Container Icon

TÍCH ĐỨC

 


KHOA HỌC CHỨNG MINH: ĐỨC LÀ MỘT DẠNG VẬT CHẤT CÓ THẬT, LÝ DO VÌ SAO PHẢI TÍCH ĐỨC

Trong “Đạo Đức Kinh”, một tác phẩm đặc sắc trong lịch sử văn hóa truyền thống Trung Hoa, Lão Tử – người được coi là ông tổ của Đạo giáo đã nói: “Kẻ nào đức dày, giống như con đỏ (trẻ sơ sinh). Độc trùng không cắn, thú dữ không ăn, chim ưng chẳng bắt.”

725-khoa-hoc-chung-minh-duc-la-mot-dang-vat-chat-co-that-ly-do-vi-sao-phai-tich-duc-1.jpg

Trong văn hóa truyền thống phương Đông, người ta vẫn cho rằng “đức” kia là nguồn gốc của phúc phận, là nguyên nhân của giàu sang, phú quý, công danh, địa vị, trí tuệ, tài năng, sức khỏe, hạnh phúc, vẻ đẹp… của con người. Người không có hoặc có ít phúc phận là vì họ không có hoặc có ít “đức”. Lão Tử cũng nói, “Trọng tích đức, không gì là không được” . Ở Việt Nam, Trung Quốc và các nước phương Đông, người xưa thường nhắc nhở con cái, hãy “tích đức”, đừng để “thất (mất) đức”.

Thường thì người ta chỉ tích tiền, tích vàng và những thứ vật chật chất hữu hình khác. Còn “đức” hay “đạo đức”, “đức hạnh” được coi là thứ thuộc về phạm trù tinh thần, là thứ liên quan đến hình thái ý thức. Vậy thì vì sao người ta khuyên con người phải “tích đức”? Phải chăng “đức” kia cũng là một dạng vật chất và có thể tích trữ được?

Câu trả lời có thể đúng như vậy, “đức” thực sự là một thứ vật chất, chỉ có điều thứ vật chất đó không giống như vật chất bình thường chúng ta thấy hiện nay. Vậy lý giải điều này như thế nào?

“Đức” là vật chất tồn tại ở không gian khác

Trong cuốn tự truyện “Con mắt thứ ba”, Lạt Ma Lobsang Rampa cho biết, sau khi ông trải qua cuộc phẫu thuật để khai mở con mắt thứ ba (thiên mục), ông nhìn thấy:

“Thể xác con người được bao phủ bằng một lớp vỏ như sương mù muôn màu nghìn sắc, đó là hào quang. Những vị có thần nhãn nhìn vào hào quang của một người, có thể quan sát các màu sắc đó mà hiểu được tình trạng sức khỏe, đức hạnh và trình độ tiến hóa [tinh thần] của người ấy.”

725-khoa-hoc-chung-minh-duc-la-mot-dang-vat-chat-co-that-ly-do-vi-sao-phai-tich-duc-2.jpg

Bìa cuốn sách Con mắt thứ ba được dịch ra tiếng Việt bởi dịch giả Nguyễn Hữu Kiệt trước năm 1975 (ảnh: lobsangrampa.org)

Nếu ta coi con mắt thứ 3 như một loại thiết bị đặc biệt, và thiết bị này phát hiện ra rằng trình độ đức hạnh của một người có ảnh hưởng tới biểu hiện hào quang của người đó (một thứ vật chất), vậy đức hạnh kia cũng hẳn phải có dạng tồn tại vật chất thì mới ảnh hưởng tới được.

Chúng ta gần đây đã phát hiện được rằng vật chất và ý thức không phải là hai phạm trù độc lập, không phải là hai thể đối lập, mà vật chất và ý thực là một thể thống nhất.

Thực vậy, tiến sĩ David Bohm (1917–1992), một trong những nhà vật lý lý thuyết quan trọng nhất của thế kỷ 20 xác định rằng: ý thức là một dạng thức tinh vi hơn của vật chất, và “sự phân chia vũ trụ thành hữu cơ và vô cơ là vô nghĩa.”

“Ngay cả một viên đá cũng vẫn có sự sống theo cách nào đó”, Bohm nói, “vì sự sống và trí tuệ hiện diện không chỉ trong tất cả các vật chất, mà trong cả năng lượng, khoảng không, thời gian và khung của toàn vũ trụ,” và thêm nữa, “Mọi thứ đều có sự sống. Điều gọi là cái chết mới trừu tượng.”

Tiến sĩ William Tiller, một trong những nhà khoa học hàng đầu thế giới về cấu trúc vật chất của Đại học Stanford, nói rằng “người ta rốt cuộc sẽ xem ý thức là một đặc tính của vũ trụ, nó có khả năng tạo ra phóng xạ – thứ rốt cuộc sẽ sinh ra vật chất. Về khía cạnh này, người ta rốt cuộc sẽ khám phá rằng đặc tính của vật chất phụ thuộc vào ý thức nội tại của nó.”

Vậy, nếu ý thức cũng là vật chất thì “đức” – một thứ vốn được coi là thuộc về phạm trù ý thức – cũng là một thứ tồn tại ở vật chất. Điều này hoàn toàn có thể lý giải được.

Vậy vì sao những biểu hiện của đức hạnh của một con người, thứ đã xảy ra trong quá khứ lại có thể được tồn tại và nhìn thấy trong hiện tại?

Trong cuốn sách Power vs Force (tạm dịch: Năng lượng tinh thần và Sức lực cơ bắp), một trong những cuốn sách được đánh giá là “sẽ thay đổi cuộc đời bạn” của David R.Hawkins – Tiến sĩ, bác sĩ tâm thần, nhà nghiên cứu nhận thức và giảng viên tâm linh nổi tiếng người Mỹ, tác giả đã ứng dụng vật lý lượng tử, thuyết hỗn độn (chaos theory) – còn gọi là thuyết về các hệ động lực phi tuyến (nonlinear dynamics) – để nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người, vũ trụ và ý thức.

725-khoa-hoc-chung-minh-duc-la-mot-dang-vat-chat-co-that-ly-do-vi-sao-phai-tich-duc-3.jpg

TS Hawkins và cuốn sách nổi tiếng Power vs Force

David R. Hawkins cho rằng ý thức hay tinh thần của con người là một trường lượng tử. Qua hơn 25 năm nghiên cứu, ông đã cho ra đời bản đồ ý thức (Maps of Consciousness) tương ứng với thang đo trường năng lượng tinh thần của con người (từ mức 0 đến 1000) qua đó khái quát được tình trạng sức khỏe thể chất, cảnh giới tinh thần của con người bằng con số cụ thể.

725-khoa-hoc-chung-minh-duc-la-mot-dang-vat-chat-co-that-ly-do-vi-sao-phai-tich-duc-4.jpg

Thang đo năng lượng tinh thần của con người

Trong cuốn sách Power vs Force, David R. Hawkins đã viết:

“Mọi vật trong vũ trụ liên tục sinh ra mẫu hình năng lượng với một tần số đặc biệt, nó bất biến với thời gian và có thể được “đọc” bởi những ai biết cách. Mỗi từ, hành động và ý muốn tạo thành một bản ghi vĩnh cửu. Mỗi suy nghĩ đều được nhận thấy và ghi lại mãi mãi. Không có những bí mật; không có những điều bị che giấu và cũng không thể làm như thế. Tinh thần của chúng ta “đứng” trần trụi cùng thời gian và đều bị nhìn thấu tất cả. Cuộc sống của mỗi người, cuối cùng đều phải chịu trách nhiệm trước vũ trụ.”

Đã có rất nhiều các báo cáo khoa học cho thấy ý thức của con người tồn tại độc lập với cơ thể và sau khi chết đi, con người ta có thể luân hồi.

Theo giải thích này của David R. Hawkins thì sự hình thành, phát triển, suy lão và diệt vong của bất cứ thứ gì, vật chất hữu hình hay vô hình; bất kể suy nghĩ, hành động, lời nói của bất kỳ cá nhân nào cũng được ghi và lưu lại vĩnh viễn trong vũ trụ, đời này qua đời khác, kiếp này qua kiếp khác.

Cũng đã có nhiều thí nghiệm khoa học về vướng víu lượng tử khẳng định rằng có tồn tại các vật chất mà khoa học chưa nhìn thấy được có thể chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng và thời gian cũng có vướng víu lượng tử. Theo thuyết tương đối của Einstein, nếu một vật thể có thể chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng, thì vật thể ấy có thể đi ngược thời gian, trở về quá khứ. Nghĩa là, ở một không gian mà con người không nhìn thấy được bằng cặp mắt thịt này, hay kể cả bằng những máy móc khoa học hiện tại, những gì tồn tại trong quá khứ có thể được nhìn thấy, thông qua một phương pháp đặc biệt, ví dụ như con mắt thứ ba.

Chúng ta cũng đã biết rằng cơ thể con người là một tiểu vũ trụ và ở các không gian khác nhau có một dạng tồn tại của thân thể vật chất tương ứng với không gian ấy.

Tiến sĩ Babara Ann Brenna từng là chuyên viên khoa học của NASA, bà là chuyên gia trong lĩnh vực trường năng lượng sinh học của con người. Babara cũng là người có con mắt thứ ba được tự nhiên khai mở từ bé và có thể nhìn thấy hào quang của cơ thể người. Trong cuốn sách “Những bàn tay ánh sáng” (Hands of Light), qua quan sát hào quang cơ thể người, bà cho rằng, con người có các cơ thể vô hình tương ứng với các vầng hào quang và các luân xa chính.

725-khoa-hoc-chung-minh-duc-la-mot-dang-vat-chat-co-that-ly-do-vi-sao-phai-tich-duc-5.jpg

7 vầng hào quang tương tứng với 7 thân thể người ở không gian khác theo mô tả của Babara Ann Brenna (ảnh: Hands of Light/ Babara Ann Brenna)

Trong giáo lý của Phật giáo, người ta cho rằng khi con người làm việc tốt thì họ đang tạo “thiện nghiệp”, còn làm việc xấu thì tạo “ác nghiệp”. Tuy vậy, ngày nay người ta thấy rằng “thiện nghiệp” và “ác nghiệp” được nói đến trong Phật giáo không chỉ là hình thái ý thức.

Bàn về “ác nghiệp”, trong cuốn sách Bàn tay ánh sáng, Tiến sĩ Babara Ann Brenna cho biết:

“Hiện giờ tôi đã bắt đầu nhìn thấy hai mức của trường hào quang bên trên mẫu óng vàng (tầng hào quang thứ 7). Hai mức này hiện ra có bản chất kết tinh và có rung động cao rất mịn. Mọi thứ từ mức thứ bảy trở xuống, về một ý nghĩa nào đó, đều là phương tiện truyền bá để hướng dẫn và hỗ trợ ta qua cuộc đời này. Điều đó bao gồm cả các dải tiền kiếp trong vầng ketheric, bởi vì những dải này đại diện cho những bài học về nghiệp (karma) mà ta đã hóa thân để học hỏi trong cuộc đời này”

Cũng tương tự, cuốn Chuyển Pháp Luân, giảng về pháp lý của pháp môn tu luyện Phật gia, có viết: con người vốn có nhiều thân thể vật chất tồn tại ở các không gian khác nhau. Trong một không gian nhất định, thân thể người được bao quanh bởi một trường vật chất màu trắng, vật chất màu trắng đó chính là “đức”. Ngoài ra, thân thể ở không gian khác cũng tồn tại trường vật chất màu đen, đó chính là “nghiệp lực” (karma). Khi làm việc tốt, chịu khổ sở, bị đánh đập thì người ta được vật chất màu trắng, cũng chính là “đức”. Khi làm việc xấu, hiếp đáp, đánh đập người khác thì người ta phải nhận vật chất màu đen – tức nghiệp lực.

Cuốn sách còn cho biết, hai loại vật chất đen (nghiệp lực) và trắng (đức) này độc lập với thân xác thịt của con người. Chúng vẫn tồn tại mãi theo cùng ý thức (nguyên thần) của con người cho dù họ chết đi hay luân hồi ở kiếp khác.

Chúng ta không chỉ thấy người xưa dạy cần phải “tích đức”, tránh “thất đức”, đôi lúc khi thấy người khác gặp hoàn cảnh rất khó khăn, éo le, đáng thương, ta thường buột miệng nói cá nhân ấy “tội nghiệp quá”. Ngày nay, câu nói ấy chỉ được hiểu là cá nhân ấy rất đáng thương, nhưng có lẽ nghĩa sâu xa hơn của câu nói đó ngụ ý rằng người này trong quá khứ đã làm những việc thất đức, tạo nhiều “tội nghiệp” nên đời này cần phải hoàn trả. Phải chăng nó cũng là câu nói cảnh tỉnh cho bản thân mỗi người chúng ta là cần phải tích đức, tránh tạo nghiệp trong cuộc sống?

Như vậy, từ những phát hiện được đề cập bên trên, chúng ta có thể luận giải được rằng, đức (và cả nghiệp lực) của con người không chỉ đơn thuần là thứ thuộc về phạm trù ý thức, mà chúng thực sự là vật chất, chúng ảnh hưởng trực tiếp đến mọi điều con người có được trong cuộc sống này hoặc trong tương lai. Điều này rất phù hợp với quan niệm truyền thống lưu truyền từ xa xưa, rằng con người sống cần phải hành thiện, tích đức, tránh làm việc xấu, từ đó mất đức và tạo thêm nghiệp lực.

Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là, điều gì có thể khiến cho vật chất “đức” ấy mang lại phúc phận cho con người?

Vì sao “đức” có thể được chuyển hóa thành phúc phận?

Trong cuốn sách Power vs Force, Tiến sĩ David R. Hawkins cho biết:

“Vũ trụ lưu giữ hơi thở của nó giống như chúng ta lựa chọn con đường chúng ta đi, từng khắc từng khắc; đối với vũ trụ, bản chất của sự sống tự nó có ý thức rất cao. Mỗi hành động, suy nghĩ và sự lựa chọn đều sẽ thêm vĩnh cữu (in dấu và lưu giữ mãi mãi) vào một bức tranh ghép mảnh (mosaic); các quyết định của chúng ta tạo ra làn sóng khắp vũ trụ của ý thức và ảnh hưởng lên sự tồn tại của vạn vật.”

“Trên hết, vũ trụ không quên lãng. Có rất nhiều khía cạnh đối với câu hỏi nghiệp lực (karma), nhưng mỗi sự lựa chọn của ai và lựa chọn như thế nào đều sẽ trở thành một lựa chọn quan trọng. Tất cả các sự lựa chọn của chúng ta đều sẽ quay trở lại (dội lại) trong cuộc đời của mỗi người. Chúng ta cuối cùng sẽ phải chấp nhận sự chịu trách nhiệm cho mỗi suy nghĩ, lời nói và hành động mà chúng ta đã gây ra và tái trải nghiệm chính xác bất kỳ sự đau đớn nào mà chúng ta đã gây ra cho người khác. Trong ý nghĩa này, mỗi chúng ta đều tự tạo ra thiên đường hay địa ngục cho bản thân.”

725-khoa-hoc-chung-minh-duc-la-mot-dang-vat-chat-co-that-ly-do-vi-sao-phai-tich-duc-6.jpg

Ảnh minh họa cho khái niệm “nhân quả” (Nguồn: Shutterstock)

Trong cuốn Bàn tay ánh sáng, Tiến sĩ Babara viết:

“[Trong] quá trình hóa thân trước lúc thụ thai… linh hồn hóa thân gặp gỡ các hướng đạo tâm linh để dự kiến cuộc đời sắp tới. Trong cuộc gặp gỡ này, linh hồn và hướng đạo xem xét những nhiệm vụ mà linh hồn phải hoàn thành trong quá trình sinh trưởng của nó, cái mà nghiệp lực (karma) đòi hỏi được đáp ứng và quan hệ, cùng những hệ thống niềm tin tiêu cực mà nó phải thanh lọc qua trải nghiệm.”

Trong cuốn Đạo Đức Kinh, Lão Tử viết: Tất cả các chúng sinh trong thế giới này, “được sinh ra bởi Đạo, nuôi dưỡng bởi Đức, định hình bởi vật chất, hình thành bởi hoàn cảnh” (Đạo sinh chi, Đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi).

Sách Chuyển Pháp Luân cũng cho biết: khi có nhiều đức thì người ta sẽ “làm đại quan hoặc phát đại tài”, còn người có nhiều nghiệp lực thì sẽ nghèo đói, bệnh tật và phải chịu bất hạnh. Cuốn sách giải thích rằng những điều này là do đặc tính của vũ trụ – được gọi là “Phật Pháp” quyết định.

Những quan điểm này mang đến cho ta luận giải: vũ trụ tự bản thân nó sẽ có đặc tính quyết định vai trò của đức và nghiệp cũng như là việc chuyển hóa đức và nghiệp thành phúc phận hay tai ương. Cá nhân có nhiều vật chất đức sẽ được nhiều hạnh phúc, mạnh khỏe, giàu có, thành công… giống như Lão Tử đã nói “Kẻ nào đức dày, giống như con đỏ (trẻ sơ sinh). Độc trùng không cắn, thú dữ không ăn, chim ưng chẳng bắt.”. Còn người có nhiều vật chất nghiệp lực sẽ gặp nhiều khó khăn, khổ nạn, nghèo đói, bệnh tật, bất hạnh…

Nói một cách khác, đặc tính của vũ trụ, điều mà Lão Tử gọi là “Đạo” hay những pháp môn tu luyện Phật gia gọi là “Phật Pháp” sẽ khống chế quy luật nhân – quả. Nói rộng hơn đặc tính vũ trụ sẽ khống chế hết thảy sự hình thành, tồn tại, suy lão và diệt vong của vạn sự vạn vật trong vũ trụ, trong đó có quy định một cá nhân sinh ra sẽ có phúc phận như thế nào, tùy thuộc vào “đức” và “nghiệp lực” của họ.

Đức – một loại “của cải” vô hình

725-khoa-hoc-chung-minh-duc-la-mot-dang-vat-chat-co-that-ly-do-vi-sao-phai-tich-duc-7.jpg

Người xưa thường dạy con người cần phải tích “đức”, đừng để thất “đức” vì ý nghĩa rất sâu xa của nó. Ngày nay, lời dạy này dường như đã ít người nói đến, rất nhiều người xem nó như lời nói thoảng qua vì không tin rằng con người thực sự cần tích đức.

Nhưng, “đức” thực sự là vật chất và có thể được chuyển hóa thành phúc phận của con người, là gốc của cá nhân cũng như mọi vấn đề trong xã hội. Một đất nước, một xã hội có đạo đức, đồng nghĩa với việc đất nước đó, xã hội đó sẽ giàu có và hạnh phúc. Một xã hội không coi trọng đạo đức, thì đạo đức sẽ tuột dốc, con người trong xã hội đó rồi sẽ bị tha hóa và điểm đến cuối cùng sẽ là diệt vong.

Vũ trụ và sinh mệnh con người tồn tại những bí ẩn vĩ đại mà khoa học thời nay không thể giải thích nổi. Nếu có thể dũng cảm thoát ra khỏi những định kiến, quan niệm cố hữu và tư duy lối mòn để khám phá những bí ẩn đó bằng tấm lòng rộng mở, nhân loại sẽ bước sang một trang sử mới với những bước phát triển không thể tưởng tượng được bằng tư duy hiện tại.

Thiện Tâm tổng hợp - trithucvn

-------------


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

CỘNG HƯỞNG SCHUMANN

 


PHẦN 1. TẦN SỐ RUNG ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT ĐANG TĂNG

Cộng hưởng Schumann là gì ?

Cộng hưởng Schumann là giao động điện từ bao quanh Hành tinh. Là nhịp đập từ trường của Trái Đất.

Cộng hưởng Schumann có ảnh hưởng đối với sự thay đổi khí hậu, các hoạt động địa chấn và hệ thần kinh của con người.

Vào năm 1952, Tiến sĩ Vật lý người Đức Winfried Otto Schumann lần đầu tiên đo được tần số điện từ này của Trái đất. Lúc đó tần số đo được là 7.82 Hz .

Tám năm sau, vào năm 1960, Tiến sỹ Schumann kết hợp với Tiến sỹ sinh học Ruetger Wever thực hiện nhiều thực nghiệm sinh học, chứng minh rằng: Tần số điện từ Schumann ảnh hưởng tích cực tới Sức khỏe sinh học của nhiều loài động thực vật. Hai ông cũng phát hiện rằng tần số điện từ này tác động mạnh tới hệ thần kinh và hành vi của con người. Hai vị tiến sỹ này tin rằng tất cả các sinh vật sống trên Trái đất, bao gồm cả con người đã tiến hóa, phát triển và trở nên quen thuộc với tần số này của Trái đất trong nhiều ngàn năm qua.

Người Rishis Ấn Độ cổ đại nói rằng: 7,83 Hz là tần số của âm OM Thiêng liêng. Đó cũng là nhịp đập tự nhiên của Đất mẹ. Mà ngày nay các nhà khoa học gọi là "Cộng hưởng Schumann".

Gia tăng đột biến tần số cộng hưởng Schumann.

187-cong-huong-schumann-phan-1-tan-so-rung-dong-cua-trai-dat-dang-tang-1.jpg

Trong nhiều năm, Các nhà khoa học trên khắp thế giới đều đo được tần số cộng hưởng này dao động ổn định ở mức 7,83 Hz, chỉ có các biến đổi nhỏ.

Vào tháng 6 năm 2014, Tần số cộng hưởng Schumann lần đầu tiên thay đổi. Dữ liệu đô đạc từ hệ thống quan sát không gian của Nga báo cáo: Tần số Schumann tăng đột ngột lên khoảng 8,5 Hz.

Kể từ đó, cộng hưởng của Schumann tăng dần lên 16,5 Hz. Lớn hơn 2 lần tần số ổn định trong nhiều ngàn năm.

Như đã đề cấp trước đây trong bài viết "Bão Mặt trời và Thanh lọc Tâm linh" vào cuối tháng 2-2019, Khi đó tần số Schumann trung bình vào khoảng 50 Hz, tăng 7 lần so với bình thường.

Bây giờ là nửa cuối tháng 3-2019, cũng đang có một đợt tăng tần số Schumann rất mạnh và khốc liệt. Tần số cực đại xấp xỉ 150 Hz- tăng gần 20 lần so với tần số bình thương. Tần số trung bình ngày 16-17 tháng 3-2019 là 100 Hz. Tăng khoảng 12 lần so với giá trị bình thường.

Đây là dữ liệu đo đạc của Trung tâm quan sát không gian của Nga, tại thành phố Tomsk.

Trang web của họ : http://sosrff.tsu.ru/

Hoặc tham khảo thêm dữ liệu từ các Trung tâm theo dõi không gian của Mỹ và Châu âu:

Trang web : https://www.heartmath.org/gci/gcms/live-data/gcms-magnetometer/

Quan sát các dữ liệu đo đạc khoa học, Chúng ta nhân thấy rằng đang có sự gia tăng đột biến của Tấn số cộng hưởng Schumann. Tần số tăng quá cao, Rung động quá nhanh, gây ra nhiều nguy hiểm cho sự ổn định sinh học của con người. Nguy hiểm vì tăng quá nhiều trong thời gian ngắn vài ngày. Hệ thần kinh của con người không thích nghi được sẽ bị choáng, sốc và trầm cảm hoặc năng động quá mức.

Hiện nay, những ngày cuối tháng 3-2019, đang có nhiều hoạt động năng lượng mặt trời. Đang có những đợt bão Năng lượng từ Mặt trời đổ vào Trái đất. Đồng thời cộng hưởng Shumann, Tăng đột biến gần 20 lần như ngày 17 tháng 3 năm 2019, là chưa từng thấy trước đây!

Khoa học về hệ Thần kinh và Tần số cộng hưởng Schumann .

Con người là một Sinh mệnh điện từ. Trong con người cũng có nhiều tần số điện từ như: Điện Não đồ và Điện Tim đồ. Xác định được tần số sóng não thì cũng biết được trạng thái Ý thức của người đó. Tần số sóng não của Người bị ảnh hưởng - bị cuốn theo tần số cộng hưởng Schumann vì cùng là tấn số Điện từ.

Cụ thể là:

- Tần số 7,83 Hz của Não người là trạng thái Alpha / Theta. Thư giãn, cảm giác bình an nhưng mơ màng - một loại trạng thái trung lập không hoạt động cho đến khi có điều gì đó xảy ra. Đây là trạng thái trì trệ bất động của Ý thức. Cảm giác mọi thứ đều ổn, dù cho xung quanh có xảy ra biến động gì thì cũng bình chân như vại. Sống bao năm thì cũng vẫn đờ đẫn vậy thôi. Đời như là mộng ảo, Đời như là một giấc mơ, không liên quan gì tới mình..... Một thời gian dài, hầu hết người trong nhân loại sống trong tâm thức như vậy.

Nếu một người không sử dụng não để nghĩ, để đầu óc ở chế độ " Lái tự động" thì não không có hoạt động hưng phấn gì nổi trội, sóng não sẽ tự động bị cuốn theo tần số Schumann 7,83 Hz của Trái đất. Đây là trạng thái Tâm bất tỉnh, ngủ mê giữa đời thương, mơ mơ hồ hồ, không có chủ kiến gì. Rất dễ để người khác sai khiến...

-Tần số 8,5 đến 16,5 Hz là tần số Beta thấp. Với tần số này, não bắt đầu ra khỏi trạng thái mơ màng, bắt đầu nhận những cảnh báo từ các giác quan như tai- mắt- mũi... .Điều này tương đương với sự thức tỉnh và nhận thức chậm. Đặc biệt, tần số sóng não từ 12 đến 16,5 Hz biểu hiện trạng thái lý tưởng của "bình tĩnh tỉnh táo" của não. Các quá trình nhận thức rõ ràng và chính xác hơn. Khi đó, chúng ta sẽ "hài hòa" hoặc "có ý thức hơn". Như vậy, Khi Trái đất đang thay đổi tần số rung động Schumann, thì do ảnh hưởng tới sóng não, tất cả chúng ta đều đang "thức dậy".

- Tần số 16-22 Hz là tần số Beta tầm trung, thể hiện ra trạng thái tích cực. Tích cực nhận thức, phân tích và tìm kiếm giải pháp.

- 23-30 Hz là Tần số cao của Beta. Khi đó Não sẽ có khả năng suy nghĩ phức tạp. Tổng hợp chính xác các vấn đề, mạnh dạn dũng cảm tham gia trải nghiệm mới. Có nhiều sự phấn khích và hưng phấn với trạng thái sóng não này .

- Từ 31 tới 100Hz hoặc hơn - tần số sóng não Gamma . Đây là tần số của những bộ não Thiên tài, của những người thức tỉnh toàn phần, của Sáng tạo tràn đầy, của Ý thức đầy đủ, của Tự chủ Viên Mãn, của trạng thái Nhập Đại Định và sinh Trí huệ .

Sự gia tăng tần số Schumann của Trái đất sẽ kéo theo sư tăng Tần số sóng não của con người. Các trạng thái Ý thức cũng thay đổi về hướng tỉnh táo và mở rộng nhận thức hơn, tốt hơn. Đó là cách loài người đang nhận được Năng lượng để Thức tỉnh Tâm linh, mở rộng nhận thức và Tiến hóa. Đó là Thiên cơ đang biểu hiện. Thiên cơ khả dĩ lộ từ từ .

Mối nguy hiểm ở đây là tần số tăng quá nhanh, đột biến tốc hành. Cơ thể con người trong thời gian ngắn không thích ứng được, sẽ sinh ra nhiều triệu chứng bất lợi : bệnh tật đau ốm, thậm chí đột tử. Gây ra lệch lạc nhận thức, trầm cảm hoặc cuồng loạn, khủng bố...

Bình thường tần số là 7.83 hz, cũng giống như tốc độ của người đi bộ là 7.83 km/h . Bây giờ đột nhiên người đó bị kéo đi với tốc độ 50 km/h, thậm chí có lúc tăng vọt lên tới 100 km/h. Tăng tốc trong thời gian rất ngắn. Đúng là quá nhanh và quá nguy hiểm. Tăng tốc nhanh quá là ngã sấp mặt. Quá nhanh và quá nguy hiểm là vậy.

PHẦN 2. CÁC TRIỆU CHỨNG CỤ THỂ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

1- Vài giải thích khoa học:

Khi bắt đầu đo đạc được tần số cộng hưởng, Tiến sỹ Schumann cho rằng nguyên nhân tạo ra các tần số này là các tia sét trong khí quyển trái đất. Cách giải thích này vẫn phổ biến cho tới tận ngày nay. Cách giải thích xưa cũ này là không chính xác.

Khi cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ có nhiều vệ tinh và kính thiên văn vô tuyến quan sát tầng điện ly của khí quyển Trái đất, họ mới khám phá ra nguyên nhân thực sự của giao động cộng hưởng Schumann là do " gió Mặt trời" , do các dòng Plasma liên tục phóng ra từ Mặt trời, hướng tới Trái đất và tác động lên từ trường của Trái đất, tạo ra Tần số cộng hưởng Schumann. Điều này tương tự như ta nén-nhả- nén- nhả... một quả bóng bay, thì không khí bên trong quả bóng bay cũng sẽ giao động cùng với tần số nén-nhả của ta đang làm.

Các dòng Plasma từ Mặt trời, nhào nặn bầu khí quyển của Trái đất theo chu kỳ, tạo ra tần số cộng hưởng Schuman. Tần số Schumann lại ảnh hưởng tới sinh học, suy nghĩ và hành vi của con người thông qua tác động vào sóng não. Cho nên hoạt động của Mặt trời ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe và cuộc sống của con người.

Đi cùng với các làn sóng Plasma từ mặt trời là nhiều loại Năng lượng khác nữa, mà con người chưa đo đạc được. Đi cùng với Ánh sáng nhìn thấy được từ Mặt trời là nhiều loại Năng lượng không nhìn thấy được nhưng tác động sâu vào bên trong cơ thể và tác động lên từng tế bào của con người. Những dòng Năng lượng này kích hoạt và chuyển đổi nhiều thứ sinh hóa bên trong cơ thể. Làm thay đổi Tâm thần, cảm xúc, gây ra Thức tỉnh Tâm linh và gây ra đột biến di truyền trong khắp Nhân loại.

Đây còn được gọi là Những Làn Sóng Ánh sáng của thời đại Chuyển đổi. Tần số cộng hưởng Schumann chỉ là biểu hiện bề mặt nhìn thấy được của những làn sóng Năng lượng Ánh sáng không nhìn thấy được, đang tác động khai mở Tâm linh, nâng cao Tâm thức cho toàn bộ Nhân loại.

2- Ba loại phản ứng với việc tăng tần số Schumann.

Mỗi người đều đang phải chịu đựng việc Tăng đột biến tần số Schumann này. Mỗi người đều đang phải chịu đựng hay đón nhận các làn sóng Năng lượng Khai mở Tâm linh và nâng cao Tâm thức này. Dù muốn hay không, dù biết hay không biết, tất cả mọi người và mỗi người đều đang tắm đẫm trong dòng Năng lượng Ánh sáng này.

Hưởng thụ là như nhau, nhưng phản ửng của mỗi người là khác nhau.

Theo quan sát của Samba thì có 3 loại phản ứng , tương đương với 3 loại người trong khoảng thời gian chuyển đổi này. Cách phản ứng khác nhau, thì triệu chứng và cách giải quyết khác nhau.

2.1 Loại người Thích nghi.

Dù biết hay không biết, dù chủ động hay bị động, thì loại người này vẫn đang hưởng thụ nhiều lợi ích của Những làn sóng Năng lượng và của việc tăng tần số Schumann. Tâm trạng của họ là vui vẻ nhẹ nhàng, bình tĩnh trong cuộc sống. Thấy Đời hình như ngày càng tươi vui dễ chịu. Họ đón nhận tất cả mọi thứ Ánh sáng đang tới, Hấp thụ tất cả, chuyển hóa, tiêu hóa tốt tất cả mọi thứ đang được Tạo hóa ban tặng. Sức khỏe của họ ngày càng tốt lên, trông trẻ ra, gặp mặt là thấy hơn hớn.

  • Họ hoàn toàn thích nghi được với việc Trái đất đang tăng tần số cộng hưởng Schumann.
  • Họ hoàn toàn thích nghi được với các làn sóng Năng lượng Ánh sáng đang tới.
  • Họ là người thuận theo dòng chảy và là người đang cưỡi lên trên các con sóng, thưởng thức chuyến đi miễn phí do các làn sóng chở họ đi.
  • Họ là người Lướt sóng Vũ trụ, Tận hưởng dòng chảy và Gió thổi Thuyền đi...

2.2 Loại người Đau bệnh.

Như đã giải thích ở phần đầu bài viết, Tần số cộng hưởng Schumann là kết quả của những làn sóng Năng lượng Plasma phát ra từ Mặt trời. Giới Tâm linh Thời Đại Mới thì gọi đó đó là Năng lượng Thần thánh, Đám Lightworkers - Starseed thì gọi đó là Làn sóng Ánh sáng Thức Tỉnh Tâm linh.

Với cách nhìn khoa học thì đó là dòng Plasma - gió từ Mặt trời. Là một dòng những đợt liên tục của các hạt Ion , dòng hạt điện tử và dòng của một loạt các hạt lượng tử khác... phóng tới và bao trùm trái đất... hết đợt này tới đợt khác. Tăng tần số cộng hưởng Schumann chỉ là một trong nhiều biểu hiện của dòng Plasma gió Mặt trời này.

Đây là dòng rất mạnh của Bức xạ vũ trụ nhằm vào Trái đất.

Trái đất và mọi sinh vật sống trên đó đều phải chịu một liều chiếu xạ của rất nhiều loại chùm hạt vũ trụ cùng lúc....

Sự chiếu xạ từ Vũ trụ này kích thích các phần lõi của Trái đất, làm tăng hoạt động trong lòng đất, làm dịch chuyển các mảng lục địa , làm tăng hoạt động của núi lửa.....

Đối với cơ thể con người, sự chiếu xạ từ vũ trụ này cũng kích thích nhiều quá trình sinh hóa, làm thay đổi DNA, làm đột biến di truyền của con người và làm thay đổi trái thái cảm xúc, ý thức , tâm linh của con người.

Những thay đổi của cơ thể:

  • - Thay đổi nhiệt độ cơ thể - Đột nhiên nóng ran hoặc lạnh không có lý do rõ ràng.
  • - Đau đầu, tăng áp lực hộp sọ.
  • - Chóng mặt, buồn nôn.
  • - Nhịp tim không đều hoặc Tim hồi hộp.
  • - Những cơn đau không giải thích được, xuất hiện ở nhiều chỗ trên cơ thểvà biến mất vài ngày sau đó.
  • - Da ngứa ran và nổi mẩn đỏ.
  • - Triệu chứng như cúm. Đau họng, sốt nhẹ.
  • - Vấn đề về đường ruột, tiêu hóa kém.
  • - Đột nhiên đói hoặc thèm ăn những món khác thường.
  • - Mệt mỏi, kiệt sức, thiếu năng lượng.
  • - Mất ngủ, rối loạn ngủ.
  • -......

Thay đổi của các giác quan:

  • - Ngứa mắt, ngứa tai...
  • - Xuất hiện tiếng ồn hoặc tiếng rít ở trong tai. Ù tai, điếc tạm thời;
  • - Các giác quan nhạy bén hơn.
  • - Tăng trực giác.
  • - Tâm trạng thay đổi mạnh. Lúc buồn lúc vui, lúc trầm cảm...
  • - Thỉnh thoảng nhìn thấy hoặc ngửi thấy những thứ không thuộc trần gian 3D.
  • - Cảm giác lo lắng, dường như có sự kiện gì lớn đang tới.
  • - Và nhiều biểu hiện khác nữa không liệt kê ra hết được....

Những biểu hiện này giống như đau bệnh, khiến cho người đó cảm thấy khó chịu. Họ không hiểu điều gì đang xảy ra. Một vài người đi khám bác sĩ và họ được cho biết rằng họ khỏe mạnh, mọi thứ hoàn toàn bình thường.

Bác sỹ chỉ biết được những triệu chứng bệnh tật, còn những triệu chứng chuyển đổi và bị chiếu xạ từ Vũ trụ thì họ không biết. Có rất nhiều lầm tưởng ở những biểu hiện bệnh này. Những triệu chứng giống bệnh này. Không phải là bệnh như cách bình thường, cho nên cách xử lý cũng hoàn toàn khác.

Bác sỹ nói bình thường, những rõ ràng là có đau bệnh.

  • - Đau bệnh kiểu này là biểu hiện của những tắc nghẽn và không thích nghi kịp với những làn sóng Năng lượng Ánh sáng, không thích nghi kịp với sự tăng đột biến của tần số Schuman.
  • - Đau bệnh kiểu này là phản ứng của cơ thể để thích nghi với Tần số ngày càng cao của Ánh sáng.
  • - Đau bệnh loại này là biểu hiện của cơ thể đang Tự đả thông Kinh mạch và chuyển đổi tới một kết cấu mới, tới một cách hoạt động hoàn toàn mới.
  • - Đau bệnh kiểu này là biểu hiện chuyển đổi đột biến di truyền của Loài người tới một dạng sống mới, thành một loài mới.
  • - Đau bệnh loại này thường không kéo dài và không chữa trị gì thì cũng sẽ tự biến mất sau vài ngày hoặc 1 tuần.

Bản thân Samba thuộc loại đau bệnh này. Vật vã khổ sở, sốt nhẹ vô cớ, ho dài ngày, nổi mẩn ngứa, đau khớp, lúc thì ăn không tiêu , lúc thì thèm ăn nhiều thứ khác thường, các giấc mơ sáng suốt mạch lạc mạnh mẽ hơn, các giác quan nhạy bén tới mức gây khó chịu.... Bởi vì biết rõ những biểu hiện đau bệnh này là do Thời tiết Năng lượng Vũ trụ, là do cơ thể thích nghi và chuyển đổi, nên Samba không đi bệnh viện, không khám bác sỹ, không uống thuốc bệnh... mà tìm cách giúp cho cơ thể chuyển đổi nhẹ nhàng hơn... kết quả là Samba và những người thân nhẹ nhàng vượt qua những biểu hiện đau bệnh này, không tốn tiền, sức khỏe ổn định, ngày càng ngon lành, xinh tươi khỏe đẹp.

2.3 Loại người từ chối

Họ là nhóm người từ chối những biến động môi trường Năng lượng đang xảy ra xung quanh. Họ có thể từ chối một cách vô thức, không biết rõ mà bị lôi kéo vào.... Cũng có thể là từ chối theo cách hoàn toàn có ý thức. Hiểu rõ nhưng cố tình. Có thể chia loại người từ chối này thành 2 nhóm có đặc tính khác nhau.

Đầu tiên, Họ là nhóm người say mê trong quyền lực nhân tạo:

  • -Quyền lực tài chính,
  • -Quyền lực chính trị,
  • -Quyền lực truyền thông tuyên truyền,
  • -Quyền lực tôn giáo,
  • -Quyền lực ảo trong game.
  • -....

Thứ 2, Họ cũng là nhóm người say mê trong thân phận nô lệ của nhóm quyền lực nêu trên.

Cả hai nhóm đều là những người bị ảnh hưởng nặng nề của thao tác tâm trí và bị suy giảm trí thông minh, hoặc không có khả năng nhận thức tình hình.

Họ là nhóm người không nhận thức được, hoặc cố tình không nhận thức, cố tình né tránh các chiếu xạ từ Vũ trụ, né tránh việc để cho cơ thể tự động thích nghi với chuyển đổi.

Những người chủ động từ chối: Họ giống như những học sinh cá biệt , lưu ban nhiều lần, ở mãi trong lớp học trần gian này. Họ trở nên giỏi hơn, mạnh hơn, giàu có hơn những linh hồn mới tới học. Họ thích ở lại đây , trong những rung động thấp, trong đau khổ và thiếu thốn 3D. Họ từ chối cơ hội Tiến hóa mà Đấng Tạo hóa đang cung cấp cho tất cả mọi người dân Trái đất.

Cách thức của họ đang làm là từ chối chuyển đổi tự nhiên. Tập trung toàn bộ cuộc sống vào những thứ nhân tạo. Cố tình tự đầu độc bản thân và đầu độc mọi người xung quanh để tạo ra môi trường rung động thấp, để tiếp tục sống trong môi trường rung động thấp, để tiếp tục được sống trong lớp học cũ , từ chối cơ hội lên lớp trên để tiến hóa. Khi có vài kiến thức Tiến hóa tới, thì họ phủ nhận cho cố. Cố tình ngu. Hoặc uống thuốc an thần rồi đi ngủ để quên đi hiện thực. Hoặc ăn chất độc, uống say sỉn để tự làm suy giảm rung động bản thân, để tự đưa mình ra khỏi dòng tiến hóa.

Nhóm chủ động từ chối: Họ là tầng lớp tự coi là giầu có và Tinh hoa. Họ đang đầu độc bản thân và đầu độc mọi người dân trên Trái đất, hòng giữ rung động của Nhân loại ở mức thấp, ngăn cản người dân chuyển đổi theo những Làn sóng Năng lượng Ánh sáng, ngăn cản con đường tiến hóa tự nhiên của các linh hồn ở đây.

Họ đang làm nhiều chuyện sai trái, để suy giảm rung động đại chúng, trong đó có cả bạn và tôi.

Có thể kể ra đây một vài thứ:

  • - Đầu độc hóa học: Thuốc trừ sâu và kim loại nặng nhiễm độc vào thức ăn.
  • - Đầu độc Y tế: Thuốc y tế chỉ chữa chữa triệu chứng, có nhiều tác dụng phụ độc hại tới cơ thể và Linh hồn
  • - Đầu độc không khí: Ô nhiễm từ khí thải nhà máy và xe các loại.
  • - Đầu độc vác xin - trong Vac xin có nhiều thành phần độc hại.
  • - Đầu độc truyền thông: Tin giả tin đểu nhiều vô kể.
  • - Đầu độc Tôn giáo. Giáo dục.
  • - Đầu độc bằng cách gây chiến tranh tàn phá các vùng đất.
  • - Đầu độc từ trường. 4G-5G - Wifi....
  • - Đầu độc cơ thể và Linh hồn con người.

Để duy trì một mạng lưới đầu độc người dân, giữ cho người dân ngập chìm trong độc hại, không có được sức khỏe thể chất và sức khỏe Tinh thần đầy đủ, Nhóm quyền lực đang thực hiện rất nhiều nỗ lực về tiền bạc và sự dối trá lừa dối tới mức áp đảo nhận thức của người dân.

Nhóm người Từ chối chuyển đổi này, không muốn và không thể chuyển đổi tiến hóa. Họ cũng đang bắt giữ , lôi kéo thật nhiều người chìm đắm theo họ.

3. Cách xử lý.

3.1 Xử lý với Loại người Thích nghi:

Nếu bạn thuộc nhóm người Thích nghi này, thì ngon rồi. Cần tiếp tục duy trì phong cách sống đúng đắn như đã làm. Duy trì thói quen, duy trì những hành động như trong thời gian vừa qua. Để tiếp tục thích nghi tốt với những lần tăng tần số Schumann dữ dội sắp tới.

Cứ lặng lẽ sống để làm gương cho nhiều người khác noi theo. Bạn sẽ tự động sáng chói trong đám đông. Khuôn mặt tươi tỉnh, thần thái đúng chuẩn, cơ thể khỏe mạnh... sẽ thu hút sự chú ý của nhiều người. Nếu có ai hỏi tại sao bạn đạt được như thế, nếu thấy hứng thú, thì chia xẻ với họ vài điều. Đó là điều nên làm, để giúp đỡ nhau trong khoảng thời gian thích nghi và chuyển đổi khó khăn này.

3.2 Xử lý với loại người đau bệnh.

Đối với những người đau bệnh do chuyển đổi thời đại. Có thể chia làm 2 nhóm.

  • - Nhóm muốn vươn lên để khỏe mạnh và thích nghi.
  • - Nhóm tự suy giảm bản thân để rơi xuống loại từ chối.

Samba thuộc nhóm muốn vươn lên khỏe mạnh và thích nghi.

Samba đã nghiên cứu và tìm mọi cách để thích nghi và vươn lên.

Cho nên ở đây, Samba chia sẻ những kiến thức của bản thân.

Còn loại từ chối và tự suy giảm thì cách xử lý thì để họ chung với Nhóm từ chối.

Để có thể thích nghi và vượt qua những biểu hiện đau bệnh dễ dàng.

Để không tự làm trầm trọng thêm những biểu hiện đau bệnh.

Để không ngu dốt từ chối chuyển đổi,

Để không trấn áp các biểu hiện đau bệnh do chuyển đổi.

Samba đã chọn cách cộng tác với Cơ thể và Linh hồn của mình.

Lắng nghe nhu cầu của cơ thể. Chiều theo nhu cầu của cơ thể. Chú ý hơn tới cơ thể, dành nhiều thời gian chăm sóc cơ thể hơn. Hơn những lúc bình thường không đau bệnh, hơn những lúc Schumann bình thường 7.83Hz.

Để thích nghi với dòng Năng lượng mạnh mẽ đang tới. Samba làm 4 việc như sau:

  • - Buông bỏ.
  • - Dinh dưỡng đúng.
  • - Thải độc.
  • - Chào đón Năng lượng Mới đang tới.

A - Buông bỏ:

Buông bỏ tất cả những thứ không còn phù hợp.

Trái đất và Nhân loại đang được Đấng Tạo Hóa, đang được Tự nhiên thúc giục bước ra khỏi mô hình cách sống cũ, để trưởng thành hơn, để tiến hóa thành một loài mới tiên tiến hơn và có cách thức sống hoàn toàn mới.

Giống như một đứa trẻ học xong trường mẫu giáo ở khu phố, bước lên cấp trên, nhập vào lớp học mới của Thành phố. Đứa trẻ đó cần phải buông bỏ những thứ quen thuộc trong lớp học cũ. Ra khỏi phòng học mẫu giáo quen thuộc gần nhà, xa rời các cô bảo mẫu dễ thương, không còn những bàn ghế nhỏ xinh của lớp mẫu giáo, không còn đồ chơi xanh đỏ.... Cần phải buông bỏ tất cả những thứ đó, thì mới bước vào được ngôi trường mới, đang dành sẵn cho mình.

Nhóm đau bệnh đang chuyển đổi cũng cần buông bỏ rất nhiều thứ.

  • - Buông bỏ kiến thức cũ không còn phù hợp. Tự học thêm nhiều kiến thức mới tiên tiến và hợp lý hơn.
  • - Buông bỏ những niềm tin xưa cũ. Mở rộng miền tin tới những thứ tươi sáng hơn, lành mạnh hơn, có ích hơn, tốt lành hơn, đúng đắn hợp thời hơn.
  • - Buông bỏ những thứ thân quen không còn phù hợp nữa. Đi tìm những thứ thân quen mới, cao đẳng hơn, phù hợp hơn với Linh hồn, phù hợp hơn với thời đại mới.
  • - Buông bỏ thói quen quá tập trung vào đời sống vật chất, Bổ xung thêm Đời sống Tinh thần Tâm linh đúng đắn và tiến bộ.
  • - Buông bỏ người thân, bạn bè. Vẫn để họ sống ở đó, còn mình lặng lẽ đi tìm một lối sống khác, phù hợp với thôi thúc từ nội tâm.
  • - Buông bỏ nghề nghiệp kiếm tiền đã dần trở nên nặng nề vô nghĩa. Tim một việc làm khác mà bản thân thấy vui vẻ hơn...
  • - Buông bỏ thói quen ăn uống có nhiều chất độc hại. Ăn uống thanh nhẹ lành mạnh đủ chất hơn.
  • - Buông bỏ thói quen tin vào đài báo, sống theo quảng cáo. Hãy cảm nhận bằng trái Tim, Hãy tin vào trực giác.
  • - Buông bỏ hệ thống tôn giáo như nhà thờ, chùa, miếu. Vẫn tham dự sinh hoạt tôn giáo nếu thấy cần thiết. Nhưng cần mở rộng tâm thức cao hơn xa hơn những thứ chỉ sống bằng niềm tin xưa cũ đó. Bắt đầu đích thân thực hành Tu luyện đúng cách và khoa học.
  • - Buông bỏ tham dự vào đám đông tôn giáo ồn ào. Tự mình, lặng lẽ đi vào Khoa học Tâm linh đích thực.
  • - Buông bỏ môi trường sống cũ - chuyển tới môi trường sống mới trong lành hơn.
  • - Buông bỏ thói quen nghe theo chỉ dẫn của người khác, chuyển tới nghe theo nhu cầu chính đáng của bản thân.
  • - Buông bỏ thói quen chà đạp lên bản thân chỉ để vừa lòng ai đó vớ vẩn, vô nghĩa ngoài kia.
  • -... Và nhiều nhiều thứ khác nữa cần buông bỏ... Tùy vào hoàn cảnh và nhu cầu của mỗi người.

B- Dinh dưỡng đúng:

Trong môi trường hoàn cảnh mới, đương nhiên cần có hành động mới để phù hợp và thích nghi.

Khi Tần số cộng hưởng Schumann 7,83Hz thì nhu cầu cơ thể và Tâm linh chỉ có ngần đó thôi.

Nhưng khi Tần số tăng 12 lần, thì cơ thể vật lý và Tinh thần Tâm linh đương nhiên sẽ có nhu cầu khác đi, mở rộng hơn.

Dinh dưỡng đúng gồm có 2 phần: Dinh dưỡng đồ ăn cho Cơ thể vật Lý và Dinh dưỡng Đồ ăn Tinh thần, cho Tâm linh đang khai mở, nẩy nở, phát triển.

Dinh dưỡng đồ ăn cho cơ thể vật lý: Cần Ăn đúng- Ăn đủ-Ăn sạch- Ăn theo nhu cầu của cơ thể. Đồ ăn bây giờ không quá hiếm. Nhưng lại quá ô nhiễm. Đồ ăn nhiễm độc đủ thứ, mỗi người tùy theo kiến thức hiểu biết và khả năng của mình, cần lựa chọn đồ ăn cẩn thận nhất, khôn ngoan nhất trong thời điểm này. Bởi vì Đồ ăn bây giờ bị nhiễm độc hàng loạt. Lựa chọn đồ ăn là Sức khỏe thân xác, là nền tảng của Tỉnh táo tinh thần, của thích nghi và chuyển đổi, là cơ sở để tiến hòa Tâm linh. Cần tăng thêm mức độ quan tâm tới đồ ăn, cần đầu tư thêm tiền bạc cho đồ ăn chất lượng cao.

Các loại thức phẩm hiện đại không chỉ bị nhiễm độc, mà còn thiếu hụt khoáng chất dinh dưỡng nghiêm trọng. Muốn bổ xung đủ khoáng chất thì đừng có ăn nhiều- ăn nhiều thì nhiễm độc nhiều. Bổ xung Khoáng chất dinh dưỡng bằng các loại thuốc bổ xung dễ kiếm trên thị trường. Luôn có các loại thuốc đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Vấn đề là Bạn có thực sự quan tâm tới nhu cầu chính đáng của cơ thể hay không thôi. Có chịu chăm sóc cơ thể hay không thôi. Mọi thứ vẫn luôn có sẵn ở đó. Lựa chọn là trong tầm tay.

Ăn gì, gì uống gì cụ thể - thì chính bạn phải lựa chọn và quyết định. Samba chỉ chia sẻ được tới đây.

Dinh dưỡng Đồ ăn tinh thần cho Tâm linh: Đó là Tu luyện Chánh Pháp đúng cách.

Việc này đã đề cập nhiều trong các bài viết của Samba, xin đọc lại và tham khảo kỹ.

C- Thải độc:

Môi trường sống đang trở nên ô nhiễm nặng nề. Độc hại đậm đặc bằng nhiều cách đang tấn công cơ thể. Cách thức cơ thể nhận các chất độc hại vượt quá mức hiểu biết của mỗi người.

Còn phải sống, còn phải ăn, còn phải đi làm kiếm tiền, còn phải hít thở là vẫn còn phải nhận vào nhiều chất độc hại. Không làm sao tránh hết được. Vậy để cho cơ thể và Tâm linh lành mạnh, khỏe tươi thì cần phải thải độc.

Thải độc cho cơ thể vật lý: Bao gồm nhiều bước:

  • -Bắt buộc phải đi theo đúng trình tự sau, nếu không các chất độc sẽ ngấm sâu hơn vào cơ thể. Thực hiện sai, không thải được độc mà sẽ bị nhiễm độc sâu hơn.
  • -Bắt buộc phải dinh dưỡng cơ thể đầy đủ rồi mới tiến hành thải độc. Nếu cơ thể không có đủ dinh dưỡng, cơ thể sẽ cứ giữ chất độc trong người không thải ra được.

Đầu tiên phải thải độc ruột và thải độc da. Sau đó thải độc tạng phủ: gan mật.... Tiếp theo thải độc tế bào. Sau cùng mới là Thải độc Não.

Nguyên tắc thải độc là phải: Làm đúng, làm đủ. Từ từ dài lâu, tuyệt đối không được gấp. Thải độc là một quá trình thực hiện suốt đời, nhiều chục năm, không phải làm xoẹt một cái mà xong được. Các quy trình thải độc nhanh gấp đều không được khuyên dùng.

Thải độc Tinh thần , Khai phát Tâm linh: Đó là tu luyện Tâm linh đúng cách.

D- Chào đón năng lương mới đang tới:

Nghe nói rằng Nhân loại và Trái đất đang:

  • - Đi ra khỏi thời đại Song ngư và tiến vào thời đại Bảo bình.
  • - Đang đi ra khỏi thời đại Nhị nguyên và bước vào Thời đại Thống Nhất.
  • - Đang đi ra khỏi thời đại Bóng tối và bước vào Thời Đại Hoàng Kim Ánh sáng.
  • - Đang đi ra khỏi thân phận Nô lệ Tâm thần U mê đầy ảo tưởng Maya và bước vào Thời đại tự chủ đầy Sáng tạo.
  • - Đang đi ra khỏi thời đại Năng lượng Nam Tính cố chấp và bước vào Thời đại Nữ tính dịu dàng bao dung...
  • - Đang bước ra khỏi thời đại dùng Đầu óc suy nghĩ Lý trí và bước vào thời đại dùng Tình thường chân thành từ Trái tim....

Khi thải độc tốt và khi đã phát triển được Tâm linh, Khi đã thức tỉnh Tâm linh, khi đã mở rộng được Ý thức, khi Tâm thức đủ sáng.... thì từ bên trong con người bạn sẽ tự biết làm như thế nào để chào đón được Năng lượng mới đang tới.

Khi vẫn còn trong tâm thức thấp kém, khi vẫn còn trong ảo tưởng mê lầm dày đặc, khi vẫn còn định kiến phân biệt đúng sai.... thì nói gì về chào đón cũng sẽ thế thôi... không thể hiểu được.

Cứ sống tiếp đi, cứ Tu Luyện Tâm linh đúng đắn đi, cứ đi tới đi... tới chỗ đó sẽ biết tiếp.

Chưa cất bước để đi, nói hoài, chỉ hoài cũng không ích gì.

3.3 Xử lý với loại người từ chối.

Những người thuộc loại từ chối chuyển đổi thì sẽ không đọc bài viết này. Họ không quan tâm tới những vấn đề mà bạn và tôi đang vật vã. Cho nên phần viết về Xử lý của loại người từ chối sẽ chuyển thành: Xử lý đối với loại người đó. Không phải viết về chủ đề là họ cần làm gì. Mà chia sẻ về cách chúng ta, những người đang chuyển đổi, cần làm gì khi gặp phải họ. Cần đối xử với họ như nào cho đúng.

Không thể khuyên bảo, không thể thuyết phục, không thể huấn luyện được những người này. Họ không cần chữa lành, họ không cần lẽ phải, họ không cần sức khỏe, họ không cần thích nghi và chuyển đổi... như chúng ta.

Họ có những mối quan tâm hoàn toàn khác chúng ta. Dường như tâm trí họ bị bắt giữ trong một cái gì đó phi nhân tính. Họ hoạt động với bản ngã rất cao, ích kỷ, hung hãn, nham hiểm. Họ có bản năng sinh tồn rất cao, nhưng đồng thời không hề quan tâm tới sự sống của những thứ khác ngoài họ. Mọi thứ xung quanh đều phải phục vụ cho họ.

Môi trường tự nhiên trên Trái đất, môi trường giao tiếp trong nhân lọai đang thay đổi rất mạnh và nhanh. Tất cả mọi người đều đang thức dậy, sóng não được tăng cường. Người tốt sẽ dùng sóng não tăng cường đó để tốt hơn. Người xấu sẽ được tăng cường làm xấu thêm.

Đồng thời môi trường Năng lượng đang dần chuyển sáng lên. Những người từ chối này sẽ ngày càng khó sống hơn. Họ phải bận rộn hơn, họ phải làm việc nhiều hơn, họ phải đầu tư nhiều thời gian sức lực hơn để giữ được rung động thấp xung quanh họ. Họ như những con ếch đang ngồi trong chảo lửa. Chảo ngày càng nóng hơn. Họ như những con cá mắc kẹt trong đoạn sông đang dần khô cạn. Đoạn sông ngày càng cạn khô. Họ gây rối nhiều hơn và hung hăng hơn.

Cách thức tốt nhất mà chúng ta, những người đang chuyển đổi, là tôn trọng sự lựa chọn của họ. Để họ lại với những mối bận rộn của họ. Họ muốn ở lại trong rung động thấp ngày càng rối loạn, hay là họ muốn đi ra rồi chịu đau bệnh và chuyển đổi, thì phải do họ tự làm, tự lựa chọn.

Hãy tôn trọng họ, và chúng ta sẽ được yên ổn phần nào để thực hiện chuyển đổi.

Nếu Chúng ta tôn trọng họ đúng và đủ, nhưng họ vẫn điên cuồng xâm phạm vào phạm vi của chúng ta, thì cần đáp trả mạnh mẽ. Không cần nói lý lẽ nhiều vì có nói họ không có khả năng hiểu.

Người nào, Linh hồn nào muốn chuyển đổi, họ cần phải tự bước ra khỏi những rung động thấp, thực hiện nhiều buông bỏ, nhiều thay đổi.... mãi sau rồi mới cần tới sự giúp đỡ của những người đi trước.

Nếu họ chưa làm được gì, chỉ rên rỉ rồi kêu gọi lòng từ bi thương xót của những người đang chuyển đổi, xin hãy cảnh giác, đó phần nhiều là cái bẫy để tóm cổ và lôi người trên bờ xuống hố bùn.

Vài lời kết thúc bài viết:

Tần số Cộng hưởng Schumann là biểu hiện của những làn sóng Năng lượng Ánh sáng đang tới. Những làn sóng Năng lượng ngày càng cao này, đang tẩy rửa thế gian. Thời gian nhân loại được dạy bảo " học phụ đạo " đã chấm hết. Giờ là thời gian tất cả mọi người "vào phòng thi". thời gian được học học và nói nói đã hết, thời gian được giở sách vở kinh phật thánh đã hết. Giờ là lúc bị thử thách thẳng băng ngay và luôn.

Năng lượng đang đổ xuống ngày càng cao. Những ai mà Thân Tâm thanh tịnh thì Năng lượng này sẽ giúp khai mở thêm về mặt Tâm linh, sẽ làm tích cực thêm về mặt Tâm lý, sẽ làm sáng suốt thêm về mặt Trí tuệ, sẽ trẻ khỏe hơn về mặt sinh học thân xác, sẽ làm cho bao dung và yêu thương hơn về mặt cảm xúc....

Ngược lại, những ai mà Thân Tâm đang nặng nề ô nhiễm, thì không thể điều chỉnh, hòa theo được tần số năng lượng đang dâng cao, thì sẽ bị nhiều áp lực từ bên trong ngày càng tăng, đến độ có thể phát sinh khủng hoảng tâm thần và khủng hoảng sức khỏe thân xác. Hậu quả sẽ là thảm khốc.

Mọi thứ đang tăng tốc. Xin hãy tự bảo trọng.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

CÁC CHIỀU KHÔNG GIAN VŨ TRỤ

 


Các chiều không gian là trạng thái ý thức, tồn tại theo tần số rung động ở mỗi cảnh giới; mỗi linh hồn sẽ tồn tại trong chiều không gian thích hợp dựa theo tần số rung động và ánh sáng của chính mình.

Các chiều không gian được kết nối với nhau thông qua Lưới Ánh Sáng (Holographic), tần số rung động, sóng chuyển động kỳ diệu của âm thanh, màu sắc và hình thức thở vào và ra ở Trạng Thái Sáng Tạo không đổi (bất di bất dịch).

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ NHẤT

Chiều Không Gian Thứ Nhất là ý thức nguyên tử vật chất của Mẹ Trái Đất. Chiều Không Gian này là cõi của vương quốc khoáng sản. Ý thức Chiều Không Gian Thứ Nhất của con người là “vô thức” với năm giác quan vật chất của chúng ta. Phần Chiều Không Gian Thứ Nhất của cơ thể chúng ta là khoáng chất, nước, và mã di truyền là nền tảng dạng vật chất của chúng ta.

Khi câu thông với cõi này, chúng ta sẽ kết nối với toàn bộ thế giới vật chất trên mức độ phân tử. Đây là nơi vật chất lượng tử là nơi của các điện tử, proton, hạt nhân và vi lượng; nó là cửa ngõ giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô.

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ HAI

Ý thức Chiều Không Gian Thứ Hai là sự nhận thức về mức độ sinh học. Ở đây bạn có thể kết nối với các vương quốc thực vật và động vật. Đó là ý thức chỉ đạo hệ thống thần kinh tự trị để điều chỉnh và duy trì các chức năng hỗ trợ cuộc sống. Năm giác quan vật chất của chúng ta vô thức về điều này. Đây là nơi các hóa sinh vật hóa tạo nên thân thể. Ở cõi này bạn thích hợp để nhận biết về cơ thể mình là một mạng lưới giao tiếp lớn giữa tất cả các phần tử ở trong các tế bào của mình như thế nào. Có nhiều chúng sinh khác nhau tồn tại ở cõi này như: tiên, thần, thần linh thiên nhiên, hóa sinh vật (vi sinh vật), tinh linh, và còn có những lực lượng tà ác.

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ BA

Đây là chiều không gian của sự tự nhận thức và tự ý thức. Hai nhu cầu cơ bản là tư duy hợp lý và tư duy trực quan. Bằng cách áp dụng cả hai phẩm chất đó - chúng ta biết rằng chúng ta là một phần của nhau – và dẫn đến sự trải nghiệm của TÌNH YÊU. Ý thức Không Gian Chiều Thứ Ba là nhận thức về điểm, đường, chiều dài, chiều rộng, chiều cao và khối lượng. Linh hồn nhập thể vào Chiều Không Gian Thứ Ba để trải nghiệm tính hai mặt của thế giới vật chất.

Đây là chiều không gian của thời gian/không gian và nhân/quả. Đó là thế giới của năm giác quan. Nếu bạn không thể quan sát một cái gì đó với một trong năm giác quan, thì nó không tồn tại. Chiều Không Gian Thứ Ba dựa trên sự sợ hãi, phán xét và chia cách.

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ TƯ

Chiều Không Gian Thứ Tư là một mặt phẳng phân cực màu xám, chứa các năng lượng của Ánh Sáng và Bóng Tối. Ý thức Chiều Không Gian Thứ Tư là sự nhận thức về không gian thiên văn trong thân thể thể A-tu-la. Thân thể A-tu-la có rung động cao hơn thân thể vật chất, tần số cao hơn một bát độ. Nhận thức về quá khứ, hiện tại và tương lai trở nên linh động hơn ở Chiều Không Gian Thứ Tư. Khi ngủ, chúng ta vô thức trong chiều thứ ba, nhưng chúng ta sẽ ý thức trong chiều thứ tư. Bằng cách sử dụng thân thể A-tu-la ở chiều thứ tư qua thiền định, chúng ta có thể tiếp cận với khả năng ngoại cảm, trực giác, phép thuật và sự sáng tạo của chúng ta.

Chiều không Gian Thứ Tư vẫn có sự phân cực của ánh sáng và bóng tối để trải nghiệm những năng lượng tiêu cực ở cõi này. Đây cũng là nơi của các vong linh, nơi có nhiều chúng sinh ngoại tinh có tần số thấp, nơi các thiên thần và ác quỷ, và cũng là nơi có địa ngục và thiên đàng.

Ở Chiều Không Gian Thứ Tư, suy nghĩ và cảm xúc tạo ra thực tại gần như ngay lập tức; sự sợ hãi có thể tạo ra một trải nghiệm tiêu cực trong chiều thứ tư. Thân thể chiều thứ tư của bạn có khả năng cảm nhận các nguồn năng lượng khác nhau. Chúng ta đi qua Chiều Không Gian Thứ Tư bằng nhiên liệu của những ham muốn, suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta. Nếu cảm xúc của chúng ta đáng sợ, chúng ta sẽ có một thời gian tồi tệ ở chiều thứ tư.

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ NĂM

Ý thức Chiều Không Gian Thứ Năm là sự nhận thức về Linh Hồn và tinh thần. Đây là chiều không gian của Ý THỨC HỢP NHẤT, nhưng vẫn còn kinh nghiệm về ý thức “TÔI”. Không có thời gian hay không gian ở cõi này, cũng không có ảo tưởng về sự tách biệt. Ở cõi này, bạn có thể gặp các thiên thần và các chúng sinh xuất hiện trong thân thể Ánh Sáng. Thân Thể Ánh Sáng nền trong suốt chứ không phải nền cacbon như thân thể vật chất. Đây cũng là chiều không gian của tình yêu vô điều kiện. Không có sự sợ hãi ở cõi này. Không có sự phán xét, không phân cực (không đối nghịch), không cảm giác tách biệt hay giới hạn ở Chiều Không Gian Thứ Năm.

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ SÁU

Chiều Không Gian Thứ Sáu là cõi hình học và là ngôn ngữ của cuộc sống và ánh sáng, từ đó tất cả mọi thứ hiển thị. Hình học thiêng liêng là nghiên cứu về hình thức và cấu trúc. Ý thức chiều thứ sáu là nơi của lĩnh vực hình thái. Lĩnh vực hình thái là một từ trường thông tin chứa bộ nhớ và mô phỏng theo mẫu. Đó là chiều không gian mà bạn đi đến để du hành thời gian và nhảy qua lại giữa các cuộc sống song song.

Chiều Không Gian Thứ Sáu là một mô hình đẹp và phức tạp của vũ trụ. Nó là một tấm thảm thần kỳ có thể đưa bạn đến những nơi khác nhau trong vũ trụ. Nhiều chúng sinh ngoài hành tinh sử dụng nhiều cổng của vùng này để chèn ý thức của họ vào các cõi không gian khác. Đây là cách chúng sinh truyền năng lượng của họ vào các không gian thực tại trái đất.

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ BẢY

Khi bước vào các chiều không gian cao hơn chiều thứ sáu, chúng ta sẽ mất đi hình dạng và hình thể (vô hình vô tướng). Các chiều không gian trở nên trừu tượng hơn và khó để mô tả hơn trong ngôn ngữ của con người. Chiều Không Gian Thứ Bảy là cõi âm thanh của vũ trụ, không phải là các mô hình rung động mà chúng ta nghe thấy trong chiều không gian vật chất, mà là các giai điệu của sự sáng tạo. Ý thức Chiều Không Gian Thứ Bảy là nơi của nhóm ý thức “CHÚNG TA”.

Nhiều chúng sinh ngoài Trái Đất không phải độc lập trong ý thức như con người mà là một nhóm hoặc ý thức ‘chúng ta’. Người ngoại tinh Zeta là những chúng sinh không có khái niệm về sự tách biệt hoặc cá nhân. Và nhiều thiên thần, các chúng sinh ánh sáng, có nguyên tắc đạo đức cao hơn hợp nhau ở cõi này - với tư cách cùng là ‘một’ - để tương tác và giao tiếp với các cõi thấp hơn.

Đây là chiều không gian bạn đến, để giao tiếp với gia đình linh hồn của bạn. Bạn có thể quay trở lại hành tinh quê hương nguyên thủy của mình thông qua năng lượng của nhóm linh hồn.

CHIỀU KHÔNG GIAN THỨ TÁM

Chiều Không Gian Thứ Tám là vương quốc của Tâm Siêu Việt, hay ít nhất là khía cạnh của Tâm Siêu Việt mà hiển thị thiên hà của chúng ta. Vài người mô tả nơi đây là ánh sáng thần thánh, nhưng nó không đơn giản là ánh sáng; nó là ý thức của sáng tạo. Ý thức Chiều Không Gian Thứ Tám là nơi vĩnh hằng. Ở cõi này bạn sẽ biết được sự nhận thức về cõi đời đời và bản chất vô hạn của linh hồn và sự sáng tạo của nó. Nó là một chu kỳ hoàn chỉnh, không bao giờ bắt đầu và không bao giờ kết thúc. Bạn có thể tiếp cận nhiều chúng sinh vũ trụ ở cõi này và các tổng lãnh thiên thần vĩ đại.

Chú thích:

- Holographic là một kỹ thuật cho phép ánh sáng tán xạ từ một vật thể được ghi lại và sau đó tái tạo lại hình ảnh 3 chiều trong một chùm tia laser. Nhờ đó, hình ảnh của vật thể này sẽ được nhìn thấy ngay cả khi nó không còn hiện diện tại vị trí đó nữa.

- Bát độ: khoảng cách giữa các tần số có tỷ số bằng hai (gấp đôi).

- Thế giới vĩ mô và vi mô: Thế giới rộng lớn và nhỏ bé.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

TÂM LINH LÀ GÌ?

 


1. Tâm linh là gì?

Từ e dè, nghi ngại lúc đầu đến nay, sau khoảng một hai thập kỷ, "Tâm linh" trở thành một từ thường xuyên dùng tới trên cửa miệng của nhiều người, có nội dung còn rất "tù mù”, phiếm định, vì vậy chúng ta cần "kiện nghĩa" khái niệm này trong chừng mực bao quát nhất có thể được.

Dù có ý thức rõ ràng hay không, chúng ta đều hiểu "tâm" như nguồn gốc phát sinh, như người đạo diễn ẩn diện, như nguyên lý động lực học của tư duy, tình cảm, ý chí, ham muốn... tóm lại của mọi hoạt động hay đời sống tinh thần.

"Linh" hay linh thiêng là tác dụng hay hiệu lực "vật chất" lên cuộc sống của con người hay tồn tại của vật thể. Tác dụng ấy hay hiệu lực ấy có cường tính không giới hạn nhưng cơ chế của nó lại nằm ngoài, thậm chí thường khi mâu thuẫn với kinh nghiệm hàng ngày, tri thức phổ biến, quy luật thực nghiệm và nguyên lý khoa học. Do đó "linh" thường làm ta hoang mang trước sự lựa chọn: hoặc thực kiện tai nghe, mắt thấy, hoặc, nói chung, tri thức mà ta đã tích tập.

Tâm Linh là cái Tâm phiếm hình nhưng lại có hiệu ứng Linh. Như vậy trong tiếng Việt ta xưa nay vẫn có một từ hoàn toàn tương ứng với cả nội hàm, cả ngoại diên của tâm linh, đó là Thần. "Biến hóa mạc trắc vị chi thần", Thần ứng dụng cho cả người, cả cho vật, cả lúc sống, cả lúc chết, vì thế thật ra Thần minh định cho tâm linh rõ hơn, hay hơn bản thân khái niệm "tâm linh" nhiều, tiếc rằng lâu nay ta có thói quen sính từ mới nên quên mất "thần”.

Nhưng dù là thần, dù là tâm linh thì điều đầu tiên vẫn là: Có thật có cái gọi là Tâm Linh ấy không?

Trước hết ta hãy điểm lại hai trường phái về Tâm:

1) Trường phái Não Luận (cérébrocentriseme) chủ trương rằng tâm chỉ là hiệu ứng hay phương diện tác dụng của bộ não, của hệ thần kinh, của hệ nội tiết, nói gọn lại là hoạt động hóa - điện trong khuôn viên Thời - Không của một số mô tế bào có cấu tạo Hạt. Nếu có sự xộc xệch, "bệnh tật" của chúng thì tâm cũng hết hoạt động bình thường, thậm chí tâm chấm dứt hẳn hoạt động, tức là Chết. Tóm lại, thân chết là tâm chết, và chết là hết, không còn gì để bàn nữa. Não luận có sức thuyết phục mạnh mẽ ở chỗ mọi người đều thấy quả thật thân chết, ví dụ ngã vỡ sọ, thì tâm chết. Nhưng như thế là Hết chăng? Luận điểm cuối cùng này chỉ đủ vững chắc khi não luận bác bỏ được mọi hiệu ứng Linh của Tâm.

2) Trường phái Tâm Luận (psychocentriseme) lại cho Tâm, chẳng những có một vị thế độc lập với não mà lại còn xem Tâm là thực thể đầu tiên, còn não chỉ là công cụ thể hiện, hiệu ứng dẫn xuất hoặc kênh trào ra của Tâm. Có lẽ trong nguồn gốc sâu xa, Tâm Luận phát sinh từ thuyết "linh hồn vĩnh cửu” của Đạo Cơ Đốc, sau này được củng cố mạnh mẽ bởi những hiện tượng "linh" được trắc nghiệm chặt chẽ và nhiều lần.

Theo tôi biết, từ vị thế yếu hơn lúc đầu, Tâm Luận dần dần tiến lên vị thế áp đảo hơn so với Não Luận. Giờ đây chúng ta thử duyệt lại những thử thách mà hai trường phái đã gặp phải trên hai lĩnh vực.

2. Tâm linh như thế nào?

a) Những bước tiến triển của khoa học

Khoa học như chúng ta mặc nhiên hiểu ngày nay ra đời năm 1632 qua tác phẩm "Cuộc đối thoại liên quan tới hai hệ thông thê' giới" của Galiléo, trong đó ông nghiên cứu chuyển động học. Năm 1687, Newton công bố "Các nguyên lý toán học của tự nhiên" tiếp tục công trình của Galiléo về mặt động lực học, tìm ra định luật hấp dẫn và phát minh hai phép vi phân và tích phân, đồng thời nêu lên phương pháp luận phân tích hay địa phương hay vi phân (analytique, local, differentiel).

Từ hai nhà sáng lập khoa học này, chúng ta thừa kế Nguyên lý tương đối của chuyển động, còn gọi là Nguyên lý bất biến (principe d'invariance), Nguyên lý quán tính hay Nguyên lý Galiléo hay định luật Newton II, lớp các hệ quán tính, luật rơi tự do, khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn, lực và định luật Newton II, Không gian đồng chất và đẳng hướng, thời gian tuyến tính và bất thuận nghịch...

Khoa học do Galiléo và Newton sáng lập, còn gọi là khoa học cổ điển, đã thu hoạch những thành công rất rực rỡ, điển hình là việc phát hiện ra hành tinh Neptune, vị trí, quỹ đạo, khối lượng, chỉ dựa trên tính toán của Le Verrier và Smith trước khi kính thiên văn nhìn thấy. Từ đó và ngay đến tận ngày nay, khoa học (cổ điển) có uy lực của một quyền uy vạn năng, có thẩm quyền phán quyết đúng-sai gần như tuyệt đối, có ảnh hưởng về mặt phương pháp luận lên mọi bộ môn học thuật khác.

Khoa học ấy chỉ thừa nhận là hiện thực, những cố thể (tập hợp hạt, tức là những vật thể "tri giác" được, có vị trí và dung tích nhất định, không thể tiêu vong, đặc trưng hóa bởi khối lượng) hiện hữu trong hai thực thế tuyệt đối và độc lập với nhau là không gian và thời gian. Khối lượng, không gian và thời gian hợp thành ba thứ nguyên tạo nên vũ trụ.

Những yếu tính sau đây của khoa học ấy vẫn thống trị nếp suy nghĩ của tuyệt đại đa số chúng ta, kể cả đa phần các nhà khoa học tự nhiên:

1- Vũ trụ gồm những vật thể, những cố thể, những hạt rắn chắc có dung tích nhất định và tương tác với nhau qua các lực hút hay đẩy. Vật Chất, khái quát hóa cố thể, được định lượng hóa qua khái niệm Khối lượng mà tương ứng với mỗi cố thể bằng một trị số cố định, không phụ thuộc vào thời - xứ mà nó được thấy.

2 - Các hiện tượng quan sát thấy trong thiên nhiên hay trong phòng thí nhiệm đều độc lập đối với người quan sát, dù người đó là ai, quan sát ở đâu và vào lúc nào. Điều này xác định tiêu chuẩn gọi là khách quan mà mọi học thuật đều cố gắng đáp ứng. Tính độc lập của hiện tượng được quan sát đối với người quan sát còn gọi là tính đối xứng (symetrie), hay tính lặp lại (régulerité), tính tương ứng (correspondance) giữa các hữu thể (ví dụ các vật thể hút nhau theo luật hấp dẫn ở mọi nơi, vào mọi lúc bằng một lực tính theo một công thức).

3 - Không gian và thời gian được xem là những thực thể khách quan, chúng có đó, riêng biệt và độc lập đối với nhau và với con người. Chúng qui định cho Đối xứng là cái lộ diện dưới. hai bộ mặt là Bất biến (thí dụ Định luật Newton) và Bảo toàn (thí dụ bảo toàn khối lượng, bảo toàn năng lượng).

4 - Những điều mà khoa học đã khẳng định dưới dạng qui luật bao giờ và ở đâu cũng tuân thủ một trình tự gọi là tất yếu. Quyết định luận khoa học là một cách biểu dương cho Nguyên Lý Nhân Quả.

Mặc dù có uy thế "độc tài, toàn trị" như thế, khoa học, ngay từ buổi đầu đã vấp phải những vấn đề nan giải, ví dụ như:

1 - Vì toàn bộ nền khoa học chỉ đúng khi ta xem xét nó trong và chỉ trong hệ quy chiếu quán tính. Hệ này "có thật" không?

2 - Khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn là hai hay cùng một đại lượng vật lý? Lực tương tác giữa hai cố thể được truyền dẫn qua môi trường nào? Truyền dẫn tức thời hay cần một thời lượng nhất định?

3 - Thời gian và không gian có độc lập với nhau và với con người không ?

4 - Tính quyết định luận khoa học có thật đúng vô điều kiện không? Tính khách quan của hiện tượng được quan sát có thật "tự hữu”, không phụ thuộc gì vào sự có mặt của người quan sát không?

Các nhà bác học sau Newton, nhất là Einstein với thuyết Tương đối, Bohr, Heisenberg... với Cơ học Lượng tử đã giải quyết những nghi vấn đó một cách bất ngờ, có thể nói là theo hướng phủ định nếp suy nghĩ khoa học quen thuộc:

1- Hệ quán tính dựa vào những khái niệm nòng cốt là thẳng và đều. Cả hai đều không có cơ sở "khách quan" vững chắc nào, cũng không có một hiện thực nào để chứng minh. Einstein đã nhận định "Hệ quán tính ư? Đơn thuần đó là Một điều bịa đặt có ích, và bây giờ Tôi không có một khái niệm gì về nó cả".

2 - Vấn đề khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn được giải quyết trong thuyết Tương Đối Rộng: Đấy chỉ là tên gọi mà người ta đặt cho một hiện tượng trong hệ quy chiếu, tuỳ theo quan điểm của mỗi người mà hiện tượng được gọi là quán tính hay hấp dẫn, không có ai là "khách quan" hơn ai, cho nên, theo chính Einstein nói, thuyết Tương đối đáng ra phải gọi là Thuyết Quan Điểm (Standpunktslehre) mới đúng.

3 - Không gian và thời gian đã được chứng minh trong.thuyết Tương Đối Hẹp là hai mặt của cùng một thực thể gọi là continum thời - không, chúng không có giá trị khách quan tự thân nào mà tùy thuộc vào người quan sát và nhất là chúng có thể chuyển hóa cho nhau.

4 - Tính quyết định luận khoa học bị giới hạn bán kính hoạt động trong phạm vi vĩ mô của kinh nghiệm trực quan của con người, ngoài đó, nó bị vô hiệu hóa bởi Nguyên Lý Bất Định để rơi vào trạng thái gọi là "tù mù lượng tử”.

Nguyên lý nhân quả chẳng những giờ đây bị giảm giá bởi tính bất định, "Mọi thứ đều khả hữu được hết dưới sự thống trị của nguyên lý bất định, và đối với nó, mọi qui luật được làm ra chỉ đê bị vi phạm" (Trịnh Xuân Thuận), mà còn rơi vào trạng thái "tù mù lượng tử” (le flou quantique), trạng thái "ma" (phantômatique) của những hạt ảo, năng lượng ảo xuất hiện không biết từ đâu và rất nhanh biến mất không biết về đâu, hệt như “ma” vậy!

Cùng với sự tù mù của nhân quả là tính khách quan của hiện tượng được quan sát bị đặt vấn đề: "Sự có mặt của chúng ta (khi quan sát hay làm thí nghiệm) thay đổi hẳn tiến trình của vở kịch. Hiện tượng khách quan đã bị biến dạng, không tài nào sửa chữa được và biên thành một hiện tượng chủ quan, và cái hiện tượng chủ quan đó tuỳ thuộc vào người quan sát và dụng cụ đo lường" (Trịnh Xuân Thuận). Tất cả bị "cách mạng hóa' đến mức "để mô tả điều đã xảy ra, cần xóa bỏ từ ngữ cố lỗ "Người quan sát" và thay vào đó "Người tham dự” (J.Wheeler).

Ngoài ra, vật chất, với ý nghĩa cố thể hay tập hợp hạt bị "pha loãng" bởi trường: "Trong loại vật lý học mới, chỉ có Trường là thực tại duy nhất", do đó theo Einstein không có hòn đá rơi mà chỉ có trọng trường ở nơi có mật độ cao của trọng trường Trái đất di chuyển trong lòng nó. Vật thể với tư cách hữu thể có vị trí không gian và dung tích nhất định không còn nữa, thay vào đó là "một cái biển năng lượng chẳng có ranh giới gì rõ rệt với phần còn lại của trường" (H.Weil).

Trong khoa học cổ điển chỉ có chuyển động của cố thể, từ Faraday và Maxwell, một dạng chuyển động "mới" xuất hiện trong ngôn ngữ khoa học: Sóng, đó là sự rời chỗ không phải của một cố thể trực quan được mà của một "tính" vô định hình, thí dụ ném một hòn đá xuống mặt nước hồ, ta thấy những sóng nước nhấp nhô lan tỏa ra xa, đây không phải là nước lan tỏa mà là "sự nhấp nhô" gọi là dao động của nước rời chỗ. Đặc trưng để nhận ra sự hiện diện của sóng là hiện tượng giao thoa. Sự phát hiện ra tính sóng của hạt vật chất cơ bản số Một là electron khiến cho "hạt" càng trở thành phiếm hình, phiếm định: "Electron có mặt ở khắp nơi trên sàn nhảy của nguyên tử" (Trịnh Xuân Thuận).

Tóm lại trong khoa học hiện đại:

- Năng lượng hay Trường, đặc biệt bao trùm trên tất cả Trường thông tin được xem là bản thể tối hậu, còn có thể chỉ là hình ảnh rất thô được nhận biết bởi những giác quan, nói rộng và chính xác, bởi những Thức rất thô của chúng ta, trong đó ý thức là cái có tính năng "méo hình" nhiều nhất.

- Nhân quả chỉ là tiến trình mà sự nhận biết gắn liền với chủ quan tính của người nhận biết, nó không phải là một hiện tượng "tự nhiên" có tự tính và không phải không thể khác thế (thế nào là tuỳ theo cấu thể của cá thể nhận biết).

1065-tam-linh-la-gi-nhu-the-nao-tu-dau-tai-sao-1.jpgb) Cận hiện tượng và Cận tâm lý

Bên cạnh hiện tượng mà chúng ta thường xuyên tri giác được bằng sáu căn hay sáu thức: nhỡn, nhĩ, ty, thiệt, thân, ý - và ta có xu hướng coi đó là cái thực duy nhất - còn có những hiện tượng mà chúng ta không nhận biết bằng sáu căn hay sáu thức trên, nhất là khi hình thức và nguồn gốc xuất hiện của chúng trái ngược với kinh nghiệm phổ biến, với tri thức quan phương, với thực tiễn và nguyên lý khoa học, thì ta dễ có khuynh hướng coi đó chỉ là ảo giác, ảo tưởng, tâm thần, mê tín, dị đoan... thí dụ có những hiện tượng mà những người tín ngưỡng, "thần bí” khẳng định chính họ đã trông thấy, nghe thấy... Những hiện tượng đó, kể cả những hiện tượng "thần đồng", những năng khiếu kì lạ, những kết quả do công phu tập luyện của khí công, yoga, thiền định, vũ thuật Trung Quốc, hoặc những phép dưỡng sinh đem đến những kết quả "kì bí”, những phép trị liệu các chứng nan y, các bệnh "thực thể" với hiệu năng "khó tin"... đều gọi là Cận hiện tượng.

Các Cận hiện tượng được phân làm hai loại:

Tâm Tác - Nhiều người có công năng đặc dị ở chỗ không dùng bất kì công cụ hữu hình hay phương tiện vật chất nào mà vẫn tác động được lên vật thể bên ngoài, thí dụ di chuyển đồ vật từ xa (télékinésie), bay lên trong không trung (lévitation)... thành tựu cao nhất trong lĩnh vực này là "đảo hải di sơn", "hô phong hoán vũ”. Hiện tượng này thường được biết dưới cái tên là P.K. (psychokinésie). Vì ở đây cái Tâm là tác nhân duy nhất, "Bản chất của cái Tâm là nó có thể hiện thực hóa được bất kì điều gì mà nó nghĩ đến với cường độ tập trung đủ mạnh" (Vivekananda), nên chúng tôi gọi hiện tượng này là Tâm Tác.

Tâm Thụ - Nhiều người có công năng đặc dị ở chỗ tri giác được sự vật bên ngoài, dù xa, dù gần về mặt không gian, dù trước, dù sau về mặt thời gian, sự vật ở bên trong thân hay bị che lấp bởi các thể cản quang mà không dùng tới các cơ quan giác quan sinh lý hoặc dụng cụ, máy móc... Thí dụ thần giao cách cảm, chỉ dẫn từ xa, nói chuyện vong, xem bói đoán mộng... Cận hiện tượng này được gọi là Ngoại Cảm, tức là cảm nhận thông tin qua những kênh bên ngoài các giác quan mà ai cũng có. Vì cái đứng ra cảm thụ ở đây chỉ là cái Tâm nên chúng tôi gọi hiện tượng này là Tâm Thụ.

Tâm thụ, nhiều khi mang cái tên gọi quen đùng là Thấu Thi, mặc dù hiện tượng không dừng ở "nhìn", hoặc Thần giao cách cảm, mặc dù "thần" không chỉ là "giao" bằng cách "cảm" như ta thường hiểu, được phân làm hai loại: Tâm thụ không gian là khả năng nhìn thấy, nghe thấy... sự vật, vật thể trong không gian dù xa, dù dấu kín, Tâm thụ thời gian là khả năng nhìn thấy, nghe thấy... sự vật, vật thể trong thời gian dù thuộc quá khứ, dù thuộc tương lai, dù thuộc hiện tại nhưng lại không có cách nào biết đến được.

Nếu như trong mọi hiện tượng Tâm tác đều dễ dàng nhận ra vai trò của tâm trong trạng thái tập trung cao độ, thì hiện tượng Tâm thụ có chiều khó hiểu, khó tìm được tác nhân hơn nhiều. Theo thiển ý, tâm có khả năng "thụ” tối ưu khi giống như một tấm gương được lau sạch bong, do đó tính năng phản chiếu hiện thực chung quanh đạt trình độ tối ưu, tâm cũng thế, khi nó rỗng rang, tịch lặng tối đa, nó sẽ trở thành một tấm gương cực khổng lồ, ôm trọn cả vũ trụ, theo cả hai nghĩa không gian và thời gian, trong lòng nó, tức là trở thành Đại Viên Cảnh Trí. Hiệu ứng ấy thành tự qua phép thiền gọi là Vô Niệm, mà cứu cánh là Trí Tuệ Bất Nhã.

Cả Tâm tác lẫn Tâm thụ, đều hoặc do "tự nhiên", hoặc do tập luyện, mà có.

Chúng ta sẽ điểm qua vài hiện tượng cận, trước hết những trường hợp dễ gặp đến mức "quen đi" mà không chú ý đến tính rất kì bí của nó.

Cậu bé Louis Ferry đã trả lời gần như ngay lập tức những câu hỏi của một ban kiểm tra như sau:

- Số 707.353.209 là tam thừa của số nào với phần lẻ là bao nhiêu?

(591) + 5238! (sau 27 giây suy nghĩ).

- Căn bậc hai mươi của 318.317.368.454.361.459.872?

8! (sau 46 giây suy nghĩ).

Ngay sau trận đấu giữa Spactac Mátxcơva và Dinamo Tbilixi, người ta hỏi bình luận viên Sichvaxuti đã dùng bao nhiêu từ và bao nhiêu chữ trong lúc bình luận? Và câu trả lời là 1.835 từ và 17.327 chữ Nhà sinh học Ao Otto Levy bị bệnh mộng du. Chính trong lần mộng du mà ông viết trong bản thảo, không hề hay biết, những chi tiết ông dùng vào lúc thức để phát minh cơ chế chuyển giao thông tin ở sináp thần kinh, nhờ đó ông đã được trao giải Nobel.

Gần đây Truyền hình Việt Nam nhiều lần giới thiệu những người có công năng không thể hiểu được như đóng đinh 10 phân vào ngực, đứng trên quả trứng mà trứng không vỡ, dùng giáo tì vào họng để đẩy một xe ôtô...

Còn về Tâm Tác, những người có công năng tâm tác nổi tiếng trên thế giới gần đây có rất nhiều, chỉ xin kể tên vài người được nói tới nhiều nhất:

Bà Nina Kulagina (người Liên Xô cũ) đã nhiều lần chứng minh khả năng di chuyển đồ vật theo những hướng khác nhau, làm quay tròn kim la bàn, làm dừng hoặc thay đổi hướng chuyển động của con lắc, giữ quả bóng nhựa đứng yên trong không trung... trước sự chứng kiến và kiểm tra của các nhà khoa học danh tiếng như Vasiliev, Naumov, Sergeyev (thuộc Viện Sinh lý học A.A.Ukhtomaky (ở Lêningrat), Adamenko, Vinogradova... và nhiều nhà khoa học nước ngoài như Zdenek (Tiệp), J. G. Phút (Đại học Virginia), Ullmam (Trung tâm Y học Maimonides), H.H. J. Ren (Đại học Tasman)...

Youri Geller làm dừng thang máy ở một cửa hàng bách hóa, lễ giáng sinh năm 1989 làm dừng đồng hồ Big Ben Luân Đôn, giúp khán giả ti vi chữa hàng vạn đồng hồ...

Nghiêm Tân từ xa biến đổi kết cấu phân tử của "dung dịch tinh thể định hướng" có tính ổn định rất cao bảo quản trong tủ lạnh ở Đại học Thanh Hoa, dưới sự theo dõi chặt chẽ của giáo sư chủ nhiệm khoa sinh. Hoặc trong hai mươi phút "phát công" đã chắp lại và hàn gắn "hai xương bả vai bị gãy rời, vỡ vụn, khớp vai phải thoát vị" cho anh công nhân Túc Binh bị tai nạn lao động.

Trương Xuân Huy từ thị trấn Đức Thanh phát công trị bệnh đau thần kinh tọa cho Từ Tuấn Dân, Phó chính uỷ cảnh sát vũ trang tỉnh Triết Giang, sau nửa tháng họ. Từ lành bệnh.

Vương Lực phát công làm tạnh mưa lúc 21 giờ ngày 14/9/1986 ở Bắc Kinh.

Công năng đặc dị của các nhà khí công Trung Quốc đã khiến cha đẻ của tên lửa Trung Quốc, Tiền Học Sâm nhận định: "Trong hoàn cảnh hiện nay, người Trung Quốc khó lòng đột phá vào khoa học cơ bản vốn đã nằm trong tay người phương Tây. Trong tương lai người Trung Quốc muốn so tài với thế giới, chỉ có hai con đường: hoặc nghiên cứu Trung y, hoặc nghiên cứu khí công". Giáo sư Trần Lý An, nguyên Chủ tịch Uỷ ban khoa học Nhà nước Đài Loan cũng khẳng định: "Nghiên cứu khí công là con đường duy nhất để người Trung Quốc đoạt giải Nobel".

Nghệ sĩ công huân Liên Xô (cũ) Volodia Durov ra lệnh bằng tư tưởng cho con chó Mars ở xa ông chục cây số sủa đúng 14 lần theo yêu cầu của Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô Bekhterev, một trong số những người tham gia thí nghiệm.

Cô bé Cơ Mẫn Kiệt mười ba tuổi ngồi yên vị trước mặt mọi người mà vẫn lấy ra chất đống trước mặt nó tiền bạc, thuốc lá, sổ tay... của khán giả, hoặc lấy các viên thuốc khỏi lọ kín mà lọ vẫn nguyên vẹn không vết nứt.

Nếu thừa nhận tính thực kiện của các hiện tượng trên thì tức là ta đã thừa nhận "linh" là có thật.

Về Tâm Thụ, hiện tượng này có phần "phổ biến" hơn nhiều, sau đây xin dẫn một số thí dụ để minh họa:

Nữ công nhân Vorobieva, sau một lần bị điện 380 volt giật chết rồi sống lại, phát hiện thấy chị có khả năng nhìn suốt vào tận bên trong thân thể người khác và lập tức chẩn đoán được bệnh của người đó, nhanh chóng và chính xác (100%) hơn bất kỳ một thiết bị y học nào, đến mức chị được mời làm việc cho bệnh viện thành phố. Giám đốc bệnh viện này phải nhận xét: "Vorobieva là một nhà chẩn đoán bệnh có một không hai. Chị đã nhìn thấy cái mà những người khác không nhìn thấy được".

Năm 1958, Công ty Westinghouse nhận nhiệm vụ của chính phủ Mỹ tiến hành thí nghiệm về thần giao cách cảm, có sự tham gia của nhiều cán bộ cao cấp thuộc hải, lục, không quân Mỹ. Cuộc thí nghiệm kéo dài trong 16 ngày kể từ 25/6/1958. Người phát tin là Smith, Sinh viên Suke University, phải sống cách ly trong phòng khóa kín, người nhận tin là trung uý hải quân Dions cũng bị cô lập trong một cabin trên tàu ngầm nguyên tử Nautilus lặn sâu dưới đáy Đại Tây Dương cách bờ biến Mỹ 2000 km. Kết quả Djons nói chính xác điều Smith nghĩ đến trên 70%. Sau đó nhiều Công ty khổng lồ của Mỹ như General Electrics, Ben Telephone, Rend Corporation... đều thực hiện những thí nghiệm thần giao cách cảm với kết quả rất cao.

Một quan chức của hải quân Liên Xô đã nói với hai nhà báo Mỹ Ostrender và Schroeder rằng "Nếu bộ hải quân của các ông không làm thí nghiệm trên tàu Nautilus thì các nhà khoa học Xô viết sẽ là những người đầu tiến hành thí nghiệm đó... Chúng tôi đã từng dùng động vật, thay vì dùng người, làm chủ thể phát tin và nhận tin. Các nhà khoa học chúng tôi nuôi một bầy thỏ con dưới tầu ngầm lặn sâu dưới biển, thỏ mẹ ở trong một phòng thí nghiệm trên bờ, đầu nó bị cắm nhiều vi điện cực. Vào đúng thời điểm ấy, người ta ghi nhận được những phản ứng não điện rất mạnh của thỏ mẹ".

Tiến sĩ toán lý Kajinsky kể lại: "Cuối tháng 8/1919 tôi đang ở Tbilisi. Sau khi đi thăm một bạn thân bị thương hàn nặng, tôi trở về nhà và đi ngủ. Giữa nửa đêm, đang say giấc, tôi bỗng nghe thấy rất rõ tiếng gõ như của một cái muỗng bằng kim loại vào một cốc pha lê. Tôi chợt tỉnh dậy, bật đèn, xem đồng hồ mới hai giờ, nhìn quanh và nghĩ rất lung về tiếng động không một lý do khả dĩ nào ấy. Sáng hôm sau tôi đến ngay nhà bạn, càng lại gần tôi càng bồn chồn, thì ra bạn tôi đã chết. Khi chuyển thi hài bạn, tôi tình cờ đụng phải cái bàn kê ngay đầu giường bạn tôi nằm, và bỗng nhiên nghe thấy đúng cái âm thanh đêm qua.

Trên bàn có một ly thủy tinh và một cái muỗng bằng bạc. Tôi bất giác cầm muỗng gõ nhẹ vào cốc, lại cái âm thanh ấy không thể khác được. Tôi xin mẹ bạn kể lại tình tiết lúc anh mất: Lúc hai giờ đêm bà cầm thìa pha thuốc cho con, nhưng khi ngó sang thì mắt người con đã lạc, anh đang chết. Tôi yêu cầu bà thử gõ cái muỗng bạc vào ly thủy tinh. Bây giờ tôi đã rõ, âm thanh tôi nghe được lúc hai giờ đêm qua chính là âm thanh bà vừa gõ và cũng chính là âm thanh đêm qua bà đã "vô tình" gây ra khi nhìn thấy con mình đang chết.

Nhóm nghiên cứu Russel Targ, Elizabeth Targ và Kate Harary ở California cộng tác với khoa lý thuyết Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô tiến hành khảo nghiệm trước nhiều nhà khoa học và nhà báo Xô viết, khả năng "nhìn thấy” tương lai của nhà ngoại cảm lừng danh Dinh Davitasvili đang ở Mátxcơva sau khi ông này đến đó.

Các nhà khoa học không chỉ dừng lại ở việc quan sát, kiểm tra, trắc nghiệm mà còn đích thân tổ chức thí nghiệm như ở các Đại học Duke, Columbia, Colorado, Havard, Princeton, Cambridge... Hồ sơ thí nghiệm được chuyển cho các chuyên gia toán học cao cấp nhất để thẩm định tính ngẫu nhiên hay không ngẫu nhiên của các kết quả thí nghiệm và chính các nhà toán học này đã loại trừ khả năng ngẫu nhiên. Trong thời đại hiện nay, phòng thí nghiệm siêu đẳng PEARL của Viện Princeton, vườn ươm các giải Nobel Mỹ, đang đóng vai trò hàng đầu trong lĩnh vực Cận hiện tượng.

Như vậy cả cái "Tâm" vô hình không trú xứ, cả cái "Linh" rất phi lý không tìm được, nay phải nói rằng đã được chứng thực trên thực địa Cận hiện tượng, đồng thời cũng được hợp lý hóa qua việc hạ bệ hạt để tôn vinh trường, hạ bệ nguyên lý tất định để tôn vinh nguyên lý bất định.

3. Tâm tính từ đâu?

1065-tam-linh-la-gi-nhu-the-nao-tu-dau-tai-sao-2.jpgChúng ta vẫn thường nói đến hồn, đến vía mà từ Hán Việt là phách, vậy "tâm linh" có quan hệ gì đến hồn, đến vía? Trước hết ta hãy minh định hai khái niệm này.

"Ba hồn, bảy (hoặc chín) vía".

Thất tình: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục, ai cũng có và lúc nào cũng có khác nhau ở mức độ của tình này tình kia. Nói chung tình không trực tiếp thấy được, tuy đôi khi do cường tính cao cũng có thể quan sát ở mức độ nhất định. Nhiều nhà ngoại cảm thấy rõ được tình ấy dưới dạng hình tướng và màu sắc, giá nói ra thì kẻ tin người nghi, nhưng từ khi Kirlian chụp được cái sau này thường gọi là cơ thể năng lượng, là cơ thể plasma sinh học, là cơ thể sinh tú (corps éthérien), là trường sinh học, là quang hình aura… thì vấn đề... chúng tôi nghĩ đó chính là Vía, cái Tôi chân xác, khác với những cái "Tôi" thường nhật (Je est un autre!) có cấu tạo bằng chất liệu á vật chất giống như ête mà vẫn có hiệu ứng vật chất đủ để mắt thấy tai nghe... để tác động lên vật thể "nộ khí xung quanh động đẩu ngưu”... hoặc chụp hình, quay phim. Cũng có thể vía bao gồm cả những bức xạ, xét cho cùng thì có sao đâu vì bức xạ chỉ là những hạt ảo, hạt ma? Và cũng chẳng kì lạ bao nhiêu nếu chúng tôi đưa ra giả thiết, trên cơ sở vía không cần một xác thể sinh lý để nương thân, vía vẫn tồn tại sau khi thân xác phân rã, cho nên vía cũng có thể là ma hiện, là "hồn" người chết đền ơn, trả oán, là tác nhân của hiện tượng động mồ, động mả.

Về Hồn, không rõ các cụ ta xưa kia xác định ba hồn là những hồn nào? quỷ thần hai vai và trên đầu? Thuật ngữ ngày nay ta biết thì đó là Sinh hồn, Giác hồn, và Linh hồn. Có thể xem Sinh hồn tương ứng với phần nhỏ và thô nào đó của hệ thần kinh thực vật, Giác hồn với hệ thần kinh động vật, còn Linh hồn là nguyên lý tồn tại và động lực học của cả hai.

Khác với vía, hồn không phải là một nhân cách, một sở thuộc cá nhân mà là năng lượng như nguồn gốc của hiện tượng "sống", kể cả hiện tượng "ma". Hồn là hình thái nguyên thuỷ, còn vía chỉ là dẫn xuất đặc thù trước khi mang một hành tướng thô là Thân Tâm. Hồn tạm xem là trường, vía là năng lượng nơi một cá thể hữu sinh, còn thân xác là vật chất.

Thuyết Yoga đề cập tới cái Tâm citta gồm ba thẩm cấp là ý thức, Tiềm thức và Siêu thức. Mỗi thẩm cấp lại được cấu trúc hóa bằng những tầng gọi là "kosa's". Tầng thấp nhất, "Amnamaya kosa's" làm bằng “thực phẩm" (- We are what we eat!) có thể cho tương ứng với sinh hồn. Tiếp theo là các tầng "Ka'mamaya" chủ về dục vọng, "Manomaya" chủ về tiềm thức, có thể cả hai tương ứng với ý thức như sự hiển lộ bị khúc xạ bởi giác hồn (có nghĩa rằng theo chúng tôi, tiềm thức chỉ là sự lắng đọng "đâu đó,, đã bị què quặt như chưa từng được ý thức biết tới, sự lắng đọng của những gì có thật đã xảy ra trong hiện kiếp, gọi là nội ký ức, hoặc trong tiền kiếp, gọi là ngoại kí ức). Tầng thượng ý thức "Atima'nasa" chủ về trực giác, sáng tạo, mộng triệu,... tầng tri giác siêu việt. "Vijina'namaya", tầng “Hiranyamaya" là những thứ tự của siêu thức. Có thể nghĩ rằng "Atima'nasa Kosa's" là tiềm thức đã mang chút sắc thái của vô thức, nên có hiệu năng nhiều khi "không thể nghĩ bàn", còn "Hiranyamaya Kosa's" là vô thức thuần tuý.

Người Do Thái cổ quan niệm hồn gồm ba lớp gọi là "Nephesch", hồn bản năng tương ứng với sinh hồn, lớp "Rouah", hồn của ý chí và dục vọng, tương ứng với giác hồn và làm trung gian để vươn tới lớp "Nashamah" là người chủ điều hành tất cả hay là linh hồn. Mỗi lớp lại phân ra ba lớp nhỏ có xu hướng "Nephesch", "Rouah" và "Nasnamah". Đâu đây một cảm giác gặp lại ba hồn và chín vía?

Người Ai Cập cổ cho hồn có cấu trúc chín tầng là "Khat, Ka, Khaibit, Ab, Ba, Sekhem, Ru, Sahu và Akhu. Khat", "cái thần của xương", Ka, lực sinh học hay nhân điện hoặc "khí", Khaibit, bản sao ête của một cá thể, cả ba tương ứng với Nephesch. Ab, năng lực tri giác, Ba, đặc trưng cá thể, Sekhem, tác nhân cố kết Ba, Ru thực hiện một liên tục tính sống và chết của cùng một "con người". Bốn tầng này có thể gộp lại tạo thành Rouah. Hai tầng Sahu và Akhu là hai lớp của linh hồn tối thượng Nashama.

Khái niệm "tâm linh" ta thường dùng có thể xem là giác hồn, là thuộc về Khaibit. Ru và Ab, hoặc thuộc tầng tiềm thức Manomaya Kosa's và ít nhiều dính đến tầng thượng ý thức Atima'nasa Kosa's.

Như vậy, tâm linh, tuy “linh" tuỳ theo mỗi cá nhân, người này có thể "linh" hơn người kia, lại là "hồn" phi nhân cách. Cái hồn ấy thị hiện như thế nào trong khi sống là phụ thuộc vào Nhân, Duyên và Phận của mỗi người. Thị hiện không ràng buộc sau khi chết với tư cách của "kí ức vũ trụ Akashique" hay trường thông tin và đây mới là điều quan trọng nhất, thiết yếu nhất, Tâm linh "linh" vì nó sắp xếp cho "cuộc sống sau cuộc sống”. Nói cách khác, Tâm linh, bên cạnh những hành tướng khác, là một sự nhân cách hóa, thậm chí ý chí hóa của luật luân hồi.

4. Tại sao?

Nhiều tổ chức đã ra đời với mục đích nghiên cứu, thẩm định Cận hiện tượng, đặc biệt những người còn được gọi một cách xô bồ là "ngoại cảm", để rồi áp dụng mà đem lại lợi ích cho xã hội, cho con người. áp dụng cái được gọi phổ biến là tiềm năng bí ẩn, khả năng tiềm ẩn. Tôi nghĩ rằng không ai, hoặc chí ít hiếm ai lại không thấy việc làm này, tuy vẫn có người nghi ngờ hay phản bác việc tìm mộ, gọi hồn, cận y học, kể cả "thần thông” phép lạ.

Nói riêng về cận y học, phương tiện "giúp đời" gần gũi nhất cũng đã có mặt ở nước ta. Tổ chức Y học Thế giới WHO, tuy chưa trực tiếp nói đến cận y học nhưng đã nhấn mạnh ý nghĩa và vai trò quan trọng của các trị liệu pháp "dân dã" đối với các nước "phương Nam".

Ở đây tôi chỉ xin bổ sung một ý kiến nhỏ.

Tôi thường nghĩ đến câu nói của cha ông ta ngày xưa, "Khôn ngoan chẳng lại được với Giời", hoặc "Chỉ nghĩ đến lợi rồi thì cũng hết lộc thôi"...

Nhiều danh nhân thuộc đủ bộ môn học thuật đã nhìn ra cái bi kịch của nhân loại thế kỉ XX, và nguyên nhân của nó lại đang được kéo dài sang thế kỉ XXI, và đã mường tượng, đã tìm ra, đã khẳng định lối thoát ra khỏi cơn khủng hoảng toàn cầu, sinh lộ cho tồn vong nhân loại. Hãy nhớ lại câu nói: "Khoa học của thế kỷ XXI phải là khoa học tâm linh, nếu không sẽ không làm gì còn khoa học nữa" (André Malraux).

Đối lập với thân xác là Tâm Linh. Nếu có thể chứng minh được và rồi thuyết phục được sự hiện hữu của Tâm Linh cao hơn thân xác, trường tồn hơn thân xác, nhiều hiệu năng, công năng hơn thân xác, thành tựu này sẽ đặt cho mọi người yêu cầu hạn chế, thu hẹp... nhu cầu thỏa mãn khoái lạc vật chất, khoái lạc giác quan như con đường độc đạo, như phương pháp duy nhất để "trưởng dưỡng” Tâm Linh. Còn gì thanh bình hơn, hài hòa hơn một xã hội sống trong giản dị, thanh đạm? Giản dị, thanh đạm không vì cái tiếng đạo đức, cũng không chỉ vì hiệu quả dưỡng sinh, đó đơn giản chỉ là dẫn xuất tất yếu.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS