Container Icon

Poem

 


1/-
Là cỏ dại ven đường
Hay đại thụ rừng sâu
Mong em vẫn kiên cường
Vươn mình sau cơn bão
Dựa ai cũng thế thôi
Cũng bất an, sợ hãi
Thôi tự thân vững chãi
Dựa vào mình đủ rồi
Mặt trời chỉ có một
Vẫn tự mình chói chang
Chỉ cần em sống tốt
Một đời ắt bình an.

2/-
Học tĩnh lặng giữa cuộc sống xô bồ
Để biến cố không làm ta gục ngã
Biết phân biệt giữa trắng đen thật giả
Sẽ không đau khi gian trá phơi bày.
Học buông xả để đời bớt đắng cay
Thả muộn phiền theo mây bay gió thoảng
Đời buồn bã ta hãy pha cho loãng
Rót niềm vui vào đó để cân bằng.
Học tha thứ để gần những cách ngăn
Người với người oán giận càng mệt mỏi
Khúc mắc gì cứ giải bày trao đổi
Hờn dỗi nào cũng tháo gỡ được thôi.
Học yêu thương môi sẽ nở nụ cười
Vui vẻ sống một cuộc đời bình dị
Đâu cần chi sang giàu hay phú quý
Lòng từ bi mang đến sự nhẹ nhàng.
Cuộc đời này sao phải quá vương mang
Lòng nặng nề sống phí hoài năm tháng
Đừng vui quá đừng cực cùng chán nản
Sẽ thấy đời nhàng nhẹ với thời gian.

3/- Nguyên Tiêu - Hồ Chí Minh
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
1948
Nghĩa :
RẰM THÁNG GIÊNG
Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm bàn bạc việc quân
Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng .
RẰM THÁNG GIÊNG
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
( Xuân Thuỷ dịch )

4/- Đây thôn vĩ dạ (Hàn Mặc Tử)
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà ?
HMT

5/- Hai sắc hoa ti gôn
Tác giả: TTKH
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương cát
Tay vít giây hoa trắng chạnh lòng
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: hoa giống như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi
Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy
Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm!
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường
Từ đấy thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người
Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng, tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo, chân mây trắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

6. Bến đò ngày mưa

Tác giả: Anh Thơ

Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át

Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa.

Và dầm mưa dòng sông trôi rào rạt

Mặc con thuyền cắm lại đậu chơ vơ.

Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo

Vài quán hàng không khách đứng xo ro.

Một bác lái ghé buồm vào hút điếu

Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho.

Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ

Thúng đội đầu như đội cả trời mưa.

Và họa hoằn một con thuyền ghé chở

Rồi âm thầm bến lại lặng trong mưa.

===========

7. Quê hương

Tác giả: Giang Nam

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

"Ai bảo chăn trâu là khổ?"

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được..

Chưa đánh roi nào đã khóc!

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích..

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ, tôi đi

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi..

Hòa bình tôi trở về đây

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

Tôi nắm bày tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi, quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi!

Đau xé lòng tôi, chết nửa con người..

Xưa quê hương vì có chim, có bướm

Có những ngày trốn học vị đòn, roi

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

1960

8. Nguyệt Cầm

Tác giả: Xuân Diệu

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng trời trong đêm thủy tinh

Lung linh bóng sáng bỗng run mình

Vì nghe nương tử trong câu hát

Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,

Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi ...

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê

Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề ...

Sương bạc làm thinh, khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

===========

9. Mắt buồn

Tác giả: Bùi Giáng

Bỏ trăng gió lại cho đời

Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa

Bỏ người yêu, bỏ bóng ma

Bỏ hình hài của tiên nga trên trời

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

=========

10. Thu điếu

Tác giả: Nguyễn Khuyến

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

=========

11. Những bóng người trên sân ga

Tác giả: Nguyễn Bính

Những cuộc chia lìa khởi từ đây

Cây đàn sum họp đứt tuôn dây

Những lời bèo bọt, thân đơn chiếc

Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày

Có lần tôi thấy hai cô bé

Sát má vào nhau khóc sụt sùi

Hai bóng chung lưng thành một bóng

- Đường về nhà chị chắc xa xôi

Có lần tôi thấy một người yêu

Tiễn một người yêu một buổi chiều

ở một ga nào xa vắng lắm

Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu

Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau

Kẻ ở sân ga kẻ cuối tàu

Họ giục nhau về ba bốn bận

Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu

Có lần tôi thấy vợ chồng ai

Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài

Chị mở khăn trầu anh thắt lại

- Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!

Có lần tôi thấy một bà già

Đưa tiễn con đi một chốn xa

Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng

Lưng còng đổ bóng xuống sân ga

Có lần tôi thấy một người đi

Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ

Một mình làm cả cuộc phân ly

Những chiếc khăn màu thổn thức bay

Những bàn tay vẫy những bàn tay

Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt

Buồn ở đâu hơn ở chốn này

Tôi đã từng chờ những chuyến xe

Đã từng đưa đón kẻ đi về

Sao nhà ga ấy sân ga ấy

Chỉ để cho lòng dấu biệt ly

=========

12. Núi đôi

Tác giả: VŨ CAO

Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa

Bữa thì anh tới bữa em sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi

Em vẫn đùa anh sao khéo thế

Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau

Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn

Ai ngờ từ đó mất tin nhau.

Anh vào bộ đội lên Đông Bắc

Chiến đấu quên mình năm lại năm

Mỗi bận dân công về lại hỏi

Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.

Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi

Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi

Mỗi tin súng nổ vùng đai địch

Sương trắng người đi lại nhớ người.

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở

Trung du làng nước vẫn chờ trông

Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm

Em vẫn đi về những bến sông.

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại

Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi

Hành quân qua tắt đường sang huyện

Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi.

Mới đến đầu ao tin sét đánh

Giặc giết em rồi, dưới gốc thông

Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa

Em sống trung thành chết thuỷ chung.

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn Đôi mà anh mất em.

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo

Em còn trẻ lắm, nhất làng trong

Mấy năm cô ấy làm du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

Từ núi qua thôn đường nghẽn lối

Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy

Sân biến thành ao nhà đổ chái

Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.

Cha mẹ dìu nhau về tận đất

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

Nứa gianh nửa mái lều che tạm

Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ

Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều

Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc

Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ

Oán thù còn đó anh còn đây

Ở đâu cô gái làng Xuân Dục

Đã chết vì dân giữa đất này?

Ai viết tên em thành liệt sĩ

Bên những hàng bia trắng giữa đồng

Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.


HỌ NGỘ NHẬN “TÌNH NHÂN” VÀ “TRI KỶ”

Có những người thích mượn danh tri kỷ

Để giấu đời thay thế chữ “tình nhân”

Nhưng vốn câu “tri kỷ” nghĩa vạn lần

Đâu nỡ để kẻ giả trân so sánh…

Có những cuộc hẹn hò luôn chóng vánh

Hay đảo điên trong viễn cảnh xô bồ

Vờ chân tình “ đan nguyện ước trong mơ”

Nhưng thật sự chỉ lọc lừa gian dối.

Có những cuộc tình luôn đi nhầm lối

Lại quẩn quanh trong ngõ tối vô tình

Cứ đằm mình trong hai chữ “tình nhân”

Rồi hoán đổi âm thầm thành tri kỷ.

Họ ngộ nhận nên tưởng là cao quý

Nên tự tin gọi “tri kỷ” - “nhân tình”

Thật lạ lùng… họ cứ thích biện minh

Và cứ muốn dối lòng mình như thế. 

Valentine… chẳng chỗ dành… tri kỷ…

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Vegan collection





















  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Kim tự tháp lâu đời nhất trên Trái đất hiện đang nằm ở lục địa băng giá - Nam Cực?



‘Các kim tự tháp lâu đời nhất trên Trái đất đang ẩn mình dưới lớp tuyết sâu lạnh giá của Nam Cực’: Tuyên bố gây sốc gần đây của các nhà khoa học về sự sống ngoài hành tinh trên kênh History Channel.

Các nhà lý luận về người ngoài hành tinh cổ đại cho rằng tồn tại những kim tự tháp bí mật đang ẩn giấu đâu đó trên thế giới, và một số có thể đang ở Nam Cực. Đặc biệt, họ đưa ra một cấu trúc tự nhiên tương tự kim tự tháp gần dãy núi Shackleton trên lục địa băng giá này. "Kim tự tháp" này, khi được xem trên hình ảnh vệ tinh, dường như có bốn cạnh dốc giống như Đại kim tự tháp Giza.

Thông tin kỳ lạ này đã được đưa lên loạt truyền hình Người ngoài hành tinh Cổ đại(Ancient Aliens) của History Channel, một chương trình truyền hình của Hoa Kỳ chuyên nói về các lý thuyết khác nhau về người ngoài hành tinh.

Tập một trong phần 11 của chương trình đưa ra giả thuyết rằng kim tự tháp này do người ngoài hành tinh cổ đại hoặc những nền văn minh tiền sử của nhân loại xây dựng nên.

Tác giả của học thuyết, ông David Childress nói với Ancient Aliens rằng có một khả năng đặc biệt là kim tự tháp Shackleton này có thể là kim tự tháp lâu đời nhất trên Trái đất.

Ông nói: “Nếu kim tự tháp khổng lồ ở Nam Cực này có kết cấu nhân tạo, nó có thể sẽ là kim tự tháp lâu đời nhất trên hành tinh và trên thực tế, nó có thể là kim tự tháp chính mà tất cả các kim tự tháp khác trên Trái đất sử dụng làm khuôn mẫu.”

David Childress cho biết nó có thể là kim tự tháp lâu đời nhất trên Trái đất
David Childress cho biết nó có thể là kim tự tháp lâu đời nhất trên Trái đất. (Ảnh: Ancient Aliens)

Một nhà lý luận khác cũng đồng tình với quan điểm trên cho biết: “Trên khắp thế giới, chúng tôi tìm thấy các bằng chứng về các kết cấu kim tự tháp. Chúng ta nên bắt đầu xem xét khả năng có sự sống ở Nam Cực. Đó có lẽ là di sản của một nền văn minh đã mất? Hay là từ các phi hành gia cổ đại? Và cũng có thể, là những di tích đầu tiên của nền văn minh của chúng ta đến từ Nam Cực".

Tuy nhiên lý thuyết này đã bị phủ nhận bởi tiến sĩ Michael Salla. Chuyên gia về người ngoài hành tinh cho rằng kim tự tháp ở Nam Cực chỉ là một nút trong mạng lưới các ‘kim tự tháp tạo ra năng lượng’ trên toàn cầu có vị trí chiến lược xung quanh Trái đất.

Một lý thuyết về kim tự tháp phổ biến cho rằng các cấu trúc hình tam giác hoạt động như các loại máy phát năng lượng, được xây dựng với mục đích chuyển tải một lượng lớn năng lượng đến khắp mọi nơi trên hành tinh.

Tiến sĩ Salla cho biết: “Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện về các kim tự tháp trên khắp thế giới, về cấu trúc của chúng và mục đích của chúng thực sự là gì. Một trong những giả thuyết cho rằng kim tự tháp là máy phát điện năng và do đó, nếu bạn đặt những kim tự tháp này ở vị trí chiến lược trên khắp thế giới để tạo ra điện tích, thì có thể tạo ra một làn xung sóng trên toàn thế giới, và đó là hiện tượng truyền năng lượng từ khoảng cách xa”.

Tuy nhiên, không phải ai xem tập phim Ancient Aliens cũng bị thuyết phục bởi những lý thuyết được đưa ra.

Quang Minh

Theo ExpressUK

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Plant of the Month: Agarwood

 


An anonymous handwritten note tucked away in an archival box of miscellaneous seventeenth-century travel accounts, news reports, and other disparate documents from the late Medici Court in the Florentine State Archive describes the use and value of a curious odorous wood. The note names the wood “Calambà” or “Lignum Aloes” and describes it as so valuable that the king of Cochinchina (a kingdom in present-day Vietnam) kept a piece the size of his palm in his treasury.

It is likely the note was originally paired with a letter and possibly even a piece of Calambà, today known as agarwood, and dispatched to the Grand Duke of Florence by one of the court’s agents in Southeast Asia. The Medici Grand Dukes of Florence were known for their collections of exotic naturalia. Agarwood, used in medicines as well as incense and perfumes across Asia and the Near East for centuries, would have been a rarity and a welcome addition to the Medici collections. In fact, a contemporary catalogue of a Milanese cabinet of curiosities notes that Grand Duke Ferdinando II de Medici (1610–1670) purchased a large piece of agarwood for 4,000 ongari (a type of gold coin).

It is hard to translate this extraordinary price tag into a dollar amount today, but you can get a sense of just how much it was by looking at the average daily wage of a worker in Florence at the beginning of the seventeenth century. Economic historian Richard Goldthwaite estimates that in the year 1600 the average daily wage in Florence was 20 soldi. Approximately 140 soldi equaled 1 gold florin. If the average Florentine worker earned approximately 52 florins in a year, it would have taken them nearly 77 years to earn enough to purchase the Grand Duke’s piece of agarwood. Fast-forward three centuries and agarwood remains one of the most expensive woods in the world. First-grade agarwood can cost as much as $100,000 per kilogram.

Agarwood (left), called Agallochus or Lignum Aloes in Mathias de l’Obel’s Icones Stripium, Seu Plantarum Tam Exoticarum, 1591, via the Missouri Botanical Garden. A copy is also held in the Dumbarton Oaks Rare Book Library.

Agarwood was prized well beyond early modern Italy. To quote the eighteenth-century British naturalist John Ellis, it had long been “precious in the East.” The earliest use of agarwood is recorded in the four Vedas of ancient India (approximately 1500–1000 B.C.E.). It was used as a religious offering as well as a fragrant smoke that was thought to facilitate spiritual connections. It was also used by the nobility to perfume their homes and signal wealth. From India, taste for and customs associated with agarwood traveled east and west along the Silk Road, an ancient network of trade and commerce that stretched from southern Europe to East Asia. As it traveled west, agarwood was incorporated into Christian and Islamic cultures as both medicine and incense and, by the time of the late Medici Court, also as an exotic object of natural history.

It was agarwood’s introduction to China and Japan, however, that would transform the fragrant substance into one of the world’s most prized and expensive woods for more than a millennium. Agarwood was first introduced to continental China from Southeast Asia sometime in the third century and was integrated into local incense and perfumery traditions. In southern China, agarwood was considered a prestigious luxury and quickly became an important import. Anthropologist Dinah Jung argues that the “gradual establishment of Buddhism in China supported the promotion of agarwood, since this movement generally emphasized the positive value of fragrance(s).” The rise of Buddhism only increased the significance of agarwood as incense became increasingly tied to religious practices. By the twelfth century, the value of agarwood had become equal to that of silver in southern China and across Southeast Asia.

Use of agarwood spread alongside Buddhism, and both reached Japan around the sixth century. By the eighth century, agarwood had become a crucial scent in Japanese incense ceremonies called kōdō. These elegant aristocratic rituals centered on enjoying, discerning, making, and judging the qualities of different aromatics. In Japan, there is even a large piece of ancient agarwood, called Ranjatai, that is still revered today; it is said to have been a gift from the Chinese to court to the Emperor Shômu (724–748 C.E.). Today Ranjatai is housed in the treasury of an important Buddhist temple and placed on display for special occasions.

Thanks to its rarity and inaccessibility, the odorous wood has a long history as a luxurious and spiritual substance. But in their natural state, the trees that produce agarwood are no more costly or desired than any other tree in South and Southeast Asia. The product of a microbial fungal infection, agarwood is actually a fragrant, dark, resinous wood formed in the heartwood of trees of the genus Aquilaria, which are native to the rainforests of Indonesia, Thailand, Cambodia, Laos, Vietnam, Malaysia, Northeast India, Bangladesh, the Philippines, Borneo, and New Guinea.

When a tree is injured or infected with fungus, an immune reaction sets in, producing stressed-induced aromatic resins, called aloes, in its heartwood. Over the course of several years, the aloes slowly embed in the heartwood, creating agarwood. The tree is then cut down and the pieces of agarwood are extracted by hand. In natural forests only 7 percent to 10 percent of Aquilaria trees become infected and produce agarwood. Unfortunately, without an experienced local specialist, the presence and quality of agarwood can only be assessed by felling the trees.

Making matters worse, demand for agarwood has increased over the past ten years, as the ancient scent has become newly fashionable in the international perfume industry. Pieces of agarwood are distilled into an essential oil, nicknamed liquid gold, to become a common ingredient in high-end perfumes. Increased demand for agarwood essential oil has led to not only an increase in prices and cultivation and a reduction in product quality, but also a heavy impact on Aquilaria populations.



  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS