Viện nghiên cứu HeartMath (Institute of HeartMath – IHM) cho biết trái tim có thể tạo ra trường điện từ rất mạnh. Trường điện từ này thấm vào mọi tế bào và có thể hoạt động như một tín hiệu đồng bộ cho cơ thể, tương tự như thông tin mang bởi sóng vô tuyến. Đặc biệt, nghiên cứu cũng cho thấy năng lượng này không chỉ được truyền đến não bộ mà còn có thể được người khác phát hiện trong một phạm vi giao tiếp nhất định. Dữ liệu cũng cho thấy các tế bào được nghiên cứu trong ống nghiệm cũng phản ứng với trường điện từ sinh học của trái tim.
(ảnh: iStock)
Nghiên cứu của IMH cho thấy trái tim tạo ra trường điện từ lớn nhất trong cơ thể. Điện trường được đo bằng điện tâm đồ (ECG) có biên độ lớn hơn khoảng 60 lần so với sóng não được ghi lại trong điện não đồ (EEG). Thành phần từ trường của tim, mạnh hơn khoảng 5.000 lần so với bộ não tạo ra, không bị cản trở bởi các mô và có thể đo được ở cách cơ thể vài mét.
Trái tim giữ vai trò quyết định cảm xúc chứ không phải não bộ
Tại IHM, Tiến sỹ McCraty và cộng sự đã tích lũy các bằng chứng thuyết phục cho thấy nhịp điệu của tim (rhythms of the heart) – được định nghĩa là biến thiên nhịp tim (heart rate variability- HRV) – có rất nhiều tác dụng chứ không chỉ giữ cho máu lưu thông trong cơ thể. HRV có xu hướng không ổn định và rối loạn trong lúc con người cảm thấy căng thẳng, tạo ra sự truyền dẫn tín hiệu từ tim đến não làm ức chế khả năng suy nghĩ tỉnh táo và đưa ra quyết định hiệu quả của con người. Tuy nhiên, trong trạng thái cảm xúc tích cực, nhịp điệu của trái tim là một dạng sóng mượt mà và hài hòa (coherence patterns).
Tiến sỹ Y khoa Karl Pribram, người được coi là cha đẻ của khoa học thần kinh nhận thức hiện đại, đã giới thiệu ý tưởng rằng bộ não người ở cấp độ chức năng chỉ là một hệ thống nhận biết và lưu trữ các mẫu trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm cảm xúc (cognitive and emotional experiences). Priham cho rằng, vì trái tim là nguồn gốc chính của mọi dạng sóng (patterns) có nhịp điệu (rhythmic) trong cơ thể, trái tim giữ vai trò chính trong trải nghiệm cảm xúc của mỗi chúng ta.
Tin tưởng vào những phát hiện mang tính bước ngoặt của Karl Pribram, tiến sĩ McCraty phát biểu: “Lý thuyết vững chắc từ một nhà thần kinh học học hàng đầu thế giới cho thấy rằng trái tim không chỉ là một phép ẩn dụ trong trải nghiệm cảm xúc của chúng ta. Não bộ diễn giải các dạng sóng trong trái tim, và chúng tôi (tại IHM) đã chứng minh rằng những cảm xúc khác nhau được phản ánh trong các dạng sóng khác nhau trong nhịp điệu của tim(patterns of heart rhythm).”
Một nhà thần kinh học hàng đầu cũng hỗ trợ cho lý thuyết này. Tiến sỹ Y khoa J. Andrew Armor, người có các bài viết trong các ấn phẩm học thuật cao cấp, nói rằng trái tim về cơ bản có bộ não nội tại của chính nó.Ủng hộ quan điểm trên, Tiến sỹ McCraty cho biết: “Hiện nay chúng ta biết rằng trái tim gửi nhiều thông tin đến não hơn so với bất kỳ thứ gì khác”.
Trái tim giữ vai trò quan trọng trong các trải nghiệm cảm xúc, nó gửi thông tin đến não nhiều hơn chiều ngược lại (ảnh: mujeralquimia.com)
Các nhà nghiên cứu tại IHM đã tiếp tục phát triển các kỹ thuật để chuyển các dạng sóng HRV không ổn định sang các dạng sóng hài hòa (coherence) dẫn đến trạng thái tích cực hơn. Họ đã chứng minh lâm sàng rằng các nhịp điệu hài hòa của tim sẽ cải thiện tổng thể các chức năng nhận thức, ra quyết định và ổn định tình cảm của con người.
IHM cũng phát hiện rằng dạng sóng thể hiện sự biến thiên nhịp đập của tim sẽ biến đổi một cách rõ rệt khi một người trải nghiệm các cảm xúc khác nhau. Những thay đổi trong trường điện từ, áp suất âm thanh, huyết áp được tạo ra bởi sự biến đổi nhịp điệu của tim được cảm nhận bởi mọi tế bào trong cơ thể, tiếp tục hỗ trợ vai trò như một tín hiệu đồng bộ cơ thể của trái tim.
Nhịp tim một cá nhân đang rối loạn chuyển sang dạng sóng điều hòa khi họ chuyển từ thất vọng sang trạng thái biết ơn (ảnh: heartmath.org)
Trái tim là “Tổng đài” kết nối tất cả chúng ta?
Nghiên cứu tiếp theo của IHM về trực giác và tim có thể nâng cao hơn nữa tình trạng của tim. “Những nghiên cứu này chỉ ra rằng tim đang phản ứng với mọi thứ ngay cả trước khi bộ não phản ứng”, tiến sĩ McCraty nói. Khái niệm trực giác của trái tim không chỉ là một lý thuyết “vớ vẩn”; nó được hỗ trợ tốt bởi các dữ liệu sinh lý được thu thập một cách nghiêm ngặt từ một phân tích lớn bao gồm 20 nghiên cứu.
Tuy nhiên, ngay cả “khả năng” này của trái tim có thể cũng chỉ là phần nổi của tảng băng trôi. Lý thuyết cho rằng trái tim có thể giao tiếp với nhau và tập hợp sức mạnh của con người đang được quan tâm một cách nghiêm túc. “Trái tim không chỉ là một thực thể vật lý” Tiến sỹ McCraty cho biết. “Chúng ta cũng có trái tim tràn đầy năng lượng. Chúng tôi gợi ý rằng trái tim là một tổng đài thông tin cơ bản.”Con người thực sự có thể được kết nối với nhau theo cách tương tự như cách các điện thoại di động trao đổi thông tin với nhau.
Con người có thể được kết nối với nhau “từ trái tim đến trái tim” (ảnh: IHM/Youtube)
Đây là chủ đề nhận được nhà báo Ed Decker quan tâm đặc biệt do một trải nghiệm ông đã có nhiều năm trước. Ông từng cảm thấy một làn sóng lo lắng dâng lên vào chính xác thời điểm khi mẹ ông đột quỵ cách đó khoảng 4.000km. Tiến sỹ McCraty giải thích với Ed Decker rằng đó không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên mà đó là hiện tượng thu nhận tín hiệu: “Rất nhiều nghiên cứu cho thấy những gì chúng ta hòa hợp là những thứ chúng ta có liên kết hoặc kết nối, là những thứ liên quan hoặc quan trọng với chúng ta về mặt cảm xúc. Sự liên kết này điều chỉnh (tune) chúng ta đến một tần số cụ thể. Chúng ta tạo ra các tần số cộng hưởng để chọn ra những làn sóng.”
Trong thực tế, kết nối này giữa con người hoạt động như một thiết bị phát vô tuyến và Wifi, và những tín hiệu này ở xung quanh chúng ta trong không gian vào mọi thời điểm. Với trường hợp Ed Decker, Tiến sỹ McCraty nói rằng, ông đã được điều chỉnh đặc biệt để hợp với tín hiệu của mẹ ông.
Trường điện từ sinh học tạo ra bởi trái tim mỗi người có thể kết nỗi với nhau (ảnh: IHM)
Tiến sỹ McCraty nói thêm rằng từ trường của Trái Đất có thể hỗ trợ sự truyền tín hiệu giữa mọi người. “Từ trường của trái đất là một làn sóng mang thông tin liên quan đến sinh học,” ông nói. “Đây là thứ kết nối tất cả chúng ta. Nó cũng là một phần của trực giác: làm thế nào một người mẹ biết con trai hay con gái của bà đang đau khổ ở phía bên kia hành tinh. Có thứ gì đã truyền đạt thông tin đó, điều này dường như thường xảy ra gần như ngay lập tức. Theo giả thuyết của tôi, đó chính xác là từ trường của trái đất, và có một số lượng lớn các bằng chứng ủng hộ điều này.”
Nước là một sinhmệnh sống, nó không những là một sinh mệnh sống mà còn là một sinh mệnh vô cùng thông tuệ và bí ẩn. Đạo lý nhân sinh, quy luật vận hành của vũ trụ, tất cả đều hiện hữu trong mỗi từng giọt nước, tinh thể nước và thậm chí là từng phân tử nước
Điều đầu tiên tạo nên bí mật của nước chính là nguồn gốc của nó
Năm 1997, nhà vật lý Louis Frank của trường Đại học Iowa công bố kết quả nghiên cứu cho thấy, có hàng ngàn sao chổi với kích cỡ chỉ bằng một căn nhà nhỏ tiến vào bầu khí quyển của Trái đất mỗi ngày, và chúng có thể là nguồn gốc của nước trên tất cả hành tinh. Các bức ảnh chụp Trái đất vào thời điểm ấy thể hiện những chấm đen được bao phủ bởi nước. Ảnh được Giáo sư Frank chụp băng vệ tinh của NASA.
Thế giới trong 1 giọt nước sẽ mở ra cho bạn rất nhiều câu trả lời về cuộc sống và bí ẩn vũ trụ. (Ảnh: Pinterest)
Nhiều nhà khoa học không đồng ý với lý giải này, nhưng Tiến sĩ Masaru Emoto, Chủ tịch Học viện Hado Quốc tế (IHM) và là tác giả cuốn sách “Thông điệp của nước”, lại tin tưởng điều đó. Trong cuốn sách của mình, ông viết: “Nếu sự tồn tại nguyên thủy của nước không ở tại Trái đất mà đến từ không gian bên ngoài, nó có nghĩa rằng sự tồn tại của chúng ta cũng bắt nguồn từ không gian vũ trụ”.
Giả thuyết được ông đặt ra đến từ nhiều năm nghiên cứu về tinh thể nước. Công trình nghiên cứu tỉ mỉ và trải rộng của ông đã khiến người dân thế giới vô cùng chấn động và hào hứng. Bởi nó mở ra một thế giới vô cùng kì ảo của nước, trong đó tinh thể của nó là hiện thân sống động mà mắt người nhìn thấy được.
Đặc tính của nước phản chiếu đặc tính vạn vật
Các thí nghiệm của Tiến sĩ Masaru Emoto cho thấy, nguồn gốc khác nhau tạo nên đặc tính khác nhau và tinh thể cũng khác nhau. Thông qua việc quan sát tinh thể nước của một vùng miền nào đó, chúng ta không cần đi đến tận nơi vẫn có thể hình dung ra được địa hình vùng đó. Ví dụ như, quan sát 3 tinh thể nước dưới đây và tìm hiểu đặc điểm địa hình nguồn nước, chúng ta sẽ bắt gặp một sự trùng hợp không hề ngẫu nhiên:
Nước ở các vị trí địa lý khác nhau sẽ có hình dạng tinh thể khác nhau.
Suối Tam Phân nằm tại quận Kita Mikoma, tỉnh Yamanashi ở Nhật Bản. Suối này phân thành ba nhánh tại một điểm nên có cái tên “Tam Phân”. Quan sát tinh thể nước suối Tam Phân, ta sẽ thấy nó cũng có ba nhánh tại mỗi cánh.
Thêm nữa là suối Dingdong tại thôn Tenkawa, quận Yoshino, tỉnh Nara. Con suối nổi tiếng này chảy ra từ miệng của một cái hang trên núi và tạo thành tiếng “Ding Dong Ding Dong”, nghe giống như âm thanh của một chiếc chuông. Từ hình dạng tinh thể nước, chúng ta có thể hình dung được hang động bí ẩn và âm thanh trong trẻo của chiếc chuông.
Trong khi đó, hình ảnh tinh thể nước từ suối Hoằng Pháp tại Kanagawa và suối Hoằng Pháp tại Hiroshima. Mặc dù hai thành phố này cách nhau khá xa, nhưng tinh thể nước từ hai con suối này lại giống nhau đến kinh ngạc.
Liệu chúng có sự tương thông với nhau bằng cách nào đó? Truyền thuyết kể rằng vào 1.200 năm trước đây, một hòa thượng Phật giáo, Hoằng Pháp đại sư tại Nhật Bản đã đi vân du khắp nơi để dạy cách tu luyện. Tại một nơi, nhiều người phải chịu một căn bệnh lạ. Hoằng Pháp đại sư đã phá vỡ một hòn đá và con suối đã chảy ra từ đó. Nước con suối này có khả năng trị bệnh. Sau đó, cùng với chuyến hành trình đi khắp nơi của ông, nhiều con suối đã được đả khai. Chúng đều được đặt theo tên của ông.
Người Trung Quốc có một câu nói dùng để mô tả sự khác biệt của nước khi xuất phát từ các nguồn gốc khác nhau: “Vị Kính phân minh”, ý rằng nước sông Vị và sông Kính hoàn toàn khác nhau. Theo đó ở tại ngã 3 sông, người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là nước sông Kính, đâu là nước sông Vị. Nước từ sông Kính thì nhiều bùn, trong khi nước từ sông Vị lại rất trong.
Câu chuyện được chép trong “Cảnh thế thông ngôn” là điển cổ nổi tiếng bàn về đặc tính khác của nước:
Chuyện về hai nhà văn nổi danh là Vương An Thạch và Tô Đông Pha. Vương An Thạch bị chứng sổ mũi, nếu uống trà được pha với nước sông Trường Giang tại vùng Trung Hiệp sẽ rất tốt cho sức khỏe của ông. Khi Vương An Thạch nghe nói rằng Tô Đông Pha sẽ trở về Tứ Xuyên để thăm gia đình, ông đã nhờ Tô Đông Pha mang về một ít nước ở đó. Khi Tô Đông Pha trở lại, ông đã mang về cho Vương An Thạch một chút nước. Vương An Thạch ngay lập tức đun sôi nước này và đem pha trà. Mất một lúc trà mới ngấm vào nước. Vương An Thạch hỏi Tô Đông Pha: “Đây có phải nước từ Trung Hiệp hay không?” Tô Đông Pha trả lời: “Sao thế? Tất nhiên rồi!” Vương An Thạch cười nói: “Ông nói dối. Rõ ràng nó là nước từ Hạ Hiệp”.
Tô Đông Pha sững sờ và phải thú nhận ngay. “Tôi đã mãi lo tận hưởng phong cảnh tại Tam Hiệp, đến mức quên mất lời cậy nhờ của ông. Đến khi tới Hạ Hiệp thì mới chợt nhớ ra”. Tô Đông Pha đã quyết định lấy một ít nước ở đó và nghĩ rằng sẽ không có sự khác biệt nào.
Vương An Thạch nói: “Trong cuốn Sơn Thủy Kinh Chú có ghi chép những quan sát kỹ lưỡng về đặc điểm của nước sông Trường Giang (cũng gọi là sông Dương Tử). Nước tại Thượng Hiệp chảy quá nhanh, còn nước tại Hạ Hiệp lại chảy quá chậm. Nước tại Trung Hiệp chảy vừa phải. Bệnh của tôi là do ‘trung tiêu’, nên cần nước sông tại Trung Hiệp để mở kinh mạch. Nước sông Dương Tử mà pha trà thì nước ở Thượng Hiệp làm trà bị nồng, nước ở Hạ Hiệp làm trà bị nhạt, nước ở Trung Hiệp là vừa phải. Hôm nay trà ngấm vào nước rất chậm, cho nên tôi biết đây là nước từ Hạ Hiệp”.
Tô Đông Pha bèn tạ tội.
Nước có linh tính và tình cảm
Trong các thí nghiệm của Tiến sĩ Masaru Emoto, ông đã cho nước nghe nhạc và những thông điệp viết bằng chữ. Kết quả thu được chứa đựng nhiều bất ngờ.
Lời nói tác động đến nước.
Khi bị mắng là “đồ ngốc”, nước không tạo thành tinh thể mà nó tạo ra dạng hình ảnh dường như cho thấy một sự “tan vỡ”. Hình ảnh tinh thể nước được các nghiên cứu viên trong nhóm của Tiến sĩ Emoto lấy làm thích thú nhất là tinh thể nước sau khi tiếp nhận chữ “yêu thương và biết ơn”, bởi đó là một tinh thể vô cùng tinh mỹ với các hoa văn phức tạp.
Ngoài ra, các tinh thể nước khi tiếp nhận các đặc tính tốt của con người như “trung thực”, “tôn kính”, hoặc các trạng thái tích cực như “hy vọng”, “hạnh phúc”, “tôi có thể”, “vĩnh hằng”, thì đều cho ra các tinh thể đẹp mắt. Trong khi tinh thể tiếp nhận câu “tôi không thể”, lại có hình dạng cho thấy một sự “dở dang”.
Ngoài việc đọc chữ, nước còn biết xem hình ảnh, nghe nhạc, coi phim và cảm nhận được tình cảm xuất phát từ ý niệm của con người.
Nhạc rock khiến nước … tan vỡ.
Tinh thể nước sau khi được nghe bản Pastorale – khúc nhạc đồng quê, một trong những bản nhạc giao hưởng nổi tiếng nhất của Beethoven, cho thấy sự sáng chói, mới mẻ và vui tươi. Tinh thể tuyệt đẹp này chứng tỏ rằng bản nhạc hay có ảnh hưởng tích cực đến nước.
Tuy nhiên, sau nghe “Farewell Song” (Chopin Etude op.10 no.3), bài hát chia tay của Chopin. Tiến sĩ Emoto bình luận trong bản báo cáo của ông: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy kinh ngạc như vậy khi nhìn thấy tinh thể này”. Phải chăng nước bị ảnh hưởng bởi sự chia ly trong bài hát, khi hình dạng tinh thể cơ bản của nó gần như được chia đều thành các phần nhỏ tách rời nhau ra. Độ phóng đại của kính hiển vi trong các ảnh là như nhau.
Đặc biệt, khi nước được nghe thể loại nhạc “heavy metal”, tinh thể mà nó tạo ra lại có trạng thái hệt như khi bị mắng là “đồ ngốc”.
Tinh thể của nước sau khi được nghe một số bản nhạc nổi tiếng, trong đó có bản The Farewell Song của Chopin.
Một điều khá lý thú chứng minh trí tuệ vô hạn của nước nữa, đó là nó có thể hiểu được tất cả các ngôn ngữ trên thế này, điều mà con người chúng ta hằng ao ước. Thí nghiệm được thực hiện khi cho nước tiếp xúc với dòng chữ “cảm ơn” bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ứng với mỗi ngôn ngữ, nước sẽ cho ra đời loại tinh thể khác nhau, chỉ có 1 điểm chung duy nhất là tinh thể nào cũng đẹp khi được “cảm ơn”.
Lời cảm ơn bằng nhiều ngôn ngữ châu Âu.Nước nghe cảm ơn bằng ngôn ngữ châu Á.
Tiếp đến khi chứng kiến việc tinh thể nước bắt chước hình dạng của vật thể mà nó được xem hình, nước thể hiện mình như một đứa trẻ, nó tiếp nhận và bắt chước rất nhanh những gì nó được thấy.
Tinh thế của nước tại ngôi đền Izumo.
Tinh thể của nước khi được tiếp xúc với hình ảnh vẽ trái tim.
Có thể nước là một đứa trẻ, nhưng nó cũng là linh hồn của tự nhiên, hiện hữu trong vạn vật, ngay cả thép, sắt, đá và dĩ nhiên là cả trong cơ thể người. Bởi vì thế, nên nếu muốn biết về đạo lý nhân sinh của con người, nước cũng sẽ cho chúng ta tất cả câu trả lời.
Khi hỏi nước về tình cảm thân quyến, tinh thể nước được tạo thành sẽ là một phức hệ 3 tinh thể lục giác ghép lại, tinh thể lớn bao bọc tinh thể nhỏ. Đây chẳng phải chính là mối quan hệ tam đại đồng đường trong gia đình truyền thống phương Đông, thế hệ trước giáo dục và truyền thụ cho thế hệ sau những đạo lý làm người và bài học lịch sử.
Tinh thể nước thể hiện các mối quan hệ xã hội.
Và nước khi được hỏi về quan hệ tình cảm vợ chồng, nó hiện lên là một tinh thể kép, mà có lẽ tinh thể nhỏ hơn đại diện cho người vợ, nương tựa vào tinh thể lớn hơn là người chồng. Hai tinh thể đồng dạng như một sự đồng thanh tương ứng trong mối quan hệ vợ chồng tạo ra sự nương tựa và hỗ trợ lẫn nhau.
Đặc biệt, khi nói về chuyện tình yêu nam nữ, tinh thể nước cũng rất đẹp và cũng là một tinh thể kép tương xứng, nhưng chúng lại khác biệt nhau về hình dạng như thể âm và dương tồn tại trong sự hòa hợp. Trong sự hòa hợp đó, tinh thể đại diện cho người đàn ông là sự nhất quán và cứng cỏi, trong khi sắc sảo và mong manh lại là đặc tính của tinh thể thể hiện thiên tính của người phụ nữ.
Đối với quan hệ bạn bè và hàng xóm, tinh thể nước là sự kết hợp của khá nhiều cánh, tất cả đều hướng tâm, như tạo nên một mạng lưới vốn không thể tách rời.
Quan sát nước dưới kính hiển vi như thể lắng nghe lời thì thầm của nước, đưa đến một câu hỏi, phải chăng nếu con người có năng lực nhìn thấu vi quan thì sẽ tìm được trong đó quy luật vận động và hình thành của tự nhiên, cùng hết thảy trong đó đạo lý nhân sinh trải dài hành trình đời người?
Sức mạnh của ý niệm và thiện tâm thể hiện qua tinh thể nước
Nghiên cứu của Tiến sĩ Masaru Emoto rất giàu tính nhân văn và sự chiêm nghiệm, ông dùng khoa học để chứng minh năng lực mạnh mẽ của thiện tâm và ý niệm của con người.
Trong khi được hỏi về con người phải làm gì để đối mặt với những thảm họa có thể xảy ra trong tương lai, ông nói: “Sự yêu thương và lòng biết ơn, với mọi người và với mọi vật. Nếu 10% những người trong chúng ta có thể làm được điều đó thì thảm họa sẽ không thể xảy ra”.
Sức mạnh của lời cầu nguyện.
Không dừng lại ở việc làm thí nghiệm với lời cảm ơn, Tiến sĩ Masaru Emoto còn tiến hành quan sát tinh thể nước trước và sau khi được cầu nguyện, cũng như sau khi nhận được lời chúc từ 500 người trên khắp Nhật Bản dành cho nguồn nước tại nơi vừa trải qua thảm họa.
Trong thí nghiệm này, ông không nhấn mạnh vào sự thông tuệ của nước mà điều ông muốn nói đến lại là “chính niệm” (ý niệm chân chính) của con người và sức mạnh của nó. Sức mạnh ấy có thể “hoàn nguyên” nước và mang lại cho nước vẻ đẹp vốn không bị ô nhiễm.
Ông cũng cho rằng: “Con người cũng chính là nước. Cơ thể người là chiếc áo mà chúng ta khoác lên khi ở tại hành tinh này, còn ở hành tinh khác chiếc áo có thể là hoàn toàn khác.Nước rải rác khắp mọi nơi trong toàn vũ trụ. Tôi tin rằng Trái đất giống như quả thận của vũ trụ. Rất nhiều nước của vũ trụ đã đến hành tinh này. Nó phải được tịnh hóa và trở lại những hành tinh khác để tịnh hóa những nơi đó. Những hành tinh này cần nước đã được tịnh hóa. Nước chính là chúng ta. Chúng ta, con người cần phải tự mình tịnh hóa. Lý do chúng ta tới đây từ không gian vũ trụ là để được tịnh hóa. Rồi chúng ta phải trở về với vũ trụ”.
Và chỉ có chính niệm và thiện tâm mới đủ sức giúp con người chúng ta được tịnh hóa.
Trở lại thí nghiệm âm nhạc của Tiến sĩ Masaru Emoto đối với nước. Mối tương quan giữa nước và âm nhạc lại là một đề tài rất thú vị. Bởi chúng ta ai cũng biết rằng 90% cơ thể người là nước. Như vậy, mọi thứ tác động được đến nước cũng sẽ tác động đến chúng ta. Trong các yếu tố tác động thì âm nhạc là một yếu tố vô cùng quan trọng, bởi sức mạnh cảm xúc của âm nhạc vượt ngoài mọi biên giới quốc gia và ngôn ngữ.
Theo quan niệm của Trung y, âm nhạc là cũng là một phương thuốc chữa bệnh, có năng lực hàn gắn thân tâm. Còn theo cách nói của Tiến sĩ Emoto, âm nhạc mà chúng ta nghe cần phải là âm nhạc có chính niệm và thiện tâm. Điều này đặt ra một chuẩn mực và yêu cầu vô cùng khắc khe đối với nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng. Đỉnh cao của nghệ thuật âm nhạc chính là giúp thân tâm con người được tịnh hóa.
Như vậy, khi thưởng thức âm nhạc, chúng ta cần phải đặt ra cho mình câu hỏi, chúng ta đang muốn khiến tâm hồn mình bị ô nhiễm hay được tịnh hóa?…
Có lẽ câu trả lời sẽ được tìm thấy trong chính bản thân bạn và trong những phân tử nước thuộc về cơ thể bạn…
Nhà vật lý người Nga đã khôi phục và phát triển phương pháp chụp ảnh ‘hào quang’ cơ thể người, phát hiện ra mối liên hệ đáng kinh ngạc với sức khỏe thể chất và tinh thần.
Năm 1939, kỹ sư điện người Nga Semyon Kirlian vô tình phát hiện được hiện tượng phát sáng khi đưa một điện cực có điện áp cao và tần số cao và gần da của một bệnh nhân. Kirlian sau đó đã phát minh ra kỹ thuật chụp ảnh hào quang của một vật thể bằng cách đặt vật thể trên một đĩa kim loại có phủ tấm phim chụp ảnh, rồi truyền dòng điện để tích điện cho chiếc đĩa. Vật thể khi đó sẽ nhiễm điện tạm thời và phóng điện đi xuyên qua tấm phim chụp ảnh, làm thay đổi tấm phim này. Khi tấm phim được rửa, nó sẽ hiện hình ảnh vật thể với một trường nhiều màu sắc xung quanh, được gọi là hào quang.
Phương pháp chụp ảnh hào quang của Kirlian (ảnh: wikipedia)Ảnh chụp hào quang của một số vật thể theo phương pháp Kirlian (ảnh: pinterest)
Ứng dụng ảnh chụp hào quang vào điều trị và phòng bệnh
Tuy một số người cho rằng hào quang của cơ thể người chỉ biểu hiện nhiệt độ, độ ẩm của cơ thể, nhưng hầu hết những người nghiên cứu về hào quang đều nhận định rằng hào quang của cơ thể người vốn là trường năng lượng sinh học, một dạng năng lượng tỏa ra từ cơ thể có liên quan đến sức khỏe và tinh thần của con người.
Hiện nay, có khá nhiều kỹ thuật chụp ảnh hào quang khác nhau bên cạnh kỹ thuật chụp ảnh của Kirlian.
Giáo sư, Tiến sĩ vật lý học người Nga Konstantin Korotkov – khoa Khoa học máy tính và Sinh lý học, Đại học công nghệ thông tin ở St. Petersburg – là người có nhiều năm nghiên cứu về mối quan hệ giữa hào quang với sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Ông đã viết hơn 10 đầu sáchnghiên cứu về năng lực của tinh thần, năng lượng vũ trụ, năng lượng sinh học của con người, hào quang cơ thể người, cuộc sống sau cái chết….
Tiến sĩ vật lý người Nga Konstantin Korotkov (ảnh: ET)
Giáo sư Korotkov và các cộng sự của mình dựa trên nguyên tắc chụp ảnh hào quang Kirlian đã tạo ra hệ thống thu nhận và vẽ hình ảnh hào quang cơ thể người có tên là GDV (Gas Discharge Visualisation).
GDV đo hào quang của 10 đầu ngón tay, sau đó sử dụng các công thức toán học và phần mềm dựa trên mối liên hệ giữa ngón tay và nội tạng theo nguyên tắc “kỳ kinh bát mạch” của Trung y để vẽ nên hình ảnh hào quang cơ thể người.
Giáo sư Korotkov đã phát hiện mối liên hệ đáng kinh ngạc giữa hào quang với sức khỏe thể chất và tinh thần:
“Một người khỏe mạnh có trường năng lượng mạnh mẽ, đầy đủ. Một người bị bệnh thì trường năng lượng của họ xuất hiện các lỗ hổng hay kẽ hở”
Ông dẫn một ví dụ về một người phụ nữ đến gặp ông với rất nhiều triệu chứng bệnh, bao gồm mệt mỏi, trầm cảm và đau đớn ở nhiều bộ phận khác nhau trên cơ thể. Cô đang phải uống nhiều loại thuốc khác nhau để điều trị từng triệu chứng bệnh đó.
Sử dụng thuật chụp ảnh bằng GDV, ông xác định được các vùng bị yếu trong hào quang của cô và đề xuất các bài tập để tăng cường củng cố năng lượng tại những vùng đó. Nhờ vậy, cô đã đã nhanh chóng hồi phục và không còn phải uống thuốc nữa. Theo Korotkov, hàng ngàn bác sĩ trên khắp thế giới hiện đang ứng dụng rất thành công phương pháp này.
Theo báo cáo, tổ chức SIGN của Scotland và Jadad đã thống kê được 136 bài viết liên quan đến 5.303 bệnh nhân với hơn 1.000 các vấn đề sức khỏe khác nhau có sử dụng GDV làm thiết bị hỗ trợ trong điều trị. Có 78 trong 136 bài viết đánh giá hiệu quả của GDV là tốt.
Một người có vấn đề về sức khỏe có hào quang không đầy đặn, có các kẽ hở hoặc các dấu hiệu không bình thường (ảnh: chụp từ thiết bị GDV – tài liệu trên Korotkov.eu)Một người khỏe mạnh có hào quang đầy đặn, không bị vỡ, không có kẽ hở (ảnh: chụp từ thiết bị GDV – tài liệu trên Korotkov.eu)
Giáo sư Korotkov còn cho rằng phương pháp chụp ảnh hào quang có tác dụng tích cực trong việc phòng bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho mọi người nếu họ quan sát trường năng lượng của mình hàng ngày thông qua các thiết bị như GDV và điều chỉnh hành vi và cảm xúc một cách phù hợp.
Nếu người bệnh có một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như đau tim, thì họ nên đến bệnh viện để được điều trị. Nhưng để ngăn ngừa tình trạng nghiêm trọng này, chúng ta lại phải viện đến sức mạnh của y học tích hợp và y học cổ truyền, bởi nó có sức mạnh to lớn trong việc giữ gìn sức khỏe của bệnh nhân”, Giáo sư Korotkov giải thích.
Cảm xúc và lòng yêu thương ảnh hưởng đến hào quang của mỗi người
Hào quang của một người được tăng cường nhờ các cảm xúc tích cực như niềm vui, sự hài hước và lòng yêu thương. Korotkov nói:
“Nếu người ta có những cảm xúc tiêu cực – tức giận, đố kỵ – chúng sẽ làm suy giảm trường năng lượng, khiến trường năng lượng thu nhỏ và thậm chí đôi lúc biến mất.”
Korotkov phát hiện ra rằng trường năng lượng của một người sẽ xuất hiện phản ứng khi người thân của họ đang ở gần, ngay cả khi chưa nhìn thấy người đó. Hiện tượng này chỉ ra rằng mối liên kết cảm xúc cho phép một người cảm nhận được bằng trực giác sự hiện diện của người kia mà không dùng đến năm giác quan thông thường. Theo một cách hiểu nào đó, trong những trường hợp như vậy, họ dường như đã viện đến giác quan thứ 6.
Kết quả nghiên cứu của ông cũng cho thấy, các cảm xúc tiêu cực hướng đến một người khác có thể làm suy giảm trường năng lượng của người đó, thậm chí từ khoảng cách xa.
“Khi chúng ta chia sẻ lòng yêu thương, chúng ta truyền dẫn dạng năng lượng này, không phải trong trí tưởng tượng, mà nó là sự biến đổi thực tại về năng lượng vật lý. Đó là lý do tại sao khi một người nhận được sự yêu thương, họ hồi phục nhanh hơn hẳn. Họ sẽ nhận được các cảm xúc tích cực, và điều này sẽ hỗ trợ họ trong quá trình hồi phục vết thương,” Korotkov cho biết.
Ông đã chụp các bức ảnh của một cặp đôi và nhận thấy hào quang của họ đan xen vào nhau. Ngược lại, đối với những người không có kết nối về mặt cảm xúc (hai người không quen biết nhau), thì sẽ có một khoảng trống giữa các hào quang của họ.
Bức ảnh Giáo sư Korotkov chụp hiệu ứng Kirlian cho thấy hào quang từ hai ngón tay của cặp đôi yêu nhau hòa vào nhau (ảnh: ET)
Ngồi thiền và nghe nhạc cổ điển giúp tạo nên một hào quang khỏe mạnh, bền chắc
Korotkov cũng đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của âm nhạc lên hào quang của con người. Nghe nhạc cổ điển có một tác dụng tích cực. Nhạc rock mạnh cũng sẽ giúp tăng cường năng lượng của người nghe, nhưng sau đó lại dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng.
Mức trường năng lượng của một người tùy theo loại nhạc được nghe, hình ảnh họ nhìn thấy. Hát thánh ca hoặc cầu nguyện cũng làm trường năng lượngcủ a một người tăng lên (ảnh: trích từ tài liệu trên korotkov.eu)
Theo Giáo sư Korotkov, mặc dù nghe nhạc cổ điển có thể giúp duy trì trạng thái hào quang ổn định, nhưng phương pháp tốt nhất chính là ngồi thiền và các bài tập chú trọng tăng cường sức mạnh nội tại như yoga hay khí công.
Hào quang của một phụ nữ bị trầm cảm (stress) nặng (ảnh: chụp từ thiết bị GDV – tài liệu trên Korotkov.eu)Hào quang của người phụ nữ bị trầm cảm (stress) nặng 6 tháng sau khi cô thực hiện ngồi thiền và các liệu pháp giảm stress đã có những cải thiện rõ ràng tuy vẫn còn chưa đầy đặn và có khe hở (ảnh: chụp từ thiết bị GDV – tài liệu trên Korotkov.eu)Hào quang của người phụ nữ bị trầm cảm (stress) nặng 18 tháng sau khi cô tiếp tục ngồi thiền và giảm stress. Trường năng lượng đã khá đầy đặn và không còn kẽ hở (ảnh: chụp từ thiết bị GDV – tài liệu trên Korotkov.eu)
“Cùng nhau, chúng ta sẽ tạo ra một trường ý thức tập thể”
Tóm tắt nghiên cứu của mình, Korotkov nói:
“Sau hơn 30 năm nghiên cứu, chúng tôi đi đến kết luận rằng con người không chỉ là một cơ thể vật chất, chúng ta là hơn thế rất nhiều. Chúng ta có tinh thần, có ý thức , mà chúng còn tồn tại ở cả bên ngoài [bộ não này]. Vậy nên khi chúng ta mở rộng ý thức của mình, chúng ta mở rộng tầm hồn chúng ta ra môi trường xung quanh. Cùng nhau, chúng ta tạo nên một trường ý thức tập thể.”
“Khi chúng ta phát xuất ra các cảm xúc tích cực, khi chúng ta có một loại cảm nghĩ tích cực, chúng ta sẽ có thể tác động một cách tích cực đến những người khác. Ngược lại, khi chúng ta phát xuất ra các cảm xúc cũng như cảm nghĩ tiêu cực, thì chúng ta cũng sẽ tác động một cách tiêu cực đến những người xung quanh. Chỉ khi chúng ta có các cảm nghĩ tích cực và một thái độ tích cực với mọi người… thì chúng ta mới có thể tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn”.