Container Icon

Thần chú

 1. Thần Chú Vãng Sanh Sanskrit

Amitabha Mantra for Rebirth in Pureland
Namo Amitabhaya
Tathagataya
tadyatha
Amrito--dbhave
Amrita--siddhambhave
Amrtia--vikrante
Amrtia--vikranta--gamine
gagana kirta--kare
Svaha

2. Maha Karuna Dharani (Chú Đại Bi tiếng Phạn)
Namo ratnatràyàya.
Namo Aryàvalokites’varàya Bodhisattvaya Mahasattvaya Mahàkarunikàya.
Om sarva rabhaye sunadhàsya.
Namo skirtva imam aryàvalotites’vara ramdhava.
Namo narakindhi hrih mahàvadhasvàme.
Sarvàrthato subham ajeyam sarvasata. Namo varga mahàdhàtu.
Tadyathà: om avaloki lokate karate.
Ehrih mahà bodhisattva sarva sarva mala mala.
Mahi hrdayam kuru kuru karman.
Dhuru dhuru vijàyate mahàvijayati.
Dhara dhara dhirini svaràya.
Cala cala mama vimala muktir.
Ehi ehi s’ina s’ina àrsam prasari.
Basha basham prasàya hulu hulu mara.
Hulu hulu hrih sara sara siri siri suru suru.
Bodhiya bodhiya bodhaya bodhaya.
Maitreya narakindi dhrish nina.
Bhayamana svaha siddhaya svàhà.
Maha siddhàya svaha.
Siddha yoge s’varaya svaha. Nirakindi svàhà.
Mara nara svaha s’ira Simha mukhàya svaha.
Sarva maha asiddhaya svaha. Cakràsiddhaya svaha.
Padma kastàya svaha.
Nirakindi vagalàya svaha.
Mavari śankaraya svāhā.
Namo ratnatràyàya. Namo aryàvalokites’varaya svaha.
Om siddhyantu mantra pàdàya svàhà.

नीलकण्ठ धारनी

Nīlakaṇṭha Dhāranī

o     नमो रत्नत्रयाय नमह् अर्य अवलोकितेश्वराय

namo ratnatrayāya namah arya avalokiteśvarāya

o     बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

bodhisattvāya mahāsatvāya mahākārunikāya

o     ॐ सर्वरभय सुधनदस्ये नमस्क्र्त्वा इमम्

oṃ sarvarabhaya sudhanadasye namaskrtvā imam

o     आर्यावलोकितेश्वर रंधव नमो नरकिन्दि।

āryāvalokiteśvara raṃdhava namo narakindi.

o     ह्रिह् महावधसम सर्व अथदु शुभुं अजेयं।

hrih mahāvadhasama sarva athadu śubhuṃ ajeyaṃ.

o     सर्व सत्य नम वस्त्य नमो वाक मार्ग दातुह्।

sarva sattva nama, vastya namo vāka, mārga dātuh.

o     तद्यथा ॐ अवलोकि लोचते करते ए ह्रिह्

tadyathā oṃ avaloki locate karate, e hrih

o     महाबोधिसत्त्व। सर्व सर्व मल मल महिम हृदयम्

mahābodhisattva. sarva sarva, mala mala, mahima hṛdayam,

o     कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते

kuru kuru karmuṃ, dhuru dhuru vijayate mahāvijayate,

o     धर धर धिरीनिश्वराय चल चल मम विमल मुक्तेले

dhara dhara dhirīniśvarāya, cala cala, mama vamāra muktele,

o     एहि एहि शिन शिन आरषं प्रचलि विष विषं प्राशय |

ehi ehi, śina śina, āraṣaṃ pracali viṣa viṣaṃ prāśaya.

o     हुरु हुरु मर हुलु हुलु ह्रिह्

huru huru mara hulu hulu hrih

o     सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु बोधिय बोधिय

sara sara siri siri suru suru bodhiya bodhiya

o     बोधय बोधय । मैत्रिय नारकिन्दि

bodhaya bodhaya. maitriya nārakindi

o     धर्षिनिन भयमान स्वाहा सिद्धाय स्वाहा

dharṣinina bhayamāna svāhā siddhāya svāhā

o     महासिद्धाय् स्वाहा सिद्धयोगेश्वराय स्वाहा

mahāsiddhāya svāhā siddhayogeśvarāya svāhā

o     नरकिन्दि स्वाहा मारणर स्वाहा

narakindi svāhā māraṇara svāhā

o     शिर संह मुखाय स्वाहा सर्व महा असिद्धाय स्वाहा

śira saṃha mukhāya svāhā sarva mahā asiddhāya svāhā

o     चक्र असिद्धाय स्वाहा पद्म हस्त्राय स्वाहा

cakra asiddhāya svāhā padma kastāya svāhā

o     नारकिन्दि वगलय स्वाहा मवरि शन्खराय स्वाहा

nārakindi vagaraya svāhā mavari śankharāya svāhā

o     नमः रत्नत्रयाय नमो आर्यवलोकितेश्वराय स्वाहा

namah ratnatrayāya namo āryavalokiteśvarāya svāhā

o     ॐ सिधयन्तु मन्त्र पदाय स्वाहा

oṃ sidhayantu mantra padāya svāhā


नमो रत्नत्रयाय

Namo ratnatrayāya

Kính lễ Tam Bảo.

 

नम आर्यावलोकितेश्वराय  बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

Nama āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākārunikāya.
Kính lễ đức Bồ Tát Avalokiteśvara thánh thiện, đấng sanh linh vĩ đại, có lòng bi mẫn vĩ đại.

 

 सर्वभयशोधनाय तस्य नमस्कृत्वा इमु आर्यावलोकितेश्वरा  तव नमो नीलकण्ठ

Om sarva-bhaya-śodhanāya tasya namaskṛtvā imu Āryāvalokiteśvarā tava namo Nīlakaṇṭha.

Om! Sau khi thực việc việc kính lễ đức Avalokiteśvara thánh thiện về  việc ngài đã xua tan mọi nỗi sợ hãi, thưa vị Nīlakaṇṭha, xin kính lễ ngài.

 

हृदयं वर्तयिष्यामि सर्वार्थसाधनं शुभं अजेयं सर्वभूतानां भवमार्गविशोधकम्
Hṛdayaṃ vartayiṣyāmi sarvārtha-sādhanaṃ śubhaṃ ajeyaṃ sarva-bhūtānāṃ bhava-mārga-viśodhakaṃ.

Tôi sẽ xoay chuyển điều cốt lõi tốt đẹp, bất bại, có sự thành tựu mọi mục đích của tất cả chúng sanh, làm cho trong sạch con đường của sự hiện hữu.

 

तद्यथा ॐ आलोकाधिपति लोकातिक्रान्त
Tadyathā: Om Ālokādhipati lokātikrānta.
Điều ấy là như vầy: Thưa đấng Chúa Tể của Ánh Sáng! Thưa bậc Vượt Trên Thế Gian!

एहि महाबोधिसत्त्व सर्प सर्प स्मर स्मर हृदयमं
Ehi mahā-bodhisattva sarpa-sarpa smara smara hṛdayaṃ.
Thưa vị Đại Bồ Tát, xin ngài hãy đến. Xin ngài hãy hiện đến, xin ngài hãy hiện đến. Xin ngài hãy nhớ đến, xin ngài hãy nhớ đến tâm nguyện.

कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते
Kuru-kuru karmuṃ dhuru-dhuru vijayate mahā-vijayate.
Xin ngài hãy thể hiện, xin ngài hãy thể hiện hành động. Thưa đấng Chiến Thắng, thưa đấng Chiến Thắng Vĩ Đại, xin ngài hãy gánh vác, xin ngài hãy gánh vác.

धर धर धारिनीराज चल चल मम विमलामूर्क्ते
Dhara-dhara dhārinī-rāja cala-cala mama vimalā-mūrkte.
Thưa Đức Vua của Trái Đất, xin ngài hãy nâng đỡ, xin ngài hãy nâng đỡ. Thưa vị Mūrktā Thanh Khiết, xin ngài hãy động thủ, xin ngài hãy động thủ.

एहि एहि छिन्द छिन्द अरस् प्रचलि वशवशमं प्रनाशय​

Ehi ehi chinda chinda aras pracali vaśa-vaśaṃ pranāśaya.
Xin ngài hãy đến, xin ngài hãy đến. Xin ngài hãy chận đứng, xin ngài hãy mau chận đứng. Thưa ngài Pracali, xin ngài hãy làm tiêu tan mọi chất độc.

 

हुलु हुलु स्मर हुलु हुलु सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु

Hulu-hulu smara hulu-hulu sara-sara siri-siri suru-suru.
Xin ngài hãy mau mau nhớ lại. Xin ngài hãy mau mau chuyển động, chuyển động.

 

भोधियभोधिय बोधय बोधय मैत्रिय नीलकण्ठ दर्शनम्

Bodhiya-bodhiya bodhaya-bodhaya maitriya Nīlakaṇṭha darśanaṃ.
Thưa vị Nīlakaṇṭha từ ái, xin ngài giúp cho giác ngộ, xin ngài giúp cho giác ngộ sự nhận thức cần được giác ngộ, cần được giác ngộ.

 

प्रहरायमानाय स्वाहा सिद्धाय स्वाहा महासिद्धाय स्वाहा सिद्धयोगीश्वराय स्वाहा

Praharāyamānāya svāhā siddhāya svāhā mahā-siddhāya svāhā siddhayogīśvarāya svāhā.
Xin chào mừng vị đang giúp cho chống cự! Xin chào mừng vị đã được thành công! Xin chào mừng vị đã được thành công vĩ đại! Xin chào mừng vị Nữ Thần Yogīśvarā đã được thành công!



3. BÁT NHÃ TÂM KINH  प्रज्ञापारमिताहृदयसूत्रम्  Prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ

Kinh Giảng về Yếu Lý của Trí Tuệ Đến Bờ Kia (Bát Nhã Ba La Mật)

 

॥ नमः सर्वज्ञाय ॥

Namaḥ sarvajñāya.

Kính lễ đấng Toàn Tri.

 

आर्यावलोकितत्तेश्वरबोधिसत्त्वो

गंभीरायं प्रज्ञापारमितायं  चर्यां चरमाणो

व्यवलोकयति स्म । पंच स्कन्धाः ।

तांश्च स्वभावशून्यान्पश्यति स्म ।

āryāvalokiteśvarabodhisattvo

gaṃbhīrāyaṃ prajñāpāramitāyaṃ caryāṃ caramāṇo

vyavalokayati sma. paṃca skandhāḥ.

tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.

Bồ Tát Avalokiteśvara thánh thiện

trong khi thực hành hạnh Ba-la-mật thâm sâu về Trí Tuệ

đã quan sát kỹ lưỡng năm uẩn

và đã nhìn thấy chúng có trạng thái KHÔNG ở bản thể. 

इह शारिपुत्र रूपं शून्यता शून्यतैव रूपं रूपान्न पृथक् शून्यता शून्याताया न

पृथग्रूपं यद्रूपं सा शून्यता या शून्यता तद्रूपं ।  एवमेव वेदनासंज्ञासंस्कारविज्ञानानि ।

iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.

Này Śāriputra, ở đây SẮC là trạng thái KHÔNG, chính trạng thái KHÔNG là SẮC; trạng thái KHÔNG không tách rời khỏi SẮC, SẮC không tách rời khỏi trạng thái KHÔNG; cái nào là SẮC, cái ấy là trạng thái KHÔNG; cái nào là trạng thái KHÔNG, cái ấy là SẮC. Tương tợ y như thế là các THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC.

 

इह शारिपुत्र सर्वधर्माः शून्यतालक्शणा अनुत्पन्ना अनिरुद्धा अमला न विमला नोना न परिपूर्णाः ।

iha śāriputra sarva-dharmāḥ śūnyatā-lakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā avimalā nonā na paripūrnāḥ.

Này Śāriputra, ở đây tất cả các pháp có trạng thái KHÔNG là tướng trạng, thì không được sanh ra, không bị hoại diệt, không vết nhơ, không phải là khỏi bị vết nhơ, không là vơi, không bị tràn đầy.

 

न विद्या नाविद्या न विद्याक्षयो नाविद्याक्षयो यावन्न जरामरणं न जरामरणक्षयो न दुःखसमुदयनिरोधमार्गा न ज्ञानं न प्राप्तिरप्राप्तित्वेन ।

na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvan na jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptiraprāptitvena.

không là minh, không là vô minh, không là sự hoại diệt của minh, không là sự hoại diệt của vô minh, cho đến (các trạng thái) không là già và chết, không là sự hoại diệt của già và chết, không là Khổ-Tập-Diệt-Đạo, không  là trí, không là sự đạt đến cùng với trạng thái không đạt đến.

 

तस्माच्छारिपुत्र शूयतायां न रूपं न वेदना न संज्ञा न संस्कारा न विज्ञानानि । न चक्षुःश्रोत्रघ्राणजिह्वाकायमनांसि । नरूपशब्दगंधरसस्प्रष्टव्यधर्माः । न चक्षुर्धातुर्यावन्न

ननोविज्ञानधातुः ।

tasmācchāriputra śūnyatāyām na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārā na vijñānāni. na cakṣuḥ-śrotra-ghrāṇa-jihvā-kāya-manāṃsi. na rūpa-sabda-gandha-rasa-spraṣṭavya-dharmāḥ. na cakṣur-dhātur yāvan na manovijñāna-dhātuḥ.

Này Śāriputra, vì thế ở trạng thái KHÔNG không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có các thức, không có các mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, không có các sắc-thinh-hương-vị-xúc-pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

 

बोधिसत्त्वस्य प्रज्ञापारमितामाश्रित्य विहरत्यचित्तावरण​: ।

चित्तावरणनास्तित्वादत्रस्तो विपर्यासातिक्रान्तो निष्ठनिर्वाणः ।

त्र्यध्वव्यवस्थिताः सर्वबुद्धाः प्रज्ञापारमितामा श्रित्यानुत्तरां

सम्यक् संबोधिमभिसंबुद्धाः । 

bodhisattvasya prajñāpāramitām-āśritya viharatyacittāvaraṇaḥ. cittāvaraṇanāstitvād-atrasto viparyāsātikrānto niṣṭha-nirvāṇaḥ. tryadhva-vyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāramitām-āśrityānuttarāṃ samyaksaṃbodhim-abhisaṃbuddhāḥ.

Vị Bồ Tát, sau khi nương tựa vào Trí Tuệ Đến Bờ Kia, sống có sự không bị che lấp ở tâm; do không có sự hiện diện của sự che lấp ở tâm, (trở nên) không bị dao động, (được) vượt qua ảo tưởng, có Niết Bàn được hoàn mãn. Tất cả chư Phật hiện hữu ở ba thời (quá khứ-hiện tại-vị lai), sau khi nương tựa vào Trí Tuệ Đến Bờ Kia, thì được chứng đắc phẩm vị Toàn Giác vô thượng.

 

तस्माज्ज्ञातव्यो प्रज्ञापारमितामहामन्त्रो

महाविद्यामन्त्रो ऽनुत्तरमन्त्रो ऽसमसममन्त्रः सर्वदुःखप्रशमनः

सत्यममिथ्यत्वात् प्रज्ञापारमितायामुक्तो मन्त्रः ।

tasmāj-jñātavyo prajñāpāramitā-mahāmantro mahāvidyāmantro ’nuttaramantro ’samasamamantraḥ sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyam-amithyatvāt prajñāpāramitāyām-ukto mantraḥ.

Vì thế, nên biết rằng: lời chỉ dạy vĩ đại về Trí Tuệ Đến Bờ Kia là lời chỉ dạy về sự hiểu biết vĩ đại, lời chỉ dạy vô thượng, lời chỉ dạy không gì sánh bằng, có sự làm lắng dịu tất cả khổ đau, là sự thật bởi vì tính chất không sai trái, là lời chỉ dạy được nói ở Trí Tuệ Đến Bờ Kia.

 

तद्यथा गते गते पारगते पारसंगते बोधि स्वाहा ॥

tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.

Điều ấy là như vầy: “Khi đã đi đến, khi đã đi đến, khi đã đi đến bờ kia, khi đã hội tụ ở bờ kia, phẩm vị Giác Ngộ là vật dâng hiến.”

(gá-têêê gá-têêê paaa-rá-gá-têêê paaa-rá-xămmm-gá-têêê bô-đơhí xơ-vaaa-haaa).

 

॥ इति प्रज्ञापारमिताहृदयं समाप्तं ॥ 

iti prajñāpāramitā-hṛdayaṃ samāptaṃ.

Như vậy Yếu Lý của Trí Tuệ Đến Bờ Kia được đầy đủ.


4. 



https://www.tiktok.com/@migmig737475/video/7529130715976420626?_d=secCgYIASAHKAESPgo8daB3EJgnvbrBeWO0geaWd6sq3hOi8k%2FnYx9O4S9SCKbXJU8c8j72HvZFeF1r9zwuxI%2BTYfrOFUmRK%2FABGgA%3D&_r=1&_svg=1&checksum=e97b8105672943abececd6f014fb5db0e2593270a3cd93c8ef3305ce277f5260&link_reflow_popup_iteration_sharer=%7B%22click_empty_to_play%22%3A1%2C%22follow_to_play_duration%22%3A-1%2C%22dynamic_cover%22%3A1%2C%22profile_clickable%22%3A1%7D&mid=7484646289964894992&preview_pb=0&region=VN&sec_user_id=MS4wLjABAAAAK5eBHDMGId38zUXrbijJUmpUGs_9MWQeqA3C1hgBnjJcjxHSiOU9vhda2ssnmv-i&share_app_id=1180&share_item_id=7529130715976420626&share_link_id=6AB5D27C-ADD6-4D25-BBF1-6DA9BBFCEB76&share_scene=2&sharer_language=en&social_share_type=0&source=h5_t&timestamp=1753620593&tt_from=copy&u_code=dm2am01h6ae85m&ug_btm=b9081%2Cb2001&user_id=7036953958628066306&utm_campaign=client_share&utm_medium=ios&utm_source=copy


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

DÒNG TRONG HAY BẾN ĐỤC NÀO CHỜ

 Sang sông ư?

Thế nhưng phương tiện chỉ là chiếc xuồng mong manh, hầu vượt bến đục nơi không gian chiều thứ tư vẫn mãi chỉ là hoài vọng cho một ấp ủ thiết kế…
Thế nhân chúng ta có một thói quen chết người là luôn có xu hướng lạc mất lập trường trong mọi tiến trình vận hành, một khi có sự tác động xảy ra từ hoàn cảnh. Vậy tôi không ngại “nhai lại” đề tài một lần cuối, cùng các bạn nhé. Chúng ta cùng “xuống dòng”:
Thế nên; Chúng ta đã quên mất dòng sử dân tộc Việt đã từng bối rối lạc dòng nơi giai đoạn phải chảy qua thời điểm thác ghềnh 1945 trên trang này mất rồi! Nơi mà chí khí dân tộc Việt đang dâng ngút trời, hòa cùng muôn dòng chảy trên toàn miền thế giới khi đó. Bởi phải chảy ngầm qua sa mạc khoa học, khiến chúng ta đã đánh rơi miền quá khứ địa phương đầy màu mỡ mà đã khai thác được trên suốt cánh đồng tri thức lịch sử Thần Tiên làm hạt giống. Các bạn không bao giờ được phép quên rằng; Tiềm ẩn phía dưới sa mạc khoa học đó, có nguồn mạch dòng sử dân tộc Thần Tiên đang âm ỉ, chực chờ gieo giống anh linh của dân tộc, nảy mầm bất kỳ lúc nào.
Thế mà…, đáng trách thay. Lại đang xảy ra những mầm lây lan cỏ dại tư tưởng lạc dòng phát triển… Hốt nhớ…, gợi dòng Kinh Thánh có đoạn; Khi ta bận việc, có lắm kẻ dại, đã lén gieo giống cỏ hoang tư tưởng vào ruộng lúa đi mất…!? E vào nhổ đi, thì sẽ dẫm lên lúa tốt chăng? Vậy chờ khi mùa gặt đến, sẽ gom lại mà đốt trong lửa đời đời sau vậy. Sau lời cảnh tỉnh như thế, chúng ta lại tiếp tục quán sát và kiểm điểm tư duy và dạo lại cuộc du hành gián đoạn trên miền lịch sử dân tộc Việt các bạn nhé.
Cùng xem xét giới hạn trong 5 góc độ quan sát từ miền địa phương của tôn giáo thôi. Chúng ta chưa đủ bàn đến góc độ của Ấn Độ Giáo và Hồi Giáo kia mà. Điều này giống như trong bàn tay, chúng ta mới sử dụng có 3 ngón thôi, chưa thể nắm bắt được gì trọn vẹn cả. Mới chỉ có thể gọi là “nhón” thử Đạo mà thôi nhé!
Các bạn cũng đã thấy rất rõ, khi bàn đến Nhà Phật là cơ man nào những dạng tư tưởng luân hồi, lén lút chụp mũ như ngây như dại nơi vùng biên của trang Ký Sự này một cách “không thể nào hiểu nổi” cho được. Các bạn có thể thay từ nào cho khái niệm “bất thối chuyển”, đối với quan điểm “phật tử chúng” tại riêng Việt Nam hiện nay được không? Ta cứ tạm suy như thế này nhé: Nhà Phật đang còn vô vàn những oan khốc phủ lấp muôn đời nay, chưa một ngày được tháo gỡ chân lý đạo ra trước ánh sáng thực tại. Mong gì đến những kẻ lạc mất cội nguồn dân tộc với bao nỗi oan khiên của giống nòi Thần Tiên. Đã dửng dưng như thế, lại còn cứ ngây dại mà “nói pháp” ra rã như Vẹt mãi ru…, ngàn năm…?!
Trên Trang Ký Sự này đã “hàng trăm” bài với mọi góc độ quan sát rồi. Nào có phải một - hai đâu, mà vội hoặc thảng lầm tri kiến. Muốn nói gì gì đến Chúa, Phật, Trời, Đất, Thiên Cơ, hoặc muốn thêm gì, vân vân đi nữa. Trước hết, ta phải nói đến thực tại chính bản thân cội nguồn của tổ tiên của chúng ta đi đã. Những kẻ trôi lạc tri kiến, ăn mày quan điểm xứ người, mồ côi tư tưởng dân tộc, mãi thảm nhiên một cách đầy bất hạnh đến thế sao? Mô hình đã chỉ rõ…; Đã 2.500 năm qua rồi, vậy các tư duy mù lòa đó cứ tiếp tục luân hồi quan điểm thêm 2.400 năm sau nữa cho trọn một cuộc 4.900 năm đi nhé. Ta nhất thiết rẽ dòng tư tưởng cùng tìm về với cội nguồn dân tộc Thần Tiên ngay thôi.
Mà xem chừng như lay không tỉnh được nữa rồi. Mặc cho những quan điểm tận nơi cuối dòng luân hồi mai một. Chúng ta chỉ nên xác kiến thực tại giá trị khái niệm như lai mà vận hành sự luân vãng cho các thế hệ một mai thôi vậy.
Rũ chấp;
Lại vẫn phải thêm dấu ngoặc đơn cho những ai không là Phật tử và kiêm những ai là Phật tử, đã xả chấp vì thực tại chân lý. Tích xưa, nhắc lại: Một trong 7 giấc mộng của Anan, có một giấc mà Phật Thích Ca nói về hiện tượng các phật tử phải đi dưới hầm tối và người ngoài đạo đi qua trên cầu (tôi không muốn ghi là trên đầu) !!!
Bẵng đi… Sau khi Anan hoàn thành sứ mệnh, ông bơi xuồng một mình ra giữa dòng Sông Hằng và…, hóa kiếp cho riêng mình ở đấy. Mà điều này, chỉ Trời biết, Đất biết, Phật Thích Ca biết và tất nhiên Anan cũng đồng biết. Kể từ sự kiện “ giữa dòng” đêm đấy, đã có kẻ “trần ai” nào thảng một trong muôn năm qua. Bất chợt hốt “cuồng duy” trong một vài giây tự duy tư, để suy rằng Anan mất đi vẫn nguyện mà “đội đạo” tựa hồ “đội đỉnh tu di” đến muôn kiếp sau nữa hay không? Vì thiên tượng đó, chính là ngày 7 tháng 7 hằng muôn năm qua. Hiện thân của Anan chính là Loài Quạ, nguyện đội đá bắc cầu, mong cho đôi Thần Tiên gặp gỡ giữa đêm gió mưa hoang lạnh! Anan tự nguyện đội đá, “trọc đầu” để mong nối đạo Thần Tiên bị vùi lấp đấy các bạn ạ. Vậy thì các chúng phật tử trọc đầu trong giấc mơ thứ 3, Phật có mặc định điều gì về đạo cho thế nhân chúng ta từ muôn đời qua hay không?
Bởi cái vốn tri thức làm hạt giống nơi góc quan điểm này của chúng ta không đủ có. Thế nên lấy gì để gieo duyên này mà đắc ngộ nẻo thực tại đạo tiềm ẩn trong đó cho được. Mà, triết lý Nhà Phật, vốn lại là triết lý của “cái không”. Thiên hạ càng giảng, là lại cố giảng về “cái có”, mới khiến nên thoát đỉnh khôi hài đi.
Lại nữa, chuyện Quạ đội đá trong đêm mùng 7 tháng 7 hàng năm cũng là như có như không vậy. Vậy vào ngày mùng 7 tháng 7 sắp đến này. Các bạn thử thức đêm, lắng nghe tiếng Quạ gọi đêm xem sao nhé. Sáng ngày, chắc chắn là Quạ trọc hết cả đầu đấy các bạn ạ! (Sẽ có lúc, tôi bàn cùng các bạn về…, trang Kinh cuối dính trên đá, Tạo Hóa đã ghi điều gì!!! Dĩ nhiên yêu cầu đòi hỏi để bàn đến, các bạn phải thay đổi những tạp tri kiến mới có thể cùng bàn đến thực tại này cho được).
Mà việc làm ấy, cốt là để bắc cầu sang sông mà thôi nhé. Anan đứng ở Sông Hằng, bắc một nhịp cầu, nguyện nối Sông Ngân và Sông Nại đấy. Không riêng chỉ đôi bờ Sông Ngân đâu các bạn ạ. Nếu điều khải định này, Phật không tìm về một thực tại chân lý đạo bị phủ lấp từ Đạo Thần Tiên của dân tộc Việt thì có còn là gì nữa hay không?
Các bạn nghĩ sao, khi chúng ta chỉ đang muốn chung tay thiết kế chỉ mỗi chiếc xuồng sang sông trên trang ký sự này mà chưa thành? Hiện tại, có vị sư nào nguyện đội đá làm cầu cho thế nhân bước qua bến đạo hay không? Hoặc chúng sinh chỉ quen đội lễ vật đến dâng cho các vị!
Vậy từ đây suy ra: Trong quá khứ các giai đoạn lịch sử mà mỗi khi nhân loại chúng ta nhất định phải vượt ngưỡng Trời hẹn. Mô hình tự nhiên đã mô phỏng cũng như phản ảnh bao gồm chiếc Tàu Noah của Chúa, chiếc Thuyền Bát Nhã của Phật. Và hiện nay là Con Tàu Vật Lý của nền khoa học trước biển cả của kỷ nguyên mới.
Chúng ta chỉ có mỗi chiếc xuồng thôi mà cứ mãi lao đao quan điểm, phác nguệch nét, dây mực nhòe cả trang bản thảo. Trong khi con Thuyền Bát Nhã vốn lại là một con thuyền không đáy. Xuống làm sao cho được, đối với thế nhân chúng ta vốn mang đầy tạp tri kiến và quan điểm như hôm nay? Bối cảnh con tàu khoa học thì đang chìm đắm dần ở bên ven bờ tương lai của miền đại hải. Ta nhất thiết phải gia cố và kiện toàn lại, sau mới có thể vượt biển cả của kỷ nguyên mới cho được. Ngao ngán thay, dòng sông muộn, đang không ngừng dâng trào tạp tri kiến, luôn chắn ngang lối về nguồn. Khiến nên nhớ lại nơi bến xưa, ký ức dần rơi rụng…:
Trăng hình khuyết như thuyền bát nhã.
Thường chuyển lưu lai vãng ngân hà.
Mặc tục khách sông trời bến vắng.
Kẻ đưa đò quên giấc trong trăng.
Vậy, tôi nhất định phải xốc lại tinh thần cũng như chỉnh lại lối mòn dẫn về cội nguồn lịch sử giống nòi Thần Tiên mà chúng ta có nguy cơ lạc dấu chân quen vội, vừa qua.
Chỉ lưu ý và nhắc chừng quan điểm về nguồn dân tộc chung của chúng ta trên Trang Ký Sự này như sau: Thuyết Lượng Tử chính là mô hình phản ảnh gương của Thuyết Nhà Phật đấy các bạn ạ. Chúng ta cứ xem xét một trong hai góc độ quan sát đó, để soi dấu chân trong suốt cuộc hành trình nhé (nhớ, gieo thoi thì phải giữ giàng). Thế nên, nhất định chúng ta phải sáng suốt để có thể nhận ra rằng: Thuyết Lượng Tử đã phản ảnh tổng các nhân tố, luôn gây rối loạn và và mất trật tự trên bình diện thực tại chân lý là có thật.
Và hiện nay mô hình vũ trụ tương lai của nhân loại chúng ta được vẽ ra là một bức tranh tòan ảnh tương lai đầy u tối của lỗ đen vũ trụ mà nhân loại chúng ta đang đối diện. Tất nhiên, với mô hình tương lai nô lệ người máy là một hiện thực có thể kiễng chân nhìn thấy ngay trong tầm mắt.
Với mô hình ánh sáng của Einstein trong quá khứ gần, không đủ để vượt qua miền vũ trụ của Lỗ đen mà Hawking làm đại diện đang tồn tại hiện tại. Vậy tương lai, học thuyết Định Luật Điểm Tựa đang kiện toàn năng lực tiềm ẩn của ánh sáng trong đó (360=0) mà vượt qua mô hình của vũ trụ Lỗ Đen đang ám cả tương lai nhân loại nơi vùng biên cận xứ tương lai. Ai du hành vào mô hình tương lai của vũ trụ Lỗ Đen thì cứ tiếp tục. Ai vượt qua mô hình tương lai của ánh sáng thì du hành. Tất nhiên, cả hai mô hình tương lai đó, đều tồn tại song song ở phía bên kia của không gian chiều thứ tư.
Vậy, trong bài viết tiếp đến; Chúng ta cùng xốc lại quan điểm lịch sử của một chủng tộc thuần chủng Thần Tiên, để xác lập lập trường qua bài “99 và 100” các bạn nhé…

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

99 VÀ 100

 Ai ai trong chúng ta từ ngàn xưa nay, nếu một khi đã là giống nòi Lạc Hồng thì cũng đều biết đó chính là 100 trứng trong một bào thai của dân tộc Âu Lạc. Thậm chí, có đại đa số người Việt đều biết điều này ngay từ khi chưa bước vào ngưỡng cửa của lớp học vỡ lòng đầu đời trên nẻo học vấn nữa kia. Đây là một sự thật không thể chối bỏ đối với mọi công dân nước Việt bao đời qua.

Một thực tại hãnh diện dân tộc.
Vậy miền quá khứ địa phương cần chúng ta khảo xét trước hết chính là cổ ngữ Bách Việt! Khái niệm Bách Việt chính là để chỉ chung cho 100 tộc Việt thuộc nòi giống từ Thần Xi Vưu và Tiên Huyền Nữ khi xưa mà ra. Như tôi đã từng nói chữ “Việt” vốn là để chỉ đến chiếc Búa Sấm Sét (Rìu) của Chiến Thần Xi Vưu mà ra cả thôi. Vì thế; Tiếng Việt hay chữ Việt, chính là từ nguyên tồn tại mãi từ thuở tạo lập vũ trụ đến tận thời đại ngày hôm nay mà không cách gì mai một đi cho được. Thực tại này, vô hiệu hóa mọi bàn cãi.
Có nói gì thì nói, ta vẫn có thể xét thấy tộc Việt này đã được sớm nhắc đến từ vùng Cấn Quỷ, trong thời Vua Nghiêu đấy thôi. Do giai đoạn tiền quá khứ này, tôi từng mô tả là cái thuở mà Thần Thánh, Ma Quỷ và Con người còn sống chung lẫn lộn cùng nhau. Giống như ranh giới ngôn ngữ giả định mà thế giới Hạ Nguyên Tử đã thể hiện bằng cách xóa nhòa đối với tư duy nhân loại chúng ta hiện nay vậy. Thế cho nên ta vẫn quan sát thấy các dị ngữ mô tả về nhóm Bách Việt thuở sơ khai này như; Cấn Quỷ, Quỷ Phương, Đông Di, Man Di v.v…, cùng bàng bạc một màn sương linh ảnh...
Đó đích thị là mô tả đến tộc Việt Di Canh của Chiến Thần Xi Vưu. Vì lúc đó, Rìu của Chiến Thần cũng được hiểu như Rìu của Thần Chết vậy. Tuy nhiên giá trị đó là Rìu Sấm Sét chứ không có nghĩa là Rìu Thần Chết (Văn U Mặc=Ngôn Ngữ Giả Định thuần lượng tử). Vậy từ đây truy ra căn nguyên cội nguồn Tiên Tổ của Người Việt từ vùng Phương Cấn hay Quỷ Phương, phát triển Di Dịch ra Đông Di cũng có nghĩa từ Vùng Cấn đến Tốn với quẻ biến Sơn Lôi Di vậy. Vốn là thuộc toàn miền quá khứ địa phương nội tộc của Bách Việt sở hữu (hai quẻ Di trong miền Dịch Lý, đều đang trong trạng thái Du Hồn). Thậm chí ta có thể nhớ đến tộc Sơn Việt, thiên di từ trong cái lẽ dịch ý của Cấn phương (Cấn=Sơn) mà thành ra trong Bách Việt nữa! Nên nhớ, trong các cách gọi lờ mờ và đầy mông lung, u – u, minh - minh đó mà sử xưa đã gọi thành U Việt (không phải Ư Việt), trong giai đoạn nhập nhằng không phân định rõ ràng sự uyên ảo của huyền sử này được.
Qua những bụi mờ thời gian xưa phủ lấp, đã được lau sạch trên mặt Sử Gương như phần ở trên. Các bạn đã manh nha soi thấy;
Số đại diễn của vũ trụ, được thể hiện trong Kinh Dịch chính là số 100. Và giống nòi Thần Tiên đã phản ảnh ra với hai chữ Bách Việt (100 tộc Việt) từ thuở sơ khai của Chiến Thần Xi Vưu và Tiên Huyền Nữ đấy thôi. Thực tại này không có thể nào gọi là gượng ép, khiên cưỡng, hay chối bỏ đi cho được bao giờ. Bởi điều đó đã được ấn định trong Thiên Thư, ngay từ thuở Tạo Hóa thiết kế mô hình tạo dựng vũ trụ ban đầu rồi.
Do tính chu kỳ cuối, tôi không ngần ngại, “bẻ nạng chống trời” mà quyết vén mây mù nơi 9 tầng cao. Tỏ lộ Thiên Cơ về nguồn gốc của giống nòi Thần Tiên này, vốn có xuất phát nguồn như sau:
Bởi các bạn đã từng biết số 4 là nguyên lý của số thành (có kẻ rất sợ số 4!?). Thế nên trong giai đoạn thứ tư trong tiến trình gây hình vũ trụ. Thoạt kỳ Thủy, hai linh vật đầu tiên chính là loài Thủy Tộc bao gồm Rồng và Rùa! Do Linh Khí của Trời cao, chuyển động không ngừng, hun đúc, kết tụ anh linh mà thành giống Rồng là Xích Long (Viêm Đế, ẩn tại Ly), đại diện cho lý Dịch Liên Sơn, hiển nơi Cung Cấn, vốn là Thiên Mệnh của Trời cao. Thế nên mới gọi là Nguyên Thủy Thiên Vương. Ta có thể nhận ra cổ ngữ này hiện diện trong Sử Ký Tư Mã Thiên với từ nguyên là Cổ Thiên Tử Xi Vưu làm bằng chứng tố cáo thực tại Thiên Cơ về manh mối của giống nòi anh linh này. Do thuở u minh huyền cơ đó, luôn bàng bạc cùng thần khí Liên Sơn nơi vùng Quỹ Phương mà ta nghe gọi với tên định xứ là vùng Cấn Quỹ hoặc gọi chung là tộc U Minh (U Việt). Thuộc Đông Di. Và vị Chiến Thần này thường vãng lai và di canh tại vùng Hồ Động Đình, làm nơi đi về chốn Viễn Xứ hồng hoang.
Tiếp đến; Loài Thủy Tộc thứ hai chính là Thần Quy (tiềm tại Khảm). Do cái tính động không ngừng của linh khí từ Trời mà dòng mạch tận nơi rốn biển hấp thụ tinh thể thiêng liêng ấy mà theo về. Thế nên ta gọi ảnh tượng là Quy Tàng Dịch, hiện về cung Đoài (Đầm), lại là lạch nguồn dẫn ra Hải Phận nơi Biển Cả. Và từ đó có tên Tiên Huyền Nữ. Ta nghe gọi với tên khác nữa là Cửu Thiên Huyền Nữ vậy. Và vị Tiên Nữ này cũng thường từ Cung Quảng Hàn cưỡi Hồng Hạc xuống, hiện thân trên mặt Hồ Phiên Dương tắm Trăng trong những đêm thu thanh tĩnh. Thế nên có tên là Hồ Bà Dương. Tuy nhiên tên hồ nguyên thủy chính là Hồ Cung Đình (Cung Trăng) mà ra. Là chốn mà Tiên Nữ thường lui tới làm định cư thường lúc bốn mùa Trăng về. Cung Đình là cái Đình nghỉ mát từ Cung Trăng, nơi Hằng Nga thường soi gương, giăng tóc Tiên trên mặt Hồ (khiến nên có kẻ lãng tử đã từng bị vướng chân hoang khi xưa rồi đấy).
Do bởi loài Hồng Hộc thường ở theo về Hồ Cung Đình này, dẫn mối lương duyên cùng loài Chim Bằng bên Hồ Động Đình mà nên mối lương duyên của Họ Hồng Bàng mà tôi đã từng nhắc qua cùng các bạn trong các bài trước. Đó là cảnh Bồng Lai, là Thần Tiên cảnh. Là xứ sở của dân tộc Việt chứ không hề là của bất kỳ chủng tộc nào khác trên toàn miền vũ trụ xưa nay cho được.
Sau khi sự kiện Trắc Lộc xảy ra. Dòng Sơn Việt, phải tị nạn chiến cuộc bên nước Kim Thiên. Khi Thiếu Hạo gồm luôn cả Nước Kim Thiên lẫn Đông Di về một mối. Ta lạc mất dòng Sơn Việt trong nhóm Bách Việt lúc đấy. Và lai lịch chung đã được lịch sử gọi chung chung là nhóm U Việt hoặc Đông Di, để chỉ một nhóm tộc luôn hiện diện cách như có - như không nơi Phương Cấn Quỷ v.v…, thuở ấy.
Chúng ta, thế hệ hôm nay cũng nhất định phải biết rằng; Nơi vùng Rốn Hồ Phiên Dương có dòng thủy lưu rất huyền vi khôn lường. Muôn dòng thủy triều lúc ẩn, lúc hiện rất bất thường và cuốn trôi tất cả vào dòng xoáy thủy lưu đó. Nó từng được mệnh danh như vùng Tam Giác Quỷ Bermuda hay Tam Giác Rồng vậy. Nó vốn có nguồn mạch là dòng chảy qua Sông Tiêu, Sông Tương mà đổ nối vào Hồ Động Đình khi xưa. Đến lúc xảy ra nạn lụt Hồng Thủy trong đời Đế Khốc. Khi sự liên kết giữa Đế Khốc và Thiếu Hạo bị chia cắt toàn miền do nạn hồng thủy gây ra. Động Đình Lão Quân đã nương theo Ý Trời mà nổi lên kình chống cùng Thiếu Hạo nơi Hồ Cung Đình này. Dòng Thủy Lưu nơi Rốn Hồ đã cuốn chìm tất cả thế lực của Thiếu Hạo trong những trận thủy chiến khi đấy diễn ra trên mặt Hồ đầy huyền vi mất rồi.
Ta có thể nhận ra dấu tích trong thời Đế Nghiêu, có thường nhắc đến tộc Quỷ Phương này trong trang sử kín nhẹm thực tại đấy thôi. Ví như sự việc nhắc đến Trống Đồng hay loài Chim Quý mà bộ tộc này mang tặng Đế Nghiêu. Cả sự việc tặng con Rùa Vàng có giá trị 10 Bằng mà trong Kinh Dịch có nhắc đến. Ý là chỉ đến giống nòi Thần Tiên này đang hiện diện khi đó bên xứ Cấn Quỷ vậy. Ta cũng phải nên biết sâu hơn nữa về văn hóa của dân tộc Bách Việt thuở ấy là: 10 Bằng cũng có nghĩa là Bối. Từ nguyên là Bảo Bối mà ra (vật quý làm di tín chỉ, còn được gọi là giao chỉ. Do thích nghi cuộc sống đi lại nơi sông hồ, bùn lầy nên hai ngón chân cái xoãi ra. Người sau lầm lẫn ý là do gọi hai ngón chân cái “giao chỉ” với nhau). Và; Bối có nghĩa là hiện vật bằng Tiêu Ốc của Chiến Thần Xi Vưu nơi biển cả mà ra. Họ lầm lẫn Bối có nghĩa là Vỏ Sò, dùng để trao đổi như tiền ngày nay vậy. Nó vốn là Di Bảo của Chiến Thần cho những thế hệ con cháu nơi dòng Tiên Huyền Nữ tìm về cội nguồn, vốn là Xứ Sở Thần Tiên ở đắc thời tương lai sau.
Để minh chứng điều này. Trong tương lai của xứ Thần Tiên đó. Tôi nhất định phải thiết kế, xây dựng công trình Tiêu Ốc. Phục hồi lại những kiến trúc cội nguồn làm khẳng định minh chứng của giống nòi linh hiển của chủng tộc Thần Tiên này. Các bạn hãy ghi nhớ lấy lời phát biểu này nhé. Công trình này đã từng được thể hiện qua hình ảnh của Loa Thành trong thời An Dương Vương đấy các bạn ạ. Loa Thành còn có tên gọi là Ốc Thành! Là mô hình thiết kế một công trình kiến trúc của riêng văn hóa của giống nòi Thần Tiên đã từng thất lạc trong quá khứ thuở hồng hoang khi xưa. Nơi mà gió bốn biển thường tấu khúc Nhạc Trời, mỗi khi hồn gió lùa qua công trình. Các tâm hồn thi sĩ vẫn mơ hồ cảm nhận mỗi khi thả hồn lang thang nơi bãi vắng mà lắng nhe hồn thiêng qua các vỏ ốc trên bãi hoang. Là xứ sở Thần Tiên thoảng qua trong hiện thực của đời thường trong hồn thi sĩ cô độc, lãng du, lạc bước đời tục vào miền không gian chiều thứ tư nơi biển vắng.
Thế nên ta mới dò ra dấu chân của Lộc Tục, trong dòng Sơn Việt, tìm về với Động Đình Lão Quân nơi Hồ Động Đình khi xưa mà nối duyên cùng Long Nữ nơi Đất Kinh đấy thôi.
Tiếp đến, mạch dòng Sử Thiêng lại chảy về đến vùng Hồng Lĩnh theo cánh Hồng Hạc mà lập ra Dòng Lạc Hồng từ Sùng Lãm và Âu Cơ. Ta vẫn nhận rõ Di Ấn Thiên Thư phản ảnh qua sự kiện 100 Trứng nở Trăm con của nòi giống Thần Tiên này. Thế nhưng chi tiết 99 ngọn là ý chỉ đến còn lạc mất một dòng cuối cùng nữa. Đó cũng là lý do tại sao những nơi có 99 ngọn, nhất định là vùng đất dữ, tuyệt đối không thể định đô cho mai sau làm cơ nghiệp trường tồn nòi giống cho được.
Ta có thể dò ra tung tích này, Thế Sử anh linh vẫn tuyệt đối mô phỏng trung thành mà diễn dịch Thiên Mệnh qua 100 ngọn núi nơi Kinh Đô Nghĩa Lĩnh của đất Bạch Hạc trong đời Hùng Vương. Vậy, dòng con cả với tượng một Voi bị chặt đầu. Chính là dòng của Lang Việt trong thời Hùng Vương rồi vậy. Hùng Thục trong quá khứ của dòng Sử xa mờ đó. Đã đòi lại cơ đồ non sông và mở ra Nước Kinh Sở lại không tìm về cùng giống nòi Lạc Việt. Thế nên ý Trời mới treo cái tượng 1 Voi bị chặt đầu nơi Nghĩa Lĩnh trong tượng 99 Voi khác để làm gương hậu thế soi chung. Thế nhưng, thế nhân vốn là thế tục. Thế nên, không thế nào nhìn ra thế ấy cho được!!!
Vậy cho nên ta mới xét thấy diễn quẻ Dịch theo phép Bói Tiên Thiên mà Hùng Thục thuộc về dòng Lang Việt. Vốn là người con đầu dòng trong nhóm Lạc Hồng (Lạc Việt). Đã dạy cho Văn Vương trong ngày đấy. Là 100 cọng Cỏ Thi. Chia hai cho mỗi bên 50. Lấy 1 để ra, làm sai số dự trù. Và diễn Quẻ bằng 49 cộng Cỏ Thi mà chiêm cơ trời trong đó, hầu tiến thoái theo số trời vận hành diễn thế cơ đồ non sông mà thao thủ.
Ngày nay, chúng ta cũng đã lạc mất cách bói Cỏ Thi này để hầu còn chiêm nghiệm nẻo Thiên Cơ tàng ẩn trong đó luôn cả rồi. Khó bàn đến cho được, chỉ nên biết qua manh mối ẩn tàng thế thôi.
Vậy; Qua những khảo luận những ẩn tàng thiên cơ như ở trên. Muôn đời nay, đã có được mấy ai trong chúng ta, ý thức cội nguồn dân tộc bị chia xẻ. Khiến nên hồn thiêng non sông ray rứt, mà thổn thức cho con số “Cửu Cửu Càn Khôn Dĩ Định” hay không? Tất nhiên là không đủ để dĩ định cơ đồ cho giống nòi Thần Tiên này được rồi vậy.
Bởi; Vẫn đang còn lưu lạc mất một dòng cuối cùng trong số Trăm Họ của giống nòi. Là dòng Lang Việt, trong Kinh Việt từ Lạc Việt. Một trong Tam Miêu, thuộc ADN của Chiến Thần khi xưa.
Năm nay lại là Mậu Tuất. Chó có “vẫy đuôi mừng Thánh Chúa” tìm về với dân tộc Việt sau bao ngàn năm lưu lạc hay không? Những thế hệ hôm nay đã nhìn ra “ảnh tượng” cội nguồn của Tổ Tiên rồi. Mong rằng đó sẽ là những giọt nước mắt khải hoàn chứ không phải là những dòng nước mắt đau thương đã tưới đẫm đầy gốc sử thiêng suốt ngàn năm qua.
Không biết… Ngày tới, nào biết được…; Có còn kỳ Trăng Xanh hay Trăng Máu nào tỏ hiện tượng cùng nòi giống này nữa hay không?
Rất đáng phải kinh hãi cho dân Tộc Việt chúng ta hôm nay, trước của ngõ Thiên Đường.
Cái giá nhất định nào, phải trả cho dân tộc, đối với yêu cầu đòi hỏi của Tạo Hóa trong ngày một, ngày mai… đang đến gần…?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

ĐỌC THIỀN

 Câu phát biểu về Thiền, bắt đầu lại như thế đấy!

Đó là tôi không muốn viết rằng ta nhất định phải bắt đầu từ a, b, c… để ráp vần và biết cách đọc về Thiền trước đã. Sau rồi mới có thể nói đến hai tiếng Đàm Thiền cho được.
Lạ thật! Xem xét lại xưa nay; Chúng ta chưa có một thống nhất chung về quy ước của thể loại văn U Mặc này. Lại cứ mãi ra rả về Thiền trên khắp các diễn đàn mà Cãi Thiền suốt bấy lâu nay!? Điều này dẫn đến tầm nhìn của một nhân vật cao kiến và đã gọi chung cho điều đó là “giang hồ đại loạn” trong chừng mực của một quá khứ gần rồi! Và ông đã cười ngạo tất tần tật các kẻ giang hồ đó qua tiếng cười thâm sâu và chua cay thành tên là “ Tiếu Ngạo Giang Hồ”. Đó chính là Kim Dung, một tác gia mà đại đa số chúng ta rất cảm mộ.
Thế nhưng để hiểu ông thì…, khoan đã, chỉ biết thôi. Vì cực hiếm, thậm chí là chưa ai có thể hiểu được ông ta đang muốn ám chỉ đến điều gì hết cả!!! Do ý kiến của một số bạn. Tôi xét thấy trên Trang Ký Sự này, cũng đã có đủ dữ liệu để nối các móc xích thành chuỗi dây chuyền a, b, c…, về văn U Mặc này rồi. Vậy trong bài viết này, chúng ta cùng khai thác cái “nguồn ngôn ngữ” này xem sao nhé: Qua đó, rất hy vọng chúng ta quen dần với thể loại U Mặc, để còn gọi không ngượng miệng, mỗi khi nói đến hai tiếng Đàm Đạo chung.
Vì thực tại xưa nay chúng ta cứ nói Đàm Đạo một cách chung chung, chứ kỳ thật, nó cứ riêng riêng làm sao ấy! Dẫn đến chả Ma nào dại gì mà chịu nghe Ma nào hết cả! Mặc dù tất cả đều khoác áo giấy và cùng đi đêm trên lối Đạo cả thôi.
Mong các bạn thứ cho cái tính cứ khìn khìn (dẫn lời một bạn đọc) như thế của riêng tôi. Và mong nhiều hơn, các bạn cùng hòa vào tiếng cười đó cho thêm thi vị mùi sống đã trở thành vô vị từ bao giờ giữa sóng gió ngôn ngữ giang hồ đại loạn hôm nay. Vì đang có nhan nhản những Nhà Ngôn Ngữ Học, thượng đài, diệu võ dương oai trên khắp các màn hình nhỏ, từng ngày, từng đêm… Ta mặc sức mà rửa tai, nghe không kịp… Vì nó tràn ngập lời rác, luôn đổ một cách vô tội vạ đầy tai, gây ô nhiễm cả văn hóa lẫn tư duy hôm nay đi mất.
Chúng ta cùng vào đề thôi, các bạn nhé:
Dẫn lối vào từ trên Trang này, các bạn nhớ lại bài viết về cuộc thi Thiên Hoa Hội. Trong đó có đoạn mô tả như; “Sông nước sao cười ngạo gió trăng”. Đó chính là ý tôi muốn nhắc đến tác phẩm Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung rồi vậy.
Và vậy, tôi gợi ý; Bối cảnh tác phẩm này mới mở ra tại phái Hoa Sơn và đồng thời cũng kết thúc tại miền địa phương của xứ Hoa Sơn này mà thôi. Là chính nhân quân tử trong giang hồ đương thời đấy đấy! Quân Tử Kiếm kia mà. Bởi Thiên Hoa Hội hay Hoa Sơn cũng vốn rất gần và cùng nghĩa các sự kiện diễn ra với nhau. Vì nó vốn được để mô tả về thế giới của Xứ Thiền, tiềm ẩn trong nó.
Thế cho nên từ mối dẫn này, các bạn không khó mấy để trực kiến tư duy vào cái gọi là Quỳ Hoa Bảo Điển, vốn là đệ nhất đường lối mà thiên hạ nhất định phải theo đuổi và đoạt lấy bằng bất kỳ giá nào, dù phải trả.
Lưu ý: Đã có bạn lầm tưởng Quỳ Hoa là Kỳ Hoa rồi đấy?! Vì Hoa Quỳ cũng có nơi gọi là Hoa Mặt Trời hay Hoa Hướng Dương mà ra cả thôi. Là danh hoa mà tôi đã từng Bình Hoa trong bài Thiên Hoa Hội như: “ Hướng Dương, Hoa Quỳnh kiền Thược Dược” vậy. Không khéo, hiểu sai, tán lầm…, rồi dẫn đến lạc đi, là tất yếu.
Quả nhiên; Các bạn thấy văn U Mặc cũng như thế giới Thiền là rất thi vị và rất khó nghĩ bàn bằng dạng ngôn ngữ đơn thuần thô, như ta thường tưởng như thế mà không phải thế, xưa nay vậy. Thế nên tất nhiên nhân vật được đạo diễn nặn ra cho đứng đầu phái Hoa Sơn phải là Nhạc Bất Quần tỏng đi rồi còn gì. Vì Tham Thiền đúng lối, ắt phải thâm nhập vào xứ thiền mà nghe được Nhạc Trời thôi vậy! Do nhân vật này không có duyên để nghe được Nhạc Trời (Nhạc Bất Quần) khi tham thiền. Mặc dù Ngũ Nhạc là vốn sỡ hữu chung của giang hồ các phái (các Thiền Môn), thế nhưng nó vốn chỉ ở nơi đắc Khí mà tụ. Vậy Nhạc Linh San phải là con của riêng Nhạc Bất Quần trong lãnh địa của Hoa Sơn phái mà thôi. Vậy Nhạc Linh San còn có nghĩa tiềm ẩn và phải được hiểu là; San = Đồi - Núi…, Linh = Linh Khí tụ, nên tham thiền ắt may mà chứng ngộ riêng tại xứ Hoa Sơn mà thôi. Vậy vợ là Ninh Trung Tắc, là sự chứa, bế tắc, ở bên trong có đầy cả. Vả lại, bí kíp của Ngũ Nhạc tất phải hội tụ nơi hang Quá Nhai trên đỉnh Ngọc Nữ đi rồi còn gì. Làm gì có lối nào để cùng về la mã cho được. Không có chuyện tu sao cũng đắc, hoặc thiền sao cũng được đâu nhé.
Do Hoa Sơn đại diện cho Chính phái thì Tà phái phải là Ma giáo là Thần Giáo với nhân vật Nhậm Ngã Hành làm đại diện cho âm dương vậy. Do nhân vật này cứ Tự Hành Thiền cố chấp theo sở kiến riêng mình nên ra Ma Đạo thôi. Con gái phải là Nhậm Doanh Doanh là do chỉ tham Thiền, đạo “vơi vơi đầy”, nên đắc sở gọi thành tên như thế thôi. Do lý Dịch là âm hóa dương, dương biến âm mà ra cả.
Với cái sở tri kiến của Kim Dung về thế giới Thiền này, quả là có cao lắm so với giang hồ các phái trong khắp xứ xưa nay. Bởi cái tư duy chấp kiến vào quan điểm chung của các học giả cùng giai đoạn thế hệ ông, khi thâm nhập, khảo sát Kinh Điển nói chung. Ta xét thấy họ bị vướng ở tư tưởng học thuật nơi đỉnh cao là Thái Ất Thần Kinh! Vì đó chính là thế giới Tu Di, là cõi mà họ lầm tưởng là Lai Cái.
Vậy cho nên dẫn đến đỉnh cao chính là bí kíp luyện Thiền đến hóa thành ra Lai Cái hết đi cả. Như Đông Phương Bất Bại với Quỳ Hoa Bảo Điển vậy. Song song đó còn có cả Tịch Tà Kiếm Pháp nữa chứ! Dẫn nguồn ngữ ý đến đây, các bạn có thể ngộ ra được rằng; Quỳ Hoa đại diện cho mặt trời là dương, và Tịch Tà đại diện cho mặt Trăng là âm trong Dịch Lý rồi đấy. và cả hai quan điểm âm dương dung hòa này mà thành ra Lai Cái hết đi cả mà thôi. Vậy, từ đó Kim Dung mới cùng tư duy tắc biến…, mà hễ phản chính kiến ắt biến tư duy thôi vậy. Thế nên bí kíp (tham Thiền sâu) này, phải được lập ra từ các Thái Giám mà thôi, không khác được.
Kim Dung đã cười ngạo vào mặt tất cả giang hồ các phái qua tác phẩm “Tiếu Ngạo Giang Hồ” là có ẩn ý này rồi vậy. Những khúc nhạc trời đó, phải được tấu lên và dành riêng chỉ có Dao Cầm và Tiêu Khúc mà thôi. Đâu có chốn cho thiên hạ đại loạn, hòng chạm đến tiếng Nhạc Trời trong xứ Thiền mà gây loạn ngôn khắp chợ đời cho được. Và cũng chỉ có Lưu Chính Phong và Khúc Dương mới có thể sỡ hữu cho được. Ta đã biết chứ chưa nói đến hiểu gì về hai cái tên ám chỉ này mà Kim Dung muốn mượn đến?
Vậy hai tiếng Tiêu Dao…, chỉ là lời rác, nhặt nhạnh mà trang bị cho ra vẻ thế thôi. Tự nó đã tố cáo thân chủ rồi vậy.
Mà điều đó đâu đủ với đến quan điểm mà Kim Dung cũng mô tả là rất xuất sắc qua nhân vật “Tả Lãnh Thiền” cho nổi được! Các bạn nghĩ sao về cái gọi là lĩnh vực Tả Thiền so với Hữu Thiền mà Kim Dung muốn mượn ý và diễn đạt? Ta cũng nhất định phải hiểu rằng Kim Dung rất trọng Phật Giáo so với Tiên Giáo. Lý do thì trên trang này đã có từng bàn qua cùng các bạn rồi. Thế nên ta mới thấy ông dành riêng cho Phương Chứng (lối chứng đắc) của Thiếu Lâm và Xung Hư của Thái Cực... vị trí trang trọng nhất trong các nhóm giang hồ loạn giới.
Trên đây là tôi gợi ý một ít ra như thế để cùng các bạn còn dò la tung tích rồi bàn chung. Từ đó, dần quen với cách Đọc Thiền, thâm nhập U Mặc để còn nói đến hai tiếng Đàm Đạo. Vì không thế, tôi không cách gì bàn đến Thiền cho được. Vì một khi “biết bụng Kim Dung”, các bạn mới có thể “đi guốc mộc” mà dạo quanh khắp chốn trong các tác phẩm của ông mà tham quan cho được. Ví như cái tên Kim Dung chẳng hạn. Là dung mạo của Mùa Thu, ẩn Tàng trong đó mà ra cả thôi.
Tôi có thể ghi lại cùng các bạn một tức sự của tôi về thế giới này khi xưa từng lạc bước vào qua bài:
- Trăng Thu Ảo Thuyết!
Nghẹn một nỗi sầu thương trong điệu nấc…
Trăng gieo mình lặng chết khúc lòng sông.
Xác Trăng tan theo mây gió bụi ngàn.
Hồn muôn thuở vẫn chìm sâu ngấn nước.
-----------
Dật dờ đi, Trăng không còn xác nữa…
Suốt mùa Đông, Trăng hoang giá lạnh hồn.
Xuân ích kỷ ngoảnh thờ ơ Trăng lẻ.
Khóc! Ồ không, đã trọn kiếp Hạ vờ.
Lững lờ trôi…, kìa xác Thu úa rạc!
Và từ đó trăng mượn xác thu vàng.
Nợ riêng cõi Trăng - Thu vần thổn thức.
---------
Đông, Xuân, Hạ tranh nhau Mời, Rước, Đón…
Gió, Mưa, Mây đua nhau rót lời Ve.
Đời, Thế, Sự cũng học đòi cách Vãn.
Khóc cho đời chỉ một dáng Trăng Thu.
Phải chăng? Đó cũng là miền thu xứ mà Kim Dung có thuở cũng đã từng in dấu chân xưa, lạc lối đến, thảng khi đủ đôi lần giữa đời thừa?! Và đó cũng là một tập hợp logic chứ không hề là ngẫu nhiên bao giờ. Vậy các bạn cùng khai thác theo lối mòn vừa được phát quang trên đây xem sao nhé.
Có qua chiếc cầu nối ngữ hệ này, chúng ta mới có thể cùng nói đến Thiền được. Chứ không thì vẫn cứ là Giang Hồ đại loạn để cho Kim Dung Cười Ngạo mãi thôi. Mà xã hội Việt Nam hiện nay, thiên hạ đang đại loạn thật. Có ai cùng cất tiếng cười ngạo… rồi hòa mộng tấu khúc Tiêu Dao của Chiến Thần và Tiên Nữ khi xưa hay không?​````

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

DỊ DUNG CỦA KIM DUNG

 Điều tôi muốn nói đó chính là những nội dung dị thường, tiềm ẩn, tận đáy ý thức của mọi miền tư duy chung trong hầu hết chúng ta xưa nay! Trong một giới hạn những gì tôi có thể quan sát thấy trên các diễn đàn về Kim Dung xưa nay nói chung. Chưa hề bắt gặp một ai có thể khai thác được những giá trị thực tại trầm tích ấy cả!?

Miền tài nguyên không gian sâu lắng này, những giá trị tri thức vẫn đang ngủ yên cùng thời gian, quên thức. Và hôm nay, tôi đã quyết lấy miền địa phương này làm thao trường. Qua đó, chúng ta thao dợt ngôn ngữ u mặc dần quen, hầu làm kinh nghiệm cho những cuộc du hành vào xứ Thiền mà thực luận những gì sắp phải đến. Thế hệ hôm nay, nhất định phải vượt vũ môn để hóa rồng mà mặc sức vẫy vùng nơi biển cả ngôn ngữ dân tộc.
Cái xưa nay gọi là; “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp việt nam” đó. Chỉ đơn thuần là dạng ngôn ngữ lạch sông trong bến bờ mà thôi. Giống Rồng Tiên nay mai, nhất định rồi sẽ ngậm ngọc, nhả châu u mặc, một khi đã ra đến biển cả. Một nơi vốn là thủ phủ cội nguồn nguyên thủy.
Biển Đông ư? Hãy chờ đấy, nay mai ta về…
Đó, chính là tinh hoa của văn u mặc. Gợi ý, nhắc lại: Chữ Việt, có căn nguyên cội nghĩa từ chữ Búa Sấm mà hóa ra. Vậy hoàn nguyên bản thể đó cũng có nghĩa như; Việt Ngữ = Sấm Ngôn vậy. Mặc ai U hay Minh. Vì đâu nên nỗi trớ trêu gây ra phản tác dụng bởi câu đạo cùng tắc biến như: Gốc xưa từ U Việt, nhánh vừa đâm ra Việt Minh, nay lại lạc mất tinh hoa vừa hé nhụy!? Nào ai biết nơi đâu đã Minh hay U mà đảo điên giá trị cội rễ dân tộc anh linh này. Dẫu sao thì Tòa Công Luận đã lập rồi. Không một ai có thể không đứng trước vành móng ngựa trước khi bước qua phía bên kia không gian chiều thứ tư cho được cả.
Kiệm lời:
Vậy người anh cả của dân tộc Việt hôm nay vẫn đang giữ một di ngôn như: “Thao trường đổ mồi hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Các bạn đừng ngại mà cùng thao lược, trao đổi nhé. Vì chúng ta còn lấy đó làm hành trang cho cuộc du hành trong xứ Thiền đang đợi chờ phía trước. Và sau đây, tôi đưa ra một vài gợi ý chung. Gợi ý làm điển hình nội dung một vài phân cảnh trong thao trường Tiếu Ngạo Giang Hồ đang được khai thác những giá trị tiềm năng ngôn ngữ u mặc. Các bạn dựa trên điểm tựa đó, suy ra mà khai thác tiếp nhé. Vì đang còn quá nhiều những tài nguyên chờ các bạn khai quật để còn tự đắc ý nữa. Vậy, miền địa phương mà tôi đưa nhát cuốc đầu tiên khai quật kho tàng tri thức. Chính là bối cảnh chung liên quan đến sự việc giam cầm và giải thoát Nhậm Ngã Hành. Kim Dung đã che giấu ý gì trong nội dung đó.
Các bạn cùng tham gia quan sát cũng như theo dõi điển hình thứ nhất nhé;
Nếu dựa theo ý của cái tên Nhậm Ngã Hành như tôi và các bạn đã từng bàn qua. Và đọc tiếp thì nhân vật này còn có dị hiệu khác nữa là; Vọng Phong Nhi Đào! Vì theo như giang hồ truyền tai bí kíp đệ nhất thiên hạ thuộc về Quỳ Hoa Bảo Điển. Thế nên cái “bút hiệu” đó có nghĩa là Ngóng chờ một ngọn gió Đông của mùa Xuân, mang đến sắc Hoa Đào rồi vậy. Té ngửa nghĩa ra thành ý là Nhậm Ngã Hành trông mong một ngọn gió Đông Hoàng để mà xưng đế võ lâm kia. Bá mộng như thiên hạ từng nghĩ ư? Chẳng là cái đinh gỉ gì trong mắt của Đại Ma đầu này hết cả. Vì ông ta đã vất bỏ cả Quỳ Hoa lẫn Tịch Tà vào quá khứ quên lãng hết đi rồi. Bởi cái tính cố chấp (Ngã Hành=Bất Thối Chuyển), khiến Đông Phương Bất Bại âm thầm luyện Quỳ Hoa sau lưng mà soán ngôi đi mất.
Cái siêu dị vượt ngoài mọi tri kiến của mọi người mà Kim Dung đã dụng chính là cách giam cầm được Giáo Chủ của Ma Đạo ở chỗ dĩ độc trị độc như; Nhậm Ngã Hành vốn không ưa các loài hoa nói chung. Thế nhưng ông vẫn mong ngóng một cánh Hoa Đào vốn là chúa xuân nguyên thủy nơi đất Bắc làm cội rễ. Biết điểm yếu đấy, cho nên ta thấy Đông Phương Bất Bại đã dùng sự đối lập với Hao Đào đất Bắc bằng Hoa Mai tận Trời Nam mà giam giữ Nhậm Ngã Hành.
Vì nơi đó có tên là “Cô Mai Trang”!!! Tất nhiên, nếu như mong Hoa Đào nơi đất Bắc, thì sự cô độc trong trang trại Hoa Mai là phong tỏa hoàn toàn Nhậm Ngã Hành mất đi rồi vậy. Bởi là Đông Phương Bất Bại, thế nên ông ta mới biết Đông Phong có đến hai chúa xuân là Hoa Đào và cả Hoa Mai nữa. Mà Nhậm Ngã Hành vốn rất dị ứng với các loài Hoa nói chung.
Nào đã thôi đâu. Còn bắt 4 cao thủ bao gồm Cầm, Kỳ, Thi, Họa. Làm đại diện cho bốn mùa Hoa để canh gác nữa chứ! Điều đó phải gọi thành tên là Giang Nam Tứ Hữu đi rồi. Nhậm Ngã Hành đành phải thúc thủ tận đáy tây hồ suốt 12 năm là tất yếu rồi vậy. Mà nữa; Con số 12 này đại diện cho một chu kỳ của một tuần giáp. Và cũng là đại diện cho 12 tháng trong một năm vậy. Vì nhất định phải qua đủ 4 mùa hoa thì sau đó mới lại đến Mùa Xuân mà mong Vọng Phong Nhi Đào tiếp cho được.
Lại bàn ở một phân cảnh khác, cùng thời điểm đang thảo luận thì ta thấy; Hứa Vấn Thiên Tả Sứ. Có nghĩa là kẻ đã Hỏi Trời (đọc được Thiên Thư) và trời Hứa đúng quy luật cũng như thời hạn đó là “lỏng then Tạo”. Còn Tả Sứ thì theo như nghĩa mà trong trang này tôi đã có từng bàn qua cùng các bạn rồi đấy. Vậy ở đây tôi gọi là Tả Xứ theo nghĩa riêng độc lập nhé (vì chung, sẽ lại thành ra Tả Sứ).
Nếu chiếu theo quy luật đồ hình của Lạc Thư nói chung thì: Từ Tiết Hạ Chí đến Tiết Đại Tuyết là Nghịch hành, là hành tả xứ. Vì hành theo hữu xứ thì tính từ Tiết Đông Chí đến Mang Chủng. Vậy ta quan sát theo bản thân là Tả hành qua các Xứ đó để về lại quy trình Đón Gió Đông mà ra. Thế nên nhân vật này có tên là Tả sứ Hứa Vấn Thiên. Là người duy nhất có khả năng tìm ra và giải cứu Nhậm Ngã Hành mà thôi.
Thế cho nên khi gặp Lệnh Hồ Xung. “Vấn Thiên” liền đọc được tượng trời trong Khúc Quảng Lăng Tán mà Lệnh Hồ Xung đang mang trên mình. Tất nhiên, việc mà hai kẻ giang hồ đểu khách này, mang khúc Quảng Lăng Tán ra dụ khị 4 anh em Cầm, Kỳ, Thi, Họa, là không bàn cãi đến để làm gì nữa rồi các bạn nhé.
Dĩ nhiên, ta thấy Lệnh Hồ Xung có kỵ Hoa bao giờ đâu mà Cô Mai Trang giam cầm cho được. Các bạn thấy đấy, tay giang hồ lãng tử này cứ nốc rượu bí tỷ như thế. Mọi hoa cũng phải nát hết chứ mơ tưởng gì đến việc giam với cầm cho được. Ví như có đến tứ Hoa tuyệt sắc, từng vây quanh tỏa hương như Nhậm Doanh Doanh, Nghi Lâm, Nhạc Linh San và Lam Phụng Hoàng cũng đành chịu.
Vấn đề là khi nào diễn viên này thoát ra, thì đạo diễn chỉ việc sắp xếp cho hợp cảnh nữa mà thôi (gớm Kim Dung thật đấy).
Riêng tôi thì thấy rằng; Bức tranh mà Kim Dung vẽ ra cảnh Lệnh Hồ Xung luyện Hấp Tinh Đại Pháp trong lồng sắt, dưới đáy Cô Mai Trang dạng “da cọp” là có hơi thô rồi vậy (không cười ngạo cả thiên hạ được đâu ngài Kim Dung nhé).
Và tiếp đến, với điển hình gợi ý thứ hai cùng các bạn nữa là:
Vậy chúng ta xét thấy cho đến tận lúc này. Cuốn nhạc phổ mà Lệnh Hồ Xung mang trên người đó chỉ là khúc Quảng Lăng Tán mà thôi. Ta chưa có thể gọi là khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ cho được. Dò trở lại quá khứ các cảnh trước đó. Ta phát giác việc Khúc Dương dẫn Lệnh Hồ Xung vào Bãi Sậy? (lại cây sậy?! vấn đề này, tôi e rằng các bạn tham thiền qua 49 ngày thì mới có thể bàn tiếp rồi vậy. Thứ cho là hiện nay không lĩnh hội nỗi khi bàn đến. Tôi khất lại và dồn chung với việc còn thiếu nợ các bạn về lịch sử trong giai đoạn Đinh Tiên Hoàng với việc Cờ Lau tập trận khi trước trên Trang Ký Sự này).
Nguyên do cũng bởi không bàn đến Phật giáo được, vì nhiều các bạn thuộc hệ thiên hạ các chúng phật tử tại việt nam hiện nay, phủ chụp quan điểm. Dẫn đến thiếu nền tảng tri thức, làm chiếc phao để bám vào mà có thể bơi đến vùng biển cả tri kiến này được.
Rồi Khúc Dương đã bất chợt hốt ngộ, phát hiện ra Khúc Quảng Lăng Tán thất lạc suốt bao lâu. Và ông đã nhờ Lệnh Hồ Xung mang tin đến cho kẻ thổi Tiêu là Lưu Chính Phong. Lưu Chính phong ngộ thiên cơ. Vậy là lập tức vất hết tất cả danh vọng cũng như gia đình mà rửa tay trước võ lâm quần hùng, bất kể chính tà. Và hai vị đã hoàn tất khúc Quảng Lăng Tán bất hủ rồi giao lại cho Lệnh Hồ Xung mà mãn nguyện, phủi tay rửa luôn đời cho xong.
Vậy trong chúng ta, đã có huệ nhãn nào đủ nhìn thấy và lắng nghe được tiếng cười ngạo giang hồ đó xuất hiện ở đâu hay không vậy? Độc chiêu của Kim Dung trong tác phẩm này chính là Vô chiêu thắng hữu chiêu đấy các bạn ạ. Vậy thì tôi sẽ lột trần tiếng cười ngạo đó mà Kim Dung đã cố tình giấu ở… cận cảnh cuối khi;
Các phái giang hồ quyết định thống lĩnh quần hùng để độc bá võ lâm trong trận chiến cuối cùng. Một rừng nhất định không thể chấp nhận việc có hai hổ cho được. Ta thấy trong giai đoạn này, cớ gì mà khiến cho Nhậm Ngã Hành cười đến chết đi vậy?!
Là bởi:
Ông chợt nhìn thấy tất cả thiên hạ trong giang hồ đang hóa thành mộng du quan điểm về một đường lối duy nhất, đã mãi ủ mộng xưa nay. Vì chính ông đã vất bỏ Quỳ Hoa Bảo Điển lẫn Tịch Tà Kiếm Phổ, do biết bí kíp đó chỉ dẫn đến kẻ lai cái trong thiên hạ mà thôi. Trong khi thiên hạ cứ mãi tranh nhau đi tìm nó bằng mọi giá, để làm minh chủ!? Ngay cả như Đông Phương Bất Bại, vốn là đệ nhất thì cũng đã bị ông tiêu diệt mất rồi. Nay lại còn hai kẻ thi nhau luyện thành tuyệt kỹ lai cái tiếp theo để giành nữa là Nhạc Bất Quần và Lâm Bình Chi nữa! Trong khi hai phái tinh hoa của võ lâm là Thiếu Lâm và Võ Đang cũng đã theo Lệnh Hồ Xung rồi. Mà Lệnh Hồ Xung lại đang là con rể của mình!! Thế mà thiên hạ khắp giang hồ lại còn ôm mộng đánh lên Hắc Mộc Nhai nữa mới khiến cho thoát đỉnh khôi hài đi!!!
Chính vì điều này mà khiến cho Nhậm Ngã Hành cười đến đột quỵ mà chết đi vậy. Đó chính là tiếng cười xứng danh gọi là Tiếu ngạo Giang Hồ thành tên như tác phẩm mà ta thiên hạ chúng ta đã biết qua.
Và rồi khúc Tiếu Ngạo đó, chỉ xuất hiện khi Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh từ bỏ mọi ảo mộng của thiên hạ, mặc giang hồ mãi trong mộng du mà cùng tấu khúc Tiêu Dao. Vì thế, khi khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ thật sự hình thành. Chính là lúc kết thúc tác phẩm này mà thôi vậy.
Tôi lưu ý cuối: Cô Mai Trang là nơi giam cầm Nhậm Ngã Hành. Trong khi đó, Cô Mai Trang cũng lại chính là nơi mà Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh thành thân đấy các bạn ạ.
Mời các bạn lại tiếp tục cùng bàn thảo… mà không sợ phải cái gọi là lộng ngôn bao giờ.
Đó cũng là Đạo.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

DNA HỒ TÔN

 Nhân vì bạn Đức Hiệp có hỏi về Nước Chiêm Thành còn có tên khác là Hồ Tôn thì phải? Tôi sẽ thiết kế cái nền móng đó và các bạn cùng chung tay xây dựng và tô điểm cho hoàn thiện chuỗi DNA của dòng Sử Thiêng này nhé.

Vậy chúng ta cùng về nguồn, “Khảo Sử”: Được xem như là sự gia cố vững chắc thêm hơn cho nền móng của học thuyết này tại góc độ quan sát của lịch sử ở tầng sâu hơn.
Qua trang này thì chúng ta cũng đã biết được là cái Chân Linh Bản Thể mà ta thường gọi là cái Linh Khí hoặc Chính Khí của Đại Vũ Trụ. Là Hồn Thiêng của núi sông, đi vào Tiểu Vũ Trụ, hóa Máu, tàng Thần và ngụ trong Tim. Vị Thần này thường khi ra vào và tế tự nơi Cung Nê Hoàn, thế nên ta mới nghe gọi là “Huyết Khí Dưỡng Não”. Điều này ngụ ý của Tạo Hóa có nghĩa là con Tim luôn thổn thức, kích hoạt tư duy, thắp lên ánh đuốc tri thức, soi rọi và thắp sáng toàn miền đêm đen của lịch sử.
Phàm, đã là phả hệ của giống nòi Thần Tiên. Cớ sao lại đến đỗi không nhận ra được cái lối quanh co, bện xoắn vào nhau như chuỗi DNA này vậy!? Thế nhưng, những linh cảm về sự di truyền của một giống nòi oai linh đã từng thất lạc đâu đó trong cội nguồn của dòng Sử Thiêng, luôn thổn thức trong tầng sâu thẳm của mỗi ý thức dân tộc Việt.
Thế cho nên, trên lối tìm về Động Hoa Vàng ngày ấy, có mô hình thiết kế chuỗi DNA đó như sau:
Trong giai đoạn cuối Nhà Hán đến đầu Nhà Đường. Người Hán nói chung đã phát hiện ra vùng mà họ gọi là Lâm Ấp hay Tượng Lâm đấy. Chính là dòng của giống Việt Thường mà bà Âu Cơ đã dẫn 50 con khi xưa đi mở cõi mà ra! Bởi dòng này có cội nguồn tại Hồ Phiên Dương, thế nên căn cứ vào đó mà Người Hán đã gọi thành tên Hồ Tôn! Và tên Nước Hồ Tôn với ám chỉ ý tại; Tôn từ chữ Tử - Tôn, là Con - Cháu. Hồ; có nghĩa là ý chỉ gốc ở Hồ Phiên Dương và Động Đình khi xưa mà ra cả thôi. Vậy Hồ Tôn có nghĩa đích thị là nước này thuộc dòng con cháu của người Thường Việt bên Hồ Phiên Dương.
Thế nên ta mới chứng kiến có sự kiện Nhà Đường lại âm mưu liên kết với Nước Phù Nam, phía sau lưng, hòng đánh úp Nước Hồ Tôn này để tuyệt diệt mọi tông tích đi rồi vậy. Thế nhưng Người Hán đâu có thể nào ngờ được rằng: Nước Phù Nam lại là do chính những người con trai theo Mẹ ngày đó đã hình thành từ Phạm Mạn vâng theo ý chỉ của Vua Phạm Hùng bên Nước Hồ Tôn mà ra. Vì sợi dây “Xích Thằng” (DNA) đó vốn có nguồn gốc từ hai chữ Phù Lưu sinh ra cả thôi!!!
Các bạn của thế hệ hôm nay ạ. Cổ ngữ Phù Lưu chính là tên của Dây Trầu và Cây Cau nói chung đấy các bạn ạ!!
Thật thú vị trong kinh ngạc đến sững sờ trước kịch bản của Hóa Công!!!
Sau khi lắng dư vị cảm xúc cùng những nhịp tim rung động linh cảm thiêng liêng của cội nguồn xuống. Chúng ta lại tiếp tục với chuỗi DNA đó như sau: Ta có thể xét thấy trong hồ sơ bổ sung cáo trạng những thực tại này từ nhóm khảo sát có tên gọi là Viễn Đông Bác Cổ có ghi: Nước Phù Nam còn có tên gọi khác khi đó là Nước Chí Tôn để phân ra với Nước Hồ Tôn nữa kia kìa!
Lại nguyên do cái tên Chí Tôn là bởi từ cách gọi của Ấn Độ trong thời Phật Thích Ca tại thế mà ra cả! Để dẫn đến nguồn này, ta phải vào link của Thiên Thư mới có được. Bởi “Sử Tại Thiên Thư” có chép và tôi điểm mạch phong thủy, mang ra bàn thảo cùng các bạn rằng;
Xưa nay chúng ta chỉ nghe nhắc qua loa đến hai dòng sông có xuất phát nguồn từ dãy Himalaya tại Ấn Độ thôi. Tất nhiên ai ai cũng biết đó chính là cái nóc nhà của thế giới rồi. Là cái khí núi làm gốc rễ căn nguyên cội nguồn của vũ trụ. Thế nên hai dòng sông thủy mạch là sông Ấn và sông Hằng được làm tiêu biểu nền tảng của đạo lý. Vấn đề là chúng ta đã không đủ xem xét chi tiết sự việc rồi dẫn đến lạc mất chân lý đi. Bởi vì xưa nay ta cứ cho rằng dòng thủy mạch của sông Hằng cùng khí núi Himalaya hun đúc nên Phật Giáo. Còn dòng sông Ấn thì lại sinh ra đạo Hindu. Cả hai dòng này đều chảy trên địa phận của Ấn Độ, thế là họ chung đúc lại mà gọi thành Ấn Độ Giáo làm quốc giáo đến tận hôm nay (Hindu). Đã mấy ai ngờ và xem xét được rằng; Cái nóc nhà chung của thế giới đó, còn che cho cả vùng thuộc về Pakistan, Apganistan nữa. Và dòng sông Ấn lại đổ ra Vịnh Oman. Thế nên nhất định vùng Trung Đông với Đạo Hồi Giáo hòa cùng Do Thái Giáo cũng phải được nhắc đến. Chúng ta đã bỏ sót qua điều này rồi vậy. Do chỉ xét giới hạn trong phạm vi biên của Ấn Độ.
Thế nhưng, chìm khuất trong trang sử kín của Thiên Thư. Đã bị lãng quên trong ký ức chung của nhân loại chúng ta là; Thuở Sáng Thế, Kinh Thánh còn mô tả trong Vườn Địa Đàng đó. Có đến những 4 dòng sông chảy ra toàn miền chứ không phải chỉ hai dòng như tôi vừa nêu ở các dòng trên. Vậy dòng thứ 3 chảy ra từ dãy Himalaya được xem xét đến chính là dòng sông Dương Tử! Thuộc lãnh địa của Nước Xích Quỷ, trước thời Thích Ca tại thế đấy các bạn ạ! Tất nhiên Đạo Thần Tiên vốn là của giống nòi Tiên Rồng làm cội rễ nền tảng được xem xét. Đối với những quan điểm mù lòa ý thức hệ nòi giống và u mê về đạo lý thì biết sao cho nổi rằng khi Phật tại thế thì tương đương cùng giai đoạn cuối thời Hùng Vương bên nước Văn Lang rồi vậy. Bên Trung Quốc là thời Xuân Thu, thuộc về Đông Chu. Và thủy mạch của dòng sông thứ tư lại tiềm ẩn giữa dòng sông Hằng và Dương Tử chính là dòng Cửu Long (Mê Kông). Điều này Tạo Hóa mô phỏng giống như chiều Thời Gian tiềm ẩn trong 3 chiều Không Gian vậy! Tất nhiên, điều này không qua được Huệ Nhãn của Phật Thích Ca trong đương thời khi đấy cho được bao giờ cả.
Lại còn có một thực tại tiềm ẩn giữa các dòng sử trong giai đoạn này là; Còn có một nhóm người Việt Thường, di loạn từ cuộc chiến Nhà Thương với Nước Xích Quỹ, tản cư sang Ấn Độ theo hướng Mianma! Và Phật Thích Ca biết rất rõ về dòng giống Thần Tiên này trong giai đoạn khi đó đang lưu vong tại Ấn Độ. Và ta thấy cái cổ ngữ của Nhà Phật nhắc đến những cái tên nước như: Thiên Trúc, Phù Đồ, Phạm Thiên v.v… nơi cuối dòng Cửu Long bao gồm là Hồ Tôn và Chí Tôn (Chiêm Thành và Phù Nam) rồi vậy. Thế nên dấu ấn của Kiều Trần Như và Đề Bà Đạt Đa trong toàn vùng khu vực này là không phải ngạc nhiên hay bàn cãi nữa. Vậy câu hỏi mà tôi đặt ra cho các bạn là vị Thần Shilva của khu vực này tôn thờ. Nếu không phải là cốt tưởng nhớ về hình tượng của Chiến Thần Xi Vưu tiềm ẩn trong đó thì có còn là vị thần nào cho được nữa đây? Ta phải biết Kiều Trần Như tuy đã theo Phật Thích Ca, thế nhưng tư tưởng cội rễ của ông vẫn là Kỳ Na Giáo. Tất cả những văn hóa tín ngưỡng trên toàn miền DNA này, đều đã chỉ rõ điều đó.
Ta có thể cũng cố hồ sơ dày hơn cho sự kiện này từ các tư liệu của Viễn Đông Bác Cổ còn đầy ra cả đấy. Điển hình như việc các học giả có tranh cãi đến thế nào đi chăng nữa. Họ vẫn cứ công nhận về hai tộc của Họ Cau và Họ Dừa tại khu vực này là vốn có huyết thống từ xưa với nhau vậy. Bởi tại:
Chuỗi DNA này có gốc tại cây Cau và Trầu từ Nước Văn Lang mà ra cả thôi! Là Phù Lưu. Từ nguyên này dẫn ra Phù Nam, Phù Đồ, Phù Tang v.v… Thế nên toàn vùng địa phương này vẫn cứ có tục lệ ăn Trầu Cau mà thành văn hóa tưởng nhớ cội nguồn một cách vô thức mà không cách gì thoát ra khỏi sự ràng buộc đó cho được cả!! Tất nhiên, chỉ có dòng chính thống mới biết và dụng Trầu Cau cho việc kết duyên mà thôi nhé. Còn lại là chỉ “ăn theo” cho “có lệ” vậy thôi.
Tôi lại nhiều chuyện mà tán thêm rằng: Không phải ngẫu nhiên mà thiên hạ xưa nay cứ truyền tai nhau về sự việc có một “Tiên Lão” cứ ngồi dưới bóng Trăng, phía bên ngoài Cung Quảng Hàn. Lựa mãi những sợi Chỉ đỏ thắm (Xích Thằng, Phù Lưu) mà bện xoắn, se duyên, tạo thành chuỗi DNA bao giờ cả!!! Là dòng giống Thần Tiên mà. Thế nên chỉ giống nòi này mới có thể hiểu được chiếc áo của Tiên Huyền Nữ mặc trong Cung Hàn là Thiên Y với Vũ Điệu Nghê Thường được. Và di chỉ ấy, đã được phản ảnh với tên gọi “Thiên Y A Na” của Bà Chúa Xứ Nước Hồ Tôn này vậy! Đích thị là Bà Âu Cơ, thuộc dòng Thường Việt, vốn là dòng được truyền di ấn từ Tiên Huyền Nữ trong nhóm Bách Việt mà ra tỏng đi rồi còn gì. Vì chữ A Na còn có nghĩa là Nữ, là Âm tính. Và Thiên Y lại chính là chiếc áo bằng lông chim, vốn là biểu tượng của Tiên Huyền Nữ khi xưa truyền lại cho đời sau làm bằng mà tìm về Tiên Tổ!
Tôi đã quyết xăn tay áo, vén mây mù che phủ ngàn năm để cho tỏ mặt Chị Hằng cùng thế hệ hôm nay như các dòng ở trên. Tất nhiên toàn vùng là chế độ Mẫu Hệ. Thiên Thư vẫn còn nhắc sờ sờ trước mắt bao kẻ tục đòi đến tận hôm nay mà có thấy được đâu những giá trị như: Các địa danh như ĐắkLắc, ĐăkNông, ĐăkMin còn có nghĩa là: Đắk có nghĩa là Hồ! Vậy điều này cũng đồng nghĩa là Hồ Lắc, Hồ Nông, Hồ Min, vân vân nữa!! Là gốc từ Hồ Phiên Dương với dòng Thường Việt, đến Nước Hồ Tôn của Bà Âu Cơ, để rồi hiện nay vẫn tồn tại và sống mãi cùng núi sông của Việt Nam vậy. Loài người không cách gì có thể xóa hay chối bỏ những giá trị thực tại tiềm ẩn của mô hình vũ trụ tự nhiên đó được bao giờ. Mỗi khi được hiển lộ, thế tục chỉ có thể tròn mắt kinh ngạc chứ không có thể hiểu thấu cho nổi được những quy luật của tự nhiên mà ta quen gọi là thiên cơ đó. Thường thì người trí sững sờ, rồi chìm lắng sâu trong mặc tưởng, trầm tư... Kẻ ngu lại tiếp tục cãi cố, nông nổi một cách ấu trĩ và mãi ngụp lặn trong biển tạp tri kiến, tìm cứu cánh trong cơn chết đuối tư duy…
Lại nhắc chừng thêm cho mà xem xét lại cái tích Bà Chúa Ngọc đã biến từ Thiên Y A Na là bởi quan điểm có tàng âm ý từ con cháu Nhà Nguyễn về sau. Không khéo lại gây lạc xa hơn nữa cho nguyên bản gốc mà Hồn Thiêng, Anh Linh Dân Tộc ngàn đời Tạc Bia Trời trong đó cho mai sau đấy. Đó là sự việc gốc Trầm Kỳ trôi ra Biển Bắc. Vậy Thái Tử Bắc Hải ở đây không có nghĩa là Trung Quốc cho được. Mà là xét theo địa phận của Chiên Thành thì Bắc Hải ở đây có nghĩa là Nước Văn Lang so với Chiêm Thành rồi vậy. Không khéo thì trước tòa công luận của tương lai phải chịu án đào thải ra khỏi ý thức hệ dân tộc cùng giống nòi Thần Tiên, mà có nên chớ như thế. Thế nên ta phải đủ tri thức để hiểu rằng: Dòng thủy mạch cần phải quan sát chính là dòng Cửu Long chứ không hề là bất kỳ dòng nào cho được nữa. Xét riêng về địa phận của Khánh Hòa, tôi có chỉ rõ đó chính là địa phận của nước Chiêm Thành và Phù Nam khi xưa. Ranh giới là tại Cổng Trời, là Đèo Phụng Hoàng giáp với Đắklắk hiện nay. Vậy thì đó là sự chia ly và ngóng chờ nhóm 20 con dòng Cha đi mở cõi là Phù Nam chứ không được lầm lẫn với sự ngóng chờ, chia ly của Lạc Long và Âu Cơ trước đó cho được đâu nhé. Đặc biệt khu vực của nước Chiêm Thành này lại có một dòng sông huyền thoại chảy ngược bất hủ! Đó chính là dòng sông Đắk Bla, có xuất phát nguồn tại núi Ngọc Linh thuộc Kon Tum, tựa hồ như một con “ngựa chứng” vậy! Thế nhưng khi ta dò mạch thì sự ngược đó lại hóa ra xuôi. Bằng tưởng xuôi theo quan điểm của thế nhân thì lại thành ngược cùng ý của Tạo Hóa!! Vì dòng sông chảy ngược này lại tìm mọi cách vượt qua dãy Trường Sơn mà đổ hòa vào đúng với dòng Cửu Long!!! Đó chính là Địa Lý Phong Thủy Đại Cuộc. Không thể cứ đứng tưởng tượng linh tinh theo cái biết thiển cận rồi suy diễn Bảo Giang Môn một cách khôi hài nữa. Lý giải không nổi lại đổ tại Thiên Cơ.
Từ đây, suy ra một câu hỏi và giả thuyết được xây dựng dựa trên những mô hình của tự nhiên, được thiết kế từ Thợ Tạo đó như sau:
Nếu giả định là ngày đó Phật Thích Ca đang truy tìm một thực tại đạo lý tại giống nòi Thần Tiên này thì sao? Ta lại phải chọn giá trị xác xuất giữa một và hai khái niệm Đúng và Sai thôi nhé. Nếu ta chọn Sai, thì điều này phù hợp với xưa nay rồi. Và đạo lý cuối cùng vẫn mãi tiềm ẩn. Thế nhân chúng ta vẫn cứ mãi khổ đau suốt 2.500 năm qua ngày một chìm đắm sâu hơn nữa trong hỗn loạn.
Bằng như ta chọn Đúng? Vậy Phật Thích Ca mong gì ở những kẻ gốc tại dòng máu Thần Tiên này còn lạc mất cội nguồn tổ tiên và dững dưng chối bỏ giống nòi chính mình như thế. Mong gì họ làm sáng tỏ những oan khốc từ đạo Phật (nếu có) cho được nữa? Lại Chúa nào mà bảo ta phải bỏ thờ lạy Tổ Tiên, Ông Bà đi mới được cơ chứ?! Nếu ta bỏ như thế, Chúa có trông cậy gì kẻ đó thờ mình ở tương lai về sau cho được đây? Không hề có những điều phi lý như thế cho được. Bằng như trong Kinh Thánh là có. Sao ta không đủ đức tính công bình mà Chúa đã trông cậy ở loài người mà suy rằng: Đó chính là một thử thách mà Chúa đã đặt ra khiến con cái loài người không đủ để vượt qua nổi được. Tất nhiên ai vượt qua, kẻ đó xứng đáng thắp lên ngọn đuốc của sự sáng, soi lối bước vào Thiên Đàng rồi vậy. Lời Chúa trong Cựu Ước: “Nếu ngươi phán xét bất cứ một điều gì. Ngươi hãy đeo trước ngực bảng Công Bình và Sự Thật. Ngươi được quyền xét luôn cả Chúa của các Ngươi nữa”!!! “Ôi! ta biết tìm ở đâu cho ra một kẻ công bình để phân xử cho ta đây?”.!!!
Vậy, nếu muốn thờ Chúa hay Phật. Trước hết thì ta phải biết thờ lạy chính Tổ Tiên, Ông Bà của ta trước đã. Đó chính là Đạo Lý. Thiên hạ cứ mãi lầm lạc trong mê muội đến bao giờ nữa đây? Càng lên tiếng bênh vực một cách mê muội trong Phật giáo, mà không biết một tí gì và dững dưng về chính cội nguồn của bản thân mình. Kẻ đó chính là một điển hình cho sự đào thải của quy luật tự nhiên từ Tạo Hóa hôm nay. Tôi lên án và khẳng định thế. Vậy ai muốn lên tiếng bảo vệ Phật. hoặc Chúa. Trước hết hãy bảo vệ chính Tổ Tiên, cội nguồn của Giống Nòi Thần Tiên này đã. Sau rồi hẵng nói đến chuyện Thuyết Pháp có thành Đạo Lý được hay không. Các bạn thấy đấy; Đầy rẫy oan khốc cả. Kẻ Mù mà cứ lớn tiếng nói chuyện đường dài với các nẻo Thiên Lý diệu vợi Sơn Khê!!! Làm gì có chuyện ra Biển Cả cho được. Sở dĩ Phật có dụ ngôn về Con Rùa Mù tìm bọng cây mục để ra biển là bởi: Nó vốn mang Kinh Dịch là Phù Đồ trên lưng đấy.
Xã hội hôm nay có Hằng Hà Sa Số các “Ông Thầy, Bà Bói” đang ra sức “bói ra ma…”, gây nát loạn cả Kinh Dịch mà còn chưa có thể với tới thực tại Chân Lý. Thường thì các Thầy Bói phải đắc sở Mù nữa mới có thể phát huy được đúng Sở Thặng Thiên Ý. Có đâu phần cho những kẻ Thừa, Sở Hữu Dư cái Mù thì lấy đâu tri kiến được nữa mà “Nói Pháp và Cãi Pháp” cứ ra rả như thế?! Chỉ tổ được nước gây rối loạn trật tự xã hội thêm thôi. Nếu các bạn muốn dụng Dịch, hãy cứ “Chiêm, Gẫm” những Hiện Tượng mà tôi đang nói xem. Đó chính là sự Kiến Ngộ chỗ Đắc Sở Dụng của Kinh Dịch rồi vậy.
Bởi người Việt chúng ta chính là cái gen DNA từ giống nòi Thần Tiên kia mà. Một dân tộc đang nắm giữ Mật Mã Di Truyền của Tạo Hóa Ký Gửi từ ngày Người gây hình vũ trụ.
Hãy tỉnh thức cho kịp kỳ. Tôi đang ra sức lay tỉnh ý thức dân tộc Việt chúng ta hôm nay đấy các bạn ạ. Tất nhiên là tôi tự biết tìm cách tránh lay chuyển những dạng Bất Thối Chuyển hiện nay. Cứ để cho quy luật của tự nhiên thực thi việc Chuyển Thối họ đi thôi vậy.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Sự đoàn kết của những chú kiến

 


Hàng chục con kiến bị rơi vào chai nước 5 lít được để mở suốt đêm. Chúng vùng vẫy trong làn nước trong suốt, như thể từng con đang chiến đấu giành giật sự sống.


Ban đầu, tôi tưởng rằng chúng đang dìm nhau để sống sót, con này giẫm đạp lên con kia để tự cứu mình.


Tôi quay đi, quyết định không can thiệp.


Nhưng hai tiếng sau, sự tò mò khiến tôi nhìn lại vào trong chai một lần nữa.


Và tôi sững sờ: những con kiến vẫn còn sống! Chúng đã tạo thành một “hòn đảo sống” - một kim tự tháp nhỏ - trong đó vài con làm điểm tựa để nâng những con khác nổi lên khỏi mặt nước, như thể cả một cộng đồng đang hợp sức tồn tại.


Tôi nín thở quan sát. Những con ở dưới bị ngập nước, nhưng không mãi mãi. Một lúc sau, chúng được thay phiên bởi những con từ tầng trên. Những con khỏe mạnh tự nguyện lặn xuống, còn những con mệt mỏi từ từ trèo lên - không chen lấn, không xô đẩy. Không con nào tìm cách thoát thân trước. Chúng phối hợp nhịp nhàng và dìu nhau vượt qua cơn thảm họa.


Tôi không thể đứng ngoài nữa. Tôi tìm một chiếc thìa nhỏ, nhẹ nhàng luồn vào cổ chai. Khi thấy "cứu viện", từng con kiến lần lượt trèo lên - ngay ngắn, không hoảng loạn. Mọi việc đang diễn ra suôn sẻ, cho đến khi một con kiến yếu sức trượt trở lại xuống nước, chỉ còn cách miệng chai vài phân.


Và rồi, điều khiến tôi nhớ cả đời đã xảy ra. Con kiến áp chót, gần như đã ra ngoài, bỗng quay đầu. Nó tụt xuống, như muốn nói: “Cố lên anh bạn, tôi sẽ không bỏ cậu lại đâu!” Nó lặn xuống, bám lấy con đang đuối sức kia.Nhưng nó không thể kéo bạn mình ra một mình. Tôi đưa thìa lại gần, và cả hai cùng được cứu.


Câu chuyện đó khiến tôi xúc động hơn bất kỳ cuốn sách hay bộ phim nào về tình bạn và sự hy sinh. Tôi đi qua cả một cơn bão cảm xúc: từ phán xét vì đã nghĩ kiến là loài vô cảm, đến ngỡ ngàng trước sức bền của chúng, rồi là ngưỡng mộ kỷ luật, tinh thần dũng cảm, sự hy sinh… và cuối cùng là xấu hổ. Xấu hổ vì con người. Vì chính chúng ta. Vì sự thờ ơ, vì những lần ta bỏ rơi nhau chỉ để mưu cầu lợi ích cá nhân. Vì hiếm hoi lắm mới có ai chịu quay lại để cứu người yếu thế. Chúng ta xây tường ngăn cách thay vì dựng nên những cây cầu sống kết nối. Nếu những sinh vật nhỏ bé như kiến còn có thể đoàn kết và vị tha đến thế, thì tại sao con người - loài bậc cao - lại thường xuyên quay lưng trước nỗi đau của đồng loại?


Và nếu ai đó chưa biết sống sao cho đúng, thì hãy học từ loài kiến.


(Sưu tầm)

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Rác trong nhà bạn

 


NHỮNG ĐỘC TỐ TRONG NGÔI NHÀ BAO GỒM:

 1. Những vật dụng bạn không còn sử dụng.

 2. Quần áo bạn không thích hoặc đã lâu không dùng. Đặc biệt là đồ lót bị hỏng.

 3. Những đồ vật bị hỏng.

 4. Thiệp và thư cũ.

 5. Cây cảnh đã chết hoặc đang bệnh.

 6. Hóa đơn và tạp chí cũ.

 7. Những món đồ gợi nhớ về quá khứ.

 8. Nếu bạn có con, hãy bỏ đi những món đồ chơi không còn sử dụng, hỏng hóc hoặc không hoạt động.

 9. Giày dép hỏng.


KHI BẠN DỌN DẸP CHÚNG ĐI:

 1. Sức khỏe sẽ được cải thiện.

 2. Sự sáng tạo tăng lên.

 3. Các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn.

 4. Năng lực lý trí phát triển hơn.

 5. Tâm trạng được cải thiện.


CÂU HỎI GIÚP BẠN THANH LỌC:

 • Tại sao mình giữ món này?

 • Nó có còn phù hợp với con người hiện tại của mình không?

 • Mình sẽ cảm thấy thế nào nếu buông bỏ nó?


PHÂN LOẠI VÀ XỬ LÝ:

 1. Để quyên góp.

 2. Để vứt bỏ.

 3. Để bán.


SỰ THANH LỌC BÊN TRONG PHẢN CHIẾU RA BÊN NGOÀI:

 1. Tránh âm thanh quá lớn.

 2. Giảm ánh sáng chói.

 3. Tránh màu sắc quá bão hòa.

 4. Tránh mùi hóa chất.

 5. Giảm bớt những ký ức buồn.

 6. Hoàn thành những dự án dang dở.

 7. Nuôi dưỡng nguồn năng lượng tích cực trong ngôi nhà của bạn.


Hãy thực hiện việc dọn dẹp tổng thể, sử dụng hộp để phân loại.

Bắt đầu với ngăn kéo, tủ và hoàn thành từng khu vực một, hãy làm theo nhịp độ của bạn…


a) Rác.

b) Những món cần sửa.

c) Tái chế.

d) Phân vân.

e) Quà tặng.

f) Đem cho.

g) Đem bán.


Khi bạn dọn dẹp, hãy để ý xem điều gì đang thay đổi trong chính mình.

Khi chúng ta làm sạch ngôi nhà vật chất, chúng ta cũng đang sắp xếp lại tâm trí và trái tim mình.

Hãy tập buông bỏ những vật chất chỉ đang chiếm chỗ trong cuộc sống bạn – và rồi bạn sẽ dần học được cách buông bỏ cả những điều lớn lao hơn.


Chúc bạn luôn được bình an và may mắn.


Nguồn Recession

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS