, không thể không để trong lòng; mà bạn đối với người khác có ân huệ, không nên cứ để trong lòng.

Tục ngữ thường nói: “Nhận ơn một giọt nước, phải báo đền bằng cả dòng suối”. Việc này là đứng ở góc độ người được giúp đỡ để nhìn vấn đề, cổ vũ mọi người học cách cảm ơn, có ân thì cần phải báo đáp.

Nếu đứng ở góc độ là người bố thí mà nhìn, thì chỉ cần nhớ một câu tục ngữ: “Thi ân không cầu báo đáp”. Sự lương thiện chân thật, không cần phải nhận lấy sự báo đáp, không tính thiệt mất, nếu không thì sẽ trở thành kiểu người chỉ lấy thiện đối thiện, xem việc thiện như một cuộc giao dịch. Người ta trách bạn ham muốn lợi lộc, bạn hận người ta không biết đền ân, tâm tốt mà lại làm việc xấu, đến cùng là đôi bên đều thiệt.

Vô tư kính dâng là điều trân quý nhất, cho người khác ân huệ mà không cần sự báo đáp mới là vĩ đại nhất. Nếu như có một người cho người khác ân huệ nhưng lại cầu báo đáp, vậy thì người đó không phải là một người vô tư không vụ lợi, ý định ban đầu giúp đỡ người khác sẽ trở nên biến chất.

Chúng ta phải có được một trái tim bao dung từ bi, hành thiện với người, viện trợ giúp người. Chỉ khi từ bi với người, thì quan hệ giữa con người mới trở nên càng tốt đẹp hơn, thế giới sẽ trở thành một gia đình hòa thuận.



  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Huyền bí ngày 13/5: Israel phục quốc, Cứu Thế Chủ giáng sinh

 

Thế giới quanh ta luôn tồn tại những điều huyền bí về Thần Phật mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể nào khám phá. Trong Kinh Thánh có tiên tri rằng Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới vào thời khắc cuối cùng của nhân loại. Theo truyền thuyết tôn giáo thì trước khi Cứu Thế Chủ Messiah tới nhân gian, một dấu hiệu là người Israel phục quốc.

Kinh Thánh có lời tiên tri rằng, vào thời khắc tối hậu của nhân loại, sau khi người Israel phục quốc, Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới nhân gian. Còn Kinh Phật ở phương Đông nói rằng khi hoa Ưu Đàm Bà La khai nở, Phật Di Lặc tương lai sẽ hạ thế phổ độ chúng sinh. Hiện tại, những sự việc huyền bí được tiên tri đã lần lượt xuất hiện, Cứu Thế Chủ của cả Đông và Tây phương phải chăng đã tới ngay bên cạnh chúng ta?

Thần tại nhân gian và những điều huyền bí về hoa Ưu Đàm

Vào 2000 năm trước, khi Do Thái giáo đã đến thời kỳ Mạt Pháp, Thánh giả Jesus xuất thế truyền chính pháp cứu rỗi cho dân tộc Do Thái, nhưng lại bị chính người đứng đầu của người dân Do Thái hại chết.

Điều này không chỉ định ra tương lai của chính họ, mà còn định ra tương lai hàng nghìn năm của con cháu người Do Thái: Người Do Thái hàng nghìn năm qua không có tổ quốc, bị bức hại phiêu bạt tứ xứ.

Giống như quy luật “mắt đền mắt, răng đền răng” mà Moses định ra trong kinh “Cựu Ước”. Con cháu của dân tộc Do Thái, trên tổng thể vốn không làm chuyện ác gì, nhưng lại phải chịu khổ nạn trong gần hai nghìn năm, đây chính là đang ứng nghiệm với lời thề độc trong lúc huyên náo của tổ tiên họ khi hại chết Chúa Jesus, họ phải hoàn trả tội lỗi của tổ tiên mình.

Sau khi Thế chiến II kết thúc, người Israel trải qua mấy nghìn năm lưu lạc trên thế giới cuối cùng đã phục quốc. Ngày 13/5/1948, trong đại hội Do Thái, Jerusalem đã tuyên bố bản tuyên ngôn về “Israel phục quốc”.

Từ đó trở đi, Israel đã phát triển giống như có kỳ tích vậy, vị Thần mà họ tôn thờ và tín phụng, dường như lần nữa đã bắt đầu quan tâm đến dân tộc đã phải chịu nhiều khổ nạn này. Đó là bởi Cứu Thế Chủ Messiah sắp truyền Chính Pháp ở thế gian con người, vậy nên đã cấp cho dân tộc cổ xưa này một cơ duyên cứu độ.

Tại Đông phương cũng có ghi chép về một tín hiệu trọng đại báo hiệu Phật Di Lặc tương lai (Chuyển Luân Thánh Vương) hạ thế. Quyển 8 Kinh Phật Huệ Lâm Âm Nghĩa ghi rõ: “Ưu Đàm Bà La hoa là loài hoa linh dị mang điềm lành, tức Thiên hoa, trên thế gian không có. Khi Như Lai hạ thế, Kim Luân Vương xuất hiện ở thế gian, thì nhờ đại phúc đức của Ngài mà xuất hiện loài hoa này”.

Kinh Phật Vô Lượng Thọ cũng ghi lại như sau: “Ưu Đàm Bà La hoa là dấu hiệu báo điềm lành”. Còn theo quyển 4 kinh Pháp Hoa Văn Cú thì: “Ưu Đàm hoa, có nghĩa là may mắn linh thiêng. Ba nghìn năm mới nở một lần, khi nở là Kim Luân Vương xuất hiện”.

Kể từ năm 1992, tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Australia, các tiểu bang nước Mỹ, Canada, các tỉnh Trung Quốc, người ta liên tục phát hiện hoa Ưu Đàm Bà La thánh khiết khai nở.

Hoa Ưu Đàm loài hoa huyền bí khai nở khắp thế giới, báo hiệu sự xuất hiện của Chuyển Luân Thánh Vương.
Hoa Ưu Đàm loài hoa huyền bí khai nở khắp thế giới, báo hiệu sự xuất hiện của Chuyển Luân Thánh Vương. (Ảnh: Dictat.net)

Nếu như Kinh Phật và Kinh Thánh là đáng tin cậy, thì như vậy nhân loại nhất định sẽ xuất hiện hai Cứu Thế Chủ. Hoặc Di Lặc trong Kinh Phật chính là Messiah trong Kinh Thánh?

Cố học giả của nền giáo dục Trung Quốc, nhà Phật học, nhà phiên dịch Quý Tiện Lâm và các đồ đệ của ông đã có một cống hiến quan trọng, đó là phát hiện mối liên hệ giữa Phật gia và Cơ Đốc giáo, ấy chính là “Vị lai Phật Di Lặc của Phật gia và Cứu Thế Chủ Messiah của Cơ Đốc giáo là cùng một người”.

Di Lặc, trong tiếng Sanskrit gọi là “Maitreya”, tiếng Pali gọi là “Metteya”, và gần như không có quan hệ gì về phát âm với hai chữ “Di Lặc” trong tiếng Hoa. Pháp sư Huyền Trang của Đại Đường trong khi phiên dịch đã phát hiện thấy điểm này, bởi vậy Huyền Trang mới nói là dịch sai, và lẽ ra nên phiên dịch thành “Mai Lợi Da”. Tuy nhiên người ta không tiếp thụ ý kiến của vị cao tăng Huyền Trang, lại còn cố định gọi thành “Di Lặc”, và “Mai Lợi Da” đã trở thành phát minh cá nhân của pháp sư Huyền Trang.

Vị Thần mà người Tây phương chờ đợi gọi là “Messiah” trong tiếng Anh, tiếng Hán phiên thành “Di Trại Á”, và bắt nguồn từ chữ “Masiah” trong tiếng Hebrew (có lúc viết thành “Mashiach”). Tiếng Hy Lạp phiên dịch thành “Christos”, bởi vậy mới có chữ “Christ” (Cơ Đốc). “Messiah” và “Christ” về cơ bản là có nghĩa tương đương, và Tân Ước coi Chúa Cứu Thế tương đồng với Messiah của Do Thái giáo.

Cách tạo tượng dân gian và dự ngôn hiển rõ thiên cơ

Trong dân gian Trung Quốc bảo lưu một phương thức tạo hình Di Lặc, một pho tượng Phật tươi cười, vây quanh có 18 tiểu hài tử, nô đùa muôn hình muôn vẻ, được gọi là “Thập bát tử Di Lặc”. Thế nhưng “Thập bát tử” (十八子) hợp thành một chữ “Lý” (李), tức báo trước Phật Di Lặc hạ thế truyền Pháp độ nhân vào thời mạt kiếp với phàm thân có họ “Lý”. Truyền thuyết và cách tạo tượng Di Lặc thập bát tử này đã lưu truyền mãi cho đến ngày nay.

Dự ngôn Cách Am Di Lục của Hàn Quốc tiên tri: “Hà vi Thánh nhân, Mộc Tử tính thị” (“Thánh nhân là ai, họ là Mộc Tử”; “Mộc Tử” (木子) ghép thành chữ “Lý” (李)), tuổi Thỏ, tháng Tư xuất sinh tại phía Bắc tam bát cấp (vĩ tuyến 38 độ Bắc phân chia Nam-Bắc Triều Tiên), Tam Thần sơn hạ (dưới chân núi Tam Thần sơn, tức Công Chủ Lĩnh dưới chân núi Trường Bạch)… Vị Thánh nhân này là “vương trung chi Vương” (Vua của các vua) trên thiên thượng, tức Pháp Luân Thánh Vương, lần này hạ phàm nhân gian gọi là Di Lặc Phật.

Di Lặc hạ thế tại đâu?

Quốc sư triều Minh Lưu Bá Ôn tại quyển 2 Thôi Bi Đồ đã tiên tri:

Đại Giác Giả “thấu hư đến Nam Hạp Phù Đề thế giới trung thiên tại Trung Quốc Kim Kê mục, phụng Ngọc Thanh thời niên kiếp tận, Long Hoa hội Hổ, Thỏ chi niên đáo trung thiên, nhận Mộc Tử vi tính“.

Nghĩa là Phật Di Lặc tương lai sẽ chuyển sinh đến “trung thiên Trung Quốc” vào năm Thỏ, cụ thể là giáng sinh tại vị trí “mắt Gà Vàng” (Kim Kê mục) trên bản đồ Trung Quốc (chỉ tỉnh Cát Lâm), lấy “Mộc Tử” (木子) chính là chữ “Lý” (李) làm họ.

Ngoài ra, Lưu Bá Ôn và Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã có một đoạn đối thoại liên quan tới lịch sử ngày nay, trình bày càng rõ ràng minh bạch xuất chúng hơn nữa:

“Hoàng đế hỏi: Cuối cùng ai sẽ truyền Đạo?

Bá Ôn đáp: Có thơ làm chứng rằng:

Không tướng tăng cũng chẳng tướng đạo
Đội mũ lông cừu nặng bốn lạng
Chân Phật không ở trong tự viện
Ngài là Di Lặc nguyên đầu giáo”

Giải: Vào cuối thời mạt pháp, người truyền chính Pháp sẽ không phải là hòa thượng trong chùa chiền, cũng không phải là đạo sĩ trong đạo quán. “Đội mũ lông cừu nặng bốn lạng” ý nói người truyền chính Pháp để tóc ngắn kiểu nam tử ngày nay (đàn ông thời xưa để tóc dài), minh xác chỉ rõ: Chân Phật truyền chính Pháp không phải là người trong Phật giáo.

“Hoàng đế hỏi: Di Lặc hạ phàm tại nơi đâu?

Bá Ôn đáp: Nghe thần nói đây: Lúc Giáo chủ tương lai hạ phàm, không ở tại Tể phủ giống quan viên, không ở tại Hoàng cung làm Thái Tử, cũng không xuất thân nơi miếu lý hoặc đạo quán, mà giáng sinh tại căn nhà cỏ của bách tính hàn vi, rải vàng khắp Yên Nam Triệu Bắc”.

Giải: Vị Chủ của vũ trụ truyền chính Pháp trong tương lai sẽ không sinh ra tại gia đình quan chức chính phủ, không thuộc gia đình quyền quý, cũng không xuất thân tại chùa chiền hay đạo quán, mà sẽ giáng sinh trong gia đình người dân nghèo.

“Yên Nam Triệu Bắc” là chỉ vùng đất nước Yên, nước Triệu thời Chiến Quốc, tức vị trí Bắc Kinh ngày nay. “Rải vàng” là ẩn dụ Phật Pháp quý giá như vàng, truyền khắp bốn phương.

Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế độ nhân, Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay chuyển bánh xe Chính Pháp, cuối cùng trở thành vị Vua lý tưởng của thế giới. (Ảnh: FalunArt.org)
Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế độ nhân, Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay chuyển bánh xe Chính Pháp, cuối cùng trở thành vị Vua lý tưởng của thế giới. (Ảnh: FalunArt.org)

“Hoàng đế hỏi: Khanh nói gì về Đạo thời đó?

Bá Ôn đáp: Lúc sắp kết thúc, vạn Tổ hạ giới, nghìn Phật lâm phàm, phổ thiên Tinh Đẩu, La Hán quần Chân, mãn thiên Bồ Tát, khó thoát kiếp này, duy có mạt lai Phật hạ thế truyền Đạo, thiên thượng thiên hạ chư Phật chư Tổ, nếu không gặp con đường Kim Tuyến, khó tránh kiếp này, bị tước quả vị, sau cùng Di Lặc phong bế hết 81 kiếp”.

Giải: Vào lúc sắp kết thúc thời kỳ mạt pháp, vô số Vương, vô số Phật, Bồ Tát, La Hán, vô số Đạo, Chân Nhân khắp Trời, họ đều khó thoát khỏi kiếp nạn này. Họ đều thấy trước sẽ xuất hiện kiếp nạn này, đã biết trước về thời kỳ này, rằng “vạn vương chi Vương” của vũ trụ -vị Phật tương lai- sẽ hạ xuống nhân gian hồng truyền Đại Pháp vũ trụ. Do đó họ đều ào ào chuyển sinh đến thế gian con người, lợi dụng thân người để đồng hóa với Đại Pháp được Đức Phật Chủ hồng truyền tại nhân gian. “Thiên thượng thiên hạ chư Phật chư Tổ”, bất kể là ai, nếu không gặp được “con đường Kim Tuyến” (con đường tu luyện Đại Pháp) được so sánh là quý như vàng này, thì đều không thể thoát khỏi trường kiếp nạn.

Rất nhiều dự ngôn cổ đại toàn thế giới đều đề cập rằng: “Nếu như vào lúc giao thời thiên niên kỷ phát sinh một sự kiện đặc định nào đó, thì tất cả dự ngôn về đại tai nạn hủy diệt toàn cầu đến đó là kết thúc”

Ngày 13/5/1951, tức ngày mùng 8 tháng Tư theo Nông lịch, người sáng lập Pháp Luân Công, ông Lý Hồng Chí xuất sinh tại thành phố Công Chủ Lĩnh, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, sinh năm Thỏ, ngày này chính là “Lễ Phật đản” trong Phật giáo. Đồng thời ngày này cũng chính là ngày thứ 50 tính từ Lễ Phục Sinh năm 1951, gần như là “Lễ Thánh Linh giáng lâm” trong Cơ Đốc giáo.

Ngày 13/5/1992, cũng là lần đầu tiên Đại sư Lý Hồng Chí truyền xuất Pháp Luân Đại Pháp ra công chúng, và cuốn Chuyển Pháp Luân – cuốn sách chỉ đạo chính của Pháp Luân Công đã vén mở vô số những bí ẩn của nhân loại, đem đến những nhận thức mới cho con người về tu luyện, sinh mệnh và vũ trụ.

Theo Kinh Phật ghi lại, Chuyển Luân Thánh Vương cũng như Đức Phật, có 32 tướng, 7 bảo; Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay chuyển bánh xe Chính Pháp, cuối cùng trở thành vị Vua lý tưởng của thế giới. Bất kể theo Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Nho giáo, chỉ cần khoan dung với mọi người, thì đều có thể có duyên gặp Chuyển Luân Thánh Vương. Thế nhưng việc tốt hay gặp trắc trở, Thần đến thật rồi, mà con người vẫn nghi hoặc không tin.

Thế nhân trong mê bất tỉnh

Theo tục truyền, Bố Đại hòa thượng là hóa thân thế tục của Phật Di Lặc. Vào ngày 2/3 năm Trinh Minh thứ 2 triều Hậu Lương (năm 916), trước khi tạ thế, ông lưu lại bài kệ khắc trên bia đá trong chùa Nhạc Lâm như sau: “Di Lặc chân Di Lặc; Phân thân thiên bách ức; Thời thời thị thời nhân; Thời nhân tự bất thức” (Di Lặc ấy là Di Lặc thật; Phân thân hàng trăm nghìn vạn; Lúc nào cũng thị hiện người đời; Chỉ bởi người không tự biết).

Theo tục truyền, Bố Đại hòa thượng là hóa thân thế tục của Phật Di Lặc.
Theo tục truyền, Bố Đại hòa thượng là hóa thân thế tục của Phật Di Lặc. (Ảnh: sohu)

Bài kệ trước khi viên tịch của Bố Đại hòa thượng đã nói với người đời rằng, khi Phật Di Lặc tương lai hạ thế độ nhân, bất chấp chân tướng không ngừng triển hiện, thế nhân vẫn không thể đối diện với hiện thực.

“Phúc âm John” trong Kinh Thánh viết (1:10-11): “Ngài đã vào thế gian, thế gian đã được tạo nên bởi Ngài, nhưng thế gian chẳng nhận biết Ngài. Ngài đã đến với dân Ngài, nhưng dân Ngài không tin nhận Ngài”.

Kinh Thánh còn nói khi Cứu Thế Chủ giáng thế cứu người, ánh sáng của Ngài sẽ chiếu rọi thế giới trong nháy mắt, tựa như tia chớp từ trời tỏa sáng không trung. Thế nhưng người đời không nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, lại để Ngài phải chịu khổ không ít, thậm chí còn bị thế nhân không rõ chân tướng gièm pha.

Trong Các Thế Kỷ có một bài thơ nổi tiếng minh xác về thời gian, đó là Các Thế Kỷ X, Khổ 72 tiên tri về đại sự kiện:

Vào năm 1999, tháng 7,
Để Đại vương Angoulmois phục sinh,
Đại vương Khủng bố sẽ từ trên trời xuống,
Đến thời trước và sau khi Mars thống trị thiên hạ,
Nói là để có cuộc sống hạnh phúc cho mọi người.

Ngày 20/7 xác thực là một ngày đặc thù, được Các Thế Kỷ tiên tri là Giang Trạch Dân, kẻ chống Chúa, sẽ phát động cuộc đàn áp toàn diện đối với những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Cuộc đàn áp gây bao đổ máu, phỉ báng lừa dối, tạo ma nạn tại Trung Nguyên, mê hoặc thế nhân khiến họ phạm tội.

Đây chính là trận đại chiến Chính- Tà tối hậu Armageddon giữa Chiên Con và thú mà “Khải Huyền” nhắc tới, đến nay đã 18 năm. Đối diện với ma nạn, vô số Thánh đồ đã kiên nhẫn giảng rõ sự thật để thực hiện sứ mệnh cứu độ chúng sinh. Đảng Cộng sản Trung Quốc ngang nhiên chống lại Phật Pháp “Chân-Thiện-Nhẫn” của vũ trụ, đã rơi vào vũng bùn trong cuộc đọ sức Chính-Tà này. Câu sấm “Cửu thập cửu niên thành đại thác” (Năm 99 thành sai lầm lớn) của dự ngôn Thôi Bối Đồ triều Đường đã trở thành sự thực.

Cuối cùng hướng về Thần

Kinh Trường A Hàm, quyển 18 viết: “Chuyển Luân Thánh Vương xuất thế… thời các tiểu vương tại Đông phương thấy Đại Vương, đều dâng châu báu quy thuận. Ngoài ba phương Nam, Tây, Bắc đều như vậy”.

“Khải Huyền” của Kinh Thánh viết: “Sau những việc đó, kìa, tôi thấy một đám đông rất lớn, không ai có thể đếm được, từ mọi quốc gia, bộ lạc, dân tộc, và ngôn ngữ đứng trước ngai và trước Chiên Con; ai nấy đều mặc áo choàng trắng và tay cầm cành thiên tuế. Họ cùng nhau cất tiếng hô vang rằng: ‘Ơn cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và thuộc về Chiên Con’”.

Cho dù phải trải qua bao nhiêu ma nạn, cuối cùng con người cũng đều hướng về Thần; những người này đến từ các phương, các nước, các dân tộc. Kinh Phật và Kinh Thánh đều nhất trí khi miêu tả điểm này.

Tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại

Sau khi Cứu Chủ giáng thế cứu vãn chúng sinh, nhân gian sẽ nghênh đón tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại.

Kinh Di Lặc Hạ Sinh viết: “Quốc thổ đều phú thịnh, vô phạt vô tai ách; nam nữ đều do thiện nghiệp sinh. Đất không cây gai, chỉ sinh cỏ xanh, thuận theo gót chân, mềm như tơ tằm. Tự nhiên xuất lúa thơm, mỹ vị đều sung túc. Cây cối sinh y phục, màu sắc đều trang nghiêm; cây cao ba tòa nhà, hoa quả thường dư dật. Lúc ấy người trong nước, đều thọ tám vạn năm, không có khổ bệnh tật, đầu óc thường an lạc”.

“Isaiah” của Kinh Thánh viết: “Tiếng than khóc sẽ không còn nghe trong thành ấy; Tiếng khóc than sẽ vĩnh viễn không còn. Trong thành ấy trẻ thơ sẽ không chết yểu; Không người già nào không hưởng trọn tuổi thọ của mình; Vì ai trăm tuổi mà qua đời sẽ bị xem là chết yểu; Người chưa được bách niên mà phải lìa đời sẽ bị xem là bị nguyền rủa”.

“Khải Huyền” của Kinh Thánh cũng miêu tả tân Thiên, tân Địa như sau: “Giữa quảng trường của thành, nơi rẽ ra của hai nhánh sông, có một cây sự sống sinh trái mười hai đợt, mỗi tháng một đợt, và lá của cây ấy được dùng để chữa lành các dân”.

Bởi vậy, sau khi trải qua trận đại chiến Chính-Tà này, những người có đạo nghĩa, duy hộ Phật Pháp sẽ được lưu lại và có phúc. Họ sẽ trường thọ an lạc, vô phạt vô tai, hoa quả sung túc, mỹ vị phong phú, chung sống hòa thuận, không tranh không đấu, nhân loại từ đó tiến nhập vào kỷ nguyên mới.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Luyện con mắt thứ 3

Bạn mô tả diễn biến khi nhìn tập trung vào sẽ như thế nào nhé!

👉ví dụ1: Thấy 2 hình, rồi thành 3, rồi 4, rồi lại 3, lại 4.

👆 ví dụ2: Thấy 2, rồi 3, rồi 1 khoảng vài giây, rồi lại 3

... Khi KẾT THÚC TRÒ trên, tôi dựa vào kết quả cũng xin phép lựa chọn ra 5 bạn để định vị XU HƯỚNG IKIGAI nhé!


Triết lý Ikigai của người Nhật cho cuộc sống hạnh phúc dài lâu


TTO - Khái niệm Ikigai là mấu chốt để người Nhật tìm ra sự hài lòng và ý nghĩa của cuộc sống, trong đó không đơn thuần về tiền bạc, hay đam mê.


Ikigai không chỉ là vấn đề liên quan đến tài chính. Nó hàm nghĩa sâu xa, hơn là mang đến nụ cười trên khuôn mặt bạn khi thức dậy vào buổi sáng, và làm bạn có thêm động lực. 

Tìm ra được ikigai của chính mình có thể là một quá trình lâu dài đòi hỏi sự phản chiếu của mong muốn và nhu cầu trong mọi lĩnh vực đời sống. Nói ngắn gọn, nó trả lời cho câu hỏi: "Mình nên làm gì với cuộc đời mình?"

Đây chính là câu hỏi mà rất nhiều người vật vã cả đời. Một số khao khát có nghề nghiệp cụ thể hoặc đam mê ngay khi còn trẻ, nhiều người khác dành phần lớn thời gian cuộc đời để tìm ra cái thực sự làm họ hạnh phúc.

Trong văn hoá Nhật Bản, ikigai bao gồm: Điều bạn yêu thích (Đam mê và sứ mệnh), Điều bạn làm giỏi (Đam mê và nghề nghiệp), Điều giúp bạn kiếm ra tiền (Chuyên môn và kỹ năng), Điều thế giới cần (Sứ mệnh và kỹ năng).

Làm thế nào để đạt được ikigai?

Ikigai thực sự đạt được khi tất cả các lĩnh vực trên gặp nhau tại chính giữa để có một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc. Ví dụ, bạn có thể theo đuổi điều mình yêu thích và điều thế giới cần, nhưng có thể không mang lại tiền bạc cho bạn. 

Ngược lại, bạn có thể làm ra rất nhiều tiền và làm cái bạn giỏi, nhưng thẳm sâu trong lòng, bạn vẫn thấy trống rỗng và không trọn vẹn.


Theo đuổi ikigai của bản thân là một thử thách, nhưng khiến bạn sống tích cực hơn. Vậy thì phải bắt đầu từ đâu? 

Hãy tự hỏi mình bắt đầu từ những câu hỏi cơ bản trong biểu đồ ikigai, từ đó đi vào cụ thể hơn. 

Nên nhớ rằng ikigai không thể đạt được trong một sớm một chiều, và ikigai không có nghĩa là sẽ mang lại stress cho bạn. Điều nó nhắc nhở bạn là trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều nhu cầu khác nhau để tạo nên một bản thể hoàn chỉnh.


Với mỗi quyết định về tài chính, sự nghiệp hay bất cứ thứ gì, bạn nên cân nhắc các lĩnh vực khác trong biểu đồ ikigai. Không phải cái gì đam mê cũng tốt, nếu nó không mang lại tiền bạc cho bạn, hoặc không nằm trong những kỹ năng mà bạn có.

Ikigai đối với người Nhật

Ở Nhật Bản, ikigai không chỉ áp dụng trong công việc. Trên thực tế, chưa đến một nửa trong số 2.000 người Nhật được phỏng vấn năm 2010 cho rằng công việc là ikigai của họ. Triết lý sống bắt nguồn từ thời Heian (năm 794-1185), có thể áp dụng đối với sở thích, hoặc cách sống sau khi nghỉ hưu.

Điều quan trọng cần nhớ, ikigai không có nghĩa là lúc nào bạn cũng phải được hạnh phúc. Nó là kim chỉ nam để bạn vượt qua những giai đoạn khó khăn, đưa bạn đến nơi bạn muốn. Và hơn cả, hãy lắng nghe bản năng của chính mình.

"Trực giác và sự tò mò là những sức mạnh nội tại giúp chúng ta kết nối với ikigai của mình", tác giả Hector Garcia và Francesc Miralles viết trong cuốn sách Ikigai: Bí quyết để có cuộc sống hạnh phúc dài lâu của người Nhật.

Để viết cuốn sách này, hai tác giả đã đến Okinawa, nơi có những người sống thọ nhất thế giới. Họ phỏng vấn người dân ở đó về bí quyết để hạnh phúc, sau đó tập hợp lại để tìm ra ikigai của mỗi người.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

CÂU CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ CHÚA JESUS

 

Không gì thực sự có thể bị đe dọa. Không có gì không thực có thể tồn tại. Đó là sự bình an của Thượng Đế.

Trích trong “Một khóa học diệu kỳ - A Course in Miracles”

163-huong-dan-thang-thien-toan-tap-lam-the-nao-de-dat-duoc-thang-thien-trong-kiep-song-nay-chuong-14-cau-chuyen-chua-ke-ve-chua-jesus-1.jpg

Mục đích của chương này là để chia sẻ với bạn một số thông tin cực kỳ hấp dẫn mà đa số mọi người không biết về cuộc đời của chúa Jesus. Những thông tin này không phải xuất phát từ tôi mà nó tới từ các nghiên cứu chuyên sâu của tôi về tài liệu của Edgar Cayce, sách của bà Alice Bailey, sách “Phúc âm Aquarian của Chúa Jesus - the Aquarian Gospel of Jesus the Christ”, các bản thảo bị thất lạc gần đây đã được tìm thấy ở Tây Tạng, Ấn Độ và dãy núi Hymalaya, qua dẫn kênh với đức DK (Djwhal Khul). Đây là một niềm vui lớn lao với tôi để mang lại cho bạn những câu chuyện chưa được kể về chúa Jesus.

163-huong-dan-thang-thien-toan-tap-lam-the-nao-de-dat-duoc-thang-thien-trong-kiep-song-nay-chuong-14-cau-chuyen-chua-ke-ve-chua-jesus-2.jpg

Câu chuyện bắt đầu từ rất lâu trước khi ông có một kiếp sống dưới tên gọi Jesus. Edgar Cayce và Djwhal Khul đã liệt kê những kiếp trước của anh ấy. Theo Edgar Cayce, kiếp trước của Chúa Jesus là Amilius, Adam, Melchizedek, Enoch, Zend, Ur, Asapha, Jeshua, Joseph và Joshua. DK đã thêm vào 2 cuộc đời nữa sau kiếp sống của anh ấy là Jesus: đó là Appolonius của xứ Tyanna và một hóa thân trong một thân thể người Syria mà anh ấy đã thăng lên trong thế kỷ này.

Djwhal Khul đã xác nhận danh sách những kiếp sống trước đây của chúa Jesus được đưa ra bởi Cayce. Amilius là người được sinh ra đầu tiên của Cha, người đã đi vào vùng đất của người Atlantis và cho phép chính anh ấy được dẫn dắt đi vào con đường của sự ích kỷ. Sau đó anh ấy tới dưới tên gọi là Adam và Eva. Sau đó anh ấy tới dưới tên gọi Melchizedek, Thầy tu của Salem. Sau đó anh ấy lại tới dưới tên gọi Zend là cha của Zoroaster, là Đấng Lâm Phàm vĩ đại của Ba Tư giáo. Trong nghiên cứu của tôi, tôi phát hiện ra rằng Zoroaster là một trong những hóa thân của Đức Phật. Sau đó ngài đến như là Enoch, “người đi với Đức Chúa Trời - man who walked with God.” Sau đó ngài đến như là Asapha.

163-huong-dan-thang-thien-toan-tap-lam-the-nao-de-dat-duoc-thang-thien-trong-kiep-song-nay-chuong-14-cau-chuyen-chua-ke-ve-chua-jesus-3.jpg

Zoroaster

Anh ấy cũng là Jehoshua, người đã lý luận với những người trở về sau khi bị giam giữ trong những ngày khi Nehemiah, Ezra, và Zerubbabel là những nhân tố nỗ lực tái lập sự thờ phụng Thượng Đế. Jehoshua cũng là người đã viết ra bản phiên dịch các cuốn sách được viết ra cho tới thời điểm đó. Jesus cũng là Joseph trong Cựu Ước, là người mặc áo khoác nhiều màu sắc, và là người bị ném vào mương bởi những người anh em đố kỵ với mình, và sau đó trở thành người giải thích các giấc mơ cho Pharaoh. Sau đó anh ấy tới dưới tên gọi Joshua, là người phát ngôn cho Moses và người đã dẫn người Do Thái đến vùng đất hứa.

Trong kiếp sống của anh ấy là Chúa Cứu Thế Jesus (Jesus the Christ), anh ấy đã đạt được cuộc điểm đạo thứ tư của mình tại thời điểm đóng đinh. Trong ba năm cuối của kiếp đó anh ấy đã được phủ bóng bởi đức Christ – đức Di Lặc. Chúa Cứu Thế (The Christ) không ai khác đó chính là đức Di Lặc (Maitreya), người đứng đầu Thánh Đoàn và Những Người Anh Em Trắng Cao Cả. Đức Di Lặc là người nắm giữ vị trí ‘Chúa Cứu Thế - The Christ’, là một nhiệm vụ hay chức vụ trong chính phủ tâm linh của Hành Tinh. Đức Di Lặc là bậc thầy và giáo viên của đức Jesus.

Trong 3 năm cuối của cuộc đời Jesus, họ chia sẻ cùng một cơ thể vật lý. Đức Di Lặc là người đã thăng thiên lên tại thời điểm đóng đinh chứ không phải là Jesus. Đức Jesus đã có được cuộc điểm đạo thứ 4 của mình và đã khiến cho anh ấy trở thành một Chân Sư và cũng là sự thoát ra khỏi vòng luân hồi và không cần thiết phải tái sinh nữa.

Chúa Jesus tái sinh 9 năm sau đó, theo DK nói trong sách của bà Alice Bailey, là Appollonius của xứ Tyanna và đạt tới cuộc điểm đạo thứ 5 của mình trong kiếp sống đó. Appollonius là một linh hồn vô cùng vĩ đại, và nhiều người thực sự nhầm lẫn ông với Jesus bởi vì những gì họ dạy rất giống nhau và bởi vì họ sống ở khoảng thời gian khá gần nhau.

Trong hóa thân cuối cùng của Chúa Jesus trong thân thể người Syria, anh ấy đã thăng thiên. Anh ấy đi vào cơ thể đó khoảng 350 năm trước đây và thăng lên vào thế giới tinh thần trong thế kỷ này, theo như lời DK.

Djwhal Khul cũng nói một điều hấp dẫn khác về Jesus. Trong khi trên thập tự giá, tại một thời điểm Chúa Jesus đã nói, “Cha ơi, tại sao cha lại bỏ rơi con - Father, why hast thou forsaken me?” Cá nhân tôi luôn luôn bị bối rối bởi câu nói đó. Nó không giống như lời phát biểu của một vị thầy. DK đã nói trong sách của Alice Bailey, rằng anh ấy đã nói điều đó bởi vì anh ấy đang trải qua cuộc điểm đạo thứ 4 mà công việc phải thực hiện với cơ thể linh hồn (soul body) hay cơ thể căn nguyên-nhân quả được đốt cháy, và linh hồn trở lại với chân thần hay tinh thần. Điều mà Jesus đã trải nghiệm đó là linh hồn của anh ấy hay cái tôi cao hơn đang rời khỏi, đó là một trải nghiệm kỳ lạ với anh ấy bởi vì linh hồn của anh ấy đã là người thầy của anh ấy trong tất cả các kiếp hóa thân của mình. Anh ấy không nhận ra trong khoảnh khắc đó người thầy của anh ấy trở thành chân thần hay Cái Tôi Hiện Diện hùng mạnh (mighty I Am Presence). Trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó anh ấy đã trải qua sự lạc mất linh hồn của mình cho tới khi anh ấy tái kết nối lại với tinh thần (spirit). Anh ấy đã nhận ra điều đó ngay sau đó khi anh ấy nói “Cha, tha thứ cho họ vì họ không biết những gì họ làm.” Cha ở đây chính là chân thần (monad) hay tinh thần (spirit).

Một khía cạnh khá thú vị khác đó là Jesus được sinh ra từ sự thu thai trinh nguyên (the immaculate conception), theo Djwhal và Cayce, và Đức Trinh Nữ Maria cũng vậy. Edgar Cayce nói rằng Đức Trinh Nữ Maria và Chúa Jesus là từ cùng một linh hồn, hay là điều mà Cayce gọi là linh hồn sinh đôi (twin souls). Theo Djwhal Khul, Jesus đã đi vào sự hóa thân của mình là Jesus ở cấp độ điểm đạo thứ 3.

Khi xem lại kiếp sống trước đó của Jesus, thật thú vị khi thấy cách họ chỉ ra sự tương quan giữa hai tôn giáo chính của hành tinh này. Khá thường xuyên khi người Thiên Chúa Giáo và Do Thái Giáo đã cạnh tranh với nhau, mỗi người của của tôn giáo này đều cố gắng nói tôn giáo của mình mới là “đúng”. Sự vô lý của điều này có thể được nhìn thấy trong thực tế rằng cùng một linh hồn đã tham gia cả hai vai diễn. Chúa Jesus là một giáo sĩ Do Thái. Ông cũng là Joshua, người đã dẫn dắt người Do Thái đến miền đất hứa. Ông cũng là Joseph trong Cựu Ước. Ông là người hướng dẫn và là người thầy của Abraham, người khởi đầu tôn giáo Do Thái như Melchizedek.

Một kết nối hấp dẫn hơn nữa giữa tôn giáo Do Thái và Kitô giáo đó là trong thực tế, ‘John the Baptist’ cũng là Elijah trong kiếp sống trước của mình, và Elijah lại là một trong những nhà tiên tri vĩ đại của người Do Thái.

Điều này thậm chí còn thú vị hơn nữa khi trong thực tế ông Joseph, chồng của Đức Trinh Nữ Maria, không ai khác chính là đức Saint Germain. Ba người đàn ông thông thái đến thăm Jesus Christ không ai khác chính là Djwhal Khul, Kuthumi và El Morya. Người đệ tử duy nhất đã thăng lên, theo DK, chính là John the Beloved (đức Kuthumi). Một khía cạnh thú vị khác đó là Abraham cũng chính là Chân Sư Thăng Thiên El Morya, ngài là Cung chủ (Chohan) của cung/tia đầu tiên.

Cộng đồng Essenes

163-huong-dan-thang-thien-toan-tap-lam-the-nao-de-dat-duoc-thang-thien-trong-kiep-song-nay-chuong-14-cau-chuyen-chua-ke-ve-chua-jesus-4.jpg

Phần hấp dẫn tiếp theo trong câu chuyện này đó là tầm quan trọng của cộng đồng Essenes với cuộc đời Jesus. Cộng đồng đó rất quan trọng trong sự xuất hiện của đấng cứu thế (Messiah), theo Cayce. Kỳ lạ thay, cộng đồng Essenes không được đề cập tới trong Kinh Thánh. Chỉ tới khi phát hiện ra cuộn giấy cổ ở Biển Chết vào năm 1947, trong các hang động ở Qumran, từ đó sự quan tâm rộng rãi và hứng thú về Essenes bắt đầu lan rộng.

Các cuộn giấy là các văn bản tôn giáo của cộng đồng Essenes. Theo Cayce thì tại đó là một nhóm hay cộng đồng Essenes. Nhóm đóng vai trò quan trọng nhất trong cuộc đời của Chúa Jesus là nhóm trên núi Carmel, nơi đó là trường học đã khai sinh ra các nhà tiên tri được thiết lập trong thời của Elijah. Cộng đồng Essenes là nơi các sinh viên học về chiêm tinh học, thần số học, khoa tướng số và sự luân hồi. Những niềm tin này xung đột trực tiếp với niềm tin của người Sadducees và họ đã mang lại sự áp bức cho cộng đồng Essenes.

Một trong những đặc điểm chính của cộng đồng Essenes, phân biệt họ với các giáo phái khác, là “sự mong chờ” của họ về Đấng Cứu Thế (Messiah). Đó là lý do chính cho sự tồn tại của nhóm. Theo Edgar Cayce, cái tên Essenes thực sự có nghĩa là sự mong chờ (expectancy).

Đó là niềm tin của cộng đồng Essenes mà qua đó họ tuân thủ nghiêm ngặt quy luật tâm linh để thanh tẩy cơ thể của chính họ, để đấng Cứu Thế có thể hạ phàm xuống Trái Đất và nhập vào cơ thể vật lý. (Jesus Christ, dĩ nhiên chính là Đấng Cứu Thế mà họ đã tìm kiếm. Tuy nhiên, người Do Thái truyền thống đã không hiểu điều này.)

Jesus đã mang tới sự sắp đặt tâm linh cho thời đại Song Ngư. Người Do Thái, ở một cấp độ mở rộng hơn, họ được sắp đặt để tuân theo các luật lệ mà được đưa ra bởi Moses. Nhưng sau đó Jesus đã mang tới những kiến thức là tình yêu còn vĩ đại hơn luật lệ.

Sự chuẩn bị của cộng đồng Essenes đã đi vào một giai đoạn mới khi họ chọn 12 cô gái đi tới ngôi đền ở núi Carmel để chuẩn bị cho những cô gái này trở thành mẹ của Đấng Cứu Thế Messiah. Mary là một trong những cô gái đó. Họ được đào tạo các bài tập về thể chất và tâm trí liên quan tới trinh tiết, sự tinh khiết, tình yêu, sự kiên nhẫn và sức chịu đựng. Chế độ ăn uống đặc biệt đã được trao cho những đứa trẻ này cùng với sự đào tạo toàn thể về đời sống tâm linh.

Người đứng đầu giáo phái Essenes vào thời điểm này, theo Cayce, là một người phụ nữ với cái tên “Judy.” Thật phi thường khi một người phụ nữ làm người đứng đầu giáo phái này trong thời đại gia trưởng như vậy. Judy là một nhà tiên tri, nhà tâm linh và giảng viên tâm linh. Cô ấy đã được đào tạo không chỉ với Do Thái Giáo bí truyền, mà còn cả với các giáo lý của Ấn Độ, Ai Cập và vùng đất Ba Tư. Cô cũng là một nhà chữa lành và là người ghi lại các giáo lý. Chính Judy đã đề nghị với Jesus sau này trong cuộc đời của mình anh ấy nên du hành tới Ai Cập, Ấn Độ và Ba Tư để được đào tạo và nghiên cứu thêm nữa.

Mary chỉ mới bốn tuổi khi cô vào đền thờ. Theo Cayce, cô được Tổng lãnh thiên thần Gabriel chọn khi 12 tuổi hay 13 tuổi. Mary sau đó được tách ra khỏi những đứa trẻ khác để chuẩn bị và huấn luyện thêm. Thời kỳ đó trong cuộc đời của Đức Mary kéo dài bốn năm. Theo Cayce, một người chồng đã được chọn cho Mary, ngay cả trước khi có thông báo của thiên thần rằng cô ấy là người mẹ được chọn của Đấng Cứu Thế Messiah.

Cayce nói rằng cuộc hôn nhân thực sự đã không diễn ra cho đến một thời gian về sau khi bà đã thụ thai đứa trẻ thần thánh. Joseph, chồng cô (Saint Germain), đã rất bối rối khi phát hiện ra Mary đã có con vào thời điểm đám cưới. Việc lựa chọn Mary làm cô dâu của anh ấy không phải là lựa chọn bởi riêng anh ấy; tại thời điểm đó các gia đình Do Thái là người sắp xếp các cuộc hôn nhân. Sự lựa chọn cho cuộc hôn nhân này thực sự được thực hiện bởi các linh mục, và mặc dù Joseph không thích sự lựa chọn Mary làm vợ của ông (ông 36 tuổi và Mary chỉ mới 16 tuổi), tuy nhiên anh ấy đã thay đổi ý định của mình khi được thông báo trong giấc mơ và sau đó là giọng nói trực tiếp từ ý chí của Thiêng Liêng. Chính Tổng lãnh thiên thần Gabriel đã đến gặp Joseph và thuyết phục anh ta.

Sự ra đời của Chúa Jesus và sự huấn luyện ban đầu của anh ấy được ghi lại trong Kinh Thánh nên tôi không cần phải tập trung vào chúng. Nơi mà tôi muốn tập trung vào là thời gian từ tuổi 12 tới 30 tuổi mà đã không được nói tới trong Kinh Thánh.

Những năm chưa được biết tới về cuộc đời của Jesus

Theo Cayce, Jesus đã trở thành một bậc thầy pháp luật Do Thái Giáo trước 12 tuổi. Từ 12 tuổi tới 15 hoặc 16 tuổi, ông được dạy dỗ từ những lời tiên tri bởi Judy trong ngôi nhà của cô ấy ở núi Carmel. Sau đó anh ấy được gửi tới Ai Cập, sau đó tới Ấn Độ trong 3 năm, sau đó tới Ba Tư để được đào tạo thêm nữa. Từ Ba Tư anh ấy được gọi trở về sau cái chết của Joseph. Sau đó anh ấy trở lại Ai Cập để hoàn thành sự chuẩn bị cho anh ấy trở thành một vị thầy.

Những giáo lý anh ấy tiếp thu được ở Ấn Độ là “những việc thanh lọc liên quan tới sự chuẩn bị sức mạnh thể chất cũng như tinh thần của con người. Trong chuyến du hành tới Ba Tư, là sự hợp nhất các mãnh lực liên quan tới những giáo lý của Zu và Ra ở Ai Cập”.

Theo Cayce, Jesus đã được khai sinh dưới tên gọi là Jeshua, “Jesus” thực sự là cái tên gọi theo tiếng Hy Lạp. Cả hai tên gọi này đều mang nghĩa là Jehoshua, có nghĩa là Sự Cứu Giúp của Jehovah hay Đấng Cứu Thế. John the Baptist đã xuất hiện cùng với Jesus trong giai đoạn anh ấy ở Ai Cập. Họ đã ở Heliopolis, Ai Cập để đạt được chức thầy tu, và đã vượt qua các bài kiểm tra ở đó. Trong cuốn sách “The Aquarian Gospel of Jesus the Christ” của Levi, đã ghi lại bảy cấp điểm đạo mà Jesus đã đạt được. Đại Kim Tự Tháp Giza đã được xây dựng như là một Đền Thờ của Sự Điểm Đạo (Temple of Initiation) bởi Những Người Anh Em Trắng Cao Cả (the Great White Brotherhood). Jesus đã đạt được sự điểm đạo cuối cùng của mình trong kim tự tháp này. Trong kinh thánh nó được đề cập tới là ba ngày và ba đêm trong ngôi mộ. Theo cuốn sách “The Aquarian Gospel of Jesus the Christ”, Jesus đã theo học tôn giáo Brahmic và Vedas ở Ấn Độ. Ông cũng dành thời gian ở Nepal, Tây Tạng, Syria và Hy Lạp. Ở Ấn Độ, Cayce nói, ông theo học một vị thầy tâm linh tên là Kahjian. Ở Ba Tư, ông theo học Juner. Ở Ai Cập, ông theo học Zar.

Từ kênh dẫn của Cayce, Levi và Djwhal Khul đều ghi lại hành trình 18 năm của Chúa Jesus ở Phương Đông. Tuy nhiên, điều hấp dẫn là trong thế kỷ này các tài liệu cổ đại đã được phát hiện ở Ấn Độ và Tây Tạng đều chứng minh rằng Chúa Jesus đã thực sự đến đó. Vào cuối năm 1800 Nicholas Notovitch, một nhà báo người Nga du hành tới Tây Tạng đã được một Lạt ma nói cho biết rằng tại kho lưu trữ ở Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, rằng có hàng nghìn cuộn giấy cổ đại nói về cuộc đời của nhà tiên tri Jesus. (Ở phương Đông họ gọi ông là nhà tiên tri Issa). Notovitch đi đến một tu viện vĩ đại ở Himis, tu viện lớn nhất và nổi tiếng nhất ở Ladakh, nơi ông tìm thấy những tài liệu này. Năm 1894, anh ấy công bố đoạn thơ xác thực điều này trong một bản phiên dịch của anh ấy. Trong những tài liệu này, chúng ta có thể tìm thấy những mô tả về cuộc đời của Đức Phật Issa, người đã giao giảng giáo lý thiêng liêng ở Ấn Độ và tới những đứa trẻ ở Israel.

Bản phiên dịch đó nói về việc Jesus đã trở thành một đệ tử của Brahmin như thế nào, sống ở đó 3 năm với các tu sĩ phật giáo, và nghiên cứu kinh phật. Nó cũng nói về ông đã du hành tới Nepal và Hymalaya như thế nào, và sau đó tới Ba Tư nơi ông nghiên cứu các học thuyết của Zarathustra hay Zoroaster.

Năm 1922, Swami Abhedananda cũng đến Himis, Tây Tạng và xác nhận câu chuyện của Notovitch. Swami Abhedananda, với sự giúp đỡ của một Lạt ma, đã dịch những câu thơ tương tự mà sau này ông xuất bản cùng với bản tiếng Anh của Notovitch.

Năm 1925, Nicholas Roerich đến thăm Himis. Ông đã xuất bản các tác phẩm mà ông đã khám phá tại tu viện và những nơi khác song song với các bản báo cáo của Notovitch và Swami Abhedananda. Ông cũng thông báo việc tìm thấy trong suốt hành trình của mình với nhiều bản báo cáo khác nhau, cả truyền miệng lẫn văn bản, về cuộc hành trình của Jesus trên khắp Phương Đông. Ông đã xuất bản chúng trong một cuốn sách có tên là “Altai-Himalaya, Heart of Asia and Himalaya”.

Trong năm 1939, không có hiểu biết nào trước đây về huyền thoại Issa, Elisabeth Caspari đã được người trông giữ thư viện ở Himis nói cho cô ấy biết, “Những cuốn sách nói về chúa Jesus của bạn có ở đây”.

Các kênh dẫn và bằng chứng thực tế đã nói lên việc Jesus đã du hành tới Phương Đông và được đào tạo, nghiên cứu và giảng dạy ở đây là chiếm áp đảo. Một điều cũng thú vị đó là các hoạt động của chúa Jesus từ 12 tuổi tới 30 tuổi đẹp đẽ như vậy đã bị loại bỏ ra khỏi Kinh Thánh.

Điều quan trọng là phải hiểu rằng Kinh Thánh không được viết ra bởi Thượng Đế như một số người cố gắng để nói với bạn. Kinh Thánh được viết bởi con người; rất nhiều tài liệu trong đó là sự giải thích của con người về Thượng Đế, không phải là sự tiết lộ trực tiếp của Thượng Đế. Có rất nhiều thứ được viết ra với cảm hứng trong đó, do đó cần phải đọc nó với trí phân biện.

Điểm mấu chốt thứ hai trong khía cạnh này là thực tế của lịch sử: vào năm 553 sau Công nguyên tại Hội đồng thứ hai của thành phố Constantinople, một quyết định đã được ban hành đó là loại bỏ tất cả sự đề cập tới luân hồi ra khỏi Kinh Thánh. Họ không thích khái niệm này.

Ý nghĩa của điều này là khá rõ ràng. Không chỉ là cách giải thích của con người trong Kinh Thánh về Thượng Đế, mà còn là chuyện con người không thích điều gì họ sẽ loại bỏ nó đi. Trong quan điểm cá nhân của tôi, nó cũng là chuyện đã xảy ra với các bản ghi chép đã bị loại bỏ đi về 18 năm trong cuộc đời của Jesus mà không được nói tới trong Kinh Thánh. Tôi không nghĩ rằng các nhà thờ cấp cao hơn hài lòng với ý tưởng một người được biết tới rộng rãi như Jesus lại là một người theo học Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Hỏa Giáo (Zoroastrianism), và các trường bí truyền ở Ai Cập.

Có một thông tin còn vượt xa hơn nữa tới với tôi từ những tài liệu của Cayce. Đó là Jesus còn có ba anh chị em khác nữa. Đây là những gì mà Tâm Trí Vũ Trụ (Universal Mind) đã nói qua Edgar Cayce. Jesus được sinh ra từ sự thụ thai trinh nguyên, nhưng sau khi Mary và Joseph đã thực sự kết hôn, họ đã có thêm ba đứa con nữa, theo Cayce - hai cậu bé và một cô gái. Tên của hai bé trai là James và Jude, nhưng tôi đã không thể tìm ra tên của bé gái.

Sau khi được chọn là một trong mười hai thiếu nữ, Mary đã không được phép uống rượu hoặc đồ uống lên men và phải ăn kiêng nghiêm ngặt. Khi cô ấy được chọn bởi Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel trong khi đi trên các bậc thang dẫn tới ngôi đền, đã xuất hiện sấm sét trên bầu trời, theo Edgar Cayce. Ngôi đền Essenes mà tôi nói ở đây cũng là một trường học và một trong những điều chính họ dạy đó là khả năng dẫn kênh. Judy, người đứng đầu của Essenes, đã dạy Jesus tiên tri học, chiêm tinh học, và du hành linh hồn, bởi vì những việc này là Judy khá thành thạo.

Cayce nói rằng ba người đàn ông thông thái tượng trưng cho ba giai đoạn trải nghiệm của con người trong vật chất. Vàng đại diện cho ‘vật chất- material’, trầm hương đại diện cho ‘sự thanh khiết-ethereal’ và ‘dầu thơm myrrh’, đại diện cho năng lực chữa lành – tương ứng với thân thể, tâm trí và linh hồn. Ba người đàn ông thông thái cũng phục vụ như là sự động viên cần thiết cho Mary và Joseph.

Theo những điều mà Edager Cayce đọc được từ Tâm Trí Vũ Trụ, Jesus được sinh ra vào lúc nửa đêm. Cộng đồng Essenes với khả năng của họ về dẫn kênh và tiên tri, đã có hiểu biết đầy đủ về sự xuất hiện của Jesus và đó là lý do chính để họ đã tham ngay từ đầu. Một điểm thú vị cuối cùng mà DK nói với tôi đó là Mary đã thăng thiên lên vào thời điểm kết thúc cuộc sống của cô ấy trên Trái Đất.

Thông tin thú vị khác

Trong nghiên cứu tiếp sau đó của tôi, một vài thông tin hoàn toàn thú vị khác đã đến với tôi. Điểm đầu tiên đó là Enoch là một trong những kiếp trước của chúa Jesus, theo Djwhal Khul. Enoch đạt được thăng thiên của mình và trong kiếp sống đó đã được phủ bóng bởi một sinh mệnh hiện đang ngồi ở một vị trí trong Hội Đồng Thiên Hà (Galactic Council), tên là Melchizedek. Điều thú vị đó là trong kiếp sống sau đó Jesus đã lấy tên gọi là Melchizedek.

Thông tin thú vị thứ hai là từ Brian Grattan và nó đã được xác nhận bởi Vywamus. Sau khi Đức Di Lặc phục sinh cơ thể của Jesus, anh ấy đã sống trên Trái Đất 31 năm nữa. Trong thời gian đó anh ấy đã đi tới Ấn Độ và cũng dịch chuyển tức thời tới Mỹ (teleported to America).

Một phần thông tin thú vị khác là trong cuộc đời quá khứ Mohammed, người sáng lập ra đức tin Hồi Giáo, là đệ tử của Bartholomew. Trong suốt cuộc đời ông là Mohammed, Tổng lãnh thiên thần Gabriel và Chúa Jesus là hai trong số những vị thầy chính trong cõi giới tinh thần của anh ấy. Trong kiếp sống sau đó anh ấy đạt được cuộc điểm đạo thứ 5 khi là một yogi ở Ấn Độ. Anh ấy đã trở lại một lần nữa là Patrick Henry, một trong những người yêu nước vĩ đại của Cách mạng Mỹ. Tôi không nghĩ thế giới Ả Rập theo trào lưu chính thống sẽ quá hạnh phúc khi biết được thông tin bí truyền vô cùng thú vị này.

Đức Di Lặc – Maitreya, Đấng Christ Hành Tinh, sinh mệnh tiến hóa cao nhất của chuỗi Trái Đất của chúng ta. Krishna, kiếp sống trước của đức Di Lặc, đã tới để dạy cho nhân loại đi tới cuộc điểm đạo thứ 2. Nếu tôi không lầm, tôi nghĩ ngài đã đạt được cuộc điểm đạo thứ 5 của mình trong kiếp sống đó.

Đức Jesus sử dụng tên gọi là Sananda trên cõi giới bên trong, như rất nhiều người dã dẫn kênh với người ngoài Trái Đất của Ashtar Command và những người khác đã cho biết như vậy. Tôi cũng đã được xác nhận điều này từ Vywamus.

Thánh St. Peter cũng là kiếp sống trước của Brian Grattan, tác giả của cuốn sách “The Rider on the White Horse” và cuốn “Mahatma I & II”. Brian Grattan hiện đang sống trên hành tinh này và đang làm một số công việc đáng kinh ngạc.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ


Phàm những thánh nhân muốn phát huy tính thiện của con người đến khắp thiên hạ (bình thiên hạ), trước hết phải lãnh đạo tốt nước mình, bang mình (trị quốc).

Muốn lãnh đạo tốt nước mình, bang mình, trước hết cần chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình (tề gia).

Muốn chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình, trước hết phải tu dưỡng tốt phẩm đức bản thân mình (tu thân).

Muốn tu dưỡng tốt phẩm đức bản thân mình, trước hết phải làm cho tâm tư của mình ngay thẳng (chính tâm), đoan chính.

Muốn cho tâm tư của mình ngay thẳng, đoan chính, trước hết phải có ý nghĩ thành thật. (thành ý)

Muốn có ý nghĩ thành thật, trước hết phải có nhận thức đúng đắn. (trí tri).

Mà con đường nhận thức đúng đắn chính là nghiên cứu đến nơi đến chốn, lĩnh hội được cái nguyên lý của sự vật (cách vật)

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Phát hiện tranh vẽ cảnh Giáng sinh 3.000 năm trước khi Chúa Jesus giáng trần

 

Các nhà nghiên cứu phát hiện bức nghệ thuật trên đá 5.000 năm tuổi trên trần một hang động ở sa mạc Sahara, Ai Cập. (Ảnh: Marco Morelli)

Khoảng 5.000 năm trước, một nghệ sĩ Ai Cập đã vẽ cảnh giáng sinh rõ ràng trên đá trong một hang động nhỏ, tương tự cảnh Chúa Jesus được sinh ra trong hang đá hoặc chuồng nuôi gia súc vào 2.000 năm.

Bức tranh được vẽ bằng màu nâu đất đỏ gồm 2 người lớn và 1 đứa trẻ ở giữa, xung quanh có một số loài động vật, và một dấu chấm ở góc phải phía trên có thể tượng trưng cho ngôi sao ở hướng Đông.

Nhà nghiên cứu người Ý Marco Morelli đã phát hiện tranh vẽ này vào năm 2005 tại sa mạc Sahara, giữa thung lũng sông Nile và cao nguyên Gilf Kebir, và giữ bí mật cho đến gần đây mới công bố trên Seeker.com. Nó là cảnh giáng sinh được biết đến lâu đời nhất trên thế giới, và được các nhà nghiên cứu đặt tên là “Cave of the Parents”.

Đó là một cảnh thực sự rất giống với Chúa giáng sinh. Nhưng nó có trước khoảng 3.000 năm“, nhà địa chất Morelli, giám đốc Bảo tàng Khoa học Hành tinh ở Prato, Ý, nói với Seeker.com.

Ông cho hay, “phát hiện này có nhiều ý nghĩa vì nó đặt ra câu hỏi mới về hình tượng của một trong những biểu tượng Kitô giáo mạnh mẽ hơn“.

Cảnh Chúa Jesus giáng sinh thường xuất hiện trong các nhà thờ hiện đại. Đặc biệt là vào dịp Giáng sinh, hang đá được dựng lên ở khắp nơi, từ nhà dân đến nơi công cộng.

Phát hiện tranh vẽ cảnh Giáng sinh 3.000 năm trước khi Chúa Jesus giáng trần - ảnh 2
Cảnh Chúa Jesus giáng sinh thường xuất hiện trong các nhà thờ hiện đại. (Ảnh: Reddit)

Phúc Âm Luke viết về sự giáng sinh của Chúa và việc các nhà trọ ở Bethlehem hết phòng buộc cha mẹ ngài phải náu mình trong một hang động hoặc nhà kho, nơi Kinh Thánh nói là bà Mary đã sinh ra Chúa Jesus.

Sau khi Chúa giáng sinh, cha mẹ ngài phải lánh nạn sáng Ai Cập vì Herod ra lệnh giết tất cả bé trai dưới 2 tuổi ở Bethlehem. Điều đáng lưu ý là bức tranh cổ trên đá vừa được công bố cũng ở Ai Cập. Câu chuyện về hành trình đến Ai Cập được kể lại trong Phúc Âm Matthew.

Morelli cho rằng, bức tranh có thể mô tả một gia đình bình thường, nhưng các chi tiết chỉ đến ý nghĩa đặc biệt. Đứa trẻ sơ sinh được vẽ ở phía trên một chút, giống như đang nâng cao dần lên trời. Với vị trí như vậy, em bé không hẳn ở giữa cha mẹ, mà sẽ có nghĩa là một sự khai sinh hoặc đầu thai.

Giống như cái chết liên quan đến Đất trong nghệ thuật trên đá đương đại ở cùng một khu vực nghiên cứu, nhiều khả năng khai sinh liên quan đến bầu trời“, Morelli nói.

Cảnh tượng trở thành biểu tượng phức tạp hơn nhiều nếu xem xét thêm 2 con vật trong tranh. Phía trên là một con sư tử không đầu, một con quái vật huyền thoại xuất hiện trong một số bản vẽ nghệ thuật trên đá ở cùng khu vực nghiên cứu, trong khi bên dưới trong khung cảnh là một con khỉ đầu chó hoặc một con khỉ hình người.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

5 hành tinh xếp thành cây Thánh giá đúng ngày Chúa Jesus bị hành hình


 Ngày 3/4/33, ngày Chúa Jesus bị hành hình, 5 hành tinh trong hệ Mặt trời đã dịch chuyển đến những vị trí tạo thành hình người tương tự như cảnh Chúa bị đóng đinh trên cây thập tự.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, ngày 3/4/33 là ngày Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự. Chính vào ngày này, sao Thổ, sao Mộc, Trái Đất, sao Kim và sao Thiên Vương đã di chuyển vào các vị trí tạo nên dạng thức một người đàn ông bị đóng đinh trên cây thập tự. Đây là một hiện tượng thiên văn cực hiếm; quỹ đạo này lặp đi lặp lại 6 lần trong khoảng thời gian từ năm 0 đến năm 2000, tương đương chu kỳ 333 năm/ lần.

Tác giả của khám phá thú vị này là Miguel Antonio Fiol, một nhà sử học từ Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ).

Cụ thể, theo trang Christian Newswire, dựa trên một mô hình vũ trụ giả lập, vào ngày 3/4/33, 5 hành tinh bao gồm sao Thổ, sao Mộc, Trái Đất, sao Kim và sao Thiên Vương đã chuyển động đến các vị trí tạo nên một hình dạng khá giống Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự, “với phần đầu, hai tay chìa sang hai bên và hai chân chụm lại theo một tư thế chính xác, nhưng trên phạm vi thiên hà”.

Không chỉ vậy, vành đai sao Thổ, có hình dạng khá giống vầng hào quang hay vương miện, khiến chúng ta liên tưởng đến vòng mão gai đội trên đầu Chúa Jesus khi Ngài bị hành hình.

Tương tự, sao Mộc và sao Kim biểu thị cho hai tay, trong khi hai bàn chân tương ứng với Trái Đất và sao Thiên Vương.

Nhà sử học Miguel Antonio Fiol cho hay:

“Ngay từ cái nhìn đầu tiên tôi đã biết nó trông giống hình người bị đóng đinh trên cây thập tự. Theo các nhà sử học, bố cục sắp xếp hành tinh này bắt đầu vào giữa tháng 3 và kéo dài cho tới giữa tháng 4 trong năm 33. Bố cục tương tự xuất hiện một lần sau mỗi chu kỳ 333 năm, nghĩa là nó xuất hiện tổng cộng sáu lần trong giai đoạn từ năm 0 đến năm 2000.

Thật khó để coi đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Bố cục vị trí đặc thù này chỉ xuất hiện trong một tháng duy nhất vào năm 33, và không xuất hiện trở lại sau 600 năm. Đây là một hiện tượng cực hiếm gặp, và dựa theo số liệu từ mô hình trên nó sẽ không xuất hiện trở lại trong khoảng thời gian từ bây giờ cho đến khoảng năm 2900”.

Ông Fiol, người đã dành nhiều năm nghiên cứu các nhân vật lịch sử, các công trình và các biểu tượng như π để tìm ra các mẫu và ý nghĩa cơ bản. “Bữa tối cuối cùng của Da Vinci đã dẫn tôi đến đây”.

Ông Fiol cũng tuyên bố rằng những phát hiện của ông có thể kiểm chứng được một cách dễ dàng nhưng thừa nhận sẽ có giải thích bằng mô hình thực tế. “Mọi người sẽ nhìn thấy những gì họ muốn xem mặc dù tôi nghĩ sự trùng hợp là một lập luận cứng rắn”, ông kết luận.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS