Container Icon

CỬU CỬU CÀN KHÔN DĨ ĐỊNH

 Thế nhưng câu nói truyền đời ấy, có “dĩ định” được hay không? Điều này cũng vẫn chưa được chúng ta xem xét đến một cách chi tiết nhất! Như chúng ta đã cùng bàn trên trang Ký Sự này từ trước. Là tổng lược qua các bài viết trước đây, giống như chúng ta đã phác thảo được một bức tranh toàn đồ lịch sử của dân tộc Việt, vốn có mô hình cấu tạo như thế. Sau đến, chúng ta mới có thể xem xét và gia cố, mài dũa tinh xảo lên thành kiệt tác cho dòng Sử Thiêng của giống nòi.

Rằng xưa, thay vì…; Cảo Thơm lần giở trước đèn…
Ngày nay, chúng ta lại lần giở trang mạng sau phím gõ…; Những thông tin giá trị lịch sử hiện ra như một bức tranh đa tạp sắc, đầy trừu tượng, đầy hơn nữa các giá trị rối loạn không mong muốn và càng khó phân đâu là hư, đâu là thực cho được.
Để xâu những móc xích vùi lấp đó thành một chuỗi dây chuyền có tính logic, xuyên suốt các giai đoạn lịch sử là điều khó khăn vô cùng rồi vậy. Lại còn phải tính đến giá trị của chuỗi dây chuyền đó, có tiềm ẩn những lượng thông tin bổ ích tinh thần nào, hầu cung cấp cho nguồn tri thức chung hay không nữa? Qua trang Ký Sự này. Các bạn đã từng biết có quá nhiều những giá trị thực tại còn tiềm ẩn trong quá khứ lịch sử của dân tộc. Vậy trong bài viết này, chúng ta thử tiếp tục khai thác chi tiết thêm ở tầng sâu hơn tí nữa xem sao nhé. Qua đó, chúng ta ôn cố, hòng tri tân. Xem lịch sử có lập lại hoặc nhắn nhủ điều gì cho giai đoạn tương lai này hay không?
Vì có một thực tại không thể chối bỏ được là; Lịch Sử của Xứ Sở Thần Tiên đã từng thất lạc trong quá khứ miên viễn đó. Vốn là một kho tàng vô giá đối với nhân loại chúng ta hôm nay, nếu một khi khai thác được. Là giống nòi của dòng Sử Thiêng này. Thế hệ hôm nay nhất định phải khai thác những di chỉ mà tổ tiên đã từng tích lũy đó. Làm nguồn vốn tri thức, đầu tư cho hôm nay và tương lai đang cạn nguồn vốn tri thức chung trước các tai hại chực chờ thoái hóa mỗi ngày. Chúng ta cùng du hành;
Giống Lạc Hồng ngàn năm, quyết theo dấu Chim Việt ngàn xưa kia, về lại nơi Tổ Rồng khảo sát dấu xưa…; Nơi khuất nẻo thời gian. Giữa đêm trường ý thức, ta nhác thấy bóng Chim Việt còn lưu dấu ngang qua trang Sử Thiêng, khi mô tả có đàn chim đậu xuống khu vực núi Hồng Lĩnh!
Như các bạn đã từng biết qua rằng Sử Việt do hoàn cảnh rơi vào Thế cuộc, nên phải Xử Thế trong giai đoạn khi ấy là truyền lại bằng cách tạc qua Bia Miệng, ngay từ thuở thế hệ tương lai còn nằm ngửa trong võng, nôi kia! Thế nên cái “thiêng liêng tính” của nòi giống Thần Tiên này, không cách gì mất đi cho được bao giờ cả.
Và hiện cảnh sân khấu nơi quá khứ của vùng Tổ Rồng này đã diễn tích 99 ngọn làm nền móng cho đàn Chim Việt đậu xuống!! Là loài Chim Việt xây tổ nơi đầu nguồn Sử hẳn hoi chứ không phải dạng Én, Sẻ, hay Cú, Diều nào khác cho được. Và ta cũng không đủ để biết từ đó Lịch Sử dân tộc Việt đã lạc dấu chim xưa mất rồi!!! Họa hoằn và may mắn lắm, mới có khá hiếm những nhãn quang dõi theo bóng chim, đến ngọn Nghĩa Lĩnh nơi Phong Châu mà định cơ đồ với tên Bạch Hạc.
Nguyên do bởi vùng Hồng Lĩnh chỉ có 99 ngọn mà thôi. Còn thiếu 1 ngọn nữa cho đủ 100. Có một điều rất đáng nên trách cho các thế hệ nối dòng tiếp theo sau ở chỗ: Di chỉ của dòng Thần Tiên này vốn đã được Tạo Hóa định mệnh theo số trời là 100 trứng tại thời điểm Âu - Lạc hợp duyên này. Định mệnh đó chẳng qua lại là mô phỏng của Bách Việt từ cội nguồn Tiên Tổ với Thiên Duyên tiền định cho Thần Xi Vưu và Tiên Huyền Nữ thuở Tạo Hóa mới gây hình vũ trụ kia. Và Thiên Thư mà giống nòi này mang theo làm di ấn chính là Kinh Dịch. Thế nên ta mới thấy trong đó có thể hiện số Đại Diễn của Vũ Trụ là 100 mới đủ tròn số mà Tạo Hóa đã gửi gắm cho giống nòi Thần Tiên này được.
Lại đến khi Thần Sơn Tinh dời đô vào Tản Viên. Là bởi Người cũng từng khảo sát và bỏ qua khu vực Tam Đảo với 99 ngọn mà vào đến tận Tản Viên mới chịu định đô (do Ba Vì đối lập với Tam Đảo). Thế nên ngày mà tôi đặt chân lên Phú Quốc, để Điểm Hải Huyệt nơi vị trí của Mắt Rồng này. Tôi đã ngỡ ngàng khi phát hiện vùng Phú Quốc cũng có 99 ngọn cả thảy!!! Và rồi tôi lại bỏ vùng Đảo này mà tiếp tục lênh đênh, miệt mài nơi giác hải… mà tìm rốn biển.
“Đầu sóng chân mây tìm vận mệnh.
Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh.
Con thuyền cô độc dò dòng sử.
Một bến tầm nguyên mãi gập ghềnh”.
Hồn thiêng, anh linh ngàn đời của Tổ Tiên có nhắc nhở con cháu là thế hệ chúng ta hôm nay điều gì hay không, qua con số 99 đó?! Bởi không phải dòng máu đào của giống nòi oai linh, nên mới có thể dửng dưng với giá trị định số của giống nòi thuần chủng này được. (không thể đồng hóa chủng tộc thuần chủng Thần Tiên này được bao giờ).
Thế nên trước hồi nguy cơ nghiêng đổ này. Tôi nhất định phải định sử nền móng của dòng Sử Thiêng này lại ngay từ bây giờ như sau:
Xét theo nguyên tắc của nền khoa học thì:
1. Nếu có Mô Hình. Thì ta dựa trên Mô Hình đó để xây dựng Lý Thuyết.
2. Nếu không có Mô Hình. Ta lập giả thuyết. Rồi dựa trên giả thuyết đó mà xây dựng Mô Hình.
Lịch Sử của dân tộc Việt. Vốn đã có Mô Hình của Hóa Công định sẵn từ thuở Người mới bắt tay gây hình vũ trụ ban đầu rồi kìa. Bởi chúng ta đã bị vùi lấp mô hình thực tại của lịch sử đó từ hàng ngàn năm trước đi rồi. Thế nên ngày nay không còn có ai đủ để nhìn ra cho được những thực tại sánh cùng Thiên Cơ đó nữa. Vậy tôi cũng chiều theo cái tri kiến thấp nhất của đại đa số chúng ta hôm nay mà lập giả thiết cho dòng Sử Thiêng như sau:
Và nền móng thiết kế cho tòa kiến trúc Sử Thiêng của Xứ Sở Thần Tiên đó, có những nét phác họa ban đầu gồm:
Nét Thần Thoại Thuyết;
Vị Cửu Thiên Huyền Nữ mà ta còn gọi là Tiên Huyền Nữ đó. Chính là Tiên Nga, sống trong Cung Quảng Hàn. Danh xưng Cửu Thiên Huyền Nữ đó vốn có nguyên do bởi tướng tinh của Người chính là Huyền Vũ. Một loài Thần Quy mà Thợ Tạo đã chạm bức đồ Quy Tàng lên lưng, làm Định Mệnh theo Thiên Ý. Bởi bức đồ này thể hiện gồm có Cửu Cung, hợp với 9 số của ngôi cao 9 tầng trời. Thế nên mới gọi là Cửu Thiên Huyền Nữ vậy. Tất nhiên phả hệ đó sẽ được gọi theo là Tộc Cửu Lê.
Nơi Xứ Sở Thần Tiên của buổi ban sơ đó. Vị Tiên Nga này còn sở hữu một vật cưỡi mà ta quen nghe truyền lại một cách đầy mơ hồ đối với tri thức hôm nay là giống Chim Việt. Vì các thế hệ con cháu bị lạc mất cội nguồn, thế nên không dò đâu ra bóng Chim Việt ngày đó cho được nữa, ngoài những dáng chim còn rơi rớt lại trên Trống Đồng cũng như trong vài trang sử khuất tất. Loài Chim Việt nơi Cõi Tiên khi xưa đó chính là loài Hồng Hạc. Bởi loài Chim này chỉ sống trong Cung Quảng Hàn cùng Tiên Nga nên cũng được gọi chung là dòng thuộc về hệ Thiên Nga (một loài Chim Trời nơi Tiên Cõi).
Vì thế nên; Thường khi những đêm Trăng Thanh. Vị Tiên Nga này thường Cưỡi Hồng Hạc xuống tắm trên Hồ Phiên Dương và Hồ Động Đình nơi trần giới. Bởi nguồn Thanh Khí nơi ánh trăng hóa thân thành Thủy Mạch, tưới khắp vũ trụ và tụ lại nơi các Hồ, Đầm nơi hạ giới. Cung Quảng Hàn nơi Thiên Giới cũng là Cung Đoài nơi Hạ Giới phản ảnh mà Kinh Dịch đã “thể - hiện - tượng” ra đấy các bạn ạ. (Hồ=Đầm= Đoài=Thiếu Nữ v.v..). Thế nên thủy triều luôn chịu lực hấp dẫn tác động nhất định từ Mặt Trăng là tất yếu thôi.
Thần Thoại của thuở ban sơ nơi chốn Thần Tiên đó, lại còn mang kịch tính đong đầy tính sử thi như thế này nữa chứ:
Khi Tạo Hóa đã “đặt” cho Vị Tiên Nga nơi Tiên Cõi như thế rồi. Trước đấy, Người đã khéo “bày” cho chốn Thần Xứ có vị Chiến Thần là Xi Vưu làm Thiên Tử mà sử xưa từng phát hiện và còn lưu giữ cách kín đáo bằng danh gọi là; “Cổ Thiên Tử Xi Vưu”! Tuy nhiên danh xưng này là đối với cõi Hạ Giới nên như thế. Bằng theo như cõi Thiên Giới thì lại gọi là Thiên Bồng Nguyên Soái.
Bởi tại Trời lại khắc trên lưng của vị Chiến Thần này bức đồ diễn về nguồn linh khí của núi, chuyển hóa không ngừng khắp vũ trụ, nên có tên là Liên Sơn. Và trách nhiệm của vị Thần này là điều tiết, chuyển hóa nguồn khí đó mà điều hòa, sinh dục muôn loài khắp trong vũ trụ. Và bộ tộc này thuộc tộc Tam Miêu. Nguyên nhân của danh gọi Tam Miêu lại mang tính Thần Thoại cao hơn nữa đối với nhận thức của chúng ta hôm nay. Chỉ khi thời điểm cho phép, tôi mới có thể dần đưa các bạn vào toàn diện thực tại này được. Hẹn khất lại các bạn vào thời điểm đã hội đủ điều kiện. Khi đó, tôi sẽ bàn sâu và thấu tình đáo lý hơn về tộc Tam Miêu này.
Hiện tại, chúng ta tiếp tục khảo xét trong chừng mực giới hạn mà phạm vi cho phép đến như;
Vị Thần này vốn có tướng tinh là loài Rồng, thường cưỡi loài Ngựa của cõi trời mà tuần hành khắp vòng trời, đủ hai lượt sớm tối đi, về như các bạn đã từng nghe qua trên trang này rồi. Vậy cũng có tên gọi nhập nhằng của thế nhân chúng ta là “Long Mã”. Thế cho nên ta có thấy rằng bức đồ Long Mã là nói lên tính động không ngừng khắp vũ trụ vậy. Vị Chiến Thần này lại còn có một loài vật nuôi, thường theo những bộ tộc Di Canh săn bắt nữa. Đó chính là loài Chim Bằng (Đại Bàng). Thường mỗi khi tuần hành, loài Chim Bằng này hay đi tiên phong để săn… mọi động tĩnh trước vó ngựa của Chiến Thần.
Như chúng ta đã biết bức tranh của Hóa Công trong một họa cảnh của buổi bình minh trong quá khứ đó. Người hứng ý, đã vẽ thêm nét trăng thanh nơi cuối buổi hoàng hôn khi…; Tiên nữ đang xuống tắm trên Hồ Động Đình!!!
Ấy! Chết!! Chúng ta không nên bàn sâu vào tình tiết này được đâu các bạn nhé. Mà chỉ nên bàn sự kiện cùng lúc xảy ra bên Hồ Phiên Dương, cận giới khi đấy mà thôi. Là lúc mà “Chú Chim Bằng” của Chiến Thần và “Cô Hồng Hộc” của Tiên Nga đang; Vỗ cánh, đập nước hồ dâng cao muôn trượng, cùng giỡn nước, rồi lại bay lên đến tận chín tầng mây mà phỉ chí. Thế nên mới có câu tả lại là “Hồng Bàng Chí” đấy thôi. Loài Én, Sẻ sao có thể biết đến cái chí bay cao chín tầng ấy của giống thuộc họ Hồng - Bàng cho được.
Và rồi sau sự kiện đấy. Họ “Hồng – Bàng” được gọi thành tên. Là mượn chuyện của Hồng Hộc và Chim Bằng để ẩn ý chỉ đến mối lương duyên của hai vị Thần – Tiên mà sinh ra giống nòi Bách Việt về sau. Thế cho nên ta mới thấy tại sao Chim Bằng cứ phải vỗ cánh lên đến tận 9 tầng mây cho đắc sở ý, rồi mới xoãi cánh, nhắm duy nhất Hướng Nam mà tìm Chủ cũ. Chim Việt cũng đậu duy nhất Cành Nam, để ngóng theo dấu Chim Bằng mà Thôi.
Vậy từ đây suy ra: Hồ Phiên Dương vốn là nơi sinh sống của loài Chim Việt khi xưa mà sử sách thường hay nhắc đến rồi vậy.
Chim Việt đó, vốn có xuất xứ tại Cung Quảng Hàn của Tiên Huyền Nữ. Là họ Thiên Nga, thuộc dòng Hồng Hạc (Hồng Hộc). Đó chính là Loài Chim Việt của giống nòi Thần Tiên, từng thất lạc trong cội nguồn đầy gập ghềnh, oan khốc của dòng Sử Thiêng. Ta thấy hiển nhiên dòng Dương Việt bên Hồ Phiên Dương với Bà Âu Cơ là cốt chỉ ý đến Loài Chim Hồng Hạc của Tiên Huyền Nữ khi xưa mà ra cả thôi.
Cũng chính vì thế. Cho nên khi Lạc Long Quân Và Âu Cơ về đến khu vực Hồng Lĩnh.
Thực tại là khi hai ông bà hạ sinh được 100 con. Tượng là 99 con Chim Hồng đậu trên 99 ngọn núi này nên mới gọi theo mà đặt tên thành Hồng Lĩnh. Là đỉnh núi có Chim Hồng đậu nơi đầu nguồn Sử giống nòi Lạc Hồng. Khi Lạc Long dẫn 50 con bay ra Nghĩa Lĩnh thì đã hóa thành tên là Bạch Hạc là theo Cha rồi vậy. Điều này có nghĩa là 50 con còn lại theo Mẹ Âu Cơ ngày đó chính là Hồng Hạc. Và Lạc Long Quân cũng lấy tên dòng họ từ lúc này là Lạc - Hồng. Ý là Hồng từ Hồng Hạc (Âu Cơ) có cội gốc từ bên Hồ Phiên Dương, từ thuở Tiên Huyền Nữ kia. Sau này An Dương Vương không lấy là Hồng - Lạc mà lại là Âu - Lạc cũng tại ý này cả mà thôi. Âu Việt cũng đồng nghĩa là Chim Việt (Hồng Hạc) mà ra.
Mà đồng thời cũng từ tên gọi Thường Nga mà thành dòng Thường Việt rồi Âu Việt với loài Chim Việt nơi Hồ Phiên Dương, nối liền Hồ Động Đình của thuở huyền sử Thần Tiên xa xưa đó.
Và Nhân Thoại Thuyết hôm nay chợt giật mình sững sờ khi đàm thoại rằng:
Qua những giá trị ôn cố ở trên. Chúng ta chợt tri tân có hiện tượng phản ảnh con số 99 hôm nay mà không khỏi giật mình toát mồ hôi sốc khắp thân tâm mà linh cảm hồn thiêng núi sông tỏ ngộ; Đảo Phú Quốc với 99 ngọn hôm nay trong Ba Đảo. Có ẩn thiên ý gì chăng từ bản gốc Tam Đảo khi xưa với 99 ngọn mà Thần Tản Viên từng bỏ qua khi định đô.
Lại con số 99 năm so với 99 đỉnh mà đàn Chim Việt xưa kia đã chia đàn, lạc dấu mãi đến hôm nay chưa có cơ hội tìm về cội nguồn giống nòi ngàn năm chia ly. Ta cũng phải nên được biết rằng: Khu Tam Đảo vốn hình thành từ sau cuộc tận diệt của Hành Tinh thứ 9 trong hệ mặt trời mà ta nghe gọi với Kỷ Tam Điệp cách đây 250 triệu năm! Vậy cuộc 2.500 năm này với Ba Đảo có hệ đồng giá trị âm bản 99 và 9 năm của Độ Mông Hạn Ảnh nói lên điều gì?! (2.500 năm lấy chung giai đoạn mà Phật giáo và nền Khoa Học ra đời đến nay).
Bởi tính thời cuộc tác động những sai lầm trước kỳ hạn cuối.
Tôi không xá ngại gì mà vén tỏ ít bóng mây mù che khuất gương Hằng Nga như thế cùng giống nòi Thần Tiên vốn đã chịu muôn vàn oan khốc muôn đời qua.
Trên đây là nền móng của công trình kiến trúc tòa Sử Thiêng của Xứ Sở Thần Tiên trong Kỷ Nguyên Mới. Các bạn hãy săn tay và cùng gia công đi nhé… Hỡi những thế hệ hôm nay của giống nòi Tiên Rồng. Đấy mới đích thị là thực tại Thiên Mệnh.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Quora



 HOW TO RESPECT YOURSELF

1. Stop begging others. 2. Stop saying more than necessary. 3. Stop looking for who is not looking for you. 4. Invest in yourself and make yourself happy. 5. Stop entertaining gossip about other people. 6. When people disrespect you, confront them immediately. 7. Don't eat other people's food more than they eat yours. 8. Always look your best; dress the way you should be addressed. 9. Reduce how often you visit some people, especially if they don't reciprocate 10. Think before you talk; 80% of how people value you is what comes out of your mouth.

7 Hard Truths about Life & Psychology

1. Nobody cares until you're rich, pretty or dead.

2. Choices made in anger cannot be undone.

3. Heartbreaks, Empty Pockets, Failures: Life's three best teachers.

4. The problem is people are being hated when they are real, and are being loved when they are fake.

5. Golden Rule: Never Expect, Never Assume.

6. Happiness is not about getting all you want, it is about enjoying all you have.

7. The less you care, the happier you'll be.


LIFE INSIGHTS

1. You are lonely not because nobody needs you, but because you care about who is next to you.

2. Don't tell your friend what your enemy shouldn't know.

3. We all love ourselves more than other people, but we care more about their opinions than our own.

4. There are two ways of doing things; Right, and Again.

5. Your wound is not your fault, but your healing is your responsibility.

6. Letting go has to mean putting down some pieces of your history but not part of your destiny.

7. Sometimes one day changes everything. Sometimes years change nothing.

8. The trouble is, if you don't risk anything, you risk more.

9. Nothing diminishes anxiety faster than action.

10. As long as a word remains unspoken, you are its master. Once you utter it, you're its slave.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Thần chú

 1. Thần Chú Vãng Sanh Sanskrit

Amitabha Mantra for Rebirth in Pureland
Namo Amitabhaya
Tathagataya
tadyatha
Amrito--dbhave
Amrita--siddhambhave
Amrtia--vikrante
Amrtia--vikranta--gamine
gagana kirta--kare
Svaha

2. Maha Karuna Dharani (Chú Đại Bi tiếng Phạn)
Namo ratnatràyàya.
Namo Aryàvalokites’varàya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahàkarunikàya.
Om sarva rabhaye sunadhàsya.
Namo skirtva imam aryàvalotites’vara ramdhava.
Namo narakindhi hrih mahàvadhasvàme.
Sarvàrthato subham ajeyam sarvasata. Namo varga mahàdhàtu.
Tadyathà: om avaloki lokate karate.
Ehrih mahà bodhisattva sarva sarva mala mala.
Mahi hrdayam kuru kuru karman.
Dhuru dhuru vijàyate mahàvijayati.
Dhara dhara dhirini svaràya.
Cala cala mama vimala muktir.
Ehi ehi s’ina s’ina àrsam prasari.
Basha basham prasàya hulu hulu mara.
Hulu hulu hrih sara sara siri siri suru suru.
Bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya.
Maitreya narakindi dhrish nina.
Bhayamana svaha siddhaya svàhà.
Maha siddhàya svaha.
Siddha yoge s’varaya svaha. Nirakindi svàhà.
Mara nara svaha s’ira Simha mukhàya svaha.
Sarva maha asiddhaya svaha. Cakràsiddhaya svaha.
Padma kastàya svaha.
Nirakindi vagalàya svaha.
Mavari śankaraya svāhā.
Namo ratnatràyàya. Namo aryàvalokites’varaya svaha.
Om siddhyantu mantra pàdàya svàhà.

नीलकण्ठ धारनी

Nīlakaṇṭha Dhāranī

o     नमो रत्नत्रयाय नमह् अर्य अवलोकितेश्वराय

namo ratnatrayāya namah arya avalokiteśvarāya

o     बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

bodhisattvāya mahāsatvāya mahākārunikāya

o     ॐ सर्वरभय सुधनदस्ये नमस्क्र्त्वा इमम्

oṃ sarvarabhaya sudhanadasye namaskrtvā imam

o     आर्यावलोकितेश्वर रंधव नमो नरकिन्दि।

āryāvalokiteśvara raṃdhava namo narakindi.

o     ह्रिह् महावधसम सर्व अथदु शुभुं अजेयं।

hrih mahāvadhasama sarva athadu śubhuṃ ajeyaṃ.

o     सर्व सत्य नम वस्त्य नमो वाक मार्ग दातुह्।

sarva sattva nama, vastya namo vāka, mārga dātuh.

o     तद्यथा ॐ अवलोकि लोचते करते ए ह्रिह्

tadyathā oṃ avaloki locate karate, e hrih

o     महाबोधिसत्त्व। सर्व सर्व मल मल महिम हृदयम्

mahābodhisattva. sarva sarva, mala mala, mahima hṛdayam,

o     कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते

kuru kuru karmuṃ, dhuru dhuru vijayate mahāvijayate,

o     धर धर धिरीनिश्वराय चल चल मम विमल मुक्तेले

dhara dhara dhirīniśvarāya, cala cala, mama vamāra muktele,

o     एहि एहि शिन शिन आरषं प्रचलि विष विषं प्राशय |

ehi ehi, śina śina, āraṣaṃ pracali viṣa viṣaṃ prāśaya.

o     हुरु हुरु मर हुलु हुलु ह्रिह्

huru huru mara hulu hulu hrih

o     सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु बोधिय बोधिय

sara sara siri siri suru suru bodhiya bodhiya

o     बोधय बोधय । मैत्रिय नारकिन्दि

bodhaya bodhaya. maitriya nārakindi

o     धर्षिनिन भयमान स्वाहा सिद्धाय स्वाहा

dharṣinina bhayamāna svāhā siddhāya svāhā

o     महासिद्धाय् स्वाहा सिद्धयोगेश्वराय स्वाहा

mahāsiddhāya svāhā siddhayogeśvarāya svāhā

o     नरकिन्दि स्वाहा मारणर स्वाहा

narakindi svāhā māraṇara svāhā

o     शिर संह मुखाय स्वाहा सर्व महा असिद्धाय स्वाहा

śira saṃha mukhāya svāhā sarva mahā asiddhāya svāhā

o     चक्र असिद्धाय स्वाहा पद्म हस्त्राय स्वाहा

cakra asiddhāya svāhā padma kastāya svāhā

o     नारकिन्दि वगलय स्वाहा मवरि शन्खराय स्वाहा

nārakindi vagaraya svāhā mavari śankharāya svāhā

o     नमः रत्नत्रयाय नमो आर्यवलोकितेश्वराय स्वाहा

namah ratnatrayāya namo āryavalokiteśvarāya svāhā

o     ॐ सिधयन्तु मन्त्र पदाय स्वाहा

oṃ sidhayantu mantra padāya svāhā


नमो रत्नत्रयाय

Namo ratnatrayāya

Kính lễ Tam Bảo.

 

नम आर्यावलोकितेश्वराय  बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākārunikāya.
Kính lễ đức Bồ Tát Avalokiteśvara thánh thiện, đấng sanh linh vĩ đại, có lòng bi mẫn vĩ đại.

 

 सर्वभयशोधनाय तस्य नमस्कृत्वा इमु आर्यावलोकितेश्वरा  तव नमो नीलकण्ठ

Om sarva-bhaya-śodhanāya tasya namaskṛtvā imu Āryāvalokiteśvarā tava namo Nīlakaṇṭha.

Om! Sau khi thực việc việc kính lễ đức Avalokiteśvara thánh thiện về  việc ngài đã xua tan mọi nỗi sợ hãi, thưa vị Nīlakaṇṭha, xin kính lễ ngài.

 

हृदयं वर्तयिष्यामि सर्वार्थसाधनं शुभं अजेयं सर्वभूतानां भवमार्गविशोधकम्
Hṛdayaṃ vartayiṣyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubhaṃ ajeyaṃ sarva-bhūtānāṃ bhava-mārga-viśodhakaṃ.

Tôi sẽ xoay chuyển điều cốt lõi tốt đẹp, bất bại, có sự thành tựu mọi mục đích của tất cả chúng sanh, làm cho trong sạch con đường của sự hiện hữu.

 

तद्यथा ॐ आलोकाधिपति लोकातिक्रान्त
Tadyathā: Om Ālokādhipati lokātikrānta.
Điều ấy là như vầy: Thưa đấng Chúa Tể của Ánh Sáng! Thưa bậc Vượt Trên Thế Gian!

एहि महाबोधिसत्त्व सर्प सर्प स्मर स्मर हृदयमं
Ehi mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara smara hṛdayaṃ.
Thưa vị Đại Bồ Tát, xin ngài hãy đến. Xin ngài hãy hiện đến, xin ngài hãy hiện đến. Xin ngài hãy nhớ đến, xin ngài hãy nhớ đến tâm nguyện.

कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते
Kuru-kuru karmuṃ dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate.
Xin ngài hãy thể hiện, xin ngài hãy thể hiện hành động. Thưa đấng Chiến Thắng, thưa đấng Chiến Thắng Vĩ Đại, xin ngài hãy gánh vác, xin ngài hãy gánh vác.

धर धर धारिनीराज चल चल मम विमलामूर्क्ते
Dhara-dhara dhārinī-rāja cala-cala mama vimalā-mūrkte.
Thưa Đức Vua của Trái Đất, xin ngài hãy nâng đỡ, xin ngài hãy nâng đỡ. Thưa vị Mūrktā Thanh Khiết, xin ngài hãy động thủ, xin ngài hãy động thủ.

एहि एहि छिन्द छिन्द अरस् प्रचलि वशवशमं प्रनाशय​

Ehi ehi chinda chinda aras pracali vaśa-vaśaṃ pranāśaya.
Xin ngài hãy đến, xin ngài hãy đến. Xin ngài hãy chận đứng, xin ngài hãy mau chận đứng. Thưa ngài Pracali, xin ngài hãy làm tiêu tan mọi chất độc.

 

हुलु हुलु स्मर हुलु हुलु सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु

Hulu-hulu smara hulu-hulu sara-sara siri-siri suru-suru.
Xin ngài hãy mau mau nhớ lại. Xin ngài hãy mau mau chuyển động, chuyển động.

 

भोधियभोधिय बोधय बोधय मैत्रिय नीलकण्ठ दर्शनम्

Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitriya Nīlakaṇṭha darśanaṃ.
Thưa vị Nīlakaṇṭha từ ái, xin ngài giúp cho giác ngộ, xin ngài giúp cho giác ngộ sự nhận thức cần được giác ngộ, cần được giác ngộ.

 

प्रहरायमानाय स्वाहा सिद्धाय स्वाहा महासिद्धाय स्वाहा सिद्धयोगीश्वराय स्वाहा

Praharāyamānāya svāhā siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā.
Xin chào mừng vị đang giúp cho chống cự! Xin chào mừng vị đã được thành công! Xin chào mừng vị đã được thành công vĩ đại! Xin chào mừng vị Nữ Thần Yogīśvarā đã được thành công!



3. BÁT NHÃ TÂM KINH  प्रज्ञापारमिताहृदयसूत्रम्  Prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ

Kinh Giảng về Yếu Lý của Trí Tuệ Đến Bờ Kia (Bát Nhã Ba La Mật)

 

॥ नमः सर्वज्ञाय ॥

Namaḥ sarvajñāya.

Kính lễ đấng Toàn Tri.

 

आर्यावलोकितत्तेश्वरबोधिसत्त्वो

गंभीरायं प्रज्ञापारमितायं  चर्यां चरमाणो

व्यवलोकयति स्म । पंच स्कन्धाः ।

तांश्च स्वभावशून्यान्पश्यति स्म ।

āryāvalokiteśvarabodhisattvo

gaṃbhīrāyaṃ prajñāpāramitāyaṃ caryāṃ caramāṇo

vyavalokayati sma. paṃca skandhāḥ.

tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.

Bồ Tát Avalokiteśvara thánh thiện

trong khi thực hành hạnh Ba-la-mật thâm sâu về Trí Tuệ

đã quan sát kỹ lưỡng năm uẩn

và đã nhìn thấy chúng có trạng thái KHÔNG ở bản thể. 

इह शारिपुत्र रूपं शून्यता शून्यतैव रूपं रूपान्न पृथक् शून्यता शून्याताया न

पृथग्रूपं यद्रूपं सा शून्यता या शून्यता तद्रूपं ।  एवमेव वेदनासंज्ञासंस्कारविज्ञानानि ।

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.

Này Śāriputra, ở đây SẮC là trạng thái KHÔNG, chính trạng thái KHÔNG là SẮC; trạng thái KHÔNG không tách rời khỏi SẮC, SẮC không tách rời khỏi trạng thái KHÔNG; cái nào là SẮC, cái ấy là trạng thái KHÔNG; cái nào là trạng thái KHÔNG, cái ấy là SẮC. Tương tợ y như thế là các THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC.

 

इह शारिपुत्र सर्वधर्माः शून्यतालक्शणा अनुत्पन्ना अनिरुद्धा अमला न विमला नोना न परिपूर्णाः ।

iha śāriputra sarva-dharmāḥ śūnyatā-lakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā avimalā nonā na paripūrnāḥ.

Này Śāriputra, ở đây tất cả các pháp có trạng thái KHÔNG là tướng trạng, thì không được sanh ra, không bị hoại diệt, không vết nhơ, không phải là khỏi bị vết nhơ, không là vơi, không bị tràn đầy.

 

न विद्या नाविद्या न विद्याक्षयो नाविद्याक्षयो यावन्न जरामरणं न जरामरणक्षयो न दुःखसमुदयनिरोधमार्गा न ज्ञानं न प्राप्तिरप्राप्तित्वेन ।

na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvan na jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptiraprāptitvena.

không là minh, không là vô minh, không là sự hoại diệt của minh, không là sự hoại diệt của vô minh, cho đến (các trạng thái) không là già và chết, không là sự hoại diệt của già và chết, không là Khổ-Tập-Diệt-Đạo, không  là trí, không là sự đạt đến cùng với trạng thái không đạt đến.

 

तस्माच्छारिपुत्र शूयतायां न रूपं न वेदना न संज्ञा न संस्कारा न विज्ञानानि । न चक्षुःश्रोत्रघ्राणजिह्वाकायमनांसि । नरूपशब्दगंधरसस्प्रष्टव्यधर्माः । न चक्षुर्धातुर्यावन्न

ननोविज्ञानधातुः ।

tasmācchāriputra śūnyatāyām na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārā na vijñānāni. na cakṣuḥ-śrotra-ghrāṇa-jihvā-kāya-manāṃsi. na rūpa-sabda-gandha-rasa-spraṣṭavya-dharmāḥ. na cakṣur-dhātur yāvan na manovijñāna-dhātuḥ.

Này Śāriputra, vì thế ở trạng thái KHÔNG không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có các thức, không có các mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, không có các sắc-thinh-hương-vị-xúc-pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

 

बोधिसत्त्वस्य प्रज्ञापारमितामाश्रित्य विहरत्यचित्तावरण​: ।

चित्तावरणनास्तित्वादत्रस्तो विपर्यासातिक्रान्तो निष्ठनिर्वाणः ।

त्र्यध्वव्यवस्थिताः सर्वबुद्धाः प्रज्ञापारमितामा श्रित्यानुत्तरां

सम्यक् संबोधिमभिसंबुद्धाः । 

bodhisattvasya prajñāpāramitām-āśritya viharatyacittāvaraṇaḥ. cittāvaraṇanāstitvād-atrasto viparyāsātikrānto niṣṭha-nirvāṇaḥ. tryadhva-vyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāramitām-āśrityānuttarāṃ samyaksaṃbodhim-abhisaṃbuddhāḥ.

Vị Bồ Tát, sau khi nương tựa vào Trí Tuệ Đến Bờ Kia, sống có sự không bị che lấp ở tâm; do không có sự hiện diện của sự che lấp ở tâm, (trở nên) không bị dao động, (được) vượt qua ảo tưởng, có Niết Bàn được hoàn mãn. Tất cả chư Phật hiện hữu ở ba thời (quá khứ-hiện tại-vị lai), sau khi nương tựa vào Trí Tuệ Đến Bờ Kia, thì được chứng đắc phẩm vị Toàn Giác vô thượng.

 

तस्माज्ज्ञातव्यो प्रज्ञापारमितामहामन्त्रो

महाविद्यामन्त्रो ऽनुत्तरमन्त्रो ऽसमसममन्त्रः सर्वदुःखप्रशमनः

सत्यममिथ्यत्वात् प्रज्ञापारमितायामुक्तो मन्त्रः ।

tasmāj-jñātavyo prajñāpāramitā-mahāmantro mahāvidyāmantro ’nuttaramantro ’samasamamantraḥ sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyam-amithyatvāt prajñāpāramitāyām-ukto mantraḥ.

Vì thế, nên biết rằng: lời chỉ dạy vĩ đại về Trí Tuệ Đến Bờ Kia là lời chỉ dạy về sự hiểu biết vĩ đại, lời chỉ dạy vô thượng, lời chỉ dạy không gì sánh bằng, có sự làm lắng dịu tất cả khổ đau, là sự thật bởi vì tính chất không sai trái, là lời chỉ dạy được nói ở Trí Tuệ Đến Bờ Kia.

 

तद्यथा गते गते पारगते पारसंगते बोधि स्वाहा ॥

tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.

Điều ấy là như vầy: “Khi đã đi đến, khi đã đi đến, khi đã đi đến bờ kia, khi đã hội tụ ở bờ kia, phẩm vị Giác Ngộ là vật dâng hiến.”

(gá-têêê gá-têêê paaa-rá-gá-têêê paaa-rá-xămmm-gá-têêê bô-đơhí xơ-vaaa-haaa).

 

॥ इति प्रज्ञापारमिताहृदयं समाप्तं ॥ 

iti prajñāpāramitā-hṛdayaṃ samāptaṃ.

Như vậy Yếu Lý của Trí Tuệ Đến Bờ Kia được đầy đủ.


4. 



https://www.tiktok.com/@migmig737475/video/7529130715976420626?_d=secCgYIASAHKAESPgo8daB3EJgnvbrBeWO0geaWd6sq3hOi8k%2FnYx9O4S9SCKbXJU8c8j72HvZFeF1r9zwuxI%2BTYfrOFUmRK%2FABGgA%3D&_r=1&_svg=1&checksum=e97b8105672943abececd6f014fb5db0e2593270a3cd93c8ef3305ce277f5260&link_reflow_popup_iteration_sharer=%7B%22click_empty_to_play%22%3A1%2C%22follow_to_play_duration%22%3A-1%2C%22dynamic_cover%22%3A1%2C%22profile_clickable%22%3A1%7D&mid=7484646289964894992&preview_pb=0&region=VN&sec_user_id=MS4wLjABAAAAK5eBHDMGId38zUXrbijJUmpUGs_9MWQeqA3C1hgBnjJcjxHSiOU9vhda2ssnmv-i&share_app_id=1180&share_item_id=7529130715976420626&share_link_id=6AB5D27C-ADD6-4D25-BBF1-6DA9BBFCEB76&share_scene=2&sharer_language=en&social_share_type=0&source=h5_t&timestamp=1753620593&tt_from=copy&u_code=dm2am01h6ae85m&ug_btm=b9081%2Cb2001&user_id=7036953958628066306&utm_campaign=client_share&utm_medium=ios&utm_source=copy


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

DÒNG TRONG HAY BẾN ĐỤC NÀO CHỜ

 Sang sông ư?

Thế nhưng phương tiện chỉ là chiếc xuồng mong manh, hầu vượt bến đục nơi không gian chiều thứ tư vẫn mãi chỉ là hoài vọng cho một ấp ủ thiết kế…
Thế nhân chúng ta có một thói quen chết người là luôn có xu hướng lạc mất lập trường trong mọi tiến trình vận hành, một khi có sự tác động xảy ra từ hoàn cảnh. Vậy tôi không ngại “nhai lại” đề tài một lần cuối, cùng các bạn nhé. Chúng ta cùng “xuống dòng”:
Thế nên; Chúng ta đã quên mất dòng sử dân tộc Việt đã từng bối rối lạc dòng nơi giai đoạn phải chảy qua thời điểm thác ghềnh 1945 trên trang này mất rồi! Nơi mà chí khí dân tộc Việt đang dâng ngút trời, hòa cùng muôn dòng chảy trên toàn miền thế giới khi đó. Bởi phải chảy ngầm qua sa mạc khoa học, khiến chúng ta đã đánh rơi miền quá khứ địa phương đầy màu mỡ mà đã khai thác được trên suốt cánh đồng tri thức lịch sử Thần Tiên làm hạt giống. Các bạn không bao giờ được phép quên rằng; Tiềm ẩn phía dưới sa mạc khoa học đó, có nguồn mạch dòng sử dân tộc Thần Tiên đang âm ỉ, chực chờ gieo giống anh linh của dân tộc, nảy mầm bất kỳ lúc nào.
Thế mà…, đáng trách thay. Lại đang xảy ra những mầm lây lan cỏ dại tư tưởng lạc dòng phát triển… Hốt nhớ…, gợi dòng Kinh Thánh có đoạn; Khi ta bận việc, có lắm kẻ dại, đã lén gieo giống cỏ hoang tư tưởng vào ruộng lúa đi mất…!? E vào nhổ đi, thì sẽ dẫm lên lúa tốt chăng? Vậy chờ khi mùa gặt đến, sẽ gom lại mà đốt trong lửa đời đời sau vậy. Sau lời cảnh tỉnh như thế, chúng ta lại tiếp tục quán sát và kiểm điểm tư duy và dạo lại cuộc du hành gián đoạn trên miền lịch sử dân tộc Việt các bạn nhé.
Cùng xem xét giới hạn trong 5 góc độ quan sát từ miền địa phương của tôn giáo thôi. Chúng ta chưa đủ bàn đến góc độ của Ấn Độ Giáo và Hồi Giáo kia mà. Điều này giống như trong bàn tay, chúng ta mới sử dụng có 3 ngón thôi, chưa thể nắm bắt được gì trọn vẹn cả. Mới chỉ có thể gọi là “nhón” thử Đạo mà thôi nhé!
Các bạn cũng đã thấy rất rõ, khi bàn đến Nhà Phật là cơ man nào những dạng tư tưởng luân hồi, lén lút chụp mũ như ngây như dại nơi vùng biên của trang Ký Sự này một cách “không thể nào hiểu nổi” cho được. Các bạn có thể thay từ nào cho khái niệm “bất thối chuyển”, đối với quan điểm “phật tử chúng” tại riêng Việt Nam hiện nay được không? Ta cứ tạm suy như thế này nhé: Nhà Phật đang còn vô vàn những oan khốc phủ lấp muôn đời nay, chưa một ngày được tháo gỡ chân lý đạo ra trước ánh sáng thực tại. Mong gì đến những kẻ lạc mất cội nguồn dân tộc với bao nỗi oan khiên của giống nòi Thần Tiên. Đã dửng dưng như thế, lại còn cứ ngây dại mà “nói pháp” ra rã như Vẹt mãi ru…, ngàn năm…?!
Trên Trang Ký Sự này đã “hàng trăm” bài với mọi góc độ quan sát rồi. Nào có phải một - hai đâu, mà vội hoặc thảng lầm tri kiến. Muốn nói gì gì đến Chúa, Phật, Trời, Đất, Thiên Cơ, hoặc muốn thêm gì, vân vân đi nữa. Trước hết, ta phải nói đến thực tại chính bản thân cội nguồn của tổ tiên của chúng ta đi đã. Những kẻ trôi lạc tri kiến, ăn mày quan điểm xứ người, mồ côi tư tưởng dân tộc, mãi thảm nhiên một cách đầy bất hạnh đến thế sao? Mô hình đã chỉ rõ…; Đã 2.500 năm qua rồi, vậy các tư duy mù lòa đó cứ tiếp tục luân hồi quan điểm thêm 2.400 năm sau nữa cho trọn một cuộc 4.900 năm đi nhé. Ta nhất thiết rẽ dòng tư tưởng cùng tìm về với cội nguồn dân tộc Thần Tiên ngay thôi.
Mà xem chừng như lay không tỉnh được nữa rồi. Mặc cho những quan điểm tận nơi cuối dòng luân hồi mai một. Chúng ta chỉ nên xác kiến thực tại giá trị khái niệm như lai mà vận hành sự luân vãng cho các thế hệ một mai thôi vậy.
Rũ chấp;
Lại vẫn phải thêm dấu ngoặc đơn cho những ai không là Phật tử và kiêm những ai là Phật tử, đã xả chấp vì thực tại chân lý. Tích xưa, nhắc lại: Một trong 7 giấc mộng của Anan, có một giấc mà Phật Thích Ca nói về hiện tượng các phật tử phải đi dưới hầm tối và người ngoài đạo đi qua trên cầu (tôi không muốn ghi là trên đầu) !!!
Bẵng đi… Sau khi Anan hoàn thành sứ mệnh, ông bơi xuồng một mình ra giữa dòng Sông Hằng và…, hóa kiếp cho riêng mình ở đấy. Mà điều này, chỉ Trời biết, Đất biết, Phật Thích Ca biết và tất nhiên Anan cũng đồng biết. Kể từ sự kiện “ giữa dòng” đêm đấy, đã có kẻ “trần ai” nào thảng một trong muôn năm qua. Bất chợt hốt “cuồng duy” trong một vài giây tự duy tư, để suy rằng Anan mất đi vẫn nguyện mà “đội đạo” tựa hồ “đội đỉnh tu di” đến muôn kiếp sau nữa hay không? Vì thiên tượng đó, chính là ngày 7 tháng 7 hằng muôn năm qua. Hiện thân của Anan chính là Loài Quạ, nguyện đội đá bắc cầu, mong cho đôi Thần Tiên gặp gỡ giữa đêm gió mưa hoang lạnh! Anan tự nguyện đội đá, “trọc đầu” để mong nối đạo Thần Tiên bị vùi lấp đấy các bạn ạ. Vậy thì các chúng phật tử trọc đầu trong giấc mơ thứ 3, Phật có mặc định điều gì về đạo cho thế nhân chúng ta từ muôn đời qua hay không?
Bởi cái vốn tri thức làm hạt giống nơi góc quan điểm này của chúng ta không đủ có. Thế nên lấy gì để gieo duyên này mà đắc ngộ nẻo thực tại đạo tiềm ẩn trong đó cho được. Mà, triết lý Nhà Phật, vốn lại là triết lý của “cái không”. Thiên hạ càng giảng, là lại cố giảng về “cái có”, mới khiến nên thoát đỉnh khôi hài đi.
Lại nữa, chuyện Quạ đội đá trong đêm mùng 7 tháng 7 hàng năm cũng là như có như không vậy. Vậy vào ngày mùng 7 tháng 7 sắp đến này. Các bạn thử thức đêm, lắng nghe tiếng Quạ gọi đêm xem sao nhé. Sáng ngày, chắc chắn là Quạ trọc hết cả đầu đấy các bạn ạ! (Sẽ có lúc, tôi bàn cùng các bạn về…, trang Kinh cuối dính trên đá, Tạo Hóa đã ghi điều gì!!! Dĩ nhiên yêu cầu đòi hỏi để bàn đến, các bạn phải thay đổi những tạp tri kiến mới có thể cùng bàn đến thực tại này cho được).
Mà việc làm ấy, cốt là để bắc cầu sang sông mà thôi nhé. Anan đứng ở Sông Hằng, bắc một nhịp cầu, nguyện nối Sông Ngân và Sông Nại đấy. Không riêng chỉ đôi bờ Sông Ngân đâu các bạn ạ. Nếu điều khải định này, Phật không tìm về một thực tại chân lý đạo bị phủ lấp từ Đạo Thần Tiên của dân tộc Việt thì có còn là gì nữa hay không?
Các bạn nghĩ sao, khi chúng ta chỉ đang muốn chung tay thiết kế chỉ mỗi chiếc xuồng sang sông trên trang ký sự này mà chưa thành? Hiện tại, có vị sư nào nguyện đội đá làm cầu cho thế nhân bước qua bến đạo hay không? Hoặc chúng sinh chỉ quen đội lễ vật đến dâng cho các vị!
Vậy từ đây suy ra: Trong quá khứ các giai đoạn lịch sử mà mỗi khi nhân loại chúng ta nhất định phải vượt ngưỡng Trời hẹn. Mô hình tự nhiên đã mô phỏng cũng như phản ảnh bao gồm chiếc Tàu Noah của Chúa, chiếc Thuyền Bát Nhã của Phật. Và hiện nay là Con Tàu Vật Lý của nền khoa học trước biển cả của kỷ nguyên mới.
Chúng ta chỉ có mỗi chiếc xuồng thôi mà cứ mãi lao đao quan điểm, phác nguệch nét, dây mực nhòe cả trang bản thảo. Trong khi con Thuyền Bát Nhã vốn lại là một con thuyền không đáy. Xuống làm sao cho được, đối với thế nhân chúng ta vốn mang đầy tạp tri kiến và quan điểm như hôm nay? Bối cảnh con tàu khoa học thì đang chìm đắm dần ở bên ven bờ tương lai của miền đại hải. Ta nhất thiết phải gia cố và kiện toàn lại, sau mới có thể vượt biển cả của kỷ nguyên mới cho được. Ngao ngán thay, dòng sông muộn, đang không ngừng dâng trào tạp tri kiến, luôn chắn ngang lối về nguồn. Khiến nên nhớ lại nơi bến xưa, ký ức dần rơi rụng…:
Trăng hình khuyết như thuyền bát nhã.
Thường chuyển lưu lai vãng ngân hà.
Mặc tục khách sông trời bến vắng.
Kẻ đưa đò quên giấc trong trăng.
Vậy, tôi nhất định phải xốc lại tinh thần cũng như chỉnh lại lối mòn dẫn về cội nguồn lịch sử giống nòi Thần Tiên mà chúng ta có nguy cơ lạc dấu chân quen vội, vừa qua.
Chỉ lưu ý và nhắc chừng quan điểm về nguồn dân tộc chung của chúng ta trên Trang Ký Sự này như sau: Thuyết Lượng Tử chính là mô hình phản ảnh gương của Thuyết Nhà Phật đấy các bạn ạ. Chúng ta cứ xem xét một trong hai góc độ quan sát đó, để soi dấu chân trong suốt cuộc hành trình nhé (nhớ, gieo thoi thì phải giữ giàng). Thế nên, nhất định chúng ta phải sáng suốt để có thể nhận ra rằng: Thuyết Lượng Tử đã phản ảnh tổng các nhân tố, luôn gây rối loạn và và mất trật tự trên bình diện thực tại chân lý là có thật.
Và hiện nay mô hình vũ trụ tương lai của nhân loại chúng ta được vẽ ra là một bức tranh tòan ảnh tương lai đầy u tối của lỗ đen vũ trụ mà nhân loại chúng ta đang đối diện. Tất nhiên, với mô hình tương lai nô lệ người máy là một hiện thực có thể kiễng chân nhìn thấy ngay trong tầm mắt.
Với mô hình ánh sáng của Einstein trong quá khứ gần, không đủ để vượt qua miền vũ trụ của Lỗ đen mà Hawking làm đại diện đang tồn tại hiện tại. Vậy tương lai, học thuyết Định Luật Điểm Tựa đang kiện toàn năng lực tiềm ẩn của ánh sáng trong đó (360=0) mà vượt qua mô hình của vũ trụ Lỗ Đen đang ám cả tương lai nhân loại nơi vùng biên cận xứ tương lai. Ai du hành vào mô hình tương lai của vũ trụ Lỗ Đen thì cứ tiếp tục. Ai vượt qua mô hình tương lai của ánh sáng thì du hành. Tất nhiên, cả hai mô hình tương lai đó, đều tồn tại song song ở phía bên kia của không gian chiều thứ tư.
Vậy, trong bài viết tiếp đến; Chúng ta cùng xốc lại quan điểm lịch sử của một chủng tộc thuần chủng Thần Tiên, để xác lập lập trường qua bài “99 và 100” các bạn nhé…

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

99 VÀ 100

 Ai ai trong chúng ta từ ngàn xưa nay, nếu một khi đã là giống nòi Lạc Hồng thì cũng đều biết đó chính là 100 trứng trong một bào thai của dân tộc Âu Lạc. Thậm chí, có đại đa số người Việt đều biết điều này ngay từ khi chưa bước vào ngưỡng cửa của lớp học vỡ lòng đầu đời trên nẻo học vấn nữa kia. Đây là một sự thật không thể chối bỏ đối với mọi công dân nước Việt bao đời qua.

Một thực tại hãnh diện dân tộc.
Vậy miền quá khứ địa phương cần chúng ta khảo xét trước hết chính là cổ ngữ Bách Việt! Khái niệm Bách Việt chính là để chỉ chung cho 100 tộc Việt thuộc nòi giống từ Thần Xi Vưu và Tiên Huyền Nữ khi xưa mà ra. Như tôi đã từng nói chữ “Việt” vốn là để chỉ đến chiếc Búa Sấm Sét (Rìu) của Chiến Thần Xi Vưu mà ra cả thôi. Vì thế; Tiếng Việt hay chữ Việt, chính là từ nguyên tồn tại mãi từ thuở tạo lập vũ trụ đến tận thời đại ngày hôm nay mà không cách gì mai một đi cho được. Thực tại này, vô hiệu hóa mọi bàn cãi.
Có nói gì thì nói, ta vẫn có thể xét thấy tộc Việt này đã được sớm nhắc đến từ vùng Cấn Quỷ, trong thời Vua Nghiêu đấy thôi. Do giai đoạn tiền quá khứ này, tôi từng mô tả là cái thuở mà Thần Thánh, Ma Quỷ và Con người còn sống chung lẫn lộn cùng nhau. Giống như ranh giới ngôn ngữ giả định mà thế giới Hạ Nguyên Tử đã thể hiện bằng cách xóa nhòa đối với tư duy nhân loại chúng ta hiện nay vậy. Thế cho nên ta vẫn quan sát thấy các dị ngữ mô tả về nhóm Bách Việt thuở sơ khai này như; Cấn Quỷ, Quỷ Phương, Đông Di, Man Di v.v…, cùng bàng bạc một màn sương linh ảnh...
Đó đích thị là mô tả đến tộc Việt Di Canh của Chiến Thần Xi Vưu. Vì lúc đó, Rìu của Chiến Thần cũng được hiểu như Rìu của Thần Chết vậy. Tuy nhiên giá trị đó là Rìu Sấm Sét chứ không có nghĩa là Rìu Thần Chết (Văn U Mặc=Ngôn Ngữ Giả Định thuần lượng tử). Vậy từ đây truy ra căn nguyên cội nguồn Tiên Tổ của Người Việt từ vùng Phương Cấn hay Quỷ Phương, phát triển Di Dịch ra Đông Di cũng có nghĩa từ Vùng Cấn đến Tốn với quẻ biến Sơn Lôi Di vậy. Vốn là thuộc toàn miền quá khứ địa phương nội tộc của Bách Việt sở hữu (hai quẻ Di trong miền Dịch Lý, đều đang trong trạng thái Du Hồn). Thậm chí ta có thể nhớ đến tộc Sơn Việt, thiên di từ trong cái lẽ dịch ý của Cấn phương (Cấn=Sơn) mà thành ra trong Bách Việt nữa! Nên nhớ, trong các cách gọi lờ mờ và đầy mông lung, u – u, minh - minh đó mà sử xưa đã gọi thành U Việt (không phải Ư Việt), trong giai đoạn nhập nhằng không phân định rõ ràng sự uyên ảo của huyền sử này được.
Qua những bụi mờ thời gian xưa phủ lấp, đã được lau sạch trên mặt Sử Gương như phần ở trên. Các bạn đã manh nha soi thấy;
Số đại diễn của vũ trụ, được thể hiện trong Kinh Dịch chính là số 100. Và giống nòi Thần Tiên đã phản ảnh ra với hai chữ Bách Việt (100 tộc Việt) từ thuở sơ khai của Chiến Thần Xi Vưu và Tiên Huyền Nữ đấy thôi. Thực tại này không có thể nào gọi là gượng ép, khiên cưỡng, hay chối bỏ đi cho được bao giờ. Bởi điều đó đã được ấn định trong Thiên Thư, ngay từ thuở Tạo Hóa thiết kế mô hình tạo dựng vũ trụ ban đầu rồi.
Do tính chu kỳ cuối, tôi không ngần ngại, “bẻ nạng chống trời” mà quyết vén mây mù nơi 9 tầng cao. Tỏ lộ Thiên Cơ về nguồn gốc của giống nòi Thần Tiên này, vốn có xuất phát nguồn như sau:
Bởi các bạn đã từng biết số 4 là nguyên lý của số thành (có kẻ rất sợ số 4!?). Thế nên trong giai đoạn thứ tư trong tiến trình gây hình vũ trụ. Thoạt kỳ Thủy, hai linh vật đầu tiên chính là loài Thủy Tộc bao gồm Rồng và Rùa! Do Linh Khí của Trời cao, chuyển động không ngừng, hun đúc, kết tụ anh linh mà thành giống Rồng là Xích Long (Viêm Đế, ẩn tại Ly), đại diện cho lý Dịch Liên Sơn, hiển nơi Cung Cấn, vốn là Thiên Mệnh của Trời cao. Thế nên mới gọi là Nguyên Thủy Thiên Vương. Ta có thể nhận ra cổ ngữ này hiện diện trong Sử Ký Tư Mã Thiên với từ nguyên là Cổ Thiên Tử Xi Vưu làm bằng chứng tố cáo thực tại Thiên Cơ về manh mối của giống nòi anh linh này. Do thuở u minh huyền cơ đó, luôn bàng bạc cùng thần khí Liên Sơn nơi vùng Quỹ Phương mà ta nghe gọi với tên định xứ là vùng Cấn Quỹ hoặc gọi chung là tộc U Minh (U Việt). Thuộc Đông Di. Và vị Chiến Thần này thường vãng lai và di canh tại vùng Hồ Động Đình, làm nơi đi về chốn Viễn Xứ hồng hoang.
Tiếp đến; Loài Thủy Tộc thứ hai chính là Thần Quy (tiềm tại Khảm). Do cái tính động không ngừng của linh khí từ Trời mà dòng mạch tận nơi rốn biển hấp thụ tinh thể thiêng liêng ấy mà theo về. Thế nên ta gọi ảnh tượng là Quy Tàng Dịch, hiện về cung Đoài (Đầm), lại là lạch nguồn dẫn ra Hải Phận nơi Biển Cả. Và từ đó có tên Tiên Huyền Nữ. Ta nghe gọi với tên khác nữa là Cửu Thiên Huyền Nữ vậy. Và vị Tiên Nữ này cũng thường từ Cung Quảng Hàn cưỡi Hồng Hạc xuống, hiện thân trên mặt Hồ Phiên Dương tắm Trăng trong những đêm thu thanh tĩnh. Thế nên có tên là Hồ Bà Dương. Tuy nhiên tên hồ nguyên thủy chính là Hồ Cung Đình (Cung Trăng) mà ra. Là chốn mà Tiên Nữ thường lui tới làm định cư thường lúc bốn mùa Trăng về. Cung Đình là cái Đình nghỉ mát từ Cung Trăng, nơi Hằng Nga thường soi gương, giăng tóc Tiên trên mặt Hồ (khiến nên có kẻ lãng tử đã từng bị vướng chân hoang khi xưa rồi đấy).
Do bởi loài Hồng Hộc thường ở theo về Hồ Cung Đình này, dẫn mối lương duyên cùng loài Chim Bằng bên Hồ Động Đình mà nên mối lương duyên của Họ Hồng Bàng mà tôi đã từng nhắc qua cùng các bạn trong các bài trước. Đó là cảnh Bồng Lai, là Thần Tiên cảnh. Là xứ sở của dân tộc Việt chứ không hề là của bất kỳ chủng tộc nào khác trên toàn miền vũ trụ xưa nay cho được.
Sau khi sự kiện Trắc Lộc xảy ra. Dòng Sơn Việt, phải tị nạn chiến cuộc bên nước Kim Thiên. Khi Thiếu Hạo gồm luôn cả Nước Kim Thiên lẫn Đông Di về một mối. Ta lạc mất dòng Sơn Việt trong nhóm Bách Việt lúc đấy. Và lai lịch chung đã được lịch sử gọi chung chung là nhóm U Việt hoặc Đông Di, để chỉ một nhóm tộc luôn hiện diện cách như có - như không nơi Phương Cấn Quỷ v.v…, thuở ấy.
Chúng ta, thế hệ hôm nay cũng nhất định phải biết rằng; Nơi vùng Rốn Hồ Phiên Dương có dòng thủy lưu rất huyền vi khôn lường. Muôn dòng thủy triều lúc ẩn, lúc hiện rất bất thường và cuốn trôi tất cả vào dòng xoáy thủy lưu đó. Nó từng được mệnh danh như vùng Tam Giác Quỷ Bermuda hay Tam Giác Rồng vậy. Nó vốn có nguồn mạch là dòng chảy qua Sông Tiêu, Sông Tương mà đổ nối vào Hồ Động Đình khi xưa. Đến lúc xảy ra nạn lụt Hồng Thủy trong đời Đế Khốc. Khi sự liên kết giữa Đế Khốc và Thiếu Hạo bị chia cắt toàn miền do nạn hồng thủy gây ra. Động Đình Lão Quân đã nương theo Ý Trời mà nổi lên kình chống cùng Thiếu Hạo nơi Hồ Cung Đình này. Dòng Thủy Lưu nơi Rốn Hồ đã cuốn chìm tất cả thế lực của Thiếu Hạo trong những trận thủy chiến khi đấy diễn ra trên mặt Hồ đầy huyền vi mất rồi.
Ta có thể nhận ra dấu tích trong thời Đế Nghiêu, có thường nhắc đến tộc Quỷ Phương này trong trang sử kín nhẹm thực tại đấy thôi. Ví như sự việc nhắc đến Trống Đồng hay loài Chim Quý mà bộ tộc này mang tặng Đế Nghiêu. Cả sự việc tặng con Rùa Vàng có giá trị 10 Bằng mà trong Kinh Dịch có nhắc đến. Ý là chỉ đến giống nòi Thần Tiên này đang hiện diện khi đó bên xứ Cấn Quỷ vậy. Ta cũng phải nên biết sâu hơn nữa về văn hóa của dân tộc Bách Việt thuở ấy là: 10 Bằng cũng có nghĩa là Bối. Từ nguyên là Bảo Bối mà ra (vật quý làm di tín chỉ, còn được gọi là giao chỉ. Do thích nghi cuộc sống đi lại nơi sông hồ, bùn lầy nên hai ngón chân cái xoãi ra. Người sau lầm lẫn ý là do gọi hai ngón chân cái “giao chỉ” với nhau). Và; Bối có nghĩa là hiện vật bằng Tiêu Ốc của Chiến Thần Xi Vưu nơi biển cả mà ra. Họ lầm lẫn Bối có nghĩa là Vỏ Sò, dùng để trao đổi như tiền ngày nay vậy. Nó vốn là Di Bảo của Chiến Thần cho những thế hệ con cháu nơi dòng Tiên Huyền Nữ tìm về cội nguồn, vốn là Xứ Sở Thần Tiên ở đắc thời tương lai sau.
Để minh chứng điều này. Trong tương lai của xứ Thần Tiên đó. Tôi nhất định phải thiết kế, xây dựng công trình Tiêu Ốc. Phục hồi lại những kiến trúc cội nguồn làm khẳng định minh chứng của giống nòi linh hiển của chủng tộc Thần Tiên này. Các bạn hãy ghi nhớ lấy lời phát biểu này nhé. Công trình này đã từng được thể hiện qua hình ảnh của Loa Thành trong thời An Dương Vương đấy các bạn ạ. Loa Thành còn có tên gọi là Ốc Thành! Là mô hình thiết kế một công trình kiến trúc của riêng văn hóa của giống nòi Thần Tiên đã từng thất lạc trong quá khứ thuở hồng hoang khi xưa. Nơi mà gió bốn biển thường tấu khúc Nhạc Trời, mỗi khi hồn gió lùa qua công trình. Các tâm hồn thi sĩ vẫn mơ hồ cảm nhận mỗi khi thả hồn lang thang nơi bãi vắng mà lắng nhe hồn thiêng qua các vỏ ốc trên bãi hoang. Là xứ sở Thần Tiên thoảng qua trong hiện thực của đời thường trong hồn thi sĩ cô độc, lãng du, lạc bước đời tục vào miền không gian chiều thứ tư nơi biển vắng.
Thế nên ta mới dò ra dấu chân của Lộc Tục, trong dòng Sơn Việt, tìm về với Động Đình Lão Quân nơi Hồ Động Đình khi xưa mà nối duyên cùng Long Nữ nơi Đất Kinh đấy thôi.
Tiếp đến, mạch dòng Sử Thiêng lại chảy về đến vùng Hồng Lĩnh theo cánh Hồng Hạc mà lập ra Dòng Lạc Hồng từ Sùng Lãm và Âu Cơ. Ta vẫn nhận rõ Di Ấn Thiên Thư phản ảnh qua sự kiện 100 Trứng nở Trăm con của nòi giống Thần Tiên này. Thế nhưng chi tiết 99 ngọn là ý chỉ đến còn lạc mất một dòng cuối cùng nữa. Đó cũng là lý do tại sao những nơi có 99 ngọn, nhất định là vùng đất dữ, tuyệt đối không thể định đô cho mai sau làm cơ nghiệp trường tồn nòi giống cho được.
Ta có thể dò ra tung tích này, Thế Sử anh linh vẫn tuyệt đối mô phỏng trung thành mà diễn dịch Thiên Mệnh qua 100 ngọn núi nơi Kinh Đô Nghĩa Lĩnh của đất Bạch Hạc trong đời Hùng Vương. Vậy, dòng con cả với tượng một Voi bị chặt đầu. Chính là dòng của Lang Việt trong thời Hùng Vương rồi vậy. Hùng Thục trong quá khứ của dòng Sử xa mờ đó. Đã đòi lại cơ đồ non sông và mở ra Nước Kinh Sở lại không tìm về cùng giống nòi Lạc Việt. Thế nên ý Trời mới treo cái tượng 1 Voi bị chặt đầu nơi Nghĩa Lĩnh trong tượng 99 Voi khác để làm gương hậu thế soi chung. Thế nhưng, thế nhân vốn là thế tục. Thế nên, không thế nào nhìn ra thế ấy cho được!!!
Vậy cho nên ta mới xét thấy diễn quẻ Dịch theo phép Bói Tiên Thiên mà Hùng Thục thuộc về dòng Lang Việt. Vốn là người con đầu dòng trong nhóm Lạc Hồng (Lạc Việt). Đã dạy cho Văn Vương trong ngày đấy. Là 100 cọng Cỏ Thi. Chia hai cho mỗi bên 50. Lấy 1 để ra, làm sai số dự trù. Và diễn Quẻ bằng 49 cộng Cỏ Thi mà chiêm cơ trời trong đó, hầu tiến thoái theo số trời vận hành diễn thế cơ đồ non sông mà thao thủ.
Ngày nay, chúng ta cũng đã lạc mất cách bói Cỏ Thi này để hầu còn chiêm nghiệm nẻo Thiên Cơ tàng ẩn trong đó luôn cả rồi. Khó bàn đến cho được, chỉ nên biết qua manh mối ẩn tàng thế thôi.
Vậy; Qua những khảo luận những ẩn tàng thiên cơ như ở trên. Muôn đời nay, đã có được mấy ai trong chúng ta, ý thức cội nguồn dân tộc bị chia xẻ. Khiến nên hồn thiêng non sông ray rứt, mà thổn thức cho con số “Cửu Cửu Càn Khôn Dĩ Định” hay không? Tất nhiên là không đủ để dĩ định cơ đồ cho giống nòi Thần Tiên này được rồi vậy.
Bởi; Vẫn đang còn lưu lạc mất một dòng cuối cùng trong số Trăm Họ của giống nòi. Là dòng Lang Việt, trong Kinh Việt từ Lạc Việt. Một trong Tam Miêu, thuộc ADN của Chiến Thần khi xưa.
Năm nay lại là Mậu Tuất. Chó có “vẫy đuôi mừng Thánh Chúa” tìm về với dân tộc Việt sau bao ngàn năm lưu lạc hay không? Những thế hệ hôm nay đã nhìn ra “ảnh tượng” cội nguồn của Tổ Tiên rồi. Mong rằng đó sẽ là những giọt nước mắt khải hoàn chứ không phải là những dòng nước mắt đau thương đã tưới đẫm đầy gốc sử thiêng suốt ngàn năm qua.
Không biết… Ngày tới, nào biết được…; Có còn kỳ Trăng Xanh hay Trăng Máu nào tỏ hiện tượng cùng nòi giống này nữa hay không?
Rất đáng phải kinh hãi cho dân Tộc Việt chúng ta hôm nay, trước của ngõ Thiên Đường.
Cái giá nhất định nào, phải trả cho dân tộc, đối với yêu cầu đòi hỏi của Tạo Hóa trong ngày một, ngày mai… đang đến gần…?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

ĐỌC THIỀN

 Câu phát biểu về Thiền, bắt đầu lại như thế đấy!

Đó là tôi không muốn viết rằng ta nhất định phải bắt đầu từ a, b, c… để ráp vần và biết cách đọc về Thiền trước đã. Sau rồi mới có thể nói đến hai tiếng Đàm Thiền cho được.
Lạ thật! Xem xét lại xưa nay; Chúng ta chưa có một thống nhất chung về quy ước của thể loại văn U Mặc này. Lại cứ mãi ra rả về Thiền trên khắp các diễn đàn mà Cãi Thiền suốt bấy lâu nay!? Điều này dẫn đến tầm nhìn của một nhân vật cao kiến và đã gọi chung cho điều đó là “giang hồ đại loạn” trong chừng mực của một quá khứ gần rồi! Và ông đã cười ngạo tất tần tật các kẻ giang hồ đó qua tiếng cười thâm sâu và chua cay thành tên là “ Tiếu Ngạo Giang Hồ”. Đó chính là Kim Dung, một tác gia mà đại đa số chúng ta rất cảm mộ.
Thế nhưng để hiểu ông thì…, khoan đã, chỉ biết thôi. Vì cực hiếm, thậm chí là chưa ai có thể hiểu được ông ta đang muốn ám chỉ đến điều gì hết cả!!! Do ý kiến của một số bạn. Tôi xét thấy trên Trang Ký Sự này, cũng đã có đủ dữ liệu để nối các móc xích thành chuỗi dây chuyền a, b, c…, về văn U Mặc này rồi. Vậy trong bài viết này, chúng ta cùng khai thác cái “nguồn ngôn ngữ” này xem sao nhé: Qua đó, rất hy vọng chúng ta quen dần với thể loại U Mặc, để còn gọi không ngượng miệng, mỗi khi nói đến hai tiếng Đàm Đạo chung.
Vì thực tại xưa nay chúng ta cứ nói Đàm Đạo một cách chung chung, chứ kỳ thật, nó cứ riêng riêng làm sao ấy! Dẫn đến chả Ma nào dại gì mà chịu nghe Ma nào hết cả! Mặc dù tất cả đều khoác áo giấy và cùng đi đêm trên lối Đạo cả thôi.
Mong các bạn thứ cho cái tính cứ khìn khìn (dẫn lời một bạn đọc) như thế của riêng tôi. Và mong nhiều hơn, các bạn cùng hòa vào tiếng cười đó cho thêm thi vị mùi sống đã trở thành vô vị từ bao giờ giữa sóng gió ngôn ngữ giang hồ đại loạn hôm nay. Vì đang có nhan nhản những Nhà Ngôn Ngữ Học, thượng đài, diệu võ dương oai trên khắp các màn hình nhỏ, từng ngày, từng đêm… Ta mặc sức mà rửa tai, nghe không kịp… Vì nó tràn ngập lời rác, luôn đổ một cách vô tội vạ đầy tai, gây ô nhiễm cả văn hóa lẫn tư duy hôm nay đi mất.
Chúng ta cùng vào đề thôi, các bạn nhé:
Dẫn lối vào từ trên Trang này, các bạn nhớ lại bài viết về cuộc thi Thiên Hoa Hội. Trong đó có đoạn mô tả như; “Sông nước sao cười ngạo gió trăng”. Đó chính là ý tôi muốn nhắc đến tác phẩm Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung rồi vậy.
Và vậy, tôi gợi ý; Bối cảnh tác phẩm này mới mở ra tại phái Hoa Sơn và đồng thời cũng kết thúc tại miền địa phương của xứ Hoa Sơn này mà thôi. Là chính nhân quân tử trong giang hồ đương thời đấy đấy! Quân Tử Kiếm kia mà. Bởi Thiên Hoa Hội hay Hoa Sơn cũng vốn rất gần và cùng nghĩa các sự kiện diễn ra với nhau. Vì nó vốn được để mô tả về thế giới của Xứ Thiền, tiềm ẩn trong nó.
Thế cho nên từ mối dẫn này, các bạn không khó mấy để trực kiến tư duy vào cái gọi là Quỳ Hoa Bảo Điển, vốn là đệ nhất đường lối mà thiên hạ nhất định phải theo đuổi và đoạt lấy bằng bất kỳ giá nào, dù phải trả.
Lưu ý: Đã có bạn lầm tưởng Quỳ Hoa là Kỳ Hoa rồi đấy?! Vì Hoa Quỳ cũng có nơi gọi là Hoa Mặt Trời hay Hoa Hướng Dương mà ra cả thôi. Là danh hoa mà tôi đã từng Bình Hoa trong bài Thiên Hoa Hội như: “ Hướng Dương, Hoa Quỳnh kiền Thược Dược” vậy. Không khéo, hiểu sai, tán lầm…, rồi dẫn đến lạc đi, là tất yếu.
Quả nhiên; Các bạn thấy văn U Mặc cũng như thế giới Thiền là rất thi vị và rất khó nghĩ bàn bằng dạng ngôn ngữ đơn thuần thô, như ta thường tưởng như thế mà không phải thế, xưa nay vậy. Thế nên tất nhiên nhân vật được đạo diễn nặn ra cho đứng đầu phái Hoa Sơn phải là Nhạc Bất Quần tỏng đi rồi còn gì. Vì Tham Thiền đúng lối, ắt phải thâm nhập vào xứ thiền mà nghe được Nhạc Trời thôi vậy! Do nhân vật này không có duyên để nghe được Nhạc Trời (Nhạc Bất Quần) khi tham thiền. Mặc dù Ngũ Nhạc là vốn sỡ hữu chung của giang hồ các phái (các Thiền Môn), thế nhưng nó vốn chỉ ở nơi đắc Khí mà tụ. Vậy Nhạc Linh San phải là con của riêng Nhạc Bất Quần trong lãnh địa của Hoa Sơn phái mà thôi. Vậy Nhạc Linh San còn có nghĩa tiềm ẩn và phải được hiểu là; San = Đồi - Núi…, Linh = Linh Khí tụ, nên tham thiền ắt may mà chứng ngộ riêng tại xứ Hoa Sơn mà thôi. Vậy vợ là Ninh Trung Tắc, là sự chứa, bế tắc, ở bên trong có đầy cả. Vả lại, bí kíp của Ngũ Nhạc tất phải hội tụ nơi hang Quá Nhai trên đỉnh Ngọc Nữ đi rồi còn gì. Làm gì có lối nào để cùng về la mã cho được. Không có chuyện tu sao cũng đắc, hoặc thiền sao cũng được đâu nhé.
Do Hoa Sơn đại diện cho Chính phái thì Tà phái phải là Ma giáo là Thần Giáo với nhân vật Nhậm Ngã Hành làm đại diện cho âm dương vậy. Do nhân vật này cứ Tự Hành Thiền cố chấp theo sở kiến riêng mình nên ra Ma Đạo thôi. Con gái phải là Nhậm Doanh Doanh là do chỉ tham Thiền, đạo “vơi vơi đầy”, nên đắc sở gọi thành tên như thế thôi. Do lý Dịch là âm hóa dương, dương biến âm mà ra cả.
Với cái sở tri kiến của Kim Dung về thế giới Thiền này, quả là có cao lắm so với giang hồ các phái trong khắp xứ xưa nay. Bởi cái tư duy chấp kiến vào quan điểm chung của các học giả cùng giai đoạn thế hệ ông, khi thâm nhập, khảo sát Kinh Điển nói chung. Ta xét thấy họ bị vướng ở tư tưởng học thuật nơi đỉnh cao là Thái Ất Thần Kinh! Vì đó chính là thế giới Tu Di, là cõi mà họ lầm tưởng là Lai Cái.
Vậy cho nên dẫn đến đỉnh cao chính là bí kíp luyện Thiền đến hóa thành ra Lai Cái hết đi cả. Như Đông Phương Bất Bại với Quỳ Hoa Bảo Điển vậy. Song song đó còn có cả Tịch Tà Kiếm Pháp nữa chứ! Dẫn nguồn ngữ ý đến đây, các bạn có thể ngộ ra được rằng; Quỳ Hoa đại diện cho mặt trời là dương, và Tịch Tà đại diện cho mặt Trăng là âm trong Dịch Lý rồi đấy. và cả hai quan điểm âm dương dung hòa này mà thành ra Lai Cái hết đi cả mà thôi. Vậy, từ đó Kim Dung mới cùng tư duy tắc biến…, mà hễ phản chính kiến ắt biến tư duy thôi vậy. Thế nên bí kíp (tham Thiền sâu) này, phải được lập ra từ các Thái Giám mà thôi, không khác được.
Kim Dung đã cười ngạo vào mặt tất cả giang hồ các phái qua tác phẩm “Tiếu Ngạo Giang Hồ” là có ẩn ý này rồi vậy. Những khúc nhạc trời đó, phải được tấu lên và dành riêng chỉ có Dao Cầm và Tiêu Khúc mà thôi. Đâu có chốn cho thiên hạ đại loạn, hòng chạm đến tiếng Nhạc Trời trong xứ Thiền mà gây loạn ngôn khắp chợ đời cho được. Và cũng chỉ có Lưu Chính Phong và Khúc Dương mới có thể sỡ hữu cho được. Ta đã biết chứ chưa nói đến hiểu gì về hai cái tên ám chỉ này mà Kim Dung muốn mượn đến?
Vậy hai tiếng Tiêu Dao…, chỉ là lời rác, nhặt nhạnh mà trang bị cho ra vẻ thế thôi. Tự nó đã tố cáo thân chủ rồi vậy.
Mà điều đó đâu đủ với đến quan điểm mà Kim Dung cũng mô tả là rất xuất sắc qua nhân vật “Tả Lãnh Thiền” cho nổi được! Các bạn nghĩ sao về cái gọi là lĩnh vực Tả Thiền so với Hữu Thiền mà Kim Dung muốn mượn ý và diễn đạt? Ta cũng nhất định phải hiểu rằng Kim Dung rất trọng Phật Giáo so với Tiên Giáo. Lý do thì trên trang này đã có từng bàn qua cùng các bạn rồi. Thế nên ta mới thấy ông dành riêng cho Phương Chứng (lối chứng đắc) của Thiếu Lâm và Xung Hư của Thái Cực... vị trí trang trọng nhất trong các nhóm giang hồ loạn giới.
Trên đây là tôi gợi ý một ít ra như thế để cùng các bạn còn dò la tung tích rồi bàn chung. Từ đó, dần quen với cách Đọc Thiền, thâm nhập U Mặc để còn nói đến hai tiếng Đàm Đạo. Vì không thế, tôi không cách gì bàn đến Thiền cho được. Vì một khi “biết bụng Kim Dung”, các bạn mới có thể “đi guốc mộc” mà dạo quanh khắp chốn trong các tác phẩm của ông mà tham quan cho được. Ví như cái tên Kim Dung chẳng hạn. Là dung mạo của Mùa Thu, ẩn Tàng trong đó mà ra cả thôi.
Tôi có thể ghi lại cùng các bạn một tức sự của tôi về thế giới này khi xưa từng lạc bước vào qua bài:
- Trăng Thu Ảo Thuyết!
Nghẹn một nỗi sầu thương trong điệu nấc…
Trăng gieo mình lặng chết khúc lòng sông.
Xác Trăng tan theo mây gió bụi ngàn.
Hồn muôn thuở vẫn chìm sâu ngấn nước.
-----------
Dật dờ đi, Trăng không còn xác nữa…
Suốt mùa Đông, Trăng hoang giá lạnh hồn.
Xuân ích kỷ ngoảnh thờ ơ Trăng lẻ.
Khóc! Ồ không, đã trọn kiếp Hạ vờ.
Lững lờ trôi…, kìa xác Thu úa rạc!
Và từ đó trăng mượn xác thu vàng.
Nợ riêng cõi Trăng - Thu vần thổn thức.
---------
Đông, Xuân, Hạ tranh nhau Mời, Rước, Đón…
Gió, Mưa, Mây đua nhau rót lời Ve.
Đời, Thế, Sự cũng học đòi cách Vãn.
Khóc cho đời chỉ một dáng Trăng Thu.
Phải chăng? Đó cũng là miền thu xứ mà Kim Dung có thuở cũng đã từng in dấu chân xưa, lạc lối đến, thảng khi đủ đôi lần giữa đời thừa?! Và đó cũng là một tập hợp logic chứ không hề là ngẫu nhiên bao giờ. Vậy các bạn cùng khai thác theo lối mòn vừa được phát quang trên đây xem sao nhé.
Có qua chiếc cầu nối ngữ hệ này, chúng ta mới có thể cùng nói đến Thiền được. Chứ không thì vẫn cứ là Giang Hồ đại loạn để cho Kim Dung Cười Ngạo mãi thôi. Mà xã hội Việt Nam hiện nay, thiên hạ đang đại loạn thật. Có ai cùng cất tiếng cười ngạo… rồi hòa mộng tấu khúc Tiêu Dao của Chiến Thần và Tiên Nữ khi xưa hay không?​````

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS