Container Icon

GIẢI MÃ CẤU TRÚC NĂNG LƯỢNG

 


Các nhà sinh học đương đại vẫn coi con người là tất cả những gì thuộc thân thể hữu hình mà bằng mắt thường chúng ta vẫn nhìn thấy. Hóa ra là không phải vậy. Những người có thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy con người ở dạng một hệ thống phức tạp các cơ thể vật lý và phi vật lý thâm nhập lẫn nhau....

709-giai-ma-cau-truc-nang-luong-cua-con-nguoi-ngoai-than-the-vat-ly-1.jpg

Những người có khả năng đặc biệt về thị giác từ lâu đã nhận biết được rằng, sinh vật nói chung và con người nói riêng là những cấu trúc vật chất đa chiều. Nói cách khác, ngoài thân vật lý (thể xác) mà chúng ta nhìn thấy còn có các cơ thể không nhìn thấy ở dạng năng lượng tinh tế hơn, chúng phối hợp hoạt động với nhau thành một hệ thống hoàn chỉnh. Nếu không tính đến điều đó thì không thể có cách tiếp cận đúng đắn và tìm được những kết luận phù hợp về bản chất và bản thể con người.

Như chúng ta đã biết, vật lý học hiện đại đã xác nhận sự tương đương giữa vật chất và năng lượng - trong các điều kiện nhất định thì cái này có thể được biến đổi thành cái kia và ngược lại. Về mặt định lượng, sự tương đương đó được biểu thị bởi công thức nổi tiếng của Einstein E = mc2, ở đây E là năng lượng, m là khối lượng, còn c = 300000 km/s - vận tốc ánh sáng trong chân không. Do đó, có thể coi mọi sinh vật đều được cấu tạo từ các thành phần năng lượng (hữu hình hoặc vô hình).

Thời gian gần đây người ta đã đưa ra nhiều hệ thống để mô tả các cơ thể năng lượng của con người. Ở đây chúng ta sẽ sử dụng cách mô tả của bà Barbara Ann Brennan (đưa ra trong cuốn sách Bàn tay ánh sáng) cùng với một số tư liệu từ thuyết tâm linh.

Theo bà Barbara Brennan, ngoài thân vật lý con người còn có ít nhất 7 cơ thể năng lượng không nhìn thấy bởi mắt thường và tất cả chúng thâm nhập lẫn nhau trong một khoảng không gian vào cùng một thời điểm. Các cơ thể năng lượng được đánh số thứ tự theo mật độ vật chất giảm dần, trong đó cơ thể liền kề thân vật lý được đánh số 1.

Việc quan sát bằng thị giác đặc biệt cho biết rằng, các cơ thể có số thứ tự là số lẻ (1, 3, 5, 7) đều có cấu trúc rõ ràng, trong khi các cơ thể có số thứ tự là số chẵn (2, 4, 6) lại gồm những chất tựa lỏng, không có cấu trúc đặc thù. Mỗi cơ thể kế tiếp ít đậm đặc hơn và thâm nhập hoàn toàn vào tất cả các cơ thể trước nó, kể cả thân vật lý.

Các cơ thể có số thứ tự lẻ chứa mọi hình thái mà thân vật lý có, kể cả nội tạng, mạch máu... và các hình thái bổ sung mà thân vật lý không có. Mỗi cơ thể hiện ra khác nhau và có chức năng đặc trưng. Mỗi cơ thể được kết hợp với một luân xa chính và một số luân xa khác. Từ “luân xa” có nghĩa là bánh xe. Trừ luân xa 1 và luân xa 7, mỗi luân xa chính còn lại là cặp cuộn xoáy năng lượng hình nón quay tròn với chóp đối diện nhau và hướng vào dòng năng lượng chủ yếu từ đỉnh đầu tới xương cụt, còn hai đáy nằm ở phía trước và phía sau, tiếp giáp với rìa của cơ thể tương ứng.

Số thứ tự của mỗi luân xa chính được gán trùng với số thứ tự của cơ thể tương ứng. Như vậy, luân xa 1 ứng với cơ thể năng lượng thứ nhất, luân xa 2 ứng với cơ thể năng lượng thứ hai..., luân xa 7 ứng với cơ thể năng lượng thứ bảy.

Luân xa chính của các cơ thể có ba chức năng chủ yếu sau đây: tiếp sinh khí cho từng cơ thể, kể cả thân vật lý; tạo ra sự phát triển các diện mạo khác nhau của ý thức về bản thân; trao đổi năng lượng giữa các cơ thể. Năng lượng được truyền từ cơ thể này sang cơ thể khác liền kề qua những khe hành lang ở đỉnh luân xa. Các hành lang này ở số đông người bị đóng, chúng thường được khai mở do bẩm sinh hoặc kết quả của việc thanh khiết hoá tâm linh.

Tiếp theo sẽ mô tả vắn tắt cấu trúc năng lượng và chức năng của các cơ thể không nhìn thấy.

709-giai-ma-cau-truc-nang-luong-cua-con-nguoi-ngoai-than-the-vat-ly-2.jpg

Cơ thể ête (cơ thể năng lượng thứ nhất)

Từ “ête” được dùng để chỉ dạng năng lượng kề cận vật chất hữu hình. Cơ thể này gồm các vạch năng lượng rất bé, giống như một mạng các tia sáng lấp lánh. Nó có cùng cấu trúc với thân vật lý, chứa tất cả các bộ phận giải phẫu học và toàn bộ các cơ quan. Cảm giác của người quan sát là cơ thể ête đóng vai trò cái khuôn năng lượng mà trên đó thể chất các mô của thân vật lý được hình thành và bám vào. Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng, cơ thể ête được sinh ra trước thân vật lý.

Qua cơ thể ête, người ta có thể thấy được tất cả các bộ phận của thân vật lý, nhưng chúng được tạo nên bằng ánh sáng xanh nhạt lấp lánh. Nếu chỉ tập trung nhìn vào cơ thể này thì có thể nhận ra nó tựa như một người nam hay nữ bằng những vạch ánh sáng xanh nhạt liên tục nhấp nháy.

Các phần tử của cơ thể ête chuyển động không ngừng. Những tia sáng xanh nhạt chuyển dịch dọc theo các vạch năng lượng khắp thân vật lý. Cơ thể ête có màu sắc thay đổi từ xanh nhạt sang xám, nó vượt ra khỏi mặt da khoảng 0,64-5,08 cm và rung động 15-20 chu kỳ/phút.

Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête được gọi là thể phách. Nó có hai nhiệm vụ chủ yếu là thường xuyên phân phát sinh lực (prana) khắp thân vật lý và làm cầu nối giữa thân vật lý với cơ thể năng lượng thứ hai. Thể phách sẽ bị phân huỷ sau cái chết của thân vật lý.

Cơ thể cảm xúc (cơ thể năng lượng thứ hai)

Đây là cơ thể có quan hệ chặt chẽ với cảm xúc tự nhiên của con người. Cơ thể này bám sát đường nét của thân vật lý, nhưng không sao chép rõ ràng như với cơ thể ête. Nó hiện ra như một đám mây ở trạng thái lỏng liên tục chuyển động. Cơ thể này có màu thay đổi từ sáng chói đến xám xịt tuỳ theo trạng thái cảm xúc. Nó vượt ra quá mặt da 2,54-7,62 cm.

Trong thuyết tâm linh, cơ thể cảm xúc được gọi là thể vía. Người ta gán cho nó 3 chức năng chủ yếu: nơi sinh ra cảm xúc, cầu nối giữa thể chất và tinh thần, công cụ độc lập về tư duy và hành động. Các cảm xúc phát sinh từ thể vía ở dạng năng lượng, chúng có thể là sợ hãi, căm ghét, giận dữ và bạo hành. Nếu một người bị đình trệ tại cơ thể cảm xúc thì ít có điều kiện để biến đổi năng lượng tiêu cực thành dạng tích cực tương ứng.

Một phần thể vía và các cơ thể năng lượng sẽ được mô tả tiếp theo vẫn tiếp tục tồn tại sau cái chết của thân vật lý.

Cơ thể tâm thần (cơ thể năng lượng thứ ba)

Cơ thể này có quan hệ với các quá trình trí tuệ. Nó thường hiện ra như một khối sáng màu vàng chói lọi, bức xạ quanh đầu, vai và bao bọc toàn bộ thân vật lý. Nó lan rộng và rực rỡ hơn khi ai đó tập trung vào các quá trình tâm thần.

Như trên đã nói, cơ thể tâm thần là một cơ thể năng lượng có cấu trúc. Nó chứa đựng cấu trúc các ý niệm của con người. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy các hình thái tư tưởng trong cơ thể này ở dạng những đốm sáng với hình thù thay đổi. Cơ thể tâm thần vượt qua cơ thể cảm xúc và ra quá mặt da khoảng 7,62 - 20,32 cm.

Trong thuyết tâm linh, cơ thể tâm thần được gọi là thể trí. Mối quan hệ giữa thể trí và bộ não con người được trung chuyển qua thể vía. Về cơ bản, những gì liên quan đến suy nghĩ và hoài nghi đều diễn ra ở thể này. Nếu được biến đổi thì suy nghĩ sẽ trở thành sáng tỏ trực tiếp (thấu suốt), còn hoài nghi sẽ trở thành tin cậy.

Cơ thể tinh tú (cơ thể năng lượng thứ tư)

Cơ thể tinh tú không có hình dạng nhất định, gồm các đám mây màu sặc sỡ hơn so với cơ thể cảm xúc. Đây là cơ thể có vai trò trung gian giữa ba cơ thể năng lượng đầu (liên quan đến thế giới thể chất) và ba cơ thể năng lượng sau nó (liên quan đến thế giới tâm linh). Cơ thể tinh tú kết hợp với luân xa 4 (luân xa tim) là nơi cải biến năng lượng từ thể chất qua tâm linh và ngược lại. Nó vượt ra quá mặt da 15,24 - 30,48 cm.

Trong thuyết tâm linh, cơ thể tinh tú được gọi là thể tâm lý. Đây là thể có tiềm năng lớn và chứa nhiều bí ẩn về tâm lý. Các chất có chứa cồn như rượu và bia rất dễ tác động tiêu cực lên thể này. Phẩm chất tự nhiên của thể tâm lý là mơ mộng và tưởng tượng. Thể tâm lý ở động vật ít phát triển nên chúng hầu như không có ý niệm về quá khứ và tương lai. Nếu thể này được phát triển một cách phù hợp thì sẽ làm cho mơ mộng trở thành linh ảnh (thấy sự vật của thế giới năng lượng), còn tưởng tượng - trực cảm.

Cơ thể ête mẫu (cơ thể năng lượng thứ năm)

Cơ thể này là hình thái mẫu âm bản cho cơ thể ête vốn là khuôn dạng của thân vật lý. Nói cách khác, cơ thể ête có nguồn gốc cấu trúc từ cơ thể ête mẫu. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy cơ thể này gồm những hình thái trên nền xanh thẫm như một sơ đồ kiến trúc âm bản. Cơ thể ête mẫu vượt ra quá mặt da khoảng 15,24 - 60,96 cm, trông giống như hình trái xoan hơi thuôn.

Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête mẫu được gọi là thể tâm linh. Từ thể này có thể thu được câu trả lời cho câu hỏi “tôi là ai?” và chấm dứt mọi vấn đề xung khắc nội tâm thường hiện hữu ở một cá nhân. Nó là thể đầu tiên mà tại đó con người cảm thấy niềm vui vô song. Một người khi làm chủ thể tâm linh sẽ loại bỏ được hoàn toàn vô thức, tức là sự nhận biết của cá nhân không bị đình trệ ngay cả trong giấc ngủ. Người đó chính là vị Phật, người tỉnh thức trong mọi thời khắc của đời sống.

Cơ thể thượng giới (cơ thể năng lượng thứ sáu)

Mọi cảm xúc tâm linh diễn ra tại cơ thể thượng giới. Nếu ai đó có luân xa 6 (luân xa thượng giới) và luân xa 5 (luân xa tim) được khai mở và liên kết với nhau thì tình yêu thương vô điều kiện sẽ tuôn chảy, sẽ cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập làm một.

Dưới thị giác đặc biệt, cơ thể thượng giới hiện ra trong ánh sáng lung linh rất đẹp, có các tia màu vàng bạc và trắng sữa như mặt xà cừ. Hình thái của nó ít xác định hơn so với cơ thể ête mẫu, dường như nó là ánh sáng được bức xạ từ thân vật lý. Cơ thể thượng giới vượt ra quá mặt da khoảng 60,96 - 81,28 cm.

Trong thuyết tâm linh, cơ thể thượng giới được gọi là thể vũ trụ. Qua thể này con người có thể cảm nhận chân lý vũ trụ - tính toàn bộ của sự tồn tại.

Cơ thể nhân quả (cơ thể năng lượng thứ bảy)

Khi quan sát cơ thể này bằng thị giác đặc biệt sẽ thấy ánh sáng óng vàng lung linh rung động rất nhanh, giống như vô số sợi tơ. Nó có hình dạng quả trứng với một lớp “vỏ” dày khoảng 6,4 - 12,7 mm. Tất cả các luân xa và các dạng thể chất đều hiện ra ở đây như được làm bằng ánh sáng óng vàng. Cơ thể này vượt ra quá mặt da khoảng 91,44 - 106,68 cm tuỳ thuộc vào từng người.

Cơ thể nhân quả cũng chứa dòng năng lượng chủ yếu lên xuống dọc theo cột sống, đó là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho tất cả các cơ thể năng lượng.

Các biểu hiện tâm thần thuộc thế giới tâm linh đều diễn ra ở cơ thể này. Sau khi làm chủ được thể tâm linh và thể vũ trụ, một vị Phật có thể đưa ý thức tiếp xúc với cơ thể này. Lý do để gán tên “nhân quả” cho nó là ở chỗ, phía trong lớp vỏ có tồn tại các dải năng lượng tiền kiếp đã được ghi nhận phù hợp với luật nhân quả.

Trong thuyết tâm linh, cơ thể nhân quả được gọi là thể niết bàn. Người ta cho rằng, không thể dùng lời để mô tả trực tiếp được thể này. Từ “niết bàn” ở đây gần với các nghĩa trống rỗng, chân không, phi tồn tại. Nếu con người đưa ý thức vào thể này thì sẽ chuyển từ sự cảm nhận tồn tại sang trạng thái hầu như phi tồn tại, rỗng không.

Ngoài 7 cơ thể năng lượng kể trên, bà Barbara Brennan còn nhìn thấy các cơ thể năng lượng thứ tám và thứ chín. Mỗi cơ thể đó kết hợp tương ứng với luân xa 8 và luân xa 9 ở phía trên đầu. Chúng hiện ra trong suốt như pha lê và gồm những thành phần rung động rất tinh tế. Hai cơ thể đó có vẻ như theo khuôn mẫu chung và xen nhau giữa chất liệu (cơ thể thứ tám) hoặc hình thái (cơ thể thứ chín). Cơ thể thứ tám hiện ra ở dạng tựa chất lỏng, còn cơ thể thứ chín trông như một hình mẫu pha lê của mọi cái chứa trong những cơ thể năng lượng dưới nó.

Theo quan sát của những người có thị giác đặc biệt thì ngoại trừ cơ thể ête, một phần của các cơ thể năng lượng khác vẫn tiếp tục tồn tại và liên kết với nhau thành sinh thể năng lượng sau cái chết của thân vật lý. Điều này cho đến nay vẫn chưa được giới khoa học xác nhận. Đáng chú ý là tất cả các cơ thể của con người đều liên thông với một chiều thực tại nhất định.

Mặc dù các nhà huyền môn không nói đến hệ thống các cơ thể năng lượng của con người, nhưng truyền thống của họ trên khắp thế giới qua 5000 năm đã chứng tỏ sự tương đồng với những quan sát mà các nhà khoa học nghiên cứu tâm linh bắt đầu tiến hành gần đây.

Một trong những thách thức đặt ra khi mong muốn khảo sát hệ thống các cơ thể năng lượng của sinh vật nói chung và của con người nói riêng là các thiết bị kỹ thuật hiện đại chưa thể phát huy tác dụng. Xét đến cùng, hệ thống các cơ thể con người là một cỗ máy đa chiều thực tại với những giác quan có thể được khai mở để hoạt động tại bất kỳ bình diện vật chất nào. Điều này đã được nhiều người chứng nghiệm. Rõ ràng, tất cả các thiết bị kỹ thuật mà chúng ta hiện nay sáng chế ra hầu như chỉ thích hợp cho chiều thực tại vật lý. Có lẽ đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bế tắc trong việc nghiên cứu thực nghiệm về thế giới tâm linh.

Cấu trúc đa chiều của cơ thể con người là một minh chứng tin cậy về tính đa chiều thực tại của Vũ Trụ mà tác giả cuốn sách “Vũ trụ và con người dưới góc độ khoa học tâm linh” đã xét đến. Có vẻ như đó là một luận điểm nền tảng mà việc thừa nhận nó sẽ mở ra triển vọng sáng sủa để tiếp cận giải quyết nhiều vấn đề khoa học và tôn giáo vốn lâu nay được coi là bí ẩn.

----------------------------------

- Theo các nhà nghiên cứu và thực hành tâm linh, mọi người đều tiềm ẩn con mắt thứ ba ở tại vị trí điểm giữa hai lông mày. Do bẩm sinh, ngẫu nhiên hay tập luyện, một cá nhân có thể khai mở thị giác đặc biệt (thấu thị).

- Bà Barbara Ann Brennan là nhà khoa học, nhà tâm lý trị liệu, nhà thực hành chữa trị tâm linh rất nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Sự hiểu biết sâu rộng trong lĩnh vực cấu trúc năng lượng con người và các kết quả chữa trị thành công kỳ diệu của bà đã được mô tả tỷ mỷ, có hệ thống trong cuốn Hands of Light (Bàn tay ánh sáng), xuất bản tại New York năm 1988.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

10 DẤU HIỆU NÀY CHỨNG MINH BẠN ĐANG RUNG ĐỘNG Ở TẦN SỐ CAO HƠN

 


Tất cả con người đều có mang năng lượng. Thật ra chúng đang phát triển liên tục, tăng tốc. đôi lúc chậm lại. Càng trưởng thành chúng càng mở rộng. Hơn nữa nguồn năng lượng này cho phép chúng ta sử dụng để cải thiện bản thân.

Mặt khác sự thức tỉnh tâm linh của chúng ta càng nhiều thì sự hình thành rung động của chúng ta càng nhanh chóng, càng trở nên linh động. Hơn nữa sống trong trạng thái căng thẳng liên tục, chúng ta không thể kết nối với thế giới xung quanh.

Dưới đây là 10 dấu hiệu cho thấy bạn có tần số rung động cao hơn:

1. Bạn không thể chờ đợi để thức dậy và bắt đầu một ngày.

Khi bạn có tần số rung động cao, cuộc sống sẽ thú vị hơn, đáng khích lệ và tràn đầy năng lượng hơn.

2. Bạn có sức khỏe tốt hơn

Bạn ngủ ngon hơn vào ban đêm và khi bạn thức dậy bạn cảm thấy tốt hơn cũng như sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách trong ngày mới. Cơ thể chúng ta được nhiều cái lợi khi có tần số rung động cao hơn.

Trong thực tế năng suất lao động của bạn cũng sẽ cao hơn. Hệ thống miễn dịch của bạn hoạt động mạnh hơn vì vậy các vết thương cũng được nhanh chóng chữa lành.

Nhận thức tốt hơn về nguồn năng lượng này sẽ giúp bạn tránh chấn thương cũng như đưa ra lựa chọn tốt hơn cho sức khỏe của bạn.

3. Bạn cảm thấy mạnh mẽ hơn.

Ngoài việc làm cho bạn cảm thấy tốt, một mức năng lượng cao và sự tập trung cao độ sẽ giúp bạn đạt được mục tiêu của mình. Những vấn đề mà trước đây dường như không thể giải quyết được bây giờ khá đơn giản để giải quyết.

4. Bạn có thể giao tiếp rõ ràng và hiệu quả.

Bạn có thể dễ dàng diễn đạt và nhận ra các khía cạnh của cuộc sống.

5. Bạn có được sự thoải mái về tài chính

Khi bạn liên tục giữ tần số rung động cao, bạn sẽ loại bỏ những suy nghĩ cứng nhắc và lỗi thời. Điều này cho phép bạn đưa ra quyết định tốt hơn trong tài chính của bạn.

6. Bạn không còn sân si

Những điều hoặc tình huống tiêu cực không đáng kể không thực sự ảnh hưởng đến bạn. Bạn hoàn toàn lạc quan và có sự hiểu biết, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi người khác cũng phản ứng tương tự với bạn như vậy.

7. Bạn có động lực sống

Bạn đã tìm thấy sự hài lòng trong cuộc sống hàng ngày của bạn.

8. Bạn cảm thấy thời gian trôi thật nhanh

Bạn nhận thức thời gian nhanh hơn với nhịp độ tăng tốc của rung động. Vì vậy, bạn đánh giá cao và hiểu từng khoảnh khắc trôi qua. Điều này làm tăng nhận thức, hợp nhất mỗi khoảnh khắc với nhau, khiến cho thời gian trôi qua.

9. Trực giác của bạn được cải thiện

Đôi khi bạn có ấn tượng về việc trở nên thông minh hơn. Tiếng nói thường xuyên của thông tin trực quan trong bạn giúp ngăn chặn những thông tin không cần thiết.

10. Bạn tràn ngập năng lượng tích cực

Với năng lượng gia tăng của bạn, tình yêu và sự tôn trọng của bạn đối với bản thân và đối với người khác là cao hơn. Bạn trông rất tuyệt. Sự tự tin, mạnh mẽ của bạn thể hiện rõ trong từng bước đi, vì vậy những người khác sẽ phản ứng tương tự với bạn.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

MẬT ĐỘ RUNG ĐỘNG

 


MẬT ĐỘ RUNG ĐỘNG TRONG CÁC CHIỀU KÍCH VÀ SỰ TIẾN HÓA CỦA CON NGƯỜI

Trước đây, tôi có nói về cấu trúc năng lượng của con người ngoài thân thể vật lý với 7 tầng cơ bản nhưng bằng quan điểm mới hãy để tôi chính thức khai sáng về các tầng thứ khác nhau và các chiều kích khác nhau của linh hồn theo một cách thức có cấu trúc hơn.

Lưu ý rằng đây chỉ là một mô hình về một cái gì đấy rất vĩ đại và không thể giải thích được. Khi các bạn ở trong các tầng tư tưởng cao hơn, các bạn không còn quan tâm đến các tầng thứ và các chiều kích thấp nữa.

Các bạn chỉ đang trải nghiệm cuộc sống trong tất cả sử đa dạng vô hạn của nó. Nhưng phục vụ cho mục đích hiểu biết, chúng tôi cần làm rõ một vài khái niệm để giúp chuyển giao những ý tưởng của chúng tôi cho các bạn.

Mỗi một tầng thứ hay mỗi một chiều kích của linh hồn về đại thể tương đương với một tầng thứ hay một chiều kích của cái mà các bạn gọi là “thực tại bên ngoài”.

Khi đề cập đến các trạng thái cụ thể của tư tưởng, hay các tầng thứ rung động của các linh hồn cá thể, chúng tôi thường sử dụng thuật ngữ “mật độ” (density).

Khi đề cập đến các cảnh giới hay các cảnh giới phụ của vũ trụ, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “chiều kích” (dimension), mặc dầu nhiều vị thầy sử dụng các thuật ngữ này thay thế cho nhau.

Xét đến cùng, không có sự khác biệt giữa bên trong và bên ngoài. Tuy nhiên, các bạn sẽ không nhận thấy điều đó cho đến khi các bạn rung động tại tầng thứ 6 hay lớn hơn theo phổ mật độ.

Bây giờ, khi các bạn xem xét các thống kê dưới đây, hình dung đơn giản là có một mối liên hệ trực tiếp giữa mỗi một tầng thứ mật độ và một chiều kích tương ứng của nó. Một lần nữa, đừng trở nên khó chịu về những ý tưởng này. Trong khi nó sẽ có ích để bạn biết mình đang rung động ở đâu, sự hiểu biết trước đây có thể trở nên bị lung lay với điều mới mẻ này.

Dưới đây là các tầng thứ mật độ của linh hồn khi họ tiến hóa từ lúc sơ khai đến khi hoàn toàn trưởng thành.

1. Thân thể vật lý: Bản năng sinh tồn. Nhận thức về không gian.

2. Thân thể tình cảm: Tính dục. Cảm giác. Cảm xúc.

3. Thể trí: Các ý nghĩ, các niềm tin, các ý tưởng, các chương trình, bản ngã.

4. Thể astral: Tâm trí cao hơn, các trường năng lượng, khả năng tâm linh.

5. Thể ether: Tình yêu, tình thương, sự phục vụ, thân thể ánh sáng.

6. Thể nhân quả: Tư tưởng vũ trụ, sự vô hạn.

7. Linh Hồn: Tầng thứ quê hương (home level). Tất cả các khả năng được phục hồi.

8. Linh hồn tối cao (oversoul): Tầng thứ đầu tiên của nhóm phức hợp hồn.

9. Tổng hồn (Master oversoul hay monad): Một tâm trí vũ trụ khổng lồ.

10. Cái Tôi Phật hay Cái Tôi Christ: Sự hiểu biết về Thượng Đế hiện diện.

11. Cái Tôi Thượng Đế cá thể: Sự hiểu biết bản thân một cách hoàn toàn.

12. Cái Tôi Thượng Đế Vũ Trụ: Vượt trên tất cả những khái niệm về Cái Tôi.

Thống kê tiếp theo đưa ra các chiều kích của Vũ Trụ, cái về đại thể giống với các tầng thứ rung động. Lưu ý: Trong một số mô hình, 3 chiều kích đầu tiên của vũ trụ vật lý được chứa đựng bên trong là mật độ 1. Trong mô hình này, mật độ đầu tiên được mô tả là thể vật lý, cái dĩ nhiên tồn tại trong không gian 3 chiều. Do đó, các bạn không thể liên kết trực tiếp 3 mật độ đầu tiên với 3 chiều kích đầu tiên. Ở đây có tồn tại một trong các giới hạn trong ngôn ngữ và trong các chữ viết của các bạn, và trí tưởng tượng về chúng trong thực tại. Dưới đây là các chiều kích:

1D. Sự tồn tại: Điểm. Vương quốc khoáng vật.

2D. Hiểu biết sơ đẳng. Đường thẳng. Vương quốc thực vật.

3D. Nhận biết không gian. Hình khối. Vương quốc động vật.

4D. Các cảnh giới trí, các cảnh giới astral, thời gian. Vương quốc loài người.

5D. Các cảnh giới ether, tình yêu. Thân thể tinh thể ánh sáng.

6D. Các cảnh giới nhân quả, dữ liệu Akashic. Các sinh mệnh ánh sáng rực rỡ.

7D. Các cảnh giới thiên thể thấp. Các Thiên Thần, các sinh mệnh đã thăng lên.

8D. Các cảnh giới thiên thể trung. Các Tổng Thiên Thần, các vị thầy đã thăng lên.

9D. Các cảnh giới thiên thể cao. Các sinh mệnh thứ bậc cao hơn, mặt trời trung tâm.

10D. Các thế giới Thượng Đế thấp. Các sinh mệnh từ mặt trời trung tâm vĩ đại.

11D. Các thế giới Thượng Đế trung. Các sinh mệnh từ mặt trời trung tâm vĩ đại

12D. Các thế giới Thượng Đế cao. Thượng Đế Cha.

Trong thực tế, không có những sự phân chia rõ ràng giữa các tầng thứ. Sự phân chia này chỉ phục vụ cho hiểu biết của cái trí. Tuy nhiên, mỗi một tầng thứ có những đặc điểm riêng và giá trị riêng của nó, do vậy sự phân chia này là một khái niệm có ích.

Biên dịch: Dương Hồng Phượng - Sách "Hợp nhất linh hồn"

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

TÁC DỤNG KHÔNG NGỜ CỦA THIỀN

 


Ở nước ngoài đa phần người trung niên và người gần 50, 60 họ thích nghe nhạc thiền hơn so với Việt Nam chúng ta, vì nhạc thiền có tác dụng thư giãn đầu óc, nếu bạn mệt mỏi uể oải chân tay muốn có người xoa bóp để thật dễ chịu. Thì nhạc thiền cũng đóng vai trò tương tự như vậy.

Người ta nghe nhạc thiền không lời để giảm đi áp lực, stress trong cuộc sống Ngồi thiền giúp cân bằng cơ thể, kiểm soát hơi thở và thư giãn cơ bắp. Bạn có thể bắt đầu ngồi thiền hàng ngày để giảm căng thẳng và thư giãn cơ bắp với chánh niệm.

Thiền từ lâu đã được chứng minh mang lại nhiều lợi ích sức khỏe. Không chỉ giúp bạn tĩnh tâm, thiền còn giúp giảm mức độ căng thẳng, cải thiện khả năng tư duy sáng tạo, tăng cường năng lượng, giúp bạn có lối sống lành mạnh và thành công hơn trong cuộc sống.

Thiền giúp giảm stress

Căng thẳng kinh niên dẫn đến tăng huyết áp và co thắt mạch máu, trầm cảm... Thiền giúp bạn thả lỏng, làm giảm cảm giác về sự lo lắng, vì những đường dẫn thần kinh nối đến các trung tâm của lo sợ giảm. Ngồi thiền giúp tâm trí bình thản, cơ thể tập trung vào hơi thở và thư giãn, giảm áp lực. Kiểm soát, hít thở sâu cho phép cơ thể sản sinh ra hàm lượng cao oxit nitric. Hợp chất này giúp mở mạch máu bị co thắt và làm giảm huyết áp.

Ngồi thiền giúp cân bằng cơ thể, kiểm soát hơi thở và thư giãn cơ bắp. Bạn có thể bắt đầu ngồi thiền hàng ngày để giảm căng thẳng và thư giãn cơ bắp với chánh niệm.

Thiền giúp giảm nhu cầu ngủ

Một nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học Kentucky trên những người không hành thiền, những thiền sinh mới tập và những thiền giả có kinh nghiệm. Kết quả cho thấy thiền giúp cải thiện ngắn hạn ngay cả ở những thiền sinh mới làm quen. Đối với các thiền giả giàu kinh nghiệm, nhiều giờ tập thiền giúp giảm đáng kể tổng thời gian ngủ so với những người không thiền. Còn thiền có thực sự thay thế một phần giấc ngủ hay trị chứng thiếu ngủ đang được điều tra thêm.

Thiền cải thiện sức khỏe tim mạch

Ngồi thiền thường xuyên làm giảm quá trình tích tụ mỡ tại thành, tường động mạch, giảm nguy cơ cơn đau tim, đột quỵ và tử vong. Đơn giản vì nó có khả năng làm giảm huyết áp và thay đổi các yếu tố stress tâm lý khác. Theo đó, thiền còn giúp giảm nguy cơ trầm cảm, chết sớm và thậm chí cả bệnh Alzheimer.

Thiền giúp tăng cường miễn dịch

Những người thường xuyên tập yoga và thiền có khả năng sản xuất năng lượng, phục hồi sức khỏe ổn định. Quá trình này làm tăng cường hệ thống miễn dịch cũng như khả năng phục hồi tổng thể. Những lợi ích sức khỏe mà thiền mang lại không chỉ đơn giản là cân bằng tâm trạng.

Thiền giúp cơ thể thứ giãn, tăng cường khả năng miễn dịch trong quá trình hồi phục của các bệnh nhân ung thư. Một nghiên cứu tại Đại học bang Ohio cho thấy, ngồi thiền hàng ngày làm giảm nguy cơ tái phát ung thư vú.

Trong một nghiên cứu khác, chỉ sau một tháng luyện tập, thiền đã giúp thúc đẩy quá tình đào thải các tế bào già cỗi ở người già, đem lại cho họ một sức đề kháng tốt hơn và giết chết các tế bào ung thư và virus gây bệnh.

715-khoa-hoc-da-tim-ra-nhung-tac-dung-khong-ngo-cua-thien-thu-gian-1.jpg

Thiền giúp giảm chứng rối loạn hoảng sợ

Trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Tâm thần học Mỹ, 22 bệnh nhân được chẩn đoán bị rối loạn lo âu hoặc rối loạn hoảng sợ tham gia 3 tháng tập thiền và tập thư giãn. Kết quả là đối với 20 bệnh nhân trong số đó, những ảnh hưởng của sự hoảng loạn và lo lắng đã giảm đáng kể.

Thiền tăng tư duy sáng tạo

Thiền làm giảm mật độ chất xám ở một số vùng não liên quan đến căng thẳng và lo lắng. Những người ngồi thiền thường xuyên ít có khả năng bị “mắc kẹt” vào những cảm xúc tiêu cực. Thiền định còn có tác động tích cực cho sự sáng tạo và phân tách suy nghĩ. Những người hay ngồi thiền thường thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, đưa ra nhiều ý tưởng mới mẻ và táo bạo hơn.

Thiền cải thiện xử lý thông tin và ra quyết định

Eileen Luders tại UCLA Laboratory of Neuro Imaging và các cộng sự đã phát hiện ra rằng những người thiền trong thời gian dài có số lượng lớn “gyrification” (chỉ nếp gấp vỏ não, có thể cho phép bộ não xử lý thông tin nhanh hơn) so với những người không thiền. Các nhà khoa học nghi ngờ gyrification có lẽ chịu trách nhiệm làm não xử lý thông tin tốt hơn cũng như trong việc đưa ra các quyết định, hình thành ký ức và nâng cao khả năng tập trung.

Thiền giúp cải thiện hệ miễn dịch

Các nghiên cứu tiến hành trước đây đã chứng minh rằng, thiền giúp cải thiện hệ thống miễn dịch của cơ thể. Thiền giúp tăng khả năng miễn dịch tốt hơn với các bệnh thường gặp do nhiễm trùng nhẹ và các bệnh như cảm lạnh, cúm, đau cổ...

Thiền cải thiện các mối quan hệ và tăng đồng cảm

Truyền thống Phật giáo có Thiền Từ Bi. Theo đó, thiền giả tập trung vào việc tăng trưởng lòng từ bi và yêu thương đến tất cả chúng sinh. Theo một nghiên cứu từ Đại học Emory, các bài tập như vậy có thể làm tăng khả năng đồng cảm với những người khác bằng cách đọc các biểu hiện trên khuôn mặt của họ.

Thiền định tập trung vào việc phát triển và bồi dưỡng tình yêu, sự quan tâm đối với mọi người xung quanh. Một nghiên cứu đã chỉ ra, ngồi thiền thường xuyên cho phép các cá nhân đồng cảm hơn với người khác thông qua việc đọc nét mặt của họ. Xây dựng những cảm xúc tích cực thông qua lòng từ bi sẽ giúp tăng nguồn lực cá nhân như thái độ yêu thương đối với bản thân với người khác, biết hỗ trợ xã hội và tự chấp nhận, hài lòng về chính mình.

Thiền làm tăng trưởng lòng từ bi và giảm lo lắng

Sau khi tham gia một khóa tăng trưởng lòng từ bi kéo dài 9 tuần, các cá nhân đã có những cải thiện đáng kể trong cả 3 lĩnh vực của lòng từ bi: lòng từ bi đối với người khác, nhận từ bi từ người khác và từ bi đối với bản thân. Trong một tình huống tương tự, các học viên cũng giảm được mức độ lo lắng và đè nén cảm xúc.

Thiền giúp buông bỏ cám dỗ và hiểu rõ bản thân

Ngồi thiền đúng cách và tập thiền hằng ngày có thể giúp bạn thoát khỏi nhiều cám dỗ. Thiền cũng giúp bạn hiểu rõ bản thân và vượt qua những nỗi sợ hãi và tập trung vào mục đích của bạn trong cuộc sống. Từ đó, bạn sẽ thoát ra được những cám dỗ mang lại đau khổ, mất mát mà trước đây không thể từ bỏ được.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

KIỂM TRA TẦN SỐ RUNG ĐỘNG TÂM LINH

 


Bài kiểm tra tần số rung động tâm linh cho phép bạn đo các rung động của chính mình, cung cấp cho bạn thông tin quan trọng có thể giúp bạn nâng chúng lên, từng bước tiến hóa.

Kết quả của bạn cũng có thể thông báo cho sự chữa lành của bạn và các thực hành tâm linh khác vì nó có thể giúp bạn xác định các phần năng lượng cao và năng lượng thấp trong tính cách của bạn.

Phát huy điểm mạnh của bạn và cải thiện điểm yếu của bạn sẽ giúp bạn thăng tiến nhanh chóng.

Bản thân bài kiểm tra khá đơn giản - bạn có thể thực hiện ngay bây giờ! Lấy một mảnh giấy và vẽ một đường ở giữa.

Bên trái là những điểm yếu và bên phải những điểm mạnh, sau đó kiểm tra tất cả các dấu hiệu sau đây và đánh dấu vào bảng.

Các dấu hiệu rung động tâm linh thấp

Nếu một dấu hiệu nào đó không hoàn toàn chính xác với bạn, đừng quan tâm, tốt nhất là bỏ qua nó khỏi danh sách.

Ngoài ra, bạn có thể thêm một cột thứ ba ở giữa cho các dấu hiệu trung tính, mặc dù điều đó sẽ không ảnh hưởng đến kết quả. Bắt đầu nào:

  • Lo lắng đóng một phần lớn trong cuộc sống hàng ngày của bạn. Bạn thường trốn tránh công việc và trách nhiệm vì nó.
  • Kiên nhẫn không phải là một đức tính của bạn. Bạn ghét phải chờ đợi và không thể tìm thấy sự bình yên trong khi bạn làm như vậy.
  • Bạn nhìn một ly nước theo chiều hướng tiêu cực: Chiếc ly đó luôn bị vơi một nửa trong mắt bạn. Bạn đang tập trung hơn nhiều vào những nhược điểm của sự vật.
  • Một số người đã gọi bạn là một Narcissis - Nhân cách yêu mình thái quá hoặc rối loạn nhân cách ái kỷ.
  • Người quan trọng nhất trong cuộc đời bạn là bản thân bạn. Nhu cầu của người khác là thứ yếu so với của bạn.
  • Thiên nhiên không phải là một phần của cuộc sống của bạn. Trên thực tế, bạn hoàn toàn không thấy sự hấp dẫn của thế giới tự nhiên.
  • Ý tưởng về việc được kết nối với một sức mạnh cao hơn là hoàn toàn xa lạ với bạn.
  • Một phần lớn cuộc sống của bạn bị lãng phí với các chương trình tivi, ngay cả khi bạn đã xem cái này trước đây.
  • Khi bạn lắng nghe trực giác của mình, nó tập trung vào bản ngã của bạn.
  • Âm nhạc không phù hợp và không hòa hợp với đôi tai của bạn.
  • Ngôn ngữ của bạn thường được mô tả là thô tục, gây khó chịu và không phù hợp. Lời thề là một trong những thứ yêu thích của bạn.
  • Uống rượu là để say mèm, thay vì chỉ là một thứ nước dùng trong xã giao đơn giản.
  • Quá khứ không ngừng ám ảnh bạn. Những suy nghĩ mới không phải là phù hợp nhất của bạn.
  • Bạn đã bị mắc kẹt khi cố gắng học những bài học tương tự trong một thời gian dài, không có dấu hiệu tiến bộ.
  • Chiến thắng quan trọng hơn nhiều đối với bạn hơn là chỉ tham gia, thành quả về sau trở nên không có giá trị khi một số thứ trước đó thất bại.
  • Một trong những tật xấu của bạn là buôn chuyện về mọi người. Trên thực tế, bạn thường nói xấu sau lưng người khác.
  • Bạn không đồng cảm, và cảm thấy khó hiểu cảm xúc của người khác.
  • Cuộc sống dường như là vô nghĩa. Bạn không tìm thấy mục đích cho riêng bạn.
  • Đạt được sự cân bằng cảm xúc là thách thức của bạn.
  • Chỉ trích người khác làm cho bạn cảm thấy tốt về bản thân, vì vậy bạn làm điều đó thường xuyên.
  • Bạn hiếm khi cười, thiếu sự hài hước trong cuộc sống và coi mọi thứ quá nghiêm trọng.
  • Những người không phù hợp với ý tưởng của bạn về các chuẩn mực xã hội là mục tiêu cho sự nhạo báng của bạn.
  • Chế độ ăn kiêng và tập thể dục đối với bạn là có hại hoặc không tồn tại. Kết quả là ngoại hình của bạn không được chuẩn cho lắm.
  • Hầu hết thời gian bạn chấp nhận cách mọi thứ thay vì kiến nghị thay đổi.
  • Tiền là một trong những thứ quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn.
  • Năng lượng tiêu cực bao quanh bạn, thu hút những người kết hợp nó với năng lượng tiêu cực của riêng họ.
  • Trẻ em thường tiếp cận bạn với sự e ngại, nếu có. Chúng có thể nghĩ về bạn như một người đáng sợ như kiểu Hồi giáo cực đoan hay quá nghiêm khắc.
  • Kinh dị là thể loại phim yêu thích của bạn.
  • Bạn thường buộc người khác phải gánh vác gánh nặng của bạn khi chúng quá tối tệ.
  • Tuyệt vọng vì tình yêu, bạn vẫn hiếm khi tự mình đưa tình yêu ra thế giới.
  • Nhạo báng người khác là một thời gian qua thú vị cho bạn.
  • Bây giờ bạn đã ở trong một lối mòn, với những ngày hòa quyện với nhau trong sự lặp lại buồn tẻ.
  • Vệ sinh cá nhân không phải là đặc điểm tốt nhất của bạn.
  • Theo bạn, động vật được coi là đồ chơi, công cụ làm việc hoặc thức ăn.
  • Những thứ vật chất là quan trọng nhất đối với bạn.
  • Bạn không thấy vũ trụ rộng lớn và kết nối như thế nào, và vẫn không biết gì về ý thức vũ trụ, ý thức tập thể.

Các dấu hiệu rung động tâm linh cao

  • Tình yêu là cảm xúc chính của bạn, và bạn cố gắng đưa càng nhiều nó vào thế giới càng tốt.
  • Kiên nhẫn là một trong những đức tính của bạn.
  • Tha thứ là điều dễ dàng với bạn. Bạn không giữ mối hận thù trong mình.
  • Bạn luôn nhớ nói rằng xin vui lòng và cảm ơn.
  • Khi cảm thấy trống rỗng, bạn tìm về với thiên nhiên.
  • Vẫn là chiếc ly nhưng ly của bạn luôn đầy một nửa. Bạn có cái nhìn tích cực.
  • Tìm nguồn năng lượng cao hơn đóng một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của bạn.
  • Sự hào phóng đáp ứng cho bạn nhiều hơn là ích kỷ.
  • Bạn có những điều tốt để làm hơn là xem tivi.
  • Năng lực trực giác của bạn rất phát triển và phục vụ bạn tốt.
  • Âm nhạc phải được truyền cảm hứng hoặc nâng cao để bạn thưởng thức nó.
  • Bạn chỉ sử dụng ngôn ngữ thô tục trong trường hợp cần thiết. Nếu không, bạn không bao giờ đụng tới.
  • Bạn hiếm khi uống rượu ngoại trừ công việc bắt buộc.
  • Mặc dù bạn học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ của mình, bạn không bị phụ thuộc vào chúng. Thay vào đó, bạn sống trong khoảnh khắc hiện tại.
  • Làm việc theo nhóm là một trong những đặc điểm mạnh nhất của bạn.
  • Sức mạnh thấu cảm tự nhiên có sẵn với bạn.
  • Bạn có thể thấy mục đích của cuộc sống và sống để đạt được mục tiêu của bạn.
  • Cân bằng cảm xúc rất quan trọng với bạn.
  • Bạn có một khiếu hài hước tuyệt vời.
  • Cuộc sống là một hành trình đáng kinh ngạc cho bạn - ngay cả những thời điểm tồi tệ cũng tạo ra những bài học tốt.
  • Bạn đánh giá chân thành cho công việc của người khác.
  • Cơ thể của bạn là một món quà thiêng liêng, và bạn giữ gìn, tôn trọng nó.
  • Sự tò mò thúc đẩy xu hướng của bạn để đặt câu hỏi về tất cả mọi thứ.
  • Những người tích cực, thành công muốn ở bên bạn.
  • Tâm linh đã trở thành trung tâm trong cuộc sống của bạn.
  • Trẻ em yêu bạn.
  • Bạn thích thể loại giả tưởng, đặc biệt nếu nó bao gồm người ngoài hành tinh.
  • Các câu trả lời cho các vấn đề của bạn thường được tìm thấy trong bạn.
  • Vệ sinh cá nhân là quan trọng đối với bạn, như là ăn mặc gọn gàng.
  • Động vật và thiên nhiên cộng hưởng với bạn nhiều hơn.
  • Bạn có quan niệm riêng biệt rằng toàn bộ vũ trụ được kết nối thông qua ý thức tập thể.

Giải thích kết quả kiểm tra của bài kiểm tra rung động tâm linh

Bây giờ bạn có hai danh sách của mình, hãy đếm xem có bao nhiêu mục trong mỗi danh sách.

Trừ số trong cột Thấp cho cột Cao để lấy điểm cuối cùng của bạn.

Nếu điểm của bạn dưới 10, thì bạn có tần số rung động tâm linh rất thấp và nên xử lý ngay lập tức.

Nếu nó rơi vào khoảng 11-20, thì bạn có tần số rung động tâm linh trung bình. Một số công việc vẫn cần phải được xử lý, nhưng bạn đang đi đúng hướng.

Đối với những người rơi vào khoảng 21-30, tần số rung động tâm linh của bạn từ trung bình đến cao. Con đường của bạn đi đang dẫn bạn đến ý thức cao hơn, thế giới có mật độ cao hơn đang chờ đón bạn.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

TU LUYỆN

 


TU LUYỆN CHÍNH LÀ MỘT THỨ CÔNG NGHỆ KHOA HỌC BỊ LÃNG QUÊN?

Tu luyện vốn không phải chuyện đơn giản, nhưng trong xã hội phồn hoa ngày nay, có lẽ chẳng mấy ai có thể đi theo con đường như vậy. Liệu có thể ngay giữa cuộc sống đời thường đầy cám dỗ, vẫn sinh hoạt nơi xã hội hiện đại mà thực hành tu luyện chân chính hay không?

Thử kể một chuyện cười:

Bằng phương pháp “Đồng vị phóng xạ”, một nhóm các nhà khảo cổ tiến hành khai quật tại 3 nơi được coi là có cùng niên đại 600 năm: (Moscow) Nga, Washington, D.C (Mỹ) và Ninh Bình (Việt Nam).

Địa điểm 1: tại Nga họ tìm được mấy mẩu dây đồng, họ kết luận: 600 năm trước người Nga đã có biết sử dụng điện thoại hữu tuyến sợi đồng.

Địa điểm 2: ở Mỹ tìm được nhiều mảnh thủy tinh có dạng sợi, họ cho rằng: 600 năm trước ở Mỹ đã có cáp quang.

Địa điểm 3: ở Việt Nam, các nhà khảo cổ đào bở hơi tai mà không thấy gì. Họ khẳng định: 600 năm trước, ở Việt Nam đã có mạng… không dây.

Câu chuyện cười trên có lẽ nhiều người đã từng đọc qua, nghe thì có vẻ hài hước, nhưng nó nói lên 2 điều rất quan trọng trong giới khảo cổ:

1/ Nếu chỉ vài chục năm trước, chúng ta chưa biết tới công nghệ không dây, thì kết luận đối với địa điểm thứ ba sẽ là “xã hội sơ khai lạc hậu” chứ không phải “mạng không dây” tiên tiến cao cấp. Như vậy, phán xét khảo cổ là dựa trên so sánh với hiểu biết của khoa học đương thời.

2/ Nếu khi khai quật không tìm thấy dấu tích của máy móc hiện đại, liệu kết luận sẽ là một xã hội phát triển cao cấp hay nguyên thủy? Đánh giá khảo cổ còn dựa trên niềm tin chủ quan, cái khung nhận thức của nhà khảo cổ.

Dưới khung thời gian biểu của giới khảo cổ hiện nay, nhân loại chỉ phát triển theo một đường thẳng từ thấp lên cao, từ nguyên thủy săn bắt hái lượm, dần dần cho đến chúng ta hiện nay là “đỉnh cao” của nền văn minh. Nhưng hiện nay khoa học đã ngày càng phát triển, cộng với đó là những khám phá khảo cổ mới, cho thấy đã từng có những nền văn minh cổ đại phát triển vượt xa chúng ta, công nghệ của họ đúng là một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện bên trên nhắc tới.

Dưới đây chúng ta sẽ bàn về 2 nền văn minh nổi tiếng và thảm họa mà họ đã phải đối mặt để thấy được cả một nền khoa học bị lãng quên.

Thành phố Atlantis và sự chuyển giao công nghệ

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-1.jpg

Hình vẽ mô phỏng thành phố Altantis, thủ phủ của lục địa Atlantis (ảnh: atlantisbolivia.org)

Câu chuyện xưa cũ về thành phố Atlantis chìm dưới đáy biển là một trong những truyền thuyết lâu đời nhất mà con người từng biết đến. Nhưng ở thời điểm hiện tại, chúng ta có thể khẳng định khá chắc chắn về sự tồn tại của Atlantis, kèm theo vị trí chính xác của thành phố cổ đại này.

  • Theo lời kể của nhà triết học Hy Lạp Plato, thời gian mà Atlantis bị hủy diệt là năm 9.600 TCN. Đây cũng là thời điểm xảy ra Trận lũ băng tan 1B (Meltwater pulse 1B). Khi đó, nước biển tăng mạnh vào cuối kỷ Dryas Trẻ, khi các tảng băng ở Bắc Âu và Bắc Mỹ rung chuyển và tan vào đại dương.
  • Vị trí của thành phố Atlantis – thủ phủ của lục địa Atlantis là ở bình nguyên Altiplano tại Bolivia. Altiplano là vùng đất không chỉ đáp ứng 24 tiêu chí về Atlantis mà nhóm các nhà khoa học tại hội nghị Milos Atlantis 2005 đưa ra, mà còn phù hợp với 50 đặc điểm mà Plato đề cập đến trong mô tả của của ông về Atlantis.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-2.jpg

Bình nguyên Altiplano ở Bolivia nằm trên dãy núi Andes ở Nam Mỹ (ảnh: atlantisbolivia.org)

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-3.jpg

Thành phố Altantis nằm trên phế tích Pampa Aullagas, ngay cạnh bình nguyên Altiplano, cách biển (hồ Poope) 2,5km (ảnh: atlantisbolivia.org)

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-4.jpg

Mảnh ghép vẽ bản đồ Thế giới Mới của Sebastian Münster, phiên bản thứ 2, năm 1961, có tên “Insula Atlantica” – “Đảo Atlantic” (ảnh: atlantisbolivia.org)

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-5.jpg

Chi tiết bản đồ của Münster chỉ rằng “Thế giới Mới” là “Đảo Atlantic”, cũng được biết đến như Brasil và Mỹ” (ảnh: atlantisbolivia.org)

Các di chỉ đá và hóa thạch sinh vật biển quanh hồ Titicaca, khu vực Peru và Bolivia đều cho thấy từng có một nền văn minh rất tiên tiến đã từng có mặt ở đây và bị nhấn chìm bởi Đại hồng thủy.

Như vậy, các bằng chứng về Atlantis đã khá đầy đủ.

Năm 9.600 TCN còn là thời điểm bắt đầu xây dựng một công trình cự thạch quy mô lớn còn lưu lại đến ngày nay. Đó là ngôi đền Gobekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu xét trên khung thời gian biểu của giới khảo cổ, nó xuất hiện vào thời săn bắt hái lượm, trước khi xuất hiện thành thị hay nền văn minh. Vậy mà đây lại là một dự án quy mô lớn với nhiều vòng tròn đá khổng lồ, các khối cự thạch 40-60 tấn – chắc chắn phải có công nghệ, kỹ năng tổ chức cao cấp, quản lý nhân công, quy hoạch… Tất cả đều không phù hợp với bức tranh về thời đó.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-6.jpg

Năm 9.600 TCN cũng là thời điểm nông nghiệp bỗng xuất hiện trong lịch khảo cổ của Thổ Nhĩ Kỳ, đã phát triển hoàn thiện một cách kỳ lạ dù trước đó không có dấu hiệu gì. Do vậy, ngôi đền Gobekli Tepe hẳn không phải là do ai đó bỗng dưng phát minh ra kiến trúc cự thạch và nông nghiệp giữa xã hội săn bắn hái lượm ở Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Theo nhà nghiên cứu nổi tiếng Graham Hancock, đây nhiều khả năng là một sự chuyển giao công nghệ từ những người sống sót trong một nền văn minh đã thành thục các kỹ năng cần thiết. Họ có thể đã dạy lại cho những người bạn ở vùng đất mới.

Vậy phải chăng những người sống sót trong thảm họa Atlantis đã cố gắng ghi lại dấu tích hay thậm chí phục dựng lại nền văn minh của họ? Graham Hancock cho rằng, rất có thể là vậy. Họ đã không thành công lắm, nhưng họ cũng đạt được những kết quả nhất định. Họ đã có một công trình khổng lồ kỳ vĩ lưu lại thông điệp cho hậu thế và mang ngành nông nghiệp tới vùng đất hoang sơ.

Bài học của Atlantis

Theo lời kể của Plato, thành phố Atlantis từng sở hữu nền văn minh cao cấp, nền nông nghiệp phát triển, tàu của họ đi khắp thế giới. Người dân Atlantis từng rất cao thượng và tài ba, họ đã xây những công trình to lớn và phát triển kiến thức uyên thâm trong mọi lĩnh vực, trở nên rất thịnh vượng và hùng mạnh. Nhưng rồi, sự suy đồi đã len lỏi vào xã hội làm họ trở nên xấu xa và tham lam. Họ bắt đầu truy cầu và lợi dụng quyền lực trên thế giới.

Plato nhấn mạnh rằng: Atlantis đã không còn hưởng thụ thịnh vượng với sự điều độ nên có.

Sự ngạo mạn đã làm cho Atlantis trở nên quá tự mãn, để rồi sau đó vũ trụ đã làm cho nó sụp đổ. Đại hồng thủy và động đất đã dìm thành phố sâu xuống lòng đại dương.

‘Con người phải bắt đầu lại, như những đứa trẻ không có ký ức của quá khứ’ – Plato

Rõ ràng, câu chuyện Atlantis là một bài học cho nền văn minh hiện đại. Chúng ta nên bỏ sự kiêu ngạo sang một bên và thôi tự mãn với các thành tựu công nghệ của mình.

Chúng ta thực sự có lẽ nên xem lại thái độ của mình đối với những câu chuyện lịch sử của tiền nhân. Giới hàn lâm đã quá nhanh chóng phủi tay và cho rằng họ đã hiểu biết tất cả mọi thứ, rằng chẳng còn gì bí ẩn trong câu chuyện đó. Nhưng tư duy đó sẽ ngăn chúng ta tìm hiểu sâu hơn. Chúng ta nên lắng nghe các manh mối của quá khứ dẫn đến các nền văn minh to lớn.

Không chỉ Atlantis, đối với các nền văn minh, các thành phố hay quốc gia trong lịch sử như Ai Cập cổ đại thời Cleopatra VII, Babylon cổ đại, Pompeii…, một mô-típ cứ lặp đi lặp lại:

Khi đạo đức suy đồi, xã hội sẽ bị diệt vong

Nếu đạo đức là một yếu tố tinh thần, thuộc về văn hóa, cách hành xử giữa người với người, vì sao sự sụp đổ của nền văn minh luôn gắn với đạo đức bị suy đồi? Câu chuyện về một nền văn minh cận đại hơn sẽ giúp lý giải câu hỏi này.

Đại Vũ trị thủy và sự chuyển giao công nghệ

Thời của Noah khi mà trận Đại hồng thủy xảy ra, theo tính toán dựa vào Kinh thánh, thì vào khoảng năm 2304 TCN (+/- 11 năm). Khi đó ở phương Đông cũng chính là thời của vua Thuấn và truyền thuyết Đại Vũ trị thủy. Đại Vũ sinh năm 2297 TCN, là người lập ra triều nhà Hạ.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-7.jpg

Đại Vũ cùng những người giúp đỡ ông trị thủy (ảnh: Internet)

Truyền thuyết nói rằng cách đây khoảng bốn ngàn năm, thần nước đã giận dữ và mở một cái lỗ lớn ở trên trời làm mưa đổ trút xuống như sông, dâng cao đến hai nghìn mét, làm ngập Trái Đất qua rất nhiều năm. Khi Đại Vũ lớn lên và nhìn thấy người dân đau khổ khủng khiếp vì nước lũ, ông đã quyết định kiềm chế nó. Đại Vũ đã bỏ 13 năm cố gắng kiềm chế lũ, đã bao bọc được một khoảng rất rộng lớn, làm cơ sở cho nền văn minh Trung Hoa sơ khai phát triển.

Lịch sử đã đi qua, chỉ lưu lại rất ít dấu vết để chúng ta có thể xác nhận chắc chắn những câu chuyện cổ. Nhưng những khám phá khảo cổ mới đã cung cấp thêm bằng chứng:

  • Hàng trăm truyền thuyết ở khắp thế giới đều giống nhau một cách kinh ngạc khi nói đến trận Đại hồng thủy.
  • Tàn tích của con tàu Noah đã được tìm thấy tại Thổ Nhĩ Kỳ

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-8.jpg

Con tàu nằm ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.

  • Dưới lòng đất có thể tồn tại những đại dương lớn, đây rất có thể chính là nơi nước đã rút đi sau Đại hồng thủy.
  • Có nhiều thành phố cổ đại chìm dưới đáy đại dương, được tìm thấy khắp nơi trên Trái Đất. Chúng có tuổi thọ hàng nghìn năm, cho thấy chắc chắn chúng đã được xây dựng từ khi mà mực nước còn rất thấp.
  • Ở Trung Quốc, bằng chứng về một trận lũ khủng khiếp vào thời đại của Đại Vũ cũng được tìm thấy.

Như vậy, ít nhất chúng ta đã có một vài sự trùng khớp giữa khoa học hiện đại và các truyền thuyết cổ đại. Rốt cuộc chỉ là vấn đề người ta có tin hay không mà thôi.

Câu chuyện ở Trung Hoa nói lên rằng, ít nhất đã có một nhóm người ở các vùng núi cao nơi đây đã sống sót qua thảm họa. Trong khi ở phương Tây, nền văn minh phải phát triển lại từ đầu.

Câu chuyện Đại Vũ giải thích vì sao trong nền văn hóa phương Đông cổ đại, vẫn còn rất nhiều kiến thức cao thâm như Thái Cực, Hà Đồ, Lạc Thư, Chu Dịch, Bát Quái… mà đến khoa học hiện đại vẫn còn chưa lý giải hoàn toàn được.

Cũng giống như trường hợp của Atlantis, đó chính là những tinh hoa của khoa học trong nền văn minh trước, đã được những người sống sót truyền lại, một nền khoa học siêu thường, rất khác so với nền khoa học duy vật ngày nay. Nhưng thật ra đó chính là những lời dạy rất quen thuộc trong nền văn hóa phương Đông.

Nền khoa học siêu thường chú trọng đạo đức

Thời cổ đại mấy nghìn năm trước, người Trung Hoa thường giảng rằng khi làm việc cần phải bình tâm tĩnh khí, chú trọng tới điều hòa hơi thở, thậm chí người đi học ở trường cũng cần biết thiền định, chú trọng tu tâm dưỡng tính.

Các ngành các nghề thời Trung Hoa cổ đại cũng đều giảng phải coi trọng đạo đức. Trong lĩnh vực sáng tác văn học có tôn chỉ rằng, coi trọng đức là yêu cầu đứng đầu nhất. Ở phương diện sáng tác âm nhạc cũng coi đạo đức là cái gốc của nội tâm con người, âm nhạc là sự thăng hoa của đạo đức. Ở phương diện trị quốc cũng nêu cao việc phải coi trọng đức, tiết chế tài chính, tuyển dụng người hiền đức…

Ngày nay, có rất nhiều thành quả nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, sức mạnh của đạo đức là không chỉ ở cảm nhận mà còn “chạm” đến được, bởi vì:

Vật chất và ý thức là một thể thống nhất.

Phàm là lời nói hay việc làm mà phù hợp với chuẩn tắc đạo đức thì đều có thể sản sinh ra tác dụng tích cực đối với mọi vật chất trong thế giới này.

Người phương Đông cổ đại từ lâu đã đúc kết điều này thành những lời khuyên thực tế: “Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”. Nó mang hàm nghĩa vô cùng sâu sắc, và ngầm chỉ ra rằng điều then chốt để vượt qua bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào chính là ở tâm thái, vạn sự thành bại đều là ở tâm niệm, do đó cần luôn giữ cho tâm tĩnh lặng, hòa ái, từ bi… Vận mệnh của một người có thể được cải biến cho tốt hơn nếu “tâm” của người đó thay đổi tích cực hơn.

Hiện nay nền khoa học phương Tây đang ở ngưỡng cửa nghiên cứu về ý thức và các siêu năng lực của con người.

Bắt đầu từ “cuộc cách mạng lượng tử” khoảng 70 năm về trước, nhiều nhà khoa học đã tìm ra sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các kết quả nghiên cứu của họ và một số bí ẩn hay gặp trong tôn giáo. Heisenberg, Bohm, Schrodinger, Eddington, Einstein – những nhà khoa học nổi tiếng – tất cả đều có quan điểm rằng thế giới là huyền bí và thuộc về tinh thần.

Theo nhà nghiên cứu tâm thần nổi tiếng David Hawkins (Hoa Kỳ), tùy theo cảnh giới tinh thần mà mỗi người có một tần số rung động khác nhau, từ 1-1000 Hz. Sự đau khổ, tuyệt vọng và oán thán có tần số thấp, khiến người ta mang bệnh, và ngược lại, hòa ái từ bi có tần số cao khiến mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc. Điều này chẳng phải một cách nói khác của câu “tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”?

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-9.jpg

Các cảnh giới khác nhau có năng lượng khác nhau

Như vậy, khoa học ngày nay đã đủ để lý giải một số khía cạnh trong những kiến thức cổ xưa. Nhưng để tiến xa hơn, chúng ta còn phải xét tới một bộ phận rất quan trọng mà nhiều tín ngưỡng đều nhắc đến:

Con mắt thứ ba – phương tiện của khoa học cổ đại

Để nhận thức vũ trụ, người xưa đã biết khai mở “con mắt thứ ba” – vốn là một bộ phận có sẵn trong cơ thể con người. Con mắt này, vốn nằm tại thể tùng quả trong bộ não, có khả năng vượt xa đôi mắt thông thường.

Đã từ lâu, các nhà khoa học đã nhận ra sự tương đồng giữa thể tùng và con mắt. Nhiều người trong số họ cho rằng thể tùng chính là một con mắt thoái hóa. Năm 1919, Frederick Tilney và Luther Fiske Warren trong một báo cáo đã công bố những đặc điểm tương đồng giữa thể tùng và con mắt người, khiến nó nhạy cảm với ánh sáng cũng như có các khả năng thị giác khác.

Cuốn tự truyện có tựa đề “The Third Eye” (Con mắt thứ ba) của lạt ma Tây Tạng Lobsang Rampa đã diễn tả cuộc phẫu thuật được tiến hành tại vị trí ấn đường (chỗ giao của hai hàng lông mày) của ông, giúp khai mở một số năng lực siêu thường chưa từng có trước đây.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-10.jpg

Những người thực hành tu luyện còn cho rằng con mắt thứ ba của trẻ em từ 6 tuổi trở xuống rất dễ được khai mở và nhìn rất rõ ràng do các bé rất ngây thơ và trong sáng. Thanh niên trưởng thành rất khó khai mở mắt thứ ba do ham muốn vào “thất tình lục dục” của họ là rất lớn. Giải thích này khá trùng hợp với phát hiện của giới khoa học: trẻ em dưới 6 tuổi thì thể tùng ít bị vôi hóa, còn thanh niên trưởng thành hầu hết có thể tùng bị vôi hóa. Điều này có thể lý giải tại sao chỉ các nhà sư đắc đạo, các lạt ma Tây Tạng hay những người tu luyện tâm tính một cách chân chính mới có thể sở hữu những năng lực siêu thường.

Những người thực hành tu luyện có các phương pháp khai mở con mắt này. Khi đó, tùy theo đặc điểm của từng người mà họ có thể có thể xuất hiện những năng lực đặc biệt như: nhìn thấy các cảnh tượng từ xa (dao thị), nhìn thấy được quá khứ và tương lai (túc mệnh thông), thậm chí đọc được ý nghĩ người khác (tha tâm thông)… Trong các câu chuyện cổ của Phật giáo đều có ghi lại các khả năng này, mà hiện nay nhiều nghiên cứu khoa học cũng đã xác nhận được.

Chính vì sở hữu những năng lực siêu thường như vậy, nên thời Trung Hoa cổ đại, kiến thức đã đạt đến mức rất cao và uyên thâm.

3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân”

Cổ thư còn ghi chép lại, các kiến thức cao thâm được sáng tạo ra trong thời cổ đại Tam Hoàng Ngũ Đế mà Đại Vũ là vị vua cuối cùng của thời đó. Tam Hoàng chỉ Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông. Ngũ Đế là Hoàng Đế, Viêm Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-11.jpg

Thần Nông, thủy tổ của nông nghiệp và Đông y (tranh vẽ qua Epoch Times)

Có thể kể tới 3 quyển sách “Thiên – Địa – Nhân” xuất hiện trong thời đại này mà còn truyền tới ngày nay.

“Kinh Dịch” được ví là Thiên Thư, cuốn sách này có thể tương thông với Trời, Thần và tương lai, từ cổ chí kim nó đã triển hiện khả năng dự đoán thần kỳ, chứa đựng nội hàm bác đại tinh thâm. Thiên Đạo được giảng trong sách chính là khởi nguồn của văn hóa, nó chỉ ra quy luật của vũ trụ, trong chớp mắt có thể nhìn thấu thế gian, 64 quẻ trong Kinh Dịch bao quát hết thảy mọi thứ trên thế giới, bao gồm cả sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-12.jpg

“Sơn Hải Kinh” được ví là Địa Thư, ghi chép lại địa lý toàn cầu, từ trước trận đại hồng thủy quyển sách đã đề cập đến bốn biển năm châu. Trong “Sơn Hải Kinh”, “Hải Nội Kinh” là phần viết về địa lý Trung Hoa, còn “Hải Ngoại Kinh” là phần viết về địa lý toàn cầu. Các chuyên gia khoa học đều xác thực điều này, quyển sách đã triển hiện ra một thời đại thần kỳ, khoa học kỹ thuật lúc đó phát triển hơn bây giờ rất nhiều. Hơn nữa, quyển sách còn ghi lại những đặc tính, Thần tính và hình thái của sinh mệnh ở các vùng địa lý khác nhau tại thời kỳ đó.

“Hoàng Đế Nội Kinh” được ví là Nhân Thư – quyển sách khởi nguồn của trung y. “Nội Kinh” mô tả rất chi tiết từ âm dương ngũ hành, cho đến kinh lạc của thân thể người. Mọi người đều là lương y, đều có khả năng tự bảo vệ sức khỏe của mình, nếu dùng để trị bệnh cho người khác thì cũng rất dễ dàng. Những ghi chép về kinh lạc được viết trong Hoàng Đế Nội Kinh thì khoa học ngày nay mới chỉ chứng minh được sự tồn tại, tuy nhiên Đông y đã tiến hành trị bệnh bằng châm cứu và thuốc bắc từ hàng ngàn năm nay, đều dựa theo nguyên lý âm dương và kinh lạc.

Kinh lạc là những lạp tử vật chất vi quan hơn tế bào và phân tử, khoa học hiện đại khó có thể phát hiện ra. Nhưng thời xa xưa, rất nhiều người đã khai mở thiên mục (con mắt thứ ba), như Kỳ Bá (nhân vật trong Hoàng Đế Nội Kinh) có thể nhìn thấy kinh lạc trên cơ thể người và, tất nhiên có thể dễ dàng vẽ lại những kinh lạc đó.

Thời bấy giờ có rất nhiều người am hiểu dưỡng sinh, biết thiên Đạo, hiểu được đạo lý âm dương, và hợp với yêu cầu của thuật số trong trời đất, ăn uống đều có chừng mực, làm việc và nghỉ ngơi có quy luật, không làm quá sức mình, tinh thần và thể chất của họ có thể được giữ vững, vì vậy mọi người đều sống lâu.

Nhân loại hiện đại đã đạt được nhiều thành tựu trong y học nhờ vào nghiên cứu sinh học phân tử; hiện tại sinh học nguyên tử cũng đang được xem xét. Vậy đến các hạt nhỏ hơn – sinh học proton, hạt nhân nguyên tử, nếu chúng ta làm chủ được sinh học ở mức độ hạt quark, neutrino thì sẽ thế nào? Hiện tại cũng có rất nhiều nghiên cứu nhằm kéo dài tuổi thọ con người, đều muốn nghiên cứu đến các tầng vi quan. Người cổ đại vận dụng thiên mục có thể tự mình nghiên cứu tới các hạt vật chất vi tế hơn, khả năng họ tìm ra cách kéo dài tuổi thọ là hoàn toàn khả thi.

Nói đơn giản thì “công nghệ” của người cổ đại còn mạnh hơn công nghệ nano mà chúng ta đang có gấp nhiều lần, chỉ là họ không sử dụng nhiều loại máy móc điện tử phức tạp mà thôi. Một loại “mạng không dây” như trong câu chuyện cười nói đến.

Thời kỳ này đa số là người thường nhưng cũng có rất nhiều người siêu thường, họ có thần thông quảng đại. Đối với con người hiện đại mà nói, điều này quả là huyền hoặc, nhưng người thời đó không cảm thấy kinh ngạc, đó là thời đại mọi người đều tin vào Thần, Thần tích thường xuất hiện không có gì kỳ lạ.

Nhờ các nghiên cứu về “con mắt thứ ba”, chúng ta đã lý giải được về một số khả năng siêu thường của con người, nhưng còn về Thần thì lý giải thế nào?

Lý giải về các vị Thần

Thần là ai? Là những sinh mệnh nắm giữ nền khoa học cực cao, có thể làm những điều mà con người không thể lý giải, nên đành gọi chúng là “phép màu”, huy động năng lượng vô cùng to lớn để thay đổi, biến hóa vật chất. “Công nghệ” của họ không dựa trên sự phát triển máy móc điện tử và vật lý cơ học, mà là dùng tinh thần để huy động năng lượng to lớn của lượng tử, không chỉ phân tử, nguyên tử, electron, quark, neutrino… mà chúng ta biết hiện nay, mà có thể còn đến tầng tầng các hạt vi tế hơn. Mà như chúng ta đã biết, hạt lượng tử càng vi tế thì năng lượng càng cao, do đó sức mạnh mà họ huy động được nằm ngoài sức tưởng tượng của con người hiện nay.

Đó là lý giải theo phương diện vật chất. Mà vật chất và tinh thần là thể thống nhất, do đó về tinh thần thì họ có đặc điểm là đạo đức cực kỳ cao thượng.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-13.jpg

Thần Osiris và Isis của Ai Cập (ảnh: Internet)

Người Atlantis tín thờ thần biển Poseidon, các vương triều Ai Cập thờ thần Osiris, Isis và nhiều vị thần khác… Trong lịch sử của họ, những nhân vật này đều từng xuất hiện trên mặt đất và tạo lập ra nền văn minh. Trong nền văn minh của chúng ta, chẳng phải các thánh nhân như Giê-su, Phật Thích Ca, Lão Tử… cũng từng xuất hiện, đặt định ra các tôn giáo lớn và lưu lại rất nhiều câu chuyện màu nhiệm hay sao?

Chúng ta cần thoát khỏi cái khung tư duy của nền học thuật hiện nay thì mới nhìn ra được, bởi tu luyện là một hệ thống nghiên cứu hoàn toàn khác: không dựa trên duy vật thực chứng, mà là khoa học “tự chứng ngộ” (self-science – trải nghiệm thế giới nội tâm của bản thân) trong đó đặt ý thức, tinh thần vào trọng tâm nghiên cứu. Phương pháp của họ không phải dựa trên lập đi lập lại thí nghiệm nhiều lần trong phòng thí nghiệm, mà chính bản thân họ phải tự trải nghiệm (thiền định, tĩnh tâm, chứng ngộ…) và tu luyện chính mình trong quá trình đó.

Theo “Chuyển Pháp Luân” – cuốn sách chỉ đạo tu luyện từng đứng trong top 10 tác phẩm nổi tiếng nhất Trung Quốc những năm 1990, danh từ “Buddha” xuất phát từ tiếng Phạn, tiếng Ấn Độ cổ. Sau này khi Phật giáo truyền sang Trung Quốc, người ta dịch ra thành “Phật Đà” rồi lâu dần đọc gọn lại thành “Phật”. Ý nghĩa cổ xưa của nó chính là chỉ người đã tu luyện mà đạt được giác ngộ, là người đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình. Ở đây hoàn toàn không có mang màu sắc mê tín hay tôn giáo nào cả.

Con người hiện đại có thể tu luyện hay không?

Người ta thường quan niệm rằng tu luyện thì phải xuất gia vào chùa, bỏ lại sau lưng tất cả những sự việc của cõi hồng trần; hoặc như các đạo sư hoặc lạt ma Tây Tạng trên núi tuyết, có thể ngồi thiền và sử dụng phương pháp hít thở mà ung dung tự tại trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên… Họ chọn một con đường gian khổ như vậy không phải là không có lý do.

Tu luyện vốn không phải chuyện đơn giản, nhưng trong xã hội phồn hoa ngày nay, có lẽ chẳng mấy ai có thể đi theo con đường như vậy. Liệu có thể ngay giữa cuộc sống đời thường đầy cám dỗ, vẫn sinh hoạt nơi xã hội hiện đại mà thực hành tu luyện chân chính hay không?

Theo nguyên lý tu luyện giữa đời thường của Pháp Luân Công – một môn khí công Phật gia được truyền xuất ra tại Trung Quốc từ những năm 90 – căn bản của tu luyện là tu tâm tính. Đó là một quá trình mà người ta sẽ dần dần vứt bỏ các tâm chấp trước (tâm xấu) của mình, cũng là quá trình tu sửa bản thân: gặp bất kể vấn đề gì đều đối chiếu với tiêu chuẩn “Chân – Thiện – Nhẫn” để xét xem mình đã làm đúng chưa, mình còn chỗ nào làm chưa tốt, chứ không đổ lỗi hay tìm nguyên nhân ở bên ngoài. Sau này, khi gặp lại vấn đề, người tu luyện sẽ làm được tốt hơn. Trong xã hội đời thường, nếu ai ai cũng đều “tìm ở bản thân” để tu sửa như vậy, xã hội sẽ giảm đi rất nhiều xung đột, và đạo đức cũng sẽ nâng cao trở lại. Mỗi người đều tự ước thúc hành vi của chính mình thì có khi cũng không cần cảnh sát nữa.

Khoa học tu luyện – sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh

Không chỉ ở Trung Hoa cổ đại, khắp nơi trên thế giới đều lưu lại dấu tích của những người tu luyện. Họ chính là những người khai sáng văn minh, “những ảo thuật gia của Thượng Đế” mà nhà nghiên cứu Graham Hancock nhắc đến trong một quyển sách best-seller của ông.

Dấu tích đó chính là đồ hình chữ Vạn, tiếng Phạn gọi là Swastika, là biểu tượng chữ thập ngoặc 卍. Đồ hình này được hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là “phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng”.

Không chỉ phổ biến trong một số tín ngưỡng phương Đông, chữ Vạn cũng từng là biểu tượng phổ biến trong văn hóa phương Tây. Hơn nữa, chữ Vạn đã từng là biểu tượng của các tín ngưỡng trong một số nền văn minh tiền sử đã bị hủy diệt.

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-14.jpg

Biểu tượng chữ Vạn được tìm thấy trên bức tượng hình chú chim tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Ukraine (ảnh: decacs-inc.com)

719-tu-luyen-chinh-la-mot-thu-cong-nghe-khoa-hoc-bi-lang-quen-15.jpg

Những dấu tích khảo cổ này đã chứng minh rằng, từ hàng chục ngàn năm trước, đã xuất hiện các nền văn minh từng tồn tại trên thế giới và họ cũng tín ngưỡng các vị thần, trong đó có cả các vị Phật. Khi đó, biểu tượng chữ Vạn cũng là biểu tượng phổ biến của các nền văn minh này.

Tu luyện, đó cũng chính là lời giải cho ẩn đố sâu xa của cõi nhân sinh, là sợi chỉ xuyên suốt các nền văn minh từ cổ chí kim, là “công nghệ mạng không dây” của một nền khoa học bị lãng quên. Bởi vật chất và ý thức là một thể thống nhất, nên nhân loại chỉ có con đường đề cao đạo đức, thăng hoa tâm tính trong tu luyện mới có thể tiếp cận được bí ẩn của vũ trụ, thời gian-không gian và nhân thể. Đây có thể là con đường duy nhất và nhanh nhất mà khoa học thực chứng còn rất xa mới động chạm đến được.

Kỳ thực, càng biết về các nền văn minh tiền sử, chúng ta sẽ càng có một loại cảm giác ngậm ngùi. Năm tháng bể dâu, những gì đã từng là huy hoàng của cả một thời đại, giờ chỉ còn lưu lại một vài công trình đá hay các câu chuyện truyền thuyết mà thôi.

Trên thực tế, rất nhiều lời tiên tri nổi tiếng trên thế giới đều chỉ nói đến thời kỳ này của nhân loại rồi cũng sẽ chấm dứt. Nếu như không phải tất cả họ đều thông đồng để lừa chúng ta, thì sao họ lại đều chỉ nói đến cùng một thời đại ngày nay?

Vậy chúng ta nên làm gì? Có một câu nói của Trung Hoa cổ đại còn lưu lại:

“Thời thịnh thế trữ đồ cổ, thời loạn thế mua vàng kim, thời mạt thế phải tu hành.”

Phong Trần, Thiện Tâm tổng hợp - Theo trithucvn

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

BÔNG HOA SỰ SỐNG VÀ HÌNH HỌC LINH THIÊNG

 


Bông hoa Sự sống là một đồ hình gồm bảy vòng tròn (hoặc nhiều hơn) xếp chồng lên nhau. Đồ hình này được đã được con người dùng làm họa tiết trang trí từ thời cổ đại, nó trông giống một bông hoa với cấu trúc hình học lục giác.

724-giai-ma-bi-an-thoi-co-dai-bong-hoa-su-song-va-hinh-hoc-linh-thieng-1.jpg

Từ thời cổ đại, nhiều triết gia, kiến trúc sư và họa sỹ trên khắp thế giới đã biết đến hình dạng, tỷ lệ và sự hài của Bông hoa Sự sống. Những người có tín ngưỡng cho rằng nó là họa tiết hình học linh thiêng chứa đựng những giá trị tín ngưỡng cổ đại, thể hiện những hình dạng cơ bản của không gian và thời gian. Với rất nhiều người, biểu tượng này là hình ảnh đại diện cho sự kết nối lẫn nhau của sự sống.

Quả trứng, Quả và Hạt giống Sự sống

Những nhân vật tiếng tăm như Leonardo da Vinci được cho là đã đề cao tầm quan trọng của biểu tượng Bông hoa Sự sống cùng ba biểu tượng tương tự khác, lần lượt là “Quả trứng Sự sống,” “Quả Sự sống,” và “Hạt giống Sự sống.” Da Vinci dường như rất quan tâm tới những tính chất toán học của các biểu tượng này.

724-giai-ma-bi-an-thoi-co-dai-bong-hoa-su-song-va-hinh-hoc-linh-thieng-2.jpg

Đồ hình Quả trứng Sự sống, Quả Sự sống, và Hạt giống Sự sống (Ảnh: Wiki)

Quả trứng Sự sống được xem là nền tảng cho âm nhạc vì khoảng cách giữa các quả cầu bằng với khoảng cách giữa các nốt nhạc hoặc một nửa nốt nhạc trong âm nhạc. Nó cũng giống với cấu trúc phân chia cấp 3 của tế bào –đầu tiên phân thành hai, thành bốn, rồi thành tám. Khi phát triển thêm lên, nó cũng là cấu trúc tương tự tạo ra cơ thể con người và toàn bộ hệ thống năng lượng.

Bông hoa Sự sống và những thành phần của nó có thể được tìm thấy trong thuật giả kim cổ đại. Năm khối Đa diện Đều của Platon đều có thể được tìm trong Bông hoa Sự sống. Đó là các hình Tứ diện, Lập phương, Bát diện, Thập nhị Diện và Nhị thập Diện.

724-giai-ma-bi-an-thoi-co-dai-bong-hoa-su-song-va-hinh-hoc-linh-thieng-3.jpg

Trên: Năm khối Đa diện Đều của Platon (Ảnh: Wiki)

Dưới: Các khối Đa diện của Platon trong hình khối Metatron (một dạng khác của Bông hoa Sự sống) (Ảnh: Tomruen)

Bông hoa Sự sống trên khắp thế giới

Một điều thú vị về Bông hoa Sự sống là nó xuất hiện tại hầu hết các nền văn hóa lớn trên thế giới. Người ta có thể thấy nó tại các đền chùa trong Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, tại các giáo đường Do Thái ở Isarel, tại các chùa ở Ấn Độ và Nhật Bản, tại thành phố Ephesus ở Thổ Nhĩ Kỳ, khắc lên đá tại Assyria, hội họa Ý thế kỷ 13, tại giáo đường Cordoba ở “la Mezquita”, Tây Ban Nha.

Biểu tượng Bông hoa Sự sống cổ nhất từng được biết đến là những họa tiết xuất hiện trong Đền thờ Osiris ở Abydos, Ai Cập. Hầu hết các nhà khảo cổ học cho rằng chúng đã ít nhất 6.000 năm tuổi, mặc dù một số người đề xuất rằng chúng ra đời trong khoảng thế kỷ thứ 2 Sau Công Nguyên. Điểm đặc biệt của Bông hoa Sự sống ở Abydos là người ta dường như không khắc, mà đốt hoặc bằng cách nào đó, vẽ lên trên đá với độ chính xác phi thường. Người ta cho rằng nó đại diện cho con mắt của thần Ra, một biểu tượng quyền lực của Pharaoh.

724-giai-ma-bi-an-thoi-co-dai-bong-hoa-su-song-va-hinh-hoc-linh-thieng-4.jpg

Họa tiết Bông hoa Sự sống được khảm tại Ephesus (Ảnh: Miryam I)

Bông hoa Sự sống trong tôn giáo

Bông hoa Sự sống và Hạt giống Sự sống xuất hiện trong tất cả những tôn giáo lớn trên thế giới. Các tác giả của phong trào New Age đã liên hệ chúng với nhà tiên tri Enoch, Đại thiên thần Metatron, 6 ngày Sáng tạo, biểu tượng tôn giáo Vesica Piscis và các vòng tròn Borromean.

Trong hệ phái Kabbalah của những tín đồ Do Thái giáo, người ta cũng tìm thấy những mối liên hệ với biểu tượng Bông hoa Sự sống. Biểu tượng Cây Sự sống, vốn phát xuất ra từ đồ hình Bông hoa Sự sống, cũng được nghiên cứu và học tập trong kinh sách của Kabbalah. Thêm vào đó, ký hiệu Lập phương Metatron, xuất hiện khi kết nối tâm của các vòng tròn trong Trái cây Sự sống, cũng có mặt trong các cổ thư Kabbalah thời đầu.

724-giai-ma-bi-an-thoi-co-dai-bong-hoa-su-song-va-hinh-hoc-linh-thieng-5.jpg

Biểu tượng Cây Sự sống trong đồ hình Bông hoa Sự Sống

Trong phong trào New Age, Bông hoa Sự sống có một ý nghĩa tinh thần sâu sắc và là một dạng giác ngộ với những người xem nó là một đồ hình thiêng liêng để nghiên cứu. Có nhiều nhóm người trên khắp thế giới đã sáng lập ra các đức tin khác nhau và dạng thức thiền định dựa trên (ít nhất là một phần) của Bông hoa Sự sống. Người ta nói nó chứa đựng các mô thức của tạo hóa khi tạo hóa xuất sinh từ “Great Void” (tạm dịch: Khoảng trống Lớn)”

Hình học Linh thiêng và cách vẽ Bông hoa Sự sống

Hình học Linh thiêng (Sacred geometry) có thể được định nghĩa là một hệ thống đức tin xây dựng các giá trị tín ngưỡng và văn hóa dựa trên rất nhiều hình dạng cơ bản của không gian và thời gian. Theo hệ thống đức tin này, những họa tiết cơ bản của tồn tại đều được xem là linh thiêng, vì sự chiêm ngưỡng một thứ cũng là chiêm ngưỡng khởi nguồn của tất cả mọi thứ.

Bằng cách nghiên cứu bản chất của những họa tiết này và mối quan hệ giữa chúng với nhau, người ta có thể thu được thêm hiểu biết về các quy luật khoa học, triết học, tâm lý học, mỹ học và thần học của vũ trụ. Bông hoa Sự sống là một họa tiết hình học linh thiêng, và được cho là chứa đựng các giá trị tín ngưỡng cổ đại mô tả những hình dạng cơ bản của không gian và thời gian.

Để vẽ Bông hoa Sự sống không quá khó. Tất cả những gì bạn cần là một cây bút và compa. Bạn bắt đầu với việc vẽ một vòng tròn. Sau đó di chuyển trục của compa đến bất cứ điểm nào trên cạnh của vòng tròn và vẽ một vòng tròn khác cùng đường kính. Tiếp tục di chuyển trục compa tới giao điểm của hai vòng tròn và vẽ tiếp hai vòng tròn nữa, tất nhiên là có cùng đường kính – về hai phía của hai vòng tròn ban đầu. Cứ tiếp tục như vậy và mở rộng Bông hoa Sự sống bằng cách lặp lại quá trình vẽ các vòng tròn có đường kính bằng nhau với tâm là giao điểm của hai vòng tròn trước đó.

724-giai-ma-bi-an-thoi-co-dai-bong-hoa-su-song-va-hinh-hoc-linh-thieng-6.jpg

Cách vẽ Bông hoa Sự sống (Ảnh: Tomruen)

Hạ Chi biên dịch

Nguồn: Trithucvn

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tha thứ

 


THA THỨ – NỀN TẢNG CỦA SỰ CHỮA LÀNH


Tha thứ là bước tinh túy nhất để hàn gắn. Đó là phẩm chất cơ bản nhất cần trau dồi để có được những mối quan hệ cân bằng và hài hòa. Về vấn đề này, thực hành các bước sau đây tỏ ra vô cùng hữu ích.


1. Dung hoà cảm xúc

Dung hoà cảm xúc là một quá trình của tha thứ, loại bỏ tất cả những cảm xúc không mong muốn bao gồm cả sự giận dữ và oán giận. Vì vậy, thay vì trút giận lên người có liên quan, bạn hãy ngồi với chính mình trong vài phút bất cứ khi nào bạn cảm thấy cần thiết. Thừa nhận / chấp nhận cảm xúc của bạn (tức giận, buồn bã, thất vọng, bất cứ điều gì) mà không phán xét.


2. Cắt đứt liên hệ để tha thứ

Trong cuộc sống, chúng ta hình thành những sợi dây liên kết năng lượng với những người và hoàn cảnh khác nhau. Chúng khiến chúng ta bị mất năng lượng. Tha thứ cũng bao gồm cắt đứt Điều này dẫn đến tiêu hóa kém và các vấn đề sức khỏe khác.


– Ngồi thoải mái, nhắm mắt và hít thở sâu.


– Tập trung và đi vào trạng thái thiền định và kêu gọi các thiên thần của bạn. Bạn có thể mời Tổng lãnh thiên thần Michael với thanh kiếm vàng ngài mang theo bên mình.


– Yêu cầu ngài cắt sợi dây kết nối giữa bạn với người hoặc tình huống bị tổn thương.


– Bạn thậm chí có thể nói thành lời ba lần, “Cắt, cắt, cắt” trong khi thực hiện bài tập này.


– Đặt tay lên luân xa Trái tim của bạn và để cho năng lượng Reiki yêu thương chảy và lấp đầy nó. Hãy làm tới khi bạn cảm thấy mình không còn kết nối cảm giác bị tổn thương và trở về trạng thái bình yên.


3. Buông bỏ và để Mẹ thiên nhiên làm công việc của mình

Bất cứ khi nào ý nghĩ báo thù khơi dậy, hãy mở rộng vòng tay của bạn về phía bầu trời và để Thần lực quyết định hướng đi phù hợp. Hít thở sâu và thở ra đưa những suy nghĩ tư tưởng nạn nhân ra khỏi bạn. Hít vào sự bình an. Tránh sự đánh giá trong mọi tình huống


4. Khẳng định chính là tha thứ

Ho’oponopono là một tập tục cổ xưa của Hawaii để tha thứ và hòa giải. Nó giúp giải thoát cho cả hai bên liên quan đến việc mâu thuẫn. Khi bạn gửi đi nguồn năng lượng của sự tha thứ và yêu thương, nhiều khả năng đối phương cũng sẽ đáp lại.


5. Thực hành lòng biết ơn

Viết nhật ký về lòng biết ơn và viết một vài điều (5 đến 10 điều) mà bạn coi là phước lành của mình hàng ngày.

Hãy chọn sự giải thoát, niềm vui, sự an tâm của bạn vì bạn xứng đáng.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS