Container Icon

SỰ TỒN TẠI CỦA THẾ GIỚI BÊN KIA

 


KHOA HỌC CHỨNG MINH SỰ TỒN TẠI CỦA THẾ GIỚI BÊN KIA: ‘ĐO ĐỘ SÁNG’ LINH HỒN

Không chỉ dừng lại bằng việc sử dụng các nhà ngoại cảm và các thí nghiệm được thiết kế chặt chẽ nhằm chứng minh sự tồn tại của linh hồn người đã mất, các nhà khoa học Mỹ còn sử dụng những thiết bị và công nghệ tiên tiến nhất để chứng minh sự tồn tại một cách rõ ràng của linh hồn.

Nếu trong phần 1 của loạt bài này, Giáo sư Gary E. Schwartz hợp tác với một người có những giấc mơ tiên tri trong một thí nghiệm được thiết kế một cách khoa học để chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa, thì trong phần 2 , ông lại hợp tác với các nhà ngoại cảm trong các thí nghiệm được thiết kế nghiêm ngặt để chứng minh sự tồn tại của linh hồn con người sau khi họ chết.

1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-1.jpg
Gary E. Schwartz và cuốn sách Các thí nghiệm về Thiên Chúa

Tuy vậy, các thí nghiệm của phần 1 và phần 2 cùng tồn tại một vấn đề, đó là những thông tin đến từ thế giới bên kia - thành phần quan trọng của các thí nghiệm - chỉ được gửi đến một vài cá nhân cụ thể, chứ nó không tác động đến các công cụ hoặc thiết bị thí nghiệm như các thí nghiệm khoa học vẫn thường diễn ra. Nguyên nhân của việc này là tại thời điểm đó, trình độ khoa học và công nghệ chưa cho phép Gary có thể sử dụng các máy móc để thực hiện thí nghiệm, cho đến gần đây….

1. Thí nghiệm chứng minh linh hồn tồn tại bằng thiết bị nhân quang điện (photomultiplier)

Năm 2010, Gary E. Schwartz có một báo cáo khoa học được bình duyệt, đăng trên tạp chí Explore có tên “Ứng dụng Công nghệ Nhân quang điện bán dẫn để phát hiện sự tồn tại của Linh hồn và Ý định: 3 thí nghiệm chứng minh khái niệm (Possible Application of Silicon Photomultiplier Technology to Detect the Presence of Spirit and Intention: Three Proof-of-Concept Experiments”).

Gary sử dụng thiết bị nhân quang điện bán dẫn (photomultiplier) vốn là một cảm biến quang điện cực nhạy có khả năng phát hiện và đếm từng photon ánh sáng, cảm biến thành dòng điện và nhân lên ở mức hàng trăm triệu lần. Ông đặt các cảm biến quang điện này vào trong 2 hoặc 3 lớp hộp kín, đảm bảo độ tối của môi trường và thỉnh cầu các linh hồn mà ông đã biết (ở phần 2 của loạt bài này) tác động đến cảm biến trong hộp kín. Sau đó ông đếm số photon mà cảm biến phát hiện được trong giai đoạn (ông mời) linh hồn tác động vào cảm biến và so sánh với số photon cảm biến phát hiện được trước khi (mời) linh hồn tác động vào cảm biến (baseline trial) hoặc trường hợp bản nhân Gary tự suy nghĩ tác động vào cảm biến (control trial). Kết quả lặp lại nhiều lần các thí nghiệm có độ dài 300 giây (5 phút) cho thấy số photon trung bình đo được khi Gary mời các linh hồn tác động vào cảm biến cao hơn ít nhất 1,5 lần so với số photon trung bình đo được của trường hợp còn lại.

1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-3.jpg
Số lượng trung bình tổng số các photon được cảm biến phát hiện khi có tác động của linh hồn vào cảm biến (các cột bên trái), người thí nghiệm suy nghĩ tác động vào cảm biến (cột giữa) và không có tác động vào cảm biến, so sánh với trường hợp trước khi có thí nghiệm (các cột bên phải). Thí nghiệm được thực hiện trong mỗi 300 giây (nguồn: Gary E. Schwartz, Việt hoá bởi TTVN)
1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-4.jpg
Số lượng trung bình tổng số các photon được cảm biến phát hiện khi có tác động của linh hồn Sophia và linh hồn Harry (các cột trái), so sánh với trường hợp trước khi có thí nghiệm (các cột bên phải). Thí nghiệm được thực hiện trong mỗi 300 giây (nguồn: Gary E. Schwartz, Việt hoá bởi TTVN)

Gary còn thực hiện một thí nghiệm táo bạo, đó là xác định khả năng linh hồn có thể trả lời câu hỏi nhị phân Đúng hoặc Sai (Yes or No) hay không? Ông đặt một màn hình máy tính lớn hiển thị các câu hỏi để linh hồn có thể trả lời Đúng hoặc Sai qua việc tác động vào cảm biến quang điện trong các lớp hộp kín và đếm số photon cảm biến phát hiện được trong mỗi 300 giây.

Kết quả phân tích 10 lần lặp lại thí nghiệm cho thấy, ngay trong 150/300 giây đầu tiên khi linh hồn trả lời là Đúng (Yes), lượng photon thiết bị cảm biến phát hiện và đếm được cao hơn 2,5 lần đối với trường hợp trước khi đặt câu hỏi (baseline trial) hoặc linh hồn trả lời câu hỏi là Sai (No). Thí nghiệm này cho thấy manh mối về việc thiết lập một kênh thông tin liên lạc theo kiểu nhị phân, giống như mã Morse (mã Moóc) giữa con người và các linh hồn.

1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-5.jpg
Số lượng trung bình tổng số các photon được cảm biến phát hiện trong mỗi 150 giây của thí nghiệm 300 giây khi linh hồn của Harry trả lời các câu hỏi hiện trên màn hình máy tính, trả lời đúng (các cột trái), trước khi trả lời (các cột phải), so sánh với trường hợp trước khi linh hồn trả lời (baseline trial - các cột bên phải) (nguồn: Gary E. Schwartz, Việt hoá bởi TTVN)

2. Thí nghiệm xác định sự xuất hiện của linh hồn bằng phép đo quang điện tử tự động

Trong thí nghiệm trên, Gary vẫn cần phải sử dụng người để thu thập dữ liệu từ các cảm biến. Điều này dẫn đến nghi ngờ rằng người làm thí nghiệm có thể tác động gây ảnh hưởng đến tính trung thực và minh bạch của số liệu thí nghiệm.

Để loại bỏ điều này, năm 2011, Gary đã thiết kế một thí nghiệm mới , trong đó toàn bộ quá trình thu thập dữ liệu được thực hiện tự động mà không cần đến các thí nghiệm viên.

Thí nghiệm “Phép đo quang điện tử xác định sự xuất hiện rõ ràng của linh hồn sử dụng hệ thống máy tính tự động ( Photonic measurement of apparent presence of spirit using computer automated system )” được bình duyệt và đăng trên tạp chí Explore như sau:

Gary sử dụng loại camera có độ nhạy cực cao gồm cảm biến hình ảnh VersArray XP NTE3 CCD-77-B của hãng Princeton Instruments , quan sát một buồng tối ở nhiệt độ -77oC. Quá trình thí nghiệm được điều khiển tự động bằng máy tính thông qua phần mềm RoboTask đặt tại buồng điều khiển, sát buồng tối ghi hình. Buồng điều khiển camera có 2 màn hình, màn hình thứ nhất 19 inch dùng để hiển thị hình ảnh camera trên phần mềm hiển thị hình ảnh camera chuyên dụng WinView32 , màn hình thứ hai 32 inch dùng để hiển thị một file trình chiếu (powerpoint file) hiển thị các câu hướng dẫn các linh hồn cần làm gì trong thí nghiệm, đồng thời phòng này cũng có 1 chiếc loa để phát các file audio có lời hướng dẫn đối với linh hồn. Có 2 linh hồn được mời tham dự thí nghiệm, bao gồm Susy Smith và Angel Sophia, thứ tự của các linh hồn trong thí nghiệm được lựa chọn ngẫu nhiên bởi máy tính.

1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-6.jpg
Thiết kế thí nghiệm (nguồn: Gary E. Schwartz)
1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-7.jpg
Một hệ thống camera độ nhạy cực cao VersArray của Princeton Instrument (nguồn:Princeton Instrument)

Thí nghiệm cho thấy, vào thời điểm các linh hồn được mời vào buồng tối và phát sáng, ánh sáng thu được từ camera sáng hơn so với trường hợp trước và sau khi linh hồn được mời vào buồng tối (pre-baseline trial và post-baseline trial), hoặc trường hợp linh hồn không được mời vào buồng tối (control trial).

1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-8.jpg
Ảnh thu được từ camera cho thấy khi các linh hồn được mời để phát sáng, buồng tối sáng hơn lên so với trước và sau khi linh hồn được mời và khi linh hồn không được mời (nguồn: Gary E. Schwartz, Việt hoá bởi TTVN)

Để định lượng một cách chính xác độ sáng của các điểm ảnh, file ảnh thô thu được từ phần mềm Winview (độ phân giải 512×512 điểm ảnh) được sử dụng để phân tích chuỗi Fourier nhanh (FFT - Fast Fourier Transformation) bằng phần mềm ImageJ . Kết quả phân tích FFT cho thấy trong trường hợp có linh hồn được mời phát sáng trong buồng tối, độ sáng trung bình của các điểm ảnh cao hơn nhiều so với trước và sau khi hồn được mời vào buồng tối (pre-baseline trial và post-baseline trial).

1437-khoa-hoc-chung-minh-su-ton-tai-cua-the-gioi-ben-kia-do-do-sang-linh-hon-9.jpg
Kết quả phân tích FFT cho thấy độ sáng trung bình của các điểm ảnh thu được từ camera khi các linh hồn được mời để phát sáng cao hơn thời điểm trước và sau khi linh hồn được mời để phát sáng (nguồn: Gary E. Schwartz, Việt hoá bởi TTVN)

Hai thí nghiệm bằng các cảm biến ánh sáng nêu trên là bước đầu cho việc ứng dụng các thiết bị thí nghiệm hiện đại của Gary E. Schwartz nhằm chứng minh sự tồn tại hiện hữu của linh hồn. Nó giúp chúng ta có niềm tin rằng, nếu các nhà khoa học có thể cởi mở, thoát khỏi lối tư duy và quan niệm truyền thống, đặt câu hỏi và giải quyết một cách nghiêm túc những câu hỏi về lĩnh vực bí ẩn này thì xung đột giữa khoa học và tâm linh sẽ không còn nữa.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

NÔ LỆ TRONG MỘT MA TRẬN

 


BẠN CÓ TIN MÌNH ĐANG LÀ NÔ LỆ TRONG MỘT MA TRẬN ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ THỐNG TRỊ BẠN?

Ok mình đã nắm được thực tại bắt đầu từ ý thức, ý thức chính là năng lượng và cũng chính là vật chất. Những sinh mệnh gần nguồn ( thượng đế) có năng lượng rung động cao hơn, ngược lại những sinh mệnh xa nguồn sẽ rung động thấp hơn và quên đi mất kết nối với nguồn. Những sinh mệnh rung động thấp, tiêu cực hay quỷ dữ này không có năng lượng sống từ nguồn nên để tổn tại, chúng cần phải lấy năng lượng từ những sinh mệnh khác, nhất là những sinh mệnh phát ra năng lượng tiêu cực.

Quỷ dữ không thể hấp thu được năng lượng tích cực, vì khi đó chúng sẽ trở thành tích cực và trở lại với nguồn, nhưng chúng lựa chọn không trở lại nguồn vì chúng muốn thống trị tất cả; thống trị, điều khiển và hấp thu sinh mệnh khác chính là đặc trưng của dạng năng lượng tiêu cực này. Hãy nhớ rằng ánh sáng thì phóng ra còn lỗ đen thì hút vào, yêu thương phóng ra vô điều kiện còn thống trị thì muốn hút lấy tất cả.

Vì vậy, quỷ dữ cần phải có sinh mệnh khác phát ra năng lượng tiêu cực để chúng hấp thụ. Với con người thì đó chính là sự sợ hãi, nóng giận, tham lam, gian trá, thống trị, đau đớn, buồn phiền,.. hay những thứ làm người ta sup sụp, trầm cảm.

Hãy thử ngẫm lại và đặt câu hỏi sau:

Tại sao gần như tất cả thông tin mình đọc hàng ngày là tiêu cực? Đợt dịch Corona hiện tại có làm bạn và gia đình hoảng sợ hay k?

Tại sao gần như tất cả mọi người đều lo lắng về chuyện tiền bạc, sức khỏe, sự nghiệp hoặc tình duyên?

Tại sao con người luôn sống về quá khứ (hoài niệm) hoặc lo lắng về tương lai?

Tại sao trên thế giới không ngày nào là không có thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, thảm họa?

Tại sao gần như tất cả các nước trên thế giới đều có tầng lớp thống trị (Elite) kiểm soát tất cả đời sống của mọi người? Bảo bạn phải làm thế này thế kia, nghĩ như thế này thế kia còn không phải chịu hậu quả?

Tại sao về mặt vật chất con người ngày càng nhiều hơn nhưng mọi người lại càng đau khổ hơn so với ngày xưa?

… Còn nhiều vấn đề cũng tương tự bạn có thể đã tự đặt câu hỏi trong cuộc đời.

Bạn hãy mở rộng cái đầu ra và quan sát, ai hưởng lợi từ những việc này, tại sao con người sống trong một hệ thống được thiết kế vô cùng tinh vi và đặc biệt để làm cho con người luôn khổ sở và tiêu cực như vậy? Hệ thống này thiết kế như thế nào và điều khiển con người qua cách gì? Bạn nghĩ quỷ dữ sẽ thống trị con người bằng cách xâm lăng trực tiếp như trong phim ảnh hay kinh thánh, hay là nó đang thống trị ngay trong bạn?

Mình không thể trả lời hết trong bài viết này, nhưng hôm nay mình sẽ giải thích vấn đề quan trọng nhất để một sinh mệnh có thể kiểm soát được bạn, hay toàn bộ loài người.

Đó chính là “Ý NGHĨ”.

Từ thuở xa xưa, kinh thánh đã ghi: Con tin rồi con sẽ được.

Ngày nay, các khóa học làm giàu đều nói rằng: Để giàu có, bạn cần tin rằng mình là người giàu, vì vậy bạn mới có thể giàu được.

Tại sao lại như vậy?

Không giống như khoa học cho rằng suy nghĩ và tâm trí là do các phản ứng hóa học trong bộ não con người, như một cái máy tính và không có gì là đặc biệt. Các bạn cần hiểu rằng, suy nghĩ là năng lượng, là sóng lan truyền trong không gian. Tri thức và suy nghĩ của toàn bộ nhân loại được rung động lan truyền trên khắp không gian vũ trụ chứ không nằm trong bộ não của người nào.

Bộ não con người không phải là công cụ để tạo ra ý nghĩ mà chỉ là công cụ thể thu nhận thông tin, ý nghĩ, hình ảnh từ nguồn, bộ não chỉ có khả năng phân tích dựa vào thông tin nó đang có chứ không có khả năng sáng tạo ra ý tưởng hay ý nghĩ. Vì vậy, lông và tóc của con người có nhiệm vụ thu phát thông tin như ăng ten chứ không phải chỉ để làm đẹp. Hãy ngẫm lại xem tại sao phụ nữ thường rất dễ phát hiện đàn ông nói dối hay có linh cảm rất tốt, đo xem tóc ai dài hơn. Hay tại sao có những người có khả năng thần giao cách cảm được, khả năng thu phát sóng của họ quá tốt. Nếu bạn vẫn không tin có thể google hiện tượng đàn khỉ biết rửa khoai như thế nào.

Vì ý nghĩ của con người là năng lượng, nên nó cũng tuân theo định luật của vũ trụ, bao gồm:

Luật hấp dẫn: những năng lượng cùng dải tần số thì sẽ thu hút nhau, suy nghĩ tích cực sẽ thu hút những người tích cực hoặc hoàn cảnh sống tích cực và ngược lại. Người xưa gọi là ngưu tầm ngưu mã tầm mã.

Luật nhân quả: Mọi sự vật trên thế gian đều bắt đầu từ một ý nghĩ hay hình ảnh. Từ ý nghĩ hay hình ảnh này được tăng thêm sức mạnh nhiều lần ( suy nghĩ về nó nhiều hoặc ghi ra giấy, nói ra) sẽ trở thành hiện thực. Với những chiều không gian rung động nhanh thì chỉ cần nghĩ đến thứ gì là có thể tạo ra thứ đó ngay lập tức, những câu chuyện phép lạ trong truyện cổ xưa không phải họ bịa ra mà là sự thật. Còn với trái đất, nó rung động với tần số chậm hơn nên cần thời gian để xuất hiện, có thể vài năm hoặc nửa đời người tùy theo năng lượng bạn tạo ra cho ý nghĩ đó.

Điều này có nghĩa là gì? Nếu bạn nghĩ và tin rằng mình giàu có bạn sẽ giàu có. Khi giàu có bạn lại càng thu hút những người giàu có và bạn lại càng giàu có.

Nhưng, khi bạn không có tiền mà bạn nghĩ rằng mình thiếu tiền sẽ làm bạn thu hút sự thiếu tiền, từ đó bạn càng thiếu thốn và thu hút những thứ gây thiếu tiền và những người thiếu tiền. Cuộc sống của bạn càng đi xuống.

Ví dụ như vậy, điều này cũng đúng với những người cần tìm tình yêu, hoặc những vấn đề khác.

Nhớ rằng, càng nghĩ nhiều về một thứ sẽ tạo năng lượng cho nó, và nó sẽ trở thành sự thật. Tất cả những gì xảy ra cho bạn, đều là do bạn tạo ra.

Đây cũng chính là cách quỷ dữ lừa bạn, chúng lừa bạn để bạn suy nghĩ tiêu cực, bạn không có niềm tin vào bất kì điều gì, và những thứ bạn lo sợ trở thành sự thật. Vòng luẩn quẩn này làm bạn không thoát ra được và phải tái sinh hàng trăm, hàng nghìn lần trên trái đất này.

Chúng lừa như thế nào, mình sẽ giải thích hệ thống quỷ dữ thống trị thế giới qua bài tiếp theo. Có chỗ nào cần giải thích thêm thì comment nhé các bro.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

THẦN GIAO CÁCH CẢM

 


Các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm giúp chúng ta hiểu thêm về khả năng "thần giao cách cảm" của con người....

Thần giao cách cảm là khả năng thần kì của con người mang nhiều màu sắc bí ẩn và ma quái. Rất nhiều người cho rằng, đây chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng nhưng có một thí nghiệm đã chứng minh được "thần giao cách cảm" là khả năng tiềm tàng trong mỗi chúng ta.

Ganzfeld - thí nghiệm lạ lùng

Ganzfeld là thí nghiệm ban đầu được đưa vào các nghiên cứu tâm lý của các nhà khoa học người Đức - Wolfgang Metzger. Trong thập niên 1970, Charles Honorton đã nhân rộng mô hình thí nghiệm này ra ở Trung tâm Y tế Maimonides và từ đây ông đưa ra được các bằng chứng về khả năng ngoại cảm của con người.

Trong thí nghiệm Ganzfeld điển hình, một người được đưa vào trong căn phòng riêng. Ở đó, anh ta được yêu cầu nằm trên một chiếc giường và thư giãn. Đôi mắt của người tham gia sẽ bị bịt lại bằng hai quả bóng bàn. Ánh đèn màu đỏ sẽ bao trùm cả căn phòng, cùng với đó là những âm thanh "rè rè", tiếng ồn hoặc đoạn nhạc to.

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-1.jpg

Người tham gia thí nghiệm ở một trạng thái tê liệt hoàn toàn các giác quan.

Người tham gia thí nghiệm sẽ trải nghiệm trạng thái này trong khoảng nửa giờ. Trong thời gian này, một người khác ở phòng bên cạnh sẽ xem bức tranh hay ghi nhớ một thông điệp. Sau đó, người này sẽ cố gắng dùng ý nghĩ để gửi thông tin đến người đang bị tê liệt các giác quan trong phòng bên cạnh.

Người được gửi thông điệp sau đó sẽ mô tả lại những gì mà anh ta cảm thấy được. Kết quả là, 25% các cuộc thử nghiệm đã chỉ ra, người tham gia thí nghiệm đã trả lời đúng về thông tin họ nhận được trong điều kiện các giác quan cơ bản gần như bị tê liệt.

Một người khác sẽ cố gắng dùng ý nghĩ để truyền thông tin cho người kia.

Từ năm 1974 - 1982, 42 thí nghiệm Ganzfeld đã được thực hiện. Năm 1982, Charles Honorton đã báo cáo tại một hội nghị của Hiệp hội Tâm lý về những bằng chứng để chứng minh sự tồn tại khả năng ngoại cảm của con người.

Các bằng chứng đã thuyết phục phần đông người tham dự, tuy nhiên vẫn còn nhiều nhà khoa học uy tín như Ray Hyman chưa thực đồng tình với kết quả này. Hyman cho rằng, kết quả của những thí nghiệm này chưa đủ để đưa ra một kết luận.

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-3.jpg

Tới năm 1990, Honotorn tiếp tục đưa ra 11 thử nghiệm Ganzfeld theo đúng tiêu chuẩn một nghiên cứu tâm lý học và xác suất trả lời đúng đã tăng lên tới 27%. Tiếp theo đó, nhiều nhà tâm lý học cũng tham gia nghiên cứu thử nghiệm Ganzfeld và thu được nhiều kết quả đáng kinh ngạc.

Xác suất trả lời đúng ngày càng tăng.

Tới năm 2010, Lance Storm, Patrizio Tressoldi , và Lorenzo Di Risio đã phân tích 29 nghiên cứu Ganzfeld từ năm 1997 - 2008. Sau đó, họ tiếp tục thử nghiệm trên một số lượng đông đảo người tình nguyện, kết quả là khoảng 32,2% số người tham gia có khả năng thần giao cách cảm khi rơi vào trạng thái tê liệt các giác quan.

Liệu chứng minh thần giao cách cảm là có thật?

Thí nghiệm Ganzfeld đã chứng minh khả năng thần giao cách cảm của con người là có tồn tại ở một mức độ nhất định. Đây chính là khả năng của con người khi không sử dụng các giác quan bình thường nhưng lại có thể cảm nhận mọi thứ xung quanh bằng giác quan thứ sáu.

Nhờ giác quan thứ sáu, người ta cho rằng các nhà ngoại cảm sẽ có các khả năng như nói chuyện với... người chết, theo dõi người khác ở rất xa, tiên đoán chính xác tương lai hay quá khứ của một người bất kỳ (?!).

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-5.jpg

Thần giao cách cảm là có thật?

Các nhà khoa học lý giải, khi rơi vào trại thái tê liệt tất cả các giác quan, con người sẽ vô cùng căng thẳng. Từ đây, các hormone adrenaline và noradrenalline được tiết ra làm tăng nhịp tim và lượng đường huyết. Điều này khiến cho tinh thần người tham gia thí nghiệm khủng hoảng nặng nề nhưng bù lại họ có thể nhận được các tín hiệu thần kinh siêu nhỏ từ người khác.

Tín hiệu thần kinh đó là điện từ sinh học. Theo đó, mọi ý nghĩ đều có cơ sở vật chất, đó là các hoạt động điện hóa tại tế bào thần kinh trong não. Theo định luật cảm ứng điện từ, các xung điện hóa đó sẽ tạo ra sóng điện từ trong và xung quanh não.

1370-khoa-hoc-chung-minh-duoc-than-giao-cach-cam-co-that-6.jpg

Các tín hiệu điện từ sinh học đó có thể tách khỏi nhiễu và lan truyền tương tự sóng phát thanh. Thế nên, một số người với bộ não đặc biệt có thể đo và giải mã được các tín hiệu rất nhỏ yếu đó.

Tuy nhiên, vẫn có nhiều nhà khoa học chưa đồng tình với thí nghiệm Ganzfeld chứng minh con người có khả năng thần giao cách cảm. Nhiều nhà tâm lý còn thẳng thắn bác bỏ kết quả đó khi cho rằng thử nghiệm chưa được thiết kế chặt chẽ để loại trừ tất cả các ám hiệu ngầm giữa hai người tham gia nghiên cứu.

Ngoài ra, thống kê cho thấy chúng ta khi không biết trước việc gì thường hay nghĩ tới chủ đề nước và tình dục nhưng trong thử nghiệm này các bức tranh lại liên quan rất nhiều đến nước và tình dục nên việc trả lời đúng có thể là một sự dàn xếp của những nhà nghiên cứu.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ý THỨC CÁ NHÂN TƯƠNG TÁC VỚI CÁC Ý THỨC KHÁC TRONG VŨ TRỤ

 


Tôi đã rất vinh dự vì có cuộc trò chuyện với Larry Dossey với chủ đề xoay quanh cuốn sách mới của ông là “One Mind” , ông là một trong những người sáng lập phong trào y học toàn diện.

Tiến sĩ (TS) Lipman: Thưa ông, ông có thể cho biết nội dung chính của cuốn sách là gì không?

TS Larry Dossey: Tôi viết về bản chất của ý thức con người. Tôi muốn chỉ ra rằng ý thức của con người không chỉ giới hạn trong bộ não hay cơ thể như chúng ta vẫn được giảng dạy, mà thực chất nó vươn xa đến vô tận bên ngoài cơ thể con người.

Ý thức của chúng ta không có biên giới, không có giới hạn, chúng hợp nhất với tất cả các ý thức khác và hình thành cái mà tôi gọi là Ý thức Tổng thể hay Một Ý thức.

Ý thức này dường như không bị ảnh hưởng bởi thời gian, nên nó là bất tử. Nó chính là nguồn gốc của trí tuệ và những sáng tạo vĩ đại. Tôi kết luận điều này sau khi đã nghiên cứu rất nhiều nguồn dẫn chứng cùng với vô số các trải nghiệm của nhiều người; những nghiên cứu này được tôi trình bày chi tiết trong cuốn sách.

Như vậy, về cơ bản cuốn sách này viết về phạm vi hay kích thước của ý thức chúng ta - liệu nó nhỏ, vừa, lớn, vô cùng lớn hay thậm chí không có giới hạn?

Về việc tại sao ý thức không tồn tại riêng lẻ mà lại kết nối với nhau trong một ý thức thống nhất?

Cùng với đó là mối quan hệ của chúng ta - bằng cách nào ý thức của một người kết nối với ý thức người khác và với toàn bộ sự sống trên Trái Đất và tại sao điều này là yếu tố cốt yếu cho sự sống của chúng ta?

Tôi muốn nói rằng bạn, người yêu, vợ/chồng, con cái, anh chị em, tổ tiên, hậu duệ, thậm chí cha mẹ của vợ/chồng, vật nuôi của bạn đều là thành phần của một ý thức lớn hơn: Ý thức Tổng thể.

Trong suốt thế kỉ 20, chúng ta tìm cách tách biệt ý thức [khỏi vật chất]. Nay tôi kết nối chúng lại.

Chúng ta được giảng dạy rằng ý thức được phân loại thành tiền ý thức (ký ức), tiềm thức, vô thức và vô thức tập thể. Cuốn sách này nhìn nhận ý thức theo hướng nhìn khác.

Nó chỉ ra rằng ý thức cá nhân của mỗi người là một phần trong một tổng thể ý thức lớn hơn bao gồm tất cả các ý thức - của toàn bộ loài người cũng như các sinh vật và sự vật khác trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

TS Lipman: Tại sao việc nhận thức về Ý thức Tổng thể lại quan trọng?

TS Larry Dossey: Sự nhận biết này là niềm tin lớn nhất cho sự tồn tại vĩnh hằng của chúng ta trên Trái Đất.

Chỉ khi nhận thức được sự kết nối của chúng ta với những thứ khác và với chính Trái Đất ở tầng xúc cảm sâu thẳm nhất, chúng ta mới có đủ can đảm để đưa ra các lựa chọn khó khăn mà sự sống yêu cầu. Vậy nên, cuốn sách này viết về sự tồn tại - về việc bảo vệ Trái Đất và mạng sống của chúng ta.

Alice Walker (nhà văn người Mỹ) có nói: “Chúng ta có thể bảo vệ bất cứ thứ gì chúng ta yêu quý”, tôi nghĩ trong số những thứ ta yêu quý có hành tinh này, bản thân chúng ta, con cái chúng ta và các thế hệ tương lai.

Ngoài ra, Ý thức Tổng thể giúp chúng ta kết nối và hòa hợp với tất cả mọi thứ, từ đó chúng ta xây dựng tình yêu thương với tất cả. Do đó, Ý thức Tổng thể giúp chúng ta đưa thế giới này về đúng bản chất của nó.

Vậy, dựa vào đâu chúng ta biết Ý thức Tổng thể thực sự tồn tại? Các gợi ý về Ý thức Tổng thể đều ở xung quanh chúng ta. Điều này không phải là triết học đơn thuần. Qua thời gian, tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm những hiện tượng mà chỉ có thể giải thích được nếu chúng ta thừa nhận rằng mình có liên hệ với người khác trong tâm thức.

Tình yêu của người mẹ với con là một ví dụ về sự hòa hợp mà ở đó mọi ranh giới và sự xa cách đều được vượt qua. Hay những người từng có tình yêu sâu đậm đều trải nghiệm một điều là: khi hai con người đã hiểu nhau, đồng cảm với nhau thì khái niệm “người khác” không còn nữa.

Gần đây mọi người quan tâm nhiều tới chuyện phả hệ, tìm hiểu nguồn gốc gia đình, đây có thể coi là sự cố gắng khôi phục lại những liên hệ với người xưa, với mọi người xung quanh và là mong mỏi tìm kiếm sự đồng nhất.

Hơn nữa, con người thường trao đổi từ xa với nhau những suy nghĩ, cảm xúc, thậm chí cả cảm giác của cơ thể. Điều này đặc biệt phổ biến giữa những người có quan hệ tình cảm thân thiết.

Một ví dụ điển hình là khi người mẹ “ngay lập tức cảm nhận” được việc đứa con đang bị nguy hiểm dù đang ở rất xa, như thể người mẹ và đứa con có chung tâm trí và ý thức vậy.

Một ví dụ khác: Con người thường có được kiến thức về sự vật theo những cách không thể giải thích được. Nhà phát minh vĩ đại Thomas Edison từng nói: “Tôi chưa bao giờ sáng tạo điều gì cả. Các ý tưởng đến với tôi từ vũ trụ và vạn vật xung quanh, từ đó tôi diễn đạt lại chúng”.

Hay như những người mắc hội chứng bác học (savant) thường bị tổn thương về trí não, họ không thể đọc và không có khả năng học, nhưng họ có những thứ mà chẳng thể nào đạt được thông qua việc học (Stephen Wiltshire là một ví dụ, anh chỉ cần nhìn qua một cảnh vật là có thể vẽ lại chi tiết và chính xác cảnh vật đó).

Khả năng này có được từ đâu? Tôi cho rằng họ có sự kết nối tới một kho tri thức, kho tri thức đó chính là Ý thức Tổng thể.

Con người cũng thường có những giấc mơ rất chi tiết về tương lai, đó là công năng linh cảm, và tôi đã dành trọn một cuốn sách khác để viết về nó.

Trải nghiệm cận tử là một cánh cổng dẫn tới Ý thức Tổng thể. Có mười triệu người Mỹ có trải nghiệm này. Điểm đặc trưng của nó là cảm giác hợp nhất với tất cả mọi thứ, trải nghiệm này mang lại cho người ta một nhận thức sâu sắc đến nỗi cuộc sống của họ đã biến đổi hoàn toàn sau khi bình phục.

Tôi đã bàn luận về trải nghiệm này qua nhiều ví dụ đa dạng, phong phú. Những hiện tượng này sẽ không thể giải thích được bằng hiểu biết hiện tại rằng ý thức của chúng ta bị giới hạn trong bộ não, vốn chỉ tiếp thụ thông tin qua các giác quan vật lý, và ý thức của chúng ta bị tách rời khỏi tất cả các ý thức khác. Vì vậy, để giải thích các hiện tượng trên, đòi hỏi cần có cái nhìn tổng quan hơn về ý thức — đó là cái mà tôi gọi là Ý thức Tổng thể.

Các bằng chứng cho thấy ý thức không bị giới hạn trong bộ não và cơ thể. Và nếu nó không bị giới hạn vào một nơi cụ thể nào đó trong không gian, thì các ý thức đơn lẻ của chúng ta phải liên kết với nhau theo một cách nào đó - một lần nữa, tôi cho rằng chúng liên kết với nhau trong Ý thức Tổng thể.

Lợi ích của nhận thức này vô cùng lớn. Nếu ý thức cá nhân không có giới hạn và hòa vào tất cả các ý thức khác, điều đó có nghĩa chúng ta có thể tiếp cận với tất cả trí tuệ và sự sáng tạo trong đó.

Cùng với đó, vì Ý thức Tổng thể là vô tận không chỉ về không gian mà còn cả về thời gian nên ở một phương diện nào đó thì nó phải là bất tử. Vì vậy quan điểm về Ý thức Tổng thể một cách gián tiếp đảm bảo với chúng ta về sự sống bất tử dù thân xác đã không còn.

TS Lipman: Từ đâu ông có ý tưởng về Ý thức Tổng thể?

You may like

1371-y-thuc-ca-nhan-tuong-tac-voi-cac-y-thuc-khac-trong-vu-tru-4.jpg

TS Larry Dossey: Khái niệm về Ý thức Tổng thể đã có từ rất lâu. Nền triết học của người Ấn Độ cổ xưa 3000 năm trước đã nói tới Ý thức Tổng thể, họ gọi nó là thư viện Akashic (Akashic Records).

Trong khái niệm về sự thống nhất giữa con người và thần thánh của đạo Hindu, nó được gọi là: tat tvam asi, nghĩa là tâm hồn hay ý thức của bạn là một phần của thực tại tối nguyên, trước khi vũ trụ được tạo thành thì một ý thức đơn nhất đã tồn tại và ở nơi sâu thẳm nhất nó đồng nhất với bạn.

Nhiều truyền thuyết dành sự tôn kính cho Ý thức Tổng thể. Theo các cách khác nhau, nó được gọi là satori (ngộ) trong phái Thiền, samadhi (trạng thái tâm thức lìa thân xác) trong Yoga, fana (lìa trần) trong Sufi giáo, và ý thức của Chúa Giê su trong đạo Cơ đốc.

Các thuật ngữ khác gồm có ý thức vũ trụ, sự khai trí, thức tỉnh, giác ngộ và nhiều nữa. Dù với tên gọi nào thì trải nghiệm về Ý thức Tổng thể cũng chứa đựng nhận thức rõ ràng về việc vũ trụ và tất cả những gì có trong vũ trụ là một thể thống nhất, không hề có sự phân cách thực sự giữa vạn vật.

Tất cả được kết nối với phần còn lại trong đó. Sự phân cách chỉ là ảo giác. Như nhà tâm ly học Lawrence LeShan đã viết: “Không có sự ngăn cách giữa các thực thể, cả về không gian lẫn thời gian. Toàn bộ vũ trụ được nhận thức như một thực thể duy nhất”.

Trải nghiệm về Ý thức Tổng thể cho người ta cảm giác rằng họ đã lĩnh hội được Sự thật không thể chối bỏ. (Nguồn: Lawrence LeShan, Landscapes of the Mind. Guilford, CT: Eirini Press; 2012: 91).

Trong kinh Tân Ước có những đoạn ám chỉ về Ý thức Tổng thể. Thánh Paul nói “sự bình yên của Chúa vượt xa mọi sự hiểu biết”. Như nhà thần học Joseph Campbell đã diễn giải: Giê su nói rằng thiên đường nằm ở bên trong tâm hồn.

Vậy ai ở thiên đường? Đó là Chúa. Điều đó có nghĩa, Chúa ở trong mỗi con người - vô cùng tận, không biên giới, bất tử và là một, là duy nhất.

Các nhà tiên nghiệm học (transcendentalist) người Mỹ cũng ủng hộ khái niệm Ý thức Tổng thể - điều này thể hiện qua ý tưởng về linh hồn tối cao (linh hồn bao trùm cả vũ trụ) của Emerson, ở đó linh hồn của tất cả mọi người được kết nối với nhau.

Quan niệm về vô thức tập thể của nhà tâm lý học Thụy Sĩ Carl Jung cũng là một dạng của Ý thức Tổng thể.

Một trong những người sáng lập nên ngành tâm lý của Mỹ, William James cũng đề xuất ý thức tập thể và thống nhất.

Nhiều nhà khoa học xuất chúng ở nhiều lĩnh vực khác nhau cũng tán thành quan điểm về Ý thức Tổng thể. Điều này được thể hiện qua các bài viết trong vật lý hiện đại của Erwin Schrödinger, nhà vật lý học từng đoạt giải Nobel, đã đưa ra các phương trình sóng làm nền tảng trung tâm của vật lý lượng tử.

Nhà vật lý học nổi tiếng David Bohm cũng rất ủng hộ quan điểm về một ý thức bao quát, thống nhất chứa tất cả các ý thức đơn lẻ.

Vì vậy quan niệm về Ý thức Tổng thể đã bắt đầu từ hàng nghìn năm trước, liên tục cho tới ngày nay, và nhận được sự ủng hộ bởi nhiều nhân vật vĩ đại trong khoa học và tâm lý học hiện đại.

TS Lipman: Ông là một bác sĩ. Vậy, công việc chữa bệnh có liên hệ gì tới mối quan tâm về Ý thức Tổng thể của ông không?

TS Larry Dossey: Đương nhiên là có. Thời kì mới bắt đầu công việc của một bác sĩ nội khoa, một vài sự kiện đã xảy ra với tôi và chúng đã thay đổi hoàn toàn quan điểm của tôi về ý thức, gây xáo trộn trong suy nghĩ của tôi.

Tôi vốn là một người luôn tin rằng ý thức và bộ não về cơ bản là một. Nhưng khi tôi bắt đầu có trải nghiệm về các điềm báo cho biết các thông tin về sự kiện tương lai, tôi bắt đầu nghi ngờ những giáo lý trước đây vốn cho rằng những điều như vậy không thể xảy ra.

Những trải nghiệm này không chỉ diễn ra với tôi, mà còn với các bệnh nhân, cũng như các y tá và bác sĩ khác, họ đã chia sẻ những trải nghiệm tương tự như của tôi.

Trong cuối những năm 1980, các tạp chí y học bắt đầu công bố các thử nghiệm đánh giá ảnh hưởng chữa bệnh của những lời cầu nguyện và mong ước từ những người đang ở cách xa tới các bệnh nhân đang ở trong bệnh viện. Thử nghiệm tương tự được thực hiện với các sinh vật khác, cũng như các cơ quan và tế bào sinh học.

Kết quả của các thử nghiệm càng thêm khẳng định rằng ý thức không bị hạn chế trong não bộ. Những suy nghĩ và ước nguyện của con người có thể vươn ra ngoài cơ thể và thay đổi cả “thế giới bên ngoài”.

Một vài đánh giá gọi là phân tích hệ thống hoặc tổng hợp trong lĩnh vực này đã được công bố. Đây là phương pháp tổng hợp kết quả từ nhiều nghiên cứu để đạt được cái nhìn tổng quan về một lĩnh vực cụ thể. Nhiều phân tích như vậy đã được xuất bản trên các tạp chí có bình duyệt. Phần lớn chúng có kết quả cho thấy thực sự có tồn tại ảnh hưởng của ý thức từ khoảng cách xa. Mặc dù vậy, điều này vẫn chưa được đại chúng đón nhận như đáng lẽ nó phải như vậy.

Mặc dù luôn luôn bị phớt lờ bởi những người theo chủ nghĩa hoài nghi, nhưng chúng ta cần nhận ra rằng phạm vi của những thử nghiệm này không chỉ ở loài người mà còn cả động thực vật, vi sinh vật, thậm chí là các phản ứng hóa học.

Tại sao điều này lại quan trọng như vậy? Những người hoài nghi thường cho rằng nếu một người bệnh có biểu hiện tốt hơn nhờ những lời cầu nguyện của người khác ở nơi xa, thì đó đơn thuần là hiệu ứng giả dược- là kết quả của suy nghĩ và những mong đợi tích cực của cá nhân người bệnh.

Nhưng nếu một loài động vật, thực vật, vi sinh vật hay các phản ứng sinh hóa cũng bị tác động, thì không thể xem các ảnh hưởng từ xa là giả dược, vì theo như hiểu biết của chúng ta thì động thưc vật, vi sinh vật và chất hóa học không hề có suy nghĩ tích cực. Chúng không phản ứng với giả dược.

Vậy nên những nghiên cứu với các đối tượng không phải là con người gợi ý rằng các hiệu ứng chữa bệnh qua ý thức trung gian ở khoảng cách xa và các hiện tượng được thực hiện ở khoảng cách xa khác là có thật và chúng ta không hề lừa gạt chính mình.

Chỉ khi nhận thức được sự kết nối của chúng ta với những thứ khác và với chính Trái Đất ở tầng xúc cảm sâu thẳm nhất, chúng ta mới có đủ can đảm để đưa ra các lựa chọn khó khăn mà sự sống yêu cầu.

Những thử nghiệm khác nhau này nhằm chứng minh sự tồn tại của Ý thức Tổng thể. Chúng cho thấy một vài khía cạnh trong ý thức chúng ta hoạt động bên ngoài bộ não và cơ thể con người, không thể bị giới hạn, mà là vô hạn. Và nếu ý thức là vô hạn thì chúng không có biên giới và tất cả các ý thức phải kết nối với nhau.

Một số nghiên cứu gọi là thử nghiệm linh cảm hay thử nghiệm về sự nhận thức được tương lai cho thấy chúng ta có thể có thông tin về các sự kiện trước khi chúng xảy ra.

Tập hợp các bằng chứng lại với nhau, bức tranh về ý thức vô tận đã trở nên rõ ràng hơn, nó chỉ ra rằng ý thức của chúng ta không có hạn định hay giới hạn ở những vị trí cụ thể trong không gian và thời gian.

Và nếu ý thức của chúng ta không bị bó buộc, chúng phải liên kết với nhau bằng cách nào đó để tạo nên một ý thức duy nhất, một thực thể duy nhất: Ý thức Tổng thể.

TS Lipman: Ông có nghĩ điều này nghe có vẻ khá cấp tiến không?

TS Larry Dossey: Trước đây tôi thường nghĩ như vây, nhưng bây giờ thì không. Các quan điểm mới trong khoa học, nghệ thuật, âm nhạc, giáo dục… đều nghe có vẻ cấp tiến khi mới được đề xuất.

Đặc biệt với vấn đề ý thức thì đúng là như thế. Như một nhà khoa học theo chủ nghĩa hoài nghi đã nói về ý thức không giới hạn rằng: “Đây là một trong những điều tôi sẽ không tin, ngay cả khi nó đúng”.

Nhà vật lý học Max Planck, người đặt nền tảng chính của vật lý lượng tử, đã từng vấp phải sự hoài nghi này. Ông nói thế hệ các nhà khoa học đi trước rồi sẽ không còn và sẽ bị thay thế bởi thế hệ trẻ hơn, các cá nhân có tư tưởng cởi mở. Câu nói của Planck được tóm gọn là “khoa học thay đổi từ đám tang này qua đám tang khác”.

Sự thay đổi căn bản ở bất kì lĩnh vực nào gần như luôn luôn gặp những cản trở. Khoa học cũng như vậy. Hình như nhiều nhà bảo thủ, hoài nghi nghĩ rằng các khái niệm của chúng ta hiện nay về ý thức là được ghim vào đá — hay nó đang ghim vào não chúng ta?

Dù vậy, các quan điểm mới về ý thức vẫn không ngừng xuất hiện trong lịch sử. Trong thế kỷ 20, chúng ta thấy rất nhiều các ý tưởng mới về ý thức như là vô thức, tiền ý thức (ký ức), tiềm thức và vô thức tập thể.

Ý thức Tổng thể là một dạng của ý thức tập thể, một khái niệm vốn đã được nhìn nhận ở bước sơ khai bởi nhà tâm lý học vĩ đại Carl Jung, nhà tâm lý học William James và nhiều người khác. Nhưng chúng ta có thứ mà Jung và James không có, đó là rất nhiều những bằng chứng thực nghiệm ủng hộ quan điểm này.

TS Lipman: Vậy nhận thức về Ý thức Tổng thể đã khiến cuộc sống của chính ông thay đổi như nào?

TS Larry Dossey: Nhận thức về Ý thức Tổng thể đã khiến cuộc sống của tôi trở nên yên bình, tĩnh lặng và vui vẻ hơn rất nhiều. Tôi vốn là một người nhút nhát, sống cô độc. Nhận thức về vị trí của tôi trong Ý thức Tổng thể đã giúp tôi vượt qua khuynh hướng thích sống cô lập từ nhỏ.

Tôi cảm thấy tôi đã tìm ra một nơi chân thật hơn trong vũ trụ. Đúng hơn, nó giống như trở về nhà và nhận ra là mình chưa bao giờ đi đâu cả. Nó là cảm giác thuộc về cái gì đó, cảm giác tìm thấy bản thân bạn là một mảnh ghép trong bức tranh vĩ đại của vạn vật.

Nỗi sợ hãi khủng khiếp về cái chết của con người không còn nữa. Điều này quan trọng với một bác sĩ như tôi, bởi vì tôi tin rằng sự sợ hãi về cái chết và sự hủy diệt của xác thân chúng ta đã gây ra nhiều sự đau khổ trong suốt lịch sử loài người hơn tất cả các chứng bệnh thân xác cộng lại.

Ý thức Tổng thể làm giảm bớt sự sợ hãi đó và nỗi đau khổ cũng giảm bớt theo. Tại sao lại như vậy? Ý thức Tổng thể có được sự vĩnh cửu nhờ vào sự vô tận của không gian và thời gian.

Nhận thức về Ý thức Tổng thể đã ảnh hưởng đến cách tôi giao tiếp, quan hệ với mọi người. Tôi trở nên bớt ganh đua, cho đi nhiều hơn, giúp đỡ nhiều hơn, cảm thông nhiều hơn tới khó khăn và vấn đề của người khác, và giao lưu nhiều hơn với mọi người. Mặc dù vậy, tôi vẫn còn có nhiều điều cần phải cải thiện.

Nhận thức Ý thức Tổng thể chỉ cho tôi làm thế nào để có thể tạo ra sự thay đổi. Trong thế giới ngày nay, chúng ta cảm thấy vô cùng áp lực với những thử thách mà mình phải đối mặt. Vậy một cá nhân như tôi có thể làm gì để thay đổi điều này?

Ý thức Tổng thể nâng cao cảm quan của chúng ta về sự đầy đủ và những việc có thể làm, bởi vì cảm quan đó sẽ dẫn chúng ta tới tất cả trí tuệ và sự hiểu biết.

Chúng ta nhận ra rằng chúng ta không cần phải biết và làm tất cả mọi thứ cho cá nhân chúng ta, bởi vì chúng ta là một phần của sự liên kết vĩ đại. Chúng ta không bao giờ, không khi nào đơn độc. Chúng ta thuộc về một nhóm đông vô hạn, chứ không phải là một con sói đơn độc.

Như thế áp lực sẽ giảm bớt đi. Sự khai sáng trong ý thức và tinh thần nảy sinh và có thể cả khiếu hài hước nữa. Và đó chính là sự thay đổi!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS