CHƯƠNG 1. Ý THỨC “TA HIỆN HỮU”
Hỏi: Theo kinh nghiệm thường ngày, thế giới đột nhiên xuất hiện ngay khi người ta thức dậy. Vậy nó từ đâu đến?
Maharaj: Trước khi bất cứ gì có thể xuất hiện thì phải có người để nó xuất hiện đối với người đó. Tất cả mọi xuất hiện và biến mất bao hàm một sự thay đổi đối với một hậu cảnh bất biến.
Hỏi: Trước khi thức dậy tôi không có ý thức.
Maharaj: Theo nghĩa nào? Đã quên đi, hay chưa từng kinh nghiệm? Thế không phải ông vẫn kinh nghiệm ngay cả khi không có ý thức? Liệu ông có thể tồn tại mà không biết? Có phải một sự ngắt quãng trong ký ức là bằng chứng của sự không tồn tại? Liệu có hợp lý khi ông nói về sự không tồn tại của ông như là một kinh nghiệm thực tế? Thậm chí ông cũng không thể nói rằng tâm ông đã không tồn tại trong khi ngủ. Thế không phải ông tỉnh dậy khi được gọi hay sao? Và ngay khi thức dậy, không phải ý thức “Ta hiện hữu” xuất hiện trước tiên? Một mầm mống nào đó của ý thức chắc chắn phải tồn tại ngay cả trong khi ông ngủ hay bất tỉnh. Khi thức dậy, kinh nghiệm diễn ra: “Ta hiện hữu - thân xác - trong thế gian.” Kinh nghiệm này có vẻ như xuất hiện theo trình tự trong một chuỗi diễn tiến, nhưng thật ra nó hình thành cùng một lúc - một ý tưởng duy nhất về sự có một thân xác trong thế giới. Liệu có thể có ý thức “Ta hiện hữu” mà không là một người nào đó hay một cái gì đó?
H: Tôi luôn luôn là một người với những ký ức và thói quen riêng. Tôi không biết cái “Ta hiện hữu” nào khác.
M: Có thể một cái gì đó ngăn che không cho ông biết. Khi người khác biết một cái gì đó mà ông không biết thì ông làm gì?
H: Tôi sẽ nhờ họ chỉ dẫn để tìm ra nguồn gốc sự hiểu biết của họ.
M: Theo ông - tìm hiểu có phải ông chỉ là thân xác hay ông là một cái gì khác - có quan trọng không? Hoặc, có thể ông không là gì cả? Ông không thấy rằng tất cả mọi vấn đề của ông đều là vấn đề của thân xác hay sao - thực phẩm, quần áo, chỗ ở, gia đình, bằng hữu, tên tuổi, danh vọng, sự an toàn, sự sống còn - tất cả những thứ này sẽ mất đi ý nghĩa ngay khi ông nhận ra rằng ông không phải chỉ là một thân xác.
H: Biết được tôi không phải thân xác thì có lợi lạc gì?
M: Thậm chí nói rằng ông không phải là thân xác thì cũng không đúng hẳn. Về một phương diện nào đó, ông là tất cả các thân xác, tất cả những trái tim, tất cả tâm và nhiều cái khác nữa. Đi sâu vào ý thức “Ta hiện hữu” ông sẽ tìm ra. Ông phải làm gì để tìm ra một cái gì đó mà ông đã để sai chỗ hay quên đi? Ông để nó trong tâm cho đến khi nào nhớ ra nó. Ý thức hiện hữu, ý thức “Ta hiện hữu” xuất hiện trước tiên. Hãy tự hỏi nó từ đâu đến, hoặc im lặng quan sát nó. Khi tâm an trú trong cái “Ta hiện hữu” bất động, ông nhập vào một trạng thái không thể diễn tả bằng ngôn từ, nhưng có thể chứng nghiệm được. Tất cả những gì ông cần làm là thường xuyên tinh tấn. Xét cho cùng, ý thức “Ta hiện hữu” lúc nào cũng ở với ông, chỉ có điều ông ràng buộc đủ mọi thứ vào nó - thân xác, cảm thọ, ý nghĩ, ý tưởng, sự sở hữu, vân vân. Tất cả những nhận dạng về chính mình như thế đều sai lạc. Chính vì chúng mà ông cho ông là những gì không phải là ông.
H: Vậy tôi là cái gì?
M: Chỉ cần biết cái mà ông không phải, là đủ. Ông chẳng cần biết ông là cái gì. Vì chừng nào biết có nghĩa là sự mô tả theo những gì đã biết, qua nhận thức hay khái niệm, thì không thể nào có cái gọi là biết chính mình, vì cái mà ông là không thể mô tả được, ngoại trừ sự phủ định hoàn toàn. Ông chỉ có thể nói: “Ta không là cái này, Ta không là cái kia”. Ông không thể nói: “Ta là cái này.” Điều này hoàn toàn vô nghĩa. Những gì ông có thể chỉ ra như “này”, “kia” thì không thể nào là chính ông. Chắc chắn, ông không thể là “một cái gì” khác. Ông là cái không thể nhận thức được, hay tưởng tượng ra được. Nhưng, nếu không có ông thì không thể có nhận thức hay tưởng tượng. Ông quan sát trái tim rung động, tâm trí tư duy, thân xác hành hoạt; ngay chính hành vi nhận thức chứng tỏ rằng ông không phải là những gì được ông nhận thức. Liệu có thể có nhận thức, kinh nghiệm mà không có ông? Một kinh nghiệm thì phải “thuộc về”. Phải có một người nào đó xuất hiện và tuyên bố kinh nghiệm đó là của mình. Nếu không có người kinh nghiệm thì kinh nghiệm không thật. Chính người kinh nghiệm đem lại hiện thực cho kinh nghiệm. Một kinh nghiệm mà ông không thể có được thì có giá trị gì đối với ông?
H: Thế không phải ý thức “Ta hiện hữu”, ý thức chính mình là người kinh nghiệm cũng là một kinh nghiệm?
M: Hiển nhiên, bất cứ gì được kinh nghiệm đều là một kinh nghiệm, và trong mỗi kinh nghiệm đều có người kinh nghiệm nó xuất hiện. Ký ức tạo ra ảo tưởng về sự liên tục, nhưng trong thực tế mỗi một kinh nghiệm có riêng người kinh nghiệm của nó, và cảm tưởng về sự giống nhau là do yếu tố chung ở tại gốc rễ của tất cả những tương quan giữa người kinh nghiệm và kinh nghiệm. Sự giống nhau và sự liên tục không phải là một. Mỗi bông hoa có mầu sắc riêng của nó, nhưng tất cả mầu sắc đều được tạo ra bởi cùng một ánh sáng; tương tự như thế có vô số người kinh nghiệm xuất hiện trong tánh biết nguyên vẹn và bất khả phân chia; mỗi người kinh nghiệm thì riêng biệt trong ký ức, nhưng lại giống nhau trong tánh thể. Tánh thể này là gốc rễ, là nền tảng, là khả năng phi thời và phi xứ của tất cả kinh nghiệm.
H: Làm sao tôi tìm ra tánh thể đó?
M: Ông chẳng cần tìm ra nó, vì ông là nó. Nó sẽ tìm ông nếu ông cho nó cơ hội. Hãy quẳng bỏ mọi ràng buộc của ông với những cái hư giả thì cái chơn thật sẽ nhanh chóng và dễ dàng đi vào vị trí của nó. Hãy chấm dứt tưởng tượng chính ông là cái này hay cái kia, hoặc làm cái này hay cái kia, thì sự giác ngộ ra rằng ông là nguồn gốc và là trái tim của tất cả sẽ bừng nở trong ông. Cùng đến với sự giác ngộ là tình yêu vĩ đại, không lựa chọn, không thiên vị, không trói buộc, mà là một sức mạnh biến tất cả mọi thứ thành đáng yêu và dễ yêu.
CHƯƠNG 2. NỖI ÁM ẢNH VỀ THÂN XÁC
Hỏi: Maharaj, ông đang ngồi trước mặt tôi, và tôi ngồi đây dưới chân ông. Sự khác biệt căn bản giữa ông và tôi là gì?
Maharaj: Chẳng có sự khác biệt căn bản nào cả.
H: Nhất định phải có một sự khác biệt thực tế nào đó. Tôi đến với ông, nhưng ông không đến với tôi.
M: Vì tưởng tượng ra những khác biệt nên ông bôn ba đây đó tìm người “siêu việt” hơn ông.
H: Ông cũng là một người siêu việt. Ông nhận mình là người biết cái chơn thật, còn tôi thì không.
M: Có bao giờ Ta nói ông là người hèn kém vì ông không biết? Hãy để những ai nghĩ ra những khác biệt như thế chứng minh sự khác biệt. Ta không tự nhận mình biết cái mà ông không biết. Thật ra, ta biết còn ít hơn ông.
H: Lời lẽ của ông thông thái, cung cách của ông cao cả, lòng từ ái của ông đầy uy lực.
M: Ta không hề biết đến những thứ đó, và cũng chẳng thấy sự khác biệt nào giữa Ta và ông. Cũng như cuộc đời ông, cuộc đời Ta chỉ là một chuỗi các diễn tiến. Chỉ có điều là Ta không bị ràng buộc, Ta thấy vở tuồng trôi qua là vở tuồng trôi qua, còn ông thì vướng mắc đủ mọi thứ và lăn trôi cùng với chúng.
H: Điều gì đã làm cho ông thản nhiên như thế?
M: Chẳng có gì đặc biệt cả. Có được sự thản nhiên ấy là do tín tâm của Ta đối với Tôn sư. Ngài bảo Ta không là gì khác ngoài cái Ta của Ta, và Ta đã tin lời. Tin tưởng Tôn sư, Ta đã hành xử theo lời Ngài chỉ dạy và không còn bận tâm đến những gì không phải là Ta, hoặc của Ta.
H: Vì sao ông có cơ may đặt tất cả tín tâm vào Tôn sư, trong khi sự tin tưởng của chúng tôi chỉ là hình thức và ngôn từ?
M: Ai biết được? Chuyện chỉ xảy ra như thế. Mọi chuyện xảy ra không hề có nguyên nhân hay lý do, mà xét cho cùng, ai là ai thì có gì quan trọng? Những cao kiến của ông về Ta chỉ là ý kiến của ông. Ông có thể thay đổi ý kiến bất cứ lúc nào. Tại sao lại ràng buộc sự quan trọng vào ý kiến, ngay cả ý kiến của ông?
H: Nhưng ông vẫn khác biệt. Tâm ông hình như lúc nào cũng tĩnh lặng và an lạc. Phép lạ xảy ra quanh ông.
M: Ta chẳng hề biết đến phép lạ, Ta tự hỏi liệu thiên nhiên có thừa nhận ngoại lệ đối với những quy luật của nó hay không, trừ khi chúng ta đồng ý rằng cái gì cũng là phép lạ. Theo Ta thì không có chuyện như thế. Chỉ có ý thức mà trong đó mọi chuyện xảy ra. Điều này quá hiển nhiên và trong phạm vi kinh nghiệm của mỗi người. Ông quan sát chưa kỹ đó thôi. Hãy quan sát kỹ, và sẽ thấy cái Ta thấy.
H: Ông thấy cái gì?
M: Ta thấy cái mà ông cũng có thể thấy - ở đây và bây giờ - nếu tiêu điểm chú ý của ông không sai lệch. Ông chẳng hề chú ý đến cái Ta của chính ông. Tâm ông luôn luôn bận bịu với sự kiện, con người và ý tưởng, nhưng chẳng bao giờ với cái Ta của ông. Hãy đặt cái Ta của ông vào tiêu điểm của sự chú ý, và biết rõ sự tồn tại của chính ông. Hãy thấy chính ông hành xử như thế nào, quan sát những nguyên do và hậu quả các hành động của ông. Bằng sự chú ý, hãy tìm hiểu cái nhà tù ông đã dựng lên quanh ông. Bằng cách biết cái không phải là ông, ông sẽ biết được cái Ta của chính ông. Con đường trở lại với cái Ta của ông là con đường thông qua sự phủ nhận và khước từ. Có một điều chắc chắn: cái thật không phải là tưởng tượng, nó không phải là sản phẩm của tâm. Ngay cả ý thức “Ta hiện hữu” cũng không liên tục, mặc dù nó là một chỉ điểm hữu ích; nó chỉ chỗ tìm kiếm ở đâu, nhưng không chỉ cái gì phải tìm. Hãy quan sát nó thật kỹ. Một khi ông tin rằng ông không thể nói bất cứ điều gì đúng thật về cái Ta của ông, ngoại trừ cái “Ta hiện hữu”, và những gì có thể chỉ điểm được thì không thể là ông, lúc đó ý thức “Ta hiện hữu” sẽ không còn cần thiết nữa - vì ông không còn có ý định ngôn từ hóa cái mà ông là. Tất cả những gì ông cần là từ bỏ cái khuynh hướng định nghĩa cái Ta của ông. Tất cả mọi định nghĩa chỉ áp dụng cho thân xác của ông và những thể hiện của nó. Một khi nỗi ám ảnh thân xác không còn nữa, ông sẽ trở lại trạng thái tự nhiên một cách tùy nghi và chẳng cần cố gắng. Sự khác biệt duy nhất giữa ông và Ta là: Ta biết rõ trạng thái tự nhiên của Ta, còn ông thì bối rối. Cũng giống như vàng khi được làm thành đồ trang sức chẳng hề có ưu thế hơn vàng cám - trừ khi cái tâm bày vẽ ra như thế - vì vậy chúng ta là một trong hiện hữu, và chỉ khác hình tướng bề ngoài. Chúng ta phát hiện ra điều này bằng sự thành khẩn, bằng tìm hiểu, bằng thắc mắc, bằng tra vấn hằng ngày và hằng giờ, bằng sự dâng hiến cuộc đời cho sự khám phá này.
CHƯƠNG 3. HIỆN TẠI SINH ĐỘNG
Hỏi: Như chỗ tôi thấy, không có gì bất ổn với thân xác của tôi, cũng như với sự hiện hữu chơn thật của tôi. Cả hai đều không phải do tôi tạo ra, và cũng chẳng cần phải làm cho tốt đẹp hơn. Cái bất ổn là cái “nội thân”, gọi là tâm, ý thức, Antahkarana, hay bất cứ danh xưng nào khác.
Maharaj: Điều gì làm ông cho rằng tâm ông bất ổn?
H: Nó không an nghỉ, nó ham muốn lạc thú và sợ hãi phiền trược.
M: Có gì là không đúng khi tâm ông tìm kiếm lạc thú và trốn tránh phiền trược? Giữa hai bờ đau khổ và lạc thú là dòng đời trôi chảy. Chỉ khi nào tâm không chịu trôi theo dòng đời, mà vướng mắc hai bên bờ thì lúc đó vấn đề mới khởi sinh. Trôi theo dòng đời, Ta muốn nói là chấp nhận - cái gì đến thì cứ để nó đến, cái gì đi thì cứ để nó đi. Chẳng ham muốn, và cũng chẳng lo sợ; quan sát cái đang xảy ra như nó đang xảy ra và khi nó xảy ra, vì ông không phải những gì xảy ra - những gì xảy ra là xảy ra đối với ông. Cuối cùng, ngay cả ông cũng không phải là người quan sát. Ông là tiềm năng tối hậu mà sự biểu thị và thể hiện của nó là ý thức bao trùm tất cả
H: Nhưng giữa thân và cái Ta là một đám mây ý nghĩ và cảm thọ, chẳng phục vụ gì cho thân hoặc cái Ta. Những ý nghĩ và cảm thọ này rất mong manh, vô thường và vô nghĩa; chúng là lớp bụi tâm lý tạo ra ngăn che và bế tắc, nhưng chúng có đó, gây chướng ngại và phá hoại.
M: Chắc chắn là vậy, ký ức về một sự kiện hay dự tính về một sự kiện thì không thể được cho là chính sự kiện. Nhưng sự kiện hiện tại là ngoại lệ duy nhất, khác với cái trước đó hay cái sắp đến. Nó có một sự sinh động, một hiện thực; nó nổi bật như thể được chiếu sáng. Chỉ cái hiện thực mới mang “dấu ấn của thực tại” còn quá khứ và tương lai thì không.
H: Cái gì ban cho hiện tại “dấu ấn của thực tại”?
M: Chẳng có gì đặc thù trong sự kiện hiện tại khiến cho nó khác với quá khứ và tương lai. Quá khứ đã từng là hiện thực trong một khoảnh khắc, và tương lai cũng sẽ trở thành như thế. Vậy cái gì làm cho hiện tại khác biệt? Rõ ràng là sự có mặt của Ta. Ta là thật vì Ta luôn luôn là bây giờ, trong hiện tại, và những gì hiện hữu với Ta bây giờ đều dự phần trong thực tại của Ta. Quá khứ ở trong ký ức, còn tương lai trong tưởng tượng. Tự thân sự kiện hiện tại thì chẳng có gì làm chính nó nổi bật như cái thật. Nó có thể là một sự xảy ra đơn điệu và định kỳ, giống như tiếng gõ của đồng hồ. Chúng ta biết rằng những tiếng đồng hồ gõ liên tiếp đều giống nhau, nhưng tiếng gõ hiện tại rất khác với tiếng trước và tiếng sau - vì tiếng trước được ghi nhớ, và tiếng sau được mong đợi. Một vật được đưa vào tiêu điểm của hiện tại thì hiện hữu cùng Ta vì Ta luôn luôn hiện tại. Ta truyền đạt thực tại của chính Ta cho sự kiện hiện tại.
H: Nhưng chúng ta hành xử với những gì được ghi nhớ như thể chúng là thật.
M: Chỉ khi nào ký ức xuất hiện trong hiện tại thì chúng ta mới nghĩ đến nó. Cái đã bị quên đi thì không được biết tới cho đến khi người ta được gợi nhớ - điều này hàm ý đưa nó vào bây giờ.
H: Đúng, tôi có thể thấy trong hiện tại có một số yếu tố không biết được, và chính yếu tố này làm cho cái hiện thực ngắn ngủi trở thành thực tại nhất thời.
M: Ông không thể nói nó là cái không biết được, vì ông thấy nó hoạt động không ngừng. Từ khi ông được sinh ra đến nay, nó có bao giờ thay đổi? Sự việc và ý nghĩ luôn luôn thay đổi. Nhưng cảm giác cái gì bây giờ là có thật thì chẳng bao giờ thay đổi, ngay cả trong chiêm bao.
H: Trong giấc ngủ sâu không hề có kinh nghiệm về thực tại hiện tiền.
M: Tình trạng vô ký của giấc ngủ sâu hoàn toàn là do sự trống vắng những ký ức riêng biệt nào đó. Nhưng ký ức tổng quát về một trạng thái an lành vẫn còn đó. Có một sự khác biệt trong cảm thọ khi chúng ta nói “Tôi đã ngủ sâu,” và “Tôi đã vắng mặt.”
H: Trở lại câu hỏi mà chúng tôi đã bắt đầu lúc nãy: ở giữa nguồn sống và thể hiện của sự sống (có nghĩa là thân xác) là: tâm và những trạng thái thường xuyên biến dịch của nó. Giòng chảy của những trạng thái tâm thì bất tận, vô nghĩa và đầy đau khổ. Đau khổ là yếu tố bất biến. Cái mà chúng ta gọi là lạc thú chỉ là một khoảng trống, một sự xen vào giữa hai trạng thái đau khổ. Tham ái và lo sợ là những đường chỉ dọc, ngang của đời sống, và cả hai đều được tạo ra từ đau khổ. Câu hỏi của chúng tôi là: Liệu có thể có một cái tâm an lạc?
M: Tham ái là ký ức của khoái lạc, và lo sợ là ký ức của đau khổ. Cả hai làm cho tâm bất an. Những khoảnh khắc của khoái lạc đơn thuần chỉ là những khoảng trống trên giòng đau khổ. Làm sao tâm có thể an lạc?
H: Điều đó đúng khi chúng ta ham muốn khoái lạc hay chờ mong đau khổ. Nhưng cũng có những lúc vui sướng bất ngờ, không dự tính trước. Vui sướng thuần túy, không bị nhiễm ô bởi tham ái - không tìm kiếm, không biện bạch được, và Trời cho.
M: Nhưng, vui sướng là vui sướng trước một hậu cảnh khổ đau.
H: Đau khổ là một sự kiện vũ trụ, hay thuần túy tâm lý?
M: Vũ trụ thì viên mãn, và ở nơi viên mãn, nơi không có gì thiếu vắng, thì cái gì có thể gây đau khổ?
H: Vũ trụ có thể viên mãn khi là một tổng thể, nhưng khi đi vào chi tiết thì không trọn vẹn.
M: Một phần của tổng thể được thấy trong tương quan với cái tổng thể thì cũng viên mãn. Chỉ khi nào được thấy trong cô lập thì mới trở nên khiếm khuyết và do đó gây đau khổ. Cái gì tạo ra sự cô lập?
H: Dĩ nhiên là những hạn chế của tâm. Tâm không thể thấy một phần như tổng thể.
M: Tốt, Tâm, do bản chất của nó, phân chia và gây đối nghịch. Liệu có thể có một cái tâm nào khác, hợp nhất và hòa hợp tất cả, thấy cái toàn thể trong một phần và một phần hoàn toàn liên quan với cái toàn thể?
H: Cái tâm khác - tìm nó ở đâu?
M: Bằng cách vượt ra ngoài cái tâm hữu hạn, phân chia và gây đối nghịch. Bằng sự chấm dứt tiến trình tâm lý như chúng ta biết nó. Khi tiến trình này chấm dứt, cái tâm đó khởi sinh.
H: Trong cái tâm đó, vấn đề vui sướng và đau khổ không còn?
M: Không như chúng ta biết chúng qua ưa thích hay chán ghét. Đúng ra, nó trở thành vấn đề của sự thể hiện tìm kiếm tình yêu và đối diện với trở ngại. Một cái tâm dung nhiếp là tình yêu trong hành động, đương đầu với mọi hoàn cảnh; khởi đầu trở ngại, nhưng tối hậu thành công.
H: Có phải tình yêu tạo dựng cây cầu giữa tâm linh và thân xác?
M: Còn gì khác hơn? Tâm tạo ra hố thẳm, trái tim vượt qua hố thẳm đó.
CHƯƠNG 4. THẾ GIỚI THẬT Ở NGOÀI TÂM
Hỏi: Trong nhiều dịp, câu hỏi được nêu lên là vũ trụ có tuân theo luật nhân quả không, hay nó hiện hữu và hoạt động ngoài mọi luật lệ. Hình như ông cho rằng vũ trụ không do nhân duyên nào tạo ra, và mọi vật, dù nhỏ đến đâu đều không do nhân duyên mà có, chúng xuất hiện và biến mất không vì bất cứ lý do gì có thể biết được.
Maharaj: Tương quan nhân quả có nghĩa là sự nối tiếp trong thời gian của các sự kiện xảy ra trong không gian - không gian là không gian vật lý hoặc không gian tâm lý. Thời gian, không gian, tương quan nhân quả là những dạng tâm thức, nổi lên và chìm xuống cùng với tâm.
H: Chừng nào tâm còn hoạt động thì luật nhân quả vẫn có hiệu lực.
M: Cũng như những gì thuộc về tâm, cái gọi là luật nhân quả mẫu thuẫn với chính nó. Không cái gì tồn tại lại có một nguyên nhân riêng biệt nào đó; toàn thể vũ trụ góp phần cho sự tồn tại của ngay cả những cái nhỏ nhất; không gì có thể như chính nó là nếu vũ trụ không là chính vũ trụ. Khi nguồn gốc và nền tảng của tất cả mọi vật là nguyên nhân duy nhất của tất cả mọi vật, thì nói về tương quan nhân quả như một quy luật vũ trụ là sai. Vũ trụ không hề bị ràng buộc bởi nội dung của chính nó, vì tiềm năng của vũ trụ thì vô biên; ngoài ra, vũ trụ là một sự biểu thị, hoặc sự thể hiện của một nguyên lý căn bản và hoàn toàn tự do.
H: Vâng, xét cho cùng một người có thể thấy rằng khi nói một cái là nguyên nhân duy nhất của một cái khác là hoàn toàn sai. Nhưng trong thực tế cuộc sống, chúng ta bao giờ cũng khởi sinh một hành động với ý định mong chờ một kết quả.
M: Đúng, có rất nhiều hành động như thế đang xảy ra vì vô minh. Nếu người ta biết được rằng không gì có thể xảy ra trừ khi toàn thể vũ trụ làm cho nó xảy ra, thì có lẽ họ đã đạt được nhiều hơn mà lại ít tiêu hao năng lực hơn.
H: Nếu mọi cái đều là sự thể hiện của một tổng thể các nguyên nhân, thì làm sao chúng ta có thể nói về một hành động có chủ đích hướng về một sự thành tựu?
M: Ngay chính sự thôi thúc để đạt thành cũng là một sự thể hiện của toàn thể vũ trụ. Nó đơn thuần cho thấy rằng nguồn năng lượng tiềm tàng đã dâng đến một điểm nhất định nào đó. Chính ảo tưởng về thời gian làm cho ông nói đến tương quan nhân quả. Khi quá khứ và tương lai được thấy trong cái bây giờ vô thời, như những thành phần của một mô hình chung, thì cái ý tưởng nhân quả mất đi giá trị, và sự tự do sáng tạo sẽ thay chỗ của nó.
H: Nhưng tôi vẫn không thể hiểu được vì sao mọi vật xuất hiện mà không có một nguyên nhân.
M: Khi nói một vật hiện hữu mà không có nguyên nhân, Ta muốn nói rằng nó có thể hiện hữu mà không có một nguyên nhân riêng biệt nào đó. Ông không cần mẹ ruột của ông sinh ông ra, bất cứ người đàn bà nào khác đều có thể sinh ra ông. Nhưng ông không thể được sinh ra mà không có mặt trời và trái đất. Ngay cả mặt trời và trái đất cũng không thể làm ông sinh ra nếu không có yếu tố quan trọng nhất: lòng ham muốn được sinh ra của chính ông. Chính lòng ham muốn đó tạo ra sự sinh, tạo ra danh xưng và hình tướng. Dục vọng được tưởng ra và cần đến, nên thị hiện tự thân thành một cái gì đó hữu hình hay có thể nhận thức được. Thế giới mà trong đó chúng ta sống, thế giới cá nhân của chúng ta, được tạo ra như thế. Thế giới thật thì ở ngoài sự hiểu biết của tâm; chúng ta nhìn thế giới ấy qua tấm lưới của lòng tham ái, nên nó bị chia cắt thành lạc thú và đau khổ, đúng và sai, bên trong và bên ngoài. Muốn thấy vũ trụ này như nó là, ông phải bước ra khỏi tấm lưới. Điều này chẳng mấy khó khăn, vì tấm lưới đầy những lỗ hổng.
H: Ông nói những lỗ hổng là thế nào? Và làm sao tìm ra chúng?
M: Hãy nhìn tấm lưới và vô số mâu thuẫn của nó. Cứ mỗi bước ông tạo ra rồi lại hủy đi. Ông muốn hòa bình, yêu thương, hạnh phúc nhưng làm hết sức để gây đau khổ, hận thù và chiến tranh. Ông muốn trường thọ nhưng ăn uống quá độ, ông muốn tình hữu nghị nhưng bóc lột thẳng tay. Thấy tấm lưới của ông được đan kết bởi những mâu thuẫn như thế, và loại bỏ chúng - chính sự thấy biết của ông làm cho chúng cuốn gói ra đi.
H: Sự thấy biết các mâu thuẫn của tôi làm cho mâu thuẫn ra đi, vậy không có liên quan nhân quả nào giữa cái thấy của tôi và sự ra đi của các mâu thuẫn hay sao?
M: Tương quan nhân quả, cho dù chỉ là một quan điểm, không áp dụng cho sự hỗn loạn.
H: Ở chừng mực nào thì lòng tham ái là một yếu tố nhân quả?
M: Một trong vô số. Có vô số yếu tố tương quan nhân quả đối với mọi vật. Nhưng nguồn gốc của tất cả những gì hiện hữu là Khả Năng Vô Biên, là Thực Tại Tối Thượng - nó ở ngay trong chính ông, nó tỏa năng lượng, ánh sáng và tình yêu cho từng kinh nghiệm. Nhưng nguồn gốc này không phải là một nguyên nhân và không nguyên nhân nào lại là một nguồn gốc. Chính vì thế mà Ta nói mọi vật hiện hữu không có nguyên nhân. Ông có thể truy tìm một cái gì đó xảy ra như thế nào, nhưng không thể nào ông biết được tại sao một vật hiện hữu như chính nó là. Một vật hiện hữu như chính nó là, bởi vì vũ trụ hiện hữu như chính vũ trụ là.
CHƯƠNG 5. CÁI GÌ ĐƯỢC SINH RA PHẢI CHẾT ĐI
Hỏi: Ý thức nhân chứng có thường hằng hay không?
Maharaj: Nó không thường hằng. Người biết thăng trầm với cái bị biết. Cái mà trong đó cả người biết và cái bị biết nổi lên và chìm xuống thì siêu việt thời gian. Từ ngữ thường hằng hay vĩnh cửu đều không áp dụng được ở đây.
H: Trong khi ngủ không hề có cái bị biết và cũng chẳng có người biết. Cái gì giữ cho thân xác nhạy cảm và tiếp nhận cảm giác?
M: Chắc chắn ông không thể nói rằng người biết vắng mặt. Kinh nghiệm về sự việc và ý nghĩ không có vào lúc đó, chỉ thế thôi. Nhưng không có kinh nghiệm cũng là kinh nghiệm. Cũng giống như khi vào một phòng tối và bảo: “Tôi không thấy gì.” Một người mù bẩm sinh thì không hề biết bóng tối là gì. Tương tự như thế, chỉ có người biết biết mình không biết. Ngủ chỉ là một sự ngắt quãng của ký ức. Sự sống tiếp tục.
H: Còn chết là gì?
M: Chết là sự thay đổi trong tiến trình sống của một thân xác riêng biệt nào đó. Sự hòa hợp chấm dứt và sự tan rã xảy ra.
H: Thế còn người biết. Liệu người biết có biến mất cùng với sự mất đi của thân xác?
M: Người biết của thân xác xuất hiện khi sinh thì người biết cũng biến mất khi tử.
H: Và chẳng có gì còn lại?
M: Sự sống còn lại. Ý thức cần một phương tiện và một công cụ để thị hiện. Khi sự sống tạo nên một thân xác khác, một người biết khác lại xuất hiện.
H: Có một liên quan nhân quả nào giữa thân và người biết kế tiếp, hoặc thân và tâm kế tiếp?
M: Có, có một cái có thể gọi là thân ký ức, hay thân nhân quả, một sự ghi lại của tất cả những gì đã được nghĩ tưởng, mong muốn và hành động. Nó giống như một đám mây của những hình ảnh quyện lại với nhau.
H: Ý thức về sự tồn tại riêng biệt này là gì?
M: Đó là ảnh phản chiếu của thực tại duy nhất trong một thân riêng biệt. Trong ảnh phản chiếu này cái vô hạn và cái hữu hạn lẫn lộn với nhau và bị lầm tưởng là giống nhau. Hóa giải sự lẫn lộn này là mục đích của Yoga.
H: Không phải cái chết hóa giải sự lẫn lộn này?
M: Khi chết thì chỉ có thân xác chết. Sự sống không chết, ý thức không chết, thực tại không chết. Và sự sống chưa bao giờ sống động như sau khi chết.
H: Nhưng một người có tái sinh không?
M: Cái gì được sinh ra thì phải chết đi. Chỉ cái bất sinh thì mới bất tử. Tìm xem cái gì chẳng bao giờ ngủ và chẳng bao giờ thức dậy, và ảnh phản chiếu lờ mờ của nó là ý thức “Ta” của chúng ta.
H: Làm sao tôi khởi sự cuộc tìm kiếm này?
M: Làm sao ông khởi sự tìm kiếm một cái gì? Bằng cách dồn hết tâm trí cho nó. Phải để tâm và thường xuyên nhớ. Nhớ những gì cần được nhớ là bí quyết của thành công. Ông chỉ có thể đến với nó bằng sự thành khẩn.
H: Ông muốn nói rằng chỉ mong muốn đi tìm là đủ? Chắc chắn phải cần đến cả khả năng và cơ hội.
M: Những thứ đó sẽ đến với sự thành khẩn. Điều quan trọng tối hậu là thoát ra khỏi mọi mâu thuẫn: mục đích và con đường không thể ở hai bình diện khác nhau; sự sống và ánh sáng không xung đột với nhau; cách hành xử không phản lại sự tin tưởng. Gọi nó là lòng thành thật, chính trực, toàn vẹn; ông không được quay trở lại, phá hủy, làm bung rễ, và từ bỏ những công trình đã chinh phục được. Kiên trì với mục đích và thành thật trong sự theo đuổi sẽ đưa ông đến đích.
H: Lòng kiên trì và thành thật là những đức tính thiên bẩm, chắc chắn là như thế! Tôi không có được một chút nào của hai đức tính đó.
M: Tất cả sẽ đến nếu ông tiếp tục dấn thân. Hãy đi bước đầu tiên trước. Mọi phước báu sẽ đến từ bên trong. Quay vào trong. Ông biết cái “Ta hiện hữu”. Hãy ở với nó trong mọi lúc mà ông có thể giành được thời gian, cho đến khi ông có thể trở lại với nó một cách tùy nghi. Chẳng còn cách nào đơn giản hơn và dễ dàng hơn.
CHƯƠNG 6. THIỀN
Hỏi: Tất cả các Đạo sư đều khuyên hành thiền. Mục đích của thiền là gì?
Maharaj: Chúng ta biết thế giới bên ngoài của các cảm giác và hành động, nhưng thế giới bên trong của ý nghĩ và cảm thọ thì chúng ta biết rất ít. Mục đích chính của thiền là trở nên có ý thức vào đời sống nội tâm, và quen thuộc với đời sống nội tâm của chúng ta. Mục đích tối hậu của thiền là đến được cội nguồn của sự sống và ý thức.
Thực hành Thiền định tác động sâu xa, một cách ngẫu nhiên, đến bản tính của chúng ta. Đối với những gì không biết, chúng ta là nô lệ, nhưng đối với cái đã biết chúng ta là chủ nhân. Dù nội tâm có xấu xa hay yếu đuối đến đâu nhưng khi phát hiện và hiểu rõ những nguyên do và hành hoạt của nó thì chúng ta sẽ vượt qua bằng chính sự hiểu biết; cái vô thức sẽ tan biến khi được đưa vào ý thức. Sự tan biến của cái vô thức tỏa ra năng lượng; tâm cảm thấy thỏa mãn và trở nên tĩnh lặng.
H: Một cái tâm tĩnh lặng có công năng gì?
M: Khi tâm tĩnh lặng, chúng ta sẽ biết mình như một nhân chứng thuần túy. Chúng ta thoát ra khỏi kinh nghiệm và người kinh nghiệm, đứng riêng ra trong tánh biết thuần túy, tánh biết đó vừa ở giữa, vừa ở bên ngoài kinh nghiệm và người kinh nghiệm. Tính cách cá nhân, dựa trên sự nhận dạng cái Ta, tưởng tượng mình là một cái gì đó: “Ta là thế này, Ta là thế nọ” thì vẫn tiếp tục, nhưng chỉ là một phần của thế giới khách quan. Sự đồng hóa của cá nhân với nhân chứng chấm dứt.
H: Theo chỗ tôi hiểu, tôi sống trên nhiều bình diện khác nhau và sự sống trên mỗi bình diện cần đến năng lượng. Cái Ta, do bản chất của nó, hài lòng với bất cứ cái gì và năng lượng của nó tuôn chảy ra ngoài. Thế không phải mục đích của thiền là ngăn giữ năng lượng ở những bình diện cao hơn, hoặc đẩy lùi năng lượng ngược lên, để tạo cho các bình diện cao hơn sung mãn?
M: Đây không phải bình diện mà đúng hơn là tính chất - Gunas. Thiền là một sinh hoạt thanh tịnh, chơn thật với mục đích loại bỏ hoàn toàn quán tính hay sức ì - Tamas - và động lực - Rajas. Sự hài hòa thuần tịnh - Sattva - là hoàn toàn không còn biếng nhác và hiếu động.
H: Làm thế nào để Sattva trở nên kiên cố và trong sạch?
M: Sattva luôn luôn trong sạch và mãnh liệt. Nó cũng giống như mặt trời. Nó có thể bị mây và bụi che khuất, nhưng chỉ theo quan điểm của người nhận thức. Hãy giải quyết những nguyên nhân của sự ngăn che, chứ không phải mặt trời.
H: Sattva có công dụng gì?
M: Sự công dụng của chân lý, của cái thiện, của sự hài hòa, của cái đẹp là gì? Chúng là mục đích của chính chúng. Chúng thể hiện một cách tự sinh khởi và dễ dàng khi mọi chuyện cứ được để tự nhiên - không bị can thiệp, không bị lảng tránh, hay mong cầu, hay bị khái niệm hóa - mà chỉ được kinh nghiệm trong sự tỉnh thức hoàn toàn. Chính sự tỉnh thức như thế là Sattva. Nó chẳng cần dùng đến sự vật hay con người - nó đáp ứng tất cả.
H: Vì không cải thiện được Sattva, tôi chỉ còn cách giải quyết Tamas và Rajas? Làm sao tôi giải quyết chúng?
M: Bằng cách quan sát ảnh hưởng của chúng trong ông và đối với ông. Biết rõ Tamas và Rajas trong khi chúng hoạt động, quan sát những thể hiện của Tamas và Rajas trong ý nghĩ, lời nói, và hành động của ông; dần dần sự kiềm tỏa của Tamas và Rajas sẽ giảm đi và quang minh của Sattva sẽ xuất hiện. Đây không phải là một tiến trình cam go, và dai dẳng; lòng thành khẩn là điều kiện duy nhất để thành công.
H: Ông không đắm chìm miên viễn trong cái trừu tượng?
M: Trừu tượng thuộc về tâm, thuộc về ngôn từ. Nó biến mất trong khi ngủ, hay bất tỉnh, và tái xuất hiện trong thời gian. Ta ở trong trạng thái phi thời của chính Ta - bây giờ. Qua khứ và tương lai chỉ ở trong tâm - Ta là bây giờ.
H: Thế giới cũng là bây giờ.
M: Thế giới nào?
H: Thế giới quanh ông và tôi.
M: Đó là thế giới của ông mà ông có trong tâm, không phải của Ta. Ngay cả cuộc đối thoại giữa Ta và ông cũng ở trong thế giới của ông, ông biết gì về Ta? Ông không có một lý do nào để tin được thế giới của Ta giống với thế giới của ông. Thế giới của Ta thì thực có và chơn thật như nó được nhận thức, còn thế giới của ông xuất hiện và biến mất theo trạng thái của tâm ông. Thế giới của ông là một cái gì xa lạ và ông sợ hãi nó. Thế giới của Ta là chính Ta. Ta ở ngay trong nhà.
H: Nếu ông là thế giới, làm sao ông biết được nó? Thế không phải chủ thể của ý thức khác với đối tượng của nó?
M: Ý thức xuất hiện và biến mất cùng với thế giới, do đó chúng là hai phương diện của cùng một trạng thái.
H: Trong khi ngủ không có tôi nhưng thế giới vẫn tiếp tục.
M: Làm sao ông biết?
H: Khi thức dậy tôi biết. Ký ức của tôi cho tôi biết.
M: Ký ức ở trong tâm. Tâm vẫn tiếp tục trong khi ông ngủ.
H: Trong khi ngủ, một phần của nó không hoạt động.
M: Nhưng hình ảnh mà nó có về thế giới thì không bị ảnh hưởng. Chừng nào tâm còn đó, thân ông và thế giới của ông còn đó. Thế giới của ông do tâm tạo ra, nó chủ quan, giới hạn trong nội vi của tâm, nó manh mún, tạm bợ, cá nhân, và đeo bám trên sợi chỉ của ký ức.
H: Không phải thế giới của ông cũng thế?
M: Ồ, không. Ta sống trong một thế giới của những hiện thực, còn thế giới của ông là của những tưởng tượng. Thế giới của ông là thế giới cá nhân, riêng tư, không chia sẻ được, và mật thiết với chính ông. Không ai có thể thâm nhập được thế giới của ông để thấy như ông thấy, nghe như ông nghe, cảm nhận những xúc động của ông và suy nghĩ những ý nghĩ của ông. Trong thế giới của ông, ông thực sự một mình, ông nằm gọn trong giấc mộng vô thường của ông mà ông cho đó là cuộc đời. Thế giới của Ta là một thế giới rộng mở, chung cho tất cả, và tất cả đều có thể tiếp cận. Trong thế giới của Ta chỉ có cái chung, sự sáng suốt, tình yêu, phẩm chất chơn thật; cái cá nhân là cái toàn thể, cái toàn thể - trong cái cá nhân. Tất cả là Một và Một là tất cả.
H: Thế giới của ông có đông người và đầy những sự, vật như thế giới của tôi?
M: Không, nó chỉ đầy chính Ta.
H: Nhưng ông có thấy và nghe như chúng tôi?
M: Có, Ta có vẻ như nghe, thấy, nói chuyện và hành hoạt, nhưng đối với Ta nó chỉ xảy ra, cũng như sự tiêu hóa và bài tiết xảy ra với ông. Bộ máy thân tâm điều hành những chuyện như thế, nhưng chừa Ta ra. Cũng như ông không bận tâm đến chuyện tóc mọc, thì Ta cũng chẳng bận tâm đến lời lẽ và hành vi. Chúng cứ xảy ra và để mặc Ta vô tâm, vì trong thế giới của Ta không bao giờ có sự sai lầm xảy ra.
CHƯƠNG 7. CÁI TA Ở NGOÀI TÂM
Hỏi: Khi còn nhỏ tôi vẫn thường trải qua những trạng thái hoàn toàn hạnh phúc, gần với cực lạc, sau này thì không còn nữa. Nhưng từ khi tôi đến Ấn Độ những trạng thái này lại xuất hiện trở lại, đặc biệt là sau khi tôi gặp ông. Tuy nhiên, những trạng thái này, dù tuyệt diệu đến đâu, không tồn tại lâu dài. Chúng đến rồi đi và không thể biết khi nào sẽ trở lại.
Maharaj: Làm sao có cái gì an ổn trong một cái tâm mà chính nó bất an?
H: Làm sao tôi có thể làm cho tâm tôi an?
M: Làm sao một cái tâm bất an có thể an được chính nó? Dĩ nhiên là nó không thể. Chính bản chất của tâm là lang thang bất định. Tất cả những gì ông có thể làm là dời tiêu điểm của ý thức ra ngoài tâm.
H: Làm sao thực hiện?
M: Từ bỏ mọi ý nghĩ, ngoại trừ ý nghĩ duy nhất: “Ta hiện hữu”. Thoạt tiên tâm sẽ nổi loạn, nhưng trước lòng kiên nhẫn và sự kiên trì nó sẽ chịu thua và giữ im lặng. Một khi ông tĩnh lặng, mọi chuyện sẽ xảy ra một cách tùy thuận và rất tự nhiên mà không có một sự can thiệp nào của ông.
H: Liệu tôi có thể tránh được cuộc chiến giai dẳng với tâm của tôi?
M: Có, ông có thể. Cứ sống cuộc đời của ông như nó đến với ông, nhưng tỉnh thức, quan sát, cứ để mọi chuyện xảy ra như nó xảy ra, làm những chuyện tự nhiên một cách tự nhiên, đau khổ, mừng vui - như cuộc đời đem đến. Đây cũng là một cách.
H: Vậy thì tôi có thể lập gia đình, có con cái, điều hành một cơ sở kinh doanh... và hạnh phúc.
M: Đúng thế. Có thể ông hạnh phúc hay không hạnh phúc, cứ chấp nhận nó một cách thản nhiên.
H: Nhưng tôi muốn hạnh phúc.
M: Hạnh phúc chơn thật không thể tìm thấy trong những gì thay đổi và vô thường. Lạc thú và đau khổ thay phiên nhau một cách lạnh lùng. Hạnh phúc đến từ cái Ta và chỉ có thể tìm thấy trong cái Ta. Chỉ cần tìm ra cái Ta chơn thật của ông - Swarupa - rồi tất cả những cái khác sẽ đến với nó.
H: Nếu cái Ta chơn thật của tôi là an lạc và tình yêu, tại sao nó bất an như thế?
M: Không phải sự hiện hữu chơn thật của ông bất an nhưng ảnh phản chiếu của nó trong tâm có vẻ như bất an bởi vì tâm bất an. Cũng giống như ảnh phản chiếu của mặt trăng trong nước bị gió khuấy động. Ngọn gió tham ái khuấy động tâm, và “tôi” - tức ảnh phản chiếu của cái Ta trong tâm - có vẻ như biến động. Nhưng tất cả những ý nghĩ về sự biến dịch và bất an, về lạc thú và đau khổ này đều ở trong tâm. Cái Ta đứng ngoài tâm, thấy biết nhưng thản nhiên.
H: Làm sao đạt đến nó?
M: Ông là cái Ta, ở đây và bây giờ. Cứ để kệ tâm, hãy đứng một cách tỉnh thức và thản nhiên rồi ông sẽ nhận ra rằng đứng một cách tỉnh thức, vô tư, quan sát những diễn tiến đến rồi đi, là một phương diện thuộc bản tánh chân thật của ông.
H: Những phương diện khác là gì?
M: Phương diện thì vô số. Nhận ra một, ông sẽ nhận ra tất cả.
H: Hãy cho tôi biết một cái gì đó giúp được tôi.
M: Ông biết rõ nhất cái ông cần!
H: Tôi bất an. Làm sao tôi đạt được an lạc?
M: Ông cần an lạc để làm gì?
H: Để hạnh phúc.
M: Thế bây giờ ông không hạnh phúc?
H: Tôi có cái tôi không muốn, và tôi muốn cái tôi không có.
M: Làm sao ông biết được cái gì là thích thú và cái gì không?
H: Dĩ nhiên là do kinh nghiệm đã trải qua.
M: Được ký ức hướng dẫn, ông theo đuổi sự thích thú và lãng tránh sự khó chịu. Thế ông đã thành công chưa?
H: Chưa, tôi chẳng thành gì cả. Sự thích thú không bền lâu.
Đau khổ lại tái diễn.
M: Đau khổ nào?
H: Lòng ham muốn lạc thú, sợ hãi đau khổ, cả hai đều là những trạng thái phiền não. Liệu có thể có một trạng thái lạc thú thuần túy?
M: Mọi lạc thú, vật lý hay tâm lý đều cần đến một công cụ. Cả hai loại công cụ vật lý và tâm lý đều là vật chất, rồi chúng sẽ mỏi mệt và hao mòn. Lạc thú mà chúng đem lại chắc chắn hạn chế về cường độ và sự lâu bền. Đau khổ luôn luôn ở đằng sau tất cả những lạc thú của ông. Ông muốn chúng vì ông đau khổ. Mặt khác, chính sự tìm kiếm lạc thú là nguyên nhân của đau khổ. Đây là một cái vòng luẩn quẩn.
H: Tôi có thể thấy được cái cơ cấu gây ra sự bối rối của tôi, nhưng tôi không thấy lối thoát.
M: Lối thoát năm ngay trong chính sự tìm hiểu cơ cấu ấy. Xét cho cùng, mọi bối rối chỉ ở trong tâm ông, mà cho đến nay tâm ông chưa bao giờ nổi dậy chống lại sự bối rối và tóm được sự bối rối.
Tâm ông chỉ nổi dậy chống lại sự đau khổ.
H: Như thế, tôi chỉ có cách là cứ ở trong tình trạng bối rối.
M: Hãy tỉnh thức. Đặt câu hỏi, quan sát, tìm hiểu, bằng mọi cách để biết sự bối rối, cách hoạt động của nó, và xem nó làm gì ông và người khác. Biết rõ sự bối rối, ông sẽ không còn bị bối rối.
H: Khi nhìn vào trong tôi, tôi thấy ham muốn mãnh liệt nhất là làm một cái gì đáng để ghi nhớ, tạo dựng một cái gì đó tồn tại lâu bền hơn tôi. Ngay cả khi tôi nghĩ đến một gia đình với vợ con thì cũng chỉ vì đó là một chứng tích lâu dài và bền chắc đối với tôi.
M: Được, cứ dựng cho chính ông một công trình đáng được ghi nhớ. Thế ông định xây cất nó như thế nào?
H: Tôi xây cất cái gì thì chẳng quan trọng, miễn là nó trường tồn.
M: Chắc chắn là ông có thể tự thấy rằng không có gì là trường tồn. Tất cả mọi thứ đều hư hoại, phân hóa, và tan rã. Ngay chính cái nền móng mà trên đó ông xây dựng cũng sụp đổ. Làm sao ông có thể xây dựng được cái gì lâu bền hơn tất cả?
H: Bằng tri thức, bằng ngôn từ, tôi biết rõ rằng tất cả là vô thường. Nhưng không hiểu vì sao lòng tôi mong muốn sự thường hằng. Tôi muốn tạo nên một cái gì đó trường tồn.
M: Thế thì ông phải xây dựng nó bằng một chất liệu trường tồn. Ông có cái gì trường tồn? Thân và tâm ông đều không trường tồn. Ông phải tìm ở một nơi nào khác.
H: Tôi mong muốn cái thường hằng, nhưng không tìm thấy nó ở đâu.
M: Thế ông, chính ông, không thường hằng sao?
H: Tôi đã được sinh ra, và tôi sẽ chết đi.
M: Liệu ông có thể nói rằng ông đã không có trước khi ông được sinh ra, và vào lúc chết liệu ông có thể nói: “Giờ đây Ta không còn nữa.” Nói như thế có đúng không? Ông không thể nói từ kinh nghiệm của chính ông rằng ông không hiện hữu. Ông chỉ có thể nói “Ta hiện hữu”. Thậm chí người khác cũng không thể bảo ông rằng ông không hiện hữu.
H: Không hề có cái “Ta hiện hữu” trong khi ngủ.
M: Trước khi phát ngôn một cách bao biện như thế, hãy cẩn thận xem xét trạng thái thức của ông. Ông có sớm nhận ra rằng nó đầy những khoảng trống khi tâm trở nên vô ký. Ông có để ý rằng ông nhớ rất ít ngay cả khi ông hoàn toàn thức. Ông không thể nói rằng ông không biết gì trong khi ngủ. Ông chỉ không nhớ. Một khoảng trống trong ký ức không nhất thiết phải là một khoảng trống trong ý thức.
H: Liệu tôi có thể nhớ lại trạng thái ngủ sâu cảu tôi?
M: Dĩ nhiên! Bằng cách loại trừ những sự xen vào ngắn hạn của các trạng thái vô ý trong thời gian thức, thì dần dần ông sẽ loại trừ được sự xen vào dài hơn của tình trạng đãng trí mà ông gọi là ngủ. Lúc đó ông sẽ biết rất rõ là ông đang ngủ.
H: Tuy nhiên, vấn đề thường hằng, vấn đề tiếp tục hiện hữu vẫn chưa được giải quyết.
M: Thường hằng đơn thuần chỉ là một ý tưởng, phát sinh từ hành vi thời gian. Thời gian lại tùy thuộc vào ký ức. Khi nói về sự thường hằng, ông hàm ý một ký ức liên tục xuyên qua thời gian bất tận. Ông muốn vĩnh cửu hóa tâm, đây là điều không thể được.
H: Thế cái gì vĩnh cửu?
M: Cái không thay đổi với thời gian. Ông không thể vĩnh cửu hóa một cái gì biến dịch - chỉ cái bất biến mới vĩnh cửu.
H: Tôi khá quen thuộc với ý nghĩa tổng quát của những gì ông nói. Tôi không khao khát thêm kiến thức. Tất cả những gì tôi cần là sự an lạc.
M: Ông có thể có tất cả an lạc mà ông muốn cho sự đòi hỏi của ông.
H: Tôi đang đòi hỏi.
M: Ông phải đòi hỏi với một trái tim trọn vẹn, và sống một cuộc sống hợp nhất.
H: Bằng cách nào?
M: Hãy cách ly chính ông với tất cả những gì làm cho tâm ông bất an. Loại bỏ tất cả những gì quấy nhiễu sự an lạc của tâm.
Nếu muốn an lạc, ông hãy tỏ ra xứng đáng được an lạc.
H: Chắc chắn là mọi người đều đáng được an lạc.
M: Những người đáng được an lạc đều là những người không quấy nhiễu sự an lạc.
H: Tôi quấy nhiễu sự an lạc bằng cách nào?
M: Bằng cách làm nô lệ cho tham ái và lo sợ.
H: Ngay cả khi chúng là chính đáng?
M: Những phản ứng thuộc cảm xúc - sinh khởi từ vô minh hay vô ý - chẳng bao giờ là chính đáng. Hãy tìm một cái tâm trong, và một trái tim sạch. Những gì ông cần chỉ là giữ tỉnh thức trong tĩnh lặng, tìm hiểu sâu xa bản tánh chơn thật của chính ông. Đó là cách duy nhất đến với an lạc.
CHƯƠNG 8. PHẢN ỨNG CỦA KÝ ỨC
Hỏi: Một số người nói rằng vũ trụ được tạo ra. Nhiều người khác cho rằng vũ trụ luôn luôn tồn tại và thường xuyên trải qua những biến dịch. Có người bảo vũ trụ tuân theo những quy luật vĩnh cửu. Có người thậm chí phủ nhận vũ trụ do nhân duyên tạo ra. Có người nói thế giới là thật. Người khác thì bảo nó không hề có thực thể.
Maharaj: Ông thắc mắc về thế giới nào?
H: Dĩ nhiên là thế giới thuộc về những nhận thức của tôi.
M: Thế giới mà ông nhận thức thì thật sự rất nhỏ bé, và hoàn toàn riêng tư. Cứ xem nó như một giấc chiêm bao và quẳng nó đi.
H: Làm sao tôi có thể xem nó như một giấc chiêm bao? Một giấc chiêm bao thì không lâu dài.
M: Vậy thế giới nhỏ bé của ông lâu dài đến bao giờ?
H: Xét cho cùng thế giới nhỏ bé của tôi chính là một phần của toàn thể.
M: Thế không phải ý tưởng về một thế giới toàn thể cũng là một phần của thế giới thuộc riêng ông? Vũ trụ không đến bảo ông rằng ông là một phần của nó. Chính ông là người nghĩ tưởng ra một cái tổng thể dung chứa ông như một phần của nó. Thật ra, tất cả những gì ông biết là thế giới của riêng ông, dù ông có trang bị cho nó những tưởng tượng và hoài bảo to lớn đến đâu.
H: Nhận thức chắc chắn không phải là tưởng tượng!
M: Còn gì khác? Nhận thức là nhận ra qua hồi tưởng, có phải không? Người ta có thể cảm nhận một cái gì hoàn toàn xa lạ, nhưng không thể nhận thức được nó. Nhận thức có liên hệ với ký ức.
H: Cứ cho rằng như thế, nhưng ký ức không biến nó thành một ảo tưởng.
M: Nhận thức, tưởng tượng, mong đợi, dự đoán, ảo tưởng - tất cả đều dựa trên ký ức. Hầu như không có một ranh giới rõ rệt nào giữa chúng. Chúng tương nhập lẫn nhau. Tất cả đều là phản ứng của ký ức.
H: Tuy nhiên, ký ức có đó để chứng minh thế giới của tôi là hiện thực.
M: Ông nhớ được bao nhiêu? Thử viết ra từ ký ức của ông
vào ngày 30 tháng trước ông đã nghĩ gì, nói gì và làm gì?
H: Đúng, tôi không nhớ được.
M: Nhưng không đến nỗi tệ như thế. Ông nhớ rất nhiều - chính ký ức vô thức làm cho ông rất quen thuộc với cái thế giới mà trong đó ông sống.
H: Đành rằng thế giới mà trong đó tôi sống là chủ quan và phiến diện. Thế còn ông? Ông sống trong loại thế giới nào?
M: Thế giới của Ta cũng giống như của ông. Ta thấy, Ta nghe,
Ta cảm thọ, Ta tư duy, Ta nói và hành động trong một thế giới mà Ta nhận thức, cũng như ông. Nhưng với ông đó là tất cả, còn với Ta thì nó hầu như không là gì cả. Tuy biết rõ thế giới là một phần của chính Ta, nhưng Ta chú ý đến nó không nhiều hơn ông chú ý đến thực phẩm mà ông đã ăn. Trong khi được làm thành món và được ông ăn, thực phẩm còn tách biệt với ông và ông để ý đến nó; nhưng khi đã nuốt, ông hoàn toàn không biết nó nữa. Ta đã ăn trọn thế giới và Ta không cần thiết suy nghĩ về nó.
H: Thế ông không trở nên hoàn toàn vô trách nhiệm?
M: Làm sao được? Làm sao Ta có thể gây đau khổ cho cái gì đó là một với Ta. Trái lại, vì không nghĩ gì về thế giới nên bất cứ gì Ta làm đều lợi lạc cho nó. Cũng như thân xác tự đặt nó vào một vị trí đúng một cách vô thức, Ta không ngừng hành động để đặt thế giới vào đúng vị trí của nó.
H: Nhưng liệu ông có biết những đau khổ vô biên của thế giới?
M: Dĩ nhiên là Ta biết, còn rõ hơn ông biết.
H: Thế ông làm gì?
M: Ta nhìn thế giới qua đôi mắt của Thượng Đế và thấy tất cả đều an lành.
H: Làm sao ông có thể nói tất cả đều an lành? Hãy nhìn những cuộc chiến tranh, bóc lột, đấu tranh tàn nhẫn giữa công dân và nhà nước.
M: Tất cả những đau khổ đó đều do con người tạo ra và con người có đủ quyền năng để chấm dứt chúng. Thượng đế giúp Ta bằng cách cho con người đối diện với hậu quả của các hành động mà con người gây ra, và đòi hỏi rằng sự quân bình phải được tái lập. Nghiệp - Karma - là luật pháp hành xử cho lẽ phải, và cũng là bàn tay hàn gắn thương đau của Thượng đế.
CHƯƠNG 9. HÀNH VI NHÂN CHỨNG
Hỏi: Tôi đầy những ham muốn và tôi muốn chúng được thỏa mãn. Làm sao tôi có được cái tôi muốn?
Maharaj: Ông có xứng đáng được cái ông muốn không? Bằng cách này hay cách khác ông phải bỏ ra công sức để thực hiện những ham muốn của ông. Hãy dồn năng lực vào cái ông muốn dồi chờ kết quả.
H: Tôi lấy năng lực ấy ở đâu?
M: Tự thân ham muốn là năng lực.
H: Vậy tại sao mọi ham muốn không được thỏa mãn?
M: Có thể là nó không đủ mạnh và lâu bền.
H: Đúng, đó là vấn đề của tôi. Tôi muốn đủ thứ nhưng khi phải hành động thì lại quá lười.
M: Khi lòng ham muốn của ông không rõ ràng và không mãnh liệt thì nó không thể định hình. Ngoài ra, nếu những ham muốn của ông chỉ có tính cách cá nhân, và cho sự hưởng dụng của riêng ông thì năng lực mà ông bỏ ra nhất thiết là hạn chế, nó không thể nhiều hơn cái mà ông có.
H: Nhưng những người bình thường vẫn đạt được mong muốn của họ.
M: Chỉ sau khi họ mong muốn rất thiết tha và sau một thời gian dài. Mặc dù vậy, những gì họ đạt được cũng rất hạn chế.
H: Thế còn những ham muốn vô vị kỷ?:
M: Khi ông ham muốn cái tốt lành chung, cả thế giới cùng ham muốn với ông. Hãy xem ham muốn của nhân loại như ham muốn của chính ông, rồi ra tay hành động. Như thế ông không thể nào thất bại.
H: Nhân loại là chuyện của Thượng đế, không phải chuyện của tôi. Tôi chỉ quan tâm đến chính tôi. Tôi không có quyền thấy những ham muốn chính đáng của tôi thành tựu hay sao? Những ham muốn của tôi chẳng gây đau khổ cho ai cả. Chúng rất chính đáng. Là những ham muốn đúng, tại sao chúng không trở thành hiện thực?
M: Ham muốn đúng hay sai tùy theo hoàn cảnh, và còn tùy thuộc vào cách nhìn của ông. Sự khác biệt giữa đúng và sai chỉ có giá trị đối với cá nhân.
H: Một sự khác biệt như thế có những chỉ dấu gì? Làm sao tôi biết được ham muốn nào của tôi là đúng và ham muốn nào là sai?
M: Trong trường hợp của ông, những ham muốn nào đưa đến đau khổ là sai, và ham muốn nào đem lại hạnh phúc là đúng. Nhưng ông không được quên người khác. Đau khổ và hạnh phúc của họ cũng phải được biết đến.
H: Kết quả thì thuộc về tương lai. Làm sao tôi biết nó như thế nào?
M: Dùng tâm của ông. Nhớ. Quan sát. Ông không khác với tha nhân. Hầu hết những kinh nghiệm của họ cũng có giá trị đối với ông. Hãy suy nghĩ minh bạch và sâu xa, hãy đi vào toàn thể cái cơ cấu ham muốn của ông cùng với những dây mơ rễ má của nó. Chúng là phần quan trọng nhất của kết cấu tâm lý và cảm xúc của ông, chúng tác động rất mạnh đến hành động của ông. Hãy nhớ rằng ông không được bỏ qua những gì ông không biết. Để vượt ra khỏi chính ông, ông phải biết chính ông.
H: Biết chính tôi nghĩa là thế nào? Biết chính tôi, một cách chính xác là tôi biết cái gì?
M: Tất cả những gì không phải là ông.
H: Chứ không phải cái mà tôi là?
M: Cái mà ông là, thì ông đã là. Biết được cái không phải là ông thì ông thoát ra khỏi nó, và ở trong trạng thái tự nhiên của chính ông. Tất cả sẽ xảy ra một cách tự phát và chẳng cần dụng công.
H: Và tôi sẽ phát hiện được gì?
M: Ông sẽ phát hiện ra rằng chẳng có gì để phát hiện. Ông là cái mà ông là, và chỉ thế thôi.
H: Nhưng tối hậu tôi là cái gì?
M: Là sự phủ nhận tối hậu tất cả những gì không phải là ông.
H: Tôi không hiểu!
M: Chính định kiến của ông cho rằng ông phải là một cái gì đó làm cho ông không thấy.
H: Làm sao tôi loại bỏ được định kiến đó?
M: Nếu ông tin Ta, thì hãy tin tưởng khi Ta bảo ông rằng ông là tánh biết thuần túy, tánh biết đó soi sáng ý thức và nội dung bao la của ý thức. Nhận ra tánh biết này và sống thuận theo nó. Nếu ông không tin tưởng Ta, thì quay vào trong, tìm hiểu “Ta là cái gì?” hoặc, đặt tiêu điểm của tâm ông vào cái “Ta hiện hữu” tức là sự hiện hữu thuần túy và chân phương.
H: Lòng tin của tôi đối với ông tùy thuộc vào cái gì?
M: Vào cái nhìn sáng suốt của ông tận tim người. Nếu ông không thể nhìn vào tim Ta, thì nhìn vào tim ông.
H: Tôi không thể làm được hai điều đó.
M: Hãy làm cho ông trong sạch bằng một cuộc sống ngăn nắp và hữu ích. Quan sát ý nghĩ, cảm thọ, lời lẽ và hành động của ông. Điều này sẽ làm cho cái nhìn của ông sáng suốt.
H: Thế không phải trước tiên tôi phải từ bỏ tất cả, và sống một cuộc sống không nhà.
M: Ông không thể từ bỏ tất cả. Ông có thể bỏ nhà ra đi và để lại phiền não cho gia đình, nhưng mọi ràng buộc là ở trong tâm ông, và chúng sẽ không rời ông cho đến khi ông biết tâm một cách tường tận. Cái cần làm trước hãy làm trước - biết chính ông - tất cả những cái khác sẽ đến cùng với nó.
H: Nhưng ông đã bảo tôi là Thực tại Tối thượng. Thế không
phải đó là sự biết mình?
M: Dĩ nhiên ông là Thực tại Tối thượng! Có sao đâu? Mỗi mỗi hạt cát là Thượng đế; biết được điều này rất quan trọng, nhưng đó mới là khởi đầu.
H: Ông bảo tôi là Thực tại Tối thượng. Tôi tin ông. Tiếp đến tôi phải làm gì?
M: Ta đã bảo ông rồi. Phát hiện ra tất cả những gì không phải là ông. Thân xác, cảm thọ, tư tưởng, ý nghĩ, thời gian, không gian, hiện hữu và phi hiện hữu, cái này hay cái kia - không có gì cụ thể hay trừu tượng mà ông có thể nêu ra được, lại là ông. Một câu nói suông chưa đủ - ông có thể lải nhải liên tu bất tận một công thức nào đó nhưng sẽ chẳng đem lại một kết quả nào. Ông phải quan sát chính ông liên tục - nhất là tâm ông - từ lúc này sang lúc khác, không được bỏ sót một cái gì. Hành vi nhân chứng này là điều thiết yếu để tách rời cái Ta khỏi những gì không phải là cái Ta.
H: Hành vi nhân chứng - không phải đó là bản chất chơn thật của tôi?
M: Để chứng kiến, thì phải có một cái gì đó để chứng kiến.
Chúng ta vẫn còn trong vòng nhị nguyên.
H: Thế còn chứng kiến nhân chứng, biết cái biết?
M: Sắp xếp chữ nghĩa chẳng đưa ông đến đâu. Quay vào trong và phát hiện cái không phải là ông. Ngoài ra chẳng có gì là quan trọng.
CHƯƠNG 10. TÁNH BIẾT VÀ Ý THỨC
Hỏi: Ông làm gì trong khi ngủ?
Maharaj: Ta biết Ta đang ngủ.
H: Thế không phải ngủ là một trạng thái vô thức?
M: Đúng, Ta biết Ta vô thức.
H: Thế còn khi thức, hoặc chiêm bao?
M: Ta biết Ta thức, hoặc chiêm bao.
H: Tôi không hiểu ông. Một cách chính xác ông muốn nói gì?
Để tôi minh định những từ ngữ đã dùng: khi ngủ - tôi muốn nói là không có ý thức, khi thức - tôi muốn nói là có ý thức, khi chiêm bao - tôi muốn nói là có ý thức về nội tâm, nhưng không có ý thức về những gì xung quanh.
M: Thế thì sự minh định của ông cũng gần giống với Ta. Nhưng, có một sự khác biệt. Khi ở trong một trạng thái ông quên hai trạng thái kia, còn với Ta chỉ có một trạng thái hiện hữu duy nhất, dung nhiếp và siêu vượt ba trạng thái của tâm: thức, chiêm bao và ngủ.
H: Ông có thấy trong thế giới có một khuynh hướng và một mục đích?
M: Thế giới không gì khác hơn là ảnh phản chiếu trí tưởng tượng của Ta. Ta có thể thấy bất cứ gì Ta muốn thấy. Nhưng việc gì Ta lại phải bày đặt ra những mô thức của sáng tạo, tiến hóa và hủy diệt? Ta chẳng cần đến chúng. Thế giới ở trong Ta, thế giới là chính Ta. Ta không hề sợ nó và cũng chẳng có ý muốn giam hãm nó trong bức tranh của tâm.
H: Trở lại giấc ngủ. Ông có chiêm bao không?
M: Dĩ nhiên.
H: Những giấc mơ của ông là gì?
M: Chúng là tiếng vang vọng của trạng thái thức.
H: Còn trong giấc ngủ sâu của ông?
M: Ý thức của não bộ tạm ngưng.
H: Thế trong lúc đó ông vô thức?
M: Đối với môi trường xung quanh - Đúng.
H: Không hoàn toàn vô thức?
M: Ta vẫn biết Ta vô thức.
H: Ông dùng các từ ngữ như “biết” và “ý thức” một cách riêng biệt. Không phải chúng như nhau?
M: Tánh biết là tiên nguyên, nó là trạng thái nguyên thủy, không có sự khởi đầu, không có sự kết thúc, không do nhân duyên tạo ra, không tùy thuộc, không gồm những thành phần, và không thay đổi. Ý thức khởi sinh do tiếp xúc, nó là ảnh phản chiếu từ một bề mặt, và là một trạng thái nhị nguyên. Không thể có ý thức nếu không có tánh biết, nhưng có thể có tánh biết mà không có ý thức, chẳng hạn như trong giấc ngủ sâu. Tánh biết thuộc về tuyệt đối, còn ý thức liên quan với nội dung của nó; ý thức luôn luôn thuộc về một cái gì đó. Ý thức thì phiến diện và thay đổi, còn tánh biết là toàn thể, bất biến, tĩnh và lặng. Tánh biết là cái khuôn chung của mọi kinh nghiệm.
H: Làm sao một người vượt ra khỏi ý thức để thể nhập với tánh biết?
M: Vì chính tánh biết làm cho ý thức khả hữu, nên trong bất cứ trạng thái nào của ý thức cũng đều có tánh biết. Do đó, ngay chính ý thức về ý thức đã là một động thái trong tánh biết. Sự chú ý vào giòng ý thức sẽ đưa ông đến tánh biết. Đó không phải là một trạng thái mới lạ. Nó được nhận ra ngay tức thời như là sự tồn tại căn bản và nguyên thủy, tức là chính sự sống, và cũng là tình yêu và hỷ lạc.
H: Vì thực tại luôn luôn hiện hữu với chúng ta, giác ngộ chính mình bao gồm những gì?
M: Giác ngộ không gì khác hơn là ngược lại với vô minh. Xem thế giới là thật và cái Ta của chính mình là không thật - là vô minh, là nguồn gốc của đau khổ. Biết được cái Ta là thực tại duy nhất, còn tất cả những cái khác là vô thường và biến dịch - là tự do và an lạc. Đơn giản chỉ có thế. Thay vì nhìn sự vật theo tưởng tượng, hãy biết cách nhìn chúng như chúng là. Khi có thể thấy bất cứ gì như chính nó là, thì ông cũng thấy chính ông như ông là. Điều này cũng như lau sạch một tấm gương. Tấm gương cho ông thấy thế giới như chính nó là, thì chính nó cũng cho ông thấy bộ mặt thật của chính ông. Ý nghĩ “Ta hiện hữu” chính là tấm vải lau.
Hãy dùng nó.
CHƯƠNG 11. CON NGƯỜI KHÔNG PHẢI THỰC TẠI
Hỏi: Xin vui lòng cho chúng tôi biết ông đã giác ngộ như thế nào?
Maharaj: Năm 34 tuổi Ta gặp Tôn sư, và năm 37 tuổi Ta giác ngộ.
H: Chuyện gì đã xảy ra? Sự thay đổi đã diễn ra thế nào?
M: Lạc thú và đau khổ không còn tác động được Ta. Ta hoàn toàn thoát khỏi tham ái và lo sợ. Ta cảm thấy chính Ta viên mãn, chẳng cần gì cả. Ta thấy trong đại dương của tánh biết thanh tịnh, trên bề mặt của ý thức vũ trụ, vô số những đợt sóng của thế giới hiện tượng nổi lên và chìm xuống mà không hề có sự khởi đầu hay chấm dứt. Là ý thức - tất cả chúng là Ta. Là sự kiện xảy ra - tất cả chúng là của Ta. Có một quyền năng bí ẩn chăm lo cho chúng. Quyền năng đó là tánh biết, là Ta, là Sự sống, là Thượng đế, là bất cứ danh xưng gì mà các ông muốn gọi. Nó là nền tảng, là sự nương tựa tối hậu của tất cả mọi hiện hữu, giống như vàng là căn bản của tất cả những đồ trang sức bằng vàng. Và nó là của chúng ta một cách rất thân thuộc! Tách rời danh xưng và hình tướng ra khỏi món đồ trang sức thì vàng hiển lộ. Không còn danh xưng và hình tướng, không còn tham ái và lo sợ mà chúng tạo ra, thì cái gì còn lại?
H: Cái không gì cả.
M: Đúng, còn lại cái không, nhưng là cái không đầy ắp. Nó là tiềm năng vô tận còn ý thức là hiện thực vô biên.
H: Khi nói tiềm năng, ông hàm ý tương lai?
M: Quá khứ, hiện tại, tương lai - tất cả đều có đó. Và vô tận.
H: Nhưng vì cái không là không, nó chẳng ích lợi bao nhiêu cho chúng tôi.
M: Làm sao ông có thể nói như thế được? Nếu sự tiếp xúc không bị phá vỡ thì làm sao có tái sinh? Liệu có thể có sự tân tạo mà không có sự chết đi? Thậm chí bóng tối của giấc ngủ làm cho người ta hồi sức và tươi trẻ lại. Nếu không có cái chết, chúng ta sẽ mắc kẹt trong lão suy đến muôn đời.
H: Thế không có cái gì là bất tử?
M: Khi sống và chết được xem như tương quan thiết yếu, như hai phương diện của một hiện hữu, thì đó là bất tử. Thấy được kết thúc trong bắt đầu và bắt đầu trong kết thúc là thấy được hàm ý của sự bất diệt. Chắc chắn bất tử không phải là sự tiếp tục. Chỉ có tiến trình thay đổi liên tục. Chẳng có gì tồn tại mãi.
H: Tánh biết có tồn tại mãi không?
M: Tánh biết không thuộc thời gian. Thời gian chỉ tồn tại trong ý thức. Bên ngoài ý thức, không gian và thời gian ở chỗ nào?
H: Trong nội vi phạm trù ý thức của ông còn có cả thân xác ông.
M: Dĩ nhiên. Nhưng cái ý tưởng “thân ta” - khác với những thân khác - không có trong đó. Đối với Ta nó là “một cái thân” nhưng không phải “thân ta”, “một cái tâm” nhưng không phải “tâm ta”. Tâm lo được cho thân, Ta chẳng cần can thiệp. Cái gì cần làm đang được làm, một cách bình thường và tự nhiên.
Có thể ông không ý thức rõ những chức năng sinh lý của ông, nhưng khi ý nghĩ và cảm thọ, ham muốn và lo sợ trở thành vấn đề, thì ông ý thức về chính ông một cách rất rõ rệt. Đối với Ta những cái đó hầu hết cũng là vô thức. Ta biết Ta nói chuyện với người khác, hoặc làm mọi chuyện đều rất đúng và thích hợp, mà không cần ý thức nhiều về những hành vi như thế. Có vẻ như Ta sống đời sống vật lý, và tỉnh thức một cách tự động, phản ứng một cách tùy nghi và chính xác.
H: Phản ứng tùy nghi của ông có được là kết quả của sự giác ngộ, hay nhờ luyện tập?
M: Cả hai. Cống hiến cho mục đích sẽ khiến ông sống một cuộc sống trong sạch và tử tế - một cuộc sống cống hiến cho sự tìm kiếm chân lý và giúp ích người khác; còn sự giác ngộ - bằng cách loại trừ vĩnh viễn mọi trở ngại dưới những hình thức tham ái, lo sợ và tà kiến - sẽ khiến cho đức hạnh cao thượng trở nên dễ dàng và tùy nghi.
H: Ông không còn tham ái và lo sợ?
M: Số mệnh sinh Ta ra là một người đơn giản, bình thường như mọi người khác, một tiểu thương khiêm tốn, với chút ít học vấn. Cuộc đời Ta cũng bình thường, với những tham ái và lo sợ như mọi người khác. Rồi, qua sự tin tưởng vào tôn sư, và làm theo lời ngài, Ta giác ngộ sự hiện hữu chơn thật của Ta. Ta bỏ lại phía sau bản chất thuộc về con người tự lo liệu lấy, cho đến khi định mệnh của nó kết thúc. Thỉnh thoảng một phản ứng cũ, cảm xúc hay tâm lý, xảy ra trong tâm, nhưng ngay lập tức nó bị phát hiện và bị loại bỏ. Xét cho cùng, chừng nào còn hệ lụy với một con người, người ta vẫn bị tác động bởi cách suy nghĩ, hành sử và thói quen của con người đó.
H: Thế ông không sợ chết?
M: Ta đã chết rồi.
H: Theo nghĩa nào?
M: Ta chết đến hai lần, Không những Ta chết với thân mà còn chết cả với tâm.
H: Vậy mà trông ông chẳng chết chút nào!
M: Ông nói thế! Hình như ông còn biết rõ trạng thái của Ta còn rõ hơn cả chính Ta!
H: Xin ông bỏ qua. Nhưng tôi không hiểu được. Ông bảo ông không còn thân mà cũng chẳng còn tâm, nhưng tôi thấy ông vẫn sống và nói chuyện lưu loát.
M: Trong não bộ và thân xác ông, một hoạt động vô cùng phức tạp lúc nào cũng đang xảy ra, ông có ý thức được nó không? Hoàn toàn là không. Nhưng đối với người ngoài tất cả dường như diễn ra một cách trí tuệ và có chủ đích. Tại sao không thừa nhận rằng toàn thể đời sống cá nhân của một người có thể chìm dưới ngưỡng cửa của ý thức, nhưng đời sống ấy vẫn diễn ra một cách hợp lý và trôi chảy?
H: Liệu như thế có bình thường không?
M: Cái gì bình thường? Cuộc đời ông - thường xuyên bị ám ảnh bởi tham ái và lo sợ, đầy những đấu tranh và xung đột, vô nghĩa và không hề có một niềm vui - Liệu cuộc đời đó có bình thường? Ý thức rất rõ về thân ông thì liệu có bình thường? Bị những cảm xúc giằng xé, bị ý nghĩ hành hạ thì liệu có bình thường? Một cái thân khỏe mạnh, một cái tâm lành mạnh sống hầu như không được chủ nhân của chúng biết đến, chỉ khi nào đau đớn hay khổ sở thì thân mới kêu gọi sự quan tâm, và tâm mới cần đến sự sáng suốt. Tại sao không áp dụng như thế cho toàn thể đời sống cá nhân? Một người vẫn có thể hành xử đúng, đối đáp giỏi và đầy đủ đối với bất cứ gì xảy ra mà chẳng cần phải chuyên tâm chú ý. Khi khả năng kiểm soát chính mình trở thành bản tính thứ hai, tánh biết sẽ rời tiêu điểm của nó vào những bình diện sâu hơn của sự sống và hành động.
H: Thế không phải ông trở thành người máy?
M: Có hại gì khi tự động hóa những gì có tính cách thói quen và lập lại? Mặc dù là tự động, nhưng khi bị rối loạn, nó cũng gây đau đớn và khổ sở và kêu gọi sự chú ý. Toàn thể mục đích của một cuộc sống trong sạch và ngăn nắp là giải thoát con người khỏi sự khống chế của hỗn loạn và gánh nặng của đau khổ.
H: Ông có vẻ bênh vực một cuộc sống computer hóa.
M: Có gì sai với một cuộc sống không còn phiền trược? Tính cách con người đơn thuần chỉ là ảnh phản chiếu của cái chơn thật. Tại sao ảnh phản chiếu không trung thực với nguyên bản như một điều hiển nhiên, và tự động? Liệu con người cần phải có kiểu mẫu nào đó của riêng nó? Cuộc sống mà sự thể hiện của nó là con người sẽ hướng dẫn con người. Một khi nhận ra con người chỉ là cái bóng của thực tại mà không phải chính thực tại thì ông chẳng còn băn khoăn và lo lắng. Ông sẽ chấp thuận để được hướng dẫn từ bên trong, và đời sống trở thành một cuộc hành trình vào cái không thể biết.
CHƯƠNG 12. CÁI TỐI THƯỢNG, TÂM VÀ THÂN
Hỏi: Theo những gì ông nói thì hình như ông không ý thức rõ những gì xảy ra quanh ông. Nhưng theo chúng tôi thấy, ông có vẻ cực kỳ tỉnh thức và năng động. Chúng tôi không thể tin ông ở trong một tình trạng bị thôi miên, mất hết ký ức. Trái lại, trí nhớ của ông có vẻ còn xuất sắc. Chúng tôi phải hiểu thế nào về câu ông nói rằng thế giới và tất cả những gì nó dung chứa đều không tồn tại đối với ông.
Maharaj: Tất cả chỉ là tiêu điểm của sự chú ý. Tâm ông chú ý vào thế giới, tâm Ta chú ý vào thực tại. Cũng giống như mặt trăng giữa ban ngày - khi mặt trời chiếu sáng thì không thấy được mặt trăng. Hoặc, quan sát sự tiêu hóa thức ăn của ông. Bao giờ thức ăn còn trong miệng, ông còn biết; nhưng khi đã nuốt, ông đâu còn bận tâm đến nó. Nếu cứ luôn luôn nghĩ đến thức ăn cho đến khi nó được tiêu hóa hoàn toàn thì thật là phiền toái. Bình thường thì tâm phải ở trong tình trạng yên nghỉ - hoạt động không ngừng là một trạng thái bệnh hoạn của tâm. Vũ trụ hoạt động bởi chính nó - đó là điều Ta biết. Có gì khác mà Ta cần biết?
H: Như vậy chỉ khi nào chú tâm thì người giác ngộ biết mình đang làm gì, còn không thì người ấy chỉ hành động mà chẳng quan tâm.
M: Một người bình thường không ý thức về thân mình cũng như thế. Người giác ngộ ý thức về các cảm giác, cảm xúc và ý nghĩ của mình. Nhưng một khi người ấy xa lìa, thì chúng rời khỏi tâm điểm của ý thức một cách tự nhiên và dễ dàng.
H: Vậy lúc đó cái gì ở tâm điểm của ý thức?
M: Cái không thể đặt tên hay có hình tướng, vì nó không có một đặc tính nào và ở ngoài ý thức. Ông có thể gọi nó là một điểm trong ý thức, nhưng lại ở ngoài ý thức. Cũng như cái lỗ trên mặt một tờ giấy, nó vừa ở trong tờ giấy nhưng lại không thuộc về tờ giấy; trạng thái tối thượng ở ngay chính tâm điểm của ý thức nhưng lại ở ngoài ý thức. Cũng giống như có một khoảng trống trong tâm mà qua đó ánh sáng tràn ngập tâm. Khoảng trống không phải là ánh sáng. Nó chỉ là một khoảng trống.
H: Một khoảng trống thì chẳng có gì, và trống vắng.
M: Gần như thế. Theo cái nhìn của tâm, nó không gì khác hơn là một khoảng trống để ánh sáng của tánh biết tràn vào không gian của tâm. Tự thân ánh sáng có thể ví như một khối rắn chắc, đậm đặc, cứng như đá, thuần nhất và bất biến của tánh biết thuần túy, hoàn toàn không có những mô hình của tâm về danh xưng và hình tướng.
H: Có sự dung thông nào giữa không gian của tâm và cảnh giới Tối thượng?
M: Cái Tối thượng làm cho tâm tồn tại. Tâm làm cho thân tồn tại.
H: Thế cái gì ở bên ngoài?
M: Để ví dụ. Có một tôn giả Yogi, một bậc thầy về thuật trường sinh, đích thân đã sống trên một nghìn năm, đến truyền cho Ta thuật sống lâu. Dù rất tôn kính và thật tình khâm phục những chứng đắc của tôn giả, nhưng Ta chỉ có thể nói với vị đó rằng: sự trường thọ có ích lợi gì đối với Ta? Ta ở ngoài thời gian. Cuộc đời, dù trường thọ đến đâu, cũng chỉ là một khoảnh khắc, một giấc chiêm bao. Cũng như thế, Ta vượt ra ngoài mọi thuộc tính. Chúng xuất hiện và biến mất trong ánh sáng của Ta, nhưng chúng không thể mô tả Ta. Vũ trụ đầy những danh xưng và hình tướng dựa trên những đặc tính và sự khác biệt, còn Ta ở ngoài. Thế giới có đó vì có Ta, nhưng Ta không phải thế giới.
H: Nhưng ông đang sống trong thế giới!
M: Đó là ông nói! Ta biết có thế giới, thế giới đó bao gồm thân này và tâm này, nhưng Ta không xem chúng là “của Ta” và khác với những cái tâm và thân khác. Thân và tâm có đó, trong thời gian và không gian, còn Ta thì phi thời, phi xứ.
H: Vì tất cả đều tồn tại trong ánh sáng của ông, vậy không phải ông là đấng sáng tạo thế giới?
M: Ta không phải tiềm năng hay sự hiện thực hóa, mà cũng chẳng phải hiện thực của vạn vật. Trong ánh sáng của Ta mọi thứ đến và đi như những hạt bụi nhảy múa trong tia nắng. Ánh nắng chiếu sáng những hạt bụi, nhưng không tùy thuộc vào chúng. Không thể nói ánh nắng tạo ra chúng. Và cũng không thể nói là ánh nắng biết chúng.
H: Tôi hỏi ông một câu và ông đang trả lời. Ông có ý thức cả câu hỏi và câu trả lời?
M: Trong thực tế, Ta không nghe và cũng chẳng trả lời. Trong thế giới của các sự kiện, câu hỏi xảy ra và câu trả lời xảy ra. Không có gì xảy ra với Ta. Tất cả tự xảy ra.
H: Thế ông là nhân chứng?
M: Nhân chứng nghĩa là gì? Sự biết thuần túy. Lúc nãy trời mưa và bây giờ hết mưa. Ta không bị ướt. Ta biết trời đã mưa nhưng Ta không bị ảnh hưởng. Ta chỉ chứng kiến cơn mưa.
H: Một người hoàn toàn giác ngộ, tùy nghi hành xử trong trạng thái tối thượng, nhưng có vẻ ăn, uống và sinh hoạt như bình thường. Người giác ngộ có biết những chuyện đó hay không?
M: Cái mà trong đó ý thức diễn ra, dù là ý thức vũ trụ hay tâm, chúng ta gọi đó là cõi ý thức. Toàn thể các đối tượng của ý thức tạo ra vũ trụ. Cái siêu vượt cả hai, nhưng vẫn dung dưỡng cả hai, là trạng thái tối thượng, một trạng thái hoàn toàn tĩnh và lặng. Bất cứ ai vào đó cũng đều biến mất. Nó là cái không thể đạt đến bằng ngôn từ hay tâm. Ông có thể gọi cái đó là Thượng đế, là Parabrahman, hay Thực tại Tối thượng, nhưng tất cả chỉ là danh xưng cho tâm đặt ra. Nó là trạng thái không có tên gọi, không có nội dung, không cần cố gắng và tùy nghi, vượt ra khỏi hiện hữu và phi hiện hữu.
H: Thế một người ở trong đó vẫn ý thức?
M: Cũng như vũ trụ là thân của tâm, ý thức là thân của cái Tối thượng. Cái Tối thượng không ý thức nhưng ý thức từ đó khởi sinh.
H: Hầu hết các hành hoạt hàng ngày của tôi đều là thói quen và tự động. Tôi biết rõ mục đích tổng quát, nhưng không thể biết từng hành động một cách chi tiết. Khi ý thức của tôi trở nên rộng lên và sâu thêm, các chi tiết giảm đi, để tôi tự do với những khuynh hướng chung. Điều này cũng xảy ra với một người giác ngộ, hay còn hơn thế?
M: Trên bình diện ý thức - có. Trong trạng thái Tối thượng - không. Trạng thái này hoàn toàn là một duy nhất, không thể phân chia, nó là một khối kiên cố duy nhất của thực tại. Cách duy nhất để biết nó là là nó. Tâm không thể đạt đến nó. Để nhận thức được nó - không cần đến các giác quan. Để biết nó - không cần đến tâm.
H: Đó là cách Thượng đế vận hành thế giới.
M: Thượng đế chẳng hề vận hành thế giới.
H: Vậy ai làm chuyện đó?
M: Chẳng có ai cả. Tất cả đều tự diễn ra. Ông đặt câu hỏi và cũng chính ông đưa ra câu trả lời. Ông biết câu trả lời khi ông đặt câu hỏi. Tất cả chỉ là một vở kịch diễn ra trong ý thức. Mọi phân chia đều là hư giả. Ông chỉ có thể biết cái hư giả. Còn cái chơn thật thì chính ông phải là.
H: Có ý thức được chứng kiến và có ý thức chứng kiến. Ý thức chứng kiến có phải là cái tối thượng?
M: Có hai - con người và nhân chứng, hay người quan sát. Khi ông thấy hai là một, và vượt ra ngoài, thì lúc đó ông ở trong trạng thái tối thượng. Trạng thái đó không thể nhận thức được vì nó là cái làm cho nhận thức khả hữu. Nó ở ngoài hiện hữu và phi hiện hữu. Nó không phải là gương mà cũng chẳng phải là ảnh trong gương. Nó là cái đang là - thực tại vô thời, vô cùng rắn chắc và kiên cố.
H: Người giác ngộ là nhân chứng, hay là cái Tối thượng?
M: Dĩ nhiên là cái Tối thượng, nhưng còn có thể được xem như nhân chứng vũ trụ.
H: Nhưng người giác ngộ vẫn còn là một con người?
M: Khi ông tin rằng chính ông là một con người thì ông thấy con người ở bất cứ đâu. Trong thực tế, không hề có con người, mà chỉ có những xâu chuỗi của ký ức và thói quen. Ngay vào lúc giác ngộ, con người biến mất. Ý thức về cái Ta thì còn, nhưng ý thức về cái Ta thì không phải con người, nó sẵn có trong chính thực tại. Con người không có sự hiện hữu nào trong chính nó, con người chỉ là ảnh phản chiếu của nhân chứng trong tâm, tức cái “Ta hiện hữu” mà cái “Ta hiện hữu” lại là một cách hiện hữu.
H: Cái Tối thượng có ý thức không?
M: Chẳng hữu thức mà cũng chẳng vô thức. Ta nói với ông điều này từ kinh nghiệm.
H: Praganam Brahma. Cái Pragna này là gì?
M: Nó là cái biết vô ngã thức về chính cuộc sống.
H: Có phải nó là sức sống, năng lượng của cuộc sống, và sự sống?
M: Năng lượng có trước. Vì tất cả mọi vật đều là một hình thức của năng lượng. Ý thức được phân biệt rõ nhất trong trạng thái thức. Ít hơn trong khi chiêm bao. Rất ít trong khi ngủ. Thuần nhất - trong trạng thái thứ tư. Ra khỏi bốn trạng thái này là thực tại duy nhất bất khả phân và không thể diễn tả được, đây là trú xứ của người giác ngộ.
H: Tôi vừa bị đứt tay. Bây giờ đã lành. Năng lực nào đã làm cho tay tôi lành lại?
M: Năng lực của sự sống.
H: Cái gì là nguồn gốc của ý thức?
M: Tự thân ý thức là nguồn gốc của tất cả mọi thứ.
H: Liệu có thể có sự sống mà không có ý thức?
M: Không, cũng như không thể có ý thức mà không có sự sống. Cả hai là một. Nhưng trong thực tế chỉ có cái Tối Hậu hiện hữu. Những cái còn lại chỉ là danh xưng và hình tướng. Chừng nào ông còn bám víu vào ý tưởng cho rằng chỉ những gì có danh xưng và hình tướng tồn tại thì cái Tối thượng đối với ông không tồn tại. Khi ông hiểu ra rằng mọi danh xưng và hình tướng chỉ là những cái vỏ rỗng tuếch không có bất cứ gì bên trong, còn cái gì là thật thì không có danh xưng và cũng chẳng có hình tướng, là năng lượng thuần túy của sự sống, là ánh sáng của ý thức, thì lúc đó ông an lạc và chìm đắm trong sự im lặng sâu thẳm của thực tại.
H: Nếu thời gian và không gian đơn thuần chỉ là ảo ảnh, còn ông siêu vượt ra ngoài, xin vui lòng cho tôi biết thời tiết ở New York bây giờ ra sao. Bên đó trời đang nóng hay mưa?
M: Làm sao Ta có thể nói cho ông biết? Những chuyện như thế cần một sự luyện tập chuyên biệt. Hay là, chỉ việc bay sang New York. Ta biết chắc Ta ở ngoài không gian và thời gian, nhưng không thể xác định chính Ta như ý muốn vào một thời điểm nào đó của thời gian và không gian. Ta không mấy quan tâm đến những chuyện như thế, và cũng chẳng có ý định theo học một khóa luyện tập Yoga chuyên biệt nào cả. Ta chỉ mới nghe đến New York. Đối với Ta, đó chỉ là một từ ngữ. Việc gì Ta phải biết nhiều hơn những gì mà từ ngữ đó chuyên chở. Mỗi một nguyên tử có thể là một vũ trụ, và cũng phức tạp như vũ trụ của chúng ta. Ta có cần phải biết hết mọi nguyên tử không? Nếu luyện tập thì Ta có thể.
H: Khi đặt câu hỏi về thời tiết ở New York, tôi đã phạm sai lầm ở chỗ nào?
M: Thế giới và tâm đều là những trạng thái hiện hữu. Cái Tối thượng không phải là một trạng thái. Nó bao trùm tất cả các trạng thái, nhưng lại không phải là một trạng thái của một cái gì khác. Nó hoàn toàn phi nhân duyên, bất tùy thuộc, và tự viên mãn trong chính nó, nó siêu vượt thời gian và không gian, ở ngoài tâm và vật.
H: Ông nhận ra nó qua chỉ dấu nào?
M: Nó là một điểm không để lại dấu vết. Không có gì để qua đó nhận ra nó. Nó phải được thấy một cách trực tiếp, bằng cách từ bỏ mọi sự truy tìm dấu vết và lối vào. Khi tất cả danh xưng và hình tướng mất đi thì cái thật còn lại với ông. Ông chẳng cần phải tìm kiếm nó. Đa nguyên và đa dạng chỉ là vở kịch của tâm. Thực tại là Một duy nhất.
H: Nếu thực tại không để lại bằng chứng, thì không thể nói gì
về nó được.
M: Thực tại hiện hữu mà không thể bị bác bỏ. Thực tại thì sâu thẳm và đen tối, bí ẩn ngoài mọi bí ẩn, nhưng thực tại hiện hữu trong khi tất cả những cái khác chỉ xảy ra.
H: Có phải thực tại là cái Không Biết?
M: Nó ở ngoài cả hai, cái biết và cái không biết. Nhưng Ta có thể gọi nó là cái biết, hơn là cái không biết. Vì bất cứ khi nào một cái gì đó được biết, thì chỉ cái thật mới được biết.
H: Sự im lặng có phải là một thuộc tính của cái thật?
M: Cả nó cũng thuộc về tâm. Tất cả mọi trạng thái và điều kiện đều thuộc về tâm.
H: Cõi giới của Samadhi - định - là gì?
M: Không dùng đến ý thức là Samadhi. Ông chỉ cần mặc kệ tâm. Không mong cầu chi, chẳng phải nơi thân mà cũng chẳng phải nơi tâm.
CHƯƠNG 13. BIỂU HIỆN VÀ THỰC TẠI
Hỏi: Ông vẫn nói đi nói lại rằng các sự kiện đều không do nhân duyên sinh ra, một vật chỉ đơn thuần xảy ra và không thể gán cho nó một nguyên nhân nào. Theo tôi, chắc chắc mọi thứ đều do một, hay nhiều nhân duyên mà có. Làm sao tôi hiểu được tính phi nhân duyên của vạn vật?
Maharaj: Từ cái nhìn cao nhất, thế giới không do nhân duyên tạo ra.
H: Nhưng kinh nghiệm của riêng ông là gì?
M: Mọi thứ đều tự có. Thế giới không có nguyên nhân.
H: Tôi không hỏi về những nguyên nhân đã đưa đến sự hình thành thế giới. Ai là kẻ đã chứng kiến sự hình thành thế giới? Thậm chí nó có thể không có một sự khởi đầu mà luôn luôn tồn tại. Nhưng tôi không nói về thế giới. Tôi xem thế giới tồn tại - một cách nào đó. Nó dung chứa rất nhiều thứ. Chắc chắn mỗi thứ phải do một, hay nhiều nhân duyên mà nó.
M: Một khi tạo ra cho chính ông một thế giới trong không gian và thời gian, được điều hành bởi những tương quan nhân quả, thì ông buộc phải truy tìm và phát hiện nguyên nhân cho mọi thứ. Ông nêu câu hỏi và áp đặt câu trả lời.
H: Câu hỏi của tôi thật đơn giản: Tôi thấy đủ mọi thứ và tôi hiểu rằng mỗi thứ phải do một, hay nhiều nhân duyên tạo ra. Ông bảo chúng không do nhân duyên nào tạo ra - theo cái nhìn của ông. Đối với ông không gì có thực thể, và, do đó, câu hỏi về nhân duyên không được đặt ra. Ông có vẻ như thừa nhận sự tồn tại của vạn vật, nhưng phủ nhận nhân duyên tạo ra chúng. Đó là điều tôi không nắm bắt được. Một khi đã chấp nhận sự tồn tại của vạn vật, tại sao lại bác bỏ nguyên nhân tạo ra chúng?
M: Ta chỉ thấy có ý thức, và biết mọi thứ chỉ là ý thức, cũng như ông biết hình ảnh trên màn ảnh xinê không gì khác hơn là ánh sáng.
H: Tuy nhiên, những chuyển động của ánh sáng đều có nguyên nhân.
M: Ánh sáng không hề chuyển động. Ông biết rất rõ sự chuyển động chỉ là ảo giác, được tạo ra bởi một chuỗi liên tiếp những sự ngăn che ánh sáng và màu sắc trong phim. Cái chuyển động là phim - tức là tâm.
H: Điều này cũng không làm cho hình ảnh trở thành phi nhân duyên. Bộ phim có đó, cùng với các diễn viên, các chuyên viên kỹ thuật, đạo diễn, nhà sản xuất, và các xưởng chế tạo. Thế giới được điều hành bởi quy luật nhân quả. Tất cả mọi thứ đều tương quan liên kết.
M: Dĩ nhiên, mọi thứ đều tương quan liên kết. Và, do đó, mọi vật đều có vô số nguyên nhân. Toàn thể vũ trụ góp phần cho cái nhỏ nhặt nhất. Một vật hiện hữu như nó là, vì thế giới hiện hữu như nó là. Ông thấy không, ông chỉ quan tâm đến những món trang sức bằng vàng, còn Ta quan tâm đến vàng. Giữa những món trang sức khác nhau không hề có liên hệ nhân quả. Khi ông nấu chảy một món trang sức để làm thành món khác, không hề có liên hệ nhân quả giữa hai món. Yếu tố chung là vàng. Nhưng ông không thể nói vàng là nguyên nhân. Vàng không thể được gọi là nguyên nhân, vì tự thân vàng chẳng chẳng tạo ra món trang sức nào. Nó được phản chiếu trong tâm thành cái “Ta hiện hữu” như tên gọi và hình dáng riêng của món trang sức. Nhưng tất cả đều là vàng. Cũng cách đó, thực tại làm cho mọi vật khả hữu, nhưng không có gì làm cho một vật như nó là, danh xưng và hình tướng của nó từ thực tại mà ra.
Nhưng tại sao lại quá câu nệ nguyên nhân? Nguyên nhân có gì là quan trọng khi tự thân vạn vật là vô thường? Hãy để cái gì đến cứ đến, và cái gì đi cứ đi, tại sao nắm giữ chúng lại để truy tìm nguyên nhân?
H: Theo cái nhìn tương đối, mọi thứ phải có một nguyên nhân.
M: Cái nhìn tương đối có ích lợi gì cho ông? Ông có thể nhìn từ cái nhìn tuyệt đối - tại sao lại trở về với cái tương đối? Ông sợ cái tuyệt đối?
H: Tôi sợ. Tôi sợ ngủ quên với những cái gọi là tất định tuyệt đối. Để sống một cuộc sống chừng mực, những cái tuyệt đối chẳng giúp ích gì. Khi cần một cái áo, ông mua vải rồi thuê một người may, vân vân.
M: Tất cả những gì nói ra chứng tỏ là vô minh.
H: Vậy quan điểm của bậc giác ngộ là gì?
M: Chỉ có ánh sáng và ánh sáng là tất cả. Tất cả những gì khác chỉ là một bức tranh được tạo ra bằng ánh sáng. Bức tranh ở trong ánh sáng và ánh sáng ở trong bức tranh. Sống và chết, ngã và phi ngã - hãy buông bỏ tất cả những ý tưởng này. Chúng chẳng ích lợi gì cho ông.
H: Từ quan điểm nào mà ông bác bỏ quy luật tương quan nhân quả? Từ cái nhìn tương đối - vũ trụ là nguyên nhân của mọi vật. Từ cái nhìn tuyệt đối - hoàn toàn không có vật.
M: Ông hỏi từ trạng thái nào?
H: Từ trạng thái thức hàng ngày, chỉ trong trạng thái đó những cuộc thảo luận như thế này mới xảy ra.
M: Trong trạng thái thức tất cả mọi vấn đề nảy sinh, vì bản chất của nó là như thế. Nhưng không phải lúc nào ông cũng ở trong trạng thái đó. Ông làm được cái gì tốt đẹp trong một trạng thái mà ông rơi vào và từ đó ông trồi lên một cách vô vọng. Biết được vạn vật có tương quan nhân quả - như chúng xuất hiện trong trạng thái thức của ông - giúp ích gì cho ông?
H: Thế giới nổi lên và chìm xuống cùng với trạng thái thức.
M: Khi tâm tịnh và tuyệt đối im lặng, trạng thái thức không còn nữa.
H: Những từ ngữ như Thượng đế, vũ trụ, cái toàn thể, cái tuyệt đối, cái Tối thượng chỉ là những tiếng ồn trong không khí, vì chẳng có thể làm gì được chúng.
M: Ông đưa ra những câu hỏi mà chỉ ông mới có thể trả lời.
H: Đừng gạt phắt tôi đi như thế! Ông thật nhạy miệng biện hộ cho cái toàn thể, cho vũ trụ và những thứ tưởng tượng! Những thứ đó không thể đến đây ngăn cấm ông nhân danh chúng thuyết giảng. Tôi ghét những luận điệu chung chung vô trách nhiệm đó! Và ông có khuynh hướng nhận chúng là của ông. Nếu không có tương quan nhân quả thì không thể có sự ổn định, không thể có những hành động có mục đích nào.
M: Ông muốn biết tất cả nguyên nhân của mỗi một sự kiện. Điều ấy có thể được chăng?
H: Tôi biết là không thể được! Tôi chỉ muốn biết là liệu có nguyên nhân cho mọi vật không và liệu có thể nào tác động vào nguyên nhân, do đó thay đổi được sự kiện?
M: Để thay đổi sự kiện, việc gì ông phải cần biết đến nguyên nhân. Thật là một cách giải quyết vòng vo! Thế không phải ông là nguồn gốc và cũng là sự kết thúc của mọi sự kiện? Tác động vào sự kiện ngay tại nguồn gốc của nó.
H: Sáng nào cầm báo lên đọc tôi cũng đều bàng hoàng về những nỗi thống khổ của thế giới - nghèo đói, hận thù và chiến tranh - tiếp tục không ngớt. Câu hỏi của tôi liên quan đến thực tế đau khổ, nguyên nhân và phương cách chữa trị. Đừng gạt phắt tôi đi, bảo rằng đó là chuyện Phật giáo! Đừng gắn cho tôi một nhãn hiệu nào. Sự khăng khăng của ông về tính cách phi nhân duyên làm mất đi tất cả hy vọng của một thế giới luôn luôn thay đổi.
M: Ông bối rối, vì ông tin rằng ông ở trong thế giới, chứ không phải thế giới ở trong ông. Ai sinh ra trước - ông hay cha mẹ ông? Ông tưởng tượng rằng ông được sinh ra vào một thời điểm nào đó và ở một nơi chốn nào đó, rằng ông có một ông bố và có một người mẹ, một cái thân và một cái tên. Đó là lỗi lầm và cũng là tai họa của ông! Chắc chắn ông có thể thay đổi thế giới của ông nếu ông hành động. Bằng mọi cách, hành động. Ai ngăn cản ông? Ta chưa bao giờ ngăn cản ông. Có nguyên nhân hay không có nguyên nhân, ông đã tạo ra thế giới này thì ông có thể thay đổi nó.
H: Một thế giới không do nhân duyên tạo ra thì hoàn toàn ngoài sự kiểm soát của tôi.
M: Trái lại, một thế giới mà ông là nguồn gốc và cũng là nền tảng của nó thì hoàn toàn ở trong quyền năng thay đổi của ông. Cái gì được tạo ra đều luôn luôn có thể bị hủy diệt và được tái tạo. Tất cả sẽ đều xảy ra như ông muốn, với điều kiện là ông thật sự muốn nó xảy ra.
H: Tất cả những gì tôi muốn biết là làm thế nào để giải quyết những đau khổ của thế giới?
M: Ông đã tạo ra chúng từ những tham ái và lo sợ của chính ông, thì ông giải quyết chúng. Tất cả chỉ vì ông đã quên mất sự hiện hữu của chính ông. Cho chuyện phim trên màn ảnh là thực tại, rồi ông yêu những người trong phim, ông đau khổ cho họ và tìm cách cứu họ. Không phải như thế. Ông phải bắt đầu với chính ông. Không có cách nào khác. Dĩ nhiên là hành động. Chẳng có hại gì khi hành động.
H: Vũ trụ của ông hình như dung chứa mọi kinh nghiệm có
thể xảy ra. Một người tìm đường đi xuyên qua nó và kinh nghiệm những trạng thái thích thú cũng như khó chịu. Điều này gây nên những thắc mắc và tìm hiểu, làm mở rộng tầm nhìn và giúp cho người đó vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ hẹp và tự tạo, hữu hạn và hướng ngã của hắn. Cái thế giới riêng tư này có thể thay đổi theo thời gian. Còn vũ trụ thì vô thời và toàn hảo.
M: Nhận biểu hiện là thực tại là một lỗi lầm nghiêm trọng và là nguồn gốc của mọi tai họa. Ông là tánh biết trùm khắp, vĩnh cửu và sáng tạo vô biên - là ý thức. Tất cả những cái khác chỉ là cục bộ và nhất thời. Đừng quên cái mà ông là. Trước mắt, hành động theo những gì chất chứa trong tim ông. Hành động phải đi cùng với hiểu biết.
H: Tôi có cảm tưởng rằng sự phát triển tâm linh của tôi không do tôi định đoạt. Vạch ra những dự tính của chính mình rồi thực hiện chúng chẳng đưa đi đến đâu. Tôi chỉ chạy quanh chính mình. Khi Thượng đế xét rằng một trái cây đã chín, Ngài hái nó và ăn. Bất cứ trái nào Ngài thấy còn xanh thì vẫn tiếp tục ở trên cành cây của thế giới thêm một ngày nữa.
M: Ngay cả thế giới Thượng đế còn không biết. Ông nghĩ là Thượng đế biết đến ông?
H: Thượng đế của ông khác. Thượng đế của tôi khác. Thượng đế của tôi nhân từ hơn, Ngài đau khổ cùng với chúng tôi.
M: Ông cầu nguyện để cứu một người trong khi cả ngàn người chết. Nếu tất cả mọi người không chết thì sẽ chẳng còn chỗ trên thế gian này.
H: Tôi không sợ chết. Mối quan tâm của tôi là phiền não và đau khổ. Thượng đế của tôi chỉ là một thần linh chất phác và chẳng giúp ích được gì. Ngài chẳng có quyền phép bắt chúng tôi khôn ngoan mà chỉ biết đứng chờ.
M: Nếu cả ông lẫn Thượng đế của ông đều vô phương, thế không phải điều đó hàm ý là thế giới này ngẫu nhiên mà có? Và nếu đúng như thế, điều duy nhất ông có thể làm là vượt ra khỏi nó.
CHƯƠNG 14. GRANI - BẬC GIÁC NGỘ
Hỏi: Nếu không có quyền năng của Thượng đế thì không gì có thể được thực hiện. Ngay cả ông cũng không thể ngồi đây nói chuyện với chúng tôi mà không có Ngài.
Maharaj: Tất cả đều do Ngài làm ra, chẳng có gì nghi hoặc. Nhưng Ta chẳng mong cầu chi thì điều đó có nghĩa gì đối với Ta? Thượng đế có thể ban phát, hay tước đoạt của Ta cái gì? Cái của Ta là của Ta và đã là của Ta ngay từ khi không có Thượng đế. Dĩ nhiên, nó chỉ là một cái gì vô cùng nhỏ bé, một đốm nhỏ - ý thức “Ta hiện hữu”, thực tế của sự hiện hữu. Đây là nơi chỗ của chính Ta, mà không phải do ai ban phát. Trái đất này là của Ta, cái gì mọc trên đó là của Thượng đế.
H: Thế Thượng đế thuê lại của ông trái đất này?
M: Thượng đế là người sùng kính Ta và đã làm tất cả những điều đó cho Ta.
H: Lìa ông ra thì không có Thượng đế?
M: Làm sao có thể có Thượng đế mà không có Ta? “Ta hiện hữu” là gốc, Thượng đế là cây. Việc gì Ta phải sùng kính ai, và để làm gì?
H: Ông là người sùng kính hay là đối tượng của sự sùng kính?
M: Ta không phải cả hai. Ta chính là sự sùng kính.
H: Không có đủ sự sùng kính trên thế gian này.
M: Ông luôn luôn theo đuổi ý định làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Ông thực sự tin tưởng rằng thế giới đang chờ để được ông cứu vớt?
H: Tôi không biết tôi có thể làm được bao nhiêu cho thế giới. Tất cả tôi có thể làm là cố gắng. Ông còn muốn tôi làm điều gì khác?
M: Không có ông, liệu có thế giới? Ông biết tất cả về thế giới, nhưng còn chính ông thì ông chẳng biết gì. Ông chính là dụng cụ cho việc làm của ông, ông chẳng có dụng cụ nào khác. Tại sao ông không quan tâm đến dụng cụ trước khi nghĩ đến việc làm của ông?
H: Tôi có thể chờ, còn thế giới thì không thể chờ đợi.
M: Vì không tìm hiểu, ông để thế giới chờ đợi.
H: Chờ đợi cái gì?
M: Một ai đó có thể cứu vớt nó.
H: Thượng đế điều khiển thế giới, Thượng đế sẽ cứu vớt thế giới.
M: Đó là ông nói! Thế Thượng đế có đến bảo ông rằng thế giới do Ngài sáng tạo nên là mối quan tâm của Ngài, chứ không phải của ông?
H: Tại sao đó lại là sự quan tâm của riêng tôi?
M: Thử nghĩ xem. Thế giới mà trong đó ông sống, có ai khác biết về nó?
H: Ông biết, mọi người biết.
M: Có ai từ bên ngoài thế giới của ông đến nói với ông điều đó không? Ta và mọi người khác xuất hiện và biến mất trong thế giới của ông. Ta và họ đều trong quyền định đoạt của ông.
H: Làm gì đến nỗi như thế! Tôi tồn tại trong thế giới của ông cũng như ông tồn tại trong thế giới của tôi.
M: Ông chẳng có bằng chứng nào về thế giới của Ta. Ông hoàn toàn bị giấu kín trong cái thế giới của chính ông tạo ra.
H: Tôi biết. Hoàn toàn, nhưng có vô vọng không?
M: Trong cái thế giới nhà tù của ông xuất hiện một người, người đó bảo ông rằng cái thế giới của những mâu thuẫn đầy đau đớn mà ông đã tạo ra - không tiếp tục và cũng chẳng thường hằng - cái thế giới đó dựa trên những thấy biết sai lầm. Người đó khẩn thiết bảo ông thoát ra - cũng bằng cách mà ông đã đi vào thế giới ấy. Vì quên mất cái ông là nên ông đã đi vào thế giới ấy, và ông chỉ có thể thoát ra bằng cách biết chính ông như ông là.
H: Làm như thế sẽ tác động gì đến thế giới?
M: Khi thoát ra khỏi thế giới thì ông mới có thể làm một cái gì đó cho thế giới. Chừng nào còn là tù nhân của nó thì không có cách gì ông thay đổi nó. Trái lại, bất cứ gì ông hành động chỉ làm cho tình thế tồi tệ hơn.
H: Hành động đúng sẽ giải thoát tôi.
M: Hành động đúng chắc chắn sẽ làm cho ông và thế giới của ông là một nơi dễ chịu, và thậm chí còn hạnh phúc. Nhưng có ích lợi gì? Thế giới đó không có thực thể. Nó không thể tồn tại lâu dài.
H: Thượng đế sẽ cứu giúp.
M: Muốn cứu giúp ông Thượng đế phải biết sự tồn tại của ông. Nhưng cả ông lẫn thế giới của ông đều là những trạng thái chiêm bao. Trong chiêm bao có thể ông đau khổ. Nhưng không ai biết sự đau khổ của ông, vì thế chẳng ai có thể cứu giúp ông.
H: Như vậy tất cả những thắc mắc, tìm tòi và nghiên cứu của tôi chẳng ích lợi gì?
M: Đó chỉ là những cọ quậy của một người đã chán không muốn ngủ nữa. Chúng không phải là những nguyên nhân của sự tỉnh thức, mà chỉ là những dấu hiệu ban đầu. Tuy nhiên, ông đừng hỏi những câu vu vơ mà ông đã biết trước câu trả lời.
H: Làm sao tôi tìm được một câu trả lời đích thực?
M: Bằng cách đặt câu hỏi đích thực - không bằng lời lẽ suông, mà bằng sự can đảm dám sống theo sự hiểu biết của ông. Một người sẵn sàng chết cho chân lý sẽ đạt được chân lý.
H: Một câu hỏi khác. Có con người. Có người biết con người. Có nhân chứng. Người biết và nhân chứng là một, hay là hai trạng thái khác biệt?
M: Người biết và nhân chứng là hai hay một? Khi người biết được xem như tách biệt với cái bị biết, thì nhân chứng đứng một mình. Khi cái bị biết và người biết được xem là một, nhân chứng trở thành một với người biết và cái bị biết.
H: Ai là bậc giác ngộ - Gnani? Nhân chứng hay cái Tối thượng?
M: Gnani là cái Tối thượng và cũng là nhân chứng. Gnani vừa là hiện hữu vừa là tánh biết. Trong tương quan với ý thức Gnani là tánh biết. Trong tương quan với vũ trụ Gnani là sự hiện hữu thuần túy.
H: Thế còn con người? Ai có trước, con người hay người biết?
M: Con người chỉ là một vật rất nhỏ bé. Thực ra con người là một sự cấu thành, không thể nói con người tự tồn tại. Nếu không được nhận thức, con người không có đó. Con người chỉ là cái bóng của tâm, tổng hợp của vô số ký ức. Hiện hữu thuần túy - được phản ánh trong tấm gương của tâm - là trạng thái biết. Cái bị biết hình thành con người, dựa trên ký ức và thói quen. Con người chỉ là một cái bóng, hay một phóng ảnh của người biết lên màn ảnh của tâm.
H: Tấm gương có đó, ảnh phản chiếu có đó. Nhưng mặt trời ở đâu?
M: Cái Tối thượng là mặt trời.
H: Cái Tối thượng phải ý thức.
M: Cái Tối thượng không ý thức mà cũng chẳng vô thức. Đừng nghĩ về nó theo quan điểm ý thức hay vô thức. Nó là sự sống, dung chứa cả hai và siêu vượt cả hai.
H: Sự sống vô cùng trí tuệ. Làm sao nó có thể vô thức?
M: Ông chỉ nói đến vô thức khi nào có sự gián đoạn trong ký ức. Trong thực tế chỉ có ý thức. Toàn thể sự sống là ý thức, toàn thể ý thức - là sống.
H: Ngay cả đá?
M: Ngay cả đá cũng ý thức và sống.
H: Mối lo ngại của tôi là tôi có khuynh hướng phủ nhận sự tồn tại của những gì tôi không tưởng tượng ra được.
M: Nếu khôn ngoan hơn thì ông nên phủ nhận sự tồn tại của những gì ông tưởng tượng. Chính cái được tưởng tượng là cái không thật.
H: Liệu tất cả những gì có thể tưởng tượng được đều không thật?
M: Tưởng tượng dựa trên ký ức thì không thật. Tương lai không phải hoàn toàn là không thật.
H: Phần nào của tương lai là thật, phần nào không?
M: Cái không được mong đợi và cái không thể đoán trước là thật.
CHƯƠNG 15. VÔ THAM ÁI LÀ CỰC LẠC
Hỏi: Tôi đã gặp rất nhiều người giác ngộ, nhưng chưa bao giờ gặp một người giải thoát. Ông đã gặp người nào giải thoát chưa, hay giải thoát có nghĩa - trong những phương cách của nó - là từ bỏ thân xác
Maharaj: Ông hiểu thế nào là giác ngộ và giải thoát?
H: Giác ngộ có nghĩa là một kinh nghiệm tuyệt vời của an lạc, thiện và mỹ, khi thế giới có ý nghĩa, và có một sự hợp nhất bao trùm tất cả bản chất lẫn tánh thể. Một kinh nghiệm như thế dù không dài lâu, nhưng không thể quên được. Nó chiếu sáng trong tâm, vừa như ký ức vừa như mong đợi. Tôi biết điều tôi đang nói vì tôi đã từng trải qua những kinh nghiệm như thế.
Còn giải thoát theo tôi có nghĩa là thường xuyên ở trong trạng thái tuyệt vời đó. Điều tôi muốn hỏi là liệu giải thoát có tương hợp với sự sống lâu của thân xác?
M: Có gì không ổn với thân xác?
H: Thân xác thì quá yếu đuối và ngắn ngủi. Nó tạo ra những đòi hỏi và thèm khát. Nó giới hạn con người một cách trầm trọng.
M: Thì đã sao? Cứ mặc kệ những thể hiện vật lý hữu hạn. Còn giải thoát là đem cái Ta khỏi những ý nghĩ sai lầm và tự áp đặt; giải thoát không phải là nội dung của một kinh nghiệm riêng biệt nào đó, dù huy hoàng đến đâu.
H: Giải thoát có tồn tại mãi?
M: Tất cả kinh nghiệm đều bị rang buộc bởi thời gian. Bất cứ gì có một khởi đầu đều phải có một kết thúc.
H: Như vậy giải thoát, theo ý nghĩa từ ngữ của tôi, không tồn tại?
M: Trái lại, một người luôn luôn tự do. Ông vừa ý thức vừa tự do ý thức. Không ai có thể tước đoạt của ông. Có bao giờ ông biết chính ông không tồn tại, hoặc vô thức?
H: Tôi không thể nhớ, những điều đó không bác bỏ thực tế là có những lúc tôi vô thức.
M: Tại sao ông không từ bỏ kinh nghiệm để quay sang người kinh nghiệm, và nhận ra tất cả ý nghĩa của chân ngôn duy nhất: “Ta hiện hữu”?
H: Làm sao thực hiện được điều đó?
M: Không có “làm sao” ở đây. Chỉ cần giữ trong tâm cảm giác “Ta hiện hữu”, nhập vào nó, cho đến khi tâm ông và cảm giác trở nên một. Bằng những cố gắng lập đi lập lại ông sẽ ngẫu nhiên đạt được sự quân bình đúng mức giữa chú ý và cảm xúc, và tâm ông sẽ được dựng lập một cách kiên cố trong cái ý-nghĩ-và-cảmgiác “Ta hiện hữu”. Dù ông nghĩ gì, nói gì hay làm gì thì ý thức về sự hiện hữu bất di bất dịch và thân thiết này luôn luôn hiện diện như hậu cảnh của tâm.
H: Và ông gọi đó là giải thoát?
M: Ta gọi đó là bình thường. Có gì không đúng khi hiện hữu, biết và hành động một cách vui sướng mà chẳng cần phải cố gắng? Tại sao lại cho đó là điều bất thường để muốn hủy diệt thân xác ngay lập tức. Có gì không phải với cái thân xác mà cuối cùng nó sẽ chết đi? Hãy sửa lại thái độ của ông đối với thân xác của ông, và cứ để kệ nó. Đừng nuông chiều và cũng đừng hành hạ thân xác. Cứ để nó hành hoạt trong hầu hết mọi lúc dưới ngưỡng của sự chú ý hữu thức.
H: Ký ức của những kinh nghiệm tuyệt vời cứ ám ảnh tôi. Tôi muốn chúng trở lại.
M: Vì muốn chúng trở lại nên ông không thể có chúng. Trạng thái khao khát sẽ ngăn chặn những kinh nghiệm sâu sắc hơn.
Không gì có giá trị lại xảy ra với một cái tâm biết chính xác cái nó mong cầu. Vì không gì mà tâm có thể hình dung được và mong cầu lại có giá trị.
H: Thế thì có gì đáng mong cầu?
M: Mong cầu cái Tối thượng. Hạnh phúc tối thượng, tự do vô biên. Vô tham ái là cực lạc.
H: Tự do vô tham ái không phải thứ tự do mà tôi muốn. Tôi muốn tự do thỏa mãn mọi mong cầu của tôi.
M: Ông hoàn toàn tự do thỏa mãn mọi mong cầu của ông. Thật ra, ông chẳng làm gì khác.
H: Tôi thử rồi, nhưng có những chướng ngại làm cho tôi nản lòng.
M: Khắc phục chúng.
H: Không được, tôi quá nhu nhược.
M: Cái gì làm cho ông nhu nhược? Cái gì là sự yếu đuối? Nhiều người thực hiện được những mong muốn của họ, tại sao ông lại không?
H: Chắc là tôi thiếu năng lực.
M: Chuyện gì xảy ra với năng lực của ông? Nó tiêu tán đi đâu? Thế không phải ông đã phung phí nó cho quá nhiều ham muốn và theo đuổi đầy mâu thuẫn. Ông không thể có một nguồn năng lượng vô tận.
H: Tại sao lại không?
M: Mục đích của ông thì nhỏ bé và thấp kém. Chúng không đòi hỏi nhiều. Chỉ có năng lực của Thượng đế là vô tận vì Thượng đế không ham muốn gì cho chính Ngài. Hãy giống như Ngài rồi tất cả những mong muốn của ông sẽ được thực hiện. Mục đích của ông càng cao, mong muốn của ông càng lớn thì ông càng có nhiều năng lực để thực hiện chúng. Mong muốn những điều tốt lành cho mọi người thì vũ trụ sẽ hành động với ông. Nhưng nếu chỉ mong cầu lạc thú riêng tư thì ông phải kiếm nó một cách nhọc nhằn.
Trước khi mong muốn, hãy tỏ ra xứng đáng.
H: Tôi đang học triết học, xã hội học và giáo dục. Tôi nghĩ rằng cần phải phát triển thêm tâm thức trước khi mơ tưởng đến sự giác ngộ chính mình. Tôi có đi đúng đường không?
M: Để kiếm sống thì cần phải có một kiến thức chuyên biệt nào đó. Hiển nhiên kiến thức tổng quát phát triển tâm thức. Nhưng nếu suốt đời gom góp kiến thức thì ông chỉ dựng lên một bức tường quanh ông. Để vượt ra khỏi tâm, không cần phải có một cái tâm được trang bị tốt.
H: Vậy cái gì là cần thiết?
M: Đừng tin vào tâm, và ra khỏi tâm.
H: Tôi sẽ tìm thấy gì bên ngoài tâm?
M: Kinh nghiệm trực tiếp về hiện hữu, biết và tình yêu.
H: Làm sao một người vượt ra khỏi tâm?
M: Có nhiều điểm khởi đầu - chúng đều dẫn đến cùng một đích. Ông có thể bắt đầu với những việc làm vô vị kỷ, không màng đến kết quả của hành động; rồi ông có thể buông bỏ mọi ý nghĩ và kết thúc bằng buông bỏ mọi tham ái. Ở đây, buông bỏ là yếu tố chủ động. Hoặc ông chẳng cần bận tâm đến bất cứ gì ông mong cầu, suy nghĩ, hay hành động, mà chỉ an trú trong ý-nghĩ-và-cảm-giác “Ta hiện hữu”, tâm kiên trì chú ý cái “Ta hiện hữu”. Đủ mọi loại kinh nghiệm sẽ xảy đến với ông, nhưng hãy tuyệt nhiên bất động trong sự hiểu biết rằng tất cả những gì có thể nhận thức được đều biến dịch, chỉ cái “Ta hiện hữu” mới bất biến.
H: Tôi không thể dành trọn đời cho những tu tập như thế. Tôi còn có những nhiệm vụ khác phải làm.
M: Bằng mọi cách cứ làm các nhiệm vụ của ông. Hành động - mà ông không can dự vì cảm xúc, đem lại lợi lạc và không gây đau khổ - sẽ không trói buộc được ông. Ông có thể tham dự vào những phương hướng khác nhau, hành động vô cùng hăng say, nhưng bên trong vẫn tự do và tĩnh lặng, với một cái tâm trong như mặt gương, phản chiếu tất cả mà không hề bị tác động.
H: Liệu một trạng thái như thế có thể thực hiện được không?
M: Nếu không được thì Ta đã không nói. Việc gì Ta lại can dự vào những điều hoang tưởng?
H: Mọi người đều viện dẫn kinh điển.
M: Những người chỉ biết kinh điển thì chẳng biết gì. Biết là hiện hữu. Ta biết Ta đang nói gì, cái Ta nói không qua đọc sách hay nghe nói mà biết.
H: Tôi đang học Phạn ngữ dưới sự chỉ dẫn của một giáo sư, nhưng thật ra tôi chỉ đọc kinh sách. Tôi đi tìm sự giác ngộ chính mình, và đến đây để mong được chỉ giáo. Làm ơn cho tôi biết tôi phải làm gì?
M: Ông đã từng đọc kinh sách, vậy hỏi Ta làm gì?
H: Kinh sách chỉ cho biết những đường hướng tổng quát, một người cần những chỉ giáo riêng.
M: Cái Ta của ông là đạo sư tối hậu của ông - Sadguru. Đạo sư bên ngoài - Guru - chỉ là phương tiện chỉ đường. Chỉ có đạo sư bên trong của ông mới đi cùng với ông đến đích, vì ông ta là đích đến.
H: Tìm đến với đạo sư bên trong không phải là chuyện dễ dàng.
M: Vì Đạo sư ở trong ông và ở cùng với ông, nên sự khó khăn không phải là nghiêm trọng. Hãy nhìn vào bên trong và ông sẽ tìm thấy vị Đạo sư.
H: Khi nhìn vào trong tôi chỉ thấy các cảm giác và nhận thức, ý nghĩ và cảm thọ, tham ái và lo sợ, ký ức và chờ mong. Tôi bị chìm đắm trong đám mây đó và chẳng thấy gì khác.
M: Cái thấy được những cái ông nói, và thấy được cả cái không - chính là vị đạo sư bên trong của ông. Chỉ có vị đạo sư hiện hữu, tất cả những cái khác chỉ có vẻ như hiện hữu. Đạo sư là cái Ta của chính ông - Swarupa - là niềm hy vọng và cũng là sự bảo đảm đem lại tự do của chính ông. Hãy tìm ra vị Đạo sư và bám chặt lấy ông ta, ông sẽ được cứu độ và an toàn.
H: Tôi hoàn toàn tin ông, nhưng khi thực sự đi tìm cái Ta bên trong, tôi thấy nó lẩn trốn tôi.
M: Cái ý nghĩ “nó lẩn trốn tôi” sinh khởi từ đâu?
H: Trong tâm.
M: Ai là kẻ biết tâm?
H: Nhân chứng của tâm biết tâm.
M: Có kẻ nào đến bảo ông rằng: “Ta là nhân chứng của tâm ông” không?
H: Dĩ nhiên là không. Nếu có thì kẻ đó chỉ là một ý nghĩ khác trong tâm.
M: Vậy ai là nhân chứng?
H: Tôi.
M: Như thế, ông biết nhân chứng vì chính ông là nhân chứng. Ông chẳng cần nhìn thấy nhân chứng trước mặt ông. Một lần nữa, nên nhớ rằng: hiện hữu là biết.
H: Vâng, tôi thấy rằng tôi là nhân chứng, là tự thân tánh biết. Nhưng điều đó có lợi lạc gì cho tôi?
M: Thật là một câu hỏi ngớ ngẩn! Ông chờ mong lợi lạc gì?
Biết được cái ông là chưa đủ lợi lạc hay sao?
H: Những công năng của sự biết chính mình là gì?
M: Nó giúp ông hiểu được cái mà ông không là, và đoạn trừ mọi tà kiến, tham ái và hành động sai lầm của ông.
H: Nếu tôi chỉ là nhân chứng thì đúng và sai có gì quan trong?
M: Cái gì giúp cho ông biết chính ông là cái đúng. Cái gì ngăn trở là sai. Biết được cái Ta thật của chính mình là hỷ lạc, quên mất nó là đau khổ.
H: Có phải ý thức nhân chứng là cái Ta thật?
M: Nó là ảnh phản chiếu của cái thật trong tâm - Buddhi. Cái thật ở ngoài. Nhân chứng là cánh cửa mà qua đó ông đi ra ngoài.
H: Mục đích của thiền là gì?
M: Thấy cái giả là giả, đó là thiền. Điều này phải xảy ra trong mọi lúc.
H: Chúng tôi được chỉ dạy phải thường xuyên hành thiền.
M: Chủ định hằng ngày thực tập phân biệt giữa cái thật và cái giả, là hành thiền. Khởi sự thì có nhiều loại thiền, nhưng cuối cùng tất cả sẽ hội nhập làm một.
H: Vui lòng cho tôi biết con đường nào ngắn nhất đưa đến sự giác ngộ chính mình?
M: Chẳng có con đường nào dài và cũng chẳng có con đường nào ngắn, chỉ có người nhiều nhiệt tâm hay ít nhiệt tâm. Để Ta cho ông biết về trường hợp của Ta. Ta chỉ là một người chân phương, và tuyệt đối tin tưởng Tôn sư. Điều Tôn sư bảo Ta làm, Ta đã làm theo. Tôn sư bảo Ta tập trung vào cái “Ta hiện hữu”, Ta đã làm như thế. Tôn sư bảo Ta ở ngoài tất cả những gì có thể nhận thức được và nghĩ tưởng được, Ta tin theo. Ta trao trọn cho Tôn sư trái tim và tâm hồn, tất cả sự chú ý và thời gian rãnh rỗi (Ta còn phải làm việc để nuôi sống gia đình). Kết quả của tín tâm và sự thành khẩn thực hành, trong vòng ba năm Ta đã giác ngộ cái Ta - swarupa - của Ta.
Ông có thể chọn bất cứ cách nào thích hợp với ông; lòng thành khẩn sẽ quyết định tiến độ của ông.
H: Không có một gợi ý riêng nào cho tôi?
M: Kiên cố an định chính ông trong cái biết “Ta hiện hữu”. Đây là sự khởi đầu và cũng là sự kết thúc của tất cả mọi tinh tấn.
CHƯƠNG 16. HIỆN TẠI THƯỜNG HẰNG
Hỏi: Những năng lực cao nhất của tâm là hiểu, trí tuệ và sự sáng suốt. Con người có ba thân - thân vật lý, thân tâm lý và thân nhân quả - Prana, Mana, Karana. Thân vật lý phản ảnh sự hiện hữu của con người; thân tâm lý phản ảnh sự hiểu biết, và thân nhân quả phản ánh tính sáng tạo vui tươi. Dĩ nhiên tất cả đều là những hình tướng trong ý thức. Nhưng chúng có vẻ tách rời nhau, với những tính chất riêng. Trí tuệ - Buddhi - là sự phản chiếu của khả năng biết - Chit - lên tâm. Nó chính là cái làm cho tâm hiểu biết. Trí tuệ càng sáng suốt thì sự hiểu biết càng rộng, càng sâu, và càng đúng thật Biết vạn vật, biết con người và biết chính mình đều là các chức năng của trí tuệ - biết chính mình là quan trọng nhất và bao gồm hai cái kia. Hiểu sai chính mình và hiểu sai thế giới sẽ đưa đến tà kiến và tham ái - là những thứ đưa đến ràng buộc. Hiểu biết đúng đắn về chính mình là cần thiết để thoát khỏi ràng buộc của những cái hư giả. Về lý thuyết, tôi hiểu tất cả những điều đó, nhưng khi thực hành tôi thấy mình thất bại một cách vô vọng trong các ứng xử với tình huống và con người, rồi tôi cộng thêm những phản ứng không đúng đó vào sự ràng buộc. Cuộc sống thì quá nhanh chóng đối với cái tâm u mê và trì trệ của tôi. Tôi hiểu nhưng quá trễ, khi những lỗi lầm cũ cứ tiếp tục lập lại.
Maharaj: Vậy cái gì là nan đề của ông?
H: Tôi cần một phản ứng với cuộc sống, không những thông minh mà còn nhanh nhạy. Một phản ứng không thể nhanh nhạy nếu nó không hoàn toàn tùy nghi.Làm sao tôi có thể đạt đến một sự tùy nghi như thế?
M: Tấm gương không thể làm gì để thu hút mặt trời. Chỉ có cách duy nhất là giữ nó trong sáng. Ngay khi tâm sẵn sàng thì mặt trời sẽ chiếu sáng trong nó.
H: Ánh sáng thuộc về cái Ta, hay thuộc về tâm?
M: Cả hai. Nó không do nhân duyên sinh ra và tự thân không thay đổi, nhưng khi được tâm tô mầu thì nó có vẻ như chuyển động và thay đổi. Nó rất giống với một phim xinê. Ánh sáng không ở trong phim, nhưng phim tô mầu ánh sáng và làm cho ánh sáng có vẻ như chuyển động bằng những ngăn che liên tiếp.
H: Hiện ông đang trong trạng thái toàn hảo?
M: Toàn hảo là một trạng thái của tâm khi tâm thanh tịnh. Ta ở ngoài tâm, dù tâm ở trong bất cứ trạng thái nào, tịnh hay bất tịnh.
Biết là bản tánh của Ta; Ta siêu vượt hiện hữu và phi hiện hữu.
H: Liệu thiền có giúp tôi đạt đến trạng thái của ông?
M: Thiền sẽ giúp ông nhận ra những gì ràng buộc ông, tháo gỡ và vất bỏ chúng. Khi không còn bị ràng buộc với bất cứ gì, ông đã làm xong phần việc của ông. Phần còn lại sẽ được hoàn tất cho ông?
H: Bởi ai?
M: Bởi cùng cái năng lực đã thúc đẩy ông cho đến nay, cái năng lực thôi thúc trái tim ông khao khát chân lý, và tâm ông đi tìm chân lý. Nó cũng là cái năng lực duy trì sự sống của ông. Ông có thể gọi nó là sự sống hay cái Tối thượng.
H: Và cũng năng lực đó sau này sẽ giết tôi vào đúng lúc.
M: Có thật ông đã vắng mặt vào lúc ông được sinh ra? Liệu có thật là ông sẽ vắng mặt vào lúc ông chết đi? Tìm ra kẻ luôn luôn có mặt, rồi vấn đề phản ứng tùy nghi và toàn hảo của ông sẽ được giải quyết.
H: Nhận ra cái vĩnh cửu, và, một phản ứng thích nghi dễ dàng đối với một sự kiện nhất thời và luôn luôn thay đổi, là hai vấn đề riêng biệt và khác biệt nhau. Ông có vẻ như cuốn chúng lại làm một. Điều gì khiến ông làm như thế?
M: Nhận ra cái Vĩnh cửu là trở thành cái Vĩnh cửu, tức cái toàn thể, hay vũ trụ, cùng với tất cả những gì được dung chứa trong đó. Mỗi một sự kiện là kết quả và cũng là sự thể hiện của cái toàn thể, và cùng ở trong sự hài hòa căn bản với cái toàn thể. Tất cả phản ứng từ cái toàn thể nhất định là đúng, dễ dàng và ngay lập tức.
Nếu đúng thì nó không thể là cái gì khác. Một phản ứng bị trì hoãn là một phản ứng sai. Ý nghĩ, cảm thọ và hành động phải là một và đồng thời với tình huống đòi hỏi.
H: Nó đến bằng cách nào?
M: Ta đã bảo ông rồi. Tìm ra kẻ có mặt lúc ông sinh ra và chứng kiến lúc ông chết đi.
H: Cha và mẹ của tôi?
M: Phải, cái cha mẹ của ông, nguồn gốc mà từ đó ông sinh ra. Để giải quyết một vấn đề ông phải truy nó đến tận nguyên ủy. Chỉ bằng cách hòa tan một vấn đề trong dung môi vũ trụ của sự tìm hiểu vô tư, thì một giải pháp đúng cho nó mới được tìm ra.
CHƯƠNG 17. MUỐN BIẾT CÁI ÔNG LÀ, HÃY TÌM RA CÁI KHÔNG PHẢI LÀ ÔNG
Hỏi: Theo như ông mô tả vũ trụ gồm có vật, tâm và tinh thần. Ngoài ra còn có nhiều mô thức khác được cho là phù hợp với vũ trụ, khiến một người cảm thấy bối rối không biết mô thức nào đúng và mô thức nào sai. Cuối cùng người đó hoài nghi rằng tất cả các mô thức chỉ là ngôn từ, và chẳng có mô thức nào chứa đựng thực tại. Theo ông, thực tại bao gồm ba phạm trù rộng lớn: Phạm trù vật chất năng lượng - Mahadakash, phạm trù ý thức - Chidakash, và phạm trù thuần túy tinh thần - Paramakash. Phạm trù thứ nhất là một cái gì đó có cả sự chuyển động và quán tính. Chúng ta nhận thức. Chúng ta cũng biết rằng chúng ta nhận thức. Chúng ta ý thức và cũng biết rằng chúng ta ý thức. Như thế, chúng ta có hai: vật chất - năng lượng, và, ý thức. Vật chất có vẻ như ở trong không gian, còn năng lượng luôn luôn trong thời gian, liên quan đến thay đổi và được đo lường bằng nhịp độ thay đổi. Ý thức, một cách nào đó, có vẻ như ở đây và bây giờ, trong một điểm duy nhất của không gian và thời gian. Nhưng hình như ông cho rằng cả ý thức cũng mang tính vũ trụ - điều này có nghĩa ý thức là phi thời, phi xứ và phi nhân cách. Một cách nào đó tôi có thể hiểu rằng không có mâu thuẫn nào giữa cái phi thời phi xứ, với cái ở đây và bây giờ, nhưng tôi không thể hiểu được ý thức phi nhân cách. Theo tôi ý thức luôn luôn được tập trung, hướng tâm, cá nhân hóa, và là một con người. Ông có vẻ cho rằng có thể có nhận thức mà không có người nhận thức, biết mà không có người biết, yêu mà không có người yêu, hành động mà không có người hành động. Tôi thấy bộ ba - biết, người biết, và cái bị biết - có thể thấy được trong bất cứ động thái nào của sự sống. Ý thức hàm ý: một sự hiện hữu có ý thức, một đối tượng của ý thức và thực tế của sự ý thức. Cái có ý thức tôi gọi là con người. Con người sống trong thế giới, là một phần của thế giới, con người tác động vào thế giới và bị thế giới tác động.
Maharaj: Thế tại sao ông không tìm hiểu xem thế giới và con người thật đến thế nào?
H: Ồ, không! Tôi chẳng cần tìm hiểu. Nếu con người cũng thật như cái thế giới mà trong đó hắn tồn tại, đối với tôi thế là đủ.
M: Vậy câu hỏi là gì?
H: Con người là thật, vũ trụ là khái niệm, hay vũ trụ là thật và con người là tưởng tượng?
M: Cả hai đều không thật.
H: Chắc chắn là tôi phải đủ thật để đáng được ông trả lời, và tôi là một con người.
M: Nhưng trong khi ngủ thì không.
H: Chìm xuống không phải là vắng mặt. Mặc dù ngủ, tôi vẫn hiện hữu.
M: Là một con người thì ông phải ý thức về chính ông. Ông ý thức về chính ông trong mọi lúc?
H: Dĩ nhiên là không trong khi ngủ, hoặc khi bất tỉnh hay bị gây mê.
M: Trong suốt thời gian thức, ông luôn luôn ý thức về chính ông?
H: Không, có những lúc tôi đãng trí, hoặc bị thu hút bởi một cái gì đó.
M: Trong những lúc ý thức về chính mình bị gián đoạn, ông vẫn là một con người?
H: Dĩ nhiên tôi luôn luôn là cùng một con người. Tôi nhớ chính tôi như tôi đã là vào hôm qua, vào năm ngoái - hiển nhiên, tôi là cùng một con người.
M: Như thế, là một con người, ông cần phải có ký ức?
H: Dĩ nhiên.
M: Nếu không có ký ức, ông là gì?
H: Một ký ức không hoàn chỉnh đưa đến một tính cách cá nhân không hoàn chỉnh. Không có ký ức tôi không thể tồn tại như một con người.
M: Chắc chắn ông vẫn tồn tại mà không có ký ức. Ông vẫn tồn tại - trong khi ngủ.
H: Chỉ theo nghĩa còn sống. Chứ không phải là một con người.
M: Như ông thừa nhận ông là một con người và sự tồn tại của ông lúc có lúc không; ông có thể cho biết ông là gì trong những lúc gian cách xen vào giữa các kinh nghiệm về chính ông như một con người?
H: Tôi hiện hữu, nhưng không phải là một con người. Vì không ý thức về chính mình trong những lúc gian cách, tôi chỉ có thể nói rằng tôi tồn tại, nhưng không phải là một con người.
M: Chúng ta có thể gọi đó là sự tồn tại phi nhân cách?
H: Tôi muốn gọi đó là sự tồn tại vô thức; tôi hiện hữu, nhưng tôi không biết tôi hiện hữu.
M: Ông vừa mới nói: “Tôi hiện hữu, nhưng tôi không biết tôi hiện hữu.” Ông có thể nói như thế về sự hiện hữu của ông trong một trạng thái vô thức?
H: Không, tôi không thể.
M: Ông chỉ có thể mô tả nó trong thời quá khứ: “Tôi đã không biết, tôi đã không ý thức” theo nghĩa không nhớ mà thôi.
H: Đã không ý thức thì làm sao tôi nhớ và nhớ cái gì?
M: Ông đã thực sự không ý thức hay ông không nhớ?
H: Làm sao tôi phân biệt được?
M: Ông thử suy nghĩ xem. Ông có thể nhớ từng giây phút một của ngày hôm qua không?
H: Dĩ nhiên là không.
M: Lúc đó ông đã không có ý thức?
H: Dĩ nhiên là không phải không có ý thức.
M: Vậy là ông có ý thức nhưng ông không nhớ?
H: Đúng.
M: Có thể ông có ý thức trong khi ngủ nhưng ông không nhớ.
H: Không, tôi đã không ý thức. Tôi đã ngủ. Tôi đã không
hành xử như một con người có ý thức.
M: Một lần nữa, làm sao ông biết?
H: Những người thấy tôi ngủ bảo tôi như thế.
M: Tất cả những gì họ có thể xác nhận là họ thấy ông nằm im, hai mắt nhắm và thở đều đặn. Họ không thể biết được lúc đó ông có ý thức hay không. Bằng chứng duy nhất mà ông có là ký ức của ông. Nhưng ký ức lại là một bằng chứng không chắc chắn!
H: Vâng, tôi thừa nhận rằng theo cách diễn giải của tôi thì tôi là một con người trong thời gian thức. Tôi là cái gì ở giữa những lúc đó thì tôi không biết.
M: Ít ra ông biết là ông không biết! Vì ông cho rằng ông không có ý thức trong những khoảng gian cách giữa những thời gian thức, chúng ta sẽ không đả động đến những khoảng gian cách. Chỉ bàn về thời gian thức của ông.
H: Tôi là cùng một con người trong các giấc chiêm bao của
tôi
M: Đồng ý. Hãy bàn đến cả hai - thức và chiêm bao. Khác biệt chỉ là sự liên tục. Nếu những giấc chiêm bao của ông tiếp tục một cách nhất quán, đêm này sang đêm khác, với cùng những cảnh quan và cùng những nhân vật thì ông hoàn toàn không phân biệt được lúc nào là thức và lúc nào là chiêm bao. Do đó, khi nói về trạng thái thức, chúng ta bao gồm cả trạng thái chiêm bao.
H: Đồng ý. Tôi là một con người trong quan hệ hữu thức với một thế giới.
M: Thế giới và sự quan hệ hữu thức với nó có cần thiết cho sự kiện ông là một con người hay không?
H: Dù bị nhốt kí trong một cái hang, tôi vẫn còn là một con người
M: Điều đó hàm ý một thân xác và một cái hang. Và một thế giới mà trong đó cái hang và ông tồn tại.
H: Vâng, tôi thấy được điều đó. Thế giới và ý thức về thế giới là cần thiết đối với sự tồn tại của tôi như một con người.
M: Điều này khiến cho con người là một phần không thể tách rời được của thế giới, hay ngược lại. Hai là một.
H: Ý thức đứng riêng một mình. Con người và thế giới xuất hiện trong ý thức.
M: Ông nói: xuất hiện. Ông có thể thêm: biến mất?
H: Không, tôi không thể. Tôi chỉ có thể biết sự xuất hiện của tôi và sự xuất hiện của thế giới. Là một con người, tôi không thể nói: “Không có thế giới.” Nếu không có thế giới thì không thể có tôi để nói như thế. Vì có thế giới, nên mới có tôi để nói: “Có thế giới.”
M: Xoay ngược lại lập luận thì đúng hơn. Vì có ông nên mới có thế giới.
H: Lập luận như vậy, đối với tôi là không có nghĩa.
M: Sự vô nghĩa sẽ biến mất khi tìm hiểu.
H: Chúng ta bắt đầu ở đâu?
M: Theo Ta biết, bất cứ cái gì tùy thuộc đều không thật. Cái thật thì hoàn toàn không tùy thuộc. Vì sự tồn tại của con người tùy thuộc vào sự tồn tại của thế giới, vì bị hạn chế trong thế giới và được xác định bởi thế giới, nên con người không thể nào là thật.
H: Nhưng chắc chắn con người không phải là mộng huyễn.
M: Ngay cả giấc mộng cũng có sự tồn tại của nó, khi nó được nhận thức và thưởng thức, hoặc được kéo dài. Bất cứ gì ông tư duy hay cảm thọ đều có sự hiện hữu. Nhưng nó có thể không phải là cái mà ông cho nó là. Cái gì mà ông nghĩ là một con người có thể là một cái gì đó hoàn toàn khác hẳn.
H: Tôi là cái mà tôi biết chính tôi là.
M: Ông không thể nói rằng ông là cái mà ông nghĩ chính ông là! Những ý nghĩ của chính ông về chính ông thay đổi từ ngày này sang ngày khác, và từ lúc này sang lúc khác. Hình ảnh về cái Ta của ông thay đổi nhiều nhất trong những gì mà ông có. Nó rất dễ bị tác động, và bị chi phối bởi bất cứ hiện tượng nào đi qua. Chỉ cần một nỗi bất hạnh, một sự mất việc, một sự sỉ nhục thì hình ảnh mà ông có về chính ông, tức là cái mà ông gọi là con người của ông thay đổi một cách sâu sắc. Để biết được cái mà ông là thì trước tiên ông phải tìm hiểu và biết được cái không phải là ông. Mà muốn biết cái không phải là ông thì ông phải quan sát chính ông tường tận, ông phải loại bỏ tất cả những gì không cần thiết đi chung với thực tế căn bản: “Ta hiện hữu”. Tất cả những ý nghĩ: Ta đã được cha mẹ sinh ra tại một nơi nào đó, và bây giờ Ta là thế này, sống ở, lập gia đình với, là cha của, là nhân viên của, và vân vân, đều không có sẵn trong ý thức “Ta hiện hữu”. Thái độ thông thường của chúng ta là “Ta là thế này”. Hãy tách cái “Ta là” một cách cương quyết và kiên trì ra khỏi những cái “thế này” hay “thế nọ”, và tìm cách cảm thấy hiện hữu nghĩa là gì, chỉ hiện hữu, mà không là “thế này” hay “thế nọ”. Tất cả các thoi quen sẽ cưỡng lại trạng thái này. Cưỡng lại những thói quen đó nhiều khi là một công việc lâu dài và khó khăn, nhưng một sự hiểu biết thông suốt sẽ giúp ông rất nhiều. Nếu càng hiểu rõ rằng trên bình diện của tâm, ông chỉ có thể được mô tả bằng những ngôn từ phủ định thì ông càng nhanh chóng đến đích của sự tìm kiếm, và nhận ra sự hiện hữu vô biên của ông.
CHƯƠNG 18. THỰC TẠI NẰM TRONG TÍNH KHÁCH QUAN
Hỏi: Tôi là một họa sĩ và tôi kiếm sống bằng nghề vẽ tranh.
Từ cái nhìn tâm linh vẽ tranh có một giá trị nào không?
Maharaj: Khi vẽ, bà nghĩ về cái gì?
H: Khi vẽ, chỉ có bức tranh và chính tôi.
M: Bà làm gì ở đó?
H: Tôi vẽ.
M: Không, bà không vẽ. Bà thấy bức tranh đang diễn ra. Bà chỉ quan sát, tất cả những cái khác đều diễn ra.
H: Bức tranh tự vẽ chính nó? Hay là, một cái “tôi” sâu kín, hoặc một thần linh nào đó vẽ?
M: Tự thân ý thức là người họa sĩ vĩ đại nhất. Toàn thể thế
giới là một bức tranh.
H: Ai đã vẽ ra bức tranh thế giới?
M: Người họa sĩ ở ngay trong bức tranh.
H: Bức tranh ở trong tâm của người họa sĩ, và người họa sĩ ở trong bức tranh, mà bức tranh đó lại ở trong tâm của người họa sĩ, mà người họa sĩ đó lại ở trong bức tranh! Không phải sự vô tận này của các trạng thái và cảnh giới là vô lý? Ngay lúc chúng ta nói về bức tranh trong tâm, thì tâm chính nó lại ở trong bức tranh; chúng ta gặp một chuỗi vô tận các nhân chứng, nhân chứng cao hơn chứng kiến nhân chứng thấp hơn. Cũng giống như đứng ở giữa hai tấm gương rồi thắc mắc về một đám đông!
M: Rất đúng! Một mình bà và tấm gương đôi. Giữa hai tấm gương, bà có vô số hình tướng và danh xưng.
H: Ông nhìn thế giới như thế nào?
M: Ta thấy một người họa sĩ đang vẽ một bức tranh. Ta gọi bức tranh là thế giới, người họa sĩ là Thượng đế. Ta không phải bức tranh và cũng chẳng phải là Thượng đế. Ta không sáng tạo, và cũng không được tạo ra. Ta dung chứa tất cả, không có gì dung chứa Ta.
H: Khi tôi nhìn một cái cây, một khuôn mặt, một buổi hoàng hôn thì bức tranh thật hoàn hảo. Khi nhắm mắt lại, hình ảnh trong tâm tôi mờ nhạt và không rõ nét. Nếu chính tâm tôi phóng chiếu ra hình ảnh, tại sao tôi cần phải mở mắt để thấy một đóa hoa duyên dáng, nhưng khi nhắm mắt lại tôi chỉ thấy nó một cách mơ hồ
M: Đó là vì mắt bên ngoài của bà tốt hơn mắt bên trong. Tâm bà hoàn toàn hướng ra bên ngoài. Khi bà học được cách nhìn thế giới tâm của bà, bà sẽ thấy nó còn nhiều màu sắc hơn và hoàn hảo hơn bất cứ gì mà thân xác có thể đem lại. Dĩ nhiên là bà cần một sự luyện tập nào đó. Nhưng việc gì phải lý sự? Bà tưởng tượng rằng bức tranh phải được tạo ra bởi người họa sĩ, tức là người thực sự vẽ ra nó. Bà luôn luôn truy tìm nguồn gốc và nguyên nhân. Tương quan nhân quả chỉ ở trong tâm; ký ức tạo ra ảo tưởng về sự liên tục và sự lập đi lập lại gây nên ý tưởng về tương quan nhân quả. Khi mọi vật cùng xảy ra một cách lập đi lập lại, chúng ta có khuynh hướng thấy một liên hệ nhân quả giữa chúng. Điều này tạo ra một thói quen tâm lý, nhưng một thói quen thì không phải là một sự cần thiết.
H: Ông vừa mới nói thế giới được Thượng đế tạo ra.
M: Nên nhớ rằng ngôn ngữ chỉ là một công cụ của tâm, được tạo ra bởi tâm, và cho tâm. Một khi bà thừa nhận một nguyên nhân, thì Thượng đế là nguyên nhân tối hậu và thế giới là kết quả. Hai cái khác nhau, nhưng không tách rời nhau.
H: Người ta nói chuyện thấy Thượng đế.
M: Khi bà thấy thế giới tức là bà thấy Thượng đế. Không hề có chuyện thấy Thượng đế ngoài thế giới. Ngoài thế giới mà thấy Thượng đế thì chính là Thượng đế. Ánh sáng nhờ đó bà thấy thế giới, tức Thượng đế, là đốm sáng nhỏ: “Ta hiện hữu” rõ ràng là rất nhỏ, nhưng nó khởi đầu và chấm dứt trong từng hành vi biết và yêu thương.
H: Tôi phải thấy thế giới mới thấy được Thượng đế?
M: Còn cách nào khác? Không có thế giới, không có Thượng đế.
H: Vậy cái gì còn lại?
M: Bà còn lại như sự hiện hữu thuần túy.
H: Vậy lúc đó thế giới, và Thượng đế sẽ như thế nào?
M: Hiện hữu thuần túy - Avyakta.
H: Nó cũng đồng với phạm trù Vĩ Đại - Paramakash?
M: Bà có thể gọi nó như thế. Ngôn từ không quan trọng, vì ngôn từ không thể đạt đến nó. Ngôn từ phải xoay trở lại trong sự phủ định hoàn toàn.
H: Làm sao tôi có thể thấy thế giới là Thượng đế? Thấy thế giới là thấy Thượng đế - nghĩa là thế nào?
M: Cũng giống như vào một căn phòng tối. Bà không thấy gì cả - bà có thể sờ mó, nhưng không thấy - không có màu sắc, không có hình dáng. Bất chợt cửa sổ mở và căn phòng tràn ngập ánh sáng. Màu sắc và hình thể xuất hiện. Cửa sổ đem lại ánh sáng nhưng không phải là nguồn sáng. Mặt trời mới là nguồn sáng. Tương tự như thế, vật là căn phòng tối, ý thức là cửa sổ, làm cho vật tràn ngập cảm giác và nhận thức là mặt trời - cũng là cái Tối thượng, nguồn gốc của cả vật lẫn ánh sáng. Cửa sổ có thể đóng hay mở, nhưng mặt trời luôn luôn chiếu sáng. Cửa sổ làm cho căn phòng hoàn toàn khác hẳn, mà không hề làm cho mặt trời khác đi. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là thứ yếu đối với một cái vô cùng nhỏ bé, tức cái “Ta hiện hữu”. Không có cái “Ta hiện hữu” thì không có gì cả. Tất cả mọi hiểu biết là hiểu biết về cái “Ta hiện hữu”. Mọi ý tưởng sai lầm về cái “Ta hiện hữu” này đưa đến ràng buộc; chỉ hiểu biết đúng mới đưa đến tự do và an lạc.
H: “Ta hiện hữu” và “Cái đó hiện hữu” có giống nhau không?
M: “Ta hiện hữu” hàm ý bên trong, “Cái đó hiện hữu” hàm ý bên ngoài. Cả hai đều dựa trên ý thức hiện hữu.
H: Ý thức hiện hữu có giống với kinh nghiệm về sự tồn tại?
M: Tồn tại có nghĩa là là một cái gì đó, một vật, một cảm xúc, một ý nghĩ, một ý tưởng. Tất cả tồn tại đều có tính riêng biệt. Chỉ có hiện hữu là có tính vũ trụ, theo nghĩa mỗi hiện hữu đều tương hợp với mọi hiện hữu khác. Khi có nhiều sự tồn tại thì gây ra va chạm, còn hiện hữu thì không bao giờ. Tồn tại có nghĩa là trở thành, thay đổi, sinh, tử, và tái sinh, còn trong hiện hữu chỉ có sự an lạc tĩnh lặng.
H: Nếu tôi là kẻ tạo ra thế giới thì tại sao tôi lại làm cho nó tồi tệ?
M: Mỗi người sống trong thế giới riêng của chính mình. Tất cả thế giới không xấu, hay tốt như nhau.
H: Cái gì quyết định sự khác biệt?
M: Tâm phóng chiếu ra thế giới, tô mầu thế giới theo cách riêng của nó. Khi bà gặp một người đàn ông, ông ta chỉ là một người lạ. Khi bà lấy ông ta, ông ta trở thành cái Ta của chính bà.
Khi gây gỗ, ông ta trở thành kẻ thù của bà. Chính thái độ của tâm bà quyết định người đàn ông đó là gì đối với bà
H: Tôi có thể thấy rằng thế giới của tôi là chủ quan. Điều này có thể làm cho nó trở thành hư huyễn?
M: Nó là hư huyễn chừng nào nó còn là chủ quan, và chỉ trong phạm vi đó mà thôi. Thực tại nằm trong tính khách quan.
H: Tính khách quan nghĩa là gì? Lúc nãy ông nói thế giới là chủ quan, bây giờ ông lại nói về tính khách quan. Thế không phải mọi vật là chủ quan?
M: Mọi vật là chủ quan, nhưng cái thật thì khách quan.
H: Theo nghĩa nào?
M: Nó không tùy thuộc vào ký ức và hoài bão, tham ái và lo sợ, thích và không thích. Tất cả đều được thấy như thị.
H: Có phải đó là cái mà ông gọi là trạng thái thứ tư - Turiya?
M: Bà gọi nó là gì tùy ý. Nó kiên cố, bền chắc, bất biến, vô thủy, vô chung, luôn luôn mới, và luôn luôn tươi trẻ.
H: Làm sao đạt đến nó?
M: Vô tham ái và vô úy sẽ đưa bà đến đó.
CHƯƠNG 19. CÁI TỐI THƯỢNG SIÊU VƯỢT TẤT CẢ
Hỏi: Ông nói thực tại là một. Tính một, tính duy nhất là biểu trưng của con người. Như vậy thực tại là một con người, với vũ trụ là thân xác của nó ?
Maharaj: Bất cứ gì ông có thể nói ra đều vừa đúng và vừa sai. Ngôn từ không thể vươn đến cái ở ngoài tâm.
H: Tôi chỉ đang cố hiểu những gì ông nói. Ông nói với chúng tôi về Con Người, Cái Ta, và Cái Tối Thượng - Vyakti, VyakTa, AvyakTa. Ánh sáng của Tánh Biết Thuần Túy - Pragna - được hội tụ thành “Ta hiện hữu” trong Cái Ta - Jivatma; thành ý thức - Chetana - soi sáng tâm - Antabkarana; và thành sự sống - Prana - đem lại sinh khí cho thân xác - Deha. Tất cả những cái đó qua ngôn từ thì có vẻ xuôi tai. Nhưng khi phải phân biệt trong chính tôi Con Người với Cái Ta, và Cái Ta với Cái Tối Thượng thì tôi lẫn lộn.
M: Con người không bao giờ là chủ thể. Ông có thể thấy một con người, nhưng ông không phải con người. Ông luôn luôn là Cái Tối Thượng, xuất hiện vào một điểm nào đó trong không gian và thời gian như nhân chứng, như một cây cầu giữa tánh biết thuần túy của Cái Tối Thượng và ý thức đa dạng của con người.
H: Khi quan sát chính mình, tôi thấy tôi là nhiều con người tranh giành lẫn nhau để xử dụng một thân xác.
M: Chúng tương ứng với các khuynh hướng khác nhau - Samskara - của tâm.
H: Liệu tôi có thể hòa giải chúng?
M: Làm sao được? Chúng quá mâu thuẫn với nhau! Cứ thấy chúng như chúng là - những thói quen của ý nghĩ và cảm thọ, một mớ ký ức và những thôi thúc.
H: Nhưng tất cả chúng đều nhận: “Ta là”.
M: Điều đó xảy ra là vì ông tự đồng hóa ông với chúng. Một khi nhận ra rằng bất cứ gì xuất hiện trước ông đều không thể là chính ông, và chúng không thể nói “Ta là”, thì ông hoàn toàn tự do đối với tất cả những “con người” của ông, và những yêu sách của chúng. Ý thức “Ta là” là của riêng ông. Ông không thể tách rời nó, nhưng ông có thể gán nó cho bất cứ thứ gì, như khi ông bảo: Ta là trẻ trung, ta là giầu có, vân vân. Nhưng những sự đồng hóa cái Ta như thế rõ ràng là sai, và là nguyên nhân của ràng buộc.
H: Bây giờ tôi có thể hiểu được rằng tôi không phải là con người, mà là cái - khi được phản ánh trong con người - cho con người một cảm giác hiện hữu. Thế còn Cái Tối Thượng? Bằng cách nào tôi biết chính tôi là Cái Tối Thượng?
M: Nguồn gốc của ý thức không thể là một đối tượng của ý thức. Muốn biết nguồn gốc thì phải là nguồn gốc. Khi nhận ra ông không phải con người mà ông là nhân chứng thuần túy, im lặng, và tánh biết vô úy đó chính là sự hiện hữu của ông thì lúc đó ông là sự hiện hữu. Đó chính là cội nguồn, là khả năng vô tận.
H: Có nhiều nguồn gốc hay chỉ có một cho tất cả?
M: Còn tùy cách ông nhìn nó, từ đầu nào. Trong thế giới có vô số các vật thể, nhưng con mắt thấy chúng thì chỉ có một. Cái cao hơn luôn luôn xuất hiện như là một đối với cái thấp hơn, và cái thấp hơn xuất hiện như là nhiều đối với cái cao hơn.
H: Tất cả hình tướng và danh xưng đều là của một Thượng đế duy nhất?
M: Một lần nữa, còn tùy cách ông nhìn. Trên bình diện ngôn từ mọi vật là tương đối. Cái Tuyệt đối phải được chứng nghiệm, không thể bằng sự luận bàn.
H: Làm thế nào để chứng nghiệm cái Tuyệt Đối ?
M: Nó không phải là một vật thể để được nhận ra và cất giữ trong ký ức. Nó ở ngay trong hiện tại, và đúng hơn là trong sự cảm nhận. Nó liên hệ với “thế nào” hơn là với “cái gì”. Nó ở trong phẩm chất, trong giá trị. Là nguồn gốc của mọi vật, nó ở ngay trong mọi vật.
H: Nếu là nguồn gốc, tại sao và làm thế nào nó thị hiện chính nó?
M: Nó khai sinh ra ý thức. Tất cả những cái khác đều ở trong ý thức.
H: Tại sao lại có nhiều trung tâm ý thức?
M: Vũ trụ khách quan - Mahadakash - luôn luôn chuyển động, phóng chiếu ra và làm biến mất đi vô số các hình tướng. Bất cứ khi nào một hình tướng được truyền cho sự sống - Prana, thì tánh biết phản chiếu vào vật chất làm ý thức - Chetana - xuất hiện.
H: Cái Tối Thượng bị tác động như thế nào?
M: Làm sao có cái gì tác động được nó ? Cội nguồn thì không thể bị tác động bởi những thay đổi bất thường của dòng sông, cũng như kim loại không thể bị tác động bởi hình dáng của những món trang sức làm ra từ nó. Ánh sáng có bị phim ảnh trên màn hình tác động? Cái Tối Thượng làm cho mọi vật khả hữu, chỉ có thế.
H: Vậy tại sao một số điều xảy ra và một số điều lại không xảy ra?
M: Truy tìm nguyên nhân chỉ là một thú tiêu khiển của tâm. Không hề có tính nhị nguyên nhân quả. Mỗi vật đều là nguyên nhân của chính nó.
H: Như vậy không thể có một hành động có chủ đích?
M: Ta chỉ có thể nói là ý thức dung chứa tất cả. Trong ý thức tất cả đều khả hữu. Trong thế giới của ông, ông có thể có nhiều nguyên nhân nếu ông muốn. Người khác có thể thỏa mãn với một nguyên nhân: Ý chí của Thượng đế. Còn nguyên nhân gốc chỉ có một: Ý thức “Ta hiện hữu”.
H: Quan hệ giữa cái Ta và cái Tối Thượng là gì?
M: Từ quan điểm của cái Ta: Thế giới là cái biết, cái Tối Thượng là cái Không Biết. Cái Không Biết khai sinh ra cái biết nhưng vẫn là Không Biết. Cái biết là vô tận nhưng cái Không Biết là vô biên của những cái vô tận. Cũng như một tia nắng không thể được nhìn thấy trừ khi nó bị những hạt bụi ngăn che, cái Tuyệt đối làm cho mọi cái được biết, nhưng chính nó vẫn không được biết.
H: Điều đó có nghĩa là cái Không Biết thì không thể tiếp cận được.
M: Ồ, không. Cái Tối Thượng là cái có thể tiếp cận dễ nhất vì nó chính là sự hiện hữu của ông. Chỉ cần chấm dứt mọi suy tư và tham ái, đó là Cái Tối Thượng.
H: Nếu tôi không ham muốn gì, ngay cả ham muốn cái Tối Thượng?
M: Thì hoặc là ông chết, hoặc ông là cái Tối Thượng.
H: Thế giới đầy những ham muốn. Mọi người đều ham muốn một cái gì đó. Ai là kẻ ham muốn? Con người hay cái Ta?
M: Cái Ta. Tất cả mọi ham muốn, thánh thiện hay phàm tục đều từ cái Ta mà ra; tất cả đều treo trên ý thức “Ta hiện hữu”.
H: Tôi có thể hiểu được những ham muốn thánh thiện - Satyakama - phát sinh từ cái Ta. Đó có thể là sự thể hiện khía cạnh cực lạc Sadchitananda (Hiện hữu - Tánh biết - Hạnh phúc) của cái Ta. Nhưng tại sao lại có những ham muốn phàm tục?
M: Tất cả mọi ham muốn đều nhắm đến hạnh phúc. Hình
[1] tướng và tính chất của ham muốn phụ thuộc vào Psyche
(Antahkarana). Ở đâu quán tính sức ì chiếm ưu thế thì ở đó chúng ta tìm thấy sự xấu xa. Cùng với năng lượng, sự đam mê khởi sinh. Cùng với sự trong sáng, động lực đằng sau ham muốn là thiện ý, là từ bi, là sự thôi thúc đem lại hạnh phúc hơn là hưởng hạnh phúc. Nhưng Cái Tối Thượng siêu vượt tất cả, và vì tính thấu suốt vô cùng của Cái Tối Thượng nên tất cả mọi ham muốn lành mạnh đều có thể được thỏa mãn.
H: Những ham muốn nào là lành mạnh?
M: Những ham muốn tiêu diệt chủ thể, hay đối tượng của chúng, hoặc không giảm bớt khi đã được toại nguyện đều là những ham muốn tự mâu thuẫn và không thể thỏa mãn. Chỉ có những ham muốn được thôi thúc bởi lòng yêu thương, thiện ý và từ bi, đem lại lợi lạc cho cả chủ thể lẫn đối tượng thì mới có thể được thỏa mãn hoàn toàn.
H: Tất cả mọi ham muốn đều đau đớn, cả thánh thiện lẫn phàm tục.
M: Chúng không giống nhau nên sự đau đớn cũng không giống nhau. Đam mê thì đầy đau đớn, còn từ bi thì không bao giờ. Toàn thể vũ trụ phấn đấu nhằm thỏa mãn một ham muốn sinh khởi từ tâm từ bi.
H: Cái Tối Thượng có biết chính nó? Cái Vô Nhân Cách có ý thức không?
M: Nguồn gốc của tất cả có tất cả. Bất cứ cái gì từ đó chảy ra đều phải ở sẵn trong đó dưới hình thức chủng tử. Cũng như một hạt giống là cái tối hậu của vô số hạt giống, hàm tàng kinh nghiệm và sự hứa hẹn của vô số khu rừng, thì cái Không Biết dung chứa tất cả những cái đã là, hay có thể đã là, và tất cả những cái sẽ là và có thể sẽ là. Toàn thể phạm trù của sự trở thành luôn luôn rộng mở và có thể tiếp cận được; quá khứ và tương lai cùng tồn tại trong cái bây giờ vĩnh cửu.
H: Ông đang sống trong cái Không Biết Tối Thượng?
M: Còn nơi nào khác?
H: Vì sao ông nói thế?
M: Không còn tham ái nào sinh khởi trong tâm Ta.
H: Vậy ông không còn ý thức?
M: Dĩ nhiên là có ! Ta hoàn toàn ý thức, nhưng vì không còn tham ái hay lo sợ xâm nhập tâm Ta, nên chỉ có sự im lặng tuyệt đối.
H: Ai là người biết sự im lặng?
M: Sự im lặng biết chính nó. Đó là sự im lặng của cái tâm im lặng, khi si mê và tham ái cái “Ta là” được làm cho im lặng.
H: Ông có thỉnh thoảng kinh nghiệm tham ái?
M: Tham ái chỉ là những đợt sóng trong tâm. Ông biết một con sóng khi ông thấy nó. Tham ái chỉ là một trong nhiều thứ khác. Ta cảm thấy không có sự thôi thúc nào bắt Ta phải thỏa mãn một tham ái, và cũng chẳng có hành động nào là cần thiết để đối phó với nó. Không còn tham ái có nghĩa là: Không có sự thôi thúc phải thỏa mãn.
H: Tại sao tham ái lại khởi sinh?
M: Bởi vì ông tưởng tượng rằng ông đã được sinh ra, và ông sẽ chết nếu ông không lo cho thân xác của ông. Mong muốn sự tồn tại hữu thân là căn nguyên của phiền trược.
H: Nhưng, có rất nhiều linh hồn - Jivas - nhập vào các thân xác. Chắc chắn không thể là một sai lầm nào đó trong nhận xét, mà phải có một mục đích. Mục đích đó có thể là gì?
M: Để biết chính nó, cái Ta phải được đối diện với cái đối nghịch của nó - tức không phải cái Ta. Lòng ham muốn đưa đến kinh nghiệm. Kinh nghiệm đưa đến phân biệt, xa lìa, tự biết mình giải thoát. Xét cho cùng thì giải thoát là gì? Là biết ông ở ngoài sinh tử. Vì ông quên mất chính mình, và tưởng tượng rằng ông là một sinh vật hữu tử, ông tạo ra vô số phiền trược cho chính ông; ông phải tỉnh thức, như vừa ra khỏi cơn mộng dữ.
Sự tìm hiểu cũng làm cho ông tỉnh thức. Ông chẳng cần phải đợi cho đến khi đau khổ, mà tốt hơn nên tìm hiểu hạnh phúc là gì, vì tâm ở trong sự hài hòa và an lạc.
H: Một cách chính xác, ai là người kinh nghiệm tối hậu - cái Ta hay cái Không biết?
M: Dĩ nhiên là cái Ta.
H: Vậy tại sao ông lại đưa ra ý niệm về cái Không Biết Tối Thượng?
M: Để giải thích cái Ta.
H: Nhưng có cái gì ở ngoài cái Ta?
M: Ngoài cái Ta thì chẳng có gì cả. Tất cả là một và tất cả được dung chứa trong “Ta hiện hữu”. Trong trạng thái thức và
[2] chiêm bao nó là con người. Trong giấc ngủ sâu, và Turiya nó là cái Ta. Bên ngoài sự chuyên chú linh hoạt của Turiya là sự an lạc tĩnh lặng vĩ đại của cái Tối Thượng. Nhưng thật ra tất cả là một trong tánh thể và tương quan trong biểu hiện. Trong vô minh người thấy trở thành cái bị thấy, trong trí tuệ người thấy là hành vi thấy.
Nhưng việc gì phải bận tâm với cái Tối Thượng? Chỉ cần biết người người biết thì tất cả sẽ được biết.
CHƯƠNG 20. TA LÀ AI?
Hỏi: Chúng tôi được khuyên là nên tôn thờ Thực tại, hiện thân là Thượng đế, hoặc Đấng Toàn Hảo, và được bảo là đừng tìm cách tôn thờ cái Tuyệt đối, vì điều này quá khó khăn đối với một ý thức tập trung trong não bộ.
Maharaj: Cái Thật thì rất đơn giản và khai mở cho tất cả. Tại sao ông lại làm cho phức tạp? Cái Thật luôn luôn yêu và đáng yêu. Cái Thật dung chứa tất cả, chấp nhận tất cả, và làm cho tất cả đều thanh tịnh. Chỉ cái không thật mới khó khăn và là nguồn gốc của phiền trược. Cái không thật luôn luôn cần cầu, mong đợi, và đòi hỏi. Vì là hư giả nên nó rỗng tuếch, luôn luôn tìm kiếm sự xác nhận và bảo đảm. Nó rất sợ hãi và né tránh mọi sự tìm hiểu. Nó đồng hóa tự thân với bất cứ sự chống đỡ nào, dù yếu ớt hay tạm bợ đến đâu. Bất cứ gì nó có, nó đều đánh mất và đòi thêm. Do đó đừng tin vào ý thức. Bất cứ gì ông có thể thấy được, cảm thọ được, hay suy nghĩ được đều không phải như thế. Ngay cả tội lỗi và đức hạnh, giá trị và vô giá trị đều không phải là những gì mà chúng thể hiện bề ngoài. Thông thường cái xấu và cái tốt chỉ là vấn đề quy ước và tập quán, chúng bị xa lánh hay được tiếp đón tùy theo cách vận dụng ngôn từ.
H: Thế không phải có những ham muốn tốt và xấu, cao thượng và thấp hèn?
M: Tất cả ham muốn đều xấu, nhưng vẫn có những ham muốn xấu xa hơn những ham muốn khác. Theo đuổi bất cứ ham muốn nào cũng đều đem lại cho ông phiền trược.
H: Ngay cả ham muốn không còn ham muốn?
M: Tại sao lại ham muốn? Ham muốn một trạng thái không còn ham muốn không làm ông trở nên tự do. Không gì có thể làm ông tự do, vì chính ông là tự do. Chỉ thấy được ông bằng sự sáng suốt vô tham ái, thế là đủ.
H: Để biết chính mình cần phải có thời gian.
M: Thời gian có thể giúp gì cho ông? Thời gian chỉ là một chuỗi liên tiếp các khoảnh khắc, mà mỗi khoảnh khắc xuất hiện từ hư vô và biến mất vào hư vô, không bao giờ xuất hiện trở lại. Làm sao ông có thể xây dựng trên một cái gì vô thường đến như thế?
H: Vậy cái gì thường hằng?
M: Quay về với chính ông để tìm cái thường hằng. Lặn sâu vào bên trong và tìm ra cái chơn thật trong ông.
H: Làm thế nào để tìm chính tôi?
M: Bất cứ gì xảy ra, đều xảy ra đối với ông. Bất cứ gì ông
làm, người làm ở trong ông. Tìm ra chủ thể của tất cả những gì là ông, một con người.
H: Tôi còn có thể là một cái gì khác?
M: Tìm xem. Dù Ta có bảo ông rằng ông là nhân chứng, là người quan sát thầm lặng thì cũng vô nghĩa đối với ông, trừ khi ông tìm ra con đường đưa đến sự hiện hữu của chính ông.
H: Câu hỏi của tôi là: Làm sao tìm ra con đường đưa đến sự hiện hữu của chính mình?
M: Buông bỏ tất cả các câu hỏi, ngoại trừ câu hỏi: “Ta là ai?” Xét cho cùng, điều duy nhất mà ông biết chắc chắn là chính ông hiện hữu. Cái “Ta là” thì chắc chắn. “Ta là cái này” thì không phải.
Tinh tấn tìm cho ra cái ông là trong thực tế.
H: Suốt 60 năm qua tôi đã chẳng làm gì khác hơn điều đó.
M: Tinh tấn có gì là sai? Tại sao lại vọng cầu kết quả? Tự thân tinh tấn chính là bản chất chơn thật của ông.
H: Tinh tấn thì đầy gian khổ.
M: Ông biến nó thành gian khổ vì ông vọng cầu kết quả. Tinh tấn mà không vọng cầu, phấn đấu mà không tham lam.
H: Tại sao Thượng đế lại sinh tôi ra như tôi là?
M: Ông nói đến Thượng đế nào? Thượng đế là gì? Không phải Thượng đế chính là ánh sáng mà nhờ đó ông đặt câu hỏi? Tự thân “Ta hiện hữu” là Thượng đế. Tự thân sự tìm kiếm là Thượng đế. Trong khi tìm kiếm ông sẽ khám phá ra rằng ông không phải thân mà cũng chẳng phải tâm, và tình yêu cái Ta trong ông cũng là tình yêu cái Ta trong tất cả. Hai là một. Ý thức trong ông và ý thức trong Ta, rõ ràng là hai nhưng thật ra là Một. Hãy tìm ra tính Một duy nhất, và đó là tình yêu.
H: Làm sao tôi tìm ra tình yêu đó?
M: Ông yêu cái gì bây giờ? Cái “Ta hiện hữu”. Dành hết trái tim và tâm trí cho nó, đừng bận tâm đến bất cứ gì khác. Một khi không còn phải cố gắng và thật tự nhiên thì đó là trạng thái cao nhất. Trong trạng thái đó tự thân tình yêu vừa là người yêu vừa là người được yêu.
H: Mọi người đều muốn sống, muốn tồn tại. Đó không phải là lòng yêu thương chính mình?
M: Tất cả mọi ham muốn đều bắt nguồn từ cái Ta. Vấn đề là lựa chọn ham muốn đúng.
H: Đúng hay sai thay đổi tùy theo thói quen và tập quán. Mỗi xã hội có những tiêu chuẩn khác nhau.
M: Hãy quẳng đi tất cả những tiêu chuẩn có tính cách truyền thống. Cứ để chúng cho các nhà đạo đức giả. Chỉ cái gì giải thoát ông khỏi tham ái, lo sợ và tà kiến là cái tốt. Bao giờ còn ưu tư về tội lỗi và đức hạnh thì ông còn bất an.
H: Theo tôi tội lỗi và đức hạnh chỉ là những mặc ước xã hội. Nhưng có thể có những tội lỗi tâm linh và đức hạnh tâm linh. Tôi muốn nói tâm linh là tuyệt đối. Liệu có cái như tội lỗi tuyệt đối và đức hạnh tuyệt đối?
M: Tội lỗi và đức hạnh chỉ dùng cho con người. Nếu không có con người tội lỗi hay con người đức hạnh thì cái gì là tội lỗi, cái gì là đức hạnh? Ở bình diện tuyệt đối, không hề có con người; đại dương bao la của tánh biết thuần túy không đức hạnh mà cũng chẳng tội lỗi. Tội lỗi và đức hạnh luôn luôn là tương đối?
H: Liệu tôi có thể buông bỏ những quan niệm không cần thiết như thế không?
M: Bao giờ còn nghĩ ông là con người thì không được.
H: Nhờ chỉ dấu nào tôi biết được tôi vượt ra khỏi tội lỗi và đức hạnh?
M: Nhờ không còn tham ái và lo sợ, không còn ý nghĩ là một con người. Nuôi dưỡng những ý nghĩ như “Ta là kẻ có tội” là có tội. Đồng hóa chính mình với một cái gì đó riêng biệt là tất cả mọi tội lỗi. Cái phi nhân cách thì chơn thật, cái có nhân cách thì sinh diệt. “Ta là” là sự hiện hữu phi nhân cách. “Ta là cái này” là con người. Con người thì tương đối, còn hiện hữu thuần túy là căn nguyên.
H: Chắc chắn sự hiện hữu thuần túy không phải là vô thức, và cũng không phải là vô phân biệt. Làm sao nó ở ngoài tội lỗi và đức hạnh? Xin vui lòng cho biết nó có trí tuệ hay không?
M: Tất cả những câu hỏi vừa nêu lên đều khởi sinh từ sự tin tưởng rằng chính ông là một con người. Hãy thoát ra khỏi tính cách con người thì ông sẽ thấy.
H: Một cách chính xác ông muốn nói gì khi bảo tôi chấm dứt là một con người?
M: Ta không bảo ông chấm dứt hiện hữu - đó là điều ông không thể. Ta chỉ bảo ông chấm dứt tưởng tượng rằng ông đã được sinh ra, có cha mẹ, là một thân xác, sẽ chết đi, và vân vân. Hãy thử thực hiện một bước khởi đầu - nó không quá khó khăn như ông tưởng.
H: Cho rằng mình có nhân cách là tội lỗi của cái phi nhân cách.
M: Một lần nữa lại là cái nhìn của tính cách cá nhân ! Tại sao ông cứ khăng khăng làm nhiễm ô cái phi nhân cách bằng những ý nghĩ của ông về tội lỗi và đức hạnh? Tội lỗi và đức hạnh không áp dụng được đối với cái phi nhân cách. Cái phi nhân cách không thể được mô tả bằng những hình thức tốt và xấu. Hiện hữu - Trí tuệ Tình yêu - tất cả là tuyệt đối. Phạm vi của tội lỗi ở đâu trong đó?
Còn đức hạnh mới là sự đối nghịch của tội lỗi.
H: Chúng ta đang nói về đức hạnh thiêng liêng.
M: Đức hạnh chơn thật là đức hạnh thiêng liêng. Cái mà ông là thực sự là đức hạnh của ông. Còn cái đối nghịch với tội lỗi mà ông gọi là đức hạnh chỉ là sự vâng lời phát sinh từ sợ hãi.
H: Vậy tại sao mọi cố gắng chỉ để trở nên tốt lành?
M: Tất cả những cố gắng chỉ để duy trì ông tiến tới. Ông tiếp tục tiến tới cho đến khi tìm thấy Thượng đế. Rồi Thượng đế sẽ tiếp nhận ông vào trong chính Ngài - và làm cho ông như chính Ngài là.
H: Cùng một hành động, được xem là tự nhiên vào một điểm,
và tội lỗi ở một điểm khác. Cái gì làm cho nó trở nên tội lỗi?
M: Bất cứ gì ông làm ngược lại với sự hiểu biết tốt lành là tội lỗi.
H: Hiểu biết tùy thuộc vào ký ức.
M: Nhớ cái Ta của ông là đức hạnh, quên mất cái Ta của ông là tội lỗi. Chung qui tất cả chỉ là sự nối kết tinh thần hay tâm lý giữa tâm và vật. Chúng ta có thể gọi sự nối kết đó là Psyche. Khi Psyche còn thô thiển, chưa phát triển, còn sơ khai, thì nó bị chi phối bởi những ảo tưởng thô thiển. Khi tâm thức tăng trưởng theo bề rộng và gia tăng độ bén nhậy, nó trở thành sự nối kết hoàn hảo giữa thuần vật chất và thuần tinh thần, và đem lại ý nghĩa cho vật chất và sự thể hiện cho tinh thần.
Có thế giới vật chất - Mahadakash - và thế giới tinh thần - Paramakash. Ở giữa hai cái là tâm thức vũ trụ - Chidakash, cũng là trái tim vũ trụ - Premakash. Chính tình yêu sáng suốt làm cho hai cái thành một.
H: Có người đần độn, có người thông minh. Sự khác biệt là Psyche của họ. Những người trưởng thành có nhiều kinh nghiệm phía sau họ. Cũng như một đứa trẻ lớn lên nhờ ăn, uống, ngủ và chơi đùa, thì Psyche của một người được định hình bởi tất cả những gì người ấy tư duy, cảm thọ và hành động, cho đến khi nó hoàn hảo để được dùng như một cây cầu giữa tinh thần và thể xác. Cũng như cây cầu nối liền sự lưu thông giữa hai bờ song, Psyche liên kết nguồn gốc và sự thể hiện của nguồn gốc.
M: Gọi nó là tình yêu. Cây cầu là tình yêu.
H: Xét cho cùng, tất cả đều là kinh nghiệm. Bất cứ gì chúng ta suy nghĩ, cảm thọ, và hành động đều là kinh nghiệm. Đằng sau là người kinh nghiệm. Như vậy, tất cả chúng ta biết gồm có hai yếu tố - người kinh nghiệm và kinh nghiệm. Nhưng thật ra hai là một - chỉ người kinh nghiệm là kinh nghiệm. Tuy nhiên, người kinh nghiệm lại cho rằng kinh nghiệm thuộc về bên ngoài. Cũng như thế, tinh thần và thể xác là một; chúng chỉ có vẻ như là hai.
M: Đối với Tinh thần, không có cái gì là thứ hai.
H: Thế cái thứ hai xuất hiện đối với ai? Theo tôi hình như tính nhị nguyên chỉ là một ảo tưởng được tạo ra bởi sự không hoàn hảo của Psyche. Khi Psyche toàn hảo, tính nhị nguyên không còn được thấy nữa.
M: Quả là như thế.
H: Tuy nhiên, tôi phải lập lại câu hỏi rất đơn giản: Ai tạo ra sự phân biệt giữa tội lỗi và đức hạnh?
M: Kẻ nào có thân thì có tội với thân. Kẻ nào có tâm thì có tội với tâm.
H: Nếu chỉ đơn thuần có thân và tâm không nhất thiết phải là tội lỗi. Phải có một yếu tố thứ ba ở ngay nguồn gốc của nó. Tôi vẫn tiếp tục trở lại câu hỏi về tội lỗi và đức hạnh này, vì ngày nay bọn trẻ cứ cho rằng chẳng có cái như là tội lỗi, nên chẳng cần phải câu nệ quá mà hãy sẵn sàng bắt kịp những ham muốn hiện tiền. Bọn họ phớt lờ truyền thống và uy quyền; chỉ có tư tưởng kiên cố và chân thật may ra mới có thể ảnh hưởng được họ.
Nếu bọn họ có kiềm chế một số hành động nào đó thì chẳng qua là vì sợ cảnh sát chứ không phải vì sự tin tưởng. Chắc chắn là phải có một cái gì đó trong những gì họ nói, vì chúng ta có thể thấy các giá trị của chúng ta thay đổi từ nơi này đến nơi khác, và từ lúc này sang lúc khác. Chẳng hạn như chém giết trong chiến tranh là một đức tính anh hùng hôm nay, nhưng có thể bị coi là tội ác ghê tởm vào thế kỷ sau.
M: Một người cùng di chuyển với trái đất chắc chắn sẽ trải qua ngày và đêm. Người nào ở cùng với mặt trời sẽ không biết bóng tối là gì. Thế giới của Ta không phải là thế giới của các ông. Theo như Ta thấy, các ông đang đóng trò trên sân khấu. Không hề có thực tế nào trong việc đến và đi của các ông. Mọi vấn đề của các ông chẳng thật chút nào !
H: Có thể chúng tôi là những kẻ mộng du, hay đang ở trong ác mộng. Ông không thể làm gì được sao?
M: Đây là điều Ta làm: Ta đã đi vào trạng thái chiêm bao của các ông và bảo: “Ngưng làm cho chính mình và tha nhân đau khổ, chấm dứt đau khổ và tỉnh thức.”
H: Vậy tại sao chúng tôi không thức tỉnh?
M: Các ông sẽ thức tỉnh. Không gì có thể ngăn trở Ta. Có lẽ phải cần một thời gian. Khi các ông bắt đầu đặt câu hỏi về giấc chiêm bao của chính mình thì sự tỉnh thức không còn bao lâu.
CHƯƠNG 21. SỰ SỐNG LÀ TÌNH YÊU VÀ TÌNH YÊU LÀ SỰ SỐNG
Hỏi: Có phải tu tập Yoga là luôn luôn có ý thức? Hay, có thể nào là vô thức, ở bên dưới ngưỡng cửa của biết?
Maharaj: Đối với những người sơ cơ, việc tu tập Yoga thường là có chủ ý và đòi hỏi quyết tâm cao. Nhưng sau nhiều năm tu tập nghiêm túc, hành giả có thể thường xuyên chuyên chú trong sự giác ngộ chính mình, dù có ý thức hay không. Pháp môn
[3] Sadhana - trực chỉ một cách vô thức - là hữu hiệu nhất, vì nó tùy nghi và chắc chắn.
H: Phải hiểu như thế nào về một người từng tu tập Yoga nghiêm túc trong một thời gian, rồi sau đó chán nản và buông trôi mọi cố gắng?
M: Chỉ xét đoán bề ngoài một người làm, hay không làm cái gì đó, thì thường là lầm lẫn. Người đó trông có vẻ như thờ ơ nhưng có thể là để gom góp sức lực. Các nguyên nhân về thái độ của chúng ta rất vi tế. Một người không nên vội vàng lên án, và thậm chí cũng chớ vội ca tụng. Nên nhớ rằng Yoga là sự tác động của cái Ta bên trong - VyakTa - lên cái Ta bên ngoài - Vyakti. Tất cả những gì cái bên ngoài làm đơn thuần chỉ là phản ứng đối với cái bên trong.
H: Nhưng cái bên ngoài vẫn hữu ích.
M: Nó hữu ích được bao nhiêu và bằng cách nào? Nó có thể điều khiển một phần nào thân xác, và có thể hoàn chỉnh tư thế cũng như cách thở. Còn đối với ý nghĩ và cảm thọ của tâm thì nó chỉ có rất ít ưu thế, vì nó chính là tâm. Chính cái bên trong mới có thể điều khiển cái bên ngoài. Cái bên ngoài sẽ tuân theo một cách khôn ngoan.
H: Nếu cái bên trong có trách nhiệm tối hậu đối với sự phát triển tâm linh của con người, thì tại sao người ta lại hô hào và khuyến khích cái bên ngoài?
M: Cái bên ngoài có thể giúp ích bằng cách giữ im lặng và làm cho không còn tham ái và lo sợ. Chắc ông có để ý rằng tất cả những chỉ thị đối với cái bên ngoài đều là dưới hình thức phủ định như: đừng, chấm dứt, kiềm chế, từ bỏ, buông bỏ, hy sinh, bỏ, thấy cái hư giả là hư giả. Ngay cả mô tả ngắn gọn về thực tại cũng là sự phủ nhận: “Không phải cái này, Không phải cái này” - Neti, Neti. Tất cả những cái khẳng định thuộc cái Ta bên trong, cùng như tất cả những cái tuyệt đối thuộc về Thực tại.
H: Làm sao chúng ta phân biệt được cái bên trong và cái bên ngoài qua kinh nghiệm thực tế?
M: Cái bên trong là nguồn gốc của cảm hứng, cái bên ngoài được vận hành bằng ký ức. Nguồn gốc thì không thể truy tầm, trong khi tất cả ký ức đều bắt đầu ở một nơi nào đó. Như vậy cái bên ngoài luôn luôn được xác định, còn cái bên trong thì không thể nắm bắt bằng ngôn từ. Sự nhầm lẫn của các môn đồ Yoga là họ tưởng tượng rằng cái bên trong là cái gì có thể nắm bắt được, họ quên rằng tất cả những gì có thể nhận thức được đều biến dịch, và do đó không thật. Chỉ có cái làm cho nhận thức trở nên khả hữu - gọi nó là Sự Sống hay Đại Ngã - Brahman, hay bất cứ gì mà ông muốn - mới là thật.
H: Sự sống có cần phải có một cái thân để thể hiện chính nó?
M: Thân xác tìm cách sống. Không phải sự sống cần đến thân xác mà chính thân xác cần đến sự sống.
H: Sự sống làm như vậy một cách có chủ đích?
M: Thế tình yêu có hành xử một cách có chủ đích? Có và không. Sự sống là tình yêu và tình yêu là sự sống. Cái gì giữ cho thân xác được liên tục nếu không phải tình yêu? Tham ái là gì, nếu không phải là yêu quí cái Ta? Lo sợ là gì, nếu không phải là sự mong muốn được bảo vệ? Và hiểu biết là gì nếu không phải là lòng yêu chuộng sự thật? Phương diện và hình thức có thể sai lầm, nhưng động cơ phía sau luôn luôn là sự yêu quí - yêu quí cái Ta và yêu quí cái của Ta. Cái Ta và cái của Ta có thể là nhỏ bé, hoặc có thể bùng nổ và bao gồm cả vũ trụ, nhưng tình yêu lúc nào cũng thế.
H: Tụng niệm danh xưng Thượng đế là điều rất phổ biến ở Ấn Độ, liệu có công thức nào không?
M: Khi biết tên một vật, hay một người, ông có thể tìm ra vật đó hay người đó một cách dễ dàng. Kêu gọi Thượng đế bằng tên của Ngài, ông mời Ngài đến với ông.
H: Ngài đến dưới hình thức nào?
M: Tùy theo sự mong đợi của ông. Nếu ông kém may mắn và một người thánh thiện nào đó cho ông một câu thần chú - Mantra - may mắn, và ông trì niệm câu chú với tất cả tín tâm và thành khẩn thì vận rủi của ông chắc chắn sẽ ra đi. Tín tâm kiên cố vẫn mãnh liệt hơn định mệnh. Định mệnh là kết quả của nhiều nguyên nhân, hầu hết là ngẫu nhiên, và do đó đan kết với nhau một cách rất lỏng lẻo. Niềm tin và hy vọng sẽ vượt qua định mệnh một cách dễ dàng.
H: Khi niệm chú thì chuyện gì xảy ra?
M: Âm thanh của câu chú tạo ra hình tướng và hình tướng đó là hiện thân của cái Ta. Cái Ta có thể là hiện thân của bất cứ hình tướng nào - và hành hoạt qua hình tướng đó. Xét cho cùng, cái Ta thể hiện tự thân trong hành động - và câu chú là năng lượng khởi đầu hành động. Nó tác động đến ông, và nó tác động đến môi trường quanh ông.
H: Thần chú thuộc về truyền thống? Có bắt buộc phải như thế không?
M: Từ ngàn xưa đã có sự liên hệ giữa một số từ ngữ với những năng lượng tương ứng; nếu lập lại nhiều lần các từ ngữ đó thì sự liên hệ sẽ tăng thêm cường độ. Nó cũng giống như một con đường để đi. Đó là một con đường dễ dàng - chỉ cần có tín tâm là đủ. Người trì chú tin tưởng con đường sẽ đưa mình đến nơi muốn đến.
H: Ở Âu châu không có truyền thống thần chú, ngoại trừ trong một số dòng tu kín. Trì chú có ích lợi gì đối với một thanh niên Tây phương thời nay?
M: Chẳng có ích lợi gì, trừ khi anh ta bị thu hút rất mạnh. Đối với anh ta cách đúng nhất là chuyên chú với ý nghĩ rằng anh ta là nền tảng của mọi sự hiểu biết, là tánh biết bất biến và bất diệt về tất cả những gì xảy đến với các giác quan và tâm. Nếu luôn luôn giữ điều đó trong tâm, thấy biết và tỉnh thức, thì anh ta chắc chắn sẽ phá vỡ mọi giới hạn của vô minh, và thể nhập vào sự sống thuần túy, ánh sáng và tình yêu. Ý nghĩ “Ta chỉ là nhân chứng” sẽ thanh tẩy thân tâm và khai mở con mắt của trí tuệ. Anh ta vượt ra khỏi mọi ảo tưởng và trong lòng hoàn toàn không còn tham ái. Cũng như băng tan thành nước, nước bốc hơi, hơi nước hòa tan trong không khí và biến mất trong không gian, thì thân xác sẽ hòa tan trong tánh biết thuần túy - Chidakash, rồi thành sự hiện hữu thuần túy - Paramakash, là cái ở ngoài mọi tồn tại và không tồn tại.
H: Bậc giác ngộ cũng ăn uống và ngủ nghỉ. Cái gì khiến bậc giác ngộ làm như vậy?
M: Người giác ngộ được vận hành bởi cùng năng lượng vận hành vũ trụ.
H: Tất cả đều được vận hành bởi cùng một năng lượng; sự khác biệt là gì?
M: Đây là sự khác biệt duy nhất: Bậc giác ngộ biết được cái người khác chỉ nghe nói suông mà không trải qua. Về phương diện tri thức thì người thường có vẻ tin tưởng nhưng trong hành động họ để lộ ra sự ràng buộc, còn người giác ngộ chẳng bao giờ lầm lẫn.
H: Mọi người đều nói “Ta là”. Bậc giác ngộ cũng nói “Ta là”.
Sự khác biệt ở chỗ nào?
M: Sự khác biệt ở trong ý nghĩa gắn liền với câu: “Ta là”. Đối với người giác ngộ, kinh nghiệm: “Ta là thế giới, thế giới là của ta” có một giá trị tuyệt đối - người giác ngộ suy nghĩ, cảm thọ và hành động một cách hợp nhất, và là một với tất cả chúng sinh. Người đó thậm chí có thể không biết đến cả lý thuyết lẫn phương pháp tu hành sự giác ngộ của chính mình, người đó có thể được sinh ra và chẳng được giáo dục những quan niệm về tôn giáo hay siêu hình. Nhưng không hề có một lầm lẫn nào, dù nhỏ nhặt nhất, trong sự hiểu biết và lòng từ bi của người giác ngộ.
H: Giả sử tôi gặp một khất sĩ lõa thể và đói khát, tôi hỏi người đó: “Ông là ai?” Người khất sĩ trả lời: “Ta là cái Ta Tối Thượng.” Tôi đáp: “Được, ông là Cái Tối Thượng, vậy hãy thay đổi trạng thái hiện nay của ông đi.” Người đó sẽ làm gì?
M: Người đó sẽ hỏi ông: “Trạng thái nào? Có cái gì cần phải thay đổi? Cái gì là không đúng với Ta?
H: Tại sao người đó lại trả lời như vậy?
M: Bởi vì người đó không còn bị ràng buộc với hình tướng bề ngoài, người đó không đồng hóa chính mình với danh xưng và hình tướng. Người đó sử dụng ký ức, nhưng ký ức không thể sử dụng được người đó.
H: Thế không phải tất cả hiểu biết đều dựa trên kinh nghiệm?
M: Hiểu biết ở trình độ thấp thì đúng. Hiểu biết ở trình độ cao, hiểu biết Thực tại có sẵn trong bản chất chơn thật của con người.
H: Liệu tôi có thể nói rằng tôi không phải cái mà tôi ý thức được, và tôi cũng không phải tự thân ý thức?
M: Bao giờ ông còn là người tìm kiếm, thì tốt hơn hãy bám chặt với ý nghĩ ông là ý thức thuần túy, hoàn toàn không có nội dung. Vượt ra khỏi ý thức là trạng thái tối thượng.
H: Sự mong cầu giải thoát khởi sinh từ trong ý thức hay bên ngoài?
M: Dĩ nhiên là từ trong ý thức. Tất cả mọi ham muốn đều khởi sinh từ ký ức và ở trong nội vi phạm trù ý thức. Cái ở bên ngoài ý thức thì không còn cố gắng cần cầu. Ngay chính sự ham muốn vượt ra khỏi ý thức vẫn còn trong nội vi ý thức.
H: Liệu có vết tích, hay dấu ấn nào của cái bên ngoài lưu lại trên ý thức?
M: Không, không thể nào có.
H: Vậy cái gì nối kết hai cái? Làm sao có thể tìm ra được sự dung thông giữa hai trạng thái không hề có sự tương đồng? Không phải tánh biết thuần túy là sự nối kết giữa hai cái hay sao?
M: Ngay cả tánh biết thuần túy cũng là một hình thức của ý thức.
H: Vậy cái gì ở bên ngoài? Hư không?
M: Một lần nữa, hư không ám chỉ ý thức. Viên mãn và hư không là những điều kiện tương đối. Cái Thật mới thực sự ở bên ngoài - bên ngoài không những trong tương quan với ý thức mà còn trong bất cứ mọi tương quan nào. Sự khó khăn ở đây là việc sử dụng từ ngữ “trạng thái”. Cái Thật không phải là trạng thái của một cái gì khác - nó không phải là một trạng thái của tâm, của ý thức, hay Psyche - nó cũng không phải là một cái gì có khởi đầu và kết thúc, hiện hữu hay không hiện hữu. Tất cả mọi cái đối nghịch đều được dung chứa trong nó - nhưng nó không hề bị tác động bởi những cái đối nghịch. Ông chớ xem nó như là kết thúc của một sự chuyển tiếp. Nó là chính nó, sau khi những ý thức như thế không còn nữa. Lúc đó những từ ngữ như “Ta là con người,” hoặc “Ta là thượng đế” không còn ý nghĩa. Nó chỉ có thể được nghe, và được thấy trong sự im lặng và bóng tối.
CHƯƠNG 22. SỰ SÁNG SUỐT ĐƯA ĐẾN TÍNH VÔ TƯ
Maharaj: Trời mưa to quá làm ông ướt sũng hết cả người. Trong thế giới của Ta thời tiết luôn luôn tốt đẹp. Không có ngày và cũng chẳng có đêm, không nóng và cũng không lạnh. Trong đó chẳng có lo âu hay nuối tiếc nào câu thúc Ta. Tâm Ta hoàn toàn vô niệm, vì chẳng còn tham ái nào bắt Ta làm nô lệ.
Hỏi: Có đến hai thế giới sao?
M: Thế giới của ông thì vô thường và biến dịch. Thế giới của Ta thì toàn hảo và bất biến. Ông có thể kể cho Ta điều ông thích về thế giới của ông, Ta sẽ lắng nghe chăm chú, và thậm chí còn thích thú nữa, nhưng lúc nào Ta cũng biết rõ là thế giới của ông không có, và ông đang chiêm bao.
H: Cái gì làm cho thế giới của ông khác biệt với thế giới của tôi?
M: Thế giới của Ta không có một đặc tính nào để có thể được nhận dạng. Ông không thể nói gì về thế giới của Ta. Ta là thế giới của Ta. Thế giới của Ta là chính Ta. Nó trọn vẹn và hoàn hảo. Mọi vết tích đều bị xóa sạch, mọi kinh nghiệm đều bị khước từ. Ta chẳng cần gì, ngay cả chính Ta, vì Ta không thể đánh mất chính Ta.
H: Ông cũng chẳng cần đến Thượng đế?
M: Tất cả những ý tưởng và sai biệt như thế chỉ tồn tại trong thế giới của ông; trong thế giới của Ta không có cái gì như thế. Thế giới của Ta đơn độc và rất đơn sơ.
H: Không có cái gì xảy ra trong thế giới của ông?
M: Bất cứ gì xảy ra trong thế giới của ông thì chỉ có giá trị trong thế giới của ông, và chỉ kích thích những phản ứng trong thế giới của ông. Trong thế giới của Ta chẳng có gì xảy ra,
H: Ngay sự kiện ông kinh nghiệm thế giới của ông đã hàm ý nhị nguyên có sẵn trong mọi kinh nghiệm.
M: Về ngôn từ thì đúng. Nhưng lời lẽ của ông không đến được với Ta. Thế giới của Ta là thế giới vô ngôn. Trong thế giới của ông cái không được nói ra thì không tồn tại. Trong thế giới của Ta - ngôn từ và nội dung của nó không có sự hiện hữu. Trong thế giới của ông không có gì ở lại, trong thế giới của Ta chẳng có gì đổi thay. Thế giới của Ta là thật, còn thế giới của ông dấy khởi từ chiêm bao.
H: Nhưng ông và tôi đang cùng trò chuyện.
M: Cuộc trò chuyện xảy ra trong thế giới của ông. Trong thế giới của Ta chỉ có sự im lặng vĩnh cửu. Sự im lặng của Ta ca hát, sự rỗng rang của Ta thì viên mãn, Ta chẳng thiếu một cái gì. Ông không thể biết được thế giới của Ta cho đến khi nào ông đến đó.
H: Như thế thì hình như chỉ có một mình ông trong thế giới của ông.
M: Làm sao ông có thể nói một mình hay không một mình khi ngôn từ không có chỗ áp dụng? Dĩ nhiên là Ta một mình vì Ta là tất cả.
H: Có bao giờ ông đến thế giới của chúng tôi?
M: Có gì đến và đi đối với Ta? Một lần nữa lại là ngôn từ.
Hiện hữu - từ đó mà Ta đến và từ đó mà Ta đi.
H: Thế giới của ông có ích gì đối với tôi?
M: Hãy quan sát kỹ hơn thế giới của ông, tìm hiểu nó thật nghiêm túc, rồi bất chợt một ngày nào đó ông sẽ tìm thấy ông trong thế giới của Ta.
H: Như thế thì được gì?
M: Ông chẳng được gì cả. Ông chỉ bỏ lại phía sau những gì không phải của ông, và tìm ra cái mà ông chưa bao giờ mất - sự hiện hữu của chính ông.
H: Ai là người cai trị thế giới của ông?
M: Trong thế giới của Ta không có người cai trị và kẻ bị trị. Không hề có bất cứ hình thức nhị nguyên nào. Ông chỉ phóng chiếu ra những ý nghĩ của chính ông. Kinh điển và thần linh của ông hoàn toàn vô nghĩa ở đây.
H: Nhưng ông vẫn còn có một danh xưng và hình tướng, ông còn biểu lộ ý thức và hành động.
M:Trong thế giới của ông thì Ta có vẻ như thế. Trong thế giới của Ta, Ta chỉ có sự hiện hữu. Không còn gì khác. Các ông giầu có những ý tưởng về sự sở hữu, về số lượng và chất lượng. Ta hoàn toàn không còn một ý tưởng nào.
H: Trong thế giới của tôi đầy những phiền nhiễu, khốn khó và
tuyệt vọng. Ông có vẻ sống ung dung bằng một nguồn thu nhập bí ẩn, còn tôi phải làm nô lệ cho sự kiếm sống.
M: Tùy ông thôi. Ông muốn bỏ thế giới của ông để sang thế giới của Ta lúc nào cũng được.
H: Làm thế nào để vượt sang?
M: Thấy thế giới của ông như nó là, mà không phải như ông tưởng tượng nó là. Sự sáng suốt sẽ đưa đến tính vô tư; tính vô tư sẽ đảm bảo đưa đến hành động đúng; hành động đúng sẽ kiến tạo cây cầu bên trong nối liền với sự hiện hữu chơn thật của ông. Hành động là bằng chứng của lòng thành khẩn. Hãy chuyên cần và tin tưởng thực hành những gì ông được chỉ bảo, mọi trở ngại sẽ tiêu tan.
H: Ông có vui sướng không?
M: Trong thế giới của ông có lẽ Ta là kẻ khốn khổ nhất. Thức dậy, ă, nói chuyện, rồi lại đi ngủ - thật là phiền !
H: Thậm chí ông cũng chẳng muốn sống?
M: Sống, chết - những từ ngữ này mới thật vô nghĩa ! Khi ông thấy Ta sống thì Ta chết. Khi ông nghĩ Ta chết thì Ta sống. Quả thật làm rối trí ông !
H: Ông mới thản nhiên làm sao ! Tất cả những đau khổ của thế giới này chẳng là gì cả đối với ông.
M: Ta biết rất rõ những phiền não của ông.
H: Vậy ông làm gì?
M: Ta chẳng cần làm gì cả. Chúng đến rồi đi.
H: Có phải chúng đi bằng chính hành vi mà ông dành cho chúng sự chú ý của ông?
M: Đúng vậy. Sự khó khăn có thể là vật lý, cảm xúc hay tinh thần, nhưng nó luôn luôn có tính cách cá nhân. Những tai họa có quy mô lớn là sự cộng hưởng của vô số những định mệnh cá nhân, và phải trải qua một thời gian mới ổn định. Nhưng chết không bao giờ là một tai họa.
H: Ngay cả khi một người bị sát hại?
M: Tai họa thuộc về kẻ sát nhân.
H: Hình như vẫn có hai thế giới, thế giới của tôi và thế giới của ông.
M: Thế giới của Ta thì chơn thật, thế giới của ông thuộc về tâm.
H:Thử tưởng tượng có một tảng đá, tảng đá đó có một cái lỗ và trong cái lỗ có một con ếch. Con ếch có thể suốt đời an hưởng cực lạc, không hề bị phân tâm, không hề bị quấy nhiễu. Bên ngoài tảng đá thế giới vẫn vận hành. Nếu có ai nói với nó về thế giới bên ngoài, thì con ếch sẽ bảo: “Chẳng hề có những thứ như thế. Thế giới của Ta vô cùng an lạc. Thế giới của ông chỉ là một cấu trúc ngôn từ, nó không có thực thể.” Ông cũng như thế. Khi ông bảo thế giới của chúng tôi đơn thuần không tồn tại thì chúng tôi và ông không có một cơ sở nào chung để bàn luận. Hay, lấy một ví dụ khác. Tôi đến gặp bác sĩ và nói vơi ông ta tôi bị đau dạ dày. Bác sĩ khám tôi và bảo: “Ông không sao cả.” Tôi đáp: “Nhưng tôi đau”. Bác sĩ khẳng định: “Sự đau đớn của ông là thuộc về tâm.” Tôi đáp: “Biết được sự đau đớn của tôi thuộc về tâm chẳng giúp ích gì cho tôi. Ông là bác sĩ, hãy làm cho tôi hết đau. Nếu không chữa cho tôi khỏi, ông không phải là bác sĩ.” M: Rất đúng.
H: Ông vừa đặt xong đường rầy, nhưng không có cầu nên xe hỏa không qua được. Phải bắc cầu.
M: Chẳng cần đến cầu.
H: Phải có cái gì đó nối liền thế giới của ông với thế giới của tôi.
M: Không cần một sự nối liền nào giữa một thế giới thật và một thế giới tưởng tượng, vì không thể có một sự kết nối nào như thế được.
H: Vậy chúng tôi phải làm gì?
M: Tìm hiểu thế giới của ông, dồn hết tâm trí cho nó, xem xét nó thật kỹ lưỡng, tìm hiểu cẩn thận mọi ý nghĩ về nó; thế là đủ.
H: Thế giới thì quá rộng lớn để tìm hiểu. Tất cả những gì tôi biết là tôi hiện hữu. Thế giới gây phiền não cho tôi, và tôi làm cho thế giới phiền não.
M: Theo kinh nghiệm của Ta thì mọi thứ đều là cực lạc. Nhưng lòng ham muốn cực lạc gây ra đau khổ. Như thế cực lạc trở thành mầm mống của đau khổ. Toàn thể vũ trụ bao la của sự đau khổ đều khởi sinh từ tham ái. Hãy từ bỏ sự ham muốn lạc thú, ông sẽ không còn biết đau khổ là gì.
H: Làm sao lạc thú có thể là mầm mống của đau khổ?
M: Chỉ vì để có được lạc thú ông phạm không biết bao nhiêu tội lỗi. Và quả của tội lỗi là sự đau khổ và cái chết.
H: Ông bảo rằng thế giới không có ích lợi gì đối với chúng tôi, mà chỉ là một nỗi thống khổ. Tôi cảm thấy không phải như thế. Thượng đế không phải là một kẻ ngu ngốc. theo tôi thế giới là một nhà máy khổng lồ biến tiềm năng thành hiện thực, vật chất thành sự sống, cái vô thức thành cái hoàn toàn tỉnh thức. Để nhận ra cái tối thượng chúng ta cần kinh nghiệm của những cái đối nghịch. Cũng như muốn xây dựng một đền đài chúng ta cần đến đá và hồ vữa, gỗ và sắt, kính và ngói; như vậy để trở nên thánh nhân, chủ tể của sự sống và cái chết, một người phải cần đến chất liệu của mọi kinh nghiệm. Cũng như một người đàn bà ra chợ, mua đủ loại thực phẩm, về nhà nấu nướng rồi dâng cho vị chủ nhân ăn, chúng ta hãy nướng mình thật ngon trong ngọn lửa của sự sống để dâng lên Thượng đế thọ dụng.
M: Thế à, nếu ông nghĩ như thế thì cứ hành động đi. Bằng mọi cách, mời Thượng đế của ông thọ dụng.
H: Một đứa trẻ đến trường học đủ mọi thứ để rồi sau này chẳng dùng được cái gì. Nhưng qua tiến trình học hỏi đứa trẻ trưởng thành. Tương tự như thế chúng ta trải qua vô số kinh nghiệm và quên đi tất cả, nhưng trong lúc đó chúng ta luôn luôn trưởng thành. Một Gnani là gì nếu không phải là một con người với một thiên tài về thực tại ! Thế giới này của tôi không thể là ngẫu nhiên. Nó có ý nghĩa, và như thế là phải có một đồ án đằng sau nó. Và đồ án đó ở trong tay Thượng đế của tôi.
M: Nếu thế giới là hư giả thì đồ án và người thiết kế đồ án đó cũng là hư giả.
H: Ông lại phủ nhận thế giới. Không có một cây cầu nào giữa chúng ta.
M: Không cần phải có cây cầu. Sự lầm lẫn của ông là tin tưởng ông được sinh ra. Ông chưa hề được sinh ra và ông sẽ không bao giờ chết đi, nhưng ông tin rằng ông đã được sinh ra vào một ngày nào đó, ở một nơi nào đó, và một thân xác nào đó là của chính ông.
H: Thế giới hiện hữu, tôi hiện hữu. Đó là những sự kiện thực tế.
M: Vì sao ông lại bận tâm đến thế giới trước khi lo lắng cho chính ông? Ông muốn cứu vớt thế giới, có phải thế không? Liệu ông có cứu được thế giới trước khi tự cứu ông? Và được cứu vớt có nghĩa là gì? Được cứu vớt khỏi cái gì? Khỏi ảo tưởng. Sự cứu vớt có nghĩa là thấy mọi vật như chính chúng là. Ta thật sự không thấy Ta có liên quan với bất cứ ai và bất cứ cái gì. Thậm chí cũng chẳng liên quan đến một cái Ta, dù cái Ta đó là gì. Ta không bao giờ có thể được xác định. Ta vừa ở trong vừa ở ngoài - vô cùng thân thiết nhưng không thể đến gần.
H: Làm sao ông đã đạt được như thế?
M: Bằng tín tâm đối với Tôn sư. Tôn sư đã bảo Ta: “Chỉ một mình ông là” và Ta đã không nghi ngờ ngài. Ta đã tư duy sâu sắc về lời ngài nói, cho đến khi nhận ra đó là chân lý tuyệt đối.
H: Tin tưởng bằng sự lập đi lập lại?
M: Bằng sự giác ngộ chính mình. Ta nhận ra rằng Ta luôn luôn ý thức và an vui tuyệt đối. Chỉ vì lầm lẫn nên Ta mới tưởng rằng nhờ thân xác và thế giới của những thân xác mà Ta có được hiện hữu - ý thức - an lạc.
H: Ông không phải là người có học thức. Ông cũng chẳng đọc
kinh sách nhiều, và những gì ông đọc hay nghe có lẽ không tự mâu thuẫn. Còn tôi là người có sở học khá cao, và đã từng đọc rất nhiều; tôi nhận thấy sách vở và thầy dạy mâu thuẫn với nhau một cách vô vọng. Do đó tôi nghi hoặc bất cứ gì đọc được hay nghe được. Phản ứng đầu tiên của tôi luôn luôn là: “Nó có thể là như thế, hoặc, nó không thể là như thế.” Vì tâm tôi không thể quyết định cái gì là thật và cái gì là hư giả nên tôi chơi vơi trong nghi hoặc. Trong Yoga mang một cái tâm nghi hoặc là một bất lợi vô cùng to lớn.
M: Nghe những điều ông nói kể cũng hay; nhưng Tôn sư cũng dạy tôi phải tuyệt đối nghi hoặc tất cả mọi thứ. Ngài bảo: “phủ nhận sự tồn tại đối với tất cả mọi cái ngoại trừ cái Ta của người.” Bằng tham ái ông đã tạo ra thế giới với những lạc thú và khổ đau của nó.
H: Thế giới có bắt buộc phải đau khổ như thế không?
M: Làm sao khác được? Chính bản chất của lạc thú là hữu hạn và vô thường. Lạc thú khởi sinh từ đau khổ, trong đau khổ nó tìm kiếm sự thỏa mãn, và kết thúc trong nỗi đau đớn của sự chán chường và tuyệt vọng. Đau khổ luôn luôn là hậu cảnh của lạc thú, mọi tìm cầu lạc thú đều khởi sinh từ đau khổ và chấm dứt trong đau khổ.
H: Tất cả những điều ông nói đối với tôi quá rõ ràng. Nhưng khi có phiền não vật lý hay tâm lý xảy đến thì tâm tôi lại trở nên u tối và ảm đạm, hoặc tìm cách giải khuây một cách điên cuồng.
M: Điều ấy có gì quan trọng? Chỉ cái tâm là u tối và bất ổn, có phải ông đâu? Ông nhìn xem, đủ mọi chuyện xảy ra trong căn phòng này. Ta có làm cho chúng xảy ra đâu? Chúng chỉ xảy ra. Với ông cũng thế - cuốn sổ định mệnh tự khai mở và hiện thực hóa những gì bất khả tránh. Ông không thể thay đổi dòng diễn tiến của các sự kiện, nhưng ông có thể thay đổi được thái độ của ông, và điều thực sự quan trọng là thái độ chứ không phải đơn thuần sự kiện. Thế gian là cõi giới của tham ái và lo sợ. Ông không thể tìm được sự an lạc trong đó. Muốn có an lạc ông phải vượt ra khỏi thế giới. Nguyên nhân căn bản của thế giới là sự yêu quí chính mình. Vì nó mà chúng ta tìm kiếm lạc thú và né tránh khổ đau. Thay sự yêu quí chính mình bằng sự yêu quí cái Ta thì bức tranh sẽ thay đổi. Đấng sáng tạo Brahma là tổng thể của tất cả mọi tham ái. Thế giới là phương tiện để thỏa mãn những tham ái đó. Người ta chấp nhận bất cứ lạc thú nào mà họ mong muốn để rồi trả giá bằng nước mắt. Thời gian sẽ thanh toán mọi nợ nần. Luật quân bình có hiệu lực tối thượng.
H: Để trở thành một siêu nhân trước tiên phải là một con người. Thành nhân là kết quả của vô số kinh nghiệm. Lòng ham muốn đưa đến kinh nghiệm. Như thế, vào thời điểm của nó và ở bình diện của nó, lòng ham muốn là chính đáng.
M: Về một phương diện tất cả điều đó đều đúng. Nhưng rồi sẽ đến một ngày, sau khi gom góp đầy đủ ông phải khởi công xây dựng. Lúc đó sàng lọc và loại bỏ - Viveka-Vairagya - là vô cùng cần thiết. Mọi thứ cần phải được xem xét cẩn thận và những cái không cần thiết phải được loại bỏ một cách không thương tiếc. Cứ tin Ta đi, loại bỏ thì chắc chắn là nhiều, vì trong thực tế chẳng cái gì có giá trị. Cứ thản nhiên một cách tha thiết - thế là đủ.
CHƯƠNG 23. THƯỢNG ĐẾ LÀ NGƯỜI LÀM RA TẤT CẢ, BẬC GIÁC NGỘ LÀ KẺ CHẲNG LÀM GÌ CẢ
Hỏi: Một số bậc giác ngộ - Mahatmas - cho rằng thế giới không phải là một sự ngẫu nhiên và cũng chẳng phải là một trò chơi của Thượng đế mà là thành quả và sự thể hiện của một công cuộc vĩ đại nhằm thức tỉnh và phát triển ý thức trong khắp vũ trụ. Từ không có sự sống đến sự sống, từ vô thức đến ý thức, từ vô minh đến trí tuệ, từ tà kiến đến sáng suốt - đó là phương hướng mà theo đó thế giới không ngừng di chuyển một cách miệt mài. Dĩ nhiên là có những lúc nghỉ ngơi và bóng tối bao phủ khi vũ trụ có vẻ như không hoạt động, nhưng rồi sự nghỉ ngơi chấm dứt và công trình ý thức lại tiếp tục. Theo cái nhìn của chúng tôi, thế giới là một thung lũng đầy nước mắt, một nơi chốn cần phải thoát ly càng sớm càng tốt, và bằng mọi phương tiện có được. Đối với những bậc giác ngộ thế giới là tốt đẹp và nó phục vụ cho một mục đích tốt đẹp. Dù không phủ nhận rằng thế giới là một cơ cấu của tâm, và, tối hậu tất cả là một duy nhất, nhưng các vị ấy thấy và cho rằng cơ cấu đó có ý nghĩa, và phục vụ cho một mục đích được mong muốn cao nhất. Điều mà chúng tôi gọi là ý chí của Thượng đế không phải là một ý tưởng thất thường của một vị thần linh tinh nghịch, mà là sự thể hiện của một sự cần thiết tuyệt đối để trưởng thành trong tình yêu, trí tuệ và quyền năng, để hiện thực hóa những tiềm năng vô biên của sự sống và ý thức.
Một người làm vườn trồng hoa, từ một hạt giống nhỏ bé thành một đóa toàn hảo rực rỡ; tương tự như thế trong vườn hoa của Thượng đế, Ngài trồng từ con người đến siêu nhân, là những người hiểu biết, có lòng yêu thương và làm việc cùng với Ngài.
Khi Thượng đế nghỉ ngơi - Pralaya, nhưng ai chưa hoàn tất sự phát triển sẽ trở nên vô thức trong một thời gian, còn những người đã toàn hảo, tức là những người đã thoát ra khỏi mọi hình tướng và nội dung của ý thức tiếp tục biết rõ sự im lặng của vũ trụ. Khi đến lúc một vũ trụ mới xuất hiện, những người còn ngủ sẽ thức dậy, và công việc của họ bắt đầu. Những người có trình độ cao thức dậy trước và chuẩn bị cơ sở cho những người kém hơn - là những người cảm thấy các hình thái và mô thức của thái độ thích hợp cho sự phát triển sâu xa hơn của họ.
Những giải thích của các vị đó là như thế. Sự khác biệt với điều ông chỉ dạy: Ông khẳng định thế giới là bất thiện và cần phải xa lánh. Họ còn cho rằng sự nhàm chán thế giới chỉ là một giai đoạn trôi qua, tuy cần thiết nhưng nhất thời; rồi sự nhàm chán sẽ được thay thế bằng một tình yêu bao trùm lên tất cả, và một ý chí kiên quyết để làm việc cùng Thượng đế.
Maharaj: Tất cả những gì ông nói đều đúng cho con đường đi ra - Pravritti. Còn con đường trở về - Nivritti - thì sự không hóa chính mình (naughting oneself) là cần thiết. Chỗ đứng của Ta là không - Paramakash, nơi ngôn từ và tư duy không thể đạt đến. Đối với tâm nó hoàn toàn là bóng tối và im lặng. Rồi ý thức bắt đầu khuấy động và đánh thức tâm - Chidakash, tâm phóng chiếu ra thế giới Mahadakash - được dựng lập bằng ký ức và tưởng tượng. Một khi thế giới được hình thành, thì tất cả những gì ông nói có thể là như thế. Nghĩ tưởng ra mục đích, phấn đấu để đạt được mục đích, tìm kiếm phương tiện và đường lối, trình bày viễn ảnh, biểu lộ năng lực và lòng dũng cảm - tất cả những thứ đó đều ở trong bản chất của tâm. Đó là những thuộc tính thiêng liêng và Ta không phủ nhận chúng. Nhưng chỗ Ta chọn là nơi không có sự khác biệt, không có vật và cũng chẳng có tâm tạo ra vật. Ở đó là Ta ở nhà. Bất cứ gì xảy ra chẳng hề tác động đến Ta - sự vật tác động đến sự vật, thế thôi. Vì không còn ký ức và chờ mong, nên Ta luôn luôn tươi mới, hồn nhiên và nồng nhiệt. Tâm là một người thợ vĩ đại - MahakarTa - và cần được nghỉ ngơi. Vì không cần gì cả nên Ta không lo sợ. Mà sợ ai? Không hề có sự phân chia, chúng ta không phải là những cái Ta riêng biệt. Chỉ có một cái Ta duy nhất, đó là Thực tại Tối thượng, trong đó nhân cách và phi nhân cách là một.
H: Tất cả những gì tôi muốn là có thể giúp ích cho thế giới.
M: Ai nói là ông không thể giúp gì cho thế giới? Chính ông quyết định thế nào là giúp, và cái gì cần giúp, rồi tự đưa ông vào một cuộc xung đột giữa những gì ông nên làm và những gì ông có thể làm, giữa sự cần thiết và khả năng.
H: Nhưng tại sao chúng tôi làm như thế?
M: Tâm ông phóng chiếu ra một cơ cấu, rồi ông tự đồng hóa mình với cơ cấu đó. Chính bản chất của lòng tham muốn thúc giục tâm tạo ra một thế giới để nó thỏa mãn. Một ham muốn nhỏ thậm chí có thể mở đầu cho một chuỗi dài các hành động, huống chi là một ham muốn mãnh liệt? Ham muốn có thể tạo ra cả một vũ trụ, sức mạnh của lòng ham muốn thật mầu nhiệm. Một que diêm bé nhỏ có thể làm cho cả một khu rừng mênh mông bốc cháy, thì lòng ham muốn cũng thế, nó làm cho những ngọn lửa của sự thể hiện bùng cháy. Chính mục đích của sự sáng tạo là thỏa mãn lòng ham muốn. Ham muốn có thể là cao thượng, hay thấp hèn, còn hư không thì vô tính - một người có thể chất đầy hư không tất cả những gì mình thích. Ông nên cẩn thận với những gì ông ham muốn. Còn với những người ông muốn giúp, ông nên nhớ rằng họ đang ở trong cái thế giới tương ứng với sự ham muốn của họ, ông không có cách nào giúp được họ, ngoại trừ cách thông qua sự ham muốn của họ. Ông chỉ có thể dạy cho họ nên có những ham muốn chính đáng thì may ra họ có thể vươn cao hơn chính họ, và không còn bị thôi thúc tạo ra và tái tạo những thế giới của tham ái, là cõi giới của lạc thú và khổ đau.
H: Phải đến một ngày vở tuồng kết thúc, một người phải chết, và một vũ trụ đi đến sự tận cùng.
M: Như một người ngủ say quên hết tất cả và thức dậy cho một ngày mới, hoặc một người chết đi rồi xuất hiện trong một cuộc sống khác thì các thế giới của tham ái và lo sợ cũng tan biến và xuất hiện như thế. Còn nhân chứng vũ trụ, cái Ta Tối Thượng không bao giờ ngủ và cũng chẳng bao giờ chết. Trái tim vĩ đại không bao giờ ngừng đập, vào mỗi nhịp đập của nó một vũ trụ mới lại hình thành.
H: Cái Ta Tối thượng có ý thức không?
M: Nó ở ngoài tất cả những gì mà tâm nhận thức. Nó vượt ra khỏi hiện hữu và phi hiện hữu. Nó là Có và cũng là Không đối với tất cả, nó vừa ở bên ngoài vừa ở bên trong, vừa tạo dựng vừa hủy diệt, nó chơn thật ngoài sức tưởng tượng.
H: Thượng đế và Mahatma là một hay hai?
M: Là một.
H: Phải có một sự khác biệt nào đó.
M: Thượng đế là Người Làm Ra Tất Cả, người giác ngộ là người không làm gì cả. Đích thân Thượng đế không bảo rằng: “Ta làm ra tất cả”. Đối với Thượng đế mọi chuyện xảy ra là do bản chất tự nhiên của nó. Đối với bậc giác ngộ, tất cả đều do Thượng đế tạo ra. Bậc giác ngộ không thấy có sự khác biệt giữa Thượng đế và tự nhiên. Cả Thượng đế và bậc giác ngộ đều biết mình là trung tâm bất động của tất cả mọi chuyển động, là nhân chứng thường hằng của cái vô thường. Trung tâm là một điểm trống không, còn nhân chứng là một điểm của tánh biết thuần túy; cả hai đều biết mình là không, do đó không có gì cưỡng lại được cả hai.
H: Trong kinh nghiệm của riêng ông những điều đó được thấy và cảm nhận như thế nào?
M: Vì không là gì cả nên Ta là tất cả. Tất cả mọi cái là Ta, tất cả mọi cái là của Ta. Cũng như thân xác Ta chuyển động bởi ý nghĩ của Ta về sự chuyển động; mọi chuyện xảy ra khi Ta nghĩ về chúng. Nên nhớ rằng Ta chẳng làm gì cả. Ta chỉ nhìn chúng xảy ra.
H: Mọi chuyện xảy ra theo như ông muốn chúng xảy ra, hay ông để chúng xảy ra như chúng xảy ra?
M: Cả hai. Ta chấp nhận và được chấp nhận. Ta là tất cả và tất cả là Ta. Là thế giới, nên Ta không sợ thế giới. Là tất cả, thì có cái gì mà Ta phải sợ? Nước không sợ nước, và lửa không sợ lửa. Không những thế, Ta không sợ vì Ta không là cái có thể kinh nghiệm sự sợ hãi, hay gặp nguy hiểm. Ta không có hình tướng hay danh xưng. Chính vì ràng buộc với danh xưng và hình tướng nên sợ hãi sinh khởi. Ta không hề bị ràng buộc. Ta là cái Không, và cái Không thì không sợ cái gì. Trái lại, cái gì cũng sợ cái Không, vì khi một cái gì đó chạm đến cái Không thì nó trở thành Không. Cái Không cũng như một cái giếng không đáy, bất cứ gì rơi xuống đó đều biến mất.
H: Thế không phải Thượng đế là một con người?
M: Bao giờ ông còn nghĩ ông là một con người, thì Thượng đế cũng là một con người. Khi ông là tất cả, ông thấy Thượng đế là tất cả.
H: Liệu tôi có thể thay đổi sự kiện bằng cách thay đổi thái độ?
M: Thái độ là sự kiện. Lấy sự giận dữ làm ví dụ. Ta giận dữ, đi tới đi lui trong phòng; cùng lúc đó Ta biết Ta là một trung tâm của trí tuệ và tình yêu, một nguyên tử của sự tồn tại thuần túy. Tất cả lắng xuống và tâm hòa nhập vào sự im lặng.
H: Như thế, một đôi khi ông vẫn còn giận dữ?
M: Ta nổi giận với ai và để làm gì? Cơn giận đến và tan biến ngay khi Ta nhớ lại chính mình. Tất cả chỉ là một trò chơi của
[4] Gunas . Khi tự đồng hóa với chúng, Ta là nô lệ của chúng. Khi đứng riêng ra, Ta là chủ nhân của chúng.
H: Liệu ông có thể ảnh hưởng đến thế giới bằng thái độ của ông? Khi tách mình ra khỏi thế giới ông làm mất đi mọi hy vọng cứu giúp thế giới.
M: Làm sao lại có thể như thế? Tất cả là chính Ta - vì sao Ta không thể giúp chính Ta? Ta không đồng hóa chính Ta với bất cứ người nào đó riêng biệt, vì Ta là tất cả - vừa là cái riêng biệt, vừa là vũ trụ.
H: Liệu ông có thể giúp tôi, một con người riêng biệt?
M: Ta luôn luôn giúp ông - từ bên trong. Cái Ta của Ta và cái Ta của ông là một. Ta biết, nhưng ông không biết điều đó. Đó là tất cả mọi khác biệt - và sự khác biệt đó không tồn tại mãi.
H: Và ông cứu giúp toàn thể thế giới bằng cách nào?
M: Gandhi chết, nhưng tâm của vị ấy tỏa khắp thế giới. Tư tưởng của một người giác ngộ thẩm nhập khắp nhân loại và mãi mãi hoạt động không ngừng. Vì không có danh xưng và xuất hiện từ bên trong, nên nó mãnh liệt hơn và có sức thuyết phục hơn. Đó là cách mà thế giới trở nên tốt đẹp hơn - cái bên trong trợ lực và làm cho cái bên ngoài hạnh phúc. Khi chết đi, người người giác ngộ không còn nữa, theo cùng ý nghĩa một con song không còn nữa khi nó hòa nhập vào biển cả; danh xưng và hình tướng không còn nữa, nhưng nước vẫn còn và trở thành một với nước biển. Khi người giác ngộ hội nhập với tâm vũ trụ, tất cả tinh hoa và trí tuệ của vị đó trở thành di sản của nhân loại, và nâng cao tâm thức của mỗi một chúng sinh.
H: Chúng tôi gắn liền với tính cách con người của chúng tôi. Tính cách cá nhân của chúng tôi, sự hiện hữu của chúng tôi khác biệt với người khác, đó là những gì chúng tôi vô cùng yêu quý. Ông có vẻ cho rằng cả hai đều vô dụng. Thế cái bất thị hiện của ông có ích gì đối với chúng tôi?
M: Bất thị hiện, thị hiện, tính cách cá nhân, tính cách con người - Nirguna, Saguna, Vyaka, Vyakti, tất cả chỉ là ngôn từ suông, là quan điểm, và thuộc tính của tâm. Chúng không hề có thực thể. Cái thật được chứng nghiệm trong im lặng. Ông bám víu lấy tính cách con người - nhưng ông chỉ ý thức mình là một con người khi nào ông gặp phiền não - còn khi không gặp phiền não thì ông chẳng bao giờ nghĩ đến chính ông.
H: Ông chưa nói với tôi về những công năng của cái Bất Thị Hiện.
M: Chắc chắn là ông phải ngủ để thức dậy. Ông phải chết đi để sống, ông phải được nấu chảy để tạo hình một cái mới. Ông phải phá hủy để xây dựng, hủy diệt trước khi sáng tạo. Cái Tối Thượng là dung môi của vũ trụ, nó ăn mòn bất cứ gì chứa nó, nó xuyên thủng mọi trở ngại. Nếu không có sự phủ nhận tuyệt đối tất cả mọi vật thì tính chuyên chế của mọi vật sẽ là tuyệt đối. Cái Tối Thượng là người hòa hợp vĩ đại, người đảm bảo sự quân bình tối hậu và toàn hảo, người bảo vệ sự sống trong tự do. Nó làm cho ông tan biến, và như thế tái khẳng định sự hiện hữu chơn thực của ông.
H: Cái Tối Thượng hoàn toàn tốt đẹp ở bình diện của nó. Nhưng làm sao nó hoạt động trong cuộc sống hàng ngày?
M: Cuộc sống hàng ngày là cuộc sống của hành động. Dù có yêu thích cuộc sống hay không, ông vẫn phải hành động. Bất cứ gì ông làm vì lợi ích của chính ông đều tích lũy lại và trở thành thuốc nổ; một ngày nào đó nó sẽ nổ tung, gieo tai họa cho ông và cho cả thế giới của ông. Khi tự lừa dối mình rằng ông làm điều tốt đẹp cho tất cả thì ông càng làm cho mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn, vì ông không được để những ý tưởng của ông định đoạt điều gì là tốt đẹp cho người khác. Kẻ nào tự nhận mình biết được điều tốt đẹp cho người khác là một người nguy hiểm.
H: Vậy thì một người phải hành động như thế nào?
M: Không cho chính ông và cũng chẳng cho người khác mà vì lợi ích của hành động. Một cái gì đó đáng làm là vì chính mục đích và ý nghĩa của nó. Đừng biến một cái gì thành phương tiện cho một cái khác. Đừng ràng buộc. Thượng đế không tạo ra cái này để phục vụ cho cái kia. Mỗi cái được tạo ra vì chính nó. Vì nó được tạo ra cho chính nó, nên nó không xen vào cái khác. Ông đang sử dụng đồ vật và con người cho những mục đích xa lạ với chúng và họ, nên ông phá hoại thế giới và chính ông.
H: Như ông nói, sự hiện hữu chơn thật lúc nào cũng ở với chúng tôi. Tại sao chúng tôi không nhận ra nó?
M: Đúng, ông luôn luôn là Cái Tối Thượng. Nhưng sự chú ý của ông lại đặt vào những cái khác, hoặc vật lý hoặc tâm lý. Khi sự chú ý của ông vừa rời một cái gì đó và chưa đặt vào một cái khác, thì trong khoảng xen kẽ ở giữa đó ông chính là sự hiện hữu thuần túy. Khi đã thuần thục thực hành pháp sáng suốt và vô tư - VivekaVairagya, ông không còn thấy những trạng thái thuộc cảm giác và tâm, lúc đó hiện hữu thuần túy xuất hiện như một trạng thái tự nhiên.
H: Làm thế nào để mất đi ý thức tách biệt này?
M: Bằng cách chú ý tâm vào “Ta là,”, vào ý niệm hiện hữu, thì “Ta là thế này thế nọ” sẽ biến mất; “Ta chỉ là nhân chứng” vẫn còn, và cả nó sẽ chìm trong “Ta là tất cả”. Rồi cái tất cả trở thành cái Một, và cái Một - chính ông, không tách biệt với Ta. Hãy buông bỏ ý tưởng về một cái “ta” riêng biệt, thì câu hỏi “Kinh nghiệm của ai?” sẽ không sinh khởi.
H: Ông nói từ sự chứng nghiệm của chính ông. Làm sao tôi biến nó thành của tôi?
M: Ông nói về kinh nghiệm của Ta như thể nó khác với kinh nghiệm của ông, bởi vì ông tin là chúng ta tách biệt. Nhưng chúng ta không tách biệt. Ở bình diện sâu hơn, kinh nghiệm của Ta chính là kinh nghiệm của ông. Lặn sâu vào trong chính ông và ông sẽ nhận thấy nó thật dễ dàng và thật đơn giản. Cứ đi theo hướng “Ta hiện hữu”.
CHƯƠNG 24. BÁM CHẶT CÁI “TA HIỆN HỮU”
Hỏi: Có bao giờ ông vui hay buồn? Ông có biết vui sướng và đau khổ là gì không?
Maharaj: Ông gọi chúng là gì thì tùy ý. Đối với Ta chúng chỉ là những trạng thái của tâm, còn Ta không phải là tâm.
H: Tình yêu có phải là một trạng thái của tâm?
M: Một lần nữa, điều đó còn tùy ông hiểu tình yêu theo nghĩa nào. Tham ái, dĩ nhiên, là một trạng thái của tâm. Nhưng sự giác ngộ tính duy nhất thì ở ngoài tâm. Đối với Ta, không có gì tự tồn tại. Tất cả là cái Ta, tất cả là chính Ta. Thấy chính mình trong mọi người và mọi người trong chính mình thì chắc chắn là tình yêu.
H: Khi trông thấy một cái gì đó vừa ý, tôi muốn nó. Một cách chính xác, ai muốn? Cái Ta hay tâm?
M: Câu hỏi được đặt sai. Không có “ai”. Mà chỉ có tham ái, lo sợ, giận dữ, và cái tâm bảo - đây là Ta, cái này là của Ta. Không có cái gì có thể được gọi là “ta” hay “của ta”. Tham ái là một trạng thái của tâm, được tâm nhận thức và đặt tên. Nếu không có cái tâm nhận thức và đặt tên thì tham ái ở ddaau?
H: Nhưng liệu có nhận thức mà không có sự đặt tên?
M: Dĩ nhiên. Sự đặt tên không thể vượt ra ngoài tâm, còn nhận thức chính là ý thức.
H: Khi một người chết đi thì chính xác chuyện gì xảy ra?
M: Chẳng có gì xảy ra. Một cái gì đó trở thành không. Cái không đã có đó, và cái không vẫn có đó.
H: Chắc chắn phải có một sự khác biệt giữa người sống và người chết. Ông nói về người sống như chết, và người chết như sống.
M: Tại sao ông lo lắng về một người qua đời, nhưng chẳng mấy quan tâm đến hàng triệu người chết đi mỗi ngày? Toàn thể vũ trụ nổ vào bên trong và nổ ra bên ngoài trong từng khoảnh khắc - Ta có cần phải thương khóc chăng? Đối với Ta có một điều rất rõ ràng. Tất cả những gì là, sống, và chuyển động đều có sự hiện hữu trong ý thức, còn Ta vừa ở trong và vừa ở ngoài ý thức. Ở trong ý thức - Ta là nhân chứng. Ở ngoài ý thức - Ta là Hiện Hữu.
H: Chắc chắn là ông quan tâm khi con ông đau ốm, có phải thế không?
M: Chẳng việc gì Ta phải bối rối. Ta chỉ làm cái gì cần thiết. Ta chẳng lo lắng về tương lai. Một phản ứng đúng đối với mọi tình huống ở trong bản tánh của Ta. Ta không dừng lại để nghĩ phải làm gì. Ta hành động và tiếp tục tiến tới. Kết quả không hề ảnh hưởng đến Ta. Ta chẳng cần biết chúng tốt hay xấu. Chúng là bất cứ gì mà chúng là - nếu chúng trở lại thì Ta hành xử với chúng hoàn toàn mới. Hay, đúng hơn, là Ta ngẫu nhiên hành xử với chúng hoàn toàn mới. Không hề có ý thức chủ định nào trong bất cứ gì Ta làm. Mọi chuyện xảy ra vì chúng xảy ra - không phải vì Ta làm cho chúng xảy ra, mà vì Ta hiện hữu nên chúng xảy ra. Trong thực tế không hề có gì xảy ra. Khi tâm động thần Shiva nhảy múa, cũng như nước hồ dợn sóng làm cho mặt trăng nhảy múa. Tất cả đều là hiện tướng, khởi sinh do những ý nghĩ sai lầm.
H: Chắc chắn là ông biết rất nhiều điều và hành xử theo bản chất của chúng. Ông đối xử với đứa trẻ như đứa trẻ, với người lớn như người lớn.
M: Cũng như vị mặn thấm nhuần khắp đại dương và mỗi một giọt nước biển đều mang cùng một vị, thì mỗi một kinh nghiệm đều cho Ta giao tiếp với thực tại, và sự giác ngộ luôn luôn tươi mới về hiện hữu của chính Ta.
H: Tôi có tồn tại trong thế giới của ông như ông tồn tại trong
thế giới của tôi?
M: Dĩ nhiên, ông hiện hữu và Ta hiện hữu. Nhưng chỉ là những điểm trong ý thức; chúng ta không là gì ngoài ý thức. Cần phải hiểu rõ điều này: Thế giới treo trên sợi chỉ của ý thức; không có ý thức thì không có thế giới.
H: Có vô số điểm trong ý thức; như vậy cũng có vô số thế giới?
M: Lấy chiêm bao làm ví dụ. Trong một bệnh viện có rất nhiều bệnh nhân, tất cả đều ngủ, và tất cả đều chiêm bao. Mỗi người mơ một giấc chiêm bao riêng biệt, và cá nhân, không liên hệ đến nhau và không tác động đến nhau, nhưng có một yếu tố chung duy nhất là sự đau ốm. Tương tự như thế, trong sự tưởng tượng chúng ta tách rời chính mình khỏi thế giới thật của kinh nghiệm chung, và bao phủ chúng ta là một đám mây tham ái và lo sợ, hình ảnh và ý nghĩ, ý tưởng và khái niệm riêng tư.
H: Điều đó thì tôi có thể hiểu được. Nhưng cái gì có thể là nguyên nhân của thế giới riêng tư muôn hình vạn trạng?
M: Sự khác biệt không nhiều lắm đâu. Tất cả các giấc chiêm bao đều cùng bao phủ lên một thế giới chung. Ở một mức độ nào đó chúng định hình và tác động lẫn nhau. Tính duy nhất căn bản chi phối tất cả. Ở tận gốc rễ của tất cả là sự quên mất mình, không biết mình là ai.
H: Để quên, một người phải biết. Liệu tôi có biết tôi là ai trước khi tôi quên tôi?
M: Dĩ nhiên, Quên chính mình có sẵn trong biết chính mình. Ý thức và vô thức là hai phương diện của cuộc đời. Chúng cùng tồn tại. Khi biết thế giới ông quên mất cái Ta - khi biết cái Ta ông quên mất thế giới. Xét cho cùng thì cái gì là thế giới? Nếu không phải là một sự tổng hợp của các ký ức. Hãy bám vào một cái quan trọng, bám chặt cái “Ta hiện hữu” và buông bỏ những cái khác. Đó chính là Sadhana. Trong giác ngộ, không có cái gì để bám víu vào và cũng chẳng có gì để quên. Tất cả mọi cái đều được biết, nhưng không có gì được ghi nhớ.
H: Cái gì là nguyên nhân của sự quên mất chính mình?
M: Không có nguyên nhân bởi vì không có sự quên. Các trạng thái của tâm nối tiếp nhau, cái sau xóa đi cái trước. Nhớ chính mình là một trạng thái của tâm, và quên chính mình là một trạng thái khác của tâm. Chúng thay phiên nhau như ngày và đêm. Thực tại ở ngoài cả hai.
H: Chắc chắn là phải có một sự khác biệt giữa quên và không biết. Không biết thì không cần đến nguyên nhân. Còn quên hàm ý một sự biết trước đó và một khuynh hướng hoặc khả năng quên. Tôi nhìn nhận là tôi không thể biết được lý do của sự không biết, nhưng quên thì chắc chắn phải có một cơ sở nào đó.
M: Không hề có cái như là cái không biết. Mà chỉ có quên.
Quên có gì là không đúng? Quên cũng đơn giản như nhớ.
H: Quên mất chính mình không phải là một tai họa sao?
M: Thì nó cũng tệ hại như thường xuyên nhớ chính mình. Có một trạng thái ở ngoài quên và không quên: Trạng thái tự nhiên. Nhớ, quên - là các trạng thái của tâm, bị giới hạn trong ý nghĩ, và hạn chế trong ngôn từ. Lấy ý tưởng được sinh ra làm ví dụ. Ta được bảo rằng Ta đã được sinh ra nhưng Ta không nhớ. Ta được bảo rằng Ta sẽ chết đi nhưng Ta không mong chờ. Ông có thể cho rằng Ta quên, hoặc thiếu tưởng tượng. Nhưng Ta không thể nhớ cái chưa bao giờ xảy ra, và Ta cũng không thể mong chờ một cái gì hiển nhiên không thể xảy ra. Thân xác được sinh ra và thân xác chết đi, điều đó có gì liên quan đến Ta? Thân xác đến và ra đi trong ý thức, và tự thân ý thức có nguồn gốc trong Ta. Ta là sự sống, tâm và thân là của Ta.
H: Ông bảo rằng sự quên mất chính mình nằm ngay gốc rễ của thế giới. Để quên thì tôi phải nhớ. Tôi đã quên nhớ cái gì? Tôi chưa hề quên rằng tôi hiện hữu.
M: Cái “Tôi hiện hữu” này cũng là một phần của ảo tưởng.
H: Làm sao có thể như thế được? Ông không thể chứng minh
với tôi rằng tôi không có. Thậm chí khi tôi tin rằng tôi không có - thì vẫn có tôi.
M: Thực tại không thể được chứng minh hay bác bỏ. Còn ở trong tâm thì ông không thể làm được hai điều đó, mà khi ở ngoài tâm thì ông chẳng cần cả hai. Trong cái thật, câu hỏi “cái gì là thật?” không khởi sinh. Cái thị hiện - Saguna - và cái bất thị hiện - Nirguna - không khác nhau.
H: Trong trường hợp đó tất cả đều thật.
M: Ta là tất cả. Tất cả là thật như chính Ta. Ngoài Ta ra, không có gì là thật.
H: Tôi không có cảm tưởng thế giới là hậu quả của một lỗi lầm.
M: Ông chỉ có thể nói như thế sau khi đã tìm hiểu đến nơi đến chốn, chứ không phải trước khi. Dĩ nhiên, khi ông nhận thức rõ và loại bỏ tất cả những gì không thật, cái còn lại là thật.
H: Liệu có gì còn lại?
M: Cái thật còn lại. Đừng bị ngôn từ lừa gạt !
H: Từ vô thủy, và trải qua vô lượng kiếp, tôi tạo dựng, cải thiện và làm đẹp thế giới của tôi. Tuy nó không hoàn hảo nhưng cũng chẳng phải là không thật. Nó là một tiến trình.
M: Ông lầm rồi. Thế giới không hề tồn tại ngoài ông. Trong từng khoảnh khắc nó không gì khác hơn là ảnh phản chiếu của chính ông. Ông tạo ra nó và ông là người hủy diệt nó.
H: Rồi lại tạo dựng nó, và nó được cải thiện.
M: Để cải thiện nó, ông phải hủy diệt nó. Một người phải chết đi để sống. Không hề có tái sinh mà không qua cái chết.
H: Vũ trụ của ông có thể toàn hảo. Vũ trụ của riêng tôi luôn luôn trong tiến trình cải thiện.
M: Cái vũ trụ của riêng ông tự nó không tồn tại. Nó đơn thuần chỉ là một cái nhìn hữu hạn và méo mó về cái thật. Vũ trụ chẳng cần được cải thiện mà cái cần được cải thiện là cách nhìn của chính ông.
H: Ông nhìn vũ trụ như thế nào?
M: Vũ trụ chỉ là một sân khấu mà trên đó vở tuồng thế giới đang được trình diễn. Điều quan trọng là phẩm chất của sự trình diễn; không phải những gì các diễn viên nói và làm, mà là cách họ nói và làm.
H: Tôi không thích ý tưởng vở tuồng - Lila - này. Tôi muốn so sánh thế giới với một công trường mà trong đó chúng ta là những người thợ xây dựng.
M: Ông quá quan trọng hóa vấn đề. Có gì không đúng với vở kịch? Ông chỉ có một mục đích chừng nào ông chưa hoàn tất; khi chưa thực hiện xong thì sự hoàn tất, và toàn hảo là mục đích. Khi ông hoàn tất trong chính ông, bên trong và bên ngoài là một duy nhất thì lúc đó ông hưởng dụng vũ trụ, ông không còn tốn công mệt sức. Đối với những kẻ phân biệt thì ông có vẻ như đang bỏ ra rất nhiều công sức, nhưng đó chỉ là ảo tưởng của họ. Các vận động viên thể thao có vẻ như cố gắng ghê gớm: Nhưng động cơ duy nhất của họ là thi đấu và phô diễn.
H: Ông muốn nói Thượng đế chỉ vui đùa, ngài tham dự vào những hành động vô mục đích?
M: Thượng đế không những chơn thật và tốt lành, mà còn đẹp đẽ nữa - Satyam-Shivam-Sundarm. Ngài tạo ra cái đẹp chỉ vì yêu thích cái đẹp.
H: Như thế cái đẹp là mục đích của ngài !
M: Tại sao ông cứ muốn đề cập đến mục đích? Mục đích hàm ý chuyển động, thay đổi, một ý nghĩa không toàn hảo. Thượng đế không nhắm đến cái đẹp - bất cứ gì Thượng đế làm đều đẹp. Liệu ông có thể cho rằng một đóa hoa cố tìm cách để đẹp? Đóa hoa đẹp bởi chính bản thân của nó. Tương tự như thế, Thượng đế chính là sự toàn hảo, chứ không phải là sự cố gắng để toàn hảo.
H: Mục đích tự hoàn thành chính nó trong cái đẹp.
M: Đẹp là gì? Bất cứ gì được cảm nhận một cách an lạc là đẹp. Sự an lạc là tinh hoa của cái đẹp.
H: Ông nói đến Sat-chit-ananda. Ta hiện hữu thì hiển nhiên. Ta biết thì hiển nhiên. Ta vui sướng thì không hiển nhiên. Hạnh phúc của Ta đã đi đâu?
M: Hoàn toàn biết rõ sự hiện hữu của chính ông thì ông sẽ biết an lạc. Vì không để tâm vào chính ông mà đặt nó vào cái không phải là ông, nên ông mất ý thức về sự an lạc, về sự hiện hữu an vui.
H: Phía trước chúng ta có hai con đường - con đường của sự tinh tấn - Yoga Marga, và con đường của sự nhàn hạ - Bhoga Marga. Cả hai đều đưa đến cùng một mục đích: Giải thoát.
M: Vì sao ông lại gọi Bhoga là con đường? Làm sao nhàn hạ có thể đưa lại cho ông sự toàn hảo?
H: Hành giả toàn hảo - Yogi - sẽ tìm thấy thực tại. Người hưởng dụng toàn hảo - Bhogi - cũng sẽ đến đó.
M: Làm sao có thể như thế được? Không phải họ mâu thuẫn với nhau?
H: Những cái phi thường đều gặp nhau. Làm một Bhogi toàn hảo vẫn khó hơn là một Yogi toàn hảo.
Tôi chỉ là một kẻ phàm phu, không dám mạo muội phán xét về giá trị. Nhưng xét cho cùng, cả hành giả Yogi lẫn người hưởng dụng Bhogi đều quan tâm đến sự tìm kiếm hạnh phúc. Hành giả Yogi muốn hạnh phúc thường hằng, người hưởng dụng Bhogi thỏa mãn với cái thất thường, lúc có lúc không. Thường thì Bhogi phấn đấu nhiều hơn Yogi.
M: Nếu phải phấn đấu và hao công tốn sức thì hạnh phúc của ông có gì xứng đáng? Hạnh phúc chơn thật thì tự sinh khởi và chẳng cần phải cố gắng.
H: Tất cả chúng sinh đều tìm kiếm hạnh phúc, tuy phương tiện có khác nhau. Người tìm nó bên trong và do đó được gọi là Yogi, còn người tìm nó ở ngoài thì bị lên án là Bhogi. Nhưng họ vẫn cần lẫn nhau.
M: Lạc thú và đau khổ thay phiên nhau. Còn hạnh phúc thì bất
di bất dịch. Cái mà ông có thể tìm và thấy thì không phải cái thật. Hãy tìm cái ông chưa bao giờ mất, hãy tìm cái bất khả chuyển nhượng.
CHƯƠNG 25. TÍNH CÁCH CON NGƯỜI - MỘT CHƯỚNG NGẠI
Hỏi: Theo tôi thấy, thế giới là một trường Yoga và tự thân cuộc sống là sự thực hành Yoga. Mọi người đều phấn đấu cho sự toàn hảo, và Yoga là gì nếu không phải là phấn đấu. Chẳng có gì là đáng khinh đối với những người được gọi là “phàm phu” và cuộc sống “phàm tục” của họ. Họ phấn đấu cũng cam go và chịu đựng cũng không kém hành giả Yogi, chỉ có điều là họ không ý thức được mục đích thật sự của họ.
Maharaj: Người thường các cậu cũng tương tự như Yogi về phương diện nào?
H: Mục đích tối hậu thì như nhau. Cái mà hành giả Yogi đạt được bằng sự tu hành - Tyaga - thì người thường - Bhoga - đạt được qua kinh nghiệm. Con đường Bhoga thì vô thức, do đó lập đi lập lại và kéo dài, còn con đường Yoga thì có chủ đích và chuyên sâu, nên nhanh chóng hơn.
M: Có thể là các giai đoạn của Yoga và Bhoga luân phiên nhau. Trước tiên là Bhogi, rồi Yogi, trở lại Bhogi, rồi lại Yogi.
H: Mục đích của sự luân phiên đó là gì?
M: Những ham muốn hời hợt có thể được loại trừ bằng nội quán và thiền định, nhưng các tham ái mãnh liệt và thâm căn cố đế thì phải được thực hiện, và quả của chúng, dù ngọt hay đắng, đều phải được nếm.
H: Vậy tại sao chúng ta phải tôn kính các hành giả Yogi và xem thường những người Bhogi? Về một phương diện tất cả đều là Yogi.
M: Trên bậc thang giá trị của con người những cố gắng có chủ đích thì được xem là đáng ca tụng. Trong thực tế, cả hành giả Yogi và những người Bhogi đều thuận theo bản chất riêng của họ, tùy hoàn cảnh và cơ hội. Cuộc đời của hành giả Yogi được điều khiển bởi một ước muốn duy nhất - tìm kiếm Chân lý, còn người Bhogi phục vụ cho nhiều chủ nhân. Nhưng một Bhogi có thể trở thành một hành giả Yogi, và một hành giả Yogi có thể quay trở lại thời kỳ của một Bhogi. Kết quả chung cuộc thì vẫn như nhau.
H: Theo kinh sách, Đức Phật có nói rằng khi được nghe về sự giác ngộ thì vô cùng quan trọng, vì một sự đảo ngược hoàn toàn và chuyển hóa sẽ xảy ra trong ý thức. Tin lành được ví như đốm lửa trong một chuyến tàu chở đầy bông gòn; một cách chậm chạp nhưng chắc chắn tất cả sẽ biến thành tro. Tương tự như thế, tin lành về sự giác ngộ không sớm thì muộn sẽ đem lại một sự chuyển hóa.
M: Đúng, trước tiên là nghe - Sbravana, nhớ - Smarana, rồi tư duy - Manama, vân vân. Chúng ta tương đồng về quan điểm. Người nào nghe được tin lành thì trở thành Yogi, những người còn lại tiếp tục với lối sống Bhoga của họ.
H: Nhưng ông đồng ý rằng khi sống một cuộc đời - chỉ sống một cuộc đời tầm thường thế tục, được sinh ra để chết đi, và chết đi để được sinh ra - con người sẽ thăng tiến bằng chính lực đẩy của cuộc đời, cũng như một giòng sông tìm đường ra biển bằng chính khối lượng nước mà nó huân tập được.
M: Trước khi có thế giới, đã có ý thức. Thế giới hình thành trong ý thức, tồn tại trong ý thức, rồi tan biến vào trong ý thức thuần túy. Ở tận nguồn gốc của tất cả là nhận thức “Ta hiện hữu”. Trạng thái tâm “có một thế giới” là thứ yếu; để hiện hữu, Ta không cần thế giới, mà thế giới cần Ta.
H: Sự ham sống là một cái gì thật phi thương.
M: Nhưng phi thường hơn nữa là sự tự do không còn bị thôi thúc phải sống.
H: Tự do đối với mọi gánh nặng?
M: Phải, tự do đối với mọi gánh nặng, và còn nhiều hơn thế nữa. Tự do vô biên và hữu thức.
H: Thế không cần phải có tính cách con người để thu nhập
kinh nghiệm?
M: Như cậu hiện nay, tính cách con người chỉ là một chướng ngại. Đồng hóa chính mình với thân xác có thể là một điều tốt cho một đứa trẻ, nhưng một sự trưởng thành thật sự lại tùy thuộc vào sự loại bỏ chướng ngại thân xác. Bình thường, một người cần từ bỏ những ham muốn thuộc thân xác ngay từ khi còn sớm trong đời. Thậm chí một Bhogi, kẻ không từ chối hưởng thụ, cũng chẳng cần phải thèm khát những gì đã nếm qua. Thói quen, sự ham muốn lập lại làm cả Yogi lẫn Bhogi cảm thấy không được thỏa mãn.
H: Tại sao ông cứ tiếp tục gạt bỏ con người như chẳng có gì quan trọng? Tính cách con người là thực tế thiết yếu của sự tồn tại. Nó chiếm toàn thể sân khấu.
M: Chừng nào còn không thấy được tính cách con người chỉ là thói quen, dựng lập trên ký ức, thúc giục bởi tham ái, thì cậu còn nghĩ mình là một con người - sống, cảm thọ, suy nghĩ, năng động, thụ động, hài lòng hay đau đớn. Hãy đặt câu hỏi với chính cậu, tự hỏi cậu: “Có phải vậy không?” “Ta là ai?” “Cái gì ở đằng sau và bên ngoài tất cả những điều này?” Chẳng bao lâu cậu sẽ nhận ra sự lầm lẫn của cậu. Bản chất của lầm lẫn là nó tự nhiên biến mất khi được nhận diện.
H: Yoga của sự sống, của chính cuộc sống, chúng ta có thể gọi là Yoga tự nhiên - Nisarga Yoga. Nó làm tôi nhớ đến Yoga căn bản - Adhi Yoga, đề cập trong kinh Rig-Veda, và được mô tả như là cuộc hôn nhân của cuộc sống với tâm.
M: Một cuộc sống được sống một cách sâu sắc, trong sự tỉnh thức hoàn toàn, chính nó là Nisarga Yoga.
H: Hôn nhân giữa cuộc sống và tâm nghĩa là gì?
M: Sống trong sự tỉnh thức tự nhiên, trong ý thức về sự sống thanh thản, hoàn toàn quan tâm đến cuộc sống của chính mình - đó là tất cả những hàm ý.
H: Sharada Devi, hiền thê của ngài Ramakrishna
Paramahamsa, vẫn thường quở các môn đồ của ngài về sự cố gắng quá mức. Bà so sánh họ với những trái xoài trên cây được hái trước khi chin. “Tại sao lại vội vàng?” Bà thường bảo: “Chờ cho đến khi các ông hoàn toàn chín mùi, và trở nên ngọt lịm”.
M: Bà quả thật đúng ! Có rất nhiều người vừa mới sáng sớm đã cho là giữa trưa, một kinh nghiệm nhất thời đã cho là toàn giác, và làm thui chột chút chứng đắc nhỏ nhoi bằng sự kiêu căng quá lố. Lòng khiêm tốn và sự im lặng là cần thiết cho một hành giả Sadhaka, dù cao cấp đến đâu. Chỉ bậc giác ngộ hoàn toàn chín chắn mới có thể cho phép mình hoàn toàn tùy nghi tự ý.
H: Hình như môn đồ của nhiều phái Yoga sau khi đã phát huệ vẫn buộc phải tịnh khẩu từ 7 đến 12 hay 15 hoặc thậm chí đến 25 năm. Ngay cả đạo sư Bhagavan Sri Ramana Maharshi cũng tự tịnh khẩu 20 năm trước khi thuyết giảng.
M: Đúng, quả bên trong phải thật chín mùi. Giới hạnh, và sự sống tỉnh thức vẫn tiếp tục cho đến khi hành giả thực sự chín mùi. Lâu dần sự tu tập càng trở nên vi tế, cho đến khi không còn một hình thức nào nữa.
H: Krishnamurti cũng nói đến sự sống trong tỉnh thức.
M: Ông ấy luôn luôn nhắm thẳng vào “cái tối hậu”. Đúng, cuối cùng thì tất cả các pháp môn Yoga đều hội tụ trong Adhi Yoga như cậu nói, được xem là cuộc hôn nhân của ý thức (cô dâu) và cuộc sống (chú rể). Ý thức và hiện hữu hội ngộ trong hỷ lạc. Để hỷ lạc khởi sinh thì phải có gặp gỡ, giao tiếp, và sự khẳng định của cái duy nhất trong nhị nguyên.
H: Đức Phật cũng nói rằng để đạt được Nirvana một người phải đến với chúng sinh. Ý thức cần cuộc sống để trưởng thành.
M: Tự thân thế giới là sự giao tiếp - toàn thể các giao tiếp được thực hiện trong ý thức. Tinh thần tiếp xúc với vật và ý thức khởi sinh. Những ý thức như thế, khi bị nhiễm ô bởi ký ức và chờ mong, trở nên ràng buộc. Kinh nghiệm thuần túy thì không ràng buộc; kinh nghiệm vướng mắc giữa ham muốn và lo sợ thì bất tịnh và tác nghiệp.
H: Có thể nào có hạnh phúc trong tính một duy nhất? Không phải tất cả hạnh phúc hàm ý cần thiết của giao tiếp, do đó mang tính nhị nguyên?
M: Chả có gì không đúng với nhị nguyên chừng nào nó không tạo ra xung đột. Nhiều và đa dạng mà không xung đột là hỷ lạc. Ánh sáng ở trong ý thức thuần túy. Để có sự nồng nhiệt thì giao tiếp là cần thiết. Bên trên tính duy nhất của hiện hữu là sự hợp nhất của tình yêu. Tình yêu là ý nghĩa và mục đích của tính nhị nguyên.
H: Tôi là một đứa con nuôi. Tôi không biết cha ruột của tôi. Mẹ tôi chết khi tôi mới sinh ra. Để làm vui lòng một người vợ không con, cha nuôi tôi đã nhận nuôi tôi - hầu như là tình cờ. Ông ấy là một người bình dị - vừa là chủ vừa là tài xế của một chiếc xe tải. Mẹ nuôi tôi lo việc nhà. Năm nay tôi 24 tuổi. Suốt hai năm rưỡi qua tôi đi khắp nơi, không ngừng tìm kiếm. Tôi muốn sống một cuộc sống tốt đẹp, một cuộc sống thánh thiện. Tôi phải làm gì?
M: Trở về nhà, đảm đương công việc của cha, chăm sóc cha mẹ trong tuổi già. Lấy cô gái đang chờ cậu, hãy chung thủy, bình dị và khiêm tốn. Đừng phô trương đức hạnh và sống thầm lặng. Năm giác quan và ba tính chất là tám bước đi của cậu trong Yoga. Và “Ta hiện hữu” là Thần chú Vĩ đại - Mahamantra. Cậu có thể học ở chúng tất cả những gì cần biết. Hãy chuyên chú và không ngừng tìm hiểu. Tất cả chỉ có thế.
H: Nếu chỉ sống cuộc sống của chính mình là giải thoát, vậy tại sao tất cả mọi người không giải thoát?
M: Tất cả đều đang được giải thoát. Không phải cậu sống cái gì mà cậu sống thế nào mới đáng kể. Ý niệm về sự giác ngộ là vô cùng quan trọng. Chỉ cần biết được giác ngộ là điều có thể xảy ra thì cũng đã thay đổi toàn diện cái nhìn của một con người. Nó cũng giống như một que diêm cháy trong đống mạt cưa. Tất cả các đại sư không làm gì khác hơn. Một tia lửa của chân lý có thể thiêu rụi cả một ngọn núi của những điều hư giả. Và ngược lại thì cũng vậy: Mặt trời chân lý vẫn bị che khuất sau đám mây của sự đồng hóa chính mình với thân xác.
H: Phổ biến tin lành về sự giác ngộ có lẽ là điều vô cùng quan trọng.
M: Chỉ mới nghe đã là một hứa hẹn của sự giác ngộ. Gặp được một Đạo sư là đảm bảo một sự giải thoát. Cái toàn hảo thì đem lại sự sống và sáng tạo.
H: Một bậc giác ngộ có bao giờ nghĩ: “Ta giác ngộ”? Vị ấy không ngạc nhiên khi được người khác tôn vinh thành quan trong? Bậc giác ngộ không xem mình là một con người bình thường?
M: Chẳng bình thường, mà cũng chẳng phi thường. Chỉ tỉnh thức và yêu thương - một cách mãnh liệt. Người giác ngộ nhìn vào chính mình mà không hề có những định nghĩa về chính mình, và nhận dạng về chính mình. Người giác ngộ không hề biết mình là một cái gì tách biệt với thế giới. Người giác ngộ là thế giới. Người giác ngộ từ bỏ hoàn toàn chính mình, như một người giầu có nhưng không ngừng cho đi sự giầu có của mình. Người giác ngộ không giầu có vì chẳng có gì, nhưng không nghèo túng vì cho đi rất hào phóng. Người giác ngộ thì vô sản. Tương tự như thế, người giác ngộ vô ngã, và đã mất đi khả năng tự đồng hóa với bất cứ gì. Người giác ngộ không có vị trí, không có trú xứ, siêu vượt không gian thời gian, và thế giới. Người giác ngộ ở ngoài ngôn ngữ và tư duy.
H: Hừ! Quả thật là một điều kỳ bí khó dò đối với một con người đơn giản như tôi.
M: Chính cậu mới khó dò, phức tạp, kỳ bí và khó hiểu. Ta chính là sự đơn giản, khi so với cậu. Ta là cái đang là - không hề có bất cứ phân biệt nào xen vào giữa bên trong và bên ngoài, của Ta và của người, tốt và xấu. Thế giới là cái gì thì Ta là cái đó; Ta là cái gì thì thế giới là cái đó.
H: Làm sao có chuyện mỗi con người tạo ra thế giới của riêng mình?
M: Trong một nhóm người đang ngủ, mỗi người mơ giấc chiêm bao riêng của riêng mình. Chỉ khi nào tỉnh giấc thì câu hỏi về những giấc chiêm bao khác nhau mới được đặt ra, và cũng ngay lúc đó câu hỏi được giải đáp vì chiêm bao được thấy là chiêm bao, là cái gì đó tưởng tượng.
H: Ngay cả chiêm bao cũng có một cơ sở nào đó.
M: Nó ở trong ký ức. Cho dù như thế, cái gì được nhớ thì cũng chỉ là một giấc chiêm bao khác. Ký ức về cái hư giả thì không thể không tạo ra cái hư giả. Chẳng có gì là không đúng với ký ức như thế. Hư giả là nội dung của nó. Hãy nhớ cái thật, quên đi ý tưởng.
H: Cái gì là thật?
M: Cái được nhận thức trong tánh biết thuần túy, không bị tác động bởi tham ái và lo sợ - là thật.
CHƯƠNG 26. CÁI KHÔNG CÓ SỰ BẮT ĐẦU LUÔN LUÔN BẮT ĐẦU
Hỏi: Hôm trước tôi có hỏi ông về hai con đường của sự trưởng thành - tu hành và hưởng thụ (Yoga và Bhoga). Sự khác biệt giữa hai con đường không quá lớn như nó có vẻ như thế. Hành giả Yogi tu hành để hưởng thụ; người Bhogi hưởng thụ để tu hành. Hành giả Yogi tu hành trước, người Bhogi hưởng thụ trước.
Maharaj: Rồi sao? Mặc kệ hành giả Yogi với Yoga, và người Bhogi với lối sống Bhoga của họ.
H: Con đường Bhoga theo tôi có vẻ hay hơn. Hành giả Yogi như một quả xoài xanh, bị hái khỏi cây lúc còn non và ủ cho chín trong một giỏ rơm. Trong môi trường thiếu không khí và quá nóng, quả xoài chín nhưng hương vị thực sự và mùi thơm của nó mất đi. Quả xoài còn ở trên cây tăng trưởng đến hết cỡ, mầu sắc đẹp và hương vị thơm ngọt, một sự vui tươi về mọi phương diện. Nhưng không hiểu vì sao Yoga nhận được đủ mọi ca tụng, còn Bhoga chịu đủ mọi nguyền rủa. Theo chỗ tôi thấy Bhoga vẫn hay hơn Yoga.
M: Vì sao cậu nói thế?
H: Tôi quan sát các hành giả Yogi và những cố gắng phi thường của họ. Ngay cả khi họ giác ngộ, vẫn có một cái gì cay đắng hay khắc khổ về sự chứng đắc của họ. Họ dành hầu hết thời gian cho những cơn xuất thần nhập định, và khi mở miệng họ không nói gì ngoài kinh điển. Vào lúc huy hoàng nhất những người giác ngộ đó giống như những bông hoa toàn hảo, nhưng chỉ là những bông hoa nhỏ tỏa chút hương thơm trong một phạm vi nhỏ hẹp. Nhưng có những người khác, họ như cả một khu rừng - phong phú, đa dạng, mênh mông và đầy những ngạc nhiên - trong họ là cả một thế giới. Chắc chắn là phải có một lý do về sự khác biệt này.
M: Quả là như thế. Theo cậu, một người bị ức chế trong Yoga, còn người khác thăng hoa trong lối sống Bhoga hưởng thụ.
H: Không phải thế sao? Hành giả Yogi sợ hãi cuộc đời và tìm kiếm sự an thân, trong khi người Bhogi mạo hiểm, đầy phấn khởi, và dám dấn thân. Hành giả Yogi bị trói buộc vào một lý tưởng, còn người Bhogi lúc nào cũng sẵn sàng khám phá.
M: Đó chỉ là vấn đề ham muốn nhiều hay thỏa mãn với cái ít. Hành giả Yogi có nhiều tham vọng còn người Bhogi chỉ đơn thuần phiêu lưu. Người Bhogi của cậu có vẻ phong phú hơn và lịch lãm hơn, nhưng thực tế không phải như thế. Hành giả Yogi thu hẹp lại như mép cắt của lưỡi dao. Người hành giả phải như thế - để cắt sâu và ngọt, xuyên qua một cách chính xác vô số các tầng lớp của sự hư giả. Người Bhogi cúng vái ở vô số bàn thờ, còn hành giả Yogi chẳng phụng sự ai ngoài cái Ta thật của chính mình.
Không hề có mục đích nào trong sự đối nghịch giữa hành giả Yogi và những người Bhogi. Con đường đi ra - Pravritti - cần thiết có trước con đường trở về - Nivritti. Đưa ra phán xét và phê bình suông thì chỉ là chuyện lố bịch. Tất cả đều cống hiến cho sự toàn hảo tối hậu. Một số người cho rằng ba phương diện của thực tại: Chân lý - Trí tuệ - Hỷ lạc. Người nào đi tìm chân lý trở thành Yogi, người nào tìm kiếm trí tuệ trở thành người giác ngộ, người nào đi tìm hạnh phúc trở thành con người của hành động.
H: Chúng tôi nghe nói về sự hỷ lạc của tính bất nhị.
M: Một sự hỷ lạc như thế thuộc về bản chất của một sự an lạc
vĩ đại. Còn lạc thú và đau khổ là kết quả của hành động đúng và không đúng.
H: Cái gì tạo ra sự khác biệt?
M: Sự khác biệt là ở chỗ cho và giữ. Dù cách tiếp cận là gì đi nữa, thì rốt cuộc tất cả sẽ trở thành một.
H: Nếu không có sự khác biệt trong mục đích, việc gì lại phân biệt giữa các phương cách tiếp cận khác nhau?
M: Cứ để mỗi người hành động theo bản chất riêng. Dù gì đi nữa thì mục đích tối hậu cũng sẽ đạt được. Tất cả những phân biệt và phân loại của cậu khá đúng, nhưng nó không xảy ra trong trường hợp của Ta. Một giấc mơ dù được mô tả một cách chi tiết và chính xác đến đâu, thì nó vẫn chẳng có một cơ sở nào, tương tự như thế mô thức của cậu chẳng thích hợp với bất cứ gì ngoài những giả định của chính cậu. Cậu bắt đầu với một ý tưởng và chấm dứt với cùng một ý tưởng dưới một lớp áo khác.
H: Ông nhìn sự vật như thế nào?
M: Đối với Ta một và tất cả đều như nhau. Cùng một ý thức - Chit, lúc là hiện hữu - Sat - và lúc là hỷ lạc - Ananda. Khi động ý thức là hỷ lạc, khi tịnh ý thức là hiện hữu.
H: Ông vẫn còn phân biệt giữa động và tịnh.
M: Vô phân biệt nói trong sự im lặng. Ngôn từ chuyên chở sự phân biệt. Cái bất thị hiện - Nirguna - thì không có danh xưng, tất cả danh xưng đều dùng cho cái thị hiện - Saguna. Giằng co với ngôn từ để diễn tả một cái ngoài ngôn từ thì chỉ là chuyện vô ích. Ý thức - Chidananda - là tinh thần - Purusha, ý thức là vật chất - Prakriti. Tinh thần không toàn hảo là vật chất, vật chất toàn hảo là tinh thần. Vào lúc khởi đầu cũng như vào lúc chấm dứt, tất cả là một.
Tất cả mọi phân chia đều ở trong tâm - Chitta; không có gì trong thực tại - Chit. Động và tịnh là các trạng thái của tâm, và chúng không thể có nếu không có cái đối nghịch.Tự thân không có gì động, và chẳng có gì tịnh. Cho những gì tâm tạo dựng là tồn tại tuyệt đối - là một lỗi lầm nghiêm trọng. Không có gì tự tồn tại.
H: Ông có vẻ đồng hóa tịnh với Trạng thái Tối thượng?
M: Có cái tịnh như một trạng thái của tâm - Chidaram - và có cái tịnh như một trạng thái hiện hữu - Atmaram. Cái tịnh của tâm đến rồi đi, còn cái tịnh chơn thật lại ở ngay tâm của hành động. Điều đáng tiếc là ngôn từ là một công cụ của tâm và chỉ dùng được trong phạm vi của những cái đối nghịch.
H: Khi là nhân chứng, ông động hay tịnh?
M: Nhân chứng là một kinh nghiệm, còn tịnh thì thoát ra khỏi mọi kinh nghiệm.
H: Hai cái không thể cùng tồn tại - như tiếng náo động của sóng và sự tĩnh lặng của độ sâu cùng tồn tại trong biển cả - hay sao?
M: Bên ngoài tâm không có cái gì là kinh nghiệm. Kinh nghiệm là một trạng thái nhị nguyên. Cậu không thể nói về thực tại như một kinh nghiệm. Một khi thấu hiểu điều này thì cậu không còn tìm kiếm hiện hữu và trở thành như hai cái riêng biệt và đối nghịch. Trong thực tế, chúng là một và bất khả phân, như rễ và cành của cùng một cây. Cả hai chỉ có thể tồn tại trong ánh sáng của ý thức, mà ý thức lại khởi sinh theo sau “Ta hiện hữu”. Đây là sự kiện tiên quyết. Nếu để vuột nó thì cậu để vuột tất cả.
H: Có phải cảm giác hiện hữu chỉ là một sản phẩm của kinh nghiệm? Có phải đại chân ngôn (Mahavakya) Tat-Sat chỉ là một phương thức của tâm?
M: Bất cứ gì nói ra thì chỉ là ngôn từ. Bất cứ gì tư tưởng được thì chỉ là ý nghĩ. Ý nghĩa chơn thật thì có thể chứng nghiệm được nhưng không thể giải thích được. Mahavakya là chơn thật, còn ý tưởng của cậu là hư vọng, vì tất cả ý tưởng - Kalpana - đều hư vọng.
H: Thế sự tin tưởng “Ta là Cái Đó” cũng hư vọng?
M: Dĩ nhiên. Tin tưởng là một trạng thái của tâm. Trong “Cái
Đó” không có “Ta là”. Khi ý thức “Ta là” hiện lên thì “Cái Đó” bị che khuất, cũng như khi mặt trời lên thì sao biến mất. Tương tự như ánh sáng cùng đến với mặt trời, thì hỷ lạc - Chidananda - cùng đến với ý thức về cái Ta. Con người tìm kiếm nguồn gốc của hỷ lạc trong cái “không phải Ta”, do đó ràng buộc khởi sinh.
H: Trong cuộc sống hàng ngày, ông luôn luôn ý thức về trạng thái thực của ông?
M: Chẳng phải ý thức mà cũng chẳng phải vô thức. Ta không cần đến sự tin tưởng. Ta sống bằng lòng dũng cảm. Can đảm là cốt tủy của Ta, nó là tình yêu cuộc sống. Ta hoàn toàn không còn ký ức và dự tính, chẳng hề bận tâm đến Ta là cái gì hay Ta không là cái gì. Ta không lệ thuộc vào những mô tả về chính mình - Soham và Brahmasmi “Ta là Ngài” “Ta là Cái Tối Thượng” đều vô ích đối với Ta. Ta có lòng dũng cảm để là: không gì cả, và thấy thế giới như chính nó là: Không gì cả. Nghe đơn giản như thế đấy, hãy thử xem!
H: Nhưng cái gì cho ông sự can đảm?
M: Cái nhìn của cậu thật lầm lạc làm sao! Can đảm có cần để được ai cho? Câu hỏi của cậu hàm ý lo âu là trạng thái bình thường còn can đảm là trạng thái bất thường. Xoay ngược lại thì mới đúng. Lo âu và hy vọng do tưởng tượng sinh ra - Ta hoàn toàn không còn cả hai. Ta chỉ là sự hiện hữu đơn thuần, Ta không cần gì để nương tựa.
H: Nếu ông không biết chính ông thì sự hiện hữu của ông có lợi lạc gì đối với ông? Để hạnh phúc với cái ông là, ông phải biết cái là ông.
M: Hiện hữu chiếu sáng là biết, biết là yêu thương nồng nhiệt. Tất cả là một. Cậu tưởng tượng ra những phân chia rồi tự băn khoăn với những câu hỏi. Đừng quá bận tâm với những công thức. Hiện hữu thuần túy thì không thể mô tả được.
H: Nếu một cái gì đó không thể biết được và không thể hưởng dụng được thì chẳng lợi lạc gì cho tôi. Trước tiên, nó phải là một phần kinh nghiệm của tôi.
M: Cậu lôi kéo thực tại xuống ngang hàng với kinh nghiệm. Làm sao thực tại có thể tùy thuộc vào kinh nghiệm khi chính nó lại là nền tảng - Adhar - của kinh nghiệm. Thực tại ở ngay trong chính thực tế của kinh nghiệm, chứ không phải trong bản chất của kinh nghiệm. Xét cho cùng, kinh nghiệm là một trạng thái của tâm, còn hiện hữu thì nhất định không thể là một trạng thái của tâm.
H: Tôi lại bối rối! Hiện hữu có tách biệt với biết?
M: Sự tách biệt chỉ là một thể hiện bề ngoài. Cũng như giấc chiêm bao không thể tách biệt với người chiêm bao, biết không thể tách rời hiện hữu. Giấc chiêm bao là người chiêm bao, cái biết là người biết, sự khác biệt đơn thuần chỉ là ngôn từ.
H: Bây giờ tôi thấy được Sat và Chit chỉ là một. Thế còn hỷ lạc - Ananda? Hiện hữu và ý thức luôn luôn có mặt với nhau, còn hỷ lạc chỉ thỉnh thoảng mới lóe lên.
M: Trạng thái hiện hữu vô phiền nhiễu là hỷ lạc; trạng thái phiền nhiễu là cái hiển hiện thành thế giới. Hỷ lạc ở trong tính bất nhị, còn kinh nghiệm thuộc về nhị nguyên. Cái gì đến và đi là kinh nghiệm cùng với tính cách nhị nguyên - đau khổ và lạc thú - của nó. Hỷ lạc thì không thể được biết. Một người luôn luôn hỷ lạc, nhưng không bao giờ cảm thấy hỷ lạc. Hỷ lạc không phải là một thuộc tính.
H: Tôi còn một câu hỏi nữa: Một số hành giả Yogi đạt được mục đích của họ nhưng chẳng lợi lạc gì cho người khác. Họ không biết chia sẻ, hoặc không thể chia sẻ. Những người có thể chia sẻ cái họ có thì khai tâm được cho người khác. Sự khác biệt nằm ở đâu?
M: Chẳng có gì khác biệt. Cách tiếp cận sự việc của cậu không đúng. Không hề có người khác để giúp. Một người giầu có sau khi trao lại tất cả tài sản cho gia đình thì chẳng còn một xu để cho ăn mày. Người giác ngộ rũ bỏ tất cả mọi quyền thế và những gì sở hữu thì cũng giống như thế. Không gì, đúng vậy, không gì có thể nói về người giác ngộ. Người giác ngộ không thể cứu giúp một ai vì người ấy là mọi người. Người giác ngộ là người nghèo khó và cũng là sự nghèo khó, là tên trộm và cũng là sự ăn trộm. Làm sao có thể nói được rằng người giác ngộ cứu giúp khi người ấy không tách rời một ai? Người nào nghĩ mình tách biệt với thế giới thì hãy để người đó cứu giúp thế giới.
H: Nhưng vẫn còn nhị nguyên, có đau khổ nên có sự cần cứu khổ. Nếu cho rằng đau khổ chỉ là chiêm bao thì chẳng đạt được cái gì.
M: Cách duy nhất có thể cứu giúp là tỉnh giấc chiêm bao.
H: Cần phải có một người đánh thức.
M: Người đánh thức lại ở ngay trong giấc chiêm bao. Người đánh thức là báo hiệu khởi đầu của sự chấm dứt. Không có giấc chiêm bao nào là bất tận.
H: Ngay cả khi nó không có sự bắt đầu?
M: Tất cả mọi thứ đều bắt đầu với cậu. Còn cái nào là cái không có sự bắt đầu?
H: Tôi bắt đầu khi được sinh ra.
M: Đó là điều cậu nghe người khác nói lại. Có thật cậu bắt đầu khi được sinh ra? Thế cậu có thấy chính cậu bắt đầu?
H: Tôi chỉ bắt đầu ngay bây giờ. Tất cả những cái khác đều là ký ức.
M: Đúng thế. Cái không có sự bắt đầu thì luôn luôn bắt đầu. Cũng cách đó, Ta cho vô tận bởi vì Ta không có gì cả. Không là gì cả, không có gì cả, không giữ gì cả cho chính mình là sự cho nhiều nhất, là lòng hào phóng rộng rãi nhất.
H: Thế sự quan tâm đến chính mình không còn nữa?
M: Dĩ nhiên Ta quan tâm đến chính Ta, cái Ta là tất cả. Trong thực tế nó xuất hiện dưới hình thức thiện ý, không bao giờ cạn kiệt và mang tính vũ trụ. Cậu có thể gọi nó là tình yêu, là bao trùm tất cả, là cứu chuộc tất cả. Tình yêu đó vô cùng năng động - nhưng không ý thức về hành động.
CHƯƠNG 27. MỌI ĐAU KHỔ ĐỀU KHỞI SINH TỪ THAM ÁI
Hỏi: Tôi từ một xứ sở xa xôi đến đây. Tôi có một số chứng nghiệm nội tâm riêng, và muốn trao đổi với ông.
Maharaj: Được. Ông có biết chính ông không.
H: Tôi biết tôi không phải là thân. Tôi cũng chẳng phải là tâm. M: Vì sao ông nói vậy?
H: Tôi không cảm thấy tôi ở trong thân. Tôi hình như ở khắp nơi, mọi nơi. Còn đối với tâm, tôi có thể đóng, mở tùy ý, có thể nói là như thế. Điều này khiến tôi nhận biết tôi không phải là tâm.
M: Khi ông cảm thấy ông ở mọi nơi trên thế giới, ông vẫn tách biệt với thế giới? Hay, ông là thế giới?
H: Cả hai. Có khi tôi cảm thấy mình không phải là tâm hay thân, mà là con mắt duy nhất thấy tất cả. Khi vào sâu trong trạng thái đó, tôi thấy tôi là tất cả những gì tôi thấy. Thế giới và tôi trở thành một.
M: Hay lắm. Thế còn tham ái? Ông còn tham ái không?
H: Có, tham ái có đến, nhưng ngắn và hời hợt.
M: Và ông làm gì với tham ái?
H: Tôi làm gì được? Chúng đến, chúng đi. Tôi quan sát chúng. Có khi tôi thấy thân và tâm tôi tham dự vào sự thỏa mãn chúng.
M: Tham ái của ai được thỏa mãn?
H: Chúng là một phần của thế giới mà trong đó tôi sống. Chúng cũng như cây cối và mây trong thế giới đó.
M: Thế không phải chúng là biểu hiện của một sự không toàn hảo nào đó?
H: Làm sao chúng có thể như thế được? Chúng là chúng, và tôi là tôi. Làm sao sự xuất hiện và biến mất của tham ái có thể tác động đến tôi? Dĩ nhiên, chúng tác động đến tướng trạng và nội dung của tâm.
M: Tốt lắm, ông làm nghề gì?
H: Tôi là nhân viên giám sát phạm nhân sau khi được phóng thích và còn trong thời kỳ quản chế.
M: Nghĩa là thế nào?
H: Các thanh thiếu niên phạm pháp sau khi được tha, bị quản chế một thời gian, được các nhân viên chuyên ngành giám sát thái độ, hướng dẫn học nghề và giúp tìm công ăn việc làm.
M: Ông có phải làm việc không?
H: Ai làm việc? Công việc tình cờ xảy ra.
M: Ông có cần làm việc khoong?
H: Tôi cần nó vì tiền. Tôi thích công việc của tôi vì tôi có dịp giao tiếp với người khác.
M: Ông cần người khác để làm gì?
H: Có thể các thanh niên đó cần tôi, và chính định mệnh của họ khiến tôi đảm nhận công việc này. Xét cho cùng, đó là cùng một cuộc đời.
M: Ông đạt đến trạng thái hiện nay bằng cách nào?
H: Tôi theo con đường của tôi nhờ sự chỉ giáo của ngài Ramana Maharshi. Rồi tôi gặp một người tên Douglas Harding,
người này đã chỉ cho tôi cách quán “Ta là ai?” M: Nó đến một cách bất ngờ hay từ từ?
H: Rất bất ngờ. Giống như một cái gì đó bị quên bẵng đi bỗng nhiên trở lại với tâm trí. Hoặc, giống như một sự hiểu biết chợt lóe lên. “Thật giản dị làm sao,” tôi thốt lên: “Thật giản dị làm sao; Ta không phải cái mà Ta tưởng Ta là! Ta không phải cái được nhận thức và cũng chẳng phải người nhận thức, Ta chỉ là hành vi nhận thức.”
M: Thậm chí cũng không phải hành vi nhận thức, mà là cái làm cho tất cả những cái đó khả hữu.
H: Tình yêu là gì?
M: Khi ý thức phân biệt và phân chia không có, ông có thể gọi đó là tình yêu.
H: Vì sao có quá nhiều căng thẳng trong tình yêu nam nữ?
M: Vì yếu tố hạnh phúc trong đó quá nổi bật.
H: Không phải hạnh phúc là yếu tố nổi bật trong tất cả tình
yêu?
M: Không nhất thiết phải như thế. Tình yêu có thể gây đau khổ. Lúc đó ông có thể gọi đó là lòng từ bi.
H: Hạnh phúc là gì?
M: Sự hài hòa giữa trong và ngoài là hạnh phúc. Trái lại, đồng hóa chính mình với nguyên nhân bên ngoài là đau khổ.
H: Sự nhận dạng cái Ta xảy ra như thế nào?
M: Bản chất của cái Ta là nó chỉ biết chính nó. Vì thiếu kinh nghiệm nên nó cho bất cứ gì được nhận thức là chính nó. Bị dằn vặt tả tơi, nó học cách nhìn ra - Viveka - và sống đơn độc - Vairagya. Khi thái độ đúng - Uparati - trở nên bình thường thì sự thôi thúc mãnh liệt - Mukmuk-Shutva - bên trong giục nó tìm kiếm nguồn gốc của nó. Ngọn nến của thân xác được thắp lên, tất cả trở nên rõ ràng và sáng sủa - Atma-prakash.
H: Nguyên nhân đích thực của đau khổ là gì?
M: Đồng hóa chính mình với cái hữu hạn - Vyaktitva. Các cảm giác, theo đúng nghĩa của chúng, dù mãnh liệt đến đâu cũng không hề gây đau khổ. Mà chính tâm, bị tà kiến làm cho điên đảo, si mê với ý nghĩ: “Ta là cái này”, “Ta là cái kia”. Vì sợ mất và muốn được nên tâm đau khổ khi thất vọng.
H: Tôi có một người bạn vẫn thường mơ thấy ác mộng, hết đêm này sang đêm khác. Đi ngủ đối với anh ta là một cực hình.
Không có cách nào giúp anh ta được.
M: Làm bạn với cái chơn thiện - Satsang - sẽ giúp anh ta.
H: Cuộc đời tự nó là một cơn ác mộng.
M: Làm bạn với cái chơn thiện là phương thức tối thượng thừa lành mọi bệnh tật, dù thuộc thân hay tâm.
H: Thường thì một người không thể tìm được một tình bạn như thế.
M: Tìm bên trong. Cái Ta của ông là người bạn quý nhất của ông.
H: Vì sao cuộc đời đầy những mâu thuẫn?
M: Điều đó nhằm phá vỡ tính kiêu mạn. Chúng ta phải nhận ra mình tầm thường và yếu đuối như thế nào. Chừng nào còn tự lừa dối bằng những gì mà chúng ta tưởng mình là, mình biết, mình có, và mình làm thì chúng ta còn ở trong cảnh ngộ thật đáng buồn. Chỉ trong sự phủ định hoàn toàn cái ta thì chúng ta mới có cơ may nhận ra sự hiện hữu chơn thật của chính mình.
H: Vì sao phủ định cái ta lại có quá nhiều căng thẳng đến như thế?
M: Giác ngộ chính mình cũng vậy. Phải từ bỏ được cái ta hư giả trước khi tìm ra cái ta thật.
H: Cái ta mà ông chọn để gọi là hư giả thì với tôi nó thật một cách đáng buồn nhất. Nó là cái ta duy nhất mà tôi biết. Cái mà ông gọi là cái Ta thật đơn thuần chỉ là một khái niệm, một cách nói, một sản phẩm của tâm, một bóng ma hấp dẫn. Phải nhìn nhận rằng cái ta thường ngày của tôi không toàn mỹ, nhưng nó là cái ta duy nhất của tôi. Ông bảo tôi là một cái ta khác, hoặc có một cái ta khác, thế ông có thấy nó không - nó có phải là một thực thể đối với ông, hay ông muốn tôi tin cái mà chính ông không thấy?
M: Đừng vội vàng kết luận như thế. Cái cụ thể không nhất thiết là thật, cái chỉ nhận thức được không nhất thiết là giả. Những nhận thức dựa trên cảm giác và được định hình bởi ký ức hàm ý một người nhận thức, mà bản chất của người đó ông chưa bao giờ muốn tìm hiểu thực sự. Hãy dành cho nó tất cả sự chú ý của ông, tìm hiểu nó với sự quan tâm trìu mến, rồi ông sẽ nhận ra những cái cao siêu và thâm sâu của hiện hữu, mà một người như ông - bị cái hình ảnh bé nhỏ của chính mình choán hết - đã không giám mơ tưởng đến.
H: Để tìm hiểu chính mình một cách có kết quả, tôi phải có một tâm trạng đúng.
M: Ông phải nghiêm túc, kiên quyết, và thực sự quan tâm.
Ông phải đầy thiện chí với chính ông.
H: Tôi hoàn toàn vị kỷ phải không?
M: Không phải. Ông luôn luôn phá hoại chính ông và những gì ông có bằng sự tôn thờ những thần linh xa lạ, độc hại và giải dối. Cứ vị kỷ, nhưng đúng cách. Hãy cầu mong sự an lành cho chính ông, hãy ra sức thực hiện những gì tốt đẹp cho chính ông. Hãy phá hủy tất cả những gì ngăn trở ông với hạnh phúc. Là tất cả - yêu thương tất cả - cảm thấy hạnh phúc - tạo hạnh phúc. Không có hạnh phúc nào hạnh phúc hơn thế.
H: Vì sao có quá nhiều đau khổ trong tình yêu?
M: Tất cả mọi đau khổ đều khởi sinh từ tham ái. Tình yêu chơn thật thì không bao giờ bị thất vọng. Làm sao ý thức về tính duy nhất có thể bị thất vọng? Cái có thể bị thất vọng là lòng khao khát sự thể hiện. Khao khát như thế thuộc về tâm. Đối với tất cả những gì thuộc về tâm, thất vọng là điều bất khả tránh.
H: Tình dục có vai trò gì trong tình yêu?
M: Yêu là một trạng thái hiện hữu. Tình dục là năng lượng. Tình yêu thì sáng suốt còn tình dục thì mù quáng. Một khi bản chất thật sự của tình yêu và tình dục được hiểu rõ thì không còn xung đột hay lẫn lộn.
H: Có rất nhiều tình dục mà không có tình yêu.
M: Không có tình yêu tất cả đều độc ác. Tự thân cuộc sống không có tình yêu thì độc ác.
H: Cái gì có thể làm cho tôi yêu?
M: Ông chính là tình yêu, khi vô úy.
CHƯƠNG 28. SỐNG LÀ MỤC ĐÍCH DUY NHẤT CỦA CUỘC ĐỜI
Hỏi: Thất bại trong Yoga nghĩa là gì? Ai là kẻ thất bại trong Yoga?
Maharaj: Đây chỉ là một câu hỏi không hoàn chỉnh. Người nào không hoàn tất Yoga vì một lý do nào đó thì được coi là thất bại trong Yoga. Một sự thất bại như thế chỉ có tính cách nhất thời, vì trong Yoga không có chiến bại. Yoga là một cuộc chiến luôn luôn thắng, vì đây là một cuộc chiến giữa cái thật và cái giả. Cái giả không có cơ hội thắng thế.
H: Ai thất bại? Con người - Vyakti - hay cái Ta - Vyakta?
M: Câu hỏi được đặt sai. Không có vấn đề thất bại, dù là trước mắt hay lâu dài. Cũng giống như đi trên một con đường dài và gian khổ trong một đất nước xa lạ. Trong vô số bước đi thì chỉ bước cuối cùng đưa ông đến đích. Nhưng ông không thể cho rằng những bước trước đó là thất bại. Mỗi bước đưa ông đến gần đích, ngay cả khi ông phải quay trở lại để vòng qua một trở ngại. Trong thực tế mỗi bước đều đưa ông đến đích, vì luôn luôn di chuyển, học hỏi, khám phá, khai mở là định mệnh muôn đời của ông. Sống là mục đích duy nhất của cuộc đời. Cái Ta không đồng hóa chính nó với thành công hay thất bại - ngay cả ý tưởng trở thành cái này hay cái kia cũng không thể có. Cái Ta hiểu rằng thành công hay thất bại chỉ là tương đối và tùy thuộc, chúng chỉ là những sợi chỉ ngang, dọc của cuộc đời. Học từ cả thành công lẫn thất bại và đi xa hơn. Nếu ông chưa học được thì làm lại.
H: Tôi phải học cái gì?
M: Sống mà không băn khoăn, lo lắng về chính mình. Muốn thế ông phải biết sự hiện hữu chơn thật của ông - Swarupa - là bất khuất, vô úy, và luôn luôn chiến thắng. Một khi biết chắc rằng không gì có thể quấy nhiễu được ông mà chỉ có sự tưởng tượng của chính ông thì ông không còn bận tâm với tham ái và lo sợ, khái niệm và ý tưởng, mà chỉ sống theo chân lý duy nhất.
H: Điều gì có thể là lý do vì sao có người thành công và có người thất bại trong Yoga? Có phải đó là định mệnh, hay cá tính, hay chỉ là sự tình cờ?
M: Chưa có ai thất bại trong Yoga bao giờ. Tất cả chỉ là nhịp độ tiến bộ mà thôi. Khởi đầu thì chậm chạp nhưng kết thúc thì nhanh. Khi hành giả thực sự thuần thục thì sự giác ngộ nổ bùng. Nó xảy ra một cách tự phát, hoặc chỉ do một gợi ý nhỏ. Nhanh không hẳn đã hay hơn chậm. Chậm chạp chín mùi và nhanh chóng khai hoa xen kẽ nhau. Cả hai đều tự nhiên và đúng.
M: Tuy nhiên, tất cả những điều như vậy chỉ ở trong tâm mà thôi. Còn theo Ta thấy thì không có gì như thế. Trong tấm gương vĩ đại của ý thức mọi hình ảnh xuất hiện rồi biến mất, chỉ có ký ức tạo cho chúng sự tiếp tục. Mà ký ức là vật chất - có thể bị phá hủy, có thể bị hư hoại, và biến dịch vô thường. Trên những nền tảng mong manh như thế chúng ta xây dựng ý thức về sự tồn tại của con người - mơ hồ, lúc có lúc không, như mộng huyễn. Sự tin tưởng mơ hồ “Ta là thế này, thế nọ” ngăn che trạng thái bất biến của tánh biết thuần túy, và làm cho chúng ta tin rằng mình được sinh ra để chịu đau khổ và chết đi.
H: Cũng như một đứa trẻ không thể không lớn lên, thì một người, do bản chất thúc ép, phải tiến bộ. Việc gì cần phải gắng sức? Sự cần thiết của Yoga ở chỗ nào?
M: Tiến bộ luôn luôn có trong mọi lúc. Tất cả mọi thứ đều góp phần cho sự tiến bộ. Nhưng đây là sự tiến bộ của vô minh. Vòng vô minh có thể luôn luôn mở rộng, nhưng vô minh lúc nào cũng trói buộc. Vào đúng thời điểm một Đạo sư sẽ xuất hiện để giáo hóa và khuyến khích chúng ta thực hành Yoga, và một sự chín mùi xảy ra mà hậu quả của nó là màn đêm vô lượng kiếp của vô minh tan biến trước bình minh của mặt trời trí tuệ. Nhưng trong thực tế chẳng có gì đã xảy ra. Mặt trời luôn luôn có đó, không hề có đêm tối đối với mặt trời. Tâm bị mê mờ vì ý tưởng “Ta là thân xác” không ngừng tuôn ra sợi chỉ ảo hóa của nó.
H: Nếu tất cả là một phần của sự tiến bộ tự nhiên, việc gì cần phải cố gắng?
M: Ngay cả cố gắng cũng là một phần của sự tiến bộ. Khi vô minh trở nên cố đế, chai lì, cá tính trở nên dung tục thì chắc chắn phải cần đến cố gắng và nỗi vất vả của sự cố gắng là điều không tránh khỏi. Còn hoàn toàn thuận theo tự nhiên thì chẳng cần đến cố gắng. Hạt sống của đời sống tâm linh phát triển trong im lặng và trong bóng tối cho đến đúng giờ đã định.
H: Chúng tôi tình cờ tiếp xúc với một số người đã từng là những vật có tiếng tăm, nhưng về già thì trở nên trẻ con, tầm thường, hay sinh sự và hằn học. Làm sao họ lại thoái hóa nhiều đến như thế?
M: Họ là những hành giả Yogi không toàn hảo, không hoàn toàn điều ngự được thân xác. Hoặc, có thể họ chẳng cần bận tâm giữ gìn thân xác trước sự thoái hóa tự nhiên. Một người không nên đi đến kết luận trước khi hiểu rõ tất yếu mọi yếu tố liên quan. Quan trọng hơn cả, một người không nên đưa ra những phán xét về sự hèn kém hay ưu việt. Sự trẻ trung thì thiên về sinh khí - Prana - hơn là về trí tuệ - Gnana.
H: Người ta có thể trở nên già đi, nhưng vì sao lại mất đi tất cả sự bén nhạy và sáng suốt?
M: Ý thức và vô thức khi còn ở trong thân thì tùy thuộc vào điều kiện của não bộ. Nhưng cái Ta ở ngoài cả hai, ở ngoài não bộ, và ở ngoài tâm. Khuyết tật của dụng cụ không phản ánh người sử dụng nó.
H: Tôi nghe nói bậc giác ngộ chẳng bao giờ hành hoạt thiếu trang nghiêm. Vị ấy luôn luôn cư xử theo khuôn mẫu.
M: Ai đặt ra khuôn mẫu? Vì sao một người đã giải thoát lại cần thiết tuân theo những quy ước? Ngay khi trở nên có thể đoán biết được thì người ấy không thể nào tự do. Tự do của người ấy là ở trong sự tự do hoàn tất cái gì cần thiết vào lúc đó, hoặc tuân theo sự đòi hỏi của tình huống. Tự do làm cái mình thích thì vẫn bị ràng buộc, còn tự do làm cái mình phải làm, cái gì đúng thì mới là tự do thực sự.
H: Tuy nhiên, phải có một cách nào đó để phân biệt ai là người giác ngộ và ai chưa. Một người giác ngộ vẫn giống như người khác thì người ấy có gì hữu ích?
M: Người nào biết rõ chính mình thì không nghi hoặc về chính mình. Người đó cũng chẳng cần người khác công nhận trạng thái của mình hay không. Chẳng mấy khi người giác ngộ tiết lộ sự giác ngộ của mình; phước báu cho những ai gặp được người giác ngộ, vì người đó tiết lộ sự giác ngộ cho lợi lạc lâu dài của họ.
H: Khi nhìn quanh, một người cảm thấy kinh hoàng trước mức độ đau khổ không cần thiết đang xảy ra. Những người cần được cứu giúp thì không được cứu giúp. Thử tưởng tượng một phòng bệnh đầy những bệnh nhân không thể cứu chữa đang lăn lộn và rên la. Nếu có quyền giết hết họ để chấm dứt sự đau đớn mà họ đang chịu đựng, liệu ông có làm không?
M: Ta sẽ để tự họ quyết định.
H: Nhưng nếu định mệnh của họ là phải chịu đau khổ? Làm sao ông có thể can thiệp vào định mệnh?
M: Định mệnh của họ là cái đang xảy ra. Không thể ngăn cản định mệnh. Ông muốn nói rằng cuộc đời của mỗi người hoàn toàn được định đoạt vào lúc sinh ra? Thật là một ý tưởng lạ lùng! Nếu quả thật như thế thì ai đó có quyền năng quyết định sẽ bảo đảm chắc chắn rằng không có người nào chịu đau khổ.
H: Thế còn nhân quả?
M: Mỗi một khoảnh khắc chứa đựng toàn thể quá khứ và tạo ra toàn thể tương lai.
H: Nhưng liệu quá khứ và tương lai tồn tại?
M: Chỉ trong tâm mà thôi. Thời gian ở trong tâm, không gian ở trong tâm. Luật nhân quả cũng là một lối suy nghĩ. Trong thực tại tất cả ở đây và bây giờ, và tất cả là một. Tính nhiều và đa dạng chỉ có trong tâm.
H: Tuy nhiên, ông vẫn hậu thuẫn cho sự làm dịu bớt đau khổ, dù bằng cách phải hủy diệt những thân xác mắc bệnh trầm kha vô phương cứu chữa?
M: Một lần nữa, ông nhìn từ bên ngoài vào còn Ta nhìn từ bên trong ra. Ta không thấy một người đau khổ, Ta là người đau khổ. Ta biết người đó từ bên trong, và làm cái gì đúng một cách tùy nghi và chẳng cần dụng sức. Ta không tuân theo một luật lệ nào và cũng chẳng đặt ra luật lệ. Ta trôi chảy với cuộc sống - một cách thủy chung, không cưỡng lại.
H: Tuy nhiên ông vẫn có vẻ là một người rất thực tế, hoàn toàn chủ động đối với những gì quanh ông.
M: Ông muốn Ta là một cái gì khác? Một kẻ không thích hợp?
H: Nhưng ông không thể giúp ích nhiều cho người khác.
M: Dĩ nhiên, Ta có thể giúp ích. Cả ông cũng có thể giúp ích. Mọi người đều có thể giúp ích. Nhưng sự đau khổ luôn luôn tái diễn. Chỉ con người mới có thể đoạn trừ nguồn gốc của đau khổ trong chính mình. Người khác có thể giúp làm dịu đi nỗi đau khổ nhưng không thể làm gì được với nguyên nhân của sự đau khổ:
sự vô minh cùng cực của nhân loại.
H: Liệu sự vô minh đó có bao giờ chấm dứt?
M: Trong con người - dĩ nhiên, vào bất cứ lúc nào. Trong nhân loại, như chúng ta biết, phải sau rất nhiều năm. Trong tạo dựng - không bao giờ, vì tự thân tạo dựng bắt nguồn từ vô minh; tự thân vật là vô minh. Không biết, và không biết mình không biết là nguồn gốc của đau khổ triền miên.
H: Chúng tôi có nghe nói về các Avatars, tức là các đấng cứu thế vĩ đại.
M: Thế họ có cứu được thế gian này không? Họ đến rồi đi - và thế giới vẫn lăn trôi trong trần lao. Dĩ nhiên là họ đã làm rất nhiều và mở ra nhiều chiều hướng mới trong tâm thức của nhân loại. Nhưng bảo là cứu thế thì phóng đại.
H: Không có sự cứu vớt nào cho thế giới sao?
M: Thế giới nào mà ông muốn cứu vớt? Cái thế giới được chính ông phóng chiếu ra? Chính ông hãy cứu nó. Còn thế giới của Ta? Hãy chỉ cho Ta thế giới của Ta và Ta sẽ lo liệu nó. Ta không biết bất cứ thế giới nào tách biệt với chính Ta, dù Ta hoàn toàn tự do cứu vớt hay không cứu vớt. Việc gì mà ông muốn cứu vớt thế giới, trong khi điều mà thế giới cần là được cứu vớt khỏi ông? Cứ bước ra khỏi bức tranh và xem liệu có gì còn lại để cứu vớt?
H: Hình như điều mà ông muốn nhấn mạnh là nếu không có
ông thì thế giới của ông đã không tồn tại, và do đó điều duy nhất mà ông có thể làm cho thế giới là: kéo màn chấm dứt vở tuồng. Đó không phải là lối thoát. Cho dù thế giới là sự tạo dựng của riêng tôi thì sự hiểu biết này chẳng cứu giúp gì được nó. Sự hiểu biết chỉ có thể giải thích. Câu hỏi vẫn là: Tại sao tôi đã tạo ra một thế giới khốn khổ như thế, và tôi có thể làm gì để thay đổi nó? Ông có vẻ như bảo rằng: Quên nó đi và chiêm ngưỡng hạnh phúc trên thiên đường của chính ông. Chắc chắn là ông không hàm ý như thế. Sự mô tả một căn bệnh và nguyên nhân của căn bệnh không chữa khỏi căn bệnh. Cái mà chúng tôi cần là phương thuốc đúng.
M: Sự mô tả và nguyên nhân là phương cách trị liệu cho một căn bệnh được gây ra bởi u mê và ngu dốt. Cũng như bệnh thiếu vitamine được chữa khỏi bằng cách cung cấp những chất bị thiếu thì mọi căn bệnh của cuộc đời đều được chữa khỏi bằng một liều thuốc đúng của sự vô tư trí tuệ - Viveka-Vairagya.
H: Ông không thể cứu vớt thế gian bằng cách rao giảng những giáo điều về sự toàn hảo. Con người là như thế. Họ có bắt buộc phải chịu đau khổ không?
M: Bao giờ con người vẫn là như thế thì không có một lối thoát nào ra khỏi sự đau khổ. Hãy dẹp bỏ cái ý thức về sự riêng biệt thì xung đột sẽ không còn.
H: Một thông điệp được in ra có thể chỉ là giấy và mực. Chính bản văn mới là quan trọng. Khi phân tích thế giới thành những thành phần và tính chất chúng ta bỏ qua một điều quan trọng nhất ý nghĩa của nó. Việc ông thu gọn tất cả mọi thứ thành chiêm bao đã không tính đến sự khác biệt giữa giấc mơ của một con côn trùng và giấc mơ của một thi sĩ. Tất cả đều là chiêm bao, cứ cho là như thế. Nhưng không phải tất cả đều như nhau.
M: Các giấc chiêm bao thì không đồng hành như nhau, nhưng người chiêm bao là một. Ta là con côn trùng, Ta là nhà thơ - trong chiêm bao. Nhưng trong hiện thực Ta không phải cả hai. Ta ở ngoài tất cả những giấc chiêm bao. Ta là ánh sáng mà trong đó tất cả các giấc chiêm bao xuất hiện và biến mất. Ta vừa ở trong vừa ở ngoài giấc chiêm bao. Giống như một người bị nhức đầu biết cơn đau và cũng biết rằng mình không phải là cơn đau thì Ta biết giấc chiêm bao, chính Ta đang chiêm bao và chính Ta không chiêm bao - tất cả cùng một lúc. Ta là Ta, trước, trong khi và sau giấc chiêm bao. Nhưng cái Ta thấy trong chiêm bao thì không phải là Ta.
H: Tất cả chỉ là tưởng tượng. Một người tưởng tượng rằng mình đang chiêm bao, một người khác tưởng tượng mình không chiêm bao. Không phải cả hai đồng như nhau?
M: Đồng và không đồng. Không chiêm bao - như là một khoảng xen vào giữa hai giấc chiêm bao - dĩ nhiên là một phần của giấc chiêm bao. Còn không chiêm bao - như là một sự liên tục không gián đoạn, tồn tại phi thời trong thực tại - thì chẳng có liên quan gì với chiêm bao. Theo nghĩa này thì Ta chưa bao giờ chiêm bao, và sẽ chẳng bao giờ chiêm bao.
H: Nếu cả chiêm bao và ra khỏi chiêm bao đều là tưởng tượng, vậy lối thoát là gì?
M: Chẳng cần lối thoát! Ông không thấy rằng lối thoát cũng là một phần của giấc chiêm bao? Tất cả những gì ông cần làm: thấy chiêm bao là chiêm bao.
H: Nếu tôi khởi sự thực hành gạt bỏ tất cả mọi thứ, xem chúng như một giấc chiêm bao thì nó sẽ đưa tôi đến đâu?
M: Dù có đưa ông đến bất cứ đâu thì nó vẫn là một giấc chiêm bao. Cái ý tưởng thoát ra khỏi giấc chiêm bao chỉ là một ảo tưởng. Việc gì phải đi đâu? Chỉ cần nhận ra rằng ông đang chiêm bao một giấc chiêm bao mà ông gọi nó là thế giới, và chấm dứt tìm cách thoát ra. Giấc chiêm bao không phải là vấn đề của ông. Vấn đề của ông là ông thích đoạn này, nhưng lại không thích đoạn khác của giấc chiêm bao. Hoặc yêu thích tất cả, hoặc không tất cả, và đừng than van nữa. Một khi đã thấy chiêm bao là chiêm bao thì ông vừa làm xong tất cả những gì cần làm.
H: Có phải chiêm bao do suy nghĩ mà có?
M: Mọi thứ đều là trò chơi của tư tưởng. Trong trạng thái vô tưởng - Nirvikalpa Samadhi - không có gì được nhận thức. Ý tưởng căn nguyên vẫn là: “Ta hiện hữu”. Nó phá vỡ trạng thái ý thức thuần túy và theo sau là vô số cảm giác và nhận thức, cảm thọ và ý tưởng - mà tổng thể của chúng tạo ra Thượng đế và thế giới của Ngài. Cái “Ta hiện hữu” vẫn là nhận chứng, chính ý chí của Thượng đế mà mọi chuyện xảy ra.
H: Tại sao lại không do ý chí của tôi?
M: Một lần nữa, ông lại phân chia chính ông thành Thượng đế và nhân chứng. Cả hai là một.
CHƯƠNG 29. ÔNG TỰ DO NGAY BÂY GIỜ
Hỏi: Có rất nhiều thuyết về bản chất của con người và vũ trụ. Thuyết sáng thế, thuyết ảo ảnh, thuyết mộng huyễn. Trong các thuyết đó, thuyết nào đúng?
Maharaj: Tất cả đều đúng, và tất cả đều sai. Ông có thể chọn thuyết nào mà ông ưa thích nhất.
H: Ông có vẻ thiên về thuyết mộng huyễn.
M: Tất cả chỉ là những cách xếp đặt chữ nghĩa với nhau. Một số thiên về cách này, một số thuận theo cách khác. Lý thuyết thì không đúng mà cũng chẳng sai. Chúng chỉ là những cố gắng nhằm giải thích cái không thể giải thích được. Điều quan trọng không phải là lý thuyết mà là cách nó được thử nghiệm. Chính sự thử nghiệm lý thuyết làm cho lý thuyết thành công. Hãy thử nghiệm bất cứ lý thuyết nào mà ông yêu thích - nếu ông thực sự nghiêm túc và thành thật thì sự đạt đến thực tại sẽ thuộc về ông. Mang lấy kiếp người, ông bị câu thúc trong một tình huống bất trắc và đầy đau khổ, và ông đang tìm lối thoát. Ông được mời xem một số họa đồ về cái nhà tù giam giữ ông mà chẳng cái nào đúng hẳn. Nhưng nếu ông thật sự thành khẩn thì chúng có một giá trị nào đó. Chính sự thành khẩn - chứ không phải lý thuyết - sẽ giải thoát ông.
H: Lý thuyết có thể lừa dối, còn sự thành khẩn thì mù quáng.
M: Lòng chân thành sẽ hướng dẫn ông. Hiến mình cho mục đích tự do và sự toàn hảo sẽ khiến ông từ bỏ mọi lý thuyết và phương pháp để sống với sự hiểu biết, trí tuệ và tình yêu năng động. Lý thuyết có thể hữu ích như là những điểm khởi đầu, nhưng cần phải được từ bỏ, càng sớm càng tốt.
H: Có một hành giả Yogi nói rằng để giác ngộ thì chẳng cần đến pháp môn Yoga tám giai đoạn, chỉ riêng sức mạnh của ý chí là đủ. Chỉ cần tập trung vào mục đích với tất cả sự tin tưởng vào sức mạnh thuần ý chí là đủ để đạt được một cách dễ dàng và nhanh chóng những gì mà người khác phải mất hàng chục năm mới thành tựu.
M: Tập trung, hoàn toàn tin tưởng, thuần ý chí! Với những vốn quý như thế thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi một người thành tựu một cách nhanh chóng. Loại Yoga ý chí này dành cho những hành giả trưởng thành, đã loại bỏ được tất cả ham muốn và chỉ còn một. Xét cho cùng, ý chí không gì khác hơn là sự kiên định của trái tim và tâm thức. Với sự kiên định như thế cái gì cũng có thể đạt được.
H: Theo chỗ tôi hiểu thì hành giả Yogi đó không có ý muốn nói sự kiên định với mục đích sẽ đưa đến sự theo đuổi không ngừng và tinh tấn. Vị ấy muốn nói rằng chỉ cần đặt ý chí vào mục đích thì chẳng cần đến sự theo đuổi hay tinh tấn. Chính yếu tố ý chí thu hút đối tượng của nó.
M: Dù có gọi nó là gì đi nữa: ý chí, mục đích bất dịch, hay nhất tâm, thì ông vẫn trở lại với sự thành khẩn, chân thành, và thành thật. Khi thật sự thành khẩn, ông dồn hết tất cả, từng giây phút của cuộc sống cho mục đích của ông. Ông không phung phí thời gian và sức lực cho những cái khác. Ông hoàn toàn dâng hiến, ông có thể gọi đó là ý chí, là tình yêu, hay lòng thành thật. Chúng ta là những sinh vật phức tạp, thường xuyên chịu xung đột cả trong lẫn ngoài. Chúng ta luôn luôn mâu thuẫn với chính mình, hôm nay phá hủy những gì xây dựng hôm qua. Chẳng có gì làm ngạc nhiên khi chúng ta gặp bế tắc. Một chút trực tâm cũng có thể tạo ra một khác biệt lớn.
H: Cái nào mãnh liệt hơn, lòng ham muốn hay định mệnh?
M: Lòng ham muốn tạo ra định mệnh.
H: Và định mệnh tạo ra ham muốn. Ham muốn của tôi bị điều kiện hóa bởi tính di truyền và hoàn cảnh, bởi cơ hội và sự tình cờ, bởi cái mà chúng ta gọi là định mệnh.
M: Vâng, ông có thể cho là như thế.
H: Khi nào tôi được tự do ham muốn điều tôi ham muốn?
M: Ông tự do ngay bây giờ. Ông ham muốn gì? Cứ ham muốn đi.
H: Dĩ nhiên là tôi hoàn toàn tự do ham muốn, nhưng tôi không được tự do hành động như tôi ham muốn. Những thôi thúc khác làm cho tôi lạc hướng. Ham muốn được tôi chấp nhận thì không đủ mãnh liệt, trong khi những ham muốn mà tôi không chấp nhận thì lại mãnh liệt hơn.
M: Có thể ông tự lừa dối ông. Có thể ông đang diễn tả những ước muốn đích thực của ông, còn những ước muốn được ông chấp nhận và phô bày ngoài mặt chỉ vì tính cách khả kính.
H: Có thể đúng như ông nói, nhưng đấy lại là một lý thuyết khác. Thực tế là tôi không cảm thấy tự do để ham muốn cái mà tôi nghĩ tôi nên ham muốn, và khi có vẻ như ham muốn một cách chính đáng thì tôi lại không hành động tương ứng.
M: Tất cả là do sự nhu nhược của tâm và sự phân hóa của não bộ. Hãy tập trung và giữ cho tâm ông kiên cố rồi ông sẽ nhận thấy rằng ý nghĩ và cảm thọ, ngôn từ và hành động của ông sẽ tự điều hướng theo ý chí của ông.
H: Lại thêm một giáo điều nữa về sự toàn hảo! Đạt đến sự nhất tâm và giữ tâm kiên cố không phải là chuyện dễ dàng! Một người phải bắt đầu như thế nào?
M: Ông chỉ có thể bắt đầu từ chỗ của ông hiện nay. Ông ở đây và bây giờ, ông không thể lìa khỏi đây và bây giờ.
H: Nhưng tôi có thể làm gì ở đây và bây giờ?
M: Ông có thể biết rõ về sự hiện hữu của ông - ở đây và bây giờ.
H: Chỉ thế thôi sao?
M: Thế thôi. Chẳng có gì hơn nữa.
H: Trong tất cả những lúc thức cũng như chiêm bao tôi đều ý thức về chính mình. Nhưng điều đó chẳng giúp tôi được bao nhiêu.
M: Ông biết ông suy nghĩ, cảm thọ, và hành động. Nhưng ông không biết sự hiện hữu của ông.
H: Ông muốn đưa tôi vào yếu tố mới nào?
M: Thái độ của hành vi nhân chứng thuần túy, quan sát các sự kiện mà không can thiệp.
H: Điều đó có tác động gì đến tôi?
M: Sự thiếu quyết tâm là do thiếu thông minh, thiếu hiểu biết, mà chúng lại là kết quả của sự không tỉnh thức. Bằng cách tinh tấn để tỉnh thức ông sẽ gom được tâm và làm cho nó trở nên kiên cố.
H: Tôi có thể hoàn toàn tỉnh thức về những gì đang xảy ra, nhưng không có cách nào ảnh hưởng đến chúng.
M: Ông lầm rồi. Những gì đang xảy ra chỉ là phóng ảnh của tâm ông. Một cái tâm nhu nhược không thể điều khiển những phóng ảnh của chính nó. Do đó, hãy biết rõ tâm ông và những phóng ảnh của nó. Ông không thể điều khiển những gì ông không biết. Trái lại, sự hiểu biết tạo nên sức mạnh. Trong thực hành thì rất đơn giản. Muốn điều ngự chính mình thì phải biết chính mình.
H: Có thể tôi sẽ đạt đến được sự điều ngự chính mình, nhưng liệu tôi có thể đối phó với những hỗn loạn trên thế giới?
M: Chẳng hề có hỗn loạn nào trên thế giới, ngoại trừ những hỗn loạn do tâm ông tạo ra. Tâm tự tạo ra có nghĩa là ngay tại tâm điểm của nó có một ý tưởng sai lầm về chính mình, cho mình là một cái gì đó khác biệt, tách rời khỏi những cái khác. Trong thực tế, ông không là một cái gì cả, và cũng chẳng hề tách biệt. Ông là tiềm năng vô biên, khả năng vô tận. Vì ông hiện hữu, nên tất cả mới có thể hiện hữu. Vũ trụ chỉ là một phần thể hiện của khả năng trở thành của ông, mà khả năng đó thì vô hạn.
H: Tôi nhận thấy tôi hoàn toàn bị sai xử bởi lòng ham muốn lạc thú và nỗi lo sợ sự đau đớn. Dù ham muốn của tôi có cao thượng đến đâu và lo sợ của tôi có chính đáng đến đâu thì hạnh phúc và đau khổ vẫn là hai cực mà ở giữa là cuộc đời tôi xoay vần.
M: Hãy xông vào tận nguồn gốc của cả đau khổ lẫn lạc thú, ham muốn và lo sợ. Hãy quan sát, tra vấn, và tìm cách hiểu chúng.
H: Ham muốn lẫn lo sợ đều là những cảm xúc được tạo ra bởi các yếu tố vật chất hay tâm lý. Chúng có đó và rất dễ quan sát. Nhưng tại sao chúng có đó? Tại sao tôi lại ham muốn lạc thú và sợ hãi đau khổ?
M: Lạc thú và đau khổ là những trạng thái của tâm. Chừng nào ông còn nghĩ ông là tâm, hay đúng hơn là thân-tâm, thì ông còn nêu lên những câu hỏi như thế.
H: Khi nhận ra chính mình không phải là thân xác, liệu tôi có thể thoát khỏi ham muốn và lo sợ?
M: Chừng nào còn có một thân xác và một cái tâm bảo vệ thân thì ông còn bị tác động bởi những lực hấp dẫn và xô đẩy. Chúng luôn luôn có đó, trong phạm trù của các sự kiện, nhưng chẳng hề làm ông bận tâm. Đặt trọng tâm chú ý của ông vào một chỗ khác. Ông không hề bị phân tâm.
H: Nhưng chúng vẫn còn đó. Liệu một người không bao giờ được hoàn toàn tự do?
M: Ông hoàn toàn tự do thậm chí ngay bây giờ. Cái mà ông gọi là định mệnh thực ra chỉ là kết quả của ý muốn ham sống của chính ông. Muốn biết được ý muốn ham sống này mãnh liệt như thế nào thì ông có thể nhận biết nó qua nỗi sợ chết đến độ kinh hoàng của mọi loài chúng sinh.
H: Người ta chết một cách tự nguyện cũng khá nhiều.
M: Chỉ khi nào phương cách duy nhất còn lại tồi tệ hơn cái chết. Nhưng sự sẵn sàng chết như thế cũng có cùng một nguồn gốc với ý muốn ham sống, và nguồn gốc đó còn sâu kín hơn cả chính cuộc sống. Là một sinh vật thì không phải là trạng thái tối hậu; còn có một cái gì siêu việt, tuyệt vời hơn rất nhiều, nó không phải hiện hữu mà cũng chẳng phải phi hiện hữu, không phải sinh mà cũng chẳng phải vô sinh. Đó là trạng thái của tánh biết thuần túy, vượt ra ngoài mọi hữu hạn của không gian và thời gian. Một khi cái ảo tưởng cho rằng thân-tâm là chính mình đã được loại bỏ thì cái chết không còn là mối kinh hoàng, mà trở thành một phần của sự sống.
CHƯƠNG 30. ĐỪNG XEM THƯỜNG SỰ CHÚ Ý
Hỏi: Theo cái nhìn của tôi, ông có vẻ là một người nghèo khó với phương tiện rất hạn chế, đang phải đối diện với tất cả những hệ lụy của sự nghèo khó và phiền toái của tuổi già như mọi người khác.
Maharaj: Nếu như Ta giàu có thì có gì khác biệt? Ta là cái Ta là. Làm sao Ta có thể là một cái gì khác? Ta không giàu mà cũng không nghèo, Ta là chính Ta.
H: Nhưng ông vẫn nếm mùi lạc thú và đau khổ.
M: Ta trải qua những cái đó trong ý thức, nhưng Ta chẳng phải ý thức mà cũng chẳng phải nội dung của ý thức.
H: Ông bảo rằng chúng ta đều bình đẳng trong sự hiện hữu chơn thật của chính mình. Nhưng vì sao kinh nghiệm của ông lại khác với kinh nghiệm của chúng tôi đến thế?
M: Kinh nghiệm thật sự của Ta thì không khác. Nhưng sự đánh giá và thái độ của Ta thì khác. Ta thấy cùng một thế giới như ông thấy, nhưng cách thấy thì không cùng. Chẳng có gì là kỳ bí cả. Mọi người thấy thế giới qua cái ý tưởng mà họ có về chính mình. Ông nghĩ ông là thế nào thì ông cho thế giới là như thế. Khi ông tưởng tượng ông tách biệt với thế giới thì thế giới sẽ có vẻ tách biệt với ông, và ông sẽ trải qua tham ái và lo sợ. Ta không thấy thế giới tách biệt với Ta, nên chẳng có gì để Ta tham ái và lo sợ.
H: Ông là một điểm sáng trong thế giới. Không phải ai cũng
như thế.
M: Hoàn toàn không có sự khác biệt nào giữa Ta và người khác, ngoại trừ điều Ta biết Ta như chính Ta là. Ta là tất cả. Ta biết chắc như thế, còn ông thì không.
H: Rốt cuộc thì chúng ta vẫn khác nhau.
M: Không, chúng ta không khác. Sự khác biệt chỉ xảy ra trong tâm và nhất thời. Ta đã từng như ông, và ông sẽ như Ta.
H: Thượng đế đã tạo ra một thế giới đa dạng nhất.
M: Sự đa dạng chỉ có trong ông. Thấy chính ông như ông là thì ông sẽ thấy thế giới như thế giới là - một khối thực thể duy nhất, không thể phân chia, và không thể mô tả. Chính khả năng sáng tạo của ông phóng chiếu lên nó một bức tranh và tất cả câu hỏi của ông đặt ra là về bức tranh.
H: Một Yogi người Tây Tạng đã viết rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới cho một mục đích và điều hành thế giới theo một phương án. Mục đích đó rất tốt đẹp, và phương án đó là khôn ngoan nhất.
M: Tất cả những cái đó đều nhất thời, còn Ta liên quan với cái vĩnh cửu. Các thần linh và vũ trụ của họ xuất hiện và biến mất, các đấng cứu thế tiếp nối nhau trong một chuỗi vô tận, và cuối cùng chúng ta trở lại với nguồn gốc. Ta chỉ nói đến nguồn gốc vô thời của tất cả các thần linh cùng với vũ trụ của họ, trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
H: Ông biết tất cả các thần linh đó? Ông có nhớ người nào không?
M: Dăm ba đứa trẻ làm trò cho vui thì có gì để xem và có gì để nhớ?
H: Tại sao một nửa nhân loại là đàn ông và một nửa là đàn bà?
M: Vì hạnh phúc của họ. Cái phi nhân cách trở thành nhân cách vì hạnh phúc trong quan hệ. Nhờ ân đức Tôn sư, Ta có thể thấy cái phi nhân cách lẫn cái nhân cách bằng con mắt bình đẳng.
Đối với Ta cả hai là một. Trong cuộc sống, nhân cách hội nhập với phi nhân cách.
H: Nhân cách sinh khởi từ phi nhân cách như thế nào?
M: Chúng chỉ là các phương diện của một Thực tại. Bảo cái này có trước cái kia là không đúng. Tất cả những ý tưởng như thế thuộc về trạng thái thức.
H: Cái gì gây ra trạng thái thức?
M: Ham muốn nằm ngay ở gốc rễ của mọi sự sáng tạo. Ham muốn và trí tưởng tượng nuôi dưỡng và củng cố lẫn nhau. Trạng thái thứ tư - Turiya - là trạng thái nhân chứng thuần túy, là tánh biết vô tư, vô cảm tính và vô ngôn. Nó cũng giống như hư không, hoàn toàn không bị tác động bởi những gì nó dung chứa. Mọi phiền não của thân và tâm không đạt đến nó - phiền trược thì ở bên ngoài, “ở đó”, còn nhân chứng thì luôn luôn “ở đây”.
H: Cái nào thật, cái chủ quan hay cái khách quan? Tôi có khuynh hướng tin rằng vũ trụ khách quan là thật còn cái tâm chủ quan của tôi luôn luôn biến dịch và vô thường. Ông có vẻ cho rằng thực tại thuộc về những trạng thái nội tâm và chủ quan của ông, và ông phủ nhận thực tại đối với thế giới cụ thể bên ngoài.
M: Cả cái chủ quan lẫn cái khách quan đều biến dịch và vô thường. Chẳng có gì là thật về chúng. Hãy tìm cái thường hằng trong cái vô thường, yếu tố duy nhất bất biến trong mọi kinh nghiệm.
H: Yếu tố bất biến này là gì?
M: Dù Ta có gọi nó bằng nhiều tên khác nhau, và chỉ cho ông bằng nhiều cách khác nhau thì cũng chẳng giúp gì nhiều, trừ khi ông có khả năng thấy nó. Một người bị mờ mắt không thể nhìn thấy con vẹt đậu trên cành cây, dù ông có cố gắng gợi ý đến đâu để chỉ cho người đó thấy. Giỏi lắm là người đó thấy được ngón tay ông chỉ. Trước tiên là làm cho thị giác của ông trong sáng, rồi học cách thấy thay vì trố mắt nhìn, ông sẽ nhận ra con vẹt kia. Ông cũng cần phải thành khẩn muốn thấy. Ông cần cả tính trong sáng và lòng thành khẩn cho sự hiểu biết chính mình. Ông cần sự trưởng thành của trái tim và tâm thức, mà sự trưởng thành đó phát sinh từ sự thành khẩn ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày những gì ông đã hiểu, dù ít đến đâu. Trong Yoga không có cái gì như là thỏa hiệp lừng chừng.
Nếu ông muốn tội lỗi, hãy tội lỗi hết mình và công khai. Cũng như đức hạnh có những bài học để dạy các bậc thánh thiện thành khẩn thì tội lỗi cũng có những bài học để dạy kẻ tội lỗi thành khẩn. Chính sự lẫn lộn hai cái với nhau mới tai hại. Không gì có thể ngăn trở ông một cách hữu hiệu bằng thái độ thỏa hiệp lừng chừng, vì nó chứng tỏ sự thiếu thành khẩn, nếu không thành khẩn thì chẳng làm được chuyện gì.
H: Tôi tán thành khắc khổ, nhưng trong thực tế lại chuộng sự xa hoa. Thói quen chạy theo lạc thú và lẫn tránh đau khổ đã thâm căn cố đế trong tôi đến nỗi tất cả những ý định tốt đẹp của tôi, khá nhiều trên bình diện lý thuyết, nhưng không thể nào bám rễ trong cuộc sống hàng ngày. Bảo rằng tôi không thành thật thì chẳng giúp ích gì được tôi, vì tôi không biết cách làm thế nào để thành thật.
M: Ông không thành thật mà cũng chẳng dối trá - đặt tên cho những trạng thái của tâm thì chỉ hữu ích để bày tỏ sự vừa ý hay không vừa ý của ông. Phiền trược không phải là của ông - mà là của tâm ông. Ông hãy bắt đầu bằng cách xa lìa tâm ông. Hãy kiên trì tự nhắc nhở rằng ông không phải là tâm, và mọi phiền trược là của tâm chứ không phải là của ông.
H: Tôi có thể bắt đầu tự nhủ: “Ta không phải là tâm, ta chẳng cần quan tâm đến những phiền trược của nó” nhưng tâm vẫn còn đó, và những phiền trược của nó vẫn còn nguyên như cũ. Này ông, xin đừng nói lý do là tôi chưa đủ thành khẩn, và tôi cần phải thành khẩn hơn nữa! Tôi biết điều ông nói, tôi công nhận điều ông nói, và tôi chỉ hỏi ông - làm sao thực hiện đây?
M: Ít ra là ông hỏi! Đủ để bắt đầu. Hãy khởi sự tư duy, thắc mắc, và quan tâm tìm một phương cách. Hãy ý thức rõ chính ông, quan sát tâm ông, dành tất cả chú ý cho nó. Đừng mong đợi kết quả xổi thì, có thể ông sẽ không nhận ra một kết quả nào. Cái Psyche của ông sẽ trải qua một sự thay đổi mà ông không hay biết, tư duy của ông sẽ trong sáng hơn, cảm xúc của ông sẽ bao dung hơn, và thái độ của ông sẽ thanh thoát hơn. Ông không cần thiết phải nhắm đến những cái đó - ông sẽ chứng kiến sự thay đổi thì cũng thế thôi. Vì, cái mà ông là hiện nay là kết quả của sự không chú ý, và cái mà ông trở thành là kết quả của sự chú ý.
H: Vì sao đơn thuần chú ý lại quan trọng đến như thế?
M: Cho đến nay cuộc đời ông tăm tối và bất an (Tamas và Rajas). Chú ý, tỉnh thức, sự biết rõ, tính trong sáng, sự linh hoạt, sinh khí là tất cả những thị hiện của sự toàn vẹn, sự hợp nhất với bản chất chơn thật của ông - Sattva. Chính trong bản thể của Sattva mà sự tăm tối và bất an được thanh tẩy và hóa giải, và tính cách con người được tái tạo theo đúng với bản chất chơn thật của cái Ta. Sattva là tôi tớ trung thành của cái Ta, nó luôn luôn chu đáo và vâng lời.
H: Tôi sẽ đạt đến trạng thái đó bằng sự chú ý thuần túy?
M: Chớ xem thường sự chú ý. Chú ý có nghĩa là quan tâm và cũng là tình yêu. Muốn biết, muốn làm, muốn khám phá, hay muốn sáng tạo ông phải dành hết tâm huyết vào đó - có nghĩa là chú ý. Mọi phước báu từ đó mà ra.
H: Ông bảo chúng tôi tập trung vào ý thức “Ta hiện hữu”. Có phải đó cũng là một hình thức chú ý?
M: Còn gì nữa? Dành tất cả chú ý của ông cho cái quan trọng nhất đời ông - chính ông. Trong cái vũ trụ của riêng ông, ông là tâm điểm - không biết được tâm điểm thì ông có thể biết được cái gì?
H: Nhưng làm sao tôi có thể biết được chính tôi? Muốn biết được chính tôi thì tôi phải ra ngoài tôi. Nhưng cái ở ngoài tôi thì không thể là chính tôi. Như vậy, có vẻ như tôi không thể biết chính tôi, mà chỉ biết cái mà tôi cho là chính tôi.
M: Đúng thế. Cũng như ông không thể thấy mặt ông, mà chỉ thấy ảnh phản chiếu của nó trong gương; tương tự như thế ông chỉ có thể thấy hình ảnh của chính ông phản chiếu trong tấm gương không hề bị hoen ố của tánh biết thuần túy.
H: Làm sao tôi có được tấm gương không hoen ố đó?
M: Rõ ràng là ông phải tẩy sạch các vết hoen ố. Thấy được những vết hoen ố và tẩy sạch chúng. Giáo huấn từ ngàn xưa vẫn có giá trị.
H: Cái gì thấy và cái gì tẩy xóa?
M: Bản chất trong sáng của tấm gương toàn hảo là cái mà ông không thể thấy được. Bất cứ gì mà ông thấy chắc chắn phải là một vết hoen ố. Lơ nó đi, buông bỏ nó, biết nó như một cái gì không cần đến.
H: Tất cả những gì có thể nhận thức được có phải là những vết hoen ố?
M: Tất cả đều là những vết hoen ố.
H: Toàn thể thế giới là một vết ố.
M: Phải, đúng thế.
H: Khủng khiếp quá! Như thế, vũ trụ chẳng có giá trị gì?
M: Nó vô cùng giá trị. Vượt ra khỏi nó thì ông nhận ra chính ông.
H: Nhưng tại sao nó xuất hiện ngay từ đầu?
M: Ông sẽ biết được điều đó khi nó chấm dứt.
H: Liệu có bao giờ nó chấm dứt?
M: Có chứ, do ông.
H: Nó đã bắt đầu từ khi nào?
M: Bây giờ.
H: Nó sẽ chấm dứt khi nào?
M: Bây giờ.
H: Nó có chấm dứt bây giờ đâu?
M: Ông không để cho nó chấm dứt.
H: Tôi muốn để nó chấm dứt.
M: Ông không muốn. Tất cả cuộc đời ông gắn liền với nó. Quá khứ và tương lai của ông, tham ái và lo sợ của ông, tất cả đều bắt nguồn từ thế giới. Không có thế giới, ông ở đâu, và ông là ai?
H: Một cách chính xác, đó là điều tôi gặp ông để tìm ra.
M: Và Ta bảo cho ông biết một cách chính xác điều này: hãy tìm được một chỗ đặt chân ở bên ngoài, rồi tất cả sẽ sáng tỏ và dễ dàng.
CHƯƠNG 31. CUỘC SỐNG LÀ ĐẠO SƯ TỐI THƯỢNG
Hỏi: Hai người chúng tôi từ những xứ sở xa xôi đến, một là người Anh, và một là người Mỹ. Thế giới mà trong đó chúng tôi sinh ra đang băng hoại, và vì còn trẻ nên chúng tôi rất lo lắng. Những người lớn tuổi hy vọng họ sẽ chết bằng cái chết của họ, còn bọn trẻ chúng tôi không có hy vọng đó. Một số người trong chúng tôi có thể không chấp nhận giết, nhưng không ai có thể chấp nhận để bị giết. Liệu chúng tôi có hy vọng chấn chỉnh thế giới nội trong đời chúng tôi.
Maharaj: Vì sao các cậu lại nghĩ rằng thế giới sắp diệt vong?
H: Các phương tiện hủy diệt đã trở nên vô cùng khốc liệt. Không những thế, ngay cả các hoạt động sản xuất vẫn không ngừng tàn phá thiên nhiên, cũng như các giá trị văn hóa và xã hội của chúng tôi.
M: Cậu nói về thời đại hiện nay. Từ trước đến nay điều này vẫn luôn như thế ở mọi nơi. Nhưng tình thế đáng lo ngại này có thể là nhất thời và có tính cách địa phương. Rồi mọi chuyện sẽ qua đi, và người ta sẽ quên đi.
H: Thảm họa sắp xảy ra có một quy mô rộng lớn không thể tưởng tượng. Chúng ta đang sống giữa một vụ nổ dữ dội.
M: Mỗi con người đau khổ riêng và chết riêng. Con số thì chẳng quan trọng. Hàng triệu người chết thì cũng nhiều như một người bị sát hại.
H: Thiên nhiên có thể tiêu diệt hàng triệu người, nhưng điều
đó không làm tôi kinh sợ. Những biến cố như thế có thể là một thảm kịch hay một điều kỳ bí, nhưng không tàn bạo. Điều làm tôi kinh hoàng là những đau khổ mang tính hủy diệt và tàn phá do con người tạo ra. Thiên nhiên luôn luôn hùng vĩ trong sự tạo dựng và phá hủy. Nhưng hành vi của con người thì độc ác và điên cuồng.
M: Đúng. Như vậy, vấn đề cậu quan tâm không phải là đau khổ và cái chết, mà là sự độc ác và điên cuồng tại nguồn gốc của chúng. Thế không phải độc ác cũng là một hình thức điên cuồng? Và không phải điên cuồng là một sự dụng tâm sai lầm? Vấn nạn của nhận loại là ở trong sự dụng tâm sai lầm. Toàn thể kho báu của thiên nhiên và tinh thần luôn luôn rộng mở đối với ai dụng tâm đúng đắn.
H: Thế nào là dụng tâm đúng đắn?
M: Lo sợ và tham ái tạo nên sự dụng tâm sai lầm. Dụng tâm đúng đắn là phụng sự tình yêu, cuộc sống, chân lý và cái đẹp.
H: Nói thì dễ hơn làm. Yêu chân lý, yêu người, thiện ý - toàn là những thứ hiếm quý! Chúng ta cần rất nhiều những thứ đó để chấn chỉnh thế giới, nhưng ai là người ban phát?
M: Cậu có thể muôn đời tìm kiếm chân lý và tình yêu, trí tuệ và thiện ý ở bất cứ đâu; van xin Thượng đế và con người - tất cả đều vô ích. Cậu phải bắt đầu trong chính mình, với chính mình - đây là định luật bất di bất dịch. Cậu không thể sửa đổi hình ảnh trong gương mà không sửa đổi bộ mặt. Trước tiên, hãy nhận ra rằng thế giới chỉ là ảnh phản chiếu của chính cậu, và ngừng tìm kiếm sai lầm trong ảnh phản chiếu. Hãy chú ý đến chính cậu, chấn chỉnh chính cậu - về tâm lý cũng như cảm xúc. Thân xác vật lý sẽ tự động theo sau. Cậu nói nhiều về những cải tổ: kinh tế, xã hội, chính trị. Cứ mặc kệ những cải tổ mà hãy quan tâm đến người cải tổ. Một kẻ vô minh, tham lam và tàn ác tạo ra một thế giới như thế nào?
H: Nếu phải chờ một sự thay tâm đổi ý thì chúng ta chờ đến muôn đời. Những gì ông nói chỉ là giáo điều về sự toàn hảo, và cũng là giáo điều của sự tuyệt vọng. Khi tất cả toàn hảo, thế giới sẽ toàn hảo. Thật là một lập luận hiển nhiên vô tích sự!
M: Ta có bảo thế đâu. Ta chỉ nói: Cậu không thể sửa đổi thế giới trước khi sửa đổi chính cậu; Ta không bảo trước khi sửa đổi mọi người. Sửa đổi người khác là chuyện không cần thiết và không thể được. Nhưng nếu cậu có thể sửa đổi chính mình thì cậu sẽ nhận ra rằng không có sửa đổi nào khác là cần thiết. Muốn sửa đổi hình ảnh thì chỉ cần sửa đổi cuốn phim, cậu chẳng cần phải công kích màn ảnh!
H: Làm sao ông chắc chắn về ông đến như thế? Làm sao ông biết được điều ông nói ra là đúng thật?
M: Ta không chắc chắn về chính Ta, mà Ta chắc chắn về cậu. Tất cả những gì cậu cần là chấm dứt tìm kiếm bên ngoài cái mà cậu chỉ có thể tìm thấy bên trong. Hãy đặt lại cho đúng cách nhìn của cậu trước khi hoạt động. Cậu đau khổ vì sự hiểu lầm nghiêm trọng. Hãy làm cho tâm cậu trong sáng, tim cậu trong sạch, đời cậu thánh thiện - đó là phương cách nhanh chóng nhất để sửa đổi thế giới của cậu.
H: Vô số thánh nhân và các bậc thần bí đã từng xuất hiện và ra đi. Chẳng ai sửa đổi thế giới của tôi.
M: Làm sao họ có thể sửa đổi? Thế giới của cậu không phải là của họ, và thế giới của họ không phải là của cậu.
H: Chắc chắn là có một thế giới thực tế chung cho mọi người.
M: Thế giới của sự vật, năng lượng và vật chất? Cho dù có một thế giới chung gồm các sự vật và động lực vật lý thì đó cũng không phải là thế giới mà trong đó chúng ta đang sống. Thế giới của chúng ta là thế giới của cảm thọ và ý nghĩ, của những thu hút và xô đẩy, của những nấc thang giá trị, của các động cơ và khuyến khích - một thế giới hoàn toàn tâm lý. Về phương diện sinh học, chúng ta cần rất ít; tất cả vấn đề của chúng ta đều thuộc về một giai tầng khác. Những vấn đề do tham ái, lo sợ, và tà kiến tạo ra chỉ có thể giải quyết trên bình diện của tâm. Cậu phải điều ngự tâm cậu, mà muốn thế thì cậu phải vượt ra khỏi nó.
H: Vượt ra khỏi tâm nghĩa là thế nào?
M: Cậu đã vượt ra khỏi thân xác, có phải thế không? Cậu có theo dõi một cách chi tiết sự tiêu hóa, tuần hoàn hay bài tiết của cậu đâu. Những sinh hoạt đó đều trở thành tự động. Tương tự như thế, tâm phải hành hoạt một cách tự động, mà không cần phải kêu gọi sự chú ý. Điều này chỉ có thể xảy ra khi nào tâm cậu hoạt động hoàn chỉnh. Chúng ta thường xuyên ý thức về tâm và thân, bởi vì chúng luôn luôn kêu gọi giúp đỡ. Đau đớn và đau khổ chỉ là những tiếng la của thân và tâm kêu gọi sự chú ý. Để vượt ra khỏi thân, cậu phải khỏe mạnh; để vượt ra khỏi tâm cậu phải đặt tâm trong một trật tự hoàn toàn. Cậu không thể để lại phía sau một đống bầy hầy và đi ra ngoài. Đống bầy hầy đó sẽ làm cậu vướng chân. “Dọn rác của mình bầy ra” là một luật chung. Và đó cũng là luật công bằng.
H: Xin phép hỏi ông đã vượt ra khỏi tâm như thế nào?
M: Nhờ công đức của Tôn sư.
H: Công đức ấy là gì?
M: Ngài nói với Ta cái gì là chân lý.
H: Ông ấy đã nói gì với ông?
M: Ngài bảo Ta là Thực thể Tối thượng.
H: Ông đã làm gì với điều đó?
M: Ta tin tưởng Tôn sư và ghi nhớ lời dạy.
H: Chỉ có thế thôi sao?
M: Phải, Ta nhớ Tôn sư, Ta nhớ lời ngài dạy.
H: Ông muốn nói rằng chỉ có thế là đủ?
M: Còn phải làm gì nữa? Nhớ đến Tôn sư và lời ngài dạy là đã quá nhiều. Lời khuyên của Ta cho cậu còn dễ hơn thế - chỉ cần nhớ chính mình. “Ta hiện hữu” là đủ chữa lành bệnh của tâm và đưa cậu ra khỏi tâm. Chỉ cần chút tín tâm. Ta không lừa dối cậu đâu. Việc gì Ta phải làm như thế? Ta mong cầu nơi cậu điều chi? Ta mong cậu an lành - đó là bản chất của Ta. Việc gì Ta phải lừa dối cậu?
Lý lẽ thường tình cũng có thể cho cậu biết rằng muốn thực hiện một ước muốn cậu phải để tâm vào nó. Nếu muốn biết bản chất chơn thật của chính mình, cậu phải để tâm đến chính mình trong mọi lúc, cho đến khi bí mật hiện hữu của cậu phô bày.
H: Vì sao nhớ chính mình lại đưa đến sự giác ngộ chính mình?
M: Bởi vì chúng là hai phương diện của cùng một trạng thái. Nhớ chính mình là ở trong tâm, còn giác ngộ chính mình là ở ngoài tâm. Hình ảnh trong gương là của bộ mặt ở bên ngoài gương.
H: Khá đúng. Nhưng mục đích là gì?
M: Muốn giúp người khác, một người phải vượt ra khỏi sự cần giúp.
H: Tất cả những gì tôi muốn là hạnh phúc. M: Hãy hạnh phúc để tạo hạnh phúc.
H: Và mặc kệ người khác lo cho chính họ.
M: Này cậu, cậu không tách biệt với tha nhân đâu. Hạnh phúc mà cậu không thể chia sẻ được là hạnh phúc giả tạm. Chỉ cái gì có thể chia sẻ được thì mới thực sự đáng mong cầu.
H: Đúng. Nhưng tôi có cần một Đạo sư không? Những gì ông nói với tôi rất đơn giản và rất thuyết phục. Tôi sẽ nhớ lời ông, nhưng không có nghĩa ông là Đạo sư của tôi.
M: Điều quan trọng không phải là kính ngưỡng một ai đó, mà là sự kiên trì và chiều sâu của sự cống hiến cho công cuộc. Tự thân cuộc sống là vị Đạo sư Tối thượng; hãy chú ý đến những bài học và tuân theo các mệnh lệnh của cuộc sống. Khi nhân cách hóa nguồn gốc của những bài học, cậu có một Đạo sư ở bên ngoài; khi tiếp nhận các bài học trực tiếp từ cuộc sống thì vị Đạo sư ở bên trong. Ghi nhớ lời dạy của Đạo sư - bên ngoài hay bên trong - thắc mắc, tư duy, sống với nó, yêu quí nó, trở thành nó, trưởng thành với nó, biến nó thành của riêng mình. Cứ bỏ vào đó tất cả và cậu sẽ có tất cả. Ta đã làm như thế. Ta đã cống hiến tất cả thời gian của Ta cho Tôn sư và những gì ngài chỉ dạy.
H: Tôi sống bằng nghề viết văn. Ông có thể cho tôi một lời khuyên nào đó, riêng biệt cho tôi?
M: Viết văn là một tài năng và cũng là một kỹ năng. Trưởng thành với tài năng và phát triển với kỹ năng. Hãy ham muốn cái gì đáng ham muốn, và ham muốn nó một cách tốt đẹp. Muốn tìm lối ra giữa đám đông thì phải lách qua nhiều người, tương tự như thế cậu tìm đường ra giữa các sự kiện mà không để mất hướng. Điều này rất dễ, nếu cậu thành khẩn.
H: Rất nhiều lần ông đề cập đến sự cần thiết phải thành khẩn. Nhưng chúng tôi không phải là những người thuần ý chí. Chúng tôi là những mớ ham muốn và cần cầu, đòi hỏi bản năng và thôi thúc. Chúng bò lúc nhúc lên nhau, lúc cái này, lúc cái khác ngoi lên trên, nhưng chẳng bao giờ được lâu.
M: Chẳng có cần cầu, mà chỉ có ham muốn.
H: Ăn, uống, có chỗ nương thân: có phải đó là sống?
M: Ước muốn sinh tồn là một ước muốn căn bản nhất. Tất cả những thứ khác đều tùy thuộc vào nó.
H: Chúng ta sống vì chúng ta phải sống.
M: Chúng ta sống vì chúng ta khao khát sự tồn tại mang tính cảm giác.
H: Một điều mang tính chung nhất như thế thì không thể sai trái.
M: Dĩ nhiên là không sai. Vào đúng chỗ và đúng thời thì chẳng có gì sai. Nhưng khi quan tâm đến chân lý, đến thực tại thì cậu phải đặt câu hỏi về mọi thứ, ngay cả chính cuộc đời của cậu. Bằng cách khẳng định sự cần thiết của kinh nghiệm thuộc cảm giác và tri thức, cậu thu hẹp sự tìm hiểu trong phạm vi tìm kiếm sự thỏa mãn.
H: Tôi tìm kiếm hạnh phúc, chứ không phải sự thỏa mãn.
M: Ngoài sự thỏa mãn của tâm và thân, cậu còn biết hạnh phúc nào khác?
H: Liệu còn có hạnh phúc khác?
M: Hãy tìm ra cho chính cậu. Đặt câu hỏi về từng sự thôi thúc, đừng cho bất cứ ham muốn nào cũng là chính đáng. Hãy từ bỏ tất cả mọi sở hữu, vật lý cũng như tâm lý, hoàn toàn không còn bận tâm đến chính mình, hãy cởi mở để khám phá.
H: Theo truyền thống tâm linh Ấn Độ, chỉ cần sống thân cận với một vị thánh nhân hay một bậc hiền triết thì cũng đủ để đạt đến giải thoát mà chẳng cần đến phương tiện nào khác. Vì sao ông không lập một tịnh xá - Ashram - để nhiều người có thể sống gần ông.
M: Ngay khi lập ra một tổ chức nào đó thì Ta trở thành tù nhân của nó. Thật ra, ai cũng có thể gặp Ta. Ăn ở chung nhà không làm cho người ta cảm thấy được tiếp đãi ân cần hơn. “Sống gần” không có nghĩa là hít thở cùng không khí. “Sống gần” có nghĩa là tin tưởng và quy thuận, không để những thiện ý của Đạo sư trở nên uổng phí. Luôn luôn để Đạo sư trong tim và ghi nhớ những lời ngài dạy - đó mới chính là thật sự ăn ở cùng với chân lý. Sự thân cận có tính cách vật lý thì không mấy quan trọng. Hãy biến tất cả đời cậu thành sự thể hiện tín tâm và lòng yêu quí đối với Đạo sư - đó mới chính là sống thân cận với Đạo sư
CHƯƠNG 32. MỌI CHUYỆN ĐỀU TỰ XẢY RA
Hỏi: Bậc giác ngộ có chết không?
Maharaj: Người giác ngộ ở ngoài sống và chết. Điều mà chúng ta cho là bất khả tránh - sinh ra và chết đi - thì đối với người giác ngộ chỉ là một cách thể hiện cái động trong cái tịnh, cái biến đổi trong cái bất biến, cái chấm dứt trong cái bất tận. Đối với người giác ngộ thì hiển nhiên là không có gì được sinh ra và chẳng có gì chết đi, không có gì bền lâu và cũng chẳng có gì thay đổi, tất cả hiện hữu như chính nó là - một cách phi thời.
H: Ông nói bậc giác ngộ ở ngoài. Ở ngoài cái gì? Ở ngoài sự hiểu biết?
M: Sự hiểu biết nổi lên và chìm xuống. Ý thức xuất hiện rồi biến mất. Đó là điều xảy ra hàng ngày và quan sát được. Chúng ta đều biết rằng nhiều lúc chúng ta có ý thức và cũng có nhiều lúc không. Khi không có ý thức, chúng ta ở trong trạng thái tối tăm hoặc không biết gì cả. Nhưng một người giác ngộ biết rõ chính mình không phải hữu thức mà cũng chẳng phải vô thức; người giác ngộ biết một cách thuần túy, như một nhân chứng về ba trạng thái của tâm và nội dung của các trạng thái đó.
H: Hành vi nhân chứng này bắt đầu khi nào?
M: Đối với người giác ngộ không có gì bắt đầu hoặc chấm dứt. Cũng như muối hòa tan trong nước, tất cả mọi thứ tan biến vào trong sự hiện hữu thuần túy. Trí tuệ là sự phủ nhận vĩnh viễn cái hư giả. Thấy được cái hư giả là trí tuệ. Siêu vượt ra ngoài là cái bất khả diễn giải.
H: Trong tôi có sự tin tưởng: “Ta là thân xác.” Cứ cho là tôi nói từ vô minh. Nhưng trạng thái cảm nhận chính mình là thân, là thân-tâm, là tâm-thân, hay thậm chí là tâm thuần túy - bắt đầu từ bao giờ?
M: Ông không thể nói đến một sự bắt đầu của ý thức. Ngay chính những ý tưởng về sự bắt đầu và thời gian đều ở trong ý thức. Muốn nói một cách có ý nghĩa về sự bắt đầu của bất cứ cái gì thì ông phải bước ra khỏi nó. Và ngay khi bước ra khỏi, ông nhận ra rằng chẳng có cái gì như thể và chưa bao giờ đã có cái như thế. Chỉ có thực tại, trong đó không cái gì tự nó có thực thể. Cũng như sóng không thể xa lìa biển, tất cả mọi tồn tại đều bắt nguồn từ hiện hữu.
H: Thực tế là ngay đây và bây giờ, tôi hỏi ông: cái cảm tưởng “Ta là thân xác” khởi lên khi nào? Lúc tôi sinh ra? Hay mới sáng nay?
M: Ngay bây giờ.
H: Nhưng tôi nhớ hôm qua tôi cũng có nó!
M: Ký ức về ngày hôm qua chỉ có ngay bây giờ.
H: Nhưng chắc chắn là tôi tồn tại trong thời gian. Tôi có một quá khứ và một tương lai.
M: Đó là cách ông tưởng tượng - ngay bây giờ.
H: Chắc chắn đã phải có một sự bắt đầu.
M: Ngay bây giờ.
H: Thế còn chấm dứt?
M: Cái không có sự bắt đầu thì không thể chấm dứt.
H: Tôi biết tôi hỏi cái gì.
M: Một câu hỏi sai thì không thể có câu trả lời. Nó chỉ có thể được xem là hư giả.
H: Đối với tôi nó là thật.
M: Nó xuất hiện như thật với ông bao giờ? Ngay bây giờ.
H: Đúng, nó rất thật với tôi - ngay bây giờ.
M: Cái gì là thật về câu hỏi của ông? Câu hỏi của ông là một trạng thái của tâm. Không có trạng thái nào của tâm lại thật hơn chính tâm. Tâm có thật không? Nó chỉ là sự kết tập của các trạng thái, mà mỗi trạng thái đều biến diệt. Làm sao một chuỗi liên tiếp các trạng thái biến diệt có thể được xem là thật?
H: Cũng giống như những chuỗi hạt trên một sợi dây, sự kiện tiếp nối sự kiện - mãi mãi.
M: Tất cả chúng đều treo trên một ý nghĩ căn bản: “Ta là thân xác.” Nhưng ngay cả ý nghĩ này cũng là một trạng thái của tâm và không lâu bền. Nó đến rồi đi như tất cả các trạng thái khác. Cái ảo tưởng là thân-tâm có đó chỉ vì nó không được tìm hiểu đến nơi đến chốn. Chính sự không tìm hiểu đến nơi đến chốn là sợi dây mà trên đó tất cả những trạng thái của tâm bám víu. Cũng giống như bóng tối trong một căn phòng đóng kín. Rõ ràng là có nó. Nhưng khi cửa phòng mở toang, bóng tối đi đâu? Nó chẳng đi đâu cả, bởi vì nó đã không ở phòng. Tất cả những trạng thái của tâm, tất cả những dãnh xưng và hình tướng của sự tồn tại bắt nguồn từ sự không thắc mắc, không tìm hiểu đến nơi đến chốn, từ sự tưởng tượng và dễ tin. Khi nói “Ta là” thì đúng, những nếu bảo rằng “Ta là cái này”, “Ta là cái kia” thì đó là một dấu hiệu của sự không thắc mắc, thiếu suy xét, của một cái tâm nhu nhược, hoặc thờ ơ.
H: Nếu tất cả đều là ánh sáng, thì bóng tối xuất hiện như thế nào? Làm sao có thể có bóng tối ngay giữa ánh sáng?
M: Chẳng có bóng tối nào ở giữa ánh sáng. Quên mất chính mình là tối. Khi bị thu hút bởi những cái khác, bởi những cái không phải là Ta, chúng ta quên mất cái Ta. Chẳng có gì là không tự nhiên về điều đó. Nhưng tại sao lại quên mất chính mình trong quá nhiều ràng buộc? Trí tuệ là ở chỗ không bao giờ quên mình là nguồn gốc thường tại của cả người kinh nghiệm lẫn kinh nghiệm.
H: Trong trạng thái hiện nay của tôi, ý nghĩ “Ta là thân xác” xuất hiện một cách tự nhiên, còn ý nghĩ “Ta là hiện hữu thuần túy” phải được áp đặt lên tâm như một cái gì có thật, dù chưa bao giờ thực chứng.
M: Đúng, việc thực hành bao gồm có sự tự nhắc nhở một cách kiên quyết về “trạng thái hiện hữu” thuần túy của chính mình, rằng mình không phải là bất cứ gì cá biệt, hay một tập hợp của những cá biệt, và thậm chí cũng không phải là tổng thể của những cá biệt, tạo thành vũ trụ. Tất cả đều tồn tại trong tâm, ngay cả thân cũng chỉ là sự hợp nhất trong tâm của vô số những nhận thức thuộc cảm giác, mà mỗi nhận thức lại là một trạng thái của tâm. Nếu ông bảo: “Ta là thân xác” hãy cho Ta xem.
H: Nó đây.
M: Chỉ khi nào ông nghĩ về nó. Cả tâm và thân đều là những trạng thái thất thường, lúc có lúc không. Sự tổng hợp của những trạng thái chợt lóe lên rồi chợt tắt này tạo ra cái ảo tưởng về sự tồn tại. Tìm ra cái thường hằng trong cái vô thường, cái chơn thật trong cái hư giả. Đó chính là Sadhana.
H: Thực tế, tôi nghĩ tôi là thân xác.
M: Bằng mọi cách hãy nghĩ về chính ông. Nhưng đừng đem ý nghĩ về một thân xác vào bức tranh. Chỉ có một giòng những cảm giác, nhận thức, ký ức, và ý tưởng. Thân xác chỉ là một cái gì trừu tượng, được hình thành bởi khuynh hướng tìm kiếm sự đơn nhất trong cái đa dạng - điều này, một lần nữa, chẳng có gì sai.
H: Tôi được bảo rằng ý nghĩ “Ta là thân xác” là một khuyết tật trong tâm.
M: Tại sao lại nói thế? Những phát biểu như thế gây ra đủ thứ phiền trược. Cái Ta là nguồn gốc của tất cả, và là nơi đến cuối cùng của tất cả. Không có gì ở ngoài nó.
H: Khi ý nghĩ về thân xác trở nên một sự ám ảnh, thì không phải điều đó hoàn toàn sai?
M: Chẳng có gì sai trong ý nghĩ về thân xác, thậm chí cũng chẳng có gì không đúng trong ý nghĩ “Ta là thân xác”. Nhưng giới hạn chính mình chỉ trong một thân xác là sai lầm. Trong thực tế tất cả mọi tồn tại, mọi hình tướng là của chính Ta, trong nội vi ý thức của Ta. Ta không thể nói Ta là cái gì bởi vì ngôn từ chỉ có thể mô tả cái không phải là Ta. Ta hiện hữu, và bởi vì Ta hiện hữu, nên tất cả hiện hữu. Nhưng Ta ở ngoài ý thức, và, do đó, trong ý thức Ta không thể nói Ta là cái gì. Nhưng, Ta hiện hữu. Câu hỏi “Ta là ai?” không có đáp án. Không kinh nghiệm nào có thể trả lời, vì cái Ta ở ngoài mọi kinh nghiệm.
H: Nhưng câu hỏi “Ta là ai?” phải có một công năng nào đó.
M: Nó không có câu trả lời trong ý thức, và, do đó, giúp người hỏi vượt ra ngoài ý thức.
H: Tôi ở đây - trong khoảnh khắc hiện tại. Cái gì là thật và cái gì là không thật trong đó? Xin đừng bảo tôi rằng câu hỏi của tôi sai. Hỏi lại câu hỏi của tôi chẳng đưa tôi đến đâu cả.
M: Câu hỏi của ông không sai. Nhưng nó không cần thiết. Ông nói: “Ta ở đây và bây giờ.” Dừng lại ở đó, đó là thật. Đừng biến một sự kiện thực tế thành câu hỏi. Sự sai lầm của ông là ở đó. Ông không phải biết mà cũng chẳng phải không biết, không phải tâm mà cũng chẳng phải vật; đừng cố tìm cách mô tả ông dưới hình thức tâm hay vật.
H: Vừa mới đây một cậu bé có vấn đề gì đó đến gặp ông. Ông nói vài câu rồi cậu Ta ra đi. Thế ông có giúp cậu Ta không?
M: Tất nhiên.
H: Vì sao ông lại đoan chắc như thế?
M: Giúp ích là bản tính của Ta.
H: Làm sao ông biết được điều đó?
M: Chẳng cần phải biết. Nó tự vận hành.
H: Ông vẫn đưa ra một phát biểu. Sự phát biểu của ông dựa trên cái gì?
M: Những gì mà người khác bảo Ta. Ông là người thắc mắc về các bằng chứng. Ta chẳng cần chúng. Xắp đặt mọi thứ cho đúng cách là bản tánh của Ta, đó là cái thật, cái thiện và cái đẹp - Satyam, Shivam, Sundram.
H: Khi một người đến gặp ông để được chỉ giáo, và ông chỉ dạy người đó. Sự chỉ giáo đó ở đâu mà có và nhờ ở quyền năng nào nó giúp người kia?
M: Sự hiện hữu của người đó tác động đến tâm của chính người đó và tạo ra một sự đáp ứng.
H: Thế vai trò của ông là gì?
M: Người đó và cái Ta của người đó cùng đến trong Ta.
H: Vì sao cái Ta không giúp được người đó nếu không có ông?
M: Vì Ta là cái Ta! Ông tưởng tượng Ta tách biệt, nên đặt câu hỏi. Không hề có “cái Ta của ta” và “cái Ta của người đó.” Chỉ có cái Ta, cái Ta duy nhất cho tất cả. Bị lầm lẫn bởi sự đa dạng của danh xưng và hình tướng, tâm và thân, ông tưởng tượng có nhiều cái Ta. Ông và Ta là cái Ta, nhưng ông có vẻ không tin điều đó. Bàn về cái Ta cá nhân và cái Ta vũ trụ là thuộc về phạm vi của kẻ sơ cơ; hãy vượt ra ngoài, đừng vướng mắc trong nhị nguyên.
H: Trở lại với người cần giúp. Người đó đến với ông.
M: Nếu người đó đến, chắc chắn sẽ được giúp. Vì định mệnh buộc người đó cần giúp, người đó tìm đến. Chẳng có gì lạ lùng về điều đó. Ta không thể giúp người này và từ chối người khác. Mọi người đến đều được giúp, đó là định luật. Cách giúp thì khác vì tùy theo sự cần giúp.
H: Vì sao người đó phải tìm đến đây để được giúp? Người đó không thể tìm được từ bên trong hay sao?
M: Người đó không nghe được vì tâm người đó mải vọng ra ngoài. Nhưng thực ra tất cả kinh nghiệm đều xảy ra trong tâm, vì vậy dù người đó đến gặp Ta và được giúp thì tất cả cũng đều ở trong chính người đó. Thay vì tìm ra câu trả lời trong chính mình, người đó tưởng tượng tìm ra đáp án từ bên ngoài. Còn đối với Ta, không có Ta, không có người cần giúp và cũng không có sự giúp. Tất cả chỉ là một thoáng trong tâm. Ta là sự im lặng và an lạc vô biên trong đó không có gì xuất hiện, vì tất cả những gì xuất hiện đều biến mất. Không có người đến nhờ giúp, không có người giúp, không có người được giúp. Tất cả chỉ là một sự phô diễn trong ý thức.
H: Nhưng quyền năng giúp có đó, và phải có ai đó hoặc cái gì đó làm cho quyền năng đó hiển hiện; gọi người đó hay cái đó là Thượng đế, là Ta, hay là Tâm thức vũ trụ. Điều quan trọng là sự kiện, chứ không phải danh hiệu.
M: Đó là quan điểm của thân-tâm. Cái tâm thuần túy thấy mọi thứ như chúng là: những bọt bong bóng trong ý thức. Chúng xuất hiện, biến mất, và tái xuất hiện mà không hề có một thực thể. Không một nhân duyên riêng biệt nào có thể gán cho chúng, vì mỗi cái được toàn thể tạo ra, và tác động lên toàn thể. Mỗi bọt bong bóng là một thân và tất cả thân đó là của Ta.
H: Có phải ông muốn nói rằng ông có quyền năng làm tất cả mọi chuyện một cách đúng đắn?
M: Chẳng có quyền năng nào tách biệt khỏi Ta. Nó có sẵn ngay trong bản tánh của Ta. Gọi nó là năng lực sáng tạo. Từ một thỏi vàng ông có thể làm ra nhiều món trang sức - mỗi món trang sức vẫn là vàng. Tương tự như thế, trong bất cứ vai trò nào mà Ta xuất hiện, và bất cứ chức năng nào mà Ta hành xử - Ta vẫn là cái Ta là: cái “Ta hiện hữu” bất động, bất di bất dịch và bất tùy thuộc. Cái mà ông gọi là vũ trụ, là thiên nhiên là tính tùy nghi sáng tạo của Ta. Bất cứ gì xảy ra - xảy ra. Bản tánh của Ta là thế nên tất cả sẽ chấm dứt trong an lạc.
H: Tôi gặp trường hợp một đứa trẻ bị mù vì người mẹ ngu ngốc cho nó uống lầm một loại cồn công nghiệp có chất methyl. Tôi khẩn khoản nhờ ông giúp đứa trẻ mù. Ông có đầy lòng từ bi, và, dĩ nhiên là sự thành tâm cứu giúp người khác. Bằng quyền năng nào ông có thể giúp đứa trẻ?
M: Trường hợp của đứa trẻ được ghi nhận trong ý thức. Nó ở đó - không thể tẩy xóa được. Ý thức sẽ hành sử.
H: Nếu tôi nhờ ông giúp thì có gì khác biệt?
M: Sự nhờ giúp của ông là một phần thuộc sự mù mắt của đứa trẻ. Vì nó mù nên ông mới nhờ. Ông chẳng thêm vào cái gì cả.
H: Nhưng sự cứu giúp của ông sẽ là một yếu tố mới.
M: Không, tất cả đều ở trong sự mù mắt của đứa trẻ. Tất cả đều ở trong đó - bà mẹ, đứa trẻ, ông và Ta, cùng những yếu tố khác. Tất cả là một sự kiện.
H: Ông muốn nói rằng ngay cả cuộc nói chuyện của tôi và ông về đứa trẻ cũng là tiền định.
M: Còn gì nữa? Tất cả đều hàm chứa tương lai của chính nó. Đứa trẻ xuất hiện trong ý thức. Ta ở bên ngoài. Ta không ra lệnh cho ý thức. Ta biết rằng sắp xếp mọi thứ cho đúng đắn là thuộc bản chất của tánh biết. Hãy để cho ý thức lo cho những gì nó tạo ra! Sự đau khổ của đứa trẻ, lòng trắc ẩn của ông, sự lắng nghe của Ta, và hành vi của ý thức - tất cả là một sự kiện duy nhất - đừng phần chia nó thành những thành phần rồi đặt câu hỏi.
H: Tâm ông hành hoạt thật lạ lùng!
M: Ông lạ lùng, không phải Ta. Ta rất bình thường. Ta rất minh mẫn. Ta thấy sự vật như chính chúng là, do đó Ta không hề sợ chúng. Còn ông thì sợ hãi thực tại.
H: Tại sao tôi lại sợ?
M: Chính sự vô minh về chính ông làm ông sợ và ông cũng không biết ông sợ. Đừng tìm cách không sợ. Trước tiên hãy phá xập bức tường vô minh.
Mọi người sợ chết vì người ta không biết cái chết là gì. Bậc giác ngộ chết trước khi cái chết đến với vị ấy, nên thấy chẳng có gì để sợ. Ngay khi biết được sự hiện hữu chơn thật của ông thì ông chẳng sợ gì nữa. Cái chết đem lại tự do và sức mạnh. Muốn tự do trong thế giới, ông phải chết đi đối với thế giới. Lúc đó cả vũ trụ thuộc về ông, nó trở nên thân xác ông, sự thể hiện và cũng là công cụ thể hiện. Hạnh phúc được tự do tuyệt đối thì ở ngoài mọi mô tả. Trái lại, kẻ nào sợ tự do thì không thể chết.
H: Ông muốn nói rằng người nào không thể chết đi, thì không thể sống?
M: Ông muốn nói sao cũng được. Ràng buộc là câu thúc, buông bỏ là tự do, tham ái là nô lệ.
H: Có phải nếu ông được cứu vớt, thì thế giới được cứu vớt?
M: Là cái toàn thể, nên thế giới chẳng cần được cứu vớt. Con người lầm lẫn và gây nên đau khổ; khi sự đau khổ đi vào phạm trù tánh biết, tức là ý thức của người giác ngộ nó liền được chỉnh lại cho đúng. Bản tánh của người giác ngộ là như thế.
H: Hãy quan sát một diễn tiến có thể được gọi là tiến bộ tâm linh. Một người vị kỷ trở nên mộ đạo, điều ngự bản thân, thanh lọc ý nghĩ và cảm thọ, tu tập tâm linh, nhận ra sự hiện hữu chơn thật của chính mình. Một sự tiến bộ như thế được điều hành bởi luật tương quan nhân quả, hay chỉ là một sự ngẫu nhiên.
M: Theo cái nhìn của Ta mọi thứ đều tự xảy ra, một cách tự phát. Nhưng con người tưởng tượng rằng mình phấn đấu cho một mục đích để được thưởng công. Người ta lúc nào cũng nghĩ đến phần thưởng và tìm cách để đạt nó.
H: Một kẻ phàm phu, thô thiển sẽ chẳng làm gì nếu không có phần thưởng. Có gì là không đúng nếu hứa hẹn với người đó một sự thưởng công nào đó?
M: Dù sao thì người đó cũng tạo cho mình sự tưởng thưởng nào đó. Người đó không ý thức rằng sự trưởng thành là ở trong bản chất của ý thức. Người đó sẽ tiến bộ nhờ sự khuyến khích này đến sự khích lệ khác, và sẽ theo đuổi các Đạo sư để mong được thỏa mãn những ham muốn của mình. Một khi, theo những quy luật của hiện hữu, người đó tìm ra được con đường quay về và lúc đó sẽ từ bỏ tất cả mọi khích lệ, vì sự bận tâm đến thế gian không còn nữa. Người đó không còn ham muốn - nơi tha nhân hay từ chính mình. Người đó chết đi đối với tất cả và trở thành cái Tất Cả. Vô cầu và vô vi - đó chính là sáng tạo thật sự! Nhìn vũ trụ xuất hiện và biến mất trong tim mình là một cảnh quan kỳ vĩ.
H: Chướng ngại lớn nhất cho sự nội tinh tấn là nỗi nhàm chán. Người môn đồ cảm thấy nhàm chán.
M: Tính trì trệ và sự bất an - Tamas và Rajas - đi cùng với nhau, chúng làm giảm bớt sự trong sáng và tính hòa hợp - Sattva. Tamas và Rajas phải được điều ngự trước khi Sattva xuất hiện. Nó sẽ xuất hiện vào đúng thời cơ, và tự nhiên.
H: Nếu thế thì chẳng cần đến tinh tấn?
M: Khi cần thì tinh tấn xuất hiện. Khi vô dụng công là cần thiết thì tự nó sẽ khẳng định. Ông chẳng cần phải xô đẩy cuộc sống. Cứ việc trôi theo với cuộc sống và cống hiến chính ông hoàn toàn cho công việc của khoảnh khắc hiện tại, có nghĩa là chết ngay bây giờ đối với hiện tại. Vì sống tức là chết. Nếu không có cái chết thì không thể nào có sự sống.
Hãy nắm bắt được yếu chỉ: Thế giới và cái Ta là một và toàn hảo. Chỉ có thái độ của ông là sai lầm và cần được điều chỉnh.
Tiến trình này hay sự tái điều chỉnh là cái mà ông gọi là Sadhana. Ông đạt đến nó bằng cách chấm dứt sự lười biếng và vận dụng tất cả công sức để dọn đường cho tính trong sáng và lòng từ tâm. Trong thực tế, đó là những dấu hiệu của một sự trưởng thành tất yếu. Đừng lo sợ, đừng đề kháng, đừng trì hoãn. Hãy là cái ông là. Chẳng có gì để sợ. Hãy tin tưởng và thử xem. Hãy thử nghiệm một cách thành thật. Hãy cho sự hiện hữu chơn thật của ông một cơ hội để định hình cuộc đời ông. Ông sẽ không ân hận đâu.
CHƯƠNG 33. TÂM CHÍNH LÀ SỰ BẤT AN
Hỏi: Tôi là người Thụy Điển. Tôi hiện đang dạy Hatha Yoga ở Mễ và Mỹ.
Maharaj: Ông học Hatha Yoga ở đâu?
H: Tôi học một vị thầy Ấn Độ, ở Mỹ.
M: Hatha Yoga đã đem lại cho ông những gì?
H: Yoga đã đem lại cho tôi sức khỏe tốt và một phương tiện sinh sống.
M: Tốt lắm. Đó là tất cả những gì mà ông mong muốn?
H: Tôi tìm sự an lạc cho tâm. Tôi ghê tởm những sự tàn ác do những kẻ gọi là Thiên Chúa giáo, nhân danh Đấng Christ, gây ra. Có một dạo tôi chẳng theo tôn giáo nào cả. Thế rồi tôi bị Yoga lôi cuốn.
M: Ông đã được những gì?
H: Tôi nghiên cứu triết lý Yoga, và triết lý Yoga đã giúp tôi.
M: Triết lý Yoga đã giúp ông bằng cách nào? Căn cứ vào chỉ dấu nào mà ông kết luận rằng triết lý Yoga đã giúp ông?
H: Sức khỏe tốt là một cái gì khá rõ rệt.
M: Cảm thấy khỏe mạnh rõ ràng là điều vui thích. Sự vui thích là tất cả những gì ông kỳ vọng ở Yoga?
H: Niềm vui sướng của sự an mạnh là một phần thưởng của Yoga. Nhưng một cách tổng quát Yoga đem lại nhiều hơn thế nữa.
Yoga giải đáp rất nhiều vấn đề.
M: Khi nói đến Yoga ông muốn nói gì?
H: Toàn thể nền đạo giáo của Ấn Độ - sự tiến hóa, luân hồi, nghiệp, và nhiều điều khác.
M: Được, ông có đủ tất cả kiến thức ông mong muốn. Nhưng ông hưởng được lợi lạc từ kiến thức đó như thế nào?
H: Nó cho tôi một cái tâm an lạc.
M: Có thật không? Tâm ông an lạc? Sự tìm kiếm của ông đã kết thúc?
H: Ồ, chưa.
M: Tất nhiên. Sẽ không có kết thúc nào cho sự tìm kiếm đó, vì không hề có cái như là tâm an lạc. Tâm có nghĩa là nhiễu loạn. Bất an chính là tâm. Yoga không phải là một thuộc tính của tâm, và cũng chẳng phải là một trạng thái của tâm.
H: Có một mức độ an định nào đó mà tôi hưởng được từ Yoga.
M: Hãy quan sát kỹ và ông sẽ nhận thấy rằng tâm luôn luôn lăng xăng với ý nghĩ. Thỉnh thoảng nó ở trong trạng thái vô ký, nhưng chỉ một lúc rồi trở lại trạng thái bất an cố hữu. Một cái tâm được trấn an thì không phải một cái tâm an.
Ông nói rằng ông muốn làm cho tâm ông an. Liệu chính người muốn làm cho tâm an, có an không?
H: Không. Tôi không an, tôi cần sự trợ lực của Yoga.
M: Ông không thấy sự mâu thuẫn sao? Suốt nhiều năm ông tìm kiếm sự an tâm. Ông không thể tìm ra nó, vì một cái mà bản chất vốn dĩ bất an thì không thể nào an.
H: Có một sự cải thiện nào đó.
M: Sự an định mà ông tự cho là đã tìm được thì rất mong manh, bất cứ chuyện nhỏ nhặt nào cũng có thể làm nó tan vỡ. Cái mà ông gọi là an chẳng qua chỉ là sự nhiễu loạn đi vắng. Nó không đáng được gọi là an. Thật sự an thì không thể bị quấy nhiễu. Liệu ông có thể tự nhận là đã tìm được sự an tâm, bất khả xâm phạm?
H: Tôi đang phấn đấu.
M: Cả phấn đấu cũng là một hình thức bất an.
H: Vậy thì cái gì an?
M: Cái Ta không cần phải làm cho an. Nó chính là an, mà không phải cảm thấy an. Chỉ cái tâm là bất an. Tất cả những gì tâm biết là sự bất an, dưới vô số dạng thức và mức độ khác nhau. Những gì thích thú thì được cho là ưu việt và những gì gây đau khổ thì không được kể đến. Điều mà chúng ta gọi là tiến bộ chỉ là sự thay đổi từ trạng thái không vừa ý sang trạng thái vừa ý. Tự thân những cái thay đổi không thể đem chúng ta vào cái không thay đổi, vì bất cứ gì có sự khởi đầu đều có sự kết thúc. Cái thật thì không bắt đầu; nó chỉ tự hiển lộ là cái vô thủy vô chung, nó bao trùm lên tất cả, nó đầy quyền năng, là động lực đầu tiên nhưng bất động, và bất biến với thời gian.
H: Vậy một người phải làm gì?
M: Nhờ Yoga ông đã thu thập được kiến thức và kinh nghiệm. Đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng nó có lợi ích gì cho ông? Yoga có nghĩ là sự hợp nhất, là kết hợp. Ông đã tái hợp nhất với cái gì, và đã tái kết hợp với cái gì?
H: Tôi đang tìm cách tái kết hợp tính cách con người trở lại với cái Ta chơn thật.
M: Tính cách con người - Vyakti - chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Còn cái Ta - VyakTa - là nạn nhân của sự tưởng tượng này. Chính sự nhận lầm cái không phải ông là ông đã trói buộc ông. Không thể nói rằng con người tồn tại nhờ những thực trạng của chính nó; chính cái Ta tin rằng có một con người, và [cái ta] ý thức nó là con người đó. Bên ngoài cái Ta - VyakTa - là cái bất thị hiện - AvyakTa - tức là nguồn gốc phi nhân duyên của tất cả mọi sự vật. Thậm chí khi nói về sự tái hợp nhất của con người với cái Ta cũng không đúng bởi vì không hề có con người, mà chỉ có một hình ảnh của tâm được tạo ra bởi sự tin tưởng vào một thực tế sai lầm.
Không có gì bị phân chia và do đó chẳng có gì để hợp nhất.
H: Yoga trợ giúp sự tìm kiếm và tìm ra cái Ta.
M: Ông có thể tìm ra cái ông đã mất. Nhưng ông không thể tìm ra cái ông chưa mất bao giờ.
H: Nếu chưa bao giờ làm mất thì lẽ ra tôi đã giác ngộ. Nhưng tôi có giác ngộ đâu. Tôi đang tìm kiếm. Thế không phải chính sự tìm kiếm của tôi là bằng chứng tôi đã làm mất một cái gì đó hay sao?
M: Nó chỉ cho thấy một điều là ông tin tưởng rằng ông đã làm mất. Nhưng ai là người tin? Và cái gì được tin là đã bị mất? Ông đã làm mất một người nào đó giống như chính ông? Thế ông đang tìm kiếm cái Ta nào? Hay, một cách chính xác là ông mong tìm được cái gì?
H: Sự hiểu biết chơn thật về cái Ta.
M: Sự hiểu biết chơn thật về cái Ta không phải là một kiến thức. Nó không phải là một cái gì đó ông có thể phát hiện bằng cách đi tìm, giáo giác khắp nơi. Không thể nào tìm ra nó trong không gian và thời gian. Kiến thức chỉ là một ký ức, một mô thức của ý nghĩ, một thói quen của tâm. Tất cả những cái đó được thúc giục bởi lạc thú và đau khổ. Chính vì bị dằn vặt bởi lạc thú và đau khổ mà ông đi tìm sự hiểu biết. Là chính mình thì hoàn toàn ở bên ngoài mọi sự thúc giục. Ông không thể là chính ông vì một lý do nào đó. Ông là chính ông, và không lý do nào là cần thiết.
H: Bằng cách tu tập Yoga tôi sẽ tìm ra sự an lạc.
M: Liệu có thể nào sự an lạc tách rời khỏi chính ông? Ông nói từ kinh nghiệm của chính ông hay chỉ từ sách vở? Kiến thức sách vở của ông rất hữu ích để bắt đầu, nhưng cần phải mau chóng từ bỏ nó để trực tiếp chứng nghiệm, mà thực chất của sự chứng nghiệm đó thì bất khả diễn tả. Ngôn từ còn có thể được sử dụng để hủy diệt, ngôn từ tạo ra hình ảnh và cũng chính ngôn từ hủy diệt hình ảnh. Ông đưa đẩy ông đến trạng thái hiện nay qua lối tư duy bằng ngôn từ, ông phải thoát ra khỏi nó cũng bằng con đường mà ông đã đi vào.
H: Tôi đã đạt được một mức độ an lạc nội tâm. Tôi cũng phải hủy nó hay sao?
M: Cái gì đạt được thì có thể lại bị mất. Chỉ khi nào ông nhận ra sự an lạc chơn thật, sự an lạc mà ông chưa bao giờ mất thì sự an lạc đó sẽ ở với ông, vì nó đã chưa bao giờ lìa xa ông. Thay vì bỏ công tìm kiếm cái mà ông không có, hãy nhận ra cái mà ông chưa bao giờ mất. Cái luôn luôn có đó, trước sự khởi đầu và sau sự chấm dứt của tất cả mọi cái - cái bất sinh và bất tử. Trạng thái bất di bất dịch đó, không hề bị ảnh hưởng bởi sinh và tử của một cái thân, hay của một cái tâm. Ông phải nhận ra trạng thái đó.
H: Những phương tiện để đạt được nhận thức như thế là gì?
M: Trong cuộc sống, chẳng có gì có được mà không phải vượt qua chướng ngại. Những chướng ngại đối với sự nhận thức rõ ràng về sự hiện hữu chơn thật của chính mình là lòng ham muốn lạc thú và nỗi lo sợ đau khổ. Chính cái động cơ lạc thú và đau khổ là chướng ngại. Chính sự tự do không còn mọi thôi thúc - trạng thái trong đó không còn tham ái sinh khởi - là trạng thái tự nhiên.
H: Liệu từ bỏ tham ái có cần đến thời gian?
M: Nếu ông giao phó nó cho thời gian thì phải cần đến hàng triệu năm. Từ bỏ hết tham ái này đến tham ái khác là một tiến trình dài lê thê mà chẳng bao giờ thấy được sự kết thúc. Cứ mặc kệ các tham ái và lo sợ của chính ông, dành tất cả sự chú ý cho chủ thể, tức kẻ ở đằng sau từng kinh nghiệm tham ái và lo sợ. Hãy hỏi: Ai tham ái? Hãy để từng tham ái đem ông trở lại với chính ông.
H: Nguồn gốc của tất cả tham ái và lo sợ là một: lòng mong cầu hạnh phúc.
M: Cái hạnh phúc mà ông có thể nghĩ tưởng đến và mong cầu đơn thuần chỉ là những thỏa mãn vật lý và tâm lý. Những lạc thú có tính cách cảm quan và tâm lý như thế không phải là hạnh phúc chơn thật và tuyệt đối.
H: Những lạc thú có tính cách cảm quan và tâm lý, cũng như cái cảm giác chung về sự bình an phát sinh từ sự khỏe mạnh của thân xác và tinh thần, chắc chắn là phải có nguồn gốc trong thực tại.
M: Nguồn gốc của chúng ở trong sự tưởng tượng. Một người được ai đó cho một hòn đá và bảo rằng đó là viên kim cương vô giá thì sẽ vô cùng sung sướng cho đến khi nhận ra sự lầm lẫn của chính mình; cũng như thế mọi lạc thú sẽ mất đi vị ngọt và đau khổ sẽ không còn cay đắng khi cái Ta được nhận ra. Cả lạc thú lẫn đau khổ đều được thấy như chính chúng là - những phản ứng có tính cách điều kiện, thuần phản ứng, chỉ là những lôi kéo và xô đẩy dựa trên ký ức, hay những nhận thức đã có từ trước. Thường thì lạc thú và đau khổ chỉ được kinh nghiệm khi nào chúng được mong đợi.
Tất cả chỉ là sự tin tưởng và thói quen được huân tập.
H: Lạc thú có thể là tưởng tượng, nhưng đau khổ thì thực có.
M: Đau khổ và lạc thú luôn luôn đi cùng với nhau. Thoát ra khỏi một cái thì cũng có nghĩa là thoát ra khỏi cả hai. Nếu ông không màng đến lạc thú, thì ông chả sợ gì đau khổ. Nhưng có một thứ hạnh phúc không phải cả hai, mà hoàn toàn siêu vượt ra ngoài. Thứ hạnh phúc mà ông biết thì có thể diễn tả và đo lường được. Nó thuộc về khách quan giới, có thể nói như thế. Mà cái thuộc về khách quan giới thì không thể là của riêng ông. Đồng hóa chính mình với một cái gì đó ở bên ngoài là một sai lầm nghiêm trọng. Đào xới các tầng lớp của tâm chẳng đi đến đâu. Thực tại ở ngoài chủ quan giới lẫn khách quan giới, siêu vượt mọi tầng lớp của tâm, và mọi khác biệt. Một cách chắc chắn, thực tại không phải là nguyên thủy, cội nguồn hay gốc rễ của chúng. Chúng sinh khởi từ sự mê mờ thực tại, mà không phải từ chính thực tại, tức là cái không thể diễn tả, ở ngoài hiện hữu và phi hiện hữu.
H: Rất nhiều vị thầy bảo tôi theo đuổi và nghiên cứu các triết thuyết khác nhau, nhưng không ai đã cho tôi đúng cái tôi muốn.
M: Ham muốn tìm kiếm cái Ta sẽ được thực hiện, miễn là ông đừng vọng cầu bất cứ gì khác. Ông phải thành thật với chính ông và thực sự không mong cầu gì khác. Nếu hiện nay ông ham muốn nhiều thứ khác và mải mê theo đuổi chúng thì mục đích chính của ông sẽ bị trì hoãn cho đến khi ông trở nên khôn ngoan hơn và không còn bị giằng co giữa những thôi thúc đầy mâu thuẫn. Hãy đi vào, đừng để mất định hướng, đừng bao giờ nhìn ra.
H: Nhưng tham ái và lo sợ của tôi vẫn còn đó.
M: Chúng ở đâu nếu không phải trong ký ức của ông? Một khi nhận ra gốc rễ của chúng là ở trong sự mong cầu, do ký ức đẻ ra thì chúng sẽ thôi ám ảnh ông.
H: Tôi hiểu rất rõ rằng công tác xã hội là một việc làm không
bao giờ kết thúc, vì tiến hóa và thoái hóa, tiến bộ và thoái bộ đi cùng với nhau. Chúng ta có thể thấy điều đó từ mọi góc cạnh, và trên mọi bình diện. Cái gì còn lại?
M: Bất cứ công việc nào ông đảm nhiệm - hãy làm xong. Đừng nhận thêm công việc nào mới, trừ khi được yêu cầu bởi một tình huống liên quan cụ thể đến đau khổ và làm dịu bớt đau khổ. Hãy tìm ra chính ông trước, vô số phước báu sẽ theo sau. Không có gì đem lại lợi lạc cho thế gian nhiều cho bằng sự từ bỏ mọi lợi lạc. Người nào không còn tư duy theo thói quen được và mất mới thật là người bất bạo động, vì đã ở ngoài mọi xung đột.
H: Đúng, tôi luôn luôn bị thu hút bởi ý tưởng Ahimsa - bất bạo động.
M: Trước tiên, Ahimsa có nghĩa: “đừng gây đau khổ.” Không phải làm điều thiện trước, mà trước tiên hãy ngừng gây đau khổ, đừng tạo thêm đau khổ. Ahimsa không phải là làm cho người khác hoan hỉ.
H: Tôi không nói đến chuyện làm cho người khác hoan hỉ, mà tôi hết lòng muốn giúp người khác.
M: Sự giúp duy nhất xứng đáng để đem cho là sự không cần phải giúp thêm. Sự giúp được lập lại thì không phải là giúp. Đừng nói đến chuyện cứu giúp một ai đó, nếu ông không đưa được người đó ra khỏi mọi sự cần cầu cứu giúp.
H: Làm sao có thể thoát ra khỏi mọi sự cần cầu? Một người có thể giúp được người khác như vậy sao?
M: Khi ông hiểu ra rằng tất cả mọi tồn tại - trong phân chia và hữu hạn - thì đầy đau khổ, và khi ông sẵn sàng và có thể sống một cách hợp nhất, trong tính một duy nhất với tất cả cuộc sống, như sự hiện hữu thuần túy, thì lúc đó ông vượt ra khỏi mọi sự cần giúp. Ông có thể giúp người khác bằng những lời chỉ giáo, những ví dụ, nhưng trên tất cả, bằng chính sự hiện hữu của ông. Ông không thể cho cái mà ông không có, và ông không có cái không phải là ông. Ông chỉ có thể cho cái ông là - và cái đó thì ông cho vô tận.
H: Nhưng liệu có thật là tất cả mọi tồn tại đều đau khổ?
M: Thế cái gì khác có thể là nguyên nhân của sự tìm cầu hạnh phúc có tính chung nhất cho mọi loài chúng sinh? Liệu một người hạnh phúc có còn đi tìm hạnh phúc? Con người chẳng bao giờ yên nghỉ, mà luôn luôn di chuyển. Đó là vì người ta đau khổ và tìm thuốc giảm đau trong lạc thú. Tất cả hạnh phúc mà con người có thể tưởng tượng được là ở trong sự bảo đảm cho lạc thú được tái diễn.
H: Nếu cái tôi là - con người mà tôi cho là tôi như hiện nay - không thể hạnh phúc, thì tôi phải làm gì?
M: Ông chỉ có thể chấm dứt hiện hữu - như ông có vẻ hiện hữu vào bây giờ. Chẳng có gì độc ác trong điều Ta nói. Đánh thức một người ra khỏi cơn ác mộng là từ bi. Ông tìm đến đây vì ông đau khổ, và tất cả những gì Ta có thể bảo ông là: thức tỉnh, biết chính ông, là chính ông. Sự chấm dứt của đau khổ không ở trong lạc thú. Khi nhận ra rằng ông ở ngoài đau khổ và lạc thú, xa lìa và bất khả xâm phạm thì lúc đó sự theo đuổi hạnh phúc mới ngừng, và kết quả là đau khổ cũng vậy. Vì đau khổ nhắm vào hạnh phúc và hạnh phúc chấm dứt trong đau khổ, luôn luôn là như thế.
H: Trong trạng thái tối thượng có thể nào không có hạnh phúc?
M: Cũng chẳng có đau khổ, mà chỉ có tự do. Hạnh phúc tùy thuộc vào một ai đó hay một cái gì đó thì có thể mất đi; tự do khỏi tất cả mọi thứ, không tùy thuộc vào bất cứ cái gì thì không thể mất đi. Tự do khỏi đau khổ thì không có nguyên nhân, và, do đó, không thể bị hủy diệt. Hãy nhận ra sự tự do đó.
H: Thế không phải tôi được sinh ra để chịu đau khổ do một kết quả từ quá khứ? Liệu có thể có tự do? Có thể nào tôi đã được sinh ra bởi ý muốn của chính tôi? Thế không phải tôi là một sinh vật được tạo ra?
M: Những gì được sinh ra và chết đi chỉ là sự bắt đầu và chấm
dứt của một giòng diễn tiến các sự kiện trong ý thức. Chính vì cái ý tưởng phân chia và hữu hạn nên chúng mới đầy đau khổ. Một sự giảm đau nhất thời chúng ta gọi là lạc thú, chúng ta xây dựng lâu đài trong hư không với hy vọng an hưởng lạc thú bất tận mà chúng ta gọi là hạnh phúc. Tất cả hoàn toàn là do hiểu lầm và lạm dụng. Hãy thức tỉnh, vượt ra ngoài, và sống thật.
H: Kiến thức của tôi thì hạn hẹp, còn sức lực thì chẳng có bao nhiêu.
M: Là nguồn gốc của cả hai, cái Ta ở ngoài cả tri kiến lẫn sức lực. Cái có thể quan sát được thì ở trong tâm. Bản chất của cái Ta là tánh biết thuần túy, nhân chứng thuần túy, không hề bị tác động bởi sự có mặt hay vắng mặt của tri kiến, hay sự hài lòng.
Hãy đặt sự hiện hữu của chính ông ở ngoài xác thân sinh tử này thì tất cả mọi vấn nạn của ông sẽ được giải quyết. Chúng tồn tại vì ông tin rằng ông được sinh ra để chết đi. Đừng tự lừa dối mình và hãy tự do. Ông không phải là một con người.
CHƯƠNG 34. ĐẠO SƯ VĨ ĐẠI NHẤT LÀ CÁI TA TRONG CHÍNH ÔNG
Hỏi: Đi đến đâu tôi cũng nghe rằng điều kiện đầu tiên của sự giác ngộ chính mình là thoát ra khỏi mọi tham ái và ưa thích. Theo tôi điều kiện đó không thể thực hiện được. Vô minh về chính mình nên khởi sinh tham ái, và tham ái làm cho vô minh tồn tại. Quả thật là một cái vòng lẩn quẩn!
M: Chẳng có điều kiện nào để thỏa mãn. Chẳng có gì để làm, chẳng có gì để buông bỏ. Chỉ quan sát và ghi nhớ. Bất cứ gì ông nhận thức đều không phải là ông, mà cũng chẳng phải của ông. Nó ở đó trong phạm trù ý thức, nhưng ông không phải là phạm trù và nội dung của nó, mà thậm chí cũng chẳng phải là người biết phạm trù. Chính ý nghĩ cho rằng ông phải làm đủ mọi chuyện đã ràng buộc ông với hậu quả những cố gắng của ông - sự thôi thúc, ước muốn, sự bất thành, cảm giác thất vọng - tất cả những thứ đó níu kéo ông. Chỉ quan sát bất cứ gì xảy ra, và biết rõ rằng ông ở ngoài nó.
H: Điều này có nghĩa là tôi không được làm gì cả?
M: Làm sao được! Cái gì tiếp tục thì cứ tiếp tục. Nếu dừng lại đột ngột ông sẽ gây đổ vỡ.
H: Vậy vấn đề có phải là cái bị biết và người biết trở nên một?
M: Cả hai đều là những ý tưởng trong tâm, và ngôn từ diễn tả chúng. Không hề có cái Ta trong chúng. Cái Ta không phải cả hai, không ở giữa mà cũng không ở bên ngoài. Tìm cái Ta trên bình diện của tâm là điều vô ích. Ngưng tìm kiếm, và nhìn - nó ở ngay đây và bây giờ - nó chính là cái “Ta hiện hữu” mà ông biết rất rõ. Tất cả những gì ông cần làm là chấm dứt cho rằng ông ở trong phạm trù của ý thức. Nếu ông chưa bao giờ suy gẫm sâu xa những điều đó, mà chỉ nghe Ta nói có một lần thôi thì chưa đủ. Hãy quên đi những kinh nghiệm và chứng đắc của ông trước kia, hãy đứng trần truồng, phơi mình giữa mưa gió của cuộc đời, thế nào ông cũng có một cơ hội.
H: Tín tâm - Bhakti - có một vị trí nào trong sự chỉ giáo của ông?
M: Khi ông không khỏe, ông đi gặp một thầy thuốc. Người đó sẽ cho ông biết vì sao ông không khỏe và ông cần uống thuốc gì. Nếu ông tin người thầy thuốc thì mọi chuyện rất đơn giản: ông uống thuốc, tuân theo những kiêng khem về ăn uống, và ông bình phục. Nhưng nếu không tin người đó, thì hoặc là ông phó mặc cho số phận, hoặc chính ông học nghề thuốc để tự chữa lấy! Trong tất cả các trường hợp, chính ước muốn bình phục thúc giục ông, chứ không phải người thầy thuốc.
Nếu không có lòng tin thì không an tâm. Ông luôn luôn tin tưởng một người nào đó - có thể là mẹ ông, hay vợ ông. Trong tất cả mọi người, chỉ có người biết cái Ta, người đã giải thoát, là người đáng tin cậy nhất. Nhưng chỉ có tín tâm thôi thì vẫn chưa đủ, ông còn phải ước muốn. Nếu không có ước muốn tự do, thì tín tâm có ích lợi gì để ông có thể đạt được tự do? Ước muốn và tín tâm phải đi cùng với nhau. Ước muốn càng mãnh liệt thì sự trợ giúp càng đến dễ dàng. Đạo sư vĩ đại nhất cũng phải bó tay nếu người môn đồ không thành tâm muốn học. Nhiệt tình và lòng thành thật là tất cả những gì quan trọng. Sự tin tưởng sẽ đến cùng với kinh nghiệm về những gì trải qua. Hãy hiến thân cho mục đích của ông - rồi sự thành tâm với người chỉ giáo ông sẽ đến sau. Nếu ước muốn và tín tâm của ông mãnh liệt, chúng sẽ vận hành và mau chóng đưa ông đến đích, vì không bị trì hoãn bởi thái độ chần chờ, do dự của ông.
Vị đạo sư vĩ đại nhất là cái Ta bên trong chính ông. Thật thế, cái Ta bên trong ông là Đạo sư vô thượng. Chỉ vị Đạo sư đó mới có thể đưa ông đến đích, và sẽ gặp ông ở cuối đường. Hãy đặt tín tâm vào Đạo sư bên trong ông, và chẳng cần đến bất cứ Đạo sư bên ngoài nào. Nhưng một lần nữa, ông phải ước muốn mãnh liệt để tìm vị Đạo sư đó, đừng tạo bất cứ chướng ngại và chậm trễ nào. Đừng phí sức lực và thời gian cho sự nuối tiếc. Học từ những sai lầm của chính ông và đừng bao giờ tái phạm.
H: Ông cho phép tôi hỏi một câu có tính cách riêng tư được không?
M: Được, ông cứ hỏi.
H: Tôi thấy ông ngồi trên một miếng da linh dương. Làm sao điều này có thể phủ hợp với ý tưởng bất bạo lực?
M: Suốt cuộc đời lao động của Ta, Ta quấn thuốc lá để bán, giúp tay cho người khác làm hại sức khỏe của họ. Trước cửa nhà Ta chính quyền địa phương đặt một nhà vệ sinh công cộng, làm hại sức khỏe của Ta. Trong thế giới đầy bạo lực này làm sao một người có thể tránh khỏi một hình thức bạo lực này hay hình thức bạo lực khác?
H: Chắc chắn là những bạo lực có thể tránh được thì cần phải tránh. Ở Ấn Độ, bậc thánh nhân nào cũng có một miếng da hổ, da sư tử, da beo hay da linh dương để ngồi.
M: Có thể là vào thời cổ chưa có vải nhựa, da là thứ chống ẩm tốt nhất. Chứng phong thấp thì chẳng hấp dẫn chút nào, ngay cả đổi với một thánh nhân! Vì thế theo truyền thống người ta cần có một miếng da để ngồi thiền lâu. Cũng như da trống trong đền thờ, hành giả Yogi cần có một miếng da để ngồi. Chẳng ai bận tâm đến chuyện đó.
H: Nhưng phải có sự sát hại thú vật.
M: Ta chưa hề nghe một Yogi nào giết cọp để lấy da ngồi. Người giết không phải Yogi, và Yogi không phải người giết.
H: Thế ông không bày tỏ sự phản đối bằng cách từ chối không ngồi lên một miếng da?
M: Thật là một ý tưởng lạ lùng! Toàn thể vũ trụ này Ta còn không chấp nhận, thì xá gì một miếng da?
H: Vũ trụ có gì sai trái?
M: Quên mất chính cái Ta của ông là một mất mát lớn; tất cả mọi tai họa đều từ đó mà ra. Hãy quan tâm đến cái tối quan trọng, những cái ít quan trọng hơn sẽ tự lo liệu lấy. Ông không cần phải sắp xếp một căn phòng tăm tối cho ngăn nắp. Trước tiên là mở các cửa sổ. Để ánh sáng vào thì mọi chuyện sẽ dễ dàng. Vì vậy, hãy chờ cho đến khi chúng ta thấy được mình như chính mình là, và đã thay đổi, thì lúc đó hãy nghĩ đến chuyện cải sửa người khác. Vòng vo với những câu hỏi bất tận thì không cần thiết; hãy tìm ra chính ông trước rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đó.
H: Sự thôi thúc quay về với cội nguồn thì thật hy hữu. Điều đó có tự nhiên không?
M: Theo tự nhiên thì đi ra vào lúc đầu, và quay về vào lúc cuối. Nhưng thật ra tuy hai mà một, cũng như thở ra và hít vào là một.
H: Tương tự như thế, không phải thân xác và người ở trong thân xác là một?
M: Những sự kiện xảy ra trong thời gian và không gian - sinh và tử, nhân và quả - có thể được xem là một; nhưng thân xác và cái được hiện thân thì không cùng một trình tự của thực tại. Thân xác tồn tại trong thời gian và không gian, vô thường và hữu hạn, còn cái ở trong thân xác thì phi thời và phi xứ, thường hằng và bao trùm lên tất cả. Đồng hóa hai cái là một lỗi lầm nghiêm trọng và là nguyên nhân của đau khổ triền miên. Ông có thể nói thân và tâm là một, nhưng thân-tâm thì không phải là thực tế căn bản.
H: Dù là ai đi nữa thì người ở trong thân điều khiển thân, và, do đó, có trách nhiệm với thân.
M: Có một quyền năng vũ trụ, quyền năng đó điều hành và chịu trách nhiệm.
H: Nếu vậy thì tôi làm bất cứ gì tôi thích và đổ lỗi cho một quyền năng vũ trụ nào đó. Thật dễ dàng!
M: Đúng, thật dễ dàng. Chỉ cần nhận ra Người Tác Động Duy Nhất (the One Mover) ở đằng sau tất cả mọi chuyển động và phó mặc cho Người đó. Nếu ông không do dự, hay gian dối, thì đó là con đường ngắn nhất đưa đến thực tại. Hãy đứng thẳng, không tham ái hay sợ hãi, từ bỏ mọi uy quyền và trách nhiệm.
H: Thật là một sự điên rồ!
M: Phải, một sự điên rồ thần thánh. Có gì là không đúng khi buông bỏ cái ảo tưởng về uy quyền cá nhân và trách nhiệm cá nhân? Cả hai chỉ ở trong tâm. Dĩ nhiên, chừng nào còn tưởng tượng rằng mình là người có uy quyền thì ông còn nghĩ rằng mình có trách nhiệm. Cái này hàm chứa cái kia.
H: Làm sao vũ trụ có thể chịu trách nhiệm cho cái cá biệt?
M: Tất cả sự sống trên trái đất này đều tùy thuộc vào mặt trời. Nhưng ông không thể quy trách cho mặt trời về tất cả những gì xảy ra, dù cho đó là nguyên nhân tối hậu. Ánh sáng tạo nên màu sắc của hoa, nhưng nó không điều khiển mà cũng chẳng có trách nhiệm trực tiếp về màu sắc của hoa. Nó làm cho màu sắc thể hiện, chỉ thế thôi.
H: Điều tôi không thích trong những gì ông nói là sự núp bóng một quyền năng vũ trụ nào đó.
M: Ông không thể tranh biện với những sự kiện thực tế.
H: Những sự kiện thực tế nào? Của ông hay của tôi?
M: Của ông. Ông không thể bác bỏ những thực tế của Ta, vì ông không biết chúng. Nếu biết được chúng thì ông đã không bác bỏ. Điều rắc rối ở chỗ ông cho sự tưởng tượng của ông là thực tế, và thực tế của Ta là tưởng tượng. Ta biết chắc chắn rằng tất cả là một. Sự khác biệt không có nghĩa là tách biệt. Hoặc là ông vô trách nhiệm với tất cả, hoặc là ông có trách nhiệm với tất cả. Tưởng tượng rằng ông làm chủ một thân xác, và chỉ có trách nhiệm với nó là sự sai lầm của quan niệm thân-tâm.
H: Nhưng, ông vẫn bị giới hạn bởi thân xác ông.
M: Chỉ trong những gì liên quan đến thân xác. Điều đó chẳng làm Ta bận tâm. Nó cũng giống như trải qua các mùa trong năm. Chúng đến, chúng đi nhưng chẳng tác động gì đến Ta. Cũng như thế các thân-tâm đến rồi đi - cuộc sống luôn luôn tìm kiếm những sự thể hiện mới.
H: Nếu ông không trút hết gánh nặng của sự xấu xa lên Thượng đế thì tôi thỏa mãn với lập luận của ông. Có thể có một Thượng đế cho tất cả, nhưng đối với tôi Thượng đế chỉ là một ý niệm được tâm con người phóng chiếu ra. Thượng đế có thể là một thực tế đối với ông, còn với tôi thì xã hội còn thật hơn cả Thượng đế, vì tôi vừa là sản phẩm vừa là tù nhân của nó. Những giá trị của ông là trí và bi, còn giá trị của xã hội là sự ích kỷ ranh mãnh. Tôi sống trong một thế giới rất khác biệt với thế giới của ông.
M: Chẳng có gì có thể bắt buộc được.
H: Chẳng có gì bắt buộc được ông, nhưng tôi thì bị bắt buộc. Thế giới của tôi là một thế giới xấu xa, đầy nước mắt, trần lao và đau khổ. Lý giải nó bằng những lập luận trí thức, bằng cách đưa ra những triết thuyết như tiến hóa, và nghiệp quả thì chỉ làm cho vết thương thêm đau đớn. Thượng đế của một thế giới xấu xa là Thượng đế độc ác.
M: Ông là Thượng đế của thế giới của ông, và ông vừa ngu vừa độc ác. Cứ cho Thượng đế là một ý niệm - do chính ông tạo ra. Hãy tìm biết ông là ai, ông đã vào đời, tìm kiếm chân lý, cái thiện mỹ trong một thế giới xấu xa như thế nào. Biện hộ hay công kích Thượng đế thì có ích gì khi ông chẳng biết Thượng đế là ai, và ông đang nói về cái gì. Thượng đế được khai sinh từ đau khổ và hy vọng, được tạo ra bởi tham ái và tưởng tượng thì không thể là cái Quyền Năng Đó Là (the Power That Is), tức là Tâm thức và Trái tim của vũ trụ.
H: Đồng ý rằng thế giới mà trong đó tôi sống, và Thượng đế mà tôi tin đều là sản phẩm của tưởng tượng. Nhưng cả hai đã được tạo ra từ tham ái bằng cách nào? Việc gì tôi lại tưởng tượng ra một thế giới đau khổ, và một vị Thượng đế nhẫn tâm đến như thế? Việc gì tôi lại tự hành hạ mình một cách tàn tệ như vậy? Một bậc giác ngộ đến bảo tôi rằng: “Đó chỉ là một giấc chiêm bao, cần phải chấm dứt”, thế không phải chính vị ấy cũng là một phần của giấc chiêm bao? Tôi cảm thấy mình bị cùng đường và không thấy lối ra. Ông nói là ông tự do. Ông tự do đối với cái gì? Hãy vì sự thánh thiện, đừng cho tôi ăn lời lẽ suông, mà hãy giác ngộ tôi, giúp tôi tỉnh thức, vì chính ông là người thấy tôi đang trăn trở trong giấc ngủ của tôi.
M: Khi Ta nói Ta tự do, Ta chỉ nói lên một thực tế. Khi là người lớn thì ông đã thoát ra khỏi thời niên thiếu. Ta thoát ra khỏi mọi mô tả và nhận dạng. Bất cứ gì ông có thể nghe, thấy, hay nghĩ tưởng ra được, đều không phải là Ta. Ta hoàn toàn không phải là một đối tượng của tri thức, hay là một khái niệm.
H: Nhưng ông vẫn còn một thân xác, và ông tùy thuộc vào nó.
M: Ông vẫn cho quan điểm của ông là duy nhất đúng. Ta lập lại: Ta đã không phải, hiện không phải, và sẽ không phải là một thân xác. Đối với Ta đó là một thực tế. Trước kia Ta cũng có ảo tưởng đã được sinh ra, nhưng Tôn sư đã cho Ta thấy sinh và tử chỉ là những ý tưởng - sinh chỉ là ý tưởng: “Ta có một thân xác.” Và tử: “Ta đã mất đi thân xác.” Giờ đây, khi biết Ta không phải là một thân xác, nên thân xác có đó hay không thì có gì khác biệt? Thântâm cũng như một căn phòng. Nó có đó, nhưng không nhất thiết lúc nào Ta cũng phải sống trong đó.
H: Nhưng có một thân xác và ông phải lo cho nó.
M: Cái quyền năng tạo ra nó, lo cho nó.
H: Chúng ta luôn luôn nhảy từ bình diện này sang bình diện khác.
M: Chỉ có hai bình diện để lưu ý đến: Vật lý - của các sự kiện, và tâm - của ý nghĩ. Ta siêu vượt cả hai. Sự kiện và ý nghĩ của ông đều không phải là của Ta. Cái Ta thấy thì siêu vượt cả hai. Hãy qua bên này và cùng thấy với Ta.
H: Điều tôi muốn nói rất đơn giản. Chừng nào còn tin rằng: “Ta là thân xác” thì tôi không được nói: “Thượng đế sẽ lo cho thân ta.” Thượng đế sẽ không làm như thế. Thượng đế sẽ để kệ cho nó đói khát, đau ốm và chết đi.
M: Ông còn mong đợi gì khác ở một cái chỉ là thân xác? Tại sao ông lại bận tâm với nó đến thế?
Vì ông nghĩ rằng ông là thân xác nên ông muốn nó bất hoại. Ông có thể kéo dài sinh mạng của nó bằng những sự tu tập đúng cách, nhưng cho lợi ích tối hậu nào?
H: Sống lâu và khỏe mạnh vẫn tốt hơn chứ. Nó cho chúng ta cơ hội tránh được những sai lầm của thời niên thiếu và thanh xuân, những thất vọng của tuổi trưởng thành, những khốn khổ và lão suy của tuổi già.
M: Hãy sống trường thọ bằng mọi cách. Nhưng ông không phải là chủ nhân của thân xác. Liệu ông có thể định đoạt ngày sinh và ngày chết của ông? Chúng ta không nói cùng ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ông là của thế giới tưởng tượng, mọi thứ đều treo trên những giả thuyết và phỏng định. Ông nói một cách rất quả quyết về những gì ông không biết chắc.
H: Vì thế tôi đến đây.
M: Ông chưa đến đây. Ta mới ở đây. Mời vào! Nhưng ông không vào. Ông muốn Ta sống cuộc sống của ông, cảm nhận theo cách của ông, sử dụng ngôn ngữ của ông. Ta không thể, và điều đó cũng chẳng giúp gì ông. Ông phải đến với Ta. Ngôn từ là của tâm và tâm thì ngăn che và vo tròn bóp méo. Do đó, điều cần thiết tất yếu là phải vượt ra khỏi ngôn từ, và qua bên này với Ta.
H: Hãy đưa tôi qua.
M: Ta đang làm chuyện đó, nhưng ông cứ cưỡng lại. Ông biến thực tại thành khái niệm, trong khi khái niệm chỉ là những hình ảnh méo mó về thực tại. Hãy từ bỏ mọi cố gắng khái niệm hóa, an trú với sự im lặng và chú ý. Hãy thành khẩn với điều đó, rồi mọi chuyện sẽ tốt lành với ông.
CHƯƠNG 35. SỰ GIẾT HẠI GÂY ĐAU KHỔ CHO KẺ GIẾT, CHỨ KHÔNG PHẢI NGƯỜI BỊ GIẾT
Hỏi: Một ngàn năm về trước có một người đã sống và chết đi. Tính cách cá biệt tức thân vi tế của người đó - Antahkarana - tái xuất hiện trong một thân xác mới. Vì sao người đó không nhớ được kiếp trước của mình? Và nếu người đó nhớ được thì liệu có thể đưa ký ức về tiền kiếp đó vào ý thức?
Maharaj: Làm sao ông biết được cùng một con người tái xuất hiện vào thân xác mới? Một thân xác mới có thể là một con người hoàn toàn mới.
H: Hãy tưởng tượng một hũ ghee. Khi cái hũ bể, ghee còn lại và được chuyển sang một hũ khác. Cái hũ cũ có mùi riêng của nó, và cái hũ mới cũng vậy. Ghee sẽ mang mùi của hũ này sang hũ khác. Tương tự như thế, thân thức của một người được di chuyển từ thân này sang thân khác.
M: Tốt. Khi có thân, những đặc điểm riêng biệt của thân tạo ra những biểu hiện của một con người. Khi không có thân, thân thức thuần túy của chúng ta ở trong ý thức “Ta hiện hữu”. Khi ông tái sinh vào một thân mới, cái thế giới đã kinh nghiệm trước kia ở đâu?
H: Mỗi thân kinh nghiệm thế giới riêng của nó.
M: Trong cái thân hiện tại thì cái thân cũ chỉ là một ý tưởng,
hay là một ký ức?
H: Dĩ nhiên là một ý tưởng. Làm sao bộ óc có thể nhớ được cái mà nó chưa kinh nghiệm?
M: Ông vừa trả lời câu hỏi của chính ông. Việc gì phải đùa giỡn với những ý tưởng? Hãy bằng lòng với những gì ông biết chắc. Cái duy nhất mà ông biết chắc là cái “Ta hiện hữu”. Hãy ở với nó, buông bỏ tất cả mọi thứ khác. Đó là Yoga.
H: Tôi chỉ có thể buông bỏ bằng ngôn từ. Giỏi lắm là tôi có thể nhớ và lặp lại: “Cái này không phải là Ta, cái này không phải là của Ta. Ta ở ngoài tất cả những cái này.”
M: Thế là tốt rồi. Trước tiên là bằng ngôn từ, rồi bằng tâm và cảm thọ, rồi trong hành động. Hãy chú ý vào thực tại trong ông và nó sẽ hiển lộ. Cũng như đánh sữa làm bơ. Hãy làm đúng cách và chuyên cần thì chắc chắn kết quả sẽ đến.
H: Làm sao cái tuyệt đối có thể là kết quả của một tiến trình?
M: Ông nói đúng, cái tương đối không thể đem lại cái tuyệt đối. Nhưng cái tương đối có thể ngăn trở cái tuyệt đối, cũng như nếu không đánh sữa thì không thể làm bơ tách ra khỏi sữa. Chính cái thật tạo nên sự thúc giục; cái bên trong thúc giục và cái bên ngoài đáp ứng bằng sự quan tâm và tinh tấn. Nhưng tối hậu thì chẳng có bên trong mà cũng chẳng có bên ngoài; ánh sáng của ý thức vừa là người sáng tạo vừa là vật được sáng tạo, vừa là người kinh nghiệm vừa là kinh nghiệm, vừa là thân xác vừa là cái thị hiện qua thân xác. Hãy để tâm đến nguồn năng lực phóng chiếu ra tất cả những cái đó, rồi mọi vấn đề của ông sẽ chấm dứt.
H: Năng lực phóng chiếu đó là gì?
M: Đó là trí tưởng tượng được thôi thúc bởi lòng ham muốn.
H: Tôi biết tất cả những điều đó, nhưng tôi chẳng có một quyền năng gì đối với chúng.
M: Lại thêm một ảo tưởng nữa của ông, do sự vọng cầu kết quả.
H: Có gì là không đúng với một hành vi có chủ đích?
M: Hành vi có chủ đích không dùng được ở đây. Trong những vấn đề như thế này không hề có mục đích, mà cũng chẳng có hành động. Tất cả những gì ông cần là lắng nghe, ghi nhớ, và tư duy. Cũng giống như ăn. Tất cả những gì ông có thể làm là cắn, nhai và nuốt, sau đó là hoàn toàn vô thức và tự động. Lắng nghe, ghi nhớ và hiểu - tâm vừa là diễn viên vừa là sân khấu. Tất cả đều thuộc về tâm, mà ông thì không phải là tâm. Tâm được sinh ra và tái sinh, chứ không phải ông. Tâm tạo ra thế giới và tính đa dạng tuyệt vời của nó. Trong một vở tuồng, ông cần đủ loại nhân vật và tình huống khác nhau, tương tự như thế ông cần mỗi thứ một ít để tạo ra thế giới.
H: Trong một vở tuồng thì chẳng có ai đau khổ.
M: Trừ khi một người tự đồng hóa mình với nó. Đừng đồng hóa ông với thế giới thì ông sẽ không đau khổ.
H: Nhưng người khác sẽ đau khổ.
M: Vậy thì hãy bằng mọi cách làm cho thế giới của ông hoàn hảo. Nếu tin vào Thượng đế, hãy cùng tạo dựng với Ngài. Nếu không tin vào Thượng đế, thì hãy trở thành Thượng đế. Hoặc là thấy thế giới như một vở tuồng, hoặc là xây dựng nó bằng tất cả sức lực của mình. Hoặc cả hai.
H: Thế còn nội thân hay tính cách cá biệt của người chết? Chuyện gì sẽ xảy ra với nó khi người đó chết đi? Ông có đồng ý là nó sẽ tiếp tục trong một thân xác khác?
M: Nó tiếp tục và nó cũng không tiếp tục. Tất cả còn tùy thuộc vào cách ông nhìn nó. Xét cho cùng thì cái gì là tính cách cá biệt? Một sự tiếp tục trong ký ức? Liệu ông có thể nói đến tính cách cá biệt mà không có ký ức?
H: Có chứ, tôi có thể. Một đứa bé có thể không biết cha mẹ là ai, nhưng các đặc tính di truyền trong nó vẫn có đó.
M: Ai nhận ra những đặc tính di truyền đó? Phải có một người với một ký ức để ghi nhận và so sánh. Ông có thấy rằng ký ức cũng giống như cái khung dệt của đời sống tâm lý, và tính cách cá biệt chỉ là một kiểu mẫu của các sự kiện xảy ra trong thời gian và không gian. Thay đổi kiểu mẫu là ông thay đổi con người.
H: Kiểu mẫu rất cần thiết và quan trọng. Nó có giá trị riêng của nó. Nếu nói rằng một mẫu dệt đơn thuần chỉ là những sợi chỉ đã được nhuộm mầu thì ông bỏ qua điều quan trọng nhất - cái đẹp của nó. Hoặc, nếu ông bảo rằng quyển sách chỉ là một xấp giấy với những dấu mực in thì ông bỏ qua ý nghĩa trong đó. Tính cách cá biệt rất quý giá vì nó là nền tảng của một cá nhân, nó làm cho mỗi người trong chúng ta là độc nhất và bất khả thay thế. “Ta hiện hữu” là trực giác của tính một duy nhất.
M: Đúng và sai. Tính cách cá biệt, tính cách cá nhân, tính độc nhất - chúng là những phương diện quý giá nhất của tâm, nhưng chỉ của tâm mà thôi. “Ta là tất cả những gì hiện hữu” cũng là một kinh nghiệm có giá trị tương đương. Cái riêng biệt và cái chung nhất thì bất khả phân. Chúng là hai phương diện của cái vô danh xưng, được nhìn từ cả bên ngoài lẫn bên trong. Điều đáng tiếc là ngôn từ chỉ có thể đề cập về nó, nhưng không chuyên chở được nó.
Hãy tìm cách siêu vượt ngôn từ.
H: Cái gì chết theo với cái chết?
M: Cái ý nghĩ “Ta là thân xác này” chết; nhân chứng thì không.
H: Những người theo giáo phái Jana tin vào tính cách đa nhân chứng, luôn luôn tách biệt nhau.
M: Đó là truyền thống của họ, dựa trên kinh nghiệm của những vĩ nhân nào đó. Nhân chứng duy nhất phản chiếu tự thân thành cái “Ta hiện hữu” trong vô số thân xác. Chừng nào các thân xác đó, dù vi tế đến đâu, còn tồn tại thì cái “Ta hiện hữu” xuất hiện như là nhiều. Bên ngoài thân xác chỉ có Một duy nhất.
H: Thượng đế?
M: Đấng sáng tạo là một người, thân người đó là thế giới. Cái Một vô danh xưng thì siêu vượt thánh thần.
H: Đạo sư Ramana Maharsi đã mất. Cái chết đã tạo ra sự
khác biệt nào đối với ông ấy?
M: Chẳng có gì khác biệt. Ông ấy là cái mà ông ấy đã là - Thực tại Tuyệt đối.
H: Nhưng đối với người thường thì cái chết tạo ra một sự khác biệt.
M: Trước khi chết người đó nghĩ mình là cái gì thì sẽ tiếp tục là cái đó sau khi chết. Hình ảnh về chính mình (self-image) của người đó vẫn còn.
H: Hôm trước ông có giải thích về điều các bậc giác ngộ dùng da thú để ngồi thiền, vân vân. Tôi vẫn không cảm thấy thuyết phục. Biện minh bằng cách nêu lên phong tục và truyền thống thì quá dễ. Phong tục có thể tàn ác và truyền thống có thể đồi bại. Phong tục và truyền thống là cách giải thích nhưng không thể biện minh.
M: Ta chưa bao giờ có ý nói rằng vô luật lệ sẽ theo sau sự giác ngộ chính mình. Một người đã giải thoát là một người vô cùng tuân thủ luật pháp nhưng là luật của cái Ta chơn thật, không phải luật pháp của xã hội. Người đã giải thoát có thể tuân thủ hay vi phạm luật pháp của xã hội tùy theo tình huống và sự cần thiết, nhưng chẳng bao giờ làm chuyện kỳ cục hay mất trật tự.
H: Tôi không thể chấp nhận sự biện minh bằng phong tục và thói quen.
M: Khó khăn là ở trong quan điểm khác biệt của chúng ta. Ông nói từ quan điểm thân-tâm. Quan điểm của Ta thuộc về nhân chứng. Sự khác biệt đó là căn bản.
H: Nhưng, tàn ác vẫn là tàn ác.
M: Chẳng có gì bắt buộc ông phải tàn ác.
H: Lợi dụng sự tàn ác của người khác là tàn ác dấu tay.
M: Nếu nhìn kỹ vào tiến trình sống, ông sẽ thấy sự tàn ác ở khắp nơi, sự sống này sống bằng sự sống khác. Đó là một thực tế, nhưng điều đó không làm ông cảm thấy tội lỗi vì sống. Ông bắt đầu một cuộc sống tàn ác bằng cách gây cho mẹ ông không biết bao nhiêu phiền nhiễu. Suốt đời ông cho đến khi chết ông tranh giành ăn, mặc, chỗ ở, bám víu vào thân xác, giành giật cho các nhu cầu của nó, muốn nó được an ổn trong một thế giới của sự bất trắc và cái chết. Nhìn từ quan điểm thú tính, bị giết hại không phải là hình thức rùng rợn nhất của cái chết; dĩ nhiên người ta vẫn muốn chết vì bệnh hoạn, và lão suy hơn. Sự tàn ác nằm ở động cơ giết, chứ không phải sự giết. Giết hại gây đau khổ cho kẻ giết, chứ không phải người bị giết.
H: Đồng ý, vậy thì một người không nên nhận gì của những tay thợ săn và bọn đồ tể.
M: Ai bảo ông nhận?
H: Ông nhận.
M: Đó là cách ông nhìn Ta! Ông tố cáo, buộc tội, lên án và thi hành án nhanh quá! Nhưng tại sao lại bắt đầu với Ta mà không phải với chính ông?
H: Một người như ông phải làm gương.
M: Ông sẵn sàng theo gương Ta chứ? Ta đã chết đi đối với thế giới. Ta chẳng muốn gì cả, ngay cả sống. Hãy là như Ta là, làm như Ta làm. Ông phán xét Ta bằng quần áo và thức ăn của Ta, trong khi Ta chỉ nhìn động cơ thúc giục ông. Nếu ông tin rằng ông chỉ là thân, tâm và hành động theo sự tin tưởng đó, thì ông phạm một tội ghê tởm nhất: tàn ác với sự hiện hữu chơn thật của chính ông. So với sự tàn ác đó thì mọi sự tàn ác khác chẳng là gì.
H: Ông nại cớ rằng ông không phải là thân xác để trốn tránh. Nhưng ông điều khiển thân xác của ông và chịu trách nhiệm về tất cả những gì nó làm. Để thân xác hoàn toàn tùy tiện là ngu ngốc và điên rồ.
M: Hãy bình tĩnh. Ta chống lại mọi sự sát hại thú vật để lấy thịt và lông, nhưng đó không phải ưu tiên hàng đầu. Ăn chay là một lý do chính đáng, nhưng không phải là điều cấp bách nhất; tất cả mọi lý do đều được thỏa mãn tốt đẹp nhất bởi một người đã trở về với cội nguồn.
H: Khi còn ở Sri Ramanashram, tôi cảm thấy Bhagavan ở khắp mọi nơi, bao trùm tất cả, thấy biết tất cả.
M: Ông đã có được tín tâm cần thiết. Những ai thực sự có tín tâm với Bhagwan thì luôn luôn thấy Bhagwan ở khắp nơi. Tất cả đều xảy ra theo tín tâm của ông, và tín tâm của ông là hình tướng của lòng ham muốn của ông.
H: Thế không phải tín tâm mà ông có đối với chính ông cũng là hình tướng của một sự ham muốn?
M: Khi nói: “Ta hiện hữu”, Ta không hàm ý một thực thể tách biệt có một thân xác là trung tâm của nó. Ta muốn nói sự toàn thể của hiện hữu, đại dương của ý thức, toàn thể vũ trụ của tất cả hiện hữu và biết. Ta chẳng có gì để ham muốn, vì Ta luôn luôn toàn hảo.
H: Ông có thể giao tiếp với đời sống nội tâm của người khác?
M: Ta là mọi người.
H: Tôi không muốn nói sự giống nhau của tánh thể hay thực chất, mà cũng không phải sự tương tự về hình tướng. Tôi muốn nói sự nhập vào tâm thức và trái tim của người khác một cách thực sự, và tham dự vào những kinh nghiệm cá nhân của họ. Ông có thể cùng vui sướng và đau khổ với tôi, hay ông chỉ phỏng đoán những cảm xúc của tôi bằng sự quan sát và phép loại suy?
M: Tất cả mọi hiện hữu đều ở trong Ta. Nhưng đem vào não bộ nội dung của một bộ óc khác đòi hỏi một sự tập luyện đặc biệt. Nếu tập luyện thì chẳng có gì là không làm được.
H: Tôi không phải là phóng ảnh của ông, và ông cũng không phải là phóng ảnh của tôi. Tôi có tư cách cá nhân của tôi, mà không phải là tạo vật của ông. Cái triết lý thô thiển về sự tưởng tượng và phóng chiếu chẳng hấp dẫn đối với tôi. Ông tước đoạt tất cả thực tại của tôi. Ai là hình ảnh của ai? Ông là hình ảnh của tôi, hay tôi là hình ảnh của ông? Hay tôi là một hình ảnh trong hình ảnh của chính tôi! Không, có cái gì không ổn ở đâu đó.
M: Ngôn từ tự tố cáo sự rỗng tuếch của nó. Cái thật thì không thể mô tả, mà phải được chứng nghiệm. Ta không thể tìm ra ngôn từ nào chính xác hơn cho những gì Ta biết. Những gì Ta nói nghe có vẻ khôi hài, nhưng điều mà ngôn từ tìm cách chuyển tải là chân lý tối thượng. Dù chúng ta có ngụy biện đến đâu thì tất cả vẫn là một. Tất cả được thực hiện để làm vừa lòng cái nguồn gốc và mục đích duy nhất của mọi tham ái, cái mà tất cả chúng ta đều biết: cái “Ta hiện hữu.”
H: Chính đau khổ ở tại nguồn gốc của tham ái. Sự thôi thúc căn bản là trốn tránh đau khổ.
M: Cái gì là nguồn gốc của đau khổ? Vô minh về chính ông. Cái gì là nguồn gốc của tham ái? Sự thôi thúc tìm kiếm chính ông. Mọi sinh vật đều vất vả tìm kiếm cái Ta của nó, và chỉ khi nào trở về với cái Ta thì nó mới an nghỉ.
H: Bao giờ nó trở về?
M: Nó có thể trở về bất cứ khi nào ông muốn.
H: Còn thế giới?
M: Ông có thể đem nó theo.
H: Liệu tôi có cần hoãn lại việc cứu giúp thế gian cho đến khi tôi đạt được sự toàn hảo?
M: Hãy giúp thế gian bằng mọi cách. Ông sẽ chẳng giúp được bao nhiêu, nhưng sự cố gắng sẽ làm ông trưởng thành. Tìm cách cứu giúp thế gian thì chẳng có gì sai.
H: Chắc chắn đã có nhiều người - những con người bình thường - đã giúp ích rất nhiều cho thế gian này.
M: Khi đến lúc thế gian cần được cứu giúp, một số người nào đó sẽ được ban cho ý chí, trí tuệ và quyền năng để tạo ra những thay đổi vĩ đại.
CHƯƠNG 36. BÊN NGOÀI ĐAU KHỔ VÀ LẠC THÚ LÀ AN LẠC
Maharaj: Trước tiên ông phải nhận ra rằng ông là bằng chứng của mọi thứ, kể cả chính ông. Không người nào có thể chứng minh được sự tồn tại của ông, vì chính sự tồn tại của người đó phải được ông xác nhận trước. Sự hiện hữu và tánh biết của ông không nhờ ai mà có. Nên nhớ rằng ông không tùy thuộc ai. Ông chẳng ở đâu đến, và ông cũng chẳng đi đâu. Ông là tánh biết và sự hiện hữu phi thời.
Hỏi: Có một sự khác biệt căn bản giữa ông và tôi. Ông biết cái thật, còn tôi chỉ biết những hành hoạt của tâm tôi. Vì thế ông nói một đàng, tôi nghe một nẻo. Cùng ngôn từ, nhưng những gì ông nói là đúng, còn tôi hiểu thì sai. Giữa ông và tôi có một khoảng cách. Làm thế nào để thu hẹp khoảng cách đó?
M: Hãy từ bỏ cái ý tưởng cho rằng ông là cái mà ông nghĩ thì sẽ không còn khoảng cách. Vì tưởng tượng ông tách biệt nên chính ông đã tạo ra khoảng cách. Ông chẳng cần phải vượt qua nó mà chỉ cần đừng tạo ra nó. Tất cả là ông và của ông. Chẳng có ai khác. Đây là một thực tế.
H: Lạ nhỉ! Cùng một lời lẽ - đối với ông thì đúng, còn đối với tôi thì sai. “Chẳng có ai khác.” Rõ ràng là không thể nào đúng được!
M: Đúng hay không đúng thì cứ để đó. Ngôn từ chẳng quan trọng. Điều quan trọng là cái ý tưởng ông có về chính ông vì nó ngăn che ông. Hãy buông bỏ nó.
H: Ngay từ khi còn nhỏ tôi được dạy để suy nghĩ rằng tôi được giới hạn trong danh xưng và hình thể của tôi. Một lời nói suông mang ý nghĩa trái ngược không thể xóa được vết hằn trong tâm thức. Cần phải có một cuộc tẩy não, nếu điều đó có thể thực hiện được.
M: Ông gọi là tẩy não, Ta gọi là Yoga - san bằng tất cả những vết mòn trong tâm thức. Ông không bị bắt buộc phải tư duy lập đi lập lại cùng những ý nghĩ. Hãy đi tới!
H: Nói thì dễ hơn làm.
M: Đừng trẻ con! Thay đổi thì vẫn dễ hơn là chịu đựng. Hãy từ bỏ thái độ trẻ con của ông để trưởng thành, chỉ có thế thôi.
H: Những chuyện như thế thì chẳng cần phải làm. Chúng xảy
ra.
M: Tất cả mọi thứ luôn luôn xảy ra, nhưng ông phải sẵn sàng tiếp nhận. Sẵn sàng là sự chín mùi. Ông không thấy được cái thật vì tâm ông chưa sẵn sàng tiếp nhận nó.
H: Nếu thực tại là bản chất chơn thật của tôi thì tại sao tôi không luôn luôn sẵn sàng?
M: Không sẵn sàng có nghĩa là sợ. Ông sợ cái ông là. Nơi đến của ông là cái toàn thể. Nhưng ông lại sợ sẽ mất cái tính cách cá biệt của ông. Bám chặt lấy tham ái và lo sợ, ý kiến và ý tưởng là hành động của trẻ con bám chặt lấy đồ chơi. Hãy từ bỏ tất cả những cái đó và sẵn sàng để cho cái thật tự khẳng định. Sự tự khẳng định này được thể hiện bằng ngôn từ đúng nhất: “Ta hiện hữu.” Không gì khác có thực thể. Ông hoàn toàn chắc chắn về điều này.
H: Dĩ nhiên “Tôi hiện hữu”, và “Tôi biết” nữa. Tôi biết tôi là thế này thế nọ, là chủ nhân của thân xác, trong vô số quan hệ với các chủ nhân của các thân xác khác.
M: Đó chỉ là tất cả ký ức được đem vào cái bây giờ.
H: Tôi chỉ có thể chắc chắn với cái bây giờ. Quá khứ và tương lai, ký ức và tưởng tượng, tất cả đều là những trạng thái của tâm, nhưng chúng là những gì tôi biết và chúng đang là bây giờ. Ông bảo tôi từ bỏ chúng. Làm sao một người có thể từ bỏ cái bây giờ?
M: Dù muốn hay không thì ông vẫn luôn luôn di chuyển vào tương lai.
H: Tôi di chuyển từ hiện tại này sang hiện tại khác - tôi không hề di chuyển. Tất cả mọi cái khác di chuyển - tôi thì không.
M: Cứ cho là như thế. Nhưng tâm ông di chuyển. Trong hiện tại ông vừa là cái di chuyển, vừa là cái bất khả di chuyển. Cho đến nay ông vẫn cho ông là cái di chuyển và không thấy được cái bất khả di chuyển. Hãy lật ngược tâm ông: đừng chú ý đến cái di chuyển, ông sẽ thấy chính ông là thực tại bất biến và thường tại, không thể diễn tả được, nhưng kiên cố như một khối đá.
H: Nếu nó là hiện tại, vì sao tôi không biết?
M: Bởi vì ông cứ khư khư với cái ý nghĩ ông không biết nó.
Hãy bỏ ý nghĩ đó đi.
H: Bỏ nó thì cũng chẳng làm cho tôi biết.
M: Khoan đã. Ông muốn ở hai bên bức tường cùng một lúc. Ông chỉ có thể làm được điều đó nếu ông phá bỏ bức tường. Hoặc ông nhận ra rằng bức tường và hai bên của nó là một không gian duy nhất, đối với khoảng không gian đó ý tưởng “bên này” hay “bên kia” đều không áp dụng.
H: So sánh chẳng chứng minh được gì. Điều đáng trách duy nhất của tôi là: Vì sao tôi không thấy cái ông thấy, vì sao lời lẽ của ông nghe không đúng trong tâm tôi. Hãy cho tôi biết thật rõ về điều này, những điều khác thì cứ để đó. Ông có trí tuệ còn tôi u mê; ông thấy, còn tôi thì không. Tôi phải làm thế nào để tìm được trí tuệ của tôi, và ở đâu?
M: Nếu biết được ông u mê thì ông đâu có u mê!
H: Biết được tôi bệnh không làm tôi khỏe, biết được tôi u mê không thể làm tôi có trí tuệ.
M: Biết được ông bệnh thì không phải lúc đầu ông phải khỏe đã chứ?
H: Ồ, không. Tôi biết bằng cách đối chiếu. Giả sử rằng tôi bị mù bẩm sinh, phải sờ mó mới biết; nghe ông bảo ông biết được mọi thứ mà không cần phải sờ mó thì tôi biết là tôi mù, nhưng tôi vẫn không hiểu được nhìn thấy là thế nào. Tương tự như thế, tôi biết tôi thiếu một cái gì đó nên khi ông khẳng định sự việc thì tôi không thể nào nắm bắt được. Ông cho tôi biết những điều tuyệt vời về chính tôi; theo ông thì tôi vĩnh cửu, tôi hiện hữu khắp nơi, thông suốt mọi sự, là hạnh phúc tối thượng, là người sáng tạo, người bảo vệ và cũng là kẻ phá hủy tất cả những gì hiện hữu, tôi là suối nguồn của sự sống, là trái tim của hiện hữu, là chủ tể và là người được yêu quí của mọi loài chúng sinh. Ông xếp tôi ngang hàng với Thực tại Tối hậu, nguồn gốc và mục đích của tất cả sự sống. Tôi chỉ biết chớp mắt, vì tôi biết chính tôi chỉ là một mớ cỏn con của lòng tham ái và lo sợ, một bọt bong bóng đau khổ, một thoáng lóe lên của ý thức trong đại dương tăm tối.
M: Trước khi có đau khổ thì đã có ông. Đau khổ qua đi, ông vẫn còn đó. Đau khổ là nhất thời, còn ông thì không.
H: Rất tiếc là tôi không thấy được cái ông thấy. Từ ngày sinh ra cho đến khi chết đi, mô hình của đời tôi được đan dệt bằng đau khổ và lạc thú. Tôi hoàn toàn không biết gì về sự hiện hữu trước khi sinh ra và sau khi chết đi. Tôi không chấp nhận và cũng không phủ nhận những gì ông nói. Tôi nghe cái ông nói nhưng tôi không biết cái đó.
M: Hiện bây giờ ông biết, phải thế không?
H: Xin đừng hỏi tôi về trước và sau. Tôi chỉ biết cái gì ngay bây giờ.
M: Tốt. Như vậy là ông biết. Cứ giữ trạng thái ấy. Khi ông không biết thì vẫn có những trạng thái. Gọi đó là hiện hữu vô thức.
H: Là vô thức?
M: Ý thức và vô thức không áp dụng ở đây. Sự tồn tại thì ở trong ý thức, còn tánh thể thì không tùy thuộc vào ý thức.
H: Nó là sự trống rỗng? Nó là sự im lặng?
M: Việc gì phải chi tiết tỉ mỉ? Hiện hữu thì trùm khắp và siêu vượt ý thức. Ý thức khách quan là một phần của ý thức thuần túy, chứ không ở ngoài.
H: Làm sao ông biết được trạng thái hiện hữu thuần túy, không phải hữu thức mà cũng chẳng phải vô thức? Tất cả mọi sự hiểu biết đều chỉ ở trong ý thức. Có thể có một trạng thái như là sự trống vắng của tâm. Liệu lúc đó ý thức xuất hiện như nhân chứng?
M: Nhân chứng chỉ ghi lại các sự kiện. Trong sự trống vắng của tâm ngay cả cái ý thức “Ta hiện hữu” cũng biến mất. Không hề có “Ta hiện hữu” mà không có tâm.
H: Không có tâm có nghĩa là không có ý nghĩ. “Ta hiện hữu” như một ý nghĩ thì chìm xuống. “Ta hiện hữu” như một ý thức về sự hiện hữu thì vẫn còn.
M: Tất cả mọi kinh nghiệm đều chìm xuống cùng với tâm. Nếu không có tâm thì không thể có người kinh nghiệm và cũng chẳng có kinh nghiệm.
H: Thế không phải nhân chứng vẫn còn?
M: Nhân chứng chỉ làm công việc ghi lại sự có mặt và vắng mặt của kinh nghiệm. Tự thân nhân chứng không phải là một kinh nghiệm, nhưng ngay khi ý nghĩ “Ta là nhân chứng” khởi sinh thì nó trở thành một kinh nghiệm.
H: Tất cả những gì tôi biết là tâm có lúc hoạt động và có lúc ngừng. Tôi gọi kinh nghiệm im lặng của tâm là sự trống vắng của tâm.
M: Có gọi nó là sự im lặng, trống rỗng, hay trống vắng, thì thực tế là cả ba - người kinh nghiệm, hành vi kinh nghiệm, và kinh nghiệm - đều không có. Trong hành vi nhân chứng, trong tánh biết, trong ý thức về chính mình thì không có ý thức là cái này, là cái kia. Sự hiện hữu vô danh sắc (unidentified being) vẫn còn.
H: Như một trạng thái vô thức?
M: Khi liên hệ nó với bất cứ gì thì nó ngược lại. Không những thế nó còn ở giữa, và ở ngoài mọi sự đối nghịch. Nó không phải ý thức mà cũng chẳng phải vô thức, không phải ở giữa và cũng chẳng phải ở ngoài cả hai. Nó là chính nó, không hề liên hệ với bất cứ gì gọi là kinh nghiệm, hay sự trống vắng kinh nghiệm.
H: Lạ quá nhỉ! Ông nói về nó như thể nó là một kinh nghiệm.
M: Ngay khi Ta nghĩ đến nó thì nó trở thành một kinh nghiệm.
H: Cũng như ánh sáng thì vô sắc, nhưng khi bị một bông hoa ngăn lại thì trở thành màu sắc?
M: Đúng, ông có thể cho là như thế. Nó ở trong màu sắc những không phải là màu sắc.
H: Cũng giống như luận pháp bốn lần phủ định của Long Thọ Bồ Tát (Nagarjuna): “không phải cái này mà cũng không phải cái kia, không phải cả hai, không phải không phải cả hai.” Tâm tôi quay mòng mòng!
M: Sự khó hiểu đối với ông phát sinh từ ý tưởng cho rằng thực tại là một trạng thái của ý thức, trong vô số các trạng thái khác. Ông có khuynh hướng cho rằng: “Cái này thật. Cái kia không thật. Và cái này nửa thật, nửa không thật” như thể thực tại là một thuộc tính hay phẩm chất có trong nhiều cách đo lường khác nhau.
H: Để tôi diễn tả theo một cách khác. Xét cho cùng, ý thức trở nên một vấn đề khi nào nó gây đau khổ. Một trạng thái thường an lạc thì không gây nên vấn đề gì. Chúng tôi nhận thấy tất cả ý thức chỉ là sự pha trộn giữa lạc thú và đau khổ. Tại sao vậy?
M: Tất cả ý thức đều hữu hạn và do đó gây đau khổ. Tại nguồn gốc của ý thức là tham ái, là sự thôi thúc mong muốn kinh nghiệm.
H: Ông muốn nói rằng nếu không có tham ái thì không thể có ý thức? Thế thì lợi ích của trạng thái vô thức là gì? Nếu phải từ bỏ lạc thú để thoát khỏi đau khổ, thì tốt hơn là tôi giữ cả hai.
M: Bên ngoài đau khổ và lạc thú là hỷ lạc.
H: Hỷ lạc vô thức, liệu có lợi lạc gì?
M: Không phải hữu thức mà cũng chẳng phải vô thức. Chơn thật.
H: Vì sao ông bác bỏ ý thức?
M: Nó là một gánh nặng. Thân xác có nghĩa là gánh nặng. Cảm thọ, tham ái, ý nghĩ - tất cả đều là gánh nặng. Tất cả ý thức đều thuộc về xung đột.
H: Thực tại được mô tả là hiện hữu chơn thật, ý thức thuần túy, hỷ lạc vô biên. Vậy đau khổ có liên quan gì với thực tại?
M: Đau khổ và lạc thú xảy ra; đau khổ là cái giá của lạc thú, và lạc thú là phần thưởng của đau khổ. Trong cuộc sống ông vẫn thường thích thú bằng cách gây đau khổ, và gây đau khổ bằng cách tạo ra thích thú. Biết được đau khổ và lạc thú là một thì an lạc.
H: Tất cả những gì ông nói rất hấp dẫn, không có gì là nghi hoặc, nhưng mục đích của tôi đơn giản hơn thế. Tôi chỉ muốn nhiều lạc thú và ít đau khổ hơn trong đời sống. Tôi phải làm gì?
M: Bao giờ còn có ý thức thì chắc chắn còn có lạc thú và đau khổ. Bản chất của cái “Ta hiện hữu,” bản chất của ý thức là tự đồng hóa chính nó với những cái đối nghịch.
H: Vậy tất cả những cái đó có lợi ích gì đối với tôi? Nó không làm tôi thỏa mãn.
M: Ông là ai, ai không thỏa mãn?
H: Tôi, con người đau-khổ-lạc-thú.
M: Đau khổ và lạc thú đều là hỷ lạc. Ngay tại đây, Ta đang ngồi trước mặt ông và nói với ông - từ sự chứng nghiệm trực tiếp và bất biến - đau khổ và lạc thú là chóp và chân của những con sóng trong biển an lạc. Sự viên mãn ở tận dưới sâu kia.
H: Kinh nghiệm của ông có thường hằng?
M: Nó phi thời và bất biến.
H: Tất cả những gì tôi biết là lòng ham muốn lạc thú và nỗi sợ hãi đau khổ.
M: Đó là điều ông nghĩ về chính ông. Hãy chấm dứt. Nếu không thể từ bỏ ngay một thói quen thì hãy suy nghĩ về một lối tư duy quen thuộc và thấy được sự sai lầm của nó. Tìm hiểu thói quen là nhiệm vụ của tâm. Cái gì được tâm tạo ra thì tâm phải phá hủy. Hoặc, ông nhận ra rằng tham ái chỉ có ở trong tâm, và hãy ở ngoài tâm.
H: Nói thật ra, tôi không tin cách giải thích cho rằng tất cả đều do tâm tạo. Tâm chỉ là một công cụ, cũng như mắt là một công cụ. Ông có thể cho rằng nhận thức là sáng tạo? Tôi thấy thế giới qua khung cửa sổ, chứ không phải trong khung cửa sổ. Những gì ông nói đều ăn khớp với nhau vì chúng có cùng một cơ sở chung, nhưng tôi không biết cơ sở đó ở trong thực tại, hay chỉ ở trong tâm. Tôi chỉ có một hình ảnh của tâm về nó mà thôi. Nó có ý nghĩa gì đối với ông thì tôi không biết được.
M: Chừng nào ông còn đứng trong tâm thì ông còn thấy Ta ở trong tâm.
H: Để hiểu thì ngôn từ không thỏa đáng chút nào!
M: Không có ngôn từ thì có gì để hiểu? Vì hiểu sai nên mới cần hiểu. Những gì Ta nói là chân lý, nhưng đối với ông nó chỉ là một triết thuyết. Làm sao ông có thể hiểu được đó là sự thật? Hãy lắng nghe, ghi nhớ, tư duy, hình dung, kinh nghiệm. Không những thế, còn phải ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Hãy kiên nhẫn với Ta, và trên tất cả hãy kiên nhẫn với chính ông, vì ông là chướng ngại duy nhất của chính ông. Con đường xuyên suốt qua ông siêu vượt chính ông. Chừng nào ông còn tin chỉ cái cá biệt là thật, là biết được và hạnh phúc, và bác bỏ thực tại bất nhị, cho nó là một cái gì được tưởng tượng ra, một khái niệm trừu tượng thì ông còn nhận thấy Ta chỉ đưa ra những khái niệm và lý thuyết mơ hồ. Nhưng một khi đã chạm được vào cái chơn thật bên trong sự hiện hữu của chính ông thì ông sẽ nhận ra rằng Ta chỉ mô tả cho ông cái mà ông gần gũi nhất và quý giá nhất.
CHƯƠNG 37. TU TẬP TÂM LINH LÀ Ý CHÍ ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH VÀ TÁI KHẲNG ĐỊNH
Hỏi: Những người Tây phương thỉnh thoảng vẫn đến gặp ông đều đối diện với một sự khó khăn có tính cách đặc thù. Họ hoàn toàn không có ý niệm về người giải thoát, người giác ngộ, người tự giác, người biết được Thượng đế, người siêu vượt thế gian. Tất cả những gì họ có trong nền văn hóa Thiên Chúa giáo là ý tưởng về một vị thánh: Một người ngoan đạo, tuân thủ luật pháp, kính sợ Thượng đế, yêu thương tín hữu, siêng năng cầu nguyện, thỉnh thoảng nhập vào trạng thái xuất thần và được xác nhận bằng một vài phép lạ. Ý tưởng về một bậc giác ngộ - Gnani - hoàn toàn xa lạ trong nền văn hóa Tây phương, nó có vẻ lạ lùng và khó tin. Cho dù người Tây phương có chấp nhận sự tồn tại của một Gnani thì họ vẫn nhìn người đó với sự ngờ vực, và do đó là một trường hợp hưng phấn tự cảm ứng, kết quả của những tư thế kỳ quái của thân xác và những thái độ tâm lý. Ý tưởng về một cảnh giới mới trong ý thức đối với họ hình như huyễn hoặc và có vẻ viễn vông.
Cách giúp họ tốt nhất là tạo cơ hội để họ được nghe một Gnani thuật lại chính kinh nghiệm giác ngộ, các nguyên nhân và những bước đầu, sự tiến bộ và những chứng đắc, cùng với phép tu tập thực tế trong cuộc sống thường ngày. Hầu hết những gì vị Gnani nói ra có vẻ rất xa lạ, thậm chí còn vô nghĩa, nhưng vẫn để lại một cảm nhận về thực tại, một không khí của sự chứng nghiệm thực sự, không thể diễn tả được, nhưng rất thật, một trung điểm mà từ đó người ta có thể sống một cuộc đời mẫu mực.
Maharaj: Kinh nghiệm đó có lẽ là không thể truyền đạt được. Liệu một người có thể truyền đạt được một kinh nghiệm?
H: Được chứ, nếu người đó là một nghệ sĩ. Tinh hoa của nghệ thuật là truyền đạt cảm xúc, và kinh nghiệm.
M: Để tiếp nhận sự truyền đạt, ông phải sẵn sàng tiếp thu.
H: Dĩ nhiên. Phải có một cái máy thu. Nhưng máy phát không phát thì máy thu dùng để làm gì?
M: Gnani thuộc về tất cả. Gnani bố thí chính mình một cách không mệt mỏi và trọn vẹn cho bất cứ ai tìm đến. Nếu không bố thí thì người đó không phải một Gnani. Gnani chia sẻ bất cứ gì mình có.
H: Nhưng liệu Gnani có thể chia sẻ cái mà người ấy là?
M: Ông muốn nói rằng liệu một Gnani có thể biến người khác thành Gnani? Có và không. Không, vì các Gnani không được tạo ra, họ nhận ra chính mình là như thế khi họ trở về với cội nguồn, với bản tánh chơn thật của họ. Ta không thể biến ông thành cái mà ông đã là như thế. Tất cả những gì Ta chỉ có thể nói với ông là con đường mà Ta đã đi qua, và Ta mời ông đi con đường đó.
H: Điều đó không trả lời câu hỏi của tôi. Tôi có trong tâm một con người Tây phương hay phê phán và hoài nghi, con người đó phủ nhận sự khả hữu của bất cứ trạng thái ý thức siêu việt nào. Gần đây, ma túy đã phá vỡ sự hoài nghi cố hữu, nhưng không ảnh hưởng đến quan niệm duy vật của người đó. Ma túy hay không phải ma túy, thân xác vẫn là yếu tố căn bản, còn tâm chỉ là thứ yếu. Ra khỏi tâm, người ta không thấy gì cả. Từ Đức Phật trở về sau, các trạng thái giác ngộ chính mình đều được mô tả bằng những từ ngữ phủ định, như “không phải cái này, không phải cái kia.” Có phải phủ định là tất yếu? Nếu không thể mô tả thì người ta không thể minh họa nó hay sao? Tôi công nhận rằng không sự mô tả nào bằng ngôn từ lại có thể chính xác, khi trạng thái được mô tả vượt ra khỏi ngôn từ. Nhưng nó vẫn ở trong vòng ngôn từ chứ. Thơ là một nghệ thuật diễn tả bằng ngôn từ cái không thể diễn tả được.
M: Chẳng thiếu gì các nhà thơ tôn giáo. Hãy đến gặp họ để tìm cái ông muốn. Với Ta, sự chỉ giáo rất đơn giản: Cứ tin Ta một thời gian và làm những gì Ta bảo. Nếu kiên nhẫn, ông sẽ nhận ra sự tin tưởng của ông là chính đáng.
H: Nhưng đối với những người hoàn toàn không tin mà chỉ quan tâm thì sao?
M: Nếu ở gần Ta họ có thể tin Ta. Khi đã tin họ sẽ làm theo những gì Ta chỉ dẫn, và tự tìm ra cho chính họ.
H: Tôi không hỏi về sự tu tập mà tôi hỏi về kết quả. Ông có cả hai. Ông sẵn sàng chỉ cho chúng tôi cách tu tập, nhưng khi hỏi về kết quả thì ông không chịu chia sẻ. Hoặc là ông nói trạng thái của ông siêu vượt ngôn từ, hoặc là ông nói chẳng có gì khác biệt, và những gì chúng tôi thấy có sự khác biệt thì ông thấy không. Trong cả hai trường hợp chúng tôi đều bị hụt hẫng, không biết rõ được trạng thái của ông.
M: Làm sao ông có thể biết rõ được trạng thái của Ta khi ông không biết rõ trạng thái của chính ông? Khi chính công cụ để hiểu không có thì điều quan trọng không phải là tìm nó trước hay sao? Điều ông nói chẳng khác nào một người mù muốn học vẽ tranh trước khi lấy lại được thị giác. Ông muốn biết trạng thái của Ta - thế ông có biết trạng thái của vợ ông, hay của người giúp việc cho ông?
H: Tôi chỉ muốn hỏi một vài gợi ý.
M: Được, Ta cho ông một gợi ý vô cùng quan trọng - ở đâu ông thấy sự khác biệt thì Ta không thấy. Đối với Ta thế là đủ. Nếu ông nghĩ nó vẫn chưa đủ thì Ta chỉ có thể lập lại: Thế là đủ. Hãy suy gẫm điều đó thật sâu xa, và ông sẽ thấy chỗ Ta thấy.
Ông muốn có một sự sáng suốt tức thời mà quên rằng cái tức thời bao giờ cũng theo sau một tiến trình chuẩn bị lâu dài. Quả rụng tức thời nhưng tiến trình chín mùi đòi hỏi phải có thời gian.
Xét cho cùng, khi Ta bảo hãy tin Ta thì sự tin tưởng chỉ là một thời gian ngắn, vừa đủ để ông bắt đầu. Sự thành khẩn càng nhiều thì sự tin tưởng ông cần càng ít, vì chẳng bao lâu ông sẽ thấy niềm tin ông đặt nơi Ta là chính đáng. Ông muốn Ta chứng tỏ với ông rằng Ta là một người khả tín! Làm sao Ta làm được điều đó, và việc gì Ta phải làm như thế? Xét cho cùng, những gì Ta nói với ông chỉ là phương cách tiếp cận có thể sử dụng được, rất hiện hành trong khoa học Tây phương. Sau khi nghe một khoa học gia mô tả một thử nghiệm và những kết quả của nó, thông thường ông chấp nhận những phát biểu của nhà khoa học dựa trên sự tin tưởng, rồi ông làm lại cuộc thử nghiệm theo sự mô tả. Một khi đã đạt được cùng kết quả hay kết quả tương tự, ông chẳng cần tin nhà khoa học kia nữa mà ông tin kinh nghiệm của chính ông. Được khuyến khích, ông tiến hành và cuối cùng đạt được những kết quả rất tương tự.
H: Cái tâm của người Ấn đã được chuẩn bị bởi sự giáo dục và nền văn hóa Ấn Độ để sẵn sàng cảm nhận các kinh nghiệm siêu hình. Đối với người Ấn những từ ngữ như “trực nhận Thực tại Tối thượng” là có ý nghĩa và đem lại những phản ứng từ tận cùng sâu thẳm của hiện hữu. Đối với người phương Tây thì chúng chẳng có ý nghĩa gì mấy; mặc dù được giáo dục với một giáo lý đa dạng như Thiên Chúa giáo, nhưng người phương Tây không dám tư duy vượt ra ngoài sự tuân thủ những điều răn của Chúa, và các lời dạy của Đấng Christ. Đối với họ sự hiểu biết trực tiếp về thực tại không những vượt quá tham vọng, mà còn ở ngoài nhận thức. Có mấy người Ấn đã bảo tôi: “Vô vọng. Người phương Tây sẽ không thể, vì họ không thể. Đừng nói với họ một điều gì về sự giác ngộ chính mình; cứ để họ sống một cuộc sống hữu ích rồi nhờ đó được tái sinh ở Ấn Độ. Lúc đó thì may ra.” Lại có người nói: “Thực tại dành cho tất cả một cách đồng đều, nhưng không phải tất cả được hưởng một cách đồng đều cái khả năng nắm bắt nó. Khả năng đi cùng với ước muốn sẽ trở thành lòng sùng tín, và tối hậu sẽ là dâng hiến trọn vẹn chính mình. Với lòng chính trực và nhiệt thành, cũng như ý chí sắt đá để vượt qua mọi trở ngại, người phương Tây có cùng một cơ hội như người phương Đông. Tất cả những gì người phương Tây cần là phát khởi sự quan tâm.” Để phát khởi sự quan tâm hiểu biết chính mình, người phương Tây cần phải được thuyết phục về những lợi ích của nó.
M: Ông tin rằng một kinh nghiệm cá nhân có thể trao truyền được?
H: Tôi không rõ. Ông nói về sự hợp nhất, tính đồng nhất giữa người thấy và cái bị thấy. Khi tất cả là một thì sự truyền đạt là khả thi.
M: Muốn có kinh nghiệm trực tiếp về một đất nước nào đó ông phải đến đó sinh sống. Đừng đòi hỏi cái bất khả. Thắng lợi tâm linh của một người chắc chắn đem lại lợi lạc cho nhân loại, nhưng chỉ để lợi lạc cho một cá nhân khác thì cần phải có một quan hệ thân cận giữa hai người. Một quan hệ như thế không phải tình cờ, và không phải ai cũng có thể có được. Mặt khác, để đem lại lợi lạc cho mọi người thì còn có phương pháp rất khoa học: “Tin - Thử Trải qua” (Trust - Test - Taste) ông còn cần gì hơn nữa? Việc gì phải cố nhồi nhét Chân lý xuống những cuống họng không muốn nuốt? Dù có bằng cách nào đi nữa thì điều đó cũng không thể thực hiện được. Nếu không có người nhận, người cho có thể làm được gì?
H: Tinh hoa của nghệ thuật là vận dụng hình thức bên ngoài để chuyển tải một kinh nghiệm nội tại. Dĩ nhiên, một người phải bén nhạy với cái bên trong thì cái bên ngoài mới có thể có ý nghĩa. Một người phát triển tính bén nhạy bằng cách nào?
M: Dù ông có nói kiểu gì thì rốt cục cũng thế. Người cho thì nhiều, người nhận ở đâu?
H: Ông không thể chia sẻ sự bén nhạy của ông?
M: Được chứ, nhưng chia sẻ là một con đường hai chiều. Trong chia sẻ phải có hai. Ai là kẻ sẵn sàng nhận cái Ta sẵn sàng cho?
H: Ông bảo chúng ta là một. Như thế chưa đủ sao?
M: Ta là một với ông. Nhưng ông có là một với Ta không? Nếu là một với Ta thì ông đâu có hỏi. Nếu ông không là một với Ta, nếu ông không thấy như Ta thấy, thì ngoài cách chỉ ông nhìn rõ hơn, liệu Ta còn làm được gì khác?
H: Cái ông không thể cho được thì không phải là của chính ông.
M: Ta chẳng nhận cái gì là của riêng Ta. Khi cái “Ta” không có thì “cái của Ta” ở đâu? Hai người cùng nhìn một cái cây. Một người thấy quả ẩn giấu sau lá, còn người kia thì không. Ngoài ra chẳng có gì khác biệt giữa hai người. Người thấy biết rằng chỉ cần một chút chú ý thì người kia cũng có thể thấy, vấn đề chia sẻ chẳng cần phải đặt ra. Cứ tin Ta đi, Ta không phải là kẻ keo kiệt giữ lại phần chia thực tại của ông. Trái lại, Ta hoàn toàn là của ông, cứ ăn Ta và uống Ta đi. Ông không ngừng lập đi lập lại “cho, cho” nhưng chẳng làm gì để nhận cái cho. Ta chỉ cho ông một con đường ngắn và dễ dàng để ông có thể thấy như Ta thấy, thì ông cứ khư khư với những thói quen tư duy, cảm thọ và hành động cũ, rồi trút mọi trách móc lên Ta. Ta chẳng có gì mà ông không có. Hiểu biết chính mình không phải là một món tài sản để có thể cho và nhận. Nó hoàn toàn là một cảnh giới mới, trong đó không có gì để cho và nhận.
H: Ít ra ông có thể cho chúng tôi một sự hiểu biết nào đó về nội dung của tâm ông trong lúc ông sống cuộc sống thường ngày.
Ăn, uống, trò chuyện và ngủ - ông cảm thấy thế nào?
M: Đối với những sinh hoạt thường ngày của đời sống: Ta kinh nghiệm cũng như ông. Sự khác biệt là những gì Ta không kinh nghiệm: Ta không sợ hãi, tham lam, sân hận. Ta không van xin, không từ chối, và không giữ lại bất cứ gì. Ta không lừng khừng trong những cái như thế. Có lúc đó là sự khác biệt nổi bật giữa ông và Ta. Ta không lừng khừng, Ta rất thật với chính Ta, trong khi ông sợ hãi thực tại.
H: Theo quan điểm của người phương Tây, có một cái gì đó bất ổn trong cách của ông. Ngồi một mình trong một góc nào đó, và lải nhải: “Ta là Thượng đế, Thượng đế là Ta” thì rõ ràng là điên. Làm sao có thể thuyết phục một người phương Tây rằng những cách tu tập như thế sẽ đưa đến sự sáng suốt tối thượng?
M: Cả người tự xưng là Thượng đế, lẫn kẻ hoài nghi Thượng đế đều bị đánh lừa. Họ nói trong chiêm bao.
H: Nếu tất cả đều là chiêm bao thì cái gì tỉnh thức?
M: Làm sao có thể mô tả trạng thái tỉnh thức bằng ngôn ngữ của xứ chiêm bao. Ngôn từ không thể diễn tả, chúng chỉ là những biểu tượng.
H: Một lần nữa ông lại viện cớ rằng ngôn từ không thể chuyên chở thực tại.
M: Nếu ông muốn ngôn từ, Ta sẽ cho ông một số cổ tự đầy công năng. Ông cứ tụng những cổ tự đó và chúng sẽ đem lại sự màu nhiệm.
H: Ông nghiêm túc đấy chứ? Ông bảo một người phương Tây lập đi lập lại những tiếng “Om”, “Ram”, “Hare Krishna” bất kể người đó không có chút tín tâm, và sự tin tưởng phát sinh từ một nền văn hóa và tôn giáo đúng đắn. Nếu không có sự tin tưởng và lòng nhiệt thành, mà chỉ lập đi lập lại một cách máy móc một số tiếng nào đó, thì liệu một người có đạt được gì không?
M: Tại sao không? Chính sự thúc giục, động cơ tiềm ẩn mới quan trọng, chứ không phải hình thức của nó. Nếu chỉ vì mục đích tìm kiếm cái Ta chơn thật, một người dù có làm gì đi nữa thì cũng sẽ đến được với chính mình.
H: Mà không cần tin vào tính hiệu quả của phương tiện?
M: Không cần tin, tức không mong cầu kết quả. Ở đây chỉ hành động mới đáng kể. Bất cứ gì ông làm vì chân lý sẽ đưa ông đến chân lý. Chỉ cần thành khẩn và chân thật. Hình thức thể hiện chẳng quan trọng.
H: Thế thì sự biểu lộ ước muốn của mình cần thiết ở chỗ nào?
M: Không cần. Chẳng làm gì cũng tốt. Chỉ cần ước muốn, mà ước muốn đó không bị sao lãng bởi ý nghĩ và hành động; ước muốn thuần túy và tập trung sẽ đưa ông đến đích mau chóng. Chính động cơ chơn thật mới quan trọng, chứ không phải phương cách.
H: Khó tin quá! Làm sao một sự lập đi lập lại tẻ nhạt trong buồn chán, gần như tuyệt vọng, lại có kết quả?
M: Ngay chính thực tế của sự lập đi lập lại, của sự phấn đấu liên tục, tính nhẫn nại và lòng kiên trì, bất kể sự nhàm chán, tuyệt vọng, và hoàn toàn không có sự tin tưởng là vô cùng thiết yếu. Tự thân những yếu tố đó không quan trọng, nhưng sự thành khẩn đằng sau chúng mới là tất cả những gì quan trọng. Phải có một lực đẩy bên trong và một lực kéo bên ngoài.
H: Những câu hỏi của tôi là điển hình của phương Tây. Bên đó người ta suy nghĩ theo tương quan nhân quả, phương tiện và cứu cánh. Người phương Tây không thấy khả dĩ có liên quan nhân quả giữa một từ ngữ nào đó với Thực tại Tuyệt đối.
M: Chẳng có liên quan nào cả. Nhưng có sự liên quan giữa từ ngữ và ý nghĩa của nó, giữa hành động và nguyên do. Tu tập tâm linh là ý chí được khẳng định và tái khẳng định. Người không táo bạo thì khi được cho cái thật cũng không dám nhận. Sự ngần ngại phát sinh từ sợ hãi là chướng ngại duy nhất.
H: Có cái gì để sợ?
M: Cái không thể biết. Cái không hiện hữu, không biết, không
làm. Cái bên ngoài.
H: Ý ông muốn nói là ông có thể chia sẻ phương cách đã đưa ông đến chứng đắc, nhưng ông không thể chia sẻ được kết quả?
M: Dĩ nhiên là Ta có thể chia sẻ được kết quả, và Ta luôn luôn làm như thế. Nhưng ngôn ngữ của Ta là ngôn ngữ im lặng. Hãy học cách lắng nghe và hiểu.
H: Tôi không cho rằng một người có thể bắt đầu mà không có sự tin tưởng.
M: Hãy ở với Ta một thời gian, hoặc dành hết tâm trí cho những gì Ta nói, và làm theo, rồi sự tin tưởng sẽ khởi sinh.
H: Không phải ai cũng có dịp gặp ông.
M: Hãy gặp cái Ta của chính ông. Hãy ở với cái Ta của chính ông, lắng nghe nó, tuân theo nó, yêu quí nó, lúc nào cũng để nó trong tâm. Ông chẳng cần sự hướng dẫn nào khác. Chừng nào sự thôi thúc đi tìm chân lý của ông tác động đến đời sống thường ngày của ông thì tất cả mọi chuyện đều tốt đẹp đối với ông. Hãy sống cuộc sống của ông và đừng gây đau khổ cho ai. Không hại người là một hình thức Yoga mãnh liệt nhất, nó sẽ đưa ông đến đích của ông một cách nhanh chóng. Ta gọi đó là Nisarga Yoga - Yoga Tự Nhiên. Đó là nghệ thuật sống trong sự an lạc và hài hòa, trong sự thân thiện và tình yêu. Quả của nó là hạnh phúc, sẵn có và vô tận.
H: Tuy nhiên, tất cả những điều này vẫn hàm ý một sự tin tưởng nào đó.
M: Hãy quay vào trong và ông sẽ tin tưởng chính ông. Còn mọi chuyện khác, sự tin tưởng sẽ đến cùng với kinh nghiệm.
H: Khi một người bảo tôi rằng người đó biết một cái gì đó mà tôi không biết, thì tôi có quyền hỏi lại: “Cái gì là cái ông biết mà tôi không biết?”
M: Nếu người đó bảo ông cái đó không thể diễn tả được bằng ngôn từ?
H: Thế thì tôi quan sát kỹ người đó và cố tìm ra.
M: Đó chính là điều mà Ta muốn ông làm! Hãy quan tâm, chú
ý, cho đến khi một sự hiểu biết lẫn nhau được dựng lập. Lúc đó sự chia sẻ sẽ dễ dàng. Thật ra mà nói, tất cả sự giác ngộ chỉ là chia sẻ. Ông nhập vào một ý thức rộng lớn hơn và chia sẻ trong đó. Ngần ngại đi vào và chia sẻ là chướng ngại duy nhất. Ta không bao giờ nói về sự khác biệt, vì đối với Ta sự khác biệt không hề có. Ông cho là có, vậy hãy chỉ những khác biệt đó cho Ta xem. Bằng mọi cách, hãy chỉ cho Ta thấy những khác biệt. Để hiểu vì sao đối với Ta không có sự khác biệt thì ông phải hiểu Ta, và lúc đó ông sẽ không còn nói đến những khác biệt. Hiểu thấu đáo một điều, và như thế là ông đã đến. Sự ngăn trở không cho ông biết không phải là vắng thiếu cơ hội, mà là vắng thiếu khả năng tập trung trong tâm ông cái ông muốn hiểu. Nếu ông giữ được trong tâm cái ông không biết thì nó sẽ phơi bày những bí mật của nó với ông. Nhưng nếu ông hời hợt và thiếu kiên nhẫn, không đủ nhiệt tình để quan sát và chờ đợi, thì ông chỉ là một đứa trẻ khóc lóc đòi trăng.
CHƯƠNG 38. KHÔNG CÓ GÌ TỰ TỒN TẠI
Hỏi: Khi nghe ông nói, tôi nhận thấy có hỏi ông cũng vô ích. Dù tôi đặt câu hỏi theo cách nào thì cũng bị ông bẻ ngược trở lại, và đưa tôi đến một thực tế căn bản là tôi sống với ảo tưởng của chính tôi tạo ra, và thực tại thì không thể diễn tả bằng ngôn từ. Ngôn từ chỉ gây thêm rắc rối, và cách không ngoan nhất là im lặng tìm kiếm bên trong.
Maharaj: Xét cho cùng, chính tâm tạo ra ảo tưởng và cũng chính tâm hóa giải nó. Ngôn từ có thể làm cho ảo tưởng thêm kiên cố, nhưng ngôn từ cũng có thể làm cho ảo tưởng tan biến. Chẳng có gì là không đúng trong sự lập đi lập lại cùng một sự thật cho đến khi nó trở thành thực tại. Việc làm mẹ đâu phải đã xong sau khi sinh con ra. Bà còn phải nuôi nấng cho đến khi nó không còn cần đến bà nữa. Người ta cần nghe ngôn từ, cho đến khi các sự kiện thực tế nói với họ còn to hơn cả ngôn từ.
H: Như thế chúng tôi là trẻ con được nuôi sống bằng ngôn từ?
M: Bao giờ còn cho ngôn từ là quan trọng thì ông còn là trẻ con.
H: Được, vậy hãy làm mẹ chúng tôi.
M: Đứa trẻ ở đâu trước khi nó được sinh ra? Thế không phải nó đã có sẵn trong bà mẹ? Vì đã có sẵn trong bà mẹ nên nó mới được sinh ra.
H: Chắc chắn bà mẹ đã không mang đứa con khi chính bà ấy còn là một đứa trẻ.
M: Tiềm năng thì bà ấy đã là mẹ. Hãy vượt ra khỏi ảo tưởng về thời gian.
H: Câu trả lời của ông lúc nào cũng giống nhau. Một cái đồng hồ điểm giờ lập đi lập lại.
M: Còn cách nào khác. Giống như một mặt trời được phản chiếu trong hàng triệu giọt sương, cái phi thời cũng được lập lại một cách vô tận như thế. Khi lập đi lập lại: “Ta hiện hữu, Ta hiện hữu” thì Ta chỉ khẳng định và tái khẳng định một thực tế thường tại (ever-present). Ông nhàm chán ngôn từ của Ta vì ông không thấy được chân lý sống động đằng sau chúng. Tiếp xúc với cái chân lý sống động đó thì ông sẽ nhận ra đầy đủ ý nghĩa của cả ngôn từ và của sự im lặng.
H: Ông bảo rằng đứa bé gái đã là mẹ của đứa trẻ tương lai. Tiềm năng thì đúng. Hiện thực thì không.
M: Tiềm năng trở thành hiện thực bởi tư duy. Thân xác và những hệ lụy của nó chỉ tồn tại trong tâm.
H: Và tâm là ý thức khi động, và ý thức là một phương diện đã bị điều kiện hóa - Saguna - của cái Ta. Cái không bị điều kiện hóa - Nirguna - là một phương diện khác. Bên ngoài là sự bao la của cái tuyệt đối - Paramartha.
M: Đúng thế - ông diễn tả một cách tuyệt vời.
H: Nhưng với tôi đó chỉ là ngôn từ suông. Nghe và lập lại suông chưa đủ, cần phải chứng nghiệm chúng.
M: Chẳng có gì ngăn cản được ông, nhưng vì mải mê với bên ngoài nên ông mất đi sự chú ý với bên trong. Không có cách nào khác, ông không thể bỏ qua sự tu tập. Ông phải quay lưng lại với thế giới và đi vào trong, cho đến khi bên ngoài và bên trong nhập làm một; lúc đó ông có thể vượt ra khỏi cái bị điều kiện hóa, dù bên trong hay bên ngoài.
H: Chắc chắn cái không bị điều kiện hóa cũng chỉ là một ý nghĩ trong cái tâm bị điều kiện hóa. Tự thân cái không bị điều kiện hóa không tồn tại.
M: Không có gì tự tồn tại. Mọi cái đều cần cái chính nó không có. Hiện hữu, có nghĩa là hiện hữu một cách minh thị, hiện hữu ở đây chứ không phải ở kia, hiện hữu ngay bây giờ chứ không phải vào lúc đó, hiện hữu như thế chứ không thể nào khác. Cũng như nước có hình thể của vật chứa nó, thì mọi cái đều được quyết định bởi nhiều điều kiện khác nhau. Cũng như nước vẫn là nước dù vật chứa nó có hình dáng ra sao, ánh sáng vẫn là ánh sáng dù cho màu sắc được nó làm cho hiển lộ là màu gì, thì cái thật vẫn là thật bất kể những điều kiện mà qua đó nó được phản ảnh. Tại sao chỉ giữ ảnh phản chiếu trong tiêu điểm của ý thức? Mà không phải chính cái thật?
H: Tự thân ý thức là ảnh phản chiếu. Làm sao nó giữ được cái thật?
M: Biết được ý thức và nội dung của nó chỉ là những ảnh phản chiếu, biến dịch và vô thường - là thấy rõ cài thật. Không thấy con rắn trong sợi dây thừng là điều kiện ắt có để thấy sợi dây thừng.
H: Chỉ ắt có, hay còn và đủ?
M: Một người cần phải thấy sợi dây thừng và sợi dây thừng đó trông giống một con rắn. Tương tự như thế, một người phải biết rằng cái thật tồn tại và cái thật đó thuộc về bản thể của ý thức nhân chứng. Dĩ nhiên là nó ở bên ngoài nhân chứng, nhưng muốn thể nhập nó thì trước tiên cần phải nhận ra trạng thái nhân chứng thuần túy. Khi biết rõ các điều kiện, người ta biết được cái không bị điều kiện hóa.
H: Liệu cái không bị điều kiện hóa có thể được chứng nghiệm?
M: Biết cái bị điều kiện hóa là bị điều kiện hóa - là tất cả những gì có thể nói về cái không bị điều kiện hóa. Một ngôn từ khẳng định chỉ là những gợi ý và gây ngộ nhận.
H: Liệu chúng ta có thể nói về nhân chứng cái thật?
M: Làm sao được? Chúng ta chỉ có thể nói về cái không thật, cái hư giả, cái vô thường, cái bị điều kiện hóa. Muốn vượt ra ngoài, chúng ta phải trải qua một tiến trình phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại độc lập của mọi vật. Tất cả mọi thứ đều tùy thuộc.
H: Chúng tùy thuộc vào cái gì?
M: Vào ý thức. Và ý thức lại tùy thuộc vào nhân chứng.
H: Và nhân chứng tùy thuộc vào cái thật?
M: Nhân chứng là sự phản chiếu của cái thật trong trạng thái thuần nhất của nó. Nhân chứng còn tùy thuộc vào điều kiện của tâm. Khi nào sự trong sáng và tính vô tư chiếm ưu thế thì ý thức nhân chứng xuất hiện. Cũng như khi nói chỗ nào nước trong và lặng thì hình ảnh của mặt trăng xuất hiện. Hay, cũng như ánh sáng lấp lánh trong kim cương.
H: Liệu có thể có ý thức mà không có nhân chứng?
M: Không có nhân chứng thì ý thức trở thành vô thức, chỉ có sự sống. Nhân chứng tàng ẩn trong mọi trạng thái của ý thức, cũng như ánh sáng tàng ẩn trong mọi màu sắc. Không thể nào có sự biết mà không có người biết, và không có người biết nếu không có nhân chứng. Không những ông biết, mà ông còn biết ông biết.
H: Nếu cái không bị điều kiện hóa không thể kinh nghiệm được, vì tất cả kinh nghiệm đều bị điều kiện hóa, vậy thì nói về nó để làm gì?
M: Làm sao ông có thể biết được cái bị điều kiện hóa nếu không có cái không bị điều kiện hóa? Phải có một cội nguồn mà từ đó tất cả mọi thứ chảy ra, một nền tảng mà tất cả đều đứng trên đó.
Nhận ra chính mình là trước tiên biết rõ sự điều kiện hóa của chính mình, và biết rõ rằng vô số trạng thái khác nhau của các điều kiện đều tùy thuộc vào khả năng vô biên của chúng ta để được điều kiện hóa và tạo ra những trạng thái khác nhau. Đối với cái tâm bị điều kiện hóa thì cái không bị điều kiện hóa xuất hiện như là cái tất cả, và cũng là cái không gì cả. Cả hai đều không thể được kinh nghiệm trực tiếp, nhưng không có nghĩa là không tồn tại.
H: Không phải nó là một cảm thọ?
M: Cảm thọ cũng là một trạng thái của tâm. Giống như một thân thể khỏe mạnh không kêu gọi sự chú ý thì cái không bị điều kiện hóa không có trong kinh nghiệm. Lấy kinh nghiệm cái chết làm ví dụ. Người thường rất sợ chết, vì họ sợ sự thay đổi. Người giác ngộ không sợ chết vì tâm của người giác ngộ đã chết. Người giác ngộ không nghĩ: “Ta sống.” Người giác ngộ biết: “Có sự sống.” Trong đó không có sự thay đổi và không có sự chết. Cái chết xuất hiện như một sự thay đổi trong thời gian và không gian. Nếu không có thời gian và không gian, làm sao có cái chết? Người giác ngộ đã chết đi đối với tất cả danh xưng và hình tướng. Vậy sự mất đi của hình tướng và danh xưng làm sao có thể ảnh hưởng đến người giác ngộ? Người ở trên tàu di chuyển từ nơi này đến nơi khác, người ở ngoài con tàu thì chẳng đi đâu, vì người đó không bị ràng buộc bởi một nơi đến. Người đó không có chỗ nào để đi đến, không có gì để làm, và không có gì để trở thành. Những ai đặt ra kế hoạch, dự tính thì được sinh ra để thực hiện kế hoạch, dự tính. Những ai không đặt ra kế hoạch, dự tính thì không cần thiết phải được sinh ra.
H: Mục đích của đau khổ và lạc thú là gì?
M: Thế chúng tự tồn tại, hay chỉ ở trong tâm.
H: Nhưng chúng vẫn tồn tại. Đừng bận tâm đến tâm.
M: Đau khổ và lạc thú chỉ là những hiện tướng, là kết quả của hiểu biết sai lầm và cảm thọ sai lầm. Một kết quả thì không thể có mục đích của chính nó.
H: Trong sự cai quản của Thượng đế, mọi thứ đều có một mục đích riêng.
M: Ông có biết Thượng đế không mà sao ông lại nói về Thượng đế một cách tùy tiện như thế? Theo ông Thượng đế là gì? Một âm thanh, một chữ viết trên giấy, hay là một ý tưởng trong tâm?
H: Chính nhờ quyền năng của Thượng đế, tôi mới được sinh ra và được duy trì sự sống.
M: Và đau khổ, và chết đi. Ông vui chứ?
H: Tôi đã được tạo ra cho cuộc sống vĩnh cửu. Có thể là do lỗi lầm của tôi mà tôi đau khổ và chết đi.
M: Tại sao vĩnh cửu lại ở trong tương lai, mà không phải trong quá khứ. Cái gì có sự bắt đầu thì phải có sự chấm dứt. Chỉ cái vô thủy mới vô chung.
H: Có thể Thượng đế đơn thuần chỉ là một quan niệm, một lý thuyết có thể chấp nhận được. Một quan niệm rất hữu ích thì cũng tốt vậy!
M: Muốn vậy thì quan niệm đó phải hoàn toàn không còn những mâu thuẫn nội tại, nhưng nó không phải là trường hợp ở đây. Tại sao không thử tư duy lý thuyết: Ông vừa là người sáng tạo vừa là vật được sáng tạo. Theo đó thì ít ra là chẳng có Thượng đế nào ở bên ngoài để ông đấu tranh với.
H: Thế giới thì quá phong phú và phức tạp - làm sao tôi có thể tạo ra nó?
M: Ông có thật sự biết rõ chính ông, để biết ông có thể và không thể làm được những gì? Ông không hay biết gì về những quyền năng của chính ông. Ông chẳng bao giờ tìm hiểu điều đó.
Hãy bắt đầu với chính ông ngay bây giờ.
H: Mọi người đều tin vào Thượng đế.
M: Theo Ta ông là Thượng đế của chính ông. Nhưng nếu ông nghĩ khác thì hãy nghĩ cho đến cùng. Nếu có Thượng đế, thì tất cả đều là của Thượng đế và tất cả đều vì mục đích tốt lành nhất. Hãy đón nhận tất cả những gì đến với ông bằng một tấm lòng vui vẻ và biết ơn. Hãy yêu thương tất cả mọi loài. Bằng cách này ông cũng có thể đến được với cái Ta của chính ông.
CHƯƠNG 39. CHỈ CÁI TA LÀ THẬT
Maharaj: Thế giới chỉ là một vở tuồng, trông hào nhoáng nhưng rỗng tuếch. Nó vừa có mà vừa không. Chừng nào Ta muốn thấy và tham dự trong đó thì nó có. Khi Ta không còn để ý thì nó biến mất. Nó không có nguyên nhân và cũng chẳng phục vụ cho một mục đích nào. Nó chỉ xảy ra khi chúng ta đãng trí. Nó xuất hiện một cách chính xác như cái vẻ bề ngoài của nó, nhưng bên trong nó không có chiều sâu mà cũng chẳng có ý nghĩa. Chỉ có người chứng kiến là thật, gọi người đó là Ta hay Tiểu Ngã - Atma. Đối với cái Ta thế giới chỉ là một vở tuồng đầy mầu sắc, cái Ta thưởng thức vở tuồng chừng nào nó còn đó, và quên mất vở tuồng khi nó kết thúc. Bất cứ gì diễn ra trên sân khấu đều làm cái Ta rùng mình sợ hãi, hay ôm bụng cười, nhưng cái Ta luôn luôn biết đó là một vở tuồng. Cái Ta thưởng thức vở tuồng như đang diễn ra, mà không hề tham ái hay lo sợ.
Hỏi: Con người dù đắm chìm trong thế giới nhưng vẫn có một cuộc đời đầy hương vị. Con người khóc, cười, yêu và ghét, ước muốn và lo sợ, đau khổ và vui sướng. Còn cuộc đời của một Gnani - người không còn tham ái và lo sợ - thì thế nào? Gnani có xa rời thực tế trong thái độ xa cách của mình?
M: Cảnh giới của Gnani không hoang lieu đến thế đâu. Nó có hương vị của sự an lạc thuần túy, sẵn có và không thể tan loãng. Người giác ngộ thì hạnh phúc và hoàn toàn biết rõ hạnh phúc là bản tánh của mình, người giác ngộ không cần phải làm gì, mà cũng chẳng cần phấn đấu để được nó. Hạnh phúc theo liền với người giác ngộ; nó thật hơn cả thân xác, và gần hơn cả tâm. Ông tưởng rằng không có nguyên nhân thì không thể có hạnh phúc. Tùy thuộc vào bất cứ gì để có hạnh phúc, đối với Ta, là vô cùng khốn khổ.
Lạc thú và đau khổ có nguyên nhân, còn trạng thái của Ta là của chính Ta, hoàn toàn phi nhân duyên, bất tùy thuộc và bất khả xâm phạm.
H: Cũng giống như một vở kịch trên sân khấu?
M: Vở kịch được viết ra, được dàn dựng, và được diễn tập. Còn thế giới đột nhiên xuất hiện từ cái không, rồi trở về với cái không.
H: Không có người tạo ra nó? Vậy không phải thế giới ở trong tâm của Đại Ngã - Brahma - trước khi nó được tạo ra?
M: Chừng nào còn ở bên ngoài trạng thái của Ta thì ông còn có các Đấng Tạo Hóa, Đấng Giữ Gìn, Đấng Hủy Diệt, nhưng một khi đã thể nhập với Ta thì ông chỉ còn biết cái Ta, và thấy chính ông trong tất cả.
H: Dù sao thì ông vẫn hành động.
M: Khi bị chóng mặt ông thấy thế giới quay cuồng. Bị ám ảnh với ý nghĩ cứu cánh và phương tiện, việc làm và mục đích, nên ông thấy Ta có vẻ đang hành động. Thật ra, Ta chỉ quan sát. Bất cứ gì được thực hiện, chỉ ở trên sân khấu. Vui sướng và đau khổ, sống và chết chỉ thật đối với những ai còn bị ràng buộc; còn đối với Ta tất cả những cái đó chỉ diễn ra trong vở kịch, và cũng hư cấu như chính vở kịch.
Có thể Ta cảm nhận thế giới cũng như ông, nhưng ông tin là ông ở trong đó, còn Ta thấy nó như một giọt óng ánh trong đại dương bao la của ý thức.
H: Chúng ta đều trở nên già nua. Tuổi già thì chẳng vui thú gì - đau đớn và bệnh hoạn, suy yếu và cái chết đến gần. Là một người cao niên, bậc giác ngộ cảm thấy thế nào? Cái Ta bên trong của bậc giác ngộ nhìn sự lãi suy của chính mình ra sao?
M: Càng về già người giác ngộ càng an lạc. Xét cho cùng thì người ấy đang về nhà. Cũng như một lữ khách sắp sửa đến đích, gom góp hành lý và rời con tầu không chút lưu luyến.
H: Rõ ràng là có một sự mâu thuẫn. Chúng tôi được biết Gnani ở ngoài mọi thay đổi. Hạnh phúc của bậc giác ngộ bất tăng bất giảm. Làm sao Gnani lại vui mừng vì già đi, chưa kể đến sự lão suy của thân xác, và những phiền trược khác.
M: Chẳng có gì mâu thuẫn. Vòng quay của định mệnh sắp ngừng - tâm mừng vui. Tấm màn của sự tồn tại thân xác được kéo lên - gánh nặng thân xác ngày một trở nên nhẹ dần.
H: Giả sử như Gnani bị ốm. Vị ấy bị cúm và các khớp xương đau nhức. Trạng thái trong tâm của Gnani lúc đó như thế nào?
M: Mọi cảm thọ đều được quan sát trong sự thanh thản tuyệt đối. Không có sự mong cầu và cũng không có sự từ khước một cảm thọ nào. Nó như thế là nó như thế, và người giác ngộ nhìn nó với một nụ cười vô tư trìu mến.
H: Gnani có thể tách ra khỏi sự đau đớn của chính mình, nhưng sự đau đớn vẫn còn đó.
M: Sự đau đớn có đó nhưng chẳng có gì quan trọng. Dù ở trong bất cứ trạng thái nào, Ta cũng đều thấy đó là một trạng thái của tâm và chấp nhận như chính nó là.
H: Đau đớn là đau đớn. Ông vẫn phải kinh nghiệm nó thôi.
M: Người nào kinh nghiệm thân xác thì kinh nghiệm đau khổ và lạc thú của thân xác. Ta không phải thân xác mà cũng chẳng phải người kinh nghiệm thân xác.
H: Giả sử bây giờ ông hai mươi lăm tuổi. Việc lập gia đình đã được sắp xếp và hoàn tất, trách nhiệm gia đình đè nặng lên ông. Ông cảm thấy thế nào?
M: Cũng giống như Ta đang cảm thấy bây giờ. Ông cứ khăng khăng cho rằng trạng thái nội tâm của Ta được đúc nặn từ các sự kiện bên ngoài. Không phải vậy. Bất cứ gì xảy ra thì Ta vẫn như thế. Ở ngay gốc rễ sự hiện hữu của Ta là tánh biết thuần túy, một điểm sáng chói lọi. Điểm sáng này, do bản thể của nó, chiếu sáng và tạo ra những hình ảnh trong không gian và diễn tiến trong thời gian - một cách dễ dàng và tùy nghi. Chừng nào nó chỉ biết thuần túy thì chẳng có gì xảy ra. Nhưng khi tâm phân biệt xuất hiện và tạo ra những tính cách khác biệt thì lạc thú và đau khổ khởi sinh. Trong khi ngủ, tâm ở trong trạng thái trống vắng, đau khổ và lạc thú cũng vậy. Tiến trình sáng tạo vẫn tiếp tục nhưng không có sự chú ý. Tâm là một hình thức của ý thức, và ý thức là một phương diện của sự sống. Sự sống tạo ra tất cả, còn cái Tối Thượng ở bên ngoài tất cả.
H: Cái Tối Thượng là chủ nhân và ý thức là tôi tớ?
M: Vị chủ nhân ở trong ý thức, chứ không ở ngoài ý thức. Trong tương quan với ý thức - cái Tối thượng vừa là sự sáng tạo vừa là sự xóa bỏ, vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa là tâm điểm vừa là vũ trụ. Mà nó cũng không phải những cái nói trên. Ngôn từ không thể đạt đến nó, mà tâm cũng thế.
H: Gnani có vẻ là một sự hiện hữu rất cô độc, hoàn toàn chỉ có một mình.
M: Người giác ngộ thì đơn độc, nhưng cũng là tất cả. Thậm chí người giác ngộ cũng không phải là một sự hiện hữu. Người giác ngộ là sự hiện hữu của tất cả mọi hiện hữu. Mà cũng không phải thế. Không ngôn từ nào có thể áp dụng. Người giác ngộ là cái mà người ấy là, người giác ngộ là đất mà từ đó tất cả mọc ra.
H: Ông không sợ chết sao?
M: Để Ta kể cho ông nghe Tôn sư của Ta đã chết như thế nào. Sau khi thông báo là sự kết thúc cận kề, ngài không ăn gì nữa, nhưng vẫn giữ nguyên sinh hoạt thường nhật. Đến ngày thứ mười một, vào giờ cầu nguyện ngài hát và vỗ tay thật to rồi hốt nhiên thị tịch! Đúng như thế, giữa hai khoảnh khắc, như một ngọn nến bị thổi tắt. Người ta sống thế nào thì chết thế ấy. Ta không sợ chết vì Ta không sợ sống. Ta sống một cuộc sống hạnh phúc và Ta sẽ chết một cái chết hạnh phúc. Sinh ra thì khổ nhưng chết thì không. Tất cả đều tùy thuộc vào cách ông nhìn nó.
H: Không thể có bằng chứng nào về trạng thái của ông. Tất cả những gì tôi biết là do ông nói lại. Tất cả những gì tôi thấy là một ông già độc đáo.
M: Ông là một ông già độc đáo, chứ không phải Ta! Chưa bao giờ Ta được sinh ra. Làm sao Ta già? Ta xuất hiện như thế nào đối với ông thì chỉ tồn tại trong tâm ông. Ta chẳng quan tâm đến nó.
H: Dù là một giấc chiêm bao, ông vẫn là một giấc chiêm bao lạ thường nhất.
M: Ta là giấc chiêm bao có thể làm ông tỉnh giấc. Ông sẽ có bằng chứng về nó ngay khi ông chợt tỉnh.
H: Giả sử, ông được tin tôi chết. Có người đến báo với ông: “Ông biết ông đó chứ? Ông ấy chết rồi.” Phản ứng của ông sẽ như thế nào?
M: Ta sẽ vui mừng vì có ông về nhà. Thật sự vui mừng khi thấy ông thoát khỏi sự ngu xuẩn.
H: Sự ngu xuẩn nào?
M: Sự ngu xuẩn của ý nghĩ cho rằng ông đã được sinh ra và chết đi, ông là một thân xác tiêu biểu cho một cái tâm, và tất cả những thứ vớ vẩn như thế. Trong thế giới của Ta không có ai được sinh ra và cũng chẳng có ai chết đi. Có người đi xa rồi trở về, có người chẳng bao giờ đi đâu. Mà thật ra thì chẳng có gì khác biệt vì họ chỉ đi chơi xứ chiêm bao, mỗi người được gói trọn trong giấc chiêm bao của riêng mình. Chỉ sự thức tỉnh mới quan trọng. Biết được cái “Ta hiện hữu” là thực tại và cũng là tình yêu - là đủ.
H: Cách tiếp cận của tôi không được rốt ráo như thế nên mới khởi sinh câu hỏi. Ở khắp phương Tây người ta đi tìm một cái gì đó chơn thật. Họ trông cậy vào khoa học, mà khoa học cho họ biết rất nhiều về vật, rất ít về tâm, và không có gì về bản thể và mục đích của ý thức. Đối với người phương Tây, thực tại thì khách quan, và ở bên ngoài những gì có thể quan sát được, có thể mô tả được một cách trực tiếp hay bằng suy luận; còn phương diện chủ quan của thực tại thì họ không biết gì cả. Thật vô cùng quan trọng để cho họ biết rằng có thực tại, và thực tại chỉ có thể tìm ra trong sự giải thoát ý thức khỏi vật, cùng những hữu hạn và xuyên tạc của nó. Hầu hết mọi người trên thế gian này không biết được rằng có thực tại, mà thực tại chỉ có thể được tìm thấy và chứng nghiệm trong ý thức. Nếu chính họ nghe được tin lành đó từ một người đã thân chứng thực tại thì quả là một điều vô cùng quan trọng. Những nhân chứng như thế luôn luôn tồn tại, và các chứng ngôn của họ thật vô cùng quý giá.
M: Hiển nhiên là như thế. Chân lý về sự giác ngộ chính mình, một khi đã được nghe thì không bao giờ có thể quên được. Cũng như một hạt giống đã gieo xuống đất, khi thời tiết thuận tiện sẽ đâm chồi và lớn thành một đại thụ.
CHƯƠNG 40. PHÁT HUY THÁI ĐỘ NHÂN CHỨNG
Hỏi: Trạng thái tâm của người giác ngộ hàng ngày, hàng giờ ra sao? Người giác ngộ thấy, nghe, ăn, uống, thức, ngủ, làm việc và nghỉ ngơi như thế nào? Có gì là bằng chứng về sự khác biệt giữa các trạng thái của người giác ngộ và của chúng tôi? Ngoài những xác nhận bằng ngôn từ của những người được gọi là giác ngộ thì không còn cách nào để kiểm chứng các trạng thái của họ một cách khách quan. Liệu không có những khác biệt nào có thể quan sát được qua những phản ứng sinh lý và thần kinh, trong tiến trình chuyển hóa thức ăn, qua điện não đồ, hay trong cơ cấu tương quan giữa tinh thần và thể xác của họ?
Maharaj: Ông có thể tìm ra những khác biệt, mà cũng có thể không. Tất cả đều tùy thuộc vào khả năng quan sát của ông. Tuy nhiên, những khác biệt khách quan thì ít quan trọng hơn cả. Sự quan trọng là cách nhìn, thái độ của người giác ngộ - hoàn toàn vô tư, thản nhiên và bất can thiệp.
H: Khi con của Gnani chết, Gnani có cảm thấy đau khổ không, bậc giác ngộ không còn đau khổ hay sao?
M: Người giác ngộ đau khổ với những ai đau khổ. Tự thân sự kiện đau khổ không quan trọng lắm, nhưng người giác ngộ đầy lòng từ bi đối với người đau khổ, dù còn sống hay đã chết, dù còn trong thân hay đã ra khỏi thân. Xét cho cùng, tình yêu và lòng từ bi chính là bản tánh của người giác ngộ. Người giác ngộ là Một với tất cả chúng sinh, và tình yêu là tính Một đó trong hành động.
H: Mọi người đều rất sợ chết.
M: Gnani chẳng sợ gì cả. Nhưng người giác ngộ thương xót cho kẻ sợ hãi. Xét cho cùng thì được sinh ra, sống và chết là lẽ tự nhiên. Nhưng sợ hãi thì không tự nhiên. Muốn biết như thế, dĩ nhiên, cần phải chú ý.
H: Giả sử ông đau ốm - sốt cao, đau nhức và run rẩy. Bác sĩ cho ông biết tình trạng của ông rất nguy kịch, ông chỉ còn sống vài ba ngày nữa. Phản ứng đầu tiên của ông sẽ thế nào?
M: Chẳng có phản ứng nào cả. Một cây nhang cháy hết thì cũng tự nhiên như một thân xác chết đi. Thật ra, cái chết chẳng quan trọng gì lắm. Điều quan trọng là Ta không phải thân mà cũng không phải tâm. Ta hiện hữu.
H: Chắc chắn gia đình ông sẽ tuyệt vọng. Ông sẽ nói với họ thế nào?
M: Những gì mà người ta vẫn thường nói: chẳng việc gì phải sợ, cuộc sống tiếp tục, Thượng đế sẽ che chở các người và chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau, và vân vân. Nhưng đối với Ta tất cả những chuyện rùm beng như thế chẳng có nghĩa gì cả, vì Ta không phải là cái thực thể tưởng tượng chính nó sống và chết. Ta không được sinh ra và Ta cũng không thể chết đi. Ta chẳng có gì để nhớ, hay để quên.
H: Thế còn những lời cầu nguyện cho người chết?
M: Bằng mọi cách cứ cầu nguyện cho người chết. Họ sẽ hả dạ vô cùng. Họ cảm thấy được tôn vinh. Gnani chẳng cần đến những lời cầu nguyện. Gnani chính là câu trả lời cho những sự cầu nguyện của ông.
H: Gnani hành hoạt như thế nào sau khi chết?
M: Gnani đã chết. Ông muốn Gnani chết thêm lần nữa?
H: Chắc chắn là sự hư hoại của thân xác là một biến cố quan trọng, ngay cả đối với một Gnani.
M: Chẳng có biến cố nào là quan trọng đối với Gnani, trừ khi có ai đó đạt đến mục đích tối thượng. Lúc đó chỉ có trái tim của Gnani vui mừng, mọi cái khác đều không đáng kể. Toàn thể vũ trụ là thân của người giác ngộ, tất cả sự sống là sự sống của người giác ngộ. Cũng như trong một thành phố đầy ánh sáng, một bóng đèn có tắt đi thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến toàn hệ thống; cái chết của một thân xác không ảnh hưởng gì đến cái toàn thể.
H: Cái cá thể có thể chẳng quan trọng đối với cái toàn thể, nhưng nó quan trọng với cái cá thể. Cái toàn thể chỉ là trừu tượng, còn cái cá thể, cái cụ thể mới thật có.
M: Đó là ông nói. Đối với Ta thì ngược lại - cái toàn thể mới là thật, cái thành phần đến rồi đi. Cái cá thể được sinh ra và tái sinh, thay tên đổi dạng, Gnani là Thực tại Bất biến, và cái bất biến đó làm cho cái thay đổi khả hữu. Nhưng Gnani không thể ban cho ông sự tin tưởng. Sự tin tưởng chỉ đến với sự thân chứng của ông.
Đối với Ta tất cả là một, tất cả đều bình đẳng.
H: Vậy tội lỗi và đức hạnh là một, và như nhau?
M: Những cái đó chỉ là giá trị của con người đặt ra! Chúng là gì đối với Ta? Cái gì chấm dứt trong hạnh phúc là đức hạnh, cái gì kết thúc trong đau khổ là tội lỗi. Cả hai đều là những trạng thái của tâm. Công đức của Ta không phải là trạng thái của tâm.
H: Chúng tôi như những người mù, hoàn toàn không hiểu thấy là gif.
M: Ông có thể diễn tả theo cách nào thì tùy ý.
H: Thực hành sự im lặng như một phép tu, có hiệu nghiệm không?
M: Bất cứ gì ông làm vì sự giác ngộ đều đưa ông đến gần đích hơn. Bất cứ gì ông làm mà không nhớ nghĩ đến sự giác ngộ đều làm ông chậm lại. Nhưng việc gì phải rắc rối? Chỉ cần biết ông ở trên và ở ngoài mọi sự vật và ý nghĩ. Cái mà ông muốn là, thì ông đã là cái đó. Hãy nhớ điều đó trong tâm.
H: Tôi nghe điều ông nói, nhưng không thể tin được.
M: Trước kia Ta cũng vậy. Nhưng Ta tin tưởng tôn sư và ngài đã chứng tỏ là đúng thật. Nếu có thể thì hãy tin Ta. Giữ trong tâm điều Ta nói với ông: Đừng mong cầu chi vì ông không thiếu gì cả.
Chính sự tìm kiếm ngăn trở sự phát hiện của ông.
H: Ông có vẻ thờ ơ với tất cả mọi thứ!
M: Không phải Ta thờ ơ, mà Ta không thiên vị. Ta không dành sự ưa thích cho cái Ta và cái của Ta. Một rổ đất hay một rổ châu báu đối với Ta đều không cần thiết. Sống và chết đối với Ta cũng như nhau.
H: Chính sự không thiên vị làm cho ông thờ ơ.
M: Trái lại, từ bi và tình yêu là cốt tủy của Ta. Vì không có gì là riêng tư, nên Ta tự do yêu thương.
H: Đức Phật dạy rằng ý tưởng giác ngộ vô cùng quan trọng. Nhiều người suốt đời không hề biết đến chuyện như là giác ngộ, huống hồ là tinh tấn để giác ngộ. Một khi người ta được nghe nói về sự giác ngộ, tức là một hạt giống đã được gieo và không thể nào mất đi được. Vì vậy, Đức Phật thường phái các tỳ kheo đi khắp nơi thuyết pháp ròng rã suốt tám tháng mỗi năm.
M: Tôn sư vẫn thường bảo “Một người có thể bố thí thực phẩm, quần áo, chỗ ở, kiến thức, tình cảm, nhưng sự bố thí cao thượng nhất vẫn là chân lý về sự giác ngộ.” Ông nói đúng, giác ngộ là sự tốt lành cao thượng nhất. Một khi đã có được nó thì không ai có thể tước đoạt của ông.
H: Nói như ông thế này ở phương Tây người ta sẽ cho là ông điên.
M: Dĩ nhiên là họ có thể nghĩ như thế. Đối với những kẻ vô minh, bất cứ gì không hiểu họ đều cho là điên rồ. Có sao đâu? Cứ để kệ họ như họ là. Ta là như Ta là, không phải vì công đức của Ta - và họ là như họ là, không phải vì lỗi lầm của họ. Thực tại Tối thượng thể hiện tự thân bằng nhiều cách. Danh xưng và hình tướng của Thực tại thì vô số. Tất cả dấy khởi, tất cả hội nhập vào cùng một đại dương, nguồn gốc của tất cả chỉ có một. Tìm kiếm nhân quả chỉ là trò giải trí của tâm. Cái đang là thì đáng yêu. Tình yêu không phải là một kết quả, mà chính là nền tảng của hiện hữu. Dù đi bất cứ đâu, ông cũng đều tìm thấy hiện hữu, ý thức và tình yêu. Tại sao và việc gì phải đặt ra những lựa chọn?
H: Khi tiên tai như lũ lụt, động đất làm cho hàng ngàn người, hàng triệu người thiệt mạng tôi không đau lòng. Nhưng nếu có ai chết vì tay của một người khác thì tôi vô cùng đau xót. Cái bất khả tránh có vẻ uy nghi riêng của nó, nhưng sự sát hại là điều khả tránh, và, do đó xấu xa và đáng kinh tởm.
M: Tất cả xảy ra như nó xảy ra. Tai họa - dù do thiên nhiên hay con người tạo ra - xảy ra, và không cần thiết phải cảm thấy kinh tởm.
H: Làm sao mọi chuyện lại không có nguyên nhân?
M: Toàn thể vũ trụ được phản ảnh trong từng biến cố. Nguyên nhân tối hậu thì không thể truy tìm. Ngay chính cái ý tưởng tương quan nhân quả cũng chỉ là một cách suy nghĩ, một cách nói. Một sự xuất hiện phi nhân duyên là điều chúng ta không thể tưởng tượng được. Tuy nhiên, điều không thể tưởng tượng không phải là bằng chứng cho sự tồn tại của tương quan nhân quả.
H: Thiên nhiên thì vô tâm, nên vô trách. Con người có tâm nhưng tại sao lại tàn ác?
M: Nguyên nhân của tính tàn ác cũng rất tự nhiên - tính di truyền, môi trường, và vân vân. Ông kết án vội vàng quá. Đừng bận tâm với tha nhân. Hãy để ý đến tâm ông trước. Khi nhận ra rằng cả tâm của ông cũng là một phần của thiên nhiên thì tính nhị nguyên không còn nữa.
H: Có một cái gì đó bí hiểm trong điều ông nói mà tôi không thể thăm dò. Làm sao tâm có thể là một phần của thiên nhiên?
M: Vì thiên nhiên ở trong tâm; nếu không có tâm thì thiên nhiên ở đâu?
H: Nếu thiên nhiên ở trong tâm và tâm là của chính tôi thì tôi phải chế ngự được thiên nhiên, nhưng không phải thế. Những động lực ngoài sự kiểm soát của tôi quyết định thái độ của tôi.
M: Hãy phát huy thái độ nhân chứng, và ông sẽ nhận thấy ngay trong kinh nghiệm của chính ông rằng tính vô tư đem đến sự chuyển động. Trạng thái nhân chứng thì đầy sức mạnh, nó không hề thụ động.
CHƯƠNG 41. THỰC TẠI THÌ BẤT KHẢ DIỄN TẢ
Hỏi: Tôi nhận thấy có một cái Ta mới xuất hiện trong tôi, độc lập với cái Ta cũ. Một cách nào đó cả hai cùng tồn tại. Cái Ta cũ vẫn tiếp tục theo những cách quen thuộc; cái Ta mới cứ để mặc cái Ta cũ, nhưng không đồng hóa nó với cái Ta cũ.
Maharaj: Sự khác biệt chính giữa cái Ta cũ và cái Ta mới là gì?
H: Cái Ta cũ muốn tất cả phải được minh định và giải thích. Nó muốn mọi thứ phù hợp với nhau về mặt ngôn từ. Cái Ta mới không cần đến những giải thích bằng ngôn từ - nó chấp nhận sự vật như chúng là, và không tìm cách liên hệ sự vật với những gì đã được ghi nhớ trước đó.
M: Ông có thể biết một cách đầy đủ và thường xuyên về sự khác biệt giữa những gì thuộc thói quen và những gì thuộc tâm linh? Thái độ của cái Ta mới và cái Ta cũ như thế nào?
H: Cái Ta mới chỉ nhìn cái Ta cũ. Nó không thân thiện và cũng chẳng thù nghịch. Nó chỉ chấp nhận cái Ta cũ cùng với những thứ khác. Nó không phủ nhận sự hiện hữu của cái Ta cũ, nhưng không chấp nhận giá trị và tính cách hợp lý của cái Ta cũ.
M: Cái mới là sự phủ nhận hoàn toàn cái cũ. Cái mới được cho phép thì không phải cái mới thực sự. Nó chỉ là thái độ mới của cái cũ. Cái mới thực sự thì xóa sạch hoàn toàn cái cũ. Hai cái không thể đi đôi với nhau. Có một tiến trình từ bỏ cái Ta, một sự liên tục từ chối chấp nhận những ý tưởng và giá trị cũ, hay chỉ có một sự dung thứ lẫn nhau? Quan hệ giữa cái cũ và cái mới như thế nào?
H: Không có một sự liên hệ đặc thù nào cả. Chúng cùng tồn tại.
M: Khi nói về cái Ta cũ và cái Ta mới, ông có trong tâm cái Ta nào? Vì có sự liên tục trong ký ức giữa hai cái, cái này nhớ cái kia, làm sao ông có thể nói về hai cái Ta?
H: Một cái là nô lệ của thói quen, còn cái kia thì không. Một cái thì khái niệm hóa, còn cái kia thì hoàn toàn không còn ý niệm.
M: Làm sao lại có hai cái Ta? Giữa cái bị ràng buộc và cái tự do thì không thể có một quan hệ nào. Ngay chính thực tế của sự cùng tồn tại chứng tỏ tính duy nhất căn bản giữa chúng. Chỉ có một cái Ta - nó luôn luôn là bây giờ. Cái mà ông gọi là cái Ta kia - dù cũ hay mới - chỉ là một hình thái, một phương diện khác của cái Ta. Cái Ta chỉ có một. Ông là cái Ta đó và ông có những ý tưởng về những gì ông đã và đang là, hoặc sẽ là. Nhưng một ý tưởng thì không phải cái Ta. Ngay bây giờ đây, trong lúc ông đang ngồi trước mặt Ta thì cái Ta nào là ông? Cái cũ hay cái mới?
H: Hai cái xung đột lẫn nhau?
M: Làm sao có thể có xung đột giữa cái là và cái không phải là? Xung đột là bản chất của cái cũ. Khi cái mới xuất hiện thì cái cũ biến mất. Ông không thể nói về cái mới và cái xung đột trong cùng một hơi thở. Ngay cả nỗ lực phấn đấu để đạt đến cái Ta mới cũng thuộc về cái cũ. Ở đâu có xung đột, cố gắng, đấu tranh, phấn đấu, mong cầu một sự thay đổi, thì ở đó không thể có cái mới. Ông thoát khỏi khuynh hướng có tính cách thói quen tạo ra xung đột, và làm cho xung đột luôn luôn xảy ra - đến chừng mực nào?
H: Tôi không thể nói rằng bây giờ tôi là một con người khác. Nhưng tôi đã phát hiện những điều mới về chính tôi, những trạng thái rất khác với những gì tôi đã biết trước kia, nên tôi nhận thấy gọi chúng là mới thì rất chính đáng.
M: Cái Ta cũ là cái Ta của chính ông. Trạng thái đột nhiên xuất hiện, phi nhân duyên, không mang một vết tích nào của cái Ta
- ông có thể gọi nó là Thượng đế. Cái không mầm mống, không gốc rễ, cái không đâm chồi, mọc lên, ra hoa và kết quả, cái đột nhiên xuất hiện với tất cả sự huy hoàng một cách kỳ bí và lạ thường, ông có thể gọi cái đó là Thượng đế. Nó hoàn toàn bất ngờ nhưng chắc chắn xảy ra, vô cùng quen thuộc nhưng rất ngạc nhiên, ngoài mọi hy vọng nhưng tuyệt đối chắc chắn. Vì nó vô nhân duyên, nên nó vô chướng ngại. Nó chỉ tuân theo một quy luật duy nhất: quy luật tự do. Bất cứ gì hàm ý một sự liên tục, tiếp nối, một sự trải qua từ giai đoạn này đến giai đoạn khác thì không thể là cái chơn thật. Trong thực tại không hề có một tiến trình nào. Thực tại là chung cuộc, toàn hảo, và phi quan hệ.
H: Làm sao tôi có thể làm cho nó xảy ra?
M: Ông không thể làm gì cho nó xảy ra, nhưng ông có thể tránh tạo ra những chướng ngại. Hãy quan sát tâm ông xem nó xuất hiện như thế nào. Khi quan sát tâm ông, ông phát hiện chính cái Ta của ông là người quan sát. Khi ông đứng bất động, chỉ quan sát, ông sẽ phát hiện chính cái Ta của ông là ánh sáng phía sau người quan sát. Nguồn gốc của ánh sáng thì tối, không biết là nguồn gốc của biết. Chỉ có duy nhất nguồn gốc đó. Quay về với nguồn gốc đó và an trú ở đó. Nó không ở trên trời mà cũng không ở trong hư không trùm khắp. Thượng đế là tất cả những gì vĩ đại và tuyệt vời; còn Ta không là gì cả, không có gì cả, không làm gì cả nhưng tất cả đều từ Ta mà ra - cội nguồn là Ta; gốc rễ, nguyên thủy là Ta.
Khi thực tại bùng nổ trong ông, ông có thể gọi đó là sự chứng nghiệm Thượng đế. Hay, đúng hơn, là Thượng đế chứng nghiệm ông. Thượng đế biết ông khi ông biết chính ông. Thực tại không phải là kết quả của một tiến trình, nó là một vụ nổ. Thực tại chắc chắn ở ngoài tâm, và tất cả những gì ông có thể làm là biết rõ tâm ông. Không phải tâm sẽ giúp ông, nhưng nhờ biết rõ tâm mà ông có thể tránh không để tâm phá hoại ông. Ông phải vô cùng tỉnh táo, nếu không thì tâm ông sẽ lừa ông. Cũng như theo dõi một tên trộm - không phải ông mong cầu tên trộm cho ông cái gì, mà ông không muốn nó lấy gì của ông. Cũng cách đó, ông phải hết sức chú ý đến tâm ông mà không mong cầu ở nó điều chi.
Hoặc, lấy một ví dụ khác. Chúng ta thức và ngủ. Sau một ngày làm việc cơn buồn ngủ kéo đến. Vậy Ta đi ngủ hay sự mất chú ý - đặc tính của trạng thái ngủ - đến với Ta? Hay nói một cách khác - chúng ta thức vì chúng ta đang ngủ. Chúng ta không tỉnh giấc để vào một trạng thái tỉnh thức thật sự. Trong trạng thái thức, thế giới xuất hiện từ vô minh và đưa một người vào trạng thái chiêm bao thức. Cả ngủ và thức đều là những từ ngữ được dùng sai. Chúng ta chỉ chiêm bao. Chỉ người giác ngộ mới biết thức thật và ngủ thật. Chúng ta chiêm bao thấy mình thức, và chúng ta chiêm bao thấy mình ngủ. Cả ba trạng thái chỉ là những tướng trạng khác nhau của trạng thái chiêm bao. Xem tất cả như một giấc chiêm bao tức là giải thoát. Chừng nào còn cho chiêm bao là thực tại thì ông còn là nô lệ của chiêm bao. Bằng sự tưởng tượng rằng ông được sinh ra là người này người kia thì ông trở thành nô lệ cho người này người kia. Bản chất của nô lệ là sự tưởng tượng chính ông như một tiến trình, có quá khứ và tương lai, có lịch sử. Thật ra, chúng ta không có lịch sử, chúng ta không phải là một tiến trình, chúng ta không phát triển, mà cũng không thoái hóa. Xem tất cả như một giấc chiêm bao, và ở ngoài giấc chiêm bao đó.
H: Nghe lời ông thì có lợi lạc gì cho tôi?
M: Ta đang gọi ông trở về với chính ông. Tất cả những gì Ta yêu cầu ông là hãy nhìn chính ông, về hướng chính ông, vào trong chính ông.
H: Để làm gì?
M: Ông sống, ông cảm thọ, và ông tư duy. Bằng cách chú ý đến sự sống của ông, cảm thọ và ý nghĩ của ông, ông sẽ giải thoát ông khỏi chúng. Tính cách con người của ông biến mất và chỉ còn lại nhân chứng. Rồi ông vượt ra khỏi nhân chứng. Đừng hỏi điều đó xảy ra bằng cách nào. Hãy tìm kiếm trong chính ông.
H: Cái gì tạo ra sự khác biệt giữa con người và nhân chứng?
M: Cả hai đều là tướng trạng của ý thức. Trong tướng trạng
con người ông tham ái và lo sợ, trong tướng trạng nhân chứng ông không hề bị tác động bởi lạc thú và đau khổ, và không hề bị tác động bởi các sự kiện, ông để chúng đến và đi.
H: Làm sao một người có thể nhập vào trạng thái cao hơn, tức trạng thái nhân chứng thuần túy?
M: Ý thức tự nó không chiếu sáng. Ý thức chiếu sáng nhờ một ánh sáng bên ngoài nó. Sau khi thấy được tính chất chiêm bao của ý thức, hãy tìm cái ánh sáng mà trong đó ý thức xuất hiện, cái ánh sáng cho nó sự hiện hữu. Có nội dung của ý thức và cũng có cái biết nội dung đó.
H: Tôi biết, và tôi biết rằng tôi biết.
M: Quả thế, miễn là cái biết thứ hai hoàn toàn vô điều kiện và không bị tác động bởi thời gian. Quên cái được biết, nhưng nhớ ông là người biết. Đừng luôn luôn chìm đắm trong những kinh nghiệm của ông. Thường xuyên nhớ rằng ông ở bên ngoài người kinh nghiệm, ông bất sinh và bất tử. Khi nhớ như vậy, tính chất của sự biết thuần túy sẽ nổi lên, đó là ánh sáng của tánh biết vô điều kiện.
H: Một người kinh nghiệm thực tại ở điểm nào?
M: Kinh nghiệm thuộc về thay đổi, đến rồi đi. Thực tại không phải là một sự kiện, thực tại không thể được kinh nghiệm. Thực tại không thể được nhận thức theo cùng một phương cách mà sự kiện được cảm nhận. Nếu ông chờ thực tại đến như chờ một sự kiện xảy ra thì ông sẽ chờ đến muôn đời vì thực tại không đến mà cũng không đi. Thực tại được nhận thức chứ không phải được mong đợi. Thực tại cũng không phải là một cái gì đó xảy ra vì có sự chuẩn bị, và dự kiến. Nhưng chính sự mong muốn và tìm kiếm thực tại là động thái, là sự vận hành, và hành vi của thực tại. Tất cả ông có thể làm là nắm vững điều then chốt: Thực tại không phải là một sự kiện nên không bao giờ xảy ra. Bất cứ gì xảy ra, bất cứ gì đến và đi đều không phải là thực tại.
H: Theo ông thực tại thể hiện tự thân trong hành động hơn là trong sự hiểu biết? Hay nó là một loại cảm nhận nào đó?
M: Không phải hành động, cũng chẳng phải cảm nhận, hoặc ý nghĩ thể hiện thực tại. Không hề có cái như là một sự thể hiện của thực tại. Ông đem nhị nguyên vào chỗ hoàn toàn không có. Thực tại chỉ là, không còn gì khác. Cả ba trạng thái thức, chiêm bao và ngủ đều không phải Ta, và Ta không ở trong chúng. Khi Ta chết đi, thế giới sẽ nói: “Ôi, Maharaj chết!” nhưng đối với Ta đó chỉ là ngôn từ mà không có nội dung; chúng hoàn toàn vô nghĩa. Thường thì sự sùng bái được thực hiện trước hình ảnh của đạo sư, tất cả diễn ra như thể vị đạo sư thức dậy, đi tắm, ăn, nghỉ, đi dạo rồi trở về, ban phát công đức cho tất cả môn đồ rồi đi ngủ. Dù cho các nghi thức được chú trọng thật tỉ mỉ và chi tiết, nhưng vẫn có một cái gì hư huyễn về chúng. Trường hợp của Ta cũng thế. Tất cả xảy ra như cần thiết, nhưng không có gì xảy ra. Ta làm những gì có vẻ như cần thiết, nhưng cùng lúc đó Ta biết chẳng có gì là cần thiết, và tự thân cuộc đời chỉ là một trò hư giả.
H: Vậy tại sao lại sống? Tại sao thức, ngủ, ăn uống và tiêu hóa - tất cả những sự không cần thiết này - đến và đi?
M: Ta chẳng làm gì cả, tất cả chỉ xảy ra, Ta không mong đợi, không trù tính, Ta chỉ quan sát các sự kiện xảy ra, và biết chúng là hư giả.
H: Ông luôn luôn như thế từ khoảnh khắc đầu tiên của sự giác ngộ?
M: Ba trạng thái vẫn thay phiên như thường lệ - thức, ngủ và thức trở lại, nhưng chúng không xảy ra đối với Ta. Chúng chỉ xảy ra. Đối với Ta chưa bao giờ có gì xảy ra. Có một cái gì đó bất biến, bất di bất dịch, bất khả di chuyển, rắn chắc như đá, bất khả xâm phạm; một khối kiên cố hiện-hữu-ý-thức-an-lạc thuần túy. Ta chưa bao giờ rời khỏi nó, dù đó là cực hình hay tai họa.
H: Nhưng ông ý thức!
M: Có và không. Có sự an lạc - sâu thẳm, bao la, và bất khả lay chuyển. Tất cả các sự kiện vẫn được ghi nhận vào ký ức nhưng chẳng có gì quan trọng. Ta hầu như không biết đến chúng.
H: Nếu tôi hiểu ông đúng thì trạng thái này không đến do sự tu tập.
M: Nó không đến. Nó luôn luôn như thế. Chỉ có sự phát hiện và sự phát hiện rất hốt nhiên. Lúc được sinh ra ông hốt nhiên phát hiện thế giới như thế nào thì Ta hốt nhiên phát hiện sự hiện hữu đích thực của Ta cũng như thế.
H: Có phải nó bị mây mù che lấp và công phu tinh tấn của ông làm cho mây mù tan biến? Khi trạng thái chơn thật trở nên rõ ràng với ông, nó vẫn luôn luôn rõ ràng, hay lại bị che khuất? Trạng thái đó thường hằng hay lúc có lúc không?
M: Hoàn toàn không thay đổi. Dù Ta có làm bất cứ gì, thì nó vẫn có đó như một khối đá - bất động. Một khi đã tỉnh thức thực tại thì ông luôn luôn ở trong thực tại. Một đứa trẻ không trở về dạ con của mẹ nó! Nó là một trạng thái chân phương, nhỏ hơn cái nhỏ nhất và lớn hơn cái lớn nhất. Nó là sự tự chứng nhưng ở ngoài mọi diễn tả.
H: Có cách nào đạt đến nó?
M: Mọi cái đều có thể là phương tiện, với điều kiện là ông chú tâm. Hãy nghiền ngẫm những gì Ta nói và tìm cách hiểu ý nghĩa rốt ráo trong đó là một cách tu tập, đủ phá sập bức tường vô minh. Không có gì làm cho Ta phiền não. Ta không đối kháng với phiền não nên phiền não không ở lại với Ta. Bên bờ của ông có quá nhiều phiền não. Bên bờ của Ta không còn phiền não. Hãy sang bên bờ của Ta. Ông dễ bị phiền não quấy nhiễu, còn Ta thì miễn nhiễm. Dù gì đi nữa, điều cần thiết vẫn là sự quan tâm chân thành.
Sự thành khẩn sẽ làm được.
H: Liệu tôi có thể làm được?
M: Dĩ nhiên. Ông có thể sang được bên này. Chỉ cần thành khẩn.
CHƯƠNG 42. CÓ THỂ NHẬN RA VÔ MINH NHƯNG KHÔNG THỂ NHẬN RA GIÁC NGỘ
Hỏi: Thuyết giáo của ông chẳng có gì thay đổi, năm nào cũng thế. Hình như không có tiến triển nào trong những gì ông nói với chúng tôi.
Maharaj: Người đau ốm trong bệnh viện được chữa trị và bình phục. Chữa trị là công việc lập đi lập lại một cách đều đặn, hầu như chẳng có gì thay đổi, nhưng sức khỏe thì không như thế. Thuyết giảng của Ta có thể lập đi lập lại một cách đều đặn, nhưng kết quả của nó lúc nào cũng mới đối với từng người.
H: Giác ngộ là gì? Ai là người giác ngộ? Bằng chỉ dấu nào để nhận ra một Gnani?
M: Giác ngộ không hề có một chỉ dấu khác biệt nào. Chỉ có thể nhận ra vô minh, nhưng không thể nhận ra giác ngộ. Người giác ngộ cũng không tự nhận là một cái gì đặc biệt. Tất cả những ai tuyên bố về sự vĩ đại và tính độc nhất của mình đều không phải là Gnani. Họ nhầm lẫn một sự phát triển khác thường nào đó với giác ngộ. Gnani không có khuynh hướng tự nhận mình là một người giác ngộ. Người giác ngộ xem mình hoàn toàn bình thường, đúng với bản tánh chơn thật của chính mình. Tự xưng mình là một thần linh có quyền năng vô hạn, thông suốt mọi sự và hiện hữu khắp nơi là một biểu hiện rõ ràng của vô minh.
H: Liệu Gnani có thể truyền đạt kinh nghiệm của mình cho một kẻ vô minh? Liệu sự giác ngộ có thể được trao truyền từ người này sang người khác?
M: Có thể chứ. Lời dạy của Gnani có công năng xóa bỏ vô minh và sự tăm tối trong tâm. Lời dạy không quan trọng, nhưng công năng đằng sau lời dạy mới quan trọng.
H: Công năng đó là gì?
M: Công năng của sự tin tưởng, dựa trên sự giác ngộ cá nhân, và chứng nghiệm trực tiếp của chính mình.
H: Một số vị giác ngộ nói rằng phải đạt được, chứ không thể cho. Một người chỉ có thể dạy, nhưng học lại thuộc về riêng mỗi người.
M: Thì cũng thế thôi.
H: Có rất nhiều người tập luyện Yoga trong nhiều năm nhưng không có kết quả. Điều gì có thể là nguyên nhân thất bại của họ?
M: Một số người quá say mê với những trạng thái xuất thần, với ý thức trong tình trạng trống vắng. Nếu không ý thức trọn vẹn thì làm sao có thể có tiến bộ?
H: Rất nhiều người tu tập pháp định Samadhi. Trong Samadhi ý thức rất mãnh liệt, nhưng họ vẫn không đạt kết quả gì.
M: Họ mong đợi những kết quả gì? Vì sao giác ngộ lại là kết quả của một cái gì đó? Cái này đưa đến cái kia, nhưng sự giác ngộ không phải là một cái gì đó bị ràng buộc bởi các tương quan nhân quả. Giác ngộ hoàn toàn ở mọi tương quan nhân quả. Nó ở ngay trong cái Ta. Hành giả Yogi biết rất nhiều điều kỳ diệu, nhưng không biết gì về cái Ta. Người giác ngộ trông rất bình thường và cảm thấy rất bình thường, nhưng biết rất rõ cái Ta.
H: Có rất nhiều người cố gắng một cách tha thiết để hiểu rõ chính mình, nhưng kết quả rất hiếm. Cái gì có thể là nguyên nhân?
M: Họ chưa truy tìm nguồn gốc của sự hiểu biết một cách đúng mức, họ chưa thực sự biết rõ cảm thọ, cảm xúc và ý nghĩ của chính mình. Điều này có thể là một nguyên nhân của sự trì trệ. Nguyên nhân khác: một số tham ái vẫn còn.
H: Tiến bộ hay thoái bộ trong tu tập là điều tất nhiên. Người tìm đạo nhiệt thành vẫn gắng sức đi tới bất chấp mọi chướng ngại. Bậc giác ngộ có thể giúp gì cho một người tìm đạo như thế?
M: Nếu tha thiết, người đi tìm có thể nhận được ánh sáng. Ánh sáng dành cho tất cả và luôn luôn có đó, nhưng người đi tìm thì chẳng có bao nhiêu, và trong số ít người đó những người sẵn sàng lại càng hiếm hoi. Sự chín mùi của trái tim và tâm thức là vô cùng cần thiết.
H: Sự giác ngộ của ông do tinh tấn mà có, hay do công đức của Tôn sư?
M: Giáo pháp là của Tôn sư, tín tâm là của Ta. Tín tâm của Ta đối với Tôn sư làm cho Ta tin lời ngài là đúng thật, Ta đi sâu vào lời ngài nói, sống lời ngài nói, và bằng cách đó Ta đã nhận ra cái Ta là. Con người và lời lẽ của Tôn sư làm cho Ta tin tưởng, và tín tâm của Ta đem lại kết quả.
H: Liệu một Đạo sư có thể trao truyền sự giác ngộ mà không cần đến ngôn từ, tín tâm; như ngay bây giờ, không có một sự chuẩn bị nào?
M: Được chứ, nhưng người nhận đâu? Ông biết đó, Ta rất tương cảm với Tôn sư, Ta tin tưởng ngài đến độ chỉ còn lại rất ít đề kháng trong Ta, nên tất cả đã diễn ra thật dễ dàng và chóng vánh. Nhưng không phải ai cũng may mắn như thế. Sự lười biếng và bất an thường gây chướng ngại cho đến khi được phát hiện và loại trừ, sự tiến bộ diễn ra rất chậm chạp. Tất cả những người chứng ngộ ngay tại chỗ, chỉ bằng một cái chạm nhẹ, một cái nhìn hay một ý nghĩ, đều là những người đã chín mùi. Những trường hợp như thế thật hi hữu. Đa số cần thời gian để chín mùi. Sadhana làm cho sự chín mùi nhanh hơn.
H: Điều gì làm cho một người chín mùi? Yếu tố gây chín mùi là gì?
M: Dĩ nhiên là sự thành khẩn, một người phải thực sự khao khát. Xét cho cùng, người giác ngộ là người thành khẩn nhất. Dù làm bất cứ gì người giác ngộ đều làm một cách trọn vẹn, không hạn chế mà cũng không dè dặt. Lòng trung thực sẽ đưa ông đến thực tại.
H: Ông có yêu thương thế gian này không?
M: Khi bị đau đớn, ông khóc. Vì sao thế? Vì ông yêu thương chính ông. Đừng giam hãm tình yêu của ông bằng cách giới hạn nó với thân xác; hãy để nó rộng mở. Lúc đó nó sẽ trở thành tình yêu thương tất cả. Khi tất cả mọi sự nhận dạng hư giả về cái Ta bị quẳng đi, cái gì còn lại là tình yêu bao trùm tất cả. Hãy loại bỏ mọi ý tưởng về chính ông, ngay cả ý tưởng ông là Thượng đế. Không một định nghĩa nào về cái Ta là có giá trị.
H: Tôi chán ngấy những hứa hẹn. Tôi ngao ngán chuyện tu tập vì chỉ làm tôi mất thì giờ và công sức mà chẳng được gì. Tôi muốn thực tại ngay đây và bây giờ. Có thể được chăng?
M: Dĩ nhiên là được, miễn là ông thực sự nhàm chán tất cả mọi thứ, kể cả những pháp môn tu tập của ông. Khi ông chẳng mong cầu gì ở thế giới, ở Thượng đế, khi ông không muốn gì, không tìm kiếm gì, không mong đợi gì thì Thực tại Tối thượng sẽ đến với ông mà chẳng cần mời mọc, và thật bất ngờ!
H: Nếu một người bận rộn với đời sống gia đình, và những chuyện thế gian, nhưng tu tập nghiêm túc như được chỉ dạy trong kinh sách, liệu người đó có đạt được kết quả không?
M: Sẽ đạt được kết quả, nhưng người đó sẽ bị kết quả trói buộc như một tổ kén.
H: Nhiều bậc thánh nhân bảo rằng khi một người đã chín mùi và sẵn sàng thì sẽ giác ngộ. Những gì các vị đó nói có thể là sự thật, nhưng chẳng ích lợi gì nhiều. Phải có một con đường thoát ra, không tùy thuộc vào sự chín mùi, tức là cần đến thời gian; cũng không tùy thuộc vào sự tu tập, tức là cần đến tinh tấn.
M: Không thể gọi đó là một con đường, nó gần như là một diệu thuật thì đúng hơn. Mà thậm chí cũng không phải thế. Hãy ở trong trạng thái rộng mở và yên lặng, chỉ thế thôi. Cái mà ông tìm kiếm kề cận với ông đến nỗi không thể có chỗ cho một con đường.
H: Có rất nhiều người vô minh trên thế gian này, còn những bậc giác ngộ chẳng có bao nhiêu. Vì sao vậy?
M: Đừng bận tâm đến tha nhân, mà hãy quan tâm đến chính ông. Chỉ cần biết ông hiện hữu. Đừng bận tâm đến danh xưng, chỉ hiện hữu. Bất cứ danh xưng hay hình tướng nào mà ông gán cho chính mình đều ngăn che bản tánh chơn thật của ông.
H: Tại sao lại ngưng tìm kiếm trước khi giác ngộ?
M: Mong cầu chân lý là mong cầu cao thượng nhất trong các mong cầu, nhưng nó vẫn là một sự mong cầu. Tất cả mọi mong cầu phải được buông bỏ để cho cái thật hiện hữu. Hãy nhớ rằng ông hiện hữu. Đó là vốn luân chuyển của ông. Hãy xoay cái vốn đó, rất nhiều lãi sẽ sinh ra.
H: Vì sao lại có sự tìm kiếm?
M: Đời là một sự tìm kiếm, người ta không thể không tìm kiếm. Khi tất cả mọi sự tìm kiếm chấm dứt, đó là Trạng thái Tối thượng.
H: Vì sao Trạng thái Tối thượng đến và đi?
M: Trạng thái Tối thượng không đến, không đi. Nó hiện hữu.
H: Ông nói từ chứng nghiệm của chính ông?
M: Dĩ nhiên. Đó là một trạng thái phi thời, thường tại.
H: Với tôi nó đến và đi, với ông thì không. Vì sao có sự khác biệt này?
M: Có thể là Ta không còn ham muốn. Hoặc là sự ham muốn cái Tối Thượng của ông chưa đủ mãnh liệt. Chắc hẳn là ông sẽ cảm thấy tuyệt vọng khi tâm ở ngoài tầm với.
H: Tôi phấn đấu suốt đời nhưng chẳng đạt được bao nhiêu.
Tôi đọc. Tôi nghe. Tất cả đều vô ích.
M: Nghe và đọc đã trở thành một thói quen với ông.
H: Tôi cũng bỏ rồi. Bây giờ tôi không đọc nữa.
M: Cái mà ông đã bỏ thì bây giờ không còn quan trọng. Cái gì mà ông chưa bỏ? Tìm ra cái đó và bỏ nó đi. Tu tập - Sadhana - là tìm cái để buông bỏ. Hãy buông bỏ cho đến khi ông hoàn toàn rỗng rang.
H: Làm sao một kẻ vô minh lại có thể mong cầu trí tuệ? Một người cần biết đối tượng của sự mong cầu để mong cầu. Khi cái Tối thượng là cái không thể biết thì làm sao nó có thể được mong cầu?
M: Con người chín mùi một cách tự nhiên và trở nên sẵn sàng cho sự giác ngộ.
H: Nhưng yếu tố làm cho chín mùi là gì?
M: Nhớ rõ chính mình, sự biết rõ cái “Ta hiện hữu” làm cho người ta chín mùi rất mãnh liệt và nhanh chóng. Hãy từ bỏ tất cả những ý tưởng về chính ông, chỉ đơn thuần hiện hữu.
H: Tôi chán ngán tất cả những pháp môn và phương tiện, những diệu thuật, kỹ xảo, và tất cả những trò nhào lộn của tâm. Có cách nào cảm nhận thực tại một cách trực tiếp và tức thời?
M: Ngưng dùng đến tâm của ông rồi xem chuyện gì xảy ra. Làm điều duy nhất này một cách rốt ráo. Tất cả chỉ có thế.
H: Lúc còn trẻ, tôi đã từng có những kinh nghiệm lạ lùng - thoáng qua nhưng có thể nhớ được - về không, chỉ không, nhưng hoàn toàn ý thức. Nhưng điều nguy hiểm là sự mong muốn tái tạo lại từ ký ức những khoảng khắc đã qua đi.
M: Tất cả chỉ là tưởng tượng. Trong ánh sáng của ý thức đủ mọi chuyện xảy ra, một người không cần phải cho chuyện gì đó là quan trọng đặc biệt. Cảnh trí của một đóa hoa cũng kỳ diệu như linh ảnh của Thượng đế. Cứ để kệ mọi chuyện như chúng là. Việc gì phải ghi nhớ rồi biến ký ức thành phiền não? Đừng để ý đến chúng, đừng phân chia thành cao, thấp, trong, ngoài, thường và vô thường. Vượt ra khỏi chúng, trở về với nguồn gốc, đến với cái Ta không bao giờ thay đổi, dù bất cứ chuyện gì xảy ra. Chỗ yếu của ông là ông tin rằng ông đã được sinh ra vào thế giới. Trong thực tế thế giới luôn luôn được tái tạo trong ông và bởi ông. Hãy thấy được tất cả mọi thứ đều xuất phát từ ánh sáng, tức cội nguồn hiện hữu của chính ông. Trong ánh sáng đó ông sẽ tìm thấy tình yêu và năng lượng vô tận.
H: Nếu tôi là ánh sáng đó, tại sao tôi không biết?
M: Muốn biết, ông cần một cái tâm biết, một cái tâm có khả năng biết. Nhưng tâm ông lúc nào cũng chạy, không bao giờ tĩnh lặng, không bao giờ phản chiếu đầy đủ. Làm sao ông thấy được mặt trăng với tất cả vẻ đẹp lộng lẫy khi mắt ông bị bệnh tật ngăn che?
H: Liệu chúng ta có thể bảo rằng mặt trời tạo ra cái bóng, nhưng một người không thể nhìn thấy mặt trời trong cái bóng.
Người ấy phải quay lại.
M: Một lần nữa, ông lại đề cập đến bộ ba: mặt trời, thân và bóng. Trong thực tế không hề có một sự phân chia như thế. Những gì Ta đang nói chẳng liên quan gì đến nhị nguyên hay tam nguyên.
Đừng hình dung và ngôn từ hóa. Chỉ thấy và hiện hữu.
H: Tôi có phải thấy, để là?
M: Thấy cái ông là. Đừng hỏi ai khác, đừng để người khác bảo ông về chính ông. Hãy nhìn vào trong và thấy. Tất cả các đạo sư chỉ có thể nói với ông là như thế. Chẳng cần phải tìm cầu hết đạo sư này đến đạo sư khác. Tất cả các giếng đều có cùng một thứ nước. Ông chỉ cần lấy nước từ giếng nào gần nhất. Trường hợp Ta, nước ở trong Ta, và Ta là nước.
CHƯƠNG 43. “TA LÀ” THÌ THẬT, TẤT CẢ NHỮNG CÁI KHÁC CHỈ LÀ SUY LUẬN
Maharaj: Người nhận thức thế giới có trước thế giới, hay xuất hiện cùng với thế giới?
Hỏi: Thật là một câu hỏi lạ lùng! Vì sao ông lại đặt những câu hỏi như thế?
M: Nếu không biết câu trả lời đúng ông sẽ không tìm được sự an lạc.
H: Khi tôi thức dậy sáng nay, thế giới đã có sẵn, chờ đợi tôi. Chắc chắn là thế giới phải xuất hiện trước. Tôi cũng xuất hiện nhưng sau thế giới rất nhiều, có sớm lắm thì chỉ vào lúc tôi sinh ra. Thân xác là phương tiện trung gian giữa tôi và thế giới. Nếu không có thân xác thì không có tôi mà cũng chẳng có thế giới.
M: Thân ông xuất hiện trong tâm ông, tâm ông là nội dung ý thức của ông. Ông là nhân chứng bất động của giòng tâm thức, giòng tâm thức đó thay đổi không ngừng nhưng nó không thể nào thay đổi được ông. Tính bất biến của chính ông hiển nhiên đến độ ông không để ý đến nó. Hãy quan sát kỹ chính ông thì tất cả những hiểu lầm và ngộ nhận sẽ tan biến. Cũng như tất cả thủy vi sinh vật đều ở trong nước, chúng không thể có nếu không có nước, thì toàn thể vũ trụ đều ở trong ông và không thể hiện hữu nếu không có ông.
H: Chúng ta gọi cái đó là Thượng đế.
M: Thượng đế chỉ là một ý tưởng trong tâm ông. Cái thật là ông. Điều duy nhất mà ông biết chắc chắn: “Ta hiện hữu ở đây và bây giờ.” Lấy đi cái “ở đây và bây giờ” cái “Ta hiện hữu” vẫn còn, bất khả xâm phạm. Thế giới tồn tại trong ký ức, ký ức xuất hiện trong ý thức, ý thức tồn tại trong tánh biết, và tánh biết là sự phản chiếu của ánh sáng trên mặt nước của sự tồn tại.
H: Tôi vẫn không thể hiểu được vì sao thế giới có thể ở trong tôi, trong khi điều ngược lại - “Tôi ở trong thế giới” thì quá hiển nhiên.
M: Thậm chí nói rằng “Ta là thế giới, thế giới là ta” cũng là một biểu hiện của vô minh. Nhưng khi nhớ rõ tính đồng nhất của Ta với thế giới và xác định nó trong cuộc sống thì một sức mạnh sinh khởi trong Ta, sức mạnh đó tiêu diệt vô minh, thiêu hủy vô minh một cách rốt ráo.
H: Nhân chứng của vô minh có tách biệt với vô minh? Không phải khi nói rằng: “Ta vô minh” cũng là một phần của vô minh?
M: Dĩ nhiên. Ta có thể nói một cách đúng thật là: “Ta hiện hữu,” tất cả những gì còn lại đều là suy luận. Nhưng suy luận đã trở thành một thói quen. Hãy từ bỏ mọi thói quen trong suy nghĩ và thấy. Ý thức “Ta hiện hữu” là biểu hiện của một nguyên nhân sâu kín, ông có thể gọi nguyên nhân đó là Ta, là Thượng đế, là Thực tại hay bất cứ danh xưng nào. Cái “Ta hiện hữu” ở trong thế giới, nhưng nó là chìa khóa để mở cánh cửa ra ngoài thế giới. Mặt trăng nhảy múa trên nước trông như ở trong nước, nhưng được tạo ra bởi mặt trăng trên trời, chứ không phải bởi nước.
H: Tôi vẫn không nắm bắt được ý chính. Đành rằng thế giới trong đó tôi sống, đi lại và có sự hiện hữu của tôi là do chính tôi tạo ra; nó là một phóng ảnh, là sự tưởng tượng của chính tôi chiếu lên cái thế giới không biết, thế giới như nó là, thế giới của “cái tuyệt đối”, dù cái đó là bất cứ gì. Thế giới do chính tôi tạo ra có thể rất khác với cái tối thượng, hay thế giới thật, cũng như màn ảnh xi nê thì không phải là phim ảnh phóng chiếu lên nó. Tuy nhiên cái thế giới tuyệt đối đó tồn tại, hầu như không tùy thuộc vào chính tôi.
M: Gần như thế, thế giới của Thực tại Tuyệt đối - mà trong đó tâm ông phóng chiếu cái thế giới hư giả và tương đối này - không tùy thuộc vào chính ông, vì lý do rất đơn giản: nó là chính ông.
H: Thế không phải có sự mâu thuẫn trong ngôn từ? Làm sao sự không tùy thuộc lại có thể chứng minh được tính đồng nhất?
M: Hãy tìm hiểu động thái của sự thay đổi thì ông sẽ thấy. Cái có thể thay đổi - trong khi ông không thay đổi - thì được cho là không tùy thuộc vào ông. Còn cái không thay đổi thì phải là một với bất cứ cái gì khác cũng không thay đổi. Vì, nhị nguyên hàm ý tương quan qua lại, mà tương quan qua lại có nghĩa là thay đổi. Nói một cách khác, cái tuyệt đối vật chất và cái tuyệt đối tinh thần, cái hoàn toàn khách quan và cái hoàn toàn chủ quan là đồng nhất, cả về bản chất lẫn tánh thể.
H: Cũng giống như trong một cuốn phim ba chiều, ánh sáng tạo nên màn ảnh của chính nó.
M: So sánh cách nào cũng được. Nhưng điểm chính yếu cần nắm bắt là: Ông đã phóng chiếu lên chính ông một thế giới do ông tưởng tượng, dựa vào ký ức, tham ái và lo sợ, và ông đã tự giam hãm mình trong đó. Hãy đập tan sự u mê và giải thoát.
H: Làm thế nào để đập tan sự u mê?
M: Hãy khẳng định tính bất tùy thuộc của ông trong ý nghĩ và hành động. Xét cho cùng, tất cả đều bám víu vào lòng tin trong chính ông, vào sự tin tưởng rằng những gì ông thấy và nghe, tư duy và cảm thọ đều là thật. Tại sao không đặt câu hỏi về lòng tin của ông? Chẳng có gì nghi hoặc rằng thế giới này được chính ông tô vẽ lên màn ảnh của ý thức, và nó hoàn toàn là thế giới riêng tư của ông. Chỉ có ý thức “Ta hiện hữu” tuy ở trong thế giới nhưng lại không thuộc về thế giới. Không thể nào bằng cố gắng của lý luận, hay trí tưởng tượng mà ông có thể biến cái “Ta hiện hữu” thành “Ta không hiện hữu.” Trong khi phủ nhận sự hiện hữu của chính ông thì ông đã tự khẳng định nó. Một khi nhận ra rằng thế giới chỉ là phóng ảnh của chính ông thì ông thoát ra khỏi thế giới. Ông chẳng cần phải giải thoát ông ra khỏi một thế giới mà tự thân nó không tồn tại, ngoại trừ trong trí tưởng tượng của ông! Dù bức tranh đẹp xấu thế nào, ông vẫn là người vẽ ra nó chứ không phải ông tùy thuộc vào nó. Nên nhớ rằng chẳng có ai áp đặt nó lên ông, mà do thói quen của ông cho tưởng tượng là có thật. Thấy tưởng tượng là tưởng tượng thì không còn sợ hãi.
Cũng như mầu sắc của tấm thảm này hiển hiện nhờ ánh sáng, nhưng ánh sáng thì không phải mầu sắc; thế giới này được ông tạo ra nhưng ông không phải là thế giới.
Ông có thể gọi cái tạo ra và duy trì thế giới là Chúa, là Thượng đế, nhưng tối hậu ông vẫn là bằng chứng xác minh Thượng đế tồn tại, thay vì ngược lại. Vì, trước khi bất cứ câu hỏi nào về Thượng đế được đặt ra thì phải có ông để đặt câu hỏi.
H: Thượng đế là một kinh nghiệm trong thời gian, còn người kinh nghiệm thì vô thời.
M: Ngay cả người kinh nghiệm cũng là thứ yếu. Chính yếu vẫn là sự mênh mông vô hạn của ý thức, cái khả năng vô tận, cái tiềm năng vô biên của tất cả những gì đã là, đang là, và sẽ là. Khi nhìn bất cứ gì, ông đều thấy cái tối hậu, nhưng ông lại tưởng tượng rằng ông thấy một đám mây, hay một cái cây.
H: Hãy học cách nhìn mà không tưởng tượng, nghe mà không xuyên tạc, chỉ thế thôi. Hãy chấm dứt gán ghép danh xưng, hình tướng cho cái hoàn toàn vô danh xưng, vô hình tướng; hãy nhận ra rằng mọi trạng thái nhận thức đều chủ quan, có nghĩa là bất cứ gì được thấy, nghe, sờ mó, nếm ngửi, cảm thọ, hay tư duy - được mong đợi hay tưởng tượng - đều ở trong tâm chứ không phải ở trong thực tại, lúc đó ông sẽ chứng nghiệm sự an lạc và vô úy.
Ngay cả ý thức “Ta hiện hữu” gồm có ánh sáng thuần túy và ý thức hiện hữu. Cái “Ta” vẫn có đó dù cho không có “hiện hữu.” Ánh sáng thuần túy cũng thế, nó vẫn có đó dù ông có nói “Ta” hay không. Biết được ánh sáng thuần túy đó thì không bao giờ ông có thể mất nó. Tính hiện hữu trong hiện hữu, tánh biết trong ý thức, sự hiểu biết trong mỗi kinh nghiệm thì không thể mô tả được, nhưng hoàn toàn có thể tiếp cận được, vì không còn cái gì khác.
H: Ông nói về thực tại một cách trực tiếp - như là nguyên nhân đầu tiên, trùm khắp, thường tại, bất diệt, biết rõ tất cả, là nguồn năng lực của tất cả. Nhiều đạo sư khác không bao giờ bàn về thực tại. Họ bảo rằng thực tại ở ngoài tâm, trong khi mọi bàn luận đều ở trong phạm trù của tâm, tức là ngôi nhà của sự hư giả. Phương cách của họ là phủ định, họ chỉ ra cái hư giả và thoát ra khỏi cái hư giả để vào cái thật.
M: Sự khác biệt chỉ ở trong ngôn từ. Khi nói về cái thật, Ta nói nó là cái bất hư giả, vô xứ, vô thời, vô nhân duyên, vô thủy và vô chung. Rốt cuộc thì cũng thế. Ngôn từ chẳng quan trọng, miễn là nó đưa đến sự giác ngộ. Đẩy hay kéo một cái xe thì có gì quan trọng, miễn là ông làm nó chuyển động. Có khi ông bị thu hút bởi thực tại, và có khi ông cảm thấy bị xô đẩy ra khỏi cái hư giả; chúng là những trạng thái thay đổi nhau,cả hai đều cần thiết cho sự giải thoát hoàn toàn. Ông có thể đi con đường này hay con đường khác - nhưng mỗi lần ông đi nó đều là con đường đúng vào lúc đó; hãy đi một cách nhiệt tình, đừng phí thời gian nghi ngờ hay chần chờ do dự. Có nhiều loại thức ăn để nuôi lớn một đứa trẻ, nhưng hành động ăn thì như nhau. Về mặt lý thuyết - tất cả mọi phương cách đều tốt. Trong thực hành, và vào một lúc nhất định nào đó, ông chỉ có thể đi theo một con đường. Không sớm thì muộn chắc chắn ông sẽ nhận ra rằng nếu thực sự muốn tìm, ông phải đào một nơi duy nhất: bên trong.
Cái mà ông tìm kiếm - sự hiện hữu - biết được cái Ta của ông, và sự an lạc vĩ đại đi cùng với nó thì cả thân lẫn tâm đều không thể cho ông.
H: Chắc chắn mỗi phương cách đều có giá trị và hiệu nghiệm riêng.
M: Trong mỗi trường hợp giá trị là ở chỗ đưa ông đến với sự cần thiết phải tìm kiếm bên trong. Đùa giỡn với nhiều phương cách khác nhau có thể là do ngần ngại đi vào bên trong, lo sợ phải từ bỏ ảo tưởng mình là một cái gì đó hay một ai đó riêng biệt. Muốn tìm nước ông không cần phải đào nhiều hố cạn khắp nơi, mà chỉ cần đào thật sâu ở một chỗ. Tương tự như thế, muốn tìm ra cái Ta của ông thì ông phải khám phá chính ông. Khi nhận ra rằng ông là ánh sáng của thế giới thì ông cũng nhận ra ông là tình yêu thế giới, vì biết là yêu và yêu là biết.
Trong tất cả các tình cảm, lòng yêu thương chính mình đến trước tiên. Tình yêu của ông đối với thế giới chỉ là phản ảnh tình yêu của ông đối với chính ông, vì thế giới của ông là sự sáng tạo của chính ông. Ánh sáng và tình yêu thì không của riêng ai, nhưng cả hai được phản chiếu trong tâm ông thành sự biết chính mình và ước muốn chính mình tốt lành. Chúng ta luôn luôn thân mật với chính mình, nhưng không thường xuyên hiểu biết. Yogi là người kết hợp thiện ý với trí tuệ.
CHƯƠNG 44. CÁI GÌ ĐẾN VÀ ĐI THÌ KHÔNG CÓ THỰC THỂ
Hỏi: Tôi đến để được thân cận ông, hơn là nghe ông nói. Những gì nói ra được bằng lời lẽ thì rất ít, còn truyền đạt trong im lặng thì rất nhiều.
Maharaj: Trước tiên là lời lẽ, rồi đến im lặng. Một người cần phải chín mùi mới cảm nhận được sự im lặng.
H: Liệu tôi có thể sống trong im lặng?
M: Việc làm vô vị kỷ đưa đến sự im lặng, vì khi hành động vô vị kỷ ông chẳng cần nhờ đến ai. Vì không màng đến kết quả, ông sẵn sàng hành động với phương tiện thiếu thốn nhất. Ông chẳng cần phải có nhiều năng khiếu và được trang bị đầy đủ. Mà ông cũng chẳng cần được công nhận hay trợ giúp. Ông chỉ làm những gì cần làm, phó mặc thành công và thất bại cho cái không biết, vì mọi chuyện đều được tạo nên bởi vô số yếu tố, mà nỗ lực của ông chỉ là một. Nhưng tâm thức và trái tim con người kỳ diệu đến nỗi cái bất khả vẫn có thể xảy ra một khi ý chí của con người và tình yêu kết hợp với nhau.
H: Khi việc mình làm là xứng đáng thì kêu gọi giúp đỡ có gì là không đúng?
M: Sự cần thiết phải kêu gọi giúp đỡ ở đâu? Nó chỉ chứng tỏ sự yếu đuối và lo âu. Cứ tiếp tục hành động, và cả vũ trụ sẽ cùng hành động với ông. Xét cho cùng thì ý nghĩ làm điều đúng đến với ông từ cái không biết. Cứ phó mặc kết quả cho cái không biết, chỉ cần làm những động tác cần thiết. Ông chỉ là một mắt xích trong chuỗi dài của những tương quan nhân quả. Về cơ bản, tất cả chỉ xảy ra trong tâm. Khi ông hết lòng và kiên quyết làm một cái gì đó thì nó sẽ xảy ra, vì chức năng của tâm là làm cho mọi chuyện xảy ra. Trong thực tại không có gì là vắng thiếu, và không có gì được cần đến; tất cả mọi việc làm chỉ xảy ra trên bề mặt. Tận đáy sâu là sự an lạc hoàn toàn. Tất cả những vấn đề của ông sinh khởi là vì ông đã xác định chính ông và do đó giới hạn chính ông. Khi ông không còn nghĩ rằng ông là thế này, thế nọ thì tất cả mọi xung đột chấm dứt. Mọi cố gắng làm một cái gì đó về những phiền não của ông chắc chắn sẽ thất bại, vì cái gì được tạo ra bởi tham ái chỉ có thể được hóa giải bằng sự thoát ra khỏi tham ái. Ông tự đóng khung trong thời gian và không gian, dồn ép chính ông vào một kiếp sống và thể tích của một thân xác, vì thế ông đã tạo ra không biết bao nhiêu xung đột về sống và chết, lạc thú và đau khổ, hy vọng và sợ hãi. Ông không thể đoạn trừ phiền não mà không từ bỏ mọi ảo tưởng.
H: Con người thì tự nhiên là hữu hạn.
M: Không hề có cái gì là một con người. Chỉ có những hạn chế và hữu hạn. Tổng hợp tất cả những hạn chế và hữu hạn là định nghĩa về con người. Ông cho rằng ông biết được ông khi ông biết được cái mà ông là. Nhưng ông không bao giờ biết được ông là ai. Con người chỉ có vẻ như là, cũng như khoảng không bên trong cái hũ thì có vẻ có hình dáng, thể tích và mùi của cái hũ. Hãy thấy được rằng ông không phải cái mà ông tin ông là. Hãy dùng tất cả sức lực của ông để chống lại ý tưởng ông là một cái gì có thể đặt tên và mô tả được. Ông không phải cái đó. Từ bỏ lối suy nghĩ cho rằng ông là thế này hay thế nọ. Chẳng có con đường nào khác đưa ông ra khỏi sự khốn khổ mà ông đã tạo ra cho chính ông bằng sự chấp nhận mù quáng, không tra vấn. Đau khổ là một sự kêu gọi để được hiểu, tất cả mọi đau khổ cần phải được tìm hiểu. Đừng lười suy nghĩ.
H: Hành động là cốt lõi của thực tại. Vô hành thì vô hạnh. Cùng với tư duy thì phải làm một cái gì đó.
M: Làm một cái gì đó trong thế gian này thì thật là khó, đừng làm cái gì đó không cần thiết thì lại càng khó hơn.
H: Đối với con người, quan niệm Ta là tất cả có vẻ như bất khả.
M: Ông biết được những gì về chính ông? Ông chỉ có thể là cái mà ông là trong thực tế; ông chỉ có vẻ là cái mà ông không là. Ông chưa bao giờ lìa xa sự toàn hảo. Mọi ý tưởng về sự cải thiện chính mình chỉ mang tính quy ước và ngôn từ. Cũng như mặt trời không biết đến bóng tối, thì cái Ta không hề biết cái không phải cái Ta. Chính tâm, vì biết cái khác, nên trở thành cái khác. Mà tâm không gì khác hơn là cái Ta. Chính cái Ta trở thành cái khác - cái không phải cái Ta - nhưng vẫn là cái Ta. Tất cả những cái khác chỉ là giả. Cũng như một đám mây che khuất mặt trời nhưng không hề ảnh hưởng đến mặt trời thì cái giả có thể ngăn che thực tại nhưng không thể hủy diệt thực tại. Ngay chính cái ý tưởng hủy diệt thực tại tự nó là điều khôi hài; người hủy diệt bao giờ cũng thật hơn là cái bị hủy diệt. Thực tại là người hủy diệt tối hậu. Mọi phân biệt, mọi chia ly và ngăn cách đều sai lầm. Tất cả là một - đây chính là giải pháp tối hậu cho mọi xung đột.
H: Vì sao chúng tôi không tiến bộ mặc dù được rất nhiều trợ lực và chỉ giáo?
M: Chừng nào chúng ta còn tưởng tượng rằng mình là những tính cách cá nhân riêng biệt, khác biệt nhau, thì chúng ta không thể nắm bắt được thực tại, tức là cái thiết yếu phi nhân cách. Trước tiên chúng ta phải biết mình chỉ là nhân chứng, là trung điểm quan sát vô xứ vô thời, tiếp đến là nhận ra được đại dương mênh mông của tánh biết thuần túy, vừa là tâm vừa là vật, và ở ngoài cả hai.
H: Dù cho có ở trong thực tại, tôi vẫn cảm thấy mình là một con người nhỏ bé và riêng biệt, là cái một trong cái nhiều.
M: Ông - một con người - là do ảo tưởng về không gian và thời gian; ông tưởng tượng mình ở vào một điểm nào đó choán một thể tích nào đó; tính cách cá nhân của ông là do ông tự đồng hóa mình với thân xác. Ý nghĩ và cảm thọ của ông tồn tại trong một chuỗi các diễn tiến, kéo dài trong thời gian, làm cho ông tưởng tượng là chính ông, vì có ký ức nên có một khoảng thời gian. Trong thực tế thời gian và không gian tồn tại trong ông; ông không tồn tại trong chúng. Chúng chỉ là những tướng trạng của nhận thức, nhưng chúng không phải là duy nhất. Thời gian và không gian cũng như chữ viết trên giấy; giấy thì thật, chữ viết chỉ là quy ước. Ông bao nhiêu tuổi?
H: Bốn mươi tám!
M: Cái gì khiến ông nói bốn mươi tám? Cái gì khiến ông nói: Tôi ở đây? Những thói quen có tính cách ngôn từ hình thành từ những giả định. Tâm tạo ra thời gian và không gian, rồi cho những gì nó tạo ra là thực tại. Tất cả đều ở đây và bây giờ, nhưng chúng ta không thấy được điều đó. Sự thật là tất cả đều ở trong Ta và bởi Ta. Không còn gì khác. Chính ý nghĩ về “khác” là một thảm họa và bất hạnh.
H: Cái gì là nguyên nhân của sự nhân cách hóa, của sự tự giới hạn trong thời gian và không gian?
M: Cái không tồn tại thì không thể có nguyên nhân. Không hề có cái như một con người riêng biệt. Dù cho theo quan điểm của kinh nghiệm chủ nghĩa, rõ ràng là mỗi một cái đều là nguyên nhân của mỗi một cái, mỗi một cái là như nó là, vì toàn thể vũ trụ là như nó là.
H: Nhưng tính cách con người phải có một nguyên nhân.
M: Tính cách con người hình thành như thế nào? Bởi ký ức. Bởi đồng hóa hiện tại với quá khứ rồi phóng chiếu vào tương lai. Thử nghĩ về chính ông như là cái gì đó thoáng qua, không có quá khứ và tương lai thì tính cách con người của ông biến mất.
H: Thế không phải cái “Ta hiện hữu” còn lại?
M: Từ ngữ “còn lại” không áp dụng được ở đây. “Ta hiện hữu” thì luôn luôn tươi mới. Ông không cần phải nhớ để hiện hữu. Thật vậy, trước khi kinh nghiệm bất cứ gì thì luôn luôn phải có ý thức về sự hiện hữu. Trong hiện tại, hiện hữu của ông bị lẫn lộn với kinh nghiệm. Tất cả những gì ông cần là tháo gỡ hiện hữu ra khỏi mớ bòng bong kinh nghiệm. Một khi đã nhận ra được sự hiện hữu thuần túy của ông, không phải là thế này hay thế nọ thì ông sẽ phân biệt ra nó trong mớ kinh nghiệm, và sẽ không còn bị mê lầm bởi hình tướng và danh xưng.
Tự giới hạn là cốt lõi của tính cách con người.
H: Làm sao tôi trở thành vũ trụ?
M: Ông là vũ trụ. Ông không cần và không thể trở thành cái mà ông đã là. Chỉ cần chấm dứt tưởng tượng chính ông là cái cá biệt. Cái gì đến và đi thì không có thực thể. Nó xuất hiện là nhờ có thực tại. Ông biết có thế giới nhưng liệu thế giới có biết ông? Tất cả sự hiểu biết, cũng như tất cả mọi hiện hữu và hỷ lạc, đều từ ông mà ra. Hãy nhận ra rằng ông là cội nguồn vĩnh cửu, và chấp nhận tất cả là của chính ông. Một sự chấp nhận như thế là tình yêu chân thật.
H: Tất cả những gì ông nói nghe rất tốt đẹp nhưng làm sao có thể biến nó thành một lối sống?
M: Chưa bao giờ ra khỏi nhà nhưng ông đã hỏi đường về nhà. Hãy từ bỏ những ý nghĩ sai lầm, tất cả chỉ có thế. Huân tập những ý nghĩ đúng cũng chẳng đưa ông đi đến đâu. Chỉ cần chấm dứt tưởng tượng.
H: Vấn đề không phải là sự chứng đắc, mà là hiểu.
M: Đừng tìm cách hiểu! Chỉ không hiểu sai là đủ. Đừng trông cậy vào tâm để giải thoát. Chính tâm đã đưa ông vào trói buộc. Hãy rốt ráo vượt ra khỏi tâm.
Cái gì không có sự khởi đầu thì không có nguyên nhân. Vấn đề không phải là ông đã biết cái ông là, rồi ông quên nó đi. Một khi biết, ông không thể quên. Vô minh không có sự khởi đầu, nhưng có thể có sự chấm dứt. Chỉ cần hỏi: ai vô minh thì vô minh sẽ tan biến như một giấc chiêm bao. Thế giới đầy những mâu thuẫn, vậy mà ông tìm sự hòa hợp trong thế giới, vì thế giới là sản phẩm của hỗn loạn. Muốn tìm sự an ổn ông phải tìm bên trong. Thế giới chỉ xuất hiện khi nào ông được sinh vào một thân xác. Không có thân - không có thế giới. Trước tiên hãy tìm hiểu xem ông có phải là thân xác hay không. Hiểu về thế giới sẽ đến sau.
H: Những điều ông nói nghe rất thuyết phục, nhưng có ích gì cho một con người riêng biệt, con người đó chỉ biết mình ở trong thế giới và của thế giới?
M: Hàng triệu người ăn bánh mì, nhưng chẳng mấy ai biết về lúa mì. Chỉ những người biết mới có thể làm cho bánh mì ngon hơn. Tương tự như thế, chỉ những ai biết cái Ta, những ai đã nhìn siêu việt thế giới mới có thể làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Côn đức của họ đối với những con người cá thể thật vô lượng, vì họ là nguồn hy vọng cứu vớt duy nhất của các cá nhân. Cái gì ở trong thế giới thì không thể cứu thế giới. Nếu ông thật tình quan tâm cứu giúp thế giới thì ông phải bước ra khỏi nó.
H: Liệu tôi có thể bước ra khỏi thế giới?
M: Ai được sinh ra trước, ông hay thế giới? Chừng nào còn cho rằng thế giới có trước thì ông còn bị ràng buộc bởi thế giới, chừng nào ông nhận ra, không chút nghi hoặc nào, rằng thế giới ở trong ông chứ không phải ông ở trong thế giới thì ông ra khỏi nó. Dĩ nhiên thân xác ông còn ở trong thế giới và của thế giới, nhưng ông không còn bị nó lừa dối. Tất cả mọi kinh điển đều nói rằng trước khi có thế giới thì đã có Tạo hóa. Ai biết Tạo hóa? Người có trước Tạo hóa không ai khác hơn là sự hiện hữu là sự hiện hữu chơn thật của chính ông, nguồn gốc của tất cả thế giới cùng với người tạo ra chúng.
H: Tất cả lý lẽ của ông được gắn bỏ bởi giả thuyết cho rằng thế giới là phóng ảnh của chính ông. Ông công nhận rằng thế giới cá nhân và chủ quan của ông là cái thế giới do các giác quan và tâm đem lại cho ông. Trong ý nghĩa đó, mỗi người chúng ta sống trong một thế giới được hình thành bởi sự phóng chiếu của chính mình. Những thế giới riêng tư này không thể giao tiếp với nhau, chúng nổi lên và biến mất vào cái “Ta hiện hữu” ở tâm điểm của chúng. Nhưng chắc chắn đằng sau những thế giới riêng tư này, phải có một thế giới khách quan chung nhất, mà các thế giới riêng tư chỉ là cái bóng của nó. Ông có phủ nhận sự tồn tại của một thế giới khách quan và chung nhất như thế?
M: Thực tại không phải chủ quan hay khách quan, không phải tâm hay vật, không phải thời gian hay không gian. Những phân chia như thế cần phải có một ai đó - như một trung tâm ý thức tách biệt - để chúng xảy ra với người đó. Nhưng thực tại là tất cả và cũng không là gì cả, nó vừa là cái toàn thể vừa là cái loại trừ, vừa là cái viên mãn vừa là cái trống không, nó hoàn toàn nhất quán, nhưng tuyệt đối nghịch lý. Ông không thể nói về thực tại, ông chỉ có thể mất đi cái Ta của ông trong đó. Khi ông phủ nhận tất cả mọi cái là thực tại thì ông sẽ đến với cái còn lại không thể phủ nhận.
Tất cả mọi luận bàn về giác ngộ chỉ là một biểu hiện của vô minh. Chính tâm tưởng tượng nó không biết rồi mới biết. Thực tại không hay biết gì đến những lập luận quanh co này. Ngay cả cái ý nghĩ cho rằng Thượng đế là Đấng sáng tạo cũng lầm lẫn. Liệu sự hiện hữu của Ta có vì sự hiện hữu khác mà có? Vì Ta hiện hữu, nên tất cả hiện hữu.
H: Làm sao có thể như thế được? Một đứa trẻ được sinh ra vào thế giới, thế giới không thể sinh vào đứa trẻ. Thế giới thì cũ còn đứa trẻ thì mới.
M: Đứa trẻ được sinh vào thế giới của ông. Thế nào, ông được sinh ra vào thế giới, hay thế giới xuất hiện đối với ông? Được sinh ra có nghĩa là tạo nên một thế giới quanh chính ông như một trung tâm. Nhưng có bao giờ ông tạo ra chính ông? Hay có ai đã tạo ra ông? Mỗi người tạo ra một thế giới cho chính mình và sống trong thế giới đó, bị giam cầm trong đó vì sự vô minh của chính mình. Tất cả những gì chúng ta phải làm là phủ nhận nhà tù của chúng ta là thực tại.
H: Cũng như trạng thái thức tồn tại dưới hình thức chủng tử trong lúc ngủ, thì thế giới mà đứa trẻ tạo ra vào lúc chào đời tồn tại trước khi nó được sinh ra. Vậy thì chủng tử thuộc về ai?
M: Nó thuộc về người chứng kiến sinh và tử, nhưng không được sinh ra hay chết đi. Chỉ người đó là chủng tử của sự sáng tạo và cũng là di sản của nó. Đừng bảo tâm xác nhận cái gì siêu vượt nó. Trực tiếp chứng nghiệm là xác nhận duy nhất có giá trị, CHƯƠNG 45. BIẾT RÕ HIỆN HỮU LÀ AN LẠC
Hỏi: Nghề nghiệp của tôi là y sĩ. Tôi bắt đầu với khoa phẫu thuật, tiếp tục với khoa bệnh lý tâm thần; tôi cũng viết một vài cuốn sách về y học tâm thần và trị liệu bằng đức tin. Tôi đến gặp ông để học những quy luật của y lý tâm linh.
Maharaj: Khi tìm cách chữa bệnh cho một người, một cách chính xác ông tìm cách chữa cái gì? Sự chữa trị là gì? Khi nào thì ông có thể nói bệnh nhân đã được chữa khỏi?
H: Tôi tìm cách chữa trị thân xác cũng như cải thiện sự liên kết giữa thân và tâm. Tôi cũng tìm cách chữa trị tâm.
M: Ông đã tìm hiểu sự liên kết giữa tâm và thân? Chúng liênkết với nhau ở điểm nào?
H: Tâm ở giữa thân và ý thức bên trong.
M: Thế không phải thân được làm bằng thực phẩm? Liệu có thể có tâm mà không có thực phẩm?
H: Thân được tạo ra và duy trì bởi thực phẩm. Nếu không có thực phẩm tâm trở nên suy yếu. Nhưng tâm không phải thuần thực phẩm. Có một yếu tố chuyển hóa và yếu tố đó tạo ra tâm trong thân. Yếu tố chuyển hóa đó là gì?
M: Cũng như gỗ tạo ra lửa là thứ không phải gỗ, thân tạo ra tâm là cái không phải thân. Nhưng tâm xuất hiện đối với ai? Ai là người nhận thức những tư duy và cảm thọ - những thứ mà ông gọi là tâm? Có gỗ, có lửa và có cả người thọ dụng lửa. Ai là kẻ thọ dụng tâm? Người thọ dụng cũng do thực phẩm tạo ra, hay không phụ thuộc vào thực phẩm?
H: Người thọ dụng thì không tùy thuộc.
M: Làm sao ông biết? Nói từ kinh nghiệm của ông? Ông không phải thân hay tâm. Vậy làm sao ông biết?
H: Tôi thật sự không biết. Tôi cho là như thế.
M: Chân lý thì thường hằng. Cái thật thì bất biến. Cái gì thì không thật, cái gì thật thì không thay đổi. Thế nào, cái gì ở trong ông không thay đổi? Bao giờ còn có thực phẩm thì còn có thân và tâm. Khi hết thực phẩm, thân xác chết, tâm tan biến. Liệu người quan sát có diệt vong?
H: Tôi đoán là khoong. Nhưng tôi không có bằng chứng.
M: Ông, chính ông là bằng chứng. Ông không có và không thể có bất cứ bằng chứng nào khác. Ông là chính ông, ông biết chính ông, ông yêu quý chính ông. Bất cứ gì tâm làm, tâm đều làm vì lòng yêu quí cái Ta của chính nó. Chính bản chất của cái Ta là tình yêu. Nó được yêu quý, nó yêu quý và rất đáng yêu quý. Chính cái Ta làm cho thân và tâm trở nên thú vị đến như thế, thân quý đến như thế. Ngay chính sự ân cần chu đáo dành cho tâm và thân cũng từ cái Ta mà ra.
H: Nếu cái Ta không phải thân hay tâm, liệu nó có thể tồn tại mà không có tâm hay thân?
M: Có, nó có thể. Kinh nghiệm thực tế cho thấy cái Ta hiện hữu không tùy thuộc vào thân và tâm. Nó là sự hiện hữu - tánh biết - an lạc. Biết rõ hiện hữu là an lạc.
H: Có thể với ông đó là kinh nghiệm thực tế, nhưng với tôi thì không. Làm sao tôi có thể đạt đến kinh nghiệm đó? Tôi phải theo phương pháp nào, tôi phải tu tập những gì?
M: Để biết ông không phải là thân hay tâm, ông phải thường xuyên quan sát chính ông; sống nhưng đừng để thân tâm tác động, hoàn toàn lìa xa thân tâm như thể ông đã chết. Điều này có nghĩa ông chẳng mong cầu gì nơi tâm hay thân.
H: Nguy hiểm quá!
M: Ta không bảo ông tự sát. Mà ông cũng không thể tự sát. Ông chỉ có thể giết chết thân xác, nhưng ông không thể chấm dứt diễn tiến của tâm, mà ông cũng không thể khai tử con người mà ông nghĩ ông là con người đó. Chỉ cần thản nhiên. Trạng thái hoàn toàn xa lìa, thản nhiên đối với tâm và thân là bằng chứng rõ ràng nhất cho ông thấy rằng ở tận cùng cốt tủy hiện hữu của ông, ông không phải tâm hay thân. Những gì xảy ra đối với tâm và thân có thể là ở ngoài khả năng thay đổi của ông, nhưng ông có thể hoàn toàn chấm dứt tưởng tượng chính ông là thân và tâm. Dù bất cứ gì xảy ra, hãy nhắc nhở ông rằng chỉ có thân và tâm của ông - chứ không phải chính ông - chịu ảnh hưởng. Càng thành khẩn ghi nhớ những gì cần được ghi nhớ, thì ông càng sớm nhận ra chính ông như ông là, vì ký ức sẽ trở thành kinh nghiệm. Chính thành khẩn làm cho hiện hữu hiển lộ. Cái gì được tưởng tượng và ước muốn mãnh liệt đều trở thành hiện thực - sự nguy hiểm là ở đây và đây cũng là lối thoát.
H: Tôi là con người của y khoa, tôi đã từng nghiên cứu rất nhiều. Tôi áp đặt cho chính mình một kỷ luật nghiêm khắc trong sự tập luyện, và nhịn ăn định kỳ; tôi là người ăn chay.
M: Ông sẵn sàng trả giá nào để tìm ra thực tại? Bằng mọi giá?
H: Về lý thuyết thì tôi sẵn sàng trả bằng mọi giá, nhưng trong đời sống thực tế tôi vẫn thường bị thôi thúc hành xử theo những cách xen vào giữa tôi và thực tại. Tôi bị lòng ham muốn cuốn đi.
M: Hãy gia tăng và mở rộng những ham muốn của ông cho đến khi thực tại mới thỏa mãn được chúng. Sự sai lầm không phải là lòng ham muốn, mà là sự nông cạn và hẹp hòi của nó. Ham muốn là tận tình dâng hiến. Bằng mọi cách hãy tận tình dâng hiến cho trái tim chơn thật, vô biên và vĩnh cửu của hiện hữu. Hãy chuyển hóa lòng ham muốn thành tình yêu. Tất cả những gì ông mong muốn là hạnh phúc. Tất cả những ham muốn của ông, dù là gì đi nữa, đều là những thể hiện sự mong cầu hạnh phúc của ông.
Một cách căn bản nhất, ông ước muốn chính ông được tốt lành. H: Tôi biết rằng tôi không nên…
M: Hãy khoan! Ai bảo ông rằng ông không nên? Tại sao mong muốn hạnh phúc là điều sai trái?
H: Cái Ta phải ra đi, tôi biết.
M: Nhưng cái Ta vẫn có đó. Những ham muốn của ông vẫn có đó. Lòng mong cầu hạnh phúc của ông có đó. Vì sao thế? Vì ông yêu quý chính ông. Bằng mọi cách hãy yêu quý chính ông - một cách sáng suốt. Chỉ có yêu quý chính mình một cách mù quáng mới sai lầm, vì như thế sẽ làm ông đau khổ. Hãy yêu chính ông một cách sáng suốt. Hưởng lạc lẫn khổ hạnh đều có cùng một mục đích: làm cho ông hạnh phúc. Hưởng lạc là con đường mù quáng, khổ hạnh là con đường sáng suốt.
H: Thế nào là khổ hạnh?
M: Không lập lại một kinh nghiệm đã trải qua là khổ hạnh. Tránh làm những gì không cần thiết là khổ hạnh. Không mong chờ lạc thú hay đau khổ là khổ hạnh. Duy trì mọi thứ thường xuyên ổn định là khổ hạnh. Tự thân ham muốn thì chẳng có gì là sai lầm. Chính cuộc đời là sự thôi thúc trưởng thành trong kiến thức và kinh nghiệm.
Chính những sự lựa chọn của ông là sai lầm. Tưởng tượng rằng một vài thứ cỏn con - ăn uống, tình dục, quyền thế, danh vọng - sẽ làm ông hạnh phúc là tự lừa dối chính ông. Chỉ có cái vô biên và sâu thẳm như cái Ta thật của ông mới đem lại cho ông hạnh phúc thật sự và lâu bền.
H: Một cách căn bản, không có gì sai khi ham muốn là sự thể hiện lòng yêu quí cái Ta, nhưng làm thế nào để chế ngự ham muốn?
M: Hãy sống cuộc sống của ông một cách trí tuệ, với tất cả chú ý về cái Ta sâu kín nhất của ông luôn luôn ở trong tâm. Xét cho cùng, ông thật sự muốn gì? Không phải sự toàn hảo, vì chính ông đã toàn hảo. Cái ông tìm kiếm, thể hiện trong hành động, là cái mà ông là. Vì mục đích đó nên ông có thân và tâm. Hãy tiếp nhận chúng và bắt chúng phục vụ ông.
H: Ai là người điều khiển ở đây? Ai là người nhận thân-tâm?
M: Cái tâm đã được thanh tẩy là tôi tớ trung thành của cái Ta. Nó đảm nhận các công cụ, trong cũng như ngoài, và dùng các công cụ đó để phục vụ mục đích của chúng.
H: Mục đích của chúng là gì?
M: Cái Ta có tính cách vũ trụ và mục đích của nó cũng có tính cách vũ trụ. Không hề có gì là cá nhân về cái Ta. Sống một cuộc sống ngăn nắp, nhưng đừng biến nó thành cứu cánh. Nó phải là điểm khởi đầu cho một sự dấn thân cao cả.
H: Theo ông tôi có nên đến Ấn Độ thường xuyên?
M: Nếu thành tâm thì ông chẳng cần bôn ba đây đó. Ông là chính ông ở bất cứ đâu có ông, và ông tạo ra thời tiết của chính ông. Đi lại và vận chuyển không cho ông sự giải thoát. Ông không phải là thân xác, kéo lê thân xác từ nơi này đến nơi khác chẳng đưa ông đến đâu. Tâm ông hoàn toàn tự do ngao du ba cõi - hãy tận dụng tâm ông.
H: Nếu tôi tự do, vì sao tôi lại ở trong thân xác?
M: Ông không ở trong thân xác, thân xác ở trong ông! Tâm ở
trong ông. Chúng xảy ra với ông. Chúng có đó vì ông thấy chúng thích thú. Bản tánh của chính ông có khả năng vô biên để thọ dụng. Nó đầy những sự thích thú và cảm xúc. Nó soi sáng tất cả những gì xuất hiện trong tiêu điểm của tánh biết, không loại trừ bất cứ gì. Nó không hề biết đến sự độc ác hay xấu xa; nó hy vọng, tin tưởng, và yêu thương. Những người như ông rằng vì không nhận ra cái Ta thật của chính mình, ông không thấy được biết bao nhiêu điều khác. Ông không phải là thân hay tâm, không phải là nhiên liệu hay lửa. Chúng xuất hiện và biến mất theo quy luật của riêng chúng.
Cái ông là - cái Ta thật của ông - hãy yêu quý nó, và bất cứ gì ông làm, hãy làm cho hạnh phúc của chính ông. Tìm ra nó, biết nó, và yêu quý nó là sự thôi thúc căn bản của ông. Từ vô thủy, ông đã yêu quý ông, nhưng ông chưa bao giờ yêu quý ông một cách sáng suốt. Hãy dùng thân và tâm ông một cách sáng suốt để phục vụ cái Ta, tất cả chỉ có thế. Hãy thành thật với cái Ta của chính ông, yêu quý cái Ta của ông một cách tuyệt đối. Đừng giả vờ yêu thương người khác như yêu quý chính ông. Chỉ khi nào ông đã nhận ra rằng họ là một với chính ông thì lúc đó ông mới yêu quý họ. Đừng giả vờ là cái mà ông không phải, đừng từ chối cái mà ông là. Tình yêu tha nhân của ông là kết quả - chứ không phải nguyên nhân - của sự biết chính mình. Nếu khôn giác ngộ chính mình thì chẳng có công hạnh nào là công chính. Bao giờ ông biết - không còn một nghi hoặc - rằng chỉ có một giòng sống chảy xuyên suốt tất cả, và ông chính là giòng sống đó thì ông sẽ yêu thương tất cả một cách tự nhiên và tự sinh khởi. Khi nhận ra được chiều sâu và lòng viên mãn của sự yêu quý chính ông thì ông hiểu rằng mỗi một sinh vật và toàn thể vũ trụ đều được dung nhiếp trong cảm xúc của ông. Nhưng khi ông thấy bất cứ gì cũng tách biệt với ông thì ông không thể yêu quý nó, vì ông sợ nó. Sự xa lạ gây nên sợ hãi, và sợ hãi đào sâu thêm sự xa lạ. Đó là một cái vòng luẩn quẩn. Chỉ có sự giác ngộ chính mình mới có thể phá vỡ nó. Hãy thực hiện điều này một cách kiên quyết.
CHƯƠNG 46. QUAN SÁT TÂM ÔNG
Hỏi: Trong khi tìm kiếm cái thiết yếu một người nhận ra ngay mình không đủ khả năng, và thấy cần phải có người hướng dẫn hay một đạo sư. Điều này hàm ý một hình thức kỷ luật nào đó vì người môn đồ được mong đợi phải tin tưởng người hướng dẫn, và hoàn toàn làm theo sự khuyên bảo và chỉ giáo của người đó. Tuy nhiên những thúc bách và sức ép của xã hội quá lớn, những ham muốn và lo sợ cá nhân quá mạnh, nên yếu tố cần thiết cho sự tuân hành - tức là sự hồn nhiên của tâm và ý chí - không thể sẵn sàng. Làm thế nào để tạo được sự quân bình giữa sự cần thiết phải có một đạo sư, và sự khó khăn trong việc tuân theo vị đạo sư một cách hoàn toàn?
Maharaj: Cái gì được làm dưới sức ép của xã hội và hoàn cảnh thì không quan trọng lắm, vì nó gần như máy móc, và thuần phản ứng đối với các tác động. Chỉ cần điềm nhiên quan sát chính mình để tự tách ly với những gì đang xảy ra là đủ. Những hành động không chú ý, vô minh, có thể cộng thêm vào nghiệp của người tạo tác, ngoài ra thì chẳng có gì quan trọng. Vị đạo sư chỉ yêu cầu một điều duy nhất: sự trong sáng và tính mãnh liệt của mục đích, ý thức trách nhiệm với chính mình. Phải đặt câu hỏi về thực thể của thế giới. Xét cho cùng, ai là Đạo sư? Người nào chứng được cảnh giới trong đó không có thế giới mà cũng chẳng có ý tưởng về thế giới thì người đó là Vô Thượng Sư. Tìm ra vị Đạo sư Vô thượng đó có nghĩa là đạt đến trạng thái trong đó tưởng tượng không còn bị ngộ nhận là thực tại. Xin hiểu cho rằng Đạo sư tiêu biểu cho thực tại, cho chân lý, cho hiện hữu. Đạo sư là người hiện thực trong ý nghĩa cao nhất của từ ngữ này. Đạo sư không thể và sẽ không chấp nhận tâm cùng những trò lừa gạt của nó. Đạo sư đến để đưa ông đến với cái thật, đừng mong đợi Đạo sư làm bất cứ gì khác.
Vị Đạo sư theo ý nghĩ của ông - tức là người cho ông kiến thức và chỉ thị - thì không phải là một chân sư. Chân sư là người biết cái thật, bên ngoài sự hào nhoáng của mọi hình tướng. Đối với chân sư thì những câu hỏi của ông về sự tuân hành và kỷ luật đều vô nghĩa, vì trong cái nhìn của chân sư con người mà ông cho là ông không tồn tại. Những câu hỏi của ông là về một con người không tồn tại. Cái gì tồn tại với ông thì không tồn tại với chân sư. Cái mà ông cho là đương nhiên thì chân sư phủ nhận hoàn toàn. Chân sư muốn ông thấy chính ông như chân sư thấy ông. Lúc đó ông chẳng cần đến một Đạo sư để vâng lời và đi theo, vì ông sẽ vâng lời và đi theo thực tại của chính ông. Hãy nhận ra rằng bất cứ gì ông nghĩ là ông chỉ là một giòng các sự kiện, và trong khi mọi thứ đang diễn ra, đến và đi, thì chỉ có ông hiện hữu - cái bất biến giữa những cái thay đổi, sự tự chứng trong số những suy diễn. Hãy tách cái được quan sát ra khỏi người quan sát, và từ bỏ những nhận dạng sai lầm.
H: Để tìm kiếm thực tại, một người cần phải loại bỏ các chướng ngại. Mặt khác, sự cần thiết phải sinh tồn trong một xã hội nhất định buộc một người phải làm và chịu đựng rất nhiều thứ. Liệu có cần phải bỏ cả nghề nghiệp và địa vị xã hội để tìm thực tại?
M: Cứ hành nghề của ông. Khi nào có chút rảnh rang, hãy nhìn vào trong. Điều quan trọng là đừng bỏ lỡ cơ hội khi nó tự hiện đến. Nếu nhiệt tình ông sẽ tận dụng trọn vẹn thời gian rảnh rỗi của ông. Thế là đủ.
H: Trong sự tìm kiếm cái thiết yếu và loại bỏ những cái không cần thiết, có một lĩnh vực nào cho sinh hoạt sáng tạo không? Chẳng hạn như tôi yêu hội họa. Dành thời gian rảnh rỗi để vẽ tranh có giúp gì cho tôi không?
M: Dù có phải làm bất cứ gì, hãy quan sát tâm ông. Ngoài ra, ông cũng phải có những lúc hoàn toàn an ổn và yên tĩnh bên trong, khi tâm ông hoàn toàn tĩnh lặng. Nếu ông không thấy điều đó thì ông không thấy tất cả. Nếu ông thấy, thì sự im lặng của tâm sẽ hòa tan và hóa giải tất cả những cái khác.
Khó khăn của ông là ông vừa muốn và vừa sợ thực tại. Ông sợ
thực tại vì ông không biết nó. Ông cảm thấy an tâm với những cái quen thuộc tức là cái đã biết. Cái không biết thì không chắc chắn, và do đó nguy hiểm. Biết thực tại là ở với thực tại trong sự hài hòa. Trong sự hài hòa thì không có chỗ cho sợ hãi.
Một đứa trẻ biết thân xác của nó, nhưng nó không biết những khác biệt dựa trên thân xác. Nó chỉ biết và vui thích. Xét cho cùng, biết và vui thích là mục đích mà nó được sinh ra. Sự vui thích hiện hữu là hình thức đơn giản nhất của lòng yêu quý chính mình, mà sau này phát triển thành lòng yêu quý cái Ta. Hãy là một đứa trẻ mà không có gì xen vào giữa thân xác và cái Ta. Khi tiếng huyên náo không ngớt của đời sống tâm linh vắng bặt, và trong sự im lặng sâu thẳm, cái Ta ngắm nhìn thân xác. Đứa trẻ cũng giống như một tờ giấy trắng trên đó chưa viết gì. Hãy là đứa trẻ thơ đó, thay vì cứ loay hoay tìm cách là thế này hay thế nọ; hãy vui sướng hiện hữu. Ông sẽ là nhân chứng hoàn toàn tỉnh thức về phạm trù ý thức. Nhưng đừng để cảm thọ và ý nghĩ nào xen vào giữa ông và phạm trù.
H: Bằng lòng với sự hiện hữu thuần túy thì có vẻ như là một cách vị kỷ nhất để giết thời gian.
M: Một cách vị kỷ xứng đáng nhất! Bằng mọi cách hãy vị kỷ, hãy từ bỏ tất cả ngoại trừ cái Ta. Khi chỉ yêu cái Ta và ngoài ra không còn gì khác thì ông siêu vượt cái vị kỷ và vô vị kỷ. Mọi khác biệt không còn ý nghĩa. Tình yêu cái một và tình yêu tất cả hòa nhập với nhau trong tình yêu, thuần túy và chân phương, không dành riêng cho ai và cũng không từ chối một ai. Hãy ở trong tình yêu đó, đi sâu hơn nữa vào trong nó, tìm hiểu chính ông và yêu sự tìm hiểu thì không những ông giải quyết mọi phiền trược của riêng ông mà còn tất cả mọi phiền trược của nhân loại. Ông sẽ biết phải làm gì. Đừng đặt những câu hỏi thiển cận, hãy chuyên tâm vào những cái căn bản, gốc gác sự hiện hữu của ông.
H: Có cách nào để tôi tăng tiến nhanh chóng trong sự nghiệp giác ngộ chính mình?
M: Dĩ nhiên là có.
H: Ai sẽ thực hiện sự tăng tiến này? Liệu ông sẽ làm điều đó giúp tôi?
M: Sự tăng tiến chẳng cần đến ông mà cũng không cần đến Ta. Nó sẽ tự xảy ra.
H: Việc tôi đến đây đã chứng tỏ điều đó. Có phải sự tăng tiến này là do thân cận với bậc thánh nhân? Khi rời khỏi đây lần trước, tôi hy vọng sẽ trở lại. Và tôi đã trở lại! Bây giờ tôi lại tiếc rằng mình chẳng còn bao lâu nữa phải trở về Anh.
M: Ông giống như một đứa trẻ sơ sinh. Trước khi được sinh ra nó đã có, nhưng nó không biết sự hiện hữu của chính nó. Khi nó được sinh ra thì một thế giới xuất hiện trong nó, cùng với ý thức về sự hiện hữu. Và bây giờ ông phải lớn lên trong ý thức, tất cả chỉ có thế. Đứa trẻ đó là ông vua của thế giới - khi lớn lên nó sẽ cai quản vương quốc của nó. Thử tưởng tượng khi còn thơ ấu nó bị một cơn bạo bệnh, nhưng được một thầy thuốc chữa khỏi. Liệu vị ấu vương này có được vương quốc là nhờ người thầy thuốc? Người thầy thuốc có thể chỉ là một trong những yếu tố góp phần. Còn rất nhiều yếu tố khác; tất cả đã góp phần. Nhưng yếu tố chính, yếu tố quyết định vẫn là sự sinh ra làm con một ông vua. Tương tự như thế, vị Đạo sư có thể trợ lực. Nhưng điều chính yếu là thực tại sẵn có bên trong. Thực tại sẽ tự khẳng định chính nó. Việc ông đến đây chắc chắn đã giúp ích ông. Đó không phải điều duy nhất sẽ giúp ông. Cái chính yếu là sự hiện hữu của ông. Sự tha thiết của ông đã chứng minh điều đó.
H: Theo đuổi một nghề nghiệp có phủ nhận sự tha thiết của tôi?
M: Ta đã bảo ông rồi. Chừng nào ông còn dành cho mình thật nhiều lúc an ổn thì ông vẫn có thể an toàn hành nghề cao quý của ông. Những lúc tĩnh lặng bên trong này chắc chắn sẽ hủy diệt mọi chướng ngại. Đừng hoài nghi sự hiệu nghiệm của nó. Cứ thử xem.
H: Tôi đã thử rồi!
M: Nhưng chưa bao giờ tin tưởng, chưa bao giờ kiên quyết. Nếu tin tưởng và kiên quyết thì ông đã không hỏi những câu như thế. Ông hỏi vì ông không tự tin. Ông không tự tin vì chẳng bao giờ ông chú ý đến chính ông, mà chỉ chú ý đến những kinh nghiệm của ông. Hãy quan tâm với chính ông ngoài mọi kinh nghiệm, hãy ở với chính ông, yêu quý chính ông; sự an toàn tối hậu chỉ được tìm thấy trong sự biết rõ chính mình. Điều quan trọng là sự tha thiết. Hãy thành thật với chính ông thì không có gì phản bội được ông.
Đức hạnh và quyền năng chỉ là những đồng xu giả cho trẻ con chơi. Chúng hữu ích trong thế giới, nhưng không đem ông ra ngoài thế giới. Để đi ra ngoài, ông cần sự tỉnh thức bất động, sự chú ý trong im lặng.
H: Thể xác của một người lúc đó sẽ như thế nào?
M: Bao giờ còn khỏe mạnh thì ông còn sống.
H: Cuộc sống bất động bên trong này không ảnh hưởng đến sức khỏe?
M: Thân xác ông chỉ là thực phẩm chuyển hóa. Thức ăn của ông thế nào, thô hay tế, thì sức khỏe của ông thế ấy.
H: Chuyện gì sẽ xảy ra với bản năng tình dục? Làm sao có thể tiết chế được nó?
M: Tình dục chỉ là một thói quen được huân tập. Vượt ra khỏi nó. Chừng nào còn chú trọng đến thân xác thì ông còn ở trong sự kiềm tỏa của ăn uống và tình dục, sợ hãi và cái chết. Hãy tìm ra chính ông và giải thoát.
CHƯƠNG 47. BIẾT LÀ TỰ DO
Hỏi: Tôi ở tịnh xá Sri Ramanashram đến. Tôi tu tập ở đó bảy tháng nay.
Maharaj: Lúc ở tịnh xá, ông đã thực hành những gì? H: Tôi cố gắng tập trung vào câu “Ta là ai?” M: Ông thực hành như thế nào? Niệm thành tiếng?
H: Vào những lúc rảnh rỗi trong ngày. Có khi tôi niệm thành
tiếng “Ta là ai?” “Ta là, nhưng Ta là ai?” hoặc có khi tôi niệm thầm trong tâm. Thỉnh thoảng tôi vẫn có những cảm xúc dễ chịu, hoặc thể nhập vào những trạng thái an lạc trong tĩnh lặng. Về tổng thể, tôi tìm cách im lặng và cảm nhận, thay vì cố tìm kiếm kinh nghiệm.
M: Ông đã thật sự chứng nghiệm những gì khi ở trong chánh định?
H: Một cảm giác tĩnh lặng bên trong, an ổn và im lặng.
M: Thế ông có để ý thấy ông trở nên vô thức?
H: Có, thỉnh thoảng và tình trạng vô thức chỉ xảy ra rất ngắn. Ngoài ra, tôi ở trong trạng thái tĩnh lặng, bên ngoài lẫn bên trong.
M: Đó là loại tĩnh lặng gì? Một trạng thái giống như ngủ sâu những luôn biết, trạng thái ngủ tỉnh thức?
H: Vâng, ngủ tỉnh thức - Jagrit-Sushypti.
M: Điều chính yếu là không còn những cảm xúc tiêu cực - tham ái, lo sợ, vân vân, “sáu kẻ thù” của tâm. Một khi tâm không còn những cảm xúc như thế, những gì còn lại sẽ đến một cách dễ dàng. Cũng như quần áo ngâm trong nước xà phòng sẽ trở nên sạch thì tâm sẽ được thanh tẩy trong giòng cảm xúc thanh tịnh.
Khi ngồi tĩnh lặng và quan sát chính ông, đủ mọi thứ sẽ nổi lên trên bề mặt. Đừng động đến chúng, đừng phản ứng lại chúng; chúng tự đến và tự đi. Điều quan trọng nhất vẫn là sự tỉnh thức, hoàn toàn biết rõ chính Ta, hay đúng hơn là tâm ta.
H: Ông nói “chính ta” có nghĩa là cái ta hằng ngày?
M: Phải, con người, chỉ con người mới có thể quan sát được từ bên ngoài. Người quan sát ở bên ngoài sự quan sát. Cái có thể quan sát được thì không phải là cái Ta thật.
H: Bằng cách lùi lại liên tục, tôi luôn luôn có thể quan sát người quan sát.
M: Ông chỉ có thể quan sát sự quan sát, nhưng ông không thể quan sát người quan sát. Ông biết ông là người quan sát tối hậu bằng trực giác, chứ không phải thông qua một tiến trình lý luận dựa vào sự quan sát. Ông là cái ông là, nhưng ông chỉ biết cái mà ông không là. Cái Ta được biết như sự hiện hữu, cái không phải là Ta được biết như cái nhất thời. Nhưng trong thực tế tất cả đều ở trong tâm. Cái được quan sát, sự quan sát và người quan sát đều là những cơ cấu của tâm. Chỉ riêng cái Ta hiện hữu.
H: Tại sao tâm lại tạo ra những phân chia này?
M: Phân chia và phân biệt hóa đều thuộc về bản chất của tâm. Chẳng có gì tai hại trong sự phân chia. Nhưng sự tách biệt đi ngược lại với thực tế. Sự vật và con người khác nhau, nhưng không tách biệt nhau. Thiên nhiên là một, thực tại là một. Có những sự trái ngược nhưng không có sự chống đối.
H: Tôi nhận thấy về bản chất, tôi rất hiếu động. Ở đây tôi được khuyên là tránh hoạt động. Càng tìm cách bất động thì sự thôi thúc phải làm một cái gì đó lại càng trở nên mãnh liệt hơn. Điều này không những làm tôi hiếu động bên ngoài, mà còn khiến tôi giằng co xung đột bên trong để là cái, mà theo bản chất, không phải là tôi. Có phương cách nào đối trị sự thôi thúc phải làm một việc gì đó?
M: Giữa làm việc và thuần hoạt động có một sự khác biệt. Toàn thể giới tự nhiên làm việc. Làm việc là tự nhiên, tự nhiên là làm việc. Trái lại, hoạt động dựa vào ước muốn và lo sợ, dựa vào sự mong muốn chiếm hữu và hưởng thụ, dựa vào nỗi lo sợ bị đau đớn và diệt vong. Làm việc là bởi tất cả cho tất cả, còn hoạt động là bởi chính mình và cho chính mình.
H: Có sự đối trị nào cho hoạt động?
M: Chỉ cần quan sát nó, và nó sẽ tự chấm dứt. Hãy vận dụng mọi cơ hội để tự nhắc nhớ rằng ông đang bị ràng buộc, rằng bất cứ gì xảy ra cho ông là vì có sự tồn tại thân xác của ông. Ước muốn, sợ hãi, phiền trược, sự vui sướng không thể xảy ra nếu không có ông để chúng xảy ra. Do đó, bất cứ gì xảy ra đều nhắm (point) vào sự tồn tại của ông như là một trung tâm nhận thức. Đừng bận tâm đến những vật nhắm (pointers), mà biết rõ chúng nhắm vào cái gì. Điều này rất đơn giản, nhưng cần phải thực hành. Điều quan trọng là sự kiên trì mà ông cần phải có để tiếp tục quay lại với chính ông.
H: Tôi vẫn thường rơi vào những trạng thái kỳ lạ của sự mất hút sâu thẳm trong chính mình, nhưng rất bất chợt và thoáng qua. Tôi không cho rằng mình có thể kiểm soát được những trạng thái như thế.
M: Thân là một vật thể và cần thời gian để thay đổi. Tâm chỉ là một tập hợp những thói quen tâm lý, cung cách tư duy và cảm thọ. Muốn thay đổi chúng thì phải đem chúng lên trên mặt và tìm hiểu. Điều này cũng cần đến thời gian. Chỉ cần cương quyết và kiên trì, những gì còn lại sẽ tự giải quyết.
H: Tôi hầu như biết rất rõ những gì cần phải làm, nhưng lại cảm thấy buồn chán rồi đi tìm sự bầu bạn với người khác, mà như thế thì uổng phí thời gian đáng lẽ ra phải dành cho sự độc cư và thiền định.
M: Cứ làm bất cứ gì ông thích. Đừng hành hạ chính ông! Bạo lực sẽ làm ông tàn nhẫn và chai đá. Đừng chống lại những gì ông cho là chướng ngại trên đường ông đi. Chỉ chú ý đến chúng, quan sát và tìm hiểu. Cứ để mọi chuyện xảy ra, dù tốt hay xấu. Nhưng đừng để những gì xảy ra nhận chìm ông.
H: Mục đích của sự thường xuyên nhắc nhớ chính mình là người quan sát là gì?
M: Tâm phải biết rằng bên ngoài cái tâm biến đổi là hậu cảnh của tánh biết bất biến. Tâm phải biết cái Ta thật, tôn trọng cái Ta thật, và chấm dứt che lấp cái Ta thật, như mặt trăng che lấp mặt trời trong thời gian nhật thực. Chỉ cần nhận ra rằng cái có thể quan sát được, kinh nghiệm được thì không thể là ông, hay ràng buộc được ông. Đừng để ý đến những gì không phải là ông.
H: Muốn làm những gì ông nói tôi phải thường xuyên biết.
M: Biết là tỉnh thức. Không biết có nghĩa là ngủ. Dù sao thì ông vẫn biết mà không cần phải cố gắng để biết. Điều ông cần là biết ông biết. Biết một cách chủ động và có ý thức, hãy mở rộng và đào sâu phạm trù của tánh biết. Ông luôn luôn có ý thức về tâm, nhưng ông không biết chính ông đang ý thức.
H: Theo chỗ tôi hiểu, ông minh định những ý nghĩa riêng biệt cho các từ ngữ “tâm”, “ý thức”, và “tánh biết”.
M: Hãy nhìn sự việc như thế này. Tâm không ngừng tạo ra ý nghĩ, ngay cả những khi ông không để ý đến chúng. Khi ông biết những gì đang diễn ra trong tâm, ông gọi đó là ý thức. Đây là trạng thái thức của ông - ý thức của ông di chuyển từ cảm thọ này sang cảm thọ khác, từ nhận thức này sang nhận thức khác, từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác trong một chuỗi diễn biến bất tận. Rồi đến tánh biết, tức là trực giác về toàn thể ý thức, tổng thể của tâm. Tâm cũng giống như một giòng sông, chảy không ngừng trong lòng thân xác; ông đồng hóa chính mình, trong một khoảnh khắc, với một gợn sóng riêng biệt nào đó, và gọi nó là: “ý nghĩ của tôi”. Tất cả những gì ông ý thức chính là tâm ông; tánh biết là sự biết rõ ý thức như một tổng thể.
H: Mọi người đều có ý thức, nhưng không phải ai cũng biết.
M: Đừng nói: “Mọi người đều có ý thức,” mà nói: “Có ý thức,” trong đó mọi cái xuất hiện và biến mất. Tâm của chúng ta chỉ là những đợt sóng trong đại dương ý thức. Là sóng thì chúng đến và đi. Là đại dương thì chúng bao là và vĩnh cửu. Hãy biết rõ chính ông là đại dương bao la và vĩnh cửu, cội nguồn của mọi sự sống. Dĩ nhiên những gì Ta nói chỉ là ẩn dụ. Thực tại ở ngoài mọi mô tả. Ông chỉ có thể biết nó bằng cách là nó.
H: Liệu sự tìm kiếm thực tại có đáng để chuốc lấy phiền trược?
M: Không có thực tại thì tất cả đều là phiền trược. Nếu muốn sống một cách lành mạnh, sáng tạo vui sướng, và giầu có vô tận để chia sẻ thì hãy tìm cái ông là.
Trong khi tâm ở trong thân, và ý thức ở trong tâm, thì tánh biết hoàn toàn tự do. Thân có những đòi hỏi của thân, tâm có những đau khổ và lạc thú của tâm. Tánh biết thì vô tư và bất di bất dịch. Tánh biết thì linh hoạt, tĩnh lặng, an lạc, tỉnh thức và vô ưu, vô tham ái và vô úy. Hãy quán nó là chính sự hiện hữu đích thực của ông, và tìm cách là nó trong cuộc sống hàng ngày, rồi ông sẽ nhận ra tánh biết trong sự viên mãn của nó.
Tâm chú ý đến những gì xảy ra, còn tánh biết chú ý đến tâm. Đứa trẻ mải mê với món đồ chơi, bà mẹ chăm chú nhìn đứa con, mà không nhìn món đồ chơi.
Bằng cách quan sát không mệt mỏi, Ta trở nên hoàn toàn rỗng rang, và với sự rỗng rang đó tất cả đã trở lại với Ta, ngoại trừ tâm. Ta nhận ra mình đã đánh mất tâm vĩnh viễn.
H: Trong lúc đang nói chuyện với chúng tôi như bây giờ, ông vô thức?
M: Ta không ý thức mà cũng chẳng vô thức. Ta ở ngoài tâm cùng với vô số những trạng thái và điều kiện của nó. Mọi khác biệt đều do tâm tạo ra và chỉ áp dụng cho tâm. Ta là tự thân của Ý thức thuần túy, tánh biết nguyên vẹn của tất cả những gì hiện hữu. Ta ở trong trạng thái thật hơn trạng thái của ông. Ta không hề bị rối trí bởi những khác biệt và phân chia mà những khác biệt và phân chia đó cấu thành một con người. Bao giờ thân xác này còn thì nó vẫn có những nhu cầu như mọi thân xác khác, nhưng diễn tiến tâm lý của Ta đã chấm dứt.
H: Nhưng ông hành sử như một người suy nghĩ.
M: Tại sao lại không? Nhưng sự suy nghĩ của Ta, cũng như sự tiêu hóa, thì vô thức và có chủ đích.
H: Nếu sự suy nghĩ của ông là vô thức, làm sao ông biết điều ông suy nghĩ là đúng?
M: Khi không còn bị tham ái hay lo sợ ngăn trở thì cái gì có thể làm cho suy nghĩ sai lầm? Một khi đã biết rõ chính Ta và Ta có nghĩa là gì thì Ta không cần phải luôn luôn kiểm soát lại mình. Một khi biết rõ đồng hồ của ông luôn luôn chính xác, ông có do dự mỗi lần nhìn nó xem giờ.
H: Như ngay lúc này, ai nói nếu không phải là tâm?
M: Cái nghe câu hỏi, trả lời câu hỏi.
H: Nhưng là ai?
M: Không phải ai, mà cái. Dù Ta có vẻ là một người theo cái nhìn của ông, nhưng Ta không phải là con người theo nghĩa ông hiểu từ ngữ này. Ta là đại dương bao la của ý thức trong đó mọi cái xảy ra. Ta ở ngoài mọi sự tồn tại và nhận thức, Ta là sự an lạc thuần túy của hiện hữu. Ta không cảm thấy tách biệt với bất cứ gì, do đó Ta là tất cả. Không cái gì là Ta, vì vậy Ta không là cái gì cả.
Năng lượng duy nhất - làm cho lửa cháy, nước chảy, hạt giống nảy mầm và cây mọc - làm cho Ta trả lời các câu hỏi. Không có gì thuộc về con người là Ta dù cho ngôn ngữ và cách nói có vẻ như thuộc về con người. Con người là một tập hợp những mô thức của tham ái, ý nghĩ và hành động đưa đến hậu quả. Không có một mô thức như thế trong trường hợp của Ta. Ta không còn tham ái hay lo sợ thì làm sao có thể có một mô thức?
H: Nhưng ông không thể tránh khỏi cái chết?
M: Sự sống sẽ thoát ra, thân xác sẽ chết, nhưng điều đó không hề ảnh hưởng đến Ta. Ta siêu vượt không gian và thời gian, không do tạo tác mà có và cũng không tạo tác, nhưng lại là chính cội nguồn của sự tồn tại.
H: Tôi xin phép hỏi ông đã đạt đến điều kiện hiện nay của ông như thế nào?
M: Tôn sư bảo Ta luôn luôn bám chặt vào ý thức “Ta hiện hữu” không được lơi lỏng dù chỉ trong giây lát. Ta cố gắng làm theo lời Tôn sư, và trong một thời gian tương đối ngắn Ta nhận ra trong chính Ta chân lý của sự chỉ giáo. Tất cả những gì Ta làm là thường xuyên nhớ nghĩ đến sự chỉ giáo, vẻ mặt và lời nói của Tôn sư. Quá trình này đã đoạn diệt tâm; trong sự tĩnh lặng của tâm, Ta đã thấy chính Ta như Ta là - giải thoát.
H: Sự giác ngộ của ông là hốt nhiên hay lâu dần mà có?
M: Không phải cả hai. Ông là cái ông là, không do thời gian mà có. Chính tâm nhận ra cái đó khi nó đã loại trừ tất cả tham ái và lo sợ.
H: Ngay cả ước muốn giải thoát?
M: Ước muốn đoạn trừ tất cả ước muốn là một ước muốn lạ lùng nhất, cũng như sự sợ hãi lo sợ là sự sợ hãi kỳ lạ nhất. Một cái không cho ông nắm bắt, và một cái không cho ông bỏ chạy. Ông có thể sử dụng cùng ngôn từ, nhưng trạng thái thì không giống nhau. Người đi tìm sự giải thoát thì không còn vướng mắc trong ước muốn, người ấy đi ngược với ước muốn, mà không đi cùng. Một sự mong muốn giải thoát chung chung mới chỉ là bước đầu, tìm ra phương pháp thích hợp và sử dụng là bước kế tiếp. Người đi tìm chỉ có một mục đích duy nhất trong tầm nhìn: tìm ra sự hiện hữu chân thật của chính mình. Trước các muốn đó là ước muốn đầy tham vọng nhất, vì không gì và không ai có thể thỏa mãn nó; người đi tìm và cái được tìm là một, chỉ riêng sự tìm kiếm mới quan trọng.
H: Sự tìm kiếm rồi sẽ kết thúc nhưng người tìm kiếm vẫn còn.
M: Không phải, người tìm kiếm sẽ biến mất, sự tìm kiếm vẫn còn. Sự tìm kiếm chính là thực tại tối hậu và phi thời.
H: Tìm kiếm có nghĩa là vắng thiếu, mong cầu, không trọn vẹn, và không toàn hảo.
M: Không phải, nó có nghĩa là phủ nhận và từ khước cái không trọn vẹn và cái không toàn hảo. Sự tìm kiếm thực tại chính nó là động thái của thực tại. Về một phương diện, tất cả mọi sự tìm kiếm đều vì hạnh phúc chơn thật, hay hạnh phúc của cái chơn thật. Nhưng ở đây chúng ta muốn nói tìm kiếm là tìm kiếm chính mình, nguồn gốc của ý thức, ánh sáng bên ngoài tâm. Sự tìm kiếm không bao giờ ngừng, vì vậy sự khao khát những cái khác phải chấm dứt thì sự tiến bộ thực sự mới có thể xảy ra.
Một người cần phải hiểu rằng sự tìm kiếm thực tại, hay Thượng đế, hay Đạo sư, và sự tìm kiếm cái Ta là một; khi một cái được tìm ra thì tất cả đều được tìm ra. Khi “Ta hiện hữu”, và “Thượng đế hiện hữu” không còn phân biệt được trong tâm ông thì một cái gì đó sẽ xảy ra và ông sẽ biết - không chút nghi hoặc - rằng Thượng đế hiện hữu vì ông hiện hữu, ông hiện hữu vì Thượng đế hiện hữu. Hai là một.
H: Tất cả đều do tiền định, vậy sự tự giác ngộ chính mình có do tiền định? Hay ít ra chúng ta cũng được tự do?
M: Định mệnh chỉ áp dụng cho danh xưng và hình tướng. Nếu ông không phải thân hay tâm thì định mệnh không thể khống chế được ông. Ông hoàn toàn tự do. Cái ly bị điều kiện hóa bởi hình dáng, vật liệu, sự sử dụng, vân vân, nhưng khoảng không trong cái ly thì hoàn toàn tự do. Khoảng không ngẫu nhiên ở trong cái ly chỉ khi nào nó được nhìn trong sự tương quan với cái ly, ngoài ra nó chỉ là khoảng không. Chừng nào còn có thân xác thì ông có vẻ là ở trong thân xác. Nếu không có thân xác thì không phải ông lìa khỏi thân xác, mà ông chỉ hiện hữu.
Ngay cả định mệnh cũng chỉ là một ý tưởng. Ngôn từ có thể được sắp xếp với nhau bằng rất nhiều cách. Những phát biểu thì khác nhau, nhưng liệu chúng có tạo rat hay đổi nào trong thực tế? Không biết bao lý thuyết đã được nghĩ ra để giải thích vạn vật - tất cả đều có vẻ hợp lý, nhưng chẳng lý thuyết nào là đúng thật. Khi lái một chiếc xe, ông bị chi phối bởi các định luật cơ học và hóa học, bước ra khỏi xe ông ở trong ảnh hưởng của các định luật sinh lý và sinh hóa.
H: Thiền là gì và những công năng của nó?
M: Đối với kẻ sơ cơ thì một số hình thức thiền nào đó, hoặc cầu nguyện đều có thể thích hợp. Còn đối với người đi tìm thực tại thì chỉ có một pháp thiền - quyết liệt từ chối chứa chấp ý nghĩ. Vô niệm chính là thiền.
H: Làm thế nào để thực hành?
M: Ông bắt đầu bằng cách để cho các ý nghĩ tuôn chảy và quan sát chúng. Chính sự quan sát làm cho giòng tâm chảy chậm dần rồi hoàn toàn dừng lại. Một khi tâm yên tịnh, hãy duy trì sự yên tịnh đó. Đừng cảm thấy nhàm chán sự an ổn, hãy ở trong nó, và đi sâu hơn vào trong nó.
H: Tôi nghe nói về việc bám giữ vào một ý nghĩ để xua đuổi những ý nghĩ khác. Nhưng làm sao có thể xua đuổi tất cả ý nghĩ? Ý tưởng bám giữ vào một ý nghĩ chính nó cũng là một ý nghĩ.
M: Hãy thử nghiệm cách mới, đừng theo kinh nghiệm quá khứ. Quan sát các ý nghĩ của ông, và quan sát chính ông đang quan sát các ý nghĩ. Trạng thái vô niệm sẽ xảy ra một cách bất ngờ, và ông sẽ nhận ra nó nhờ sự an lạc của nó.
H: Ông không hề bận tâm đến tình hình hiện nay của thế giới? Hãy nhìn những cảnh kinh hoàng ở Đông Hồi . Những cảnh đó không làm ông xúc động hay sao?
M: Ta đọc báo và biết chuyện gì đang xảy ra! Nhưng phản ứng của Ta không giống với phản ứng của ông. Ông tìm kiếm phương cách chữa trị, trong khi Ta quan tâm đến sự ngăn ngừa. Bao giờ còn có nguyên nhân thì chắc chắn phải có hậu quả. Bao giờ con người còn có khuynh hướng phân chia và tách biệt, bao giờ con người còn ích kỷ và gây hấn thì những cảnh như thế sẽ xảy ra. Nếu muốn hòa bình và hòa hợp trên thế giới thì con người phải có hòa bình và hòa hợp trong tâm thức và trái tim. Một sự thay đổi như thế không thể áp đặt, mà phải đến từ bên trong. Những ai ghê tởm chiến tranh thì phải loại trừ chiến tranh ra khỏi thể chế của mình. Nếu không có con người hiếu hòa làm sao ông có thể có một thế giới hòa bình? Bao giờ con người còn như họ là thì thế giới phải như nó là. Ta đang làm phần mình để tìm cách giúp con người hiểu rằng chính họ là nguyên nhân duy nhất của mọi thống khổ mà họ đang gánh chịu. Theo nghĩa đó, Ta là một kẻ hữu ích. Nhưng cái Ta là trong chính Ta, trạng thái bình thường của Ta thì không thể được diễn tả theo ý thức và sự hữu ích có tính cách xã hội.
Ta có thể nói về nó, dùng đến các ẩn dụ hay ẩn ngôn, nhưng Ta biết rất rõ nó không phải là như thế. Không phải là nó không thể được kinh nghiệm. Nó chính là cái đang kinh nghiệm! Nhưng nó không thể được mô tả theo cách của tâm, nghĩa là phải phân chia và đối đãi để biết.
Thế giới cũng như một tờ giấy, và có một điều gì đó được đánh máy lên đó. Đọc và hiểu ý nghĩa của những gì được đánh máy thay đổi tùy theo từng người đọc; tờ giấy là yếu tố chung, luôn luôn hiện diện, nhưng hầu như không được biết đến. Khi lấy băng mực ra khỏi máy, hành vi đánh máy không để lại dấu vết nào trên mặt giấy. Tâm của Ta cũng thế - những cảm tưởng vẫn tiếp tục xảy ra, nhưng không để lại dấu vết.
H: Vì sao ông ngồi đây tiếp chuyện những người đến gặp ông? Điều gì thúc đẩy ông?
M: Chẳng có gì thúc đẩy. Ông cho rằng Ta phải có một lý do nào đó. Ta không ngồi đây, mà cũng không nói chuyện, chẳng cần phải tìm kiếm nguyên do. Đừng lầm Ta với thân xác. Ta chẳng có việc gì để làm, nhiệm vụ nào để thi hành. Phần đó của Ta - ông có thể gọi là Thượng đế - chăm lo cho thế giới. Thế giới này của ông - cái thế giới rất cần được chăm sóc - đang sống và chuyển động trong tâm ông. Hãy vào sâu trong nó, ông sẽ tìm ra những câu trả lời, và chỉ ở trong đó mà thôi. Ông chờ mong những câu trả lời từ nơi nào khác đến? Liệu có gì tồn tại bên ngoài ý thức của ông?
H: Có thể có cái tồn tại mà chẳng cần tôi biết hay không biết.
M: Sự tồn tại đó là sự tồn tại gì? Liệu hiện hữu có thể tách rời khỏi biết? Tất cả hiện hữu, cũng như tất cả cái biết đều liên quan đến ông. Một vật hiện hữu bởi vì ông biết nó, hoặc trong kinh nghiệm của ông hoặc trong sự hiện hữu của ông. Thân và tâm ông tồn tại chừng nào mà ông còn tin như thế. Ngừng nghĩ rằng chúng là của ông thì chúng biến mất. Bằng mọi cách cứ để thân và tâm ông hành hoạt, nhưng đừng để chúng hạn chế ông. Nếu nhận ra những cái không toàn hảo, cứ tiếp tục chú ý đến chúng; chính sự chú ý của ông đối với chúng sẽ đặt trái tim và tâm thức của ông vào đúng chỗ.
H: Liệu tôi có thể chữa khỏi một căn bệnh hiểm nghèo chỉ bằng cách nhận biết nó?
M: Hãy nhận biết tổng thể của nó, chứ không phải là những triệu chứng bên ngoài. Mọi bệnh tật đều sinh khởi từ tâm. Điều trị tâm trước bằng cách nhận dạng và loại trừ tất cả những ý nghĩ và cảm xúc sai lầm. Tiếp tục sống và làm việc bất kể bệnh tật, đừng bận tâm đến nó. Một khi đã loại trừ được nguyên nhân thì hậu quả chắc chắn sẽ ra đi.
Người ta trở thành cái mà họ tin rằng họ là. Hãy từ bỏ tất cả ý nghĩ về chính ông, và ông sẽ nhận ra ông chính là nhân chứng thuần túy, ở bên ngoài tất cả những gì có thể xảy ra với thân hay tâm.
H: Nếu tôi trở thành bất cứ gì tôi nghĩ chính tôi là, và tôi nghĩ rằng tôi là Thực tại Tối thượng, như thế không phải Thực tại Tối thượng của tôi cũng chỉ là một ý tưởng?
M: Cứ đạt đến trạng thái đó đi, rồi hãy đặt câu hỏi.
CHƯƠNG 48. TÂM TẠO RA BẤT AN
Hỏi: Nhiều người đến gặp ông để vấn giáo. Làm sao ông biết cách trả lời?
Maharaj: Ta nghe câu hỏi thế nào, thì Ta nghe câu trả lời cũng như thế.
H: Làm sao ông biết câu trả lời của ông là đúng?
M: Một khi đã biết được nguồn gốc thật sự của những câu trả lời, Ta chẳng còn nghi hoặc chúng. Từ cội nguồn thanh tịnh chỉ có nước thanh tịnh chảy ra. Ta không quan tâm đến tham ái và lo sợ của người hỏi. Ta tương hợp với sự kiện thực tế, chứ không tương hợp với ý tưởng. Con người nhận danh xưng và hình tướng làm chính mình, còn Ta không nhận cái gì là chính Ta. Nếu Ta nghĩ mình là thân xác được biết đến bằng một danh xưng thì Ta không thể trả lời các câu hỏi của ông. Nếu Ta xem ông đơn thuần chỉ là một thân xác thì những câu trả lời của Ta chẳng lợi lạc gì cho ông. Không một chân sư nào chìm đắm trong ý tưởng. Chân sư thấy sự vật như chính chúng là và chỉ cho người khác thấy chúng như chính chúng là. Nếu ông cho người hỏi là cái mà họ nghĩ họ là thì ông chỉ làm hại họ, như họ vẫn luôn luôn tự làm hại họ một cách nghiêm trọng. Nhưng nếu ông thấy họ như họ là trong thực tế, thì điều này sẽ đem lại cho họ rất nhiều lợi lạc. Nếu họ nhờ ông chỉ cho họ cái gì phải làm, phương pháp nào phải thực hành, lối sống nào phải theo, thì chỉ trả lời: Chẳng làm gì cả, mà chỉ hiện hữu. Trong hiện hữu tất cả xảy ra một cách tự nhiên.
H: Tôi nhận thấy trong khi nói, ông dùng các tự ngữ “tự nhiên” và “ngẫu nhiên” một cách lẫn lộn. Theo tôi ý nghĩa của hai từ ngữ này khác nhau rất xa. Cái tự nhiên thì ổn định, và theo luật, một người có thể tin tưởng cái tự nhiên. Cái ngẫu nhiên thì hỗn loạn, bất ngờ và không thể đoán trước. Một người có thể giải thích một cách hợp lý rằng mọi cái đều tự nhiên, và theo luật thiên nhiên, còn bảo rằng mọi cái đều là ngẫu nhiên, không có nguyên nhân thì chắc chắn là cường điệu.
M: Nếu Ta dùng chữ “tự sinh khởi” thay cho “ngẫu nhiên” thì chắc ông vừa ý?
H: Ông có thể dùng chữ “tự sinh khởi” hay “tự nhiên” để đối lại với “ngẫu nhiên”. Trong cái ngẫu nhiên có yếu tố bất ổn, và hỗn loạn. Một sự ngẫu nhiên luôn luôn là một sự vi luật, một ngoại lệ, một ngạc nhiên.
M: Thế không phải chính cuộc đời là một chuỗi những ngạc nhiên?
H: Trong tự nhiên có sự hài hòa. Cái ngẫu nhiên là một sự hỗn loạn.
M: Ông nói như một con người, giới hạn trong thời gian và không gian, thu hẹp trong nội dung của một cái thân và một cái tâm. Cái gì thích thì ông gọi là “tự nhiên,” cái không thích ông gọi là “ngẫu nhiên”.
H: Tôi thích cái tự nhiên, cái tuân theo luật pháp, cái được mong đợi, và tôi sợ cái vi luật, cái mất trật tự, cái bất ngờ, cái vô nghĩa. Cái ngẫu nhiên thì hoàn toàn vô lý. Có thể có những cái gọi là “ngẫu nhiên may mắn” nhưng chúng chỉ chứng tỏ quy luật:
không thể có sự sống trong một vũ trụ chỉ có những ngẫu nhiên.
M: Ta nhận thấy có sự hiểu lầm. Ta muốn nói rằng ngẫu nhiên có nghĩa là một cái gì đó mà không một quy luật được biết nào có thể áp dụng đối với nó. Khi bảo rằng mọi thứ đều ngẫu nhiên, không do nhân duyên mà có, Ta chỉ muốn nói rằng các nguyên nhân và quy luật mà theo đó chúng ta vận hành đều ở ngoài sự hiểu biết, và ngay cả sự tưởng tượng của chúng ta. Nếu ông gọi cái mà ông cho là ổn định, hài hòa, có thể đoán biết được là tự nhiên, thì cái gì tuân theo những quy luật cao hơn, và được vận hành bởi những năng lực cao hơn có thể được gọi là tự sinh khởi. Như thế chúng ta có hai sự ổn định tự nhiên: cái thuộc về nhân cách, có thể đoán biết được, và cái phi nhân cách, hay siêu nhân, không thể đoán biết được. Cứ gọi đó là tự nhiên thấp hơn và tự nhiên cao hơn, và quẳng đi từ ngữ ngẫu nhiên. Khi ông trưởng thành trong kiến thức và sự sáng suốt, ranh giới giữa cái tự nhiên thấp hơn và tự nhiên cao hơn dần dần biến mất, nhưng cả hai vẫn còn cho đến khi được thấy là một. Vì, thật là kỳ lạ, mọi cái đều không thể giải thích được!
H: Khoa học giải thích rất nhiều.
M: Khoa học liên quan với danh xưng và hình tướng, khối lượng và chất lượng, mô thức và định luật; nó hoàn toàn đúng trong vị trí của nó. Nhưng cuộc sống phải được sống, không có thời gian để phân tích. Phản ứng phải là tức thời, do đó cái tự sinh khởi và vô thời là thiết yếu. Chúng ta sống và di chuyển trong cái không biết. Cái biết là quá khứ.
H: Tôi chỉ có thể căn cứ vào cái mà tôi nhận thấy tôi là. Tôi là một cá nhân, một con người trong số những con người. Một số người có thể trở nên hội nhập và hòa hợp, còn một số thì không. Có người sống thản nhiên, phản ứng tức thời và chính xác đối với từng tình huống, đánh giá đúng sự cần thiết vào đúng lúc; có người vụng về, sai lầm và thường gây phiền trược cho chính mình. Những người thích ứng để hòa hợp có thể được gọi là tự nhiên, và bị chi phối bởi luật pháp, còn những người không hội nhập thì gây rối và bị chi phối bởi những tình cờ ngẫu nhiên.
M: Ngay chính cái ý tưởng về sự hỗn loạn đã bao hàm ý nghĩa của sự ổn định, có tổ chức và tương quan qua lại. Hỗn loạn và hài hòa - không phải chúng là hai khía cạnh của cùng một trạng thái?
H: Nhưng hình như ông nói rằng tất cả đều hỗn loạn, ngẫu nhiên và không thể đoán trước.
M: Đúng, theo nghĩa không phải tất cả những quy luật của hiện hữu là có thể biết được, và không phải tất cả sự kiện đều có thể đoán trước được. Ông càng hiểu rõ thì vũ trụ càng trở nên mãn nguyện, về mặt cảm xúc lẫn tâm lý. Thực tại thì tốt và đẹp, chúng ta tạo ra sự hỗn loạn.
H: Nếu ông muốn nói chính ý chí tự do của con người tạo ra những cái tình cờ ngẫu nhiên thì tôi đồng ý. Nhưng chúng ta chưa bàn đến ý chí tự do.
M: Sự ổn định của ông là cái cho ông lạc thú, và sự bất ổn là cái cho ông đau khổ.
H: Ông có thể nói như thế, nhưng đừng bảo tôi rằng hai cái là một. Hãy nói với tôi bằng ngôn ngữ của chính tôi - ngôn ngữ của một cá nhân tìm kiếm hạnh phúc. Tôi không muốn bị lừa phỉnh bằng những biện thuyết bất nhị.
M: Điều gì khiến ông tin rằng ông là một cá nhân riêng biệt.
H: Tôi hành xử như một cá nhân. Tôi hành hoạt do chính tôi. Tôi nghĩ đến tôi trước tiên, và mọi cái khác chỉ là tương thuộc với tôi. Nói tóm lại, tôi bận rộn với chính tôi.
M: Tốt, cứ tiếp tục bận rộn với chính ông. Thế ông đến đây về việc gì?
H: Việc làm tôi an tâm và hạnh phúc lâu nay. Phải thú thật là tôi không thành công lắm. Tôi không an ổn mà cũng chẳng hạnh phúc. Vì thế, tôi đến đây. Nơi này mới đối với tôi, còn lý do tôi đến đây thì rất cũ: Tìm kiếm hạnh phúc an ổn, sự an ổn hạnh phúc. Cho đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy. Liệu ông có thể giúp tôi?
M: Cái chưa bao giờ mất thì không bao giờ có thể tìm ra. Chính sự tìm kiếm an vui làm cho ông xa lìa sự an vui. Không tìm thì không mất. Căn bệnh rất đơn giản và cách trị liệu cũng đơn giản như thế. Chính tâm ông làm cho ông cảm thấy bất an và bất hạnh. Sự mong chờ khiến ông bất an, ký ức làm cho ông bất hạnh. Đừng dụng tâm sai lầm thì kết quả sẽ tốt đẹp với ông. Ông không cần phải tu sửa tâm, mà chính tâm tự tu sửa miễn là ông buông bỏ tất cả mọi lo âu với quá khứ và tương lai, sống trọn vẹn trong cái bây giờ.
H: Nhưng cái bây giờ không có phương vị. Tôi sẽ không là ai cả, không là gì cả!
M: Đúng thế. Vì không là gì cả và không là ai cả nên ông an ổn và hạnh phúc. Ông có thể chứng nghiệm những gì mà ông hỏi. Cứ thử xem.
Nhưng hãy trở lại với cái ngẫu nhiên và cái tự sinh khởi, hay tự nhiên. Ông bảo tự nhiên thì ổn định còn ngẫu nhiên là một dấu hiệu của sự hỗn loạn. Ta phủ nhận sự khác biệt và bảo rằng chúng ta gọi một sự kiện là ngẫu nhiên khi không thể truy tìm những nguyên nhân tạo ra nó. Trong cái tự nhiên không có chỗ cho hỗn loạn. Chỉ trong tâm con người mới có hỗn loạn. Tâm không nắm bắt được cái tổng thể - tầm thấy của nó quá thiển cận. Tâm chỉ thấy những cái manh múm rời rạc và không thể nhận thức toàn thể bức tranh. Cũng như một người nghe tiếng nhưng không hiểu ngôn ngữ của người nói, nên quy kết cho người nói là huyên thuyên vô nghĩa, và hoàn toàn sai lầm. Những gì nghe như một chuỗi âm thanh hỗn loạn với người này thì lại là một bài thơ tuyệt tác đối với người khác.
Vua Jataka có lần chiêm bao thấy mình là một kẻ ăn mày. Khi tỉnh giấc vua hỏi Đạo sư Vasishta: Ta là một ông vua chiêm bao thấy mình là kẻ ăn mày, hay là một kẻ ăn mày chiêm bao thấy mình làm vua? Vị đạo sư trả lời: Ngài không phải cả hai, mà là cả hai.
Ngài là, bởi vì ngài hành xử một cách tương ứng; ngài không là vì điều đó không lâu dài. Liệu ngài có thể mãi mãi là một ông vua hay một kẻ ăn mày? Tất cả đều thay đổi. Ngài là cái không thay đổi. Vậy ngài là cái gì? Vua Jataka đáp: Phải, Ta không phải là vua mà cũng chẳng phải là kẻ ăn mày, Ta là nhân chứng vô tư. Vị Đạo sư bảo: Còn một ảo tưởng cuối cùng - ngài cho mình là người giác ngộ, khác biệt với người thường và cao siêu hơn người thường.
Một lần nữa ông lại đồng hóa mình với tâm, trong trường hợp này là một cái tâm đạo đức và có thể là gương mẫu về mọi phương diện. Bao giờ còn thấy có sự khác biệt dù chỉ là nhỏ nhoi thì ông còn xa lạ với thực tại. Ông đang ở trên bình diện của tâm. Khi nào cái “Ta là chính ta” ra đi, thì cái “Ta là tất cả” đến. Khi cái “Ta là tất cả” đi, cái “Ta là” đến. Khi ngay cả cái “Ta là” ra đi, thì chỉ riêng thực tại là, và trong đó mỗi một cái “Ta là” đều được gìn giữ và tôn vinh. Đa dạng nhưng không tách biệt là cái tối hậu mà tâm có thể chạm đến. Bên ngoài cái đó mọi hoạt động chấm dứt, vì trong đó mọi cứu cánh đã đạt được và mọi mục đích đã hoàn thành.
H: Một khi đã đạt được Trạng thái Tối hậu có thể nào chia sẻ nó với người khác?
M: Trạng thái Tối hậu là cái chung, ở đây và bây giờ, trong đó mọi người đều đã chia sẻ. Nó là trạng thái của hiện hữu - biết và thích. Ai mà không thích hiện hữu, hay không biết sự tồn tại của chính mình? Nhưng chúng ta không biết lợi dụng niềm vui sướng vì biết này, chúng ta không vào sâu trong nó và thanh lọc tất cả những gì không thuộc về nó. Công việc tự thanh lọc nội tâm, tẩy uế cái Psyche này là vô cùng thiết yếu. Cũng như một hạt bụi lọt vào mắt làm cho mắt sưng lên và xóa nhòa cả thế giới, thì cái ý tưởng sai lầm “Ta là thân-tâm” là nguyên nhân của lòng vị kỷ, và ngăn che vũ trụ. Chống lại với ý thức cho rằng mình là một con người hữu hạn và riêng biệt chỉ là chuyện vô ích, nếu mọi gốc rễ của nó không được đánh bật lên và phơi bày. Lòng vị kỷ bám rễ trong những ý tưởng sai lầm về chính mình. Làm cho tâm trong sáng chính là Yoga.
CHƯƠNG 49. BIẾT RÕ CHÍNH MÌNH LÀ NHÂN CHỨNG
Hỏi: Ông có bảo rằng tôi có thể được xét dưới ba phương diện: Nhân - Vyakti, Siêu nhân - VyakTa, và Phi-nhân - AvyakTa. Phi-nhân là vũ trụ và cái “Ta” thật thuần túy; siêu-nhân là ảnh phản chiếu của cái “Ta” thật thuần túy trong ý thức, thành cái “Ta hiện hữu”; nhân - con người - là tổng thể các diễn tiến vật lý và sinh lực. Trong giới hạn nhỏ hẹp của khoảnh khắc hiện tại, cái siêu nhân biết con người - cả trong không gian và thời gian - không phải chỉ một con người, mà là một chuỗi dài những con người được xâu kết với nhau bởi sợi dây nghiệp. Nhân chứng cũng như sự tích lũy của những kinh nghiệm đã được huân tập, nền tảng của ký ức, và sự nối kết - Sutratma - đều vô cùng thiết yếu. Cá tính con người là do cuộc sống tạo nên và định hình từ kiếp này sang kiếp khác. Vũ trụ ở ngoài mọi danh xưng và hình tướng, bên ngoài ý thức và cá tính; vũ trụ là sự hiện hữu của ý thức vô ngã thuần túy. Tôi lập lại quan điểm của ông có đúng không?
Maharaj: Trên bình diện của tâm thì đúng. Bên ngoài tâm ngôn từ không thể áp dụng.
H: Tôi hiểu được rằng con người chỉ là một cơ cấu tâm lý, một danh từ tập thể để chỉ một tập hợp các ký ức và thói quen. Còn kẻ biết con người, tức là trung tâm nhân chứng, cũng thuộc về tâm?
M: Con người cần một chỗ dựa, một thân xác để đồng hóa với, cũng như mầu sắc cần một bề mặt để xuất hiện trên đó. Hành vi thấy mầu sắc không tùy thuộc mầu sắc - nó luôn luôn như thế đối với mọi mầu sắc. Một người cần có mắt để thấy mầu sắc. Mầu sắc có nhiều nhưng mắt thấy chỉ có một. Phi nhân cũng giống như ánh sáng trong mầu sắc và trong mắt thấy, đơn giản, duy nhất, không thể phân chia và không thể nhận thức được, ngoại trừ qua những thể hiện của nó. Không phải là không thể biết, mà không thể nhận thức được, không thể xác minh, và không thể tách rời. Không phải vật mà cũng không phải tâm, không phải khách quan mà cũng không phải chủ quan; nó là gốc rễ của vật và cội nguồn của ý thức. Vượt ngoài sinh tử, nó là Sự sống dung nhiếp tất cả, và loại trừ tất cả, trong nó sinh tức tử và tử tức sinh.
H: Cái Tuyệt đối hay Sự sống mà ông nói là chơn thật, hay chỉ là một lý thuyết thuần túy để che đậy sự vô minh của con người?
M: Cả hai. Đối với tâm nó là một lý thuyết; trong chính nó thì nó là thực tại. Nó chính là thực tại trong sự loại trừ cái giả một cách tự phát và rốt ráo. Ánh sáng hủy diệt bóng tối bằng chính sự hiện diện của nó, cái tuyệt đối hủy diệt cái tưởng tượng cũng như thế. Thấy được tất cả kiến thức chỉ là một hình thức của vô minh thì chính đó là một động thái của thực tại. Nhân chứng không phải là một con người. Con người xuất hiện khi có một chỗ dựa cho nó - một cơ thể, một thân xác. Trong con người cái tuyệt đối được phản ánh như tánh biết. Thấy biết thuần túy trở nên thấy biết chính mình. Khi có cái Ta, thấy biết cái Ta chính là hành vi nhân chứng. Khi không có cái Ta để chứng kiến thì cũng không có hành vi nhân chứng. Tất cả rất đơn giản, chỉ có sự có mặt của con người là tạo ra phức tạp. Thấy được không có gì là một con người riêng biệt một cách thường hằng thì tất cả trở nên rõ ràng. Tánh biết - tâm - vật, là một thực tại duy nhất gồm hai phương diện động và tịnh, và ba thuộc tính: Quán tính, năng lượng và sự hòa hợp.
H: Cái gì có trước - ý thức hay tánh biết?
M: Tánh biết trở thành ý thức khi nó có một đối tượng. Đối tượng luôn luôn thay đổi. Trong ý thức có sự chuyển động, còn tự thân tánh biết thì bất khả chuyển động và vô thời, ở đây và bây giờ.
H: Ngay lúc này đau khổ và máu đang đổ ở Đông Hồi. Ông nhìn sự kiện ra sao? Nó xuất hiện như thế nào đối với ông, phản ứng của ông ra sao?
M: Trong ý thức thuần túy không có gì từng xảy ra.
H: Xin vui lòng bước xuống từ những đỉnh cao siêu hình! Nói cho một con người đang đau khổ biết rằng không ai biết đến sự đau khổ của hắn ngoại trừ chính hắn, thì có ích lợi gì? Quy kết mọi chuyện là ảo tưởng là một sỉ nhục cộng thêm vào nỗi đau đớn. Một người Bengali ở Đông Hồi là một thực tế và nỗi đau khổ của hắn cũng là một thực tế. Xin đừng phân tích rằng những thực tế đó không tồn tại! Ông đọc báo, ông nghe người ta nói về điều đó. Ông không thể viện dẫn vô minh. Sao, ông có thái độ nào về những gì đang xảy ra?
M: Không có thái độ. Chẳng có gì đang xảy ra.
H: Ngày nào cũng có bạo loạn xảy ra trước mặt ông, người ta chém giết lẫn nhau. Chắc chắn ông không thể bảo rằng chẳng có gì xảy ra và giữ thái độ xa lánh.
M: Ta chưa bao giờ bảo phải xa lánh. Ông có thể thấy Ta xông vào giữa cuộc chém giết để cứu một người nào đó và bị giết chết. Nhưng với Ta không có gì xảy ra.
Thử tưởng tượng một tòa nhà xập xuống. Một số phòng trong đó bị hư hại, một số còn nguyên. Nhưng liệu ông có thể nói rằng khoảng không bị hư hại hay còn nguyên? Chỉ có cấu trúc là bị thiệt hại và những ai tình cờ ở trong đó. Chẳng có gì xảy ra với khoảng không. Tương tự như thế, chẳng có gì xảy ra đối với sự sống khi hình tướng bị hư hoại và danh xưng bị tẩy xóa. Người thợ bạc nấu chảy các món trang sức để làm ra cái mới. Đôi khi món trang sức đẹp bị nấu lẫn với món trang sức xấu, nhưng người thợ bạc vẫn thản nhiên làm việc vì biết vàng chẳng mất đi đâu.
H: Tôi không chống lại cái chết, nhưng cách chết.
M: Cái chết thì tự nhiên, còn cách chết thì do con người gây ra. Phân chia tạo ra sợ hãi và xung đột, mà xung đột lại tạo ra bạo lực. Hãy từ bỏ mọi phân chia do con người tạo ra thì tất cả những kinh hoàng do con người sát hại lẫn nhau chắc chắn sẽ chấm dứt. Trong thực tại không có sự giết hại và cũng không có sự chết. Cái thật không chết, cái hư giả chưa sống bao giờ. Hãy điều tâm ông ngay thẳng thì tất cả sẽ ngay thẳng. Khi biết được rằng thế giới là một, nhân loại là một ông sẽ hành động một cách thích hợp. Nhưng trước tiên, hãy quan tâm đến cách ông suy nghĩ, cảm thọ và sống. Nếu không có ổn định trong ông, không thể nào có ổn định ngoài thế giới.
Trong thực tại không có gì xảy ra. Trên màn ảnh tâm, định mệnh không ngừng phóng chiếu lên đó những hình ảnh của chính nó, cùng với ký ức của những lần phóng chiếu trước kia, và như thế ảo ảnh không ngừng đổi mới chính nó. Các hình ảnh xuất hiện rồi biến đi - ánh sáng bị ngăn che bởi vô minh. Hãy nhìn thấy ánh sáng và đừng để ý đến hình ảnh.
H: Thật là một cách nhìn chai đá về sự vật! Người ta chém giết lẫn nhau, còn ông ngồi đây nói chuyện phim ảnh.
M: Bằng mọi cách hãy xông vào để được giết, nếu đó là điều ông nghĩ ông phải làm. Hay, thậm chí nhúng tay vào cuộc chém giết, nếu ông cho đó là nhiệm vụ của ông. Nhưng đó không phải là cách chấm dứt sự tàn ác. Tàn ác là sự hôi thối của một cái tâm bệnh hoạn. Hãy tu sửa lại tâm để nó không còn phóng chiếu những hình ảnh méo mó và xấu xa.
H: Tôi hiểu được những gì ông nói, nhưng về cảm xúc thì tôi không thể chấp nhận. Cái nhân sinh quan thuần lý tưởng này làm cho tôi vô cùng ghê tởm. Tôi không thể nào nghĩ rằng chính tôi thường xuyên ở trong trạng thái chiêm bao.
M: Làm sao ông có thể thường xuyên chỉ ở trong một trạng thái được tạo ra bởi một thân xác vô thường? Sự hiểu biết sai lầm dựa vào ý tưởng ông là thân xác. Hãy xem xét cái ý tưởng đó, thấy được những mâu thuẫn nội tại của nó. Hãy nhận ra sự tồn tại hiện nay của ông giống như một trận mưa các đốm sáng, mỗi đốm sáng kéo dài khoảng vài giây, và trận mưa thì chừng vài phút. Chắc chắn cái gì mà sự khởi đầu của nó cũng là sự kết thúc thì không có khoảng giữa. Ông hãy cẩn ngôn. Thực tại không thể là nhất thời. Thực tại là vô thời, và sự vô thời không phải là một khoảng thời gian.
H: Đành rằng thế giới trong đó tôi sống không phải là thế giới
thật. Có một thế giới thật nhưng hình ảnh của nó mà tôi thấy thì méo mó. Sự méo mó có thể là do khuyết tật trong tâm hay thân của tôi. Nhưng khi nghe ông nói không hề có thế giới thật mà chỉ có một thế giới mộng huyễn trong tâm tôi, thì tôi không thể chấp nhận. Tôi ước gì có thể tin được rằng tất cả những nỗi kinh hoàng của cuộc sống là do tôi có một thân xác. Tự sát có thể là một lối thoát.
M: Chừng nào ông còn bận tâm đến ý tưởng - của chính ông hay của người khác - ông còn gặp phiền trược. Nếu ông không để ý đến giáo huấn, kinh điển, hay bất cứ gì được thể hiện bằng ngôn từ, mà lặn thật sâu vào trong ông để tìm chính ông, chỉ riêng điều này sẽ giải quyết tất cả mọi phiền trược của ông, và ông sẽ làm chủ mọi tình huống, vì ông không còn bị khống chế bởi những ý tưởng của ông về tình huống. Để ví dụ, ông gần gũi với một cô gái thật hấp dẫn. Ông khởi sinh ý nghĩ về cô gái và tạo nên một tình huống về tình dục. Một vấn đề phát sinh và ông bắt đầu tìm kiếm sách vở về sự tiết dục, hay hưởng dục. Nếu là trẻ con thì cả ông và cô gái kia có thể trần truồng vui đùa với nhau mà chẳng có chuyện gì xảy ra. Chỉ cần chấm dứt nghĩ rằng ông là thân xác thì mọi vấn đề về tình yêu và tình dục sẽ chẳng còn ý nghĩa. Một khi tất cả những ý thức về sự hữu hạn không còn thì mọi sợ hãi, đau khổ và mong cầu lạc thú đều chấm dứt. Lúc đó chỉ tánh biết còn lại.
CHƯƠNG 50. HÃY THẢN NHIÊN VỚI ĐAU KHỔ VÀ LẠC THÚ
Hỏi: Tôi là một người Pháp sinh ra và sống ở Pháp, tôi thực hành Yoga trong khoảng mười năm nay.
Maharaj: Sau mười năm thực hành ông có đến gần hơn với mục đích của ông?
H: Gần hơn một chút, có thể là như thế. Đây là một công việc khó khăn, chắc ông cũng biết.
M: Cái Ta thì kề cận và con đường đưa đến nó thật dễ dàng.
Tất cả những gì ông cần làm là đừng làm gì cả.
H: Nhưng tôi lại thấy sự tu tập thật khó khăn.
M: Sự tu tập của ông là chỉ hiện hữu. Sự làm tự xảy ra. Chỉ chú ý. Đâu là sự khó khăn để nhớ rằng ông hiện hữu? Ông luôn luôn hiện hữu.
H: Ý thức hiện hữu luôn luôn có đó - chẳng có gì nghi hoặc. Nhưng phạm trù của sự chú ý thường bị tràn ngập bởi đủ loại tướng trạng tâm lý - cảm xúc, hình ảnh và ý tưởng. Ý thức hiện hữu thuần túy thường xuyên bị nhiễu loạn xâm chiếm.
M: Ông loại trừ những thứ không cần thiết ra khỏi tâm như thế nào? Ông có những phương cách, phương tiện nào để thanh tẩy tâm?
H: Tận căn bản, con người luôn luôn sợ hãi. Con người sợ chính mình nhất. Tôi có cảm tưởng mình như một kẻ đang ôm một quả bom có thể phát nổ vào bất cứ lúc nào. Hắn không thể tháo gỡ ngòi nổ của quả bom và cũng không thể quẳng nó đi. Hắn vô cùng sợ hãi, và cuống cuồng tìm kiếm một giải pháp mà hắn không thể tìm ra. Đối với tôi giải thoát có nghĩa là loại bỏ được quả bom này. Tôi không biết nhiều về quả bom. Tôi chỉ biết rằng nó xuất hiện từ lúc tôi còn nhỏ. Tôi cảm thấy mình là một đứa trẻ sợ hãi và cuống cuồng chống lại việc nó không được yêu. Đứa trẻ khao khát tình yêu, và vì không được đáp lại, nó sợ hãi và giận dữ. Có khi tôi cảm thấy muốn giết người, hay tự sát. Ước muốn này mãnh liệt đến nỗi tôi luôn luôn sợ hãi, nhưng không biết làm sao thoát khỏi nó.
Như ông thấy, có một sự khác biệt giữa một cái tâm Ấn giáo và một cái tâm Âu châu. Cái tâm Ấn giáo tương đối đơn giản. Người Âu châu là một sinh vật phức tạp hơn nhiều. Người Ấn giáo có bản chất hài hòa hơn. Người Ấn không hiểu được trăn trở của người Âu châu, và sự theo đuổi miệt mài những gì mà họ nghĩ cần phải thực hiện, và mở rộng kiến thức tổng quát của họ.
M: Khả năng lý luận của người Âu châu tài giỏi đến độ họ có thể lý luận chính mình ra khỏi tất cả mọi lý luận! Thái độ tự khẳng định của họ là do họ hoàn toàn tùy thuộc vào luận lý.
H: Tư duy, lý luận là trạng thái bình thường của tâm. Tâm không thể ngưng làm việc.
M: Đó là một trạng thái có tính cách thói quen, nhưng không nhất thiết phải là một trạng thái bình thường. Một trạng thái bình thường thì không thể đau đớn, còn thói quen sai lầm thường đưa đến những đau đớn kinh niên.
H: Nếu nó không phải là trạng thái tự nhiên, hay bình thường của tâm, vậy làm sao chấm dứt nó? Phải có một phương cách để làm cho tâm tĩnh lặng. Không biết bao nhiêu lần tôi tự bảo mình: đủ rồi, làm ơn chấm dứt, lải nhải những câu như thế này là đủ rồi! Nhưng tâm tôi không dừng lại. Tôi cảm thấy có thể làm cho tâm dừng lại một lúc, nhưng không được lâu. Ngay cả những người được gọi là “tâm linh” cũng dùng những xảo thuật để làm cho tâm tĩnh lặng. Họ lập đi lập lại các công thức, họ hát, cầu nguyện, thở mạnh hay nhẹ, lắc, quay, tập trung, thiền, chạy theo những trạng thái xuất thần, tu tập công hạnh - họ làm việc không ngừng để ngừng làm việc, ngừng theo đuổi, ngừng chuyển động. Nếu những gì họ làm không mang tính bi kịch, thì cũng khôi hài.
M: Tâm tồn tại trong hai trạng thái: Như nước và như mật. Nước rất dễ bị giao động, chỉ cần một xáo trộn nhỏ; còn mật trở nên bất động rất nhanh dù có bị khuấy động đến đâu.
H: Do bản chất của nó, tâm không bao giờ an. Nó có thể được làm cho an, nhưng tự nó thì không an.
M: Có thể là bệnh sốt kinh niên làm cho ông luôn luôn run rẩy. Chính tham ái và lo sợ làm cho tâm ông bất an. Không còn các cảm xúc tiêu cực thì tâm an.
H: Ông không thể bảo vệ trẻ con khỏi những cảm xúc tiêu cực. Ngay khi được sinh ra nó đã học được sự đau khổ và sợ hãi. Cái đói là một ông thầy tàn nhẫn, dạy nó bài học về sự tùy thuộc và thù ghét. Đứa trẻ yêu mẹ nó vì bà cho nó ăn, và ghét mẹ nó vì bà chậm trễ làm thức ăn cho nó. Cái tâm vô thức của chúng ta đầy những xung đột, và những xung đột đó tràn vào ý thức. Chúng ta sống trên một núi lửa, chúng ta luôn luôn đối diện với nguy hiểm. Tôi đồng ý rằng sự thân cận với những người có tâm an lạc sẽ đem lại những ảnh hưởng dễ chịu, nhưng ngay khi xa họ thì những phiền trược cũ lại tái phát. Đây là lý do vì sao tôi đến Ấn Độ thường kỳ để được thân cận với Đạo sư của tôi.
M: Ông nghĩ là ông đến và đi, trải qua nhiều trạng thái và tướng trạng khác nhau. Ta thấy sự vật như chúng là: những sự kiện thoáng qua phô diễn trước Ta trong một chuỗi các diễn tiến di chuyển nhanh chóng; chúng có được hiện hữu là do Ta, nhưng chắc chắn chúng không phải là Ta hay của Ta. Ta không phải là một trong số các hiện tượng, mà cũng không hề bị chi phối bởi một hiện tượng nào. Ta bất tùy thuộc một cách hồn nhiên và hoàn toàn đến nỗi tâm ông - một cái tâm đã quen với đối kháng và từ chối - không thể nắm bắt được. Ta muốn nói một cách bộc bạch rằng: Ta không cần đối kháng, hay phủ nhận, vì rõ ràng là Ta không thể là cái đối nghịch hay sự phủ nhận của bất cứ cái gì. Ta ở ngoài tất cả, trong một cảnh giới hoàn toàn khác biệt. Đừng tìm Ta trong sự đồng hóa với, hay đối nghịch với một cái gì đó. Ta ở chỗ không hề có tham ái hay lo sợ. Còn kinh nghiệm của ông thế nào? Ông cũng cảm thấy mình hoàn toàn xa lìa với tất cả những cái vô thường?
H: Có, thỉnh thoảng. Nhưng ngay lập tức một cảm giác nguy hiểm ập đến, tôi cảm thấy bị cô lập, ở ngoài mọi quan hệ với tha nhân. Ông thấy đấy, đây là sự khác biệt trong cơ cấu tâm lý của chúng ta. Với người Ấn, cảm xúc theo sau suy nghĩ. Cho người Ấn một ý tưởng thì cảm xúc của họ khởi sinh. Với người Tây phương thì ngược lại, hãy cho họ một cảm xúc, họ sẽ tạo nên một ý tưởng. Những ý tưởng của ông rất hấp dẫn về phương diện tri thức, nhưng về mặt cảm xúc thì tôi không đáp ứng được.
M: Hãy đặt tri thức sang một bên. Đừng sử dụng nó trong những vấn đề như thế này.
H: Một sự chỉ giáo mà tôi không thực hiện được thì có ích gì? Những gì ông nói đều là ý tưởng, và ông muốn tôi phản ứng một cách xúc cảm với những ý tưởng, vì nếu không có xúc cảm thì không thể có hành động.
M: Vì sao ông lại nói đến hành động? Có bao giờ ông hành động? Có một năng lực không biết được và năng lực đó hành động nhưng ông tưởng rằng ông hành động. Ông chỉ quan sát những gì đang xảy ra, mà không thể ảnh hưởng đến chúng bằng bất cứ cách nào.
H: Tại sao trong tôi có sự chống đối quyết liệt để chấp nhận rằng tôi không thể làm gì cả?
M: Nhưng ông làm được gì? Ông như một bệnh nhân được bác sĩ gây mê để thực hiện một cuộc giải phẫu. Khi tỉnh lại và nhận ra cuộc giải phẫu hoàn tất, liệu ông có thể bảo rằng ông vừa làm một cái gì đó?
H: Nhưng tôi là người lựa chọn sự giải phẫu.
M: Chắc chắn không phải ông. Một bên là căn bệnh của ông và một bên là áp lực của bác sĩ và gia đình ông buộc ông quyết định. Ông không có sự lựa chọn nào cả, mà chỉ có ảo tưởng về một sự lựa chọn.
H: Nhưng tôi cảm thấy mình không đến nỗi vô tư lực như ông cho rằng tôi có vẻ như thế. Tôi cảm thấy mình có thể làm bất cứ gì mà tôi có thể nghĩ được, chỉ có điều là tôi không biết cách làm. Cái tôi thiếu không phải là năng lực, mà là sự hiểu biết.
M: Không biết được phương tiện thì cũng tệ hại như không có năng lực! Nhưng hãy tạm gác lại đề tài này; xét cho cùng điều chúng ta cảm thấy vô tư lực thì chẳng có gì quan trọng, miễn là chúng ta thấy rõ rằng hiện nay chúng ta vô tư lực.
Năm nay 74 tuổi, nhưng Ta vẫn cảm thấy là một đứa trẻ thơ. Ta nhận thấy rõ ràng Ta vẫn là một đứa trẻ bất kể mọi đổi thay. Tôn sư đã bảo: Đứa trẻ thơ đó, bây giờ vẫn là ông, là cái Ta thật của chính ông - Swarupa. Hãy trở về với trạng thái hiện hữu thuần túy đó, khi cái “Ta là” vẫn còn trong sự tinh khiết của nó, chưa bị nhiễm ô bởi những cái “Ta là thế này,” “Ta là thế nọ.” Phiền trược của ông là những nhận diện sai lầm về chính ông, hãy buông bỏ tất cả chúng. Tôn sư bảo Ta: “Hãy tin Ta. Ta cho ông biết ông là siêu phàm. Hãy xem đó là chân lý tuyệt đối. Cái vui của ông cũng siêu phàm, và sự đau khổ của ông cũng siêu phàm. Tất cả đều từ Thượng đế mà ra. Luôn luôn nhớ điều đó. Ông là Thượng đế, chỉ ý chí của ông mới được thực hiện.” Ta hoàn toàn tin tưởng Tôn sư và chẳng bao lâu nhận ra lời ngài nói là chơn thật và chính xác một cách mầu nhiệm làm sao. Ta không tự điều kiện hóa tâm bằng cách nghĩ: “Ta là Thượng đế, Ta mầu nhiệm, Ta siêu việt.” Ta chỉ làm theo sự chỉ dạy của Tôn sư là đặt sự chú ý của tâm vào sự hiện hữu thuần túy “Ta là,” và an trú trong đó. Ta vẫn thường ngồi hàng giờ, chỉ với cái “Ta hiện hữu” trong tâm mà không có gì khác xen vào, chẳng bao lâu an lạc và một tình yêu trùm khắp trở thành trạng thái bình thường của Ta. Trong đó tất cả - chính Ta, Tôn sư, cuộc đời mà Ta sống, thế giới quanh Ta - đều tan biến. Chỉ còn an lạc và sự im lặng không đáy.
H: Nghe thì có vẻ dễ dàng nhưng thật ra không phải thế. Có những lúc một trạng thái tuyệt vời của sự an lạc bừng nở trong tôi, tôi quan sát và tự nhủ: nó đến thật dễ dàng làm sao, nó có vẻ vô cùng thân mật làm sao, nó thật trọn vẹn là của tôi. Việc gì phải khó nhọc tìm kiếm một trạng thái kề cận đến như thế trong tay? Lần này, chắc chắn nó đến để ở lại. Nhưng chẳng bao lâu nó hoàn toàn tan biến và để lại trong tôi sự thắc mắc - liệu đó là hương vị của thực tại hay lại là một cơn mất trí. Nếu là thực tại thì tại sao nó ra đi? Có lẽ là cần phải có một kinh nghiệm độc nhất nào đó để chuyển tôi vĩnh viễn sang trạng thái mới, và cho đến khi cái kinh nghiệm có tính cách quyết định đó xảy ra thì trò chơi trốn tìm này vẫn còn tiếp tục.
M: Mong đợi một cái gì độc nhất và gây ấn tượng sâu sắc, một sự bùng nổ kỳ diệu nào đó, chỉ là một chướng ngại và trì hoãn sự giác ngộ chính mình của ông. Ông không cần phải mong đợi một sự bùng nổ, vì nó đã xảy ra - ngay vào lúc ông chào đời, ngay khi ông nhận ra chính ông hiện-hữu-biết-cảm-thọ. Ông chỉ phạm một sai lầm duy nhất: Ông cho cái bên trong ông là bên ngoài, còn cái bên ngoài thì ông lại cho là bên trong ông. Tâm và các cảm thọ đều là bên ngoài, nhưng ông lại cho chúng là thân thiết. Ông tin thế giới là khách quan, trong khi nó hoàn toàn chỉ là một phóng ảnh của tâm ông. Đó là sự nhầm lẫn căn bản, và không một vụ bùng nổ mới nào có thể cải sửa được. Ông phải tư duy chính ông ra khỏi sự lầm lẫn đó. Ngoài ra không còn cách nào khác.
H: Làm sao tôi có thể tư duy chính tôi ra khỏi sự lầm lẫn khi ý nghĩ của tôi đến và đi một cách tùy tiện. Chúng không ngớt lải nhải làm cho tôi phân tâm và tổn sức.
M: Quan sát các ý nghĩ của ông giống như ông quan sát sự lưu thông trên đường phố. Người ta đến và đi, ông cứ việc ghi nhận nhưng đừng phản ứng. Lúc đầu thì không dễ, nhưng chỉ cần thực hành một thời gian ông sẽ nhận ra rằng tâm ông có thể hành hoạt trên nhiều giai tầng khác nhau cùng một lúc, và ông có thể biết rõ tất cả. Chỉ khi nào ông quan tâm nhất định đến một giai tầng thì bấy giờ sự chú ý của ông mới vướng mắc trong đó, và ông không còn biết gì về những giai tầng khác. Mặc dù vậy công việc ở những giai tầng bị mất đi sự chú ý của ông vẫn tiếp tục tiến hành, bên ngoài phạm trù ý thức. Đừng đánh vật với ký ức và ý nghĩ của ông mà tìm cách duy trì trong phạm trù chú ý của ông những câu hỏi khác, quan trọng hơn, như “Ta là ai?” “Ta đã ngẫu nhiên được sinh ra như thế nào?” “Cái vũ trụ quanh Ta này từ đâu đến?” “Cái gì thật và cái gì vô thường?” Ký ức sẽ không còn bám víu dai dẳng nếu ông không còn quan tâm đến nó; chính sự xúc cảm dây dưa làm cho sự ràng buộc giai dẳng. Ông luôn luôn đuổi theo lạc thú và tránh né đau khổ, luôn luôn tìm kiếm an lạc. Ông không thấy rằng chính sự đi tìm hạnh phúc làm cho ông khổ sở? Thử cách khác: thản nhiên với đau khổ và lạc thú, không van xin mà cũng không từ chối, dồn tất cả chú ý của ông vào giai tầng mà trong đó cái “Ta là” hiện hữu phi thời. Chẳng bao lâu ông sẽ nhận ra rằng an lạc và hạnh phúc ở ngay trong bản tánh của ông, chính sự tìm kiếm chúng qua những kênh luồng nào đó mới gây ra phiền nhiễu. Tránh phiền nhiễu, thế là đủ. Không cần phải tìm kiếm, ông không cần phải tìm cái ông đã có. Ông chính là Thượng đế, là Thực tại Tối thượng. Để khởi sự, hãy tin Ta, tin vị Đạo sư. Lòng tin giúp ông thực hiện bước đầu tiên - và sau đó chính kinh nghiệm sẽ biện minh cho sự tin tưởng của ông. Trong bất cứ lĩnh vực nào của cuộc đời, sự tin tưởng ban đầu là thiết yếu, nếu không có nó thì chẳng làm được gì nhiều. Mọi công cuộc kinh doanh đều là hành vi tin tưởng. Ngay cả bánh mì ông ăn, ông ăn với sự tin tưởng. Bằng cách nhớ những gì Ta bảo thì ông sẽ đạt được bất cứ gì. Một lần nữa Ta nhắc lại: Ông là thực tại trùm khắp tất cả và siêu vượt tất cả. Hãy hành xử một cách tương xứng: suy nghĩ, cảm họ và hành động một cách hài hòa với toàn thể, chẳng bao lâu ông sẽ chứng nghiệm những gì Ta nói. Chẳng cố gắng nào là cần thiết. Chỉ cần tin tưởng và hành động trên sự tin tưởng. Nên hiểu rằng Ta chẳng mong cầu điều gì nơi ông. Chính vì sự lợi lạc của chính ông mà Ta nói, vì trên tất cả ông yêu quý chính ông, ông muốn ông an ổn và hạnh phúc. Đừng xấu hổ vì điều đó, đừng chối bỏ điều đó. Yêu quý chính mình là điều tự nhiên và tốt đẹp. Chỉ có điều ông phải biết chính xác cái ông yêu quý. Cái ông yêu quý không phải là thân xác, mà là Sự sống - nhận thức, cảm thọ, tư duy, hành động, yêu, phấn đấu, sáng tạo. Sự sống mà ông yêu chính ông, là tất cả. Hãy nhận ra nó trong sự toàn vẹn của nó, ngoài tất cả phân chia và hữu hạn; tất cả ước muốn của ông sẽ hòa nhập trong đó, vì cái lớn hơn dung chứa cái nhỏ hơn. Vì thế, hãy tìm ra chính ông, vì tìm ra ông tức là tìm ra tất cả.
Mọi người đều vui mừng vì hiện hữu, nhưng chẳng mấy ai biết được sự viên mãn của nó. Ông sẽ biết được điều đó bằng cách an trú trong tâm với cái “Ta hiện hữu”, “Ta biết,” “Ta yêu” với quyết tâm đạt đến ý nghĩa thâm sâu nhất của những từ ngữ này.
H: Liệu tôi có thể nghĩ “Ta là Thượng đế?”
M: Đừng đồng hóa ông với một ý nghĩ. Nếu ông muốn nói Thượng đế là Cái Không Biết, thì chỉ cần nói: “Ta không biết Ta là cái gì.” Nếu ông biết Thượng đế như ông biết cái Ta của ông, thì ông không cần phải nói điều đó. Tốt nhất vẫn là nhận thức “Ta hiện hữu.” Hãy kiên trì ở với nó. Kiên trì ở đây chính là trí tuệ, đừng nghĩ đến thất bại. Trong cuộc kinh doanh này không hề có thất bại.
H: Nhưng ý nghĩ của tôi không để tôi làm chuyện đó.
M: Đừng để ý. Đừng xua đuổi chúng. Đừng làm gì với chúng, cứ mặc kệ chúng, dù chúng là bất cứ gì. Chính sự xua đuổi của ông tạo cho chúng sự sống. Chỉ cần đừng quan tâm. Hãy nhìn xuyên suốt. Luôn luôn ghi nhớ: “Bất cứ gì xảy ra - xảy ra vì Ta hiện hữu. Tất cả chỉ để nhắc nhở rằng ông hiện hữu. Hãy tận dụng thực tế: muốn kinh nghiệm thì ông phải hiện hữu. Ông không cần phải ngừng suy nghĩ. Mà chỉ cần ngừng quan tâm. Chính sự không quan tâm giải thoát ông. Đừng bám giữ, thế là đủ. Thế giới được làm bằng những chiếc vòng. Tất cả những cái móc là của ông. Hãy duỗi những cái móc của ông thẳng ra thì không gì có thể cầm giữ được ông. Hãy từ bỏ mọi sự lệ thuộc thì không còn gì nữa để từ bỏ. Hãy từ bỏ tập quán chiếm hữu, thói quen tìm cầu kết quả, vì tự do của vũ trụ là của ông. Đừng cố gắng.
H: Sống là cố gắng. Có rất nhiều điều phải làm.
M: Cái gì cần làm thì cứ làm. Đừng cưỡng lại. Sự quân bình của ông phải năng động, dựa vào sự thực hiện những điều đúng, từ lúc này sang lúc khác. Đừng làm một đứa trẻ không muốn trưởng thành. Những cử chỉ và điệu bộ rặp khuôn sẽ chẳng giúp gì ông. Trông cậy hoàn toàn vào sự trong sáng của ý nghĩ, sự trong sạch của động cơ thúc đẩy, và sự chính trực của hành động. Ông không thể nào đi sai đường. Hãy vượt ra ngoài và để lại tất cả phía sau.
H: Nhưng liệu có gì có thể tồn tại mãi mãi?
M: Ông muốn một cái gì đó giống như trạng thái xuất thần suốt ngày đêm. Những trạng thái xuất thần đến rồi đi một cách cần thiết, vì bộ óc con người không thể chịu đựng căng thẳng trong một thời gian dài. Một trạng thái xuất thần kéo dài sẽ đốt cháy não bộ, trừ khi trạng thái đó cực kỳ thanh tịnh và vi tế. Trong thiên nhiên, không có gì đứng yên, mọi thứ đều rung động, xuất hiện và biến mất. Trái tim, hơi thở, sự tiêu hóa, ngủ và thức, sinh và tử - tất cả đều đến và đi như những đợt sóng. Các thái cực thay phiên nhau một cách nhịp nhàng, định kỳ và hài hòa là một quy luật tất yếu. Nổi loạn chống lại mô thức của sự sống là vô ích. Nếu ông muốn tìm cái bất biến, hãy vượt ra ngoài kinh nghiệm. Khi Ta bảo: “Luôn luôn nhớ cái “Ta hiện hữu” thì điều này có nghĩa là: trở lại với nó nhiều lần.” Không một ý nghĩ đặc thù nào có thể là trạng thái tự nhiên của tâm, mà chỉ có sự im lặng. Không phải ý tưởng về sự im lặng, mà chính sự im lặng. Khi tâm ở trong trạng thái tự nhiên, nó trở lại với sự im lặng một cách tự sinh khởi sau mỗi kinh nghiệm, hay đúng hơn là mọi kinh nghiệm đều xảy ra trước một hậu cảnh im lặng.
Những gì ông vừa học được ở đây đã trở thành chủng tử. Ông có thể quên đi, hiển nhiên là như thế. Nhưng chủng tử đó vẫn sống, và vào đúng thời vụ nó sẽ đâm chồi, mọc lên và đơm hoa kết trái.
Tất cả sẽ tự xảy ra. Ông không cần làm gì cả, chỉ đừng ngăn trở nó.
CHƯƠNG 51. CẢM THẤY HẠNH PHÚC VÀ ĐEM LẠI HẠNH PHÚC LÀ NHỊP ĐIỆU CỦA TÌNH YÊU
Hỏi: Tôi từ Âu châu sang đây mấy tháng nay theo định kỳ để gặp Đạo sư của tôi ở gần CalcutTa. Hiện tôi đang trên đường về lại Âu châu. Một người bạn rủ tôi đến gặp ông và tôi vui mừng đã đến đây.
Maharaj: Ông đã học được những gì ở Đạo sư của ông, ông hành theo pháp gì?
H: Đạo sư của tôi là một đại đức năm nay khoảng tám mươi tuổi. Về triết lý, ngài là một người theo trường phái Vệ đà - Vedantin, và phương pháp ngài chỉ giáo có liên quan rất nhiều đến sự khơi dậy những năng lực vô thức của tâm, và đem những chướng ngại và bế tắc bị che giấu vào ý thức. Phương pháp tu tập riêng cho tôi có liên hệ với vấn đề cá nhân mà tôi đã gặp trong thời thơ ấu và niên thiếu. Mẹ tôi đã không cho tôi được cái cảm giác an ổn và yêu thương - là những gì rất quan trọng trong sự phát triển bình thường của một đứa trẻ. Bà thường xuyên lo âu, loạn trí, không biết rõ cả chính mình, và không phải là một phụ nữ thích hợp để làm mẹ. Đối với bà tôi là một trách nhiệm và là một gánh nặng ngoài sức chịu đựng. Bà không bao giờ muốn tôi được sinh ra, bà không muốn tôi trưởng thành và phát triển, bà muốn tôi trở lại trong bụng bà, chưa bao giờ được sinh ra và chưa bao giờ tồn tại. Bà chống lại mọi động thái của sự sống trong tôi, bà chống đối kịch liệt bất cứ cố gắng nào vượt ra khỏi cái vòng nhỏ hẹp của sự tồn tại quen thuộc của bà. Khi còn trẻ thơ, tôi vừa nhạy cảm vừa tình cảm. Tôi khao khát tình yêu trên tất cả mọi thứ, và tình yêu, tình yêu chân phương và mang tính bản năng của một người mẹ dành cho con thì tôi đã không bao giờ có được. Sự tìm kiếm người mẹ của đứa trẻ thơ đã trở thành sự thôi thúc chủ yếu của đời tôi, và tôi vẫn chưa bao giờ vượt ra khỏi nó để trưởng thành. Một đứa trẻ hạnh phúc, một thời thơ ấu hạnh phúc trở thành nỗi ám ảnh trong tôi. Mang thai, sinh sản, trẻ thơ là những gì tôi quan tâm tha thiết. Tôi trở thành một bác sĩ sản khoa có đôi chút danh tiếng, và đã từng cống hiến cho sự phát triển phương pháp sinh sản không đau. Một đứa con hạnh phúc của một bà mẹ hạnh phúc - đó là lý tưởng suốt đời tôi. Nhưng mẹ tôi luôn luôn có đó - chính bà bất hạnh, bà không thích và không thể thấy tôi hạnh phúc. Điều này tự thể hiện theo những cách lạ lùng. Khi tôi đau ốm thì bà cảm thấy khỏe hơn, khi tôi khỏe mạnh thì bà đau ốm, bà nguyền rủa chính mình và nguyền rủa cả tôi. Như thể bà không bao giờ tha thứ tôi cái tội ác đã được sinh ra, bà làm cho tôi cảm thấy tội lỗi vì tôi vẫn sống. “Mi sống vì mi thù ghét Ta. Nếu yêu Ta thì mi hãy chết đi” là cái thông điệp mà bà không ngừng lập đi lập lại với tôi một cách thầm lặng. Tôi đã trải qua một cuộc đời như thế, được mong cho chết thay vì được yêu. Vì bị giam hãm trong mẹ tôi, chung thân làm một đứa trẻ nên tôi không thể phát triển một quan hệ có ý nghĩa với một phụ nữ; hình ảnh của mẹ tôi luôn luôn xen vào giữa, không tha thứ, và không thể được tha thứ. Tôi tìm sự khuây khỏa trong công việc và được an ủi nhiều, nhưng tôi vẫn không thoát ra khỏi cái hố của tuổi thiếu niên. Sau cùng, tôi xoay sang sự tìm kiếm tâm linh và tôi kiên định đi trên con đường này nhiều năm nay. Nhưng về một phương diện nó cũng giống như sự tìm kiếm tình yêu của người mẹ như trước kia, dù gọi nó là Thượng đế, hay Atma hay Thực tại Tối thượng. Xét về căn bản, tôi muốn yêu và được yêu; nhưng điều bất hạnh là những người được gọi là tu hành lại chối bỏ cuộc đời và dành tất cả cho tâm. Khi đối diện với những nhu cầu và thúc bách của đời sống, họ bắt đầu phân loại hóa, trừu tượng hóa và khái niệm hóa, rồi cho sự phân loại còn quan trọng hơn cả chính cuộc đời. Họ yêu cầu phải tập trung vào một khái niệm, và nhân cách hóa nó. Thay vì hòa nhập một cách tự sinh khởi thông qua tình yêu, họ đề xuất một sự tập trung có chủ đích và chuyên chú vào một công thức. Cho dù là Thượng đế hay Atma, cái Ta, hay một cái gì khác thì cũng thế! Nghĩa là một cái gì đó để nghĩ về, mà không phải một ai đó để yêu. Tôi chẳng cần đến triết lý hay phương pháp, những thứ đó thì rất nhiều và hấp dẫn hay hữu lý như nhau. Tôi cần sự sôi nổi của trái tim, sự tân tạo của cuộc sống, chứ không phải một cách tư duy mới. Không hề có lối tư duy nào là mới, nhưng cảm xúc thì có thể lúc nào cũng mới. Khi yêu một người, tôi chăm chú đến người đó một cách tự sinh khởi và mãnh liệt, với tất cả sự nồng nàn và sinh lực mà tâm không thể ra lệnh.
Ngôn từ cần thiết để hình thành cảm xúc; ngôn từ mà không có cảm xúc thì cũng như quần áo mà không có người mặc - lạnh lùng và ủ rũ. Bà mẹ của tôi - người đã vắt khô tất cả cảm xúc trong tôi - làm cho nguồn cảm xúc của tôi khô kiệt. Liệu tôi có thể tìm thấy ở đây nguồn cảm xúc phong phú và dồi dào, những gì mà tôi cần rất nhiều như một đứa trẻ?
M: Tuổi thơ của ông bây giờ ở đâu? Và tương lai của ông là
gì?
H: Tôi đã được sinh ra, lớn lên, và sẽ chết đi.
M: Ông muốn nói thân xác ông, dĩ nhiên là như thế. Còn tâm ông? Ta không nói về phương diện sinh lý và tâm lý. Chúng là một phần của tự nhiên và bị chi phối bởi quy luật của tự nhiên. Ta muốn nói về sự tìm kiếm tình yêu của ông. Nó đã có một sự khởi đầu? Liệu nó có một sự chấm dứt?
H: Tôi không thể nói được. Nó có đó - từ khi còn sớm cho đến lúc cuối cùng của đời tôi. Sự khao khát tình yêu này - thật triền miên và cũng thật vô vọng!
M: Trong sự tìm kiếm tình yêu của ông, một cách chính xác ông kiếm cái gì?
H: Chỉ đơn giản là: yêu và được yêu.
M: Ông muốn nói một phụ nữ?
H: Không nhất thiết phải là một phụ nữ. Một người bạn, một vị thầy, một người hướng dẫn - miễn là cảm xúc phải trong sáng. Dĩ nhiên, một phụ nữ là câu trả lời thông thường. Nhưng không nhất thiết chỉ có một câu trả lời.
M: Ông chọn cái nào trong hai, yêu hay được yêu?
H: Tôi muốn cả hai! Nhưng tôi có thể thấy yêu thì vĩ đại hơn, cao cả hơn, và sâu sắc hơn. Được yêu thì êm ái thật đấy, nhưng không làm cho một người trưởng thành.
M: Ông có thể tự yêu, hay phải được chọn làm cho yêu?
H: Dĩ nhiên tôi phải gặp một người đáng yêu. Mẹ tôi không những đã không yêu mà còn chẳng đáng yêu.
M: Điều gì làm cho một người đáng yêu? Thế không phải là được yêu? Ông yêu trước rồi mới tìm lý do ông yêu.
H: Có thể là ngược lại. Ông yêu điều làm ông vui sướng.
M: Điều gì làm ông vui sướng?
H: Chẳng có luật lệ nào cả. Toàn thể vấn đề có tính cách cá nhân và không thể đoán biết được.
M: Phải. Ông muốn nói thế nào cũng được. Nếu không yêu thì không có hạnh phúc. Nhưng, liệu tình yêu có làm ông luôn luôn hạnh phúc? Thế không phải liên kết tình yêu với hạnh phúc là thuộc về giai đoạn sớm sủa và phôi thai? Khi người được ông yêu đau khổ, không phải ông cũng đau khổ hay sao? Liệu ông không còn yêu, vì ông đau khổ? Liệu tình yêu và hạnh phúc cùng đến và cùng đi? Có phải tình yêu chỉ là sự chờ mong lạc thú?
H: Dĩ nhiên là không. Có thể có rất nhiều đau khổ trong tình yêu.
M: Thế thì yêu là gì? Không phải nó là một trạng thái hiện hữu, hơn là một trạng thái của tâm? Ông có cần phải biết ông yêu thì ông mới yêu? Thế không phải ông đã yêu mẹ ông mà ông không biết? Ông khao khát tình yêu của bà ấy, một cơ hội để yêu bà ấy, đó không phải là động thái của tình yêu hay sao? Không phải tình yêu là một phần của ông, như ý thức về sự hiện hữu? Ông tìm kiếm tình yêu của mẹ ông, bởi vì ông yêu mẹ ông.
H: Nhưng bà không để cho tôi yêu!
M: Bà không thể ngăn được ông.
H: Thế tại sao tôi bất hạnh suốt đời?
M: Bởi vì ông không chịu đi sâu vào gốc rễ sự hiện hữu của ông. Chính sự vô minh về chính ông đã che lấp tình yêu và hạnh phúc của ông, và khiến ông đi tìm cái ông chưa bao giờ mất. Tình yêu là ý muốn, ý muốn chia sẻ hạnh phúc của ông với tất cả. Cảm thấy hạnh phúc - làm cho hạnh phúc. Đó chính là nhịp điệu của tình yêu.
CHƯƠNG 52. KHI ĐÃ ĐƯỢC THỎA MÃN, THAM ÁI LẠI ĐẺ THÊM THAM ÁI
Hỏi: Thú thật là hôm nay tôi đến gặp ông với một tâm trạng nổi loạn. Người ta đã đối xử không công bằng với tôi ở văn phòng bán vé máy bay. Khi gặp những tình huống như thế này thì những gì tôi được chỉ dạy đều có vẻ đáng ngờ, và những gì tôi tu tập đều có vẻ vô ích.
Maharaj: Đây mới là một tâm trạng hữu ích. Hoài nghi tất cả,
phủ nhận tất cả, nhất định không chịu biết qua người khác. Đây chính là kết quả công phu tu tập lâu dài của ông. Xét cho cùng, có ai học mãi đâu.
H: Đủ rồi. Công phu đó chẳng đưa tôi đến đâu cả.
M: Đừng nói “chẳng đưa đến đâu.” Nó đưa ông đến chỗ ông là - bây giờ.
H: Tôi vẫn là một đứa trẻ với những cơn tức giận của nó. Tôi chẳng hề tiến được chút nào so với lúc ban đầu.
M: Ông đã bắt đầu như một đứa trẻ và ông sẽ chấm dứt như một đứa trẻ. Bất cứ gì thụ đắc được cho đến nay thì ông phải bỏ đi và khởi sự lại từ đầu.
H: Nhưng đứa trẻ sẽ quậy phá. Khi không được thỏa mãn hay bị từ chối, nó quậy phá.
M: Cứ để nó quậy phá. Chỉ cần quan sát hành động quậy phá. Và nếu vì quá sợ hãi xã hội ông không giám quậy phá đến nơi đến chốn thì cũng quan sát cả thái độ đó. Ta biết đây là một việc đầy khó khăn. Nhưng không có phương sách đối trị - ngoại trừ một cách - sự tìm kiếm phương sách đối trị phải chấm dứt.
Khi ông sân hận hay đau khổ, hãy tách rời chính ông ra khỏi sân hận và đau khổ rồi quan sát chúng. Đứng ngoài mọi chuyện là bước đầu tiên của giải thoát. Hãy bước ra ngoài và quan sát. Những diễn tiến vật lý vẫn tiếp tục xảy ra, nhưng tự thân chúng chẳng có gì quan trọng. Chỉ có tâm mới đáng kể. Dù bất cứ gì xảy ra thì ông không thể quậy phá và la hét ở phòng bán vé máy bay hay ngân hàng. Xã hội không cho phép ông làm chuyện đó. Nếu không thích cung cách làm ăn của họ, hoặc không chuẩn bị để chịu đựng họ thì ông đừng đi máy bay và đừng đem theo tiền. Cứ đi bộ, và nếu không thể đi bộ thì đừng đi du lịch. Muốn giao tiếp với xã hội ông phải chấp nhận những lề thói của nó, vì lề thói của xã hội là lề thói của ông. Sự cần thiết và nhu cầu của ông đã tạo ra những lề thói đó. Những ham muốn của ông quá phức tạp và mâu thuẫn - chẳng trách được vì sao xã hội mà ông tạo ra cũng phức tạp và mâu thuẫn không kém.
H: Tôi thấy rõ và nhìn nhận rằng tất cả mọi hỗn loạn bên ngoài chỉ là phản ảnh những xung đột nội tại của chính tôi. Nhưng phương sách đối trị là gì?
M: Đừng tìm cách đối trị.
H: Thỉnh thoảng tôi ở trong một “trạng thái thoát tục”, và cảm thấy cuộc đời thật hạnh phúc và hài hòa. Nhưng trạng thái đó chẳng kéo dài được bao lâu! Tâm trạng thay đổi và tất cả trở nên hỗn loạn.
M: Chỉ cần giữ được sự tĩnh lặng, buông bỏ tất cả ký ức và chờ mong, thì ông có thể dửng dưng với những kiểu cách hoa mỹ của các sự kiện. Chính sự bất an của ông tạo ra hỗn loạn.
H: Suốt ba tiếng đồng hồ ở phòng bán vé tôi đã thực hành sự kiên nhẫn và chịu đựng. Nhưng điều đó chẳng làm cho sự việc trở nên chóng vánh hơn.
M: Ít ra ông đã không làm cho sự việc chậm lại vì nếu ông nổi quạu lên thì chắc chắn mọi chuyện còn tồi tệ hơn nữa. Ông muốn kết quả tức thời! Chúng ta không làm ảo thuật ở đây. Mọi người phạm cùng một sai lầm: Phủ nhận phương tiện nhưng mong muốn cứu cánh. Ông muốn hòa bình và hòa hợp trên thế giới, nhưng lại không muốn chúng trong chính ông. Cứ làm đúng theo những gì Ta chỉ dẫn, ông sẽ không thất vọng đâu. Ta không thể giải quyết mọi vấn đề của ông chỉ bằng lời lẽ suông, mà chính ông phải làm theo những gì Ta chỉ dẫn và kiên nhẫn. Không phải sự chỉ dẫn đúng sẽ giải thoát, mà hành động dựa vào sự chỉ dẫn đó sẽ giải thoát. Cũng như một bác sĩ, sau khi tiêm cho bệnh nhân một liều thuốc, bảo người bệnh: “Bây giờ, hãy giữ im lặng. Đừng làm gì khác, chỉ giữ im lặng” thì Ta cũng vừa bảo ông: Ông vừa được tiêm một liều thuốc và bây giờ hãy giữ im lặng, chỉ cần giữ im lặng. Ông không phải làm cái gì khác. Tôn sư Ta cũng đã làm như thế. Ngài bảo Ta một điều gì đó rồi dặn: “Bây giờ giữ im lặng. Đừng lúc nào cũng đăm chiêu tư lự. Dừng lại. Im lặng.”
H: Tôi có thể giữ im lặng suốt một giờ vào buổi sáng. Nhưng ngày thì dài và nhiều chuyện xảy ra đã làm cho tôi mất quân bình. Nói “im lặng” thì dễ, nhưng giữ im lặng trong khi mọi thứ đang la hét trong tôi và xung quanh tôi thì không dễ - vui lòng chỉ cho tôi phải làm thế nào.
M: Tất cả những gì cần làm chỉ có thể được thực hiện trong an tĩnh và im lặng. Không cần thiết phải bức mình.
H: Những gì ông nói đều là lý thuyết, không phù hợp với thực tế. Tôi sẽ trở lại Âu châu mà chẳng có gì để làm ở đó. Đời tôi hoàn toàn rỗng tuếch.
M: Ông chỉ cần giữ im lặng thì tất cả sẽ đến - công việc, sức mạnh để làm việc, và động cơ chính đáng. Ông có cần phải biết trước mọi chuyện không? Đừng bận tâm với tương lai - bây giờ hãy giữ im lặng rồi tất cả sẽ đâu vào đó. Cái không mong đợi rồi vẫn sẽ xảy ra, còn cái dự tính có thể chẳng bao giờ đến. Đừng bảo Ta là ông không thể chế ngự được bản tính của ông. Ông chẳng cần phải chế ngự nó. Cứ quẳng nó đi. Chẳng có bản tính nào để chế ngự hay để khuất phục. Chẳng có kinh nghiệm nào có thể làm ông đau đớn, miễn là ông đừng biến nó thành thói quen. Ông chính là nguyên nhân vi tế của toàn thể vũ trụ. Tất cả hiện hữu vì ông hiện hữu. Hãy nắm bắt điều này thật chắc chắn và thường xuyên an trú trong nó. Nhận ra đó là chân lý tuyệt đối - tức là giải thoát.
H: Nếu là hạt giống của vũ trụ thì tôi là một hạt giống hư hỏng! Cứ nhìn quả thì biết được hạt.
M: Có gì sai lầm với thế giới của ông mà ông nguyền rủa nó?
H: Thế giới của tôi đầy đau khổ.
M: Tự nhiên giới thì không vui thích hay đau khổ. Tự nhiên giới đầy trí tuệ và cái đẹp. Đau khổ hay lạc thú là ở trong tâm. Thay đổi nấc thang giá trị thì tất cả sẽ thay đổi. Lạc thú và đau khổ đều là những náo động của cảm giác, cứ xem chúng như nhau thì sẽ có hạnh phúc chơn thật. Thế giới là do ông tạo ra, bằng mọi cách hãy làm cho thế giới này hạnh phúc. Chỉ có sự bằng lòng mới làm ông hạnh phúc vì tham ái, khi đã được thỏa mãn, lại đẻ thêm tham ái. Hãy xa lìa mọi tham ái, và bằng lòng với những gì tự nó tìm đến là một trạng thái đầy lợi lạc - một điều kiện tiên quyết của trạng thái sung mãn. Đừng ngờ vực vẻ khô cằn bề ngoài và sự rỗng rang của nó. Cứ tin Ta đi, chính sự thỏa mãn các tham ái mới gây ra khốn khổ. Vô tham ái là chơn hạnh phúc.
H: Chúng ta vẫn cần nhiều thứ.
M: Nếu không đòi hỏi những gì không cần thì những gì ông cần sẽ đến với ông. Chỉ rất ít người đạt được trạng thái hoàn toàn an nhiên và vô tư này. Đây là trạng thái cao thượng, là ngưỡng cửa của giải thoát.
H: Suốt hai năm nay tôi cô quạnh, bơ vơ và trống rỗng; tôi vẫn thường cầu cho cái chết đến sớm.
M: Nhưng khi ông đến đây thì mọi chuyện bắt đầu biến chuyển. Cứ để mọi chuyện xảy ra như chúng xảy ra - cuối cùng mọi chuyện sẽ tự đâu vào đó. Ông không cần phải căng thẳng mong ngóng tương lai - tương lai tự nó sẽ đến với ông. Ông sẽ còn ở trong trạng thái mộng du này một thời gian nữa, như ông bây giờ, một cách vô nghĩa và mất tự tin; nhưng giai đoạn này sẽ chấm dứt và ông sẽ nhận thấy việc tu tập của ông có kết quả và dễ dàng. Luôn luôn có những lúc người ta cảm thấy trống trải và bị xa lánh. Những lúc như thế thật đáng được khao khát vì có nghĩa là tâm hôn đã nhổ neo và sẵn sàng viễn du. Đây chính là sự viễn ly - khi cái cũ đã qua và cái mới chưa đến. Nếu ông sợ thì trạng thái này có vẻ hoang mang, nhưng thật ra chẳng có gì để sợ. Hãy ghi nhớ lời chỉ dẫn: Dù gặp bất cứ gì - hãy vượt ra.
H: Quy luật của Đức Phật: Nhớ điều cần nhớ. Nhưng tôi cảm thấy vô cùng khó khăn để nhớ điều đúng vào đúng lúc. Đối với tôi thì quên hình như là quy luật!
M: Có nhớ cũng không phải dễ khi mọi tình huống đều kéo theo một cơn giông đầy những tham ái và lo sợ. Tham ái được ký ức sinh ra, và cũng chính nó hủy diệt ký ức.
H: Làm sao tôi có thể chống lại tham ái. Có gì mạnh hơn nó đâu?
M: Những giòng nước của cuộc đời ào ào tuôn chảy trên các tảng đá tham ái hay sân hận. Hãy dời đi các tảng đá bằng sự thấy biết sáng suốt và vô tư, thì cũng chính giòng nước đó sẽ chảy sâu, chảy xiết một cách tĩnh lặng với lưu lượng lớn hơn và cường độ mạnh hơn. Đừng lý thuyết suông, mà hãy dành thời gian để tư duy và suy gẫm; nếu mong muốn tự do, đừng bỏ qua bước chân kề cận nhất với tự do. Cũng như leo núi, không được bỏ một bước nào.
Chỉ thiếu một bước thì vẫn chưa đạt đến đỉnh cao.
CHƯƠNG 53. TÂM VÀ THÂN LÀ NHỮNG HIỆN TƯỚNG CỦA VÔ MINH
Hỏi: Hôm trước chúng ta có bàn về con người, nhân chứng và cái tuyệt đối - Vyakti-VyakTa-AvyakTa. Theo như tôi còn nhớ, ông có nói rằng chỉ có cái tuyệt đối là chơn thật, còn nhân chứng chỉ là cái tuyệt đối ở vào một điểm nào đó trong không gian và thời gian. Con người chỉ là cơ thể, thô cũng như tế, được soi sáng bởi sự có mặt của nhân chứng. Tôi không nắm được vấn đề một cách trọn vẹn, liệu chúng ta có thể bàn lại được không? Ông cũng dùng những từ ngữ như Mahadakash, Chidadash và Paramakash. Chúng liên quan như thế nào với con người, nhân chứng, và cái tuyệt đối?
Maharaj: Mahadakash là tự nhiên giới, là đại dương của mọi sự sống, là không gian vật lý với tất cả những gì có thể tiếp xúc qua các giác quan. Chidakash là sự bao la của tính biết, là không gian tâm của thời gian, tri giác và nhận thức. Paramakash là thực tại phi thời phi xứ, phi tâm, bất khả phân biệt, tiềm năng vô biên, nguồn gốc và khởi thủy, chất liệu và thể tánh, cả vật lý lẫn ý thức - nhưng siêu vượt cả hai. Nó không thể được nhận thức, nhưng có thể được kinh nghiệm như thường xuyên chứng kiến nhân chứng, nhận thức người nhận thức, khởi thủy và chung cuộc của mọi sự thể hiện, gốc rễ của thời gian và không gian, nguyên nhân đầu tiên trong mọi chuỗi tương quan nhân quả.
H: Thế còn sự khác biệt giữa VyakTa và AvyakTa?
M: Không có sự khác biệt nào cả. Cũng giống như ánh sáng và ánh sáng ban ngày. Vũ trụ đầy ánh sáng mà ông không thấy, nhưng cũng ánh sáng ông thấy là ánh sáng ban ngày. Cái mà ánh sáng ban ngày làm cho hiển lộ là Vyakti. Con người luôn luôn là đối tượng, nhân chứng là chủ thể; mối quan hệ tương thuộc lẫn nhau giữa con người và nhân chứng phản ảnh tính đồng nhất tuyệt đối của chúng. Ông tưởng chúng là những trạng thái riêng biệt và tách rời nhau, nhưng không phải thế. Chúng là cùng một ý thức, lúc tịnh và lúc động; trạng thái này biết trạng thái kia. Trong Chit con người biết Thượng đế và Thượng đế biết con người. Trong Chit con người hình thành thế gian và thế gian hình thành con người. Chit là sự liên kết, là cầu nối giữa hai thái cực, là yếu tố quân bình và hợp nhất trong mọi kinh nghiệm. Toàn thể những gì được nhận thức là cái mà ông gọi là vật. Toàn thể những người nhận thức là cái mà ông gọi là tâm vũ trụ. Tính đồng nhất của hai cái - thể hiện chính nó thành khả năng nhận thức và nhận thức, sự hài hòa và trí tuệ, sự đáng yêu và yêu - tái khẳng định tự thân mãi mãi.
H: Thế còn ba thuộc tính của Gunas: Sattva - Rajas - Tamas, chúng chỉ ở trong vật, hay còn ở trong tâm?
M: Dĩ nhiên là trong cả hai, vì tâm và vật không tách rời nhau. Chỉ có cái tuyệt đối mới ở ngoài Gunas. Thực ra, đó chỉ là những quan điểm hay cách nhìn. Chúng chỉ tồn tại trong tâm. Ra khỏi tâm mọi phân biệt không còn nữa.
H: Vũ trụ có phải là sản phẩm của các giác quan?
M: Khi ngủ dậy ông tạo dựng lại thế gian của ông thế nào thì vũ trụ cũng được trải ra như thế. Tâm - với năm cơ phận nhận thức, năm cơ phận hành động, và năm phương tiện của ý thức - thể hiện thành ký ức, tư duy, lý luận và ý thức về cái Ta.
H: Khoa học đã đạt được nhiều tiến bộ. Ngày nay chúng ta biết về thân và tâm rõ hơn người xưa rất nhiều. Luận thuyết cổ điển của ông - mô tả cũng như phân tích tâm và vật - không còn giá trị nữa.
M: Thế các khoa học gia của ông và các môn khoa học của họ ở đâu vậy? Một lần nữa, không phải đó là những hình ảnh trong tâm ông hay sao?
H: Sự khác biệt căn bản nằm ở đây! Đối với tôi họ không phải là những phóng ảnh của chính tôi. Họ có trước khi tôi được sinh ra và vẫn còn đó sau khi tôi chết đi.
M: Dĩ nhiên. Một khi chấp nhận thời gian và không gian là có thật, ông sẽ cho chính mình là nhỏ bé và chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi. Nhưng liệu chúng có thật hay không? Liệu thời gian và không gian tùy thuộc ông hay ông tùy thuộc không gian và thời gian? Là thân xác, ông ở trong không gian. Là tâm, ông ở trong thời gian. Nhưng có phải ông chỉ là thân xác với một cái tâm trong đó? Có bao giờ ông tìm hiểu điều này không?
H: Tôi không có lý do mà cũng chẳng có phương cách để tìm hiểu.
M: Ta đề nghị với ông cả hai. Nhưng công việc tìm hiểu sự sáng suốt và vô tư - Viveka-Vairagya - là thuộc về ông.
H: Động cơ duy nhất mà tôi có thể biết được là hạnh phúc phi nhân duyên và phi thời của tôi. Vậy phương pháp là gì?
M: Hạnh phúc thì ngẫu nhiên. Động cơ thực sự và hữu hiệu là lòng yêu thương. Ông thấy con người đau khổ và ông tìm cách hữu hiệu nhất để cứu giúp họ. Câu trả lời thật hiển nhiên - trước tiên phải đặt ông ra ngoài sự cần cứu giúp. Chắc chắn thái độ của ông phải xuất phát từ thiện ý thuần túy, không mong đợi bất cứ gì.
Những người chỉ tìm kiếm hạnh phúc có thể cuối cùng sẽ đạt được sự thanh thản tuyệt vời, còn tình yêu thì không bao giờ ngưng nghỉ.
Về phương pháp, duy nhất chỉ có một: ông phải biết chính
ông - cả cái mà ông có vẻ như là, lẫn cái mà ông là. Sự trong sáng và lòng từ ái đi cùng với nhau - cái này cần đến cái kia và gia tăng sức mạnh cho cái kia.
H: Từ bi hàm ý sự tồn tại của một thế giới khách quan, đầy những đau khổ khả tránh.
M: Thế gian này không phải khách quan và đau khổ của nó thì bất khả tránh. Từ bi chỉ là một từ ngữ khác thay cho sự khước từ đau khổ vì những lý do tưởng tượng.
H: Nếu các lý do là tưởng tượng thì tại sao đau khổ lại bất khả tránh?
M: Chính cái hư giả luôn luôn làm cho ông đau khổ, lòng tham ái và sự sợ hãi hư giả, những giá trị và ý tưởng hư giả, những quan hệ hư giả giữa con người. Bỏ đi cái hư giả ông không còn đau khổ nữa; chân lý đem lại hạnh phúc - chân lý là giải thoát.
H: Sự thật là: tôi, một cái tâm bị giam hãm trong một thân xác, và đây là một sự thật vô cùng bất hạnh.
M: Ông không phải thân xác và cũng không ở trong thân xác - không có cái gì là thân xác. Ông đã hiểu lầm chính ông một cách nghiêm trọng; để hiểu một cách đúng đắn - hãy tìm cho ra lẽ.
H: Nhưng tôi được sinh ra như một thân xác, trong một thân xác và sẽ chết đi với thân xác, như một thân xác.
M: Đó là quan niệm sai lầm của ông. Tìm hiểu, tìm ra sự thật, đặt nghi vấn về chính mình và người khác. Để tìm ra sự thật, ông không được bám víu vào những gì ông tin tưởng; nếu ông cho rằng cái tức thời là chắc chắn thì sẽ không bao giờ ông đạt đến cái tối hậu. Cái ý tưởng cho rằng ông đã được sinh ra và sẽ chết đi thật ngớ ngẩn: Nó mâu thuẫn cả về logic lẫn kinh nghiệm.
H: Thôi được. Tôi sẽ không cố chấp cho rằng mình là thân xác. Ông nói đúng đấy. Nhưng ở đây và ngay bây giờ, trong lúc nói chuyện với ông, tôi ở trong thân xác của tôi, rõ ràng là như thế. Thân xác này có thể không phải là tôi, nhưng nó là của tôi.
M: Toàn thể vũ trụ không ngừng góp phần cho sự tồn tại của
ông. Do đó toàn thể vũ trụ là thân xác của ông. Trong ý nghĩa đó - Ta đồng ý.
H: Thân xác tôi ảnh hưởng tôi một cách sâu xa. Về nhiều phương diện, thân xác tôi chính là định mệnh của tôi. Cá tính của tôi, tính tình của tôi, bản chất các phản ứng của tôi, những tham ái và lo sợ của tôi - bẩm sinh hay thụ đắc - tất cả đều dựa trên thân xác tôi. Chỉ cần ít rượu, chút ma túy hay cái gì đó là tất cả đều thay đổi. Tôi trở thành một con người khác cho đến khi ảnh hưởng của ma túy tan đi.
M: Tất cả những điều đó xảy ra vì ông nghĩ chính ông là thân xác. Hãy nhận ra cái Ta thật của ông thì ngay cả ma túy cũng chẳng có uy lực gì đối với ông.
H: Ông hút thuốc lá sao?
M: Thân xác Ta còn giữ một vài thói quen, những thói quen đó có thể tiếp tục cho đến khi thân xác chết đi. Chúng vô hại.
H: Ông ăn thịt?
M: Ta đã được sinh ra giữa những người ăn thịt, các con của Ta đều ăn thịt. Ta ăn rất ít. Đừng quan trọng hóa.
H: Ăn thịt là hàm ý sát sinh.
M: Ta không tự nhận theo một nguyên tắc nào đó. Ông cho rằng nguyên tắc là tuyệt đối khả hữu? Thử chứng minh bằng một ví dụ nào đó đi. Đừng thuyết giáo nếu không hành đạo.
Trở lại với ý tưởng được sinh ra. Ông không thể thoát ra khỏi những gì cha mẹ ông bảo ông: tất cả về sự thụ thai, có mang và sinh đẻ, sơ sinh, nhi đồng, thiếu niên, vị thành niên, vân vân. Thử gạt bỏ cái ý tưởng ông là thân xác bằng một ý tưởng trái ngược. Ông không phải là thân xác. Đây cũng là một ý tưởng, rõ ràng là như thế, và nhớ xem nó như một công cụ cần buông bỏ khi dùng xong. Cái ý tưởng Ta không phải là thân xác làm cho thân xác trở thành hiện thực, trong khi thật ra không có cái gì là thân xác; nó chỉ là một trạng thái của tâm. Ông có thể có vô số thân và đủ loại hình tướng mà ông thích; nhưng luôn luôn nhớ rõ cái ông muốn, và vất bỏ những cái không thích hợp.
H: Tôi giống như một cái hộp ở trong cái hộp khác, và cái hộp khác lại ở trong cái hộp khác; cái hộp ngoài cùng được xem là thân xác, và cái hộp kế bên trong là linh hồn. Lấy đi cái hộp bên ngoài, cái hộp kế bên trong trở thành thân xác, và cái hộp kế bên trong nữa thành linh hồn. Đây là một chuỗi diến tiến bất tận, một cuộc mở hộp không bao giờ chấm dứt, liệu cái cuối cùng có phải là linh hồn tối hậu?
M: Nếu có một thân xác, ông phải có một linh hồn; trường hợp này sự ví von của ông về bộ hộp xếp lồng vào nhau là đúng. Nhưng ở đây và ngay bây giờ - tánh biết, tức ánh sáng thuần túy của Chit chiếu rọi xuyên suốt các thân và hồn của ông. Hãy bám chặt lấy nó không lơi lỏng. Nếu không có tánh biết, thân xác không tồn tại quá một giây. Trong thân xác có một giòng sinh lực, tình cảm và trí tuệ; nó hướng dẫn, duy trì và truyền sức sống cho thân xác. Hãy phát hiện cái giòng đó và ở với nó.
Dĩ nhiên tất cả chỉ là những cách nói. Ngôn từ vừa là một chướng ngại, vừa là một cây cầu. Hãy phát hiện tia lửa của sự sống đan kết các mô tế bào của cơ thể ông, và ở với nó. Nó là thực thể duy nhất mà thân xác có được.
H: Sau khi chết, chuyện gì sẽ xảy ra cho tia lửa của sự sống đó?
M: Nó siêu vượt thời gian. Sinh và tử chỉ là những điểm trong thời gian. Sự sống không ngừng đan kết vô số những mạng lưới của nó. Sự đan kết ở trong thời gian, nhưng tự thân sự sống thì vô thời. Ông có thể gán cho những thể hiện của nó bất cứ danh xưng hay hình tướng nào; nó giống như đại dương - không bao giờ thay đổi, mà luôn luôn thay đổi.
H: Những gì ông nói nghe có vẻ thuyết phục một cách tuyệt mỹ, nhưng tôi vẫn luôn luôn có cảm tưởng mình chỉ là một con người trong một thế giới xa lạ, thường xuyên thù nghịch và nguy hiểm. Là một con người - hữu hạn trong không gian và thời gian - làm sao tôi có thể nhận ra mình là một cái gì đó ngược lại - cái tánh biết vô cá biệt, phi nhân cách và vũ trụ hóa?
M: Ông khẳng định mình là cái mà ông không phải, nhưng lại chối bỏ cái mà chính ông là. Ông bỏ qua yếu tố nhận thức thuần túy - tánh biết hoàn toàn không có những xuyên tạc của con người. Chỉ khi nào nhìn nhận thực tế của Chit, ông mới biết được chính ông.
H: Tôi phải làm gì? Tôi không thấy tôi như ông thấy tôi. Có thể ông đúng mà tôi sai, nhưng làm sao tôi có thể chấm dứt là cái mà tôi cảm thấy tôi là?
M: Một ông hoàng cứ nghĩ mình là kẻ ăn mày thì chỉ có một cách để thuyết phục: Ông ta phải hành xử như một ông hoàng rồi xem chuyện gì xảy ra. Cứ hành xử như thể là những gì Ta nói là đúng đi, rồi phán xét qua những gì thực sự xảy ra. Tất cả những gì Ta đòi hỏi chỉ là đôi chút tín tâm để tiến hành bước đầu tiên. Sự tin tưởng sẽ đến với kinh nghiệm và ông sẽ chẳng cần đến Ta nữa. Ta biết cái mà ông là, và Ta bảo cho ông biết. Cứ tin Ta một thời gian ngắn xem.
H: Để ở đây và bây giờ, tôi cần thân xác và những giác quan của nó. Để hiểu, tôi cần một cái tâm.
M: Thân và tâm chỉ là những hiện tướng của vô minh, và hiểu biết sai lầm, hãy hành xử như thể ông là tánh biết thuần túy, vô thân và vô tâm, vô xứ và vô thời, vượt ra khỏi “ở đâu”, “khi nào”, và “làm thế nào.” Hãy ở với nó, suy nghĩ về nó, học cách chấp nhận thực tế của nó. Đừng luôn luôn chống đối nó và phủ nhận nó. Ít ra thì cũng giữ một cái tâm cởi mở. Yoga là uốn cái bên ngoài vào bên trong. Hãy làm cho tâm và thân ông thể hiện cái chơn thật - cái là tất cả và siêu vượt tất cả. Bằng hành động ông thành công, chứ không phải bằng biện luận.
H: Vui lòng cho tôi trở lại câu hỏi đầu tiên. Sự sai lầm cho mình là một con người bắt đầu như thế nào?
M: Cái tuyệt đối có trước thời gian. Tánh biết có trước. Một
mớ ký ức và thói quen tâm lý thu hút sự chú ý, thế là tánh biết được xác định tiêu điểm và một con người đột nhiên xuất hiện lấy đi ánh sáng của tánh biết: Khi ngủ hay bất tỉnh - con người biến mất. Con người - Vyakti - thì chập chờn nhấp nháy; tánh biết - VyakTa - dung chứa tất cả không gian và thời gian; cái tuyệt đối - AvyakTa -
HIỆN HỮU.
CHƯƠNG 54. CHO ĐI TẤT CẢ THÌ SẼ ĐƯỢC TẤT CẢ
Hỏi: Trạng thái của ông ngay bây giờ là gì?
Maharaj: Một trạng thái phi kinh nghiệm, nó dung nhiếp tất cả kinh nghiệm trong đó.
H: Liệu ông có thể nhập vào tâm thức hay trái tim của người khác và chia sẻ kinh nghiệm của người đó?
M: Không. Những chuyện như thế đòi hỏi một sự luyện tập đặc biệt. Ta giống như một người bán bột mì. Ta biết rất ít về bánh mì hay bánh ngọt. Ngay cả vị cháo lúa mì Ta cũng không biết, nhưng Ta biết rất rõ về hạt lúa mì. Ta biết nguồn gốc của tất cả kinh nghiệm, nhưng vô số những tướng trạng cá biệt của nó thì Ta không biết, mà Ta cũng chẳng cần biết. Từ lúc này sang lúc khác, Ta chỉ biết rất ít để sống cuộc sống của Ta, Ta biết một cách ngẫu nhiên.
H: Sự tồn tại cá biệt của ông và sự tồn tại cá biệt của tôi có cùng tồn tại trong tâm của Đại ngã - Brahma?
M: Vũ trụ không biết cái cá biệt. Sự tồn tại như một con người là vấn đề của con người. Một con người tồn tại trong không gian và thời gian, có danh xưng và hình tướng, có sự bắt đầu và chấm dứt; vũ trụ dung chứa tất cả những con người, và cái tuyệt đối là gốc rễ của tất cả nhưng ở bên ngoài tất cả.
H: Tôi không bận tâm đến cái toàn thể. Ý thức cá nhân của ông và ý thức cá nhân của tôi - cái gì liên kết hai cái?
M: Giữa hai kẻ chiêm bao, cái gì có thể là sự liên kết?
H: Họ có thể chiêm bao thấy nhau.
M: Đó là những gì người ta đang làm. Mọi người đều tưởng tượng ra “người khác” và đi tìm sự liên kết với người khác. Người tìm kiếm là sự liên kết, ngoài ra chẳng có ai khác.
H: Chắc chắn phải có một cái gì đó chung nhất giữa nhiều điểm của ý thức mà chúng ta là.
M: Những điểm đó ở đâu? Trong tâm ông. Ông khăng khăng cho rằng thế giới của ông bất tùy thuộc vào tâm ông. Làm sao có thể như thế? Lòng ham muốn biết được tâm của người khác là do ông không biết chính tâm của ông. Trước tiên hãy biết tâm ông rồi ông sẽ nhận ra câu hỏi về tâm của người khác sẽ không sinh khởi, vì không hề có người khác. Ông là yếu tố chung, sự liên kết duy nhất giữa các tâm. Hiện hữu là ý thức; “Ta hiện hữu” áp dụng cho tất cả.
H: Thực tại Tối thượng - Parabrahman - có thể hiện diện trong tất cả chúng ta. Nhưng có ích lợi gì?
M: Ông giống như một người bảo: “Tôi cần một chỗ để giữ đồ đạc, nhưng không gian có ích lợi gì cho tôi?” hoặc: “Tôi cần sữa, trà, cà phê hay nước ngọt, nhưng nước thì tôi không dùng.” Ông không thấy được rằng Thực tại Tối thượng là cái làm cho mọi thứ khả hữu? Nhưng nếu ông hỏi Thực tại có ích lợi gì cho ông, thì Ta phải trả lời là: “không.” Trong những vấn đề thường nhật của đời sống, người biết cái thật chẳng có lợi gì, mà còn chịu thiệt, vì không còn tham ái và lo sợ nên người đó không cần phải bo bo cho chính mình. Người biết thực tại thì xa lạ với ý tưởng hưởng lợi, ghê tởm sự tích lũy của cải; cuộc sống của người đó là không ngừng từ bỏ chính mình, không ngừng chia sẻ, và cho đi.
H: Nếu đạt đến cái Tối thượng chẳng có lợi gì, thì tại sao lại chuốc lấy phiền trược?
M: Phiền trược chỉ có khi nào ông bám víu vào cái gì đó. Không bám víu vào cái gì thì chẳng phiền trược nào sinh khởi. Từ bỏ cái nhỏ là được cái lớn. Cho đi tất cả ông sẽ được tất cả. Lúc đó cuộc sống trở thành cái mà nó có ý nghĩa để là: Sự chiếu sáng thuần túy từ một nguồn sáng bất tận. Trong ánh sáng đó thế giới xuất hiện mờ nhạt như một cơn mộng huyễn.
H: Nếu thế giới của tôi là mộng huyễn và ông là một phần của thế giới đó, vậy ông có thể làm được gì cho tôi? Nếu mộng huyễn là không thật, không có thực thể, làm sao thực tại có thể tác động được nó?
M: Trong lúc đang diễn ra, cơn mộng có sự hiện hữu nhất thời của nó. Chính lòng tham ái của ông bám lấy nó, và điều này gây ra phiền trược. Hãy buông bỏ. Chấm dứt tưởng tượng cơn mộng là của ông.
H: Hình như ông mặc nhiên cho rằng có thể có cơn mộng mà không có người nằm mơ, và tôi đồng hóa mình với giấc mộng của ý muốn êm ái của chính tôi. Nhưng tôi là người nằm mơ và cũng là giấc mộng. Ai là người chấm dứt giấc mộng?
M: Cứ để giấc mộng tự trải ra cho đến khi chấm dứt. Ông không thể làm gì được nó. Nhưng ông có thể nhìn giấc mộng như một giấc mộng, đừng đóng lên nó dấu ấn của thực tại.
H: Tôi đang ở đây, ngồi trước mặt ông. Tôi đang mơ và ông đang nhìn tôi nói trong mơ. Sự liên kết giữa ông và tôi là gì?
M: Ý định của Ta muốn đánh thức ông là sự liên kết. Lòng Ta muốn ông tỉnh thức. Ta thấy ông đau khổ trong giấc mơ của ông và Ta biết rằng ông phải tỉnh thức để chấm dứt những đau khổ của ông. Khi thấy giấc mơ của ông là mơ thì ông tỉnh giấc. Ta không quan tâm đến chính giấc mơ của ông. Đối với Ta - biết ông phải tỉnh thức - thế là đủ. Ông không cần phải đưa giấc mơ của ông đến một kết thúc nhất định, hoặc làm cho nó cao thượng, vui thú, hay đẹp đẽ; tất cả những gì ông cần là nhận ra ông đang nằm mơ. Chấm dứt tưởng tượng, chấm dứt tin tưởng. Phải thấy được những mâu thuẫn, phi lý, hư giả và nỗi đau khổ của trạng thái làm người, cũng như sự cần thiết phải vượt ra ngoài. Trong sự bao la vô tận của không gian vật vờ một nguyên tử nhỏ bé của ý thức, và toàn thể vũ trụ được dung chứa trong nó.
H: Trong mơ nhiều tình cảm có vẻ như rất thật và miên viễn. Liệu những tình cảm đó biến mất khi tỉnh thức?
M: Trong mơ ông yêu người này nhưng không yêu người khác. Khi tỉnh thức ông nhận ra ông chính là tình yêu, bao trùm tất cả. Tình yêu cá nhân, dù mãnh liệt và trung thực đến đâu, luôn luôn ràng buộc; yêu tất cả là yêu trong tự do.
H: Mọi người đến rồi đí, một người không thể yêu tất cả mọi người, mà chỉ có thể yêu người mình gặp.
M: Khi là tự thân tình yêu, ông vượt ra ngoài thời gian và số lượng. Khi yêu một ông yêu tất cả, khi yêu tất cả ông yêu từng người, từng vật một. Cái một và cái nhiều không loại trừ lẫn nhau.
H: Ông bảo ông ở trong trạng thái phi thời. Điều này có nghĩa là quá khứ và tương lai lúc nào cũng rộng mở với ông? Ông có gặp Vashista Muni, Tôn sư của Rama?
M: Câu hỏi ở trong thời gian và về thời gian. Một lần nữa ông lại hỏi Ta về nội dung của một giấc mơ. Tính cách phi thời thì siêu vượt ảo tưởng về thời gian, nó không phải là một sự kéo dài trong thời gian. Người nào nhận mình là Vashista thì người đó biết Vashista. Ta ở ngoài mọi danh xưng và hình tướng. Vashista là một cơn mơ trong giấc mơ của ông. Làm sao Ta biết Vashista? Ông quá bận tâm với quá khứ và tương lai. Tất cả là do lòng ham muốn tiếp tục của ông, bảo vệ ông khỏi sự diệt vong. Vì ông muốn tiếp tục, ông muốn người khác duy trì ông thân cận với họ, cho nên ông quan tâm đến sự tồn tại của họ. Nhưng cái mà ông gọi là tồn tại chỉ là sự tồn tại của một giấc mơ. Giấc mơ đó cần phải chết đi. Cơ hội tỉnh thức vẫn có đó.
H: Vì biết cái vĩnh cửu, nên ông không bận tâm với sự tồn tại, M: Thật ra là ngược lại. Tự do không còn tham ái là vĩnh cửu. Tất cả ràng buộc hàm ý lo sợ, vì tất cả là vô thường. Lo sợ biến một người thành nô lệ. Tự do thoát khỏi mọi ràng buộc không do tu tập mà có; nó là tự nhiên khi một người biết rõ sự hiện hữu đích thực của chính mình. Yêu thì không bám víu, mà bám víu thì không phải là yêu.
H: Như vậy không có cách nào đạt được sự thanh thản.
M: Chẳng có gì để đạt. Quẳng đi tất cả tưởng tượng và biết chính ông như ông là. Hiểu biết chính mình là thanh thản. Mọi khao khát đều do cảm tưởng thiếu thốn. Khi biết rằng ông chẳng thiếu gì, tất cả những gì hiện hữu là ông và của ông thì tham ái chấm dứt.
H: Để biết chính mình, tôi có cần phải thực hành tỉnh thức?
M: Chẳng có gì để thực hành. Để biết chính ông, hãy là chính ông. Để là chính ông, hãy chấm dứt tưởng tượng ông là thế này hay thế kia. Chỉ hiện hữu. Hãy để bản chất chơn thật của ông xuất hiện.
Đừng bận tâm với sự tìm kiếm.
H: Nếu chỉ chờ đợi sự tự giác ngộ thì lâu lắm.
M: Việc gì phải chờ đợi khi cái ông chờ đợi đang ở đây và bây giờ? Ông chỉ cần quan sát và thấy. Hãy quan sát chính ông, quan sát sự hiện hữu của chính ông. Ông biết ông hiện hữu và ông thích điều đó. Bỏ đi tất cả những gì tưởng tượng, chỉ có thế thôi. Đừng trông đợi thời gian. Thời gian là chết. Kẻ nào chờ đợi thì chết. Sự sống chỉ là bây giờ. Đừng nói với Ta về quá khứ và tương lai - chúng chỉ tồn tại trong tâm ông.
H: Cả ông rồi cũng chết.
M: Ta đã chết. Cái chết vật lý chẳng có gì là quan trọng với Ta. Ta là sự hiện hữu vô thời. Ta hoàn toàn tự do không còn tham ái và lo sợ, vì Ta không nhớ về quá khứ hay tưởng đến tương lai. Khi không còn danh xưng và hình tướng thì làm sao có thể có tham ái và lo sợ? Vô thời đến cùng với vô tham ái. Ta luôn luôn an ổn vì cái không hiện hữu thì không thể tác động đến cái hiện hữu. Ông cảm thấy bất an vì ông tưởng tượng ra sự nguy hiểm. Dĩ nhiên, thân xác phức tạp và dễ bị thương tổn của ông cần được bảo vệ. Nhưng ông thì không cần. Khi nhận ra sự hiện hữu bất khả xâm phạm của chính ông - ông sẽ an ổn.
H: Làm sao tôi có thể tìm được sự an ổn trong lúc thế gian
đau khổ?
M: Thế gian đau khổ vì nhiều lý do hợp lý. Nếu muốn cứu thế gian ông phải ở ngoài sự cần cứu giúp. Lúc đó tất cả những gì ông làm cũng như không làm sẽ giúp thế gian này một cách hữu hiệu nhất.
H: Vì sao không làm lại hữu ích khi hành động được cần đến?
M: Khi hành động được cần đến thì hành động xảy ra. Con người không phải là người hành động. Hành động của con người là biết những gì đang diễn ra. Chính sự hiện diện của con người là hành động. Khung cửa sổ là khoảng trống của bức tường, nó đem lại không khí và ánh sáng vì nó trống không. Hãy trống không với tất cả nội dung tâm lý, với mọi sự tưởng tượng và cố gắng, rồi chính sự trống không, không còn chướng ngại, sẽ lùa thực tại vào trong ông. Nếu ông thật sự muốn cứu giúp một người thì hãy tránh xa. Nếu vì cảm xúc mà cam kết cứu giúp thì ông không giúp được. Ông có thể rất bận rộn và hài lòng với bản tính thương người của ông, nhưng chẳng làm được bao nhiêu. Một người được giúp thật sự chỉ khi nào người đó không còn cần đến giúp đỡ. Mọi cách khác đều vô ích.
H: Không có đủ thời gian để ngồi chờ sự giúp đỡ xảy ra. Một người phải làm cái gì đó.
M: Bằng mọi cách, hãy hành động. Nhưng những gì ông có thể làm thì hữu hạn; chỉ cái Ta mới vô hạn. Hãy bố thí chính ông một cách vô hạn. Những cái khác ông chỉ có thể cho với một số lượng nhỏ nhoi. Chỉ có ông mới là bất khả đo lường. Cứu giúp là bản tánh của ông. Ngay cả khi ông ăn uống là lúc ông giúp cơ thể của ông. Còn đối với ông, ông chẳng cần gì cả. Ông là sự bố thí thuần túy, vô thủy, vô chung và vô tận. Khi thấy phiền não và đau khổ, hãy ở cùng nó. Đừng vội vàng hành động. Cả biết lẫn hành động đều không thật sự giúp. Hãy ở với đau khổ và đánh bật gốc rễ của nó lên; giúp sự hiểu biết mới thật là giúp.
H: Cái chết của tôi đang cận kề.
M: Thân xác ông sắp tận, không phải ông. Thời gian và không gian chỉ ở trong tâm. Ông không hề bị ràng buộc. Chỉ cần hiểu rõ chính ông - chính đó là sự vĩnh hằng.
CHƯƠNG 55. Ý THỨC SINH KHỞI, THẾ GIỚI SINH KHỞI
Hỏi: Chuyện gì xảy ra khi một người bình thường chết đi?
Maharaj: Mọi chuyện sẽ xảy ra theo những gì người đó tin tưởng. Cuộc đời trước khi chết chỉ là tưởng tượng thì cuộc đời sau khi chết cũng vậy. Giấc chiêm bao vẫn tiếp tục.
H: Thế còn Gnani - bậc giác ngộ?
M: Gnani không chết vì chưa bao giờ được sinh ra.
H: Đối với người khác, Gnani có vẻ cũng như thế.
M: Nhưng với chính Gnani thì không. Trong chính mình, người giác ngộ tự do với tất cả - vật lý cũng như tâm lý.
H: Nhưng ông vẫn phải biết trạng thái của một người chết. Ít ra là từ những tiền kiếp của ông.
M: Trước khi gặp Tôn sư, Ta biết rất nhiều thứ. Bây giờ Ta không biết gì cả, vì tất cả kiến thức chỉ có trong chiêm bao và chẳng có giá trị. Ta biết chính Ta, Ta không tìm thấy sinh hay tử trong Ta, mà chỉ có hiện hữu thuần túy - không phải hiện hữu thế này hay thế nọ, mà chỉ hiện hữu. Nhưng ngay khi tâm, lôi ra từ kho ký ức, và bắt đầu tưởng tượng thì nó đem các vật thể vào không gian, và các sự kiện vào thời gian. Ngay cả kiếp này Ta còn không biết thì làm sao Ta có thể biết được các kiếp trước? Chính tâm, vì động thấy mọi thứ đều động, và vì tạo ra thời gian, nên nó lo âu về quá khứ và tương lai. Toàn thể vũ trụ được đặt trong chiếc nôi của ý thức - Maha Tattva, nó xuất hiện khi có sự ổn định và hài hòa tuyệt đối - Maha Sattva. Cũng như tất cả sóng đều ở trong biển thì tất cả mọi thứ - vật lý và tâm lý - đều ở trong tánh biết. Vì thế tự thân tánh biết - không phải nội dung của nó - quan trọng hơn tất cả. Hãy đào sâu và khơi rộng sự thấy biết về chính ông thì mọi công đức sẽ tuôn trào. Ông không cần phải tìm kiếm, tất cả sẽ đến với ông một cách tự nhiên nhất và dễ dàng nhất. Năm giác quan, bốn chức năng của tâm: ký ức, tư duy, hiểu và ý thức về cái Ta; ngũ đại: đất, nước, gió, lửa và không; và hai phương diện của sáng tạo: Vật chất và tinh thần - tất cả đều ở trong tánh biết.
H: Nhưng ông phải tin rằng có tiền kiếp.
M: Kinh điển thì nói như thế, nhưng Ta không biết gì về điều đó. Ta biết chính Ta như Ta là, vì trong kinh nghiệm của Ta không hề có Ta đã xuất hiện hay Ta sẽ xuất hiện. Không phải vì Ta không nhớ, mà thật ra không có gì để nhớ. Luân hồi hàm ý một cái Ta đi luân hồi. Không hề có chuyện như thế. Một mớ ký ức và hy vọng, được gọi là “Ta”, tưởng tượng chính nó tồn tại mãi mãi, và tạo ra thời gian để dung chứa sự trường tồn hư giả của nó. Để hiện hữu, Ta không cần quá khứ hay tương lai. Tất cả kinh nghiệm đều do tưởng tượng mà có; Ta không tưởng tượng nên sinh và tử không xảy ra đối với Ta. Chỉ những ai nghĩ rằng mình được sinh ra mới nghĩ mình được tái sinh. Ông buộc tội Ta đã được sinh ra. Ta tự biện hộ: vô tội!
Tất cả đều tồn tại trong tánh biết và tánh biết không chết mà cũng chẳng tái sinh. Nó chính là thực tại bất biến.
Toàn thể vũ trụ của kinh nghiệm được sinh ra với thân xác và sẽ chết đi cùng với thân xác; nó có sự khởi đầu và chấm dứt trong tánh biết, nhưng tánh biết thì không biết đến sự khởi đầu hay chấm dứt. Nếu suy nghĩ đến nơi đến chốn, và nghiền ngẫm thật lâu, ông sẽ nhận ra ánh sáng của tánh biết với tất cả sự trong sáng của nó, và thế giới sẽ mờ dần và biến mất trong tầm nhìn của ông. Cũng như nhìn một cây nhang đang cháy, ông thấy cây nhang và khói trước; khi để ý kỹ đốm lửa ông sẽ nhận ra nó có năng lực đốt hết hàng núi cây nhang và tỏa đầy khói vào vũ trụ. Cái Ta hiện thực hóa tự thân bất kể mọi tác động của thời gian, mà không hề cạn kiệt những khả năng vô biên của nó. Trong trường hợp cây nhang đang cháy, cây nhang là thân xác, và khói là tâm. Chừng nào tâm còn bận rộn với những uốn lượn thì nó không nhận ra nguồn gốc của chính nó. Vị Đạo sư xuất hiện và xoay sự chú ý của ông vào đốm sáng bên trong. Do bản chất của nó, tâm luôn luôn hướng ngoại, tâm có khuynh hướng tìm kiếm nguồn gốc của sự vật trong chính sự vật. Khi được bảo tìm kiếm nguồn gốc bên trong có nghĩa là: Bằng một cách nào đó, bắt đầu một cuộc sống mới. Tánh biết thay chỗ cho ý thức; trong ý thức có cái “Ta” - là người ý thức, còn tánh biết thì không phân chia: tánh biết biết chính nó. Cái “Ta hiện hữu” là một ý nghĩ, còn tánh biết không phải là một ý nghĩ; không hề có “Ta biết” trong tánh biết. Ý thức là một thuộc tính còn tánh biết thì không; một người có thể biết mình đang ý thức, nhưng không ý thức được tánh biết. Thượng đế là tổng thể của ý thức, còn tánh biết thì siêu vượt tất cả - hiện hữu lẫn phi hiện hữu.
H: Tôi bắt đầu với câu hỏi về trạng thái của một người sau khi chết. Khi thân xác hư hoại, chuyện gì xảy ra với ý thức của người đó? Liệu người đó mang theo hay để lại các thức như nhãn thức, nhĩ thức, vân vân? Và, nếu người chết không còn các thức kia thì ý thức của người đó trở thành cái gì?
M: Các thức chỉ là những hình thái của nhận thức. Khi những hình thái thô biến mất, những trạng thái vi tế hơn của ý thức xuất hiện.
H: Không có sự chuyển tiếp sang tánh biết sau khi chết?
M: Không thể có sự chuyển tiếp từ ý thức sang tánh biết, vì tánh biết không phải là một hình thái của ý thức. Ý thức chỉ có thể trở nên vi tế và tinh lọc hơn, đó là những gì xảy ra sau khi chết. Khi các phương tiện thể hiện của người chết hư hoại dần thì các hình thái của ý thức do chúng tạo ra cũng từ từ mờ nhạt.
H: Cho đến khi chỉ còn lại vô thức?
M: Hãy nhìn chính ông đang nói về vô thức như một cái gì đến và đi! Ai ở đó để biết vô thức? Bao giờ cửa sổ còn mở thì còn có ánh sáng trong phòng. Khi cửa sổ đóng lại, mặt trời vẫn còn đó, nhưng liệu mặt trời có thấy bóng tối trong căn phòng? Có cái gì như là bóng tối đối với mặt trời? Không hề có cái như vô thức, vì vô thức thì không thể kinh nghiệm được. Chúng ta phỏng đoán về vô thức khi có sự ngắt quãng trong ký ức hay truyền đạt. Nếu Ta ngưng phản ứng, ông sẽ cho rằng Ta vô thức. Trong thực tế, có thể Ta ý thức rất bén nhạy vào lúc đó nhưng chỉ không thể truyền đạt hay nhớ.
H: Tôi hỏi một câu rất đơn giản: Có vào khoảng bốn tỉ người trên thế giới [vào thời điểm đối thoại] và tất cả chắc chắn sẽ chết đi. Trạng thái của họ như thế nào sau khi chết - không phải vật lý, mà là tâm lý? Liệu ý thức của họ sẽ tiếp tục? Nếu tiếp tục, thì dưới hình thức nào? Đừng bảo là tôi đặt sai câu hỏi, hay ông không biết câu trả lời, hay là trong thế giới của ông câu hỏi của tôi vô nghĩa. Ngay khi nói rằng thế giới của ông và thế giới của tôi hoàn toàn khác biệt, không tương hợp thì ông dựng lên một bức tường giữa ông và tôi. Hoặc là chúng ta sống trong một thế giới, hoặc là kinh nghiệm của ông chẳng ích lợi gì cho chúng tôi.
M: Dĩ nhiên ông và Ta sống trong một thế giới. Chỉ có điều Ta thấy nó như nó là, còn ông thì không. Ông thấy chính ông trong thế giới, còn Ta thấy thế giới trong chính Ta. Với ông, ông được sinh ra và chết đi, còn với Ta thế giới xuất hiện và biến mất. Thế giới của chúng ta là thật, nhưng cái nhìn của ông về thế giới thì không đúng thật. Chẳng có bức tường nào giữa ông và Ta, ngoại trừ bức tường được ông dựng lên. Không có gì sai với các nhận thức, chỉ có sự tưởng tượng của ông mới làm cho ông sai lầm. Sự mê lầm của ông ngăn che thế giới như chính nó là bằng cái mà ông tưởng tượng nó là - một cái gì đó tồn tại độc lập với ông nhưng lại rặp khuôn những mô thức được thừa hưởng, hay thụ đắc của ông. Có một sự mâu thuẫn sâu sắc trong thái độ của ông mà ông không thấy, và đó chính là nguyên nhân của phiền não. Ông khăng khăng với ý tưởng là ông được sinh vào một thế giới của đau khổ và phiền não. Ta biết rằng thế giới là một đứa trẻ của tình yêu, có sự khởi đầu của nó, trưởng thành và thỏa mãn trong tình yêu. Nhưng Ta còn ở ngoài tình yêu.
H: Nếu ông tạo ra thế giới bằng tình yêu, tại sao nó lại đầy đau khổ?
M: Ông nói đúng - từ cái nhìn của thân xác. Nhưng ông không phải thân xác. Ông là sự bao la vô tận của ý thức. Đừng thừa nhận những gì không thật thì ông sẽ thấy sự vật như Ta thấy chúng. Đau khổ và lạc thú, tốt và xấu, đúng và sai chỉ là những điều kiện tương đối và không thể được xem như tuyệt đối. Chúng đều hữu hạn và vô thường.
H: Trong truyền thống đạo Phật, một Nirvani, tức một vị Phật giác ngộ, hoàn toàn tự do đối với vũ trụ. Bậc giác ngộ có thể biết và chứng nghiệm tất cả những gì tồn tại. Bậc giác ngộ có thể điều khiển, can thiệp vào thiên nhiên, vào chuỗi tương quan nhân quả, thay đổi trình tự các diễn tiến, và thậm chí có thể hóa giải quá khứ! Thế giới vẫn có với bậc giác ngộ nhưng bậc giác ngộ hoàn toàn tự do trong thế giới.
M: Những gì ông mô tả là Thượng đế. Dĩ nhiên, khi nào có thế giới thì đều có cái đối ứng với nó, tức là Thượng đế. Nhưng Ta siêu vượt cả hai. Có một vương quốc nọ đi tìm một vị vua. Họ tìm ra đúng người và phong làm vua. Người được phong vương đó không thể nào đã thay đổi. Người đó đơn thuần chỉ được ban cho một tước vị, uy quyền và trách nhiệm của một ông vua. Bản chất của người đó không hề bị ảnh hưởng, mà chỉ có hành động. Tương tự như thế với người giác ngộ, nội dung ý thức của người đó trải qua một sự chuyển hóa tận căn bản. Nhưng người giác ngộ không lầm lẫn. Người ấy biết rõ cái bất biến.
H: Cái không thay đổi thì không thể ý thức. Ý thức luôn luôn thuộc về thay đổi. Cái không thay đổi không lưu lại dấu vết nào trong ý thức.
M: Có và không. Tờ giấy không phải là chữ viết nhưng nó chứa đựng chữ viết. Mực không phải là bản văn được viết ra, và bản văn không phải là tâm của người đọc - nhưng tất cả đều làm cho bản văn khả hữu.
H: Ý thức xuất phát từ thực tại hay là một thuộc tính của vật chất?
M: Ý thức như thế là một đối ứng vi tế của vật chất. Cũng như quán tính - tức là lực ì - và năng lượng là những thuộc tính của vật chất, thì sự hài hòa thể hiện chính nó thành ý thức. Ông có thể xem nó như là một hình thức năng lượng vô cùng vi tế. Bất cứ nơi nào vật chất tự tổ chức thành một cơ thể ổn định thì ý thức tự xuất hiện một cách tự sinh khởi. Khi cơ thể hủy hoại thì ý thức biến mất.
H: Thế cái gì còn lại?
M: Cái mà vật chất và ý thức là những phương diện của nó, còn lại. Nó bất sinh bất diệt.
H: Nếu nó ở ngoài cả ý thức lẫn vật chất thì làm sao nó có thể được kinh nghiệm?
M: Nó có thể được biết qua những tác động của nó lên cả hai; hãy tìm nó trong cái đẹp và trong hạnh phúc chơn thật. Nhưng ông chỉ có thể hiểu được thân xác và ý thức là gì khi nào ông vượt ra ngoài cả hai.
H: Vui lòng cho chúng tôi biết một cách huỵch toẹt: Ông có ý thức hay vô thức?
M: Người giác ngộ không ý thức mà cũng chẳng vô thức. Nhưng tất cả đều được dung chứa trong sự giác ngộ của người đó. Tánh biết dung chứa mọi kinh nghiệm. Nhưng người biết ở ngoài mọi kinh nghiệm. Người đó ở ngoài cả tánh biết.
H: Có một nền tảng của kinh nghiệm, gọi đó là vật. Có người kinh nghiệm, gọi đó là tâm. Cái gì là cầu nối giữa vật và tâm?
M: Chính khoảng trống giữa hai cái là cầu nối. Cái - một đầu trông như vật, và một đầu giống như tâm - là cây cầu trong chính nó. Đừng phân chia thực tại thành tâm và thân thì chẳng cần đến cầu.
Ý thức sinh khởi thì thế giới sinh khởi. Khi chiêm ngưỡng trí tuệ và cái đẹp của thế giới, ông gọi đó là Thượng đế. Khi biết nguồn gốc của tất cả - ở ngay trong chính ông - ông sẽ nhận ra mọi câu hỏi của ông đều đã được giải đáp.
H: Người thấy và cái bị thấy là hai hay một?
M: Chỉ có sự thấy; cả người thấy và cái bị thấy đều ở trong nó. Đừng tạo ra khác biệt thì không có khác biệt.
H: Tôi bắt đầu với câu hỏi về một người khi chết. Ông bảo rằng kinh nghiệm của người đó sẽ hình thành chính nó tùy theo sự mong đợi hay tin tưởng của người đó.
M: Trước khi được sinh ra, ông mong đợi sẽ sống theo một phương án nào đó mà ông đã lập ra. Ý chí của ông chính là xương sống định mệnh của ông.
H: Nhưng chắc chắn nghiệp xen vào.
M: Nghiệp tạo ra cảnh ngộ, còn thái độ là của chính ông. Xét cho cùng, cá tính của ông định hình cuộc đời ông, và chỉ ông mới có thể định hình cá tính của ông.
H: Một người định hình cá tính của mình như thế nào?
M: Bằng cách thấy nó như nó là, và bằng sự thành khẩn hối lỗi. Sự thấy biết cảm thọ đồng nhất này có thể làm được những phép lạ. Cũng như đúc một ảnh tượng bằng đồng; chỉ riêng kim loại hay lửa thì vẫn chưa đủ, mà ngay cả khuôn đúc cũng vô dụng. Ông phải nấu chảy kim loại trong sức nóng của lửa rồi đổ vô khuôn.
CHƯƠNG 56. BÊN NGOÀI TÂM KHÔNG HỀ CÓ ĐAU KHỔ
Hỏi: Thấy ông ngồi trong nhà con trai chờ bữa ăn trưa, tôi thắc mắc không biết nội dung ý thức của ông có giống với của tôi, hay một phần nào đó khác biệt, hay hoàn toàn khác biệt. Không biết ông có cảm thấy đói và khát như tôi, mong cho bữa ăn sớm được dọn ra, hay tâm ông ở trong một trạng thái hoàn toàn khác biệt?
Maharaj: Chẳng có gì khác biệt lắm trên bề mặt, nhưng ở dưới sâu thì rất nhiều. Ông chỉ biết ông qua các cảm thọ và tâm, ông cho ông là những gì chúng đề khởi. Vì không có được sự hiểu biết trực tiếp về chính mình, ông chỉ có những ý tưởng về ông mà tất cả đều tầm phào, gián tiếp, và nghe nói. Ông cho bất cứ gì ông nghĩ ông là - là sự thật. Cái thói quen tưởng tượng rằng ông là một cái gì đó có thể nhận thức được và mô tả được - rất mãnh liệt trong ông.
Ta thấy như ông thấy, nghe như ông nghe, nếm như ông nếm, ăn như ông ăn. Ta cũng cảm thấy đói, khát và mong đợi thức ăn được dọn đúng giờ. Khi nhịn đói hay đau ốm thân và tâm Ta suy yếu. Tất cả những trạng thái như thế Ta nhận thức rất rõ, nhưng một cách nào đó Ta không ở trong chúng. Ta cảm thấy như thể Ta nổi trên chúng, xa lìa và bất tùy thuộc. Có sự xa lìa và bất tùy thuộc, cũng có cảm giác đói và khát, cũng có cả sự biết về tất cả những thứ đó, và một ý thức về một khoảng cách mênh mông, như thể là thân, tâm và tất cả những gì xảy ra cho thân, tâm ở một nơi nào đó xa xăm tận chân trời. Ta giống như một màn ảnh xinê - trong sáng và trống không - phim ảnh đi ngang qua đó và biến mất, để lại màn ảnh trong sáng và trống không như trước kia. Màn ảnh không hề bị tác động bởi phim chiếu, và phim chiếu cũng không hề bị tác động bởi màn ảnh. Màn ảnh ngăn ánh sáng lại và phản chiếu các hình ảnh, nó không tạo ra các hình ảnh. Màn ảnh chẳng có liên quan nào với cuốn phim. Cuốn phim là cuốn phim - một mớ định mệnh - không phải định mệnh của Ta mà là định mệnh của những người trên màn ảnh.
H: Ông không có ý nói rằng những người trong phim ảnh có định mệnh! Họ thuộc về một chuyện phim, mà chuyện phim thì không phải của họ.
M: Thế còn ông? Ông định hình cuộc đời hay cuộc đời định hình ông?
H: Vâng, ông nói đúng. Một câu chuyện đời tự trải ra và tôi là một trong các diễn viên trong đó. Tôi không có hiện hữu nào ngoài nó, cũng như nó không thể hiện hữu mà không có tôi. Tôi chỉ là một nhân vật, chứ không phải một con người.
M: Khi bắt đầu định hình cuộc đời của chính mình - thay vì
chấp nhận cuộc đời như nó đến - thì nhân vật trở thành con người, rồi đồng hóa chính mình với cuộc đời.
H: Khi tôi hỏi và ông trả lời, một cách chính xác chuyện gì xảy ra?
M: Câu hỏi và câu trả lời - cả hai đều xuất hiện trên màn ảnh. Môi cử động, thân xác nói, rồi màn ảnh lại trở về với sự trong sáng và trống không.
H: Khi nói trong sáng và trống không, ông muốn nói gì?
M: Ta muốn nói là hoàn toàn không có nội dung. Ta không thể nhận thức được hay hiểu được đối với chính Ta; không có gì để Ta có thể chỉ vào đó và bảo: “Đây là Ta.” Ông đồng hóa chính ông với bất cứ gì một cách dễ dàng, Ta thì không thể như thế. Nhận thức: “Ta không phải là cái này hay cái kia, hay không có gì là của Ta” mãnh liệt trong Ta đến nỗi ngay khi có một cái gì, hay một ý nghĩ xảy ra thì lập tức ý thức “Cái này không phải Ta” xuất hiện.
H: Ông muốn nói rằng suốt đời ông, ông chỉ lập đi lập lại “Cái này không phải Ta, cái kia không phải Ta?”
M: Dĩ nhiên là không. Ta nói ra để cho ông hiểu. Nhờ ân đức của Tôn sư, Ta đã nhận ra một lần và vĩnh viễn rằng Ta không phải là đối tượng hay chủ thể, Ta không cần lúc nào cũng nhắc nhớ chính mình.
H: Tôi không nắm bắt một cách chính xác ý ông khi ông bảo rằng ông không phải là đối tượng hay chủ thể. Ngay lúc này, khi ông và tôi đang nói chuyện, không phải tôi là đối tượng mà ông kinh nghiệm, còn ông là chủ thể?
M: Ông xem đây, ngón tay cái của Ta chạm vào ngón tay trỏ. Cả hai cùng chạm và bị chạm. Khi sự chú ý của Ta đặt vào ngón cái thì ngón cái là người cảm nhận, và ngón trỏ là - cái Ta. Thay đổi tiêu điểm của sự chú ý thì tương quan đảo ngược. Ta nhận thấy rằng một cách nào đó, bằng cách thay đổi tiêu điểm của sự chú ý, Ta trở thành chính cái mà Ta quan sát và kinh nghiệm ý thức của nó; Ta trở thành nhân chứng nội tại của cái đó. Ta gọi cái khả năng thể nhập những tiêu điểm khác của ý thức là tình yêu. Ông có thể đặt cho nó bất cứ cái tên nào ông thích. Tình yêu bảo: “Ta là tất cả.” Trí tuệ bảo: “Ta không là gì cả.” Ở giữa hai cái là cuộc sống của Ta trôi chảy. Vì vào bất cứ điểm nào trong thời gian và không gian Ta đều có thể trở thành cả chủ thể lẫn đối tượng của kinh nghiệm, nên Ta bảo: Ta là cả hai, mà chẳng phải cả hai, và ở ngoài cả hai.
H: Ông phát biểu những điều rất lạ lùng về chính ông. Điều gì khiến ông nói như thế? Ông nói ông ở ngoài không gian và thời gian nghĩa là thế nào?
M: Ông hỏi và câu trả lời bật ra. Ta quan sát chính Ta - Ta quan sát câu trả lời và thấy không có gì mâu thuẫn. Ta biết rõ rằng Ta đang nói với ông sự thật. Tất cả chỉ đơn giản như thế. Miễn là ông tin Ta nói điều Ta muốn nói, và Ta rất nghiêm túc. Ta đã nói với ông rồi, Tôn sư chỉ cho Ta bản tánh chơn thật của Ta - và bản tánh chơn thật của thế giới. Khi nhận ra Ta là một với thế giới nhưng vẫn ở ngoài thế giới thì Ta trở nên tự do đối với tham ái và lo sợ. Ta đã không biện luận rằng Ta phải tự do - Ta nhận ra chính Ta tự do - một cách bất ngờ, mà không hề cố gắng. Từ đó đến nay sự tự do đối với tham ái và lo sợ này vẫn còn trong Ta. Ta còn nhận ra một điều nữa là Ta không cần phải dụng công - hành động đi liền theo ý nghĩ, không chậm trễ hay va chạm. Ta cũng nhận thấy ý nghĩ trở nên tự viên mãn, và mọi thứ rơi vào đúng chỗ của nó một cách êm thấm. Sự thay đổi quan trọng xảy ra trong tâm; tâm trở nên tịnh và lặng, tâm phản ứng bén nhạy nhưng không làm cho phản ứng trở nên thường xuyên. An nhiên tự tại trở thành một lối sống, cái thật trở nên tự nhiên và cái tự nhiên trở nên thật. Và quan trọng hơn tất cả, tình cảm bao la, tình yêu, sự kín đáo và tĩnh lặng, chiếu sáng khắp mọi phương, bao trùm tất cả, làm cho tất cả trở nên thù thắng và đẹp đẽ, uy nghi và tốt lành.
H: Chúng tôi nghe nói các năng lực Yoga phát sinh tùy nghi trong một người đã nhận ra sự hiện hữu chơn thật của chính mình.
Ông có kinh nghiệm nào về những năng lực như thế?
M: Năm thân của con người (vật lý, vân vân) có những năng lực tiềm tàng ngoài những mơ tưởng phóng túng nhất của chúng ta. Không những toàn thể vũ trụ được phản ảnh trong con người, mà cả cái năng lực điều hành vũ trụ lúc nào cũng sẵn sàng để con người sử dụng. Người có trí tuệ không nao nức sử dụng những năng lực như thế, trừ khi tình huống yêu cầu. Người đó nhận thấy các khả năng và sự khéo léo của tính cách con người đủ dùng trong những vấn đề của cuộc sống thường ngày. Bằng sự luyện tập chuyên biệt, người ta có thể phát huy một năng lực nào đó, nhưng ai còn phô trương những năng lực như thế thì còn trong vòng ràng buộc. Người có trí tuệ không cho bất cứ gì là của riêng mình. Nếu có một phép lạ ở một nơi nào đó, vào một thời điểm nào đó, được gán cho một ai đó, thì người trí tuệ không đặt ra một quan hệ nhân quả nào giữa các sự kiện và con người, và cũng không cho phép đưa ra một kết luận. Tất cả đã xảy ra như nó đã xảy ra vì nó đã phải xảy ra; mọi thứ xảy ra như mọi thứ xảy ra, bởi vì vũ trụ hiện hữu như nó hiện hữu.
H: Hình như vũ trụ không phải là một nơi hạnh phúc để sống. Vì sao lại có quá nhiều đau khổ đến thế?
M: Đau đớn là vật lý, đau khổ là tâm lý. Bên ngoài tâm không hề có đau khổ. Đau đớn chỉ là một dấu hiệu cho thấy thân xác gặp nguy hiểm và đòi hỏi phải được chăm sóc. Tương tự như thế, đau khổ báo cho chúng ta biết rằng cái cơ cấu của ký ức và thói quen mà chúng ta gọi là con người - Vyakti - bị đe dọa bởi sự mất mát hay thay đổi. Đau đớn là cần thiết cho sự sinh tồn của thân xác, nhưng không có gì buộc ông phải đau khổ. Đau khổ hoàn toàn do thái độ bám giữ hay cưỡng lại gây ra; nó biểu hiện thái độ miễn cưỡng của chúng ta trong sự tiến tới và tùy thuận với cuộc sống.
Một cuộc sống lành mạnh thì không còn đau đớn, một cuộc sống thánh thiện thì không còn đau khổ.
H: Chẳng có ai đau khổ hơn thánh nhân.
M: Họ nói với ông, hay chính ông nói thế? Điều quan yếu của sự thánh thiện là là hoàn toàn chấp nhận khoảnh khắc hiện tại, hòa hợp với tất cả như chúng đang xảy ra. Bậc thánh nhân không hề muốn sự vật khác với những gì chúng là, vì biết rằng - xét đến tất cả các yếu tố - chúng là bất khả tránh. Bậc thánh nhân thân thiện với cái bất khả tránh, và, do đó không đau khổ. Bậc thánh nhân có thể biết sự đau đớn nhưng sự đau đớn không thể khuất phục bậc thánh nhân. Bậc thánh nhân có thể làm những gì cần thiết để lập lại sự quân bình đã mất - hoặc cũng có thể bậc thánh nhân cứ để mọi chuyện xảy ra theo giòng luân lưu của chúng.
H: Bậc thánh nhân có thể chết.
M: Thế thì đã sao? Sống mãi người đó được gì, và chết đi người đó mất gì? Cái được sinh ra thì phải chết. Cái chưa bao giờ được sinh ra thì không thể chết. Cho mình là cái nào thì hoàn toàn tùy thuộc người đó.
H: Giả sử ông đau ốm thập tử nhất sinh. Ông có hối tiếc hay ân hận gì không?
M: Nhưng Ta đã chết, hay đúng ra là Ta không sống mà cũng chẳng chết. Ông thấy thân xác Ta hành hoạt theo thói quen của nó và đưa ra những kết luận. Ông không chịu nhìn nhận rằng mọi kết luận của ông không thể ràng buộc được ai ngoài chính ông. Hãy thấy được rằng hình ảnh mà ông có về Ta là hoàn toàn sai lầm; ngay cả hình ảnh mà ông có về chính ông cũng lầm nốt, nhưng đó là vấn đề của ông. Ông không cần thiết phải tạo ra vấn đề cho Ta, rồi yêu cầu Ta giải quyết. Ta không tạo ra vấn đề và cũng chẳng giải quyết vấn đề.
CHƯƠNG 57. SỰ TOÀN HẢO - VẬN MỆNH CHUNG
Hỏi: Khi được hỏi về phương tiện để giác ngộ chính mình, ông luôn luôn nhấn mạnh sự quan trọng của việc đặt tâm vào ý thức “Ta hiện hữu.” Đâu là yếu tố nhân quả? Tại sao ý nghĩ đặc thù này đưa đến sự giác ngộ chính mình? Suy tư về “Ta hiện hữu” tác động đến tôi như thế nào?
Maharaj: Chính thực tế sự quan sát thay đổi người quan sát và cái được quan sát. Xét cho cùng, cái ngăn che sự thấy biết rõ ràng bản tính chơn thật của mỗi người là sự nhu nhược và trì trệ của tâm, và khuynh hướng của tâm là bỏ qua cái tế mà chỉ chú ý đến cái thô. Khi hành theo sự chỉ dẫn của Ta và tìm cách chỉ đặt tâm vào ý niệm “Ta hiện hữu” thì ông sẽ hoàn toàn biết rõ tâm và những giao động thất thường của nó. Tánh biết - là sự hài hòa trong sáng trong hành động - làm tan biến sự u tối và bất an của tâm, và sẽ từ từ nhưng chắc chắn thay đổi bản chất của tâm. Sự thay đổi này không nhất thiết gây chú ý và có thể rất khó nhận ra, nhưng là một sự chuyển hóa sâu sắc và căn bản từ tối sang sáng, từ không biết sang biết.
H: Bắt buộc phải là công thức “Ta hiện hữu”? Bất cứ câu nào khác không được hay sao? Nếu tôi tập trung vào câu “có một cái bàn” - There is a table - thì không phải cũng có cùng một mục đích?
M: Nếu để thực hành sự tập trung - thì đúng. Nhưng sự thực hành đó không đưa ông ra khỏi ý nghĩ về cái bàn. Ông không cần biết về cái bàn, mà ông muốn biết chính ông. Muốn vậy, phải luôn luôn giữ trong tiêu điểm của ý thức sự gợi ý duy nhất mà ông có: Tính chắc chắn về sự hiện hữu của ông. Hãy ở với nó, vui đùa với nó, tư duy về nó, tìm hiểu nó thật sâu xa, cho đến khi lớp vỏ vô minh bật mở, và ông thể nhập cảnh giới của thực tại.
H: Có quan hệ nhân quả nào giữa sự chú ý của tôi vào cái “Ta hiện hữu” và sự khai mở cái vỏ vô minh?
M: Sự thôi thúc tìm ra chính mình là một dấu hiệu cho biết ông sẵn sàng. Động lực luôn luôn khởi động từ bên trong. Nếu chưa đến lúc thì ông không thể có được ước muốn và sức mạnh để hết lòng dấn thân cho sự tìm hiểu chính mình.
H: Thế không phải phong thái của Đạo sư đã khiến cho chúng tôi ước muốn và mong được thỏa mãn ước muốn đó? Không phải vẻ mặt sáng ngời của Đạo sư đã thu hút chúng tôi và lôi chúng tôi ra khỏi vũng lầy đau khổ?
M: Chính vị Đạo sư bên trong đưa ông đến với Đạo sư bên ngoài, như một bà mẹ dẫn con đến gặp ông thầy. Hãy tin tưởng và quy thuận Đạo sư, vì Đạo sư là sứ giả của cái Ta chơn thật của ông. H: Làm sao tôi có thể tìm được một Đạo sư khả tín?
M: Chính trái tim của ông sẽ cho ông biết. Tìm một Đạo sư không khó vì vị ấy lúc nào cũng sẵn sàng, còn ông thì không. Ông phải sẵn sàng tiếp thu, nếu không thì khi gặp Đạo sư ông có thể bỏ lỡ cơ hội vì sự lơ đễnh và cố chấp. Như trường hợp Ta, trong Ta chẳng có gì hứa hẹn lắm, nhưng khi gặp Đạo sư, Ta lắng nghe, tin tưởng và quy thuận.
H: Thế không phải tôi cần cẩn thận tìm hiểu một Đạo sư trước khi hoàn toàn giao trọn tôi cho vị ấy?
M: Bằng mọi cách hãy tìm hiểu! Nhưng liệu ông có thể tìm ra được gì? Ông chỉ có thể tìm ra những gì mà Đạo sư xuất hiện đối với ông trên bình diện của ông.
H: Tôi sẽ quan sát xem vị ấy có nhất quán, cuộc sống và giáo pháp của vị ấy có tương ứng với nhau không?
M: Nếu ông tìm ra rất nhiều sự bất tương ứng thì sao? Nó chẳng chứng minh được điều gì. Chỉ dụng tâm mới quan trọng. Làm sao ông biết được sự dụng tâm của vị ấy?
H: Ít ra, tôi mong đợi vị ấy là một người biết tự chế, có một cuộc sống ngay thawngr.
M: Những người như thế thì rất nhiều, nhưng chẳng ích lợi gì cho ông. Đạo sư là người có thể chỉ cho ông con đường về nhà, con đường trở về với cái Ta chơn thật của chính ông. Sự chỉ dẫn này có liên quan gì đến cá tính, tính tình của con người mà vị Đạo sư có vẻ như thế? Thế không phải Đạo sư đã nói thẳng với ông là vị ấy không phải là một con người? Cách duy nhất mà ông có thể nhận xét là sự thay đổi trong chính ông khi ông thân cận với vị ấy. Nếu ông cảm thấy an lạc hơn, nếu ông hiểu chính ông rõ ràng và sâu sắc hơn bình thường, thì có nghĩa là ông đã gặp đúng Đạo sư. Ông không cần phải vội vàng, nhưng một khi đã quyết định tin tưởng vị ấy thì hãy tin tưởng tuyệt đối, và hoàn toàn tuân theo mọi chỉ dẫn với tất cả tín tâm. Nếu ông không nhận vị ấy làm Đạo sư, mà chỉ thỏa mãn với sự kề cận với vị ấy, thì điều đó cũng chẳng quan trọng. Chỉ riêng Satsang cũng có thể đưa ông đến đích, miễn là nó không bị cấu nhiễm và nhiễu loạn. Nhưng một khi đã chấp nhận một người làm Đạo sư thì hãy lắng nghe, ghi nhớ, và quy thuận. Lừng chừng là một chướng ngại nghiêm trọng, và là nguyên nhân của mọi đau khổ do chính mình gây ra. Đạo sư thì không bao giờ sai lầm, sai lầm luôn luôn do sự u mê và ngoan cố của người môn đồ gây ra.
H: Khi đó Đạo sư có xua đuổi, hay khai trừ người môn đồ?
M: Người làm như thế thì không phải là một Đạo sư! Vị Đạo sư vẫn kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi người môn đồ trở nên kiềm chế, trấn tĩnh, và trở lại với một trạng thái sẵn sàng tiếp thu.
H: Động cơ là vật lý? Vì sao Đạo sư lại chuốc lấy phiền nhiễu như thế?
M: Đau khổ và chấm dứt đau khổ. Đạo sư thấy con người đau khổ trong chiêm bao, và muốn họ thức tỉnh. Tình yêu không dung thứ đau đớn và đau khổ. Lòng kiên nhẫn của Đạo sư thì vô hạn, và, do đó lòng kiên nhẫn đó không thể bị thất bại. Đạo sư không bao giờ thất bại.
H: Liệu Đạo sư đầu tiên cũng là Đạo sư cuối cùng, hay tôi phải theo đuổi hết Đạo sư này đến Đạo sư khác?
M: Toàn thể vũ trụ là Đạo sư của ông. Nếu tỉnh thức và thông minh, ông có thể học từ bất cứ gì. Nếu tâm ông trong và lòng ông sạch, ông có thể học ở bất cứ ai đi qua. Chính vì ông lười biếng hoặc bất an nên cái Ta bên trong ông thị hiện thành vị Đạo sư bên ngoài, khiến ông tin tưởng và quy thuận.
H: Liệu cần thiết phải có một Đạo sư?
M: Câu ông hỏi cũng giống như “Liệu cần thiết phải có một
bà mẹ?” Để thăng tiến từ phương vị này đến phương vị khác trong ý thức, ông cần sự trợ giúp. Sự trợ giúp không luôn luôn phải mang hình tướng của một con người, mà có thể là một sự hiện diện vi tế, hay một thoáng trực giác - nhưng chắc chắn sự trợ giúp sẽ đến. Cái Ta bên trong theo dõi và chờ đợi đứa con trở về với cha của nó. Vào đúng lúc, cái Ta sẽ sắp đặt mọi chuyện một cách ân cần và hữu hiệu. Khi cần đến một sứ giả hay người hướng dẫn, cái Ta sẽ phái vị Đạo sư để giải quyết những điều cần thiết.
H: Có một điều tôi không nắm bắt được. Ông nói cái Ta bên trong khôn ngoan, tốt đẹp và toàn hảo về mọi mặt, và con người chỉ là một ảnh phản chiếu, mà tự thân không có thực thể. Ấy thế mà ông lại chuốc lấy đủ thứ phiền nhiễu để giúp con người nhận ra chính mình. Nếu con người quả thật tầm thường như thế thì cần gì phải bận tâm đến sự an sinh của nó? Cần gì phải đếm xỉa đến một cái bóng?
M: Ông vừa đưa nhị nguyên đối đãi vào chỗ không có. Có thân và có cái Ta. Giữa hai cái là tâm, trong tâm cái Ta được phản chiếu thành “Ta hiện hữu.” Chính vì những sai sót, tính thô thiển và bồn chồn, sự thiếu vắng nhận thức sâu sắc và trong sáng của tâm, nên tâm nhận lầm chính nó là thân xác, thay vì cái Ta. Tất cả những gì cần thiết là làm cho tâm trở nên trong sáng để tâm có thể nhận ra sự đồng nhất của nó với cái Ta. Khi tâm hội nhập với cái Ta, thân xác không gây ra một trở ngại nào. Thân xác vẫn như nó là: một công cụ nhận thức và hành động, một phương tiện và sự thể hiện của ngọn lửa sáng tạo bên trong. Giá trị tối hậu của thân xác là phục vụ cho sự khám phá thân vũ trụ, tức là vũ trụ trong tổng thể viên mãn của nó. Khi nhận ra chính ông trong sự thị hiện, ông sẽ tiếp tục khám phá rằng ông còn hơn cả những gì mà chính ông đã tưởng tượng.
H: Sự khám khá chính mình không bao giờ kết thúc?
M: Vì không có sự khởi đầu nên không có sự kết thúc. Nhờ ân đức của Tôn sư, Ta đã khám phá ra rằng: Tất cả những gì có thể chỉ vào được đều không phải là Ta; Ta không là “cái này” hay “cái kia.” Đây là một sự thật tuyệt đối.
H: Như vậy vượt ra khỏi chính mình để vào những giai tầng mới xảy ra khi nào trong sự khám phá không bao giờ kết thúc này?
M: Tất cả đều thuộc về phạm trù của sự thị hiện; nó ở ngay trong cơ cấu của vũ trụ - chỉ có thể đạt được cái cao hơn khi đã thoát ra khỏi cái thấp hơn.
H: Cái gì là cao hơn và cái gì là thấp hơn?
M: Hãy nhìn sự việc theo tánh biết. Ý thức sâu hơn và rộng hơn thì cao hơn. Tất cả mọi sự sống đều hành động cho sự bảo vệ, duy trì và mở rộng ý thức. Đây chính là ý nghĩa và mục đích duy nhất của thế giới. Đây chính là cốt tủy của Yoga - không ngừng nâng cao trình độ của ý thức, khám phá những giai tầng mới, cùng với những đặc tính, phẩm chất và năng lượng của những giai tầng đó. Trong ý nghĩa này, toàn thể vũ trụ trở thành - Yogakshetra - trường Yoga.
H: Liệu sự toàn hảo có phải là vệnh mệnh chung của toàn thể nhân loại?
M: Của tất cả chúng sinh - tối hậu là như thế. Khả năng sẽ trở thành tất định một khi ý niệm về giác ngộ xuất hiện trong tâm. Khi đã nghe và hiểu được rằng sự giải thoát ở ngay trong tầm với thì một người sẽ không thể quên được, vì đó là thông điệp đầu tiên từ bên trong. Nó sẽ bám rễ, mọc lên và vào đúng lúc sẽ mang lấy hình tướng của Đạo sư.
H: Như vậy, tất cả những gì mà chúng ta quan tâm là khôi phục lại tâm?
M: Còn gì khác? Tâm đi lạc, tâm trở về nhà. Ngay cả từ “lạc” cũng không chuẩn. Tâm phải biết chính nó trong từng trạng huống.
Chẳng có gì là sai lầm, miễn là không tái phạm.
CHƯƠNG 58. THAM ÁI VÀ LO SỢ LÀ CÁC TRẠNG THÁI HƯỚNG NGÃ
Hỏi: Tôi muốn trở lại với câu hỏi về sự thích thú và đau đớn,
tham ái và lo sợ. Tôi hiểu rằng lo sợ có nghĩa là ghi nhớ và tiên liệu về sự đau đớn thì cần thiết cho sự duy trì cơ thể và mô thức sống của nó. Mọi nhu cầu khi cần đến thì đầy đau đớn, và tiên liệu về những nhu cầu đó thì đầy lo sợ; con người có lý do chính đáng để lo sợ không đáp ứng được những nhu cầu căn bản. Người ta cảm thấy nhẹ nhõm khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn, hoặc lo âu giảm đi hoàn toàn là do sự đau đớn chấm dứt. Chúng ta có thể đặt cho trạng thái đó những cái tên mang tính tích cực như sự thích thú, hoặc vui sướng, hay hạnh phúc, nhưng thực chất là thoát khỏi đau đớn. Chính sự sợ đau này đã liên kết tất cả các định chế xã hội, kinh tế và chính trị của chúng ta.
Điều làm tôi bối rối là chúng ta tìm kiếm lạc thú trong sự vật và các trạng thái của tâm - là những thứ hoàn toàn không có liên quan gì với sự sinh tồn. Trái lại, những lạc thú của con người thường mang tính hủy diệt. Chúng gây thiệt hại hay hủy diệt đối tượng, công cụ và ngay cả chủ thể của sự thích thú. Nếu không phải như thế thì lạc thú và sự theo đuổi lạc thú chẳng tạo ra vấn đề. Cốt lõi câu hỏi của tôi là: Tại sao lạc thú lại có tính cách hủy diệt? Tại sao người ta vẫn cần đến lạc thú bất kể tính hủy diệt của nó?
Có thể nói thêm là tôi không có trong tâm cái mô thức “lạc thú đau đớn” mà thiên nhiên buộc chúng ta đi theo con đường của nó. Tôi nghĩ đến những lạc thú do con người tạo ra, từ thỏa mãn các giác quan đến vi tế, từ thô thiển nhất như ăn uống no say đến thanh tao. Thói đam mê lạc thú bằng mọi giá thì chung nhất cho mọi người, như thế phải có một cái gì có ý nghĩa tại nguồn gốc của nó.
Dĩ nhiên, không phải mọi sinh hoạt của con người đều vụ lợi, nhằm thỏa mãn một sự cần cầu. Chẳng hạn như vui chơi thì rất tự nhiên, và con người là sinh vật ham vui nhất trong sự tồn tại. Sự vui chơi thỏa mãn nhu cầu khám phá chính mình và phát triển chính mình. Nhưng ngay cả khi vui chơi, con người vẫn tìm cách hủy diệt thiên nhiên, hủy diệt người khác, và hủy diệt chính mình.
Maharaj: Nói tóm lại, ông không phản đối lạc thú, mà chỉ chống lại cái giá của nó là đau đớn và đau khổ.
H: Nếu tự thân thực tại là an lạc thì lạc thú, một cách nào đó, phải có liên quan với thực tại.
M: Không nên tiếp tục bằng lý lẽ của ngôn từ. An lạc của thực tại không loại trừ đau khổ. Ông chỉ biết lạc thú, chứ ông không biết được sự an lạc của sự hiện hữu thuần túy. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu lạc thú trên bình diện của nó.
Nếu quan sát chính mình vào những lúc kích thích hay đau đớn, chắc chắn ông sẽ nhận ra rằng tự thân sự kiện không gây thích thú hay đau đớn, mà là tình huống trong đó sự kiện chỉ là một phần. Sự thích thú ở trong quan hệ giữa người thụ hưởng và cái được thụ hưởng. Và điều chính yếu trong quan hệ đó là sự chấp nhận. Dù tình huống là thế nào đi nữa, nếu được chấp nhận thì nó đem lại thích thú. Nếu không được chấp nhận thì nó gây đau đớn. Điều gì làm cho tình huống được chấp nhận thì không quan trọng; nguyên nhân có thể là vật lý, hay tâm lý, hoặc không thể biết được, nhưng chấp nhận là yếu tố quyết định. Một cách tương ứng, đau khổ là do không chấp nhận.
H: Đau đớn thì không thể chấp nhận được.
M: Tại sao không? Ông có bao giờ thử chưa? Cứ thử đi và ông sẽ nhận thấy rằng trong đau đớn có một sự vui sướng mà sự thích thú không thể đem lại; lý do thật đơn giản: Chấp nhận đau đớn sẽ khiến ông cảm nhận sâu sắc hơn là sự thích thú. Cái Ta cá nhân, do bản chất của nó, không ngừng theo đuổi lạc thú và né tránh đau đớn. Chấm dứt được mô thức này là đoạn trừ được cái Ta. Đoạn trừ được cái Ta với những tham ái và lo sợ của nó sẽ tạo cơ hội cho ông trở về với bản tính chơn thật của ông, cội nguồn của mọi an lạc. Nỗi khao khát lạc thú triền miên là phản ảnh của sự hài hòa nội tại phi thời. Sự thật hiển nhiên là một người chỉ biết về chính mình khi ở vào một tình huống xung đột giữa lạc thú và đau khổ, đòi hỏi phải có một sự chọn lựa hay quyết định. Chính sự va chạm giữa tham ái và lo sợ này gây nên sân hận, một công cụ hủy diệt mãnh liệt nhất đối với sự thanh thản của cuộc sống. Khi đau đớn được chấp nhận như nó là - một bài học và cũng là một cảnh báo - được tìm hiểu đến nơi đến chốn và được chú ý đến, thì sự phân biệt giữa đau đớn và thích thú không còn nữa, cả hai đều trở thành kinh nghiệm - đau đớn khi cưỡng lại, thích thú khi chấp nhận.
H: Ông không dạy trốn tránh lạc thú và theo đuổi đau đớn?
M: Không, chẳng theo đuổi lạc thú mà cũng không trốn tránh đau đớn. Chấp nhận cả hai khi chúng đến, vui thích với cả hai khi chúng có đó, và để chúng ra đi vì chúng phải ra đi.
H: Làm sao tôi có thể vui thích với đau đớn? Những đau đớn vật lý kêu gọi phải có hành động.
M: Tất nhiên, những đau khổ tâm lý cũng vậy. An lạc ở trong sự biết rõ đau khổ, chứ không ở trong sự co lại thủ thế, hay bằng mọi cách quay đi. Mọi hạnh phúc đều khởi sinh từ biết. Chúng ta càng biết nhiều thì niềm vui sướng càng sâu đậm. Chấp nhận đau đớn, không đề kháng, dũng cảm và chịu đựng là chìa khóa khai mở cội nguồn sâu thẳm và vĩnh cửu của hạnh phúc chơn thật, và an lạc đích thực.
H: Vì sao đau đớn được cảm nhận sâu sắc hơn thích thú?
M: Thích thú luôn luôn được chấp nhận, trong khi cái Ta dồn tất cả sức lực của nó để cưỡng lại đau đớn. Vậy chấp nhận đau đớn là phủ nhận cái Ta, mà cái Ta thì ngăn trở hạnh phúc chơn thật; do đó, thực tâm chấp nhận đau đớn là khai phóng những giòng suối của hạnh phúc.
H: Chấp nhận đau khổ cũng thế sao?
M: Thực tế của sự đau đớn có thể được đưa vào tiêu điểm của tánh biết một cách dễ dàng. Đau khổ thì không đơn giản như thế. Chú ý đến đau khổ vẫn chưa đủ, vì cuộc sống tâm lý - như chúng ta biết - là một giòng đau khổ liên tục. Để đạt đến những tầng lớp sâu hơn của đau khổ, ông phải tìm ra những gốc rễ của nó và phát hiện cái mạng lưới bao la ở bên dưới, nơi mà lo sợ và tham ái đan kết với nhau một cách chặt chẽ, và những giòng sinh lực đối kháng, ngăn trở và hủy diệt lẫn nhau.
H: Làm sao tôi có thể chấn chỉnh một tình trạng rối ren, hoàn toàn ở dưới bình diện của ý thức?
M: Bằng cách ở với chính ông - cái “Ta hiện hữu”; bằng cách quan sát chính ông trong cuộc sống hàng ngày với sự chú tâm tỉnh thức để hiểu, thay vì để phán xét, trong sự chấp nhận hoàn toàn bất cứ gì xuất hiện bởi vì nó có đó thì ông khuyến khích những gì tận sâu kín nổi lên trên mặt, và làm cho cuộc sống cũng như ý thức của ông trở nên phong phú với những nguồn năng lực mà trước kia đã từng bị giam hãm. Đây là một việc làm vĩ đại của tánh biết, nó tháo gỡ các chướng ngại và giải tỏa các nguồn năng lượng bằng sự hiểu rõ bản chất của cuộc sống và tâm. Trí tuệ là cánh cửa đi đến tự do, và sự chú ý tỉnh thức là mẹ của trí tuệ.
H: Còn một câu hỏi nữa. Tại sao lạc thú chấm dứt trong đau khổ?
M: Mọi cái đều có sự khởi đầu và sự chấm dứt, lạc thú cũng vậy. Đừng trông mong và cũng đừng nuối tiếc thì sẽ không có đau khổ. Chính ký ức và trí tưởng tượng tạo ra đau khổ.
Đau khổ đến sau lạc thú có thể là do sử dụng tâm hay thân một cách sai lầm. Thân biết rõ giới hạn của nó, nhưng tâm thì không. Những khao khát của tâm thì vô số và vô hạn. Hãy chuyên chú quan sát tâm ông, vì trong đó đầy những ràng buộc nhưng cũng có cả chìa khóa mở cánh cửa tự do.
H: Câu hỏi của tôi vẫn chưa được trả lời trọn vẹn: Tại sao lạc thú của con người mang tính hủy diệt? Tại sao con người cảm thấy vô cùng thích thú trong sự hủy diệt? Mối bận tâm của cuộc sống là bảo vệ chính nó, làm cho chính nó trở nên vĩnh cửu, và bành trướng chính nó. Trong điều kiện như thế cuộc sống bị sai sử bởi đau khổ và lạc thú. Tại điểm nào thì chúng trở nên hủy diệt?
M: Khi tâm thao túng, ghi nhớ và dự tính, nó phóng đại, xuyên tạc và lơ đễnh. Quá khứ được tâm phóng chiếu vào tương lai, và tương lai không xảy ra như mong đợi. Các công cụ của cảm giác và hành động bị kích thích quá khả năng và chắc chắn trở nên suy nhược. Các đối tượng của lạc thú không thể đem lại những gì mong đợi, sẽ trở nên hư hao, hay bị hủy hoại bởi sự sử dụng sai lầm. Kết quả là đau khổ chồng chất ở những nơi nào lạc thú được tìm kiếm.
H: Chúng ta không những hủy diệt chính mình, mà còn hủy diệt cả người khác!
M: Tự nhiên là như thế, lòng ích kỷ luôn luôn mang tính hủy diệt. Tham ái và lo sợ, cả hai đều là những trạng thái hướng ngã. Ở giữa tham ái và lo sợ, sân sinh khởi, cùng đến với sân là hận, cùng đến với hận là thói say mê hủy diệt. Chiến tranh là hận thù trong hành động, được tổ chức và trang bị với tất cả công cụ của cái chết. H: Có cách nào chấm dứt tất cả những mối kinh hoàng này?
M: Khi nào có thêm nhiều người biết rõ bản tánh chơn thật của chính mình, lúc đó ảnh hưởng của họ, dù vi tế đến đâu, sẽ chiếm ưu thế, và không khí xúc cảm của thế giới sẽ trở nên hòa dịu. Người ta luôn luôn tuân theo các lãnh tụ của họ; và nếu trong số các lãnh tụ đó xuất hiện những người có trái tim, tâm trí vĩ đại, và hoàn toàn vô tư lợi thì ảnh hưởng của họ sẽ đủ để hóa giải những thô bạo và tội ác của thời đại hiện nay. Một thời đại hoàng kim sẽ xuất hiện, tồn tại một thời gian, rồi suy tàn khi đạt đến sự toàn hảo của nó. Vì, thủy triều bắt đầu xuống ngay khi đạt đến đỉnh cao nhất.
H: Thế không có gì là sự toàn hảo vĩnh hằng?
M: Có chứ, nhưng nó bao gồm tất cả những cái không toàn hảo. Chính sự toàn hảo thuộc bản tính chơn thật của cái Ta làm cho mọi cái khả hữu, có thể nhận thức được và lý thú. Cái Ta không hề biết đến đau khổ, vì nó không ưa thích mà cũng chẳng chán ghét, không chấp nhận mà cũng chẳng xua đuổi. Sáng tạo và hủy diệt là hai cực, và ở giữa hai cực đó nó đan dệt cái mô thức vô thường.
Khi thoát ra khỏi mọi thiên kiến và sở thích, thì tâm cùng với gánh nặng phiền não của nó chấm dứt.
H: Nhưng tôi không phải là kẻ duy nhất đau khổ. Còn nhiều người khác nữa.
M: Khi đến với họ và đem theo những tham ái và lo sợ của ông thì ông chỉ góp thêm vào nỗi đau khổ của họ. Trước tiên chính ông hãy thoát ra khỏi đau khổ, rồi lúc đó mới hy vọng cứu giúp tha nhân. Mà thậm chí ông cũng chẳng cần hy vọng, vì cuộc sống của ông chính là sự cứu giúp vĩ đại nhất mà một người có thể cống hiến cho tha nhân.
CHƯƠNG 59. HÃY SỐNG VỚI NHỮNG SỰ KIỆN THỰC TẾ, ĐỪNG SỐNG VỚI NHỮNG ĐIỀU HOANG TƯỞNG
Hỏi: Ông bảo rằng bất cứ gì ông thấy đều là chính ông. Ông cũng công nhận rằng ông thấy thế giới như chúng tôi thấy. Đây là tờ báo ra ngày hôm nay với tất cả những tin kinh hoàng đang diễn ra. Vì thế giới là chính ông, ông giải thích thế nào về cách hành sử sai lầm này?
Maharaj: Thế giới nào mà ông đang có trong tâm?
H: Thế giới chung của chúng ta, trong đó ông và tôi đang sống.
M: Ông có chắc chắn là ông và Ta đang sống trong cùng một thế giới? Ta không muốn nói đến thiên nhiên, biển cả và đất liền, thực vật và động vật. Những thứ đó không phải là vấn đề - không gian vô biên, thời gian vô hạn, và năng lượng vô tận cũng thế. Đừng nhìn Ta một cách sai lầm qua việc Ta ăn uống, hút thuốc, đọc sách và trò chuyện. Tâm Ta không ở đây, cuộc sống của Ta không ở đây. Thế giới của ông - thế giới của sự tham ái và sự thỏa mãn tham ái, thế giới của lo sợ cùng với sự trốn tránh lo sợ - chắc chắn không phải là thế giới của Ta. Thậm chí Ta cũng không cảm nhận cái thế giới đó ngoại trừ những gì ông nói với Ta về nó. Đó là thế giới chiêm bao của riêng ông, và thái độ của Ta đối với thế giới đó là bảo ông chấm dứt chiêm bao.
H: Chắc chắn là những cuộc chiến tranh và các cuộc cách mạng không phải là chiêm bao. Các bà mẹ đau ốm và những đứa trẻ đói khát không phải là những giấc chiêm bao. Những sự làm giàu phi nghĩa và lợi dụng thì không phải là chiêm bao.
M: Còn gì khác?
H: Một giấc mơ thì không thể chia sẻ được.
M: Trạng thái thức cũng không chia sẻ được. Cả ba trạng thái - thức, chiêm bao, và ngủ - đều chủ quan, cá nhân và riêng tư. Chúng xảy ra và được dung chứa trong nội vi hạt bong bóng li ti trong ý thức, gọi là “Ta.” Thế giới thật ở ngoài cái Ta.
H: Ta hay không phải Ta, các sự kiện thực tế mới là thật.
M: Dĩ nhiên các sự kiện thực tế là thật! Ta sống cùng với cái thật. Ông sống với những điều hoang tưởng, chứ không phải với các sự kiện thực tế. Các sự kiện thực tế thì không va chạm, còn cuộc đời và thế giới của ông đầy những mâu thuẫn. Mâu thuẫn là nhãn hiệu của sự hư giả; cái thật không bao giờ mâu thuẫn với chính nó.
Để ví dụ, ông kêu ca rằng có những kẻ nghèo khó khốn khổ, nhưng không chịu chia sẻ sự giàu có của ông với họ. Ông bận tâm đến chiến tranh ở nước láng giềng, nhưng sẽ chẳng bao giờ để ý nếu nó xảy ra ở xứ sở xa xôi nào đó. Sự thay đổi về cơ nghiệp của cái Ta quyết định các giá trị của ông. “Ta nghĩ,” “Ta muốn,” “Ta phải” được biến thành cái tuyệt đối.
H: Tuy nhiên, sự xấu xa vẫn có thật.
M: Nó không thật hơn ông. Xấu xa là phương cách sai lầm để giải quyết những vấn đề, gây nên bởi sự hiểu biết sai lầm và sử dụng sai lầm. Đây là một cái vòng luẩn quẩn.
H: Có thể nào phá vỡ cái vòng đó?
M: Một cái vòng hư giả thì không cần phải được phá vỡ. Chỉ thấy nó như nó là - không tồn tại - là đủ.
H: Nhưng nó đủ thật để buộc chúng ta khuất phục và cam
chịu những điều sỉ nhục và bạo tàn.
M: Điên loạn thì nhiều, tỉnh thức thì ít. Nhưng vẫn còn hy vọng, vì ngay khi nhận ra mình điên loạn thì chúng ta đang trên đường đến với sự tỉnh thức. Nhiệm vụ của Đạo sư là làm cho chúng ta thấy được sự điên rồ trong cuộc sống hàng ngày. Cuộc sống làm cho ông có ý thức, còn Đạo sư làm cho ông thấy biết.
H: Dạ thưa, ông không phải người đầu tiên hay người cuối cùng. Từ ngàn xưa đã có nhiều người thâm nhập thực tại, nhưng cuộc sống của nhân loại chẳng có thay đổi bao nhiêu! Các Đấng Rama và Krishna, Đức Phật và Đấng Christ đã đến và đi, còn con người vẫn là con người như trước, đắm chìm trong mồ hôi và nước mắt. Các bậc vĩ nhân - mà cuộc đời của họ chúng ta chứng kiến - đã làm được những gì? Ông đã làm được gì, thưa ông, để nhẹ gánh trần lao của nhân thế?
M: Chỉ ông mới có thể tẩy rửa sự độc ác mà chính ông đã tạo ra. Lòng ích kỷ chai đá của chính ông là gốc rễ của sự độc ác. Hãy chỉnh đốn ngôi nhà của ông, rồi ông sẽ thấy việc làm của ông là hoàn tất.
H: Những con người của trí tuệ và tình yêu, xuất hiện trước chúng ta, tu sửa mình để trở thành đạo hạnh, thường với một cái giá rất đắt. Mà kết quả là gì? Một ánh sao băng, dù ngời sáng đến đâu, cũng không làm cho màn đêm bớt tăm tối.
M: Muốn phán xét họ và những gì họ làm thì ông phải trở thành một người trong số họ. Một con ếch trong giếng nước không thể biết đàn chim trên trời.
H: Ông muốn nói rằng giữa tốt và xấu không hề có một bức tường nào?
M: Chẳng có bức tường nào vì không có tốt mà cũng chẳng có xấu. Trong bất cứ tình huống cụ thể nào chỉ có sự cần thiết và không cần thiết. Cái cần đến thì đúng, cái không cần là sai.
H: Ai là kẻ quyết định?
M: Tình thế quyết định. Mỗi tình huống đều là một thách
thức, đòi hỏi một phản ứng đúng. Khi phản ứng là đúng, thách thức được đáp ứng và vấn đề được giải quyết. Nếu phản ứng sai, thách thức không được đáp ứng và vấn đề chưa được giải quyết. Chính những vấn đề chưa được giải quyết tạo ra nghiệp của ông. Giải quyết đúng các vấn đề thì ông giải thoát.
H: Ông luôn luôn lái tôi trở về với chính tôi. Liệu không có một giải pháp khách quan nào cho các vấn đề của thế giới?
M: Vấn đề của thế giới được gây ra bởi vô số con người như ông, mà mỗi con người đều chất chứa đầy những tham ái và lo sợ của chính mình. Ai có thể giải thoát ông khỏi quá khứ của ông - dù quá khứ đó có tính cách cá nhân hay xã hội - nếu không phải chính ông? Làm sao ông thực hiện được điều đó, trừ khi ông thấy được sự cần thiết cấp bách: trước tiên là sự hiện hữu của ông phải không còn những tham ái phát sinh từ ảo tưởng? Làm sao ông có thể thực sự giúp người khác, khi chính ông còn cần được giúp?
H: Các bậc cổ đức đã cứu giúp bằng cách nào? Ông giúp bằng cách nào? Không có gì nghi hoặc là một số ít người được hưởng lợi lạc; sự chỉ giáo và gương đạo hạnh của ông có ý nghĩa rất lớn đối với họ, nhưng bằng cách nào ông ảnh hưởng đến nhân loại, tổng thể của sự sống và ý thức? Ông bảo rằng ông là thế giới, thế giới là ông; vậy ông đã tác động được gì vào thế giới? M: Ông mong đợi tác động gì?
H: Con người thì ngu si, ích kỷ và tàn ác.
M: Con người cũng có trí tuệ, nhân ái và tử tế.
H: Thế tại sao cái tốt không thắng thế?
M: Có chứ - trong thế giới thật của Ta. Trong thế giới của Ta, ngay cả cái ông gọi là xấu chỉ phục vụ cho cái tốt, và do đó trở nên cần thiết. Cũng giống như mụn nhọt và những cơn sốt thanh lọc các chất bất tịnh trong cơ thể. Bệnh hoạn luôn luôn gây đau đớn, thậm chí còn nguy hiểm, nhưng khi được trị liệu đúng thì sẽ lành.
H: Hay đem lại cái chết?
M: Trong một số trường hợp, cái chết là cách trị liệu tốt nhất.
Có khi một cuộc sống còn tệ hơn cái chết, vì cái chết không gì khác hơn một kinh nghiệm khó chịu, dù hình thức có thế nào đi nữa. Vì thế, những người sống mới đáng thương, chứ không phải những người chết. Vấn đề tốt và xấu không tồn tại trong thế giới của Ta. Cái cần thì tốt, cái không cần thì xấu. Trong thế giới của ông, cái đem lại thích thú thì tốt, và cái gây ra đau đớn thì xấu.
H: Thế cái gì là cần thiết?
M: Trưởng thành là cần thiết. Trưởng thành nhanh chóng là cần thiết. Bỏ lại phía sau cái tốt để được cái tốt hơn là cần thiết.
H: Cho sự kết thúc nào?
M: Sự kết thúc ở ngay trong sự bắt đầu. Ông kết thúc ở nơi ông bắt đầu - trong cái Tuyệt đối.
H: Tại sao trở về chỗ tôi đã bắt đầu lại gây ra lắm phiền trược?
M: Phiền trược của ai? Phiền trược nào? Ông có xót thương cho một hạt giống, mà hạt giống đó sẽ mọc lên và phát triển thành một khu rừng hùng vĩ? Liệu ông có phải giết một đứa bé để cứu nó khỏi những hệ lụy của cuộc sống? Có gì sai lầm với cuộc sống, ngày càng nhiều cuộc sống? Hãy tháo gỡ các trở ngại đối với sự phát triển thì tất cả các vấn đề của ông - cá nhân và xã hội, kinh tế và chính trị - sẽ biến mất. Vũ trụ thì toàn hảo như là một tổng thể, và sự phấn đấu của thành phần để đạt đến sự toàn hảo là một phương cách của sự vui sướng. Sẵn sàng hy sinh cái không toàn hảo thì sẽ không còn gì để nói về tốt và xấu.
H: Nhưng chúng ta sợ cái tốt hơn và bám chặt lấy cái xấu hơn.
M: Đó là sự ngu ngốc, gần như điên rồ của chúng ta.
CHƯƠNG 60. TỰ THÂN Ý THỨC LÀ VẬT
Hỏi: Tôi có may mắn suốt đời được thân cận các bậc thánh nhân - Satsang, như vậy đã đủ cho sự giác ngộ chính mình hay chưa?
Maharaj: Điều đó còn tùy sự vận dụng của ông.
H: Tôi được biết công năng giải thoát của Satsang có tính cách tự động. Cũng như giòng sông chuyên chở một người ra cửa biển thì những ảnh hưởng vi tế và thầm lặng của các bậc thánh nhân sẽ đưa tôi đến với thực tại.
M: Những ảnh hưởng đó sẽ đưa ông đến giòng sông, nhưng hành động vượt sông phải là của chính ông. Không thể đạt được hay nắm bắt tự do mà không có ý muốn đạt đến tự do. Ông phải phấn đấu cho sự giải thoát; điều tối thiểu mà ông có thể làm là phát hiện và kiên trì tháo gỡ các chướng ngại. Nếu muốn an lạc ông phải phấn đấu cho sự an lạc. Ông không thể đạt được an lạc bằng cách giữ im lặng suông.
H: Một đứa trẻ chỉ lớn lên. Nó không cần phải lập ra kế hoạch để tăng trưởng, mà nó cũng không có một mô thức nào để theo. Nó cũng không thể tăng trưởng một cách rời rạc, một cái tay ở đây, một cái chân ở kia. Nó tăng trưởng một cách đồng nhất và vô thức.
M: Vì nó không còn tưởng tượng. Ông cũng có thể trưởng thành như thế, nhưng không được say mê với những dự tính và kế hoạch, được tạo ra bởi ký ức và mong cầu. Một trong những tính cách khác thường của một Gnani là người đó không còn bận tâm đến tương lai. Ông bận tâm đến tương lai là do lo sợ đau khổ, và mong cầu lạc thú; đối với Gnani, tất cả đều là phúc lạc - người ấy vui vẻ với bất cứ gì xảy đến.
H: Chắc chắn là có rất nhiều thứ có thể làm cho ngay cả một Gnani cũng cảm thấy khổ sở.
M: Một Gnani có thể gặp nhiều khó khăn nhưng khó khăn không làm cho người ấy đau khổ. Nuôi dưỡng một đứa trẻ từ khi lọt lòng cho đến lúc trưởng thành có vẻ như là một công trình khó nhọc, nhưng đối với bà mẹ thì ký ức về sự khó nhọc là một niềm vui. Chẳng có gì là không đúng với thế giới. Điều không đúng là trong cách ông nhìn nó. Chính sự tưởng tượng của chính ông đã lừa dối ông. Nếu không có tưởng tượng thì không có thế giới. Sự tin tưởng của ông - rằng ông ý thức về một thế giới - chính là thế giới.
Thế giới mà ông nhận thức được tạo ra bởi ý thức; cái mà ông gọi là vật chính là tự thân ý thức. Ông là không gian trong đó ý thức di chuyển, là thời gian trong đó ý thức tồn tại, là tình yêu ban phát sự sống cho ý thức. Cắt đứt tưởng tượng và ràng buộc, cái gì còn lại?
H: Thế giới còn lại, tôi còn lại.
M: Đúng, nhưng thế giới sẽ khác đi rất nhiều khi ông thấy nó như nó là, mà không qua tấm màn tham ái và lo sợ.
H: Tất cả những phân biệt - như thực tại và ảo tưởng, trí tuệ và vô minh, thánh nhân và tội nhân - để làm gì? Mọi người đều tìm cầu hạnh phúc, mọi người đều phấn đấu tận tình; mọi người đều là một Yogi, và cuộc đời của người đó là một trường trí tuệ. Mỗi người học những bài học mình cần theo cách riêng của mình. Xã hội chấp nhận một số phương cách này, không chấp nhận những phương cách khác. Không có luật lệ nào áp dụng chung cho mọi nơi và mọi thời.
M: Trong thế giới của Ta, tình yêu là luật duy nhất. Ta không mong cầu tình yêu, Ta ban phát tình yêu. Bản tánh của Ta là thế.
H: Tôi thấy ông sống theo một khuôn mẫu. Buổi sáng ông hướng dẫn một lớp thiền, thuyết giảng và pháp thoại đều đặn; ngày hai lần lễ bái - Puja - và hát đạo ca - Bhajan - vào buổi tối. Ông có vẻ như sinh hoạt theo thời khóa một cách rất tỉ mỉ.
M: Việc lễ bái và hát đạo ca do Ta đặt ra và thấy không có gì trở ngại. Sinh hoạt thường nhật này là do ý muốn của những người tình cờ chung sống với Ta, hoặc đến nghe Ta thuyết giảng. Họ là dân lao động và bị ràng buộc bởi nhiều nghĩa vụ khác nhau, vì thế thời gian được sắp xếp thuận tiện cho họ. Một số các sinh hoạt lập đi lập lại là điều bất khả tránh. Ngay cả thú vật và cây cỏ cũng có thời khóa của chúng.
H: Vâng, chúng ta có thể thấy một sự phối hợp có quy củ trong mọi cuộc sống. Thế ai là người duy trì trật tự? Liệu có một người cai quản ở bên trong, đặt ra các luật lệ và cưỡng chế sự thi hành trật tự?
M: Mọi thứ vận hành theo bản chất của nó. Việc gì phải cần đến một nhân viên cảnh sát? Mỗi một hành động đều tạo ra một phản động, cân bằng và hóa giải hành động. Mọi chuyện xảy ra, nhưng có một sự vô hiệu hóa liên tục, và rốt cục thì như thể là chẳng có gì đã xảy ra.
H: Xin đừng an ủi tôi bằng sự hòa hợp chung cuộc. Các tài khoản bù trừ lẫn nhau, nhưng phần thiệt thòi vẫn thuộc về tôi.
M: Cứ chờ xem. Biết đâu cuối cùng ông lại thu được một lợi nhuận khấm khá đủ để biện minh cho các chi phí đã bỏ ra.
H: Đằng sau tôi là một quãng đường dài, và tôi vẫn thường thắc mắc không biết những sự kiện xảy ra trong đó là tình cờ, hay đã có sẵn một kế hoạch nào đó. Liệu đã có một phương án sắp đặt sẵn trước khi tôi sinh ra để theo đó tôi sống cuộc đời của tôi? Nếu có, ai đã là người thiết kế và ai đã thực hiện phương án đó? Liệu có thể nào có những sai lệch hay lầm lẫn trong khi thực hiện phương án? Nhiều người cho rằng không thể cải sửa được định mệnh, và từng giây phút của cuộc sống là tiền định; nhưng cũng có nhiều người bảo rằng quy luật ngẫu nhiên quyết định tất cả.
M: Ông muốn nghĩ thế nào cũng được. Ông có thể nhận ra một phương án trong cuộc đời ông, hoặc ông chỉ thấy một loạt những ngẫu nhiên. Mọi diễn giải chỉ nhằm thỏa mãn tâm, không nhất thiết phải đúng thật. Thực tại thì không thể định nghĩa được, không thể mô tả được.
H: Này ông, ông lẩn tránh câu hỏi của tôi! Tôi muốn biết ông nhìn vấn đề như thế nào. Nhìn bất cứ đâu chúng ta cũng thấy cơ cấu kỳ diệu của trí tuệ và cái đẹp. Làm sao tôi có thể tin được vũ trụ là vô hình tướng và hỗn loạn? Thế giới của ông, thế giới mà ông sống trong đó, có thể là không có hình tướng, nhưng không nhất thiết phải hỗn loạn.
M: Vũ trụ khách quan có cơ cấu, ổn định và đẹp đẽ. Không ai có thể phủ nhận điều đó. Nhưng cơ cấu và mô thức hàm ý câu thúc và ép buộc. Thế giới của Ta hoàn toàn tự do, mọi thứ trong đó đều tự quyết định, vì thế Ta vẫn thường nói rằng tất cả mọi thứ đều tự xảy ra. Thế giới của Ta cũng ổn định, nhưng sự ổn định đó không được áp đặt từ bên ngoài. Nó đến tự nhiên và lập tức vì tính cách phi thời của nó. Sự toàn hảo không có trong tương lai. Nó có ngay bây giờ.
H: Thế giới của ông có tác động đến thế giới của tôi?
M: Có, chỉ tại một điểm mà thôi - bây giờ. Nó cho thế giới của ông sự hiện hữu nhất thời của nó, một ý thức thoáng qua về thực tại. Giao tiếp được thực hiện trong sự tỉnh thức hoàn toàn. Nó cần một sự chú ý hữu thức nhưng vô ngã, và không có sự cố gắng.
H: Thế không phải chú ý là một thuộc tính của tâm?
M: Đúng, khi tâm tha thiết với thực tại thì nó gây ra sự chú ý. Chẳng có gì sai lầm với thế giới của ông - cho rằng ông tách biệt với thế giới - mới tạo ra bất ổn. Vị kỷ là nguồn gốc của mọi xấu xa.
H: Tôi trở lại với câu hỏi lúc nãy. Trước khi tôi sinh ra, mọi chi tiết cuộc đời tôi được quyết định bởi cái Ta nội tại, hay hoàn toàn là do ngẫu nhiên và tùy thuộc tính di truyền và hoàn cảnh?
M: Kẻ nào tự nhận đã lựa chọn cha mẹ cho chính mình, và quyết định sẽ sống ra sao trong kiếp sau thì kẻ ấy tự biết. Ta biết chính Ta, Ta chưa bao giờ được sinh ra.
H: Tôi thấy ông ngồi trước mặt tôi và đang trả lời các câu hỏi của tôi.
M: Ông chỉ thấy một thân xác, thân xác ấy dĩ nhiên đã được sinh ra và sẽ chết đi.
H: Chính chuyện đời của thân-tâm này là điều tôi muốn biết. Cuộc đời ông được chính ông sắp đặt, hay do một ai khác, hoặc xảy ra một cách ngẫu nhiên?
M: Trong câu hỏi của ông có một cái bẫy. Ta không phân biệt giữa thân xác và vũ trụ. Cái này là nguyên nhân của cái kia, cái này tức cái kia, thật thế. Nhưng Ta hoàn toàn ở ngoài. Ta đã bảo ông là
Ta chưa bao giờ được sinh ra, vì sao ông vẫn cứ hỏi Ta đã chuẩn bị gì cho kiếp sau? Ngay khi ông để cho trí tưởng tượng thêu dệt thì ngay lập tức nó dệt ra cả một vũ trụ. Những gì ông tưởng tượng đều không phải, Ta không hề bị ràng buộc bởi những tưởng tượng của ông.
H: Cần phải có trí tuệ và năng lượng để tạo ra và duy trì một thân xác có sự sống. Trí tuệ và năng lượng đó ở đâu mà có?
M: Chỉ có tưởng tượng. Trí tuệ và năng lượng đó đều bị tiêu hao trong trí tưởng tượng của ông. Nó đã thu hút ông trọn vẹn đến nỗi ông không biết chính mình đã lang thang xa rời thực tại đến chừng nào. Rõ ràng là trí tưởng tượng sáng tạo rất phong phú. Vũ trụ này trong một vũ trụ khác được xây dựng trên chính nó. Nhưng tất cả đều ở trong không gian và thời gian, quá khứ và tương lai, tức là những gì không tồn tại.
H: Gần đây tôi có đọc một tường trình về một đứa bé gái đã bị đối xử tàn tệ lúc còn thơ ấu. Nó đã bị hành hạ đến tàn tật và biến dạng. Nó lớn lên trong một viện mồ côi, hoàn toàn cách biệt với môi trường xung quanh. Đứa bé gái này rất thầm lặng, dễ sai bảo, nhưng hoàn toàn lãnh đạm. Một trong những bà xơ trông nom trẻ trong cô nhi viện biết chắc là nó không hề bị chứng chậm phát triển tinh thần, mà chỉ thụ động, vô phản ứng. Một bác sĩ phân tâm học được yêu cầu nghiên cứu trường hợp này. Tuần nào cũng vậy, suốt hai năm trời, vị bác sĩ đến tìm hiểu đứa trẻ, và tìm cách phá vỡ bức tường cô lập. Đứa trẻ rất nhu mì và ngoan ngoãn, nhưng không chú ý đến vị bác sĩ. Ông ta mang đến cho nó một ngôi nhà đồ chơi với đủ các phòng, bàn ghế và đồ đạc; có cả một gia đình bằng búp bê gồm cha mẹ và con cái. Kết quả là có phản ứng - đứa trẻ bắt đầu để ý. Một hôm những vết thương tâm lý cũ hồi sinh và nổi lên bề mặt. Dần dần nó được chữa khỏi, được giải phẫu để có được khuôn mặt và thân thể bình thường. Sau đó đứa trẻ lớn lên thành một thiếu nữ có năng lực và duyên dáng. Vị bác sĩ đã trải qua năm năm nhưng đã gặt hái kết quả. Vị bác sĩ quả là một Đạo sư! Ông ta không đặt ra các điều kiện mà cũng chẳng nói về sự sẵn sàng hay sự hội đủ các tiêu chuẩn thích hợp. Không một niềm tin, không một hy vọng, mà chỉ có tình yêu, vị bác sĩ đó đã tìm hết cách này đến cách khác, và cuối cùng đã cứu được đứa trẻ.
M: Đúng, đó là một bản tính của một Đạo sư. Đạo sư không bao giờ bỏ cuộc. Nhưng để thành công thì ông ấy không thể gặp quá nhiều đề kháng. Hoài nghi và sự bất tuân phục chắc chắn sẽ gây trì hoãn. Có được sự tin tưởng và tuân phục, vị đạo sư có thể đem lại sự thay đổi tận gốc rễ trong người môn đồ một cách nhanh chóng. Sự hiểu biết sâu sắc của Đạo sư và lòng thành khẩn của môn đồ đều cần thiết. Dù trong tình huống nào đi nữa, cô gái trong câu chuyện của ông đau khổ là vì không có lòng thành khẩn với người khác. Khó nhất vẫn là những kẻ trí thức. Họ nói rất nhiều, nhưng không thực sự nghiêm túc.
Điều ông gọi là giác ngộ chỉ là một cái gì tự nhiên. Khi ông sẵn sàng, Đạo sư của ông sẽ chờ đợi. Sadhana chẳng cần đến dụng công. Khi quan hệ với Đạo sư của ông là đúng mức thì ông tăng tiến. Trên tất cả, hãy tin tưởng Đạo sư. Đạo sư không thể chỉ dẫn ông sai lầm.
H: Ngay cả khi Đạo sư bảo tôi làm một cái gì đó rõ ràng là sai?
M: Cứ làm. Một khất sĩ nọ được Đạo sư bảo phải lấy vợ. Người đó làm theo và cay đắng chịu đựng. Nhưng bốn người con của vị ấy đều là thánh nhân và bậc giác ngộ, những con người vĩ đại nhất ở Maharashtra. Hãy vui vẻ với bất cứ gì đến từ Đạo sư và ông sẽ thăng tiến đến sự toàn hảo mà không cần cố gắng.
H: Thưa ông, ông có cần cầu, mong muốn gì không? Tôi có thể làm bất cứ gì cho ông.
M: Liệu ông có thể cho Ta cái mà Ta không có? Của cải vật chất chỉ cần thiết cho sự thỏa mãn. Nhưng Ta thỏa mãn với chính Ta. Còn cái gì khác mà Ta cần?
H: Chắc chắn khi đói ông cần thức ăn và khi đau ốm ông cần thuốc.
M: Cái đói đem đến thức ăn và sự đau ốm mang đến thuốc uống. Tất cả đều là công việc của tự nhiên.
H: Nếu tôi đem đến một cái mà tôi tin ông cần, liệu ông có nhận không?
M: Tình yêu làm cho ông ngỏ ý, tình yêu đó sẽ khiến Ta chấp nhận.
H: Nếu một người ngỏ ý xây dựng cho ông một tịnh xá thật đẹp thì sao?
M: Bằng mọi cách, cứ để người ấy xây dựng. Cứ để người ấy tiêu pha cả một gia tài, thuê mướn hàng trăm người, và nuôi ăn hàng ngàn người.
H: Đó không phải là một ước muốn?
M: Hoàn toàn không? Ta chỉ yêu cầu người ấy thực hiện một cách đúng mức, không keo kiệt, nửa chừng. Người ấy hoàn thành ước muốn của chính người đó, chứ không phải của Ta. Cứ để người ấy làm cho thật đẹp, và trở nên nổi tiếng trong cõi nhân, thiên.
H: Nhưng ông có muốn tịnh xá đó không?
M: Ta không muốn.
H: Ông sẽ nhận nó chứ?
M: Nếu Ta bị bắt buộc.
H: Cái gì có thể bắt buộc được ông?
M: Tình yêu của những ai đi tìm ánh sáng.
H: Vâng, tôi hiểu được điều ông muốn nói. Bây giờ, làm sao tôi có thể nhập Samadhi - chánh định?
M: Nếu ông ở trong trạng thái đúng, bất cứ gì ông thấy đều đưa ông nhập Samadhi. Xét cho cùng, Samadhi chẳng có gì là khác thường. Khi tâm chuyên chú mãnh liệt, nó trở thành một với đối tượng của sự chuyên chú - người thấy và cái bị thấy trở thành một trong sự thấy, người nghe và cái bị nghe trở thành một trong sự nghe, người yêu và người hay vật được yêu trở thành một trong sự yêu. Mọi kinh nghiệm đều có thể là nền tảng cho Samadhi.
H: Ông có luôn luôn ở trong trạng thái Samadhi?
M: Dĩ nhiên là không. Xét cho cùng, Samadhi là một trạng thái của tâm. Ta ở ngoài mọi kinh nghiệm, ngay cả Samadhi. Ta là kẻ tiêu hao và hủy diệt vĩ đại: Bất cứ gì Ta chạm đến đều tan biến thành không - Akash.
H: Tôi cần nhiều Samadhi để giác ngộ chính mình.
M: Ông có tất cả sự giác ngộ chính mình mà ông cần, nhưng ông không tin điều đó. Hãy can đảm, tin tưởng chính ông, đi tới, nói, hành động; hãy cho sự giác ngộ chính mình một cơ hội để tự chứng tỏ chính nó. Đối với một số người, sự giác ngộ xảy ra một cách không hay biết, nhưng dù sao thì họ vẫn cần đến tính cách thuyết phục. Họ thay đổi nhưng không nhận ra. Các trường hợp không gây chú ý như thế thường là rất khả tín.
H: Liệu một người tin mình giác ngộ, và sai lầm?
M: Dĩ nhiên. Chính cái ý nghĩ “Ta giác ngộ” là một sai lầm.
Không hề có “Ta thế này,” “Ta thế nọ” trong Trạng thái Tự nhiên.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét