Container Icon

Ý THỨC CÁ NHÂN TƯƠNG TÁC VỚI CÁC Ý THỨC KHÁC TRONG VŨ TRỤ

 


Tôi đã rất vinh dự vì có cuộc trò chuyện với Larry Dossey với chủ đề xoay quanh cuốn sách mới của ông là “One Mind” , ông là một trong những người sáng lập phong trào y học toàn diện.

Tiến sĩ (TS) Lipman: Thưa ông, ông có thể cho biết nội dung chính của cuốn sách là gì không?

TS Larry Dossey: Tôi viết về bản chất của ý thức con người. Tôi muốn chỉ ra rằng ý thức của con người không chỉ giới hạn trong bộ não hay cơ thể như chúng ta vẫn được giảng dạy, mà thực chất nó vươn xa đến vô tận bên ngoài cơ thể con người.

Ý thức của chúng ta không có biên giới, không có giới hạn, chúng hợp nhất với tất cả các ý thức khác và hình thành cái mà tôi gọi là Ý thức Tổng thể hay Một Ý thức.

Ý thức này dường như không bị ảnh hưởng bởi thời gian, nên nó là bất tử. Nó chính là nguồn gốc của trí tuệ và những sáng tạo vĩ đại. Tôi kết luận điều này sau khi đã nghiên cứu rất nhiều nguồn dẫn chứng cùng với vô số các trải nghiệm của nhiều người; những nghiên cứu này được tôi trình bày chi tiết trong cuốn sách.

Như vậy, về cơ bản cuốn sách này viết về phạm vi hay kích thước của ý thức chúng ta - liệu nó nhỏ, vừa, lớn, vô cùng lớn hay thậm chí không có giới hạn?

Về việc tại sao ý thức không tồn tại riêng lẻ mà lại kết nối với nhau trong một ý thức thống nhất?

Cùng với đó là mối quan hệ của chúng ta - bằng cách nào ý thức của một người kết nối với ý thức người khác và với toàn bộ sự sống trên Trái Đất và tại sao điều này là yếu tố cốt yếu cho sự sống của chúng ta?

Tôi muốn nói rằng bạn, người yêu, vợ/chồng, con cái, anh chị em, tổ tiên, hậu duệ, thậm chí cha mẹ của vợ/chồng, vật nuôi của bạn đều là thành phần của một ý thức lớn hơn: Ý thức Tổng thể.

Trong suốt thế kỉ 20, chúng ta tìm cách tách biệt ý thức [khỏi vật chất]. Nay tôi kết nối chúng lại.

Chúng ta được giảng dạy rằng ý thức được phân loại thành tiền ý thức (ký ức), tiềm thức, vô thức và vô thức tập thể. Cuốn sách này nhìn nhận ý thức theo hướng nhìn khác.

Nó chỉ ra rằng ý thức cá nhân của mỗi người là một phần trong một tổng thể ý thức lớn hơn bao gồm tất cả các ý thức - của toàn bộ loài người cũng như các sinh vật và sự vật khác trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

TS Lipman: Tại sao việc nhận thức về Ý thức Tổng thể lại quan trọng?

TS Larry Dossey: Sự nhận biết này là niềm tin lớn nhất cho sự tồn tại vĩnh hằng của chúng ta trên Trái Đất.

Chỉ khi nhận thức được sự kết nối của chúng ta với những thứ khác và với chính Trái Đất ở tầng xúc cảm sâu thẳm nhất, chúng ta mới có đủ can đảm để đưa ra các lựa chọn khó khăn mà sự sống yêu cầu. Vậy nên, cuốn sách này viết về sự tồn tại - về việc bảo vệ Trái Đất và mạng sống của chúng ta.

Alice Walker (nhà văn người Mỹ) có nói: “Chúng ta có thể bảo vệ bất cứ thứ gì chúng ta yêu quý”, tôi nghĩ trong số những thứ ta yêu quý có hành tinh này, bản thân chúng ta, con cái chúng ta và các thế hệ tương lai.

Ngoài ra, Ý thức Tổng thể giúp chúng ta kết nối và hòa hợp với tất cả mọi thứ, từ đó chúng ta xây dựng tình yêu thương với tất cả. Do đó, Ý thức Tổng thể giúp chúng ta đưa thế giới này về đúng bản chất của nó.

Vậy, dựa vào đâu chúng ta biết Ý thức Tổng thể thực sự tồn tại? Các gợi ý về Ý thức Tổng thể đều ở xung quanh chúng ta. Điều này không phải là triết học đơn thuần. Qua thời gian, tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm những hiện tượng mà chỉ có thể giải thích được nếu chúng ta thừa nhận rằng mình có liên hệ với người khác trong tâm thức.

Tình yêu của người mẹ với con là một ví dụ về sự hòa hợp mà ở đó mọi ranh giới và sự xa cách đều được vượt qua. Hay những người từng có tình yêu sâu đậm đều trải nghiệm một điều là: khi hai con người đã hiểu nhau, đồng cảm với nhau thì khái niệm “người khác” không còn nữa.

Gần đây mọi người quan tâm nhiều tới chuyện phả hệ, tìm hiểu nguồn gốc gia đình, đây có thể coi là sự cố gắng khôi phục lại những liên hệ với người xưa, với mọi người xung quanh và là mong mỏi tìm kiếm sự đồng nhất.

Hơn nữa, con người thường trao đổi từ xa với nhau những suy nghĩ, cảm xúc, thậm chí cả cảm giác của cơ thể. Điều này đặc biệt phổ biến giữa những người có quan hệ tình cảm thân thiết.

Một ví dụ điển hình là khi người mẹ “ngay lập tức cảm nhận” được việc đứa con đang bị nguy hiểm dù đang ở rất xa, như thể người mẹ và đứa con có chung tâm trí và ý thức vậy.

Một ví dụ khác: Con người thường có được kiến thức về sự vật theo những cách không thể giải thích được. Nhà phát minh vĩ đại Thomas Edison từng nói: “Tôi chưa bao giờ sáng tạo điều gì cả. Các ý tưởng đến với tôi từ vũ trụ và vạn vật xung quanh, từ đó tôi diễn đạt lại chúng”.

Hay như những người mắc hội chứng bác học (savant) thường bị tổn thương về trí não, họ không thể đọc và không có khả năng học, nhưng họ có những thứ mà chẳng thể nào đạt được thông qua việc học (Stephen Wiltshire là một ví dụ, anh chỉ cần nhìn qua một cảnh vật là có thể vẽ lại chi tiết và chính xác cảnh vật đó).

Khả năng này có được từ đâu? Tôi cho rằng họ có sự kết nối tới một kho tri thức, kho tri thức đó chính là Ý thức Tổng thể.

Con người cũng thường có những giấc mơ rất chi tiết về tương lai, đó là công năng linh cảm, và tôi đã dành trọn một cuốn sách khác để viết về nó.

Trải nghiệm cận tử là một cánh cổng dẫn tới Ý thức Tổng thể. Có mười triệu người Mỹ có trải nghiệm này. Điểm đặc trưng của nó là cảm giác hợp nhất với tất cả mọi thứ, trải nghiệm này mang lại cho người ta một nhận thức sâu sắc đến nỗi cuộc sống của họ đã biến đổi hoàn toàn sau khi bình phục.

Tôi đã bàn luận về trải nghiệm này qua nhiều ví dụ đa dạng, phong phú. Những hiện tượng này sẽ không thể giải thích được bằng hiểu biết hiện tại rằng ý thức của chúng ta bị giới hạn trong bộ não, vốn chỉ tiếp thụ thông tin qua các giác quan vật lý, và ý thức của chúng ta bị tách rời khỏi tất cả các ý thức khác. Vì vậy, để giải thích các hiện tượng trên, đòi hỏi cần có cái nhìn tổng quan hơn về ý thức — đó là cái mà tôi gọi là Ý thức Tổng thể.

Các bằng chứng cho thấy ý thức không bị giới hạn trong bộ não và cơ thể. Và nếu nó không bị giới hạn vào một nơi cụ thể nào đó trong không gian, thì các ý thức đơn lẻ của chúng ta phải liên kết với nhau theo một cách nào đó - một lần nữa, tôi cho rằng chúng liên kết với nhau trong Ý thức Tổng thể.

Lợi ích của nhận thức này vô cùng lớn. Nếu ý thức cá nhân không có giới hạn và hòa vào tất cả các ý thức khác, điều đó có nghĩa chúng ta có thể tiếp cận với tất cả trí tuệ và sự sáng tạo trong đó.

Cùng với đó, vì Ý thức Tổng thể là vô tận không chỉ về không gian mà còn cả về thời gian nên ở một phương diện nào đó thì nó phải là bất tử. Vì vậy quan điểm về Ý thức Tổng thể một cách gián tiếp đảm bảo với chúng ta về sự sống bất tử dù thân xác đã không còn.

TS Lipman: Từ đâu ông có ý tưởng về Ý thức Tổng thể?

You may like

1371-y-thuc-ca-nhan-tuong-tac-voi-cac-y-thuc-khac-trong-vu-tru-4.jpg

TS Larry Dossey: Khái niệm về Ý thức Tổng thể đã có từ rất lâu. Nền triết học của người Ấn Độ cổ xưa 3000 năm trước đã nói tới Ý thức Tổng thể, họ gọi nó là thư viện Akashic (Akashic Records).

Trong khái niệm về sự thống nhất giữa con người và thần thánh của đạo Hindu, nó được gọi là: tat tvam asi, nghĩa là tâm hồn hay ý thức của bạn là một phần của thực tại tối nguyên, trước khi vũ trụ được tạo thành thì một ý thức đơn nhất đã tồn tại và ở nơi sâu thẳm nhất nó đồng nhất với bạn.

Nhiều truyền thuyết dành sự tôn kính cho Ý thức Tổng thể. Theo các cách khác nhau, nó được gọi là satori (ngộ) trong phái Thiền, samadhi (trạng thái tâm thức lìa thân xác) trong Yoga, fana (lìa trần) trong Sufi giáo, và ý thức của Chúa Giê su trong đạo Cơ đốc.

Các thuật ngữ khác gồm có ý thức vũ trụ, sự khai trí, thức tỉnh, giác ngộ và nhiều nữa. Dù với tên gọi nào thì trải nghiệm về Ý thức Tổng thể cũng chứa đựng nhận thức rõ ràng về việc vũ trụ và tất cả những gì có trong vũ trụ là một thể thống nhất, không hề có sự phân cách thực sự giữa vạn vật.

Tất cả được kết nối với phần còn lại trong đó. Sự phân cách chỉ là ảo giác. Như nhà tâm ly học Lawrence LeShan đã viết: “Không có sự ngăn cách giữa các thực thể, cả về không gian lẫn thời gian. Toàn bộ vũ trụ được nhận thức như một thực thể duy nhất”.

Trải nghiệm về Ý thức Tổng thể cho người ta cảm giác rằng họ đã lĩnh hội được Sự thật không thể chối bỏ. (Nguồn: Lawrence LeShan, Landscapes of the Mind. Guilford, CT: Eirini Press; 2012: 91).

Trong kinh Tân Ước có những đoạn ám chỉ về Ý thức Tổng thể. Thánh Paul nói “sự bình yên của Chúa vượt xa mọi sự hiểu biết”. Như nhà thần học Joseph Campbell đã diễn giải: Giê su nói rằng thiên đường nằm ở bên trong tâm hồn.

Vậy ai ở thiên đường? Đó là Chúa. Điều đó có nghĩa, Chúa ở trong mỗi con người - vô cùng tận, không biên giới, bất tử và là một, là duy nhất.

Các nhà tiên nghiệm học (transcendentalist) người Mỹ cũng ủng hộ khái niệm Ý thức Tổng thể - điều này thể hiện qua ý tưởng về linh hồn tối cao (linh hồn bao trùm cả vũ trụ) của Emerson, ở đó linh hồn của tất cả mọi người được kết nối với nhau.

Quan niệm về vô thức tập thể của nhà tâm lý học Thụy Sĩ Carl Jung cũng là một dạng của Ý thức Tổng thể.

Một trong những người sáng lập nên ngành tâm lý của Mỹ, William James cũng đề xuất ý thức tập thể và thống nhất.

Nhiều nhà khoa học xuất chúng ở nhiều lĩnh vực khác nhau cũng tán thành quan điểm về Ý thức Tổng thể. Điều này được thể hiện qua các bài viết trong vật lý hiện đại của Erwin Schrödinger, nhà vật lý học từng đoạt giải Nobel, đã đưa ra các phương trình sóng làm nền tảng trung tâm của vật lý lượng tử.

Nhà vật lý học nổi tiếng David Bohm cũng rất ủng hộ quan điểm về một ý thức bao quát, thống nhất chứa tất cả các ý thức đơn lẻ.

Vì vậy quan niệm về Ý thức Tổng thể đã bắt đầu từ hàng nghìn năm trước, liên tục cho tới ngày nay, và nhận được sự ủng hộ bởi nhiều nhân vật vĩ đại trong khoa học và tâm lý học hiện đại.

TS Lipman: Ông là một bác sĩ. Vậy, công việc chữa bệnh có liên hệ gì tới mối quan tâm về Ý thức Tổng thể của ông không?

TS Larry Dossey: Đương nhiên là có. Thời kì mới bắt đầu công việc của một bác sĩ nội khoa, một vài sự kiện đã xảy ra với tôi và chúng đã thay đổi hoàn toàn quan điểm của tôi về ý thức, gây xáo trộn trong suy nghĩ của tôi.

Tôi vốn là một người luôn tin rằng ý thức và bộ não về cơ bản là một. Nhưng khi tôi bắt đầu có trải nghiệm về các điềm báo cho biết các thông tin về sự kiện tương lai, tôi bắt đầu nghi ngờ những giáo lý trước đây vốn cho rằng những điều như vậy không thể xảy ra.

Những trải nghiệm này không chỉ diễn ra với tôi, mà còn với các bệnh nhân, cũng như các y tá và bác sĩ khác, họ đã chia sẻ những trải nghiệm tương tự như của tôi.

Trong cuối những năm 1980, các tạp chí y học bắt đầu công bố các thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng chữa bệnh của những lời cầu nguyện và mong ước từ những người đang ở cách xa tới các bệnh nhân đang ở trong bệnh viện. Thử nghiệm tương tự được thực hiện với các sinh vật khác, cũng như các cơ quan và tế bào sinh học.

Kết quả của các thử nghiệm càng thêm khẳng định rằng ý thức không bị hạn chế trong não bộ. Những suy nghĩ và ước nguyện của con người có thể vươn ra ngoài cơ thể và thay đổi cả “thế giới bên ngoài”.

Một vài đánh giá gọi là phân tích hệ thống hoặc tổng hợp trong lĩnh vực này đã được công bố. Đây là phương pháp tổng hợp kết quả từ nhiều nghiên cứu để đạt được cái nhìn tổng quan về một lĩnh vực cụ thể. Nhiều phân tích như vậy đã được xuất bản trên các tạp chí có bình duyệt. Phần lớn chúng có kết quả cho thấy thực sự có tồn tại ảnh hưởng của ý thức từ khoảng cách xa. Mặc dù vậy, điều này vẫn chưa được đại chúng đón nhận như đáng lẽ nó phải như vậy.

Mặc dù luôn luôn bị phớt lờ bởi những người theo chủ nghĩa hoài nghi, nhưng chúng ta cần nhận ra rằng phạm vi của những thử nghiệm này không chỉ ở loài người mà còn cả động thực vật, vi sinh vật, thậm chí là các phản ứng hóa học.

Tại sao điều này lại quan trọng như vậy? Những người hoài nghi thường cho rằng nếu một người bệnh có biểu hiện tốt hơn nhờ những lời cầu nguyện của người khác ở nơi xa, thì đó đơn thuần là hiệu ứng giả dược- là kết quả của suy nghĩ và những mong đợi tích cực của cá nhân người bệnh.

Nhưng nếu một loài động vật, thực vật, vi sinh vật hay các phản ứng sinh hóa cũng bị tác động, thì không thể xem các ảnh hưởng từ xa là giả dược, vì theo như hiểu biết của chúng ta thì động thưc vật, vi sinh vật và chất hóa học không hề có suy nghĩ tích cực. Chúng không phản ứng với giả dược.

Vậy nên những nghiên cứu với các đối tượng không phải là con người gợi ý rằng các hiệu ứng chữa bệnh qua ý thức trung gian ở khoảng cách xa và các hiện tượng được thực hiện ở khoảng cách xa khác là có thật và chúng ta không hề lừa gạt chính mình.

Chỉ khi nhận thức được sự kết nối của chúng ta với những thứ khác và với chính Trái Đất ở tầng xúc cảm sâu thẳm nhất, chúng ta mới có đủ can đảm để đưa ra các lựa chọn khó khăn mà sự sống yêu cầu.

Những thử nghiệm khác nhau này nhằm chứng minh sự tồn tại của Ý thức Tổng thể. Chúng cho thấy một vài khía cạnh trong ý thức chúng ta hoạt động bên ngoài bộ não và cơ thể con người, không thể bị giới hạn, mà là vô hạn. Và nếu ý thức là vô hạn thì chúng không có biên giới và tất cả các ý thức phải kết nối với nhau.

Một số nghiên cứu gọi là thử nghiệm linh cảm hay thử nghiệm về sự nhận thức được tương lai cho thấy chúng ta có thể có thông tin về các sự kiện trước khi chúng xảy ra.

Tập hợp các bằng chứng lại với nhau, bức tranh về ý thức vô tận đã trở nên rõ ràng hơn, nó chỉ ra rằng ý thức của chúng ta không có hạn định hay giới hạn ở những vị trí cụ thể trong không gian và thời gian.

Và nếu ý thức của chúng ta không bị bó buộc, chúng phải liên kết với nhau bằng cách nào đó để tạo nên một ý thức duy nhất, một thực thể duy nhất: Ý thức Tổng thể.

TS Lipman: Ông có nghĩ điều này nghe có vẻ khá cấp tiến không?

TS Larry Dossey: Trước đây tôi thường nghĩ như vây, nhưng bây giờ thì không. Các quan điểm mới trong khoa học, nghệ thuật, âm nhạc, giáo dục… đều nghe có vẻ cấp tiến khi mới được đề xuất.

Đặc biệt với vấn đề ý thức thì đúng là như thế. Như một nhà khoa học theo chủ nghĩa hoài nghi đã nói về ý thức không giới hạn rằng: “Đây là một trong những điều tôi sẽ không tin, ngay cả khi nó đúng”.

Nhà vật lý học Max Planck, người đặt nền tảng chính của vật lý lượng tử, đã từng vấp phải sự hoài nghi này. Ông nói thế hệ các nhà khoa học đi trước rồi sẽ không còn và sẽ bị thay thế bởi thế hệ trẻ hơn, các cá nhân có tư tưởng cởi mở. Câu nói của Planck được tóm gọn là “khoa học thay đổi từ đám tang này qua đám tang khác”.

Sự thay đổi căn bản ở bất kì lĩnh vực nào gần như luôn luôn gặp những cản trở. Khoa học cũng như vậy. Hình như nhiều nhà bảo thủ, hoài nghi nghĩ rằng các khái niệm của chúng ta hiện nay về ý thức là được ghim vào đá — hay nó đang ghim vào não chúng ta?

Dù vậy, các quan điểm mới về ý thức vẫn không ngừng xuất hiện trong lịch sử. Trong thế kỷ 20, chúng ta thấy rất nhiều các ý tưởng mới về ý thức như là vô thức, tiền ý thức (ký ức), tiềm thức và vô thức tập thể.

Ý thức Tổng thể là một dạng của ý thức tập thể, một khái niệm vốn đã được nhìn nhận ở bước sơ khai bởi nhà tâm lý học vĩ đại Carl Jung, nhà tâm lý học William James và nhiều người khác. Nhưng chúng ta có thứ mà Jung và James không có, đó là rất nhiều những bằng chứng thực nghiệm ủng hộ quan điểm này.

TS Lipman: Vậy nhận thức về Ý thức Tổng thể đã khiến cuộc sống của chính ông thay đổi như nào?

TS Larry Dossey: Nhận thức về Ý thức Tổng thể đã khiến cuộc sống của tôi trở nên yên bình, tĩnh lặng và vui vẻ hơn rất nhiều. Tôi vốn là một người nhút nhát, sống cô độc. Nhận thức về vị trí của tôi trong Ý thức Tổng thể đã giúp tôi vượt qua khuynh hướng thích sống cô lập từ nhỏ.

Tôi cảm thấy tôi đã tìm ra một nơi chân thật hơn trong vũ trụ. Đúng hơn, nó giống như trở về nhà và nhận ra là mình chưa bao giờ đi đâu cả. Nó là cảm giác thuộc về cái gì đó, cảm giác tìm thấy bản thân bạn là một mảnh ghép trong bức tranh vĩ đại của vạn vật.

Nỗi sợ hãi khủng khiếp về cái chết của con người không còn nữa. Điều này quan trọng với một bác sĩ như tôi, bởi vì tôi tin rằng sự sợ hãi về cái chết và sự hủy diệt của xác thân chúng ta đã gây ra nhiều sự đau khổ trong suốt lịch sử loài người hơn tất cả các chứng bệnh thân xác cộng lại.

Ý thức Tổng thể làm giảm bớt sự sợ hãi đó và nỗi đau khổ cũng giảm bớt theo. Tại sao lại như vậy? Ý thức Tổng thể có được sự vĩnh cửu nhờ vào sự vô tận của không gian và thời gian.

Nhận thức về Ý thức Tổng thể đã ảnh hưởng đến cách tôi giao tiếp, quan hệ với mọi người. Tôi trở nên bớt ganh đua, cho đi nhiều hơn, giúp đỡ nhiều hơn, cảm thông nhiều hơn tới khó khăn và vấn đề của người khác, và giao lưu nhiều hơn với mọi người. Mặc dù vậy, tôi vẫn còn có nhiều điều cần phải cải thiện.

Nhận thức Ý thức Tổng thể chỉ cho tôi làm thế nào để có thể tạo ra sự thay đổi. Trong thế giới ngày nay, chúng ta cảm thấy vô cùng áp lực với những thử thách mà mình phải đối mặt. Vậy một cá nhân như tôi có thể làm gì để thay đổi điều này?

Ý thức Tổng thể nâng cao cảm quan của chúng ta về sự đầy đủ và những việc có thể làm, bởi vì cảm quan đó sẽ dẫn chúng ta tới tất cả trí tuệ và sự hiểu biết.

Chúng ta nhận ra rằng chúng ta không cần phải biết và làm tất cả mọi thứ cho cá nhân chúng ta, bởi vì chúng ta là một phần của sự liên kết vĩ đại. Chúng ta không bao giờ, không khi nào đơn độc. Chúng ta thuộc về một nhóm đông vô hạn, chứ không phải là một con sói đơn độc.

Như thế áp lực sẽ giảm bớt đi. Sự khai sáng trong ý thức và tinh thần nảy sinh và có thể cả khiếu hài hước nữa. Và đó chính là sự thay đổi!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

THIỀN ĐỊNH CÓ THỂ SẢN SINH SIÊU NĂNG LỰC

 


Truyền thống lâu đời của thiền định phương Đông không chỉ là ngồi một chỗ và thanh tĩnh tư tưởng. Thiền định không chỉ giúp giảm bớt căng thẳng và tăng cường sức khỏe mà nó còn tạo ra những khả năng phi thường (siêu năng lực). Những chuyên gia về yoga nói như vậy. Và phát hiện khoa học của Tiến sĩ Dean Radin cũng đồng tình.

Thiền định đang trở nên phổ biến hơn ở phương Tây. Khi kỹ thuật Thiền Siêu Việt trở nên phổ biến trong những năm 60 và 70, nó vẫn còn là điều nằm ngoài sự quan tâm của tầng lớp trung lưu ở Mỹ. Nhưng ngày nay nhiều bệnh viện đã sử dụng thiền định như là một lựa chọn điều trị cho một số bệnh nhân. Nguyên nhân chính là bởi vì các nghiên cứu cho thấy thiền định mang lại giá trị to lớn.

Tiến sĩ Dean Radin là giám đốc nghiên cứu khoa học tại Viện khoa học tinh thần (Institute of Noetic Sciences - IONS). Ông đã lấy bằng kỹ sư điện, bằng danh dự xuất sắc về vật lý từ Đại học Massachusetts ở Amherst, và sau đó là bằng thạc sĩ khoa học về kỹ thuật điện và bằng Tiến sĩ về tâm lý từ Đại học Illinois ở Urbana-Champaign. Trước khi làm cho IONS, ông làm tại tại công ty AT&T (trước đây là Bell Labs), Đại học Princeton, Đại học Edinburgh, và SRI International.

Hầu hết chúng ta đều tin vào các siêu năng lực

Radin mô tả một cuộc khảo sát được tiến hành bởi IONS. Cuộc khảo sát đã hỏi 2.000 người tham gia thiền định câu hỏi: “Bạn đã từng trải nghiệm các năng lực sau đây hay không?”. Sau câu hỏi đó là một danh sách dài, bao gồm năng lực thấu thị (nhìn xuyên thấu), tiên tri và các năng lực “tâm linh” tương tự khác.

Khoảng 75% người được hỏi đã trả lời rằng họ đã trải nghiệm các khả năng đó. Họ thấy rằng sự xuất hiện của những năng lực đó là kết quả của thiền định.

“Khi ngày càng có nhiều người ngồi thiền vì lý do sức khỏe thể chất hoặc tinh thần, họ sẽ bắt đầu xuất hiện những năng lực đó theo nhiều cách khác nhau., đó là lý do tại sao tôi đã viết cuốn sách ‘Supernormal’” (tạm dịch - Siêu năng lực), Radin nói.

Cuốn sách “Siêu năng lực: khoa học, yoga, và bằng chứng về những khả năng tâm linh phi thường”, được xuất bản vào năm 2013. Tác phẩm bàn tới một chủ đề lớn của khoa học, liên quan đến lĩnh vực psi - tâm linh (psi đề cập đến các hiện tượng tâm linh, chẳng hạn như dùng ý nghĩ di chuyển đồ vật, thần giao cách cảm hay thấu thị).

Khi còn nhỏ, Radin được dạy dỗ theo thuyết bất khả tri và ông vẫn xem thiền định như một thực hành thế tục (thuyết bất khả tri là quan điểm triết học cho rằng tính đúng hay sai của một số tuyên bố nhất định - đặc biệt là các tuyên bố thần học về sự tồn tại của Chúa Trời hay các vị thần - là chưa biết và không thể biết được hay không mạch lạc). Nhưng mặt khác cũng Radin lắng nghe các ý kiến đến từ những người tín thần (tin vào sự tồn tại của Thần, Phật, Chúa).

“Ở phương Tây, cho dù chúng ta muốn thừa nhận hay không, hầu hết chúng ta tin vào các siêu năng lực”

Ví dụ, một cuộc thăm dò của Gallup năm 2001 cho thấy ba trong bốn người Mỹ tin vào những điều huyền bí. Một cuộc thăm dò năm 2007 do Diễn đàn Pew về Tôn giáo và Đời sống, đã hỏi 35.000 người Mỹ, “Bạn có tin vào phép lạ?” Khoảng 80% trả lời “có”. Ngay cả trong số những người không theo tôn giáo, 55% nói rằng họ tin vào phép lạ.

Chúng ta đang bị mê hoặc bởi siêu năng lực, nhưng giới học thuật từ chối nhìn nhận nó một cách nghiêm túc.

Quan niệm về “phù thủy” và nỗi sợ

Radin chỉ ra rằng ít hơn 1% của các trường đại học trên thế giới có một giảng viên biết về lĩnh vực nghiên cứu siêu năng lực. Ngay cả các giáo sư nghiên cứu về tôn giáo cũng thường từ chối nhìn nhận rằng các “phép lạ” là có thật.

Có lẽ chỉ có Hollywood là nơi mà siêu năng lực được đề cập đến nhiều nhất.

“Vẫn còn một số lượng lớn người sợ hãi về siêu năng lực vì những mô tả trong các bộ phim Hollywood, thường ở thể loại kinh dị,” Radin nói. “Điều trớ trêu là bạn có thể nhận được bằng tiến sĩ nhờ luận án về “Chú giải văn bản cổ của bộ phim Khắc tinh ma cà rồng”, nhưng bạn không thể làm luận án tiến sĩ nghiên cứu về hiện tượng thần giao cách cảm.”

Ông nói rằng chúng ta có thể thấy âm hưởng của những phiên xét xử phù thủy khi người ta giải thích về các hiện tượng siêu nhiên dựa trên sự sợ hãi. Những sự việc đã xảy ra 500 năm trước đã để lại ám ảnh của nó trong tâm lý của chúng ta. “Nếu ai đó có những đặc điểm giống như phù thủy… họ thường được coi là đáng sợ hoặc thậm chí tà ác,” ông nói.

Nhưng giới hàn lâm đã bắt đầu chú ý. Vương quốc Anh hiện nay chính là trung tâm nghiên cứu về siêu năng lực, với khoảng chục chương trình đại học đại học nghiên cứu về siêu năng lực.

Nghiên cứu siêu năng lực bước vào giới hàn lâm

Hai mươi năm trước đây, “gần như không thể” xuất bản các nghiên cứu về siêu năng lực trên các tạp chí chính thống, Radin nói. “Bây giờ chúng tôi có thể và chúng tôi đang phát hành một số lượng ngày càng lớn các bài báo nghiên cứu về siêu năng lực trên các tạp chí chính thống. Một trong những bài viết gần đây của chúng tôi được đăng trên tạp chí trực tuyến về khoa học thần kinh Frontiers in Neuroscience… và hầu hết các nghiên cứu về nhân thể học của chúng tôi hiện nay được công bố trên các tạp chí vật lý.”

“Chúng tôi đang phát hành một số lượng ngày càng lớn các bài báo nghiên cứu về siêu năng lực trên các tạp chí chính thống.” - Dean Radin, Viện Khoa học tinh thần.

Radin chỉ ra rằng sinh viên ngày nay đã được làm quen rất sớm với lý thuyết khác lạ của cơ học lượng tử. Điều này giúp các nhà khoa học trẻ cởi mở hơn để khám phá những hiện tượng như rối lượng tử bất định (non-local entanglement), vấn đề vượt qua ranh giới của khoa học cổ điển về không gian và thời gian.

Các siêu năng lực được coi là xa lạ vì lý do chính: chúng vượt qua những quan niệm thông thường của không gian và thời gian.

Tạp chi Khoa học và các tạp chí chính thống khác của Mỹ đang thử nghiệm các môn học như sinh học lượng tử, điều này cho thấy sự rối lượng tử, được gọi là “tác động ma quái từ xa” của Albert Einstein, cũng có thể tồn tại ở cấp độ vĩ mô của con người (và không chỉ ở tầm vi mô của hạt hạ nguyên tử).

Trong cuốn sách “Siêu năng lực”, Radin dẫn lời nhà tâm lý học người Anh vốn luôn hoài nghi về vấn đề này - Richard Wiseman, người đã nói với tờ Daily Mail, “Theo tiêu chuẩn của bất kỳ lĩnh vực khoa học nào khác, siêu năng lực thiên lý thông (nhìn được hình ảnh từ xa) đã được chứng minh.”

“Một người luôn hoài nghi với tất cả những hiện tượng tâm linh… đã thừa nhận ông tin rằng hiện tượng tâm linh đã được chứng minh một cách khoa học.” - Dean Radin, Viện Khoa học tinh thần

Radin cho biết thêm: “Việc thông tin về các tuyên bố này không thể được phóng đại. Một người luôn hoài nghi với tất cả những hiện tượng tâm linh… đã thừa nhận ông tin rằng hiện tượng tâm linh đã được chứng minh một cách khoa học. Ông ta giải thích rằng không chỉ siêu năng lực thiên lý thông (cụ thể năng lực là thấu thị) vốn đã được chứng minh, mà tất cả các hiện tượng tâm linh đều ‘đáp ứng các tiêu chuẩn thông thường cho một tuyên bố khoa học’, “và do đó chúng đã được chứng minh bởi các tiêu chuẩn khoa học”.

Tuy nhiên, nhiều người hoài nghi vẫn cho rằng các tuyên bố bất thường đòi hỏi bằng chứng bất thường. Và bởi vì thiền định truyền thống của phương Đông tiếp tục lan truyền rộng sang phương Tây, chúng ta có thể thấy rằng “bất thường là gì, còn phụ thuộc vào thái độ quan sát của người quan tâm.”

Radin giải thích trong cuốn sách của ông: “Đối với một học giả được giáo dục theo phong cách phương Tây, sự tồn tại của thần giao cách cảm sẽ được coi là siêu năng lực và cực kỳ bất thường. Nhưng đối với một người thực hành thiền định có kinh nghiệm, nó chỉ là một chứng ngộ bình thường. Một nhà khoa học hoài nghi, người không vốn không trải qua hàng ngàn giờ thực hành yoga và thiền định sẽ yêu cầu các bằng chứng là các số liệu thực nghiệm để tin vấn đề này. Nhưng những trải nghiệm trong thiền định không thể dựa vào số liệu thực nghiệm, người ta cần thực sự tự mình thực hành để có trải nghiệm của riêng mình.

Theo Tara MacIsaac, ET,

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN


Lý định là cơ bản trong tất cả các công việc chữa bệnh. Cầu nguyện là biểu hiện rõ ràng nhất. Ý định sẽ có khả năng truyền thông tin chính xác đến trường năng lượng. Ví dụ, Tiến sĩ Laskow đã chỉ ra rằng có thể ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư được nuôi cấy khoảng 18% bằng cách sử dụng ý định đơn giản. Ông đã tăng kết quả này với tỷ lệ 40% bằng cách kết hợp ý định thứ hai với ý định thứ nhất Ý định này là để cân bằng tốc độ tăng trưởng tế bào ở mức bình thường.

874-mot-giai-thich-khoa-hoc-cho-cac-phep-chua-lanh-ky-dieu-va-suc-manh-cua-loi-cau-nguyen-1.jpg

Người chữa bệnh cũng có thể kết hợp ý định với truyền năng lượng để tăng sức mạnh chữa bệnh của mình. Thực tế đã chứng minh rằng việc điều trị có chủ ý liên quan đến điều thường được gọi là đặt tay có tác dụng giảm tác dụng của các chất kháng sinh đối với vi khuẩn. Do đó, rõ ràng rằng ý định chữa lành có thể ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe. Do đó, người chữa bệnh có mọi lợi thế trong việc kết hợp nó với một điều trị tràn đầy năng lượng.

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể giải thích rằng ý định có thể ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống.

Nghiên cứu sử dụng một thiết bị để ghi lại sóng não trên từ hóa và bệnh nhân của họ xác nhận rằng có một mối liên hệ thực sự giữa nhà trị liệu và bệnh nhân. Nó đã được quan sát thấy rằng sóng não của người chăm sóc và người chăm sóc có xu hướng hài hòa khi điều trị được thực hiện. Kết nối này sẽ là một cách mà cây cầu cho phép nhà trị liệu điều chỉnh cho bệnh nhân của mình. Có thể tin rằng kết nối nổi tiếng này sẽ cho phép người chữa bệnh tiếp cận trường năng lượng của đối tác của mình. Do đó, anh ta sẽ có một tuyến đường truy cập để truyền các ý định sẽ ảnh hưởng đến trường năng lượng của anh ta.

Kể từ khi bắt đầu, người chữa bệnh đã được ban cho khả năng sử dụng năng lượng của tình yêu. Mối liên hệ này mà người chữa bệnh có thể tạo ra chắc chắn là một biểu hiện của một năng lượng yêu thương từ bi nằm trong luân xa tim. Kỹ năng này của người chữa bệnh sẽ xảy ra khi người chữa bệnh xóa tan ranh giới cơ thể của anh ta để du hành trong trường năng lượng của đối tác. Sau đó, anh ta có thể điều chỉnh năng lượng của đối tác để tác động đến trường năng lượng của mình với một ý định tích cực.

Sử dụng giải mã trực quan, người chữa bệnh không chỉ điều chỉnh năng lượng của đối tác mà anh ta còn có thể hiểu lý do của sự mất cân bằng và do đó xác định một ý định sẽ đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của họ. Do đó, người chữa bệnh trực quan sẽ có thể thực hiện một điều trị sẽ hài hòa hơn với nhu cầu của đối tác của mình.

Để giải thích những gì người chữa bệnh trực quan cảm nhận và làm thế nào anh ta có thể ảnh hưởng đến trường năng lượng của đối tác, cần phải giải quyết liệu pháp lượng tử. Cô đề xuất ý tưởng rằng bộ não hoạt động giống như một hình ba chiều trong đó chúng ta tìm thấy tất cả các khả năng ảo có thể tự thể hiện trong các lĩnh vực tâm linh, cảm xúc và thể chất. Những khả năng ảo này được tạo ra theo lịch sử cuộc sống của chúng tôi và chương trình mà chúng tôi sản xuất mà chúng tôi không biết.

Chúng được cảm nhận bởi nhà trị liệu trực quan dưới dạng các sự kiện trong quá khứ hoặc các tiềm năng chưa được khám phá. Tôi tin rằng có thể bằng cách giải mã trực quan để nhận thức những thực tế ảo này và do đó chúng ta có thể hiểu được niềm tin và lập trình mà chúng ta gây ra cho chính mình. Theo ý định, có thể tương tác với những năng lượng này để cung cấp cho họ những gì họ cần để giải phóng họ khỏi chương trình của họ, do đó thúc đẩy sự cân bằng. Tôi tin rằng do đó có thể ảnh hưởng đến thực tế ảo để trường năng lượng có thể hài hòa hơn với bản chất sâu sắc của bản thể nó.

Vật lý lượng tử có xu hướng chứng minh rằng không gian là một vấn đề sống động, sống động và thông minh. Đó là một lĩnh vực năng lượng thống nhất toàn bộ vũ trụ (ma trận thiêng liêng), mà chúng ta phản ứng lại ở mọi thời điểm trong cuộc sống của chúng ta bằng những suy nghĩ chúng ta có và những cảm giác mà chúng ta cảm thấy.

Bằng cách hiểu ngôn ngữ của cảm xúc con người cho phép chúng ta giao tiếp với lĩnh vực này, chúng ta có quyền chữa lành các tệ nạn ảnh hưởng đến cá nhân chúng ta cũng như chung.

Giọt nước rung ở tần số nó "nghe" bằng cách vẽ các hình dạng hình học. Tần số càng cao, các hình dạng hình học càng mất nhiều có tổ chức, đẹp và phức tạp.

Không thể tin được! hậu quả của những quan sát này là đáng kể: biết rằng chúng tôi gồm có 70% nước

Hãy tưởng tượng những tác động của sóng rung trên mỗi phân tử nước của chúng ta, cho nên toàn bộ cơ thể chúng ta.

Bây giờ, không chỉ âm nhạc là một bộ tần số mà là các từ, người, màu sắc và các hình thức cũng có tần số nhiều hơn hoặc ít thường xuyên hơn.

Tiến sĩ Emoto (ông thực sự là một bác sĩ của y học thay thế) sử dụng một kỹ thuật để đưa vào bằng chứnge khái niệm "bộ nhớ nước". Nó bao gồm nước đóng băng và để chụp ảnh các tinh thể hình thành trong một phân tử nước bị rung động khác nhau: âm nhạc như Mozart, Bach hay Beethoven, những lời cầu nguyện, suy nghĩ hận thù hay tình yêu ...

Bây giờ chúng ta hãy xem một ứng dụng không thể cụ thể hơn trong tất cả các nghiên cứu này với một Chi-lel Qi Gong người đã làm việc với các bệnh viện ở Trung Quốc trong hơn tám năm, và điều trị thành công hơn 180 các bệnh khác nhau.

Trong video mà tôi trình bày cho bạn, bạn sẽ chứng kiến trong thời gian thực sự biến mất của một polyp ung thư của bàng quang bằng cách sử dụng năng lượng quan trọng của Qi và prana (nguyên tắc quan trọng của hơi thở).

Thật tuyệt vời: khối u biến mất trước mắt bạn trong khi các nhà trị liệu hát một từ khóa đã được chọn bởi bệnh nhân và các nhà trị liệu, từ khóa có nghĩa là nó đã được chữa khỏi và nó đã được hoàn thành.

Giải thích: tần số cao (Qi dựa trên tinh thần của ma trận thần thánh) hòa tan vật liệu (khối u) mà chỉ là một sự củng cố của một tần số thấp hơn.

SOURCE: http://www.meditationfrance.com/archive/2014/0706.htm

Nguồn: afrikhepri

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Reiki - một phương pháp chữa lành bằng năng lượng

 



img_0
Reiki gần đây được nhắc đến rất nhiều. Nếu quan tâm đến lĩnh vực năng lượng, chắc nhiều bạn không còn lạ gì về khái niệm Reiki hay kỹ thuật Reiki.  

Vậy Reiki là gì?

Reiki là một kỹ thuật giúp giải tỏa căng thẳng, thư giãn, hỗ trợ chữa lành các bệnh lý trên thân - tâm - trí đến từ Nhật Bản, được thầy Mikao Usui tìm ra vào tháng 3/1922. Reiki được tiến hành bằng cách "đặt tay" và những ký thuật tương tự (đặt sự chú tâm, đặt ánh nhìn bằng mắt - Gyoshi-ho) lên vùng, nơi hoặc không gian/ thời gian mà bạn muốn gửi năng lượng đến đó.
Reiki được thể hiện bởi 2 hán tự Rei và Ki
Rei có nghĩa là sự thông tuệ, trí tuệ tâm linh. Từ "Rei" có định nghĩa là sự "chung nhất", "toàn thể", "vạn vật",... trong tiếng Nhật. Hán tự của từ Rei gồm 3 phần: phần 1 gợi hình ảnh của đám mây với ý nghĩa liên quan đến tâm linh, Đấng chí tôn,.... hay phổ quát nhất là những tầng nhận thức cao nhất - cội nguồn  sáng tạo; phần dưới cùng khắc họa các lớp đất đá thể hiện cho mặt đất trong khi phần giữa tái hiện 3 phần thân - tâm - trí của một con người. Như vậy, trong từ Rei, ta có thể thấy con người chính là cầu nối, là cổng dẫn sự chữa lành, sự thông tuệ được gửi từ "tầng trên" xuống "mặt đất".
img_1

Ki mang ý nghĩa giống từ "Chi" trong tiếng Trung, từ "Prana" trong tiếng Phạn và từ "Ti", "Ki" trong tiếng Hawaii. Khoa học gọi chúng là năng lượng trường sinh học được đo bởi chỉ số bovis. Từ Ki thực chất có vô số tên gọi khác nhau trong các nên văn hóa khác nhau nhưng tựu chung đều chỉ Năng lượng của sự sống, là năng lượng phi vật lý vận hành mọi sinh vật, tương tự như Khí trong thực hành Khí công. Bất cứ thứ gì đang sống đều có Ki chảy qua và vận hành trong đó ở các mức độ khác nhau. Khi sinh vật chết đi, nguồn năng lượng sống không còn ở đó. Nếu năng lượng bạn thấp hoặc dòng chảy tắc nghẽn bạn sẽ dễ mắc bệnh tật hơn, đời sống tinh thần suy giảm hơn và ngược lại. Trong tiếng Nhật, từ Genki có nghĩa là nguồn gốc hoặc khỏe mạnh; Byouki là đau ốm,...
Theo như trên, Reiki là một dạng đặc biệt của Ki. Khi ta nói Reiki tức là ta đang nói về Năng lượng sống đã được điều hướng bởi nhận thức (ý dẫn khí) hay còn gọi là Năng lượng sống được linh hướng. Reiki chính bởi vậy có thể tự điều hướng nó theo nhận thức thông tuệ, đi đến nơi nó cần, thậm chí không cần đến sự điều hướng của người thực hành Reiki. Điều này rất khớp với trải nghiệm của chính mình và những người đã từng tiếp xúc với nó. Khi mình Reiki cho vùng tử cung của bản thân, mình đã nhiều lần kết nối với luân xa 2 của mẹ dù hai mẹ con ở rất xa, đến mức mẹ mình có cảm nhận được và phản hồi lại với mình.
Reiki không phải là phương pháp chữa lành bằng năng lượng duy nhất hiện nay. Về lý thuyết chúng ta đều có sẵn năng lượng chữa lành nhưng Reiki hay bất cứ phương thức nào đều giúp kích hoạt và điều chuyển nguồn sẵn có đó. Khi thực hành Reiki, bạn có thể thấy/ cảm thấy năng lượng chảy qua người một cách dễ dàng, nhìn thấy trường năng lượng sinh học của mình và người khác hoặc sự chuyển động của các luân xa. Reiki là một liệu pháp thuộc lĩnh vực Siêu hình học.
Những năm 1940, nhà nghiên cứu người Nga Semyon Kirlian đã dựa trên hiện tượng phóng điện vầng quang - Corona Discharge phát triển phương pháp chụp ảnh Kirlian để chụp hình thể phách xung quanh sinh vật sống. Phương pháp này đặt vật thể trong một điện trường tần số cao và nối đất. Một tia lửa điện sẽ được phóng ra giữa vật thể và điện cực trong khi 1 đoạn phim được đặt ở giữa. Nhờ vật hình dạng của điện phóng được chụp lại trên phim. Khi vật thể sống, màu sắc hoa văn đẹp mắt được chụp lại rất rõ ràng. Khi thực hành Reiki, chùm năng lượng phát ra từ tay cũng được chụp lại ở hình sau.
img_2
Có rất nhiều dòng/ nhánh Reiki khác nhau và dòng Reiki mình được học, nhắc đến trong bài là Usui Reiki - hệ thống Holy Fire® Reiki. Các dòng khác mình chỉ biết chứ không tìm hiểu và thực hành nên xin phép không nhắc đến ở đây.
Hiện nay, Reiki đã được sử dụng như một phương pháp hỗ trợ tại các bệnh viện. Cuốn "Y học thay thế ở Hoa Kỳ", tạp chí Y học New England 328, số 4 năm 1993, có đề cập rằng: Nghiên cứu được Tiến sĩ David M. Eisenberg của Bệnh viên Israel Beth ở Boston phát hiện cứ 3 người Mỹ thì có một người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bổ sung gồm Reiki chỉ trong năm 1990. Nghiên cứu về Y học Tích hợp và Kết quả tại bệnh viện Hartford ở Hartford, Connecticut (giai đoạn 12/1999 - 12/2000) chỉ ra Reiki cải thiện giấc ngủ của bệnh nhân lên 86%, giảm đau tới 78%, giảm buồn  nôn 80% và giảm lo lắng khi mang thai 94%. 
Reiki khi thực hành thuần theo kỹ thuật sẽ không gây bất cứ nguy hại nào. Năng lượng sống luôn có sẵn và chảy trong ta, Reiki chỉ giúp phân bổ hoặc đưa năng lượng đến đúng nơi nó cần đến. Người thực hành Reiki không chỉ đạo, không được ép buộc và tuyệt đối không được trao Reiki nếu người nhận không sẵn lòng đón. Vì vậy, nó không làm nguy hại đến người thực hành lẫn người nhận. Ngay cả trong suy nghĩ, hành động trao Reiki, người thực hành cũng được dạy về sự thả lỏng và tin vào năng lượng Reiki sẽ đến đúng nơi nó cần, dành cho người đã sẵn lòng đón nhận nó. Lưu ý là Reiki không được khuyến khích dùng trong trường hợp khẩn cấp hoặc nguy kịch,...

Các cấp độ của Reiki

Holy Fire® Reiki có 3 cấp độ chính thức được đánh số I, II và III. Để thực hành cấp độ 3, bạn phải là Reiki Master.
Cấp độ I, người thực hành được hỗ trợ thanh lọc/ thanh tẩy hay còn gọi là quá trình tự chữa lành. Sau đó, Reiki Master hướng dẫn của bạn sẽ "kích hoạt năng lượng" (một số tài liệu gọi đây là quá trình Hòa hợp - Reiki được trao và truyền dẫn bên trong bạn như một chồi non). Lúc này, bạn có thể thực hành Reiki cho chính mình và người khác thông qua việc "đặt tay" theo hướng dẫn đồng thời khởi ý niệm: Tôi gửi năng lượng Reiki đến vị trí này trên cơ thể tôi/ thông qua đôi bàn tay, tôi gửi năng lượng Reiki tuôn chảy trong người này/ công việc này. Bạn có thể gửi Reiki đến cả một sự vật, một món quà, chuyến đi hoặc sự kiện quan trọng nào đó trong tương lai.
Lên cấp độ II, người thực hành học cách sử dụng các biểu tượng Reiki để nguồn năng lượng gửi đi mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Cấp độ này cũng trải qua quá trình chữa lành, kích hoạt như cấp độ 1. Tuy nhiên, nếu cấp độ 1 bạn thực hành bằng cách truyền dẫn ngay lập tức thì cấp độ 2 sẽ trải qua bước kích hoạt các biểu tượng (mình sẽ giới thiệu 3 biểu tượng chính ở phần tiếp theo). Người thực hành ở cấp độ 1 & 2 được gọi là Reiki Healer hoặc Reiki Practitioner. Họ có thể sử dụng Reiki để chữa lành cho bản thân, hỗ trợ người khác trong các lĩnh vực cần thiết như: Thể chất (chứng mất ngủ, căng thẳng, khó có con,....); Tinh thần & Năng lượng (Cân bằng năng lượng, hỗ trợ thuận lợi cho công việc,...).
Với cấp độ III - Reiki Master, người thực hành Reiki cần thành thạo Reiki I, II và Nâng cao. Để được công nhận là Reiki Master, bạn sẽ trải qua quá trình kích hoạt cấp độ master với biểu tượng master và phải dạy ít nhất 1 người. Nếu chưa dạy mà đã được kích hoạt, bạn chỉ là người thực hành cấp độ III chứ chưa được xem là Reiki Master. Khi thực hành ở cấp độ III, khác với cấp độ I & II, bạn có khả năng kích hoạt reiki ở người khác và có đủ điều kiện để tổ chức giảng dạy. Trước khi tham gia khóa đào tạo Reiki Master, bạn cũng cần xét duyệt rất kỹ về khía cạnh đạo đức. 
Trên thực tế, có một cấp độ (đúng hơn là một nhánh khác) tên ;à Holy Fire® III Karuna Reiki). Đây là một chương trình nâng cao củng cố năng lượng chữa lành và cho phép tác động nhanh hơn, sâu hơn hiệu quả hơn với 8 biểu tượng, chia làm 2 cấp. Chương trình đào tạo có chứng chỉ này kéo dài ít nhất 3 năm, gồm: Reiki I & II, Reiki Nâng cao, Reiki Master và Karuna Reiki Master - xét duyệt tại từng lớp, làm kiểm ra viết, viết luận và ghi chép ít nhất 100 phiên Reiki hoàn chỉnh. Để tiếp tục giữ chứng chỉ, các giáo viên cũng cần duyệt lại hàng năm, nộp lại tờ nhận xét lớp học từ các học viên và đồng thuận với bộ quy tắc đạo đức, chủ đề yêu cầu trong mỗi lớp.

Những biểu tượng Reiki

Nếu chưa được chữa lành và kích hoạt Reiki theo đúng kỹ thuật, các biểu tượng này thực ra không có ý nghĩa gì nhiều. Người thực hành Reiki được yêu cầu bảo mật với các biểu tượng không phải vì những lý do mang tính chất "huyền cơ" cao siêu mà để thể hiện sự tôn trọng với người tìm ra chúng.
Ở đây mình sẽ không chia sẻ hình ảnh nhưng giới thiệu 03 biểu tượng được sử dụng ở cấp độ II của Reiki nhé. 

Biểu tượng Choku Rei - Sức mạnh

Trong tiếng Nhật, tên biểu tượng này có nghĩa là Như vậy đi/ Theo thiên mệnh (bắt nguồn từ đạo Shinto) nhằm chỉ sự tin tưởng và giao phó cho dòng chảy sự sống. Choku Rei trong Reiki được dùng để tăng cường sức mạnh của Reiki hoặc để tập trung Reiki vào một vị trí cụ thể. Ngoài ra, nó cũng dùng để khóa không gian năng lượng, ngăn không cho năng lượng bị thất thoát đi.
Nó cũng được dùng để tạo ra sự bảo vệ hoặc thanh tẩy không gian năng lượng của nơi/ sự vật bạn muốn tác động. Mình thường dùng Choku Rei để khóa năng lượng sau mỗi phiên Reiki, thanh tẩy sau các Healing Session/ xem bài. Đôi lúc, theo hướng dẫn của giáo viên, mình dùng biểu tượng này để bảo vệ bản thân và người thân trong các chuyến đi xa, nhà cửa khi mình vắng mặt. Reiki hoạt động ở mọi cấp độ nên có thể bảo vệ ở cấp độ vật lý lẫn tổn hại từ ngôn ngữ, tinh thần hoặc các tấn công về mặt năng lượng tâm linh.
Một ứng dụng khác của Choku Rei là gửi niệm lành đến người nhận quà hoặc lời chúc phúc tới người/ sự vật mà bạn muốn.

Biểu tượng Sei Heki - Tâm trí/ cảm xúc

Ý nghĩa của biểu tượng này là Tình yêu và Sự hài hòa. Nó được dùng để chữa lành các thói quen xấu về tâm trí và cảm xúc. Nó giúp cân bằng não trái và não phải mang đến sự bình an nội tâm. Nó đặc biệt hiệu quả trong việc chữa lành các mối quan hệ cũng như các rối loạn tâm lý như lo âu, sợ hãi, đau buồn,.... Về mặt tâm linh, năng lượng này được quan sát có dạng bong bóng xuất phát từ luân xa 4 - luân xa tim của người thực hành chữa lành cảm xúc và luân xa 3 - tùng thái dương của người thực hành chữa lành tâm trí. Đôi lúc chúng cùng đi từ 2 vị trí này.
Ứng dụng của Sei Heki thường được tìm thấy trong việc chữa các chứng "nghiện" như giảm cân, hút thuốc, rượu bia và chứng hay quên (quên chìa khóa, quên tên,....). 
Với các bạn đã từng thực hành Luật hấp dẫn bằng các Postitive Affirmations (khẳng định tích cực), Sei Heki thực sự giúp chúng in sâu vào tiềm thức hơn và mang lại kết quả nhanh hơn.
Ngoài ra, Sei Heki đã được các bạn đồng khóa của mình ứng dụng cho việc học hành của con cái, thi cử của họ rất thành công. Mình cũng đang dùng Sei Heki cho việc học lên Reiki Master trong thời gian tới ^^.
Để dùng biểu tượng này cho những chứng "nghiện", bạn có thể gửi Reiki đến trạng thái đó hoặc viết mong muốn ra giấy rồi thực hành Reiki với mẩu giấy đó.

Biểu tượng Hon Sha Ze Sho Nen - Chữa lành từ xa

Đây là biểu tượng mà mình dùng rất nhiều trong các phiên online, hỗ trợ bố mẹ và bà nội khi mắc cảm hoặc nhiễm bệnh. Biểu tượng này được dùng để truyền Reiki đến các không gian/ thời gian nằm ngoài nơi người thực hành đang hiện diện. Khi kích hoạt biểu tượng này xong, bạn có thể gửi Reiki đến người đang đi đường, một người cách bạn ngàn cây số hoặc chính bạn ở một sự kiện quan trọng nào đó ở tương lai. Mình đã từng gửi Reiki đến chính mình trong quá khứ để xoa dịu tổn thương của đứa trẻ đó. Điều đó đã giúp mình thông suốt vấn đề tự ti của bản thân ở thực tại rất nhiều.
Có nhiều cách sử dụng Reiki với biểu tượng này như dùng ảnh của người nhận Reiki, thú bông thay thế,... Tuy nhiên, mình đơn giản chỉ là nghĩ về người nhận Reiki và gửi năng lượng đến đó. Có những lần mình Reiki cảm thấy được cơn đau cột sống và gáy của bà nội đến mức phát khóc. Mình kiên nhẫn 1 tiếng đồng hồ reiki cho bà và sáng hôm sau bà báo là đã đỡ hơn rất nhiều.
Để kích hoạt các biểu tượng, bạn được yêu cầu vẽ chúng trong không khí trước mặt hoặc phí trên/ gần với khách hàng. Bạn cũng có thể chọn cách vẽ trên lòng bàn tay của mình trước khi đặt tay và nên vẽ tràn lòng bàn tay bao gồm các ngón đã duỗi thẳng. Ngoài cách này, mình cũng hay dùng cả bàn tay để vẽ. Chủ đích chính là dùng luân xa bàn tay - luân xa của sự tạo tác (ở giữ lòng bàn tay) để vẽ.
img_3
Fact nhỏ là khi reiki cho thú cưng, chúng nó thích mê và quấn mình lắm.

Chạm để chữa lành - có gì trong một phiên Reiki

Để thực hành một phiên Reiki hoàn chỉnh, người thực hành sẽ làm các bước:
- Thực hành Thiền Gassho để kích hoạt luân xa tay và tim. Chúng mình ngồi ở tư thế thiền chuẩn, hay tay đặt vào nhau sao cho các ngón tay và tâm bàn tay áp sát. Hai ngón cái hướng về hõm ngực nơi có luân xa tim, nhắm mắt, đưa sự tập trung vào không gian hình tam giác nối 2 luân xa tay và luân xa tim. Nhẹ nhàng nhận biết các luồng suy nghĩ và đặt sự tập trung cao độ vào khu vực tam giác đó trong 5 đến 10 phút.
- Trong lúc thực hành Thiền Gassho, chúng mình cũng thực hành Reiji-ho bằng cách nói lời cầu nguyện, cảm tạ với nguồn Reiki và yêu cầu nó bắt đầu tuân chảy. Chúng mình cũng có thể chuyển hai ngón cái từ tim lên luân xa con mắt thứ 3 để xin chỉ dẫn đặt tay hay hướng dẫn trị liệu.
- Và để bắt đầu trị liệu Chiryou, chúng mình sử dụng phương pháp quét năng lượng Byosen để kiểm tra các vùng mất cân bằng năng lượng trên cơ thể. Thường thì chỉ cần đặt tay cách cơ thể 5cm là có thể cảm nhận được năng lượng ở vùng đó. Người thực hành quét từ đỉnh đầu đến mũi bàn chân và nhận biết các vùng bất ổn thông qua màu sắc quan sát được hoặc sự chuyển động năng lượng cảm nhận qua bàn tay.
- Sau khi xác đinh, người thực hành bắt đầu kích hoạt các biểu tượng hoặc yêu cầu Reiki tuôn chảy vào các vị trí cần cho đến lúc quét lại thấy không gian năng lượng đã ổn định hơn.
Không có thời gian quy ước cho mỗi phiên Reiki, có những phiên được thực hiện rất nhanh khi người thực hiện cảm nhận được sự ổn định nhưng cũng có những phiên mất cả tiếng đồng hồ hoặc hơn.
Sau mỗi phiên Reiki, người thực hành cần tiến hành thanh tẩy năng lượng bằng Kenyoku hoặc tự Reiki cho bản thân mình, tránh bị ảnh hưởng trong quá trình giao thoa năng lượng với khách hàng.

Làm sao để nhận được Reiki?

Ngoài việc đăng ký các phiên Reiki với Reiki Healer hoặc Reiki Master, mình khuyến khích các bạn nếu có điều kiện nên đi học Reiki từ cấp độ đơn giản nhất. Reiki là một kỹ thuật không quá khó nên bạn đừng quá lo lắng mình có năng lực tâm linh hay không. Reiki được trao cho bạn như một chồi non và tùy vào sự chăm sóc, thực hành của bạn, nó thậm chí có thể biến thành một cây đại thụ vững chãi.
Một người mình quen cũng chia sẻ cách để Reiki đi vào bạn đó mà chưa đi qua quá trình kích hoạt là luyện tập các phương pháp hít thở, pilates và yoga kết hợp. Những bạn đã từng học về Khí công cũng chia sẻ sự tương đồng trong trải nghiệm giữa 2 phương pháp này.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tổng kết muôn kiếp nhân sinh

 


30 BÀI HỌC ĐÚC KẾT TỪ  CUỐN SÁCH " MUÔN KẾP NHÂN SINH 2 "


1.


“Tất cả những gì hướng ra bên ngoài đều không mang lại kết quả lâu dài được, bởi vì hiểu biết thật sự phải đến từ bên trong. Khi thế giới bên ngoài biến động lớn đến mức không còn điểm tựa nào nữa thì chính là đến lúc chúng ta buộc phải quay vào bên trong.”


2.


“Bất cứ ai một khi đã gây nhân ắt sẽ có quả nhưng khi nào nhân trổ quả thì còn tùy thuộc vào lực chiêu cảm, hành vi tiếp theo và công đức của mỗi người. Chính vì vậy, số phận con người không bao giờ cố định mà luôn luôn thay đổi tùy theo tâm thức và sự thức tỉnh của người đó. Khi con người có thêm hiểu biết, có nhận thức mới và quyết tâm thay đổi từ tâm thức, thay đổi suy nghĩ, lời nói và hành động, thì khi đó con người mới có thể cải biến được số mệnh.”


3.


“Nếu chúng ta có thể cùng nhau chuyển hóa những tư tưởng thù hận, tham lam, ích kỷ bằng những tư tưởng cao thượng, tốt lành, chuyển hóa các hành động ác, giết chóc bằng tình yêu thương rộng lớn thì tất cả mọi việc đều có thể thay đổi. Một khi mỗi cá nhân có thể sửa đổi nghiệp quả của mình bằng cách làm việc thiện lành thì một tổ chức hay một quốc gia cũng có thể làm như vậy để chuyển nghiệp và có sự thay đổi tốt đẹp hơn.”


4.


“Từ chối làm một việc ác cũng chính là thực hiện một việc thiện lành. Khi con người nhận thức được cái gì là xấu thì cũng là lúc họ biết thế nào là đẹp. Khi tri thức nhận loại ngừng hướng đến những dục vọng ích kỷ, thấp hèn thì sẽ hướng đến những điều thiêng liêng, cao quý. Khi đó tri thức nhân loại sẽ xoay chiều, chuyển hướng vào bên trong, hòa hợp với tâm linh, đem lại sự toàn diện cho tâm thức. Khi tâm thức thay đổi, mọi sự sẽ thay đổi.”


5.


“Sự truy cứu đến cùng của luật Nhân – Quả đối với những hành động bất lương của con người là tất yếu sẽ xảy ra. Có những người từng uy quyền, giàu sang nhưng giờ đã trắng tay, thậm chí có người còn rơi vào vòng lao lý. Ngẫm lại thì họ đều từng sử dụng thủ đoạn hại người, chiếm đoạt, lừa gạt nhằm mưu lợi cho mình. Luật Nhân – Quả của Vũ Trụ luôn vận hành chính xác và nghiêm minh.”


6.


“Không phải cứ mặc sức làm điều độc ác, hại người, lợi mình, rồi sau đó vì sợ trừng phạt của luật Nhân – Quả nên vội vàng bỏ tiền bỏ của ra làm những việc công đức nặng tính hình thức là có thể xóa đi nghiệp ác hay báo ứng được. Nếu không có sự xuất phát từ suy nghĩ, hành động thiện tâm thì không một ai trên đời có thể thay đổi được nghiệp quả.”


7.


“Nghiệp quả không phải là số mệnh đã được định đoạt trước. Đó là những động lực theo thời gian sẽ xảy ra và chúng ta có thể tạo ra các động lực mới để sửa đổi chiều hướng của nó, khiến việc dữ có thể hóa lành.”


8.


“Nếu con người sống hòa thuận với thiên nhiên, không còn giết chóc, bỏ thói tham lam, tiêu trừ sự ích kỷ, thói kiêu căng thì có thể tạo ra các năng lượng chuyển hóa lan tỏa mạnh mẽ. Các dịch bệnh tai ương hiện nay chính là những dấu hiệu cảnh cáo nhân loại rằng đã đến lúc phải thay đổi. Điều quan trọng nhất là chúng ta cần nhận thức được đây là cộng nghiệp chung của nhân loại và chúng ta đều là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Hãy bắt đầu bằng cách thay đổi chính mình.”


9.


“Giúp người, bố thì, làm việc thiện không nên là hành vi nhất thời để mong cứu vãn nghiệp họa nào đó cho bản thân. Đó phải là sự giác ngộ, thức tỉnh sâu sắc trong tâm hồn để chuyển hóa thành hành vi thiện nguyện từ tâm. Chúng ta làm điều tốt vì điều đó tốt đẹp chứ không phải vì danh hay mong muốn nhận lại được điều gì đó tốt cho bản thân. Từ đó, nghiệp và số mệnh mới có thể chuyển biến.”


10.


“Khi qua đời, con người rời bỏ xác thân vật chất và hiện hữu dưới hình thức khác gọi là thân trung ấm (Bardo) hay vong linh (Spirit). Đây là trạng thái trung gian giữa cái chết và lần tái sinh tiếp theo. Thứ duy nhất thật sự hiện hữu là tàng thức, nó là căn bản của sự tồn tại, là nền móng của mọi tâm thức. Mọi tư tưởng, lời nói, hành động trong một kiếp sống dù tốt hay xấu, đều tạo ra nhân hay chủng tử, được lưu trữ trong tàng thức không bao giờ mất đi.”


11.


“Chúng ta có thể không phải là những người hùng nhưng chúng ta vẫn có khả năng góp phần vào công cuộc cứu lấy thế giới này. Tất cả chúng ta đều phải bắt đầu chuyển đổi tâm thức, chia sẻ, lan tỏa nhận thức mới, yêu thương, hàn gắn và chữa lành. Trong giai đoạn này, chỉ khi hết lòng hành thiện như vậy, nhân loại mới có thể có một tương lai tươi sáng.”


12.


“Chúng ta không thể thay đổi ngay được cộng nghiệp của quốc gia nhưng hoàn toàn có thể thay đổi biệt nghiệp của cá nhân tùy theo sự thay đổi tâm thức và hành động hướng thiện của chúng ta trong lúc này.”


13.


“Con người giống như một cỗ máy vận hành năng lượng bằng tư tưởng, lời nói và hành động. Khi suy nghĩ, nói ra điều gì, hay làm gì ta đều phát ra một luồng năng lượng vào không

gian, nó va chạm với các năng lượng khác, làm mất đi sự cân bằng vốn có. Do đó Vũ Trụ tự động phản ứng ngược lại để tái lập lại sự cân bằng. Nói một cách khác, tư tưởng, lời nói, hay hành động của ta cũng đều là những năng lượng – đó là Nhân gây mất cân bằng nên sẽ gặp phản lực ngược lại – đó chính là Quả.”


14.


“Mỗi hành động của chúng ta đều tạo ra một năng lượng tương ứng. Khi chúng ta chọn những hành động mang lại niềm vui và thành công cho người khác, Nhân – Quả sẽ mang lại thành công và hạnh phúc cho chúng ta.”


15.


“Nhân quả trong Vũ Trụ vô cùng phức tạp. May cũng như rủi, tốt cũng như xấu, đều nối kết với nhau, được cái này thì mất cái khác. Do đó, càng ham muốn nhiều thì người ta càng đau khổ nhiều.”


16.


“Trí thức hiện nay là hướng ngoại, là sự suy luận, phân tích, tính toán và phân biệt. Tuy nhiên tâm thức con người không phải chỉ là tri thức mà còn có phần khác, ta tạm gọi là tâm linh. Tâm linh là yếu tố sáng suốt, thanh khiết, mỹ lệ, là phạm trù của tình thương yêu và sáng tạo vượt ra khỏi điều kiện giới hạn của thời gian và không gian. Người ta chỉ có thể nhận diện và phát triển được tâm linh khi tâm thức hướng ngoại được xoay chiều, quay vào bên trong.”


17.


“Tất cả mọi người trên đời đều ít nhiều có duyên – nợ với nhau. Nghiệp quả của bất kỳ một ai dù nặng đến đâu vẫn có thể được giảm bớt nhờ sự hiểu biết, thức tỉnh và phát triển tình thương. Khi chúng ta bắt đầu hành thiện thì sẽ tạo ra những động lực mới, thay đổi nghiệp lực cũ, cải thiện số phận của chính mình. Từ đó sẽ lan tỏa những điều tốt đẹp đến nhiều người và có thể dần chuyển đổi cộng nghiệp chung.”


18.


“Tất cả sự gặp gỡ trong đời của chúng ta đều do nhân duyên được thu xếp từ trước qua luật Nhân – Quả. Mỗi nhân duyên gặp gỡ ai đó đều chứa những bài học mà con người cần phải học, vì người ta gặp nhau là để học hỏi lẫn nhau. Có khi là bài học về hạnh phúc, có khi là bài học về sự đau khổ. Có khi gặp nhau để trả nợ, có khi gặp nhau để nối lại duyên xưa. Qua những bài học này, con người sẽ học những bài học cần thiết cho mình, biết đâu là điều cần làm để thay đổi, để chuyển hóa, để phát triển lên mức độ hiểu biết cao hơn.”


19.


“Trong giới kinh doanh, hầu như ai cũng từng nghe đến câu “Phù thịnh chứ không phù suy”, câu nói thể hiện rõ rệt tinh thần trọng vật chất, đề cao lợi nhuận của ngành này. Nhưng với những hiểu biết về luật Nhân – Quả, tôi đã nghiệm được riêng cho mình một câu khác “Trời phù thiện lương, không phù tham ác.” Kinh doanh thẳng thắn, trung thực dẫu có thể không giúp chúng ta đạt được nhiều lợi nhuận trước mắt, nhưng đó là con đường tươi sáng lâu dài. Con đường đó chỉ có thể được dẫn lối bằng sự trung thực và thiện lương – không thể có chỗ cho sự tham lam, ích kỷ và gian trá.”


20.


“Chúng ta đều là phần tử của một sự sống vĩ đại hay còn gọi là chân ngã, thuộc về một năng lượng khởi thủy uyên nguyên, được sắp đặt khéo léo bởi những định luật trong Vũ Trụ. Trải qua muôn vàn kiếp sống, con người đã từng lầm đường lạc lối vì tự cho mình là thực thể riêng biệt, có tự ngã, độc lập khỏi những quy luật của Vũ Trụ.”


21.


“Khi không bị thế giới bên ngoài lôi kéo thì ta sẽ đạt được trạng thái định và trong tâm thức bất động, vô vi đó sẽ khởi lên một tình thương bao la vô bờ bến. Tình thương thật sự chỉ hiện diện ở cái tâm không còn tư dục.”


22.


“Đừng bao giờ tự mãn về những gì chúng ta đã biết. Bể học mênh mông, còn vô số điều chúng ta chưa biết. Cái biết có thể che cái thấy. Do đó, ta cần tránh những thành kiến hẹp hòi mà nên biết quan sát mọi việc, mở rộng tầm nhìn, sẵn sàng trải nghiệm, học hỏi những điều mới mẻ.”


23.


“Dù là một người bình thường hay một nhân vật lừng danh, chúng ta từ khi sinh ra cho đến hiện tại đều mang theo mình đủ mầm thiện, ác đan xen. Và chính bản thân chúng ta sẽ là người quyết định hạt mầm nào được đâm chồi nảy lộc, đơm hoa, kết trái. Chính suy nghĩ và hành động của chúng ta – chứ không phải của bất kỳ ai khác – tạo nên số phận của chúng ta "

24.


“Điều nhân loại đang cần là sự phát triển về phương diện tâm linh sâu sắc, để hoàn thiện sự tiến bộ của tri thức. Nền tri thức duy vật hiện nay là hướng ngoại, là sự suy luận, phân tích, tính toán và phân biệt. Hướng đến tâm linh là hướng đến sự hiểu biết mang tính minh triết, thanh khiết, là phạm trù của yêu thương và sáng tạo vượt ra khỏi điều kiện giới hạn vật lý của thời gian và không gian. Người ta chỉ có thể thức tỉnh và phát triển được tâm linh khi tâm thức hướng ngoại được xoay chiều quay vào bên trong. Đây là giải pháp quan trọng và rất cần thiết trong gian đoạn hiện nay.”


25.


“Trong cuộc đời mỗi con người, đôi khỉ chỉ cần chúng ta dám đặt câu hỏi và dám đi tìm tận cùng câu trả lời thì chúng ta sẽ bước vào một hành trình khám phá có thể làm thay đổi hoàn toàn nhận thức và ý nghĩa cuộc sống. Vì cuộc sống chính là hành trình trải nghiệm, học hỏi không ngừng, bất tận. Mỗi một giờ khắc trôi qua, thế giới lại sản sinh ra hàng triệu điều mới mẻ. Những ai ngừng học hỏi, khám phá sẽ đi đến sự thiếu hiểu biết, bảo thủ, định kiến, lỗi thời.”


26.


“Kiến thức giúp chúng ta tranh luận và thuyết phục bằng những lý lẽ xác đáng nhưng sẽ không thực sự cảm hóa được người khác, vì nó không thực sự thu phục được nhân tâm, không xâm nhập vào tâm hồn con người được. Chỉ có những gì đi từ trái tim mới đến được trái tim người khác.”


27.


“Kiến thức, học vấn khác hẳn với minh triết. Người học nhiều bằng cấp, có kiến thức nhiều không hẳn đã tài giỏi uyên bác thông thái hơn người. Người càng ỷ lại, cho rằng mình học nhiều thì càng bám chặt lấy các ý tưởng giới hạn của mình và thường tỏ ra thiếu khoan dung, đồng cảm với suy nghĩ của người khác. Người giỏi lý luận thường thích tranh luận, cãi vã, bất đồng ý kiến với người khác theo suy nghĩ hơn là biết lắng nghe, khám phá và cảm thông.”


28.


“Các quy luật cơ bản của Vũ Trụ đều rõ ràng và dễ hiểu, chỉ vì các giác quan của chúng ta bị giới hạn nên không thể thấu tỏ hết các quy luật đó. Tạo hóa luôn có khuôn thức.”


29.


“Mọi việc xảy ra trong Vũ Trụ chính là sự chuyển hóa của năng lượng qua nhiều hình thức, có khi rõ ràng và có khi khó nhận biết. Bất kỳ suy tưởng, lời nói hay hành động nào của chúng ta đều phát ra một luồng năng lượng vào không gian, nó tác động vào năng lượng khác, làm mất sự cân bằng sẵn có. Do đó, Vũ Trụ phải phản ứng ngược lại để tái lập sự cân bằng. Mọi tư tưởng, lời nói hay hành động của ta đều tạo ra những kết quả ảnh hưởng đến chính ta và những người xung quanh.”


30.


“Những biến động chưa từng có gần đây đã xảy ra đồng loạt khắp mọi nơi, rất khó giải thích được nếu chỉ dựa vào khoa học. Không cần phải là nhà tiên tri cũng có thể thấy những tai ương đang ập đến hành tinh này mỗi lúc một dồn dập, nhanh hơn. Sóng thần, động đất, bão tuyết, khô hạn, lũ lụt, cháy rừng, đại dương nhiễm độc, băng tan ở hai đầu cực, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, những chia rẽ, bạo lực, xung đột…ngày càng hiện rõ khốc liệt hơn. Tương lai sắp tới có lẽ sẽ rất khác, thế giới sẽ không giống như ngày hôm qua. Để thực sự góp phần cứu vãn – nhất thiết phải cảnh báo, thức tỉnh càng nhiều người càng tốt – chúng ta cần phải chuyển đổi tâm thức, chia sẻ yêu thương, giảm biệt nghiệp mỗi người, cộng nghiệp quốc gia càng sớm càng tốt.”


Tương tự như thế gian này không có điều gì là bí mật, tất cả đều có trời đất chứng giám, “Muôn kiếp nhân sinh” của GS John Vu – Nguyên Phong, tác phẩm của thời đại sẽ đồng

hành giúp độc giả thấu hiểu và khám phá trọn vẹn thế giới xung quanh, hiểu về năng lượng Nhân quả để thực sự hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn – cho tương lai – và mãi sau này.


Nguồn Menback.com

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Quy trình cân bằng năng lượng


 QUY TRÌNH CÂN BẰNG NĂNG LƯỢNG III


Quy trình thiền định này đòi hỏi phải làm việc trực tiếp hơn với các vị Nghiệp Quả Tinh Quân Sau mỗi các bước thanh lọc, các vị Chúa Tể Nghiệp được yêu cầu chữa lành thông qua các Cấp độ Bên ngoài (Lưới Tâm trí, DNA, Hợp đồng Nghiệp quả, cấp độ Linh hồn Cốt lõi và hơn thế nữa), và từ bên dưới trung tâm Trái đất đến ngoài Khoảnh khắc Tự tính. Bạn có thể nhận được câu trả lời "có” hoặc "không" cho các yêu cầu này. Khoan hãy yêu cầu niêm phong vào Ánh sáng và hướng đến sự bảo vệ, mà bạn có thể làm như vậy một khi bạn đã thực hiện quá trình nhiều lần. Các vị Chúa Tể Nghiệp Quả sẽ cho bạn biết khi bạn có thể làm điều này. Hãy hỏi họ hết lần này đến lần khác xem bạn đã sẵn sàng chưa, nhưng đừng tiếp tục cho đến khi họ bảo bạn được phép. Kết thúc quy trình làm việc với các vị thông thường (tất cả các cấp độ và tất cả các thể,...) là không cần thiết cho quá trình này.


Định dạng cho quy trình thiền này khác với các định dạng khác trong loạt Cân Bằng Năng lượng Thiết Yếu®. Sau khi yêu cầu căn chỉnh các thể năng lượng, bắt đầu bước hai đến chín bằng cách yêu cầu các vị Chúa Tể Nghiệp làm sạch, chữa lành, căn chỉnh, mở rộng, kích hoạt, đồng bộ hóa, lấp đầy với Ánh sáng, sửa chữa và kết nối lại từng mục. Khi năng lượng chạm đến chân bạn, yêu cầu sự chữa lành thông qua bốn Cấp độ Bên ngoài, và sau đó thông qua Khoảnh khắc Tự tính cho từng bước, bao gồm bước đầu tiên. Nếu bạn nhận được câu trả lời là  “không" nhiều lần, hãy dừng lại và xóa nó. Sau khi yêu cầu và được cho phép thanh tẩy thông qua Khoảnh khắc Tự tính cho từng thành phần, hãy yêu cầu sự chữa lành đầy đủ, hoàn toàn, vĩnh viễn và mãi mãi cho mỗi thành phần.


Trong quá trình này, yêu cầu làm sạch, chữa lành, căn chỉnh,... tất cả các nguyên mẫu cùng một lúc, thay vì từng mẫu một. Yêu cầu làm sạch, chữa lành, căn chỉnh,... mỗi thể năng lượng và quãng tám bên ngoài của nó cùng một lúc. Các thể tinh thần, thiên hà và nhân quả được bao gồm trong một yêu cầu. Thể trí và Lưới Tâm trí là một yêu cầu riêng biệt. Yêu cầu thể cảm xúc, thể cảm dục và Thể Cảm dục Sinh đôi cùng một lúc, và cho thể hồng trần, thể dĩ thái và Khuôn Dĩ thái cùng một lúc. Lần này, các luân xa khác nhau ở mỗi cấp độ không được yêu cầu riêng lẻ, mà một yêu cầu cho tất cả chúng cùng nhau. Tất cả các Thể Năng lượng cũng được làm sạch, chữa lành, căn chỉnh,... cùng lúc. Khi quá trình kết thúc, bạn có thể kêu gọi các Thể Năng lượng của mình nếu muốn.


Thành phần năng lượng mới cho quá trình này là các máy biến áp năng lượng. Trong các hệ thống điện của Bản thể chúng ta, có nhiều sự kiểm soát để giảm toàn bộ năng lượng của chúng ta để nó có thể được chứa trong thể hồng trần. Những máy biến áp này, hoặc chính xác hơn là các quá trình biến đổi, đôi khi có thể cần thanh tẩy và đôi khi cần phải được sửa chữa. Nhiều loại hư hỏng Linh hồn Cốt lõi khác nhau có thể khiến các máy biến áp này gặp trục trặc. Chúng được chữa lành vĩnh viễn  bằng yêu cầu đơn giản.


Quá trình này di chuyển rất nhanh một khi bạn nắm bắt được nó, và chỉ mất vài phút để làm. Đừng vội vàng niêm phong các yêu cầu vào Ánh sáng - dành thời gian cho việc chữa lành hoàn toàn ở mỗi cấp độ diễn ra. Bạn đã yêu cầu thực hiện làm sạch, chữa lành, sắp xếp,... vĩnh viễn ở mỗi cấp độ và điều này cần một chút thời gian để có hiệu lực và hoàn thành. Mặc dù Quy trình III có vẻ tương tự như các bài thiền trước đây, nhưng không phải vậy. Các yêu cầu đang dần trở nên gia tăng lúc này - bạn đang yêu cầu lần đầu tiên cho sự chữa lành vĩnh viễn. Bước này quan trọng hơn là vẻ ngoài của nó.


Cũng như các bài thiền Cân bằng Năng lượng khác, quy trình này được thực hiện tốt nhất khi nằm trên giường vào buổi tối trước khi ngủ. Nhớ nằm ngửa, với cánh tay và chân thả lỏng duỗi thẳng và dang ra. Mỗi bước được hoàn thành khi bạn cảm thấy năng lượng chạm đến chân của mình. Các bước phải được thực hiện theo thứ tự và sử dụng từ ngữ chính xác được đưa ra trong văn bản. Ba bài thiền đầu tiên được thiết kế chủ yếu để làm sạch năng lượng của bạn. Quá trình tiếp theo bắt đầu neo giữ vào Thể Năng lượng và đưa chúng đến sự hợp nhất và thăng thiên.

- Trích dẫn bộ sách chữa lành của cô Diane Stein

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

MỞ LUÂN XA TRÁI TIM CỦA BẠN

 


Mở đầu sức mạnh cảm xúc của trái tim để thay đổi

Có bảy trung tâm năng lượng hoặc tâm linh lớn chiếu khắp cơ thể, cả trước và sau. Đây được gọi là các Luân Xa, một từ tiếng Phạn có nghĩa là bánh xe. Mỗi Luân Xa là một trung tâm năng lượng khác nhau để được chuyển đổi và liên kết bên trong cơ thể bạn. Luân Xa cơ thể bắt đầu ở phần xương cột sống của bạn và chạy đến đỉnh đầu của bạn. Luân Xa được nhìn thấy trong đôi mắt thăng hoa hoặc tâm linh đôi khi là những vòng tròn màu, ống khói, hoa, hoặc như một cánh đồng xung quanh một phần của cơ thể.

Các trung tâm năng lượng này có tần số rung động và cũng có thể được nghe thấy rõ ràng.

Trung tâm của tình yêu thương vô điều kiện

Trong hệ thống năng lượng con người của bạn, trung tâm tình yêu không điều kiện nằm ở trung tâm ngực của bạn. Đây là Luân Xa thứ tư của bạn. Nó điều chỉnh hệ tim mạch và hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, cánh tay, vai, bàn tay, màng, sườn / ngực và tuyến ức.

Các vấn đề trong Luân Xa trái tim

Nhiều vấn đề về tình yêu, đau khổ, sân hận, sân hận, ghen tuông, sợ hãi về sự phản bội, cô đơn, cũng như khả năng Trị liệu cho bản thân và người khác, được tập trung vào Luân Xa thứ tư.

Từ vị trí ở giữa cơ thể Luân Xa thứ tư là sự cân bằng giữa cơ thể và tinh thần của bạn. Luân Xa này là trung tâm tình yêu vô điều kiện. Tình yêu vô điều kiện là một năng lượng sáng tạo và mạnh mẽ có thể hướng dẫn và giúp chúng tôi vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất. Năng lượng này có sẵn trong bất kỳ thời điểm nào, nếu chúng ta chú ý đến nó và sử dụng nó để giải phóng chúng ta khỏi những giới hạn và nỗi sợ hãi của chúng ta.

Hãy hỏi bản thân những câu hỏi sau:

Những kỷ niệm cảm xúc nào tôi cần phải chữa lành?

Những mối quan hệ hiện tại hay quá khứ đòi hỏi phải Trị liệu?

Liệu những vết thương tình cảm của tôi có tiếp tục, khiến tôi thử và kiểm soát mọi người hay những tình huống xung quanh tôi?

Tôi có cho phép vết thương của người khác kiểm soát tôi không? Làm thế nào để tôi để điều đó xảy ra?

Tôi cần phải tha thứ cho bản thân mình như thế nào? Ai cần tha thứ cho tôi?

Để năng lượng của Luân Xa thứ tư này chạm trán cuộc sống hàng ngày của chúng ta đòi hỏi ý định và thực hành. Điều này bắt đầu trong bản thân của chúng ta, vì nếu không có khả năng yêu mình, chúng ta không thể thực sự trải nghiệm tình yêu từ người khác hoặc thực sự yêu người khác. Khi yêu mình chúng ta cho phép tạo ra cảm giác tình yêu vô điều kiện trong chúng ta, và sau đó chia sẻ cảm giác này với những người khác. Bất cứ điều gì chúng tôi gửi đi đều được trả lại cho chúng tôi.

Một cách thực hành mạnh mẽ để mở ra và thể hiện tình yêu vô điều kiện là một trong những từ truyền thống trong Phật giáo. Nó được gọi là thực hành Metta và chỉ mất mười lăm phút để làm mỗi ngày. Metta là một từ có nghĩa là lòng tử tế. Thực hành Metta là một thực hành thiền định và trung tâm của hạnh phúc cho bản thân mình và người khác. Nhiều cuốn sách và bài báo đã mô tả thực tế này là chi tiết hơn rất nhiều. Cuốn sách Loving Kindness: Nghệ thuật Cách mạng Hạnh phúc của Sharon Salzberg là một trong những tác phẩm hay nhất.

Bắt đầu thực hành Metta sẽ bắt đầu hành trình của bạn đến điểm cân bằng của cơ thể và tinh thần. Đó là một hành trình sẽ thay đổi và bắt đầu để chữa lành tất cả các khu vực của cơ thể, trái tim và tâm trí của bạn.

Các hướng dẫn cơ bản trong thực hành Metta

Ngồi thoải mái trên ghế hoặc đệm ở nơi bạn sẽ không bị quấy rầy trong 15 phút.

Với đôi mắt mở hoặc đóng, hãy thư giãn, thở dễ dàng và thoải mái. Cảm nhận năng lượng ổn định trong cơ thể bạn, một cách dễ dàng và thoải mái.

Bắt đầu kéo nhận thức của bạn vào vùng tim, và để cho hơi thở của bạn phát sinh từ khu vực đó. Hãy xem những từ nào đó xuất hiện trong trái tim bạn để nói lên điều bạn muốn cho chính bản thân bạn nhất. Ví dụ: “Tôi có thể được hưởng sự yên bình, tôi có thể tận hưởng sức khoẻ tốt và tình yêu thương tràn lan”. Tiếp tục theo cách này cho đến khi bạn cảm thấy thoải mái.

Bây giờ, hình dung hoặc tưởng tượng ra bên ngoài trong một loạt các vòng tròn đồng tâm này cũng cho những người khác bạn có một thân mật gần gũi với. Ví dụ: “Có thể chồng, bạn trai, bạn gái, vợ, con trai, con gái của tôi được hưởng sức khoẻ, hòa bình và tình yêu thương tràn đầy.” Tiếp tục phát ra bên ngoài hạnh phúc này cho những người trong vòng kết nối của bạn cho đến khi bạn cảm thấy hạnh phúc.

Sau đó, di chuyển vòng kết nối này đến những người bạn biết, rồi những người bạn không biết và di chuyển vòng tròn ra bên ngoài thành phố, tiểu bang, quốc gia và toàn bộ thế giới của bạn. Mang theo cách thực hành để chạm tới một kết luận khi bạn cảm thấy hoàn chỉnh với nó.

Christopher Stewart là một bác sĩ trực quan với một thực hành ở khu vực Vịnh San Francisco. Trong hơn 20 năm, ông đã làm việc với các cá nhân, cặp vợ chồng, gia đình, bác sĩ và các nhà tâm lý học để hiểu sự mất cân bằng về tình cảm, tâm lý, thể chất và năng lượng tâm linh có thể là nguyên nhân gốc rễ của bệnh tật, bệnh tật và khủng hoảng cuộc sống. Ông đã tư vấn cho khách hàng qua điện thoại khắp Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu và Châu Á.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS