Container Icon

ÁNH SÁNG VÀ CON ĐƯỜNG TÂM LINH

 


CHƯƠNG 1. NGUỒN GỐC CỦA ÁNH SÁNG

Ánh sáng truyền năng lượng theo định chí của Đấng Sáng Tạo

Vũ trụ khai nguyên vốn có năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên. Dưới ý chí của Đấng Sáng Tạo, vũ trụ dần dà sinh ra thiên hà, tinh tú. Năng lượng vận chuyển như những dòng sông trên khắp các cung đường Vũ trụ.

Tất cả trật tự đó thực hiện trong hồng mông mờ mờ mịt mịt. Sinh linh sống trong vũ trụ lúc bấy giờ không cần mắt mũi, chỉ cần giác quan cảm ngộ năng lượng và năng lực hấp thu năng lượng.

Thế rồi, Đấng Sáng Tạo cảm thấy sự sống như vậy thì chưa đẹp, chưa đa dạng, nên Ngài quyết định sáng tạo ra một thứ mang thật nhiều quyền năng, biểu tượng cho sinh cơ- đó là Ánh sáng.

Ánh sáng là một thành tố đặc biệt của vũ trụ, nó có 2 đặc tính cơ bản:

  • Ánh sáng mang theo năng lượng bản nguyên của vũ trụ, nó có nhiệm vụ cấp dưỡng năng lượng cho sinh linh;
  • Ánh sáng mang theo định chí của Đấng Sáng Tạo, nó có nhiệm vụ quyết định trạng thái sinh cơ của sinh linh. Định chí được cấu thành từ tinh thần bản nguyên, định hình nên tư tưởng.

Vật lý hiện đại nói rằng, ánh sáng có đặc điểm lưỡng tính sóng - hạt. Đó là bởi vì hạt là vật chất mang năng lượng còn sóng là hình dạng của tư tưởng.

Đối với con người địa cầu 3D và khoa học hiện đại, ánh sáng là một thành tố đến từ tự nhiên với các đặc tính không thay đổi. Tuy nhiên, Đấng Sáng Tạo sáng tạo ra ánh sáng không nghèo nàn như vậy. Ánh sáng có nhiều chủng loại, đặc tính thay đổi theo bậc không gian. Càng lên không gian bậc càng cao, thuộc tính của ánh sáng càng đa dạng và quyền năng của nó càng lớn.

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 2. Các Chủng Loại Ánh Sáng

CHƯƠNG 2. CÁC CHỦNG LOẠI ÁNH SÁNG

Ánh sáng có rất nhiều chủng loại, phân biệt theo các đặc tính mức năng lượng cấp dưỡng và tư tưởng được định chí.

Một điều khá thú vị là ta có thể biểu diễn mối quan hệ đó bằng một phương trình parabol: y = x2; (phương trình này sẽ quay lại trong các kỳ tiếp theo với sự gần gũi không thể nào là ngẫu nhiên).

1930-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-2-cac-chung-loai-anh-sang-1.jpg

Với đồ thị trên, ta thấy rằng:

  • Nếu con người hướng đến sự tích cực ở mức càng cao thì năng lượng nhận được sẽ cao, sinh cơ càng lớn. Người hiền đức có năng lực giúp đỡ chúng sinh là vì vậy. Hoặc đi về chiều hủy diệt với mức tiêu cực càng cao thì năng lượng phá hoại cũng sẽ thật lớn. Người càng hung dữ càng làm được nhiều chuyện động trời.
  • Đó là 2 con đường Phật - Ma vậy.
  • Tư tưởng thay đổi một lượng thì năng lượng thay đổi một lượng lớn hơn. Điều này cho ta thấy tầm quan trọng của sức mạnh tư tưởng.

Phương trình trên có tính định tính nhiều hơn định lượng. những tham ngộ về ánh sáng, tư tưởng, năng lượng tích cực và tiêu cực hay những nói về tần số rung động là những vấn đề đã nội hàm trong đặc tính áng sáng.

Ở các cấp không gian khác nhau, mối quan hệ giữa tư tưởng và ánh sáng cũng sẽ thay đổi khác nhau theo chiều hướng tư tưởng ảnh hưởng càng mạnh đến ánh sáng và ánh sáng mang năng lượng tích cực càng lớn hơn. Điều đó có nghĩa là, ở không gian bậc càng cao, sức ảnh hưởng của phật tính/phật quang sẽ lớn hơn ma tính/ma quang. Nên con người ở không gian 3D sẽ chịu ràng buộc tham sân si lớn nhất. Đó cũng là lý do các trường thi thường được thiết kế tại không gian 3D. Đồng thời, lên không gian bậc càng cao, sự tách biệt giữa ánh sáng Phật tính và ánh sáng Ma tính càng cao. Các vong linh nặng trược ở không gian 3D cảm thấy run sợ trước ánh sáng mặt trời là vì vậy.

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 2. Các Chủng Loại Ánh Sáng (Phần 2)

Có nhiều chủng loại ánh sáng khác nhau:

Theo chiều tích cực:

  • Ánh sáng vật lý: Là ánh sáng mà mắt thường của con người có thể thấy được. Ánh sáng này có vận tốc di chuyển là số c = 3.105km/s mà chúng ta thường biết. Tư tưởng định chí vào ánh sáng này rung động ở mức tiêu cực lẫn lộn với tích cực nên gọi là hồng trần quang. Hồng trần là ánh sáng thịnh hành ở không gian 3D. Không có nghĩa là ở không gian 3D chỉ có loại ánh sáng đó, chúng ta vẫn có cơ hội tiếp xúc với các ánh sáng đến từ không gian bậc cao hơn.
  • Ánh sáng không gian 5D thịnh hành là thanh quang.
  • Lên tới không gian 6D, khi mà các quốc độ được lập lên đây đó, ánh sáng mỗi quốc độ phụ thuộc vào chủ nhân của quốc độ đó. Bên cạnh đó, cũng có thể nhắc đến không gian 6D có ánh sáng bạch quang rất thịnh hành. Còn Linh Tiêu Bảo Điện, đó là nơi giao hòa nhiều nguồn ánh sáng khác nhau.
  • Không gian 7D, ánh sáng thịnh hành là huỳnh quang, còn gọi là Phật quang. Không gian 7D có rất nhiều quốc độ của các vị Phật.
  • Ngoài ra còn có xích (đỏ) quang, tử (tím) quang…

Phía chiều tiêu cực:

  • Theo chiều tiêu cực có phần dễ phân loại hơn. Ánh sáng có mức tiêu cực càng lớn thì sắc quang càng dần về đen tối.
  • Không gian 4D, ánh sáng tiêu cực thịnh hành là hôi (xám) quang. Không gian 5D lên 6D ánh sáng tiêu cực dần thành hắc quang.

Ở không gian bậc càng cao, sự tách biệt giữa ánh sáng tích cực và ánh sáng tiêu cực càng lớn.

Tốc độ của ánh sáng cũng thay đổi theo không gian và tinh thần lực hay mức độ tích cực của anh sáng.

Tinh thần lực càng cao, tốc độ ánh sáng càng cao. Bậc không gian càng cao, tốc độ ánh sáng càng cao.

Phía chiều tinh thần lực giảm, lên không gian bậc cao, ảnh hưởng của tinh thần lực cao hơn ảnh hưởng của không gian lực nên ánh sáng càng lâm vào hắc quang thì vận tốc càng giảm.

Cũng giải thích thêm, không phải là định chí tư tưởng của Đấng Sáng tạo cố ý tạo nên lực phá hủy mà là do năng lượng phi ý chí có đặc tính như vậy. Nên thuận theo tinh thần lực được rót vào nhiều hay ít mà mức độ tích cực tăng dần lên.

Nội hàm ý nghĩa của ánh sáng quá lớn, các tôn giáo đều thường đề cập tới ánh sáng và tình thương. Các tôn giáo khác nhau kiến giải về ánh sáng khác nhau không phải là mượn hình tượng để kiến giải mà vì chủng loại ánh sáng có đặc tính khác nhau.

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 3. Hệ Số Vật Chất Cân Bằng Và Các Yếu Tố Tác Động Lên Nó (Phần 1)

CHƯƠNG 3. HỆ SỐ VẬT CHẤT CÂN BẰNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN NÓ 

Vũ trụ này là không gian đa chiều, bậc không gian càng cao vật chất có trạng thái cân bằng yêu cầu năng lượng lớn và khối lượng nhỏ. Liệu điều này có thể giải thích bằng các phương trình toán học không? Tài liệu này sẽ đưa ra một số giả thuyết và kiến giải đặc tính trên của vật chất.

Các khái niệm và Hệ số vật chất cân bằng

Ta biết rằng, vật chất có mối quan hệ giữa khối lượng và năng lượng qua phương trình của Albert Einstein:

E = mc(1)

Như vậy:

- Gọi RB = là Hệ số vật chất cân bằng; RBnD là Hệ số vật chất cân bằng không gian bậc n chiều.

- Gọi Hàm số f(c) = clà phương trình tác động của quang quyển lên vật chất (sau đây gọi tắt là Phương trình quang quyển).

Phương trình f(c) = ccũng chính là phương trình đặc tính thể hiện mối quan hệ giữa mức năng lượng cấp dưỡng và tư tưởng định chí của ánh sáng đã được trình tại kỳ 2 (y = x2).

- Gọi KnD là hệ số không gian lực n chiều.

Trong không gian 3D, ta có K3D = 1

Như vậy, phương trình (1) có thể được viết lại:

RB3D = K3D.f(c) (2)

Từ phương trình 2 ta thấy rằng:

RB phụ thuộc với f(c) và KnD.

Vì không gian 3D là không gian cơ bản, nên hệ số không gian lực của nó K3D = 1.

Đi lên các bậc không gian bậc cao, KnD sẽ tăng dần và tác động của quang quyển f(c) cũng tăng dần nên RBcó giá trị tăng dần theo bậc không gian.

Ta có:

RB3D <RB4D<RB5D <RB6D< RB7D

1932-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-3-he-so-vat-chat-can-bang-va-cac-yeu-to-tac-dong-len-no-1.jpg

Đồ thị (sơ thảo) minh họa đặc tính RB

Hệ số vật chất cân bằng tăng dần theo bậc không gian

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 3. Hệ Số Vật Chất Cân Bằng Và Các Yếu Tố Tác Động Lên Nó (Phần 2)

Hệ số không gian lực KnD

Hệ số không gian lực có giá trị tăng dần khi bậc không gian tăng dần.

Trong mỗi thời kỳ khác nhau, hệ số không gian lực của một cấp không gian sẽ có giá trị khác nhau.

Về mặt toán học, mô tả hệ số không gian lực bằng một hàm số là điều khó khăn. Khi khoa học phát triển đủ sức, người ta sẽ xác định hệ số không gian lực trong mỗi thời kỳ bằng cách đo đạc.

Giả sử phương trình quang quyển không đổi theo các chiều không gian, sử dụng hệ số không gian lực đã có thể giải thích vì sao bậc không gian càng cao, trạng thái cân bằng của vật chất yêu cầu vật chất có khối lượng nhỏ và năng lượng lớn.

Trước khi giải thích bằng toán học, ta phải nhắc lại quy luật của đạo tác động lên vật chất. Đó là: vật chất có xu hướng xác lập sự cân bằng cho chính nó bằng phương cách dễ dàng nhất. Ví như một giọt nước khi rơi từ trên cao xuống sẽ có hình dạng đầu tròn, đuôi dài; một bóng khí lơ lửng trong không gian tồn tại ở dạng khối cầu, nước có hình dạng theo vật chứa; hay ngay cả vấn đề tâm lý, trong gia đình, mỗi người nhường nhau một chút thì gia đình dễ dàng hòa thuận…

1933-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-4-he-so-vat-chat-can-bang-cac-yeu-to-tac-dong-len-no---he-so-khong-gian-luc-1.jpg

(Ảnh minh họa - Internet)

Quay lại phương trình (2): RB = KnD.f(c)

Khi f(c) không đổi; ta có, KnD tăng khi n tăng, dẫn đến RB tăng.

Để Rtăng lên mà sự biến đổi nội hàm của nó (E/m) là thấp nhất thì E tăng và m giảm. (Ví dụ: E tăng gấp đôi, m giảm một nửa thì RB tăng lên được gấp 4 lần. Sẽ dễ dàng hơn so với E không đổi thì m phải giảm tới 4 lần).

Như vậy, kết luận “Bậc không gian càng cao, trạng thái cân bằng của vật chất yêu cầu vật chất có năng lượng lớn hơn và khối lượng nhỏ hơn” là kết luận hoàn toàn đầy đủ logic.

Bài “Không gian này là vũ trụ đa chiều” đã cho chúng ta thông tin về đặc tính này của vật chất theo con đường thực nghiệm, để tiếp cận được đầy đủ chúng ta cần những kinh nghiệm nhất định trên con đường tu luyện. Còn tại đây, bắt đầu với phương trình E = mccủa nhà khoa học Albert Einstein nổi tiếng, chúng ta lại được thấy sự logic của vấn đề.

Phải chăng, sẽ đến một ngày, khoa học và huyền môn cùng đích đến?!

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 3. Hệ Số Vật Chất Cân Bằng Và Các Yếu Tố Tác Động Lên Nó (Phần 3)

Phương trình quang quyển f(c)

Luật tác dụng của ánh sáng lên vật chất trong mỗi không gian thay đổi theo bậc không gian khác nhau.

Không gian 3D, ta có phương trình quang quyển là phương trìnhđã biết từ phương trình của Einstein:

f(c) = c2Tiến lên không gian bậc cao, sự tiếp xúc của ánh sáng đến vật chất sẽ tăng thêm, tức là tác động của ánh sáng lên trạng thái cân bằng của vật chất lớn hơn. Do đó, phương trình quang quyển sẽ phải thay đổi theo.

Cũng cần dừng lại một chút để nói thêm rằng, tài liệu này dẫn dắt vấn đề từ đầu khác với khoa học hiện đại ở chỗ, tài liệu thừa nhận sự tồn tại của Đấng Sáng Tạo.Những gì trình bày ở tài liệu này là thông tri chứ không phải là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học. Những mong, các giáo sư, tiên sĩ hữu duyên hãy có những nghiên cứu xa hơn để tiền đề này được phát huy ứng dụng, tạo ra sản phẩm hữu hình.

Trong phạm vi trình bày tiếp theo, một số vấn đề về tâm linh sẽ được kiến giải bằng các phương trình toán học.

Các phương trình quang quyển ở các cấp không gian như sau.

Phương trình quang quyển trong không gian 4D:

f(c) = c2+ α (3.1)

Trong đó:

α là hệ số đặc tính tác động của ánh sáng khi tiếp xúc với vật chất thuộc chiều không gian thứ 4.

Vì không gian 4D là không gian phụ thuộc không gian 3D, tự nó không có tính độc lập nên dạng phương trình sẽ không thay đổi, và đặc tính cũng không có nhiều thay đổi. Điểm khác biệt lớn nhất là do vật chất có thêm 1 chiều tiếp xúc với ánh sáng nên năng lượng tác động lên vật chất sẽ tăng thêm.

Ở kỳ trước ta biết rằng, phương trình thể hiện mối quan hệ giữa mức năng lượng cấp dưỡng và tư tưởng được định chí của ánh sáng có dạng tương tự phương trình quang quyển. Thay vì biến c là tốc độ ánh bằng biến số thể hiện mức tư tưởng định chí. Ta có hình dạng đồ thị như sau:

1934-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-5-he-so-vat-chat-can-bang-cac-yeu-to-tac-dong-len-no---phuong-trinh-quang-quyen-1.jpg

Hình 3.1. - Đồ thị phương trình quang quyển không gian 4D

(Giá trị các trục chỉ mang tính minh họa)

Xem xét đồ thị ta thấy, cùng một mức tư tưởng định chí, năng lượng của vật chất ở không gian 4D lớn hơn không gian 3D. Các đặc tính còn lại không có gì thay đổi.

Phương trình quang quyển trong không gian 5D:

Ở bài viết “Vũ trụ này là không gian đa chiều” đã trình bày, không gian 5D được tạo bởi không gian 3D hợp với trục 4D và trục 5D.

Phương trình quang quyển của không gian 5D như sau:

f(c) = c2 + β.c + α (3.2)

Trong đó:

β là hệ số đặc tính tác động của ánh sáng khi tiếp xúc với vật chất thuộc chiều không gian thứ 5.

Không gian 5D là không gian độc lập, nó có sự thay đổi về chất so với không gian 4D nên phương trình quang quyển cũng có sự thay đổi.

β.c là lượng tác động tăng cường của ánh sáng trong không gian 5D; nó có ý nghĩa là giá trị trả về của vùng tư tưởng mang lại sự tốt đẹp rộng hơn.

Đồng dạng với phương trình quang quyển, phương trình thể hiện mối quan hệ giữa mức năng lượng cấp dưỡng và tư tưởng được định chí của ánh sáng được biểu diễn như sau đồ thị sau:

1934-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-5-he-so-vat-chat-can-bang-cac-yeu-to-tac-dong-len-no---phuong-trinh-quang-quyen-2.jpg

Hình 3.2. - Đồ thị phương trình quang quyển không gian 5D

(Giá trị các trục chỉ mang tính minh họa)

Xem xét đồ thị ta thấy:

- Vùng tích cực được dịch sang phái trái trục tung, tức là vùng tư tưởng tích cực được tăng lên. Hay nói cách khác, cùng một mức tư tưởng định chí, trong không gian 5D sẽ có giá trị tích cực lớn hơn không gian 3D, 4D.

- Cùng mộtmức tư tưởng định chí, mức năng lượng cấp dưỡng ở không gian 5D lớn hơn ở không gian 3D, 4D.

Phương trình quang quyển trong không gian 6D:

Không gian 6D được tạo bởi không gian 4D hợp với trục 5D và trục 6D.

Phương trình quang quyển của không gian 6D so với không gian 5D có sự biến đổi lớn về lượng:

f(c) = γ.c2 + β.c + α (3.3)

γ: hệ số đặc tính tác động của ánh sáng khi tiếp xúc với vật chất thuộc chiều không gian thứ 6

Các đặc tính của ánh sáng không gian 6D tương tự như không gian 5D, chỉ khác ở mức năng lượng cấp dưỡng lớn hơn nhiều lần so với không gian 5D.

Phương trình quang quyển trong không gian 7D:

f(c) = δ.c3 + γ.c^2 + β.c + α (3.4)

δ: hệ số đặc tính tác động của ánh sáng khi tiếp xúc với vật chất thuộc chiều không gian thứ 7

Đối với không gian 7D, phương trình quang quyển có sự thay đổi rất lớn về chất. Trong đó, năng lượng tác động lên vật chất mang trạng thái tiêu cực sẽ trả về giá trị năng lượng cấp dưỡng âm. Có nghĩa là, trạng thái tiêu cực sẽ bị bài xích khỏi không gian 7D, hay nói cách khác, dưới ánh sáng của Phật quang, thế giới chỉ có màu sắc tươi vui.Đây quả là một tin tức tốt đẹp.

Biểu diễn đặc tính của quang quyển không gian 7D được mô tả bằng đồ thị như hình 3.4.

1934-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-5-he-so-vat-chat-can-bang-cac-yeu-to-tac-dong-len-no---phuong-trinh-quang-quyen-3.jpg

Hình 3.4. - Đồ thị phương trình quang quyển không gian 7D

(Giá trị các trục chỉ mang tính minh họa

Cuộc chiến giữa Phật - Ma vì vậy không phải là cuộc chiến “động tay động chân”, chỉ là cuộc chiến giữa ánh sáng. Cho nên khi Ma vương phá quấy đức Phật, chẳng có một cái nhấc tay nhấc chân nào của Ngài, nhưng kết cuộc Ma vương vẫn thua và phát nguyện lời thề phá quấy các môn đệ của Phật.

Trong Tây Du Ký, Ngô Thừa Ân cao diệu cũng rất khéo léo kể về cuộc chiến giữa Phật tổ Như Lai và Tôn Ngộ Không. Chỉ một cái lật tay của Phật, Ngộ Không bị nhốt dưới núi 500 năm. Ngụ ý trong trận chiến đó khá nhiều tình tiết thú vị.

Có thể nói, ở đâu có Phật quang, ở đó Ma quang bị đẩy lùi. Do đó, ở gần Phật, sinh linh luôn luôn cảm thấy an lạc, ấm áp.

1934-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-5-he-so-vat-chat-can-bang-cac-yeu-to-tac-dong-len-no---phuong-trinh-quang-quyen-4.jpg

Nhưng Phật không thể cưu mang ta mãi, ta phải tự mình tiến hóa và có ánh sáng của chính mình đi thôi!

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 4. Các Phương Pháp Để Cân Bằng Thực Thể Trong Không Gian Đa Chiều

CHƯƠNG 4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỂ CÂN BẰNG THỰC THỂ TRONG KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU

Các phương pháp để cân bằng thực thể trong không gian đa chiều

Ở các kỳ trước ta đã biết được rằng, vật chất hay thực thể cân bằng trong một không gian phụ thuộc vào tác động của không gian lực và tác động của ánh sáng.

Hay nói cách khác, phương trình RB = KnD.f(c) phải được thỏa mãn.

Vậy để vật chất cân bằng, ta có các phương pháp sau đây:

Phương pháp 1: Thay đổi từ nội tại vật chất.

Một vật chất hay thực thể khi dịch chuyển từ không gian bậc thấp lên không gian bậc cao hơn muốn cân bằng với các thay đổi đến từ nội tại vật chất, thì hệ số RB thay đổi sao cho phù hợp với không gian mới.

Để thay đổi là dễ dàng nhất, vật chất sẽ tăng mức năng lượng E và giảm khối lượng m của nó.

Đây là phương pháp xuyên không gian mà những người tu đạo chọn thực hiện. Để đi xuyên không gian từ bậc thấp lên bậc cao, các đạo nhân sẽ thực hành các bài học nhằm thanh lọc thể vật chất nặng nề trong cơ thể họ (thể xác, thể vía, thể hồn). Khi đến đắc đạt, đạo nhân có khả năng tự điều chỉnh nội tại vật chất trong cơ thể để thực hành việc đi xuyên không gian.

Sẽ có các tình huống xảy ra như sau:

+ Đạo nhân xuyên không gian không mang theo thể xác. Trạng thái này thường gặp được trong khi đạo nhân thực hành Thiền định đến nhập định. Trường hợp này là chủ động thực hành xuyên không gian. Ngoài ra, đa số nhân loại có khả năng đi xuyên không gian không mang theo thể xác trong các giấc mơ một cách thụ động.

+ Khó thực hiện hơn, đạo nhân xuyên không gian có mang theo thể xác. Trạng thái này chỉ thực hiện được khi đạo nhân tu luyện đạt đến cảnh giới kim thân. Thân xác của họ có thể thay đổi phù hợp với bất kỳ sự cân bằng của bất kỳ không gian nào. Sách đạo giáo xưa nay vẫn gọi là “tụ thì thành hình, hóa thì thành khí”. Trạng thái “khí” đó chính là trạng thái vật chất cân bằng ở không gian bậc cao hơn.

Cũng từ 2 phương pháp này, xưa nay việc tu đạo chia ra làm hai trường phái, đó là tu tính và tu mệnh. Tu tính chính là tu luyện để đạt được trạng thái vật chất cân bằng của thân thể không bao gồm thể xác; hay được gọi là tu Phật. Tu mệnh chính là tu luyện để đạt được trạng thái vật chất cân bằng của thân thể có bao gồm thể xác; hay được gọi là tu Tiên.

Việc phân chia này cũng chỉ là tương đối để xem xét khái niệm. Trên thực tế, tính mệnh song tu vẫn được rất ưa chuộng, rất nhiều đạo nhân cho đến ngày nay vẫn theo đuổi thực hành.

Phương pháp 2: Thay đổi nhờ ngoại lực thay đổi

Bằng cách tác động vào phương trình quang quyển và hệ số không gian lực, vật chất vẫn duy trì nội tại ở trạng thái RB3D. Cơ bản có 2 tình huống xảy ra như sau:

+ Vật chất hoặc thực thể được bao bọc bởi các thiết bị được chế tạo hoạt động theo một cơ chế xác định, mà ở đó, thiết bị điều chỉnh tác động của quang quyển, giúp vật chất mà nó chứa đựng bên trong được cân bằng. Đây là tình huống mà “người ngoài hành tinh” sử dụng thiết bị bay để đi xuyên không gian.

+ Tình huống thứ 2, vật chất hoặc thực thể được bao bọc bởi trận pháp của các pháp sư. Các pháp sư với sự hiểu biết và cảm nhận không gian, họ dùng vật chất nhẹ (được gọi là khí) và kết hợp với nhau theo một cơ chế xác định, hình thành một quang quyển độc lập bao bọc vật chất hoặc thực thể bên trong. Nhờ đó mà vật chất hoặc thực thể bên trong được bảo vệ và trụ định được bằng R3D tại không gian bậc cao hơn.

Câu hỏi đặt ra là, con người địa cầu hiện đại khi bước vào nền văn minh mới sẽ du hành xuyên không gian theo phương pháp nào? Tiếp cận khoa học giúp công nghệ có khả năng phổ biến với đại chúng, tiếp cận huyền môn giúp con người đạt được sự chủ động. Liệu chúng ta, những con người địa cầu có đủ sức giải mã UFO (Unidentified flying object - Thiết bị bay không xác định) được cho là của “người ngoài hành tinh” hay không?

Phương pháp 3: Phối hợp phương pháp 1 và 2

Có lẽ con người địa cầu sẽ chọn phương pháp phối hợp giữa phương pháp 1 và 2. Chúng ta có năng lực thay đổi sự cân bằng vật chất nội tại, điều đó đã được nói rất nhiều ở các trước tác, đặc biệt là ở các tác phẩm về thuật tu tiên của phương Đông. Các tác phẩm văn học, điện ảnh đương đại cũng nói rất nhiều về chuyện di chuyển xuyên không gian. Các dự cảm đó hẳn là thông điệp của bề trên đã sắp xếp, thông tri cho chúng ta trong rất nhiều năm gần đây.

Nền văn minh tương lai cần sự giúp sức của những người hiền, những người được Đấng Sáng Tạo chọn. Các thiết bị bay sẽ khá là đa dạng. Dành cho người có pháp thuật thì thiết bị sẽ đơn giản hơn, nhưng khả năng tải sẽ bị giới hạn. Dành cho cộng đồng thì thiết bị bay sẽ cồng kềnh hơn, nhưng khả năng tải sẽ được tốt hơn.

Một hồi dông dài, chúng ta đã thấy sự huyền diệu của ánh sáng, chúng ta cảm nhận được những chi tiết trong các tác phẩm điện ảnh hoặc trong các trò chơi điện tử về các tình huống dịch chuyển xuyên không gian của phi thuyền, của nhân vật.

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 5. Giả Thuyết Về Nguyên Lý Hoạt Động Của UFOCHƯƠNG 5. GIẢ THUYẾT VỀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA UFO

Giả thuyết về nguyên lý hoạt động của UFO

Ở kỳ trước, thiết bị bay không xác định (UFO - Unidentified flying object) của “người ngoài hành tinh” được giới thiệu là có khả năng bay xuyên không. Bài viết kỳ này đưa ra giải thuyết về nguyên lý hoạt động của UFO, xem xét đến việc thay đổi quang quyển để tạo ra sự cân bằng vật chất khi di chuyển xuyên không gian.

Đĩa bay có cấu tạo cơ bản 3 phần:

  • Phần giữa: Là phần trung tâm (1), chứa đựng phi hành đoàn. Phần trung tâm của đĩa bay là phần cố định, không xoay.
  • Hai phần đĩa bên ngoài: Gồm 2 phần đĩa ngoài (3) và đĩa trong (2). Đĩa ngoài và đĩa trong có chiều quay ngược nhau.

1936-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-7-gia-thuyet-ve-nguyen-ly-hoat-dong-cua-ufo-1.jpg

Hoạt động bay của Đĩa bay gồm có 2 chức năng chính: i) Di chuyển trong không gian trụ định; ii) Di chuyển xuyên không gian và giữ ổn định ở không gian bậc cao.

Liên quan đến đặc tính của anh sáng, bài viết chỉ trình bày về nguyên lý của chức năng thứ ii.

Việc di chuyển xuyên không gian và giữ ổn định ở không gian bậc cao được thực hiện dựa trên nguyên lý sau:

  • Trên phần đĩa trong và đĩa ngoài của UFO được bố trí rất nhiều thiết bị phát sáng (ma trận phát sáng) theo những quy tắc nhất định. Khi hai phần đĩa bay xoay tròn và phát sáng, ma trận phát sáng kèm vận tốc quay của 2 đĩa sẽ một quy luật mô phỏng các đặc tính của ánh sáng và tạo ra quang quyển độc lập. Việc vận hành này bắt buộc phi hành đoàn phải hiểu biết về tâm linh, phát ra tinh thần lực để thỏa mãn đặc tính tư tưởng định chí của ánh sáng.
  • Quang quyển độc lập được hình thành và bao bọc quanh UFO. Bên trong quang quyển độc lập là không gian độc lập và phần trung tâm không bị ảnh hưởng theo luật không gian mà thiết bị bay đã xâm nhập.

Sự cân bằng được của vật chất bên trong quang quyển độc lập này đã được thay đổi theo phương trình cân bằng vật chất như sau:

RB_UFO = KnD.(f(c) - f’(c))

Trong đó:

RB_UFO hệ số cân bằng vật chất của UFO;

KnD hệ số không gian lực của không gian nD;

f(c) là phương trình quang quyển tự nhiên của không gian nD;

f’(c) là phương trình quang quyển của UFO; f’(c) sẽ được tính toán sao cho RB_UFO = RB3D.

Như vậy, bằng cách sử dụng quang quyển độc lập, UFO có hệ số vật chất cân bằng được điều chỉnh về RB3D trong không gian UFO đã xâm nhập.

Bằng cách giải thích này, UFO bay trong không gian 3D có thể không cần phát sáng. Khi UFO chuẩn bị xâm nhập không gian bậc cao, nó sẽ phát sáng trước “biến mất”.

Hạn chế của UFO bay xuyên không gian là người ở trong đó không được ra ngoài không gian hiện hữu. Chỉ khi trở về không gian 3D, phi hành đoàn trong UFO mới bước ra ngoài được.

Quá trình xuyên không sẽ thực hiện một cách nhanh chóng thông đạo ánh sáng hình đường cong. Đoạn đường cong này là một đoạn trong quỹ đạo hình xoắn ốc - một quỹ đạo rất cơ bản của Vũ trụ không gian đa chiều này.

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 6. Từ Thông Đạo Ánh Sáng Tới Con Đường Tiến Hóa

CHƯƠNG 6. TỪ THÔNG ĐẠO ÁNH SÁNG TỚI CON ĐƯỜNG TIẾN HÓA

Từ vũ trụ diễn sinh, các sinh linh và vật chất phát triển đều tuân theo những quy luật nhất định. Người địa cầu đã biết đến các đường tròn xoắn ốc theo các hình dạng khác nhau. Các nhà toán học đã xây dựng được các phương trình đường xoắn ốc đẹp đẽ. Chúng ta cũng đã có nhiều kiến giải tâm linh bằng các được xoắn ốc.

Đi xuyên không gian, từ không gian bậc thấp lên không gian bậc cao cho đến không gian trung tâm vụ trụ, con đường di chuyển của sinh linh hoặc vật chất bắt buộc cũng tuân theo quy luật đó.

Như chúng ta đã biết các đặc tính anh sáng gồm có xuyên không gian và trụ định vật chất. Tại các tiết điểm không gian, các đường hầm xuyên không gian được thiết kế bằng ánh sáng. Khác với ánh sáng chiếu thẳng trong một không gian trụ định, ánh sáng tại tiếp điểm xuyên không có hình dạng đường cong xoắn ốc. Đường cong đó gọi là thông đạo ánh sáng.

Đĩa bay khi di chuyển xuyên không sẽ bay qua thông đạo này. Trong thời gian xuyên thông đạo, phi hành đoàn bắt buộc phải hết sức tập trung để điều chỉnh định chí và ma trận ánh sáng của thiết bị bay mới di chuyển an toàn được. Bên cạnh đó, mỗi không gian ngoài lực bài xích sẽ còn lực khác là lực hấp dẫn. Không gian nD nhất định sẽ có xu hướng hút các vật có hệ số vật chất cân bằng xấp xỉ với nó. Do đó, khi gần đến cửa ra của thông đạo, đĩa bay sẽ bị hút ra ngoài và thiết bị bay được thiết lập lại hệ số cân bằng phải đảm bảo tương ứng.

Đối với linh vật khi xuyên không cũng vậy. Linh vật phải có năng lực tự cân bằng vật chất mới đủ khả năng xuyên không. Vì linh hồn của con người có nhiều cấp với giá trị hệ số vật chất cân bằng khác nhau, nên họ có thể hoạt động trên nhiều không gian khác nhau. Con người tồn tại ở thể xác vật lý không gian 3D có hệ số vật chất cân bằng bé nhất nên họ nặng nề nhất. Không chăm sóc cơ thể, không đi vào bên trong, năng lực hoạt động của con người thật là hạn chế, chẳng khác gì là bị cầm tù. Đối với những người hiểu biết về năng lực linh hồn, họ đi trên một cuộc hành trình, một cung đường rất chung mà lại rất riêng so với ngàn vạn linh hồn, so với vũ trụ toàn thể. Cung đường đó có hình dạng hình xoắn ốc, cung đường đó là cung đường tiến hóa. Những người theo học huyền môn, hiểu biết tâm linh sẽ biết rằng: soi sáng các cung đường đó là ánh sáng diệu dụng, là tình thương của các đấng bề trên.

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 7. Phương Trình Tiến Hóa Của Linh Hồn (Phần 1)

CHƯƠNG 7. PHƯƠNG TRÌNH TIẾN HÓA CỦA LINH HỒN

Ở các phần trước, chúng ta được giới thiệu con đường tâm linh, cung đường tiến hóa có dạng hình xoắn ốc.

Ở phần này, tài liệu sẽ xem xét phương trình xoắn ốc tăng trưởng, phương trình xoắn ốc logarit để kiến giải các vấn đề tâm linh.

1941-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-7-phuong-trinh-tien-hoa-cua-linh-hon-phan-1-2.jpg

Ở hệ tọa độ cực, phương trình có dạng như sau:






  • r = αe,φ ∈ ℝ (4)

Ở hệ tọa độ cực, tọa độ của một điểm được thể hiện với 2 biến số: là bán kính và góc ; vị trí tọa độ được viết (r,φ).

Cho rằng mức tiến hóa của linh hồn được thể hiện với giá trị trả về là r, là bán kính hay khoảng cách so với với tâm của linh hồn. Các biến số, tham số của phương trình lần lượt có ý nghĩa như sau:

: khoảng cách hoàn Không của linh hồn;

- α : là hệ số nghiệp lực của linh hồn;

- k : là hệ số nghịch pháp (lực) hoàn Không của linh hồn;

φ : góc lặp tâm linh của linh hồn.

Biến số φ và các tham số α, k sẽ quyết định giá trị r, hay quyết định khoảng cách hoàn Không của linh hồn.

- Hệ số nghiệp lực α có giá trị càng lớn, hay nghiệp chướng của linh hồn càng lớn thì khả năng hoàn Không của linh hồn càng khó khăn; và ngược lại.

- Hệ số nghịch pháp k có giá trị phụ thuộc vào pháp lực của linh hồn, linh hồn có pháp lực càng cao thì k càng nhỏ và linh hồn có pháp lực càng nhỏ thì k càng cao (nên gọi là nghịch pháp). Hệ số nghịch pháp k phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm: phẩm chất linh căn, pháp môn tu luyện, định lực tu luyện, trí huệ linh hồn… Linh hồn tu luyện càng tốt thì hệ số nghịch pháp càng nhỏ.

- Góc lặp tâm linh φ có giá trị (trong phương trình (4) tính bằng radian) lặp lại theo chu kỳ. Một vòng quay tâm linh đi từ 0 đến 2π. Trong mỗi lần tái sinh, linh hồn sẽ được định vị một giá trị φ nhất định, có giá trị là (n.2π + q); với (n là số tự nhiên và q có giá trị từ 0 đến 2π). Góc lặp tâm linh có các đặc tính:

+ Chu trình tu luyện sẽ có sự lặp lại, nhưng càng vào vòng trong sự tinh tế càng được nâng lên và khó di chuyển vào sâu hơn

+ Giá trị n lớn hay nhỏ thể hiện năng lực tiến hóa của linh hồn, n càng nhỏ linh hồn càng tiến hóa, khoảng cách hoàn Không càng nhỏ; và ngược lại

+ Trong một lần luân hồi, linh hồn để giá trị φ tăng lên tức là linh hồn đi ngược chiều hoàn Không và có nguy cơ thoái hóa, φ giảm xuống thì linh hồn đi thuận chiều hoàn Không và linh hồn có cơ hội tiến hóa.

+ Trong một lần tái sinh, linh hồn tu luyện có khả năng đi nhiều vòng hơn 1. Điều này phụ thuộc vào năng lực, môi trường, giai đoạn tu luyện…

Như vậy, theo đuổi tiến trình tiến hóa, linh hồn bắt buộc thực hiện các chương trình tu luyện nhằm giảm góc lặp tâm linh φ, giảm hệ số nghiệp lực a và nâng cao pháp lực để giảm hệ số nghịch pháp k.

Đồ thị hình bên đưa ra một vài giá trị minh họa để cho phép ta khảo sát đặc tính của Phương trình tiến hóa.

1941-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-7-phuong-trinh-tien-hoa-cua-linh-hon-phan-1-1.jpg

Ta thấy rằng:

Với cùng một giá trị góc lặp tâm linh φ và hệ số nghịch pháp k, linh hồn có hệ số nghiệp lực càng lớn có khoảng cách hoàn Không càng lớn (đường màu đỏ với đường màu đen)

Với cùng một giá trị góc lặp tâm linh φ và giá trị hệ số nghiệp lực a, linh hồn có hệ số nghịch pháp bé hơn có khoảng cách hoàn Không bé hơn.

Vậy, giả sử linh hồn thực hiện hoàn thành con đường tâm linh, góc lặp tâm linh φ = 0 thì điều gì sẽ xảy ra?

Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 7. Phương Trình Tiến Hóa Của Linh Hồn (Phần 2)

Ở phần trước ta đã biết rằng, linh hồn có phương trình tiến hóa có dạng:

r=αe, φ∈R (4)

Khoảng cách hoàn Không r của linh hồn phụ thuộc vào α, k và φ.

Khi φ = 0, ta có ekφ = e0 = 1; lúc đó r = α.

Có thể nói khi linh hồn đạt được góc lặp tâm linh φ = 0 thì linh hồn đã quy nhất, hay là bất nhị. Tuy nhiên, lúc này linh hồn vẫn chưa đắc đạo hoàn Không nếu α ≠ 0.

Vì vậy, bất kỳ linh hồn dù phẩm chất hoặc pháp lực siêu việt đến mấy, nếu linh hồn còn mắc nghiệp lực, linh hồn không thể đắc đạo hoàn Không.

Con đường tiến hóa mặc dù có quy luật chung là hình xoắn ốc như đã mô tả, nhưng không phải mỗi linh hồn đều có hành trình là một đường cong (phi tuyến) nhẵn trơn đẹp đẽ như đồ thị minh họa, với các tham số bất biến. Trên hành trình của linh hồn sẽ xảy ra các việc như đi lệch quỹ đạo, đi ngược chiều hướng, rung lắc, tiến nhanh, tiến chậm… đủ các hình thái.

Tạm thời gác lại mối quan hệ tương hổ giữa αk và φ. Trong một lần tái sinh để thực hiện chương trình tu học của mình, linh hồn có thể định chí tu luyện để thay đổi các tham số α, k cùng với việc giảm giá trị góc lặp tâm linh φ của linh hồn.

Trên hình vẽ, đường tô màu vàng biểu diễn trường hợp linh hồn thay đổi quỹ đạo của mình, từ điểm A của quỹ đạo đường màu đỏ đến điểm B của quỹ đạo đường màu đen.

1943-anh-sang-va-con-duong-tam-linh-chuong-7-phuong-trinh-tien-hoa-cua-linh-hon-phan-2-1.jpg

Kiến giải từ góc độ này, quá trình tu luyện, tiến hóa của các tôn giáo rất khác nhau vẫn tìm được sẽ được điểm chung rất giống nhau, ví dụ như:

- Tịnh độ tông Phật giáo và Thiên Chúa giáo có phương pháp tu thiên về giảm hệ số nghiệp lực α.

- Mật tông Phật giáo và nhánh tu thiên về pháp thuật của Đạo giáo có điểm chung là tăng năng lực hoàn Không bằng cách giảm giá trị hệ số nghịch pháp k.

­- Kinh Kim Cang của Phật giáo và Đạo Đức Kinh của Đạo giáo có điểm chung về giáo lý tu luyện, thúc đẩy linh hồn giảm nhanh góc lặp tâm linh φ.

Ta cũng thấy rằng, trên con đường tiến hóa - con đường hoàn Không, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến hành trình của linh hồn. Ba yếu tố này khá tương ứng với các khái niệm về Giới - Định - Huệ của Phật giáo:

  • Giới: Giúp người tu tập giảm được hệ số nghiệp lực α
  • Định: Giúp người tu tập giảm được hệ số nghịch pháp k
  • Huệ: Giúp người tu tập hiểu biết về hành trình tâm linh của họ, giúp họ giảm nhanh góc lặp tâm linh φ.

Trên hành trình đó, các linh hồn cùng giáo phái, cùng pháp môn tu luyện có xu hướng đồng hành quỹ đạo tiến hóa. Vì vậy, lực của giúp đỡ của tăng đoàn sẽ giúp các linh hồn ổn định được quỹ đạo của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp lực giúp đỡ của tăng đoàn lại trì hoãn sự tinh tấn của linh hồn có tham số khác biệt. Do đó, trong các giáo phái, pháp môn luôn có những đệ tử được chân sư mật truyền một số thứ phù hợp với họ.

Lại nói, phương trình tiến hóa này cho thấy sự công bình của Thiên đạo.

Giả sử so sánh 2 linh hồn cùng tu học tiến hóa.

- Linh hồn thứ nhất có phẩm chất tu luyện rất tốt, hệ số nghịch pháp k bé, có trí huệ tốt soi đường nên linh hồn có khả năng giảm nhanh góc lặp tâm linh φ về 0. Linh hồn tu luyện sớm quy nhất đạt giá trị khoảng cách hoàn Không của mình là r1 = α1. Đặt tình huống linh hồn có gặp phải sai sót gì đó mà không thực hiện thực hành giảm hệ số nghiệp lực và bị mắc lại ở khoảng cách hoàn Không r1 = α1.

- Linh hồn thứ 2 có phẩm chất tu luyện không tốt, có hệ số k lớn hơn, trí huệ không tốt nên góc lặp tâm linh φ khó tiến về 0. Kết thúc mỗi chu kỳ tiến hóa, linh hồn luôn có khoảng cách hoàn Không r2 = α2.ekφ .

Trong những chu kỳ tiến tiến hóa đầu tiên, ta có α2.ekφ > α1

Tuy nhiên, đến một thời điểm nào đó, vì cải thiện được được hệ số nghiệp lực a2 thành a2’, linh hồn thứ 2 có khoảng cách hoàn không α2’.ekφ < α1. Lúc đó, linh hồn thứ 2 đã thực hành tiến hóa tốt hơn linh hồn thứ 1.

Do đó, có những người tu hành suốt đời không thấy có điểm gì nổi bật, nhưng đến cuối đắc đạt của họ tốt hơn những người luôn nổi bật vì cảm ngộ tốt, pháp lực tốt. Đó quả thật là sự công bằng của thiên đạo.

Hành trình tiến hóa của chúng sinh vì vậy mà cực kỳ đa dạng. Các tham số, biến số của phương trình tiến hóa đang mất cân bằng ở điểm nào, linh hồn có xu hướng định chí tu học để khắc phục ở điểm ấy. Vì vậy, một kiếp nhân sinh ngắn ngủi, người thì dọc ngang thế tục để cảm ngộ nhân sinh, giảm hệ số nghiệp lực; người thì bỏ nơi phồn thị, tìm về núi non để giảm hệ số nghịch pháp; người thì một đời lục lọi triết lý, tìm kiếm phương cách giảm φ nhanh chóng… chung quy cũng vì hiệu quả tinh tấn là tốt nhất.

Bạn à, mỗi một chúng ta có một phương trình tiến hóa riêng, nhưng chúng ta đồng dạng một quy luật tiến hóa, vì chúng ta đang sống trong cùng một vũ trụ. Vì vậy, hãy giúp đỡ nhau, đồng hành trên con đường hoàn KHÔNG!


Ánh Sáng Và Con Đường Tâm Linh: Chương 8. Trên Những Cung Đường Tiến Hóa

CHƯƠNG 8. TRÊN NHỮNG CUNG ĐƯỜNG TIẾN HÓA

Ánh sáng truyền năng lượng theo định chí của Đấng Sáng Tạo. Nhờ ánh sáng, vũ trụ được trụ định trong không gian, dưỡng dục muôn vạn sinh linh trong phồn vinh và phát triển.

Cũng từ diễn sinh thế giới, muôn vàn sinh linh theo đó mà rong ruỗi, đi xa và thật xa. Cũng bởi thế nên đến một ngày, các linh hồn đã quên đi gốc gác của mình. Họ quên rằng, họ là con cái của Đức Thượng Đế.

Những nghĩ:

“Và cũng thể chạy hoài đi muôn nơi

Lòng khấp khởi một tình thương vĩnh viễn

Có loài trùng sâu vẫn từng đêm đón tiễn

Sóng bạc êm đềm cung Nguyệt chẳng xa xôi

Tiếng hát ru mềm trên những vành môi

Tựa đề hồ ngọt ngào xưa tuổi ấu

Này nhé đường hoa khi nào còn thấy dấu

Là hãy còn nghe lời vẫy gọi trở về”

Trên muôn ngàn lối cung mây, những Cha anh của các linh hồn vẫn còn mong nhớ họ, chờ đợi họ trở về trên những cung đường ánh sáng mà Đấng Sáng Tạo làm nên, soi sáng cho họ trở về.

“Dòng sông tràn trên thung lũng mây xa

Nhặt cành hoa, mấy bông hoàn tuyết trắng

Chợt tỉnh hoài giấc mơ đà tưởng vắng

Quyện mây xanh đan lưới mộng tương tình

Dẫn nhau về trong chốn cả minh minh

Quen gót nhỏ hãy còn đinh ninh lắm

Và sót lại trên tường cao đằm thắm

Một vết hoàng hôn đầm ấm tự bao giờ”

Trên những cung đường êm ái như sông, trong những giấc mơ gợi về miền ký ức xa xăm, linh hồn vậy mà còn bỡ ngỡ, vậy mà còn lơ ngơ. Để đến nỗi cuộc trần hư ảo cuốn họ đi xa, quên căn nguyên cội tính của mình. Thế thì, dù là con Phật, Tiên, Chúa, để cùng về nhà, hãy kết nối vòng tay, trọn tình thương mến, cùng cảm ngộ, cùng trở về, cùng thức tỉnh khi nghe tiếng Đại Hồng Chung, cùng thả mình trong Khúc Nghê Thường say mê, êm ái:

“Ai thả dềnh dàng sông hát những cung mơ

Thác cuộn mây lững lờ cơn tiến hóa

Trong mối tình chẳng gọi là xa quá

Thế giới lên màu tươi mới trong ta

Ngậm tiếng lặng thầm, kết một vành hoa

Vận hành chung cho đường qua mãi mãi

Tiếng chuông xưa vọng về trong êm ái

Khúc Nghê Thường đâu phải cổ tích xưa”

Bởi lẽ chúng ta là con cái của Đức Thượng Đế, Ngài chẳng bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chỉ có điều, Ngài gửi ta xuống trần để ta học tốt chữ vô vi, chúng ta vì rong ruổi ham chơi nên bao đời qua lạc lối. Những khinh nhân, những vị chân sư được Ngài gửi xuống, dạy dỗ chúng ta để còn khéo trở về nơi Bồng Lai tiên cảnh. Lối đã rẽ rồi, sao ta còn chìm trong u tối, xa rời anh sáng tường minh?

“Rót rót hương tình, lặng lặng hương đưa

Khởi gót hài sen, tường minh nhân thế

Lót đá ta ngồi, ngâm lời kinh kệ

Chữ vô vi theo học đã bao đời

Chẳng phải nhọc nhằn trên chốn chơi vơi

Nơi nhân loại vẫn tròn mùa u tối

Đã có khinh nhân khéo tìm rẽ lối

Ghép gỗ chung thuyền, lên bến mây xa”

Hãy xóa đi thù hận, hãy hòa đồng tình thương, để không phụ lòng trận đồ Vạn Linh mà bề trên đã dày công bố trí từ thưở khai thiên lập địa để dẫn dắt chúng linh trở về. Chúng linh ơi, xin đừng để ánh mắt nhìn của mình tiếp tục đi vào cụt ngõ, tiếp tục mê man vàng võ.

“Tình hỡi tình, hãy kết vạn đài hoa

Khoanh lửa hận, thoát tù nhân vàng võ

Mắt xưa ơi sao còn trong cụt ngõ

Da diết bao lời kêu réo tâm thơ

Có trận đồ đánh đổ vạn cuồng dơ

Đã ghép chung, những kiện toàn rất khéo

Nhớ xưa mẹ về, ta theo lẽo đẽo

Giờ quên rồi, nên đây đó lang thang”

Hãy đi theo những cung đường ánh sáng, những đường xoắn ốc tăng trưởng tâm linh đẹp đẽ, như những dòng sông Thiên hà hội tụ về tâm. Biết nghĩa tình của Mẹ, hiểu công ơn của Cha để về nguồn, về nơi Vũ trụ hồng hoang, đồng hồn tình cũ.

“Kìa những sông mây bạc bàng mãi chảy

Thông Thiên Hà rạng rỡ tự bình minh

Vũ trụ ôi, bao say đắm chuyện tình

Day dứt mãi những hồn linh bé nhỏ

Trong đêm đêm vẫn khi về kể rõ

Tội muôn đồ trên đất Mẹ buồn hơn

Kháo luận lên nghe, tình cũ đồng hồn

Khi Thiên Đế chiếu hào quang Trắng lóa”

Ngày về thực sự không còn xa nữa, những dòng song linh tuệ chan hòa vẫn đang đón đợi chúng linh. Những quốc độ Phật Tiên Chúa vẫn còn mong mỏi chúng dân của các Ngài trở về. Một cuộc hành trình tu luyện, một chu kỳ chín tỷ năm đến đây dừng cho một lần cập bến.

“Ôi, ta vui, ngày về đâu xa quá

Rót mãi sông ơi, mãi chốn mây trời

Kể với cuộc đời, những chốn xa xôi

Rằng bất diệt một Cõi Hồn riêng cõi

Cho con yêu được tìm về lầm lỗi

Dưới giáo đường và xưng tội thành tâm

Đức Chúa ngôi hai ân xá đại từ

Thuyền nhân quả đến đây là cập bến”

Tình thương chúng linh với Cha Trời, Mẹ Đất đó là điều thiêng liêng nhất trong những điều thiêng liêng. Cho dù ngôn ngữ của chúng linh đang dùng là gì, cho dẫu chúng linh lạc lối xa xăm đến đâu, trên Thiên Hằng, những con sông linh tuệ vẫn chảy, vẫn đón chờ chúng linh trở về. Nên, hãy trở về đi thôi!

“Ôi, ta vui, Đại Đồng trong quý mến

Tình thiêng liêng, Phụ - Tử quý hoàng kim

Cho dẫu xa xăm, cho dẫu đọa chìm

Con sông vẫn trên Thiên Hằng bất tử

Và dâng lên bao trường văn, thi tứ

Là nén hương lòng tưởng nhớ vạn anh linh

Lễ đăng trình, nguyên kỷ mới hồi sinh

Cung mây hỡi, sông tình thương chảy suốt!”

(Thơ: Con sông tình chảy suốt - Bạch Thiên Thi)

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

0 nhận xét:

Đăng nhận xét