Container Icon

ẢO ẢNH VÀ VIỆC LUYỆN HƠI THỞ

 


Phép luyện hơi thở có liên quan đến các lực, điều ấy dễ hiểu, nhưng đó chỉ là một phần của chuyện mà không phải tất cả vì đa số người chưa có khả năng nhìn thấu suốt vấn đề. Chúng ta sinh hoạt trong ba cõi thấp của sự sống là cõi trần, cõi trung giới và cõi trí do đó việc luyện tập hơi thở sẽ cho tác động ở cả ba cõi này, và ít người biết ấy là những tác động gì. Hơi thở không phải chỉ nói về sự sống của thân xác, mà còn liên quan đến mặt tâm linh và tinh thần. Phép luyện hơi thở thường đi theo với hứa hẹn là sẽ mang lại kết quả này hay kia; bài dưới đây giải thích vài khía cạnh sâu xa hơn của tập luyện đó.

Phép Luyện Hơi Thở

Hai điểm chính trong phép luyện hơi thở là lực và mục đích. Người ta tập trung tư tưởng vào hơi thở để nhắm tới một mục đích nào đó, và ta biết rằng ‘năng lực theo sau tư tưởng’, như vậy kết quả sẽ tới mà đó là những kết quả gì ?

Nhiều chuyện vớ vẩn đã được nói và dạy về phép luyện hơi thở. Có những chỉ dạy nguy hiểm được đưa ra về cách thở, ta nói nguy hiểm vì nó dựa trên hiểu biết qua sách vở mà chính ai chỉ dạy tự họ chưa thực hành tới nơi tới chốn; và nguy hiểm còn là vì nhiều nơi chỉ lợi dụng ai chưa sẵn sàng để trục lợi. May mắn cho khối đông người muốn học là thông tin và chỉ dẫn đưa ra đều yếu ớt, không chính xác và thường là vô thưởng vô phạt, tuy có nhiều trường hợp cho phản ứng xấu đáng kể; may mắn nữa là mục đích của người ham muốn tập yếu quá, làm họ không thể kiên trì tuân theo hằng ngày không thay đổi các đòi hỏi, và không đạt thành công đáng ngờ theo phép tập luyện ấy. Như thế, trong các trường hợp này không có nguy hiểm chi trong đó.

Mặt khác, nhiều nhóm huyền bí lợi dụng đề tài để tạo nên vẻ huyền hoặc, có khuyến dụ cho ai không nghi ngờ, hay cho ai đi theo họ vài chuyện để làm và nhờ đó được tiếng là huyền bí gia thông thái, giỏi dang. Ai cũng có thể dạy phép luyện hơi thở. Phần lớn đó là chuyện thở ra hít vào đều đặn, chừng mực theo ý của người thầy. Khi kiên tâm nỗ lực thì kết quả sẽ tới và chúng thường là bất hảo, vì người thầy trung bình nhấn mạnh kỹ thuật thở mà không phải là các ý tưởng - theo năng lực mà hơi thở ấy sinh ra - lẽ ra phải thành hình trong đời của chí nguyện.

Trọn khoa học về hơi thở xoay quanh việc dùng thánh ngữ O M. Việc dùng thánh ngữ có dụng ý chỉ giới hạn cho người thành tâm, nồng nhiệt thệ nguyện đi trên đường Đạo; nhưng nó lan ra ngoài và bị nhiều người thầy vô lương tâm lợi dụng, nhất là các tu sĩ từ Ấn Độ xưng mình là đạo sĩ và thu hút các cô các bà tây phương vào vòng trục lợi của họ. Thánh ngữ khi ấy được dùng mà không có ý tinh thần nào, chỉ là âm thanh mà khi đi theo hơi thở, sinh ra hệ quả tâm linh làm ai dễ tin nghĩ đó là dấu hiệu họ đạt tới mức tinh thần sâu xa.

Vấn đề là cách thở ấy có liên quan tới O M không tránh được, nhưng ảnh hưởng sinh ra tùy thuộc vào động lực và chủ ý nhắm đến trong lòng. Người đông phương, trừ phi đạt chứng đạo bậc cao, không có hiểu biết về người tây phương hay về cơ chế hoạt động và các thể của người sau, những điều mà do kết quả của nền văn minh và cách sống, khác biệt sâu rộng với người trước (thí dụ ta được cho hay đường đi của kundalini nơi giống dân thứ năm được sắp xếp khác với giống dân thứ tư).

Ở đông phương, vấn đề cho vị thầy hay Guru là làm người có tính hướng âm - negatively polarized - thành hướng dương. Ở tây phương, giống dân nói chung có tính dương và không cần được luyện như vậy, còn cách ấy lại đúng cho người đông phương. Câu này chính xác muốn nói chi ? Ấy là ở đông phương có tính yếu ý chí. Người đông phương, nhất là người Ấn, thiếu ý chí, ý muốn năng động và khả năng tạo áp lực từ bên trong để tự thúc đẩy, hầu sinh ra kết quả nhất định. Ấy là tại sao nền văn minh Ấn Độ lại rất là không thích ứng được với văn minh đương thời, và ấy là lý do người Ấn có ít tiến bộ về lối sống quốc gia và thị thành có khuôn phép, và là tại sao họ đi sau về việc sống văn minh tân thời. Nói chung, người tây phương hướng dương và cần lực chỉ dẫn của linh hồn và có thể có nó mà cần rất ít chỉ dạy. Ngày nay nơi giống dân thứ năm Aryan, đang có sự hòa hợp giữa ý chí, trí năng và não bộ. Đông phương chưa có việc ấy mà nó sẽ tới về sau.

Yếu tố duy nhất làm cho hơi thở hữu hiệu là tư tưởng, chủ ý và mục đích nằm sau nó. Chúng là manh mối cho các cách luyện tập tư tưởng hữu hiệu tích cực. Trừ phi có thấu đáo rõ ràng về mục đích, trừ phi người học hỏi hiểu họ đang làm gì khi luyện hơi thở theo phép bí truyền, và trừ phi họ hiểu rõ nghĩa chữ ‘năng lực theo sau tư tưởng’, luyện hơi thở chỉ là phí thì giờ và còn gây nguy hiểm. Từ đây ta có thể hiểu là chỉ khi nào có phối hợp giữa cách thở và cách suy nghĩ thì mới có thể có kết quả.

Đằng sau hai yếu tố này là một yếu tố thứ ba còn quan trọng hơn nữa, là Ý CHÍ. Bởi thế, người duy nhất có thể luyện cách thở an toàn và hữu dụng là người có ý chí tích cực, ý chí tinh thần và do đó ý chí của Chân ngã. Bất cứ người chí nguyện nào đang cố gắng phát triển thượng trí, có thể bắt đầu áp dụng với sự cẩn trọng cách luyện hơi thở theo chỉ dẫn. Nhưng nói cho sát thì chỉ bậc đạo đồ ở mức chứng đạo thứ ba, mới có thể sử dụng đúng phép và thành công cách này và đạt kết quả hữu hiệu. Dầu vậy phải có bước đầu tiên và ai thực sự là người chí nguyện được mời có nỗ lực.

Giải thích thêm thì ta thấy rằng khoa học về cách thở liên quan trước tiên và căn bản với ý tưởng được tạo thành hình tư tưởng rõ ràng, và do đó chi phối đời sống của người chí nguyện ở cảnh ether. Từ đây, các ý này sau rốt chi phối cuộc sống của họ ở cõi trần. Khi có lý tưởng chân chính, tư tưởng đúng đắn, cộng thêm với hiểu biết về các thể mà ta sử dụng và thế giới các lực mà ý tưởng tuôn vào, khi ấy học viên có thể an toàn theo cách luyện hơi thở, và giai đoạn hai hay kết quả của việc thở nhịp nhàng đúng đắn sẽ tới. Đó là Hứng Khởi.

Cách luyện hơi thở có hiệu quả thuần sinh lý khi không được thúc đẩy hay có động lực do tư tưởng hướng về, và khi nó không phải là kết quả của việc người tập đạt tới và giữ ở một mức chú ý nào đó. Từ từ, trong khi việc thở ra hít vào được thực hành, phải có việc duy trì sự suy nghĩ tích cực rõ ràng, để hơi thở khi phát ra ngoài có mang tính chất và ảnh hưởng của ý tưởng. Đây là chỗ mà người chí nguyện trung bình thường bị thất bại. Họ hay chú tâm quá mức với việc điều khiển hơi thở và trông mong quá đỗi có kết quả ngoạn mục, làm quên đi mục đích sống động của hơi thở, là làm năng động và thêm tính chất cho sự sống của người, bằng cách phóng tư tưởng ra biểu lộ một ý tưởng xác định.

Khi không có ý nghĩ mang tính lý tưởng này trong lúc tập luyện, kết quả của hơi thở sẽ là số không trên thực tế, hay nếu có kết quả dù là loại nào trong các điều kiện này, chúng không liên can chi với tư tưởng mà sẽ có tính tâm linh hơn là tinh thần. Nếu vậy chúng có thể sinh ra vấn đề tâm linh kéo dài, vì nguồn phát sinh hoạt động là ở cõi trung giới, và năng lực phóng ra đi vào các luân xa bên dưới hoành cách mạc, tức nuôi dưỡng bản chất thấp trong con người, thêm vào và củng cố phần thuộc cõi trung giới của nó, và do vậy tăng cường và làm ảo giác sâu đậm hơn.

Kết quả cũng có thể là sinh lý, làm kích thích thể sinh lực dẫn tới việc thể xác được tăng cường; điều này đôi khi sinh ra hệ quả nghiêm trọng, vì hơi thở được mang tới những luân xa lẽ ra phải ở trong tiến trình được nâng cao hiểu theo nghĩa bí truyền; nó làm gia tăng tiềm năng thể chất, nuôi dưỡng các ham muốn vật chất và làm công việc của người chí nguyện thành khó hơn nhiều, khi họ tìm cách thăng hoa bản chất thấp trong người và trụ hay chú tâm vào sức sống của các luân xa bên trên hoành cách mạc hay trong đầu.

Ảo ảnh và ảo giác vì vậy tăng thêm, và nói về đời sống mà có các phép luyện tập này bị áp dụng sai lầm, con người ở trong tình trạng bất lợi, đứng yên một chỗ. Khi họ thở ra hay hít vào, họ rút lấy hơi thở từ bên trong thể của mình, nuôi dưỡng phần bản tính thấp và tạo nên vòng luẩn quẩn trong người ngày này sang ngày kia, cho đến khi họ hoàn toàn bị ảo ảnh và ảo giác vây kín, những điều mà họ không ngừng tạo nên rồi tái tạo.

Các luân xa bên dưới được tiếp sức đều đặn thành hết sức linh hoạt, và tâm điểm chú ý mà con người từ đó làm việc thấy nằm trong phàm ngã mà không chú tâm vào linh hồn; tâm thức trụ vào việc thở đặc biệt và lòng mong chờ có kết quả lạ thường làm ngăn chặn mọi tư tưởng, ngoại trừ phản ứng thấp hơn của lòng ham muốn; tình cảm được tăng cường và sức mạnh của thể tình cảm được gia tăng lớn lao; rất thường khi những hệ quả sinh lý cũng tiềm tàng, và có thể thấy được như lồng ngực to ra và hoành cách mạc có bắp thịt mạnh hơn.

Điều sau có thể thấy trong trường hợp của diễn viên nhạc kịch opera. Hát là cách biểu lộ vài mặt thấp hơn của hơi thở, và việc thở trong trường hợp của những ca sĩ này sinh ra lồng ngực to, tăng cường cảm tính, dẫn tới việc đời sống bất ổn (thường được xem như là do tính khí), và làm cho việc hát hoàn toàn có bản chất tình cảm.

Còn có một loại hát khác cao hơn và hay hơn, khác biệt ở chỗ trụ tâm thức và theo tiến trình thở lấy năng lực cần thiết để thở từ nguồn cao hơn và rộng hơn bình thường dùng; việc này sinh ra cảm hứng liên hệ đến trọn con người mà không phải chỉ có phản ứng tình cảm đối với đề tài của bài hát và khán giả. Nó sẽ mang lại một kiểu thức và loại hát, cách thở mới, dựa trên cách thở dùng trí mang năng lực và sau đó là hứng khởi từ những nguồn bên ngoài hào quang con người. Thời điểm ấy chưa tới và điều trên khó hiểu vào lúc này, nhưng trong thế kỷ 21 người ta sẽ lấy hứng khởi để hát theo một phương pháp mới, và dùng kỹ thuật mới về cách thở. Các kỹ thuật và luyện tập này sẽ được dậy trong những trường bí giáo sẽ tới.

Ta đừng quên rằng âm thanh thấm nhuần vào mọi hình thể; địa cầu có nốt riêng hay âm thanh riêng của nó; mỗi hạt nguyên tử tí ti cũng có âm thanh riêng của mình; mỗi hình tướng có thể gợi để phát ra nhạc và mỗi người có hợp âm riêng của họ, và tất cả hợp âm đóng góp vào bản hòa tấu vĩ đại mà Thiên đoàn và nhân loại xướng lên và hiện dang vang lên. Mỗi nhóm tinh thần có âm điệu riêng của họ và những nhóm đang hợp tác với Thiên đoàn không ngừng sinh ra nhạc. Giai điệu này và muôn vàn hợp âm cùng các nốt hòa với âm nhạc của chính Thiên đoàn, thành bản hòa tấu đều đặn phong phú hơn. Trải qua nhiều thế kỷ, tất cả những âm thanh này chậm chạp kết hợp với nhau, hòa vào nhau cho tới ngày kia bản hòa tấu mà vị Hành tinh Thượng đế soạn sẽ hoàn tất, và địa cầu khi ấy sẽ có đóng góp đáng kể vào các hợp âm vĩ đại của thái dương hệ; đây lại là một phần khắn khít và thực của âm nhạc trong vũ trụ, hay các vì Hành tinh Thượng đế sẽ hòa ca với nhau. Nó sẽ là kết quả của việc thở đúng cách, của nhịp có sắp xếp và được điều khiển, của tư tưởng đúng, thanh khiết và mối liên hệ đúng đắn giữa tất cả những phần trong ban hợp xướng.

Ảo ảnh - Maya

Maya hay ảo ảnh muốn nói về hoạt động tạo hình của Hành tinh Thượng đế. Ở đây có sự tương ứng giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ là con người. Linh hồn hay Chân nhân trên cõi của nó tạo ba thể trong ba cõi thấp nơi sinh hoạt của con người: thể trí, thể tình cảm và thể xác (gồm thể sinh lực và thân xác) được tạo nên, làm linh hoạt nhờ các năng lực và lực từ những cõi ấy.

Trong giai đoạn đầu, ta có sự đồng hóa của linh hồn với ba thể. Những năng lực và lực làm con người thành như họ là; chúng cho họ tính khí, đặc tính nơi cõi trần; làm họ phản ứng cách này hay kia khi tiếp xúc với các năng lực khác nhau, cho họ khả năng, cá tính, và làm kẻ khác thấy họ theo một cách riêng như lạnh lùng hay thân thiện v.v. Chính đương sự thì tin mình là hình thể đang khoác lấy, với cái sau là phương tiện mà họ tìm cách sử dụng để thể hiện ước muốn và ý tưởng của mình.

Việc đồng hóa trọn vẹn này với hình thể thoảng qua và với hình dạng bên ngoài là maya - ảo ảnh. Điều cần nhớ maya cá nhân là một phần nhỏ của thế giới năng lực và lực, những điều biểu lộ sự sống của Vị Hành tinh Thượng đế; sự biểu lộ này đặt điều kiện cho sự sống mặt bên ngoài của địa cầu, và làm địa cầu có hình dạng như nó là đối với các hành tinh khác.

Sự khác biệt giữa tiểu vũ trụ là con người với đại vũ trụ là Vị Hành tinh Thượng đế, nằm ở sự kiện là Đấng sau không đồng hóa với maya mà Ngài tạo ra; thế giới hữu hình hay maya có mục đích là để sau cùng làm con người trên địa cầu được giải thoát. Ngài hoàn toàn không màng tới maya đó, và sự dửng dưng thiêng liêng ấy dẫn tới nhiều ngộ nhận, tới ảo tưởng là việc nhân cách hóa một thần linh, và niềm tin ở đông phương rằng địa cầu của chúng ta chỉ là trò hí lộng, hay vật không nghĩa lý gì cho thần linh đùa cợt:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường.

Ý cho rằng thần linh chẳng màng gì đến thân phận con người nhỏ nhoi trên mặt đất, đã sinh ra huyễn tưởng rằng ‘ý Trời bất di bất dịch’, rằng Trời ở quá xa con người, không hiện hữu trong mỗi tạo vật, mỗi hạt nguyên tử làm nên tạo vật ấy. Đây là vài ảo tưởng phải được loại trừ mà khi làm vậy, người ta sẽ khám phá rằng hình thể chỉ là maya và có thể được để qua bên, rằng lực có thể được sắp xếp và định hướng, và thế giới tư tưởng, cảm xúc, là những điều nằm ngoài con người thật - là diễn viên đóng nhiều vai mà linh hồn khoác vào người để tác động.

Sau rốt, người chí nguyện biết khi tái sinh, trên hết thẩy, mình là người điều khiển các lực; ta điều khiển chúng từ vị trí là con người thiêng liêng quan sát và với thái độ dứt bỏ - detachment đã tập được. Đây là những điểm ta nghe nói tới nhiều lần, và đối với ta chúng chỉ là lời quen thuộc về huyền bí học; nhưng nếu ta nắm được ý nghĩa trọn vẹn của lòng xả bỏ, bình thản như là người điều khiển đứng quan sát thì sẽ không có diễn giải sai lầm, hành vi uổng phí, không còn nhìn kẻ khác bằng cái nhìn lệch lạc đầy thành kiến, và trên hết mọi chuyện, không còn sử dụng lầm các lực.

Các Chân Sư nhắc qua bao thời đại rằng huyền bí gia làm việc trong thế giới các lực. Tất cả mọi người sống, đi lại và thể hiện mình trong cùng thế giới ấy gồm các năng lực không ngừng chuyển di, tuôn vào, thoát ra, luôn tác động. Dầu vậy, huyền bí gia làm việc ở đó, họ trở thành một tác nhân điều khiển hữu ý; họ tạo nên ở cõi trần điều chi họ muốn có, và điều họ muốn là khuôn mẫu và đồ hình nằm trong tâm thức tinh thần của thợ Trời, hay Kiến trúc sư thiêng liêng vĩ đại.

Tuy nhiên họ không đồng hóa mình với khuôn mẫu hay với lực mà họ sử dụng. Họ đi lại trong thế giới của maya mà đứng ngoài tất cả huyễn tưởng, không bị ảo giác cản trở và không bị lực maya chế ngự. Họ mau lẹ đạt tới tính ‘dửng dưng thiêng liêng’ của Thượng đế tuy ở mức nhỏ bé của họ; thế nên càng ngày họ càng cảm nhận nhiều hơn về Thiên Cơ hiện hữu trong Thiên Trí, và mục tiêu của ý Trời.

Tính ‘dửng dưng thiêng liêng’ đó là nguyên do khi tìm cách mô tả hay định nghĩa Thượng đế nhằm làm ta hiểu về thiên tính, người ta phải dùng cách phủ định và nói rằng Thượng đế không phải là điều này, Thượng đế không phải là điều kia, Thượng đế không phải là cảm xúc hay tình cảm, Thượng đế không phải là hình thể hay chất liệu. Thượng đế chỉ giản dị LÀ - Being. Thượng đế LÀ, ở bên ngoài mọi biểu lộ, thể hiện như là Vị điều khiển năng lực, có trong mọi sắc tướng và tuôn tràn sự sống.

Như thế chuyện hiển nhiên là trong ba hoạt động thiêng liêng là Sáng Tạo, Bảo Tồn và Hủy Diệt, vai trò Hủy Diệt theo ý muốn Thượng đế có tính tốt lành. Khi Ngài rút về không còn chú tâm đến các cõi thì thế giới huyễn ảo của tư tưởng tan rã, cõi tình cảm mộng mị chấm dứt và cõi trần chết đi. Ý chí và hơi thở vì vậy đồng nghĩa với nhau xét về mặt huyền bí, và hiểu biết đó cho ta manh mối cách làm ngưng ảo ảnh.

Kỹ Thuật của lòng Dửng Dưng

Ta biết bên trong thể sinh lực có nhiều luân xa hay huyệt đạo, lớn và nhỏ. Tùy theo sự chú tâm hay hứng khởi mà các luân xa hoạt động mạnh yếu ra sao; hứng khởi cũng cho biết đặc tính của một người và họ đang ở mức nào trên đường tiến hóa. Thể xác linh hoạt và có tiềm năng nhưng càng ngày ta càng nên xem đó chỉ là vật tự động, chịu ảnh hưởng và bị điều khiển bằng các nguồn lực thấp và cao:

- Thể sinh lực và lực của maya; hay hứng khởi phát xuất từ cõi tinh thần.

- Thể tình cảm và lực của ảo giác; hay tình thương hữu ý phát sinh từ linh hồn.

- Thể trí và lực của huyễn tưởng; hay sự tỏ ngộ đến từ nguồn cao hơn sự sống trong ba cõi thấp.

- Linh hồn hay chân nhân, là vận cụ cho chân thần.

Dù vậy, người ta không nên chú tâm vào luân xa hay tìm cách khơi mở chúng, vì động lực đúng đắn, phản ứng vững vàng với khích động từ trên cao và việc nhận biết nguồn của cảm hứng, sẽ tự động và an toàn làm luân xa có hoạt động cần thiết và thích hợp.

Ấy là phương pháp hợp lý để phát triển luân xa; việc diễn ra chậm hơn nên không đưa tới phát triển quá sớm, và cho ra sự khai mở đồng đều; nó cho phép người chí nguyện biết chắc chắn mình đang làm gì; nó đem từng luân xa một tới mức có đáp ứng tinh thần, và rồi thiết lập nhịp điệu trật tự và tuần hoàn cho bản chất thấp đã được làm chủ. Phép luyện hơi thở - về sau có thể là một phần trong việc huấn luyện cho người chí nguyện - là chuyện thật và có thể xẩy ra, nhưng khi ấy nó sẽ tự động có như là kết quả của việc sống có nhịp điệu và việc thường xuyên dùng thánh ngữ O M.

Chẳng hạn trong khi tham thiền người ta xướng thánh ngữ bẩy lần thì nó bằng như sự tập luyện hơi thở; và khi họ có thể gửi năng lực từ đó sinh ra theo tư tưởng có sắp đặt hữu ý tới luân xa này hay kia, họ mang lại thay đổi hay có điều chỉnh bên trong cơ chế sử dụng lực, và khi việc này có thể diễn ra dễ dàng với cái trí trụ vào một điểm, là anh đang trên đường chuyển trọn sự chú ý của mình từ thế giới huyễn tưởng, ảo giác và maya vào thế giới của linh hồn và cõi của Thượng đế.

Dửng dưng nghĩa là sao ? Nó muốn ta đạt được trong thực tại thái độ trung hòa đối với điều không phải ta, nó cho thấy có nhận ra sự khác biệt, nó muốn nói việc từ chối không đồng hóa với bất cứ gì, ngoại trừ thực tại tinh thần mà ta cảm nhận được vào bất cứ lúc nào và nơi nào. Vì vậy, ấy là điều mạnh hơn và trọng yếu hơn nghĩa bình thường của chữ. Người chí nguyện không có bất cứ ‘ràng buộc’ nào với bất cứ hình thể hay cõi nào. Chấm dứt việc đồng hóa đã có từ lâu với mặt hình thể của sự sống thì không dễ, và đó là việc làm lâu dài cùng khó nhọc trước mặt ta, nhưng nó hứa hẹn là sau rốt được thành công nếu có suy tính rõ ràng, mục đích nhiệt thành và cách làm việc được sắp xếp theo khoa học.

Nay ta thấy phép luyện hơi thở không chỉ có nghĩa là vậy mà còn liên quan tới nhiều việc khác. Hơi thở là một phần nhỏ trong đề tài rộng lớn, và cách học hỏi đúng là luôn hướng tầm nhìn lên cao hơn, để thấy sự việc trọn vẹn hơn; nhìn sự việc theo quan điểm tinh thần tới mức có thể được, thay vì chỉ nhắm vào mặt thể chất. Như vậy, chuyện nên làm là đặt phép luyện hơi thở vào đúng chỗ của nó là điều rồi sẽ tới, mà không phải là mục đích cho ta mất thì giờ và năng lực để làm vào lúc này. Luyện tập nó làm ta hướng tầm nhìn xuống dưới vào ba cõi thấp thay vì cách đúng là hướng về linh hồn trên cao.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

DỊCH CÂN KINH VÀ HIỆU QUẢ THẦN KÌ CỦA NÓ

 


Trên con đường tiến hóa tâm linh không thể thiếu sức khỏe, có sức khỏe ta mới đủ trí lực tăng trưởng.

Cách tập này rất đơn giản, chỉ cần kiên trì tập vẩy tay đứng phương pháp là sẽ đạt hiệu quả rất lớn: ăn ngon, ngủ tốt, sức khỏe tăng và đặc biệt là trừ được bệпʜ tật như: suy nhược thần kinh, cao huyết áp, hen xuyễn, các bệпʜ tim mạch, các bệпʜ dạ dày, đường rυột, ƫhậп, gαп, ống mật, trĩ nội … rồi bán thân bất toại, trúng gió méo mồn lệch mắt, … đều biến hết

Nhất là các loại bệпʜ mãn tính của người cao tuổi, kể cả các loại υɴġ Ƭʜư đều có thể phòng và trị được. Với các bệпʜ về mắt, luyện Dịch Cân Kinh có thể chữa khỏi các chứng đau mắt thông thường, đau mắt đỏ và cả đục thủy tinh thể (thông manh)

Tại sao mà kì diệu đến vậy?

Theo y lý cổ truyền Phương Đông, mọi bệпʜ tật đều do мấƫ cân bằng “âm - dương” và trì trệ khí huyết mà ra. Khí huyết của ta vừa các Vệ Sĩ tiêu trừ các yếu tố đọc hại từ ngoài xâm nhập, vừa là Nhà Quản Lý sắp sếp lại nhưng chỗ мất cân bằng.

Y học Phương Đông rất coi trọng vai trò của ý chí, của chủ quan, của nội lực, của chữ “TÂM”. Lo lắng, Bực bội, Không tin tưởng, Độc ác, … đều tác dụng xấu tới sức khỏe. Thanh thản, Hướng thiện, Nhân đức, … vừa mang lại sảng khoái, thăng bằng, mạnh khỏe, vừa dễ cả phòng bệпʜ lẫn chữa bệпʜ. Thuốc thang Đông y chỉ kích thíçh, bổ trợ cho nội lực của chúng ta chống lại bệпʜ tật. Trái lại, ỷ vào hóa dược của “y học hiện đại” (như dựa vào quân đội ngoại quốc làm lính đáпʜ thuê) thường có tác dụng phụ không mong muốn, nguy hại cho sức khỏe và tuổi thọ !

Tâp chung đầy đủ ý chí và tinh thần để kiên trì tập luyện theo ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH là làm cho khí kuyết lưu thông đều khắp cơ thể, vào cả lục phủ ngũ tạng, các hệ mạch lạc thần kinh … nên có tác dụng kỳ diệu vậy đó !

PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP

“VẨY TAY ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH”

Trước tiên nói về tinh thần:

Phải có hào khí: nghĩa là có quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, kiên nhẫn, vững vàng tin tưởng, không nghe lời bàn ra tán vào mà bỏ dở.

Phải lạc quan: không lo sợ vì bệпʜ mà mọi người cho là hiểm nghèo, và tươi tỉnh tin rằng mình sẽ thắng bệпʜ do luyện tập.

TƯ THẾ :

“Trên không, dưới có, lên ba, xuống bảy”

Trên phải không, dưới nên có. Đầu nên lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm dẻo, cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại phía sau, ngón tay xòe như quạt. Khi vẫy, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, ngón chân bấm chặt đất như trên đất trơn. Đây là những quy định cụ thể của các yêu lĩnh khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh’.

Dựa trên yêu cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành trở lên, phải giữ cho được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý tập chung vào tập, xương cổ cần buông lỏng để cho có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhiên (không mím môi), ngực nên buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên, cánh tay buông tự nhiên, giống như hai mái trèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bấm chặt vào mặt đất, giữ cho đùi và bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương mông thẳng như cây gỗ.

Khi vẩy tay cần nhớ “lên không, xuống có”, nghĩa là lấy sức vẩy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán tính, không dùng sức đưa ra phía trước.

“Trên ba, dưới bảy” là phần trên để lỏng chỉ độ 3 phần khí lực, phần dưới lấy gắng sức tới bảy phần thể lực, vấn đề này phải quán triệt đầy đủ thì hiệu quả mới tốt.

Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi chỉ nhẩm đếm lần vẫy tay.

CÁC ĐỘNG TÁC TẬP CỤ THỂ:

a. Hai bàn chân để xích ra bằng khoảng cách của hai vai.

b. Hai tay duỗi thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, khi vẩy ra sau khép tay lại, lòng bàn tay quay về phía sau.

c. Bụng dưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trạng thái bình thường.

d. Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và đùi căng thẳng.

e. Hai mắt chọn một điểm đằng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào ngón chân bám, đùi vế chắc, lỗ đít thót và nhẩm đếm.

f. Dùng sức vẫy tay về phía sau, để hai tay trở hai phía trước theo quán tính, tuyện đối không dùng sức, chân vẫn lấy ân, hậu môn co lên không lòi.

g. Vẩy tay từ 300-400-500-600 dần dần lên đến 1000 cái vẩy tay, ước chừng 30 phút.

h. Phải có quyết tâm tập đều đặn, lần vẩy tay tăng dần lên, không miễn cưỡng vì “dục tốc bất đạt”, nhưng cũng không tùy tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì thế dễ làm мấƫ lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết quả.

Bắt đầu luyện tập cũng không nên dùng hết sức làm tổn thương các ngón chân. Sau buổi luyện tập nên vê vê các ngón chân, tay, mỗi ngón chín lần.

Nôn nóng mong muốn khỏi bệпʜ ngay mà dùng quá sức cũng không đưa lại kết quả mong muốn.

Có quyết tâm, nhưng phải từ từ tiến lên mới đúng cách, sẽ thu được kết quả mỹ mãn.

Nếu tinh thần không tập chung, tư tưởng phân tán, khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên nhẹ, dưới nặng” là sai và hỏng.

Khi vẩy tay tới 600 cái trở lên, thường thường có trung tiện ” đáпʜ rắm”, hắt hơi, hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng … đấy là hiện tượng bình thường, có phản ứng là tốt, là đã có hiệu quả, đừng ngại.

Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường rυột tăng lên, đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với “trên nhẹ, dưới nặng”. Đây là quy luật của sinh lý hợp với vũ trụ “thiên khinh địa trọng”.

bệпʜ gαп:

Do khí huyết, tạng gαп không tốt gây nên khí không thoát, tích lũy, làm cho khó bài tiết. Đương nhiên là bệпʜ nan y ảnh hưởng tới cả mật và tì vị. Luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” có thể giải quyết vấn đề này. Nếu sớm có trung tiện là có kết quả.

bệпʜ mắt:

Luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” có thể khỏi đau mắt đỏ, các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí nó có thể chữa được cả bệпʜ đục thủy tinh thể (thông manh).

Trong nội kinh có nói “mắt nhờ huyết mà nhìn được”, khi khí huyết không dẫn đến bộ phận của mắt thì đương nhiên sinh ra các bệпʜ của mắt. Con mắt là trong hệ thống của thị giác, nhưng cũng là bộ phận của cơ thể.

NHỮNG PHẢN ỨNG

Khi tập “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải bệпʜ, không đáng ngại. Xin liệt kê ra đây 34 phản ứng thông thường (có thể có những phản ứng khác nữa không liệt kê hết được).

1. Đau.

2. Buốt.

3. Lạnh.

4. Đầy hơi

5. Ngứa

6. Tê dại

7. Nóng.

8. Ra mồ hôi.

9. Đau lưng

10. Đầu nặng.

11. Nấc.

12. Nôn mửa,ho.

13. Lông, tóc dựng đứng.

14. Giật gân, giật ƫʜịƫ.

15. Âm nang (bìu dái) to lên.

16. Máy mắt, mí mắt giật.

17. Hơi thở ra nhiều, thở dốc.

18. Trung tiện (đáпʜ rắm).

19. Huyết áp biến đổi.

20. Sắc mặt biến đổi.

21. Chảy мáυ cam.

22. Đau mỏi toàn thân.

23. Ứa nước miếng.

24. Tiểu tiện nhiều.

25. Đại tiện ra мáυ, mủ hoặc phân đen.

26. Có cảm giác như kiến bò, hoặc kiến cắn.

27. Đau xương, có tiếng kêu lục cục.

28. Có cảm giác мáυ chảy dồn dập.

29. Ngón chân nhức nhối như mưng mủ.

30. Cụm trắng ở lưỡi biến đổi.

31. Da cứng và da dầy (chai chân, mụn cóc) dụng đi.

32. Trên đỉnh đầu mọc mụn.

33. Bênh từ trong da ƫʜịƫ tiết ra.

34. Ngứa từng chỗ hay toàn thân.

Các phản ứng trên là do trọc khí trong người bi bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ chất ứ đọng, tức tử bệпʜ tật.

Có phản ứng là có sự xung đột giữa chính khí và tà khí. Ta vẫn tiếp tục tâp vẩy tay sẽ sinh sản ra chất bồi bổ, có nhiều ích lợi cho chính khí. Ta luyện tập đúng phép là làm tăng mức đề kháng, thải cặn bã trong các gân, thần kinh và cả tế bào khác mà мáυ thường không thải nổi. Khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” khí huyết lưu thông mới thải nổi cặn bã ra, nên sinh ra phản ứng. Vậy ta đừng sợ, cứ tiếp tục tập như thường, hết một phản ứng là khỏi một căn bệпʜ, tập luyện dần dần đưa lai kết quả tốt.

BỐN TIÊU CHUẨN

Luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” đạt được bốn tiêu chuẩn như sau:

Nội trung tố: tức là nâng can khi lên, là then chốt, điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết, thanh khí sẽ thông suốt lên tới đỉnh đầu.

Tứ trưởng tố: tức là tứ chi phối hợp với động tác theo đúng nguyên tắc khi tập “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh”.Tứ trưởng tố song song với Nội trung tố sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trọc khí dắn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.

Ngũ tâm phát: nghĩa là 5 trung tâm của huyệt dưới đây họat động mạnh hơn mức bình thường:

* Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu.

* Lão cung: hai huyệt của hai gαп bàn tay.

* Dũng tuyền: hai huyệt của hai gαп bàn chân.

Khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh” 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn thông suốt. Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tời hiệu quả phi thường, nó làm tăng cường thân thể tiêu trừ các bệпʜ nan y mà ta không ngờ.

Lục phủ minh: Lục phủ là rυột non, mật, dạ dày, rυột già, bong bóng, tam tiêu. Minh nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn tiêu hóa và bài tiết được thuận lợi, xúc tiến các cơ năng sinh sản, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể, tức là âm dương cân bằng, cơ thể thịnh vượng.

MỘT SỐ ĐIỂM CẨN CHÚ Ý

Số lần vẩy tay không nên ít: từ 600 lần đến 1.800 lần (30 phút mới là toại nguyện cho đợt điều trị).

bệпʜ nhân nặng, có thể ngồi mà vẫy tay, tuy ngồi nhưng vẫn phải nhớ thót đít và bấm 10 ngón chân

Số buổi tập:

* Buổi sáng thanh tâm -> tập mạnh.

* Buổi chiều trước khi ăn -> tập vừa.

* Buổi tối trước khi ngủ -> tập nhẹ.

Có thể tập nhiều nhất là bao nhiêu ? Ngưỡng cửa của sự chuyển biến bệпʜ là 1.800 lần vẫy tay, có bệпʜ nhân vẫy 3.000 tới 6.000. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon, ngủ tốt, đại tiểu tiện điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ con số ta tập là thích hợp.

Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm, chứ không nên nhanh. Bình thường vẫy 1.800 cái hết 30 phút. Vẫy tay tới lúc nửa trừng thường nhanh hơn lúc ban đầu một chút, đây là lục động của khí. Khi mới vẫy rộng vòng và chậm một chút. Khi đã thuần thì hẹp vòng, người bệпʜ nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều, người bệпʜ nặng thì nên vẫy chậm và hẹp vòng.

Vẫy tay nhanh quá làm cho nhịp tim đập nhanh, mà vẫy chậm quá thì không đạt tới mục đích luyện tập là cần cho mạch мáυ lưu thông

Vẫy tay nên dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ ? Vẫy tay là môn thể dục chữa bệпʜ chứ không phải môn thể thao đặc biệt. Đây là môn thể dục mền dẻo, đặc biệt là không dùng sức. Nhưng nếu vẫy nhẹ quá cũng không tốt bởi vì bắp vai không được lắc mạnh thì lưng và ngực, cũng không được chuyển động nhiều tác dụng sẽ giảm.

Xem thêm link video https://youtu.be/P-rMBEygBBE

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

HIỂU NGŨ THƯỜNG - NỀN TẢNG CHO SỰ TIẾN HÓA

 


Ngũ thường và ngũ hành ảnh hưởng đến ngũ tạng

Cổ nhân thường nói: “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa.” Sức khỏe của con người cũng là như vậy, nhân luân ngũ thường, bản tính và thói quen của con người ảnh hưởng rất lớn đến sự khỏe mạnh của thân thể, và điều này cũng đối ứng với ngũ hành.

Trung y cổ đại cho rằng, trạng thái của một người ở vào thời điểm bình thường chính là khỏe mạnh, thông thuận và sáng suốt. Ngược lại, khi một người tùy tiện làm việc xằng bậy, thì kết quả sẽ là gặp điều hung tai. Một loại thể hiện của “hung tai” chính là bệnh tật, thậm chí là bệnh nan y khó chữa.

Trên thực tế có rất nhiều loại bênh nan y này là do nội tâm của con người gây ra. Trong đó, luân lý đạo đức (ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) là có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết định đến sự tồn vong của con người thông qua “ngũ tạng”.

Một người chỉ cần có tâm chính thì khí tất sẽ chính, khi đã có khí chính thì hình thể tất cũng sẽ chính. Theo lý luận của y học Trung Hoa cổ đại thì con người được cấu thành bởi ba bộ phận, là hình, khí và thần. “Hình” chính là chỉ ngoại hình bên ngoài của con người. “Khí” chính là chỉ các kinh lạc, khí huyết của con người. “Thần” là phương diện tinh thần của con người.

Con người bị bệnh là bao gồm có ba nguyên nhân, đó là nguyên nhân bên trong, bên ngoài và nguyên nhân khác. Nguyên nhân bên ngoài chính là sự ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết như nóng, lạnh, gió, hanh khô… Các nguyên nhân bên trong gồm có vui, buồn, giận, lo âu, suy nghĩ, bi thương, sợ hãi… Nguyên nhân khác (không thuộc nguyên nhân bên trong hay bên ngoài) chính là các yếu tố về ẩm thực và nơi sinh sống.

Trạng thái của một người ở vào thời điểm bình thường chính là khỏe mạnh, thông thuận và sáng suốt. Ngược lại, khi không biết được quy luật tự nhiên, tùy tiện làm việc xằng bậy, thì kết quả sẽ là gặp điều hung tai. Một loại thể hiện của “hung tai” chính là bệnh tật, thậm chí là bệnh nan y khó chữa. Mà trên thực tế có rất nhiều loại bênh nan y này là do nội tâm của con người gây ra. Trong đó, luân lý đạo đức (ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) là có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí quyết định đến sự tồn vong của con người thông qua “ngũ tạng”.

“Nhân” đối ứng với gan (ngũ tạng) và mộc (ngũ hành)

Trong “ngũ thường” đứng đầu là “nhân” (lòng nhân từ, nhân ái). “Nhân” đối ứng với “mộc” trong ngũ hành và “mùa xuân” trong bốn mùa. Mùa xuân là thời điểm cây cối sinh trưởng, vạn vật sinh sôi nảy nở. Nó đối ứng với trạng thái tâm lý của con người là yêu thương, nhân từ. “Nhân từ” ở đây là yêu thương người khác, là từ bi lương thiện, có thể thông cảm với người khác.

Cổ nhân thường nói: “Thượng thiên có đức hiếu sinh”, chữ “sinh” này cũng là có ý nghĩa nhân từ. “Sinh” là sức sống, đối ứng với tạng phủ là lá gan. Gan ở đây cũng không phải chỉ là gan trong tây y thường nói đến, mà là chỉ chức năng và trạng thái của các cơ quan nội tạng trong cơ thể. Tạng phủ, kinh lạc và thất khiếu (hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng) là liên thông với nhau. Gan liên thông với mắt, bởi vậy, gan của một người mà có vấn đề thì biểu hiện ra bên ngoài là ánh mắt có vấn đề và ở phương diện đạo đức thì chính là khuyết thiếu nhân từ.

Nếu một người muốn khỏe mạnh thì nhất định phải tu dưỡng tốt tính cách của mình. Bắt đầu tu dưỡng từ đâu? Chính là bắt đầu từ việc hiếu thảo với cha mẹ. Bởi vì “bách thiện hiếu vi tiên”, trong trăm cái thiện thì chữ hiếu đứng đầu. Con người một khi hiếu thảo với cha mẹ thì hỏa khí sẽ giảm dần, kinh lạc sẽ dễ dàng thông suốt. Khi kinh lạc thông suốt rồi thì bệnh tật sẽ tự động khỏi.

Nhà sinh lý học Elma giảng dạy tại đại học Stanford, Mỹ từng làm một thực nghiệm nổi tiếng. Ông thu thập hơi thở do người tức giận, bi thương, phiền não thở ra rồi dẫn vào một cái chai có đựng một loại nước thông qua ống dẫn. Sau đó, ông phát hiện ra màu sắc của nước ở trong cái chai này có sự thay đổi. Hơi thở của người tức giận làm cho nước chuyển thành màu tím, hơi thở của người bi thương khiến nước chuyển thành màu xám. Về sau, ông đổ nước màu tím này lên một con chuột trắng nhỏ, sau một khoảng thời gian thì con chuột trắng này run rẩy và chết. Thực nghiệm này chứng minh rằng, thời điểm con người tức giận là thời điểm con người đang tạo ra độc tố.

“Nhân từ” dưỡng gan, người nhân từ thì gan huyết thông thuận, khí mạch tốt và đương nhiên sẽ trường thọ. Lão Tử giảng: “Con người khi mới sinh thì mềm mại, mà khi chết thì cứng ngạnh.” Bởi vậy, “nhân từ” là có sức mạnh rất lớn đến sức khỏe và tuổi thọ của một người.

“Lễ” đối ứng với tim (ngũ tạng) và hỏa (ngũ hành)

“Lễ” ứng với hỏa trong ngũ hành, với tim trong ngũ tạng và mùa hạ trong bốn mùa. Trong “Thượng Thư” viết: “Hỏa viết viêm thượng”, ý nói, hỏa được gọi là thiêu đốt hướng lên trên. Nó đại biểu cho tính tích cực, hướng lên trên, sáng tỏ và sự tiến bộ. Lễ ứng với hỏa cho nên lễ cũng có những ý nghĩa tương ứng. Muốn biết một con người, một quốc gia có tiến bộ hay không thì lễ phép là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá. Lễ phép này chính là những phép tắc cơ bản, là trật tự trên dưới và quan hệ ngũ luân.

Trong “Hoàng Đế nội kinh” giảng: “Tâm giả, quân chủ chi quan; chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy” nghĩa là cái tâm là có tác dụng chủ đạo, là chủ thần minh.

Tâm vốn dĩ là có trạng thái rất rộng mở và hướng lên phía trước, đây là trạng thái tự nhiên của nó. Nếu là trạng thái mất tự nhiên thì bệnh trạng chính là thù hận. Thù hận sẽ làm tổn hại trái tim. Vì sao lại nói như vậy? Đó là bởi vì tâm thù hận đều là từ bên trong mà phát ra bên ngoài. Hơn nữa, loại khí này là hướng vào bên trong mà tụ lại. Vì thế đặc biệt dễ gây ra các bệnh như tim mạch vành, hồi hộp, đánh trống ngực…

Một người mà ở vào trạng thái vui vẻ khoái hoạt thì khí mạch của họ cũng liền dễ dàng thông suốt. Điều này có thể phát hiện ra ở trẻ em, chúng suốt ngày đều là vui vẻ thoải mái.

Các nhà y học đã từng làm một cuộc thống kê và phát hiện: Trẻ em dưới ba tuổi, bình quân mỗi ngày cười 170 lần và tâm mạch của chúng hoàn toàn thông suốt, không có bệnh tật. Cổ nhân gọi đó là khí thuần dương. Người trưởng thành bình quân mỗi ngày cười bảy lần và những người có số lần cười càng ít thì thường mắc bệnh nhiều hơn.

“Nghĩa” đối ứng với phổi (ngũ tạng) và kim (ngũ hành)

Một người mà phế khí không đủ thì tức là ở phương diện “nghĩa” của người này có vấn đề. Phế (phổi) thông với mũi, cho nên một khi mũi có vấn đề thì phế cũng là có vấn đề và tương ứng là “nghĩa” của người này cũng là chưa tốt.

Mặt trái của nghĩa chính là quá khích, hành vi quá khích, bất nghĩa. Nghĩa đối ứng với tinh (sự thuần chất, tinh hoa, tinh thần). Trong văn hóa truyền thống cổ đại, tinh là đại biểu cho sự thu liễm, mùa thu. Mùa thu là mùa lá rơi, là thời điểm gió thu thổi, khí của đất trời mùa thu chỉ một vẻ xơ xác. Cho nên mới nói, người có kim khí rất mạnh thì sát khí cũng rất nặng.

Cổ nhân gọi là sát khí, ngày nay có cách nói là “không giúp mà còn bỏ cát vào mắt”, ý chỉ những hành vi làm tổn thương người khác, chọc vào thiếu sót và nỗi đau của người khác. Người có loại tính cách này dễ dàng bị mắc loại bệnh về kim hành, phế kinh. Trong ngũ hành tương sinh tương khắc thì kim khắc mộc (đối ứng với gan). Cho nên, người có tính cách này cũng sẽ làm tổn thương đến gan, hơn nữa tính cách này càng nặng thì gan càng tổn thương nặng nề.

Một người mà kim khí quá cường thịnh, hơn nữa còn phát triển thêm thì đó chính là bầu không khí buồn thảm. Trong “thất tình” của Trung y nói, buồn sẽ làm tổn thương phế. Một người mà quá buồn rầu thì phế của người ấy sẽ bị tổn thương nặng nề. Cho nên, người có kim khí cường thịnh thì nên luyện tập lòng khoan dung, vui vẻ, thường xuyên mỉm cười. Vì khi con người mỉm cười thì khí của thân thể được nới lỏng, các cơ quan nội tạng được giãn ra, khoan khoái khiến thân thể khỏe mạnh.

Bi thương sẽ làm tổn thương phế, vậy cái gì có thể điều trị được bi thương? Con người thường thường bị vây khốn bởi cái tôi, ích kỷ, vì mình. Bời vì bị vây khốn trong ấy mà bị bi thương, buồn khổ. Khi một người hòa nhập với người khác, với tập thể thì họ sẽ chuyển bi thương sang từ bi. Chính là họ sẽ biết quan tâm đến những người khác vô điều kiện.

Có thể nói, hết thảy những lo lắng buồn đau của một người, rốt cuộc cũng đều là vì bản thân. Khi người ta có thể mở rộng hơn tình yêu thương của mình, đồng thời ý thức được bản thân còn có nhiều trách nhiệm khác (cái nghĩa) thì họ sẽ thoát được ra khỏi cái tôi cá nhân ấy. Khi ý nghĩ vừa mở ra, tấm lòng quảng đại hơn thì bản thân và hoàn cảnh sẽ liền có biến hóa, khí biến hóa, ngoại hình của bản thân biến hóa và sức khỏe cũng tốt lên.

“Trí” đối ứng với thận (ngũ tạng) và thủy (ngũ hành)

“Trí” chính là nói đến trí tuệ của một người. Trí đối ứng với ngũ hành là thủy và đối ứng với mùa đông trong tứ mùa. Trí tuệ của một người từ đâu mà có? Một người muốn có trí tuệ thì trước hết phải tu dưỡng đức tính khiêm tốn, tức là có thể tiếp nhận được những ý kiến của người khác. Có thể tiếp nhận ý kiến của người khác thì tức là “kiêm thính tắc minh” (lắng nghe ý kiến của các bên thì mới nhận rõ phải trái). Cho nên, cổ nhân nói thận thông với tai cũng là rất có đạo lý.

Người có thể nghe lời khuyên nhủ của người khác thì lỗ tai của họ thông rồi, thận khí sẽ đầy đủ. Khi thận khí đầy đủ rồi thì họ tự nhiên sẽ có trí tuệ. Cổ nhân đã tổng kết ra đạo lý này chính là có mối liên hệ với khăng khít với đời sống của con người chúng ta.

Ngày nay có nhiều người bị tổn thương thận (đau lưng, mỏi chân, hoa mắt, tinh thần chán nản, chán ăn…), đó là vì sao? Chính là do sự sinh hoạt nam nữ quá độ khiến cho thận bị tổn thương. “Thận chủ cốt sinh tủy, não vi tủy chi hải” (Thận tàng tinh mà tinh lại sinh tuỷ, tuỷ ở trong xương để nuôi dưỡng xương cho nên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ.) Xương cốt khỏe mạnh là một dạng biểu hiện của thận khí đầy đủ. Vì thận là chủ cốt tủy, nên thận khí đầy đủ thì toàn bộ cốt tủy của người này cũng sung mãn. Cốt tủy, tủy bên trong xương sống là liên thông lên não nên người này sẽ thông minh, có trí tuệ.

Ngược lại, nếu một người thường xuyên tiết ra thận khí thì cốt tủy của họ sẽ khô héo. Khi cốt tủy khô héo thì những tinh hoa trong não sẽ chảy ngược vào cốt tủy khiến đại não của người này không được sáng suốt, dẫn đến cơ thể suy bại dần. Cho nên thận khí không đủ là vấn đề căn bản nhất. Những tinh hoa dư thừa trong lục phủ ngũ tạng đều được cất chứa trong thận, thận giống như ngân hàng năng lượng của cơ thể. Nó thu nạp tất cả năng lượng của thân thể để cất trữ và dành khi có nhu cầu, khi có bệnh thì điều động ra dùng.

Ở phương diện tâm tính của một người có quan hệ như thế nào đến thận? Một người mà thận khí thực sự đầy đủ thì biểu hiện bên ngoài của họ là rất khiêm tốn, dễ dàng tiếp thu ý kiến của người khác. Trái lại, thận khí không đủ thì tính tình người này là cáu kỉnh, bất an, tự họ luôn có cảm giác bị áp lực rất lớn đè nặng.

Lo lắng, sợ hãi sẽ làm tổn thương thận khí. Sợ hãi ngày nay cũng có thể được hiểu là một loại cảm giác không an toàn. Áp lực lớn bao gồm rất nhiều loại. Loại áp lực thứ nhất là công việc lớn làm không xong. Loại áp lực thứ hai là người khác đánh giá rất cao về mình nên bản thân luôn sợ hãi không hoàn thành tốt công việc được giao. Loại áp lực thứ ba là làm chuyện xấu, chuyện ác nên luôn sợ người khác phát hiện ra, cả ngày đều bất an. Người bị loại bệnh này chỉ cần tâm tính tốt lên thì thân thể tự nhiên được khôi phục năng lực, căn bản không cần điều trị mà tự khỏi.

“Tín” đối ứng với tỳ (ngũ tạng) và thổ (ngũ hành)

“Tín” ở đây chính là giữ lời hứa, là thành tín. Nó đối ứng với tỳ trong ngũ tạng, thổ trong ngũ hành và trưởng hạ trong tứ mùa (khoảng thời gian giữa mùa hạ và mùa thu). Trong thời gian này, trạng thái của vạn vật chính là đang ở vào lúc thai nghén. Vạn vật thai nghén, hết thảy sự phát triển hướng lên trên hay đi xuống của sự tình đều là dựa vào thành tín của một người.

Con người làm việc cũng vậy mà làm người cũng vậy đều phải giữ chữ tín thì mới tồn tại được. Người mà không có chữ tín thì không thể có chỗ đứng trong xã hội được. Trạng thái của thân thể cũng là như vậy. Một người nếu đặc biệt thành tín, thật thà thì sức mạnh hành động của họ cũng rất cường đại, trong lòng không so đo nên dạ dày, hệ tiêu hóa của họ là vô cùng tốt. Trái lại, người thường so đo nhiều thì lòng dạ, hệ tiêu hóa sẽ không tốt.

Một phương diện biểu hiện của người có tỳ vị không tốt chính là làm việc gì cũng nghĩ tới nghĩ lui, tính toán, làm thế này có tốt không, làm thế kia có tốt không, nếu xảy ra thế này thì sẽ thế nào… Họ không hạ quyết tâm, thường do dự và không dứt khoát. Thực ra đây chính là nội tâm của một người lúc nào cũng không an tâm, không yên ổn.

Ở một phương diện khác, “tín” là nói được làm được, là khả năng hành động. Rất nhiều người khi làm việc thì nghĩ tới nghĩ lui, suy tính quá nhiều, rốt cuộc việc thì không làm được mà còn phát bệnh. Người như vậy muốn hồi phục thì cần phải giảm bớt phiền não, suy nghĩ. Trung y cho rằng, một người chỉ cần khí huyết lưu thông, tứ chi hoạt động thì thân thể sẽ khỏe. Bởi vì tỳ là chủ tứ chi nên khi tứ chi hoạt động thì tỳ vị sẽ khỏe mạnh, tỳ vị khỏe mạnh thì dạ dày và tiêu hóa sẽ khỏi, ăn vào sẽ ngon miệng và ngủ cũng sẽ ngon giấc.

Cho nên có thể thấy, tất cả các loại bệnh của con người đều là có quan hệ mật thiết với nội tâm của người ấy. Một người nếu như điều trị chỉ bằng cách dùng thuốc thì nhiều khi chỉ là phí sức, tốn tiền. Khi người ta có thể khai thông được sự bế tắc trong tâm mình thì tình trạng sẽ được cải biến, đây chính là sự ảnh hưởng của “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” đến nội tạng và sức khỏe của con người.

Dục vọng ảnh hưởng đến sức khỏe con người như thế nào?

Theo Trung y, con người sở dĩ có thể sống trên đời chính là dựa vào: “Tiên thiên chi bản” - thận (hay cũng nói thận là cái gốc của sự sống) và “Hậu thiên chi bản” - tì vị. Nói thận là “tiên thiên chi bản” nghĩa là không cách nào có thể dùng thuốc để bổ cứu mà chỉ có thể dùng tiết chế sắc dục, thủ đức tu thân để bảo dưỡng. Cho nên, thận là phải dưỡng chứ không phải cần tu bổ.

Ngày nay, có những người tham lam dục vọng, sống buông thả phóng đãng, dùng thuốc để tu bổ thận chính là đã “bỏ gốc lấy ngọn”, “càng tu bổ càng yếu đi”. Tỳ vị là “hậu thiên chi bản”, cho nên tất cả dinh dưỡng cần thiết của toàn thân thể đều là do tỳ vị vận hóa lương thực đến nuôi dưỡng.

Vì vậy, nếu ở phương diện dục vọng mà con người không tiết chế, háo sắc thì sẽ làm tổn thương đến “tiên thiên chi bản” - thận. Khi thận (thuộc Thủy) đã thiếu thốn nước thì gan (thuộc Mộc) sẽ chết khô và tất cả tạng phủ trong cơ thể người sẽ suy kiệt.

Nếu như con người không có “Tín Nghĩa” thì “hậu thiên chi bản” là tỳ vị tất sẽ bị tổn thương trầm trọng. Nếu như “tiên thiên chi bản” và “hậu thiên chi bản” đều mất đi thì tính mạng của người này cũng không thể tồn tại lâu được.

Con người nếu không tín thì sẽ không nghĩa, nói chi đến lòng biết ơn? Khi ấy, họ sẽ đề phòng lẫn nhau mà sống dẫn đến việc coi nhau như kẻ địch, quan hệ giữa người với người sẽ trở nên căng thẳng. Cho nên nói: “Tín là nhịp cầu nối giữa con người với con người, là nền tảng, cơ sở để con người sống chân thành với nhau.“

Từ lý luận về thân thể người bên trên suy rộng ra hoàn cảnh xung quanh hay lớn hơn là hoàn cảnh đất nước. Một quốc gia nếu như dâm loạn khắp nơi, loạn luân, không tín nghĩa, không đạo đức thì thiên tai không ngừng, trăm dân lầm than mà khiến quốc gia tất sẽ suy vong. Vì vậy, đề cao các giá trị “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” chẳng phải là một cách trực tiếp bảo vệ cho sinh mạng của mỗi người, mỗi quốc gia?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

THẢI ĐỘC NỘI TẠNG THÔNG QUA ĂN, UỐNG VÀ BẤM HUYỆT...

 


Hàng ngày, thông qua việc hít thở, tiếp xúc và ăn uống, cơ thể bạn rất dễ nhiễm độc làm ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Dưới đây là cách giải độc một số bộ phận của cơ thể mà bạn nên biết.

Khi thận có vấn đề, bạn sẽ không thể nói được, giọng nói sẽ bị khàn đặc. Khi tim có vấn đề, cánh tay trái của bạn sẽ bị mỏi, tê và đau. Khi dạ dày có vấn đề bạn sẽ bị đau đầu. Khi gan có vấn đề bạn sẽ dễ bị chuột rút khi đang ngủ tối...

Vậy chúng ta sẽ phải làm gì để thải độc ra khỏi cơ thể?

Thải độc cho THẬN:

Đồ ăn giúp thải độc cho thận: bí xanh

Bí xanh có hàm lượng nước cao, ăn vào sẽ kích thích thận bài tiết nước tiểu, từ đó dẫn các chất độc thải ra ngoài.

Bí xanh có thể nấu canh hoặc xào, nên nấu nhạt, không nên ăn mặn.

Thực phẩm giúp kháng độc cho thận: Củ từ

Củ từ rất tốt cho cơ thể, nhiều chất bổ dưỡng nhưng tốt nhất vẫn là cho thận. Thường xuyên ăn củ từ sẽ giúp tăng khả năng bài độc của thận.

Củ từ chiên là một món ăn rất tốt. Ăn củ từ chiên giúp tăng khả năng kháng độc của thận.

Thời điểm bài độc tốt nhất cho thận:

Thời điểm bài độc tốt nhất của thận là 5~7 giờ sáng, cơ thể qua một đêm làm việc, đến sáng toàn bộ chất độc đều tập chung ở thận, vì thế sáng ngủ dậy nên uống một cốc nước lọc để “rửa” thận.

Huyệt giải độc thận: huyệt Dũng Tuyền

Đây là huyệt có vị trí thấp nhất trên cơ thể người, nếu coi cơ thể là một tòa nhà, thì huyệt vị này chính là đầu ra của ống nước thải, thường xuyên bấm huyệt này sẽ thấy hiệu quả bài độc rất rõ ràng.

Huyệt vị nằm ở gan bàn chân, ở vị trí 1/3 từ trên xuống không kể ngón chân, huyệt vị này tương đối mẫn cảm vì thế không nên bấm quá mạnh, chỉ cần bấm đến khi thấy có cảm giác là dừng lại, tốt nhất nên vừa ấn vừa day, làm liên tục khoảng 5 phút.

Thải độc cho GAN:

Ăn thực phẩm có màu xanh: theo thuyết ngũ hành của đông y, thực phẩm màu xanh giúp thông khí trong gan, có tác dụng thông gan, giải tỏa ưu tư, phiền muộn, là thực phẩm giúp giải độc gan.

Chuyên gia đông y khuyên dùng quýt hoặc chanh vỏ xanh chế biến thành nước quýt hoặc nước chanh tươi (dùng cả vỏ) sau đó uống trực tiếp sẽ rất tốt.

Kỳ tử giúp tăng chức năng gan: ngoài tác dụng giải độc, còn giúp nâng cao khả năng phòng chống độc của gan.

Thức ăn tốt nhất cho gan phải kể đến kỳ tử, kỳ tử có tác dụng bảo vệ gan rất tốt, giúp nâng cao tính năng khử độc của gan.

Cách ăn tốt nhất là nhai sống, mỗi ngày ăn một nắm nhỏ.

Huyệt thải độc gan: là huyệt Thái Xung, huyệt nằm ở chỗ lõm phía trước phần giao nhau của xương ngón chân cái và ngón bên cạnh trên mu bàn chân. Dùng ngón tay cái day 3-5 phút, đến khi cảm thấy hơi tê tê là được. Không nên day quá mạnh, lần lượt day hai bên chân.

Cách thải độc bằng nước mắt:

Đàn ông thường ít khóc hơn phụ nữ mà phụ nữ thì thường thọ lâu hơn đàn ông, điều này hẳn có liên quan đến nước mắt.

Đông y từ lâu đã biết đến vấn đề này và tây y cũng đã có chứng thực cụ thể.

Tuyến nước mắt giống như tuyến mồ hôi và tuyến tiết niệu, trong đó có một số độc tố sinh học không tốt cho cơ thể con người. Vì thế khi khó chịu, khi tủi thân, khi bị áp lực ta thường khóc để giải tỏa.

Thải độc cho TIM:

Ăn thực phẩm có vị đắng để thải độc: thực phẩm đầu tiên nên ăn là tâm sen, tâm sen có vị đắng giúp làm tiêu tan lửa trong tim, mặc dù nó có tính hàn nhưng không làm ảnh hưởng đến dương khí trong cơ thể, vì thế tâm sen được coi là thực phẩm giải độc tốt nhất cho tim.

Có thể dùng tâm sen để hãm trà, có thể cho thêm ít lá trúc hoặc cam thảo tươi sẽ giúp nâng cao tác dụng thải độc của tâm sen.

Huyệt vị giúp thải độc tim: là huyệt Thiếu Phủ

Huyệt nằm trong lòng bàn tay, vị trí ở giữa xương ngón thứ 4, thứ 5, khi nắm tay lại nó sẽ là vị trí giữa của ngón tay út và ngón áp út.

Bấm huyệt này có thể dùng lực một chút cũng không sao, làm lần lượt với tay trái và tay phải.

Đậu xanh giúp lợi tiểu, giải độc: Đậu xanh giúp lợi tiểu, thanh nhiệt vì thế giúp thải độc cho tim, nhưng đậu xanh phải ăn ở dạng lỏng như nước tương hoặc canh đậu xanh thì mới có tác dụng tốt nhất, bánh đậu xanh tác dụng sẽ tương đối thấp.

Thời điểm tốt nhất để thải độc tim: buổi trưa 11 - 13 giờ là thời điểm tốt nhất. Những thực phẩm tốt cho tim và giúp thải độc bao gồm phục linh, các loại hạt khô như lạc, macca, hạnh nhân v.v., đỗ tương, vừng đen, táo đỏ, hạt sen v.v.

Thải độc cho TỲ (lá lách):

Ăn đồ chua giúp thải độc tì: ví dụ như ô mai, giấm là những thực phẩm giúp hóa giải các chất độc trong thức ăn, từ đó giúp tăng cường chức năng tiêu hóa của đường ruột và dạ dày, làm cho chất độc trong thức ăn được thải ra ngoài cơ thể trong thời gian rất ngắn.

Đồng thời, thức ăn có vị chua còn giúp tăng cường chức năng của tì, có tác dụng kháng độc.

Huyệt vị giúp thải độc tì: là huyệt Thương Khâu, huyệt nằm ở chỗ lõm phía dưới mắt cá chân, dùng ngón tay day vào huyệt vị cho đến khi thấy cảm giác tê tê là được, mỗi lần làm khoảng 3 phút, lần lượt làm với 2 chân.

Đi bộ sau khi ăn: vận động giúp tì vị tiêu hóa tốt hơn, tăng nhanh quá trình bài độc, việc này cần duy trì lâu dài mới thấy hiệu quả.

Thời điểm bài độc tì tốt nhất:

Sau khi ăn chính là thời gian sản sinh ra độc tố, thức ăn ăn vào nếu không được tiêu hóa hoặc hấp thụ ngay sẽ tiết độc và được tích tụ lại.

Để tốt cho tì, ngoài việc đi bộ sau khi ăn còn nên ăn một quả táo sau bữa cơm 1 giờ đồng hồ, sẽ rất có hiệu quả kiện tì, bài độc.

Thải độc cho PHỔI:

Củ cải là thức ăn bài độc cho phổi: trong đông y, đại tràng và phổi có quan hệ mật thiết với nhau, mức độ bài độc của phổi phụ thuộc vào mức độ thông suốt của đại tràng, củ cải giúp nhuận tràng, củ cải có thể ăn sống hoặc trộn đều được.

Bách hợp giúp nâng cao khả năng kháng độc của phổi: phổi không thích thời tiết khô vì khi đó phổi sẽ bị tích lũy độc tố.

Nấm, bách hợp là thức ăn bổ dưỡng của phổi, giúp phổi chống lại được độc tố nhưng không nên dùng trong thời gian dài vì bách hợp dùng lâu sẽ giảm chất nhờn, làm giảm khả năng kháng độc.

Huyệt vị giúp bài độc phổi:

Huyệt vị tốt cho phổi là huyệt Hợp Cốc, huyệt nằm trên mu bàn tay, ở giữa ngón tay cái và ngón trỏ. Dùng ngón tay cái và ngón trỏ ấn vào vị trí huyệt vị này là được.

Bài tiết mồ hôi giúp giải độc: Khi ra nhiều mồ hôi, mồ hôi sẽ giúp bài tiết các chất độc ra khỏi cơ thể, làm chúng ta thấy dễ chịu, thoải mái.

Ngoài việc vận động còn có thể tắm bằng nước nóng để ra nhiều mồ hôi. Cho vào nước tắm ít gừng tươi và tinh dầu bạc hà sẽ giúp bài tiết nhiều mồ hôi hơn, thải các chất độc nằm sâu trong cơ thể ra ngoài.

Hít thở sâu: Mỗi khi hít ra thở vào, trong phổi vẫn có một chút khí không được đẩy ra ngoài, những khí tồn đọng này cũng chính là một loại độc tố đối với nguồn không khí mới, nhiều chất dinh dưỡng được hít vào cơ thể. Chỉ với một vài cái hít thở sâu sẽ giúp loại bỏ bớt các khí tồn đọng này.

Thời điểm bài độc cho phổi tốt nhất là vào 7-9 giờ sáng. Thời điểm này rất tốt để thải độc thông qua vận động. Vào thời điểm phổi đang sung sức nhất, bạn có thể đi bộ sẽ giúp tăng khả năng bài độc của phổi.

Bảng công việc của các cơ quan trong cơ thể:

1. Từ 9-11 giờ tối là thời gian bài độc của hệ thống miễn dịch (lympha), thời điểm này nên ở những nơi yên tĩnh hoặc nghe nhạc.

2. Từ 11 giờ đêm - 1 giờ sáng là thời điểm bài độc của gan, cần thực hiện khi đang ngủ say.

3. Từ 1-3 giờ sáng là thời điểm bài độc của mật, cần thực hiện khi đang ngủ say.

4. Từ 3-5 giờ sáng là thời điểm bài độc của phổi vì thế với người bị ho thì đây là thời điểm ho dữ dội nhất, vì công việc bài độc đã đến phổi, không nên uống thuốc ho lúc này để tránh làm ảnh hưởng đến quá trình bài độc.

5. Từ 5-7 giờ sáng là thời điểm thải độc của đại tràng, nên đi đại tiện vào thời điểm này.

6. Từ 7-9 giờ sáng là thời điểm ruột non hấp thu lượng lớn dưỡng chất vì thế không nên bỏ qua bữa sáng. Người bệnh nên ăn sáng lúc sớm trước 6:30 sáng, người khỏe mạnh thì nên ăn trước 7:30. Người thường xuyên không ăn sáng nên thay đổi thói quen này, cho dù là ăn muộn lúc 9-10 giờ thì cũng vẫn nên ăn.

7. Từ nửa đêm đến đến 4 giờ sáng là thời điểm tụy tạo máu vì thế phải ngủ sâu giấc, không nên thức đêm!

Thì ra đây đều là những cảnh báo của cơ thể!

Hãy nhanh tiến hành bài độc để có một cơ thể khỏe mạnh!

Lưu ý: Các thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, phải tùy tình hình sức khỏe của mình để thực hiện cho phù hợp. Nếu cơ thể không thể duy trì được thì bạn phải tìm chuyên gia y học tư vấn.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

HUYỆT ĐẠO KHAI THÔNG KINH MẠCH ĐẨY TRỪ ĐỘC CHẤT, KHÍ ĐỘC

 


Day nhẹ nhàng các huyệt theo thứ tự đánh số. Chú ý từng huyệt xoa, day ấn nhẹ nhàng với lực vừa phải cho tới khi ấm hoặc nóng lên thì mới chuyển huyệt.

- Làm bên trái rồi qua bên phải, lần lượt số 1 bên trái rồi qua số 1 bên phải, rồi tới số 2 bên trái rồi qua số 2 bên phải,... (Số 1 ở trong lòng bàn tay. Số 2 ở nếp lằn giữa cổ tay. Số 3 ở cuối khớp ngón chân giữa. Số 4 giữa lòng bàn chân. Số 5 giữa nếp lằn khớp cổ chân).

- Từ số 6 đến số 13 là huyệt chính giữa (Số 6 ở giữa ngấn cổ. Số 7 là huyệt Thừa tương. Số 8 là huyệt Nhân trung. Số 9 giữa hai đầu mắt. Số 10 điểm giữa trên lông mày một chút. Số 11 điểm giữa chân tóc lên một chút. Số 12 là Bách hội. Số 13 ở đốt sống cổ 5). Huyệt số 14 thì ấn chỗ lõm sau 2 bên dái tai cùng 1 lúc.

Bài này làm mỗi khi thức dậy vào buổi sáng sẽ giúp khai thông bế tắc kinh mạch, nâng cao đề kháng, giảm bệnh tật, chấm dứt lạnh chân tay kinh niên, phòng chống tai biến mạch máu não. Mọi người tự làm cho bản thân mình thường xuyên hàng ngày sẽ cảm nhận được cái hay diệu dụng của nó.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

LUYỆN KHÍ .. CÓ MỤC ĐÍCH GÌ ?

 


CÂN BẰNG NĂNG LƯƠNG- SỐNG KHỎE

Cái lỗ mũi hít vô khí Oxy - thở ra khí CO2 là nhịp điệu thế hiện sự sống động của thể xác, nhưng sự sống của con người có nhiều sự khác biệt, dị biệt nếu nhìn theo cách tự nhiên nhưng thực chất thì không phải vậy, khí Oxy ngoài việc duy trì sự sống thể xác bình thường thì nó còn mang một sứ mạng lớn nếu biết khai thác nguồn khí Oxy, ngày nay thì con người đang khai tốt KHÍ ĐỘNG HỌC cho nhiều lãnh vực như giúp máy bay cất cánh rời khỏi mặt đất, thu khí để tạo ra lực Phản lực làm cho máy bay tăng tốc cực nhanh, dùng khí õy tăng áp lực lửa để cắt sắt đá, xử dụng khí + nước tạo ra lực cắt rã vật chất như cắt cũi mục và rất nhiều công năng vận dụng khí Õy.

Tổ tiên loài người cũng biết khai thác LUYỆN KHÍ để phát triển nội công làm cho thể xác mạnh mẽ trong võ thuật, Yoga, TDTT vv.. ngoài ra những bậc cao nhân đều biết cách Luyện Khí để phát triển như Đức Phật thì khai thác năng lực Toàn năng (tiểu thừa, trung thừa, đại thừa, thương thừa, tối thượng thừa)để khai mở bộ não đạt đến Toàn giác, trong kinh thánh có nói đến THẦN KHÍ THIÊN CHÚA nhưng nó cao xa so với thực tế của thể xác con người, trong phần này tôi đề cập đến p pháp luyện Thần Khí của thể xác con người như sau.

THẦN - KHÍ là gì?

Chúng ta quen dùng: Tinh Thần, Thần lực, Thần Linh, Thần Thánh, bệnh Tâm Thần, Thất Thần, Tụ Thần, Tán Thần vv.. ở đây tôi chỉ nói đến TINH THẦN mà mỗi người đang sở hữu nó nhưng sự hiện diện của nó không mấy người biết đến.

A/- TINH = Tinh trùng (âm tinh - dương tinh), Tinh khí, Tinh lực gom lại: Tinh trùng là cái hạt giống sinh ra loài người nên gọi là Tinh.

B/- THẦN = Sức Nóng có 4 mức NL giao động:

1- Nhiệt độ = 35 > 37 độ là súc nóng thể xác của đa số người.

2- Nhiệt độ = 35 < 34 độ thuộc mức nhiệt thấp có sức khỏe yếu và rất khó sống.

3- Nhiệt độ = 37 > 38 > 39 > 40 độ đây là mức nhiệt đột biến khi vi trùng, vi rút xâm nhập thì cơ thể phản vệ mà sinh ra gọi là Sốt, mức nhiệt này chỉ tồn tại trong thể xác trong thời gian 6 ngày.

4- Nhiệt độ giao động từ 37 > 38 > 39> 40 >41 > 42 độ mà cơ thể vẫn bình thường mà không bị sốt, đây là mức nhiệt gọi là THẦN và nó chỉ có ở những người tu luyện, luyện khí đạt kết quả công phu cao, mức nhiệt này từng bước từng cấp đã thúc bách tế bào tiến hoá dần, thể xác có mức nhiệt giao động cao và mạnh này thì thể xác đạt mức vô nhiễm với vi trùng, vi rút và không bị đau bệnh.

Biểu hiện của Thần.

Người tu luyện, luyện khí công, luyện thần khí (ngồi yên thể tịnh để hít thở) là đều có mục đích truy tìm công năng của Thần lực, trong quá trình tập luyện thì nhiệt độ giao động tăng nhích dần lên, mức nhiệt dôi ra sẽ có hiện tượng CHÂM CHÍCH như một mũi kim đâm sâu vô thịt xương, gây râm ran châm chích một vùng da thịt hoặc sức nóng tích tụ lại như một LÙM MÂY NÓNG đi chuyển lung tung trong cơ thể (gọi là Nhâm Thần), lùm mây này đi lang thang thì rất tốt nhưng nếu lum nóng nay dừng lại hoạch bám trụ tại một cơ phận nào đó thì tế bào vùng đó sẽ bị sức nóng giết chết (b ung thư), nếu lùm mây đột nhiên PHỤT lên đầu sẽ gây tổn thương hoặc giết chết bộ não, những người tu luyện thì thể xác có mức nhiệt gia tăng lên từng bước rồi thúc bách tế bào thích nghi lâu ngày nên nhiệt độ cao giao động thì rất tốt, dạng NL tạo ra nhiệt độ cao này Chúa Jesu gọi là Thần Khí còn Phật gọi là NL tối Thượng Thừa.

Ngày nay do điều kiện dinh dưỡng rất tốt nên thể xác của nhiều người bình thường nhưng có chế độ ăn uống tốt nên thể xác cũng tụ Thần, đây gọi là hữu duyên tụ thần dạng vô thức nên không biết cách điều động và những người này thay vì may mắn thì bổn mạng của họ ví như chỉ mành treo chuông nguy hiểm vô cùng, tôi nhận thấy những người bị bệnh ung thư đều rơi vô dạng TỤ THẦN VÔ THỨC và khi học pp CBNL để tái cân bằng thì sức khỏe của họ phục hồi rất tốt, nhưng họ không thể ăn uống trở lại như cũ mà buột thể xác phải ĐI THEO CHIỀU NL TIỀN HOÁ (thần lục), bệnh ung thư là một dạng tụ thần dạng tự nhiên nếu biết cách luyện khí sẽ không chết mà ngược lại có sức khỏe của người tu luyện đạt kết quả nội công thâm hậu.

Luyện khí là thúc bách phổi thu rút nhiều khí Oxy để tăng lực ĐỐT CHẢY năng lượng trong thể xác, nếu thể xác có ít NL hoặc không có NL dự trữ thì việc luyện khí là mạo hiểm đến tính mạng (dạng hai chân lạnh thì tuyệt đối không luyện khí sẽ dẫn đến TẨU HỎA NHẬP MA), khi NL bị đốt cháy nhiều và thường xuyên thì năng lượng của thể xác bị tiêu hao nhanh, cái rắc rối là khi cổ may thần khí hoạt động thì buột cái miệng phải ăn đúng, ăn đủ năng lượng cung cấp cho thể xác mỗi ngày, NL đốt khí õy làm gia tăng nhiệt độ sẽ nhích lên dần như sau:

- Nhiệt độ = 37 độ ổn định đều thì thể xác sẽ có chủng tế bào chịu lực nóng giao động > 38> 39 độ.

- NĐ > 37, 5 độ ổn định lâu ngày thì tế bào mới sẽ sinh ra ở mức nhiệt nhích cao này có thể chịu được nhiệt nóng giao động >39 > 40 độ mà không bị sốt.

- NĐ = 38 độ ổn định lâu dài thì tế bào mới sinh ra sẽ có sức chịu nhiệt nóng giao động > 40 > 41 > 43 độ.

Mức nhiệt này là không tưởng với thể xác có mức nhiệt 37 độ nhưng với người tu luyện, luyện khí thể xác đã trải qua quá trình thích nghi và nhiệt độ tăng dần nên tế bào có biên độ giao động từ 34 <> 43 độ là bình thường tuy nhiên, từ xưa đến nay thì những người tu luyện mất quá nhiều thời gian cho công phu này, họ thiếu một yếu tố khá thô thiển là CŨI ĐỂ ĐỐT RA LỬA lại do cái miệng cung cấp, việc không biết cách tu bổ năng lượng tạo nguồn lửa mạnh vô hình chung làm suy yếu lực hấp dẫn khí õy nên sức nóng suy yếu mà kéo dài thời gian, hiện tượng này ví như đi đường xa mà chiếc xe có mã lực nhỏ nên cho dù rất cố gắng nhưng sẽ rất khó đi đến đích, luyện khí cần kết họp ăn đúng, ăn đủ NL để Tủy có nguồn lửa mạnh mỗi ngày (tam muội hỏa) thì việc luyện khí rất dễ dàng và nhanh thành tựu.

THẦN LINH.

Thể xác chỉ thích nghi với mức nhiệt 37 < 35 độ, nếu thể xác đã tụ thần là phải tuân theo quy luật là phải làm cho THẦN LINH nghĩa là, tập luyện khí Vòng Cháu Thiên để dẫn điện năng tập trung lên bộ não, điện năng sẽ dẫn dụ Thần nhập vô bộ não chuyển động để tạo lực hấp dẫn Khí Oxy cực mạnh cho bộ não, nguồn khí Oxy mạnh sẽ thúc bách Thần lực di chuyển trong bộ não hoặc xuống cơ thể nên gọi là THẦN LINH, và bí mật của Thần chỉ mới bắt đầu từ trong bộ não và lúc này thì mức nhiệt cao luôn ẩn hiện trong bộ não còn thân xác thì mát mẽ với mức nhiệt 35 >36 > 37 độ và thể xác rất bình an. DILAC !

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

THỰC HÀNH CHÚC THẦM BÍ MẬT NHƯ THẾ NÀO?

 


Trong cuộc sống bạn sẽ gặp rất nhiều người, họ bị bệnh, thất tình, đánh đập, lừa đảo, phụ bạc, người thân mất…

Ví dụ khi gặp một chàng trai đang buồn vì người mình yêu không yêu lại, tôi thầm nói:

“Chúc người bạn yêu yêu lại bạn”.

Khi gặp một cô gái đang đau khổ vì nuối tiếc quá khứ, tôi chúc cô ấy: “Chúc bạn hết nuối tiếc quá khứ”.

Tôi thường kết thúc lời chúc bằng lời cầu mong họ đạt được giác ngộ.

Vì tôi hiểu rằng, mọi hạnh phúc thế gian rồi sẽ qua đi, và giác ngộ chính là niềm hạnh phúc chân thật nhất.

Với một người mà tôi không biết hoàn cảnh của họ, lời chúc của tôi thường là: “Chúc bạn may mắn, mạnh khỏe, giàu có, hạnh phúc, sớm gặp duyên lành dẫn đến giác ngộ và giải thoát”.

Chúc bạn may mắn, mạnh khỏe, giàu có, hạnh phúc, sớm gặp duyên lành dẫn đến giác ngộ và giải thoát

Tại sao nên chúc thầm bí mật?

Nhiều người nghĩ rằng, chúc lành là một điều viển vông. Vì chỉ một lời chúc thôi đâu có ý nghĩa gì, làm sao có thể thay đổi được hoàn cảnh của người kia? Nhất là lại còn chúc thầm.

Người kia còn không nghe thấy được thì ngay cả sự an ủi họ cũng còn không nhận được?! Nhưng không phải như vậy!

Mọi thứ trong vũ trụ này đều có mối liên kết với nhau.

Bất kỳ một suy nghĩ nào của bạn cũng lan tỏa và ảnh hưởng đến toàn vũ trụ. Đây là cách hiểu sâu sắc về sự vận hành của vũ trụ cả về vật chất lẫn tinh thần.

Đó chính là tinh thần của giáo lý mà Đức Phật đã đặc biệt nhấn mạnh:

“Cái này sinh, cái kia sinh. Cái này diệt, cái kia diệt”.

Mọi sự vật hiện tượng nương nhau sinh diệt, cái này ảnh hưởng tới cái kia.

Chúng đều liên quan tới nhau mật thiết, không gì có thể tách rời với cái khác.

Tin rằng một suy nghĩ không có tác dụng gì là một cách nhìn hạn hẹp, thiếu hiểu biết.

Vì vậy, mỗi lời chúc lành của bạn là một duyên lành, ảnh hưởng đến toàn bộ môi trường xung quanh và tất nhiên là đến người bạn muốn cầu chúc.

Nó có thể cộng hưởng cùng các duyên khác để giúp người đó tốt lên. Giống như khi đổ các giọt nước vào một chiếc ly, cuối cùng cũng sẽ làm chiếc ly tràn đầy.

Khi gieo những duyên lành, cuối cùng cũng sẽ giúp quả lành nở ra. “Đừng khinh thường sức mạnh của một hành động tốt nhỏ mà không làm” - Đức Phật đã từng dạy như vậy.

Chúc lành chắc chắn sẽ giúp những người kia và cả thế giới tốt lên.

Cách thực hành phương pháp Chúc thầm bí mật

Khi bắt đầu áp dụng phương pháp Chúc thầm bí mật này, tôi thực hành với những người tôi quen biết và quý mến như bạn bè, người thân… Sau đó tôi mở rộng tới những người không quen biết.

Ví dụ: những người trên cùng một chuyến xe, một người phụ nữ bán cá ở chợ…Sau đó với những người oán ghét tôi, với những người coi tôi là kẻ thù.

Nhiều khi người tôi chúc, chính là người đã từng làm hại tôi, là người sắp làm điều xấu với tôi, là người đang mang tới tai họa cho tôi… Cho dù không dễ dàng gì để chúc một người đang làm hại mình tốt lên và giác ngộ, nhưng tôi hiểu đó là điều tuyệt vời nhất có thể xảy ra cho họ và cả chính tôi.

Một người đang hạnh phúc không bao giờ chủ ý gây hại cho người khác.

Một người đủ hiểu biết không bao giờ muốn làm tổn thương người khác.

Tôi hiểu rằng, lý do họ hại tôi là bởi đau khổ và thiếu hiểu biết.

Họ làm điều xấu với tôi không đồng nghĩa với việc tôi phải thù ghét họ. Bởi hận thù diệt hận thù là điều không thể có, tình yêu diệt hận thù mới là định luật ngàn thu.

Hơn thế nữa, mỗi khi chúc lành cho người khác, tôi cảm thấy trong lòng như nở những đóa hoa.

Những đóa hoa của lòng yêu thương và tử tế, dẹp tan mọi sân hận, ghen tỵ, thù ghét… đang có mặt. Vì thế, tôi chúc lành cho họ cũng là để chữa lành cho cả chính mình.

Nếu thực hành phương pháp này, có thể bạn cảm thấy được những điều kỳ diệu xảy ra.

Có nhiều lần, những người đang muốn nói xấu và làm hại tôi bỗng trở nên thân thiện và thậm chí giúp đỡ tôi sau một vài lần tôi chúc lành cho họ. Họ đã trở nên bình an và sáng suốt hơn.

Nhiều khi, sau một ngày mệt mỏi, tôi trở về chỗ ở sau những lo toan thường nhật. Khi chuẩn bị đi ngủ cũng là lúc tuyệt vời nhất để gửi những lời chúc lành đến mọi người và làm dịu mát những sự căng thẳng trong tôi.

Tôi chúc những người mà tôi quen biết hoặc không quen biết đều hóa giải mọi hận thù, ghét bỏ với nhau; đều phát triển lòng yêu thương và thông cảm với nhau; đều gặp những duyên lành để thoát khỏi mọi bệnh tật, tai nạn, đói nghèo; đều gieo những hạt giống của an lạc, hạnh phúc và đều gặt được những quả lành của an lạc, hạnh phúc.

Tôi chúc họ nhanh chóng gặp được con đường chân chính, dẫn họ đến sự hạnh phúc tối thượng và vĩnh cửu của giác ngộ.

Khi chúc những lời này, trong lòng tôi ngập tràn sự ấm áp, dễ chịu, và thoải mái.

Tôi quán tưởng chỗ mình nằm là một bông sen hồng, ấm áp, rực rỡ, và chỗ mọi người nằm cũng đều như vậy. Tôi quán tưởng mọi người đều nằm ngủ ngon lành trong ánh sáng của bông sen.

Và tôi cũng giống như họ, nằm giữa bông sen hồng đang tỏa ánh sáng dịu mát, lòng ngập tràn an lành, phúc lạc, và từ từ chìm vào giấc ngủ…

Tại sao cần chúc thầm một cách bí mật?

Mọi người chăm chú lắng nghe và ngẫm nghĩ “Chúc thầm thật tuyệt vời, cho cả ta lẫn người.

Như thế này thì mình có đủ điều kiện để bắt đầu ngay”.

“Nhưng tại sao không chúc hẳn ra lời với người kia mà lại phải chúc thầm?”. Một số người còn băn khoăn vì câu hỏi đó.

Zangthalpa nói tiếp:

- Tại sao bạn chỉ nên chúc thầm chứ không nên nói với người kia? Khi bạn làm điều tốt với ai đó, cách tốt nhất để rèn luyện mình là không nói cho người kia biết.

Nếu không, cái tôi của bạn sẽ to lên khi bạn được người khác đánh giá cao. Bạn không nên coi việc làm điều tốt là một cách để lấy được sự trân trọng từ người khác.

Bạn hãy nghĩ, “tôi làm điều này một cách tự nhiên bởi bản tính của tôi và mọi người vốn tốt đẹp.

Tôi làm điều tốt một cách tự nhiên giống như khi đói thì ăn, khi khát thì uống, khi cần thì hít thở, khi có thể giúp thì giúp đỡ”. Khi làm điều tốt, bạn không nên bám chấp vào việc được cảm ơn.

Bạn cũng không nên bám chấp vào việc làm điều tốt để tạo ra nghiệp tốt cho mình. Làm điều tốt một cách âm thầm, không trông đợi vào kết quả là cách rèn luyện của một Bồ tát.

Khi mọi người nghe đến đây, họ cảm thấy bố thí không còn là khó khăn nữa.

Ai cũng quay sang người bên cạnh, chúc thầm một điều gì đó. Sau khi chúc xong, lòng họ ngập tràn sự ấm áp.

Họ tự hứa với mình rằng, sẽ bắt đầu tập bố thí như một vị Bồ tát, bằng Chúc thầm bí mật kể từ ngày hôm nay.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS