Container Icon

THẦN GIAO CÁCH CẢM

 


Các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm giúp chúng ta hiểu thêm về khả năng "thần giao cách cảm" của con người....

Thần giao cách cảm là khả năng thần kì của con người mang nhiều màu sắc bí ẩn và ma quái. Rất nhiều người cho rằng, đây chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng nhưng có một thí nghiệm đã chứng minh được "thần giao cách cảm" là khả năng tiềm tàng trong mỗi chúng ta.

Ganzfeld - thí nghiệm lạ lùng

Ganzfeld là thí nghiệm ban đầu được đưa vào các nghiên cứu tâm lý của các nhà khoa học người Đức - Wolfgang Metzger. Trong thập niên 1970, Charles Honorton đã nhân rộng mô hình thí nghiệm này ra ở Trung tâm Y tế Maimonides và từ đây ông đưa ra được các bằng chứng về khả năng ngoại cảm của con người.

Trong thí nghiệm Ganzfeld điển hình, một người được đưa vào trong căn phòng riêng. Ở đó, anh ta được yêu cầu nằm trên một chiếc giường và thư giãn. Đôi mắt của người tham gia sẽ bị bịt lại bằng hai quả bóng bàn. Ánh đèn màu đỏ sẽ bao trùm cả căn phòng, cùng với đó là những âm thanh "rè rè", tiếng ồn hoặc đoạn nhạc to.

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-1.jpg

Người tham gia thí nghiệm ở một trạng thái tê liệt hoàn toàn các giác quan.

Người tham gia thí nghiệm sẽ trải nghiệm trạng thái này trong khoảng nửa giờ. Trong thời gian này, một người khác ở phòng bên cạnh sẽ xem bức tranh hay ghi nhớ một thông điệp. Sau đó, người này sẽ cố gắng dùng ý nghĩ để gửi thông tin đến người đang bị tê liệt các giác quan trong phòng bên cạnh.

Người được gửi thông điệp sau đó sẽ mô tả lại những gì mà anh ta cảm thấy được. Kết quả là, 25% các cuộc thử nghiệm đã chỉ ra, người tham gia thí nghiệm đã trả lời đúng về thông tin họ nhận được trong điều kiện các giác quan cơ bản gần như bị tê liệt.

Một người khác sẽ cố gắng dùng ý nghĩ để truyền thông tin cho người kia.

Từ năm 1974 - 1982, 42 thí nghiệm Ganzfeld đã được thực hiện. Năm 1982, Charles Honorton đã báo cáo tại một hội nghị của Hiệp hội Tâm lý về những bằng chứng để chứng minh sự tồn tại khả năng ngoại cảm của con người.

Các bằng chứng đã thuyết phục phần đông người tham dự, tuy nhiên vẫn còn nhiều nhà khoa học uy tín như Ray Hyman chưa thực đồng tình với kết quả này. Hyman cho rằng, kết quả của những thí nghiệm này chưa đủ để đưa ra một kết luận.

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-3.jpg

Tới năm 1990, Honotorn tiếp tục đưa ra 11 thử nghiệm Ganzfeld theo đúng tiêu chuẩn một nghiên cứu tâm lý học và xác suất trả lời đúng đã tăng lên tới 27%. Tiếp theo đó, nhiều nhà tâm lý học cũng tham gia nghiên cứu thử nghiệm Ganzfeld và thu được nhiều kết quả đáng kinh ngạc.

Xác suất trả lời đúng ngày càng tăng.

Tới năm 2010, Lance Storm, Patrizio Tressoldi , và Lorenzo Di Risio đã phân tích 29 nghiên cứu Ganzfeld từ năm 1997 - 2008. Sau đó, họ tiếp tục thử nghiệm trên một số lượng đông đảo người tình nguyện, kết quả là khoảng 32,2% số người tham gia có khả năng thần giao cách cảm khi rơi vào trạng thái tê liệt các giác quan.

Liệu chứng minh thần giao cách cảm là có thật?

Thí nghiệm Ganzfeld đã chứng minh khả năng thần giao cách cảm của con người là có tồn tại ở một mức độ nhất định. Đây chính là khả năng của con người khi không sử dụng các giác quan bình thường nhưng lại có thể cảm nhận mọi thứ xung quanh bằng giác quan thứ sáu.

Nhờ giác quan thứ sáu, người ta cho rằng các nhà ngoại cảm sẽ có các khả năng như nói chuyện với... người chết, theo dõi người khác ở rất xa, tiên đoán chính xác tương lai hay quá khứ của một người bất kỳ (?!).

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-5.jpg

Thần giao cách cảm là có thật?

Các nhà khoa học lý giải, khi rơi vào trại thái tê liệt tất cả các giác quan, con người sẽ vô cùng căng thẳng. Từ đây, các hormone adrenaline và noradrenalline được tiết ra làm tăng nhịp tim và lượng đường huyết. Điều này khiến cho tinh thần người tham gia thí nghiệm khủng hoảng nặng nề nhưng bù lại họ có thể nhận được các tín hiệu thần kinh siêu nhỏ từ người khác.

Tín hiệu thần kinh đó là điện từ sinh học. Theo đó, mọi ý nghĩ đều có cơ sở vật chất, đó là các hoạt động điện hóa tại tế bào thần kinh trong não. Theo định luật cảm ứng điện từ, các xung điện hóa đó sẽ tạo ra sóng điện từ trong và xung quanh não.

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-6.jpg

Các tín hiệu điện từ sinh học đó có thể tách khỏi nhiễu và lan truyền tương tự sóng phát thanh. Thế nên, một số người với bộ não đặc biệt có thể đo và giải mã được các tín hiệu rất nhỏ yếu đó.

Tuy nhiên, vẫn có nhiều nhà khoa học chưa đồng tình với thí nghiệm Ganzfeld chứng minh con người có khả năng thần giao cách cảm. Nhiều nhà tâm lý còn thẳng thắn bác bỏ kết quả đó khi cho rằng thử nghiệm chưa được thiết kế chặt chẽ để loại trừ tất cả các ám hiệu ngầm giữa hai người tham gia nghiên cứu.

Ngoài ra, thống kê cho thấy chúng ta khi không biết trước việc gì thường hay nghĩ tới chủ đề nước và tình dục nhưng trong thử nghiệm này các bức tranh lại liên quan rất nhiều đến nước và tình dục nên việc trả lời đúng có thể là một sự dàn xếp của những nhà nghiên cứu.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ý THỨC CÁ NHÂN TƯƠNG TÁC VỚI CÁC Ý THỨC KHÁC TRONG VŨ TRỤ

 


Tôi đã rất vinh dự vì có cuộc trò chuyện với Larry Dossey với chủ đề xoay quanh cuốn sách mới của ông là “One Mind” , ông là một trong những người sáng lập phong trào y học toàn diện.

Tiến sĩ (TS) Lipman: Thưa ông, ông có thể cho biết nội dung chính của cuốn sách là gì không?

TS Larry Dossey: Tôi viết về bản chất của ý thức con người. Tôi muốn chỉ ra rằng ý thức của con người không chỉ giới hạn trong bộ não hay cơ thể như chúng ta vẫn được giảng dạy, mà thực chất nó vươn xa đến vô tận bên ngoài cơ thể con người.

Ý thức của chúng ta không có biên giới, không có giới hạn, chúng hợp nhất với tất cả các ý thức khác và hình thành cái mà tôi gọi là Ý thức Tổng thể hay Một Ý thức.

Ý thức này dường như không bị ảnh hưởng bởi thời gian, nên nó là bất tử. Nó chính là nguồn gốc của trí tuệ và những sáng tạo vĩ đại. Tôi kết luận điều này sau khi đã nghiên cứu rất nhiều nguồn dẫn chứng cùng với vô số các trải nghiệm của nhiều người; những nghiên cứu này được tôi trình bày chi tiết trong cuốn sách.

Như vậy, về cơ bản cuốn sách này viết về phạm vi hay kích thước của ý thức chúng ta - liệu nó nhỏ, vừa, lớn, vô cùng lớn hay thậm chí không có giới hạn?

Về việc tại sao ý thức không tồn tại riêng lẻ mà lại kết nối với nhau trong một ý thức thống nhất?

Cùng với đó là mối quan hệ của chúng ta - bằng cách nào ý thức của một người kết nối với ý thức người khác và với toàn bộ sự sống trên Trái Đất và tại sao điều này là yếu tố cốt yếu cho sự sống của chúng ta?

Tôi muốn nói rằng bạn, người yêu, vợ/chồng, con cái, anh chị em, tổ tiên, hậu duệ, thậm chí cha mẹ của vợ/chồng, vật nuôi của bạn đều là thành phần của một ý thức lớn hơn: Ý thức Tổng thể.

Trong suốt thế kỉ 20, chúng ta tìm cách tách biệt ý thức [khỏi vật chất]. Nay tôi kết nối chúng lại.

Chúng ta được giảng dạy rằng ý thức được phân loại thành tiền ý thức (ký ức), tiềm thức, vô thức và vô thức tập thể. Cuốn sách này nhìn nhận ý thức theo hướng nhìn khác.

Nó chỉ ra rằng ý thức cá nhân của mỗi người là một phần trong một tổng thể ý thức lớn hơn bao gồm tất cả các ý thức - của toàn bộ loài người cũng như các sinh vật và sự vật khác trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

TS Lipman: Tại sao việc nhận thức về Ý thức Tổng thể lại quan trọng?

TS Larry Dossey: Sự nhận biết này là niềm tin lớn nhất cho sự tồn tại vĩnh hằng của chúng ta trên Trái Đất.

Chỉ khi nhận thức được sự kết nối của chúng ta với những thứ khác và với chính Trái Đất ở tầng xúc cảm sâu thẳm nhất, chúng ta mới có đủ can đảm để đưa ra các lựa chọn khó khăn mà sự sống yêu cầu. Vậy nên, cuốn sách này viết về sự tồn tại - về việc bảo vệ Trái Đất và mạng sống của chúng ta.

Alice Walker (nhà văn người Mỹ) có nói: “Chúng ta có thể bảo vệ bất cứ thứ gì chúng ta yêu quý”, tôi nghĩ trong số những thứ ta yêu quý có hành tinh này, bản thân chúng ta, con cái chúng ta và các thế hệ tương lai.

Ngoài ra, Ý thức Tổng thể giúp chúng ta kết nối và hòa hợp với tất cả mọi thứ, từ đó chúng ta xây dựng tình yêu thương với tất cả. Do đó, Ý thức Tổng thể giúp chúng ta đưa thế giới này về đúng bản chất của nó.

Vậy, dựa vào đâu chúng ta biết Ý thức Tổng thể thực sự tồn tại? Các gợi ý về Ý thức Tổng thể đều ở xung quanh chúng ta. Điều này không phải là triết học đơn thuần. Qua thời gian, tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm những hiện tượng mà chỉ có thể giải thích được nếu chúng ta thừa nhận rằng mình có liên hệ với người khác trong tâm thức.

Tình yêu của người mẹ với con là một ví dụ về sự hòa hợp mà ở đó mọi ranh giới và sự xa cách đều được vượt qua. Hay những người từng có tình yêu sâu đậm đều trải nghiệm một điều là: khi hai con người đã hiểu nhau, đồng cảm với nhau thì khái niệm “người khác” không còn nữa.

Gần đây mọi người quan tâm nhiều tới chuyện phả hệ, tìm hiểu nguồn gốc gia đình, đây có thể coi là sự cố gắng khôi phục lại những liên hệ với người xưa, với mọi người xung quanh và là mong mỏi tìm kiếm sự đồng nhất.

Hơn nữa, con người thường trao đổi từ xa với nhau những suy nghĩ, cảm xúc, thậm chí cả cảm giác của cơ thể. Điều này đặc biệt phổ biến giữa những người có quan hệ tình cảm thân thiết.

Một ví dụ điển hình là khi người mẹ “ngay lập tức cảm nhận” được việc đứa con đang bị nguy hiểm dù đang ở rất xa, như thể người mẹ và đứa con có chung tâm trí và ý thức vậy.

Một ví dụ khác: Con người thường có được kiến thức về sự vật theo những cách không thể giải thích được. Nhà phát minh vĩ đại Thomas Edison từng nói: “Tôi chưa bao giờ sáng tạo điều gì cả. Các ý tưởng đến với tôi từ vũ trụ và vạn vật xung quanh, từ đó tôi diễn đạt lại chúng”.

Hay như những người mắc hội chứng bác học (savant) thường bị tổn thương về trí não, họ không thể đọc và không có khả năng học, nhưng họ có những thứ mà chẳng thể nào đạt được thông qua việc học (Stephen Wiltshire là một ví dụ, anh chỉ cần nhìn qua một cảnh vật là có thể vẽ lại chi tiết và chính xác cảnh vật đó).

Khả năng này có được từ đâu? Tôi cho rằng họ có sự kết nối tới một kho tri thức, kho tri thức đó chính là Ý thức Tổng thể.

Con người cũng thường có những giấc mơ rất chi tiết về tương lai, đó là công năng linh cảm, và tôi đã dành trọn một cuốn sách khác để viết về nó.

Trải nghiệm cận tử là một cánh cổng dẫn tới Ý thức Tổng thể. Có mười triệu người Mỹ có trải nghiệm này. Điểm đặc trưng của nó là cảm giác hợp nhất với tất cả mọi thứ, trải nghiệm này mang lại cho người ta một nhận thức sâu sắc đến nỗi cuộc sống của họ đã biến đổi hoàn toàn sau khi bình phục.

Tôi đã bàn luận về trải nghiệm này qua nhiều ví dụ đa dạng, phong phú. Những hiện tượng này sẽ không thể giải thích được bằng hiểu biết hiện tại rằng ý thức của chúng ta bị giới hạn trong bộ não, vốn chỉ tiếp thụ thông tin qua các giác quan vật lý, và ý thức của chúng ta bị tách rời khỏi tất cả các ý thức khác. Vì vậy, để giải thích các hiện tượng trên, đòi hỏi cần có cái nhìn tổng quan hơn về ý thức — đó là cái mà tôi gọi là Ý thức Tổng thể.

Các bằng chứng cho thấy ý thức không bị giới hạn trong bộ não và cơ thể. Và nếu nó không bị giới hạn vào một nơi cụ thể nào đó trong không gian, thì các ý thức đơn lẻ của chúng ta phải liên kết với nhau theo một cách nào đó - một lần nữa, tôi cho rằng chúng liên kết với nhau trong Ý thức Tổng thể.

Lợi ích của nhận thức này vô cùng lớn. Nếu ý thức cá nhân không có giới hạn và hòa vào tất cả các ý thức khác, điều đó có nghĩa chúng ta có thể tiếp cận với tất cả trí tuệ và sự sáng tạo trong đó.

Cùng với đó, vì Ý thức Tổng thể là vô tận không chỉ về không gian mà còn cả về thời gian nên ở một phương diện nào đó thì nó phải là bất tử. Vì vậy quan điểm về Ý thức Tổng thể một cách gián tiếp đảm bảo với chúng ta về sự sống bất tử dù thân xác đã không còn.

TS Lipman: Từ đâu ông có ý tưởng về Ý thức Tổng thể?

You may like

1371-y-thuc-ca-nhan-tuong-tac-voi-cac-y-thuc-khac-trong-vu-tru-4.jpg

TS Larry Dossey: Khái niệm về Ý thức Tổng thể đã có từ rất lâu. Nền triết học của người Ấn Độ cổ xưa 3000 năm trước đã nói tới Ý thức Tổng thể, họ gọi nó là thư viện Akashic (Akashic Records).

Trong khái niệm về sự thống nhất giữa con người và thần thánh của đạo Hindu, nó được gọi là: tat tvam asi, nghĩa là tâm hồn hay ý thức của bạn là một phần của thực tại tối nguyên, trước khi vũ trụ được tạo thành thì một ý thức đơn nhất đã tồn tại và ở nơi sâu thẳm nhất nó đồng nhất với bạn.

Nhiều truyền thuyết dành sự tôn kính cho Ý thức Tổng thể. Theo các cách khác nhau, nó được gọi là satori (ngộ) trong phái Thiền, samadhi (trạng thái tâm thức lìa thân xác) trong Yoga, fana (lìa trần) trong Sufi giáo, và ý thức của Chúa Giê su trong đạo Cơ đốc.

Các thuật ngữ khác gồm có ý thức vũ trụ, sự khai trí, thức tỉnh, giác ngộ và nhiều nữa. Dù với tên gọi nào thì trải nghiệm về Ý thức Tổng thể cũng chứa đựng nhận thức rõ ràng về việc vũ trụ và tất cả những gì có trong vũ trụ là một thể thống nhất, không hề có sự phân cách thực sự giữa vạn vật.

Tất cả được kết nối với phần còn lại trong đó. Sự phân cách chỉ là ảo giác. Như nhà tâm ly học Lawrence LeShan đã viết: “Không có sự ngăn cách giữa các thực thể, cả về không gian lẫn thời gian. Toàn bộ vũ trụ được nhận thức như một thực thể duy nhất”.

Trải nghiệm về Ý thức Tổng thể cho người ta cảm giác rằng họ đã lĩnh hội được Sự thật không thể chối bỏ. (Nguồn: Lawrence LeShan, Landscapes of the Mind. Guilford, CT: Eirini Press; 2012: 91).

Trong kinh Tân Ước có những đoạn ám chỉ về Ý thức Tổng thể. Thánh Paul nói “sự bình yên của Chúa vượt xa mọi sự hiểu biết”. Như nhà thần học Joseph Campbell đã diễn giải: Giê su nói rằng thiên đường nằm ở bên trong tâm hồn.

Vậy ai ở thiên đường? Đó là Chúa. Điều đó có nghĩa, Chúa ở trong mỗi con người - vô cùng tận, không biên giới, bất tử và là một, là duy nhất.

Các nhà tiên nghiệm học (transcendentalist) người Mỹ cũng ủng hộ khái niệm Ý thức Tổng thể - điều này thể hiện qua ý tưởng về linh hồn tối cao (linh hồn bao trùm cả vũ trụ) của Emerson, ở đó linh hồn của tất cả mọi người được kết nối với nhau.

Quan niệm về vô thức tập thể của nhà tâm lý học Thụy Sĩ Carl Jung cũng là một dạng của Ý thức Tổng thể.

Một trong những người sáng lập nên ngành tâm lý của Mỹ, William James cũng đề xuất ý thức tập thể và thống nhất.

Nhiều nhà khoa học xuất chúng ở nhiều lĩnh vực khác nhau cũng tán thành quan điểm về Ý thức Tổng thể. Điều này được thể hiện qua các bài viết trong vật lý hiện đại của Erwin Schrödinger, nhà vật lý học từng đoạt giải Nobel, đã đưa ra các phương trình sóng làm nền tảng trung tâm của vật lý lượng tử.

Nhà vật lý học nổi tiếng David Bohm cũng rất ủng hộ quan điểm về một ý thức bao quát, thống nhất chứa tất cả các ý thức đơn lẻ.

Vì vậy quan niệm về Ý thức Tổng thể đã bắt đầu từ hàng nghìn năm trước, liên tục cho tới ngày nay, và nhận được sự ủng hộ bởi nhiều nhân vật vĩ đại trong khoa học và tâm lý học hiện đại.

TS Lipman: Ông là một bác sĩ. Vậy, công việc chữa bệnh có liên hệ gì tới mối quan tâm về Ý thức Tổng thể của ông không?

TS Larry Dossey: Đương nhiên là có. Thời kì mới bắt đầu công việc của một bác sĩ nội khoa, một vài sự kiện đã xảy ra với tôi và chúng đã thay đổi hoàn toàn quan điểm của tôi về ý thức, gây xáo trộn trong suy nghĩ của tôi.

Tôi vốn là một người luôn tin rằng ý thức và bộ não về cơ bản là một. Nhưng khi tôi bắt đầu có trải nghiệm về các điềm báo cho biết các thông tin về sự kiện tương lai, tôi bắt đầu nghi ngờ những giáo lý trước đây vốn cho rằng những điều như vậy không thể xảy ra.

Những trải nghiệm này không chỉ diễn ra với tôi, mà còn với các bệnh nhân, cũng như các y tá và bác sĩ khác, họ đã chia sẻ những trải nghiệm tương tự như của tôi.

Trong cuối những năm 1980, các tạp chí y học bắt đầu công bố các thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng chữa bệnh của những lời cầu nguyện và mong ước từ những người đang ở cách xa tới các bệnh nhân đang ở trong bệnh viện. Thử nghiệm tương tự được thực hiện với các sinh vật khác, cũng như các cơ quan và tế bào sinh học.

Kết quả của các thử nghiệm càng thêm khẳng định rằng ý thức không bị hạn chế trong não bộ. Những suy nghĩ và ước nguyện của con người có thể vươn ra ngoài cơ thể và thay đổi cả “thế giới bên ngoài”.

Một vài đánh giá gọi là phân tích hệ thống hoặc tổng hợp trong lĩnh vực này đã được công bố. Đây là phương pháp tổng hợp kết quả từ nhiều nghiên cứu để đạt được cái nhìn tổng quan về một lĩnh vực cụ thể. Nhiều phân tích như vậy đã được xuất bản trên các tạp chí có bình duyệt. Phần lớn chúng có kết quả cho thấy thực sự có tồn tại ảnh hưởng của ý thức từ khoảng cách xa. Mặc dù vậy, điều này vẫn chưa được đại chúng đón nhận như đáng lẽ nó phải như vậy.

Mặc dù luôn luôn bị phớt lờ bởi những người theo chủ nghĩa hoài nghi, nhưng chúng ta cần nhận ra rằng phạm vi của những thử nghiệm này không chỉ ở loài người mà còn cả động thực vật, vi sinh vật, thậm chí là các phản ứng hóa học.

Tại sao điều này lại quan trọng như vậy? Những người hoài nghi thường cho rằng nếu một người bệnh có biểu hiện tốt hơn nhờ những lời cầu nguyện của người khác ở nơi xa, thì đó đơn thuần là hiệu ứng giả dược- là kết quả của suy nghĩ và những mong đợi tích cực của cá nhân người bệnh.

Nhưng nếu một loài động vật, thực vật, vi sinh vật hay các phản ứng sinh hóa cũng bị tác động, thì không thể xem các ảnh hưởng từ xa là giả dược, vì theo như hiểu biết của chúng ta thì động thưc vật, vi sinh vật và chất hóa học không hề có suy nghĩ tích cực. Chúng không phản ứng với giả dược.

Vậy nên những nghiên cứu với các đối tượng không phải là con người gợi ý rằng các hiệu ứng chữa bệnh qua ý thức trung gian ở khoảng cách xa và các hiện tượng được thực hiện ở khoảng cách xa khác là có thật và chúng ta không hề lừa gạt chính mình.

Chỉ khi nhận thức được sự kết nối của chúng ta với những thứ khác và với chính Trái Đất ở tầng xúc cảm sâu thẳm nhất, chúng ta mới có đủ can đảm để đưa ra các lựa chọn khó khăn mà sự sống yêu cầu.

Những thử nghiệm khác nhau này nhằm chứng minh sự tồn tại của Ý thức Tổng thể. Chúng cho thấy một vài khía cạnh trong ý thức chúng ta hoạt động bên ngoài bộ não và cơ thể con người, không thể bị giới hạn, mà là vô hạn. Và nếu ý thức là vô hạn thì chúng không có biên giới và tất cả các ý thức phải kết nối với nhau.

Một số nghiên cứu gọi là thử nghiệm linh cảm hay thử nghiệm về sự nhận thức được tương lai cho thấy chúng ta có thể có thông tin về các sự kiện trước khi chúng xảy ra.

Tập hợp các bằng chứng lại với nhau, bức tranh về ý thức vô tận đã trở nên rõ ràng hơn, nó chỉ ra rằng ý thức của chúng ta không có hạn định hay giới hạn ở những vị trí cụ thể trong không gian và thời gian.

Và nếu ý thức của chúng ta không bị bó buộc, chúng phải liên kết với nhau bằng cách nào đó để tạo nên một ý thức duy nhất, một thực thể duy nhất: Ý thức Tổng thể.

TS Lipman: Ông có nghĩ điều này nghe có vẻ khá cấp tiến không?

TS Larry Dossey: Trước đây tôi thường nghĩ như vây, nhưng bây giờ thì không. Các quan điểm mới trong khoa học, nghệ thuật, âm nhạc, giáo dục… đều nghe có vẻ cấp tiến khi mới được đề xuất.

Đặc biệt với vấn đề ý thức thì đúng là như thế. Như một nhà khoa học theo chủ nghĩa hoài nghi đã nói về ý thức không giới hạn rằng: “Đây là một trong những điều tôi sẽ không tin, ngay cả khi nó đúng”.

Nhà vật lý học Max Planck, người đặt nền tảng chính của vật lý lượng tử, đã từng vấp phải sự hoài nghi này. Ông nói thế hệ các nhà khoa học đi trước rồi sẽ không còn và sẽ bị thay thế bởi thế hệ trẻ hơn, các cá nhân có tư tưởng cởi mở. Câu nói của Planck được tóm gọn là “khoa học thay đổi từ đám tang này qua đám tang khác”.

Sự thay đổi căn bản ở bất kì lĩnh vực nào gần như luôn luôn gặp những cản trở. Khoa học cũng như vậy. Hình như nhiều nhà bảo thủ, hoài nghi nghĩ rằng các khái niệm của chúng ta hiện nay về ý thức là được ghim vào đá — hay nó đang ghim vào não chúng ta?

Dù vậy, các quan điểm mới về ý thức vẫn không ngừng xuất hiện trong lịch sử. Trong thế kỷ 20, chúng ta thấy rất nhiều các ý tưởng mới về ý thức như là vô thức, tiền ý thức (ký ức), tiềm thức và vô thức tập thể.

Ý thức Tổng thể là một dạng của ý thức tập thể, một khái niệm vốn đã được nhìn nhận ở bước sơ khai bởi nhà tâm lý học vĩ đại Carl Jung, nhà tâm lý học William James và nhiều người khác. Nhưng chúng ta có thứ mà Jung và James không có, đó là rất nhiều những bằng chứng thực nghiệm ủng hộ quan điểm này.

TS Lipman: Vậy nhận thức về Ý thức Tổng thể đã khiến cuộc sống của chính ông thay đổi như nào?

TS Larry Dossey: Nhận thức về Ý thức Tổng thể đã khiến cuộc sống của tôi trở nên yên bình, tĩnh lặng và vui vẻ hơn rất nhiều. Tôi vốn là một người nhút nhát, sống cô độc. Nhận thức về vị trí của tôi trong Ý thức Tổng thể đã giúp tôi vượt qua khuynh hướng thích sống cô lập từ nhỏ.

Tôi cảm thấy tôi đã tìm ra một nơi chân thật hơn trong vũ trụ. Đúng hơn, nó giống như trở về nhà và nhận ra là mình chưa bao giờ đi đâu cả. Nó là cảm giác thuộc về cái gì đó, cảm giác tìm thấy bản thân bạn là một mảnh ghép trong bức tranh vĩ đại của vạn vật.

Nỗi sợ hãi khủng khiếp về cái chết của con người không còn nữa. Điều này quan trọng với một bác sĩ như tôi, bởi vì tôi tin rằng sự sợ hãi về cái chết và sự hủy diệt của xác thân chúng ta đã gây ra nhiều sự đau khổ trong suốt lịch sử loài người hơn tất cả các chứng bệnh thân xác cộng lại.

Ý thức Tổng thể làm giảm bớt sự sợ hãi đó và nỗi đau khổ cũng giảm bớt theo. Tại sao lại như vậy? Ý thức Tổng thể có được sự vĩnh cửu nhờ vào sự vô tận của không gian và thời gian.

Nhận thức về Ý thức Tổng thể đã ảnh hưởng đến cách tôi giao tiếp, quan hệ với mọi người. Tôi trở nên bớt ganh đua, cho đi nhiều hơn, giúp đỡ nhiều hơn, cảm thông nhiều hơn tới khó khăn và vấn đề của người khác, và giao lưu nhiều hơn với mọi người. Mặc dù vậy, tôi vẫn còn có nhiều điều cần phải cải thiện.

Nhận thức Ý thức Tổng thể chỉ cho tôi làm thế nào để có thể tạo ra sự thay đổi. Trong thế giới ngày nay, chúng ta cảm thấy vô cùng áp lực với những thử thách mà mình phải đối mặt. Vậy một cá nhân như tôi có thể làm gì để thay đổi điều này?

Ý thức Tổng thể nâng cao cảm quan của chúng ta về sự đầy đủ và những việc có thể làm, bởi vì cảm quan đó sẽ dẫn chúng ta tới tất cả trí tuệ và sự hiểu biết.

Chúng ta nhận ra rằng chúng ta không cần phải biết và làm tất cả mọi thứ cho cá nhân chúng ta, bởi vì chúng ta là một phần của sự liên kết vĩ đại. Chúng ta không bao giờ, không khi nào đơn độc. Chúng ta thuộc về một nhóm đông vô hạn, chứ không phải là một con sói đơn độc.

Như thế áp lực sẽ giảm bớt đi. Sự khai sáng trong ý thức và tinh thần nảy sinh và có thể cả khiếu hài hước nữa. Và đó chính là sự thay đổi!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

THIỀN ĐỊNH CÓ THỂ SẢN SINH SIÊU NĂNG LỰC

 


Truyền thống lâu đời của thiền định phương Đông không chỉ là ngồi một chỗ và thanh tĩnh tư tưởng. Thiền định không chỉ giúp giảm bớt căng thẳng và tăng cường sức khỏe mà nó còn tạo ra những khả năng phi thường (siêu năng lực). Những chuyên gia về yoga nói như vậy. Và phát hiện khoa học của Tiến sĩ Dean Radin cũng đồng tình.

Thiền định đang trở nên phổ biến hơn ở phương Tây. Khi kỹ thuật Thiền Siêu Việt trở nên phổ biến trong những năm 60 và 70, nó vẫn còn là điều nằm ngoài sự quan tâm của tầng lớp trung lưu ở Mỹ. Nhưng ngày nay nhiều bệnh viện đã sử dụng thiền định như là một lựa chọn điều trị cho một số bệnh nhân. Nguyên nhân chính là bởi vì các nghiên cứu cho thấy thiền định mang lại giá trị to lớn.

Tiến sĩ Dean Radin là giám đốc nghiên cứu khoa học tại Viện khoa học tinh thần (Institute of Noetic Sciences - IONS). Ông đã lấy bằng kỹ sư điện, bằng danh dự xuất sắc về vật lý từ Đại học Massachusetts ở Amherst, và sau đó là bằng thạc sĩ khoa học về kỹ thuật điện và bằng Tiến sĩ về tâm lý từ Đại học Illinois ở Urbana-Champaign. Trước khi làm cho IONS, ông làm tại tại công ty AT&T (trước đây là Bell Labs), Đại học Princeton, Đại học Edinburgh, và SRI International.

Hầu hết chúng ta đều tin vào các siêu năng lực

Radin mô tả một cuộc khảo sát được tiến hành bởi IONS. Cuộc khảo sát đã hỏi 2.000 người tham gia thiền định câu hỏi: “Bạn đã từng trải nghiệm các năng lực sau đây hay không?”. Sau câu hỏi đó là một danh sách dài, bao gồm năng lực thấu thị (nhìn xuyên thấu), tiên tri và các năng lực “tâm linh” tương tự khác.

Khoảng 75% người được hỏi đã trả lời rằng họ đã trải nghiệm các khả năng đó. Họ thấy rằng sự xuất hiện của những năng lực đó là kết quả của thiền định.

“Khi ngày càng có nhiều người ngồi thiền vì lý do sức khỏe thể chất hoặc tinh thần, họ sẽ bắt đầu xuất hiện những năng lực đó theo nhiều cách khác nhau., đó là lý do tại sao tôi đã viết cuốn sách ‘Supernormal’” (tạm dịch - Siêu năng lực), Radin nói.

Cuốn sách “Siêu năng lực: khoa học, yoga, và bằng chứng về những khả năng tâm linh phi thường”, được xuất bản vào năm 2013. Tác phẩm bàn tới một chủ đề lớn của khoa học, liên quan đến lĩnh vực psi - tâm linh (psi đề cập đến các hiện tượng tâm linh, chẳng hạn như dùng ý nghĩ di chuyển đồ vật, thần giao cách cảm hay thấu thị).

Khi còn nhỏ, Radin được dạy dỗ theo thuyết bất khả tri và ông vẫn xem thiền định như một thực hành thế tục (thuyết bất khả tri là quan điểm triết học cho rằng tính đúng hay sai của một số tuyên bố nhất định - đặc biệt là các tuyên bố thần học về sự tồn tại của Chúa Trời hay các vị thần - là chưa biết và không thể biết được hay không mạch lạc). Nhưng mặt khác cũng Radin lắng nghe các ý kiến đến từ những người tín thần (tin vào sự tồn tại của Thần, Phật, Chúa).

“Ở phương Tây, cho dù chúng ta muốn thừa nhận hay không, hầu hết chúng ta tin vào các siêu năng lực”

Ví dụ, một cuộc thăm dò của Gallup năm 2001 cho thấy ba trong bốn người Mỹ tin vào những điều huyền bí. Một cuộc thăm dò năm 2007 do Diễn đàn Pew về Tôn giáo và Đời sống, đã hỏi 35.000 người Mỹ, “Bạn có tin vào phép lạ?” Khoảng 80% trả lời “có”. Ngay cả trong số những người không theo tôn giáo, 55% nói rằng họ tin vào phép lạ.

Chúng ta đang bị mê hoặc bởi siêu năng lực, nhưng giới học thuật từ chối nhìn nhận nó một cách nghiêm túc.

Quan niệm về “phù thủy” và nỗi sợ

Radin chỉ ra rằng ít hơn 1% của các trường đại học trên thế giới có một giảng viên biết về lĩnh vực nghiên cứu siêu năng lực. Ngay cả các giáo sư nghiên cứu về tôn giáo cũng thường từ chối nhìn nhận rằng các “phép lạ” là có thật.

Có lẽ chỉ có Hollywood là nơi mà siêu năng lực được đề cập đến nhiều nhất.

“Vẫn còn một số lượng lớn người sợ hãi về siêu năng lực vì những mô tả trong các bộ phim Hollywood, thường ở thể loại kinh dị,” Radin nói. “Điều trớ trêu là bạn có thể nhận được bằng tiến sĩ nhờ luận án về “Chú giải văn bản cổ của bộ phim Khắc tinh ma cà rồng”, nhưng bạn không thể làm luận án tiến sĩ nghiên cứu về hiện tượng thần giao cách cảm.”

Ông nói rằng chúng ta có thể thấy âm hưởng của những phiên xét xử phù thủy khi người ta giải thích về các hiện tượng siêu nhiên dựa trên sự sợ hãi. Những sự việc đã xảy ra 500 năm trước đã để lại ám ảnh của nó trong tâm lý của chúng ta. “Nếu ai đó có những đặc điểm giống như phù thủy… họ thường được coi là đáng sợ hoặc thậm chí tà ác,” ông nói.

Nhưng giới hàn lâm đã bắt đầu chú ý. Vương quốc Anh hiện nay chính là trung tâm nghiên cứu về siêu năng lực, với khoảng chục chương trình đại học đại học nghiên cứu về siêu năng lực.

Nghiên cứu siêu năng lực bước vào giới hàn lâm

Hai mươi năm trước đây, “gần như không thể” xuất bản các nghiên cứu về siêu năng lực trên các tạp chí chính thống, Radin nói. “Bây giờ chúng tôi có thể và chúng tôi đang phát hành một số lượng ngày càng lớn các bài báo nghiên cứu về siêu năng lực trên các tạp chí chính thống. Một trong những bài viết gần đây của chúng tôi được đăng trên tạp chí trực tuyến về khoa học thần kinh Frontiers in Neuroscience… và hầu hết các nghiên cứu về nhân thể học của chúng tôi hiện nay được công bố trên các tạp chí vật lý.”

“Chúng tôi đang phát hành một số lượng ngày càng lớn các bài báo nghiên cứu về siêu năng lực trên các tạp chí chính thống.” - Dean Radin, Viện Khoa học tinh thần.

Radin chỉ ra rằng sinh viên ngày nay đã được làm quen rất sớm với lý thuyết khác lạ của cơ học lượng tử. Điều này giúp các nhà khoa học trẻ cởi mở hơn để khám phá những hiện tượng như rối lượng tử bất định (non-local entanglement), vấn đề vượt qua ranh giới của khoa học cổ điển về không gian và thời gian.

Các siêu năng lực được coi là xa lạ vì lý do chính: chúng vượt qua những quan niệm thông thường của không gian và thời gian.

Tạp chi Khoa học và các tạp chí chính thống khác của Mỹ đang thử nghiệm các môn học như sinh học lượng tử, điều này cho thấy sự rối lượng tử, được gọi là “tác động ma quái từ xa” của Albert Einstein, cũng có thể tồn tại ở cấp độ vĩ mô của con người (và không chỉ ở tầm vi mô của hạt hạ nguyên tử).

Trong cuốn sách “Siêu năng lực”, Radin dẫn lời nhà tâm lý học người Anh vốn luôn hoài nghi về vấn đề này - Richard Wiseman, người đã nói với tờ Daily Mail, “Theo tiêu chuẩn của bất kỳ lĩnh vực khoa học nào khác, siêu năng lực thiên lý thông (nhìn được hình ảnh từ xa) đã được chứng minh.”

“Một người luôn hoài nghi với tất cả những hiện tượng tâm linh… đã thừa nhận ông tin rằng hiện tượng tâm linh đã được chứng minh một cách khoa học.” - Dean Radin, Viện Khoa học tinh thần

Radin cho biết thêm: “Việc thông tin về các tuyên bố này không thể được phóng đại. Một người luôn hoài nghi với tất cả những hiện tượng tâm linh… đã thừa nhận ông tin rằng hiện tượng tâm linh đã được chứng minh một cách khoa học. Ông ta giải thích rằng không chỉ siêu năng lực thiên lý thông (cụ thể năng lực là thấu thị) vốn đã được chứng minh, mà tất cả các hiện tượng tâm linh đều ‘đáp ứng các tiêu chuẩn thông thường cho một tuyên bố khoa học’, “và do đó chúng đã được chứng minh bởi các tiêu chuẩn khoa học”.

Tuy nhiên, nhiều người hoài nghi vẫn cho rằng các tuyên bố bất thường đòi hỏi bằng chứng bất thường. Và bởi vì thiền định truyền thống của phương Đông tiếp tục lan truyền rộng sang phương Tây, chúng ta có thể thấy rằng “bất thường là gì, còn phụ thuộc vào thái độ quan sát của người quan tâm.”

Radin giải thích trong cuốn sách của ông: “Đối với một học giả được giáo dục theo phong cách phương Tây, sự tồn tại của thần giao cách cảm sẽ được coi là siêu năng lực và cực kỳ bất thường. Nhưng đối với một người thực hành thiền định có kinh nghiệm, nó chỉ là một chứng ngộ bình thường. Một nhà khoa học hoài nghi, người không vốn không trải qua hàng ngàn giờ thực hành yoga và thiền định sẽ yêu cầu các bằng chứng là các số liệu thực nghiệm để tin vấn đề này. Nhưng những trải nghiệm trong thiền định không thể dựa vào số liệu thực nghiệm, người ta cần thực sự tự mình thực hành để có trải nghiệm của riêng mình.

Theo Tara MacIsaac, ET,

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN


Lý định là cơ bản trong tất cả các công việc chữa bệnh. Cầu nguyện là biểu hiện rõ ràng nhất. Ý định sẽ có khả năng truyền thông tin chính xác đến trường năng lượng. Ví dụ, Tiến sĩ Laskow đã chỉ ra rằng có thể ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư được nuôi cấy khoảng 18% bằng cách sử dụng ý định đơn giản. Ông đã tăng kết quả này với tỷ lệ 40% bằng cách kết hợp ý định thứ hai với ý định thứ nhất Ý định này là để cân bằng tốc độ tăng trưởng tế bào ở mức bình thường.

874-mot-giai-thich-khoa-hoc-cho-cac-phep-chua-lanh-ky-dieu-va-suc-manh-cua-loi-cau-nguyen-1.jpg

Người chữa bệnh cũng có thể kết hợp ý định với truyền năng lượng để tăng sức mạnh chữa bệnh của mình. Thực tế đã chứng minh rằng việc điều trị có chủ ý liên quan đến điều thường được gọi là đặt tay có tác dụng giảm tác dụng của các chất kháng sinh đối với vi khuẩn. Do đó, rõ ràng rằng ý định chữa lành có thể ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe. Do đó, người chữa bệnh có mọi lợi thế trong việc kết hợp nó với một điều trị tràn đầy năng lượng.

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể giải thích rằng ý định có thể ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống.

Nghiên cứu sử dụng một thiết bị để ghi lại sóng não trên từ hóa và bệnh nhân của họ xác nhận rằng có một mối liên hệ thực sự giữa nhà trị liệu và bệnh nhân. Nó đã được quan sát thấy rằng sóng não của người chăm sóc và người chăm sóc có xu hướng hài hòa khi điều trị được thực hiện. Kết nối này sẽ là một cách mà cây cầu cho phép nhà trị liệu điều chỉnh cho bệnh nhân của mình. Có thể tin rằng kết nối nổi tiếng này sẽ cho phép người chữa bệnh tiếp cận trường năng lượng của đối tác của mình. Do đó, anh ta sẽ có một tuyến đường truy cập để truyền các ý định sẽ ảnh hưởng đến trường năng lượng của anh ta.

Kể từ khi bắt đầu, người chữa bệnh đã được ban cho khả năng sử dụng năng lượng của tình yêu. Mối liên hệ này mà người chữa bệnh có thể tạo ra chắc chắn là một biểu hiện của một năng lượng yêu thương từ bi nằm trong luân xa tim. Kỹ năng này của người chữa bệnh sẽ xảy ra khi người chữa bệnh xóa tan ranh giới cơ thể của anh ta để du hành trong trường năng lượng của đối tác. Sau đó, anh ta có thể điều chỉnh năng lượng của đối tác để tác động đến trường năng lượng của mình với một ý định tích cực.

Sử dụng giải mã trực quan, người chữa bệnh không chỉ điều chỉnh năng lượng của đối tác mà anh ta còn có thể hiểu lý do của sự mất cân bằng và do đó xác định một ý định sẽ đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của họ. Do đó, người chữa bệnh trực quan sẽ có thể thực hiện một điều trị sẽ hài hòa hơn với nhu cầu của đối tác của mình.

Để giải thích những gì người chữa bệnh trực quan cảm nhận và làm thế nào anh ta có thể ảnh hưởng đến trường năng lượng của đối tác, cần phải giải quyết liệu pháp lượng tử. Cô đề xuất ý tưởng rằng bộ não hoạt động giống như một hình ba chiều trong đó chúng ta tìm thấy tất cả các khả năng ảo có thể tự thể hiện trong các lĩnh vực tâm linh, cảm xúc và thể chất. Những khả năng ảo này được tạo ra theo lịch sử cuộc sống của chúng tôi và chương trình mà chúng tôi sản xuất mà chúng tôi không biết.

Chúng được cảm nhận bởi nhà trị liệu trực quan dưới dạng các sự kiện trong quá khứ hoặc các tiềm năng chưa được khám phá. Tôi tin rằng có thể bằng cách giải mã trực quan để nhận thức những thực tế ảo này và do đó chúng ta có thể hiểu được niềm tin và lập trình mà chúng ta gây ra cho chính mình. Theo ý định, có thể tương tác với những năng lượng này để cung cấp cho họ những gì họ cần để giải phóng họ khỏi chương trình của họ, do đó thúc đẩy sự cân bằng. Tôi tin rằng do đó có thể ảnh hưởng đến thực tế ảo để trường năng lượng có thể hài hòa hơn với bản chất sâu sắc của bản thể nó.

Vật lý lượng tử có xu hướng chứng minh rằng không gian là một vấn đề sống động, sống động và thông minh. Đó là một lĩnh vực năng lượng thống nhất toàn bộ vũ trụ (ma trận thiêng liêng), mà chúng ta phản ứng lại ở mọi thời điểm trong cuộc sống của chúng ta bằng những suy nghĩ chúng ta có và những cảm giác mà chúng ta cảm thấy.

Bằng cách hiểu ngôn ngữ của cảm xúc con người cho phép chúng ta giao tiếp với lĩnh vực này, chúng ta có quyền chữa lành các tệ nạn ảnh hưởng đến cá nhân chúng ta cũng như chung.

Giọt nước rung ở tần số nó "nghe" bằng cách vẽ các hình dạng hình học. Tần số càng cao, các hình dạng hình học càng mất nhiều có tổ chức, đẹp và phức tạp.

Không thể tin được! hậu quả của những quan sát này là đáng kể: biết rằng chúng tôi gồm có 70% nước

Hãy tưởng tượng những tác động của sóng rung trên mỗi phân tử nước của chúng ta, cho nên toàn bộ cơ thể chúng ta.

Bây giờ, không chỉ âm nhạc là một bộ tần số mà là các từ, người, màu sắc và các hình thức cũng có tần số nhiều hơn hoặc ít thường xuyên hơn.

Tiến sĩ Emoto (ông thực sự là một bác sĩ của y học thay thế) sử dụng một kỹ thuật để đưa vào bằng chứnge khái niệm "bộ nhớ nước". Nó bao gồm nước đóng băng và để chụp ảnh các tinh thể hình thành trong một phân tử nước bị rung động khác nhau: âm nhạc như Mozart, Bach hay Beethoven, những lời cầu nguyện, suy nghĩ hận thù hay tình yêu ...

Bây giờ chúng ta hãy xem một ứng dụng không thể cụ thể hơn trong tất cả các nghiên cứu này với một Chi-lel Qi Gong người đã làm việc với các bệnh viện ở Trung Quốc trong hơn tám năm, và điều trị thành công hơn 180 các bệnh khác nhau.

Trong video mà tôi trình bày cho bạn, bạn sẽ chứng kiến trong thời gian thực sự biến mất của một polyp ung thư của bàng quang bằng cách sử dụng năng lượng quan trọng của Qi và prana (nguyên tắc quan trọng của hơi thở).

Thật tuyệt vời: khối u biến mất trước mắt bạn trong khi các nhà trị liệu hát một từ khóa đã được chọn bởi bệnh nhân và các nhà trị liệu, từ khóa có nghĩa là nó đã được chữa khỏi và nó đã được hoàn thành.

Giải thích: tần số cao (Qi dựa trên tinh thần của ma trận thần thánh) hòa tan vật liệu (khối u) mà chỉ là một sự củng cố của một tần số thấp hơn.

SOURCE: http://www.meditationfrance.com/archive/2014/0706.htm

Nguồn: afrikhepri

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS