Container Icon

Chú Đại Bi tiếng Phạn



o     नीलकण्ठ धारनी

Nīlakaṇṭha Dhāranī

o     नमो रत्नत्रयाय नमह् अर्य अवलोकितेश्वराय

namo ratnatrayāya namah arya avalokiteśvarāya

o     बोधिसत्त्वाय महासत्वाय महाकारुनिकाय

bodhisattvāya mahāsatvāya mahākārunikāya

o     ॐ सर्वरभय सुधनदस्ये नमस्क्र्त्वा इमम्

oṃ sarvarabhaya sudhanadasye namaskrtvā imam

o     आर्यावलोकितेश्वर रंधव नमो नरकिन्दि।

āryāvalokiteśvara raṃdhava namo narakindi.

o     ह्रिह् महावधसम सर्व अथदु शुभुं अजेयं।

hrih mahāvadhasama sarva athadu śubhuṃ ajeyaṃ.

o     सर्व सत्य नम वस्त्य नमो वाक मार्ग दातुह्।

sarva sattva nama, vastya namo vāka, mārga dātuh.

o     तद्यथा ॐ अवलोकि लोचते करते ए ह्रिह्

tadyathā oṃ avaloki locate karate, e hrih

o     महाबोधिसत्त्व। सर्व सर्व मल मल महिम हृदयम्

mahābodhisattva. sarva sarva, mala mala, mahima hṛdayam,

o     कुरु कुरु कर्मुं धुरु धुरु विजयते महाविजयते

kuru kuru karmuṃ, dhuru dhuru vijayate mahāvijayate,

o     धर धर धिरीनिश्वराय चल चल मम विमल मुक्तेले

dhara dhara dhirīniśvarāya, cala cala, mama vamāra muktele,

o     एहि एहि शिन शिन आरषं प्रचलि विष विषं प्राशय |

ehi ehi, śina śina, āraṣaṃ pracali viṣa viṣaṃ prāśaya.

o     हुरु हुरु मर हुलु हुलु ह्रिह्

huru huru mara hulu hulu hrih

o     सर सर सिरि सिरि सुरु सुरु बोधिय बोधिय

sara sara siri siri suru suru bodhiya bodhiya

o     बोधय बोधय । मैत्रिय नारकिन्दि

bodhaya bodhaya. maitriya nārakindi

o     धर्षिनिन भयमान स्वाहा सिद्धाय स्वाहा

dharṣinina bhayamāna svāhā siddhāya svāhā

o     महासिद्धाय् स्वाहा सिद्धयोगेश्वराय स्वाहा

mahāsiddhāya svāhā siddhayogeśvarāya svāhā

o     नरकिन्दि स्वाहा मारणर स्वाहा

narakindi svāhā māraṇara svāhā

o     शिर संह मुखाय स्वाहा सर्व महा असिद्धाय स्वाहा

śira saṃha mukhāya svāhā sarva mahā asiddhāya svāhā

o     चक्र असिद्धाय स्वाहा पद्म हस्त्राय स्वाहा

cakra asiddhāya svāhā padma kastāya svāhā

o     नारकिन्दि वगलय स्वाहा मवरि शन्खराय स्वाहा

nārakindi vagaraya svāhā mavari śankharāya svāhā

o     नमः रत्नत्रयाय नमो आर्यवलोकितेश्वराय स्वाहा

namah ratnatrayāya namo āryavalokiteśvarāya svāhā

o     ॐ सिधयन्तु मन्त्र पदाय स्वाहा

oṃ sidhayantu mantra padāya svāhā

Diễn nghĩa Chú Đại bi, Nīlakantha Dhāranī của TS Huệ Dân

Phạn ngữ  mẫu chữ La tinh

Namo ratnatrayāya namah ārya avalokiteśvarāya

Âm Hán Phạn

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da ( Namo ratnatrayāya). Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da (Namah ārya avalokiteśvarāya).

Ý Việt

Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng,( Namo ratnatrayāya).  Con xin quy y Bậc Thánh giả Quán thế âm (Namah ārya avalokiteśvarāya).

Diễn nghĩa :

Trong Phật học chữ : Namah (नम), Namas (नमस्), hay Namo có nghĩa là đem thân tâm về qui ngưỡng Phật, Pháp, Tăng.

Chữ Namas được chia làm hai nhóm có gốc từ động từ  √nam (chữ devaganari √ नम् ), chữ namas nhóm một (chữ  devaganari नमस्), dạng trung tính, có nghĩa : kính chào, tôn kính, ngưỡng mộ. Trên phương diện giới từ hay liên từ : chúc tụng, ca ngợi, tán tụng.

Động từ căn √nam (√ नम् √nam) có nghĩa : uốn cong, nghiêng xuống, chào, vinh danh, được uốn cong, tự quy phục, nhượng bộ.

Chữ namas nhóm hai (chữ  devaganari नमस्), là thân động từ phản thân của namas nhóm một, có nghĩa : vinh danh, và khi làm trực bổ cách : làm danh dự, chào hỏi, kính trọng, ngưỡng mộ.

Chữ Namaste (chữ  devaganari नमस्ते) là chữ ghép của : namas (नमस्) và te (ते), có nghĩa : tôi chào bạn, chào bạn, hân hạnh chào bạn.

Chữ namaskāra (chữ  devaganari नमस्कार) là chữ ghép của  namas nhóm một và thân từ -kāra (chữ  devaganari  कार : người ấy làm). Chữ namaskāra dùng để diễn đạt hành động của một người đang chào hay đang tôn kính ai đó, khi họ cuối đầu và nói chữ Namas.

Chữ namaskāram là câu chào có nghĩa : hân hạnh chào bạn.

Namaskar hoặc Namaskaram là một trong năm hình thức chào truyền thống chính thức được đề cập trong kinh Veda. Một lời chào tôn giáo, kèm theo cung cách ép hai lòng bàn tay ép với nhau và ngón tay trỏ trở lên, trước ngực.

Namas, dấu chấm đỏ trên trán của các phụ nữ Hinđu khi kết hôn, đó là biểu tượng để tỏ bày sự cống hiến cuộc đời cho chồng tương lai của họ.

Chữ Ratnatrayāya

Ratna có gốc từ tiếng Phạn रत्न, ghép từ hai chữ : rā nhóm một và -na, thân từ thuộc, nữ tính, nam tính, trung tính, có nghĩa : viên ngọc.

Gốc thân từ rā nhóm một, √ रा, rā_1 : cho, đồng ý, giao phó.

Gốc thân từ rā nhóm hai, रा rā_2, xuất phát từ rā nhóm một : hành động cho, hay giao phó.

Chữ–na, ॰न, dạng biến cách : hình thức làm bổ nghĩa cho cụm từ đi chung với nó.

Trayāya trong phạn ngữ thuộc dạng nam tính, xuất phát từ chữ त्रय traya, có gốc từ chữ tri và -ya,  thân từ thuộc, nữ tính, nam tính, trung tính, có nghĩa : thứ ba, bộ ba, số ba, thuộc về số ba.

Chữ tri, त्रि : số ba, त्रयी : gấp ba lần.

Chữ-ya, ॰य : thuộc về, liên quan, phát sinh từ, hình dạng của một chất lượng trừu tượng.

Chữ Triratna : Tam bảo.

Qua định nghĩa của chữ Ratna và Trayāya trong phạn ngữ, thì ý Việt được hiểu như là ba viên ngọc và Hán Việt gọi là Tam Bảo. Như vậy, trên phương diện Phật học thì Tam bảo được xem là ba ngôi qúy báu, mà trong đó bao gồm : Phật Bảo, Pháp Bảo,Tăng Bảo.

Tam Bảo là sự hướng dẫn tinh thần toàn hảo bằng những lý tưởng cao cả và cũng là nương tựa cho những người đang đi tìm đạo để phát triễn sự học Phật của từng cá nhân, tùy theo trình độ và hoàn cảnh khác nhau trong đời sống hiện thực.

Như đã hiểu và thấy qua phần định nghĩa của Phạn ngữ và trong phương diện Phật học, Tam Bảo không phải là nơi để cầu xin ân huệ, trưng bày chư Phật, Bồ tát hay tấn phong các vị Hoà thượng. Mà hãy lắng nghe và sống thực hành đúng theo những lời của Đức Phật, đã dạy cho tất cả những ai đang đi và muốn đi theo bước chân của Ngài, bằng con đường Chính Đạo.

Chữ Buddha

Chữ Phật, phạn ngữ viết theo mẫu tự la tinh là Buddha, chữ devaganari viết बुद्ध. Chữ Buddha là quá khứ phân từ của chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : tỉnh thức, sáng suốt, thông thái, khôn ngoan. 

Động từ căn √budh nhóm một (√बुध्), có nghĩa : tự đánh thức, tự tỉnh thức, xem, tìm hiểu, khám phá, nhận thức,  cảm nhận, hiểu biết, hiểu, quan sát, suy nghĩ, tập trung, khơi dậy, phục hồi, làm cho hiểu, nhớ, tiết lộ, thông báo, thông tin, tư vấn, khuyên bảo, suy nghĩ đứng đắn, cố gắng tìm hiểu.

Chữ budh nhóm hai, có gốc từ chữ budh nhóm một, thuộc tĩnh từ, thân từ có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : người tự tỉnh thức, người hiểu biết, thông minh, sáng suốt, khôn ngoan.

Chữ buddhi (बुद्धि) có gốc từ chữ budh nhóm một và thân từ -ti (ति hình thể hoạt động, thuộc nữ tính), có nghĩa : tinh thần, thông minh, khả năng nhận thức, hiểu biết, trí tuệ, nghĩ, ý tưởng, giải quyết.

Chữ Dharma (Devanagari: धर्म), Pali : dhamma. धम्म

Chữ Dharma có gốc từ chữ dharman có nghĩa : pháp luật, quy định, điều kiện, sự trong sạch tự nhiên, tốt, đạo đức, công bằng, nhiệm vụ, một mục đích của sự tồn tại, sự trật tự tự nhiên.

Trong Phật học Dharma : Pháp Giới. Những điều căn bản của Đức Phật dạy  để giữ gìn rèn luyện bản thân trong tu Phật.

Chữ dharman, धर्मन्, là chữ ghép từ hai chữ : dhṛ và man : trợ giúp hay nâng đỡ, nền tảng, quy định, luật thiên nhiên .

Động từ căn √dhṛ, có nghĩa là "nắm giữ", nắm giữ tính năng hoạt động của con người trong xã hội. Cách dùng chữ này rất đa dạng tùy theo chủ đề của bản văn.

Chữ –man, ॰मन् : hình thức làm bổ nghĩa cho cụm từ đi chung với nó.

Chữ Sangha hay Samgha, Phạn ngữ .

Chữ Saṃgha, संघ saṃgha, là biến cách từ chữ Saṅgha (viết từ chữ saṃhan = sam-han_1), có nghĩa : bộ sưu tập, số lượng nhiều, đám đông, hiệp hội, công ty, sự tập trung quần chúng lại.

Trong Phật học Sangha hay Samgha : giáo đoàn , Tăng đoàn, tu viện của các Tăng, ni, cộng đồng Phật giáo.

Chữ  ārya, आर्य

Arya là một chủ đề còn nhiều bàn luận trong giới nghiên cứu ngôn ngữ cổ, ngày nay. Tuy nhiên nó cũng có nhiều định nghĩa được xử dụng qua các bài thánh ca trong Rigveda hay các văn bản của các tôn giáo như là : Ấn giáo, đạo Jain và Phật giáo… và đôi khi được gọi chung là Arya pháp.

ārya, आर्य, viết  từ chữ अर्य,arya có gốc động từ [ṛ], thân từ có bốn dạng : Cách tách li, nam tính, nữ tính, trung tính. Thuật ngữ này là một từ  trong tiếng Phạn xưa, có nguồn gốc từ thời Ấn-Ba tư, hay thời tiền  Ấn-Âu.

Arya  có nhiều ý nghĩa như sau :  người phục vụ với lòng nhiệt thành, tận tâm, trung tín, trung thành, thân thiện, chăm sóc, cao quý, đẳng cấp thứ ba trong 4 giai cấp Bà la môn, đức tính, quý tộc, tốt hơn, chúa, làm chủ, đáng kính, danh dự, thầy, chủ nhân, chân chính, chiến binh tinh thần, anh hùng, người đã làm việc cho sự bình đẳng của tất cả và được yêu mến tất cả mọi người, tiến bộ, văn minh, các kinh nghiệm, người tiên tiến, cấp trên,

Trong các văn bản Phật giáo, thường thấy chữ ariya hay ārya được dùng với các danh từ như : Dhammavinayo ariyassa, Việt dịch là Phật Pháp và Giới Luật, āryasatyāni catvāry, ý Việt là Bốn chân lý cao qúy, hay Tứ diệu đế và Bát Chánh Đạo được gọi là āryamārga hay āryāṣṭāṅgikamārga hoặc ariyamagga trong tiếng Pāli.

Những người tu Phật giữ giới luật nghiêm chỉnh theo con đường Phật giáo cũng gọi là āryas. Phản nghĩa của āryas là anāryas.

Trong văn bản Phật giáo Trung Quốc, Arya được dịch là : thánh.

Chữ  avalokiteśvarāya, अवलोकितेश्वरस्

Avalokiteśvaras, āvalokiteśvaro, avalokiteshvara là danh từ phong cách số ít có nghĩa là Quán Thế Âm, Quán Tự Tại hay Quan Tự Tại, tiếng Nhật gọi là Kanzeon, Kanjizai, Kanzejizai, tiếng Trung Hoa là Kuan Yin, Guān Yīn, tiếng Triều Tiên là Gwan-eum,Gwanse-eu hay Gwanseeumbosal tiếng Thái Lan là Kuan Eim hay Phra Mae Kuan Eim, tiếng Nam Dương là Kwan Im, Dewi Kwan Im, tiếng Tây Tạng là Chenrezig, tiếng Khmer Lokeśvara, tiếng Mông Cổ là Nidubarüsheckchi, Janraisag, người Hồng Kong và Quảng Đông gọi là Kwun Yum hay Kun Yum.

Quán Thế Âm là vị Bồ Tát tượng trưng cho lòng thương yêu không bờ bến của tất cả các chư Phật.   Ngài là bà Mẹ hiền trong tất cả các bà mẹ hiền. Người của Chân Lý Hoa Đạo với nhành dương liễu và bình cam lồ trên tay rưới tắt và làm diệu đi những điều phiền não đang bừng cháy trong lòng chúng sanh.

Ngài cũng là một trong những vị Bồ Tát có diệu dụng đặc biệt là quán xét và nghe thấu tất cả tiếng đau khổ của thế gian, rồi từ bi giáo hoá cứu độ đưa chúng sanh đến nơi an vui giải thoát, cho nên cũng gọi là Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Đại-Từ Đại-Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ-tát.

Quán Tự Tại Bồ-tát có nghĩa là Ngài Quan Thế Âm Bồ-tát dùng trí huệ Bát-nhã quán sát sự vật đúng như chân lý một cách tự tại và thoát ra ngoài các Phiền não.

Pháp môn của Bồ Tát Quán Thế Âm là phương pháp phản văn, văn tự tánh   (không xuôi dòng đuổi theo âm thanh mà trở ngược lại tánh nghe) tức là từ cái nghe để trở về tự tánh của mình. Trong văn học, Thi ca, dựa vào trong sự hóa thân đa dạng của Bồ tát, qua sự tín ngưỡng khác nhau, người ta đã dùng các hình thái để tôn thờ Ngài như sau : Quan Âm đồng tử, Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính.

Đối với Phật Giáo không có quan niệm sơ khai các vị Bồ tát hay chư Phật có giới tính và sự sinh sản. Do đó Quán Thế Âm là nam hay nữ không phải là vấn đề quan trọng, theo phẩm Phổ môn, khi muốn cứu vớt hoặc giác ngộ cho chúng sinh, Quán Âm có khả năng hiện thân đa dạng như Phật, Bồ Tát, thiện nam, tín nữ, thân nhi đồng v.v.

Nếu cần hiện ra thân gì để cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó như : Các ngư dân ra biển khơi thường hay cầu nguyện Phật bà Quan Âm để được bình an trong các chuyến đi của họ. Vì thế sự hóa thân này của Ngài cũng có biệt hiệu "Quan Âm Nam Hải".

Ba ngày vía kỷ niệm của Bồ tát Quan Thế Âm : 19-2 ngày đản sinh, 19-6 ngày thành đạo, 19-9 ngày xuất gia.

Phân tích từ :

अवलोकितेश्वरस, Avalokiteśvara tên được chia ra làm bốn phần : अव ava tiền tố từ, có nghĩa là "xuống", Lokita, một quá khứ phân từ của √ लोक् Lok  động từ, có nghĩa là "xem xét, quan sát, trông xuống" được sử dụng ở thời hiện tại trong ngữ pháp bất quy tắc Phạn ngữ, chữ इत ita viết riêng là hậu tố từ, अवलोक् Avalokita là động từ biến thành danh từ có nghĩa là "người trông xuống" và chữ cuối cùng   ईश्वर īśvara có nghĩa là " Bậc điều khiển tối cao, Đấng vô thượng, Thánh nhân vĩ đại, Đấng toàn năng, vị Chúa tể".

Bảng biến hóa thân từ của avalokiteśvara- ở dạng nam tính:

Nam tính

Số ít

Số hai

Số nhiều

Chủ cách

avalokiteśvaraḥ

avalokiteśvarau

avalokiteśvarāḥ

Hô cách

avalokiteśvara

avalokiteśvarau

avalokiteśvarāḥ

Trực bổ cách

avalokiteśvaram

avalokiteśvarau

avalokiteśvarān

Dụng cụ cách

avalokiteśvareṇa

avalokiteśvarābhyām

avalokiteśvaraiḥ

Gián bổ cách

avalokiteśvarāya

avalokiteśvarābhyām

avalokiteśvarebhyaḥ

Đoạt cách

avalokiteśvarāt

avalokiteśvarābhyām

avalokiteśvarebhyaḥ

Sở hữu cách

avalokiteśvarasya

avalokiteśvarayoḥ

avalokiteśvarāṇām

Vị trí cách

avalokiteśvare

avalokiteśvarayoḥ

avalokiteśvareṣu

Thuật ngữ này thường được dùng để biểu thị cho chức năng của một vị Chúa được tôn kính của một nhóm người, sinh vật, thú vật hay nơi chốn. Thí dụ : chữ Lokesvara là một danh từ ghép của 2 chữ Loka ( có nghĩa là thế giới) và "isvara"   (có nghĩa là Chúa hay Chúa tể). Theo quy tắc sự kết hợp âm thanh trong phạn ngữ chữ a + iśvara trở thành eśvara, như vậy chữ iśvara có chức năng là Chúa của ... ở đây nơi chốn là Thế giới.

Do đó dịch là Chúa của Thế giới. Một thí dụ khác : Campesvara là một danh từ kết hợp của Campa (Chăm Pa tên của một vùng ở miền trung Việt Nam thời Trung cổ) và isvara "Chúa" Qua diễn đạt ở câu trên chữ Campesvara dịch là Chúa tể của Chăm Pa. 

Nếu đứng trên dạng phân tách thì danh từ  Avalokiteśvara có nghĩa Chúa tể của người trông xuống nhưng trông xuống cái gì, cụm từ này chưa hoàn thành, vì thiếu hợp từ nơi chốn kèm theo chữ trông xuống đó là thế giới hay vũ trụ (loka Phạn ngữ) mà trong đó có nhiều sự sinh sống khác nhau.

Do đó Ngài Huyền Trang dịch Avalokiteśvara như Avalokitasvara, Âm Trung Hoa là Guan Zizai thay vì Kuan Yin.  Âm ngữ Guan Zizai được viết từ 3 chữ Kuan Shi Yin. Kuan có nghiã là Nhìn có tánh cách suy nghĩ sâu sắc, Shi nói về Thế giới nhân loại và Yin dùng diễn tả Âm thanh (Phạn ngữ Svara स्वर ).

Dịch nguyên nghĩa là Nhìn hay Quan sát những tiếng kêu thế giới và chữ Kuan Shi Yin là một diễn giãi của các chữ Avalokitésvara Avalokita. Cho nên chữ Avalokitasvara của Ngài Huyền Trang dịch tương đương chính xác với những bản gốc nói về Avalokitasvara trong tiếng Phạn ở thế kỷ thứ năm.

Vì vậy nguyên nghĩa danh từ Avalokitasvara là người có cảm nhận những tiếng kêu của chúng sinh hay những người cần giúp mình và được dùng làm Danh xưng cho vị Bồ Tát, người đã thực hiện một lời nguyện tuyệt vời để lắng nghe những lời cầu nguyện của tất cả chúng sinh trong thời gian khó khăn.

Trong Đại thừa Đức Quan Thế Âm được người ta tín ngưỡng như : Đấng Đại Từ Bi, vị Bồ Tát giàu lòng nhân ái, Vua Sư Tử Hống (lòng can đãm dũng mãnh), Ánh sáng Quang Minh vộ tận... Quán Thế Âm cũng là một lực siêu việt của tình thương, có mặt ở khắp nơi. Một người bình thường, đứng trước một tình huống, thương tâm, quên mình lao người ra giúp đỡ kẻ bị nạn.

Ngay chính lúc đó, Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện trong người ấy, hay nói cách khác người đó đã là sự ứng thân của Bồ tát Quán Thế Âm trong thế giới này. Bởi vì Ngài  đã được tượng trưng trong truyền thống Phật giáo bằng hình ảnh một người nữ có ngàn con mắt để thấu hiểu và ngàn cánh tay để giúp đỡ chúng sinh.

Trong các chùa thường đọc " A bà lô kiết đế xá bà la ", là phiên âm Hán Phạn của chữ "Avalôkitesvara" nghĩa là " Vị Bồ tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn nghe thấu tiếng kêu khổ não của chúng sinh".

bodhisattvāya mahāsatvāya mahākārunikāya

 Bodhisattvāya mahāsatvāya mahākārunikāya


नमो रत्नत्रयायनमह् अर्यअवलोकितेश्वराय

Âm Hán Phạn:

Bồ Đề tát đỏa bà da, Ma ha tát đỏa bà da, Ma ha ca lô ni ca da.

Ý Việt:

Giác hữu tình hay Bồ Tát tự giác tự độ, bậc tinh tấn dũng mãnh, lòng Ðại Bi.

Chữ Bodhisattva, Hán Việt, dịch là Giác hữu tình, tự giác tự độ, tự mình giác ngộ, tự mình độ mình, hoặc Đại sĩ. Phạn ngữ viết बोधिसत्त्वस्. Bodhisattva là chữ ghép từ chữ : Bodhi và sattva.

Chữ bodhi, बोधि, có gốc từ chữ  bodh, बोध्, thân từ thuộc dạng nữ tính, có nghĩa : khoa học, sự  hiểu biết hoàn toàn, sự tiết lộ. Trong Phật học : giải thoát, giác ngộ, tình trạng tỉnh thức của một vị Phật.

Bảng biến hóa thân từ của Bodhi ở dạng nữ tính :

 Nữ tính 

Số ít

Số hai

Số nhiều

Chủ cách

bodhiḥ

bodhī

bodhayaḥ

Hô cách

bodhe

bodhī

bodhayaḥ

Trực bổ cách

bodhim

bodhī

bodhīḥ

Dụng cụ cách

bodhyā

bodhibhyām

bodhibhiḥ

Gián bổ cách

bodhyai | bodhaye

bodhibhyām

bodhibhyaḥ

Đoạt cách

bodhyāḥ | bodheḥ

bodhibhyām

bodhibhyaḥ

Sở hữu cách

bodhyāḥ | bodheḥ

bodhyoḥ

bodhīnām

Vị trí cách

bodhyām | bodhau

bodhyoḥ

bodhiṣu

Chữ bodha, बोध, có gốc từ chữ  bodh, बोध्, thân từ thuộc tĩnh từ, và có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, có nghĩa : hành  động của người hiểu biết, sự hiểu biết, sự cảm nhận, sự hiểu và biết cảm nhận thuộc về khoa học.

बोधि, Âm phạn ngữ là Bodhi, tiếng Pali viết và đọc cũng như chữ Phạn, có nghĩa là giác ngộ, thức tỉnh hay để biết. Bồ đề là một danh từ trừu tượng xuất phát từ ngữ căn của động từ √ बुध đọc là Budh và dùng để diễn đạt ý nghĩa sơ khởi của sự nhận thức, sự hiểu biết hay tỉnh thức. Động từ thể chủ động ngôi thứ ba, số ít được viết như sau बोधति và cách viết la tinh hóa Bodh-a-ti. 

Động từ thể thụ động ngôi thứ ba số ít viết बुध्यते và La tinh hóa Budh-ya-te. Chữ Buddha (Phật) cũng xuất nguồn từ căn "Budh". Danh xưng Buddha Phạn ngữ, Phật-đà tiếng Việt gọi tắc là Phật, bởi vì Ngài hiểu biết đầy đủ Bốn Chân Lý Thâm Diệu Cao Quý (Tứ Diệu Đế) và từ giấc mơ vô minh Ngài đã thức tỉnh.  Chẳng những hoàn toàn thấu triệt tất cả các pháp, mà còn có đẩy đủ khả năng truyền bá giáo lý cho chúng sanh nên được gọi là Samma Sambuddha (Chánh Biến Tri, âm là Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề) để phân biệt với chư Phật Pacceka (Độc Giác, cá nhân, đơn độc) chỉ thấu triệt giáo lý mà không thể rọi sáng cho kẻ khác, tự giác nhưng không thể giác tha.

Trước khi đạt Quả Phật, Đức Thích Ca được gọi là Bồ Tát. Ngài cũng thường hay nhắc nhỡ hàng Đệ tử : Người muốn đắc Quả Phật phải trải qua thời kỳ Bồ tát, một thời kỳ tích cực trau giồi và phát triển những phẩm hạnh như sau :   bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

Trong Phật giáo đại Đại thừa Bồ Tát có nghĩa là một hành giả sau khi hành trì các Ba-la-mật-đa đã thành tựu Phật quả, nhưng nguyện không nhập Niết bàn khi chúng sinh chưa giác ngộ. Đặc tính cơ bản của Bồ Tát là lòng Từ Bi đi song song với Trí huệ. Chư Bồ Tát  thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ tát bắt đầu bằng, phát tâm Bồ-đề, giữ Bồ Tát giới, hành Bồ tát hạnh.

Chữ sattva là chữ ghép của chữ sat và tva

Phạn viết theo mẫu Devaganari  सत्त्व, Âm là Sattva, Hán Việt đọc là Tát đóa. Thuật ngữ này có rất nhiều nghĩa và được nhiều dịch giả khác nhau qua những định nghĩa như sau : Chúng sinh, sự hiện hữu, hữu tình, một người anh hùng, hay một chiến sĩ tâm linh, con người với bản chất là trí tuệ, con người với bản chất được định sẵn sự giác ngộ chúng sinh mưu cầu giác ngộ, một con người thông thái, một linh hồn thanh tịnh và uy dũng, linh hồn, tâm, tri giác, thức, ý niệm thực chất hay bản tính cố hữu Thai tạng (Trong con người mà sự hiểu biết còn tiềm ẩn và chưa phát triển), một nhân vật cách hóa sự hiểu biết tiềm tàng trong chúng sinh, người tận tụy với chính pháp, hay gắn chặt với giác ngộ, sức mạnh, năng lực, khí lực, quyền lực, can đảm.

Bảng biến hóa thân từ của Sattva ở dạng trung tính:

Trung tính

Số ít

Số hai

Số nhiều

Chủ cách

sattvam

sattve

sattvāni

Hô cách

sattva

sattve

sattvāni

Trực bổ cách

sattvam

sattve

sattvāni

Dụng cụ cách

sattvena

sattvābhyām

sattvaiḥ

Gián bổ cách

sattvāya

sattvābhyām

sattvebhyaḥ

Đoạt cách

sattvāt

sattvābhyām

sattvebhyaḥ

Sở hữu cách

sattvasya

sattvayoḥ

sattvānām

Vị trí cách

sattve

sattvayoḥ

sattveṣu

Bodhisattva, ý Việt là Người cầu giác ngộ, trên xin pháp giác ngộ, dưới là phát nguyện hóa độ chúng sinh, mà nổ lực tu hành làm mọi việc thiện. Một vị Bồ tát, không nhất định phải là người xuất gia, mà bao gồm đủ mọi hạng người. Bồ tát thật sự là người không còn chấp thủ, một điều gì và luôn có tâm buông xả tất cả, kể cả hạnh phúc của riêng mình, cho tất cả chúng sinh. Do đó lãnh vực hoạt động của Bồ tát trở nên rộng rãi và những ai muốn thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao cả trên, bằng cách xả thân làm việc thiện, đều có thể gọi là Bồ tát.

Từ Bát Nhã Tâm kinh, tiến tu trên tinh thần ấy, sẽ đạt được một phần nào hạnh nguyện giống Quan Âm Bồ Tát và cùng đồng hành với Ngài gieo trồng hạnh đức bi trí cho mọi sinh linh đang đau khổ bằng cách giúp chúng sinh tinh tiến trên con đường tâm linh, qua sự kiên nhẫn, nhất tâm và lòng tự tin cá nhân.

Trọng tâm của con đường này là việc thường suy nghiệm, thực hành theo tấm lòng Đại Bi vô biên của Ngài trong đời sống hàng ngày. Đoạn đường ngắn hay dài nào mà chúng ta muốn đi và muốn đến đều phải có bước chân đầu và bước chân cuối.

Chữ mahā, मह, có gốc từ chữ  महत्, mahat (mahat là quá khứ phân từ hiện tại của mah), thân từ thuộc tĩnh từ và có ba dạng : nam tính, trung tính, nữ tính, và có nghĩa : lớn, vĩ đại, bao la, cao, quan trọng, tinh chất, quyền năng, tinh tấn.

Động từ √ मह् mah [1] hiện tại. (mahati) quá khứ phân từ hiện tại. (mahat) quá khứ phân từ. (mahita) nhất định. (mahitvā) vui mừng, tôn cao, kích thích, tăng cường, phóng đại, vinh danh, hành lễ - hiện tại. phản thân. (mahate)  tự  vui mừng - Sự kiện. (mahayati) làm lớn ra, phóng đại.

Chữ kārunikāya có gốc từ chữ karuṇa, करुण, có nghĩa : từ bi, thương xót, thương người bằng cách biết chia sẽ.

Oṃ sarvarabhaya sudhanadasye namaskrtvā imam


ॐ   सर्वरभय    सुधनदस्ये   नमस्क्र्त्वा   इमम्

Âm Hán Phạn

Án (Oṃ).Tát bàn ra phạt duệ (sarvarabhaya). Số đát na đát tỏa (sudhanadasye). Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da (namaskrtvā imam )

Diễn nghĩa :

Chữ OM là một phiên âm tiết hay phiên âm vần của những âm thanh được kết lại từ những chữ : A. U. M, trong phạn ngữ, và cũng là một âm thanh có một không hai trên đời, bởi vì Âm Thanh Vần này bao gồm tất cả sự cấu tạo của Vũ Trụ và thường dùng trong các câu Thần chú của đạo Phật, đạo Hinđu, đạo Giai Na, đạo Sikh, đạo Bà La Môn.

Ý nghĩa chính xác của chữ Om, chưa có tài liệu nào khẳng định một cách xác thực về nguồn gốc của nó, nhưng người ta nghĩ rằng, đây là một chữ mà áo nghĩa của nó chắc chắn có liên quan đến việc tín ngưỡng thuộc về thần linh, thượng đế, đấng tạo hóa… trong tôn giáo Ấn Độ.

Theo những văn bản ghi chép đầu tiên của kinh Vệ Đà, thì nội dung và ý nghĩa của chữ Om hay Aum được xem như là biểu hiện đầu tiên của Brahman qua sự kết hợp của những hiện tượng hình thành trong vũ trụ. Bởi vì những cơ bản trong chiêm tinh học của Hindu có khái niệm rằng : Tất cả những hiện tượng hình thành trong vũ trụ đều bắt nguồn từ những rung động của ' Om hay Aum '.

Có lẽ cũng vì lý đó, cho nên tiếng linh thiêng này đồng nhất với vũ trụ, được dùng làm tiền tố và hậu tố trong tất cả các câu thần chú và những thánh ca của Hindu và nó trở thành biểu tượng đại diện tiêu biểu nhất của họ.

Chữ Om hay AUM viết theo mẫu Devanagari là ओम्, Trung Quốc viết là 唵, và Tây Tạng ༀ. OM phát âm theo tiếng Việt là "ôm" kéo dài âm Ô.

Các biểu tượng của Chữ Om, ओम, được gọi là Omkar (ओम् - कार; Omkaar), Onkar (ओंकार; ONkaar), và ओंकार có thể viết một cách khác : ओँकार (ONnkaar).

Chữ Om cũng có những tên khác như là Udgitha, Oṃkāra, Praṇava, Akṣara, Ekākṣara hay Pranava.

Sau thời kỳ Vệ Đà, sự phổ biến về thần chú có vẻ tương đối yếu đi, trong Bà La Môn giáo và các tôn giáo khác của Ấn Độ, nhất là vào thời điểm khởi đầu của kỷ nguyên Kitô giáo. Tuy nhiên, trong Brahmanas và Upanisads xưa, giá trị biểu tượng của một số âm tiết vẫn được xem như là chức năng vũ trụ của họ và được mô tả như là những phần hiện hữu trong cơ thể con người.

Theo họ Om là bản chất của tất cả các kinh Veda hay là một ngôn từ mà sự ra đời của thế giới được diễn đạt trong nó : " Âm thanh Om này là tất cả vũ trụ này," âm tiết này là thực tại tối cao. Khi chúng ta đã hiểu tất cả mọi thứ chúng tôi muốn, chúng tôi đều có nó "( Áo Nghĩa Thư Ấn).

Theo những chuyện cổ tích huyền thoại và mật tông của Ấn giáo, vào khoản thế kỷ thứ tư, các thần chú được bắt đầu, phổ biến một cách thịnh hành qua các hình thức nghi lễ khác nhau. Từ đó, hầu như, tất cả các nghi lễ trong các tôn giáo Ấn Độ, đều dùng các câu thần chú  kèm theo trong các nghi thức tụng niệm, thờ phượng, các vị thần linh, Thượng đế, Đấng toàn năng, Bậc giác ngộ của họ trong đời sống hàng ngày.

OM là ý nghĩa căn đề của chữ Brahman, là âm thanh rung động sâu sắc có sức thâm nhập đồng nhất, mà vũ trụ lực của chính nó là tâm thức nằm trong bản thể của tất cả vạn vật.

Chữ OM đã trở thành một trong các biểu tượng quan trọng của phái Du già : khi nó thoát ly thuật thần bí và ma lực của các thực hành hiến tế, hay thoát khỏi các lối suy luận triết lý của tư tưởng trước đây, thì nó biến thành một phương tiện thiết yếu trong sự thực hành thiền định. Một phương thức tâm lý để cứu trợ.

Trong Maitrâyana Upanisad, OM được so sánh như một mũi tên mà đầu nhọn là tư tưởng và nó xuất phát từ cái cung là thân thể con người, nó xuyên qua bóng đêm vô minh để đạt đến ánh sáng của trạng thái cùng cực.

Trong Mândukya-Upanisad, chữ OM được phân tích theo những yếu tố phát thanh, thì chữ O được xem như là một âm thanh kết hợp của hai  nguyên âm liên tiếp của chữ A và U. Âm A + Âm U trở thành một nhị trùng âm là O và M là một phụ âm để kết thúc và nó sẽ trở thành Om. 

OM là tâm thức thanh tịnh (turìya), bởi vì nó bao gồm tất cả và vượt qua mọi biểu thức qua sự phân tách của : A. U . M  trong 3 trạng thái như sau :

A được hiểu như là trạng thái thức tỉnh (jàgrat).

U được hiểu như là trạng thái mơ màng (svapna).

M được hiểu như là trạng thái ngủ say (susupti) .

Thức, ngủ và mơ là ba trạng thái hoạt động bình thường của bộ não.

Thức tỉnh là sự chỉ về tâm thức chủ quan đối với thế giới bên ngoài. Trong khi thức, các giác quan bên trong và ngoài cùng hoạt động với sự tác ý của thức.

Mơ màng là sự chỉ về tâm thức của thế giới nội tại, tức là tư tưởng, tình cảm, các điều ước nguyện, ưa thích, gọi chung là ý thức tri giác.

Trong giấc ngủ, chỉ có các giác quan bên trong hoạt động một cách tự do, bằng tâm thức và chính nó đã tạo ra một thế giới mới, qua những cái ta đã từng trải, đã cảm xúc, được ghi vào trong bộ não trong lúc thức. Do trong lúc ngủ, vỏ não không đủ tỉnh táo để đoán định, cho nên những sự thật trong giấc chiêm bao thường chắp vá lộn xộn, đôi khi còn vô nghĩa.

Bởi vì vậy, không nên bận tâm nhiều trong việc cho rằng giấc mộng báo trước một điềm dữ hay một việc lành. Sự việc xảy ra và giấc mơ, nếu có giống nhau thì cũng chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi. Nếu mình nằm mơ thấy thi đậu, nhưng không học bài nghiêm túc hay không đến trường thì làm sao mà thi đậu.

Mộng cũng là cách giúp giải tỏa căng thẳng của những ước muốn bị dồn nén tích tụ trong cuộc sống, cho nên giấc mộng vẫn là người bạn đồng hành đi chung với chúng ta suốt cuộc đời, và không nên quên rằng chính cuộc đời là cái nơi để sinh ra mộng.

Trong cuộc sống, ít có ai nằm thấy ác mộng, là mình đang đứng trước phiên tòa, để chuẩn bị nhận án chung thân, nếu mình không làm điều gì có liên quan dẫn đến nỗi sợ hãi này khi mình đang thức.

Nằm mơ thấy ác mộng là một biểu hiện của sự rối loạn giấc ngủ, do tâm lý gây ra. Bởi vì, ban ngày làm cái chuyện gì đó bị ám ảnh, hay lo lắng quá mức về điều gì mà được chưa giải quyết xong, thì ban đêm, thường hay gặp ác mộng.

Trong một vài trường hợp khác dẫn đến ác mộng như : Nếu phòng ngủ quá, thiếu không khí,  hay khi ngủ nằm gối đầu quá cao, hoặc có thói quen đặt tay lên cổ, ngực...

Đức Phật có nói rõ vai trò quan trọng của lý trí trong việc xác định niềm tin và kiểm chứng giá trị của thực tế, dựa trên nền tảng của lý Duyên Khởi. Qua đó, tất cả các hiện tượng sinh hoạt trong cuộc sống của con người từ nhân cách, tâm hồn, tri thức, ngôn ngữ, sự tỉnh thức, cho đến giấc mộng hay giấc ngủ bình yên, cũng đều là những hoạt động hiện thực của những cơ chế tâm sinh lý, luôn vận hành liên tục và luôn thay đổi trong con người.

Om  hay AUM trong Ấn giáo :

A là sự khởi đầu, sinh, và người tạo ra thần Brahma.

U đại diện cho sự tiếp tục của cuộc sống, và thần Vishnu.

M là kết thúc, cái chết, và các tàu khu trục thần Shiva.

Những ý nghĩa khác của chữ AUM trong Phật học :   OM có nghĩa là Quy mệnh | OM tượng trưng cho thân các vị Phật trong các câu thần chú |   OM đóng cánh cửa luân hồi | OM thanh tịnh hóa bản thân | OM là lời cầu nguyện hướng về thân thể của các vị Phật | OM là Trí tuệ thanh thản, an bình. | Om cũng là thân , khẩu , ý.

AUM : Bắt đầu phát âm chữ A từ cuống cổ, tiếp đó uốn lưỡi đọc chữ U và chấm dứt âm chữ M bằng cách khép môi lại.

Chữ AUM có 100 ý nghĩa khác nhau và là một từ tối cao và từ tạo được mọi điều. Nếu bạn đang hành thiền trong im lặng sâu sắc, bạn có thể nghe những âm thanh trong AUM. Đó là những âm thanh nguyên thủy của vũ trụ.

Om có phải là một biểu tượng tôn giáo không?. Vâng, nó là một biểu tượng chính của tôn giáo chính ở Ấn độ.

Om có phải là một biểu tượng mạnh mẽ nhất không? Không có nghiên cứu khoa học nào để chứng minh đó là tốt hơn hoặc mạnh hơn so với bất kỳ biểu tượng khác … và từ xưa cho tới nay, chưa có biểu tượng nào thực sự có thể mang lại vận may, sự giàu có hay quyền lực.

Đôi khi người ta lợi dụng biểu tượng này để làm những chuyện bất chính trong việc truyền giáo theo tư tưởng cá nhân của họ.

A. U. M, theo ngữ pháp tiếng Phạn và Tiếng Hindi ('vyaakaraNN'; व्याकरण)  thì nguyên âm 'O' (ओ), đôi khi được thay thế bằng hai nguyên âm liên tiếp : 'A' (अ) và 'U' (उ), do đó, có một số người đánh vần là AUM ( 'Aum') thay vì là 'Om'.

 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

0 nhận xét:

Đăng nhận xét