Container Icon

Tìm hiểu về Tam Cõi


Truyền thuyết về Đức Ngọc Hoàng Thượng đế.Từ thuở hồng hoang đến ngày nay, người Cha luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống của con người. Chính Người đã sinh thành, nuôi dưỡng, chắt chiu cuộc sống, chịu đựng gian khó để các con có cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ, vẹn tròn nhất. Mang đầy đủ những đức tính cao quý và hoàn thiện nhất của những người cha, là Đức Ngọc Hoàng Thượng đế, là Người đứng đầu Thiên đình, có quyền năng tối cao và là Đấng sáng tạo ra vũ trụ vạn vật.


Truyền thuyết kể rằng, ở nước Quang Đại Nghiêm Diệu Lạc xa xưa, đức vua của đất nước này không có người nối dõi. Một đêm, Hoàng hậu nằm mơ thấy Thái Thượng Lão Quân (là Ngài Đạo Đức Thiên Tôn) đến trao cho một đứa trẻ. Sau đó Hoàng Hậu mang thai và sinh ra một Vương tử chính là Ngọc Hoàng Thượng đế sau này. Vương tử trưởng thành, kế vị cha lên ngôi vua, Ngài đã đem tấm lòng nhân từ mà cai trị đất nước. Chứng kiến nỗi khổ của nhân gian, Vương tử bỏ ngôi vua lên núi tu đạo. Trải qua 3200 kiếp tu hành, Ngài đã đạt được kim thân gọi là Thanh Tịnh Giác Vương Như Lai. Sau đó, Ngài lại tiếp tục trải qua hàng triệu kiếp tu mới trở thành Ngọc Hoàng Đại Đế Đại Thiên Tôn. Giáo lý của nhiều tôn giáo đã khẳng định, Ngọc Hoàng Thượng đế là hiện thân nam và Đức Phật Mẫu Hoàng Thiên là hiện thân nữ của Đấng Tối cao, là những vị được nhân dân đời đời sùng kính, khi có đủ hai Ngài kết hợp với nhau thì vũ trụ vạn vật mới sinh sôi, phát triển.

Qua nghiên cứu thì thấy, dù theo quan niệm của bất kỳ nền văn hóa nào, của tín ngưỡng, tôn giáo hay dân tộc nào cũng đều khẳng định rằng, Đức Ngọc Hoàng Thượng đế là vị vua có quyền năng tuyệt đối với 3 cõi Thiên, Địa, Nhân và được đặt dưới quyền năng tối thượng của Bà Mẹ khởi nguyên ra vũ trụ là Đức Phật Mẫu Hoàng Thiên. Ngài đứng đầu Thiên đình cai quản các tầng trời, mặt đất, miền rừng, biển cả, âm phủ và lục giới gồm: Nhân, Thần, Tiên, Yêu, Ma, Quỷ. Dưới quyền của Ngài là các Phật, Thánh, Tiên, Thần. Ngài có pháp thuật thần thông quảng đại, quyết định mọi sự thịnh, suy, xấu, tốt của vũ trụ, vạn vật; là người xét phong hoặc thưởng, phạt các vị Phật, Thánh, Tiên, Thần cũng như toàn bộ chúng sinh 3 cõi. Ngài bổ nhiệm và phân chia pháp lực cho các vị Thần, Thánh, Tiên cai quản các nơi với các chức vị, phẩm hàm khác nhau. Bên cạnh Đức Ngọc Hoàng có Nam Tào, Bắc Đẩu;  Nam Tào ghi sổ sinh, Bắc Đẩu ghi sổ tử. Văn Xương Đế Quân cai quản sự học hành. Quan Thánh Đế Quân Thần Tài Võ quản lý về tài chính. Thần Nông Tiên Đế quản lý về nông nghiệp. Thiên Y cai quản về y thuật. Đông Nhạc cai quản các địa phương. Long Vương cai quản Tứ Hải sông ngòi, Thanh Long, không khí, mưa, gió, sấm chớp, nước..v.v..Đứng sau hộ mệnh Đức Ngọc Hoàng gồm có: Hoàng Thiên Hậu Thổ, Tử Vi Đại Đế Ngọc Bệ Hạ, Câu Trần Đại Đế Ngọc Bệ Hạ, Trường Sinh Đại Đế, Tam Thanh Lão Tổ. Thái Thượng Lão Quân giúp Đức Ngọc Hoàng Thượng đế chỉ đạo, điều hành công việc của Thiên đình và phân công nhiệm vụ cho các chúng tiên lo việc tam giới. Ngọc Hoàng và phu nhân sống ở điện Linh Tiêu, nơi có nhiều Tiên, Thánh phục vụ và được các thiên tướng, thiên binh canh gác cẩn mật. Dù Đức Ngọc Hoàng Thượng đế có quyền uy to lớn, thưởng phạt nghiêm minh, nhưng cũng là Người luôn từ bi, thương yêu, ban phúc, giảm tội cho lục giới; tình yêu của Ngài dành cho muôn loài trong đó có loài người vô lượng, vô biên. Dưới nhân gian, Đức Ngọc Hoàng Thượng đế được gọi với nhiều danh từ tôn kính khác nhau: Đức Chúa Trời (Công Giáo và Đạo Tin Lành), Đấng Tạo Hóa, Đấng Thái Cực Thánh Hoàng (Cao Đài giáo), Thiên Chúa (Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo), Đức Allah (Đạo Hồi), Brahma (Ấn Độ giáo), Vua Cha Ngọc Hoàng (Tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam)..v.v...còn nhân dân ta gọi Ngài nôm na là Ông Trời.

Nguồn gốc của vũ trụ là Thái cực, Thái cực vừa là nguồn gốc, vừa là điều kiện sinh thành của mọi sự vật, đức nguyên của trời là khí, đức nguyên của đất là hình. Thái Cực là khối chân linh của Thượng Đế được gọi là Đại Linh quang. Sự khởi đầu của vũ trụ chính là sự phân chia Thái cực thành tam tài (Thiên, Địa, Nhân). Ngọc Hoàng Thượng đế phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi (Âm quang và Dương quang), rồi biến Lưỡng Nghi thành Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hoá vô cùng mới lập ra Càn khôn Thế giới, tạo thành vạn vật. Đức Phật Mẫu Hoàng Thiên chủ phần Thái Cực Âm tính đã phối hợp Lưỡng nghi để tạo ra các tầng Trời, tinh cầu, địa cầu..v..v..và chủ trì đầu thai luân hồi, nghiệp quả và chủ quản nhân số của 3 cõi. Phật Mẫu Hoàng Thiên sinh ra vạn linh rồi cho đầu kiếp xuống các địa cầu tạo thành vạn vật chúng sinh, trực tiếp quản lý, điều hành 72 cung Tiên Thượng Thiên và các cõi Tiên. Trong đó, Càn khôn Thế giới gồm 36 tầng Trời, 3000 thế giới, 72 Địa cầu, tứ đại Bộ Châu. Trong mỗi tầng Trời có một vị Đại La Thiên Đế cai quản. Ngọc Hoàng khai Bát Quái tạo thành Càn khôn Thế giới nên gọi là Pháp, Pháp sinh ra càn khôn vạn vật trong đó có người, nên gọi là Tăng. Ngài chủ cả Pháp và Tăng lập thành các tôn giáo.

Thiên đình là triều đình trên bầu trời, là cơ quan quyền lực tối cao của Vũ trụ với hàng trăm ngàn tỷ Vũ trụ con, có tổ chức giống như triều đình phong kiến ở Việt Nam ngày xưa, nhưng chặt chẽ, khoa học, quy củ hơn. Đứng đầu Thiên đình là Ngọc Hoàng Thượng đế, dưới là các ban văn, võ do các Thần, Thánh, Tiên đảm nhiệm. Thiên đình có 325 cung Trời chính là các tầng trời hay tầng cảnh giới, còn gọi là Thiên đường, trong đó có một cung chính là Ngọc Hư Cung và Điện Linh Tiêu cùng 72 cung Tiên thuộc tầng trời Tối Đại Thượng Thiên; sau đó là 36 cung Nguyên Thủy thuộc tầng trời Đại Thượng Thiên (Thượng Đại Niết Bàn) của các vị Tam Thanh, 144 cung thuộc tầng trời Trung Thượng Thiên (Đại Niết Bàn). Các cung thuộc tầng trời Tiểu Thượng Thiên thuộc khu vực Bạch Ngọc Kinh là nơi hội họp của Thượng đế với quần thần (Trung Đại Niết bàn). Về góc độ vật lý, số lượng cung Trời ứng với 325 loại hạt hạ nguyên tử nguyên thủy; đó chính là nguyên lý để các nhà khoa học tìm ra bản nguyên của vũ trụ và cội nguồn sinh ra thế giới.

Dưới và trong các cung Trời do các vị Thượng đế Thiên Tôn chủ trì gồm các Vũ trụ thành viên, rồi đến các cõi thuộc Trung giới, các Đại thiên hà, các thiên hà tự trị, các Thiên Vương Tinh quân, các Sao và các Thần Tinh. Dưới các Thần Tinh là các cung của Phật, Thần, Thánh. Linh hồn đầu thai học hỏi, tu tập đắc đạo được trở về là Phật, Thánh, mới được dạy rồi bổ nhiệm thành lập Vũ trụ, mới trở thành Thiên Vương Tinh quân hoặc là Thượng đế mới. Riêng các Tiên và cõi Tiên thuộc tầng Nguyên thủy tối cao, là cõi thanh cao nhất; các vị Tiên nguyên thủy sinh ra sẽ được đầu thai về các thế giới và làm người để học hỏi, rèn luyện trở thành các Phật, Thần, Thánh, Tiên. Mỗi tầng Trời có 30 ngàn dặm là khu vực ngoài trời gọi là “Vô Cực”; còn trong khu vực trời gọi là “Thái Cực”. Thái Cực được phân ra năm thiên là: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương. Trong đó, Trung ương (Trung Thiên) là nơi cư ngụ của Ngọc Hoàng điều khiển 36 thiên, 3000 thế giới, các bộ Thần Tiên và dưới là 72 Địa sát, tứ đại Bộ Châu có sinh linh sinh sống. Đông Thiên do Tứ Quan Đại Đế (Thiên Quan đại đế, Địa Quan đại đế, Nhạc Quan đại đế, Thủy Quan đại đế) cai quản chủ về ban phúc, tăng tuổi thọ, giải tai, xá tội, trừ nạn cho sinh linh. Nam Thiên do Văn Xương Đế Quân, Văn Hành Thánh Đế cai quản, chủ về việc theo dõi ghi chép công, tội, bổ nhiệm các Thiên Tử ở nhân gian, thăng, giáng cấp các vị chư thần. Tây Thiên do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước đây và nay là Đức Phật Di Lạc đứng đầu, chủ về giáo dục tâm linh, dạy con người làm điều thiện và quy y Phật để tu đạo giải thoát. Bắc Thiên do Tử Vi Đại Đế đứng đầu, là vua cha của Cửu Trùng Thiên Thánh Mẫu, cai quản tất thảy bầu trời, tinh tượng, Tiên, Thánh, Thần linh trên Thiên phủ, chủ về việc ban tiền, bạc, tài sản và họa, phúc cho con người.

Theo tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam thì Tứ phủ Công đồng gồm Thiên phủ, Địa phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ. Trong đó, Thiên phủ gồm 3 cõi: Vô sắc giới, Sắc giới, Dục giới. Mỗi một cõi đều có 1 vị vua cai quản, cai quản 3 cõi là Đức Ngọc Hoàng Thượng đế. Địa phủ (âm phủ) gồm 10 điện cai quản âm phủ và 18 tầng địa ngục, mỗi điện có 1 vị Diêm Vương cai quản, các điện đều có các quỷ thần phục dịch. Thoải phủ gồm 9 sông 4 biển, có 8 vị cai quản gọi là Bát Hải Long Vương. Nhạc phủ (mặt đất, phương vị, trên núi) gồm 5 phương, 8 hướng, có 5 vị Nhạc phủ cai quản.


Theo sách Bách Việt tộc phả và đối chiếu với lịch sử dân tộc thì thấy rõ, Ngài Đế Minh, tức Nguyễn Minh Khiết (Thái Khương Công) trong truyền thuyết Hồng Bàng, lấy bà Đỗ Quý Thị (Hương Vân Cái Bồ Tát) sinh ra người con trai trưởng đặt tên là Lộc Tục. Nhìn tướng mạo Lộc Tục sáng sủa, thông minh, phúc hậu, Đế Minh phong Lộc Tục làm vua phương Nam; Lộc Tục lên ngôi, xưng là Kinh Dương Vương, lập nước lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương, húy là Nguyễn Lộc Tục tự Phúc Lộc, tức là ông nội Hùng Vương thứ nhất, lấy con gái Vua Hồ Động Đình tên là Động Đình Tiên nữ Đăng Ngạn, sinh con trai đặt tên là Sùng Lãm, còn được gọi là Lạc Long Quân, sau nối ngôi vua cha, dựng nước đặt tên là Văn Lang. Như vậy, căn cứ vào các sự kiện lịch sử đã được sử sách chứng minh thì Kinh Dương Vương chính là thủy tổ của người Việt Nam ngày nay, được nhân dân gọi là cụ Tổ Nam Phương Nguyễn tộc. Là Hoàn linh Chân nguyên Đại kiếp đầu tiên của Ngọc Hoàng Thượng đế giáng linh cõi thế, nên sau khi mất, nhân dân đã suy tôn Ngài là Ngọc Hoàng giáng sinh. Nơi thờ Ngài được nhân dân gọi là Thiên đình, tượng thờ Kinh Dương Vương gọi là Ngọc Hoàng Thượng đế nay còn ở nhiều ngôi chùa, miếu cổ(1). Theo tài liệu lưu tại Đền Đậu An (An Viên, Tiên Lữ, Hưng Yên), là đền thờ Ngọc Hoàng đầu tiên và sớm nhất ở Việt Nam, được dựng từ năm 226 trước Công nguyên (TCN) thì vào thời bấy giờ, tục thờ Ngọc Hoàng đã trở thành tín ngưỡng bản địa của người Việt, lúc đó nước ta chưa chịu ảnh hưởng của phương Bắc, bởi đến năm 218 (TCN) nhà Tần mới đánh chiếm nước Bách Việt ta. Trước đó, Văn Lang, Âu Lạc là những quốc gia độc lập, đó cũng là thời kỳ đầu tiên có quốc gia riêng của người Bách Việt.

Như tình yêu của người Cha trên thế gian với những người con của mình, vì thương chúng sinh dưới trần khổ đau, Ngọc Hoàng đã đầu kiếp xuống trần gian để cứu rỗi nhân loại, chỉ dạy chúng sinh luôn đặt chữ “tu hành” hàng đầu, làm điều thiện, tích đức, góp phần xây dựng xã hội phát triển, phồn vinh, nỗ lực tu tập đắc đạo để được dự Hội Long Hoa, đưa 3 cõi trở về thời kỳ Thượng nguyên (Ngươn Thượng Đức). Bước vào Thiên niên kỷ mới, tâm linh Phật Thánh giao ban, Phật Mẫu Hoàng Thiên mở trường, khai Hội Long Hoa để thi tuyển người hiền, chuyển luân đạo pháp để nước Nam ta được tiếp quản đường đạo mới ra đời, là đường Đạo Thiện sáng ngời, để năm châu, bốn biển phải quy phục. Đó cũng là thời kỳ Đức Phật Di Lạc tiếp quản, gánh vác nhiệm vụ độ hóa chúng sinh mà Phật Thích Ca chưa hoàn thành, đưa chúng sinh trở về thời kỳ Chính Pháp, hay còn gọi là thời kỳ Ngươn Tạo Hóa hoặc Ngươn Thượng Đức, mở ra thời kỳ mới tươi đẹp, huy hoàng nhất của nhân gian, nhân loại được sống trong hòa bình, hạnh phúc, cùng nhau hưởng đời an lạc.  


Là Đấng Tối cao của vũ trụ vạn vật và với quyền uy to lớn của Ngài, Ngọc Hoàng Thượng đế luôn được nhân gian tôn thờ nghiêm cẩn. Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên, nên trong chùa thờ cả Phật, Mẫu, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tiên, Thần và cả những người có công với đất nước, với dân tộc, tạo nên một thế giới tâm linh chung, không tách biệt, trong đó Phật là trung tâm và ở ngôi cao nhất. Hiện nay, Ngọc Hoàng Thượng đế được thờ riêng tại Đàn Kính Thiên Tràng An (Ninh Bình) cùng Ngài Nam Tào, Bắc Đẩu; tại Chùa Ngọc Hoàng  (Quận 1, TP.HCM) và Đền Đậu An (Hưng Yên). Riêng tại Đền Đậu An, nơi Ngọc Hoàng Thượng Đế được thờ cùng với các Tiên, Thần nằm trên mảnh đất hình đầu rồng, có hồ nước trong xanh bao bọc. Đối với người Việt Nam, chính Ngài đã khai sinh ra thủy Tổ người Việt nên Ngọc Hoàng Thượng đế được tôn thờ như là Quốc tổ của dân tộc Việt Nam cho đến mãi mãi về sau này. Đó cũng là mạch quốc thống, là niềm tự hào truyền đời cho các thế hệ người Việt Nam mãi về sau:


“Đất Rồng Tiên Tổ dựng xây

Nam Phương Quốc đạo đủ đầy phúc vinh

Ngàn năm tạo hóa công trình

Càn khôn biến đổi, tâm linh dẫn đường”.

Như tình yêu của người Cha trên thế gian với những người con của mình, vì thương chúng sinh dưới trần khổ đau, Ngọc Hoàng đã đầu kiếp xuống trần gian để cứu rỗi nhân loại, chỉ dạy chúng sinh luôn đặt chữ “tu hành” hàng đầu, làm điều thiện, tích đức, góp phần xây dựng xã hội phát triển, phồn vinh, nỗ lực tu tập đắc đạo để được dự Hội Long Hoa, đưa 3 cõi trở về thời kỳ Thượng nguyên (Ngươn Thượng Đức). Bước vào Thiên niên kỷ mới, tâm linh Phật Thánh giao ban, Phật Mẫu Hoàng Thiên mở trường, khai Hội Long Hoa để thi tuyển người hiền, chuyển luân đạo pháp để nước Nam ta được tiếp quản đường đạo mới ra đời, là đường Đạo Thiện sáng ngời, để năm châu, bốn biển phải quy phục. Đó cũng là thời kỳ Đức Phật Di Lạc tiếp quản, gánh vác nhiệm vụ độ hóa chúng sinh mà Phật Thích Ca chưa hoàn thành, đưa chúng sinh trở về thời kỳ Chính Pháp, hay còn gọi là thời kỳ Ngươn Tạo Hóa hoặc Ngươn Thượng Đức, mở ra thời kỳ mới tươi đẹp, huy hoàng nhất của nhân gian, nhân loại được sống trong hòa bình, hạnh phúc, cùng nhau hưởng đời an lạc.  


Là Đấng Tối cao của vũ trụ vạn vật và với quyền uy to lớn của Ngài, Ngọc Hoàng Thượng đế luôn được nhân gian tôn thờ nghiêm cẩn. Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên, nên trong chùa thờ cả Phật, Mẫu, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tiên, Thần và cả những người có công với đất nước, với dân tộc, tạo nên một thế giới tâm linh chung, không tách biệt, trong đó Phật là trung tâm và ở ngôi cao nhất. Hiện nay, Ngọc Hoàng Thượng đế được thờ riêng tại Đàn Kính Thiên Tràng An (Ninh Bình) cùng Ngài Nam Tào, Bắc Đẩu; tại Chùa Ngọc Hoàng  (Quận 1, TP.HCM) và Đền Đậu An (Hưng Yên). Riêng tại Đền Đậu An, nơi Ngọc Hoàng Thượng Đế được thờ cùng với các Tiên, Thần nằm trên mảnh đất hình đầu rồng, có hồ nước trong xanh bao bọc. Đối với người Việt Nam, chính Ngài đã khai sinh ra thủy Tổ người Việt nên Ngọc Hoàng Thượng đế được tôn thờ như là Quốc tổ của dân tộc Việt Nam cho đến mãi mãi về sau này. Đó cũng là mạch quốc thống, là niềm tự hào truyền đời cho các thế hệ người Việt Nam mãi về sau:


“Đất Rồng Tiên Tổ dựng xây

Nam Phương Quốc đạo đủ đầy phúc vinh

Ngàn năm tạo hóa công trình

Càn khôn biến đổi, tâm linh dẫn đường”.

Cổ nhân lý giải rằng Trung Hoa gồm có hai mặt là kết cấu trạng thái tĩnh “Thiên, Địa, Nhân” và hình thức vận chuyển “Ngũ hành”. Bởi vậy, “Tam Hoàng” là chỉ Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng. “Ngũ Đế” là chỉ Mộc Đế, Thổ Đế, Kim Đế, Thủy Đế, Hỏa Đế.

“Tam Hoàng”

Trong “Sử Ký. Tần Thủy Hoàng bản kỷ” viết, Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Thái Hoàng. Hơn nữa còn cho rằng Thái Hoàng là tôn quý nhất. Vậy Thái Hoàng là ai? Theo “Thái Bình Ngự Lãm” viết: “Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng là Tam Hoàng”. Cho nên, có thuyết pháp cho rằng Thái Hoàng ở đây chính là Nhân Hoàng.


Cả “Thượng thư đại truyện” và “Bạch hổ thông nghĩa” đều cho rằng Tam Hoàng tương ứng là Toại Nhân, Phục Hy và Thần Nông. Nhưng trong “Vận đấu xu” và “Nguyên mệnh bao” lại cho rằng Tam Hoàng bao gồm Phục Hy, Thần Nông và thần sáng tạo ra nhân loại là Nữ Oa. Theo “Đế vương thế kỉ” thì Tam Hoàng lại bao gồm Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế.


Có thể thấy rằng có rất nhiều lý giải khác nhau về “Tam Hoàng” nhưng đều đồng nhất rằng trong “Tam Hoàng” có Phục Hy và Thần Nông. Vậy vị thứ ba rốt cuộc là ai? Có một số tư liệu ghi chép, cho rằng “Tam Hoàng” gồm ba vị sau:


Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông (“Thượng thư đại truyện”)


Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông (“Phong tục thông nghĩa”)


Phục Hy, Chúc Dung, Thần Nông (“Phong tục thông nghĩa”)


Phục Hy, Thần Nông, Cộng Công (“Phong tục thông nghĩa”)


Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Thái Hoàng (“Sử Ký”)


Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hòa (“Dân gian truyền thuyết”)


Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế (“Cổ Vi Thư”)


Cho đến ngày nay, thuyết pháp trong “Cổ Vi Thư” cho rằng “Tam Hoàng” bao gồm ba vị Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế là có ảnh hưởng và phổ biến nhất, họ cũng trở thành ba vị Đế Vương tối cổ nhất của Trung Hoa. Ngoài ra trong vĩ thư triều nhà Hán cho rằng “Tam Hoàng” là Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng, đó cũng là ba vị Thiên Thần. Thuyết pháp này cũng có tầm ảnh hưởng tương đối rộng rãi.


“Ngũ Đế”

Ba cuốn “Thế bản”, “Đại đới ký” và “Sử Ký. Ngũ Đế bản kỷ” đều xếp Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là “Ngũ Đế”. Nhưng trong “Lễ ký” lại xếp Thái Hạo (Phục Hy), Viêm Đế (Thần Nông), Hoàng Đế, Thiếu Hạo và Chuyên Húc là “Ngũ Đế”.

Ngoài ra còn có truyền thuyết thần thoại cho rằng Thiên Thần ở ngũ phương hợp thành “Ngũ Đế”. Trong “Sử từ” thời Đông Hán viết rằng Thần ở ngũ phương bao gồm Thái Hạo (Thần phương đông), Viêm Đế (Thần phương nam), Thiếu Hạo (Thần phương tây), Chuyên Húc (Thần phương bắc) và Hoàng Đế (Thần ở trung tâm) hợp thành “Ngũ Đế”… Tổng hợp về cách xếp “Ngũ Đế” bao gồm bốn thuyết pháp như sau:


Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn (“Đại đới ký”).


Bào Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn (“Chiến Quốc sách).


Thái Hạo, Viêm Đế, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc (“Lã thị xuân thu”).


Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường Nghiêu (“Tư trị thông giám”).


Về sau này thuyết pháp cho rằng “Ngũ Đế” bao gồm Thiếu Hạo. Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn  được ghi chép trong tín sử “Thượng thư tự” được sử dụng phổ biến nhất.

Thân thế của 8 vị “Tam Hoàng Ngũ Đế”

Phục Hy Thị


Phục Hy Thị còn có tên là Bao Hy Thị, Bào Hy, Thái Hạo Phục Hy. Ông được coi là người sáng tạo ra nghề đánh bắt cá, tạo phúc cho dân. Phục Hy cũng sáng tạo ra Bát Quái và chế tạo ra Đàn sắt, đồng thời sáng tác các nhạc vũ “Lập cơ”, “Giá biện”. Về hình dạng, ông thường được mô tả là thân rồng đầu người, hoặc thân rắn đầu người, vì thế được người đời sau xưng là Long Tổ.


Thần Nông Thị


Thần Nông Thị là Viêm Đế trong truyền thuyết, là Thổ Thần chủ quản việc đồng áng. Ông được xưng là Thần về nông nghiệp, dạy dân trồng trọt. Ông còn là vị Thần về y dược. Tương truyền rằng Thần Nông chuyên đi nếm các loại cây cỏ và sáng lập ra y học.


Hoàng Đế


Hoàng Đế là thủy tổ của dân tộc Hoa Hạ, họ Công Tôn, tên Hiên Viên. Tương truyền rằng ông sống ở gò Hiên Viên nên lấy Hiên Viên làm hiệu. Hoàng Đế đã đánh bại được sự xâm lược của Xi Vưu nên được các chư hầu tôn làm thiên tử và để ông lên ngôi hoàng đế thay cho Thần Nông.


Hoàng Đế đã lệnh cho vợ là Luy Tổ dạy người dân nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa và đại thần Thương Hiệt tạo ra chữ. Hiên Viên Hoàng Đế cũng sai Đại Nhiễu chế ra can chi để tính thời gian mà làm lịch, và sai Linh Luân chế tác ra nhạc khí…


Trong lịch sử, Nghiêu, Thuấn, Hạ, Chu, Thương đều là hậu duệ của Hoàng Đế  cho nên được xưng là “Con cháu Viêm Hoàng”.


Viêm Đế


Viêm Đế họ Khương. Vị thần này hình người đầu trâu. Khi Viêm Đế bị Xi Vưu đuổi đến Trác Lộc, ông đã cầu viện Hoàng Đế. Hai bên giao chiến một hồi ở Trác Lộc, Xi Vưu thỉnh Thần gió mưa làm mưa làm gió khiến cho Hoàng Đế lạc mất phương hướng. Hoàng Đế lại nhờ Thần hạn và Nữ bạt làm cho trời quang mây tạnh, và tạo ra “Chỉ nam xa” để phân rõ phương hướng. Kết quả trận giao tranh kịch liệt này là Xi Vưu bị thất bại, Hoàng Đế giành thắng lợi và được tôn làm Thiên tử.


Chuyên Húc

Chuyên Húc họ Cơ, hiệu là Cao Dương Thị. Theo Sử ký, Hoàng Đế và Luy Tổ có hai con trai là Huyền Hiệu và Xương Ý. Xương Ý được phong ở Nhược Thủy, lấy người con gái của thị tộc Thục Sơn là Xương Phó và sinh ra Chuyên Húc. Chuyên Húc là người kế vị Hoàng Đế.

Theo mô tả trong “Sử Ký” và “Ngũ Đế bản kỷ”, Chuyên Húc là người uyên bác, trầm tĩnh, có mưu lược. Sau khi Chuyên Húc kế ngôi, xa gần đều phục tùng, trở thành một vị vua quyền uy thời đó.

Đế Khốc

Đế Khốc họ Cơ, hiệu là Cao Tân. Theo “Sử Ký” của Tư Mã Thiên, Đế Khốc là con của Đới Cực, còn Đới Cực là con của Huyền Hiêu, và Huyền Hiêu chính là con trưởng của Hoàng Đế Hiên Viên. Theo vai vế, Đế Khốc là cháu họ của Chuyên Húc – cháu nội của Hoàng Đế và là người kế thừa Hoàng Đế.

Cũng theo Sử ký, ông là người nhân ái khiêm nhường, được thiên hạ theo về. Ông có khả năng tận dụng đất đai và tài nguyên, có tài lãnh đạo mọi người. Ông còn là người chế ra lịch phù hợp với quy luật sự vận động của mặt Trời và mặt Trăng, thành kính thờ tế quỷ thần.

Đế Nghiêu

Đế Nghiêu họ Doãn Kỳ, hiệu là Phóng Huân, là con trai của Đế Khốc, mẹ họ Trần Phong. Bởi vì ông đức cao vọng trọng nên dân chúng ái mộ xưng ông là Đế Nghiêu.

Ông là người nghiêm túc kính cẩn, yêu thương dân chúng, cao thấp rõ ràng, có thể đoàn kết các bộ tộc nên thời ông trị vì các bộ tộc sống chung đoàn kết như người một nhà. Đế Nghiêu gả hai con gái cho Thuấn, đồng thời sau một thời gian dài quan sát, cuối cùng ông đã yên tâm nhường ngôi cho Thuấn.

Đế Thuấn

Đế Thuấn họ Nghiêu, tương truyền rằng mắt của ông có hai đồng tử nên được xưng là “Trọng Hoa”. Sau khi được Đế Nghiêu nhường ngôi, ông làm tốt chức trách của mình, khai sáng cục diện “quốc thái dân an” thời thượng cổ. Cho nên, Đế Thuấn cũng trở thành vị minh quân Trung Nguyên cường đại nhất.

Sau này, Đế Thuấn quyết định truyền ngôi cho Vũ thay vì con trai mình là Thương Quân. Vũ lại lập ra nhà Hạ và các triều đại nối tiếp nhau ra đời.

Nữ Oa

Nữ Oa (chữ Hán: 女媧), hay Nữ Oa thị (女媧氏), Oa Hoàng (媧皇), Nữ Hi thị (女希氏), tục gọi là Nữ Oa nương nương (女媧娘娘), là một thủ lĩnh thị tộc của Trung Quốc cổ đại, dần được tôn xưng là một vị nữ thần thủy tổ trong Thần thoại Trung Quốc, bà cũng có vai trò trong thần thoại Việt Nam[1]. Đương thời bà là nữ thần thượng cổ vĩ đại nhất trong thần thoại Trung Hoa, được liệt vào trở thành một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Bà là em gái đồng thời cũng là vợ của Phục Hy, đứng đầu danh sách Tam Hoàng.

Minh họa Nữ Oa.

Truyền thuyết về Nữ Oa được truyền tụng nhiều nhất qua điển tích Luyện thạch bổ thiên (煉石补天; luyện đá vá trời); Sát Hắc long tế Ký châu (殺黑龍濟冀州; giết Hắc long giúp Ký châu);....và quan trọng nhất là lập nên hôn nhân, là Nữ thần bảo trợ cho gia đình. Bà thường được mô tả là đầu người thân rắn.

Truyền thuyết sự tíchSửa đổi

Giải thích xuất thânSửa đổi

Truyền thuyết ghi chép cho rằng Nữ Oa là vị thần sáng thế, bà vừa là em vừa là vợ của Phục Hy, đứng đầu Tam Hoàng Ngũ Đế. Chữ Oa (媧) trong từ Nữ Oa tại Thời cổ đại là ý chỉ về một vị nữ thần. Nữ Oa còn là vị thần chính trong Vu Thần giáo.

Theo thần thoại, Nữ Oa và Phục Hy là hai anh em, hiện ra khi núi Côn Lôn thành hình. Họ đã dâng đồ tế để xin đấng tạo hóa cho phép họ là hai anh em được lấy nhau thành chồng vợ. Sự phối hợp này được chấp nhận khi khói đốt từ lễ vật vẫn giữ nguyên dạng quyện vào nhau.

Đắp đất tạo ngườiSửa đổi

Hình vẽ Nữ Oa và Phục Hy đầu người mình rắn đào được ở Tân Cương.

Theo truyền thuyết, Nữ Oa có hình dáng đầu người và thân con rắn, một ngày nọ, bà tưởng nhớ Bàn Cổ khai thiên tích địa, tạo ra những ngọn núi và hồ nước, động vật, thay đổi sự tĩnh lặng của thế giới. Tuy nhiên, Nữ Oa luôn luôn cảm thấy rằng thế giới này vẫn còn thiếu một cái gì đó, nhưng không thể nhớ những gì. Trong khi Nữ Oa suy niệm, nhìn xuống dưới nước Hoàng Hà, lúc đó, nước trong xanh, mặt nước tựa như gương, in bóng hình của bà. Khi đó đã ngộ ra thế giới thiếu một "người" như bà. Nữ Oa đã tham chiếu tướng mạo bản thân sử dụng bùn của Hoàng Hà tạo ra một thân hình con người sau đó sử dụng pháp thuật để cho bùn đất sét đó có sự sống thành con người thật thụ.

Nhưng Nữ Oa không thể cứ mãi mãi nặn hình con người như thế này, cần phải ban cho họ khả năng sinh sản để họ tự phát triển giống nòi. Thế là Nữ Oa tạo những tượng đất sét cho thân thể khỏe, thổi dương khí vào những tượng đó, những bức tượng đó trở thành đàn ông, thổi âm khí vào những bức tượng trông yếu mềm hơn, thành đàn bà. Nữ Oa còn ban cho hai giới tính đó bộ sinh thực khí để sinh sản. Nữ Oa còn nghĩ cách để con người phân bố nhiều rải khắp nơi trên thế giới, liền dây ngoáy bùn dưới sông, cho bắn tung tóe lên khắp nơi trên mặt đất, tạo thành những lớp người phân bố khắp nơi. 

Theo truyền thuyết sau khi tạo ra con người, Nữ Oa luôn chiếu khán họ. Nhưng sau đó nhận thấy con người sinh ra lúc bấy giờ ăn ở với nhau không có luân lý nên Nữ Oa đã giáng thế và dạy con người luân lý hôn nhân vợ chồng và vì thế bà trở thành vị thần của hôn nhân. Bà trở thành hình tượng quan trọng trong việc thiết lập chế độ hôn nhân, căn bản của xã hội loài người. Phục Hy và Nữ Oa kết duyên với là cùng họ, nay Nữ Oa tạo ra con người bắt họ phải khác họ mới được lấy nhau; vì thế quy định khác họ mới kết hôn bắt đầu từ đây.

Do là hình tượng thần thoại tạo ra hôn nhân, vào thời Nhà Hán về sau, Nữ Oa và Phục Hy thường được tạo hình quyện vào nhau theo truyền thuyết về sự kết duyên của họ. Ngoài ra, Nữ Oa được tạo hình đang cầm Viên Quy (圓規)[2], còn Phục Hy cầm Củ Xích (矩尺)[3]tượng trưng cho hôn nhân quy củ. Muốn giúp dân chúng được vui, quên đi nỗi khiếp sợ đối với tai họa, Nữ Oa dùng tre trúc làm một loại nhạc cụ gọi là ống sênh (笙) để thổi nhạc, nhạc cụ này về sau được người Trung Quốc dùng trong âm nhạc cung đình hay hoà tấu.

Luyện đá vá trờiSửa đổi

Theo căn cứ lịch sử Tam Hoàng Bổn Ký ghi chép trong Sử ký do Tư Mã Thiên soạn, câu chuyện về Nữ Oa vá trời như sau:

Nữ Oa vá trời là truyền thuyết rất nổi tiếng, được gọi là Luyện thạch bổ thiên (煉石補天). Hồng lâu mộng phần thứ một đã đề cập đến truyền thuyết, Nữ Oa vì muốn vá trời đã luyện ra 36501 viên đá ngũ sắc, sau đó đã sử dụng 36500 viên đá ngũ sắc vá trời, trừ lại một viên chưa dùng.

Diệt Ngưu vươngSửa đổi

Bên cạnh đó, còn có một số truyền thuyết khác như Nữ Oa đã khống chế được Ngưu vương. Con quái vật này thường đe dọa hãm hại con người bằng hai cái sừng và hai tai khổng lồ. Nữ Oa khống chế bằng cách xỏ một sợi dây phép vào mũi Ngưu vương. Ngoài ra, Nữ Oa đã xây một lâu đài tráng lệ, là khuôn mẫu cho các cung điện có thành quách bao quanh của Trung Hoa sau này.

Những vật liệu xây cất lâu đài của Nữ Oa được các Sơn thần hoàn tất chỉ trong một đêm.

Thờ cúngSửa đổi

Miếu thờ Nữ Oa tại Ma Cao.

Trong Luận hành (論衡) của Vương Sung, dẫn lời của Đổng Trọng Thư, mỗi khi trời cho mưa mà không tạnh, thì đều tế Nữ oa cầu cho hết mưa[4]. Từ đó cho thấy sự tế tự đối với Nữ Oa đã có từ xưa, ít nhất cũng là thời Tây Hán. Giải thích việc cầu Nữ Oa làm mưa tạnh, là vì Nữ Oa là nữ giới, là tính âm, còn mưa hoài không dứt là thiên về âm, nên phải cầu Nữ Oa cho mưa tạnh. Đây được cho là khởi nguồn của truyền thuyết Nữ Oa luyện đá vá trời về sau.

Thời Bắc Tống, cứ Tân Định cửu vực chí (新定九域志), chép rằng: "Mạnh Châu có Hoàng sơn mẫu, còn gọi Nữ Oa sơn, có một cái am từ, dân cầu mưa."[5]

Từ thời Đường Túc Tông, triều đình đã cho làm tế miếu Nữ Oa với tư cách là nữ thần của hôn nhân. Vì Nữ Oa có công lao sáng lập hôn nhân, vì thế tấn tôn làm Quốc Quân (國君)[6].

Theo ghi chép của Sơn hải kinh, Nữ Oa tại nhục thân sau khi đã chết, ruột của bà đã tạo ra 10 vị thần. 

Có người cho rằng sau khi nhục thân Nữ Oa đã chết, tộc dân của Nữ Oa đã ăn thịt của bà, vì họ cho rằng khi ăn thịt của tổ tiên họ để tôn trọng và có cảm giác an toàn. Theo truyền thuyết Nữ oa sau khi chết đã được an táng tại trung nguyên tỉnh Hà Nam huyện Tây Hòa, vì vậy huyện Tây Hòa còn được gọi là Oa Thành. Theo lăng mộ được cho là của Nữ Oa, nay tại huyện Tây Hòa, tỉnh Hà Nam thì từ thời nhà Tần, nhà Hán, hằng năm các quân vương đều đến cúng tế, được xem là một lễ lớn, tức Tự điển (祀典). Từ đó có tên Phong lăng độ (風陵渡).


Phục Hy

Phục Hy hay Tử Hoa (chữ Hán: 伏羲) (4486 TCN—4365 TCN), còn gọi là Phục Hi thị (伏羲氏), Mật Hy (宓羲), Bào Hy[1] (庖羲), Bao Hy(包羲), Hy Hoàng (羲皇), Hoàng Hy (皇羲) hoặc Thái Hạo (太昊), ông đã tạo nên ảnh hưởng trong các thần tích Trung Hoa, ông thường được xem là người đầu tiên và đứng đầu trong các thuyết về Tam Hoàng Ngũ Đế của lịch sử Trung Quốc.

Tranh lụa về Phục Hy thời nhà Tống.

Ngoài Phục Hy, danh sách Tam Hoàng thường còn có Thần Nông  Nữ Oa. Theo quan niệm cổ của người Trung Hoa, Phục Hy là anh trai của Nữ Oa Thánh nhân.

Trong văn hóa Trung Hoa, ông là một hình tượng lớn và nổi tiếng vì người Trung Hoa cho rằng Phục Hy là người sáng lập của văn minh Trung Hoa. Ông được cho là người phát minh ra chữ viết, nghề đánh bắt cá, và bẫy thú. Tuy nhiên, một nhân vật huyền thoại khác là Thương Hiệt (倉頡), cũng được coi là người phát minh ra chữ viết. Ông cũng là người nổi tiếng với nhiều bộ sách về dịch lý.

Về hình dạng, ông thường được mô tả là thân rồng đầu người, hoặc thân rắn đầu người, nhân thế được người đời sau xưng là Long tổ (龍祖).

Truyền thuyếtSửa đổi

Theo truyền thuyết Trung Hoa, ông sinh ra tại Thành Kỷ (成紀, nay có lẽ là Thiên Thủy, Cam Túc) sau dời tới Trần Thương (陳倉). Đóng đô tại đất Trần Uyển Khâu (nay là Hoài Dương, Hà Nam).

Theo Sơn hải kinh, Phục Hy và Nữ Oa lại là một người bình thường sống ở một ngọn núi hư cấu mang tên Côn Lôn. Một ngày, họ đốt lửa ở hai nhánh cây khác nhau và tự dưng 2 ngọn lửa lại hòa làm một. Từ đó, họ quyết định trở thành vợ chồng. Cả hai nặn hình người đất và ban sự sống cho chúng, từ người đất thì loài người đã được sinh ra.

Theo truyền thuyết, ông còn là người đã kiến thuyết Bát quái[1] (八卦). Phục Hy được cho là đã phát hiện cấu trúc Bát quái từ các dấu trên lưng một con Long Mã (có sách viết là một con rùa) nổi lên từ dưới sông Lạc Hà, một sông nhánh của Hoàng Hà. Cách sắp xếp Bát quái này đã sinh ra Kinh Dịch trong thời nhà Chu. Phát kiến này còn được cho là nguồn gốc của thư pháp.

Sách Bạch hổ thông nghĩa (白虎通義) của Ban Cố (32  92), thời đầu của nhà Hậu Hán, đã viết về tầm quan trọng của Phục Hy như sau: 

Cùng với Thần Nông  Hoàng Đế, Phục Hy còn được cho là người phát minh ra đàn sắt.

Danh sách quân chủ Phục Hy thịSửa đổi

Phục Hy bấm quẻ, tranh thời nhà Minh.

Phục Hy dạy dân cày bừa, nuôi gia súc, dùng lưới đánh cá,[1] nấu ăn và săn bắn bằng vũ khí sắt. Ông cùng Nữ Oa là hình tượng thể chế hóa hôn nhân và thực hiện buổi tế trời đầu tiên. Theo truyền thuyết thì Phục Hy ở ngôi vị khoảng 115 năm, truyền được 15 đời tổng cộng 1260 năm.

Sách Đế vương thế kỷ của Hoàng Phủ Mật, người nước Tào Ngụy thời Tam Quốc  Tây Tấn nói rằng họ Phục Hy truyền tổng cộng 16 đời cụ thể như sau:

  1. Thái Hạo Đế Bào Hy thị (大皞帝包犧氏)
  2. Nữ Oa thị (女媧氏)
  3. Đại Đình thị (大庭氏)
  4. Bách Hoàng thị (柏皇氏)
  5. Trung ương thị (中央氏)
  6. Lật Lục thị (栗陸氏)
  7. Ly Liên thị (驪連氏)
  8. Hách Tư thị (赫胥氏)
  9. Tôn Lư thị (尊盧氏)
  10. Hỗn Độn thị (混沌氏)
  11. Hạo Anh thị (皞英氏)
  12. Hữu Sào thị (有巢氏)
  13. Chu Tương thị (朱襄氏)
  14. Cát Thiên thị (葛天氏)
  15. Âm Khang thị (陰康氏)
  16. Vô Hoài thị (無懷氏)

Bàn Cổ

Bàn Cổ (tiếng Trung phồn thể: 盤古; giản thể: 盘古; bính âm: Pángǔ) được coi là vị thần khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ trong thần thoại Trung Quốc.

Chân dung Bàn Cổ từ Tam tài đồ hội
Ông Bàn Cổ hai tay cầm hai mảnh trứng hỗn mang Âm Dương

Sự tíchSửa đổi

Theo Lão giáo, Bàn Cổ là thủy tổ của loài người, do Mẹ sinh ra. Theo Tam Hoàng Thiên Kinh, sự tích Bàn Cổ như sau:

Tại núi có một cục đá lớn đã thọ khí Âm Dương chiếu diệu rất lâu đời, nên đã thâu được các tính linh thông của vũ trụ mà tạo thành thai người. Sau 10 tháng 16 ngày, đúng giờ Dần, một tiếng nổ vang, khối đá linh ấy nứt ra, sản xuất một vị Linh Chân hy hữu, là Thần mang hình hài như con người được gọi là Bàn Cổ.

Vừa sinh ra thì vị ấy tập đi, tập chạy, tập nhảy, hớp gió nuốt sương, ăn hoa quả, dần dần lớn lên, mình cao trăm thước, đầu như rồng, có lông đầy mình, sức mạnh vô cùng. Một ngày kia, Bàn Cổ chạy qua hướng Tây, bắt gặp một cái búa và một cái dùi ước nặng ngàn cân. Bàn Cổ, tay phải cầm rìu tay trái cầm dùi, ra sức mở mang cõi trần.

Thuở đó Trời Đất còn mờ mịt. Ngài ước cho phân biệt Trời Đất thì nhân vật mới hóa sinh được. Ngài ao ước vừa dứt tiếng thì sấm nổ vang, Thiên thanh, Địa minh, vạn vật sinh ra đều có đủ cả.

Ngài liền chỉ Trời là Cha, chỉ Đất là Mẹ, muôn dân là con. Ngài chính là tôn chủ sáng lập thế gian, nên cũng gọi Ngài là Thái Thượng Đạo Quân. Ngài tự xưng là Thiên tử, tức là con Trời, cai trị muôn dân. Ngài là vị vua đầu tiên của cõi thế gian nên gọi Ngài là Hỗn Độn thị.

Tương truyền, Bàn Cổ có ba người con là Phục Hy, Nữ Oa, và Hoa Tư.

Bàn Cổ thọ được 18.000 tuổi rồi quy tiên. Tiếp theo thì có Thiên Hoàng, Địa Hoàng, rồi Nhân Hoàng nối nhau cai trị thiên hạ.

Nhiệm Phưởng, thế kỷ 6, đã viết huyền thoại Bàn Cổ trong quyển Thuật Dị Ký rằng: 

"Ngày xưa khi Bàn Cổ chết, đầu biến thành bốn ngọn núi, hai mắt biến thành mặt trời và Mặt Trăng, mỡ biến thành sông biển, râu tóc biến thành thảo mộc. Thời Tần và Hán, dân gian kể rằng đầu của Bàn Cổ là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc, tay trái là Nam Nhạc, tay phải là Bắc Nhạc, và hai chân là Tây Nhạc. Các văn nhân ngày xưa kể rằng nước mắt của Bàn Cổ là sông, hơi thở là gió, giọng nói là sấm, đồng tử trong mắt là ánh sáng."

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

0 nhận xét:

Đăng nhận xét