Container Icon

Chúa Giê Su từng đến Ấn Độ để học Phật pháp?

 

Giê-Su đã viếng thăm A Phú Hản, “Nơi ngài đã gặp những người Do Thái” những người đã trú ngụ ở đấy để trốn tránh sự bạo ngược của hoàng đế Do Thái  Nebuchadnezzar và rồi thì đến Thung Lũng Kashmir, nơi ngài đã sống nhiều năm.

Sự giảng dạy của Giê-Su ở những thành phố thiêng liêng cổ truyền của Jagannath (Puri), Banares (ở Uttar Pradesh), và Rajagriha (Bihar) và làm những người Bà La Môn phẩn nộ, họ làm áp lực ngài phải lẫn tránh khỏi Hy Mã Lạp Sơn sau sáu năm, những nhà sử học và tác giả nói thế. Giê-Su, nói trong những tài liệu lưu trữ, đã dành sáu năm khác nữa để học hỏi Phật Pháp ở Hy Mã Lạp Sơn.
 Jesus meditating in a forest (unknown source)
Vấn đề nổi bật trở lại trên chúa Giê-Su Ki-Tô và sự liên hệ của ngài với Ấn Độ khi thế giới mừng Chúa Giáng sinh vào thứ Sáu.  Một số nhà sử học tin rằng ngài đã dành 17 năm trong buổi thiếu thời – từ lúc 13 đến 30 - ở Ấn Độ học hỏi Phật Pháp và kinh Vệ Đà.

 Có những sự nhắc đến rằng gia đình Giê-Su (cha mẹ) cư ngụ tại Nazareth, nhưng ngài xuất hiện lần kế ở Nazareth, khi Giê-Su 30 tuổi.  Ngài được nói đã từng lớn lên trong tuệ giác và phát triển trong những năm vắng bóng, “nhà sản xuất phim Anh quốc Kent Walwin nói với IANS(1).

 Ở đây để nhận phần thưởng Dayawati Modi vì nghệ thuật, văn hóa , và giáo dục năm 2009, dự án mới nhất của Walwin, “Tuổi trẻ của Giê-Su:  Những Năm Vắng Bóng”, sẽ khám  phá những năm đầu của chúa cứu thế, những điều không được diễn tả trong Thánh Kinh.

 Theo Walwin, bộ phim của ông là “trên Phúc Âm Tông Đồ, nói rằng Giê-Su được thấy lần cuối cùng ở Tây Á khi ngài khoảng 13 – 14 tuổi”.

 Phần thứ nhất của bộ phim sẽ căn cứ trên Phúc Âm và phần thứ hai của phim sẽ là “thuần phỏng đoán căn cứ trên dữ liệu lưu trử”, nhà làm phim nói thế.

 Có một vài sự nhắc đến sự liên kết ở Ấn Độ.  Vào năm 1894, một bác sĩ Nga, Nicolas Notovitch, xuất bản một quyển sách tựa để là “Cuộc đời không được biết của Giê-Su” căn cứ trên hành trình bao quát của ngài ở A Phú Hản, Ấn Độ, và Tây Tạng.

 Trong một trong những chuyến du hành của mình, ông đã viếng Leh, thủ phủ của Ladakh và ở trong tu viện Phật Giáo, Hemis,  một thời gian khi ngài bị gảy chân.

 Tại tu viện, ngài được thấy hai tập tài liệu lớn màu vàng bằng Tạng ngữ, “Cuộc đời của Thánh Issa”.  Giê-Su được liên hệ như Issa – hay con trai của thượng đế - bởi một nhà học giả Vệ Đà, người dạy kèm ngài trong thánh kinh Vệ Đà.

 Notovitch ghi xuống 200 đoạn kệ từ văn kiện ở phía sau nhật ký của ông mà ông giữ trong suốt chuyến du hành.  Tài liệu sau này tạo thành một cơn giông bảo ở phương Tây.

 Tu sĩ ở tu viện Hemis, tọa lạc khoảng 40 cây số bên ngoài Leh trên đỉnh một ngọn đồi, làm vững thêm huyền thoại của Giê-Su ở Ấn Độ.

Giê-Su được nói đã từng thăm viếng đất nước chúng ta và Kashmir để học hỏi Phật Pháp.  Ngài được truyền cảm hứng bởi giới luật và tuệ giác của Đức Phật,” một lạt ma lão thành của tu viện Hemis đã nói với IANS.  Thượng thủ của trường phái Phật Giáo Drukpa, Gwalyang Drukpa, tu viện trưởng tu viện Hemis, cũng tin tưởng vào huyền thoại.

 Swami Abhedananda, một học giả tâm linh và nhà tiên tri của Bengal, đã từng du hành đến Hy Mã Lạp Sơn để khảo sát huyền thoại Giê-Su thăm viếng Ân Độ”.  Buổi nói chuyện của ông về một quyển sách mang tựa đề “Kashmir O Tibetti”, nói về một cuộc viếng thăm tu viện Hemis ở Ladakh.  Nó bao gồm một bản dịch bằng tiếng Bengal hai trăm đoạn kệ về “Huyền thoại Issa” mà Notovitch đã sao chép lại.
 “Mọi người yêu mến ông bởi vì Issa sống trong hòa bình với những người Vaishyas và Shudras, là những người ông đã chỉ dẫn và giúp đở,”  Roerich nói trong sự trường thuật của ông.

 Sự giảng dạy của Giê-Su ở những thành phố thiêng liêng cổ truyền của Jagannath (Puri), Banares (ở Uttar Pradesh), và Rajagriha (Bihar) và làm những người Bà La Môn phẩn nộ, họ làm áp lực ngài phải lẫn tránh khỏi Hy Mã Lạp Sơn sau sáu năm, những nhà sử học và tác giả nói thế. Giê-Su, nói trong những tài liệu lưu trử, đã dành sáu năm khác nữa để học hỏi Phật Pháp ở Hy Mã Lạp Sơn.

 Quyển sách của học giả Đức, Holger Kersten, “Giê-Su Đã Sống ở Ấn Độ”, cũng đã kể về câu chuyện những năm đầu của Giê-Su ở Ấn Độ.

 “Người trai trẻ đến vùng Sindh (dọc theo sông Ấn Hà) cùng với những người buôn bán.  Cư ngụ trong những người Arya với mục tiêu hoàn thiện chính mình và học hỏi những giới luật của Đức Phật vĩ đại.  Người trai trẻ du hành rộng rãi qua những vùng đất của năm con sông (Punjab), ở lại một thời gian ngắn ngủi với những người Kỳ Na Giáo (2) trước khi tiến tới Jagannath,”  Kersten nói trong quyển sách của ông.

 Trong phiên bản tiếng Anh của Luận thuyết bằng tiếng Urdu được viêt bởi nhà sáng lập phong trào Hồi Giáo Ahmaddiya, Hazrat Mirza Ghulam Ahmad (1835-1908), cũng kể về một “chuyến viếng thăm lần thứ hai của Giê-Su đến tiểu lục địa”  (3) sau khi ngài “được báo cáo thoát khỏi Thánh Giá”.

Giê-Su đã viếng thăm A Phú Hản, “Nơi ngài đã gặp những người Do Thái” những người đã trú ngụ ở đấy để trốn tránh sự bạo ngược của hoàng đế Do Thái  Nebuchadnezzar và rồi thì đến Thung Lũng Kashmir, nơi ngài đã sống nhiều năm.

 Phụ giải:

(1) ·  Indo-Asian News Servicehttp:/www.ians.inhttp:/www.eians.com
(2) Jain
(3) Ấn Độ
Did Christ come to India to study Buddhism, Vedas?
http:/www.buddhistchannel.tv/index.php?id=70,8811,0,0,1,0


Tuệ Uyển chuyển ngữ/www.daophatngaynay.com


Cuộc đời của Chúa Jesus – một trong những nhân vật nổi tiếng nhất lịch sử thực ra có một khoảng trống bí ẩn được che dấu trong suốt 2 thiên niên kỷ qua. Trong Kinh Thánh cũng như các tài liệu của phương Tây, hoặc Trung Đông không hề có ghi chép nào về việc Chúa Jesus ở đâu, làm gì tại Palestine từ lúc 13 đến 29 tuổi. Những năm này đã trở thành khoảng thời gian bí ẩn được gọi là “những năm tháng bị mất”, cho đến khi một nhà thám hiểm đã có những phát hiện đáng chú ý vào năm 1887.

Nhiều tài liệu cổ và nhân vật nổi tiếng tiết lộ Chúa Jesus từng tu học Phật giáo ở Ấn Độ. (Ảnh qua fmkorea.com)
Nhiều tài liệu cổ và nhân vật nổi tiếng tiết lộ Chúa Jesus từng tu học Phật giáo ở Ấn Độ. (Ảnh qua fmkorea.com)

Tiết lộ từ 2 tập tài liệu cổ nơi Tây Tạng

Vào cuối thế kỷ 19, nhà báo người Nga Nicolas Notovitch đi chu du khắp Ấn Độ, Tây Tạng và Afghanistan. Ông đã ghi lại những trải nghiệm và khám phá của mình trong cuốn sách mang tên “The Unknown Life of Christ“ (Tạm dịch: Cuộc đời chưa biết của Chúa Kitô), được xuất bản năm 1894.

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1887, trong chuyến đi, Notovitch bị gãy chân và dưỡng thương tại Tu viện Phật giáo Tây Tạng Hemis ở thành phố Leh, vùng núi cao nhất của Ấn Độ. Chính tại đây, các vị tăng sư cho Notovitch xem 2 tập tài liệu lớn đã ố vàng được viết bằng tiếng Tây Tạng, có tựa đề “Cuộc đời của Thánh tăng Issa”.

Nhà báo người Nga Nicolas Notovitch và cuốn sách The Unknown Life of Christ“ của ông. (Ảnh: t/h)

Trong thời gian ở tu viện, Notovitch đã dành thời gian nghiên cứu và phiên dịch được 200 trong số 224 câu kệ của tập tài liệu này.

Theo những gì được viết trong tập tài liệu, đây là câu chuyện có thật kể về một thiếu niên tên là Jesus. Ông được sinh ra trong một gia đình nghèo ở Israel vào thế kỷ thứ nhất. Ở phương Đông họ gọi ông là nhà tiên tri Issa, nghĩa là “con trai của Thần”. Theo tài liệu, từ năm 13 đến 29 tuổi ông đã được học những điều trong kinh sách Phật giáo, do các học giả Vệ Đà truyền dạy.

Cũng trong lúc lưu lại tu viện năm 1887, một Lạt-ma đã giải thích cho Notovitch toàn bộ phạm vi và cấp độ mà Chúa Jesus đã giác ngộ. “Issa [Jesus] là một nhà tiên tri vĩ đại, một trong những vị đứng đầu chỉ sau 22 vị Phật. Ngài vĩ đại hơn bất kỳ ai trong tất cả các Đạt Lai Lạt Ma, vì Ngài đã là một phần của tâm linh Phật giáo.

Ngài chính là người đã khai sáng cho con người, mang những linh hồn nhỏ bé vào cánh cửa đức tin, và cho chúng ta phân biệt được thiện ác. Tên tuổi và hoạt động của ngài được ghi chép trong các bản thảo thiêng liêng của chúng tôi. Và khi đọc về cuộc đời kỳ diệu của ngài, sống giữa những người đầy lỗi lầm và ương ngạnh, chúng tôi đã khóc vì tội lỗi khủng khiếp của những kẻ ngoại đạo, những người đã tra tấn ngài và đẩy ngài vào chỗ chết”, vị Lạt-ma nói với Notovitch.

Trao đổi với hãng tin IANS, một vị Lạt-ma lớn tuổi tại tu viện Hemis cho biết: “Người ta bảo Chúa Jesus đã đến vùng đất của chúng tôi và vùng Kashmir để tu học Phật giáo vì được truyền cảm hứng từ các pháp lý và trí tuệ của Đức Phật”. Đức Pháp Vương Gwalyang Drukpa, người đứng đầu Phật giáo Kim Cương Thừa Drukpa, kiêm trụ trì tu viện Hemis cũng khẳng định chuyện này.

 Tu viện Hemis, nơi lưu giữ 2 tập tài liệu cổ về cuộc đời của Chúa Jesus. (Ảnh qua Medium)
Tu viện Hemis, nơi lưu giữ 2 tập tài liệu cổ về cuộc đời của Chúa Jesus. (Ảnh qua Medium)

Cũng quan trọng như việc phát hiện Chúa Jesus ra đời ở Trung Đông, khoảng thời gian ông lưu lại ở Ấn Độ hoàn toàn trùng khớp đến mức hoàn hảo với “Những năm tháng bị mất” của ông.

Từ đó, 224 câu kệ đã được nhiều người ghi chép lại, trong đó có Nicholas Roerich, một triết gia và nhà khoa học người Nga. Năm 1952, ông đã đến thăm Hemis và ghi lại những câu chuyện về quãng thời gian Chúa Jesus lưu lại tu viện này. “Chúa Jesus đã sống ở một số thành phố cổ của Ấn Độ như Benares, Varanasi. Mọi người đều yêu mến Issa, vì ngài sống chan hòa với những người thuộc 2 giai cấp Vệ xá và Xu-đra, đồng thời truyền đạo cho họ và giúp đỡ họ”, Roerich viết.

Ông cũng tìm được nhiều thông tin, cả truyền miệng lẫn bằng văn tự về cuộc hành trình của Chúa Jesus trên khắp Phương Đông. Ông đã xuất bản chúng trong cuốn sách mang tên “Altai-Himalaya, Heart of Asia and Himalaya”.

Chúa Jesus từng có thời gian truyền đạo tại các thành phố cổ linh thiêng của Ấn Độ như Jagannath (thuộc bang Puri), Benares (bang Uttar Pradesh) và Rajagriha (bang Bihar). Việc này đã chọc tức những tín đồ Bà la môn, họ đuổi ngài đi, buộc ngài phải đến vùng Himalaya và tu học Phật giáo 6 năm tại đây.

Bản đồ hành trình của Chúa Jesus từ năm 13 đến 29 tuổi. (Ảnh qua Caak News)
Bản đồ hành trình của Chúa Jesus từ năm 13 đến 29 tuổi. (Ảnh qua Caak News)

Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, khi một vị cao tăng, hay Lạt-ma viên tịch, các nhà thông thái sẽ theo dõi thiên văn và điềm báo khác rồi lên đường, thường là những chuyến đi rất dài để tìm hài nhi do Lạt-ma đó chuyển sinh. Khi hài nhi đó đủ lớn thì sẽ phải rời cha mẹ và được đưa đến tu học Phật giáo. Người ta tin rằng Chúa Jesus đã được đưa đến Ấn Độ năm 13 tuổi rồi được giáo dưỡng như một Phật tử. Vào thời điểm đó, Phật giáo đã có lịch sử 500 năm, còn tất nhiên Kitô giáo vẫn chưa xuất hiện.

Video: Cậu bé thiên tài 12 tuổi muốn chứng minh “Thiên Chúa thật sự tồn tại”

Tiết lộ từ một số nguồn khác

Nhà tiên tri nổi tiếng Edgar Cayce, nhà truyền giáo Levi H. Dowling và vị Chân sư Tây Tạng Djwhal Khul đều từng ghi lại hành trình hơn 10 năm của Chúa Jesus ở phương Đông. Theo nhà tiên tri Edgar Cayce, Chúa Jesus đã trở thành một bậc thầy Do Thái Giáo trước 12 tuổi. Từ 12 tuổi tới 15 hoặc 16 tuổi, ông được dạy dỗ bởi nhà tâm linh Judy, người đứng đầu giáo phái Do Thái Essenes, trong ngôi nhà của bà trên núi Carmel. Sau đó ông được gửi tới Ai Cập, Ấn Độ và Ba Tư để tu luyện thêm nữa. 

Edgar Cayce (1877-1945), một nhà tiên tri nổi tiếng và uy tín ở Phương Tây. (Ảnh: Eden Saga)

Học giả người Đức, Holger Kersten, cũng viết về những năm đầu của Chúa Jesus ở Ấn Độ trong cuốn sách “Jesus Lived In India” (Tạm dịch: Chúa Jesus từng sống ở Ấn Độ)“Chàng trai đến một vùng ở Sindh (dọc theo sông Indus) cùng các thương nhân. Ngài sống trong cộng đồng những người Aryan để hoàn thiện bản thân và học các pháp lý của Đức Phật. Ngài đã chu du khắp vùng đất của 5 con sông (Punjab), ở lại một thời gian ngắn với người Jain rồi tiếp tục đến Jagannath”, Kersten viết.

Quyển sách bị cấm

Hư Vân hòa thượng trong một lần nói chuyện với Tôn Trung Sơn cũng từng tiết lộ, Giáo hội Cơ đốc phương Tây có một quyển sách bị cấm, đó là quyển “Phúc âm Aquarian” được viết bởi đệ tử của Chúa Jesus là thánh Peter, cuốn sách kể rằng Chúa Jesus từng nghiên cứu Phật pháp ở Ấn Độ trong hơn 10 năm, sau đó băng qua Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ trở về Israel truyền giảng giáo pháp. Hòa thượng Hư Vân tin rằng Phật giáo và Kitô giáo có cùng nguồn gốc.

Nhiều tài liệu và nghiên cứu thực tế đã khẳng định việc Chúa Jesus từng du hành tới Phương Đông để tu học Phật Pháp và truyền dạy giáo pháp của ông. Tuy nhiên, điều lạ là các hoạt động của Chúa Jesus trong quãng thời gian từ 12 tuổi tới 30 tuổi ấy lại không được đề cập trong Kinh Thánh.

Kỳ thực điều này cũng không quá khó hiểu, bởi lẽ Kinh Thánh là do con người viết nên; rất nhiều tài liệu trong đó là sự giải thích của con người về Thần, chứ không phải là lời nói trực tiếp của Thần. Vì vậy có nhiều điều được viết ra là dựa theo lý giải và nhận thức của bản thân người viết.

Bên cạnh đó có một thực tế vào năm 553 SCN, tại Hội đồng thứ 2 của thành phố Constantinople, một quyết định đã được ban hành. Đó là loại bỏ tất cả sự đề cập tới luân hồi ra khỏi Kinh Thánh. Họ không thích khái niệm này.

Ý nghĩa của điều này khá rõ ràng. Nguyên nhân không chỉ là cách giải thích của con người trong Kinh Thánh về Thần, mà còn là con người không muốn điều gì họ sẽ loại bỏ nó đi. Phải chăng đây cũng là chuyện đã xảy ra với 16 năm trong cuộc đời Chúa Jesus không được nói đến trong Kinh Thánh?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

HÀNH TRÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ TRÁI ĐẤT CŨ ĐẾN TRÁI ĐẤT MỚI NHƯ THẾ NÀO?

 


Bài viết này dành cho các bạn đang có thắc mắc khi trái đất được nâng tần số rung động từ chiều kích 3D sang chiều kích 5D thì những người chưa được tỉnh thức sẽ như thế nào?
Khi tần số rung động có chiều kích cao hơn xảy ra một cách đột ngột trên hành tinh trái đất của chúng ta. Sự kiện nâng cấp năng lượng này được xem như là một vụ nổ hành tinh. Điều này bạn có thể hình dung một bức màn “tối” hay còn được gọi là "tấm lưới" đang bao quanh bầu khí quyển bên ngoài của Trái Đất sẽ tan biến. Hành Tinh Trái Đất được phép mang mã hoá và sẽ được thúc đẩy xuyên qua Mặt Trời bởi sự trợ giúp của lực lượng ánh sáng Thiên Hà.
Và kể từ giờ phút đó Trái Đất cũ sẽ bị bỏ lại. Tất cả chúng ta sẽ chính thức bước chân vào sống trên một Trái Đất Mới có chiều kích 5D. Một Trái Đất được mô tả sẽ mang đến cho nhân loại cuộc sống như Thiên Đường, một cuộc sống tốt đẹp và thịnh vượng. Chúng ta sẽ được trải nghiệm cuộc sống dưới "ánh sáng trắng", hay còn được gọi là shaktiput.
Tuy nhiên để có thể có được một cuộc sống tựa như Thiên Đường thì tất cả chúng ta phải cùng nhau cố gắng để nâng cấp tần số rung động năng lượng của bản thân cho phù hợp với tần số rung động năng lượng của Trái Đất mới.
+ Nếu các bạn vẫn còn đang mê ngủ. Các bạn vẫn chưa chịu tin là Trái Đất sẽ được nâng cấp và các bạn cho rằng những gì tôi đang nói là chuyện hoang đường, khó tin thì buộc lòng tôi phải nói thẳng với các bạn rằng các bạn sẽ bị đảo thải và các bạn sẽ không còn tồn tại đến ngày Trái Đất chính thức bước vào THỜI ĐẠI HOÀNG KIM.
+ Nếu các bạn là những người đã có sự tìm hiểu về trái đất mới và nắm bắt được tình hình hiện tại thì lời khuyên của tôi gởi đến các bạn là hãy cố gắng tập trung toàn lực vào việc phát triển bản thân, nâng cấp tư duy, nâng cấp sự nhận thức của mình thì khả năng rất cao các bạn sẽ có cơ hội được đặt chân đến để sống trên trái đất mới.
144,000 LIGHTWORKERS SẼ LÀM GÌ TRONG GIAI ĐOẠN XẢY RA VỤ NỔ HÀNH TINH TRÁI ĐẤT?
Vào thời điểm hành tinh Trái Đất biến chuyển để bước vào thế giới có chiều kích cao hơn. 144,000 linh hồn lightworkers đã được đóng dấu và mang mã hóa của Đấng Christ sẽ được tiếp nhận vào cơ thể thăng thiên của họ sức mạnh quyền năng.
Sự quyền năng này có sức mạnh mẽ đến mức mỗi người trong số họ (144,000) sẽ có khả năng kéo theo 144.000 người khác lên các tầng ý thức cao hơn. Nói cách khác, 144.000 lightworkers sẽ có thể hỗ trợ và giúp đỡ 20,736,000,000 người được nâng tần số rung động năng lượng để có thể bước vào thế giới Thiên Đường.
144,000 lightworkers đang được kêu gọi phải
dọn sạch nghiệp chướng và tiêu trừ các năng lượng đang làm các bạn giảm sự rung động để có thể cho phép Đấng Christ neo vào cõi vật chất thông qua cơ thể của các bạn.
144.000 lightworkers sẽ mang đến Kỷ Nguyên khai sáng (hay còn được gọi là thời đại ánh sáng, kỷ nguyên vàng) cho hành tinh Trái đất.
Chúng tôi có niềm tin vào các bạn và ý thức cao hơn về hành tinh của các bạn. Mặc dù tương lai có vẻ tốt đẹp, nhưng các bạn không được cho phép bất kỳ sự lười biếng, chống đối hoặc kiêu ngạo nào ngăn cản tiến trình thăng thiên của mình. Miễn là các bạn làm tốt vai trò của các bạn để trở thành người giỏi nhất có thể, chúng tôi sẽ luôn sẵn sàng hỗ trợ các bạn theo bất kỳ cách nào phù hợp với chúng tôi. Tuy nhiên, chính các bạn sẽ là những người tự cứu lấy bản thân các bạn và cứu lấy nhân loại vì sứ mệnh của các bạn ở đây để trở thành Master. Đừng chờ đợi ai đó nói với các bạn rằng họ sẽ làm công việc thay cho các bạn. Đã đến lúc bạn phải tự cứu mình thông qua việc chữa lành, tăng trưởng tâm linh. Với tấm lòng quyết tâm, mọi điều thiêng liêng đều có thể xảy ra.
Đó là những lời nhắn được truyền qua kênh dẫn gởi đến chúng ta, những người có ý thức và trách nhiệm với bản thân.
Chúc tất cả các bạn sớm ngày được tỉnh thức để có đủ sức mạnh mà vượt qua sự kiện thay đổi to lớn sắp xảy ra trong tương lai.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

THÔNG ĐIỆP CẢM XÚC - ÔM ẤP CƠN GIẬN

 

Trong cuốn sách ( “Giận“ của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh ), Thiền sư đã ví việc quay lại với cơn giận dữ bên trong giống như việc cứu một căn nhà đang cháy. Khi ai đó làm cho ta tức giận, ta thường muốn nói một câu hay làm một việc gì đó để cho người ấy đau khổ. Ta muốn trừng phạt họ vì họ đã làm cho ta đau khổ. Họ cũng cần phải cảm thấy cái khổ của ta, khi đó cái khổ của ta mới có thể được san sẻ ra, ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng sự thật là khi ta làm cho người kia đau khổ thì người ấy cũng sẽ trả đũa lại khiến cho ta đau khổ thêm…
Đau khổ leo thang cho cả hai bên dù đáng lẽ cả hai đều cần tình thương đều cần giúp đỡ không có ai đáng bị trừng phạt cả. Khi ta giận hay một ai đó làm cho ta giận thì ta cần trở về với thân tâm và chăm sóc cơn giận của mình, không nên nói gì hết, không nên làm gì cả. Khi đang giận mà nói năng hay hành động thì chỉ gây thêm đỗ vỡ mà thôi.
Phần lớn chúng ta không làm được điều đó, chúng ta không muốn trở về với tự thân, chúng ta chỉ muốn theo đuổi người kia để trừng phạt. Thiền Sư đã minh họa bằng một hình ảnh rất thú vị. Nếu một căn nhà đang cháy, thì việc trước nhất là phải chữa cháy cho căn nhà. Chứ không phải chạy theo đuổi bắt người đốt nhà. Nếu chỉ lo chạy theo người ta nghi là đã đốt nhà thì căn nhà sẽ cháy rụi trong khi ta chạy theo đuổi bắt người đó.. như thế là không khôn ngoan, phải trở về dập tắt lửa trước đã . Vậy thì khi giận, nếu tiếp tục đối đầu, tranh cãi với người làm cho ta giận, nếu chỉ muốn trừng phạt người ấy thì ta đã hành động y như người chạy theo người đốt nhà trong khi căn nhà của ta thì đang bốc lửa.
Vậy ôm ấp cơn giận dữ là gì ? Ta phải ôm ấp ,như thế nào ?
Thiền Sư đã ví cơn giận giống như một em bé đang la khóc và cần được mẹ ôm ấp. Bạn chính là mẹ của cơn giận, bạn chỉ cần ôm lấy cơn giận, hít vào.. rồi thở ra. Không phán xét hay chối bỏ cơn giận. Khi đó cơn giận sẽ được làm dịu và chuyển hóa…


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

KHẨU NGHIỆP

 


Đạo Phật, trong giới về miệng (khẩu), cấm bốn điều ác về lời nói:
nói ác, nói dối, nói chia rẽ, nói lời vô nghĩa.
Thứ nhất là không ác ngữ, nghĩa là không nói lời ác độc, không chửi mắng người thậm tệ.
Những lời chửi mắng người khác là thú vật, là ma quỷ, là gái điếm, là kẻ cướp, v.v…đều là ác ngữ.
Những lời hăm dọa, đánh giết thô bạo…cũng đều là ác ngữ. Đạo Phật cấm những lời nói ác, cấm tuyệt đối.
Người Phật tử phải cẩn thận đừng nói lời ác mà phạm giới.
Thứ hai là không nói dối.
Chúng ta đừng nói dối để lừa gạt người khác, lấy lợi về phần mình; đừng nói dối để khoe khoang.
Chúng ta nhớ sống một cuộc đời thanh bạch để không có gì phải che đậy, chỉ trừ trường hợp buộc không được nói thật để cứu người.
Thứ ba là không nói lời chia rẽ.
Ở bên người này nói xấu người kia làm cho họ ghét lẫn nhau, chia rẽ nhau là không nên. Người chia rẽ nói xấu sau lưng như thế, sau này mắc quả báo cô độc cực kỳ, chẳng ai thương mến đoái hoài đến.
Một điều nữa là nói lời khoe khoang.
Chúng ta phải kín đáo, không được khoe khoang để giữ cái phước của mình. Ví dụ như khi tu có kết quả gì đó, ta cũng phải kín đáo, không khoe khoang bộc lộ.
Có những chuyện nghe thì hay mà lại dở. Ví dụ như huynh đệ trao đổi kinh nghiệm tu tập với nhau, nói: “Anh ngồi thiền ra sao, anh nói cho tôi nghe?” hoặc “Chị niệm Phật thấy sao?”. “Tôi niệm Phật thấy tâm thanh tịnh”, “Có lúc hào quang sáng lên rồi tắt”, “Tôi thấy lòng thanh thản, bớt sân”…Như vậy gọi là trao đổi nhưng không ngờ rơi vào lỗi khoe khoang, đường tu rất khó khăn. Chỉ nên im lặng.
Trường hợp nào quá nghi ngờ, không biết mình sai hay đúng thì phải tìm thầy để hỏi, để nương tựa thì đỡ bị tổn phước. Tu có gì lạ mà đem ra kể là mất hết.
Thứ tư là không nói lời vô nghĩa.
Chúng ta thường nghe người ta, nhất là đàn ông thường nói tục, chửi thề. Họ nói oang oang trong xóm dù không giận hờn ai; hoặc nói trong bàn nhậu một cách vui vẻ. Nói như thế, trước hết họ đã làm bẩn nhân cách, làm bẩn tâm hồn mình.
Người hay nói tục, thiện pháp khó xuất hiện được trong tâm. Đây là điều chúng ta phải đấu tranh từ trường học đến gia đình, để những đứa trẻ lớn lên không bị nhiễm thói quen nói tục làm mất văn hóa mà thiện pháp trong tâm trẻ cũng không vươn lên được.
Một điều nữa là chúng ta đừng nói lời chê bai. Vì lời nói chê bai gây oán thù, gây chia rẽ làm cho mình bị quả báo.
Sau lưng người khác, chúng ta cẩn thận không chê bai. Khen được cứ khen, vì lời khen đem được nhiều lợi ích. Ví dụ, có một ông cụ hồi nào giờ ai cũng mến ông. Bữa nọ trong một nhóm Phật tử, có người nói ông ở gần nhà tôi, ông tạt nước qua nhà tôi hoài. Có thể điều đó có, nhưng không nên nói vì điều đó làm người khác có ác cảm với ông cụ.
Chúng ta nên tập hạn chế nói điều chê bai, nói gây oán thù, gây chia rẽ. Nếu không tránh những điều này, chúng ta mắc quả báo y như vậy.
Chê bai người ta điều gì thì đời sau phạm y như thế, không gỡ ra được mà phải trả cho hết cái xấu đó.
Có nhiều người nhìn vào nhân duyên thấy tốt, tự nhiên họ làm sai, làm bậy. Không phải do họ xấu mà do đời trước làm sai nên đời này phải gánh chịu. Đây là bài học để chúng ta thương yêu người lầm lỗi.
Mọi việc trên đời đều là bài học cho chúng ta, dù là thuận cảnh hay nghịch cảnh. Nếu chúng ta không biết học thì tất cả là cạm bẫy.
Thuận cảnh như giàu sang, vinh quang là cạm bẫy đưa chúng ta vào sa đọa. Nghịch cảnh như đau khổ đưa chúng ta vào tuyệt vọng, oán thù.
Nếu biết học đạo lý thì giàu sang sẽ tạo điều kiện cho chúng ta biết buông xả, bố thí, còn đau khổ tạo điều kiện cho chúng ta biết nhẫn nhục.
Biết đạo lí thì tất cả đều tốt.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bảy hoàng tử của Địa ngục

Bảy hoàng tử của Địa ngục hay Thất Hoàng tử Ngục (tiếng Anh: Seven Princes of Hell hay Princes of the Darkness) là cụm từ dành cho bảy con quỷ có cấp bậc và quyền hạn lớn nhất ở Địa ngục.

Đây là một trong những nỗ lực để phân loại quỷ trong lịch sử bởi các học giả với mục đích hiểu được bối cảnh trong Kinh Thánh và huyền thoại có liên quan đến các linh hồn đối nghịch với  Thiên Chúa. Bắt đầu từ "cuộc nổi loạn của Satan", họ được xem như là các thiên thần sa ngã đã nổi dậy chống Thiên Chúa và nhận hình phạt lưu đày vĩnh viễn dưới Địa ngục.

7 Tội Lỗi

Thông thường, người ta hay gắn Bảy hoàng tử của Địa ngục với Bảy trọng tội được đề cập đến trong Thánh kinh:

  • Lucifer - tội đồ kiêu ngạo (Superior- pride)
  • Mammon - tội đồ tham lam (avaritia - greed)
  • Asmodeus - tội đồ dục vọng (luxuria - lust)
  • Behemoth - tội đồ phẫn nộ (ira - wrath)
  • Beelzebub - tội đồ tham ăn (gula - gluttony)
  • Leviathan - tội đồ đố kị (invidia - envy)
  • Belphegor - tội đồ lười biếng (acedia - sloth).

Lucifer


Lucifer là tên đứa con đầu tiên được tạo ra bởi Thiên chúa và là tổng lãnh thiên thần có quyền năng tối thượng nhất. Tuy nhiên, Lucifer sau đó phản bội lại đức tin của mình chỉ vì không muốn phải phục vụ con người và cho rằng loài người mới là những kẻ hạ đẳng, y sau đó triệu tập tất cả những thiên thần nổi loạn ủng hộ mình (sau này bị gọi là những Thiên thần sa ngã, chiếm khoảng 1/3 trong tổng số thiên thần trên Thiên đàng) và khơi mào cho cuộc Chiến tranh trên Thiên đàng. Theo The Satanic Bible của Anton LaVey, Lucifer là một trong bốn vị vua Địa Ngục, được gán với phương Đông, "chúa tể của những ngọn gió", là "người mang lại ánh sáng", sự thông thái và giác ngộ.

Lucifer được gắn với tội lỗi kiêu ngạo, bởi vì sự kiêu ngạo của bản thân mà hắn đã rơi khỏi ân sủng của Thiên Chúa.

Beelzebub


Beelzebub, "Chúa tể của loài ruồi" hay "kẻ mang đến đội quân Châu chấu". Trong cuốn "Testament of Solomon", Hắn xuất hiện như hoàng tử của quỷ và nói rằng trước kia hắn là một trong những thiên thần hùng mạnh nhất trên Thiên đường, người đã được (6.7) gắn với ngôi sao Hesperus (Hi văn: Αφροδகτη - Evening Star - Sao Hôm), còn Lucifer là Eosperus (Morning Star - Sao Mai). Beelzebub tuyên bố hắn là nguyên nhân cho sự tàn độc của các bạo chúa, làm cho quỷ được thờ phụng giữa loài người, để kích thích loài người với ham muốn, ghen ghét trong thành phố, giết người và chiến tranh. "The Lost Paradise" (1667) của Milton, cho biết rằng không một ai, ngoại trừ Lucifer, có cấp bậc cao hơn Beelzebub.

Hắn đại diện cho tội phàm ăn tục uống trong Bảy đại tội.

Leviathan


Leviathan là một loài sinh vật biển thần thoại xuất hiện trong Kinh Thánh. Trong ngành khoa học nghiên cứu ma quỷ, Leviathan là một trong bảy hoàng tử của địa ngục với nhiệm vụ giữ cánh cổng nối giữa Assiah (thế giới vật chất) và Inferno (Hỏa ngục). Trong văn học Do Thái, Leviathan được mô tả giống như một con rồng sống ở Nơi tận cùng sâu thẳm. Leviathan cũng được coi như là một Seraph trước khi sa ngã, cùng với Lucifer và Beelzebub, hắn là vị vua quỷ có cấp bậc cao nhất.

Leviathan được gắn với tội ghen ghét, đố kị.

Asmodeus


Asmodeus được đề cập nhiều nhất trong "Sách của Tobit". Theo "Lesser Key of Solomon", Hắn là một vị vua quỷ, kẻ cai trị tầng Địa ngục thứ hai và thống lĩnh 72 quân đoàn quỷ. Hắn được biết đến như là nỗi kinh hoàng của các trinh nữ và đại diện cho tội dâm dục. Asmodeus cũng từng là một Seraph đại diện cho bầu trời đêm trước khi về phe Satan, hắn bị ném ra khỏi Thiên đường vào ngày thứ hai sau khi cuộc chiến kết thúc. Đôi khi hắn cũng được cho là con trai/chồng của Naamah, nữ thiên thần sa ngã bảo hộ cho gái mại dâm.

Behemoth


Behemoth là một loài sinh vật thần thoại được đề cập đến trong tác phẩm Sách Job, 40:15-24. Nó là một loại quái vật đã tồn tại từ khi đất trời được sinh ra, cùng với Leviathan và Ziz. Nó là sức mạnh không thể chế ngự được của Đất đai và là Chúa tể của vùng sa mạc nóng bỏng. Tuy nhiên, Behemoth cũng có hình dạng thiên thần của mình, hắn từng là một Cherub đáng tự hào của Thiên Chúa nhưng đã sa ngã và biến thành một loại quái vật khủng khiếp. Hắn được liên kết với tội Nóng giận, bởi người Do Thái cho rằng động đất là cơn giận dữ của Behemoth.

Mammon


Trong Tân Ước, Mammon được xem như là nhân cách hóa của đồng tiền và ham muốn vật chất. Phúc Âm Matthew 6:24: "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của (Mammon) được." Hắn khiến loài người nổi lòng tham vô độ, khiến người ta trao linh hồn hay những thứ quý giá cho hắn để đổi lấy của cải vật chất.

Mammon đại diện cho tội đồ tham lam trong thất đại tội.

Belphegor


Belphegor là người cuối cùng trong Bảy hoàng tử của Địa ngục và được liên kết với tội Lười biếng. Mặc dù vậy, hắn được tôn trọng như là nhà bác học của Địa ngục và dụ dỗ con người bằng cách hứa sẽ ban cho họ sự khéo léo, tính sáng tạo,... Hắn ta tuyên bố rằng sẽ làm cuộc sống của những ai thờ phụng hắn trở nên thoải mái, nhàn hạ hơn.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS