Cấu trúc của da ở người và loài động vật có vú: 
- lớp biểu bì, cung cấp khả năng chống thấm và đóng vai trò như một rào cản chống nhiễm trùng
- lớp hạ bì, đóng vai trò là vị trí cho các phần phụ của da

Thượng bì:

Cơ thể người là toàn bộ cấu trúc của một con người, bao gồm một đầu, cổ, thân (chia thành 2 phần là ngực và bụng), hai tay và hai chân. Mỗi phần của cơ thể được cấu thành bởi hàng hoạt các loại tế bào. Ở tuổi trưởng thành, cơ thể người có số lượng tế bào theo ước tính là 3,72 × 1013. Con số được nêu ra như là dữ liệu không hoàn chỉnh dùng để sử dụng như khởi điểm của các tính toán sâu hơn. Con số này có được nhờ tính tổng số tế bào của toàn bộ các cơ quan trong cơ thể của tất cả các loại tế bào. Tổ hợp cấu thành cơ thể người bao gồm một số các nguyên tố nhất định theo các tỉ lệ khác nhau.
Nghiên cứu về cơ thể người xoay quanh giải phẫu học và sinh lý học. Cơ thể con người có thể biểu hiện các bất thường cấu trúc không có ý nghĩa bệnh lý nhưng cần được nhận biết. Sinh lý học tập trung vào các hệ cơ quan, cơ quan cơ thể người và chức năng của chúng. Nhiều hệ cơ quan và cơ chế tương tác với nhau để duy trì cân bằng nội môi.
Cơ thể người được bao bọc bởi một lớp da. Trên da có nhiều lông nhỏ, mọc không đều nhau. Trong da có mạch máu, đầu mút các dây thần kinh và tuyến mồ hôi. Da bảo vệ các cơ quan trong cơ thể tránh được những ảnh hưởng có hại của môi trường ngoài, góp phần giữ nhiệt độ cơ thể không đổi. Dưới da là lớp mỡ, dưới lớp mỡ là cơ và xương. Cơ tạo nên hình dạng ngoài cơ thể, xương làm thành cái khung bảo vệ cơ thể và các nội quan.
Da là lớp mô bên ngoài, thường mềm và đàn hồi bao phủ cơ thể của động vật có xương sống. Da có ba chức năng chính: bảo vệ, điều tiết và cảm giác.
Da của động vật có vú bao gồm hai lớp chính:
Thượng bì là lớp ngoài cùng trong ba lớp tạo nên da, các lớp bên trong bao gồm hạ bì và trung bì. Lớp thượng bì là một hàng rào ngăn nhiễm trùng do các mầm bệnh từ môi trường và điều hòa lượng nước khỏi cơ thể vào trong không khí qua thoát hơi nước qua thượng bì. Thượng bì bao gồm nhiều lớp tế bào dẹt nằm trên một lớp tế bào đáy gồm tế bào hình trụ.
Các hàng tế bào phát triển từ tế bào gốc trong lớp đáy. Cơ chế tế bào điều hòa nước và natri (ENaCs) được tìm thấy trong tất cả các lớp thượng bì.
Thượng bì của con người là một ví dụ đặc trưng của biểu mô, đặc biệt là một biểu mô lát tầng sừng hóa.

Thượng bì bao gồm 4 hoặc 5 lớp, tùy thuộc vào khu vực da. Những lớp thứ tự từ ngoài vào trong là:
- Lớp sừng
- Bao gồm từ 10 đến 30 lớp tế bào đa diện, không nhân (bước biệt hóa cuối cùng của tế bào sừng), lòng bàn tay và gan chân có nhiều lớp nhất. Các tế bào sừng được bao quanh bởi vỏ protein. Hầu hết chức năng hàng rào bảo vệ của biểu bì đều đến từ lớp này.
- Lớp sáng (chỉ ở lòng bàn tay và gan bàn chân)
- Thượng bì của hai vùng này được dày hơn là nhờ lớp thượng bì có 5 lớp thay vì 4.
- Lớp hạt
- Các tế bào sừng (keratinocyte) mất nhân và bào tương nằm ở lớp hạt. Chất béo nằm trong các tế bào sừng được giải phóng vào khoang ngoại bào qua xuất bào để tạo thành một hàng rào lipid bảo vệ trên da. Những chất béo phân cực được sau đó chuyển thành chất béo không phân cực và sắp xếp song song với các tế bào bề mặt. Ví dụ glycosphingolipids trở thành ceramides và phospholipid trở thành axit béo tự do.
- Lớp gai
- Lớp đáy
Lớp Malpighi có mặt ở cả lớp đáy và lớp gai.
Thượng bì ngăn cách với hạ bì bởi màng đáy.
Trung bì là lớp ngay sau lớp thượng bì, được ngăn cách với thượng bì qua màng đáy hay còn gọi là màng cơ bản. Các dịch sẽ từ trung bì ngấm qua màng đáy để nuôi dưỡng thượng bì. Ranh giới giữa thượng bì và trung bì không phải là một đường thẳng mà là đường lượn sóng. Phần sóng nhỏ nhô lên phía trên là gai bì, phần sóng lượn xuống dưới giữa hai gai bì là mào liên gai.
Trung bì gồm hai lớp:
Trung bì nông (papillary dermis)
Đây là lớp nuôi dưỡng. Trên bề mặt có những gai nhô lên còn gọi là nhú bì hay gai bì ăn sâu vào thượng bì. Các gai do tổ chức liên kết tạo nên, có nhiều mao mạch. Các nhú bì có chiều cao và độ lớn khác nhau tùy theo vùng da. Da ở lòng bàn tay, chân các nhu có khi cao đến 0,2mm, ở da mặt thì lớp nhú rất mỏng.
Trung bì sâu (reticular dermis)
Trung bì sâu gồm có:
- Những sợi chống đỡ
+ Sợi keo (collagen fiber) là những sợi thẳng không phân nhánh, cấu tạo bởi những chuỗi polypeptid, gồm 20 loại acid amin khác nhau, chủ yếu là glycin và argenin. Sợi keo là chất liệu chính làm cho da vững chắc trước tác động cơ học, lý học, hóa học từ bên ngoài. Sợi keo tập trung chủ yếu ở lớp trung bì sâu, một ít ở nhú bì, nang lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi, quanh mạch máu.
+ Sợi chun hay sợi đàn hồi (elastic fiber) là những sợi mỏng, nhẵn có phân nhánh lượn sóng, bắt nguồn từ sợi keo.
+ Sợi lưới: cấu trúc giống sợi keo, tạo thành mạng lưới mỏng quanh mạch máu, tuyến mồ hôi.
+ Sợi liên võng (reticulum fiber): là dạng đặc biệt của sợi keo, tập trung ở trung bì nông, phần phụ của da, mạch máu.
- Chất cơ bản: là một màng nhày gồm tryptophan, tyrosin, mucopolysaccharid, hyaluronic.
- Tế bào:
+ Các tế bào xơ hình thoi hoặc hình amip, có nhân to hình bầu dục, chứa nhiều hạt ty lạp thể, có tác dụng làm da lên sẹo.
+ Tổ chức bào hình thoi hoặc hình sao, nó có thể biến thành thực bào, đại thực bào.
+ Dưỡng bào tham gia vào quá trình chuyển hóa heparin, histamin, acid hyaluronic.
- Mạch máu, trung bì chỉ có những mạch máu nhỏ tập trung ở gai bì và quanh các tuyến.
- Thần kinh:
+ Thần kinh não tủy có vỏ myelin, có nhánh đi riêng.
+ Thần kinh giao cảm không có vỏ myelin chạy trong các bao mạch máu.
Hạ bì (hypodermis):

Lông là những sợi cấu tạo từ chất sừng, được mọc ở trên da của loài động vật có vú.

Có ba giai đoạn chính:
- Giai đoạn tăng trưởng (anagen): tóc được hình thành và nhú ra khỏi đầu thoát của tuyến dầu quanh nang tóc. Thân tóc xuất hiện và hoàn thiện quá trình sừng hóa phía ngoài. Giai đoạn tăng trưởng kéo dài 2-4 năm ở đàn ông và 3-7 năm ở phụ nữ. Tóc mọc 0,3-0,4mm một ngày và tối đa là 1 cm trong một tháng.
- Giai đoạn dừng tăng trưởng (catagen): trong suốt giai đoạn này, tóc trải qua hàng loạt những thay đổi. Tất cả mọi hoạt động tăng trưởng trong tế bào bầu tóc ngừng lại và co về phía trước. Sự tổng hợp melanin cũng dừng lại. Phần sâu nhất của nang tóc sẽ thoái hóa trong từ 2 đến 3 tuần.
- Giai đoạn thoái hóa (telogen): kéo dài 2-4 tháng. Nang tóc giờ đây chỉ còn là một bộ phận không hoạt động. Bộ phận sinh trưởng nằm sâu dưới lớp da,chân tóc tách khỏi nang bây giờ đã co lại, bắt đầu rụng đi và nhường chỗ cho giai đoạn tăng trưởng của sợi tóc mới, vòng đời mới của tóc bắt đầu.
- Biotin: được biết tới như vitamin H – rất quan trọng đối với việc phát triển tóc mới, tạo chân tóc khoẻ mạnh và hỗ trợ quá trình tạo tế bào tóc nhanh.
- Vitamin B: bao gồm vitamin B1, B2, B3, B5, B6, B12. B3 và B6 giúp giảm rụng tóc, B5 tăng độ ẩm của tóc, giúp tóc mềm mại. Vitamin B còn có khả năng giúp cơ thể giảm bớt tác hại của stress lên tóc
- Silica: hay silcon là chất dinh dưỡng cần cho cơ thể, đặc biệt là tóc và móng. Có thể bổ sung silica từ các loại đậu, rau quả
- Sắt: giúp cho tóc mọc nhanh
- Kẽm: giúp tóc mọc dày, sợi tóc khỏe, giúp các tế bào ở nang tóc nhận biết sự có mặt của các hormone kích thích tóc tăng trưởng
- Vitamin E
- Vitamin D
Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào và huyết tương. Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như carbon dioxide và axit lactic. Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào và các chất khác nhau giữa các tổ chức và cơ quan trong cơ thể. Các rối loạn về thành phần cấu tạo của máu hay ảnh hưởng đến sự tuần hoàn bình thường của nó có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác nhau.

Có hai vòng tuần hoàn tương đối độc lập về mặt giải phẫu nhưng liên quan chặt chẽ về mặt chức năng: tuần hoàn phổi (hay còn gọi tiểu tuần hoàn) và tuần hoàn hệ thống (hay còn gọi là đại tuần hoàn). Hai vòng tuần hoàn này đều hoạt động chủ yếu bởi sức bơm của cơ tim.
Hồng Cầu:

Hồng cầu, hay hồng huyết cầu (có nghĩa là tế bào máu đỏ), là loại tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa O2 từ phổi đến các mô. Enzyme carbonic anhydrase trong hồng cầu làm tăng hàng nghìn lần vận tốc của phản ứng giữa CO2 và H2O tạo ra axit cacbonic (H2CO3). Nhờ đó, nước trong huyết tương vận chuyển CO2 dưới dạng ion bicarbonat (HCO3—) từ các mô trở lại phổi để CO2 được tái tạo và thải ra dưới thể khí. Ở nhiều động vật bậc thấp, hemoglobin hòa trong dòng huyết tương. Với tổ chức của cơ thể người, hemoglobin cần phải được chứa trong hồng cầu, vì nếu ở dạng tự do, nó sẽ thấm dần qua các mao mạch và bị thất thoát qua nước tiểu. Là một protein, hemoglobin còn có chức năng đệm kiềm-toan, đây cũng là một chức năng quan trọng của hồng cầu. Hồng cầu được tạo ra từ các tế bào máu gốc trong tủy xương, đa số hồng cầu bị hủy ở lách. Tuy là một tế bào, hồng cầu trưởng thành lại không có nhân, ti thể hay ribôxôm. Các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu được dùng để định nghĩa nhóm máu. Nhiều hệ thống nhóm máu đã được thiết lập, trong đó sớm nhất và quan trọng nhất là hệ thống nhóm máu ABO.
Số lượng hồng cầu trong máu:
- Ở nam giới: 5,2 ± 0,3 G/ML
- Ở nữ giới: 4,7 ± 0,3 G/ML
Cư dân sống ở vùng cao sẽ có mật độ hồng cầu cao hơn (sẽ bàn sau).
Ghi chú: G/ML (giga/mililít) = 109/ML
Nồng độ hemoglobin trong bào tương của hồng cầu có thể lên đến 34 g/dL tế bào. Đó là nồng độ tối đa không làm rối loạn chức năng tạo hemoglobin trong hồng cầu. Ở người khỏe mạnh bình thường, nồng độ hemoglobin trong hồng cầu luôn ở gần mức tối đa này. Tuy nhiên, khi chức năng tạo hemoglobin bị suy yếu, nồng độ này tụt giảm đáng kể, có thể làm thể tích hồng cầu giảm theo.
Trung bình, nồng độ hemoglobin trong máu là:
- Ở nam giới: 15 g/dL (13 - 18)
- Ở nữ giới: 14 g/dL (11,5 - 16).
Sinh trụ diệt của hồng cầu:
Trong những tuần đầu tiên của phôi, những tế bào hồng cầu có nhân được tạo ra trong túi noãn hoàng. Ba tháng giữa thai kì, gan (chủ yếu), lách và các hạch lympho là những cơ quan tạo hồng cầu (tạo hồng cầu có nhân). Từ những tháng cuối thai kì về sau, chỉ có tủy xương là nơi tạo hồng cầu.
Dưới 5 tuổi, hầu như tủy xương nào cũng tạo hồng cầu. Lớn lên, tủy các xương ống (trừ đoạn gần của xương cánh tay và xương chày) dần dần mỡ hóa và không sản xuất hồng cầu nữa. Sau tuổi 20, hồng cầu được tạo ra trong tủy các xương dẹt (như xương đốt sống, xương ức, xương sườn, xương vai, xương chậu, xương sọ). Càng lớn tuổi, chức năng sinh hồng cầu càng giảm.
Quá trình tạo hồng cầu:
Các tế bào máu gốc đa năng là nguồn tạo ra tất cả các loại tế bào máu, bao gồm hồng cầu. Các tế bào đa năng sinh sôi, một số tế bào con sẽ tiếp tục làm nguồn tế bào gốc đa năng, còn đa số sẽ biệt hóa qua nhiều giai đoạn để thành các dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.
Chi tiết của các quá trình biệt hóa này được trình bày trong bài tế bào máu.
Riêng về dòng hồng cầu, các giai đoạn phát triển sau tế bào gốc đa năng gồm:
- CFU-S (chung cho hồng cầu và bạch cầu, trừ bạch cầu lympho)
- CFU-B
- CFU-E
- Nguyên tiền hồng cầu (từ giai đoạn này trở đi là dòng hồng cầu đích danh)
- Nguyên hồng cầu ưa base (bắt màu khi nhuộm với chất kiềm), bắt đầu sự tích lũy hemoglobin.
- Nguyên hồng cầu đa sắc
- Nguyên hồng cầu ưa acid
- Hồng cầu lưới (nhân hồng cầu đã bị cô đặc và trục ra khỏi tế bào từ các giai đoạn trước, hệ lưới nội mô cũng bị hấp thu, trong hồng cầu lưới chỉ còn sót một phần chưa tiêu hủy hết của các bào quan như bộ máy Golgi, ti thể v.v.)
- Hồng cầu trưởng thành
Sự tăng trưởng và sinh sản của các tế bào gốc được điều khiển bởi các protein gọi là các chất cảm ứng tăng trưởng, mỗi chất có những đặc điểm riêng. Interleukin-3 là chất cảm ứng tăng trưởng tác động lên hầu hết các dòng tế bào máu, trong khi các chất cảm ứng tăng trưởng khác chỉ ảnh hưởng đến một vài loại tế bào mà thôi.
Các chất cảm ứng tăng trưởng không có vai trò trong sự biệt hóa các dòng tế bào máu. Đây là nhiệm vụ của loại protein khác - các chất cảm ứng biệt hóa.
Các chất cảm ứng (biệt hóa và tăng trưởng) được tạo ra bên ngoài tủy xương.
Hồng cầu lưới xuyên mạch, rời tủy xương đi vào máu tuần hoàn. Tàn dư của các bào quan cũng tiêu hết trong vòng 1 đến 2 ngày.
Điều hòa hoạt động tạo hồng cầu - vai trò của erythropoietin:
Yếu tố chủ yếu điều hòa sản xuất hồng cầu: mức độ oxy hóa của cơ thể:
Bất kỳ lý do nào làm giảm lượng oxy chuyên chở tới các mô cũng kích thích sự tạo hồng cầu. Bởi vậy, khi cơ thể bị thiếu máu, tủy xương sẽ tăng sinh hồng cầu. Khi phần lớn tủy xương bị hủy hoại (chẳng hạn do xạ trị ung thư), các phần tủy còn sót lại cũng sẽ tăng dưỡng để bù đắp cho cán cân cung - cầu.
Càng lên cao so với mực nước biển, nồng độ oxy trong không khí càng loãng. Sự tạo hồng cầu ở cư dân các vùng cao (như Đà Lạt, Sa Pa, La Paz v.v.) cũng nhiều hơn so với cư dân các vùng thấp. Trong trường hợp này, sự thiếu oxy chứ không phải thiếu máu đã kích thích tạo hồng cầu mới.
Sự sản xuất hồng cầu cũng được đẩy mạnh trong một số bệnh. Nhất là các bệnh của hệ tuần hoàn và hệ hô hấp làm giảm chức năng bơm máu đến các mô, hoặc giảm khả năng hấp thu oxy tại phổi.
Erythropoietin và đáp ứng với tình trạng thiếu oxy:
Erythropoietin được sản xuất chủ yếu tại thận:
Ở người bình thường, 90% lượng erythropoietin trong cơ thể được sản xuất ở thận (phần còn lại chủ yếu được sản xuất ở gan). Hiện nay người ta chưa biết chính xác phần nào của thận sản xuất hormon này.
Có giả thuyết cho rằng các tế bào biểu mô ống thận tiết erythropoietin, bởi ống thận có nhu cầu oxy rất cao, sự thiếu oxy sẽ kích thích khu vực này tiết EPO.
Tuy nhiên, khi có tình trạng thiếu oxy cục bộ tại những cơ quan khác (khi thận vẫn được cấp máu đầy đủ), chức năng tạo erythropoietin của thận vẫn được kích thích. Do đó người ta tin rằng còn có những cảm thụ quan ngoài thận đã gửi tín hiệu đến thận. Thực nghiệm đã cho thấy norepinephrin, epinephrin và vài prostaglandin có vai trò kích thích sản xuất erythropoietin.
Khi cả hai thận bị mất chức năng do bệnh hoặc bị cắt bỏ, bệnh nhân sẽ bị thiếu máu nặng, do lượng erythropoietin sản xuất bởi gan và các mô khác chỉ đảm bảo cho sự sản xuất hồng cầu được có 1/3 đến 1/2 nhu cầu.
Sự trưởng thành của hồng cầu - nhu cầu vitamin B12 và axit folic:
Với một đời sống chỉ độ 120 ngày, hồng cầu là một trong những loại tế bào được thay thế nhiều nhất của cơ thể. Lẽ dĩ nhiên, vai trò của dinh dưỡng rất quan trọng trong sự sinh sản và trưởng thành của hồng cầu.
Vitamin B12 và axit folic là các chất dinh dưỡng hết sức cần thiết cho sự trưởng thành của hồng cầu. Cả hai đều tham gia (bằng hai cơ chế khác nhau) vào việc tạo thymidin triphosphat, một trong 4 thành phần chính của DNA. Do đó, thiếu vitamin B12 và axit folic gây thiếu DNA hoặc tạo ra các DNA bất thường, ảnh hưởng đến sự trưởng thành của nhân và sự phân chia tế bào. Lúc đó, các tủy bào thay vì phát triển nhanh chóng, chúng lại đi vào máu tuần hoàn dưới dạng hồng cầu bất thường (đại bào), với lớp màng mong manh và thường có dạng trứng, to thay vì dạng đĩa lõm hai mặt. Các đại bào vẫn thực hiện được chức năng chở oxy nhưng với hình dạng và lớp màng như vậy, chúng rất yểu mệnh, tuổi thọ chỉ bằng 1/3 đến 1/2 so với hồng cầu bình thường.
Thiếu máu ác tính và vitamin B12:
Nguồn vitamin B12 trong thức ăn chủ yếu là thịt, trứng, sữa. Đậu nành lên men được cho là có chứa một ít vitamin B12, tuy nhiên nhiều loại thực vật không chứa B12 hoặc có dưới dạng không thích hợp với người. Trong thức ăn chay, người ta thường phải bổ sung B12 tổng hợp. Bệnh thiếu máu ác tính thật ra không phải do chế độ ăn thiếu B12 mà do cơ thể không thể hấp thụ được vitamin này, thường là do các bệnh ảnh hưởng đến tế bào thành (như teo niêm mạc dạ dày).
Sự hấp thu vitamin B12 phụ thuộc vào một loại glycoprotein gọi là yếu tố nội tại do các tế bào thành trong dạ dày tiết ra. Đại khái sự hấp thu này trải qua 3 bước như sau:
- Yếu tố nội tại gắn chặt vào vitamin B12, qua đó bảo vệ B12 khỏi sự phân hủy bởi môi trường khắc nghiệt của dạ dày.
- Xuống đến hồi tràng, cặp B12 + yếu tố nội tại này bám vào các vị trí thụ thể trên các tế bào nhầy tại bờ bàn chải.
- Trong vài giờ tiếp theo, qua cơ chế ẩm bào vitamin 12 (vẫn luôn dưới dạng liên kết với yếu tố nội tại) được hấp thu vào các tế bào ở thành ruột rồi đưa vào máu.
Theo dòng máu từ hồi tràng đổ vào gan qua tĩnh mạch cửa, vitamin B12 được dự trữ ở gan và cung cấp dần vào tủy xương theo nhu cầu. Bình thường, quá trình trưởng thành của hồng cầu đòi hỏi mỗi ngày khoảng 1-3 µg vitamin B12. Gan dự trữ được khoảng 1000 lần nhu cầu hàng ngày, do đó 3-4 năm sau khi có rối loạn hấp thu B12, thiếu máu ác tính mới xuất hiện.
Rối loạn hấp thu axit folic:
Vận chuyển oxy là chức năng của hemoglobin:
Sinh tổng hợp hemoglobin bắt đầu ở giai đoạn nguyên hồng cầu đa sắc cho đến giai đoạn hồng cầu lưới. Khi vào dòng máu tuần hoàn, hồng cầu có thể tiếp tục tạo một lượng nhỏ hemoglobin cho đến khi nó trở thành hồng cầu trưởng thành. Sự sinh tổng hợp hemoglobin gồm các bước cơ bản sau:
- Succynil-CoA (tạo ra từ chu trình Krebs) gắn với glycin tạo ra phân tử pyrrol.
- 4 pyrrol hợp lại thành protoporphyrin IX.
- Protoporphyrin IX gắn với sắt tạo nên hem.
- Phân tử hem gắn với một chuỗi polypeptid gọi là globin để tạo thành một tiểu đơn vị gọi là chuỗi hemoglobin, khối lượng mỗi chuỗi là 16 KDa.
- 4 chuỗi hemoglobin gắn với nhau tạo thành phân tử hemoglobin.
Có nhiều loại tiểu đơn vị khác nhau (alpha, beta, gamma, delta). Bình thường ở người lớn, 4 tiểu đơn vị của hemoglobin gồm 2 chuỗi alpha và 2 chuỗi beta, gọi là hemoglobin A (khác với khái niệm nhóm máu A). Hemoglobin A có khối lượng phân tử 68.458 Da.
Mỗi phân tử hemoglobin có 4 nguyên tử sắt, mỗi nguyên tử sắt lại có khả năng gắn với 1 nguyên tử oxy, do đó mỗi phân tử hemoglobin gắn được tối đa 4 nguyên tử oxy. Bản chất của các chuỗi hemoglobin quyết định ái lực của nó với oxy.
Chức năng hô hấp yêu cầu liên kết giữa hemoglobin và oxy phải có tính thuận nghịch (gắn - tách dễ dàng).
Oxy không liên kết với hai hóa trị dương của nguyên tử sắt. Ngược lại, nó gắn lỏng lẻo qua cái gọi là "liên kết đồng hàng" với nguyên tử sắt.
Điều đáng chú ý là oxy không bị ion hóa, nó được vận chuyển dưới dạng phân tử O2. Tại các mô, phân tử oxy được phóng thích nguyên dạng vào dịch ngoại bào.
Sự hủy hồng cầu:
Trung bình một hồng cầu người sống được 120 ngày kể từ khi rời tủy xương đi vào máu tuần hoàn. Hồng cầu cũng có thể bị các nguyên sinh vật tấn công và phá hủy, điển hình là trùng kiết lị và trùng sốt rét.
Tuy không có nhân, ti thể và hệ lưới nội chất, trong bào tương hồng cầu vẫn có một số enzym thực hiện chức năng chuyển hóa glucose và tạo ra một lượng nhỏ ATP. Đồng thời, các enzyme đó cũng giúp:
- Gìn giữ sự dẻo dai của màng hồng cầu.
- Đảm bảo trao đổi ion qua màng tế bào.
- Giữ sắt trong hemoglobin dưới dạng hóa trị 2 thay vì hóa trị 3.
- Ngăn chặn phản ứng oxy hóa của các protein trong hồng cầu.
Mặc dầu vậy, theo thời gian, hệ chuyển hóa của hồng cầu ngày càng kém hiệu quả, khiến cho màng hồng cầu trở nên mong manh, dễ vỡ. Do đó, các hồng cầu già sẽ bị vỡ khi đi qua tổ chức chật chội của hệ tuần hoàn, chủ yếu là tại lách và gan. Tủy đỏ của lách có cấu trúc vách mà hầu hết các hồng cầu đều phải đi qua. Cấu trúc này chỉ rộng vẻn vẹn có 3 µm (trong khi hồng cầu có đường kính trên dưới 7,5 µm). Ở những người bị cắt bỏ lách, lượng hồng cầu bất thường lưu thông trong máu tăng lên đáng kể.
Sự hủy hemoglobin:
Khi hồng cầu vỡ ra và phóng thích hemoglobin chứa bên trong, hemoglobin gần như lập tức được hấp thụ bởi các đại thực bào tại khắp nơi trong cơ thể, nhưng chủ yếu là bởi các tế bào Kupffer ở gan và các đại thực bào ở lách và tủy xương.
Vài giờ đến vài ngày sau, các đại thực bào sẽ "nhả" sắt lấy từ hemoglobin trở lại máu. Sắt được chuyên chở (như miêu tả trong bài chuyển hóa sắt) đến tủy xương để tạo hồng cầu mới hoặc đến gan và các mô khác để dự trữ.
Thành phần porphyrin của hemoglobin sau khi trải qua một loạt các biến đổi, trở thành sắt tố mật (tức bilirubin), chất này theo tĩnh mạch lách đổ vào tĩnh mạch cửa vào gan, được gan sử dụng để tổng hợp mật phục vụ tiêu hóa.
Bạch Cầu:
Trong ảnh có hồng cầu (hình giống cái bánh rán), tiểu cầu (hình đĩa nhỏ) và
các tế bào bạch cầu: bạch huyết bào, bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính
Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là "tế bào máu trắng", còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Chúng là một phần của hệ miễn dịch, số lượng bạch cầu các loại trong một lít máu người lớn khỏe mạnh dao động từ 4x109 tới 11x109.
Bạch cầu trong suốt, kích thước khá lớn, có nhân. Ngoại trừ máu, chúng được tìm thấy với số lượng lớn trong các hạch, mạch bạch huyết, lách và các mô khác trong cơ thể.
Trong tổng số bạch cầu cơ thể các loài động vật có vú thì Bạch cầu hạt trung tính là loại chiếm số lượng nhiều nhất (40% đến 70%). Có khoảng 50.000 bạch cầu trong một giọt máu.
Hình ảnh từ kính hiển vi ánh sáng (500 x) từ lam máu ngoại vi nhuộm Giemsa cho thấy
các tiểu cầu (chấm màu xanh) được bao quanh bởi các tế bào hồng cầu (màu hồng và hình tròn)
Tiểu cầu (tiếng Anh: platelets hay thrombocytes) là một loại tế bào máu có chức năng cầm máu bằng cách làm máu vón cục và đông lại khi mạch máu bị thương. Tiểu cầu không có nhân tế bào. Chúng thực chất là một mảnh tế bào vỡ ra từ các tế bào nhân khổng lồ sản sinh ra từ các megakaryocytes của tủy xương. Tiểu cầu có dạng hình đĩa hai mặt lồi (giống như thấu kính), đường kính lớn nhất khoảng 2–3 µm. Tiểu cầu chỉ có ở động vật có vú, trong khi các loài động vật khác (chim, động vật lưỡng cư) tiểu cầu tuần hoàn như các tế bào đơn nhân.
Xem trên lát mỏng bằng kính hiển vi, tiểu cầu là những đốm màu tím sậm, đường kính bằng 20% hồng cầu. Những lát mỏng này được sử dụng để nghiên cứu tiểu cầu về kích thước, hình dạng, số lượng, và sự vón cục máu. Tỷ lệ tiểu cầu so với hồng cầu ở một người lớn khỏe mạnh là 1:10 đến 1:20.
Thông thường, đời sống của tiểu cầu kéo dài từ 5-7 ngày. Trong cơ thể, cơ quan đảm nhiệm vai trò tiêu hủy các tế bào tiểu cầu già là lách. Lách là nơi bắt giữ và tiêu hủy tiểu cầu cũng như các tế bào máu khác trong cơ thể. Những phát triển bất thường của lá lách như lách to có thể làm tăng quá trình bắt giữ và tiêu hủy tiểu cầu, gây giảm số lượng tiểu cầu trong máu ngoại vi. Do vậy trong nhiều trường hợp giảm tiểu cầu nghiêm trọng, bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật cắt lách nhằm giảm quá trình tiêu hủy tiểu cầu.
Chức năng của tiểu cầu:
Chức năng chính của tiểu cầu là góp phần vào sự cầm máu, tức là quá trình dừng chảy máu tại nơi nội mạc mạch máu (thành trong của mạch máu hay mạch bạch huyết) bị thương. Khi đó chúng sẽ tập trung tại vết thương và trừ khi lỗ hổng quá lớn, tiểu cầu sẽ bịt lỗ này lại.
Quá trình có 3 giai đoạn:
- Kết dính: Tiểu cầu kết dính với các chất bên ngoài nội mạc.
- Phát động: Chúng thay đổi hình dạng, kích hoạt thụ quan (receptor) và tiết ra các tín hiệu hóa học.
- Tập hợp, chúng kết nối với nhau thông qua cầu thụ quan.
Sự hình thành các “nút tiểu cầu" này (sự cầm máu sơ cấp) thường kết hợp với sự cầm máu thứ cấp bằng tơ huyết (fibrin) tổng hợp.
Bệnh tăng tiểu cầu (thrombocytosis):
- Tăng tiểu cầu căn nguyên: xảy ra khi những tế bào bất thường trong tủy xương sản sinh quá nhiều tiểu cầu không rõ nguyên do.
- Tăng tiểu cầu thứ cấp: cũng giống như trên nhưng có lý do là vì các bệnh như thiếu máu, ung thư, nhiễm trùng.
Triệu chứng của bệnh là việc xuất hiện các cục máu đông tự phát ở cánh tay và chân, mà nếu không được điều trị có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Trường hợp nặng sẽ phải sử dụng thủ thuật phân tách thành phần máu để làm giảm số lượng tiểu cầu bằng cách loại chúng ra khỏi hệ tuần hoàn.
Bệnh giảm tiểu cầu (thrombocytopenia):
Triệu chứng là những nốt bầm tím xuất hiện trên da bệnh nhân và việc chảy máu lợi, mũi, đường tiêu hóa. Những trường hợp nặng có thể gây xuất huyết nội tạng và não, rất nguy hiểm với tính mạng. Lý do của bệnh là do một số tác nhân gây ức chế việc sản sinh tiểu cầu, chúng có thể là
- Thuốc
- Bệnh di truyền
- Một số loại ung thư chẳng hạn như bệnh bạch cầu hoặc lymphoma.
- Việc hóa trị liệu ung thư
- Nhiễm trùng hoặc rối loạn chức năng thận
- Uống quá nhiều rượu
Dây thần kinh là một bó sợi thần kinh được bao bọc giống như dây cáp gọi là sợi trục, trong hệ thần kinh ngoại biên. Một dây thần kinh cung cấp một con đường chung cho các xung thần kinh điện hóa được gọi là hiệu điện thế hành động được truyền dọc theo mỗi sợi trục đến các cơ quan ngoại vi hoặc, trong trường hợp của các dây thần kinh cảm giác, từ ngoại vi trở lại hệ thần kinh trung ương. Mỗi sợi trục trong dây thần kinh là một phần mở rộng của một nơron riêng lẻ, cùng với các tế bào hỗ trợ khác như tế bào Schwann bao bọc các sợi trục trong myelin.
Dây thần kinh
Mỗi dây thần kinh được bao phủ bên ngoài bởi một lớp dày đặc các mô liên kết, vỏ dây thần kinh. Bên dưới đây là một lớp tế bào phẳng, bao ngoài bó sợi thần kinh, tạo thành một ống bọc hoàn chỉnh xung quanh một bó sợi trục. Vách màng đáy kéo dài vào dây thần kinh và chia nó thành nhiều bó sợi. Bao quanh mỗi sợi như vậy là mô nội thần kinh. Điều này tạo thành một ống không bị vỡ từ bề mặt của tủy sống đến mức mà sợi trục đồng bộ với các sợi cơ của nó, hoặc kết thúc ở các thụ thể cảm giác. Mô nội thần kinh bao gồm một lớp lót bên trong được gọi là glycocalyx và một lớp lưới bên ngoài, gồm các sợi collagen mỏng manh. Các dây thần kinh bị bó lại và thường đi kèm cùng với các mạch máu, vì các tế bào thần kinh của một dây thần kinh có nhu cầu năng lượng khá cao.
Mặt cắt ngang của một dây thần kinh
Trong vỏ dây thần kinh (endoneurium), các sợi thần kinh riêng lẻ được bao quanh bởi một chất lỏng protein thấp gọi là chất lỏng nội sinh. Điều này hoạt động theo cách tương tự như dịch não tủy trong hệ thống thần kinh trung ương và tạo thành một hàng rào thần kinh máu tương tự như hàng rào máu não. Do đó, các phân tử được ngăn chặn qua máu vào chất lỏng nội sinh. Trong quá trình phát triển phù thần kinh do kích thích dây thần kinh (hoặc chấn thương), lượng dịch nội mạc có thể tăng lên tại vị trí kích thích. Sự gia tăng chất lỏng này có thể được hình dung bằng cách sử dụng hình ảnh thần kinh cộng hưởng từ, và do đó, hình ảnh thần kinh MR có thể xác định kích thích thần kinh và/hoặc chấn thương.
Mồ hôi là một chất dịch lỏng với dung môi là nước và nhiều loại chất tan hàm chứa trong đó (chủ yếu là các muối chloride) do các tuyến mồ hôi nằm ở da của các động vật có vú tiết ra. Trong mồ hôi cũng hàm chứa nhiều chất thơm như 2-methylphenol (o-cresol) và 4-methylphenol (p-cresol) cũng như một lượng nhỏ urê. Hiện tượng cơ thể bài tiết mồ hôi được gọi bằng một tên thông dụng là đổ mồ hôi hay ra mồ hôi, còn hiện tượng bài tiết mồ hôi ở cường độ cao do sốc hay do cơ thể nằm trong tình trạng nguy hiểm được gọi là vã mồ hôi hay toát mồ hôi hột.
Các phần cơ thể
Các phần cơ thể, hay còn gọi là các khoang cơ thể, là những khoảng không gian trong cơ thể chứa đựng và bảo vệ các cơ quan và hệ cơ quan, bao gồm:
- Khoang sọ và ống xương sống: là các khoang xương chứa bộ não và tủy sống, nhờ đó mà các bộ phận quan trọng này của hệ thần kinh được bảo vệ chặt chẽ.
- Khoang ngực: là khoang được giới hạn trong lồng ngực, ở phía trên cơ hoành ngăn cách với khoang bụng. Trong khoang này chứa các bộ phận chủ yếu của hệ hô hấp và hệ tuần hoàn như tim, hai lá phổi (ngoài ra còn có một bộ phận của hệ tiêu hóa đi qua khoang này là thực quản).
- Khoang bụng: nằm bên dưới cơ hoành, là khoang cơ thể lớn nhất. Khoang này chứa gan, ruột, dạ dày, thận, tử cung (ở nữ),... là các cơ quan của hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ sinh dục.
Não người là cơ quan trung tâm của hệ thần kinh con người, và cùng với tủy sống kiến tạo nên hệ thần kinh trung ương. Nó được chia làm 3 phần chính là đại não, thân não và tiểu não. Bộ não điều khiển hầu hết các hoạt động của cơ thể nhờ chức năng xử lý, tích hợp, điều phối các thông tin nhận được từ hệ giác quan rồi gửi chỉ dẫn tương ứng đến các cơ quan trên cơ thể. Bộ não được bao bọc bởi khối xương sọ trên đầu.

Đại não chiếm phần lớn kích thước não người và được cấu thành từ 2 bán cầu não. Mỗi bán cầu có phần lõi chứa chất trắng và phần bề mặt (gọi là vỏ đại não) chứa chất xám. Lớp bên ngoài của vỏ não được gọi là tân vỏ, còn lớp bên trong được gọi là vỏ nguyên thủy.
Tân vỏ não lại được tạo thành từ 6 lớp tế bào thần kinh, còn vỏ não nguyên thủy được tạo thành từ 3 hoặc 4 lớp. Mỗi bán cầu được chia thành bốn thùy theo quy ước, đó là: thùy trán, thùy thái dương, thùy đỉnh và thùy chẩm.

Thùy trán đảm nhận các chức năng điều hành bao gồm tự chủ, hoạch định, lý luận và tư duy trừu tượng, trong khi thùy chẩm chỉ có vai trò liên quan đến thị giác. Tại mỗi thùy, các vùng vỏ não được liên kết với các chức năng cụ thể, chẳng hạn như vùng vỏ cảm giác, vỏ vận động và vỏ liên hệ. Mặc dù nhìn chung bán cầu trái và phải tương tự nhau về hình dạng và chức năng, song một số chức năng được phân công cho một bên nhất định, chẳng hạn như khả năng ngôn ngữ ở bên trái và khả năng thị giác-không gian ở bên phải. Hai bán cầu não nối liền với nhau bởi các bó thần kinh mép, với bó lớn nhất có tên là thể chai.
Thân não là phần trung gian nối liền đại não với tủy sống. Thân não được chia thành 3 phần chính là trung não, cầu não và hành não. Tiểu não ghép với thân não thông qua 3 bó thần kinh cuống tiểu não giữa. Bên trong đại não có hệ thống các thất, bao gồm 4 thất thông nhau có thể tiết ra và lưu thông dịch não tủy. Dưới vỏ não có nhiều cấu trúc quan trọng, bao gồm đồi thị, vùng trên đồi, tuyến tùng, vùng trước đồi, tuyến yên và vùng dưới đồi; hệ viền, bao gồm hạch hạnh nhân và hồi hải mã; nhân trước tường, bao gồm các nhân của hạch nền; các cấu trúc não trước cơ bản, và 3 cơ quan quanh não thất. Các tế bào tạo nên não bao gồm nơ-ron và các tế bào thần kinh đệm hỗ trợ. Có hơn 86 tỷ nơ-ron và một số lượng tương đương các tế bào loại khác trong não. Não hoạt động được nhờ sự liên kết của các nơ-ron và sự giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh đáp ứng các xung thần kinh. Các nơ-ron kết nối tạo thành những đường dẫn thần kinh, mạch thần kinh và hệ mạng lưới thần kinh phức tạp.
Não được bảo vệ bởi hộp sọ, nổi lơ lửng trong chất lỏng gọi là dịch não tủy, và được cách ly khỏi hệ tuần hoàn nhờ hàng rào máu não. Tuy có nhiều lớp bảo vệ như vậy, não vẫn dễ bị nhiễm bệnh, nhiễm trùng hoặc chịu tổn thường từ sự va đập mạnh hoặc chứng tai biến mạch máu não. Não dễ bị mắc phải các chứng rối loạn thoái hóa, chẳng hạn như bệnh Parkinson, bệnh đa xơ cứng và các bệnh sa sút trí tuệ như Alzheimer. Những loại bệnh tâm thần, kiểu như tâm thần phân liệt và trầm cảm lâm sàng, có vẻ liên quan đến các rối loạn chức năng não. Các khối u lành tính lẫn ác tính đều có thể xuất hiện ở não; song chúng thường là những di căn lây lên não từ các khu vực khác trên cơ thể.
Đại não:
Đại não người (màu đỏ)
Bộ não một người trưởng thành có khối lượng trung bình trong khoảng từ 1,2-1,4 kg (2,9-3,1 lb), chiếm 2% tổng trọng lượng cơ thể, và có thể tích vào khoảng 1.130 cm3 ở phụ nữ và 1.260 cm3 ở đàn ông. Khối lượng biến thiên đáng kể giữa từng cá nhân, với khoảng tham chiếu đối với đàn ông là 1.180–1.620 g (2,60–3,57 lb) và đối với phụ nữ là 1.030–1.400 g (2,27–3,09 lb).
Đại não, bao gồm các bán cầu đại não, là thành phần lớn nhất của não và nằm bên trên các cấu trúc khác. Vùng bên ngoài của bán cầu não được gọi là vỏ não, chứa chất xám, được tạo nên từ các lớp tế bào nơron vỏ não. Mỗi bán cầu não được chia thành 4 thùy não chính: thùy trán, thùy đỉnh, thùy thái dương và thùy chẩm. Một số tài liệu còn liệt kê thêm 3 thùy não nữa: thùy trung tâm, thùy viền và thùy đảo. Thùy trung tâm bao gồm hồi trước trung tâm và hồi sau trung tâm; đôi khi được nhắc đến vì vai trò chức năng khá độc đáo của nó.
Thân não (hay cuống não) gắn với đại não ở phần đầu của não giữa. Thân não bao gồm 3 phần: não giữa, cầu não và hành não. Đằng sau thân não là tiểu não.

Các vùng chức năng của não người. Những khoảng
khoanh nét đứt nằm ở bên bán cầu não ưu thế (thường là bên trái)
Đại não, thân não, tiểu não và tủy sống được bao phủ bởi 3 lớp màng não. Lớp màng ngoài cứng cáp được gọi là dura mater (màng cứng); lớp màng ngay giữa được gọi là arachnoid mater (màng nhện); và lớp màng trong mềm mỏng được gọi là pia mater (màng mềm). Giữa màng nhện và màng mềm là khoang dưới nhện và bể dưới nhện chứa dịch não tủy. Màng ngoài cùng của vỏ não (chính là màng đáy của pia mater) được gọi là giới hạn đệm (glia limitans), đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc hàng rào máu não. Bộ não sống rất mềm dẻo, có độ sệt tương tự như một bìa đậu phụ. Các lớp tế bào thần kinh vỏ não tạo nên phần lớn chất xám, còn những phần sợi trục myelin sâu dưới vỏ tạo nên chất trắng. Chất trắng chiếm gần một nửa tổng thể tích bộ não.
Quét MRI não của một cá nhân
Đại não là một phần não có kích thước lớn, chứa vỏ đại não (của hai bán cầu đại não), cũng như vài cấu trúc dưới vỏ não khác, bao gồm hồi hải mã, hạch nền và hành khứu giác. Trong não người, đại não là vùng ở trên cùng của hệ thần kinh trung ương. Não trước là cấu trúc phôi mà từ đó đại não phát triển trước khi sinh. Ở động vật có vú, đoan não lưng, tức áo não, phát triển thành vỏ đại não, và đoan não bụng, tức hạ áo não, trở thành hạch nền. Đại não cũng được chia thành bán cầu đại não trái và phải gần như đối xứng.
Với sự trợ giúp của tiểu não, đại não điều khiển tất cả hoạt động thuộc ý chí của cơ thể.
Các thùy của vỏ đại não.
Đại não được chia thành bán cầu trái và phải, gần như đối xứng hoàn toàn qua một rãnh dọc sâu. Sự bất đối xứng giữa các thùy được các nhà thần kinh học gọi là petalia. Các bán cầu não được nối với nhau bởi 5 sợi mép trải dài ở rãnh dọc, lớn nhất trong số đó là thể chai. Mỗi bán cầu được chia làm 4 thùy chính theo quy ước: thùy trán, thùy đỉnh, thùy thái dương và thùy chẩm; chúng được đặt theo tên các xương sọ bọc quanh chúng. Mỗi thùy não đảm nhận từ 1-2 chức năng chuyên biệt mặc dù có thể trùng lẫn nhau. Bề mặt của não gấp thành các hồi (gyrus) và các nếp/rãnh (sulcus), nhiều trong số đó được đặt tên theo vị trí của chúng, chẳng hạn như hồi trán hoặc rãnh trung tâm. Nhiều biến thể nhỏ xuất hiện ở các nếp gấp thứ hai và thứ ba.
Bề ngoài của đại não được gọi là vỏ não, gồm các lớp chất xám xếp chồng lên nhau. Nó dày từ 2-4 milimét (0,079 đến 0,157 in) và gấp sâu thành các nếp khiến cho nó có vẻ nhăn nheo. Bên dưới vỏ não là chất trắng đại não. Vỏ não lớn nhất là tân vỏ não, được kiến tạo từ 6 lớp tế bào thần kinh. Số còn lại đều là vỏ não nguyên thủy, được kiến tạo từ 3 hoặc 4 lớp tế bào thần kinh.
Các hồi và rãnh chính nằm trên bề mặt vỏ não nhìn từ phía bên
Vỏ não được chia thành khoảng 50 vùng chức năng gọi là các vùng Brodmann. Những vùng này trông khác hẳn nhau khi được nhìn dưới kính hiển vi. Các vùng vỏ não được chia thành 2 loại chính theo chức năng: vỏ não vận động và vỏ não cảm giác. Vỏ não vận động chính nằm ở phía sau thùy trán và ngay trước vùng cảm giác thân thể, có khả năng gửi tín hiệu qua các sợi trục xuống các nơron vận động trong thân não và tủy sống. Các khu vực cảm giác chính nhận tín hiệu từ các dây thần kinh cảm giác và các bó thần kinh cảm giác thông qua các trạm chuyển tiếp nhân của đồi thị. Các khu vực cảm giác chính bao gồm vỏ não thị giác thuộc thùy chẩm, vỏ não thính giác thuộc thùy thái dương và vỏ não đảo, và vỏ não cảm giác thuộc thùy đỉnh. Những vùng còn lại của vỏ não được gọi là các vùng liên kết. Chúng tiếp nhận tín hiệu đầu vào từ các vùng cảm giác và những phần dưới của não, đồng thời tham gia các quá trình nhận thức phức tạp như tri giác, tư duy và ra quyết định. Thùy trán có nhiệm vụ kiểm soát sự chú ý, suy nghĩ trừu tượng, hành vi, cách giải quyết vấn đề, các phản ứng thể chất và tính cách ở người. Thùy chẩm là thùy não nhỏ nhất; đảm nhận chức năng tiếp nhận hình ảnh, xử lý hình ảnh-không gian, chuyển động và nhận dạng màu sắc. Bên trong thùy chẩm có một tiểu thùy gọi là chêm (cuneus). Thùy thái dương kiểm soát ký ức thính giác và ký ức thị giác, ngôn ngữ, cũng như một số chức năng liên quan đến thính giác và lời nói.

Bên trong đại não có các thất, nơi sản xuất và lưu thông dịch não tủy. Bên dưới thể chai là vách thông suốt (septum pellucidum) ngăn cách các não thất bên. Bên dưới các não thất bên là đồi thị. Phần bên dưới về phía trước của đồi thị được gọi là vùng dưới đồi. Vùng dưới đồi dẫn đến tuyến yên. Đằng sau đồi thị là thân não.
Các hạch nền (hay nhân nền) là một tập hợp các cấu trúc nằm sâu bên trong các bán cầu não, tham gia vào chức năng điều chỉnh hành vi và cử động. Thành phần lớn nhất của hạch nền là thể vân, cùng các thành phần khác bao gồm cầu nhạt (globus pallidus), liềm đen (subsantia nigra) và nhân dưới đồi. Thể vân được chia thành phần bụng và phần lưng. Thể vân bụng bao gồm nhân nằm và củ khứu còn thể vân lưng bao gồm nhân đuôi và nhân vỏ hến. Bao trong cách ly nhân vỏ hến và cầu nhạt khỏi não thất bên và đồi thị. Nhân đuôi tiếp giáp và quấn quanh phần ngoài của não thất bên. Một tấm tế bào thần kinh mỏng, gọi là nhân trước tường, nằm ở khe sâu nhất của rãnh Synvius giữa vỏ não đảo và thể vân.
Một số cấu trúc não trước cơ bản nằm bên dưới chếch về phía trước thể vân. Chúng bao gồm nhân trám, dải chéo Broca, liềm vô danh (subsantia innominata), và nhân vách giữa. Những cấu trúc này đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất chất dẫn truyền thần kinh và acetylcholine, để rồi được phát tán khắp não bộ. Não trước cơ bản nói chung và nhân trám nói riêng được coi là đầu ra cholinergic chính của hệ thần kinh trung ương, hóa chất mà được truyền đến thể vân và tân vỏ não.
Tiểu não
Não người nhìn từ dưới lên, có thể thấy thân não và tiểu não
Tiểu não được chia thành 3 thùy: thùy trước, thùy sau và thùy nhung nốt. Thùy trước và sau được nối với nhau bởi nhộng. Vỏ tiểu não mỏng hơn vỏ đại não, tạo thành các rãnh hẹp ngang cong. Thùy nhung nốt nằm dưới phần giữa của thùy trước và sau. Tiểu não nằm ở phía sau khoang sọ, bên dưới cặp thùy chẩm, song chúng không gắn với nhau do bị lều tiểu não ngăn cách.
Tiểu não kết nối với thân não thông qua 3 cặp bó thần kinh gọi là cuống tiểu não. Cuống trên nối với não giữa; cuống giữa nối với hành tủy, và cuống dưới nối với cầu não. Phần tủy bên trong tiểu não chứa chất trắng còn phần vỏ tiểu não nhiều nếp gấp chứa chất xám. Thùy trước và sau của tiểu não dường như có nhiệm vụ điều phối và làm trơn tru các động tác cơ thể phức tạp, còn thùy nhung nốt có vẻ liên quan đến chức năng duy trì thăng bằng, mặc dù chức năng chính xác của chúng vẫn đang bị bàn cãi.
Thân não
Thân não nằm dưới đại não, bao gồm 3 phần: não giữa, cầu não và hành não. Nó nằm về phía sau hộp sọ trên mặt dốc (clivus) và kết thúc ở lỗ lớn (foramen magnum) của xương chẩm. Thân não nối xuống tủy sống, được bao bọc bởi cột sống.
10/12 cặp dây thần kinh sọ bắt nguồn trực tiếp từ thân não. Thân não có nhiều nhân thần kinh sọ và nhân thần kinh ngoại biên, cũng như các nhân liên quan đến khả năng điều hòa các cử động thiết yếu như hít thở, vận nhãn và thăng bằng. Cấu tạo lưới, một mạng lưới các nhân tụ tập không theo dạng hình cụ thể, nằm bên trong và dọc chiều dài của thân não. Thân não là giao lộ của nhiều bó thần kinh dẫn truyền thông tin qua lại giữa vỏ não và phần còn lại của cơ thể.
Bộ não chủ yếu được kiến tạo bởi các nơron, các tế bào thần kinh đệm, các tế bào gốc thần kinh và các mạch máu. Nơron ở não người có 4 loại chính, đó là: nơron trung gian, tế bào hình tháp bao gồm tế bào Betz, nơron vận động (trên và dưới), và tế bào Purkinje tiểu não. Tế bào Betz là loại lớn nhất (theo kích thước thân tế bào) thuộc hệ thần kinh. Ước tính cho rằng não người trưởng thành sở hữu khoảng 86 ± 8 tỷ nơron cùng một số lượng gần tương đương (85 ± 10 tỷ) các loại tế bào khác-nơron. Trong số các nơron đó, 16 tỷ (19%) phân bố ở vỏ não và 69 tỷ (80%) phân bố ở tiểu não.
Tế bào thần kinh đệm có nhiều loại: hình sao (bao gồm tế bào TK đệm Bergmann), oligodendrocyte, tế bào lót khoang não-tủy sống (bao gồm cả tế bào tanycyte), hình tia, tiểu thần kinh đệm và một phụ loại của tế bào oligodendrocyte kề cận. Tế bào hình sao lớn nhất trong số các tế bào thần kinh đệm. Chúng thuộc nhóm những tế bào dạng sao (stellate cell) bởi lẽ chúng tỏa ra những mấu trông giống ngôi sao. Một số mấu kết thúc dưới dạng chân-cuối quanh trên thành mao mạch. Các glia limitans của vỏ não được tạo thành từ các mấu chân tế bào hình sao, góp phần ngăn chứa các tế bào của não.
Tế bào bón là loại bạch cầu có khả năng tương tác với hệ miễn dịch thần kinh trong não. Các tế bào bón thuộc hệ thần kinh trung ương cư ngụ ở nhiều cấu trúc như màng não; chúng điều đình các phản ứng miễn dịch thần kinh ví dụ như viêm sưng và củng cố hàng rào máu-não, nhất là ở những vùng não thiếu hàng rào đó. Các tế bào bón ở những nơi khác trên cơ thể có chức năng chung tương tự, chẳng hạn như ảnh hưởng hoặc điều hòa sự dị ứng, sự miễn dịch thích ứng và bẩm sinh, sự tự miễn, và viêm sưng. Tế bào bón đóng vai trò phản ứng kích thích chính, thông qua đó mà các mầm bệnh có thể tác động đến sự ra tín hiệu hóa-sinh qua lại giữa đường dạ dày ruột người và hệ thần kinh trung ương.
Khoảng 400 gen đã được chứng minh độc nhất ở não. Gen ELAVL3 được biểu hiện ở mọi loại tế bào thần kinh, ngoài ra ở các tế bào thần kinh hình tháp thì gen NRGN và REEP2 cũng được biểu hiện. Gen GAD1 - rất cần thiết cho quá trình tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh GABA - được biểu hiện trong các tế bào thần kinh trung gian. Các protein được biểu hiện trong tế bào thần kinh đệm bao gồm các chỉ thị tế bào hình sao như GFAP và S100B, trong khi protein cơ bản myelin và yếu tố phiên mã OLIG2 được biểu hiện ở các tế bào oligodendrocyte.
Dịch não-tủy
Dịch não-tủy lưu thông ở khoảng bao quanh bên trong não
Dịch não tủy là một chất lỏng ngoại bào trong suốt, không màu, lưu thông quanh não trong khoang dưới nhện (subarachnoid space), trong hệ não thất, và trong ống nội tủy. Nó cũng lấp đầy một số khoảng trống trong khoang dưới nhện, được gọi là bể chứa dưới nhện. Bốn não thất (cặp thất bên, một thất thứ ba và một thất thứ tư) đều chứa một đám rối mạch mạc sản xuất dịch não tủy. Não thất thứ ba nằm ở đường giữa, nối với các thất bên. Kênh dẫn Sylvius giữa cầu não và tiểu não là đường duy nhất nối thất thứ ba với thất thứ tư. Ba lỗ mở riêng biệt (một lỗ giữa và hai lỗ bên) dẫn dịch não tủy từ thất thứ tư ra bể lớn (cisterna magna), một trong những bể não chính. Từ đó, dịch não tủy lưu thông quanh não và tủy sống trong khoang dưới nhện, một khu vực nằm giữa màng nhện và màng mềm. Ở mọi thời điểm, tồn tại ít nhất 150mL dịch não tủy - hầu hết được chứa ở khoang dưới nhện. Chất lỏng này liên tục được tái tạo và hấp thụ, cứ 5–6 tiếng lại được thay mới một lần.
Hệ bạch huyết mới được các nhà khoa học mô tả, đóng vai trò là hệ thống dẫn lưu bạch huyết của não. Đường dẫn bạch huyết g toàn não bao gồm các đường dẫn lưu từ dịch não tủy và từ các mạch bạch huyết màng não liên hệ với các xoang màng cứng; nó chạy dọc các mạch máu não. Dịch mô kẽ của não theo đường dẫn đó mà được rút đi.
Cung cấp máu
Các động mạch cảnh trong cung cấp máu giàu oxi cho phần não trước và các động mạch đốt sống cung cấp máu cho phần não sau. Hai mạch tuần hoàn này thông nhau và tạo nên vòng động mạch Willis, nằm trong bể gian cuống não giữa cầu não và trung não.
Các động mạch cảnh trong là các nhánh của động mạch cảnh chung. Chúng vào sọ bằng ống động mạch cảnh, đi qua xoang hang và tiến vào khoang dưới nhện. Sau đó, chúng hòa vào vòng động mạch Willis, với hai nhánh, các động mạch não trước trồi ra. Các nhánh này đi về phía trước rồi leo lên men theo rãnh đại não dọc, cung cấp máu cho phần trước và giữa của não. Một hoặc nhiều động mạch thông trước nhỏ nối với hai động mạch não trước ngay sau khi chúng trồi ra thành các nhánh. Các động mạch cảnh trong tiếp tục truyền về phía trước như các động mạch não giữa. Chúng di chuyển ngang dọc theo xương bướm của hốc mắt, sau đó vắt lên qua vỏ não đảo, nơi phát sinh các nhánh cuối cùng. Các động mạch não giữa tách thành các nhánh dọc theo chiều dài của chúng.
Các tế bào mào thần kinh (phát sinh từ ngoại bì) quần tụ ở các cạnh bên của mảng tại các nếp thần kinh. Vào tuần thứ tư, các nếp gấp thần kinh đóng lại để tạo nên ống thần kinh, nhờ đó mà các tế bào mào thần kinh chụm lại được tại mào thần kinh. Mào thần kinh chạy dọc chiều dài của ống thần kinh, với các tế bào mào thần kinh sọ nằm ở cuống đầu và các tế bào mào thần kinh đuôi nằm ở cuống đuôi. Các tế bào tách ra khỏi mào và di chuyển theo làn sóng từ đầu xuống đuôi bên trong ống. Cuối cùng, các tế bào ở cuống đầu tạo nên não còn các tế bào ở cuống đuôi tạo nên tủy sống.
Ống thần kinh uốn cong khi lớn lên, tạo thành các bán cầu đại não hình lưỡi liềm. Bán cầu đại não xuất hiện lần đầu vào ngày 32 của phôi thai. Đầu tuần thứ tư, cuống đầu bẻ mạnh về phía trước, được gọi bằng thuật ngữ là nếp gấp đầu (cephalic flexure). Phần bẻ gập này trở thành não trước (prosencephalon); phần uốn cong liền kề trở thành não giữa (mesencephalon) còn cuống đuôi trở thành não sau (rhombencephalon). Những khu vực này được hình thành dưới dạng 3 đốt phồng, được gọi là các túi não nguyên thủy. Ở tuần phát triển thứ năm, 5 túi não thứ cấp hình thành. Não trước phân tách thành hai túi: đại não (telencephalon) trước và gian não (diencephalon) sau; đại não phái sinh vỏ não, hạch nền và các cấu trúc liên quan còn gian não phái sinh đồi thị và vùng dưới đồi. Não sau cũng phân tách thành hai khu vực: tiền trám não (metencephalon) và não tủy (myelencephalon); tiền trám não phái sinh tiểu não và cầu não còn não tủy phái sinh hành não. Cũng trong tuần thứ năm, não phân chia thành các đoạn lặp lại gọi là khúc thần kinh (neuromere). Ở não sau, chúng được gọi là khúc thần kinh hình thoi (rhombomere).
Một đặc trưng của não là sự gấp khúc của vỏ não, được hình thành bởi hiện tượng hồi hóa (gyrification). Trong hơn 5 tháng phát triển trước khi sinh, vỏ não người không có nếp nhăn. Khi thai nhi được 24 tuần tuổi, hình thái nhăn nheo bắt đầu xuất hiện và có thể thấy các rãnh não và thùy não khá rõ ràng. Lý do tại sao vỏ não trở nên nhăn nheo như vậy vẫn chưa sáng tỏ, song quá trình hồi hóa có liên quan đến các rối loạn thần kinh và trí thông minh, và rất nhiều giả thuyết về sự hồi hóa đã được đề xuất. Những giả thuyết này bao gồm: sự vênh cơ học, lực căng dọc trục, và giãn nở tiếp tuyến sai phân. Điều rõ ràng là quá trình hồi hóa không phải ngẫu nhiên mà là một quá trình phát triển phức tạp đã được tiên định, bằng chứng là nếp nhăn nhất quán giữa các cá thể và ở hầu hết các loàii
Chức năng:
Vận động
Nhận cảm
Hệ thần kinh cảm giác đảm nhận việc tiếp nhận và xử lý thông tin cảm giác. Luồng thông tin này được tiếp nhận vởi các dây thần kinh sọ, thông qua các bó thần kinh trong tủy sống, và trực tiếp tại các trung tâm não tiếp xúc với máu. Bộ não cũng tiếp nhận và giải mã các thông tin tới từ các giác quan đặc biệt bao gồm thị giác, khứu giác, thính giác và vị giác. Ngoài ra, các tín hiệu vận động-cảm giác hỗn hợp cũng được tích hợp.
Não nhận các thông tin về xúc giác, áp lực, cảm giác đau, rung chuyển và nhiệt độ từ da. Não nhận thông tin về vị trí khớp thông qua các khớp xương. Vỏ não cảm giác nằm ngay kế bên vỏ não vận động, và giống như vỏ não vận động, vỏ não cảm giác cũng có các khu vực liên quan đến cảm giác từ nhiều bộ phận khác trên cơ thể. Thông tin cảm giác được thu thập bởi các thụ thể cảm giác trên da; sau đó nó biến đổi thành tín hiệu thần kinh truyền đến một loạt các tế bào thần kinh qua các bó bên trong tủy sống. Đường dẫn liềm lưng cột-giữa (dorsal column–medial lemniscus pathway) chứa thông tin về cảm giác sờ tinh (fine touch), độ rung và vị trí các khớp. Các sợi dẫn truyền hướng lên dọc phần lưng của tủy sống đến phần sau của hành tủy, nơi chúng kết nối với các nơron bậc hai rồi ngay lập tức đi qua đường giữa. Sau đó, những sợi thần kinh đi tiếp lên phức hợp nhân bụng nền ở đồi thị, nơi chúng kết nối với các nơron bậc ba rồi lên tiếp đến vỏ não cảm giác. Bó gai-đồi mang tín hiệu liên quan đến cảm giác đau, nhiệt độ và cảm giác sờ thô (gross touch). Các sợi dẫn truyền đi lên dọc tủy sống và kết nối với các nơron bậc hai tại cấu tạo lưới của vùng thân não dành cho cảm giác đau và nhiệt độ, và cũng kết thúc tại phức hợp nhân bụng nền của đồi thị danh cho cảm giác sờ thô.
Thị giác được tạo ra bởi ánh sáng đập vào võng mạc mắt. Các tế bào cảm quang tại võng mạc biến đổi cảm giác sáng thành tín hiệu thần kinh điện được gửi lên vỏ não thị giác tại thùy chẩm. Các tín hiệu thị giác rời khỏi võng mạc được truyền đi bởi các dây thần kinh thị giác. Các sợi thần kinh thị giác nửa bên mũi của võng mạc bắt chéo sang bên đối diện kết hợp với các sợi nửa bên thái dương của võng mạc và tạo thành các bó thị giác. Sự sắp xếp các đường dẫn thị giác khiến cho tầm nhìn thị trường bên trái được tiếp nhận bởi nửa bên phải của mỗi võng mạc, và được xử lý bởi vỏ não thị giác bên phải, và ngược lại. Các bó thị giác nối với não tại hạch nhân khuỷu, và đi qua bó gối cựa rồi mới đến vỏ não thị giác
Tủy sống là một cơ quan quan trọng trong cơ thể, chạy dọc bên trong xương sống, chứa các dây thần kinh tạo liên hệ từ não đến toàn bộ cơ thể. Tuỷ sống bao gồm chất xám ở giữa và bao quanh bởi chất trắng.
Hệ thần kinh là một hệ cơ quan phân hóa cao nhất trong cơ thể người, ở dưới dạng ống và mạng lưới đi khắp cơ thể, được cấu tạo bởi một loại mô chuyên biệt là mô thần kinh, gồm các tế bào thần kinh — nơ-ron và các tế bào thần kinh đệm. Cũng chính các nơ-ron đã tạo ra hai thành phần cơ bản của não, tủy sống và hạch thần kinh là chất xám và chất trắng. Về mặt cấu tạo, hệ thần kinh được chia ra làm 2 bộ phận là bộ phận trung ương và bộ phận ngoại biên, trong đó bộ phận trung ương giữ vai trò chủ đạo. Về chức năng, hệ thần kinh được chia thành hệ thần kinh vận động và hệ thần kinh sinh dưỡng. Hệ thần kinh sinh dưỡng lại gồm 2 phân hệ là phân hệ giao cảm và phân hệ đối giao cảm. Hoạt động thần kinh cấp cao ở người hình thành nên nhiều các phản xạ được tập quen (PXĐTQ) rất phức tạp mà không sinh vật nào có được. Vì vậy, việc "vệ sinh" hệ thần kinh có cơ sở khoa học là cần thiết để hệ thần kinh luôn đạt chất lượng hoạt động cao.
Lồng ngực, hay Lồng xương sườn là một phần sắp xếp xương trong ngực của tất cả các động vật có xương sống ngoại trừ cá mút đá và ếch. Nó được hình thành bởi cột sống, xương sườn và xương ức, bao quanh tim và phổi. Ở người, lồng ngực, hay còn được biết đến là lồng xương sườn, là một cấu trúc các xương và sụn bao quanh khoang ngực và hỗ trợ đai ngực, tạo nên phần cốt lõi của bộ xương người. Một lồng ngực người điển hình gồm 24 xương sườn, xương ức, xương sụn sườn và 12 đốt sống ngực.
Cơ hoành là một vân cơ dẹt, rộng, hình vòm, làm thành một vách gân – cơ ngăn giữa lồng ngực và ổ bụng. Cơ hoành có vai trò quan trọng trong sinh lý hô hấp. Khi cơ hoành co thì vòm hoành hạ xuống, lồng ngực giãn, áp lực trong lồng ngực giảm, không khí được hít vào.
Ổ bụng là một khoang cơ thể người và nhiều động vật khác trong đó chứa nhiều cơ quan. Nó nằm dưới khoang ngực và phía trên khung chậu. Giới hạn trên hình mái vòm là cơ hoành - một cơ mỏng nằm dưới phổi, và giới hạn dưới là lỗ vào khung chậu mở vào khung chậu.
Hệ tuần hoàn là hệ cơ quan có chức năng tuần hoàn máu trong cơ thể của hầu hết các động vật. Hệ tuần hoàn vận chuyển chất dinh dưỡng, oxy, cacbon đioxide, hormone, tế bào máu ra và vào các tế bào trong cơ thể để nuôi dưỡng nó và giúp chống lại bệnh tật, ổn định nhiệt độ cơ thể và độ pH, và để duy trì cân bằng nội môi. Bên cạnh đó, hệ tuần hoàn tiếp nhận sản phẩm phân huỷ do tế bào thải ra qua nước mô rồi theo máu đến các cơ quan bài tiết để thải ra ngoài.
Hệ tiêu hóa ở người bao gồm đường tiêu hóa cộng với cơ quan phụ trợ tiêu hóa. Trong hệ thống này, quá trình tiêu hóa có nhiều giai đoạn, là hệ đầu tiên bắt đầu ở miệng. Tiêu hóa liên quan đến sự phân hủy thức ăn thành các thành phần nhỏ hơn mà có thể hấp thụ và đồng hóa vào cơ thể. Tiết nước bọt giúp thức ăn có thể nuốt được để vượt qua thực quản và tiến vào dạ dày.
Gan là một cơ quan của các động vật có xương sống, bao gồm cả con người. Cơ quan này đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và một số các chức năng khác trong cơ thể như dự trữ glycogen, tổng hợp protein huyết tương và thải độc. Gan cũng sản xuất dịch mật, một dịch thể quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Gan được xem là nhà máy hóa chất của cơ thể vì nó đảm trách cũng như điều hòa rất nhiều các phản ứng hóa sinh mà các phản ứng này chỉ xảy ra ở một số tổ chức đặc biệt của cơ thể mà thôi.
Ruột là cơ quan tiêu hóa đưa thức ăn từ dạ dày đến hậu môn.
Dạ dày hay bao tử là một trong những cơ quan trực thuộc hệ tiêu hóa ở người và động vật. Ở người, dạ dày là cơ quan có dạng túi chữ J nằm trong hoàn toàn trong khoang ổ bụng, nối bởi thực quản (Oesophagus) và tá tràng (Duodenum), đoạn đầu của ruột non. Nhìn chung, dạ dày có hai chức năng chính: tiết dịch vị và co bóp, trộn đều viên thức ăn với dịch vị. Hoạt động của dạ dày được điều khiển theo cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch. Bài viết này chủ yếu hướng đến dạ dày người.
Thận là một tạng trong hệ tiết niệu, có hai quả, có nhiều chức năng, được tìm thấy trong một số loại động vật có xương sống và không xương sống. Chúng là một bộ phận quan trọng của hệ tiết niệu và cũng có chức năng hằng định nội môi như điều chỉnh các chất điện phân, duy trì sự ổn định axit-base, và điều chỉnh huyết áp. Các quả thận đóng vai trò là bộ lọc máu tự nhiên trong cơ thể, và các chất thải theo niệu quản được dẫn đến bàng quang để thải ra ngoài. Trong việc tạo ra nước tiểu, các quả thận bài tiết các chất thải như urê, acid uric và amonia; thận cũng có nhiệm vụ tái hấp thụ nước, glucose, và các amino acid. Thận cũng sản xuất các hóc môn như calcitriol, renin, và erythropoietin.
Tử cung hay Dạ con là một cơ quan sinh dục của giống cái của hầu hết các loài động vật có vú bao gồm cả con người. Tử cung nằm giữa bàng quang và trực tràng có hình quả lê dốc ngược phần trên lồi to gọi là đáy tử cung, phần dưới nhỏ dài gọi là cổ tử cung. Cổ tử cung thò vào âm đạo còn đáy tử cung được kết nối với một hoặc cả hai ống dẫn trứng, tùy thuộc vào loài. Thai nhi trong quá trình mang thai nằm trong tử cung, thường là phát triển hoàn toàn ở động vật có vú nhau thai, chẳng hạn như con người và một phần trong các loài thú có túi như con chuột túi và thú có túi ôpôt. Hai tử cung thường hình thành ban đầu trong một bào thai nữ, và động vật có vú nhau thai một phần hoặc hoàn toàn có thể hợp thành một tử cung tùy thuộc vào loài. Ở nhiều loài với hai tử cung, chỉ có một chức năng. Con người và các động vật linh trưởng khác như tinh tinh, cùng với ngựa, thường có một tử cung hoàn toàn hợp nhất, mặc dù trong một số cá nhân tử cung không có thể hoàn toàn hợp nhất.
Hệ bài tiết là một hệ thống sinh học thụ động giúp loại bỏ các vật liệu dư thừa, không cần thiết khỏi dịch cơ thể của sinh vật, để giúp duy trì cân bằng nội môi hóa học và ngăn ngừa nguy hại cho cơ thể. Chức năng kép của các hệ thống bài tiết là loại bỏ các chất thải của quá trình trao đổi chất và đẩy ra khỏi cơ thể các thành phần đã sử dụng và các thành phần đã bị phá vỡ ở trạng thái lỏng và khí. Ở người và các loài động vật màng ối khác hầu hết các chất này thoát ra khỏi cơ thể dưới dạng nước tiểu và ở một mức độ nào đó, động vật có vú cũng trục xuất chúng qua mồ hôi.
Hệ sinh dục hay hệ sinh sản là một hệ cơ quan bao gồm các cơ quan cùng làm nhiệm vụ sinh sản. Nhiều chất không-sống như hormone và pheromone cũng là những vật chất quan trọng của hệ sinh dục. Không giống như nhiều hệ cơ quan khác, cấu trúc của hệ phụ thuộc vào những sự khác biệt về giới tính của cá thể trong loài, đặc biệt là ở những loài đơn tính. Những sự khác biệt này cho phép sự kết hợp của vật chất di truyền giữa hai cá thể riêng biệt, tạo khả năng đa dạng và phù hợp về gen của thế hệ con cháu.
Các hệ cơ quan
Các cơ quan khác nhau có cùng một chức năng tạo thành một hệ cơ quan. Trong cơ thể có nhiều hệ cơ quan, nhưng chủ yếu là: hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ thần kinh, hệ nội tiết và hệ sinh dục.
- Hệ vỏ bọc: bao gồm da cùng các phần phụ của nó (gồm tóc, vảy, lông và móng) là hệ thống cơ quan bảo vệ cơ thể.
- Hệ vận động: gồm bộ xương và hệ cơ. Cơ thường bám vào hai xương khác nhau nên khi cơ co làm cho xương cử động, giúp cho cơ thể di chuyển được trong không gian, thực hiện được các động tác lao động
- Hệ tuần hoàn: gồm có tim và các mạch máu (động mạch, tĩnh mạch và mao mạch), có chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng, oxy và các hoóc môn đến từng tế bào và mang đi các chất thải để thải ra ngoài
- Hệ hô hấp: gồm có mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và phổi, có nhiệm vụ đưa oxy trong không khí vào phổi và thải khí cac-bô-nic ra môi trường ngoài
- Hệ tiêu hóa: gồm có miệng, thực quản, dạ dày, gan, ruột non, ruột già, hậu môn và các tuyến tiêu hóa. Hoạt động của hệ tiêu hóa làm thức ăn biến đổi thành các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể và thải chất bã ra ngoài
- Hệ bài tiết: gồm 2 quả thận, ống dẫn nước tiểu và bóng đái. Thận là cơ quan lọc từ máu những chất thừa và có hại cho cơ thể để thải ra ngoài. Trong da có các tuyến mồ hôi cũng làm nhiệm vụ bài tiết
- Hệ thần kinh: gồm não bộ, tủy sống và các dây thần kinh, có nhiệm vụ điều khiển sự hoạt động của tất cả các cơ quan, làm cho cơ thể thích nghi với những sự thay đổi của môi trường ngoài và môi trường trong. Đặc biệt ở người, bộ não hoàn thiện và phát triển phức tạp là cơ sở của mọi hoạt động tư duy
- Hệ nội tiết: gồm các tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến trên thận và các tuyến sinh dục, có nhiệm vụ tiết ra các hoóc môn đi theo đường máu để cân bằng các hoạt động sinh lý của môi trường trong cơ thể nên có vai trò chỉ đạo như hệ thần kinh
- Hệ sinh dục: là hệ cơ quan có chức năng sinh sản, duy trì nòi giống ở người. Người phân tính nên cơ quan sinh dục có phân hóa thành tinh hoàn ở nam và buồng trứng ở nữ. Thông qua hoạt động tình dục mà sản phẩm của tinh hoàn và buồng trứng gặp nhau để tạo hợp tử rồi đến thai nhi, bắt đầu thời kì mang thai ở người mẹ
Trong sinh học, một hệ cơ quan là một nhóm các cơ quan hoạt động cùng nhau để thực hiện một chức năng nhất định. Các hệ phổ biến có thể thấy trong giải phẫu người cũng như động vật có vú và các động vật khác là những hệ như hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ thần kinh,...
Hệ vận động ở con người gồm có hai phần: Phần thụ động gồm bộ xương và hệ liên kết các xương, phần vận động gồm có hệ cơ, hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thần kinh. Xương gồm 206 chiếc, dài ngắn khác nhau, hợp lại tạo thành bộ xương nâng đỡ cơ thể, che chở cho các nội quan khỏi những chấn thương lý học. Hệ cơ gồm khoảng 600 cơ tạo thành, là những cơ vân bám vào hai đầu xương giúp cho cơ thể cử động. Nhờ hệ vận động mà cơ thể ta có hình dạng nhất định, thể hiện được những động tác lao động, biểu lộ được những cảm xúc của mình. Trải qua thời kì dài tiến hóa, hệ vận động người được coi là tiến hóa nhất trong sinh giới nói chung và giới Động vật nói riêng.
Hệ thần kinh là một hệ cơ quan phân hóa cao nhất trong cơ thể người, ở dưới dạng ống và mạng lưới đi khắp cơ thể, được cấu tạo bởi một loại mô chuyên biệt là mô thần kinh, gồm các tế bào thần kinh — nơ-ron và các tế bào thần kinh đệm. Cũng chính các nơ-ron đã tạo ra hai thành phần cơ bản của não, tủy sống và hạch thần kinh là chất xám và chất trắng. Về mặt cấu tạo, hệ thần kinh được chia ra làm 2 bộ phận là bộ phận trung ương và bộ phận ngoại biên, trong đó bộ phận trung ương giữ vai trò chủ đạo. Về chức năng, hệ thần kinh được chia thành hệ thần kinh vận động và hệ thần kinh sinh dưỡng. Hệ thần kinh sinh dưỡng lại gồm 2 phân hệ là phân hệ giao cảm và phân hệ đối giao cảm. Hoạt động thần kinh cấp cao ở người hình thành nên nhiều các phản xạ được tập quen (PXĐTQ) rất phức tạp mà không sinh vật nào có được. Vì vậy, việc "vệ sinh" hệ thần kinh có cơ sở khoa học là cần thiết để hệ thần kinh luôn đạt chất lượng hoạt động cao.
Hệ nội tiết là một hệ thống các tuyến không ống dẫn, với khả năng tiết các chất sinh hoá hormone theo máu chuyển đến và tạo tác động tại những cơ quan khác trong cơ thể.
Tim là bộ phận quan trọng trong hệ tuần hoàn của động vật, với chức năng bơm đều đặn để đẩy máu theo các động mạch và đem dưỡng khí và các chất dinh dưỡng đến toàn bộ cơ thể, đồng thời loại bỏ các chất thải trong quá trình trao đổi chất. Tim hút máu từ tĩnh mạch về tim sau đó đẩy máu đến phổi để trao đổi khí CO2 lấy khí O2. Tim nằm ở khoang giữa trung thất trong ngực.
Các mạch máu có dạng ống, hợp thành một hệ thống kín, dẫn máu từ tim đến các cơ quan trong cơ thể và rồi trở về lại tim. Cùng với tim mạch máu là một phần của hệ tuần hoàn. Có ba loại mạch máu chính: động mạch mang máu đi từ trái tim, các mao mạch (Capillary) giúp việc trao đổi nước và các chất giữa máu và các mô, và các tĩnh mạch mang máu từ các mao mạch trở về tim.
Động mạch là một mạch máu đưa máu từ tim đến một hoặc nhiều bộ phận của cơ thể. Hầu hết các động mạch mang máu được oxy hóa; hai ngoại lệ là động mạch phổi và động mạch rốn, mang máu đã khử oxy đến các cơ quan cung cấp oxy cho nó. Lượng máu động mạch hiệu quả là chất lỏng ngoại bào chứa đầy hệ thống động mạch.
Tĩnh mạch hay Vein là mạch máu thuộc hệ tuần hoàn trong cơ thể, dẫn máu trở về tim. Thường thì máu trong tĩnh mạch có lượng oxy thấp khi đưa máu từ các mô trong cơ thể về tim. Hai ngoại lệ là tĩnh mạch rốn và tĩnh mạch phổi. Trong hai trường hợp này máu tĩnh mạch có lượng dưỡng khí cao.
Mao mạch là các mạch máu và mạch bạch huyết nhỏ nhất của một cơ thể. Các mao mạch là nơi đảm bảo chức năng chính của hệ mạch, đó là nơi xảy ra sự trao đổi nước, 02, C02, chất dinh dưỡng và các chất thải giữa máu và các mô xung quanh chúng.. Mao mạch bạch huyết kết nối với các mạch bạch huyết lớn hơn để thoát bạch huyết thu thập được trong vi tuần hoàn.
Nội tiết tố là một chất hóa học được tiết ra bởi một hoặc nhiều tế bào và chúng tác động lên các tế bào trong các bộ phận khác nhau của sinh vật. Chỉ một lượng nhỏ nội tiết tố được dùng trong quá trình trao đổi chất của tế bào. Nó là công cụ hóa học truyền các tín hiệu từ tế bào này đến tế bào khác. Tất cả các sinh vật đa bào đều sản xuất hormon; nội tiết tố thực vật được gọi là phytohormone. Các hormone trong cơ thể động vật thường được truyền trong máu. Các tế bào phản ứng lại với nội tiết tố khi chúng tiếp nhận nội tiết tố đó. Hormon gắn chặt với protein tiếp nhận (receptor), tạo ra sự kích hoạt cơ chế chuyển đổi tín hiệu và cuối cùng dẫn đến các phản ứng riêng biệt trên từng loại tế bào.
Thanh quản là cơ quan trong cổ của lưỡng cư, bò sát và thú tham gia vào quá trình hít thở, tạo âm thanh và bảo vệ khỏi quá trình hít phải thức ăn. Nó là một phần của hệ hô hấp nối yết hầu với khí quản trong phần trước của cổ.
Khí quản là một ống dẫn khí hình lăng trụ, nối tiếp từ dưới thanh quản (larynx) ngang mức đốt sống cổ 6, với hệ phế quản của phổi (lungs). Ở đoạn cuối nó phân chia làm 2 đoạn nối với 2 phế quản chính : phải và trái, ở ngang mức đốt sống ngực 4 hoặc 5. Nó thuộc hệ hô hấp dưới, có nhiệm vụ dẫn không khí vào ra.
Phế quản tứ cuống phổi là một phần của hệ hô hấp, có nhiệm vụ dẫn khí vào phổi. Nó được chia thành phế quản chính phải và phế quản chính trái, bắt đầu từ nơi phân chia của khí quản đến rốn phổi, ở ngang mức đốt sống ngực 4, 5; Hai phế quản tạo với nhau một góc 70độ. Phế quản chính phải thường to hơn, ngắn hơn, dốc hơn nên thường dị vật lọt vào phổi phải. Sự phân chia cây phế quản là cơ sở cho sự phân thùy phổi.
Phổi là một bộ phận trong cơ thể với vai trò chính yếu là trao đổi các khí - đem oxy từ không khí vào tĩnh mạch phổi, và carbon dioxide từ động mạch phổi ra ngoài. Ngoài ra phổi cũng có một số khả năng thứ yếu khác, giúp chuyển hóa một vài chất sinh hóa, lọc một số độc tố trong máu. Phổi cũng là một nơi lưu trữ máu.
Miệng, khoang miệng hay mồm là phần đầu tiên của hệ tiêu hóa có chức năng nhận thức ăn và bắt đầu tiêu hóa bằng cách nghiền nát cơ học thức ăn thành kích thước nhỏ hơn và trộn với nước miếng. Ngoài chức năng là nơi bắt đầu tiếp nhận và tiêu hóa thức ăn, ở người, miệng còn đóng vai trò giao tiếp. Dù giọng nói được tạo ra ở cổ họng, lưỡi, môi và hàm cũng có vai trò tạo ra một phạm vi âm thanh nhất định, trong đó gồm có ngôn ngữ.
Thực quản là cơ quan ở động vật có xương sống có chức năng đưa thức ăn từ hầu xuống dạ dày nhờ nhu động. Thực quản hình ống, ở người lớn dài 25 cm (10 in), ở phía sau khí quản và tim, đi qua cơ hoành và đổ vào vùng trên cùng của dạ dày. Trong quá trình nuốt, nắp thanh quản nghiêng về phía sau để ngăn thức ăn đi xuống thanh quản và phổi. Trong tiếng Anh, từ oesophagus xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại οἰσοφάγος (oisophágos), trong đó: οἴσω (oísō) là dạng tương lai của φέρω + ἔφαγον.
Ở động vật có xương sống, ruột non hay tiểu tràng là một phần của hệ tiêu hóa sau dạ dày và trước ruột già. Đây là nơi diễn ra quá trình tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng của phần lớn thức ăn được đưa vào cơ thể. Trong những động vật không có xương sống như sâu, thuật ngữ "ống tiêu hóa" thường được dùng để mô tả toàn bộ ruột. Những đặc điểm ruột người cũng thường đúng với phần lớn các động vật có vú.

Ruột già hay đại tràng là phần áp cuối trong hệ tiêu hóa — chặng cuối cùng của ống tiêu hóa là hậu môn của động vật có xương sống. Ruột già có chức năng nhận thức ăn đã được tiêu hóa và hấp thu từ ruột non. Nó hấp thụ nước và muối khoáng từ thức ăn và cùng với sự phân hủy cùng các vi khuẩn tạo bã thức ăn thành phân, khi đủ lượng đại tràng sẽ co bóp tạo nhu động và bài tiết phân qua trực tràng, phần cuối cùng của đại tràng gần hậu môn. Ruột già dài khoảng 1,5 mét (4,9 ft) chiều dài có thể đạt 2m và trung bình của người Việt Nam dài 1m48cm và còn khác nhau ở mỗi người và các giới tính, khoảng 1/5 chiều dài của ống tiêu hóa có nghĩa là ruột già dài bằng khoảng 1/4 ruột non, nhưng tiết diện lại lớn hơn.
Hậu môn là một cơ quan của hệ tiêu hóa. Nó đồng thời cũng nằm ở đoạn cuối của hệ tiêu hóa. Hậu môn nằm ở giữa hai mông. Nó được dùng để phóng thích chất cặn bã được gọi là phân của cơ thể ra ngoài.
Bàng quang hay bóng đái là cơ quan chứa nước tiểu do thận tiết ra trước khi thoát ra ngoài cơ thể theo quá trình đi tiểu. Bàng quang là một cơ rỗng. Nước tiểu vào bàng quang qua niệu quản và ra khỏi bàng quang qua niệu đạo.
Mồ hôi là một chất dịch lỏng với dung môi là nước và nhiều loại chất tan hàm chứa trong đó (chủ yếu là các muối chloride) do các tuyến mồ hôi nằm ở da của các động vật có vú tiết ra. Trong mồ hôi cũng hàm chứa nhiều chất thơm như 2-methylphenol (o-cresol) và 4-methylphenol (p-cresol) cũng như một lượng nhỏ urê. Hiện tượng cơ thể bài tiết mồ hôi được gọi bằng một tên thông dụng là đổ mồ hôi hay ra mồ hôi, còn hiện tượng bài tiết mồ hôi ở cường độ cao do sốc hay do cơ thể nằm trong tình trạng nguy hiểm được gọi là vã mồ hôi hay toát mồ hôi hột.
Ở động vật, não, hay còn gọi là óc, là trung tâm điều khiển của hệ thần kinh trung ương, chịu trách nhiệm điều khiển hành vi. Ở hầu hết các loài động vật, não được đặt trên đầu, được bảo vệ bởi hộp sọ, và gần với các giác quan chính như thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, và cơ quan cảm giác về thăng bằng (equilibrioception).
Tuyến yên hay còn gọi là tuyến não thùy là một tuyến nội tiết có kích thước bằng hạt đậu và khối lượng 0.5g nằm ở sàn não thất ba, trong hố yên của thân xương bướm. Đây là một tuyến quan trọng giữ vai trò chỉ đạo hoạt động của hầu hết các tuyến nội tiết khác.
Tuyến giáp là một tuyến nội tiết quan trọng, và lớn nhất trong cơ thể. Tuyến này nằm phía trước cổ, lượng khoảng 20-25 gram, hình dạng như con bướm, ngang hàng với các đốt xương sống C5 - T1, phía trước có lớp da và cơ thịt, phía sau giáp với khí quản.Tuyến giáp có 2 thùy, mỗi thùy áp vào mặt trước bên của sụn giáp và phần trên khí quản, và 1 eo tuyến nối 2 thùy với nhau. Tuyến màu nâu đỏ được cấu tạo bên ngoài bởi 1 lớp bao xơ được tạo ra bởi lớp cân sau gắn tuyến vào sụn giáp, nên khi nuốt tuyến di động theo thanh quản. Giáp trạng tiết các hormone thyroxine (T4) và triiodothyronine (T3), nhận ảnh hưởng điều hòa của hoocmôn TSH từ tuyến yên trên não. T4/T3 có chức năng điều hòa nhiều chuyển hóa trong cơ thể.
Tụy là một cơ quan trong cơ thể động vật, nằm sau phúc mạc và đảm trách hai chức năng chính:
- Chức năng ngoại tiết: Tụy sản xuất và bài tiết các dịch tụy chứa các men tiêu hóa, hay enzyme tiêu hóa.
- Chức năng nội tiết: Tụy sản xuất và tiết vào trong máu các nội tiết tố hay hormon
2: Quá trình (phần) độc lập của tuyến tuỵ
3: Khía tuyến tuỵ
4: Cơ quan của tuyến tuỵ
5: Bề mặt trước của tuyến tuỵ
6: Bề mặt kém hơn của tuyến tuỵ
7: Lề trên của tuyến tuỵ
8: Lề trước của tuyến tuỵ
9: Lề dưới của tuyến tuỵ
10: Củ từ
11: Đuôi của tuyến tuỵ
12: Tá tràng
Tinh hoàn hay dịch hoàn, còn gọi thông tục là trứng dái, là một cơ quan sản xuất ra tinh trùng, đồng thời là tuyến nội tiết làm cho cơ thể phát triển nam tính để thành động vật giống đực.
Buồng trứng là một cơ quan sinh sản sinh ra tế bào trứng, thường có một cặp là một phần thuộc hệ sinh dục ở con cái/mái của các động vật có xương sống. Buồng trứng ở các cá thể cái có vai trò tương tự như tinh hoàn ở cá thể đực/trống, chúng đều là các bộ phận sinh dục và tuyến nội tiết.
Tế bào cơ thể người
Tế bào là một đơn vị cấu trúc cơ bản có chức năng sinh học của sinh vật sống. Tế bào là đơn vị nhỏ nhất của sự sống có khả năng phân chia độc lập, và các tế bào thường được gọi là "những viên gạch đầu tiên cấu tạo nên sự sống". Bộ môn nghiên cứu về các tế bào được gọi là sinh học tế bào.
Tế bào bao gồm tế bào chất bao quanh bởi màng tế bào, trong đó có nhiều phân tử sinh học như protein và axit nucleic. Các sinh vật sống có thể được phân thành đơn bào (có một tế bào, bao gồm vi khuẩn) hoặc đa bào (bao gồm cả thực vật và động vật). Trong khi số lượng tế bào trong các thực vật và động vật ở các loài là khác nhau, thì cơ thể con người lại có hơn 10 nghìn tỷ (1012) tế bào. Phần lớn tế bào động vật và thực vật chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi, với kích thước từ 1 đến 100 micromét.
Tế bào được phát hiện bởi Robert Hooke vào năm 1665, người đã đặt tên cho các đơn vị sinh học của nó. Học thuyết tế bào, lần đầu tiên được nghiên cứu vào năm 1839 của Matthias Jakob Schleiden và Theodor Schwann, phát biểu rằng tất cả các sinh vật sống được cấu tạo bởi một hay nhiều tế bào, rằng các tế bào là đơn vị cơ bản tạo nên cấu trúc và chức năng của các cơ quan, tổ chức sinh vật sống, rằng tất cả các tế bào đến từ các tế bào đã tồn tại trước đó, và các tế bào đều chứa thông tin di truyền cần thiết để điều hòa chức năng tế bào và truyền thông tin đến các thế hệ tế bào tiếp theo. Các tế bào xuất hiện trên trái Đất khoảng 4 tỷ năm trước.
Cấu tạo và chức năng các bộ phận trong tế bào
Các bộ phận chính của tế bào
Tế bào được cấu tạo từ những thành phần cơ bản sau đây:

2.1. Tế bào chất là gì?
Tế bào chất (cytoplasm) là bào quan được tạo nên bởi các chất keo lỏng giống dạng thạch ( gọi là dịch bào) và các cấu trúc khác bao quanh nhân.
Tế bào chất chứa 70 đến 90% là nước, không có màu. Tế bào chất cũng chứa nhiều loại muối khác nhau, là dạng chất dẫn điện tuyệt vời để tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động sống còn của tế bào.
Đối với các sinh vật prokaryote, tế bào chất là một thành phần khá tự do. Nhưng trong tế bào eukaryote thường chứa nhiều bào quang và bộ khung tế bào. Chất nguyên sinh thường chứa các chất dinh dưỡng hòa tan, dịch chuyển vật chất trong tế bào gây ra những hiện tượng dòng chảy thải nguyên sinh của tự nhiên. Nhân tế bào sẽ thay đổi về hình dạng khi tế bào di chuyển.
2.2. Khung xương tế bào là gì?
Khung xương tế bào (Cytoskeleton) là một hệ thống mạng lưới các vi ống, vi sợi và sợi trung gian tạo nên cấu trúc tế bào. Nó có cấu trúc vững chắc, giúp duy trì hình dạng và bảo vệ tế bào, giúp tế bào di động.
Đây là một cấu trúc giống bộ xương động vật và nổi trong tế bào chất.
2.3. Mạng lưới nội chất là gì?
Mạng lưới nội chất (ER) là hệ thống các xoang và túi màng, có thể mang có ribosome (lưới nội chất hạt) hoặc lưới nội chất trơn nằm trong tế bào nhân thực.
Có hai loại mạng lưới nội chất:
- Loại có hạt (Rough ER) do có gắn Ribosome gồm nhiều túi dẹp thông với nhau. Các ống thông với khoảng quanh nhân và màng tế bào. Lưới nội chất hạt có các hạt Ribosome đính trên bề mặt, phần không có hạt gọi là đoạn chuyển tiếp.
- Loại trơn (Smooth ER) không có Ribosome, là hệ thống ống chia nhánh với nhiều kích thước khác nhau.
Lưới nội chất trơn thông với lưới nội chất hạt, không thông với khoảng quanh nhân và có sự kết nối mật thiết với bộ máy Golgi.
2.4. Bộ máy Golgi là gì?
Bộ máy Golgi là phần của tế bào được tạo thành từ các lớp màng. Đây là bào quan có màng đơn được tìm thấy trong phần lớn tế bào nhân chuẩn kể cả động vật và thực vật nhưng không có trong nấm, gồm các hệ thống túi mang dẹp xếp chồng lên nhau nhưng tách biệt nhau theo hình vòng cung.
2.5. Các lysosome và các peroxisome là gì?
- Lysosome (tiêu thể) là một bào quan của tế bào nhân thực. Chúng là nơi sản xuất ra enzyme mạnh hỗ trợ sự tiêu hóa và bài tiết các chất và các bào quan đã bị hư hỏng. Chúng được tạo ra từ bộ máy Golgi nhờ các chồi.
+ Các enzyme quan trọng trong tiêu thể:
- Lipase có tác dụng phân hủy mỡ
- Carbohydrase các tác dụng phân hủy đường,...
- Protease có tác dụng phân hủy protein
- Nuclease có tác dụng phân hủy axit nhân

- Peroxisome (thể peroxi), đôi khi được gọi là vi thể. Là một loại bào quan có mặt trong tất cả các tế bào của sinh vật nhân chuẩn. Chúng tham gia vào quá trình biến dưỡng các axit béo có mạch C dài, axit béo mạch nhánh,...Thể peroxi bao hàm khoảng 10% hoạt tính của hai enzyme tham gia trong chu trình pentose phosphate đóng vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất.
+ Chúng bao gồm một màng đơn tách biệt chúng với các chất dịch bên trong của tế bào, có các protein màng.
2.6. Ty thể là gì?
Ty thể (Mitochondrion) là bào quan có cấu trúc đặc biệt phức tạp (hình thuôn dài, hình bầu dục đặc biệt) được bao bọc bởi màng kép gồm 2 lớp màng bao bọc: màng ngoài trơn nhẵn và màng trong gấp nếp tạo thành mào chứa chất nền, enzyme tham gia vào hoạt động hô háp và giải phóng năng lượng tạo nên các ATP.
Bên trong ti thể có chất nền chứa ADN và ribosome. Tế bào cần nhiều năng lượng thì sẽ có càng nhiều ti thể.
2.7. Ribosome là gì?
Ribosome là một phần tử có số lượng lớn trong tế bào sống sản xuất protein. Đây là loại bào quan tổng hợp chuỗi polypeptide dựa trên khuôn mã của ARN thông tin nhưng không có màng. Các bào quan này có thể trôi nổi tự do trong tế bào chất hoặc được kết nối với lưới nội chất. BÀo quan này có kích thước phân tử lớn, phức tạp, là nơi xảy ra quá trình sinh tổng hợp protein.
Ribosome gồm hai tiểu đơn vị chính chứa rARN đính dưới lưới nội chất hạt hoặc trôi trong ribosome tự do: tiểu đơn vị ribosome nhỏ đọc (mRNA), trong đó tiểu đơn vị lớn liên kết các axit amin để tạo thành một chuỗi các polypeptide. Mỗi tiểu đơn vị gồm một hoặc nhiều phân tử RNA ribosome và nhiều protein.
- Các tiểu đơn vị ribosome của sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực có sự tương đồng.
- Các ribosome được tìm thấy trong lục lạp và ty thể của sinh vật nhân thực bao gồm các tiểu đơn vị nhỏ và lớn kết hợp với protein tạo thành hạt 70S.
- Các ribosome khác nhau lại có cùng một cấu trúc cốt lõi khá tương đồng mặc dù khác biệt về kích thước.
2.8. Nhân tế bào là gì?
Nhân tế bào (Nucleus) là một bào quan thường có dạng hình cầu, được bao bọc bởi một màng tế bào tồn tại bên trong các tế bào nhân thực. Sinh vật nhân thực chỉ tồn tại một nhân. Nhân tế báo chưa bộ gen của sinh vật, ngoại trừ ADN ty thể, được cuộn thành nhiều chuỗi ADN bao gồm các phức hợp protein.
Nhân nằm giữa tế bào và chứa tất cả các nhiễm sắc thể mang thông tin di truyền.
Nhân chứa ADN, nguyên liệu di truyền của tế bào. Nhân được bao bọc bởi một màng bao nhân (màng kép), có tác dụng bảo vệ DNA, ngăn cách nhân và các phần còn lại của tế bào. Trên màng nhân có nhiều lỗ nhỏ cho phép các phân tử đi vào và ra khỏi nhân.
Dịch nhân chứa nhiễm sắc thể (ADN và protein) và nhân con.
.jpg)
2.9. Màng tế bào là gì?
Màng tế bào (membrane), còn gọi là màng sinh chất, là màng sinh học phân cách môi trường bên trong của các tế bào với môi trường bên ngoài của chúng, là lớp ngoài của tế bào đặc lại.
- Có 2 thành phần chính: photpholipid và protein. Màng tế bào có liên quan đến các quá trình của tế bào như là sự liên kết tế bào, độ dẫn ion và tiếp nhận tín hiệu tế bào.
- Những lỗ nhỏ li ti trên màng tế bào là nơi thực hiện sự trao đổi chất giữa tế bào và môi trường.
4. Tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
.jpg)
- Giống nhau: Đều có màng tế bào và tế bào chất
+ Tế bào nhân sơ: chưa có nhân hoàn chỉnh, không có màng nhân ngăn cách giữa chất nhân và tế bào nhân.
+ Tế bào nhân thực: đã có nhân hoàn chỉnh, vật chất di truyền nằm trong nhân được bao bọc bởi màng nhân.
5. Tế bào động vật và tế bào thực vật

- Giống nhau: Đều có các thành phần cơ bản: màng sinh chất, tế bào chất, nhân. Các bào quan là ty thể, mạng lưới Golgi, lưới nội chất mang ribosome. Trong nhân có nhân con và chất nhiễm sắc.
- Khác nhau:
+ Tế bào động vật: không có vách xenlulozơ, không có lục lập nên không tổng hợp được chất hữu cơ. Không có không bào chứa dịch, chỉ có không bào tiêu hóa, không bào bài tiết.
+ Tế bào thực vật và động vật có điểm khác nhau thể hiện ở việc tế bào ở thực vật có lục lạp giúp bào quan có khả năng quang hợp.
Chức năng của các bộ phận trong tế bào
Các bộ phận | Chức năng |
Tế bào chất | - Bao quanh màng tế bào và cơ quan tế bào - Nơi diễn ra hầu hết các hoạt động sống của tế bào như hấp thu chất dinh dưỡng, chuyển hóa năng lượng, tạo ra các chất để tăng trưởng,... |
Khung xương tế bào | - Lá đỡ cơ học và xác định hình dạng của tế bào. - Tham gia vào quá trình phân chia và cho phép tế bào di chuyển. - Cung cấp những con đường hướng dẫn các bào quan và hợp chất di chuyển trong tế bào. |
Mạng lưới nội chất | - Biến đổi protein, hình thành các phân tử lipid, vận chuyển các chất bên trong tế bào. - Đảm bảo mối liên hệ giữa các bàng quan, tổng hợp các chất. - Vận chuyển các phân tử đến nơi chuyên biệt bên trong và bên ngoài của tế bào. - Giúp xử lý các phân tử do tế bào tạo ra. Các lưới nội chất vận chuyển các phân tử đến những địa điểm xác định, bên trong hoặc bên ngoài của tế bào. |
Bộ máy Golgi | - Trung tâm chuyển biến và đóng gói các đại phân tử cho tế bào như protein và lipid. - Thu nhận, hoàn thiện, phân phối, tích trữ sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng. |
Lysosome và Peroxosome | - Trung tâm tái chế của tế bào. - Tiêu hóa các vi khuẩn lạ xâm nhập từ bên ngoài vào bên trong tế bào - Loại bỏ các chất độc hại và tái chế tế bào bị hỏng. |
Ty thể | - Nơi tổng hợp ATP, cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của tế bào. Chuyển đổi năng lượng từ thức ăn thành dạng mà tế bào có thể sử dụng. - Lưu trữ ion canxi. - Giữ ấm cơ thể. - Truyền nhận tín hiệu, biệt hóa và chết rụng tế bào cũng như duy trì việc kiểm soát chu kỳ tế bào và sinh trưởng của tế bào. |
Ribosome | - Tổng hợp, dịch thông tin để sản xuất protein. |
Nhân tế bào | - Trung tâm chỉ huy của tế bào. - Lưu trữ thông tin di truyền, quy định các đặc điểm của tế bào. - Điều khiển các hoạt động sống của tế bào, đưa ra chỉ dẫn giúp tế bào phát triển, lớn lên, phân chia và chết. - Bảo quản độ ổn định về gen, quản lý các hoạt động của tế bào bằng cách điều chỉnh biểu hiện gen. |
Màng tế bào | - Tham gia vào quá trình trao đổi chất giữa tế bào và môi trường một cách chọn lọc. - Bảo vệ tế bào khỏi môi trường xung quanh. - Duy trì áp suất thẩm thấu tế bào. - Nơi sinh tổng hợp một số thành phần của tế bào như vách, giáp mô do trong màng chứa enzyme và ribosome. - Nơi tổng hợp nhiều loại enzyme. - Cung cấp năng lượng cho hoạt động của tiên mao. - Nhận biết nhau và nhận biết các tế bào lạ. |
Thành phần hóa học của tế bào
Tế bào gồm một hỗn hợp phức tạp gồm nhiều chất hữu cơ và các chất vô cơ. Các chất hữu cơ chính là prô-tê-in, glu-xit, lipid.
- Prô-tê-in, hay còn gọi là chất đạm, là một chất phức tạp gồm có cac-bon (C), hi-đrô (H), oxy (O), ni-tơ (N), lưu huỳnh (S) và một số nguyên tố khác. Phân tử của prô-tê-in rất lớn, chứa đến hàng nghìn các nguyên tử nên thuộc vào loại đại phân tử. Prô-tê-in là thành phần cơ bản của cơ thể, có trong tất cả các tế bào.
- Glu-xit, hay còn gọi là chất đường bột, là những hợp chất loại đường và bột. Nó gồm có C, H và O trong đó tỉ lệ giữa H và O luôn là 2H ÷ 1O. Trong cơ thể, glu-xit ở dưới dạng đường glu-cô-zơ (có ở máu) và gli-cô-gen (có ở gan và cơ).
- Lipid, hay còn gọi là chất béo, có ở mặt dưới da và ở nhiều cơ quan, nó cũng gồm 3 nguyên tố chính là C, H, O nhưng tỉ lệ của các nguyên tố đó không giống như glu-xit. Tỉ lệ H ÷ O thay đổi tùy loại lipid. Lipid là chất dự trữ của cơ thể.
- A-xit nu-clê-ic (DNA hay RNA) chủ yếu có trong nhân tế bào. Cả hai loại này đều là các đại phân tử, đóng vai trò quan trọng trong di truyền.
Ngoài các chất hữu cơ nói trên, trong tế bào còn có các chất vô cơ là muối khoáng.
Chi tiết:
Protein là phân tử sinh học, hay đại phân tử, gồm nhiều amino acid liên kết lại với nhau. Protein thực hiện rất nhiều chức năng bên trong tế bào, bao gồm các phản ứng trao đổi chất có xúc tác, sao chép DNA, đáp ứng lại kích thích, và vận chuyển phân tử từ một vị trí đến vị trí khác. Các protein khác nhau chủ yếu ở trình tự của các amino acid cấu thành và ở kết quả của giai đoạn cuộn gập protein thành những cấu trúc 3 chiều xác định lên chức năng của nó.
Carbon, là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu là C và số nguyên tử bằng 6, nguyên tử khối bằng 12. Là một nguyên tố phi kim có hóa trị 4 phổ biến, carbon có nhiều dạng thù hình khác nhau, phổ biến nhất là 4 dạng thù hình gồm carbon vô định hình, graphit, kim cương và Q-carbon.
Hydro là một nguyên tố hóa học trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố với nguyên tử số bằng 1, nguyên tử khối bằng 1 amu. Trước đây còn được gọi là khinh khí ; hiện nay từ này ít được sử dụng. Sở dĩ được gọi là "khinh khí" là do hydro là nguyên tố nhẹ nhất và tồn tại ở thể khí, với trọng lượng nguyên tử 1,00794 amu. Hydro là nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ, tạo nên khoảng 75% tổng khối lượng vũ trụ và tới trên 90% tổng số nguyên tử. Các sao thuộc dải chính được cấu tạo chủ yếu bởi hydro ở trạng thái plasma. Hydro nguyên tố tồn tại tự nhiên trên Trái Đất tương đối hiếm do khí hydro nhẹ nên trường hấp dẫn của Trái Đất không đủ mạnh để giữ chúng khỏi thoát ra ngoài không gian, do đó hydro tồn tại chủ yếu dưới dạng hydro nguyên tử trong các tầng cao của khí quyển Trái Đất.
Oxy, hay dưỡng khí, là một nguyên tố hóa học có ký hiệu O và số hiệu nguyên tử 8. Nó là một thành viên của nhóm chalcogen trong bảng tuần hoàn, một phi kim phản ứng mạnh và là một chất oxy hóa dễ tạo oxide với hầu hết các nguyên tố cũng như với các hợp chất khác. Sau hydro và heli, oxy là nguyên tố phong phú thứ ba trong vũ trụ tính theo khối lượng.
Nitơ (danh pháp IUPAC: nitrogen) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn các nguyên tố có ký hiệu N và số nguyên tử bằng 7, nguyên tử khối bằng 14. Ở điều kiện bình thường nó là một chất khí không màu, không mùi, không vị và khá trơ và tồn tại dưới dạng phân tử N2, còn gọi là đạm khí. Nitơ chiếm khoảng 78% khí quyển Trái Đất và là thành phần của mọi cơ thể sống. Nitơ tạo ra nhiều hợp chất quan trọng như các amino acid, amonia, acid nitric và các xyanua. Liên kết hóa học cực kỳ bền vững giữa các nguyên tử nitơ gây khó khăn cho cả sinh vật và công nghiệp để chuyển hóa N
2 thành các hợp chất hóa học hữu dụng, nhưng đồng thời cũng giải phóng một lượng lớn năng lượng hữu ích khi cháy, nổ hoặc phân hủy trở lại thành khí nitơ. Các ammoniac và nitrat được tổng hợp là các loại phân công nghiệp chính và phân nitrat là các chất ô nhiễm chính gây ra hiện tượng phú dưỡng môi trường nước.
Lưu huỳnh là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu S và số nguyên tử 16. Nó là một phi kim phổ biến, không mùi, không vị, nhiều hóa trị. Lưu huỳnh, trong dạng gốc của nó là chất rắn kết tinh màu vàng chanh. Trong tự nhiên, nó có thể tìm thấy ở dạng đơn chất hay trong các khoáng chất sulfide và sulfat. Nó là một nguyên tố thiết yếu cho sự sống và được tìm thấy trong hai amino acid. Sử dụng thương mại của nó chủ yếu trong các phân bón nhưng cũng được dùng rộng rãi trong thuốc súng, diêm, thuốc trừ sâu và thuốc diệt nấm.
Phân tử là 1 nhóm trung hòa điện tích có nhiều hơn 2 nguyên tử liên kết với nhau bằng các liên kết hóa học. Các phân tử được phân biệt với các ion do thiếu điện tích. Tuy nhiên, trong vật lý lượng tử, hóa học hữu cơ và hóa sinh, thuật ngữ phân tử thường được sử dụng ít nghiêm ngặt hơn, cũng được áp dụng cho các ion đa nguyên tử.
Nguyên tử là đơn vị cơ bản của vật chất chứa một hạt nhân ở trung tâm bao quanh bởi đám mây điện tích âm các electron. Hạt nhân nguyên tử là dạng gắn kết hỗn hợp giữa các proton mang điện tích dương và các neutron trung hòa điện. Electron của nguyên tử liên kết với hạt nhân bởi tương tác điện từ và tuân theo các nguyên lý của cơ học lượng tử. Tương tự như vậy, nhóm các nguyên tử liên kết với nhau bởi liên kết hóa học dựa trên cùng một tương tác này, và tạo nên phân tử. Một nguyên tử chứa số hạt electron bằng số hạt proton thì trung hòa về điện tích, trong khi số electron nếu nhiều hoặc ít hơn thì nó mang điện tích âm hoặc dương và gọi là ion. Nguyên tử được phân loại tuân theo số proton và neutron trong hạt nhân của nó: số proton xác định lên nguyên tố hóa học, và số neutron xác định đồng vị của nguyên tố đó.
Đại phân tử là loại phân tử rất lớn thường được tạo ra bởi phản ứng trùng hợp của các đơn vị nhỏ hơn (monomer). Các đại phân tử điển hình thường chứa hàng nghìn đến hàng chục nghìn nguyên tử. Đại phân tử hay gặp trong hóa sinh đó là polyme sinh học (biopolymer) và các phân tử phi polyme lớn. Các đại phân tử tổng hợp thường thấy bao gồm chất dẻo và sợi tổng hợp cũng như các vật liệu trong phòng thí nghiệm như ống nano cacbon.
Trong dinh dưỡng, sinh học và hóa học, chất béo thường có nghĩa là bất kỳ este nào của axit béo, hoặc hỗn hợp của các hợp chất đó; phổ biến nhất là những vi khuẩn xảy ra trong cơ thể sống hoặc trong thực phẩm.
Da là lớp mô bên ngoài, thường mềm và đàn hồi bao phủ cơ thể của động vật có xương sống. Da có ba chức năng chính: bảo vệ, điều tiết và cảm giác.
DNA là phân tử mang thông tin di truyền quy định mọi hoạt động sống của các sinh vật và nhiều loài virus. Đây là từ viết tắt thuật ngữ tiếng Anh deoxyribonucleic acid (,), theo tiếng Việt gọi là acid deoxyribonucleic. DNA và RNA là những acid nucleic, cùng với protein, lipid và carbohydrat cao phân tử (polysaccharide) đều là những đại phân tử sinh học chính có vai trò quan trọng thiết yếu đối với mọi dạng sống được biết đến. Phần lớn các phân tử DNA được cấu tạo từ hai mạch polymer sinh học xoắn đều quanh một trục tưởng tượng tạo thành chuỗi xoắn kép.
Acid ribonucleic là một phân tử polyme cơ bản có nhiều vai trò sinh học trong mã hóa, dịch mã, điều hòa, và biểu hiện của gen. RNA và DNA là các acid nucleic, và, cùng với lipid, protein và carbohydrat, tạo thành bốn loại đại phân tử cơ sở cho mọi dạng sự sống trên Trái Đất. Giống như DNA, RNA tạo thành từ một chuỗi nucleotide, nhưng không giống DNA là thường tìm thấy nó ở dạng tự nhiên là một sợi đơn gập lại vào chính nó, hơn là sợi xoắn kép. Các sinh vật tế bào sử dụng RNA thông tin (mRNA) đề truyền đạt các thông tin di truyền cho phép tổng hợp trực tiếp lên các protein chuyên biệt. Nhiều virus mã hóa thông tin di truyền của chúng trong bộ gene RNA.
Trong sinh học tế bào, nhân tế bào là một bào quan được bao bọc bởi màng tế bào tồn tại bên trong các tế bào nhân thực. Sinh vật nhân thực chỉ có một nhân. Tuy nhiên, hồng cầu của lớp thú không có nhân, và một số loại tế bào khác có nhiều nhân, ví dụ là tế bào hủy xương (osteoclast). Cấu trúc chính của nhân tế bào là màng nhân và ma trận nhân. Màng nhân là màng kép bao phủ toàn bộ nhân và tách biệt nó khỏi tế bào chất. Ma trận nhân là một mạng lưới bên trong nhân có chức năng hỗ trợ cấu trúc nhân giống như cách bộ xương tế bào hỗ trợ cấu trúc tế bào.
Các hợp chất hữu cơ , là một lớp lớn của các hợp chất hóa học mà các phân tử của chúng có chứa carbon. Các hợp chất hữu cơ có thể có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc do các phản ứng nhân tạo.
Hoạt động sống của tế bào
Hoạt động sống của tế bào biểu hiện ở quá trình đồng hóa và dị hóa, sinh sản và cảm ứng, sinh trưởng và phát triển.
- Mỗi tế bào sống trên cơ thể luôn luôn được cung cấp các chất dinh dưỡng do dòng máu mang đến và luôn luôn xảy ra quá trình tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ phức tạp từ những chất đơn giản được thấm vào trong tế bào. Đồng thời trong tế bào cũng luôn xảy ra quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ thành những chất đơn giản và giải phóng năng lượng cần thiết cho cơ thể. Quá trình tổng hợp và phân giải các chất hữu cơ trong tế bào gọi là quá trình đồng hóa và dị hóa. Đó là hai mặt cơ bản trong quá trình sống của tế bào.
- Tế bào có khả năng sinh sản và cảm ứng. Sự sinh sản của tế bào là khả năng phân chia trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo nên những tế bào mới. Sự cảm ứng là khả năng thu nhận và phản ứng trước những kích thích lý, hóa học của môi trường quanh tế bào.
- Ở cơ thể trẻ em và thanh niên, các tế bào sinh sản nhanh chóng làm cho cơ thể sinh trưởng và phát triển. Ở người trưởng thành quá trình này vẫn tiếp tục nhưng thường chậm lại.
Trong quá trình sống nhiều tế bào chết đi và được thay thế bằng các tế bào mới.
Chi tiết:
Trong vật lý, năng lượng là đại lượng vật lý mà phải được chuyển đến một đối tượng để thực hiện một công trên, hoặc để làm nóng, các đối tượng. Năng lượng là thứ mà được coi là một đại lượng được bảo toàn; định luật bảo toàn năng lượng cho biết năng lượng có thể được chuyển đổi thành các dạng khác nhau, nhưng không tự nhiên sinh ra hoặc mất đi. Đơn vị SI của năng lượng là jun, đó là công làm cho một đối tượng di chuyển với khoảng cách 1 mét để chống lại một lực có giá trị 1 newton.
Đồng hóa là quá trình tổng hợp các chất đơn giản thành những chất phức tạp diễn ra trong cơ thể sinh vật và tiêu hao năng lượng. Quá trình này tổng hợp các sản phẩm có cấu tạo đơn giản từ quá trình tiêu hóa thành các chất có cấu tạo phức tạp. Quá trình đồng hóa được cung cấp năng lượng bởi dị hóa, nơi mà các phân tử lớn được chia thành các phần nhỏ hơn và sau đó sử dụng hết trong hô hấp. Nhiều quá trình đồng hóa được cung cấp bởi các quá trình thủy phân của adenosine triphosphate.
Dị hóa là tập hợp các chuỗi phản ứng chuyển hóa phân hủy các phân tử thành các đơn vị nhỏ hơn được hoặc bị oxy hóa để giải phóng năng lượng, hoặc được sử dụng trong các phản ứng đồng hóa khác. Dị hóa phá vỡ các phân tử lớn thành các đơn vị nhỏ hơn.
Mô cơ thể người
Mô là một tập hợp tế bào chuyên hóa ,có cấu tạo giống nhau cùng nhau thực hiện một chức năng nào đó trong cơ thể người và động vật. Cơ thể người động vật là một hệ thống nhất, toàn vẹn, có thể chia thành nhiều mức độ tổ chức khác nhau, với mức độ lớn nhất là cơ thể rồi đến hệ thống cơ quan, cơ quan, mô, tế bào và phân tử.
Trong quá trình phát triển phôi, các phôi bào có sự phân hóa để tạo thành các cơ quan khác nhau thực hiện những chức năng khác nhau nên tế bào có cấu trúc và hình dạng khác nhau. Một tập hợp các tế bào chuyên hóa, có cấu tạo giống nhau, đảm nhận chức năng nhất định gọi là mô. Ở một số loại mô còn có các yếu tố không có cấu trúc tế bào như huyết tương trong máu; calci, phôt-pho và cốt giao có trong xương. Trong cơ thể thực vật và động vật có rất nhiều loại mô: mô nâng đỡ, mô mềm, mô phân sinh,... nhưng ở người chỉ có bốn loại mô: mô biểu bì, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh.
Chi tiết:
Phôi là giai đoạn phát triển sớm nhất của một sinh vật nhân thực đa bào lưỡng bội, tính từ thời điểm phân bào đầu tiên cho đến khi sinh nở, hoặc nảy mầm. Ở người, phôi là hợp tử trong giai đoạn khoảng tám tuần sau khi thụ tinh, sau thời gian đó hợp tử được gọi là bào thai hay là thai nhi.
Ossein hay cốt giao là một chất nền cấu thành mô tế bào của da, sụn và xương. Cốt giao chứa 95% collagen. Cốt giao giúp đảm bảo tính mềm dẻo của xương, đối ngược với calci-làm cho xương bền chắc. Tỉ lệ chất cốt giao thay đổi theo độ tuổi.
Thực vật là những sinh vật có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lục lạp của thực vật. Như vậy thực vật chủ yếu là các sinh vật tự dưỡng. Quá trình quang hợp sử dụng năng lượng ánh sáng được hấp thu nhờ sắc tố màu lục - Diệp lục có ở tất cả các loài thực vật và nấm là một ngoại lệ, dù không có chất diệp lục nhưng nó thu được các chất dinh dưỡng nhờ các chất hữu cơ lấy từ sinh vật khác hoặc mô chết. Thực vật còn có đặc trưng bởi có thành tế bào bằng xenluloza. Thực vật không có khả năng chuyển động tự do ngoại trừ một số thực vật hiển vi có khả năng chuyển động được. Thực vật còn khác ở động vật là chúng phản ứng rất chậm với sự kích thích, sự phản ứng lại thường phải đến hàng ngày và chỉ trong trường hợp có nguồn kích thích kéo dài.
Trong y học, thuật ngữ mô mềm dùng để chỉ các mô ngoài xương không phải biểu mô, có tác dụng liên kết, hỗ trợ hoặc bao bọc các cơ quan và cấu trúc khác trong cơ thể. Mô mềm bao gồm cơ xương, mô sợi, mô mỡ, hệ mạch máu và mạch bạch huyết, hệ thần kinh ngoại biên. Mô mềm thường có nguồn gốc từ trung bì.
Mô phân sinh là một loại mô có trong thực vật. Nó bao gồm các tế bào không phân biệt có khả năng phân chia tế bào. Các tế bào trong mô phân sinh có thể phát triển thành tất cả các mô và cơ quan khác xảy ra trong thực vật.
Biểu mô là một loại mô bao gồm các tế bào nằm lót trong các khoang trống và các bề mặt của các cấu trúc trong cơ thể hoặc chế tiết. Biểu mô gồm nhiều tế bào đa diện xếp sít nhau, liên kết chặt chẽ, khoảng gian bào rất hẹp. Biểu mô có nguồn gốc từ cả 3 lá phôi: lá ngoài, lá giữa, lá trong. Nhiều tuyến của cơ thể cũng được cấu tạo chủ yếu bằng biểu mô. Nó luôn nằm tựa lên mô liên kết, và nằm giữa hai lớp mô này là màng đáy.
Mô liên kết là một trong bốn loại mô động vật cơ bản, cùng với mô biểu mô, mô cơ và mô thần kinh. Nó được phát triển từ trung bì. Mô liên kết được tìm thấy ở giữa các mô khác ở khắp mọi nơi trong cơ thể, kể cả hệ thần kinh. Trong hệ thần kinh trung ương, ba màng ngoài bao bọc não và tủy sống bao gồm các mô liên kết. Chúng hỗ trợ và bảo vệ cơ thể. Tất cả các mô liên kết bao gồm ba thành phần chính: sợi, chất nền ngoại bào và tế bào. Không phải tất cả các cơ quan có máu hoặc bạch huyết là mô liên kết vì chúng thiếu thành phần sợi. Tất cả chúng đều nằm trong nước cơ thể.
Cơ là một mô mềm có ở hầu hết các loài động vật. Tế bào cơ chứa các sợi protein actin và myosin trượt qua nhau, tạo ra sự co lại làm thay đổi cả chiều dài và hình dạng của tế bào. Cơ bắp có chức năng tạo ra lực và chuyển động. Chúng chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì và thay đổi tư thế, vận động, cũng như chuyển động của các cơ quan nội tạng, chẳng hạn như sự co bóp của tim và di chuyển thức ăn qua hệ tiêu hóa thông qua nhu động.
Mô thần kinh gồm các tế bào thần kinh gọi là neuron và các tế bào thần kinh đệm (neuroglia).
Cấu tạo và chức năng của nơ-ron
Nơ-ron thần kinh gồm có một thân và các sợi. Thân thường hình sao, đôi khi có hình chóp hoặc bầu dục. Sợi có hai loại: sợi ngắn mọc quanh thân và phân nhiều nhánh như cành cây gọi là sợi nhánh; sợi dài mảnh, thường có các vỏ làm bằng mi-ê-lin gọi là bao mi-ê-lin bọc quanh suốt chiều dài gọi là sợi trục. Giữa các bao mi-ê-lin có các khoảng cách gọi là eo răng-vi-ê. Đầu tận cùng tua dài phân thành nhiều nhánh nhỏ để phân bố vào các cơ quan trong cơ thể hay để tiếp xúc với sợi nhánh của các nơ-ron khác, mút các nhánh nhỏ đó gọi là cúc xi-náp. Thân nơ-ron và các sợi nhánh tạo thành chất xám trong bộ não, tủy sống và các hạch thần kinh. Sợi trục nối giữa trung ương thần kinh với các cơ quan, chúng đi chung với nhau thành từng bó gọi là dây thần kinh.
Nơ-ron có hai chức năng cơ bản: cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh.
- Cảm ứng là khả năng tiếp nhận các kích thích và phản ứng lại các kích thích đó dưới hình thức phát sinh các xung thần kinh.
- Dẫn truyền là khả năng lan truyền các xung thần kinh trong dây thần kinh. Người ta phân biệt xung li tâm và xung hướng tâm. Xung li tâm đi từ các nơ-ron li tâm ở não và tủy sống đến các cơ quan, xung hướng tâm truyền từ các cơ quan về trung ương thần kinh theo các dây hướng tâm của nơ-ron hướng tâm. Vận tốc các xung thần kinh ở các động vật rất khác nhau, ở những động vật bậc cao thì vận tốc này lớn. Ở người vận tốc lớn nhất có thể lên tới 120 m/s, khi đó các phản ứng xảy ra mau chóng và chính xác; nhưng cũng có khi chỉ đạt 5 mm/s. Nhờ vận tốc xung thần kinh mà ta nói một người là nhanh nhẹn hay chậm chạp.
Có ba loại nơ-ron:
- Nơ-ron hướng tâm (nơ-ron cảm giác) có thân nằm ngoài trung ương thần kinh do những sợi trục của các nơ-ron hướng tâm tạo nên. Những dây này dẫn xung thần kinh ngoại biên về trung ương thần kinh.
- Nơ-ron trung gian (nơ-ron liên lạc) nằm trong trung ương thần kinh, gồm những sợi hướng tâm và li tâm, làm nhiệm vụ liên lạc. Phần lớn các dây thần kinh trong cơ thể là dây pha, dẫn các xung thần kinh theo cả hai chiều.
- Nơ-ron li tâm (nơ-ron vận động) có thân nằm trong trung ương thần kinh (hoặc ở hạch thần kinh sinh dưỡng), được tạo nên bởi những sợi trục hướng ra cơ quan phản ứng (cơ, tuyến) và dẫn các xung li tâm từ bộ não và tủy sống đến các cơ quan phản ứng để gây ra sự vận động hoặc bài tiết.
4. Tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
- Giống nhau: Đều có màng tế bào và tế bào chất
- Khác nhau:
+ Tế bào nhân sơ: chưa có nhân hoàn chỉnh, không có màng nhân ngăn cách giữa chất nhân và tế bào nhân.
+ Tế bào nhân thực: đã có nhân hoàn chỉnh, vật chất di truyền nằm trong nhân được bao bọc bởi màng nhân.
5. Tế bào động vật và tế bào thực vật
- Giống nhau: Đều có các thành phần cơ bản: màng sinh chất, tế bào chất, nhân. Các bào quan là ty thể, mạng lưới Golgi, lưới nội chất mang ribosome. Trong nhân có nhân con và chất nhiễm sắc.
- Khác nhau:
+ Tế bào động vật: không có vách xenlulozơ, không có lục lập nên không tổng hợp được chất hữu cơ. Không có không bào chứa dịch, chỉ có không bào tiêu hóa, không bào bài tiết.
- Tế bào thực vật và động vật có điểm khác nhau thể hiện ở việc tế bào ở thực vật có lục lạp giúp bào quan có khả năng quang hợp.
* Tế bào trứng: Noãn hay tế bào trứng là giao tử cái do tế bào sinh dục giới cái tạo tạo ra. Cả động vật và thực vật có phôi đều có noãn.
Hồng cầu: Hồng cầu, hay hồng huyết cầu (có nghĩa là tế bào máu đỏ), là loại tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa O2 từ phổi đến các mô. Enzyme carbonic anhydrase trong hồng cầu làm tăng hàng nghìn lần vận tốc của phản ứng giữa CO2 và H2O tạo ra axit cacbonic (H2CO3). Nhờ đó, nước trong huyết tương vận chuyển CO2 dưới dạng ion bicarbonat (HCO3—) từ các mô trở lại phổi để CO2 được tái tạo và thải ra dưới thể khí. Ở nhiều động vật bậc thấp, hemoglobin hòa trong dòng huyết tương. Với tổ chức của cơ thể người, hemoglobin cần phải được chứa trong hồng cầu, vì nếu ở dạng tự do, nó sẽ thấm dần qua các mao mạch và bị thất thoát qua nước tiểu. Là một protein, hemoglobin còn có chức năng đệm kiềm-toan, đây cũng là một chức năng quan trọng của hồng cầu. Hồng cầu được tạo ra từ các tế bào máu gốc trong tủy xương, đa số hồng cầu bị hủy ở lách. Tuy là một tế bào, hồng cầu trưởng thành lại không có nhân, ti thể hay ribôxôm. Các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu được dùng để định nghĩa nhóm máu. Nhiều hệ thống nhóm máu đã được thiết lập, trong đó sớm nhất và quan trọng nhất là hệ thống nhóm máu ABO.
Tế bào võng mạc: Võng mạc ớp mô thần kinh của mắt và hoạt động như một cuốn phim trong máy quay. Khi ánh sáng đi vào trong mắt, nó xuyên qua giác mạc và thủy tinh thể và được hội tụ trên võng mạc. Võng mạc có chức năng chuyển năng lượng ánh sáng thành thị lực và gửi thông tin ngược về não qua những dây thần kinh thị giác. Võng mạc thần kinh thường liên quan đến ba lớp tế bào thần kinh trong võng mạc, trong khi toàn bộ võng mạc liên quan đến ba lớp tế bào cộng với một tế bào biểu mô sắc tố.
Neuron là tế bào thần kinh có khả năng cảm ứng, phát sinh xung thần kinh và dẫn truyền xung điện này. Neuron là đơn vị cơ bản cấu tạo hệ thần kinh của hầu hết các loài động vật và là thành phần quan trọng bậc nhất của não. Thân và sợi nhánh của các neuron tạo thành chất xám. Sợi trục (nếu đi chung với nhau thành bó gọi là dây thần kinh) cấu tạo chất trắng trong não. Ước tính có khoảng 100 tỷ (1011) neuron và 100 nghìn tỷ (1014) synapse trong não người. Các tế bào thần kinh được hỗ trợ bởi microglia và tế bào hình sao (các tế bào thần kinh đệm). Neuron là những tế bào dài nhất trong cơ thể, biệt hóa cao độ nên mất trung thể và khả năng phân chia, nhưng có khả năng tái sinh phần cuối sợi trục nếu bị tổn thương.
Tóc, Lông là những sợi cấu tạo từ chất sừng, được mọc ở trên da của loài động vật có vú.
Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là "tế bào máu trắng", còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Chúng là một phần của hệ miễn dịch, số lượng bạch cầu các loại trong một lít máu người lớn khỏe mạnh dao động từ 4x109 tới 11x109.
Tinh trùng, tiếng Hy Lạp cổ σπέρμα và ζῷον . Tinh trùng là tế bào đơn bội, nó kết hợp với tế bào trứng để tạo thành hợp tử. Như vậy Hợp tử là 1 tế bào có trọn vẹn bộ nhiễm sắc thể và sẽ trở trành phôi thai. Tinh trùng đóng góp 1/2 thông tin di truyền cho thế hệ con. Ở động vật có vú, tinh trùng quyết định giới tính của con con. Vì tế bào trứng luôn mang nhiễm sắc thể X nên tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y sẽ tạo ra con con là giống đực (XY) và tinh trùng mang nhiễm sắc thể X sẽ sinh ra con cái (XX). Tế bào tinh trùng lần đầu được phát hiện bởi một sinh viên của Antonie van Leeuwenhoek vào năm 1677.
Một tế bào cơ thể người (động vật) điển hình gồm:
1. Hạch nhân hay nhân con (Nucleolus) là một cấu trúc dạng hình cầu, có trong nhân tế bào động vật, thực vật, dễ nhận thấy dưới kính hiển vi quang học. Có thể có một đến vài nhân con trong nhân, số lượng nhân con tỉ lệ thuận với nhu cầu về protein của tế bào. Nhân con biến đi trong quá trình phân chia tế bào.
3. Ribosome là bào quan tổng hợp chuỗi pôlipeptit dựa trên khuôn mã của RNA thông tin.
4. Trong sinh học tế bào, túi là một cấu trúc nhỏ trong tế bào, chứa dịch bên trong và bọc bởi một lớp lipid kép. Túi hình thành tự nhiên trong quá trình tiết, hấp thu và vận chuyển vật chất trong tế bào chất. Ngoài ra, túi cũng có thể được chuẩn bị nhân tạo, trong trường hợp này chúng được gọi là liposome. Nếu duy chỉ có một lớp kép phospholipid, thì gọi là túi liposome đơn lớp; không thì gọi là đa lớp. Màng bao túi cũng là một pha phiến, tương tự như màng sinh chất, và túi có thể dung hợp với màng sinh chất để bài xuất vật chất ra khỏi tế bào. Túi cũng có thể dung hợp với những bào quan khác trong tế bào.
Túi tiết
5. Mạng lưới nội chất là một hệ thống các xoang và túi màng nằm trong tế bào nhân thực. Chúng có chức năng biến đổi protein, hình thành các phân tử lipid, vận chuyển các chất bên trong tế bào. Có hai loại mạng lưới nội chất là loại có hạt và loại trơn.
6. Bộ máy Golgi là một bào quan được tìm thấy trong phần lớn tế bào nhân chuẩn, kể cả thực vật và động vật. Nó được Camillo Golgi, một nhà giải phẫu học người Ý và phát hiện vào năm 1898 được đặt tên theo tên của ông. Chức năng chính của bộ máy Golgi là chế biến và bao gói các đại phân tử cho tế bào như protein và lipid.
7. Bộ xương tế bào, bộ khung nâng đỡ của tế bào, cũng như mọi bào quan khác, nó nằm trong tế bào chất. Nó có trong mọi tế bào nhân chuẩn và những nghiên cứu gần đây còn cho thấy nó có trong các tế bào chưa có nhân chuẩn nữa. Bộ xương tế bào là một cấu trúc vững chắc, giúp duy trì hình dạng của tế bào, bảo vệ tế bào và giúp tế bào di động. Ngoài ra, nó còn có vai trò quan trọng không những trong sự vận chuyển bên trong tế bào mà còn trong sự phân chia tế bào. Đây là một cấu trúc giống như bộ xương động vật và nổi trong tế bào chất.
8. Mạng lưới nội chất là một hệ thống các xoang và túi màng nằm trong tế bào nhân thực. Chúng có chức năng biến đổi protein, hình thành các phân tử lipid, vận chuyển các chất bên trong tế bào. Có hai loại mạng lưới nội chất là loại có hạt và loại trơn.
9. Ty thể là một bào quan với màng kép và hiện diện ở tất cả sinh vật nhân thực. Tuy vậy, vẫn có một số tế bào ở các sinh vật đa bào thiếu đi bào quan này. Một vài sinh vật đơn bào cũng tiêu giảm hoặc biến đổi ty thể của chúng thành những cấu trúc khác. Đến nay, duy chỉ có sinh vật nhân thực chi Monocercomonoides là được biết đã hoàn toàn mất đi ty thể. Trong tiếng Anh, từ mitochondrion bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp μίτος, mitos, nghĩa là "sợi" và χονδρίον, chondrion, nghĩa là "hạt". Ty thể giúp tạo ra phần lớn loại phân tử cao năng là adenosine triphosphate (ATP), một nguồn năng lượng hóa học cung cấp cho hầu hết các hoạt động của tế bào. Chính vì vậy, ty thể còn được gọi là "nhà máy năng lượng của tế bào”.
10. Không bào là một bào quan gắn với màng sinh chất, có mặt ở mọi tế bào thực vật, nấm và một số sinh vật nguyên sinh, động vật và tế bào vi khuẩn. Không bào là những khoang đóng kín thiết yếu bên trong chứa nước với các phân tử vô cơ và hữu cơ bao gồm các enzyme tan trong dung dịch, mặc dù một số trường hợp nhất định chúng có thể chứa sỏi đã bị bao lấy. Không bào hình thành bằng sự dung hợp của nhiều túi có màng bao và kích thước thường lớn hơn những túi này. Bào quan này không có hình dạng và kích thước cơ bản; cấu trúc của nó biến đổi tuân theo nhu cầu của tế bào.
13. Trung thể là một trung tâm tổ chức các ống vi thể chính cũng như là bào quan điều hòa tiến trình phân bào. Nó được tìm thấy vào năm 1888 bởi Theodor Boveri và được miêu tả như là một "cơ quan đặc biệt của phân bào". Mặc dù trung tử giữ vai trò chủ chốt khi phân chia, nhưng theo những nghiên cứu gần đây thì có vẻ như nó không còn cần thiết.
Thành phần hóa học của tế bào[sửa | sửa mã nguồn]
Tế bào gồm một hỗn hợp phức tạp gồm nhiều chất hữu cơ và các chất vô cơ. Các chất hữu cơ chính là prô-tê-in, glu-xit, lipid.
- Prô-tê-in, hay còn gọi là chất đạm, là một chất phức tạp gồm có cac-bon (C), hi-đrô (H), oxy (O), ni-tơ (N), lưu huỳnh (S) và một số nguyên tố khác. Phân tử của prô-tê-in rất lớn, chứa đến hàng nghìn các nguyên tử nên thuộc vào loại đại phân tử. Prô-tê-in là thành phần cơ bản của cơ thể, có trong tất cả các tế bào.
- Glu-xit, hay còn gọi là chất đường bột, là những hợp chất loại đường và bột. Nó gồm có C, H và O trong đó tỉ lệ giữa H và O luôn là 2H ÷ 1O. Trong cơ thể, glu-xit ở dưới dạng đường glu-cô-zơ (có ở máu) và gli-cô-gen (có ở gan và cơ).
- Lipid, hay còn gọi là chất béo, có ở mặt dưới da và ở nhiều cơ quan, nó cũng gồm 3 nguyên tố chính là C, H, O nhưng tỉ lệ của các nguyên tố đó không giống như glu-xit. Tỉ lệ H ÷ O thay đổi tùy loại lipid. Lipid là chất dự trữ của cơ thể.
- A-xit nu-clê-ic (DNA hay RNA) chủ yếu có trong nhân tế bào. Cả hai loại này đều là các đại phân tử, đóng vai trò quan trọng trong di truyền.
Ngoài các chất hữu cơ nói trên, trong tế bào còn có các chất vô cơ là muối khoáng.
Chất đạm: Protein là phân tử sinh học, hay đại phân tử, gồm nhiều amino acid liên kết lại với nhau. Protein thực hiện rất nhiều chức năng bên trong tế bào, bao gồm các phản ứng trao đổi chất có xúc tác, sao chép DNA, đáp ứng lại kích thích, và vận chuyển phân tử từ một vị trí đến vị trí khác. Các protein khác nhau chủ yếu ở trình tự của các amino acid cấu thành và ở kết quả của giai đoạn cuộn gập protein thành những cấu trúc 3 chiều xác định lên chức năng của nó.
Cacbon: Carbon, là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu là C và số nguyên tử bằng 6, nguyên tử khối bằng 12. Là một nguyên tố phi kim có hóa trị 4 phổ biến, carbon có nhiều dạng thù hình khác nhau, phổ biến nhất là 4 dạng thù hình gồm carbon vô định hình, graphit, kim cương và Q-carbon.
Hydro là một nguyên tố hóa học trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố với nguyên tử số bằng 1, nguyên tử khối bằng 1 amu. Trước đây còn được gọi là khinh khí ; hiện nay từ này ít được sử dụng. Sở dĩ được gọi là "khinh khí" là do hydro là nguyên tố nhẹ nhất và tồn tại ở thể khí, với trọng lượng nguyên tử 1,00794 amu. Hydro là nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ, tạo nên khoảng 75% tổng khối lượng vũ trụ và tới trên 90% tổng số nguyên tử. Các sao thuộc dải chính được cấu tạo chủ yếu bởi hydro ở trạng thái plasma. Hydro nguyên tố tồn tại tự nhiên trên Trái Đất tương đối hiếm do khí hydro nhẹ nên trường hấp dẫn của Trái Đất không đủ mạnh để giữ chúng khỏi thoát ra ngoài không gian, do đó hydro tồn tại chủ yếu dưới dạng hydro nguyên tử trong các tầng cao của khí quyển Trái Đất.
Hydro là một nguyên tố hóa học trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố với nguyên tử số bằng 1, nguyên tử khối bằng 1 amu. Trước đây còn được gọi là khinh khí ; hiện nay từ này ít được sử dụng. Sở dĩ được gọi là "khinh khí" là do hydro là nguyên tố nhẹ nhất và tồn tại ở thể khí, với trọng lượng nguyên tử 1,00794 amu. Hydro là nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ, tạo nên khoảng 75% tổng khối lượng vũ trụ và tới trên 90% tổng số nguyên tử. Các sao thuộc dải chính được cấu tạo chủ yếu bởi hydro ở trạng thái plasma. Hydro nguyên tố tồn tại tự nhiên trên Trái Đất tương đối hiếm do khí hydro nhẹ nên trường hấp dẫn của Trái Đất không đủ mạnh để giữ chúng khỏi thoát ra ngoài không gian, do đó hydro tồn tại chủ yếu dưới dạng hydro nguyên tử trong các tầng cao của khí quyển Trái Đất.
Oxy, hay dưỡng khí, là một nguyên tố hóa học có ký hiệu O và số hiệu nguyên tử 8. Nó là một thành viên của nhóm chalcogen trong bảng tuần hoàn, một phi kim phản ứng mạnh và là một chất oxy hóa dễ tạo oxide với hầu hết các nguyên tố cũng như với các hợp chất khác. Sau hydro và heli, oxy là nguyên tố phong phú thứ ba trong vũ trụ tính theo khối lượng.
Nitơ (danh pháp IUPAC: nitrogen) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn các nguyên tố có ký hiệu N và số nguyên tử bằng 7, nguyên tử khối bằng 14. Ở điều kiện bình thường nó là một chất khí không màu, không mùi, không vị và khá trơ và tồn tại dưới dạng phân tử N2, còn gọi là đạm khí. Nitơ chiếm khoảng 78% khí quyển Trái Đất và là thành phần của mọi cơ thể sống. Nitơ tạo ra nhiều hợp chất quan trọng như các amino acid, amonia, acid nitric và các xyanua. Liên kết hóa học cực kỳ bền vững giữa các nguyên tử nitơ gây khó khăn cho cả sinh vật và công nghiệp để chuyển hóa N
2 thành các hợp chất hóa học hữu dụng, nhưng đồng thời cũng giải phóng một lượng lớn năng lượng hữu ích khi cháy, nổ hoặc phân hủy trở lại thành khí nitơ. Các ammoniac và nitrat được tổng hợp là các loại phân công nghiệp chính và phân nitrat là các chất ô nhiễm chính gây ra hiện tượng phú dưỡng môi trường nước.
Lưu huỳnh là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu S và số nguyên tử 16. Nó là một phi kim phổ biến, không mùi, không vị, nhiều hóa trị. Lưu huỳnh, trong dạng gốc của nó là chất rắn kết tinh màu vàng chanh. Trong tự nhiên, nó có thể tìm thấy ở dạng đơn chất hay trong các khoáng chất sulfide và sulfat. Nó là một nguyên tố thiết yếu cho sự sống và được tìm thấy trong hai amino acid. Sử dụng thương mại của nó chủ yếu trong các phân bón nhưng cũng được dùng rộng rãi trong thuốc súng, diêm, thuốc trừ sâu và thuốc diệt nấm.
Phân tử là 1 nhóm trung hòa điện tích có nhiều hơn 2 nguyên tử liên kết với nhau bằng các liên kết hóa học. Các phân tử được phân biệt với các ion do thiếu điện tích. Tuy nhiên, trong vật lý lượng tử, hóa học hữu cơ và hóa sinh, thuật ngữ phân tử thường được sử dụng ít nghiêm ngặt hơn, cũng được áp dụng cho các ion đa nguyên tử.
Nguyên tử là đơn vị cơ bản của vật chất chứa một hạt nhân ở trung tâm bao quanh bởi đám mây điện tích âm các electron. Hạt nhân nguyên tử là dạng gắn kết hỗn hợp giữa các proton mang điện tích dương và các neutron trung hòa điện. Electron của nguyên tử liên kết với hạt nhân bởi tương tác điện từ và tuân theo các nguyên lý của cơ học lượng tử. Tương tự như vậy, nhóm các nguyên tử liên kết với nhau bởi liên kết hóa học dựa trên cùng một tương tác này, và tạo nên phân tử. Một nguyên tử chứa số hạt electron bằng số hạt proton thì trung hòa về điện tích, trong khi số electron nếu nhiều hoặc ít hơn thì nó mang điện tích âm hoặc dương và gọi là ion. Nguyên tử được phân loại tuân theo số proton và neutron trong hạt nhân của nó: số proton xác định lên nguyên tố hóa học, và số neutron xác định đồng vị của nguyên tố đó.
Đại phân tử là loại phân tử rất lớn thường được tạo ra bởi phản ứng trùng hợp của các đơn vị nhỏ hơn (monomer). Các đại phân tử điển hình thường chứa hàng nghìn đến hàng chục nghìn nguyên tử. Đại phân tử hay gặp trong hóa sinh đó là polyme sinh học (biopolymer) và các phân tử phi polyme lớn. Các đại phân tử tổng hợp thường thấy bao gồm chất dẻo và sợi tổng hợp cũng như các vật liệu trong phòng thí nghiệm như ống nano cacbon.
Trong dinh dưỡng, sinh học và hóa học, chất béo thường có nghĩa là bất kỳ este nào của axit béo, hoặc hỗn hợp của các hợp chất đó; phổ biến nhất là những vi khuẩn xảy ra trong cơ thể sống hoặc trong thực phẩm.
DNA là phân tử mang thông tin di truyền quy định mọi hoạt động sống của các sinh vật và nhiều loài virus. Đây là từ viết tắt thuật ngữ tiếng Anh deoxyribonucleic acid (,), theo tiếng Việt gọi là acid deoxyribonucleic. DNA và RNA là những acid nucleic, cùng với protein, lipid và carbohydrat cao phân tử (polysaccharide) đều là những đại phân tử sinh học chính có vai trò quan trọng thiết yếu đối với mọi dạng sống được biết đến. Phần lớn các phân tử DNA được cấu tạo từ hai mạch polymer sinh học xoắn đều quanh một trục tưởng tượng tạo thành chuỗi xoắn kép.
Acid ribonucleic là một phân tử polyme cơ bản có nhiều vai trò sinh học trong mã hóa, dịch mã, điều hòa, và biểu hiện của gen. RNA và DNA là các acid nucleic, và, cùng với lipid, protein và carbohydrat, tạo thành bốn loại đại phân tử cơ sở cho mọi dạng sự sống trên Trái Đất. Giống như DNA, RNA tạo thành từ một chuỗi nucleotide, nhưng không giống DNA là thường tìm thấy nó ở dạng tự nhiên là một sợi đơn gập lại vào chính nó, hơn là sợi xoắn kép. Các sinh vật tế bào sử dụng RNA thông tin (mRNA) đề truyền đạt các thông tin di truyền cho phép tổng hợp trực tiếp lên các protein chuyên biệt. Nhiều virus mã hóa thông tin di truyền của chúng trong bộ gene RNA.
Hoạt động sống của tế bào
Hoạt động sống của tế bào biểu hiện ở quá trình đồng hóa và dị hóa, sinh sản và cảm ứng, sinh trưởng và phát triển.
- Mỗi tế bào sống trên cơ thể luôn luôn được cung cấp các chất dinh dưỡng do dòng máu mang đến và luôn luôn xảy ra quá trình tổng hợp nên các hợp chất hữu cơ phức tạp từ những chất đơn giản được thấm vào trong tế bào. Đồng thời trong tế bào cũng luôn xảy ra quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ thành những chất đơn giản và giải phóng năng lượng cần thiết cho cơ thể. Quá trình tổng hợp và phân giải các chất hữu cơ trong tế bào gọi là quá trình đồng hóa và dị hóa. Đó là hai mặt cơ bản trong quá trình sống của tế bào.
- Tế bào có khả năng sinh sản và cảm ứng. Sự sinh sản của tế bào là khả năng phân chia trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo nên những tế bào mới. Sự cảm ứng là khả năng thu nhận và phản ứng trước những kích thích lý, hóa học của môi trường quanh tế bào.
- Ở cơ thể trẻ em và thanh niên, các tế bào sinh sản nhanh chóng làm cho cơ thể sinh trưởng và phát triển. Ở người trưởng thành quá trình này vẫn tiếp tục nhưng thường chậm lại.
Trong quá trình sống nhiều tế bào chết đi và được thay thế bằng các tế bào mới.
Mô cơ thể người
Mô là một tập hợp tế bào chuyên hóa ,có cấu tạo giống nhau cùng nhau thực hiện một chức năng nào đó trong cơ thể người và động vật. Cơ thể người động vật là một hệ thống nhất, toàn vẹn, có thể chia thành nhiều mức độ tổ chức khác nhau, với mức độ lớn nhất là cơ thể rồi đến hệ thống cơ quan, cơ quan, mô, tế bào và phân tử.
Kinh lạc là gì?
Hệ thống Kinh lạc đóng một vai trò quan trọng trong sinh lý học, bệnh lý học, và phòng ngừa bệnh. Các chuyên gia Đông Y cổ đại tin rằng con người là một phần trong kết cấu của vũ trụ, cho nên cần duy trì hài hòa quan hệ giữa Trời và vạn vật trên Trái đất (học thuyết Thiên Nhân hợp nhất ví con người như 1 tiểu vũ trụ).
Quan điểm này đã chỉ đạo cho Đông Y và có liên hệ mật thiết với vật lý học, thiên văn học, địa lý học, và triết học. Y học hiện đại chưa thể hiểu được các đường kinh lạc.
Đông Y tin rằng các Kinh lạc là những đường dẫn khí của cơ thể cũng như các mạch máu dẫn truyền máu trong cơ thể người. Các Kinh lạc liên kết các tạng phủ với nhau và trải rộng khắp trong cơ thể.
Đông Y giảng rằng “thần ngụ tại tim, hồn ngụ tại gan, chí ngụ tại thận, phách ngụ tại phổi, và ý ngụ tại tỳ”. Sự điều khiển và vận động của kinh lạc không chỉ ảnh hưởng đến cơ thể mà còn ảnh hưởng đến tinh thần con người.
Khi tinh thần hồi phục thì thể xác cũng hồi phục theo. Tinh thần cũng là vật chất, chẳng qua nó là vật chất siêu hình và tinh vi hơn. Bởi vậy, Đông y quan niệm Tinh – Khí – Thần là 3 báu vật (tam bảo) của sinh mệnh người và muốn trị bệnh tận gốc phải trị từ tâm.
TINH gồm có tinh tiên thiên (do cha mẹ sinh ra) và tinh hậu thiên (do ăn uống, hít thở) khi đi vào hệ thống kinh lạc sẽ chuyển hoá thành KHÍ là năng lực nội sinh. THẦN là trạng thái cao nhất của năng lực nội sinh, khi mà KHÍ được vận chuyển lưu thông suốt khắp vòng chu thiên (có thể so sánh chức năng như vòng tuần hoàn máu).
Kinh Lạc là con đường dẫn truyền dinh dưỡng các tạng phủ, tế bào trong cơ thể,kết nối trên-dưới, trong-ngoài tạo thành một thể thống nhất. - Kinh là kinh mạch, Lạc là lạc mạch (hay còn gọi là mạch máu ) Kinh Lạc là hệ thống cảnh báo bệnh tật cho cơ thể, do đó “Kinh Lạc Ứ Tắc – Khí Huyết Không Thông” khiến cho cơ thể mắc bệnh. Qua đó có thể thấy vai trò quan trọng của kinh lạc với cơ thể con người.
2. Vậy thông kinh hoạt lạc là gì?
- " Kinh lạc có thông suốt thì bách bệnh không sinh. Kinh lạc không thông thì Bách bệnh tìm đến " Thông kinh hoạt lạc là phương pháp chữa bệnh, làm đẹp bắt nguồn từ Đông Y. Theo đó, thông kinh lạc giúp khí huyết lưu thông tránh tắc nghẽn dựa trên 365 đường kinh lạc trên cơ thể, trong đó có 12 đường kinh lạc chính, và Bát mạch kỳ kinh trong đó quan trọng nhất là nhâm mạch và đốc mạch, giúp cho cơ thể tự cân bằng sức khỏe.
2. Vậy thông kinh hoạt lạc là gì?
- " Kinh lạc có thông suốt thì bách bệnh không sinh. Kinh lạc không thông thì Bách bệnh tìm đến " Thông kinh hoạt lạc là phương pháp chữa bệnh, làm đẹp bắt nguồn từ Đông Y. Theo đó, thông kinh lạc giúp khí huyết lưu thông tránh tắc nghẽn dựa trên 365 đường kinh lạc trên cơ thể, trong đó có 12 đường kinh lạc chính, và Bát mạch kỳ kinh trong đó quan trọng nhất là nhâm mạch và đốc mạch, giúp cho cơ thể tự cân bằng sức khỏe.
3. Tại sao phải thông kinh lạc?
- Từ một tế bào nhỏ nhất trong cơ thể đều phải có kinh lạc nuôi dưỡng vậy để phòng tránh bệnh tật bắt buộc kinh lạc phải thông suốt, khí huyết trong cơ thể sạch và đầy đủ . Hiện nay tỷ lệ mắc các bệnh: mất ngủ, đau đầu cổ vai, đau lưng, dẫn đến tê bì chân tay, nội tiết tố thay đổi, viêm nhiễm đường ruột, táo bón, bệnh trĩ, béo phì, chức năng các tạng phủ suy giảm….ngày càng có xu hướng gia tăng do con người phải hứng chịu những ảnh hưởng từ môi trường xã hội như: ô nhiễm không khí, nguồn nước, thực phẩm, hóa chất độc hại… Nghiên cứu về vấn đề này, các chuyên gia cho biết: “để giảm thiểu tình trạng mắc các bệnh trên chúng ta phải chữa bệnh từ bên trong, cụ thể là cần phải đả thông kinh lạc, giúp âm dương cơ thể cân bằng. Đây là việc làm thiết yếu đối với mỗi con người nếu muốn kéo dài tuổi thọ”.
Cơ thể chúng ta được hợp thành từ các bộ phận khác nhau, được phân loại thành 8 hệ cơ bản
Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn bao gồm hệ thống tim mạch và hệ thống các mạch máu. Cấu tạo bên trong mạch máu có tĩnh mạch, động mạch và mao mạch. Nhiệm vụ chính của hệ tuần hoàn là vận chuyển oxy, hormone và các dưỡng chất đi nuôi các tế bào trong cơ thể.
Chi tiết chức năng từng bộ phận như sau:
– Hệ thống tim mạch gồm: Tim, mạch máu đảm nhiệm chức năng bơm, vận chuyển máu đi nuôi cơ thể. Trong đó tim chủ yếu là nhiệm vụ điều hòa khí, dưỡng chất tới các mô, tế bào.
– Hệ thống bạch huyết gồm mạch bạch huyết, amidan, tuyến ức, hạch bạch huyết và lá lách có chức năng lọc và vận chuyển bạch huyết quay trở lại đường lưu thông của máu.
Hệ tuần hoàn trong cơ thể người
Hệ hô hấp
Trong cơ thể người, hệ hô hấp bao gồm các bộ phận: Thanh quản, mũi, hầu, khí quản, phế quản và phổi. Hệ hô hấp là cơ quan duy nhất tham gia vào quá trình lấy oxy từ ngoài đưa vào phổi để cung cấp oxy cho các hệ cơ quan khác bên trong cơ thể. Song song, hệ hô hấp cũng có nhiệm vụ thải độc, thải khí cacbonic ra ngoài thông qua mạch phổi và phổi.
Hệ hô hấp
Hệ thần kinh
Hệ thần kinh là cơ quan trung tâm trọng yếu điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể chúng ta. Đồng thời hệ thần kinh cũng là nơi phát sinh phản xạ, tư duy và giúp cơ thể người thích nghi với các thay đổi ở môi trường. Cơ quan này được cấu thành từ các bộ phận: Não bộ, tủy sống, hệ thống dây thần kinh, trong đó:
– Não bộ là hệ thần kinh trung ương
– Hệ thống dây thần kinh là hệ thần kinh sinh dưỡng.
Các bộ phận trên cơ thể người: Hệ thần kinh
Hệ vận động
Hệ vận động hoạt động dựa trên sự điều khiển của hệ thần kinh. Chức năng cơ quan này là tạo ra các chuyển động thường ngày của chúng ta. Cấu tạo của hệ vận động bao gồm các bộ phận sau:
+ Hệ thống xương khớp: Bao gồm sụn khớp và 260 chiếc xương. Chức năng của hệ xương khớp là nâng đỡ toàn bộ cơ thể, dự trữ khoáng chất cần thiết và hỗ trợ sản sinh tế bào máu, giải phóng hormone trong cơ thể.
+ Hệ thống cơ trải đều khắp cơ thể: Bao gồm 3 loại cơ chính là cơ xương, cơ tim và cơ trơn. Hệ thống cơ giúp các chuyển động co gập của chúng ta trở nên dễ dàng hơn.
Hệ tiêu hóa
Hệ tiêu hóa trong cơ thể người là sự kết hợp của các bộ phận:
+ Khoang miệng: Miệng, lưỡi, các tuyến nước bọt
+ Thực quản
+ Dạ dày, gan
+ Ruột non, ruột già
+ Túi mật, tuyến tụy
+ Hậu môn.
Hệ tiêu hóa có vai trò biến đổi thức ăn thành các dưỡng chất để cung cấp năng lượng nuôi sống cơ thể. Các chất dinh dưỡng được hệ tiêu hóa đem đi để duy trì sức khỏe và hoạt động của các cơ quan khác. Sau cùng, hệ tiêu hóa sẽ thải các chất cặn bã dư thừa ra bên ngoài.
Hệ nội tiết
Hệ nội tiết là cơ quan có chức năng cân bằng dưỡng chất trong cơ thể người bằng cách tiết hormon theo đường máu. Từ đây cân bằng nội môi và các hoạt động sinh lý khác bên trong. Cấu tạo của hệ nội tiết bao gồm các tuyến như:
+ Tuyến yên
+ Tuyến giáp
+ Tuyến trên thận
+ Tuyến tùng
+ Tuyến sinh dục.
Hệ bài tiết
Hệ bài tiết là cơ quan chuyên lọc và đào thải những chất cặn bã dư thừa từ bên trong cơ thể ra ngoài. Đây cũng là bộ phận duy trì lượng nước cho cơ thể bằng cách cân bằng các chất điện giải, duy trì nồng độ pH ổn định trong máu.
Các bộ phận trong hệ bài tiết bao gồm:
+ Thận
+ Ống dẫn nước tiểu
+ Bàng quang
+ Da.
Hệ sinh sản
Hệ sinh sản hay hệ sinh dục bao gồm toàn bộ các cơ quan nằm trong tuyến sinh dục. Nhiệm vụ của cơ quan này là duy trì nòi giống. Dưới đây là chi tiết các bộ phận trong hệ sinh sản nam và nữ:
Hệ sinh sản (nữ)
Bao gồm:
+ Âm đạo
+ Tử cung
+ Cổ tử cung
+ Buồng trứng.
Hệ sinh sản (nam)
+ Dương vật
+ Mào tinh hoàn
+ Ống dẫn tinh
+ Tinh hoàn.
Tìm hiểu về cấu trúc và chức năng của DNA
DNA là gì?
Axit deoxyribonucleic, hay DNA, là một phân tử chứa các thông tin mà một sinh vật cần để phát triển, sống và sinh sản. Những thông tin này được tìm thấy bên trong mỗi tế bào, và được truyền từ cha mẹ cho con cái của họ.
DNA là thứ khiến mỗi con người trở thành một cá thể độc nhất vô nhị trên thế giới.
Một bộ DNA hoàn chỉnh chứa 3 tỷ bazo, 20.000 gen và 23 cặp nhiễm sắc thể. Chúng ta thừa hưởng một nửa DNA từ tinh trùng của cha và một nửa từ trứng của mẹ. Trên thực tế DNA rất dễ bị phá hủy, ước tính có hàng chục ngàn sự kiện gây tổn hại đến DNA xảy hằng ngày trong mỗi tế bào của chúng ta. Các tổn hại này có thể xảy ra do lỗi sao chép DNA, do gốc tự do và do chúng ta tiếp xúc với bức xạ UV. Nhưng may thay, các tế bào của chúng ta lại có những protein chuyên biệt có khả năng phát hiện và sửa chữa nhiều trường hợp DNA bị phá hủy.
Cấu trúc
Các thông tin căn bản cho sự sống (phát triển, sống còn và sinh sản) trên DNA này được lưu trữ trong chuỗi các cặp bazo nucleotide. Các tế bào đọc các thông tin này ở nhiều thời điểm trong cuộc đời để tạo ra các protein cần thiết cho sự tăng trưởng.
Mỗi nhóm bazo nucleotide gồm ba bazo tương ứng với các axit amin cụ thể. Một số kết hợp, như T-A-A, T-A-G và T-G-A cũng chỉ ra sự kết thúc của chuỗi protein. Protein được tạo thành từ sự kết hợp khác nhau của các axit amin. Khi được đặt cùng nhau theo đúng thứ tự, mỗi protein có cấu trúc và chức năng riêng trong cơ thể.
Số lượng DNA cấu tạo thành cơ thể người
Như hình trên, ta có thể thấy, các bazo nucleotide (Ví dụ: ATGC) là cấu trúc căn bản hình thành chuỗi xoắn DNA (DNA helix). Nhiều chuỗi DNA lại hình thành nên 23 cặp nhiễm sắc thể, mỗi tế bào trong cơ thể đều có 23 cặp này. Và cơ thể có hàng chục ngàn tỷ tế bào!!!.
Do đó, 1 cơ thể sống có vô vàn chuỗi DNA.




























































































































0 nhận xét:
Đăng nhận xét