Container Icon

Ba kiếp sống (3)

 


Chương III- Hang Động Người Xưa- Lobsang Rampa

Tu viện của các Bậc tiên tri nhỏ, gọn và rất tách biệt. Vài chú tiểu nhỏ tự chơi vô tư không người trông nom. Không có những nhóm sư thơ thẩn trong sân đầy nắng, nhàn rỗi ríu rít nói chuyện vào thời gian cuối tuần. Những ông già – cũng chính là các Lạt ma cao niên – chiếm đa số ở đây. Những người đàn ông già nua, tóc bạc trắng và oằn lưng dưới sức nặng của năm tháng, họ đi lại một cách chậm chạp làm công việc của mình. Đây là Nhà của các vị Tiên tri. Các Lạt ma cao tuổi nói chung, và các Nhà tiên tri nói riêng, được giao nhiệm vụ dự đoán trước tương lai, và xem bói. Không một khách không mời nào được vào đây, không một người hành hương nào được phép nghỉ ngơi hoặc ăn uống ở đây. Đây là nơi nhiều người sợ và cấm tất cả trừ những vị được đặc biệt mời. Thầy tôi, Lạt ma Minh Gia Đại Đức là ngoại lệ; bất cứ lúc nào Ngài cũng có thể vào và Ngài thực sự là một vị khách luôn được chào đón.

The Lamasery of the State Oracle was small, compact, and very secluded. Few small chelas played with carefree abandon. No groups of trappas lounged indolently in the sundrenched courtyard, whiling away the noonday hour in idle chatter. Old men—old Lamas too!—were in the majority here. Aged men, white of hair and bent under the weight of years, they went slowly about their business. This was the Home of the Seers. To the aged lamas in general, and to the Oracle himself, was entrusted the task of Prophecy, of Divination. No uninvited visitor entered here, no stray traveler called in search of rest or food. This was a place feared by many and forbidden to all except those specially invited. My Guide, the Lama Mingyar Dondup was the exception; at any time he could enter and find that he was indeed a welcome visitor.

Những lùm cây xanh um tùm tạo cho tu viện sự riêng tư, tránh khỏi những cặp mắt tò mò. Những bức tường đá vững chắc giúp bảo vệ các tòa nhà khỏi mấy kẻ tọc mạch quá mức, phòng khi chúng dám mạo hiểm với cơn thịnh nộ của Vị Lạt ma Tiên tri quyền năng trước sự tò mò vớ vẩn. Những căn phòng được giữ gìn cẩn thận dành riêng cho Đức Chí Tôn Đấng tối cao, người thường xuyên đến thăm Ngôi đền Kiến thức này. Không khí thanh tịnh, ấn tượng chung là sự tĩnh lặng, là những con người điềm đạm làm công việc quan trọng của họ.

A gracious grove of trees gave the Lamasery privacy from prying eyes. Strong stone walls gave the buildings protection from the over-curious, if there should be any who would risk the wrath of the powerful Oracle Lama for idle curiosity. Carefully kept rooms were set aside for His Holiness the Inmost One who so frequently visited this Temple of Knowledge. The air was quiet, the general impression was of quietude, of men placidly going about their important business.

Cũng không có cơ hội cho các cuộc ẩu đả hay những kẻ xâm nhập ồn ào. Nơi này được tuần tra bởi những người đàn ông to lớn, dũng mãnh dân tộc Kham, nhiều người cao tới hơn hai mét, và không ai trong số họ nặng dưới chín mươi kilogam, được thuê trên khắp Tây Tạng với tư cách là tu sĩ cảnh binh, được giao nhiệm vụ giữ trật tự trong các cộng đồng có đến hàng nghìn nhà sư. Các nhà sư cảnh binh liên tục cảnh giác và luôn sẵn sàng. Mang theo những cây gậy dũng mãnh, họ thực sự là hình ảnh đáng sợ đối với những người có lương tâm tội lỗi. Không phải cứ mặc áo cà sa là trở thành người tu hành, cộng đồng nào cũng đều có những kẻ bất lương và lười biếng, vì vậy những người đàn ông Kham này thực sự bận rộn.

Nor was there opportunity for brawls, for noisy intruders. The Place was patrolled by the mighty Men of Kham, the huge men, many of them over seven feet tall, and none of them weighing less than two hundred and fifty pounds, who were employed throughout Tibet as monk-police charged with the task of keeping order in communities of sometimes thousands of monks. The monk-police strode about the grounds constantly alert, constantly on guard. Carrying mighty staves they were indeed a frightening sight to those with guilty consciences. A monk’s robe does not necessarily cover a religious man; there are wrongdoers and lazy men in all communities, so the Men of Kham were busy.

Các tòa nhà của Tu viện cũng phù hợp với mục đích đã định của chúng. Không có tòa nhà nào xây cao ở đây, không có cột dài đục sẵn lỗ để mở rộng quy mô; nơi này dành cho các bô lão, những người đã mất đi sự linh hoạt của tuổi trẻ, có bộ xương yếu ớt. Hành lang dễ ra vào và những người tuổi cao nhất sống ở tầng trệt. Bản thân Nhà tiên tri cũng sống ở tầng trệt, bên cạnh Đền Tiên tri. Quanh ông là những bô lão cao niên nhất, uyên bác nhất, và vị cao tăng cảnh binh người Kham.

The lamastic buildings too were in keeping with their intended purpose. No high buildings here, no long notched poles to scale; this was for aged men, men who had lost the elasticity of youth, men whose bones were frail. The corridors were easy of access, and those of greatest age lived upon the ground floor. The State Oracle himself also lived upon the ground floor, at the side of the Temple of Divination. Around him lodged the oldest men, the most learned. And the senior monk-police of the Men of Kham.

“Lobsang, chúng ta sẽ đi gặp Nhà tiên tri,” Thầy nói. “Ngài đã bày tỏ sự quan tâm rất lớn đến con và sẵn sàng dành nhiều thời gian cho con.” Lời mời – hay mệnh lệnh – bao phủ lên tôi sự u ám mịt mùng; Bất kỳ chuyến viếng thăm nào đến nhà chiêm tinh hoặc ‘nhà tiên tri’ trong quá khứ đều mang lại tin chẳng lành, nhiều đau khổ hơn, nhiều khẳng định hơn về những khó khăn sắp tới. Thông thường, tôi cũng phải mặc chiếc áo choàng đẹp nhất của mình và ngồi như một con vịt nhồi bông trong khi nghe một ông già buồn tẻ nào đó nói ra một chuỗi những điều tôi không muốn nghe. Tôi ngước lên đầy hoài nghi; Vị Lạt ma đang cố gắng che giấu nụ cười khi Người nhìn xuống tôi. Rõ ràng là tôi đang mơ màng, và Người đã đọc được suy nghĩ của tôi! Ngài phá lên cười khi nói, “Con hãy cứ như vậy đi, Nhà tiên tri không bị đánh lừa bởi tấm áo bề ngoài của kẻ khác đâu. Ngài biết về con nhiều hơn con biết về chính mình đấy!” Tôi ngày càng u sầu, tôi tự hỏi sắp được nghe điều gì tiếp theo đây.

“We will go to see the Oracle, Lobsang,” said my Guide. “He has expressed great interest in you and is prepared to give you much of his time.” The invitation—or command—filled me with the greatest gloom; any visit to an astrologer or ‘seer’ in the past had been productive of bad news, more suffering, more confirmation of hardships to come. Usually, too, I had to wear my best robe and sit like a stuffed duck while listening to some prosy old man bleating out a string of platitudes which I would rather not hear. I looked up suspiciously; the Lama was struggling to conceal a smile as he gazed down at me. Obviously, I thought dourly, he has been reading my mind! He broke into a laugh as he said, “Go as you are, the Oracle is not at all swayed by the state of one’s robe. He knows more about you than you know yourself!” My gloom deepened, what was I going to hear next, I wondered.

Chúng tôi đi dọc hành lang rồi vào sân trong. Tôi liếc nhìn những dãy núi thấp thoáng, cảm giác như sắp bị hành quyết. Một tu sĩ cảnh binh cau có tiến đến, trông như một trái núi đang di chuyển. Nhận ra Thầy tôi, anh ta nở nụ cười chào đón và cúi đầu thật sâu. “Xin phục dưới chân Ngài, Thưa Lạt ma tôn kính,” anh ta nói. “Hãy cho tôi vinh dự được dẫn Ngài đến chỗ Ngài Tiên tri tôn kính.” Anh ta cúi đầu bước đi bên cạnh chúng tôi và tôi cảm thấy rất rõ mặt đất rung chuyển theo bước chân nặng nề của anh ta.

We walked down the corridor and went out into the inner courtyard. I glanced at the looming mountain ranges, feeling like one going to execution. A scowling police-monk approached, looking to me almost like a mountain on the move. Recognising my Guide he broke into welcoming smiles and bowed deeply. “Prostrations at thy Lotus Feet, Holy Lama,” he said. “Honour me by permitting me to lead you to His Reverence the State Oracle.” He fell into step beside us and I felt sure that the ground trembled to his ponderous tread.

Hai vị lạt ma đứng hai bên cửa, họ không phải là những người tu sĩ cảnh binh bình thường, khi chúng tôi đến gần, họ đứng sang một bên để chúng tôi có thể vào. “Thánh nhân đang chờ các vị,” một người mỉm cười nói với Thầy tôi. “Người rất mong đợi chuyến thăm của Ngài, thưa Ngài Minh Gia tôn kính,” người kia nói. Chúng tôi bước vào và thấy đang ở trong một căn phòng ánh sáng mờ ảo. Trong vài giây đầu, tôi hầu như không thể nhận biết  được xung quanh bởi mắt đã bị lóa vì ánh nắng chói chang ngoài sân. Dần dần, khi đã quen với ánh sáng nơi đây, tôi đã có thể nhìn trở lại bình thường, tôi nhận ra một căn phòng trống, chỉ có hai tấm thảm trên tường và một lư hương nhỏ đang bốc khói nghi ngút ở một góc. Ở chính giữa căn phòng, trên một tấm đệm trơn là một người đàn ông khá trẻ. Ông ấy trông gầy gò và ốm yếu, và tôi thực sự ngạc nhiên khi nhận ra rằng đây là Nhà tiên tri của Tây Tạng. Đôi mắt ông hơi lồi, và nhìn chằm chằm vào tôi, cái nhìn xuyên thấu. Tôi có ấn tượng rằng ông ấy đang nhìn thấu tới linh hồn mình chứ không phải cái thể xác này.

Two lamas stood beside the door, lamas, not ordinary monk-guards, at our approach they stood aside that we might enter. “The Holy One awaits you,” said one smiling upon my Guide. “He is looking forward to your visit, Lord Mingyar,” said the other. We walked in and found ourselves to be in a somewhat dimly lighted room. For some seconds I could distinguish very little indeed; my eyes had been dazzled by the bright sunlight in the courtyard. Gradually, as my vision returned to normal, I perceived a bare room with but two tapestries upon the walls and a small incense burner which stood smoking in a corner. In the centre of the room, upon a plain cushion, sat a quite young man. He looked thin and frail, and I was amazed indeed when I realised that this was the State Oracle of Tibet. His eyes protruded somewhat, and stared at me and through me. I had the impression that he was seeing my soul and not my earthly body.

Thầy của tôi, Lạt ma Minh Gia Đại đức, và tôi đảnh lễ theo cách chào truyền thống và theo quy định, sau đó chúng tôi đứng dậy chờ. Cuối cùng, khi sự im lặng ngày càng trở nên khó chịu, Nhà tiên tri nói. “Chào mừng, Ngài Minh Gia tôn kính, chào mừng Lobsang!” Ngài nói. Giọng Ngài hơi cao và yếu ớt; nó tạo ấn tượng như đến từ một khoảng cách rất xa. Trong một lúc, Thầy tôi và Nhà tiên tri thảo luận về những vấn đề cùng quan tâm, sau đó Lạt ma Minh Gia Đại đức cúi đầu, quay người và rời khỏi phòng. Nhà tiên tri ngồi nhìn tôi và cuối cùng nói, “Lobsang, hãy mang nệm và đến ngồi bên ta.” Tôi với lấy một trong những tấm nệm vuông dựng vào bức tường phía xa và đặt nó xuống chỗ mà tôi có thể ngồi trước mặt ngài. Nhìn tôi một lúc trong im lặng và có phần ủ rũ, rồi cuối cùng, khi cảm thấy khó chịu của tôi dưới sự soi xét của mình, ngài bắt đầu nói. “Vậy con là Tuesday Lobsang Rampa!” ngài nói. “Chúng ta đã biết rõ về nhau trong một kiếp trước đây. Bây giờ, theo lệnh của Đấng Tối Cao, ta phải nói với con về những khó khăn sắp tới, những khó khăn phải vượt qua.” “Ồ, thưa ngài!” Tôi thốt lên, “Chắc con đã làm những điều khủng khiếp trong kiếp trước để rồi phải chịu đựng như vậy. Nhân quả của con, Định mệnh tiền định của con, dường như khó khăn hơn bất kỳ ai khác.” “Không phải vậy,” ông trả lời, “Đó là một sai lầm rất phổ biến đối với mọi người khi nghĩ rằng họ gặp khó khăn trong cuộc sống này vì họ cần thiết phải chịu đựng sự trừng phạt do những tội lỗi của tiền kiếp. Nếu con luyện kim loại trong lò thì đó là vì chúng đã hỏng và phải bị trừng trị, hay con làm vậy để cải thiện phẩm chất của vật liệu?” Ông nhìn tôi chăm chú và nói, “Tuy nhiên, Thầy của con, Lạt ma Minh Gia Đại đức sẽ thảo luận điều đó với con. Ta chỉ nói với con về tương lai.”

My Guide, the Lama Mingyar Dondup, and I prostrated ourselves in traditional and prescribed greeting, then we rose to our feet and stood waiting. At last, when the silence was becoming decidedly uncomfortable, the Oracle spoke. “Welcome, Lord Mingyar, welcome Lobsang!” He said. His voice was somewhat high in pitch and was not at all strong; it gave the impression of coming from a great distance. For a few moments my Guide and the Oracle discussed matters of common interest, then the Lama Mingyar Dondup bowed, turned, and left the room. The Oracle sat looking at me and at last said, “Bring a cushion and sit by me, Lobsang.” I reached for one of the padded squares resting against a far wall and placed it so that I could sit before him. For a time he gazed at me in a somewhat moody silence, but at long last, when I was becoming uncomfortable beneath his scrutiny, he spoke. “So you are Tuesday Lobsang Rampa!” he said. “We knew each other well in another phase of existence. Now, by order of the Inmost One, I have to tell you of hardships to come, difficulties to overcome.” “Oh, Sir!” I exclaimed, “I must have done terrible things in past lives to have to suffer thus in this. My Kharma, my predestined Fate, seems to be harder than anyone else’s.” “Not so,” he replied, “it is a very common mistake for people to think that because they have hardships in this life they are necessarily suffering for the sins of past lives. If you heat metal in a furnace do you do so because the metal has erred and must be punished, or do you do it in order to improve the qualities of the material?” He looked hard at me and said, “However, your Guide the Lama Mingyar Dondup will discuss that with you. I have to tell you only of the future.”

Nhà Tiên tri chạm vào chiếc chuông bạc và một người hầu lặng lẽ bước vào. Đi ngang qua chỗ chúng tôi, anh ta đặt một cái bàn rất thấp giữa Nhà tiên tri và tôi, trên bàn là một chiếc bát tựa như gốm, được trang trí công phu với những nét hoa văn bạc. Bên trong chiếc bát có những cục than hồng cháy đỏ rực khi vị tu sĩ huơ nó lên không trung trước khi đặt trước Nhà tiên tri. Ông ta lẩm bẩm gì đó phía trên đầu tôi mà tôi không nghe rõ, rồi ông đặt một chiếc hộp gỗ được chạm khắc tinh xảo bên phải chiếc bát, và rời đi cũng lặng lẽ như lúc vào. Tôi ngồi yên, không thoải mái chút nào, tự hỏi tại sao tất cả những điều này lại xảy ra với tôi. Mọi người đều nói với tôi rằng tôi sẽ có một cuộc sống khó khăn như thế nào; họ có vẻ thích thú với điều đó. Gian khổ thì sao, mặc dù rõ ràng tôi không phải trả giá cho những tội lỗi ở một vài kiếp trước. Nhà tiên tri chậm rãi đưa tay về phía trước và mở hộp. Với một chiếc thìa nhỏ bằng vàng, ông múc một thứ bột mịn rắc lên trên than hồng đang rực cháy.

The Oracle touched a silver bell and an attendant entered silently. Padding across to us he placed a very low table between the State Oracle and me, and upon the table he placed an ornate silver bowl lined, apparently, with a form of porcelain. Within the bowl glowed charcoal embers which flared bright red as the monk-attendant swung it in the air before placing it in front of the Oracle. With a muttered word, the import of which was lost upon me, he placed a richly carved wooden box to the right of the bowl, and departed as silently as he had come. I sat still, ill at ease, wondering why all this had to happen to me. Everyone was telling me what a hard life I was going to have; they seemed to delight in it. Hardship was hardship, even though apparently I was not having to pay for the sins of some past life. Slowly the oracle reached forward and opened the box. With a small gold spoon he ladled out a fine powder which he sprinkled on to the glowing embers.

Căn phòng tràn ngập một làn khói xanh trong sáng; Tôi cảm thấy các giác quan của mình quay cuồng và thị giác của tôi mờ đi. Từ một khoảng cách xa vô tận dường như tôi nghe thấy tiếng chuông lớn. Âm thanh dội đến gần hơn và cường độ ngày càng to dần đến khi tôi cảm thấy đầu mình như thể bị tách ra. Tôi nhìn rõ hơn và chăm chú quan sát cột khói bốc lên không ngừng từ cái bát. Trong làn khói, tôi thấy có sự chuyển động, nó bốc lên đến gần hơn và nhấn chìm tôi để tôi là một phần của nó. Từ đâu đó bên ngoài ý thức của tôi, giọng Nhà tiên tri cứ truyền đến, cứ vang lên liên tục. Nhưng tôi không cần phải nghe ngài nói, tôi đang nhìn thấy tương lai, nhìn thấy nó một cách sống động cũng như ngài vậy. Trong một lúc, tôi đứng tách sang một bên và nhìn những sự kiện của cuộc đời mình quay cuồng trước mắt như thể những thước phim đang chiếu. Thời thơ ấu của tôi, những sự kiện trong cuộc đời tôi, sự khắc nghiệt của cha tôi – tất cả đều được hiện lên sinh động. Một lần nữa tôi lại ngồi trước Tu viện vĩ đại Chakpori. Một lần nữa tôi cảm thấy những phiến đá rắn rỏi của Núi Sắt khi gió quật tôi ngã xuống từ mái nhà Tu viện, hất tung tôi bằng một sức mạnh tan xương nát thịt xuống sườn núi. Làn khói cuộn xoáy và những hình ảnh (mà chúng ta gọi là “Tàng thư Akashic”) tiếp tục. Tôi lại nhìn thấy buổi điểm đạo của mình, những buổi lễ bí mật được kết lại trong làn khói khi tôi lúc đó còn chưa có được khả năng đặc biệt. Qua những hình ảnh, tôi thấy mình đang đi trên con đường dài vắng vẻ đến Trùng Khánh ở Trung Quốc.

The room filled with a fine blue haze; I felt my senses reel and my sight grow dim. From a measureless distance away I seemed to hear the tolling of a great bell. Closer came the sound, and its intensity grew and grew until I felt my head would split. My sight cleared and I watched intently as a column of smoke rose endlessly from the bowl. Within the smoke I saw movement, movement which came closer and engulfed me so that I was part of it. From somewhere beyond my comprehension the voice of the State Oracle reached me, droning on and on. But I had no need of his voice, I was seeing the future, seeing it as vividly as he. Within a point of Time I stood apart and watched the events of my life reel before me as if pictured upon an ever-moving film. My early childhood, events in my life, the fierceness of my father—all were portrayed before me. Once again I sat before the great Lamasery of Chakpori. Once again I felt the hard rocks of the Iron Mountain as the wind whipped me from the Lamasery roof to fling me with bone-breaking force down the mountain side. The smoke swirled and the pictures (what we term “the Akashic Record”) moved on. I saw again my initiation, secret ceremonies wreathed in smoke as I was not then initiated. On the pictures I saw myself setting out on the long, lonely trail to Chungking in China.

Một cỗ máy kỳ lạ xoắn vặn và tung lên không trung, bay lên và rơi xuống trên những vách đá dựng đứng của Trùng Khánh. Và tôi – chính tôi – đã ở vị trí điều khiển! Sau đó, tôi nhìn thấy những phi đội máy bay như vậy, với hình ảnh Mặt trời mọc của Nhật Bản được phô trương trên các đôi cánh của chúng. Từ những cỗ máy rơi ra những đốm màu đen lao xuống đất rồi bùng lên thành lửa và khói. Những thân thể bị xé nát quăng lên trời, và trên bầu trời là những cơn mưa máu với các mảnh cơ thể. Tôi cảm thấy đau tim và choáng váng khi những hình ảnh chuyển động, cho thấy tôi đang bị người Nhật tra tấn. Tôi nhìn thấy cuộc đời mình, thấy những gian khổ, cay đắng. Nhưng nỗi buồn lớn hơn tất cả là sự phản bội xấu xa của một số người ở thế giới phương Tây, những người mà tôi thấy, đã muốn phá hủy những thứ tốt đẹp chỉ vì lý do duy nhất là họ ghen tị. Những hình ảnh cứ thế tiếp diễn, và tôi đã nhìn thấy chặng đường có thể xảy ra của cuộc đời mình trước khi tôi sống trong nó.

A strange machine twisted and tossed in the air, soaring and falling above the steep cliffs of Chungking. And I—I—was at the controls! Later I saw fleets of such machines, with the Rising Sun of Japan flaunted from their wings. From the machines fell black blobs which rushed to the earth to erupt into flame and smoke. Wrecked bodies hurtled heaven-wards, and for a time the skies rained blood and human fragments. I felt sick at heart, and dazed, as the pictures moved and showed me myself being tortured by the Japanese. I saw my life, saw the hardships, felt the bitterness. But the greatest sorrow of all was the treachery and evil of some people of the Western world, who, I saw, were bent on destroying work for good for the sole reason that they were jealous. The pictures moved on and on, and I saw the probable course of my life before I lived it.

Như tôi đã biết, khả năng được dự báo là rất chính xác. Chỉ có những chi tiết nhỏ đôi khi là khác đi. Bức tranh chiêm tinh của một người chỉ ra giới hạn những gì anh ta có thể trở thành và có thể chịu đựng, giống như bộ điều khiển động cơ có thể đặt tốc độ tối thiểu và tối đa cho nó. “Một cuộc sống khó khăn đối với tôi, được thôi!” Tôi nghĩ. Rồi bỗng tôi nhảy dựng lên, mạnh đến mức suýt bắn ra khỏi đệm; một bàn tay đã đặt trên vai tôi. Khi quay lại, tôi thấy khuôn mặt Nhà tiên tri, lúc này đang ngồi phía sau mình. Cái nhìn của ngài tràn đầy thương cảm, và đau lòng về chặng đường khó khăn phía trước của tôi. “Năng lực ngoại cảm của con rất mạnh mẽ, Lobsang,” ông nói, “Ta thường phải thuyết minh về những hình ảnh này cho người xem. Đấng tối cao, như người đã kỳ vọng, là hoàn toàn chính xác.”

As I well knew, probabilities can be most accurately forecast. Only the minor details are sometimes different. One’s astrological configurations set the limit of what one can be and can endure just as the governor of an engine can set its minimum and maximum speeds. “A hard life for me, all right!” I thought. Then I jumped so hard that I almost left the cushion; a hand was laid upon my shoulder. As I turned I saw the face of the State Oracle, now sitting behind me. His look was of utter compassion, of sorrow for the difficult way ahead. “You are very psychic, Lobsang,” he said, “I normally have to tell these pictures to onlookers. The Inmost One, as one would expect, is quite correct.”

“Tất cả những gì con muốn,” tôi trả lời, “là ở đây trong yên bình. Vì cớ gì con lại phải muốn đến thế giới phương Tây, nơi họ rất nhiệt tình rao giảng về tôn giáo trong khi cố gắng cắt cổ ai đó từ phía sau?” Ngài nói: “Có một Nhiệm vụ phải hoàn thành anh bạn của ta ơi. Con có thể làm điều đó bất chấp mọi sự phản đối. Thế nên con đang phải trải qua khóa đào tạo đặc biệt và khó khăn.” Tôi thấy khó chịu đỉnh điểm, suốt cả buổi nói chuyện chỉ toàn về những khó khăn và nhiệm vụ. Tất cả những gì tôi muốn cả bây giờ và sau này là bình an và yên tĩnh với ba cái trò giải trí vô hại. “Giờ thì,” Nhà tiên tri nói, “đã đến lúc con trở lại với Thầy của con, vì ông ấy có nhiều điều để nói với con và ông ấy đang đợi con.” Tôi đứng dậy, cúi đầu trước khi quay người và rời khỏi phòng. Bên ngoài, một nhà sư cảnh binh hộ pháp đang đợi dẫn tôi đến gặp Đại Đức Minh Gia. Chúng tôi cùng đi dạo bên nhau, nó gợi cho tôi về hình ảnh trong cuốn sách đã xem, trong đó là một con voi và một con kiến đang cùng nhau dạo chơi trên con đường rừng. . .

“All I want,” I replied, “is to stay here in peace. Why should I want to go to the Western world where they so ardently preach religion—and try to cut one’s throat behind one’s back?” “There is a Task my friend,” said the Oracle, ”which must be accomplished. You can do it in spite of all oppositions. Hence the special and difficult training which you are undergoing.” It made me feel most glum, all this talk about hardships and Tasks. All I wanted was peace and quiet and some harmless amusement now and then. “Now,” said the Oracle, “it is time for you to return to your Guide, for he has much to tell you and he is expecting you.” I rose to my feet and bowed before turning and leaving the room. Outside the huge monk-policeman was waiting to lead me to the Lama Mingyar Dondup. Together we walked, side by side, and I thought of a picture book I had seen wherein an elephant and an ant walked a jungle path side by side . . .

“Chà, Lobsang!” Vị Lạt Ma nói khi tôi bước vào phòng Ngài, “Ta hy vọng con không quá buồn phiền về những gì đã thấy?” Người mỉm cười với tôi và ra hiệu cho tôi ngồi. “Thức ăn cho thể xác trước đã, Lobsang, và sau đó là thức ăn cho Linh hồn,” Người cười khi rung chuông bạc gọi nhà sư hầu cận mang trà cho chúng tôi. Rõ ràng là tôi đến đúng lúc! Quy tắc của Lạt ma viện là không được nhìn xung quanh khi đang ăn, mắt không được nhìn tản mạn và phải tập trung sự chú ý hoàn toàn vào giọng nói của Chủ lễ. Ở đây, trong phòng của Lạt ma Minh Gia Đại Đức, không có Chủ lễ ngồi trên chúng tôi, đọc to cuốn Sách Thánh để giữ cho chúng tôi thoát khỏi những suy nghĩ tầm phào thay vì thức ăn. Cũng không có bất kỳ Giám thị nghiêm khắc nào sẵn sàng nhảy bổ vào chúng tôi vì những vi phạm nhỏ nhất. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, dãy Himalaya trải dài vô tận trước mặt, nghĩ rằng sẽ chẳng bao lâu nữa sẽ không còn được ngắm nhìn chúng. Tôi đã được nhìn thấy tương lai – tương lai của chính mình – và sợ hãi những điều chưa thấy rõ ràng vì bị lấp một phần trong làn khói.

“Well, Lobsang!” said the Lama as I entered his room, “I hope you are not too depressed at all that you have seen?” He smiled at me and motioned for me to sit. “Food for the body first, Lobsang, and then food for the Soul,” he exclaimed laughingly as he rang his silver bell for the monk-attendant to bring our tea. Evidently I had arrived just in time! Lamasery rules stated that one must not look about while one was eating, one’s eyes should not stray, and full attention should be given to the Voice of the Reader. Here in the Lama Mingyar Dondup’s room there was no Reader perched high above us, reading aloud from the Sacred Books in order to keep our thoughts from such common things as food. Nor were there any stern Proctors ready to jump at us for the slightest infraction of the Rules. I gazed out of the window at the Himalayas stretching endlessly before me, thinking that soon the time would come when I should gaze upon them no more. I had received glimpses into the future—my future—and I dreaded the things which I had not seen clearly but which had been partly veiled in smoke.

“Lobsang!” Thầy nói, “con đã nhìn thấy nhiều, nhưng còn nhiều điều nữa vẫn bị che khuất. Nếu con cảm thấy rằng không thể đối mặt với Tương lai đã định, thì chúng ta sẽ chấp nhận một việc – mặc dù thật đáng buồn – là con vẫn có thể ở lại Tây Tạng.” “Thưa Thầy!” Tôi trả lời: “Thầy đã từng nói với con rằng một người khi dấn bước trên Đường Đời mà chùn bước và quay lại, thì không phải là con người. Con sẽ tiến lên dù biết những khó khăn đang đợi trước mắt”. Người mỉm cười, và gật đầu đồng ý. “Đúng như ta mong đợi,” Người nói, “cuối cùng con sẽ thành công.” “Thưa Thầy!” Tôi hỏi, “tại sao mọi người không đến thế giới này với kiến thức về những gì họ đã có trong tiền kiếp và những gì họ phải làm trong cuộc sống này? Tại sao phải có cái mà Thầy gọi là ‘Tri thức Ẩn giấu’? Tại sao tất cả chúng ta không thể biết tất cả mọi thứ?”

“Lobsang!” said my Guide, “you have seen much, but much more has remained hidden. If you feel that you cannot face the planned Future, then we will accept the fact—though sadly—and you may remain in Tibet.” “Sir!” I replied, “you once told me that the man who sets out upon one of Life’s Paths, falters, and turns back, is no man. I will go ahead in spite of knowing the difficulties before me.” He smiled, and nodded his approval. “As I expected,” he said, “you will succeed in the end.” “Sir!” I asked, “why do not people come to this world with a knowledge of what they have been in past lives and what they are supposed to do in this life? Why must there be what you term ‘Hidden Knowledge’? Why cannot we all know everything?”

Lạt ma Minh Gia Đại Đức nhướng mày và cười. “Con chắc chắn muốn biết nhiều điều!” Người nói. “Trí nhớ của con đang khá tệ đó; gần đây ta đã nói với con rằng chúng ta thường không nhớ tiền kiếp của mình, vì như vậy sẽ làm tăng gánh nặng lên chính mình trong thế giới này. Như chúng ta nói, ‘Bánh xe sự sống xoay vần, mang sự giàu có cho người này và nghèo túng cho người khác. Người ăn xin của ngày hôm nay là hoàng tử của ngày mai.’ Khi không nhớ được tiền kiếp của mình, thì tất cả chúng ta đều sẽ tự làm mới bản thân mà không gắng trở lại chính mình ở kiếp trước.” “Nhưng,” tôi hỏi, “còn về Kiến thức Ẩn giấu? Nếu tất cả đều có kiến thức đó thì mọi người đều sẽ tốt hơn, sẽ tiến bộ nhanh hơn.” Thầy mỉm cười với tôi. “Nó không đơn giản như vậy!” Người trả lời. Im lặng một lúc rồi Thầy nói tiếp.

The Lama Mingyar Dondup raised his eyebrows and laughed. “You certainly want to know a lot!” he said. “You’re memory is failing, too; quite recently I told you that we do not normally remember our past lives as to do so would be to increase our load upon this world. As we say, ‘The Wheel of Life revolves, bringing riches to one and poverty to another. The beggar of today is the prince of tomorrow.’ If we do not know of our past lives we all start afresh without trying to trade on what we were in our last incarnation.” “But,” I asked, “what about the Hidden Knowledge? If all people had that knowledge everyone would be better, would advance more quickly.” My Guide smiled down at me. “It is not so simple as that!” he replied. For a moment he sat in silence, then he spoke again.

“Có những quyền năng bên trong chúng ta, trong tầm kiểm soát của Chân ngã, lớn hơn vô cùng bất cứ thứ gì mà Con người có thể tạo ra bằng vật chất, trong thế giới vật chất. Người phương Tây nói riêng sẽ lạm dụng những quyền năng như chúng ta có thể có, vì tất cả những gì người phương Tây quan tâm là tiền. Người phương Tây có hai câu hỏi: bạn có thể chứng minh điều đó không? và – tôi sẽ được gì từ việc đó?” Người cười như đứa trẻ và nói, “Ta luôn cảm thấy thích thú nhất khi nghĩ đến một loạt các máy móc và công cụ mà Con người sử dụng để gửi một thông điệp ‘không dây’ qua các đại dương. ‘Không dây’ là thuật ngữ họ sử dụng, trong khi những thiết bị này có hàng dặm hàng dặm dây dẫn. Nhưng ở đây, ở Tây Tạng, các Lạt ma được huấn luyện của chúng ta gửi các thông điệp thần giao cách cảm mà không cần thiết bị nào cả. Chúng ta đi vào cõi trung giới và du hành xuyên không gian và thời gian, thăm thú không chỉ thế giới này mà cả những thế giới khác. Chúng ta có thể bay lên – nâng những vật nặng khổng lồ bằng cách áp dụng những sức mạnh thường không được biết đến. Lobsang, không phải tất cả mọi người đều trong sáng, cũng không phải ai khoác áo cà sa cũng là người thánh thiện. Có thể có kẻ ác trong tu viện cũng như có thể có một vị thánh trong nhà tù.” Tôi bối rối nhìn Người. “Nhưng nếu tất cả mọi người có kiến ​​thức này, chắc chắn tất cả họ sẽ tốt chứ?” Tôi hỏi.

“There are powers within us, within the control of our Overself, immeasurably greater than anything that Man has been able to make in the material, the physical world. Western Man in particular would abuse such Powers as we can command, for all that Western Man cares about is money. Western Man has but two questions: can you prove it? and—what do I get out of it?” He laughed quite boyishly and said, “I always feel most amused when I think of the vast array of mechanisms and apparatus which Man uses to send a ‘wireless’ message across the oceans. ‘Wireless’ is the last term they should use, for the apparatus consists of miles and miles of wire. But here, in Tibet, our trained lamas send telepathic messages with no apparatus at all. We go into the astral and travel through space and time, visiting other parts of the world, and other worlds. We can levitate—lift immense loads by the application of powers not generally known. Not all men are pure, Lobsang, nor does a monk’s robe always cover a holy man. There can be an evil man in a lamasery just as there can be a saint in prison.” I looked at him in some puzzlement. “But if all men had this knowledge, surely they would all be good?” I asked.

Vị Lạt ma nhìn tôi buồn bã đáp. “Chúng ta giữ bí mật những Kiến thức Bí truyền để bảo vệ Nhân loại. Nhiều người, đặc biệt là những người phương Tây, chỉ nghĩ đến tiền bạc và quyền lực đối với người khác. Như đã được báo trước bởi Nhà tiên tri và những người khác, vùng đất này của chúng ta sau này sẽ bị xâm lược và chiếm đoạt về mặt vật chất bởi một giáo phái kỳ lạ, một giáo phái không có tư tưởng cho người bình thường, mà chỉ tồn tại nhằm củng cố quyền lực của những kẻ độc tài, những kẻ sẽ nô dịch hóa một nửa thế giới. Đã có những Lạt ma cấp cao bị người Nga tra tấn đến chết vì họ đã không tiết lộ những kiến ​​thức bị cấm. Lobsang, một người bình thường đột nhiên được tiếp cận với kiến ​​thức bị cấm, sẽ phản ứng như thế này: đầu tiên anh ta sẽ sợ hãi sức mạnh có trong tay mình lúc này. Sau đó, điều xảy ra tiếp theo, anh ta có phương tiện làm cho mình trở nên giàu có vượt xa những giấc mơ ngông cuồng nhất của mình. Anh ta sẽ thử nghiệm, và tiền sẽ đến với anh ta. Với tiền và quyền lực ngày càng tăng, anh ta sẽ muốn có thêm nhiều tiền và quyền lực hơn  nữa. Một triệu phú không bao giờ hài lòng với một triệu, mà muốn nhiều triệu hơn nữa! Người ta nói rằng trong suy thoái, quyền lực tuyệt đối bị suy đồi. Tri thức Ẩn giấu mang lại sức mạnh tuyệt đối ”

The Lama looked at me sorrowfully as he replied. “We keep the Secret Knowledge secret in order that Mankind may be safeguarded. Many men, particularly those of the West, think only of money and of power over others. As has been foretold by the Oracle and others, this our land will later be invaded and physically conquered by a strange cult, a cult which has no thought for the common man, but exists solely in order to bolster up the power of dictators, dictators who will enslave half the world. There have been high lamas who have been tortured to death by the Russians because the lamas would not divulge forbidden knowledge. The average man, Lobsang, who suddenly had access to forbidden knowledge, would react like this: first he would be fearful of the power now within his grasp. Then it would occur to him that he had the means of making himself rich beyond his wildest dreams. He would experiment, and money would come to him. With increasing money and power he would desire yet more money and power. A millionaire is never satisfied with one million, but wants many millions more! It is said that in the unevolved, absolute power corrupts. The Hidden Knowledge gives absolute power.”

Một tia sáng tuyệt vời bừng lên trong tôi; Tôi biết làm thế nào để Tây Tạng có thể được cứu! Nhảy lên đầy phấn khích, tôi kêu lên, “Vậy thì Tây Tạng đã được cứu rồi! Tri thức Ẩn giấu sẽ cứu chúng ta khỏi cuộc xâm lược!” Thầy nhìn tôi với lòng trắc ẩn. “Không, Lobsang,” Người buồn bã trả lời, “chúng ta không sử dụng quyền năng cho những việc như thế. Tây Tạng sẽ bị đàn áp, gần như bị tiêu diệt, nhưng sau đó, Tây Tạng sẽ sống lại và trở nên vĩ đại hơn, thuần khiết hơn. Đất nước sẽ được thanh tẩy trong lò lửa chiến tranh giống như sau này, cả thế giới cũng vậy”. Người liếc nhìn tôi. “Phải có chiến tranh, con biết đấy, Lobsang!” Người nói khẽ. “Nếu không có chiến tranh, dân số thế giới sẽ trở nên quá lớn. Nếu không có chiến tranh thì sẽ có bệnh dịch. Chiến tranh và bệnh tật điều chỉnh dân số trên thế giới và tạo cơ hội cho mọi người trên Trái đất – và trên các thế giới khác – làm điều tốt lành cho những người khác. Sẽ luôn có những cuộc chiến tranh cho đến khi dân số thế giới có thể được kiểm soát theo một cách nào đó khác”.

A great light dawned upon me; I knew how Tibet could be saved! Jumping up excitedly, I exclaimed, “Then Tibet is saved! The Hidden Knowledge will save us from invasion!” My Guide looked upon me with compassion. “No, Lobsang,” he replied sadly, “we do not use the Powers for things like that. Tibet will be persecuted, almost annihilated, but in the years to come she will rise again and become greater, purer. The country will be purified of dross in the furnace of war just as, later, the whole world will be.” He gave me a sideways glance. “There has to be wars, you know, Lobsang!” he said quietly. “If there were no wars the population of the world would become too great. If there were not wars there would be plagues. Wars and sickness regulate the population of the world and provide opportunities for people on the Earth—and on other worlds—to do good to others. There will always be wars until the population of the world can be controlled in some other way.”

Tiếng cồng chiêng báo hiệu buổi lễ tối. Thầy tôi, Lạt ma Minh Gia Đại Đức đứng dậy. “Đi thôi, Lobsang,” Người nói, “chúng ta là khách ở đây và phải thể hiện sự tôn trọng đối với chủ nhà bằng cách tham dự buổi lễ.” Chúng tôi bước ra khỏi phòng và đi vào sân trong. Tiếng cồng chiêng vang lên liên tục – lâu hơn so với ở Chakpori. Chúng tôi thả bộ chậm rãi một cách đáng ngạc nhiên đến Đền thờ. Đang băng khoăn về sự chậm chạp của chúng tôi, nhìn quanh tôi thấy những người đàn ông rất già và ốm yếu, tập tễnh băng qua sân theo chân chúng tôi. Thầy thì thầm với tôi, ” Lobsang, sẽ tế nhị hơn nếu con đi sang bên kia và ngồi với những chú tiểu đó.” Gật đầu, tôi đi vòng qua các bức tường bên trong của Ngôi đền đến chỗ các chú tiểu của Tu viện đang ngồi. Họ nhìn với ánh mắt tò mò khi tôi ngồi xuống bên cạnh họ. Nhanh như cắt, khi các Giám quan không nhìn, họ tiến về phía trước đến khi vây kín tôi.

The gongs were summoning us to the evening service. My Guide the Lama Mingyar Dondup rose to his feet. “Come along, Lobsang,” he said, “we are guests here and must show respect for our hosts by attending the service.” We walked out of the room and went into the courtyard. The gongs were calling insistently—being sounded longer than would have been the case at Chakpori. We made our surprisingly slow way to the Temple. I wondered at our slowness, then as I looked around I saw very aged men, and the infirm, hobbling across the courtyard in our footsteps. My Guide whispered to me, “It would be a courtesy, Lobsang, if you went across and sat with those chelas.” Nodding, I made my way round the inner walls of the Temple until I came to where the chelas of the State Oracle Lamasery were sitting. They eyed me with curiosity as I sat down to one side of them. Almost imperceptibly, when the Proctors were not looking, they edged forward until they surrounded me.

“Cậu đến từ đâu?” Một cậu bé hỏi, có vẻ là trưởng nhóm. “Chakpori,” tôi thì thầm đáp. “Cậu là người được Đấng Tối Cao gửi tới phải không?” một người khác thì thầm. “Vâng,” tôi thì thầm đáp lại, “Tôi đã gặp Nhà tiên tri, ông ấy nói với tôi …” “TRẬT TỰ!” Một giọng nói dữ dội gầm lên ngay sau tôi, “Mấy thằng nhóc này không được làm mất trật tự!” Tôi nhìn thấy người đàn ông hộ pháp bước tới. “Biến đi!” một cậu bé nói, “đừng để ý đến hắn, hắn sủa còn tệ hơn cắn.” Ngay sau đó Nhà tiên tri và một vị Sư trưởng xuất hiện qua một cánh cửa nhỏ ở bên hông, và buổi lễ bắt đầu.

“Where do you come from?” asked one boy, one who seemed to be the leader. “Chakpori,” I replied in a whisper. “You the fellow sent by the Inmost One?” whispered another. “Yes,” I whispered back, “I have been to see the Oracle, he told me___” “SILENCE!” roared a fierce voice just behind me, “Not another sound out of you boys!” I saw the big man move away. “Ga!” said a boy, “don’t take any notice of him, his bark is worse than his bite.” Just then the State Oracle and an Abbot appeared through a small door at the side, and the service commenced.

Sau buổi lễ, chúng tôi lại đi ra ngoài. Cùng với những người khác, tôi vào bếp để lấy đầy túi lúa mạch và trà. Không có cơ hội để nói chuyện; các nhà sư ở mọi cấp bậc đã đứng quanh đó, thảo luận vài phút cuối trước khi nghỉ đêm. Tôi đến căn phòng dành cho mình, cuộn trong chiếc áo choàng và nằm ngủ. Tuy nhiên, giấc ngủ không đến nhanh chóng. Tôi nhìn ra màn đêm màu tím chiếu sáng bởi những ngọn đèn bơ vàng rực. Xa xa là dãy Himalaya vĩnh cửu vươn những ngón tay bằng đá lên trời như thể cầu khẩn các vị thần của Thế giới. Ánh trăng sáng trắng sống động lóe lên qua các khe núi, biến mất và lóe sáng trở lại khi nhô lên cao hơn. Đêm nay trời không có gió, những lá cờ nguyện treo lơ lửng trên cột. Những đám mây lơ lửng trên Thành phố Lhasa. Tôi trở mình và chìm vào giấc ngủ không mộng mị.

Soon we were streaming out into the open again. With the others I went to the kitchen to have my leather barley bag refilled and to get tea. There was no opportunity to talk; monks of all degree were standing about, having a last minute discussion before retiring for the night. I made my way to the room allotted to me, rolled myself in my robe and lay down to sleep. Sleep did not come quickly, though. I gazed out at the purple darkness, pin-pointed by the golden-flamed butter lamps. Far away the eternal Himalayas stretched rock-fingers skywards as if in supplication to the Gods of the World. Vivid white shafts of moonlight flashed through mountain crevices, to disappear and flash again as the moon climbed higher. There was no breeze tonight, the prayer flags hung listlessly from their poles. The merest trace of cloud floated indolently above the City of Lhasa. I turned over, and fell into a dreamless sleep.

Sáng sớm, tôi sợ hãi thức dậy; Tôi đã ngủ quên và sẽ đến muộn buổi lễ cầu nguyện sớm. Bật dậy, tôi vội vàng thu mình vào trong áo choàng và lao ra khỏi cửa. Chạy đua dọc theo hành lang vắng vẻ, tôi lao ra sân – phi thẳng vào vòng tay của một trong những nhà sư cảnh binh người Kham. “Cậu đi đâu?” ông ta thì thầm một cách dứt khoát trong khi giữ tôi trong tay giống như cái kìm sắt. “Đến buổi lễ cầu nguyện sớm,” tôi trả lời, “Chắc tôi đã ngủ quên”. Ông ta cười và thả tôi ra. “Ồ!” ông ta nói “cậu là khách ở đây. Ở đây không có buổi lễ sớm. Về ngủ tiếp đi.” “Không có buổi lễ sớm à?” Tôi kêu lên, “tại sao mọi người đều có buổi lễ cầu nguyện sớm mà!” Nhà sư cảnh binh chắc hẳn đang có tâm trạng tốt, vì ông ấy đã trả lời tôi một cách nhã nhặn, “Ở đây chúng ta có những người già, và một số người ốm yếu, vì lý do đó, chúng ta bỏ qua buổi lễ cầu nguyện sớm. Hãy đi đi, và cứ yên tâm nghỉ ngơi một lát.” Ông ta vỗ nhẹ vào đầu tôi, nhẹ nhàng đối với ông ấy, nhưng như sét đánh đối với tôi, và đẩy tôi trở lại hành lang. Quay ra, ông ta tiếp tục đi lại trên sân, bước chân chậm chạp, với cây gậy nặng nề chọc xuống đất kêu “thịch! thịch!” theo mỗi bước chân của ông. Tôi chạy về dọc theo hành lang và sau vài phút đã ngủ say trở lại.

In the very early hours of the morning I awakened with a start of fright; I had overslept and would be late for the early service. Jumping to my feet, I hastily shrugged into my robe and bolted for the door. Racing down the deserted corridor I dashed out into the courtyard—straight into the arms of one of the Men of Kham. “Where are you going?” he whispered fiercely as he held me in an iron grip. “To early morning service,” I replied, “I must have overslept”. He laughed and released me. “Oh!” he said “you are a visitor. There is no early service here. Go back and sleep again.” “No early service?” I cried, “why everyone has early service!” The monk-policeman must have been in a good mood, for he answered me civilly, “We have old men here, and some who are infirm, for that reason we dispense with the early service. Go, and rest awhile in peace.” He patted me on the head, gently for him, like a thunderclap for me, and pushed me back into the corridor. Turning, he resumed his pacing of the courtyard, his ponderous footsteps going “bonk! bonk!” with the heavy stave going “thunk! thunk!” as the butt thudded into the ground at every other step. I raced back along the corridor and in minutes was sound asleep again.

Sau đó trong ngày, tôi được trình diện với vị Sư trưởng và hai trong số các Lạt ma cấp cao. Họ chăm chú hỏi tôi những câu hỏi về cuộc sống gia đình của tôi, những gì tôi nhớ về tiền kiếp, mối quan hệ của tôi với Thầy mình, Lạt ma Minh Gia Đại Đức. Cuối cùng cả ba loạng choạng đứng dậy và tiến về phía cửa. “Lại đây” người đi cuối cùng nói, ngoắc ngón tay về phía tôi. Ngơ ngác bước đi như một người ngẩn ngơ, tôi ngoan ngoãn đi theo phía sau. Họ đi chậm rãi ra khỏi cửa và lững thững lê bước dọc hành lang. Tôi đi theo, hết sức nhẹ nhàng trong nỗ lực đi thật chậm. Chúng tôi tiếp tục lê bước, qua những căn phòng mở, nơi những nhà sư và các chú tiểu đều tò mò ngước nhìn khi chúng tôi chậm chạp đi qua. Tôi thấy má nóng bừng vì xấu hổ khi ở “đuôi” của đám rước này; Vị Sư trưởng dẫn đầu lê bước với sự hỗ trợ của hai cây gậy. Tiếp đến là hai vị lạt ma già nua và tiều tụy đến nỗi không thể theo kịp với Sư Trưởng. Và tôi, đi sau cùng, rất khó để có thể đi đủ chậm.

Later in the day I was presented to the Abbot and two of the senior lamas. They questioned me intently asking me questions about my home life, what I remembered of past lives, my relationship with my Guide, the Lama Mingyar Dondup. Finally the three rose totteringly to their feet and filed toward the door. “Come” said the last one, crooking a finger in my direction. Dumbfounded, walking as one in a daze, I followed meekly behind. They wended a slow way out of the door and shuffled lethargically along the corridor. I followed, almost tripping over my feet in an effort to go slowly enough. We crawled on, past open rooms where trappas and chelas alike looked up in curiosity at our slow passing. I felt my cheeks burn with embarrassment at being on the “tail” of this procession; at its head, the Abbot shuffling along with the aid of two sticks. Next came two old lamas who were so decrepit and withered that they could scarce keep up with the Abbot. And I, bringing up the rear, could hardly go slowly enough.

Cuối cùng, hoặc nó có vẻ là “lê thê” đối với tôi, chúng tôi đến một ô cửa nhỏ trên bức tường phía xa. Chúng tôi dừng lại trong khi vị Sư trưởng lần mò chìa khóa và lầm bầm trong hơi thở. Một vị Lạt ma bước tới để hỗ trợ ông, và cuối cùng cánh cửa được đẩy ra với tiếng kêu rít của bản lề. Vị Sư trưởng bước vào, theo sau lần lượt hai vị Lạt ma. Không ai nói gì với tôi, vì vậy tôi cũng đi vào. Một vị lạt ma già đẩy đóng cửa sau lưng tôi. Trước mặt tôi là một chiếc bàn khá dài chất đầy những đồ vật cũ kỹ và phủ đầy bụi. Áo choàng cũ, Bánh xe cầu nguyện cổ, bát cũ và các loại chuỗi Hạt cầu nguyện. Rải rác trên bàn là một vài Hộp Bùa và nhiều đồ vật khác mà thoạt nhìn tôi không thể xác định được. “Hmmmn. Mmmmn. Cậu bé lại đây!” Vị Sư trưởng ra lệnh. Tôi miễn cưỡng di chuyển về phía ông và ông nắm lấy cánh tay trái của tôi bằng bàn tay xương xẩu. Tôi cảm thấy như thể đang bị nắm chặt bởi một bộ xương! “Hmmm. Mmmmn. Con trai! Hmmm. Cái nào, nếu có, trong số những đồ vật và vật phẩm này là của con trong tiền kiếp?” Ông dẫn tôi đi dọc theo chiếc bàn, rồi quay sang tôi và nói, “Hmmmn. Mmmmn. Nếu con tin rằng bất kỳ vật nào là của con, Hmmmn, hãy nhặt nó lên và Hmmmn, Mmmmn, mang nó đến cho ta.” Ông ngồi xuống một cách nặng nề và tỏ ra không quan tâm đến các hoạt động của tôi nữa. Hai vị lạt ma ngồi với ông, và không nói một lời nào.

At long last, or it seemed “long last” to me, we reached a small doorway set in a far wall. We stopped while the Abbot fumbled with a key and mumbled beneath his breath. One of the lamas stepped forward to assist him, and eventually a door was pushed open with a squeal of protesting hinges. The Abbot entered, followed by first one lama and then the other. No one said anything to me, so I went in as well. An old lama pushed the door shut behind me. Before me there was a fairly long table laden with old and dust-covered objects. Old robes, ancient Prayer Wheels, old bowls, and assorted strings of Prayer Beads. Scattered on the table were a few Charm Boxes and various other objects which I could not at first glance identify. “Hmmmn. Mmmmn. Come here my boy!” commanded the Abbot. I moved reluctantly toward him and he grasped my left arm with his bony hand. I felt as if in the clutch of a skeleton! “Hmmm. Mmmmn. Boy! Hmmmm. Which, if any, of these objects and articles were in your possession during a past life?” He led me the length of the table, then turned me about and said, “Hmmmn. Mmmmn. If you believe that any article was yours. Hmmmn, pick it or them out and Hmmmn, Mmmmn, bring it or them to me.” He sat down heavily and appeared to take no more interest in my activities. The two lamas sat with him, and no word was uttered.

“Được rồi!” tôi tự nhủ, “nếu ba ông già muốn chơi theo cách này – được thôi, tôi sẽ chơi theo cách của họ!” Tất nhiên, phép đo tâm lý là công việc đơn giản nhất. Tôi đi chậm cùng với lòng bàn tay trái mở rộng phía trên các đồ vật khác nhau. Ở một số vật, tôi cảm thấy ngứa ở giữa lòng bàn tay và hơi rùng mình, hoặc run rẩy dọc theo cánh tay. Tôi chọn một Bánh xe Cầu nguyện, một cái bát cũ nát và một chuỗi hạt. Sau đó, tôi lặp lại hành trình của mình bên cạnh chiếc bàn dài. Chỉ có một vật nữa khiến lòng bàn tay tôi ngứa ngáy và cánh tay tôi ngứa ran; một chiếc áo choàng cũ nát đang trong giai đoạn mục ruỗng sau cùng. Chiếc áo choàng màu nghệ tây của một quan chức cấp cao, màu sắc gần như bị bạc theo năm tháng, chất liệu mục nát và vỡ vụn khi chạm vào. Tôi nhẹ nhàng nhặt nó lên, vừa sợ rằng nó sẽ tan ra giữa đôi tay thận trọng của mình. Tôi cẩn thận mang nó đến cho vị Sư trưởng già, đặt nó dưới chân ông ấy, và quay trở lại để lấy Bánh xe Cầu nguyện, chiếc bát bị móp méo, và chuỗi hạt. Không nói một lời nào, Sư trưởng và hai Lạt ma xem xét các đồ vật và so sánh một số dấu hiệu, hoặc những ký hiệu bí mật, với những ký hiệu trong một cuốn sách đen cũ mà Sư trưởng đã ghi chép. Họ ngồi đối mặt với nhau một lúc, đầu gật gù trên những chiếc cổ khô ngẳng, những bộ não cổ xưa gần như vỡ ra khi cố gắng suy nghĩ.

“Well!” I thought to myself, “if the three old men want to play it this way—all right, I will play it their way!” Psychometry is, of course, the simplest thing of all to do. I walked slowly along with my left hand extended palm down over the various articles. At certain objects I experienced a form of itch in the centre of the palm, and a slight shiver, or tremor, thrilled along my arm. I picked out a Prayer Wheel, an old battered bowl, and a string of beads. Then I repeated my journey by the side of the long table. Only one more article caused my palm to itch and my arm to tingle; an old tattered robe in the last stages of decay. The saffron robe of a high official, the colour almost bleached out by age, the material rotten and powdery to the touch. Gingerly I picked it up, half afraid that it would disintegrate between my cautious hands. Carefully I carried it to the old Abbot, deposited it at his feet, and returned for the Prayer Wheel, the battered bowl, and the string of beads. Without a word the Abbot and the two lamas examined the articles and compared certain signs, or secret markings, with those in an old black book which the Abbot produced. For a time they sat facing each other, heads a-nod on withered necks, ancient brains almost creaking with the effort to think.

“Harrumph! Arrrf! ” Vị Sư trưởng lầm bầm, thở khò khè như một con yak làm việc quá sức. “Mmmmmnnn. Đúng là ông ấy. Hmmmn. Một kết quả đặc biệt. Mmmmn. Hãy đến với Thầy của con, Lạt ma Minh Gia Đại Đức, cậu bé của ta và Hmmmn, nói với ông ấy rằng chúng ta rất vinh dự bởi sự hiện diện của ông ấy. Con trai ta, con không cần quay lại đây nữa. Harrumph! Arrrf!” Tôi quay người và chạy ra khỏi phòng, vui mừng vì được giải thoát khỏi những xác sống này, những người mà sự lạnh lùng khô khan của họ khác xa với lòng nhân ái ấm áp của Lạt ma Minh Gia Đại Đức. Đang chạy gấp ở góc hành lang, tôi đứng sững lại cách Thầy mình vài mét. Người cười nhạo tôi và nói, “Ồ! Đừng giật mình như thế, ta cũng vừa nhận được tin nhắn.” Vỗ nhẹ lưng tôi một cái thân thiện, Người bước nhanh về phía căn phòng nơi Sư trưởng và hai vị lạt ma già đang ở trong đó. Tôi lững thững bước ra sân và vô tư lấy chân hất một vài viên đá.

“Harrumph! Arrrf!” mumbled the Abbot, wheezing like an over-worked yak. “Mmmmmnnn. It is indeed he. Hmmmn. A remarkable performance. Mmmmn. Go to your Guide, the Lama Mingyar Dondup, my boy and Hmmmn, tell him that we should be honoured by his presence. You my boy, need not return. Harrumph! Arrrf!” I turned and raced from the room, glad to be free from these living mummies whose desiccated remoteness was so far removed from the warm humanity of the Lama Mingyar Dondup. Scurrying round a corner I came to a full stop inches from my Guide. He laughed at me and said, “Oh! Don’t look so startled, I received the message also.” Giving me a friendly pat on the back he hastened on toward the room containing the Abbot and the two old lamas. I wandered out into the courtyard and idly kicked a stone or two.

“Cậu là người được nhận ra là Hóa thân phải không?” một giọng nói cất lên đằng sau. Tôi quay lại và thấy một chú tiểu đang chăm chú nhìn mình. “Tôi không biết họ đang làm gì,” tôi trả lời. “Tất cả những gì tôi biết là bị kéo đi khắp các hành lang để có thể chọn ra một số đồ cũ của mình. Ai cũng có thể làm được điều đó mà! ” Cậu bé cười hiền hậu, “Những người của tu viện Chakpori như cậu biết đâu là vật dụng của mình,” cậu ta nói, “bằng không cậu đã chẳng được ở trong Tu viện đó. Tôi nghe nói cậu là một người cấp cao trong tiền kiếp. Chắc hẳn vì thế mà chính Nhà tiên tri đã dành hẳn nửa ngày cho cậu.” Cậu ta nhún vai với vẻ kinh sợ chế giễu và nhận xét, “Tốt hơn là cậu nên cẩn thận. Trước khi cậu biết điều gì đang xảy ra, họ sẽ nhận ra cậu và phong cậu làm Sư trưởng. Thế rồi cậu sẽ không thể chơi với những người khác ở Chakpori nữa.”

“You the fellow whose Incarnation is being Recognised?” asked a voice behind me. I turned to see a chela regarding me intently. “I don’t know what they are doing,” I replied. “All I know is that I have been dragged round the corridors so that I could pick out some of my old things. Anyone could do that!” The boy laughed good-naturedly, “You Chakpori men know your stuff,” he said, “or you would not be in that Lamasery. I heard it said that you were someone big in a past life. You must have been for the Oracle Himself to devote half a day to you.” He shrugged his shoulders in mock horror and remarked, “You’d better look out. Before you know what is happening they will have Recognised you and made you an Abbot. Then you won’t be able to play with the other men at Chakpori any longer.”

Từ một cánh cửa ở cuối sân xuất hiện hình dáng Thầy tôi. Người nhanh chóng sải bước về phía chúng tôi. Chú tiểu mà tôi đang nói chuyện cúi đầu chào khiêm tốn. Lạt ma mỉm cười với cậu ta và nói một cách ân cần – như mọi khi. ” Lobsang, chúng ta phải lên đường thôi!” Lạt ma Minh Gia Đại Đức nói với tôi, “trời sắp tối rồi, và chúng ta không muốn đi trong đêm.” Chúng tôi cùng nhau đi bộ đến chuồng ngựa nơi một nhà sư trông nom đang đợi cùng với những con ngựa của chúng tôi. Miễn cưỡng tôi lên ngựa và đi theo Thầy đến con đường xuyên qua hàng liễu. Chúng tôi đi trong im lặng; Tôi không bao giờ có thể trò chuyện một cách thông minh trên lưng ngựa vì toàn bộ năng lượng của tôi phải dồn vào cho việc duy trì ngồi cho vững. Tôi thực sự ngạc nhiên, chúng tôi không dừng lại ở Chakpori, mà tiếp tục đi đến Potala. Những con ngựa từ từ leo lên bậc thang. Bên dưới chúng tôi, Thung lũng mờ dần trong đêm. Tôi vui mừng xuống ngựa và nhanh chóng đi vào Potala, bây giờ đã trở nên quen thuộc, để tìm thức ăn.

From a door at the far end of the courtyard appeared the form of my Guide. Rapidly he strode toward us. The chela with whom I had been talking bowed low in humble salutation. The Lama smiled upon him and spoke kindly—as always. “We must be on our way, Lobsang!” said the Lama Mingyar Dondup to me, “soon night will be upon us, and we do not want to ride through the darkness.” Together we walked to the stables where a monk-groom was waiting with our horses. Reluctantly I mounted and followed my Guide on to the path through the willow trees. We jogged along in silence; I could never converse intelligently on horse-back as the whole of my energies was devoted to staying on. To my astonishment we did not turn off at Chakpori, but wended our way on to the Potala. Slowly the horses climbed the Road of Steps. Beneath us the Valley was already fading into the shadows of the night. Gladly I dismounted and hurried into the now-familiar Potala in search of food.

Thầy đợi tôi khi về phòng sau bữa ăn tối. “Vào đây với Thầy, Lobsang,” Ngài gọi. Tôi đi vào và ngồi xuống chỗ Người đã xếp cho  tôi. “Tốt lắm!” Người nói, “Ta hy vọng con đang tự hỏi tất cả những điều này là gì.” “Ồ! Con mong đợi được công nhận là một Hóa thân!” Tôi trả lời quấy quá. “Con và một người nữa đang nói về chuyện đó ở Tu viện của Nhà tiên tri khi Thầy gọi con đi!” “Điều đó rất tốt cho con,” Lạt ma Minh Gia Đại Đức nói. “Bây giờ chúng ta phải dành chút thời gian để thảo luận về một số thứ. Con không cần phải tham dự buổi lễ tối nay. Hãy ngồi thoải mái hơn và lắng nghe, và đừng ngắt lời ta.”

My Guide was waiting for me when I went to my room after supper. “Come in with me, Lobsang,” he called. I went in and at his bidding seated myself. “Well!” he said, “I expect you are wondering what it is all about.” “Oh! I expect to be Recognised as an Incarnation!” I replied airily. “One of the men and I were discussing it at the State Oracle Lamasery when you called me away!” “Well that is very nice for you,” said the Lama Mingyar Dondup. “Now we have to take some time and discuss things. You need not attend service tonight. Sit more comfortably and listen, and do not keep interrupting.”

“Hầu hết mọi người đến thế giới này để học hỏi mọi thứ,” Thầy bắt đầu nói. “Vài người đến để hỗ trợ người khác nếu cần hoặc hoàn thành một số nhiệm vụ đặc biệt, vô cùng quan trọng.” Người nhìn chằm chằm vào tôi để chắc chắn rằng tôi đang theo dõi, rồi tiếp tục, “Nhiều tôn giáo thuyết giảng về Địa ngục, là nơi trừng phạt hoặc đền tội của ai đó phạm lỗi. Nhưng Địa ngục chính là ở đây, trên thế gian này. Còn cuộc sống thực của chúng ta là ở Thế giới bên kia. Ở đây chúng ta đến để học hỏi, để trả giá cho những sai lầm đã gây ra trong kiếp trước hoặc – như ta đã nói – để cố gắng hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng nào đó. Con ở đây để thực hiện một nhiệm vụ liên quan đến hào quang của con người. ‘Công cụ’ của con sẽ là nhận thức tâm linh đặc biệt nhạy bén, là khả năng nhìn thấy hào quang của con người được tăng cường đáng kể và là tất cả kiến ​​thức mà chúng ta có thể cung cấp cho con về tất cả các nghệ thuật huyền bí. Đức Thái Tuế đã ra lệnh sử dụng mọi phương tiện có thể để tăng cường khả năng và tài năng của con. Giảng dạy trực tiếp, kinh nghiệm thực tế, thuật thôi miên, chúng ta sẽ sử dụng tất cả những phương pháp đó để con có thể tiếp thu được nhiều kiến ​​thức nhất trong thời gian ngắn nhất. ”

“Most people come to this world in order to learn things,” commenced my Guide. “Others come in order that they may assist those in need, or to complete some special, highly important task.” He looked sharply at me to make sure that I was following, then continued, “Many religions preach about a Hell, the place of punishment, or expiation for one’s sins. Hell is here, on this world. Our real life is on the other World. Here we come to learn, to pay for mistakes made in previous lives or—as I said—to attempt the accomplishment of some highly important task. You are here to do a task in connection with the human aura. Your ‘tools’ will be an exceptionally sensitive psychic perception, a greatly intensified ability to see the human aura, and all the knowledge that we can give you concerning all the occult arts. The Inmost One has decreed that every possible means be used to increase your abilities and talents. Direct teaching, actual experiences, hypnotism, we are going to use them all in order that we may get the most knowledge into you in the shortest time.”

“Địa ngục là đây, đúng vậy!” Tôi rầu rĩ kêu lên. Vị Lạt ma cười trước biểu cảm của tôi. “Nhưng Địa ngục này chỉ đơn thuần là bước đệm cho một cuộc sống tốt đẹp hơn,” Người đáp. “Ở đây chúng ta có thể tránh khỏi một số lỗi cơ bản. Ở đây, trong vài năm cuộc sống trên Trái đất, chúng ta đã mắc phải những sai lầm nó có thể đã ảnh hưởng đến chúng ta ở Thế giới khác trong khoảng thời gian dài vô tận. Toàn bộ cuộc sống của thế giới này chỉ là một chớp mắt của Thế giới khác.

Hầu hết mọi người ở phương Tây,” Người nói tiếp, “nghĩ rằng khi một người ‘chết’, anh ta sẽ ngồi trên đám mây và chơi đàn hạc. Những người khác nghĩ rằng khi một người rời khỏi thế giới này để đến với thế giới tiếp theo, họ tồn tại trong một trạng thái hư vô thần bí và thích cuộc sống đó”. Người cười và tiếp tục, “Giá như chúng ta có thể khiến họ nhận ra rằng cuộc sống sau khi chết là có thật hơn bất cứ thứ gì trên Trái đất! Mọi thứ trên thế giới này bao gồm những rung động; rung động của toàn thế giới — và mọi thứ bên trong thế giới — có thể được ví như quãng tám trên thang âm nhạc. Khi chúng ta đi đến phía bên kia của cái chết là đang lên thêm một ‘quãng tám’.”

Người dừng lại, nắm lấy tay tôi và gõ các khớp ngón tay của tôi trên sàn. “Đó, Lobsang,” Người nói, “đó là đá, những rung động mà chúng ta gọi là đá.” Một lần nữa Người nắm lấy tay tôi và xoa những ngón tay vào áo choàng của tôi. “Đó,” Người thốt lên, “đó là những rung động chỉ ra đây là len. Nếu chúng ta di chuyển mọi thứ lên theo thang độ rung động, chúng ta vẫn duy trì mức độ cứng và mềm tương ứng. Vì vậy, trong Đời sống sau khi chết, Đời sống thực, chúng ta có thể sở hữu những thứ như chúng ta có trên thế giới này. Con có hiểu rõ không?” Người hỏi.

“Hell it is, all right!” I exclaimed gloomily. The Lama laughed at my expression. “But this Hell is merely the stepping stone to a far better life,” he replied. “Here we are able to get rid of some of the baser faults. Here, in a few years of Earth life, we shed faults which may have plagued us in the Other World for countless spans of time. The whole life of this world is but the twinkling of an eye to that of the Other World. Most people in the West,” he went on, “think that when one ‘dies’ one sits on a cloud and plays a harp. Others think that when one leaves this world for the next one they exist in a mystical state of nothingness and like it.” He laughed and continued, “If we could only get them to realise that the life after death is more real than anything on Earth! Everything on this world consists of vibrations; the whole world’s vibrations—and everything within the world—may be likened to an octave on a musical scale. When we pass to the Other Side of Death the ‘octave’ is raised further up the scale.” My Guide stopped, seized my hand and rapped my knuckles on the floor. “That, Lobsang,” he said, “is stone, the vibrations which we term stone.” Again he took my hand and rubbed my fingers on my robe. “That,” he exclaimed, “is the vibration which indicates wool. If we move everything up the scale of vibrations we still maintain the relative degrees of hardness and softness. So, in the Life after Death, the real Life, we can possess things just as we do on this world. Do you follow that clearly?” he asked.

Tất nhiên là tôi hiểu rõ, tôi đã biết những điều như vậy từ rất lâu rồi. Vị Lạt ma đã đọc được suy nghĩ của tôi. “Đúng vậy, ta biết rằng tất cả những điều này là kiến ​​thức phổ thông ở đây, nhưng nếu chúng ta nói ra những ‘suy nghĩ không thành lời’ này, chúng ta sẽ làm cho nó rõ ràng hơn trong tâm trí của con. Sau đó,” Người nói, “con sẽ có hành trình đến các vùng đất của thế giới phương Tây. Ở đó con sẽ gặp nhiều khó khăn từ các tôn giáo phương Tây”. Người cười nhạt và nhận xét: “Những người theo đạo Thiên chúa gọi chúng ta là những kẻ ngoại đạo. Trong Kinh thánh của họ có viết rằng ‘Đấng Christ đã lang thang đến các vùng hoang vắng.’ Trong những tài liệu ghi chép lại cho biết rằng Đấng Christ đã đi qua Ấn độ, nghiên cứu Ấn độ giáo, và sau đó Ngài đến Lhasa và nghiên cứu tại Jo Kang dưới sự chỉ dẫn của các tu sĩ lỗi lạc thời đó. Đấng Christ đã hình thành nên một tôn giáo tốt, nhưng Cơ đốc giáo được thực hành ngày nay không phải là tôn giáo mà Đấng Christ đã lập ra.”

Thầy nhìn tôi có phần nghiêm khắc và nói, “Ta biết chủ đề này làm con thấy chán và nghĩ rằng ta đang nói vì tác dụng của lời nói, nhưng ta đã đi khắp thế giới phương Tây và ta có nhiệm vụ cảnh báo con về những gì con sẽ trải qua. Cách tốt nhất mà ta có thể làm là nói cho con biết về tôn giáo của họ, vì ta biết con có một trí nhớ tuyệt vời.” Tôi đỏ mặt bởi đã nghĩ “thầy nói nhiều quá!”

Obviously it was clear, I had known things like that for a very long time. The Lama broke into my thoughts. “Yes, I am aware that all this is common knowledge here, but if we vocalize these ‘unspoken thoughts’ we shall make it clearer in your mind. Later,” he said, “you will journey to the lands of the Western world. There you will meet many difficulties through Western religions.” He smiled somewhat wryly and remarked, “The Christians call us heathens. In their Bible it is written that ‘Christ wandered in the wilderness.’ In our records it is revealed that Christ wandered throughout India, studying Indian religions, and then He came to Lhasa and studied at the Jo Kang under our foremost priests of that time. Christ formulated a good religion, but the Christianity practiced today is not the religion that Christ produced.” My Guide looked at me somewhat severely and said, “I know you are a little bored by this, thinking I am talking for the sake of words, but I have traveled throughout the Western world and I have a duty to warn you of what you will experience. I can do that best by telling you of their religions, for I know you have an eidetic memory.” I had the grace to blush; I had been thinking “too many words!”

Ngoài hành lang, các nhà sư đang lặng lẽ đi về hướng Đền thờ để dự buổi lễ tối. Trên mái nhà, những người thổi kèn hướng ra Thung lũng và những nốt nhạc cuối cùng của ngày tàn vang rền. Ở đây, trước mặt tôi, Thầy tôi, Lạt ma Minh Gia Đại Đức tiếp tục câu chuyện của mình. “Có hai tôn giáo cơ bản ở phương Tây nhưng phân chia thành vô số nhánh. Tôn giáo của người Do Thái lâu đời và khoan dung. Con sẽ không gặp rắc rối, khó khăn nào do người Do Thái gây ra. Trong nhiều thế kỷ, họ đã bị bức hại, và họ rất thông cảm, thấu hiểu cho những người khác. Nhưng người theo đạo Thiên Chúa không khoan dung như vậy, trừ vào các ngày Chủ nhật. Ta sẽ không nói bất cứ điều gì về niềm tin cá nhân, con sẽ đọc họ, mà ta sẽ nói về cách các tôn giáo bắt đầu.”

Outside in the corridors monks were shush-shushing along toward the Temple to the evening service. On the roof above trumpeters looked out across the Valley and sounded the last notes of the dying day. Here, in front of me my Guide the Lama Mingyar Dondup continued his talk. “There are two basic religions in the West but innumerable subdivisions. The Jewish religion is old and tolerant. You will have no trouble, no difficulties caused by Jews. For centuries they have been persecuted, and they have great sympathy and understanding for others. The Christians are not so tolerant, except on Sundays. I am not going to say anything about individual beliefs, you will read of them, but I am going to say how religions started.

“Thủa sơ khai của sự sống trên Trái đất,” vị Lạt Ma nói, “đầu tiên, con người sống thành những nhóm nhỏ, những bộ lạc rất nhỏ. Không có luật lệ, không có quy tắc ứng xử. Chỉ có luật duy nhất là sức mạnh; bộ tộc mạnh hơn và hung ác hơn gây chiến với những kẻ yếu hơn. Theo thời gian, một người đàn ông mạnh mẽ và khôn ngoan hơn đã xuất hiện. Ông nhận ra rằng bộ tộc của ông sẽ mạnh nhất nếu nó có tổ chức. Ông đã thành lập một tôn giáo với quy tắc ứng xử. “Hãy sinh sôi nảy nở”, ông ra lệnh, biết rằng càng sinh nhiều con thì bộ tộc của ông càng lớn mạnh. Ông đã ra lệnh ‘Hãy hiếu kính cha mẹ’, biết rằng nếu ông ta trao quyền cho cha mẹ đối với con cái của họ, ông ta sẽ có quyền đối với các bậc cha mẹ. Cũng biết rằng nếu ông ta có thể thuyết phục trẻ em cảm thấy mắc nợ cha mẹ chúng, kỷ luật sẽ dễ dàng thực thi hơn. Lời sấm truyền của Tiên tri thời bấy giờ là ‘Cấm không được ngoại tình’. Mệnh lệnh thực sự của ông là người trong bộ lạc không được ‘pha trộn’ huyết thống với thành viên của bộ lạc khác, vì trong những trường hợp như vậy, lòng trung thành sẽ bị chia rẽ. Theo thời gian, các tu sĩ nhận thấy rằng có một số người không phải lúc nào cũng tuân theo giáo lý tôn giáo. Sau khi suy nghĩ rất lâu, thảo luận rất nhiều, những tu sĩ đó đã vạch ra một chế độ thưởng phạt. “Thiên đường”, “Miền cực lạc”, hay “Cõi vĩnh hằng”, – thuật ngữ tùy con gọi – dành cho những người tuân theo các tu sĩ. Lửa địa ngục và sự trừng phạt với những đòn tra tấn muôn đời dành cho những ai không vâng lời.”

“In the early days of life upon Earth,” said the Lama, “people were first in little groups, very small tribes. There were no laws, no code of behavior. Strength was the only law; a stronger and fiercer tribe made war upon those weaker. In course of time a stronger and wiser man arose. He realised that his tribe would be the strongest if it were organised. He founded a religion and a code of behavior. ‘Be fruitful and multiply,’ he commanded, knowing that the more babies were born the stronger would his tribe grow. ‘Honour thy father and thy mother’ he ordered, knowing that if he gave parents authority over their children he would have authority over the parents. Knowing too that if he could persuade children to feel indebted to their parents, discipline would be easier to enforce. ‘Thou shalt not commit adultery’ thundered the Prophet of that time. His real command was that the tribe should not be ‘adulterated’ with the blood of a member of another tribe, for in such cases there are divided loyalties. In course of time the priests found that there were some who did not always obey religious teachings. After much thought, much discussion, those priests worked out a scheme of reward and punishment. ‘Heaven’, ‘Paradise’, ‘Valhalla’,—term it what you will—for those who obeyed the priests. Hell fire and damnation with everlasting tortures for those who disobeyed.”

“Vậy Thầy có phản đối các tôn giáo có tổ chức ở phương Tây không, thưa Thẩy?” Tôi hỏi. “Không, chắc chắn là không,” Người trả lời, “nhiều người cảm thấy lạc lõng trừ khi họ có thể cảm nhận hoặc hình dung ra một Người Cha toàn năng đang nhìn xuống họ, với một Thiên thần sẵn sàng ghi nhận mọi việc làm tốt cũng như xấu! Chúng ta là Thượng đế đối với những sinh vật cực nhỏ trong cơ thể chúng ta, và những sinh vật thậm chí còn nhỏ hơn sống trong các phân tử! Về cầu nguyện, Lobsang, con có thường lắng nghe lời cầu nguyện của những sinh vật tồn tại trong các phân tử của con không?” “Nhưng Thầy đã nói rằng lời cầu nguyện luôn có tác dụng mà,” tôi vô cùng ngạc nhiên đáp lời. “Đúng vậy, Lobsang, lời cầu nguyện sẽ rất hiệu quả nếu chúng ta cầu nguyện với Chân ngã của chính mình, với phần chân thực của chúng ta trong một thế giới khác, phần điều khiển ‘dây buộc con rối’ của chúng ta. Việc cầu nguyện rất hữu hiệu nếu chúng ta tuân theo các quy tắc tự nhiên, đơn giản như bản thân nó vậy.”

“Then you are opposed to the organised religions of the West, Sir?” I asked. “No, most certainly not,” replied my Guide, “there are many who feel lost unless they can feel or imagine an all-seeing Father peering down at them, with a Recording Angel ready to note any good deeds as well as bad! We are God to the microscopic creatures who inhabit our bodies, and the even smaller creatures that inhabit his molecules! As for prayer, Lobsang, do you often listen to the prayers of the creatures existing on your molecules?” “But you said that prayer was effective,” I responded with some astonishment. “Yes, Lobsang, prayer is very effective if we pray to our own Overself, to the real part of us in another world, the part which controls our ‘puppet strings’. Prayer is very effective if we obey the simple, natural rules which make it so.”

Người mỉm cười với tôi khi nói, “Con người chỉ là một đốm sáng nhỏ trong một thế giới đầy rắc rối. Con người chỉ cảm thấy an toàn trong một hình thái nào đó của ‘vòng tay Mẹ.’ Đối với những người phương Tây, không được huấn luyện về nghệ thuật chết, ý nghĩ cuối cùng, tiếng gọi cuối cùng, là ‘Mẹ!’ Một người thiếu tự tin cố gắng tỏ ra tự tin sẽ hút xì gà hoặc thuốc lá giống như một đứa trẻ sẽ ngậm núm vú giả. Các nhà tâm lý học đồng ý rằng thói quen hút thuốc chỉ đơn thuần là sự quay trở lại những đặc điểm của thời thơ ấu, khi một đứa trẻ nhận được sự nuôi dưỡng và tin cậy từ người mẹ. Tôn giáo là chỗ dựa. Kiến thức về sự thật của sự sống – và cái chết – thậm chí còn an ủi nhiều hơn. Chúng ta giống như nước khi ở trên Trái đất, như hơi nước khi vượt qua trạng thái ‘chết’ và lại ngưng tụ thành nước khi tái sinh đến thế giới này một lần nữa ”.

He smiled at me as he said, “Man is a mere speck in a troubled world. Man is only comfortable when feeling safe in some form of ‘Mother’s embrace.’ For those in the West, untrained in the art of dying, the last thought, the last cry, is ‘Mother!’ A man who is unsure of himself while trying to give an appearance of confidence will suck a cigar or cigarette just as a baby will suck a dummy. Psychologists agree that the smoking habit is merely a reversion to the traits of early childhood where a baby drew nourishment and confidence from his mother. Religion is a comforter. Knowledge of the truth of life—and death—is of even greater comfort. We are like water when on Earth, like steam when we pass over in ‘death’ and we condense again to water when we are reborn to this world once more.”

“Thưa Thầy!” Tôi thốt lên, “Thầy có nghĩ rằng con cái không cần phải hiếu kính cha mẹ của chúng không?” Thầy nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên; “Ôi trời, Lobsang, tất nhiên con cái phải tỏ lòng hiếu kính với cha mẹ — miễn là cha mẹ xứng đáng. Tuy nhiên, những bậc cha mẹ quá lấn át không được phép làm hỏng con cái của họ, mặc dù vậy, và một ‘đứa trẻ’ trưởng thành chắc chắn có trách nhiệm trước tiên với vợ hoặc chồng của mình. Cha mẹ không được phép áp chế và sai khiến con cái đã trưởng thành của họ. Cho phép cha mẹ hành động như vậy là làm hại cha mẹ cũng như chính mình; nó tạo thành một món nợ mà cha mẹ phải trả trong một kiếp sống khác.” Tôi nghĩ đến bố mẹ mình. Người cha cứng rắn và khắc nghiệt của tôi, một người cha chưa bao giờ là ‘cha’ đối với tôi. Mẹ tôi là người có khuynh hướng về đời sống xã hội. Rồi tôi nghĩ đến Lạt ma Minh Gia Đại Đức, người còn hơn cả một người mẹ và người cha đối với tôi, người duy nhất đã luôn thể hiện sự tử tế và tình yêu thương với tôi.

“Sir!” I exclaimed, “do you think that children should not honour their parents?” My Guide looked at me in some surprise; “Good gracious, Lobsang, of course children should pay respect to their parents—so long as the parents merit it. Over-dominant parents should not be permitted to ruin their children, though, and an adult ‘child’ certainly has first responsibility to his or her wife or husband. Parents should not be permitted to tyrannise and dictate to their adult offspring. To allow parents to act thus is to harm the parents as well as oneself; it makes a debt which the parents must pay in some other life.” I thought of my parents. My stern and harsh father, a father who had never been a ‘father’ to me. My mother whose main thought was of the social life. Then I thought of the Lama Mingyar Dondup who was more than a mother and father to me, the only person who had shown me kindness and love at all times.

Một nhà sư đưa tin vội vàng bước vào và cúi gập người chào. “Thưa Ngài Minh Gia tôn kính,” anh ta nói một cách kính trọng, “Tôi được lệnh chuyển tới ngài sự kính trọng và lời chào của Đấng Thái Tuế và yêu cầu Ngài vui lòng đến gặp Người. Tôi có thể dẫn Ngài đến với Đấng Thái Tuế không, thưa Ngài?” Thầy đứng dậy và đi cùng với sứ giả.

A monk-messenger hastened in and bowed deeply. ”Honourable Lord Mingyar,” he said respectfully, “I am commanded to convey to you the respects and salutations of the Inmost One and to ask you to be good enough to go to Him. May I lead you to Him, Sir?” My Guide rose to his feet and accompanied the messenger.

Tôi bước ra ngoài và leo lên mái nhà của Potala. Cao hơn một chút, Lạt Ma Y Viện Chakpori khuất bóng trong đêm. Bên cạnh tôi, một lá cờ nguyện bay nhè nhẹ trên cột. Đứng bên cạnh cửa sổ, tôi thấy một nhà sư già đang bận rộn xoay Bánh xe Cầu nguyện của mình, tiếng ‘lách cách’ của nó vang lên trong sự tĩnh lặng của màn đêm. Những ngôi sao trải dài trên bầu trời trong đám diễu hành vô tận, và tôi tự hỏi, liệu chúng ta có giống với một sinh vật khác, ở đâu đó không?

I walked out and climbed to the roof of the Potala. Slightly higher, the Medical Lamasery of Chakpori loomed out of the night. By my side a Prayer Flag flapped weakly against its mast. Standing in a nearby window I saw an old monk busily twirling his Prayer Wheel, its ‘clack-clack’ a loud sound in the silence of the night. The stars stretched overhead in endless procession, and I wondered, did we look like that to some other creature, somewhere?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ba kiếp sống (2)

 



Chương II – Hang Động Người Xưa – Lobsang Rampa

Ngôi đền lớn dường như là một sinh vật sống. Từ vị trí thuận lợi cao trên mái nhà, tôi có thể nhìn xuống và thấy toàn bộ phạm vi rộng lớn của nơi này. Sáng sớm hôm nay Thầy của tôi, Lạt ma Minh Gia Đại Đức, và tôi đã đến đây vì một nhiệm vụ đặc biệt. Bây giờ, Ngài đang ở trong phòng riêng với một vị chức sắc cao cấp, còn tôi, được tự do đi lang thang, đã tìm thấy trạm quan sát hợp với mình giữa những thanh xà đồ sộ dùng để chống trần nhà. Khi đang đi vẩn vơ trên mái nhà, tôi phát hiện ra một cánh cửa và liều lĩnh đẩy nó mở ra. Không có tiếng la hét nào phát ra, tôi lén lút nhìn trộm vào bên trong. Nơi này trống rỗng, vì vậy tôi bước vào và thấy mình đang ở trong một căn phòng nhỏ bằng đá, giống như một căn xà lim được khoét vào bức tường đá của Ngôi Đền. Đằng sau là cánh cửa gỗ nhỏ, những bức tường đá ở hai bên và trước mặt tôi là một gờ đá có lẽ cao ba feet.

The great Temple seemed to be a living thing. From my vantage point, high in the roof, I could look down and see the whole vast extent of the place. Earlier in the day my Guide, the Lama Minh Gia Dondup, and I had journeyed to this place on a special mission. Now the Lama was closeted with a high dignitary, and I—free to wander—had found this priestly observation post amid the mighty rafters which supported the roof. Prowling about on the walkway of the roof, I had discovered the door and daringly pushed it open. No loud shout of wrath greeting the action, I peeped inside. The place was empty, so I entered and found myself in a small stone room, like a cell built into the stone of the Temple wall. Behind me was the small wooden door, stone walls on either side, and before me a stone ledge perhaps three feet high.

Tôi lặng lẽ tiến về phía trước và quỳ xuống để chỉ có đầu tôi ở trên gờ đá. Tôi có cảm giác giống như một vị Thần trên thiên đàng đang nhìn xuống những người phàm trần, nhìn xuống sàn nhà tối tăm mờ ảo của Ngôi Đền, rất sâu bên dưới. Bên ngoài Ngôi Đền, hoàng hôn tím đang nhường chỗ cho bóng tối. Những tia sáng cuối cùng của Mặt trời đang lặn mờ dần sau những đỉnh núi phủ đầy tuyết, gửi những tia sáng ánh kim xuyên qua ngọn tuyết vĩnh cửu từ những rặng núi cao.

Silently I moved forward and knelt so that only my head was above the stone ledge. I felt like a God in the Heavens peering down on the lowly mortals, peering down on the dim obscurity of the Temple floor so many many feet below. Outside the Temple the purple dusk was giving way to darkness. The last rays of the sinking Sun would be fading behind the snow covered peaks sending iridescent showers of light through the perpetual spume of snow flying from the very highest ranges.

Bóng tối của Đền thờ tan đi bởi hàng trăm ngọn đèn bơ nhấp nháy được thắp lên ở nhiều nơi. Những chiếc đèn tỏa sáng như những chấm vàng, nhưng vẫn lan tỏa ánh sáng ra xung quanh, trông như thể những ngôi sao ở dưới chân thay vì ở trên đầu tôi. Những cái bóng kỳ lạ âm thầm bắc qua những cây cột đồ sộ; những cái bóng lúc thì mỏng và thon dài, lúc thì ngắn và mập, nhưng luôn méo mó và kỳ quái với ánh sáng đan chéo làm mọi thứ dường như bí hiểm, và lạ thường không thể tả.

The darkness of the Temple was relieved, and in places intensified, by hundreds of flickering butter lamps. Lamps which shone as golden points of light, yet still diffused a radiance around. It looked as if the stars were at my feet instead of over my head. Weird shadows stole silently across mighty pillars; shadows now thin and elongated, now short and squat, but always grotesque and bizarre with the cross lighting making the usual seem unearthly, and the unusual strange beyond description.

Tôi chằm chằm nhìn xuống, cảm giác như ở một nửa thế giới khác, không chắc chắn về những gì tôi đang thấy và những gì tôi đang tưởng tượng. Giữa tôi và sàn của Ngôi Đền là những đám khói hương trầm màu xanh bốc lên tầng tầng lớp lớp, trôi lững lờ khiến tôi có cảm giác rõ hơn về góc độ quan sát của một vị thần đang nhìn xuống dưới xuyên qua những đám mây trên Trái đất. Những đám khói hương trầm dâng lên nhẹ nhàng từ những chiếc Lư hương đung đưa theo bước chân của những chú tiểu trẻ sùng đạo. Họ đi từng bước lên rồi xuống, bước chân không tiếng động với khuôn mặt bất động. Khi họ quay đi và quay lại, một triệu điểm ánh sáng phản chiếu từ các Lư hương bằng vàng và phát ra những tia sáng chói lóa. Từ vị trí thuận lợi, tôi có thể nhìn xuống và thấy những nén nhang đỏ rực, trong làn gió, đôi lúc nó gần như bùng cháy thành ngọn lửa và tỏa ra những tia lửa đỏ, những tia sáng tàn đi nhanh chóng. Được sinh ra trong không khí trong lành, khói nhang bốc lên thành những cột khói màu xanh dày đặc, tạo thành những vệt dài phía trên và đằng sau các chú tiểu. Lên cao hơn, khói hình thành những đám mây khác trong Ngôi Đền. Luồng khói cuồn cuộn và xoắn xuýt bên trên những luồng không khí nhẹ hình thành khi các nhà sư đang di chuyển, nó dường như là một thực thể sống động, giống như một sinh vật, mờ ảo, đang thở và trở mình trong giấc ngủ. Trong một lúc, tôi nhìn chằm chằm, gần như bị thôi miên với ý nghĩ kỳ quặc rằng mình đang ở trong một cơ thể sống, quan sát sự chuyển động và lắc lư của các bộ phận trong nó, lắng nghe âm thanh cơ thể, Sự sống của chính nó.

I peered, staring down, feeling as if in a half-world, uncertain of what I was seeing and what I was imagining. Between me and the floor floated clouds of blue incense smoke rising in layer after layer, reminding me even more of a viewpoint of a God looking down through the clouds of the Earth. Gently rising clouds of incense swirled thickly from the Censers swung by young and devout chelas. Up and down they paced, silent of foot and immobile of face. As they turned and turned again, a million points of light reflected from the golden Censers and sent forth dazzling beams of light. From my vantage I could look down and see the red-glowing incense as, fanned by the breeze, it at times almost flared into flames and sent off showers of red, fast dying sparks. Given fresh life, the incense smoke rose in thicker columns of blue to form trailing paths above and behind the chelas. Rising higher, the smoke formed yet another cloud within the Temple. Wreathing and twisting on the faint air currents from moving monks, it seemed like a thing alive, like a creature, d seen, breathing and turning in sleep. For a while I gazed, becoming almost hypnotised with the fantasy that I was inside a living creature, watching the lift and sway of its organs, listening to the sounds of the body, of Life itself.

Xuyên qua vẻ ảm đạm của những đám mây khói nhang, tôi có thể thấy hàng ngũ các vị lạt ma, các nhà sư và các chú tiểu. Họ ngồi bắt chéo chân trên sàn nhà, thành những hàng dài vô tận cho đến tận những ngách xa nhất của Đền thờ, không thể nhìn thấy được. Trong những chiếc áo choàng của dòng tu, họ xuất hiện như một tác phẩm sống động, gợn sóng với màu sắc quen thuộc. Vàng kim, vàng nghệ, đỏ, nâu và một màu xám rất mờ, màu sắc dường như trở nên sống động và hòa quyện vào nhau khi người mặc chúng di chuyển. Ngồi ở đầu Đền thờ là Đức Thái tuế, Đấng Thậm thâm, Hóa thân thứ mười ba của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Hình tượng được tôn kính nhất trong toàn thế giới Phật giáo.

Through the gloom, through the clouds of incense smoke, I could see the serried ranks of lamas, trappas, and chelas. Sitting cross legged upon the floor they stretched in their endless rows until they became invisible in the farthest recesses of the Temple. All in their Robes of Order they appeared as a living, rippling patch-work of familiar colour. Gold, saffron, red, brown, and a very faint sprinkling of grey, the colours seemed to come alive and flow into each other as their wearers moved. At the head of the Temple sat His Holiness, the Inmost One, the Thirteenth Incarnation of the Dalai Lama, the most revered Figure in the whole of the Buddhist world.

Trong một lúc, tôi đã xem, lắng nghe tiếng tụng niệm của những lạt ma có giọng thâm trầm chen lẫn với giọng cao thanh của những chú tiểu, nhìn những đám mây khói hương trầm rung lên hòa hợp với những rung động sâu hơn. Ánh sáng lập lòe trong bóng tối, nhang cháy dần xuống rồi lại bùng lên những tia lửa đỏ. Buổi lễ cầu nguyện vẫn tiếp tục và tôi quỳ ở đó, mải mê xem. Quan sát những cái bóng nhảy múa lúc thì to ra, lúc lại biến mất trên các bức tường, nhìn những đốm sáng lấp lánh cho đến khi tôi hầu như không biết mình đang ở đâu và đang làm gì.

For a time I watched, listened to the chant of the deep-voiced lamas accented by the high treble of the small chelas. Watched the incense clouds vibrate in sympathy with the deeper vibrations. Lights flickered into darkness and were replaced, incense burned low and was replenished in a shower of red sparks. The service droned on and I knelt there and watched. Watched the dancing shadows grow and die upon the walls, watched the glittering pin-points of light until I hardly knew where I was nor what I was doing.

Một vị lạt ma già, lưng đã còng dưới sức nặng của bề dày năm tháng, di chuyển chậm chạp trước những người Anh em trong Dòng tu. Xung quanh ông là các nhà sư cấp cao, với những cây nhang và đèn trong tay. Cúi đầu trước Đấng thái tuế, và từ từ xoay quanh cúi đầu chào Bốn góc của Trái đất, cuối cùng ông đối diện với các nhà sư trong Đền thờ. Một giọng nói sang sảng đáng ngạc nhiên đối với một người nhiều tuổi như ông, xướng lên một đoạn kinh:

An aged lama, bent under the weight of years far beyond the normal span, moved slowly before his Brothers of the Order. Around him hovered attentive trappas, with sticks of incense and a light at hand. Bowing to the Inmost One, and turning slowly to bow to each of the Four Corners of the Earth, he at last faced the assembly of monks within the Temple. In a surprisingly strong voice for so aged a man, he chanted:

“Hãy nghe những tiếng nói của linh hồn chúng ta. Đây là Thế giới ảo ảnh. Cuộc sống trên Trái đất chỉ là một giấc mơ trong thời gian của Sự sống Vĩnh cửu, nhưng chỉ là một chớp mắt mà thôi. Hãy nghe những tiếng nói của linh hồn chúng ta, hỡi tất cả các bạn đang đau buồn. Cuộc sống trong bóng tối và nỗi buồn này sẽ kết thúc, và Vinh quang của Sự sống Vĩnh cửu sẽ soi sáng chính nghĩa. Cây nhang đầu tiên được thắp lên để dẫn lối cho linh hồn đang bối rối.”

“Hear the Voices of our Souls. This is the World of Illusion. Life on Earth is but a dream that, in the time of the Life Eternal, is but the twinkling of an eye. Hear the Voices of our Souls, all you that are sore depressed. This Life of Shadow and Sorrow will end, and the Glory of the Life Eternal will shine forth on the righteous. The first stick of incense is lit that a troubled Soul may be guided.”

Một vị cao tăng đứng lên và cúi chào Đấng Thái Tuế trước khi chậm rãi quay người cúi chào lần lượt tứ bề Trái đất. Thắp một nén nhang, ông quay lại và cầm cây nhang chỉ vào Tứ Phía. Tiếng tụng kinh trầm ấm vang lên một lần nữa rồi ngưng lại, theo sau đến giọng cao trong trẻo của các chú tiểu trẻ. Một vị lạt ma bệ vệ ngân nga một vài đoạn kinh, ngắt quãng các đoạn kinh bằng cách rung Chuông Bạc của mình một cách mạnh mẽ chỉ khi có sự hiện diện của Đức Thái Tuế. Lặng lẽ ngồi xuống, ông kín đáo nhìn xung quanh để xem bài tụng của mình có tác động tới mọi người hay không .

A trappa stood forth and bowed to the Inmost One before turning slowly and bowing in turn to the Four Corners of the Earth. Lighting a stick of incense, he turned again and pointed with it to the Four Corners. The deep-voiced chant rose again and died, to be followed by the high treble of the young chelas. A portly lama recited certain Passages, punctuating them by ringing his Silver Bell with a vigour occasioned only by the presence of the Inmost One. Subsiding into silence, he looked covertly around to see if his performance had obtained due approval.

Vị Lạt ma cao niên bước lên một lần nữa, và cúi đầu trước Đức Thái Tuế và các vị cao tăng. Một vị cao tăng khác tỏ ra rất chú ý, quá lo lắng trước sự hiện diện của người đứng đầu Nhà nước và Tôn giáo. Vị Lạt ma cao niên xướng lên một đoạn kinh:

The Aged Lama stepped forward once more, and bowed to the Inmost One and to the Stations. Another trappa hovered at ready attention, over-anxious in the Presence of the Head of the State and Religion. The Aged Lama chanted:

“Hãy lắng nghe tiếng nói của linh hồn chúng ta. Đây là Thế giới ảo ảnh. Cuộc sống trên Trái đất  chỉ là Thử nghiệm, xem chúng ta có thể làm trong sạch bản thân khỏi những thứ xấu xa tội lỗi và nâng tầm mình lên cao mãi mãi. Hãy lắng nghe Tiếng nói của Linh hồn chúng ta, hỡi tất cả những ai đang hồ nghi. Chẳng mấy chốc, ký ức về cuộc sống trên Trái đất sẽ qua đi, và sau đó sẽ là Bình an, và giải thoát khỏi mọi Khổ đau. Cây nhang thứ hai được thắp lên để dẫn lối cho những linh hồn còn ngờ vực.”

“Hear the Voices of our Souls. This is the World of Illusion. Life on Earth is the Testing, that we may be purified of our dross and soar ever upwards. Hear the Voices of our Souls, all you that are in doubt. Soon the memory of the Earth life will pass away, and there will be Peace, and release from Suffering. The second stick of incense is lit that a doubting Soul may be guided.”

Tiếng tụng niệm của các sư sãi bên dưới tôi dâng lên và mạnh dần lên một lần nữa khi vị cao tăng thắp cây hương lần thứ hai và cúi đầu theo nghi thức trước Đức Thái tuế và lần lượt chỉ cây hương vào từng Góc của Trái đất. Các bức tường của Đền thờ dường như cũng thở, lắc lư cùng với tiếng tụng kinh. Xung quanh vị Lạt ma cao niên hình dáng những hổn ma tụ tập lại, đó là những người đã qua đời gần đây mà không có sự chuẩn bị, và bây giờ đi lang thang cô độc, không được chỉ dẫn.

The chanting of the monks below me increased and swelled again as the trappa lit the second stick and went through the ritual of bowing to the Inmost One and pointing the incense to each Corner in turn. The walls of the Temple appeared to breathe, to sway in unison with the chanting. Around the Aged Lama ghostly forms gathered, those who had recently passed from this life without the preparation, and who now wandered unguided, and alone.

Những cái bóng chập chờn dường như lúc thì lao lên, lúc thì quằn quại như những linh hồn đang đau khổ; tâm thức của tôi, nhận thức của tôi, thậm chí cảm xúc của tôi, chập chờn giữa hai thế giới. Phía bên này, tôi đang nhìn chăm chú vào quá trình của buổi lễ bên dưới tôi. Ở góc độ khác, tôi nhìn thấy “giữa các thế giới”, nơi linh hồn của những người mới ra đi run rẩy vì sợ hãi trước sự lạ lẫm của Thế giới chưa được biết đến. Những linh hồn đơn độc, bị bao phủ trong bóng tối ẩm ướt đang đeo bám, họ than khóc trong nỗi sợ kinh hoàng và cô đơn. Bị tách ra khỏi nhau, bị tách ra khỏi tất cả những người khác vì họ thiếu niềm tin, họ bất động như một con bò yak mắc kẹt trong vũng lầy. Trong bóng tối nhớp nháp “giữa các thế giới”, chỉ có le lói ánh sáng xanh mờ nhạt từ những hình dạng ma quái, cất lên tiếng tụng kinh, Lời mời gọi của vị Lạt ma cao niên:

The flickering shadows seemed to leap and writhe like souls in torment; my own consciousness, my perceptions, my feelings even, flickered between two worlds. In the one I peered with rapt attention at the progress of the Service beneath me. In the other I saw the “between worlds” where the souls of the newly departed trembled in fear at the strangeness of the Unknown. Isolated souls, clad in dank, clinging darkness, they wailed in their terror and loneliness. Apart from each other, apart from all others because of their lack of belief, they were as immobile as a yak stuck in a mountain bog. Into the sticky darkness of the “between worlds,” relieved only by the faint blue light from those ghostly forms, came the chanting, the Invitation, of the Aged Lama:

“Hãy lắng nghe Tiếng nói của Linh hồn chúng ta. Đây là Thế giới của Ảo ảnh. Con người chết đi trong Thực tại Vĩ Đại nghĩa là được sinh ra trên Trái đất, vì vậy anh ta phải chết trên Trái đất để anh ta có thể được tái sinh một lần nữa vào Thực tại Vĩ Đại. Không có cái Chết, mà là Hồi Sinh. Đau đớn của Cái Chết cũng là đau đớn của sự Ra Đời. Cây nhang thứ ba được thắp lên để dẫn lối cho linh hồn đang trong Đau khổ.”

“Hear the Voices of our Souls. This is the World of Illusion. As Man died in the Greater Reality that he might be born on Earth, so must he die on Earth that he may be reborn again to the Greater Reality. There is no Death, but Birth. The pangs of Death are the pangs of Birth. The third stick of incense is lit that a Soul in Torment may be guided.”

Trong tâm thức của tôi xuất hiện tiếng gọi thần giao cách cảm; “Lobsang! Con đang ở đâu? Đến đây với ta ngay bây giờ!” Rất cố gắng để quay trở lại thế giới hiện thực, tôi loạng choạng đứng dậy và lảo đảo bước ra khỏi cánh cửa nhỏ. “Con đang đến đây, thưa Thầy đáng kính!” Tôi gửi tư tưởng đến Thầy mình. Dụi mắt đẫm nước trong trời đêm se lạnh sau làn hơi ấm và khói hương của ngôi đền, tôi loạng choạng và cảm thấy mình lơ lửng phía trên con đường dẫn đến nơi Thầy đang đợi trong một căn phòng ngay phía trên lối vào chính. Thầy mỉm cười khi nhìn thấy tôi. “Lobsang, con của ta! ” Thầy thốt lên, “trông con như thể vừa gặp hồn ma!” “Thưa Thầy!” Tôi trả lời, “Đúng là con đã thấy rồi ạ.”

Into my consciousness came a telepathic command; “Lobsang! Where are you? Come to me now!” Jerking myself back to this world by a great effort, I staggered to my numb feet and tottered out of the little door. “I am coming, Respected Sir!” I thought to my Guide. Rubbing my eyes, watering in the cold night air after the warmth and incense smoke of the Temple, I stumbled and felt my way along high above the ground to where my Guide was waiting in a room right over the main entrance. He smiled as he saw me. “My! Lobsang!” he exclaimed, “you look as if you have seen a ghost!” “Sir!” I replied, “I have seen several.”

“Lobsang, Tối nay chúng ta sẽ ở lại đây,” vị Lạt ma nói. “Ngày mai, chúng ta sẽ đi và nói chuyện với Nhà tiên tri. Con nên có những trải nghiệm thú vị; nhưng bây giờ, trước tiên phải ăn đã, và sau đó thì đi ngủ . . . ” Trong khi ăn, tôi cứ trăn trở; nghĩ về những gì tôi đã thấy trong Đền thờ, băn khoăn tự hỏi về “Thế giới của Ảo ảnh.”; Tôi nhanh chóng hoàn thành bữa ăn tối và đi về phòng đã được dành cho mình. Quấn trong chiếc áo choàng, tôi nằm xuống và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Những giấc mơ, những cơn ác mộng và những ấn tượng kỳ lạ ập đến với tôi suốt đêm.

“Tonight, Lobsang, we shall remain here,” said the Lama. “Tomorrow we shall go and call upon the State Oracle. You should find the experience of interest; but now it is time, first for food, and then for sleep . . .” While we ate I was preoccupied; thinking of what I had seen in the Temple, wondering how this was “the World of Illusion.” Quickly I finished my supper and went to the room allotted to me. Wrapping myself in my robe, I lay down and soon was fast asleep. Dreams, nightmares, and strange impressions plagued me throughout the night.

Tôi mơ thấy mình đang ngồi dậy, hoàn toàn tỉnh táo, và những quả cầu to lớn ập đến mình như bụi trong bão. Tôi đang ngồi dậy và từ khoảng cách rất xa, những đốm nhỏ xuất hiện, ngày càng lớn hơn cho đến khi tôi có thể thấy những quả cầu, như chúng lúc này, có đủ màu sắc. Lớn bằng đầu người, chúng lao đến tôi và vun vút ra xa hơn. Trong giấc mơ của tôi – nếu đó là một giấc mơ! – Tôi không thể quay đầu lại để xem chúng đã đi đâu; chỉ thấy chúng xuất hiện từ hư vô, lao nhanh qua tôi rồi lại đổ vào hư không? Tôi vô cùng ngạc nhiên khi không quả cầu nào đâm vào mình. Chúng trông rắn chắc, nhưng đối với tôi chúng không là vật chất. Với sự đột ngột kinh khủng đến mức khiến tôi giật mình tỉnh giấc, một giọng nói đằng sau tôi cất lên: “Như một hồn ma nhìn thấy những bức tường kiên cố, vững chãi của Ngôi đền, bạn bây giờ cũng vậy!” Tôi rùng mình vì sợ hãi; tôi đã chết rồi ư? Tôi đã chết trong đêm sao? Nhưng tại sao tôi lại lo lắng về “cái chết”? Tôi biết cái gọi là chết chỉ đơn thuần là sự tái sinh. Tôi nằm xuống và cuối cùng ngủ thiếp đi một lần nữa.

I dreamed that I was sitting up, wide awake, and great globes of something came at me like the dust in a storm. I was sitting up, and from the great distance small specks appeared, growing larger and larger until I could see that the globes, as they were now, were of all colours. Growing to the size of a man’s head, they rushed at me and streaked away beyond. In my dream—if it was a dream!—I could not turn my head to see where they had gone; there were just these endless globes pouring out of nowhere and rushing on past me to—nowhere? It amazed me immensely that none of the globes crashed into me. They looked solid, yet to me they had no substance. With such horrid suddenness that it shook me wide awake, a voice behind me said, “As a ghost sees the stout, solid walls of the Temple, so now do you!” I shivered in apprehension; was I dead? Had I died in the night? But why was I worrying about “death”? I knew that so-called death was merely re-birth. I lay down and eventually fell asleep once more.

Cả thế giới rung chuyển, kêu cót két và sụp đổ một cách điên cuồng. Tôi hoảng hốt ngồi dậy, nghĩ rằng Ngôi đền đang đổ ập lên mình. Màn đêm tối đen, chỉ có ánh sáng huyền ảo của những vì sao trên kia mới có thể làm sáng tỏ sự nghi ngờ của ánh sáng. Nhìn thẳng về phía trước, tôi cảm thấy tóc dựng lên vì sợ. Tôi bị tê liệt, không thể cử động dù chỉ một ngón tay và tệ hơn nữa – thế giới ngày càng rộng lớn hơn. Các bức tường đá trơn nhẵn trở thành những tảng đá thô và rỗ như tổ ong từ những ngọn núi lửa đã tắt. Các lỗ trên đá lớn dần lên và chứa đầy những sinh vật đáng sợ mà tôi đã nhìn thấy qua kính hiển vi của Đức Lạt Ma Minh Gia.

The whole world was shaking, creaking, and tumbling in crazy manner. I sat up in great alarm, thinking that the Temple was falling about me. The night was dark, with only the ghostly radiance of the stars above to shed the merest suspicion of light. Gazing straight ahead of me, I felt my hair rise in fright. I was paralysed; I could not move a finger and worse—the world was growing larger. The smooth stone of the walls coarsened and became porous rock from the extinct volcanoes. The holes in the stone grew and grew and I saw that they were peopled with nightmare creatures which I had seen through the Lama Minh Gia Dondup’s good German microscope.

Thế giới ngày càng lớn dần lên, những sinh vật đáng sợ cũng lớn dần đến kích thước đáng kinh ngạc, thời gian qua đi, chúng trở nên khổng lồ đến mức tôi có thể nhìn thấy lỗ chân lông của chúng! Thế giới mỗi lúc một rộng lớn hơn, rồi tôi chợt nhận ra rằng mình ngày càng nhỏ bé dần đi. Tôi biết có một cơn bão bụi đang đến. Từ đâu đó phía sau tôi, những hạt bụi bay ầm ầm, nhưng không có hạt bụi nào chạm vào tôi. Nhanh chóng chúng lớn dần lên. Một số trong  chúng to  bằng đầu người, một số khác lớn bằng dãy Himalaya. Vậy mà không một cái nào chạm vào tôi. Chúng vẫn ngày càng lớn hơn cho đến khi tôi mất hết cảm giác về kích thước, cho đến khi tôi mất hết cảm giác về thời gian. Trong giấc mơ của mình, tôi dường như đang nằm giữa các vì sao, lạnh lẽo và bất động trong khi dải ngân hà này đến dải ngân hà khác lướt qua mình và biến mất vào khoảng không. Tôi không thể nói được đã ở lại đây bao lâu. Dường như tôi đã nằm đó suốt cõi vĩnh hằng. Rất lâu, kéo dài khi cả một thiên hà, cả một loạt các Vũ trụ lao thẳng xuống tôi. “Đây là lúc kết thúc!” Tôi mơ hồ nghĩ vô số thế giới đang đâm vào tôi.

The world grew and grew, the frightening creatures grew to ponderous size, becoming so vast with the passage of time that I could see their pores! Larger and larger grew the world, then it dawned on me that I was becoming smaller and smaller. I became aware that a dust storm was blowing. From somewhere behind me, the grains of dust roared by, yet none of them touched me. Rapidly they grew larger and larger. Some of them were as large as a man’s head, others were as large as the Himalayas. Yet not one touched me. Still they grew larger until I lost all sense of size, until I lost all sense of time. In my dream I appeared to be lying out among the stars, lying cold and motionless while galaxy after galaxy streaked past me and vanished into the distance. How long I remained thus I cannot say. It seemed as if I lay there throughout eternity. At long, long last a whole galaxy, a whole series of Universes swung down directly upon me. “This is the end!” I thought vaguely as that multitude of worlds crashed into me.

“Lobsang! Lobsang! Con đã tới được Thiên đường chưa? ” Giọng nói trầm và vang khắp vũ trụ, dội lại từ các thế giới … vọng lại từ các bức tường trong căn phòng đá của tôi. Đau đớn, tôi mở mắt ra và cố gắng tập trung. Phía trên tôi là một cụm sao sáng trông có vẻ quen thuộc. Những ngôi sao dần biến mất để thay vào đó là khuôn mặt nhân hậu của Lạt ma Minh Gia Đại Đức. Nhẹ nhàng Người lay tôi. Ánh nắng chói chang tràn vào phòng. Một tia nắng chiếu sáng vô số những hạt bụi, và chúng lấp lánh đủ màu sắc cầu vồng.

“Lobsang! Lobsang! Have you gone to the Heavenly Fields?” The Voice boomed and re-echoed around the universe, rebounding from worlds . . . re-echoing from the walls of my stone chamber. Painfully I opened my eyes and tried to get them into focus. Above me was a cluster of bright stars which somehow seemed familiar. Stars which slowly vanished to be replaced by the benign face of the Lama Minh Gia Dondup. Gently he was shaking me. Bright sunlight streamed into the room. A sunbeam illuminated some dust motes, and they flashed with all the colours of the rainbow.

“Lobsang! Trời sáng lâu rồi. Ta đã để cho con ngủ, nhưng giờ là lúc con phải dậy ăn sáng, rồi chúng ta sẽ lên đường ”. Tôi mệt mỏi đứng dậy. Sáng nay tôi “khó ở”; cái đầu dường như quá lớn đối với tôi, và tâm trí tôi vẫn đang chìm trong những giấc mơ ban đêm. Nhét mớ tài sản ít ỏi vào phía trước vạt áo choàng, tôi rời phòng đi tìm tsampa, thức ăn chủ yếu của chúng tôi. Tôi xuống thang có ngạnh, treo người một cách chắc chắn vì sợ ngã. Xuống đến chỗ các nhà sư đầu bếp đang ngồi rải rác.

“Lobsang! The morning is far advanced. I have let you sleep but now it is time for you to eat and then we will be upon our way.” Wearily I scrambled to my feet. I was “out of sorts” this morning; my head seemed to be too big for me, and my mind was still dwelling upon the ‘dreams’ of the night. Bundling my scant possessions into the front of my robe, I left the room in search of tsampa, our staple food. Down the notched ladder I went, hanging on grimly for fear of falling. Down to where the cook-monks were lounging about.

“Tôi đến để dùng bữa,” tôi nói một cách nhã nhặn. “Ăn hả? Vào giờ này của buổi sáng à? Cút ngay!” nhà sư đầu bếp gầm lên. Ông ta đưa tay ra định đánh tôi thì một nhà sư khác giọng khàn khàn thì thầm, “Cậu ta đang ở với Lạt ma Minh Gia Đại Đức đấy!” Vị sư đầu bếp nhảy cẫng lên như thể bị ong bắp cày đốt rồi hét lên với người phụ bếp của mình, “Chà !? Còn chờ gì nữa? Đưa bữa sáng cho quí ngài trẻ tuổi! ” Thông thường, lẽ ra tôi phải có đủ lúa mạch trong túi da mà tất cả các nhà sư đều mang theo mình, nhưng trong quá trình đi thăm, nguồn cung cấp của tôi đã cạn kiệt. Tất cả các nhà sư, bất kể là chú tiểu, nhà sư hay Lạt ma, đều mang theo túi lúa mạch bằng da và cái bát để ăn. Tsampa được trộn với trà bơ và đó là lương thực chính của Tây Tạng. Nếu các tu viện Tây Tạng in thực đơn, sẽ chỉ có một từ để in: tsampa!

I have come for food,” I said meekly. “Food? At this time of the morning? Be off with you!” roared the head cook-monk. Reaching out, he was about to give me a blow when another monk whispered hoarsely, “He is with the Lama Minh Gia Dondup!” The head cook-monk jumped as if he had been stung by a hornet then bellowed to his assistant, “Well!? What are you waiting for? Give the young gentleman his breakfast!” Normally I should have had enough barley in the leather pouch which all monks carry, but as we were visiting, my supplies were exhausted. All monks, no matter whether chelas, trappas or lamas, carried the leather bag of barley and the bowl from which to eat it. Tsampa was mixed with buttered tea and thus provided the staple food of Tibet. If Tibetan lamaseries printed menus, there would be one word only to print; tsampa!

Tỉnh táo hẳn sau bữa ăn, tôi đến gặp Lạt ma Minh Gia Đại Đức và chúng tôi lên ngựa đi đến tu viện của các nhà tiên tri. Chúng tôi không nói chuyện khi đang đi, con ngựa của tôi di chuyển một cách đặc biệt khiến tôi phải tập trung hoàn toàn để ngồi vững trên lưng ngựa. Khi chúng tôi đi dọc theo Đường Lingkhor, những người hành hương, nhìn thấy Thầy tôi trong chiếc áo choàng thứ hạng cao cấp, đã đến xin Ngài ban phước. Rồi họ lại tiếp tục con đường vòng xuyến linh thiêng trông như thể họ đã đi được một nửa chặng đường để được cứu rỗi. Chẳng mấy chốc, chúng tôi dắt ngựa đi qua Willow Grove và đến con đường bằng đá dẫn đến Ngôi nhà của các Bậc Tiên tri. Trong sân, cuối cùng tôi vô cùng biết ơn khi được trượt xuống đất từ lưng ngựa khi những nhà sư hầu cận đến dắt ngựa cho chúng tôi.

Somewhat refreshed after my meal, I joined the Lama Minh Gia Dondup and we set off on horseback for the Lamasery of the State Oracle. We did not talk while journeying, my horse had a peculiar motion which required my full attention if I were to remain in place. As we traveled along the Lingkhor Road, pilgrims, seeing the high rank of my Guide’s robes, called to him for blessing. Receiving it, they continued the Holy Circuit looking as if they were at least half way to salvation. Soon we walked our horses through the Willow Grove and came to the stony path leading to the Home of the Oracle. In the courtyard monk-servants took our horses as thankfully I at last slid to the ground.

Nơi đó đã rất đông người. Những vị Lạt ma cao nhất đã đến từ khắp mọi nơi trên đất nước chúng tôi. Nhà tiên tri đang kết nối với các Quyền lực thống trị thế giới. Theo sự sắp xếp đặc biệt và mệnh lệnh đặc biệt của Đức Thái tuế, tôi đã có mặt. Chúng tôi được chỉ dẫn nơi sẽ ngủ lại, tôi ở cạnh Lạt ma Minh Gia Đại Đức, và không ở trong ký túc xá với các nhà sư khác. Khi chúng tôi đi ngang qua một ngôi đền nhỏ trong tòa nhà chính, tôi đã nghe thấy “Hãy lắng nghe tiếng nói của linh hồn chúng ta. Đây là Thế giới của Ảo ảnh.”

The place was crowded. The highest lamas had traveled the length and breadth of our country to be present. The Oracle was going to get in communication with the Powers that ruled the world. I, by special arrangement, by special command of the Inmost One, was to be present. We were shown to where we would sleep, I next to the Lama Minh Gia Dondup, and not in a dormitory with many other chelas. As we passed a small temple within the main building I heard “Hear the Voices of our Souls. This is the World of Illusion.”

“Thưa Thầy!” Tôi nói với Thầy khi chúng tôi ở một mình, “ ’Thế giới của Ảo ảnh’ là gì ạ?” Người nhìn tôi mỉm cười. “Chà,” Người trả lời, “Cái gì là thật? Con chạm vào bức tường này và ngón tay của con bị bức tường đá chặn lại. Vì vậy, con kết luận rằng bức tường tồn tại như một khối rắn không gì có thể xuyên qua được. Ngoài cửa sổ, những dãy núi của Himalaya vững chãi như xương sống của Trái đất. Tuy nhiên, một hồn ma, hoặc con trong thể vía có thể di chuyển tự do đi xuyên qua đá trên núi như thể con đi trong không khí vậy.” “Nhưng ‘ảo ảnh’ là thế nào?” Tôi hỏi. “Con đã có một giấc mơ đêm qua thực sự là ảo ảnh; Thậm chí ngay cả khi nghĩ về nó con vẫn cảm thấy mờ nhạt!” Người đã lắng nghe tôi kể về giấc mơ đó với sự kiên nhẫn vô hạn và khi tôi kết thúc câu chuyện của mình, Người nói, “Ta sẽ kể cho con nghe về Thế giới ảo ảnh. Tuy nhiên, không phải lúc này, vì trước tiên chúng ta phải đến chào Nhà tiên tri đã ”

“Sir!” I said to my Guide when we were alone, “how is this the ‘World of Illusion’?” He looked at me with a smile. “Well,” he replied, “What is real? You touch this wall and your finger is stopped by the stone. Therefore you reason that the wall exists as a solid that nothing can penetrate. Beyond the windows the mountain ranges of the Himalayas stand firm as the backbone of the Earth. Yet a ghost, or you in the astral can move as freely through the stone of the mountains as you can through the air.” “But how is that ‘illusion’?” I asked. “I had a dream last night which really was illusion; I feel pale even to think of it!” My Guide, with infinite patience, listened while I told of that dream and when I had finished my tale he said, “I shall have to tell you about the World of illusion. Not for the moment, though, as we must first call upon the Oracle.”

Nhà Tiên tri là một người đàn ông trẻ, gầy và vẻ ngoài rất ốm yếu. Tôi đã được giới thiệu với ông ấy và đôi mắt ông chằm chằm nhìn thẳng vào tôi, khiến những cơn kinh hoàng chạy dọc sống lưng. “Đúng! Cậu chính là một người, tôi nhận ra cậu rất rõ, ” ông nói. “Cậu có sức mạnh bên trong; cậu cũng sẽ có kiến thức. Tôi sẽ gặp lại cậu sau.” Lạt ma Minh Gia Đại Đức, người bạn yêu quý của tôi, trông có vẻ rất hài lòng với tôi. ” Lobsang, con vượt qua mọi bài kiểm tra như mọi khi!” Người nói. “Bây giờ đã đến lúc, chúng ta sẽ trở về Đền thờ của các vị Thần và nói chuyện.” Người mỉm cười với tôi khi chúng tôi đi cùng nhau. Người nhắc lại “Lobsang, chúng ta sẽ nói về Thế giới Ảo ảnh.”

The State Oracle was a surprisingly young man, thin, and of very sickly appearance. I was presented to him and his staring eyes burned straight through me, making tingles of fright race up and down my spine. “Yes! You are the one, I recognise you well,” he said. “You have the power within; you shall have the knowledge also. I will see you later.” The Lama Minh Gia Dondup, my beloved friend, looked well pleased with me. “You pass every test, Lobsang, every time!” he said. “Now come, we will retire to the Sanctuary of the Gods and talk.” He smiled down at me as we walked along. “Talk, Lobsang,” he remarked, “about the World of Illusion.”

Đền thờ vắng vẻ, như Thầy của tôi đã biết trước. Những ngọn đèn cháy nhấp nháy trước các bức tượng Linh thiêng, khiến bóng của chúng chuyển động như thể trong một vũ điệu kỳ lạ nào đó. Khói hương trầm phảng phất lan tỏa tạo thành những đám mây phía trên chúng tôi. Chúng tôi ngồi bên nhau trong Thư viện, nơi mọi người có thể đọc những cuốn Sách Thánh linh, trong tư thế kiết già, hai chân bắt chéo và các ngón tay đan vào nhau.

The Sanctuary was deserted, as my Guide knew in advance. Flickering lamps burned before the Sacred Images, causing their shadows to jump and move as though in some exotic dance. Incense smoke spiraled upwards to form a low-lying cloud above us. Together we sat by the side of the Lectern from whence the Reader would read from the Sacred Books. We sat in the attitude of contemplation, legs crossed, and fingers entwined.

“Đây là Thế giới của Ảo ảnh,” Thầy nói, “Vì vậy, chúng ta kêu gọi các linh hồn lắng nghe chúng ta, vì chỉ có họ đang ở trong Thế giới Thực tại. Chúng ta nói, như con cũng biết rõ, Hãy lắng nghe Tiếng nói của Linh hồn chúng ta, chúng ta không nói Hãy lắng nghe tiếng nói của thể xác chúng ta. Hãy lắng nghe thầy, và đừng ngắt lời, vì đây là nền tảng của Niềm tin bên trong của chúng ta. Vì ta sẽ giải thích sau, khi con người chưa đủ tiến hóa trước hết phải có niềm tin để giúp họ chống đỡ, khiến họ cảm thấy rằng có một người Cha hoặc người mẹ nhân từ đang chăm sóc họ. Chỉ khi con người đã phát triển đến giai đoạn thích hợp, người ta mới có thể chấp nhận điều này, là điều mà bây giờ ta sẽ nói với con.” Tôi nhìn chăm chú vào Người, nghĩ rằng Người là cả thế giới đối với tôi, ước gì chúng tôi có thể luôn ở bên nhau.

“This is the World of Illusion,” said my Guide, “Wherefore we call to souls to hear us, for they alone are in the World of Reality. We say, as you well know, Hear the Voices of our Souls, we do not say Hear our Physical Voices. Listen to me, and do not interrupt, for this is the basis of our Inner Belief. As I shall explain later, people not sufficiently evolved must first have a belief which sustains them, makes them feel that a benevolent Father or Mother is watching over them. Only when one has evolved to the appropriate stage can one accept this which I shall now tell you.” I gazed at my Guide, thinking that he was the whole world to me, wishing we could be always together.

“Chúng ta là những sản phẩm sáng tạo của Tinh thần,” Người nói, “chúng ta giống như những vật mang điện tích được ban tặng cho trí thông minh. Thế giới này, cuộc sống này, là Địa ngục, nó là nơi thử thách trong đó Tinh thần của chúng ta được thanh lọc bởi sự khó nhọc của việc học cách kiểm soát cơ thể thô kệch của chúng ta. Giống như một con rối được điều khiển bằng những sợi dây do Bậc thầy Múa rối điều khiển, thì thể xác của chúng ta cũng được điều khiển bằng những sợi dây điện lực từ Chân Ngã, chính là phần hồn của chúng ta. Một Bậc thầy múa rối giỏi có thể tạo ra ảo tưởng rằng những con rối gỗ có sự sống, rằng chúng tự mình hành động. Theo cách tương tự, chúng ta, cho đến khi học cao hơn, coi rằng thể xác của mình là thứ duy nhất quan trọng. Trong bầu không khí đậm đặc của Trái đất, chúng ta quên mất Linh hồn mới thực sự điều khiển chúng ta, ta nghĩ rằng mình làm những việc theo tự do ý chí của bản thân và có thể đáp ứng cho “lương tâm” của ta mà thôi. Vì vậy, Lobsang, chúng ta có Ảo ảnh đầu tiên, ảo tưởng rằng con rối, cơ thể bằng xương bằng thịt, mới là thứ quan trọng.” Người dừng lại trước vẻ mặt tỏ ra khó hiểu của tôi. “Thế nào?” Người hỏi, “con còn  băn khoăn điều gì?”

“We are creatures of the Spirit,” he said, “we are like electric charges endowed with intelligence. This world, this life, is Hell, it is the testing place wherein our Spirit is purified by the suffering of learning to control our gross flesh body. Just as a puppet is controlled by strings manipulated by the Puppet Master, so is our flesh body controlled by strings of electric force from our Overself, our Spirit. A good Puppet Master can create the illusion that the wooden puppets are alive, that they act of their own volition. In the same way we, until we learn better, consider that our flesh body is the only thing that matters. In the spirit-strangling atmosphere of the Earth we forget the Soul that truly controls us, we think that we do things of our own free will and are answerable only to our “conscience.” So, Lobsang, we have the first Illusion, the illusion that the puppet, the flesh body, is the one that matters.” He stopped at the sight of my puzzled expression. “Well?” he asked, “and what troubles you?”

“Thưa Thầy!” Tôi nói, “các dây lực điện của con ở đâu? Con không thể thấy bất cứ cái gì kết nối con với Chân Ngã! ” Người cười trả lời: “Con có thể nhìn thấy không khí không, Lobsang? Con không nhìn thấy khi ở trong thể xác”. Cúi người về phía trước, Người nắm lấy áo choàng của tôi, nhìn tôi chằm chằm bằng đôi mắt xuyên thấu của mình. “Lobsang!” Người nói một cách nghiêm khắc, “Toàn thể não của con biến đi đâu rồi? Con chỉ còn từ cổ trở xuống à? Con đã quên Sợi chỉ bạc rồi à, đó là tập hợp các điện lực kết nối con – ở đây – với linh hồn của con? Thật sự, Lobsang à, con đang ở trong Thế giới của Ảo ảnh!” Tôi cảm thấy mặt mình đỏ bừng. Tất nhiên tôi biết về Sợi chỉ bạc, sợi dây ánh sáng hơi xanh kết nối cơ thể vật lý với linh hồn. Nhiều lần khi du hành trong thể vía, tôi đã nhìn thấy Sợi dây lung linh và rung động với ánh sáng và sự sống. Nó giống như sợi dây rốn kết nối người mẹ và đứa trẻ mới sinh ra, ‘đứa trẻ’ vốn là cơ thể vật lý không thể tồn tại trong chốc lát nếu Sợi chỉ bạc bị cắt đứt.

“Sir!” I said, “where are my strings of electric force? I cannot see anything connecting me to my Overself!” He laughed as he replied, “Can you see air, Lobsang? Not while you are in the flesh body.” Leaning forward he grasped my robe, nearly scaring the life out of me as I stared into his penetrating eyes. “Lobsang!” he said sternly, “have all your brains evaporated? Are you really bone from the neck up? Have you forgotten the Silver Cord, that collection of lines of electric force linking you—here—with your soul? Truly, Lobsang, you are in the World of Illusion!” I felt my face grow red. Of course I knew about the Silver Cord, that cord of bluish light which connects the physical body to the spirit body. Many times, when astral travelling, I had watched the Cord shimmering and pulsing with light and life. It was like the umbilical cord which connects the mother and the new-born child, only the ‘child’ which was the physical body could not exist for a moment if the Silver Cord was severed.

Tôi nhìn lên, Người đã sẵn sàng tiếp tục sau khi bị tôi làm gián đoạn. “Khi ở trong thế giới vật chất, chúng ta có xu hướng nghĩ rằng chỉ có thế giới vật chất mới quan trọng. Đó là một trong những thiết bị an toàn của Chân ngã; nếu chúng ta nhớ Thế giới Linh hồn với niềm hạnh phúc của nó thì ta sẽ phải dùng một nỗ lực ý chí mạnh mẽ mới có thể ở lại thế giới này. Nếu nhớ lại những kiếp trước, khi mà ta đã từng là nhân vật nào đó quan trọng hơn kiếp này, thì ta đã chẳng khiêm nhường. Chúng ta cần phải uống trà đã và sau đó ta sẽ chỉ cho con, kể cho con nghe về cuộc sống của một người Trung quốc từ khi chết, tái sinh, rồi lại chết và đến với Thế giới Tiếp theo.” Vị Lạt Ma với tay rung chiếc chuông bạc nhỏ trong Điện thờ, rồi dừng lại trước vẻ mặt của tôi. “Thế nào?” Người hỏi, “câu hỏi của con là gì?” “Thưa Thầy!” Tôi trả lời, “tại sao lại là người Trung Quốc? Tại sao không phải là người Tây Tạng?” “Bởi vì,” Người trả lời, “nếu ta nói ‘một người Tây Tạng’, con sẽ cố gắng liên tưởng với một người con biết – với kết quả không chính xác.” Người rung chuông và một nhà sư hầu cận mang trà cho chúng tôi. Người nhìn tôi một cách ân cần. “Con có nhận ra rằng khi uống loại trà này, chúng ta đang nuốt chửng hàng triệu thế giới không?” Người hỏi. “Chất lỏng có thành phần phân tử thưa thớt hơn. Nếu con có thể phóng đại các phân tử của cốc trà này, con sẽ thấy chúng lăn như những hạt cát bên bờ một hồ nước đầy sóng gió. Ngay cả hơi đốt, ngay cả bản thân không khí cũng được cấu tạo từ các phân tử, các hạt rất nhỏ. Tuy nhiên, đó là một đề tài khác, chúng ta sẽ nói về cái chết và cuộc sống của một người Trung quốc.” Người uống trà và đợi tôi uống hết cốc trà.

I looked up, my Guide was ready to continue after my interruption. “When we are in the physical world we tend to think that only the physical world matters. That is one of the safety devices of the Overself; if we remembered the Spirit World with its happiness we would be able to remain here only by a strong effort of will. If we remembered past lives when, perhaps, we were more important than in this life, we should not have the necessary humility. We will have some tea brought in and then I will show you, or tell you, of the life of a Chinaman from his death, to his rebirth and to his death and arrival in the Next World.” The Lama stretched forth his hand to ring the small silver bell in the Sanctuary, then stopped at my expression. “Well?” he asked, “what is your question?” “Sir!” I answered, “why a Chinaman? Why not a Tibetan?” “Because,” he replied, “if I say ‘a Tibetan’ you will try to associate the name with someone you know—with incorrect results.” He rang the bell and a servant-monk brought us tea. My Guide looked at me thoughtfully. “Do you realise that in drinking this tea we are swallowing millions of worlds?” he asked. “Fluids have a more sparsely molecular content. If you could magnify the molecules of this tea you would find that they roll like the sands beside a turbulent lake. Even a gas, even the air itself is composed of molecules, of minute particles. However, that is a digression, we were going to discuss the death and life of a Chinaman.” He finished his tea and waited while I finished mine.

“Seng là một viên quan già.” Người nói “Cuộc đời của ông ấy may mắn và bây giờ, vào buổi xế chiều của cuộc đời, ông cảm thấy mãn nguyện vô cùng. Gia đình của ông rất lớn, nhiều thê thiếp và nô lệ. Ngay cả chính Hoàng đế Trung Hoa cũng đã chiếu cố ông. Khi đôi mắt già nua của ông nhìn thoáng qua cửa sổ phòng mình, ông có thể lờ mờ nhận ra những khu vườn xinh đẹp với những con công đang khệnh khạng. Nhẹ nhàng vọng đến tai ông tiếng chim hót véo von trên ngọn cây ngày nào giờ đã già đi. Seng nằm xuống, thư giãn trên đệm. Trong chính mình, ông có thể cảm thấy những ngón tay xào xạc của Thần chết đang làm mất mối liên kết của ông với cuộc sống. Mặt trời đỏ như máu từ từ chìm khuất sau ngôi chùa cổ kính. Ông Seng già nua từ từ ngả lưng xuống đệm, một hơi thở khó nhọc rít qua kẽ răng. Ánh sáng mặt trời mờ dần, và những ngọn đèn nhỏ trong phòng sáng lên, nhưng ông già Seng đã ra đi, mang theo những tia nắng cuối cùng đang tắt.” Thầy nhìn tôi để chắc chắn rằng tôi đang theo dõi, sau đó Người tiếp tục.

“Seng was an old mandarin,” said my Guide. “His life had been a fortunate one and now, in the evening of that life he felt a great contentment. His family was large, his concubines and slaves many. Even the Emperor of China himself had shown him favours. As his aged eyes peered short-sightedly through the window of his room he could dimly discern the beautiful gardens with the strutting peacocks. Softly to his failing ears came the song of birds returning to the trees as the day grew old. Seng lay back, relaxed upon his cushions. Within himself he could feel the rustling fingers of Death loosing his bonds with life. Slowly the blood red sun sank behind the ancient pagoda. Slowly Old Seng sank back upon his cushions, a harsh rattling breath hissing through his teeth. The sunlight faded, and the little lamps in the room were lighted, but Old Seng had gone, gone with the last dying rays of the sun.” My Guide looked at me in order to be sure that I was following him, then continued.

“Ông già Seng nằm dài trên đệm, cơ thể phát ra tiếng kêu cót két và khò khè trong im lặng. Máu không còn chảy qua các động mạch và tĩnh mạch, dịch của cơ thể không còn róc rách chảy nữa. Cơ thể của ông già Seng đã chết, đã hoàn thành trọn vẹn, không còn sử dụng được nữa. Nhưng một nhà thấu thị, nếu có mặt, hẳn sẽ nhìn thấy một đám mây mù màu xanh nhạt xung quanh cơ thể của ông già Seng, tạo thành hình, sau đó trồi lên khỏi cái xác, nổi ngang lên trên, được gắn bởi sợi Dây bạc mỏng. Dần dần Sợi dây bạc mỏng dần, và đứt ra. Linh hồn đã từng là ông già Seng trôi đi, trôi đi như một đám khói hương, nhanh chóng biến mất qua các bức tường.” Vị Lạt Ma rót đầy cốc, nhìn tôi uống trà, rồi tiếp tục.

“Old Seng lay slumped upon his cushions, with his body sounds creaking and wheezing into silence. No longer did blood rush through arteries and veins, no longer did body fluids gurgle within. The body of Old Seng was dead, finished with, of no more use. But a clairvoyant, if one had been present, would have seen a light blue haze form around the body of Old Seng. Form, then lift over the body, floating horizontally above, attached by the thinning Silver Cord. Gradually the Silver Cord thinned, and parted. The Soul which had been Old Seng floated off, drifted like a cloud of incense smoke, vanished effortlessly through the walls.” The Lama refilled his cup, saw that I also had tea, then continued.

“Linh hồn trôi dạt qua các cõi, qua các chiều không gian mà những người duy vật không thể hiểu được. Cuối cùng thì nó cũng đến được một công viên kỳ diệu, rải rác với những tòa nhà to lớn mà một trong số đó ông ta đã dừng chân, tại đây Linh hồn của ông già Seng đi vào và băng qua một sàn lấp lánh. Lobsang à, một linh hồn trong cõi của nó, cũng vững chắc như con đang ở trên thế giới này. Linh hồn trong thế giới linh hồn, có thể bị giam giữ bởi những bức tường, và bước đi trên sàn nhà. Linh hồn ở đó có những khả năng và tài năng khác với những người chúng ta biết trên Trái đất. Linh hồn này đi lang thang và cuối cùng bước vào một căn phòng nhỏ. Ngồi xuống, ông ta nhìn chằm chằm vào bức tường trước mặt. Đột nhiên bức tường dường như biến mất, và tại vị trí của nó, ông nhìn thấy những cảnh tượng, những cảnh đời của mình. Ông ta đã thấy cái mà chúng ta gọi là Bản ghi Tiên Thiên Khí Ảnh Akashic, là cái ghi lại tất cả những gì đã từng xảy ra và có thể được nhìn thấy dễ dàng bởi những người được huấn luyện. Nó cũng được nhìn thấy bởi tất cả những người đã sang thế giới bên kia, để Con người nhìn qua Bản Ghi thấy những thành công và thất bại của chính mình. Con người nhìn thấy quá khứ của mình và đánh giá chính mình. Không có thẩm phán nào cao hơn chính Con Người. Chúng ta không ngồi run rẩy trước một Đức Chúa Trời; chúng ta ngồi và xem tất cả những gì chúng ta đã làm và tất cả những gì chúng ta muốn làm.” Tôi ngồi im lặng, tôi thấy tất cả những điều này khá hấp dẫn. Tôi có thể nghe bài này hàng giờ — còn hơn là các bài tập buồn tẻ!

“The Soul drifted on through realms, through dimensions which the materialist mind cannot comprehend. At last it reached a wondrous parkland, dotted with immense buildings at one of which he stopped, here the Soul that had been Old Seng entered and made his way across a gleaming floor. A soul, Lobsang, in its own surroundings, is as solid as you are upon this world. The soul in the world of the soul, can be confined by walls, and walk upon a floor. The soul there has different abilities and talents from those we know upon the Earth. This Soul wandered on and at last entered a small cubicle. Sitting down, he gazed at the wall before him. Suddenly the wall appeared to vanish, and in its place he saw scenes, the scenes of his life. He saw that which we term The Akashic Record, which is the Record of all that has ever happened and which can be seen readily by those who are trained. It is also seen by everyone who passes from the Earth life to the life beyond, for Man sees the Record of his own successes and failures. Man sees his past and judges himself. There is no sterner judge than Man himself. We do not sit trembling before a God; we sit and see all that we did and all that we meant to do.” I sat silent, I found all this of quite absorbing interest. I could listen to this for hours—better than dull lessonwork!

“Linh hồn từng là ông già Seng-một quan lại Trung Quốc đã ngồi và nhìn lại cuộc sống mà ông, khi còn ở trên Trái đất, đã nghĩ là rất thành công,” Thầy của tôi tiếp tục. “Ông ta nhìn thấy và đau buồn vì nhiều lỗi lầm của mình, rồi đứng dậy và rời khỏi căn phòng, đi nhanh đến một căn phòng lớn hơn, nơi những người đàn ông và phụ nữ của Thế giới Linh hồn đang chờ đợi ông. Im lặng, mỉm cười với lòng trắc ẩn và sự hiểu biết, họ chờ đợi sự tiếp cận của ông, chờ đợi ông yêu cầu được chỉ dẫn. Ngồi trong phòng của họ, ông kể cho họ nghe về những lỗi lầm của ông, về những điều ông đã cố gắng làm, có nghĩa là đã thực hiện và đã thất bại”. “Nhưng con tưởng Thầy đã nói ông ta không bị phán xét, ông ta tự mình đánh giá!” Tôi nói nhanh. “Đúng vậy, Lobsang,” Thầy tôi trả lời. “Sau khi đã nhìn thấy quá khứ và những sai lầm của mình, giờ đây ông ấy đã tiếp cận những Cố vấn này để nhận được lời khuyên của họ – nhưng đừng ngắt lời, hãy lắng nghe ta và giữ lại câu hỏi của con để hỏi sau.”

“The Soul that had been Old Seng the Chinese Mandarin sat and saw again the life that he, upon Earth, had thought so successful,” continued my Guide. “He saw, and sorrowed for his many faults, and then he rose and left the cubicle, going speedily to a larger room where men and women of the Soul World awaited him. Silently, smiling with compassion and understanding, they awaited his approach, his request to be guided. Sitting in their company he told them of his faults, of the things he had attempted to do, meant to do, and failed.” “But I thought you said he was not judged, he judged himself!” I said quickly. ”That is so, Lobsang,” replied my Guide. “Having seen his past and his mistakes, he now approached these Advisors in order to receive their suggestions—but do not interrupt, listen to me and save your questions for after.”

“Như ta đã nói,” vị Lạt ma tiếp tục, “linh hồn ngồi với các Cố vấn và kể cho họ nghe về những thất bại của mình, nói với họ về những phẩm chất mà ông ta phải ‘phát triển’ cho Linh hồn mình trước khi có thể tiến hóa hơn nữa. Đầu tiên là trở lại xem cơ thể của ông ấy, sau đó sẽ đến một khoảng thời gian nghỉ ngơi – hàng năm hoặc hàng trăm năm – và rồi ông ấy cần được giúp đỡ để tìm ra những điều kiện cần thiết cho sự phát triển tiếp theo. Linh hồn của ông già Seng đã quay trở lại Trái đất để cuối cùng nhìn thấy cái xác của mình, bây giờ đã sẵn sàng để chôn cất. Sau đó, không còn là Linh hồn của ông già Seng nữa, mà là một Linh hồn đã sẵn sàng cho sự yên nghỉ, ông ta quay trở lại Thế giới bên kia. Trong một khoảng thời gian không xác định, ông ấy nghỉ ngơi và hồi phục sức khỏe, học những bài học của kiếp trước, chuẩn bị cho kiếp sau. Ở đây, trong cuộc sống bên ngoài cái chết này, các đồ vật và vật chất vẫn là những vật thể rắn khi  ông ta chạm vào như chúng đã từng như vậy ở trên Trái đất. Ông ấy nghỉ ngơi cho đến khi thời gian và điều kiện được thu xếp”. “Con thích điều này!” Tôi thốt lên, “Con thấy nó rất thú vị.” Người mỉm cười với tôi trước khi tiếp tục.

“As I was saying,” continued the Lama, “the soul sat with the Advisors and told them of his failures, told them of the qualities which he had to ‘grow’ into his Soul before he could evolve further. First would come the return to view his body, then would come a period of rest—years or hundreds of years—and then he would be helped to find conditions such as were essential for his further progress. The Soul that had been Old Seng went back to Earth to gaze finally upon his dead body, now ready for burial. Then, no longer the Soul of Old Seng, but a Soul ready for rest, he returned to the Land Beyond. For a time unspecified he rested and recuperated, studying the lessons of past lives, preparing for the life to come. Here, in this life beyond death, articles and substances were as solid to his touch as they had been on Earth. He rested until the time and conditions were pre-arranged.” “I like this!” I exclaimed, “I find it of great interest.” My Guide smiled at me before continuing.

“Vào thời điểm đã được xác định trước, Linh hồn đang chờ đợi được gọi và được dẫn thẳng đến Thế giới Loài Người bởi một người có nhiệm vụ thực thi công việc này. Họ dừng lại, vô hình trước đôi mắt của những người bằng xương bằng thịt, quan sát cha mẹ tương lai, nhìn ngôi nhà, đánh giá khả năng ngôi nhà này có điều kiện cần thiết cho những bài học trong kiếp tới không. Hài lòng, họ rút lui. Nhiều tháng sau, người Mẹ sắp sinh cảm thấy trong mình đột ngột đập nhanh khi Linh hồn nhập vào và Đứa bé chào đời. Rồi đúng thời điểm, Đứa bé được sinh ra trong Thế giới Loài người. Linh hồn từng trong cơ thể của ông già Seng giờ phải vật lộn với thần kinh và bộ não bất đắc dĩ của đứa trẻ Lee Wong, sống trong hoàn cảnh éo le ở một làng chài của Trung Quốc. Một lần nữa những rung động cao của một Linh hồn được chuyển đổi thành những rung động quãng tám thấp hơn của một cơ thể xác thịt ”.

“At some pre-determined time, the Soul in Waiting was called and was led forth into the World of Mankind by one whose task was such service. They stopped, invisible to the eyes of those in the flesh, watching the parents-to-be, looking at the house, assessing the probabilities that this house would afford the desired facilities for learning the lessons which had to be learned this time. Satisfied, they withdrew. Months later the Mother-to-Be felt a sudden quickening inside her as the Soul entered and the Baby came to life. In time the Baby was born to the World of Man. The Soul that had once activated the body of Old Seng now struggled anew with the reluctant nerves and brain of the child Lee Wong living in humble circumstances in a fishing village of China. Once again the high vibrations of a Soul were converted to the lower octave vibrations of a flesh body.”

Tôi ngồi và suy nghĩ. Sau một lúc ngẫm nghĩ, cuối cùng tôi nói, “Thưa Lạt ma tôn kính, vậy tại sao mọi người lại sợ hãi cái chết, khi đó là sự giải thoát khỏi những rắc rối trên Trái đất?” “Lobsang, một câu hỏi hay đấy.” Người trả lời. “Đúng vậy, nhưng nhớ được những niềm vui ở Thế giới khác sẽ làm nhiều người trong chúng ta sẽ không thể chịu được những khó khăn vất vả ở đây, vì vậy chúng ta đã gieo vào lòng mình nỗi sợ hãi về cái chết.” Liếc nhìn tôi một cách dò hỏi, Người nhận xét, “Một số người không thích trường học, không thích những kỷ luật cần thiết ở trường. Tuy nhiên, khi người ta lớn lên và trưởng thành, lợi ích của trường học trở nên rõ ràng. Không nên trốn học mà lại mong muốn tiến bộ trong học tập; cũng như người ta không nên kết thúc cuộc sống khi phần thời gian dành cho họ chưa kết thúc.” Tôi băn khoăn về điều này, bởi vì chỉ vài ngày trước có một nhà sư già, thất học và ốm yếu, đã tự buông mình xuống từ một am thất trên cao. Đó là một ông già cáu kỉnh, với tính khí khiến ông từ chối mọi lời đề nghị giúp đỡ. Phải rồi, ông già Jigme thì nên tránh xa, tôi nghĩ vậy. Tốt hơn cho chính ông ấy. Tốt cho cả những người khác.

I sat and thought. Then I thought some more. At last I said, “Honourable Lama, as this is so, why do people fear death, which is but a release from the troubles of Earth?” “That is a sensible question, Lobsang,” replied my Guide. “Did we but remember the joys of the Other World many of us would not be able to tolerate hardships here, wherefore we have implanted within us a fear of death.” Giving me a quizzical sideways glance, he remarked, “Some of us do not like school, do not like the discipline so necessary at school. Yet when one grows up and becomes adult the benefits of school become apparent. It would not do to run away from school and expect to advance in learning; nor is it advisable to end one’s life before one’s allotted time.” I wondered about this, because just a few days before an old monk, illiterate and sick, had thrown himself from a high hermitage. A sour old man he had been, with a disposition that made him refuse all offers of help. Yes, old Jigme was better out of the way, I thought. Better for himself. Better for others.

“Thưa Thầy!” Tôi nói, “vậy thì sư ông Jigme đã có lỗi khi tự kết liễu cuộc đời mình không?” “Phải, Lobsang, ông ấy có lỗi rất nhiều,” Người trả lời. “Một người đàn ông hay đàn bà đều có một khoảng thời gian nhất định sống trên Trái đất. Nếu một người kết thúc cuộc sống của mình trước thời điểm đó, thì người đó sẽ phải quay trở lại gần như ngay lập tức. Vì vậy, chúng ta có cảnh tượng một đứa trẻ được sinh ra để sống có lẽ chỉ vài tháng. Đó sẽ là linh hồn của một kẻ tự sát quay trở lại để tiếp nhận cơ thể và sống khoảng thời gian đáng lẽ phải sống trước đây. Tự tử không bao giờ là chính đáng; đó là một sự xúc phạm nghiêm trọng chống lại chính mình, chống lại Chân ngã.” “Nhưng thưa Thầy,” tôi nói, “thế còn những người Nhật ở tầng lớp quí tộc tự sát theo nghi lễ để chuộc lỗi cho sự ô nhục của gia đình? Chắc chắn phải là người dũng cảm mới làm được điều đó”. “Không phải vậy đâu, Lobsang,” Thầy nhấn mạnh. “Không phải vậy. Sự dũng cảm không phải là chết mà là sống trong khó khăn, đối mặt với đau khổ. Chết thì dễ, sống – đó là hành động dũng cảm! Ngay cả màn biểu diễn về niềm tự hào trong ‘Nghi lễ Tự tử’ cũng không thể khiến người ta mù quáng trước sự sai trái của nó. Chúng ta ở đây để học hỏi và chúng ta chỉ có thể học hỏi thông qua việc sống hết mình. Tự tử không bao giờ là chính đáng!” Tôi lại nghĩ về sư ông Jigme. Ông đã rất già khi tự sát, vì vậy khi ông ấy quay lại để sống một lần nữa, tôi nghĩ, có lẽ chỉ ở lại rất ngắn thôi.

“Sir!” I said, “then the monk Jigme was at fault when he ended his own life?” “Yes, Lobsang, he was very much at fault,” replied my Guide. “A man or woman has a certain allotted span upon the Earth. If one ends his or her life before that time, then he or she has to return almost immediately. Thus we have the spectacle of a baby born to live perhaps a few months only. That will be the soul of a suicide returning to take over the body and so live out the time which should have been lived before. Suicide is never justified; it is a grave offence against oneself, against one’s Overself.” “But Sir,” I said, “how about the high born Japanese who commits ceremonial suicide in order to atone for family disgrace? Surely he is a brave man that he does that.” “Not so, Lobsang,” my Guide was most emphatic. “Not so. Bravery consists not of dying but in living in face of hardship, in face of suffering. To die is easy, to live—that is the brave act! Not even the theatrical demonstration of pride in ‘Ceremonial Suicide’ can blind one to its wrongness. We are here to learn and we can only learn through living our allotted span. Suicide is never justified!” I thought again of old Jigme. He was very old when he killed himself, so when he came again, I thought, it would be for a short stay only.

“Thưa Lạt ma tôn kính,” tôi hỏi, “mục đích của sự sợ hãi là gì? Tại sao chúng ta phải chịu đựng quá nhiều nỗi sợ hãi? Con đã phát hiện ra rằng những điều con sợ nhất không bao giờ xảy ra, nhưng con vẫn sợ chúng!” Vị Lạt ma cười và nói, “Điều đó xảy ra với tất cả chúng ta. Chúng ta sợ cái Không Biết. Tuy nhiên, sợ hãi là cần thiết. Nỗi sợ hãi thúc đẩy chúng ta, nếu không có nó chúng ta trở nên lười biếng. Sự sợ hãi giúp chúng ta có thêm sức mạnh để tránh tai nạn. Sợ hãi là một chất xúc tác giúp chúng ta có thêm sức mạnh, thêm động lực và khiến chúng ta vượt qua khuynh hướng lười biếng của chính mình. Con sẽ không học bài vở ở trường trừ khi con sợ giáo viên hoặc sợ mình tỏ ra ngu ngốc trước mặt người khác ”.

“Honourable Lama,” I asked, “what is the purpose of fear? Why do we have to suffer so much through fear? Already I have discovered that the things I fear most never happen, yet I fear them still!” The Lama laughed and said, “That happens to us all. We fear the Unknown. Yet fear is necessary. Fear spurs us on when otherwise we should be slothful. Fear gives us added strength with which to avoid accidents. Fear is a booster which gives us added power, added incentive, and makes us overcome our own inclination to laziness. You would not study your school work unless you feared the teacher or feared appearing stupid in front of others.”

Các nhà sư đang đi vào Đền thờ; các nhà sư trẻ tỏa ra xung quanh đi thắp thêm nhiều đèn bơ hơn, nhiều hương trầm hơn. Chúng tôi đứng dậy và bước ra ngoài trời mát mẻ của buổi tối, nơi làn gió nhẹ vờn qua những chiếc lá liễu. Những tiếng kèn lớn vang lên rất xa từ Potala, và những tiếng vọng mơ hồ quẩn quanh các bức tường của Tu viện của các nhà Tiên tri.

Monks were coming into the Sanctuary; chelas darted around lighting more butter lamps, more incense. We rose to our feet and walked out into the cool of the evening where a slight breeze played with the leaves of the willows. The great trumpets sounded from the Potala so far away, and dimly the echoes rolled around the walls of the State Oracle Lamasery.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS