Container Icon

Thập nhị binh thư


 Thập Nhị Binh Thư gồm 12 bộ binh thư được tập hợp và giới thiệu lần lượt là:

1. Lục thao (Thái Công Khương Tử Nha);
2. Tam lược (Thái Công Khương Tử Nha);
3. Tư Mã binh pháp (Tư Mã Điền Nhương Tư);
4. Tôn Tử binh pháp (Tôn Vũ Tử);
5. Ngô Tử binh pháp (Ngô Khởi);
6. Uất Liễu Tử (Uất Liễu);
7. Binh pháp Khổng Minh (Võ Hầu Gia Cát Lượng);
8. Tố thư (Hoàng Thạch Công);
9. Đường Thái Tông - Lý Vệ Công vấn đối (Vệ Công Lý Tĩnh);
10. Binh thư yếu lược (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn);
11. Binh thư yếu lược (tu chỉnh)
12. Hổ trướng khu cơ (Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ).
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là tập hợp tương đối đầy đủ nhất của cấp độ Mưu Thuật - Trí Thuật; để chuẩn bị cho một dân tộc vĩ đại, trung tâm, siêu việt; thì cấp độ đó cũng là chưa đủ mà dân tộc mình phải cùng đoàn kết luyện rèn lên mức độ của Trí Đạo – Tâm Đạo; là cấp độ có thể thấu ngộ được quy luật tạo hoá, hiểu được Ý Trời, cùng quy tụ Lòng Người với những động lực và cảm xúc cao cấp và cao quý nhất.
Người ta vẫn tin rằng Binh pháp Trung Hoa cổ là những nguyên tắc tiến hành chiến tranh được đúc kết rất chặt chẽ và xác đáng. Nhưng lịch sử Việt Nam luôn có những anh hùng dân tộc đã oanh liệt chiến thắng rất nhiều đạo quân phương Bắc hùng mạnh được dẫn đầu bởi những viên tướng làu thông binh pháp. Người Đại Việt ta cũng hấp thu binh pháp Trung Hoa cổ để sáng tạo nên một lý luận riêng, một nghệ thuật chiến tranh đặc sắc giúp dân tộc nhỏ bé trở nên quật cường, không bao giờ khuất phục ngoại xâm. Nói cho cùng thì các bậc tiền nhân lập nên những bộ Binh Thư, Binh Pháp cốt yếu nhằm hoàn thiện một lý luận quân sự tổng quát cùng với một số lối tác chiến trong từng hoàn cảnh. Chẳng hạn Binh Pháp Tôn Tử chép rằng, "Binh vô thường thế, thủy vô thường hình, năng nhân địch biến hóa nhi thủ thắng giả, vị chi thần" - Quân binh cũng như nước, không hình không dạng cố định; nếu như có thể tùy theo tình hình biến hóa của địch mà biến đổi theo đó để giành thắng lợi, thì đó là "dụng binh như thần" vậy. Còn "Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ tri kỉ giả, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỉ, mỗi chiến tất đãi" thường được tường ngôn ngắn gọn thành "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng", đã từ lâu được truyền tụng trong khắp nhân gian. Đó chẳng phải là những tâm ngôn căn cốt để giành vị thế thống lãnh trên chiến trường ư! Còn thực tiễn chiến trường sẽ minh chứng người làm Tướng thấu hiểu tâm ngôn và vận dụng với sự Minh Triết đến mức nào.
img
Thư trung hữu bảo, trong kinh sách luôn hiện hữu điều quý báu, kẻ lược thao quân sự nhất thiết phải vững vàng về mưu lược, kế sách, tài nghệ kiếm cung. Vị lẽ ấy, bửu văn "Thập nhị binh thư" cũng đồng thời là bửu khí nhất định phải sở đắc và làu thông để mỗi binh sĩ đều có thể thành danh trên con đường binh nghiệp, để mỗi viên tướng đều là biểu tượng của một đạo quân bất khả chiến bại trên sa trường.
Thiết tưởng cũng cần phải diễn giải thêm rằng: đối với các bậc minh quân và những dũng tướng quả cảm, thượng võ nhất thì "Binh chinh thiên hạ" chỉ là một dạng phương tiện chứ không phải mục đích. Kỳ thực thì những bậc này đều thấu đạt một đạo lý rằng an dân, yên định xã tắc mới chính là mục đích tối cao của chiến chinh. Họ là những chủ tướng đầy Trắc ẩn - Yêu thương - Trách nhiệm nên được vinh danh trong sử sách, được cả người đời, đồng minh và luôn cả kẻ thù cũng phải kính trọng.
Cũng vì thế mà pho sách này không chỉ là bộ kiệt tác quân sự cổ xưa, mà còn ẩn chứa biết bao hàm ý triết học ưu tú của Đông Phương. Người đời nay ai ai đọc Binh Thư cũng đều thu hoạch được lợi ích. Người doanh nhân đọc Binh Thư thì thêm nhiều sáng kiến chốn thương trường. Người trí thức đọc vào để tỏ tường lịch sử. Người nghệ sỹ sẽ cảm thụ được cái hay cái đẹp trong câu chữ, văn phong… Hiểu ra thế nào là nghệ thuật mưu lược chiến tranh ngày trước vẫn giúp lợi cho mọi độc giả trong công việc và đời sống ngày nay. Bao người mê say Binh thư cổ ngàn năm cũng bởi những giá trị ẩn tàng, càng khai phá càng thấy dồi dào mãi chưa cạn kiệt.
img
Khương Thượng, tự Tử Nha (1156 - 1017 TCN) vốn thuộc dòng dõi quyền quý từng được phong đất Lã nên còn được gọi là Lã Thượng. Ông là công thần khai quốc triều Tây Chu tồn tại hơn 800 năm và là triều đại kéo dài nhất lịch sử Trung Quốc, đồng thời là người sáng lập ra văn hóa Tề. Ông là nhà quân sự và chánh trị đại tài nên cả Nho, Đạo, Pháp đều coi ông là nhân vật của gia phái mình, vậy nên ông được tôn là

Khương Thượng, tự Tử Nha (1156 - 1017 TCN) vốn thuộc dòng dõi quyền quý từng được phong đất Lã nên còn được gọi là Lã Thượng. Ông là công thần khai quốc triều Tây Chu tồn tại hơn 800 năm và là triều đại kéo dài nhất lịch sử Trung Quốc, đồng thời là người sáng lập ra văn hóa Tề. Ông là nhà quân sự và chánh trị đại tài nên cả Nho, Đạo, Pháp đều coi ông là nhân vật của gia phái mình, vậy nên ông được tôn là "Bách gia tông sư"

 
Trước khi phò tá Chu Văn Vương, cuộc sống của Khương Tử Nha vô cùng gập ghềnh gian nan. Là con cháu chi thứ nên ông dần trở thành dân thường, mất các đặc quyền của dòng quý tộc. Năm 32 tuổi, nhà Thương chiến tranh không dứt, để tránh tai họa mà ông lên núi tu Đạo. Trải qua 40 năm khổ tu, ông xuất sơn khi 72 tuổi. Cao niên mà lại không có sở trường về nghề nào, ông sống nhờ nhà bạn bè và mưu sinh bằng các việc lặt vặt, mà làm gì cũng chẳng thành. Tử Nha luôn bị chê cười, châm chọc. Tuổi trẻ ông lao đao, cho đến tận lúc đã già vẫn vậy.
Không rõ Tử Nha có từng làm chức quan nhỏ dưới thời Trụ Vương hay không mà chỉ biết rằng khi thấy Trụ Vương bạo ngược vô đạo, lao dịch bách tính, hoang đường vô độ nên ông biết ngày mạt vận sẽ không xa. Ông nói với vợ rằng: "Ta không nỡ thấy vạn dân chịu tai ương. Nàng và ta đi Tây Kỳ, tương lai ắt sẽ có ngày hiển đạt". Nhưng vợ của ông chê ông không có tài cán gì, nên không muốn ở cùng ông nữa. Khương Tử Nha bất đắc dĩ đành một thân một mình trốn đến Tây Kỳ (sau này là nước Chu).
Chân núi Chung Nam tỉnh Thiểm Tây, Khương Tử Nha thường ngồi bên sông Vị Hà câu cá. Dùng lưỡi câu thẳng nên đã 3 năm mà ông không câu được bất kỳ con cá nào. Lúc này, Chu Văn Vương đến vùng đất ấy đi săn, tình cờ gặp Khương Tử Nha hơn 80 tuổi ngồi câu bên sông. Sau khi đàm luận, Văn Vương thấy ông chính là người hiền tài, võ có thể an bang, văn có thể trị quốc - đúng người lâu nay mong ngóng. Thế là Chu Văn Vương vui mừng nói: "Thái Công, ta mong ông đã lâu rồi". Do đó Khương Tử Nha có biệt hiệu "Thái Công Vọng", thường gọi là Khương Thái Công hay Lã Vọng. Ông phò tá Chu Võ Vương tiêu diệt nhà Thương của Trụ Vương Đế Tân, nhiều lần lập kỳ công, được phong đất Tề. Chí hướng xưng Vương của Khương Tử Nha khi tuổi ngoài 80 thật đáng ngưỡng vọng.
Chu Công là em trai của Chu Võ Vương. Sau khi Khương Tử Nha được phong đất Tề, chỉ vài tháng sau ông trở lại bẩm báo với Chu Công. Chu Công ngạc nhiên vì bình ổn nhanh chóng thì được Tử Nha trả lời: "Bỉ chức đơn giản hóa lễ tiết quân thần, tất cả đều thuận theo tình hình phong tục ở đó mà làm, do đó đất Tề đã bình ổn". Khương Tử Nha đã thấu chân lý của việc cai trị sau khi thấy sự u mê của Trụ Vương. Trong khi con trai Chu Công là Bá Cầm được phong đất Lỗ. Ba năm sau Bá Cầm mới trở lại bẩm báo tình hình: "Thay đổi tập quán ở đó, cách tân phép tắc lễ nghi ở đó, ít nhất cũng phải 3 năm mới thấy có hiệu quả, do đó con về muộn". Chu Công nghe xong than rằng: "Chính lệnh chỉ có bình hòa thì dễ thực hiện, bá tánh mới an cư lạc nghiệp, quốc gia mới thịnh trị yên ổn lâu dài".
img
Khương Tử Nha đã viết trong trước tác "Lục Thao" rằng: "Thiên hạ không phải là thiên hạ của một người, mà là thiên hạ của người trong thiên hạ. Nếu như có thể cùng tất cả mọi người trong thiên hạ phân chia lợi ích thì có thể lấy được thiên hạ, độc chiếm lợi ích của thiên hạ ắt sẽ mất thiên hạ. Trời có tứ thời, đất có tài phú, có thể cùng tận hưởng với muôn dân đó chính là nhân ái. Có nhân ái, người trong thiên hạ ắt sẽ quy thuận, tránh khỏi việc con người bị diệt vong, tiêu trừ khổ nạn cho muôn dân, đó chính là ân đức.
Ân đức tồn tại, người trong thiên hạ sẽ quy thuận, cùng mọi người chia sẻ vui buồn, tốt xấu đó chính là đạo nghĩa. Đạo nghĩa tồn tại, thiên hạ ắt sẽ không có tương tranh tương đấu mà quy thuận. Con người ai cũng ghét cái chết, yêu sinh tồn, tiếp nhận ân đức mà truy cầu phúc lợi, có thể vì người trong thiên hạ mà mưu cầu phúc lợi thì chính là vương đạo. Vương đạo tồn tại, người trong thiên hạ ắt cũng sẽ quy thuận. Đồng thiên hạ chi lợi giả tắc đắc thiên hạ, thiện thiên hạ chi lợi giả tắc thất thiên hạ, (Người chung cái lợi của thiên hạ ắt có được thiên hạ, người chuyên quyền độc chiếm cái lợi của thiên hạ ắt mất thiên hạ)".
Vậy nên bốn chữ "Thiên hạ quy tâm" chính là tinh hoa để Khương Tử Nha lập thuyết, với 4 cột trụ là Nhân - Đức - Nghĩa - Đạo để đạt được chính sự hòa thuận, nhân tâm hòa hợp. Ông chủ trương bắt đầu từ Vua: Vua phải thi hành nhân nghĩa, tu dưỡng đạo đức, không được vì mình mà tổn hại dân. Như vậy thì việc xưng Vương mới bền lâu, nhân dân mới chung sức đồng lòng với Quân Vương, quốc gia mới càng ngày càng cường thịnh.
Trước tác "Lục Thao" của Khương Tử Nha không chỉ là cuốn binh pháp chiến tranh cổ đại mà còn là khung mẫu thể chế chánh trị nghiêm cẩn cho nhà Chu. Trước tác này còn làm nền móng vững chắc cho bá nghiệp của Tề Hoàn Công và Quản Trọng sau này để "chín lần hợp chư hầu, thiên hạ quy về một mối". Lục Thao gồm 6 quyển: Văn thao: cách trị nước dùng người; Võ thao: đấu tranh chánh trị với kẻ thù; Long thao: phép cầm quân của chiến tướng; Hổ thao: hình trận và các loại vũ khí khí tài; Báo thao: các lối tác chiến; Khuyển thao: tuyển mộ, rèn luyện và sử dụng binh sĩ.
Các chiến lược gia quân sự chánh trị nhiều đời sau như Tôn Vũ, Quỷ Cốc Tử, Hoàng Thạch Công, Gia Cát Lượng… đều hấp thu tinh hoa trong "Lục Thao" để rồi phát triển sâu rộng thêm, càng khiến cho trước tác này và tên tuổi của Khương Tử Nha trở thành bất hủ.
Còn "Tam Lược" lại là những ghi chép ngắn gọn về thuật làm chiến tướng. Nói cách khác đây là phần dành riêng cho những chỉ huy ngoài mặt trận. Bao gồm: Thượng lược: tư cách người làm tướng, cách đối xử với thường dân, với tướng dưới quyền và binh sĩ, và thái độ với kẻ địch; Trung lược: cách dàn xếp quan hệ giữa chiến tướng nơi sa trường và triều đình xa xôi; Hạ lược: các khía cạnh đạo đức, nghĩa lễ khi hành xử ở đời. Vậy nên người làm Tướng nhất thiết phải thông tường Lục Thao và Tam Lược, tức là phải "có tài thao lược".
Theo sử sách ghi lại, Khương Tử Nha sống thọ đến 139 tuổi với trí huệ to lớn vì đã đạt đến cảnh giới cao của Lập thuyết. Sau hàng chục năm khổ tu rồi lại thêm hàng chục năm nữa luyện rèn gian khổ trong đời thực, cuối cùng Khương Tử Nha đã thành tựu sự nghiệp vĩ đại, công trạng lớn lao và để lại trước tác tinh thâm cho hậu thế. Cuộc đời ông phi phàm như vậy, ở thời đại ấy chỉ có Thần Tiên mới làm được. Do đó người đất Tề gọi ông là "Thiên Tề Chí Tôn". Đạo gia lưu truyền rằng ông đã tu luyện viên mãn thành Tiên. Trong quyển "Phong Thần diễn nghĩa" đời Minh cũng đưa ông vào hàng ngũ Thần Tiên. Các triều đại Trung Hoa đều xây dựng đền thờ Khương Tử Nha để người đời sau chiêm bái.
"Lục Thao và Tam Lược" thuộc binh pháp số 1 và số 2 trong 12 binh pháp của cuốn sách "Thập Nhị Binh Thư" được Nhà sáng lập - Chủ Tịch Tập đoàn Trung Nguyên Legend Đặng Lê Nguyên Vũ cẩn trọng, tuyển chọn thuộc lĩnh vực Chính trị - Ngoại giao - Quân sự trong "Tủ sách Nền Tảng Đổi Đời".

BINH PHÁP LỤC THAO: VĂN THAO – KHƯƠNG TỬ NHA

 Lục Thao  hay Lược Thao (六韬) hay Thái công lục thao (太公六韬), Thái công binh pháp (太公兵法) là một tác phẩm binh pháp đưa ra những lý luận có hệ thống về mưu lược dùng binh trong chiến tranh, tương truyền do Khương Tử Nha đầu đời nhà Chu sáng tác. Tuy nhiên hiện nay đa số ý kiến cho rằng Lục Thao chỉ là do người đời Chiến Quốc ghi chép lại những tư tưởng của Khương Tử Nha mà làm thành.

Phiên bản Lục Thao cổ nhất được tìm thấy là trong bộ “Thẻ tre Ngân Tước sơn” do các nhà khảo cổ Trung Quốc khai quật được năm 1972.

Năm 1935 Trung Hoa học nghệ xã đã dựa theo bản in thời Tống để cho xuất bản lại bộ VŨ KNH THẤT THƯ trong đó có Lục Thao.

Cấu trúc  Lục Thao hiện nay gồm có 6 bộ:

Văn thao (文韬): dụng nhân – trị quốc

Võ thao (武韬): dụng binh

Long thao (龙韬): tuyển tướng

Hổ thao (虎韬): quân hình – khí tài.

Báo thao (豹韬): Chiến thuật.

Khuyển thao (犬韬): Luyện sĩ

SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ: KHƯƠNG TỬ NHA

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

     Khương Tử Nha (姜仔呀), tên thật Khương Thượng (姜尚), tự là Tử Nha (子牙)và còn có tên khác là Lã Vọng, là khai quốc công thần nhà Chu thế kỷ 12 trước Công nguyên và là vua khai lập nước Tề tồn tại từ thời Tây Chu đến thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc

Khương Tử Nha tuổi già thường đi câu cá ở sông Vị, tình cờ được Cơ Xương (Văn Vương – vị vua đầu tiên của nhà Chu) ngưỡng mộ tài năng sau cuộc gặp gỡ trong một chiến đi săn và đón về cung, tôn làm thầy. Khương Thượng giúp Cơ Xương chấn chỉnh nội trị và xây dựng lực lượng nước Chu để mưu đánh đổ nhà Thương tàn bạo mất lòng dân.

Khương Tử Nha tiếp tục phò Cơ Phát ( Vũ Vương – 1226 Trước Công Nguyên) đánh bại Trụ Vương (nhà Thương) và được phong làm vua Tề (Tề Thái Công) ở đất Doanh Châu

Tôi xin chia sẽ quyển VĂN THAO (文韬 ) giản lược trong bộ LỤC THAO:

VĂN  THAO:  DỤNG NHÂN – TRỊ QUỐC

   THIÊN THỨ 1:  VĂN SƯ

Văn Vương sắp đi săn.

Sử Biên gieo quẻ bói rằng: “Đại Vương săn ở đất Vị Dương thì sẽ được việc lớn. Không phải được rồng, lân, cọp, giấu mà là điềm được bậc công hầu Trời cho xuống giúp đại vương để lập sự nghiệp, hưng thịnh như thời Tam Vương vậy”.

Văn Vương nói: “Điềm này tốt đến thế ư?”

Sử Biên tâu: “Xưa Thái tổ của thần là Sử Trù chiêm quẻ cho vua Vũ gặp Cao Dao cũng được điềm này”.

Văn Vương bèn nghỉ ngơi ăn chay ba ngày rồi xa giá đền miền Vị Dương, chợt thấy Thái Công đang ngồi dưới túp liều tranh câu cá.

Văn Vương đến úy lạo và hỏi: “Người thích câu cá lắm ư?”

Thái Công đáp: “Thần nghe nói quân tử thích thỏa chí của mình, tiền nhân thích được việc của mình. Nay thần ngồi câu ở đây cũng giống như vậy, chứ không hẳn là vui thích”.

Văn Vương hỏi: “Sao gọi là giống như thế?”

Thái Công đáp: “Câu cá có ba điều cân nhắc:

– Tùy quyền mà ban bổng lộc.

–  Tùy quyền mà khiến người chết.

– Tùy quyền mà định tước quan.”

Câu cá để đạt được nguyện vọng của mình thì ý nghĩa sâu sắc có thể “làm nên việc lớn”.

Văn Vương nói: “Xin cho nghe về ý nghĩa này.”

Thái Công đáp: “Nguồn sâu nên nước chảy, nước chảy là cái Lí sinh ra cá. Rễ sâu nên cây lớn, cây lớn là cái Lí sinh ra quả. Quân tử cùng chí hướng nên hợp nhau, hợp nhau là cái Lí sinh ra sự việc.

Đối đáp bằng ngôn ngữ là cái bề ngoài của tính cách, còn câu nói chính là lẽ tận cùng của sự việc. Nay thần nói chí tình không hề kiêng nể, Đại vương có lấy làm trái ý chăng?”

Văn Vương nói: “Người có lòng nhân ái mới chịu nghe điều can gián, không ghét lời nói chí tình. Vậy những lời nói ấy là chi?”

Thái Công đáp: “Dây bé mồi nhỏ thì cá nhỏ ăn. Dây vừa mồi thơm thì cá hạng trung ăn. Cá ăn mồi nên phải mắc câu, người hưởng lộc nên phải theo vua.

Vậy câu cá bằng mồi thì cá sẽ bị bắt, giữ người bằng bổng lộc thì người sẽ làm hết mình, chiếm nước bằng nhà thì nước sẽ bị chiếm, chiếm thiên hạ bằng nước thì thiên hạ sẽ đi theo.

Ôi, miên man, dằng dặc, cảnh hợp ấy ắt phải tan rã. Tối tăm mờ mịt sẽ phải rời xa ánh sáng. Huyền diệu thay!

Cái đức của thánh nhân có thể chinh phục được thiên hạ, há chẳng đủ cho mình vui sao? Những điều lo nghĩ của thánh nhân là tùy theo địa vị của mỗi người mà thu phục họ.”

Văn Vương hỏi: “Thiên hạ không phải là của một người, thiên hạ là của thiên hạ. Chung quyền lợi với thiên hạ thì được thiên hạ, chiếm quyền lợi của thiên hạ thì mất thiên hạ.

Trời có thời, đất có của, cùng hưởng với người là “nhân”. “Nhân” ở đâu thì thiên hạ theo về đấy.

Tha cha cho người, giái cái khó của người cứu người lúc hoạn nạn, giúp người khi khốn đốn là đức. Đức ở đâu, thiên hạ theo về đấy.

Cùng lo, cùng vui, cùng thương, cùng ghét với mọi người là nghĩa. Nghĩa ở đâu thiên hạ theo về đấy.

Con người vốn tham sống sợ chết, thích đức và lợi, làm cho con người được sống được lợi là đạo. Đạo ở đâu, thiên hạ theo về đấy.

Văn Vương bái tạ và nói: “Thật là đúng hay, làm sao ta dám cãi mệnh trời”.

Bèn mời ông cùng ngự xe trở về, phong Thái Công làm Quốc sư.

THIÊN THỨ 2: DOANH HƯ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Thiên hạ mênh mông sao có lúc đầy lúc vơi, khi yên khi loạn? Vì vua hiền, ngu không giống nhau, hay vì thiên thời biến hóa tự nhiên sinh ra vậy?”

Thái Công đáp: “Vua ngu thì nước nguy dân loạn, vua hiền thì dân trị nước yên. Nên họa phúc là ở vua, chứ không phải ở thiên thời”.

Văn Vương nói: “Xin nghe về bậc hiền quân thưở trước”.

Thái Công đáp: “ Xưa vua Nghiêu trị vì thiên hạ, thời đó gọi người là bậc hiên quân (vua hiền)”

Văn Vương hỏi: “Chính trị thời đó ra sao?”

Thái Công đáp: “ Khi vua Nghiêu trị vì thiên hạ, không trang sức vàng bạc châu báu, không mặc đồ gấm vóc xa hoa, không nhìn vật lạ kỳ, không quí đồ tốt đẹp, không nghe nhạc phóng đãng, không trang hoàng cung viện, không chạm trổ kèo cột, không cắt cỏ trong vườn.

Dùng áo bông mặc khi trời rét, lấy áo vải để che thân, lấy gạo xấu làm cơm, lấy rau hoắc làm canh.

Không bày chuyện bắt dân sưu dịch để thiệt hại mùa màng, dân chúng. Dốc hết tâm trí vào công việc giáo hóa nhân dân.

Quan nào trung chính thi hành pháp luật thì nâng cao ngôi vị, liêm khiết thương dân thì cho bổng lộc nhiều. Ai nhân từ hiếu đễ thì kính yêu, có công trồng trọt thì khích lệ, đạo đức hiền thục thì treo biển nêu danh nơi cổng làng.

Giữ lòng công bình chính trực, dùng pháp luật ngăn cấm điều gian dối. Người mình ghét mà có công thì vẫn thưởng, người mình yêu mà có tội vẫn phạt.

Nuôi dưỡng những người già yếu, góa bụa đơn côi, giúp đỡ các gia đình tai ương chết choc.

Lễ vật dân dâng thì lấy rất nhẹ, thuế má sưu dịch thì cần rất ít nên muôn dân giàu có vui vẻ, không có cảnh đói rét điêu linh. Trăm họ thờ vua như mặt trời, mặt trăng, thương vua như cha mẹ vậy.

Văn Vương nói: “Vĩ đại thay! Cái đức của bậc hiền vương”.

THIÊN THỨ 3: QUỐC VỤ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Xin cho nghe về việc lớn để trị nước”

Thái Công đáp: “Chỉ cần thương dân”.

Văn Vương hỏi: “Thương dân như thế nào?”

Thái Công đáp: “Làm lợi mà đừng hại, giúp nên mà đừng phá. Để sống mà đừng giết, ban cho đừng chiếm đoạt. Để vui đừng gây khổ, khiến họ mừng mà không giận”.

Văn Vương nói: “Xin giải thích lý do”

Thái Công đáp: “Dân không mất việc là lợi, trồng trọt không lỡ màu là nên. Giảm bớt hình phạt là sống, thu thuế nhẹ là cho. Ít xây cất đền đài là vui, quan lại thanh liêm không sách nhiễu dân là mừng.

Dân bị mất việc là hại, trồng trọt lỡ mùa là hư. Không tội mà phạt là giết, thu thế nặng là đoạt. Xây nhiều đền đài khiến dân mỏi mệt là khổ. Quan lại tham ô sách nhiễu dân lành là giận.

Nên người trị nước chăm sóc dân như cha mẹ thương con, như anh thương em, thấy dân đói rét thì lo, thấy dân khổ nhọc thì buồn, thưởng phạt như chính mình phải chịu, thu thuế như chính mình phải đóng. Đấy là đạo thương dân”.

 THIÊN THỨ 4: ĐẠI LỄ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Lễ nghi của đạo vua tôi như thế nào?”

Thái Công đáp: “Trên phải soi xét, dưới phải thâm trầm, soi xét mà không xa dân, thâm trầm mà không giấu giếm. Trên phải chu toàn, dưới phải yên định. Chu toàn là trời, yên định là đất. Có trời có đất thì thành đại lễ”.

Văn Vương hỏi: “Làm chủ như thế nào?”

Thái Công đáp: “Khoan thai mà điềm tĩnh, ôn hòa nhưng thẳng thắn. Định trước mọi việc, cho mà không tranh, khiêm nhường bình dị, lấy sự công bằng mà xử thế”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải nghe như thế nào?”

Thái Công đáp: “Đừng nghe xằng mà hứa, đừng thấy trái mà chống. Hứa sẽ không giữ được, chống sẽ gặp bế tắc. Núi cao trông lên không thấy được ngọn, vực sâu nhìn xuống không lường được đáy. Cái đức của bậc thánh minh là công chính,trầm tĩnh vô cùng”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải sáng suốt như thế nào?”

Thái Công đáp: “Khoan thai mà điềm tĩnh, ôn hòa nhưng thẳng thắn. Định trước mọi việc, cho mà không tranh, khiêm nhường bình dị, lấy sự công bằng mà xử thế”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải nghe như thế nào?”

Thái Công đáp: “Đừng nghe xằng mà hứa, đừng thấy trái mà chống. Hứa sẽ không giữ được, chống sẽ gặp bế tắc. Núi cao trông lên không thấy được ngon, vực sâu nhìn xuống không lường được đáy. Cái đức của bậc thánh minh là công chính, trầm tĩnh vô cùng”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải sáng cuốt như thế nào?”

Thái Công đáp: “Mắt quý ở chổ sáng, tai quý ở chổ rõ, lòng quý ở chổ biết. Lấy mắt của thiên hạ mà xem thì không có gì là không nhìn thấy. Lấy tai của thiên hạ mà nghe, thì không có gì là không nghe thấy. Lấy lòng của thiên hạ mà nghĩ thì không có gì là không biết. Họp dân lại mà làm thì sáng suốt, không gì có thể che lấp được.

 THIÊN THỨ 5: MINH TRUYỀN.

Văn Vương nằm trên giường bệnh, cho mời Thái Công Vọng và Thái Tử Phát đến bênh mình và nói: “ Than ôi! Trời sắp bỏ ta. Xã tắc nhà Châu sẽ thuộc về con. Nay ta muốn quốc sư nói về đạo cả để mình truyền cho con cháu về sau”.

Thái công nói: “ Đâị vương muốn hỏi điều chi?”

Văn Vương nói: “Xin nghe về đạo của tiên thánh do đâu mà ngưng trệ, do đâu mà hưng khởi”.

Thái Công đáp: “ Thấy người lành mà khinh, thời cơ đến mà nghi, biết sự trái mà làm, là ba điều khiến cho đạo phải ngưng.

Còn nhu mà tĩnh, cung mà kính, mạnh mà mềm, nhịn mà cứng, là bốn điều khiến cho đạo được hưng khởi.

Nên danh nghĩa thắng dục vọng thì thịnh, dục vọng thắng nhân nghĩa thì mất, kính thắng khinh thì tốt, khinh thắng kính thì bị diệt.”

THIÊN THỨ 6: LỤC THỦ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Vua là chủ của dân, thế mà cũng có khi mất là vì sao?”

Thái Công đáp: “Vì không thận trọng trong việc giao phó, làm vua có sáu điều phải giữ và ba điều quý”.

Văn Vương hỏi: “Sáu điều phải giữ là gì?”

Thái Công đáp: “Một là nhân, hai là nghĩa, ba là trung, bốn là tín, năm là dũng, sáu là mưu. Đấy là sáu điều phải giữ.”

Văn Vương hỏi:”Làm sao chọn được người có sáu điều này?”

Thái Công đáp:”Giàu có mà không phạm pháp, được quý trọng mà không kêu căng, giao việc mà không thay lòng, sử dụng mà không phải đề phòng, lâm nguy mà không sợ hãi, xử lí công việc mà không lúng túng.

Giàu sang mà không phạm pháp là nhân, cao quý mà không kêu căng là nghĩa, được giao phó mà không đổi lòng là trung, được dùng mà không đề phòng là tín, lâm nguy mà không sợ hãi là dũng, xử lí công việc mà không lúng túng là mưu.

Làm vua không có ba điều quý thì mất quyền uy.”

Văn Vương nói:”Xin hỏi về ba điều quý ấy”.

Thái Công đáp:”Đại nông, đại công, đại thương là ba điều quý.

Nhà nông canh tác trong làng thì lúa gạo đủ ăn. Người thợ hành nghề trong làng thì dụng cụ đủ dùng. Thương gia buôn bán trong làng thì hàng hoá đủ tiêu dùng. Ba điều quý này đặt yên ở mỗi nơi thì dân không lo nghĩ, không loạn trong làng, không loạn trong họ, quan không giàu hơn vua, đô thị không to hơn nước.

Sáu điều giữ được lâu dài thì vua mạnh. Ba điều quý được vuông tròn thì nước yên.”

THIÊN THỨ 7: THỦ THỔ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Việc giữ đất đai như thế nào?”

Thái Công đáp:”Không xa người thân, không khinh người lành, an ủi kẻ giúp việc cho mình, chế ngự lân bang ở bốn mặt.

Không mượn người nhiếp chính. Mượn người nhiếp chính sẽ mất quyền hành. Không đào hoang mà đắp gò. Không bỏ gốc mà chừa ngọn.

Mặt trời lên đỉnh đầu thì đất phải nắng, cầm dao phải cắt, cầm rìu phải chặt. Đứng bóng mà không nắng thì trái thời. Cầm dao mà không cắt thì bỏ lỡ dịp bén. Cầm rìu mà không chặt thì giặc sẽ đến nơi.

Nước chảy lâu ngày sẽ thành sông ngòi. Một đớm lửa nhỏ không dập sẽ bốc lên cao. Hai nhánh cây không phạt thì sau phải dùng đến búa to.

Nên làm vua phải lo việc giàu thịnh. Không giàu thì không có gì để làm việc nhân. Không thịnh thì không lấy gì để kết tình thân thiện. Xa người thân thì hại. Mất dan lành thì hỏng.

Không mượn nhân tài, vũ khí của người. Mượn nhân tài và vũ khí của người thì sẽ bị hại, không giũ tròn quyền cai trị của mình.”

Văn Vương hỏi: “ Thế nào là nhân nghĩa?”

Thái Công đáp: “ Kính mến dân lành, kết hợp người thân. Kính mến dân lành thì hoà thuận. Kết hợp người thân thì vui vẻ. Đấy là đầu mối của nhân nghĩa.

Đừng để người khác cướp uy vua, dựa vào sự sáng suốt, thuận với lẽ thường. Người theo thì lấy đức mà dùng, kẻ nghịch thì lấy thế mà diệt.

Không đa nghi thì thiên hạ mới hoà phục.”

THIÊN THỨ 8: THỦ QUỐC

Văn Vương hỏi Thái Công: “Việc giữ nước như thế nào?”

Thái Công đáp: “Xin đại vương sống thanh tịnh rồi thần sẽ nói về lẽ bất dịch của trời đất, sự sinh biến của bốn mùa, đạo của bậc thánh nhân và cơ tình của dân gian”.

Vua bèn ăn chay, thanh tịnh bảy ngày, hướng về hướng Bắc lạy hai lạy rồi hỏi.

Thái Công nói: “Trời sinh ra bốn mùa, đất sinh vạn vật, trong thiên hạ có dân, bậc thánh nhân phải trông nom dẫn dắt.

Nên mùa xuân là mùa sinh nở, vạn vật tốt tươi. Mùa hạ là mùa tăng trưởng, vạn vật lớn mạnh. Mùa thu là mùa ngưng tụ, vạn vật đầy đủ. Mùa đông là mùa ẩn tàng, vạn vật yên tĩnh.

Đầy đủ thì ẩn tàng, ẩn tàng rồi lại phát ra không biết đâu là đầu, không biết đâu là đuôi. Thánh nhân so sánh để tìm ra lẽ bất dịch của trời đất.

Nên phải dùng âm mà phát, dùng dương mà hội. Khởi sướng trước trong thiên hạ rồi mới làm, làm khác với lẽ thường để hoà hợp. Không tiến mà tranh, không lui mà nhường. Giữ được như thế thì nước nhà có thể vinh quang như trời đất”.

THIÊN THỨ 9: THƯỢNG HIỀN

Văn Vương hỏi Thái Công: “Làm vua phải nâng cái gì? Hạ cái gì? Lấy cái gì? Bỏ cái gì, cấm cái gì, ngăn cái gì?”.

Thái Công đáp: “Làm vua phải nâng người hiền, hạ kẻ dữ, lấy sự thành tín, bỏ điều gian xảo, cấm chuyện bạo tàn, ngăn việc xa hoa. Nên làm vua có sáu điều hư và bảy điều hại”.

Văn vương hỏi: “Xin nghe về lẽ ấy”.

Thái Công đáp: “Sáu điều hư là:

1. Bề tôi cất lâu đài thủy tọa to lớn, đàn hát vui chơi phương hại đến mức độ của vua.

2. Dân không lo trồng trọt, vui thú chơi bời, phạm điều luật cấm, không nghe quan dạy, phương hại đến phong hóa của vua.

3.  Bề tôi cấu bè kết đảng, che lấp người hền trí, ngăn trở sự sáng suốt của chú, phương hại đến quyền hành của vua.

4. Kẻ sĩ có ý chống đối, nhờ tiết tháo thanh cao mà có uy thế, ngoài thì kết giao với chư hầu, không tôn trọng chúa, phương hại đến uy danh của vua.

5.  Bề tôi khinh rẻ tước ngôi, làm điều xấu xa gây khó khăn cho thượng cấp, phương hại đến công lao của bậc cung thần.

6. Những tông phái mạnh chiếm đoạt quyền hành, áp bức người nghèo yếu, phương hại đến nghề nghiệp của dân.

Bảy điều hại là:

1.  Những kẻ không trí lược quyền mưu mà được trọng thưởng tước cao nên hùng hổ coi thường, cậy vào sự rủi may. Vua phải cẩn thận, không nên cho làm tướng.

2. Những kẻ có tiếng mà không có tài, ra vào dị nghị, phô bày điều tốt che giấu việc hay, khéo lui khéo tiến. Vua phải cẩn thận không nên bàn mưu.

3. Những kẻ hình dáng ra vẻ chất phát, ăn mặc giản gị, đối đáp như không cầu danh, nói năng có vẻ không cầu lợi, là người giả dối. Vua phải cẩn thận không nên gần gũi.

4. Những kẻ đai mũ khác người, mặc đồ kì dị, hay nghe biện bác, bàn luận cao xa, ở nơi vắng vẻ, cho mình là tốt, chê bai thế tục, là người gian xảo. Vua phải cẩn thận, không nên sủng ái.

5.  Những kẻ dèm pha, nịnh hót để cầu quan tước, tham lam vô độ, coi thường cái chết, thấy lợi thì làm, không nghĩ đại sự, đặt điều hư thực, nói trước mặt vua. Vua phải cẩn thận không nên tin dùng.

6. Những kẻ hành nghề chạm trổ đồ gang sắt, tuy khéo léo đẹp đẽ nhưng có hại cho việc nhà nông. Vua phải cấm đoán.

7.  Những kẻ có thuật dị kì giả dối, đồng bóng tà đạo, nói điều không tốt, mê hoặc dân lành. Vua phải ngăn cấm.

Cho nên, dân không cố gắng thì không phải là dân của ta. Kẻ sĩ không thành tín thì không phải là kẻ sĩ của ta. Tướng quốc mà không biết làm cho nước giàu dân mạnh, điều hòa âm dương để làm yên lòng vua, sửa sai quần thần, dùng người tài danh, khiến cho muôn dân vui vẻ, thì không phải là tướng quốc của ta.

Đạo làm vua như đầu rồng, ngựa trên cao để nhìn xa, quan sát kỹ để nghe rõ, chỉ rõ lộ trình như trời cao không thể đến, như vực sâu không thể đo.

Cho nên điều đáng giận mà không giận thì gian thần lộng hành, đáng giết mà không giết thì giặc lớn nổi lên, quân đội mà không tăng cường thì nước địch sẽ mạnh hơn”.

Văn Vương nói: “Thật là hay lắm”.

THIÊN THỨ 10: CỬ HIỀN

Văn Vương hỏi Thái Công: “Vua lo cử người hiền mà không nên việc gì cả, khiến đời càng thêm loạn đến nỗi bị nguy vong là vì sao?”

Thái Công đáp: “Cử người hiền mà không dùng thì chỉ có tiếng là cử hiền mà không thực sự dùng hiền”.

Văn vương hỏi: “Lỗi đó tại ai?”

Thái Công đáp: “Lỗi đó là vì vua chỉ thích dùng người theo lời khen ở đời, nên không được người hiền chân chính”.

Văn Vương hỏi: “Tại sao vậy?”

Thái Công đáp: “ Vua thấy người đời khen thì cho là người hiền, thấy người đời chê thì cho là không hiền. Nên nhiều người phe đảng ủng hộ thì có thể tiến thân, người ít phê đảng ủng hộ thì phải đưa về. Do đó mà bọn gian tà liên kết để che giấu người hiền.

Do đó trung thần vô tội mà bị chết, gian thần nhờ hư danh mà được tước vị, nên đời càng loạn, thì nước không tránh khỏi cảnh nguy vong”.

Văn Vương hỏi: “Cử người hiền như thế nào?”

Thái Công đáp: “Phân định chức vụ tướng quân và tướng quốc rồi chọn người hiền ra làm quan bằng cách thi tuyển danh tài, tài phải xứng với danh, danh phải xứng với tài thì mới đúng là cử người hiền.”

THIÊN THỨ 11: THƯỞNG PHẠT

Văn Vương hỏi Thái Công: “Thưởng cốt để khen, phạt cốt để ngăn. Nay trẫm muốn thưởng một người để khuyên trăm người, phạt một người để răn dân chúng thì phải làm như thế nào?”

Thái Công đáp: “Thưởng quý ở chữ tín, phạt quý ở chữ đúng. Thưởng cho đúng công, phạt cho đúng tội, để cho mọi người nghe thấy, thì những người không nghe thấy không khỏi không thầm phục.

Lòng thành còn thấu đến trời đất, thông đến thần linh, huống hồ là đối với con người”.

THIÊN THỨ 12: BINH ĐẠO

Vũ Vương hỏi Thái Công: “Đạo dùng binh như thế nào?”

Thái Công đáp: “Phạm đạo dùng binh không gì hơn một. Nắm vững được một, thì có thể từ đó tung hoành.

Một lấy đạo làm gốc, lấy thân biến hóa làm ngọn, tùy thời cơ mà sử dụng, tùy thời thế mà thể hiện, do vua mà hình thành. Nên bậc thánh vương gọi việc binh là việc hệ trọng bất đắt dĩ mới dùng đến.


Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

Thiên thứ 1: LÂM CHIẾN

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu gặp phải rừng rậm, ta và địch chia rừng ra chống giữ nhau. Ta làm thế nào để thủ thì kiên cố mà đánh thì chắc thắng?”

 Thái Công đáp: “Cho ba quân của ta lập thành một đội, xung kích, chỗ nào tiện lợi thì đóng quân cung nỏ bên ngoài kích thuẫn ở bên trong. Chặt cây cỏ cho thật trống, để tiện đường đánh giặc của ta.

Chỗ cao cắm cờ xí, nhắc nhỡ binh sĩ cẩn thận không để cho địch biết rõ tình hình của phép đánh giặc trong rừng thì phải cho quân sử dụng mâu kích xếp thành hàng ngũ, chỗ rừng thưa cho kị binh yểm trợ, chiến xa đặt ở đàng trước, thấy tiện lợi thì đánh, thấy không có lợi thì đừng.

Ở cánh rừng hiểm trở ắt phải bố trí một đội xung kích để phòng ngừa mặt trước mặt sau, quân ta phải đánh nhanh, quân địch tuy đông nhưng tướng địch ắt sẽ bỏ chạy, ta cho binh sĩ luân phiên vừa đánh vừa nghỉ. Mọi người phải đi theo đội ngũ của mình, ấy là phép đánh giặc trong rừng”.

Thiên thứ 2 : ĐỘT CHIẾN

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi quân địch tiến sâu vào nước ta xâm chiếm đất đai ta, lừa bắt trâu và ngựa của ta, quân địch lại đến bao vây dưới chân thành ta, quân sĩ ta kinh hãi, nhân dân ta vì tiếc của cải nên bị địch bắt sống, như vậy làm thế nào để phòng thủ thì kiên cố mà đánh thì chắc thắng?”

Thái Công đáp: “Trường hợp này phải dùng đột binh, vì trâu ngựa không được ăn, binh sĩ hết lương thực. Nên phải đánh nhanh ở mặt trước, rồi ra lệnh cho các ấp xa xôi chọn quân sĩ tinh nhuệ đánh nhanh ở mặt sau, rồi tổ chức đánh địch ban đêm, quân ta tinh nhanh, địch tuy đông, tướng địch cũng có thể bị ta bắt sống”.

Võ Vương hỏi: “Địch chia ra ba bốn mặt hoặc tiến đánh chiếm đất đai ta, hoặc dùng quân bắt trâu ngựa ta, đại quân của địch chưa đến đầy đủ mà cho những cánh quân ô hợp bao vây chân thành ta, khiến cho ba quân ta sợ hãi, như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta phải quan sát cẩn thận, khi quân địch đến đầy đủ thì phải chuẩn bị chu đáo mà chờ địch đến. Cách thành 4 dặm cho xây chiến lũy, chiêng trống cờ xí đều bày ở trên lũy, các đội khác đặt làm phục binh. Trên chiến lũy có đặt nhiều nỏ mạnh, cứ trăm bộ lại có một cửa đột kích, trước mỗi cửa đều có kị binh và chiến xa.

Các chiến sĩ tinh nhuệ, có sức mạnh và gan dạ mai phục một nơi. Nếu quân địch kéo đến cho khinh binh ra giao chiến rồi giả thua bỏ chạy, khi ấy ở trên thành treo cờ xí, đánh chiêng trống làm như cố thủ, quân địch cho rằng quân ta thủ thành nên bao vây, lúc đó phục binh của ta xông ra đánh ở giữa, hoặc đánh ở bên ngoài, quân ta đánh nhanh, đằng trước, hoặc đằng sau.

Quân địch dù có liều lĩnh cũng không hề chống cự nổi, kẻ nhát gan cũng không kịp bỏ chạy.

Đó gọi là đột chiếm, quân địch tuy đông, tướng địch ắt sẽ bỏ chạy”.

Võ Vương nói: “Hay lắm”

Thiên thứ 3: ĐỊCH CƯỜNG

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu, quân ta và quân địch đương đầu nhau, địch đông ta ít, địch mạnh ta yếu. Nửa đêm quân địch kéo đến hoặc đánh bên trái, hoặc đanh bên phải, quân ta náo động, như vậy phải làm sao để đánh thì thắng mà thủ thì vững chắc”.

 Thái Công đáp: “Đó là quân địch uy hiếp quân ta, có lợi cho việc đánh chứ không có lợi cho việc phòng thủ. Ta phải chọn lựa binh sĩ có tài, biết sử dụng nỏ mạnh, chiến xa và cưỡi ngựa, ra quân bên trái và bên phải, rồi đánh nhanh ở đàng trước và đánh gấp ở đàng sau, hoặc đánh ở bên ngoài, hoặc đánh ở bên trong. Như vậy binh sĩ địch ắt phải rối loạn, tướng địch ắt phải sợ hãi”.

Võ Vương hỏi: “Quân địch án ngữ ở phía trước ta, đánh gấp ở phía sau ta, cắt đứt đường tiến quân của cánh quân tinh nhuệ ta, chặn đứng binh sĩ tài ba của ta, khiến quân ở trong và ngoài của ta không thể liên lạc với nhau, quân ta bị rối loạn, tan tác và bỏ chạy. Binh sĩ không có tinh thần chiến đấu, tướng súy và quan quân không quyết tâm chống giữ, như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Câu hỏi của vua sáng suốt lắm! Vậy ta phải ra hiệu lệnh cho rõ ràng. Dùng những người dũng cảm tinh nhuệ và dám mạo hiểm, một người cầm đuốc, hai người đánh trống, như vậy ta sẽ biết được chỗ ở của địch. Lúc ấy ta đánh vào bên ngoài hoặc bên trong, rồi ra ám hiệu cho tắt lửa và ngừng đánh trống. Trong và ngoài hợp lực đánh thật nhanh, quân địch ắt phải thua.

Thiên thứ 4: ĐỊCH VŨ 

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu bất thần gặp quân địch đông và mạnh, chúng dùng chiến xa và kị binh bao vây bên trái và bên phải ta, quân ta đều sợ hãi bỏ chạy không thể ngăn cản được, như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Như vậy gọi là bại binh rồi, phải khéo léo thì có thể thắng, nếu không khéo thì sẽ bị tiêu diệt”.

Văn Vương hỏi: “Phải làm như thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta phải bố trí lính tinh nhuệ, nỏ mạnh, chiến xa và kị binh ở bên trái và bên phải trước, sau cách nhau ba dặm. Khi quân địch đuổi ta thì cho chiến xa và kị binh xông ra đánh bên trái và bên phải. Làm như vậy quân địch ắt phải náo loạn, và quân bỏ chạy của ta cũng sẽ dừng lại.

Võ Vương hỏi: “Khi quân địch đương đầu với chiến xa và kị binh của ta, địch đông ta ít địch mạnh ta yếu, quân địch hàng ngủ chỉnh tề có trật tự và tinh nhuệ, quân ta không dám chống lại địch, như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Ta chọn binh sĩ tinh nhuệ dùng nỏ mạnh, mai phục bên trái và bên phải, chiến xa và kị binh đóng yên một chỗ, đợi đến khi quân địch đi qua chỗ phục binh của ta, cung nỏ bên trái và bên phải cùng lúc bắn ra. Lúc ấy chiến xa kị binh và tinh binh tiến đánh thật nhanh hoặc đánh đằng trước địch hoặc đánh đằng sau địch.

Quân địch tuy đông nhưng tướng địch ắt bỏ chạy.

Thiên thứ 5: ĐIỂU VÂN SƠN BINH

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu gặp phải núi đá cao vòi vọi mà không có cỏ cây, bốn bề đều đương đầu với địch, ba quân ta sợ hãi, binh sĩ ta hoang mang, như vậy phải làm thế nào để thử thì vững chắc mà đánh thì sẽ thắng?”

Thái Công đáp: “Khi đóng quân ở trên núi cao thì sẽ bị địch uy hiếp bao vây, khi đã chọn núi để đóng quân thì phải bày điểu vân trận. Theo cách thức bày trận, trận điểu vân thì phía dương và phía âm cũng phải phòng bị hoặc đóng quân ở phía âm hoặc đóng quân ở phía dương. Nếu đóng quân ở phía dương thì lo phòng bị ở phía âm, nếu đóng quân ở phía âm thì lo phòng bị ở phía dương. Nếu đóng quân ở phía bên trái thì lo phòng bị ở phía bên phải, nếu đóng quân ở phía bên phải thì lo phòng bị ở phía bên trái. Như vậy quân đich chỉ có thể đánh phá ở phía bên ngoài của cánh quân phòng thủ mà thôi. Những con đường ăn thông đến hang động phải dùng chiến xa ngăn chặn. Cờ xí cấm ở trên cao nhắc nhở binh sĩ cẩn thận không để cho quân địch biết rõ tình hình của ta.

Như vậy gọi là xây thành ở trên núi. Khi hàng ngũ đã đàng hoàng, binh sĩ đã bày xong trận, pháp lệnh đã được thi hành, quân giả và quân chính quy đã được thiết lập. Tất cả đều lập đội xung kích ở bên ngoài núi. Chỗ đóng quân phải chia chiến xa và kị binh ra bày điểu vân trận rồi thúc quân đánh thật nhanh. Như vậy quân địch tuy đông, tướng địch có thể bị bắt sống.

Thiên thứ 6: ĐIỂU VÂN TRẠCH BINH

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn binh tiến sâu vào đất chư hầu: ta và địch gặp nhau tại con sông, địch giàu có mà chưa đông, ta nghèo nàn mà binh ít. Ta muốn vượt sông đánh địch mà không thể tiến, muốn cầm cự lâu ngày mà không đủ lương thực. Chỗ ta đóng quân là nơi nước mặn đồng chua bốn bề không có làng mạc, lại không có cỏ cây. Quân ta tìm không ra lương thực, trâu và ngựa của ta không có rơm cỏ để ăn. Như vậy phải làm sao?”.

Thái Công đáp: “Ba quân ta không phòng bị, trâu ngựa không có thức ăn, binh sĩ không có lương thực, như vậy phải tìm cách đánh lừa địch để bỏ đi ngay và phải đặt phục binh ở đằng sau”.

Võ Vương hỏi: “Ta không đánh lừa được địch mà binh sĩ ta lại hoang mang, địch đánh phía trước và phía sau ta. Ba quân ta tán loạn thua chạy. Như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Ta tìm lối thoát là chính, dựa theo tình hình địch mà sử dụng một cách khéo léo”.

Võ Vương hỏi: “Quân địch biết rằng ta có đặt phục binh. Nên đại quân của chúng không dám vượt sông mà chỉ cho những toán nhỏ qua sông. Quân ta thấy vậy rất lấy làm sợ hãi. Như vậyphải làm sao?”

Thái Công đáp: “Nếu như vậy ta phải chia ra làm nhiều toán xung kích, chọn chỗ tiện lợi mà đóng quân. Đợi những toán quân nhỏ của địch sang đến bên này bờ sông thì ta cho phục binh đánh nhanh ở phía sau. Nỏ mạnh ở bên trái và bên phải cùng lúc bắn ra. Chiến xa và kị binh lập thành trận điểu vân lo phòng bị ở trước và ở sau. Quân ta đánh thật nhanh, quân địch thấy quân ta tiến đánh ắt họp đại binh lại để vượt sông. Khi đó ta cho phục binh đánh nhanh ở phía sau, chiến xa và kị binh tiến đánh bên trái và bên phải. Quân địch tuy đông, tướng của địch cũng sẽ bỏ chạy. Điểm quan trọng của việc dùng binh là trong khi lâm chiến với địch phải tuỳ nghi mà đặt xung trận và coi chỗ nào tiện lợi thì đóng quân rồi sau mới chia kị binh ra thành lập điểu vân trận. Đó là điều đặt biệt của việc dùng binh. Gọi là điểu vân tức là điểu tan vân hợp (chim bay tản ra và mây tụ hợp lại).

Thiên thứ 7: THIỂU CHÚNG

   Võ Vương hỏi Thái Công rằng: “Ta muốn dùng binh ít mà đánh binh đông, dùng binh yếu đánh binh mạnh, như vậy phải làm sao?”.

Thái Công nói: “ Muốn dùng binh ít để đánh binh đông thì phải đợi khi chiều tối cho binh mai phục ở chổ cỏ cây rậm rạp và đoạn đường hiểm yếu mà đánh địch. Còn muốn dùng binh yếu đánh quân mạnh thì phải được sự trợ giúp của nước lớn đối với các nước láng giềng”.

Võ Vương hỏi: “Chỗ ta đóng quân không có cỏ cây rậm rạp lại không có những quảng đường hiểm yếu. Địch không đến vào buổi chiều, ta lại không được sự giúp đỡ của nước lớn và các nước láng giềng. Như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta dùng nghệ thuật đánh lừa để dụ dỗ chúng, làm cho tướng của địch phải nghi ngờ. Ta đi đường cong khiến cho địch phải qua chỗ cỏ cây rậm rạp. Ta đi đường xa, khiến địch phải gặp ta vào buổi chiều. Đánh vào lúc địch chưa kịp vượt sông. Hậu quân của địch chưa kịp xuất quân, thì ta cho phục binh đánh nhanh ở bên trái và bên phải.

Chiến xa và kị binh quấy nhiễu mặt trước và mặt sau của địch. Quân địch tuy đông tướng địch cũng phải bỏ chạy. Sau đó ta phải giao hảo với nước lớn, nhún nhường đối với binh sĩ các nước láng giềng, dùng của cải dụ dỗ họ. Dùng lời lẽ khiêm nhường đối với họ, làm như vậy ta sẽ được nước lớn và các nước láng giềng trợ giúp”.

Thiên thứ 8: : PHÂN HIỂM

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu, gặp địch tại nơi hiểm trở, bên trái của ta là núi, bên phải là sông. Bên phải của địch là núi, bên trái là sông. Địch và ta chia vùng hiểm trở mà chống cự nhau, phải làm sau để thủ thì vững chắc mà đánh thì sẽ thắng?”.

Thái Công nói rằng: “Đóng quân bên tả núi thì phòng bị bên hữu núi, đóng quân bên hữu núi thì phòng bị bên tả núi. Chỗ hiểm trở có sông lớn không có thuyền thì dùng cầu nổi (thiên hoàng) để binh ta sang sông, xong phải mở rộng đường đất để tiện cho chiến đấu, đặt xe vũ xung ở trước và sau, nỏ mạnh bày ở hai bên, ra lệnh giữ kỹ các tuyến đường dùng xe vũ xung chặn các cửa hang, cắm cờ xí ở trên cao, như vậy gọi là xây thành bằng xe. Theo phép đánh giặc thì ở chỗ hiểm yếu phải đặt xe vũ xung ở phía trước và cỗ xe đại lỗ dùng để yểm trợ. Binh sĩ tinh nhuệ và nỏ mạnh ở hai bên trái và phải có 3000 người để đóng đồn và bày xung trận. Chỗ tiện lợi thì đóng quân. Tả quân ở bên trái, Hữu quân ở bên phải, Trung quân ở giữa, cùng lúc tiến đánh, đánh xong trở về đồn, thay phiên nhau vừa đánh vừa nghỉ, đánh đến khi nào thắng mới thôi”.

Võ Vương khen rằng : “Hay lắm”

VÕ THAU (BINH PHÁP LỤC  THAO).

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

 Thiên thứ 1: PHÁT KHẢI

      Văn Vương ở đất Phong, mời Thái Công đến mà nói rằng: “ Than ôi, vua Thương tàn ác vô cùng, giết hại người vô tội. Khanh đang có cách gì để giúp đỡ dân đang đau khổ chăng?”

Thái Công đáp: “Vua nêm sửa đức để người hiền cảm phục, ban ân để dân thấy đạo trời.

Không có tai ương thì không thể khởi xướng đạo trời. Không có tai họa thì không thể toan tính đạo người.

Phải lấy thiên tai và nhân họa thì mới mưu được việc lớn. Phải thấy được phải trái thì mới biết được lòng người. Phải thấy bên ngoài và bên trong thì mới rõ được ý người, phải thấy chỗ sơ hở và chỗ thân thì mới hiểu được tính người.

Bây giờ theo đạo mà làm, đạo sẽ được thi hành, theo cửa mà vào, theo cửa sẽ được mở cho vào. Đặt ra việc lễ, lễ nghi sẽ thành. Đấu tranh bằng sức mạnh, sức mạnh sẽ chiến thắng.

Toàn thắng mà không phải đánh nhau, không cần lập đại binh, cảm thông đến quỷ thần. Huyền diệu thay!

Đối với người, cùng bị bệnh thì cứu nhau, cùng bị thương thì dựa vào nhau, cùng bị ghét thì giúp nhau, cùng thích thì hợp nhau. Nên không cần giáp binh mà vẫn thắng. Không cần xung đột, mà vẫn tiến công, không cần hào lũy mà vẫn cố thủ.

Người có trí lớn không cần đến trí, có mưu cao không cần đến mưu, có dũng khí không cần đến dũng, có lợi to không cần đến lợi.

Làm lợi cho thiên hạ thì thiên hạ chào đón, làm hại cho thiên hạ thì thiên hạ chối từ. Thiên hạ không phải của một người, thiên hạ là của cả thiên hạ. Chiếm lấy thiện hạ như việc săn thú, mà mọi người đều tin rằng mình sẽ được chia phần thịt, cũng như ngồi chung thuyền mà sang sông, qua được thì cũng có lối đi, mà thất bại thì cùng bị hại, nên tất cả đều chờ đón mà không chối từ.

Không lấy của dân là chiếm được dân, không lấy của nước là chiếm được nước, không lấy của thiên hạ là chiếm được thiên hạ.

Không lấy của dân thì dân làm lợi cho mình, không lấy của nước thì nước làm lợi cho mình. Không lấy của thiện hạ thì thiên hạ làm lợi cho mình.

Cho nên đạo hay ở chỗ không thể thấy, sự hay ở chỗ không thể nghe, thắng hay ở không thể biết. Huyền diệu thay!

Chim cắt sắp bắt mồi thì ngưng bay thu cánh, thú dữ sắp vồ thì nép mình cụp tai, thánh nhân sắp hành động thì có vẻ dại khờ.

Nay ở nước Thương, dân chúng ngờ vực lẫn nhau, tinh thần hoang mang, đời sống khổ cực vô cùng. Đấy là cái điềm mất nước.

Ta nhìn thấy ngoài đồng cỏ nhiều hơn lúa, dân chúng thì gian nhiều hơn ngay, quan lại thì tham tàn bạo ngược, bất chấp cả luật pháp trên dưới đều không giác ngộ. Đấy là lúc mất nước.

Đại minh phát ra thì muôn vật đều sáng. Đại nghĩa phát ra thì muôn vật đều lợi. Đại binh phát ra thì muôn vật đều phục tùng.

Vĩ đại thay! Cái đức của thánh nhân! chỉ nghe chỉ thấy cũng đủ vu lòng”.

Thiên thứ 2: VĂN KHẢI

     Văn Vương hỏi Thái Công: “Thánh nhân phải giữ điều gì?”

Thái Công đáp: “Phải lo nghĩ, xót xa, quan tâm đến vạn vật. Xót xa lo nghĩ, quan tâm thì vạn vật sẽ hết lòng vì mình. Chính sách ban ra, ai cũng biết. Thời cơ chưa đến, ai cũng biết lúc đổi thay. Thánh nhân giữ điều này mà cảm hóa vạn vật.

Phàm cái gì đến chỗ cùng tận thì trở lại lúc ban đầu. Muốn tốt muốn nhàn thì khéo léo mà cầu mong. Cầu mong mà được thì không thể không giữ lấy, đã giữ lấy thì không thể không hành động, đã hành động thì không nên  khoe mình.

Trời đất không khoe mình nên tồn tại lâu dài. Thánh nhân không khoe mình nên nên tên tuổi rạng rỡ.

Xưa Thánh nhân tập hơp người lại thành nhà, tập hợp nhà lại thành nước, hợp nước lại thành thiên hạ, phong hầu cho người hiền, lập thành vạn quốc, gọi là đại kỉ.

Đặt ra chính sách, dạy dỗ, dựa theo phong tục của dân, sửa điều trái thành ngay, thay hình đổi dạng muôn nước đều thông, khắp nơi đều vui vẻ, mọi người đều thương vua, gọi là đại thịnh.

Ôi, Thánh nhân lo ổn định, hiền nhân lo chỉnh đốn, kẻ ngu không thể chỉnh nên tranh chấp với người trên, nên có nhiều hình phạt, hình phạt nhiều thì dân lo lắng, dân lo lắng nên lưu vong khắp nơi, trên dưới sống không yên, cứ thế kéo dài từ đời này sang đời kia gọi là đại thất.

Người trong thiên hạ ví như dòng nước chảy, hễ ngăn thì dừng, mở thì chảy, yên thì trong.

Thần diệu thay! Thánh nhân thấy được cái khởi đầu thì biết được sự kết thúc”.

Văn Vương hỏi: “Làm sao yên?”

Thái Công đáp: “Trời có hình tượng của trời, dân có đời sống bình thường, cùng dân chung sống thì thiên hạ yên. Xưa bậc minh quân noi theo đó mà cảm hóa dân, dân được cảm hóa thì tuân theo chính sách, nên làm nên sự nghiệp, giàu có. Đấy là cái đức của thánh nhân”.

Văn Vương nói: “Lời nói của người rất hợp với lòng ta vậy. Ta sẽ đêm ngày ghi nhớ không quên đển dùng làm đạo”.

Thiên thứ 3: VĂN PHẠT

    Văn Vương hỏi Thái Công: “ Văn phạt là thế nào?”

 Thái Công đáp: “Văn phạt có mười hai điều:

+ Điều 1:  Tùy sở thích của người mà chiếu theo ý họ, họ sẽ sinh lòng kiêu hãnh, sẽ hay gây sự, ta nhân dịp đó mà trừ đi.

+ Điều 2: Thân thiện với người họ yêu quý để chia xẻ uy quyền, một người mà hai lòng nội bộ ắt suy, trong triều không có trung thần thì xã tắc phải nguy.

+ Điều 3:  Mua chuộc những người thân cận để gây cảm tình. Thân ở trong mà lòng ở ngoài thì nước sẽ bị hại.

+ Điều 4: Cho họ hưởng lạc để làm tan ý chí, biếu nhiều châu ngọc, hiến dâng gái đẹp để mua vui, nói năng khiêm nhường thuận với lẽ phải thì họ sẽ không tranh, gian kế ấy sẽ thành.

+ Điều 5: Đối với trung thần không được hối lộ, vờ lưu giữ họ, khiến cấp trên không nghi họ mà thay ngay kẻ khác. Ta đối với họ thành thật, thân mật và tin tưởng. Vua sẽ triệu họ về mà nghiêm trị. Khi đó ta có thể mưu việc lấy nước.

+ Điều 6:  Mua chuộc bên trong, li gián bên ngoài, khiến cho quan giỏi giúp bên ngoài, địch đánh vào trong thì họ không tránh khỏi mất nước.

+ Điều 7:  Muốn nắm được lòng người thì phải biếu xén thật nhiều, thu phục những người thân cận trung tín với vua, chỉ ra cái lợi khiến họ lơ là công việc mà gây nên sự suy yếu trong nước.

+ Điều 8:  Hối lộ đò quý báo rồi nhân đó cùng mưu tính công việc. Mưu có lợi thì họ phải tin, gọi là trung thân (đã thân lại thêm thân), thân nhiều thì ta có thể dùng. Ở trong nước mà lòng hướng ngoại thì nước sẽ đại bại.

+ Điều 9:  Tôn cho họ một danh vị mà không hại đến bản thân họ. Biểu dương thế lực cho họ tin tưởng mà sinh lòng tôn kính. Trước hết làm cho họ được vinh quang, vờ coi họ như thánh thần thì có thể lấy được nước.

+ Điều 10:  Hạ mình cho họ tin để biết rõ tình hình, tuỳ theo ý họ mà ứng biến, như cùng chung sống với nhau, lúc đã được lòng họ thì từ từ mà thu phục dân chúng, chờ khi thời cơ đến là lúc Trời diệt họ.

+ Điều 11:  Dùng đạo để che lấp. Từ quan đến dân không ai là không thích giàu sang phú quý, ghét sự chết chóc và tội lỗi. Ta tỏ ra cao quý rồi lén đem báo vật thu phục hào kiệt. Bên trong chất chứa nhiều mà ngoài thì ra vẻ thiếu thốn. Ngầm kết nạp tu sĩ để tính kế bàn mưu, thu dụng dũng sĩ để nâng cao uy thế. Giàu sang sung túc thì vây cánh càng đông, đồ đảng càng nhiều. Đấy là bưng bít. Có nước mà bị bưng bít thì làm sao gọi là có nước?

+ Điều 12:  Nuôi dưỡng loạn thần để mê hoặc vua, hiến nhạc dâm, gái đẹp để quyến rũ vua, nhường chó tốt ngựa hay để giải khuây, cho quyền thế lớn để dụ dỗ. Khi đã kiểm soát được trên thì cùng thiên hạ mưu đồ việc lớn.

Đầy đủ mười hai điều này thì việc binh sẽ thành. Đấy là trên xem trời, dưới xem đất, điều kiện xuất hiện thì có thể đánh chiếm”.

Thiên thứ 4:  THUẬN KHẢI

    Văn Vương hỏi Thái Công: “Làm thế nào để trị thiên hạ”.

Thái Công đáp:   “Lượng phải bao trùm thiên hạ rồi sau mới chứa được thiên hạ.

Tín phải bao trùm thiên hạ rồi sau mới giữ được thiên hạ.

Quyền phải bao trùm thiên hạ rồi sau mới không mất thiên hạ.

Làm mà không nghi thì vận trời không thể rồi, thời thế không thể thay đổi.

Sáu điều này có đầy đủ thì mới cai trị được thiên hạ.

Cho nên có lợi cho thiên hạ thì thiên hạ chào đón, có hại cho thiên hạ thì thiên hạ chối từ.

Cho thiên hạ sống thì thiên hạ ghi ân. Giết hại thiên hạ thì thiên hạ làm giặc.

Soi thấu thiên hạ thì thiên hạ cảm thông. Đưa thiên hạ đến chổ cùng cực thì thiên hạ thì thiên hạ oán thù.

Làm cho thiên hạ yên thì thiên hạ tin cậy. Làm cho thiên hạ nguy thì thiên hạ hại mình.

Thiên hạ không phải của một người, nhưng người có “ĐẠO” thì nắm được cả thiên hạ”.

Thiên thứ 5: TAM NGHI

        Võ Vương hỏi Thái Công: “Trẫm muốn lập nên nghiệp lớn, nhưng có ba điều nghi ngại: sợ sức mình không thể đánh nước mạnh, không li gián được người thân, không phân chia được dân chúng. Vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Phải mưu tính cẩn thận và dùng nhiều tiền của.

Muốn đánh nước mạnh, phải dưỡng họ cho mạnh, giúp học khuếch trương. Mạnh quá phải gãy, trương quá phải khuyết.

Dùng nước mạnh đánh nước mạnh. Dùng người thân li gián người thân.

Dùng dân chúng phân chia dân chúng.

Phàm đạo dùng mưu, quý ở điểm chu đáo. Tùy sự mà địch, lấy lợi mà nhử thì họ sẽ sinh lòng tranh chấp.

Muốn chia rẽ nội bộ họ thì tùy theo sở thích của họ mà làm cho người họ yêu quý, cho điều họ muốn,vạch rõ điều lợi, rồi nhân đó mà làm họ chia rẽ nhau. Họ thấy lợi thì vui, nhưng đừng cho họ thỏa mãn. Khi gây được hiềm nghi thì dừng lại.

Về phép tấn công, trước phải che mắt địch rồi mới đánh vào chỗ mạnh. Diệt điểm lớn của địch, tránh làm hại cho dân.

Dùng sắc quyến họ mê, dùng lợi nhử họ ăn, dùng hương vị quyến rũ họ, dùng ca nhạc giúp vui. Đã xa người thân ắt phải xa dân.

Đừng cho họ biết mưu kế, cũng đừng để họ biết ý định của mình, ngầm giúp dân để thu phục nhân tâm thì có thể thành công.

Ban ân cho dân thì đừng tiếc của. Dân như trâu, ngựa, phải chăm nom nuôi nấng, nghe và thương mến họ.

Lấy lòng mở mang trí tuệ, dùng trí tìm của, lấy của thu dân, dùng dân đón người hiền.

Đón được người hiền thì làm vua thiên hạ”.

(Trích từ VŨ KINH THẤT THƯ trong THẬP NHỊ BINH THƯ).

KHUYỂN THAO (犬韬)

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

Thiên thứ 1: PHÂN BINH

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Các vua cầm ba quân đóng ở nhiều nơi, nếu muốn tập hợp quân lại để tuyên thệ và thưởng phạt thì phải làm cách nào?”

Thái Công đáp rằng: “Thường phép dùng binh trong ba quân thì: Đại tướng phải địch trước chiến địa và ngày giao chiến rồi mới chuyển hịch thư đến các tướng lĩnh hẹn thời hạn đánh thành vây ấp. Thông báo cho các nơi biết rõ ngày đánh trận, ấn định thời giờ cụ thể. Sau đó, đại tướng cho lệnh đóng doanh trại, quét dọn sạch sẽ rồi đứng trước viên môn chờ đợi các tướng lĩnh đến để theo dõi việc thực hiện giờ giấc của họ. Người đến trước giờ đã định thì khen thưởng, kẻ đến sau giờ ấn định thì xử chém. Như thế ba quân ở gần, xa đều khẩn trương đến dự, cùng nhau sống mái với quân thù”.

Thiên thứ 2: VŨ PHONG

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Phàm việc dùng binh, điều cốt yếu là phải có vũ xa, kiêu kị, tuyển chọn từng trận mà đánh, thấy có thể đánh được thì đánh. Vậy thế nào là có thể đánh được?”.

 Thái Công đáp: “Phàm muốn đánh thì nên xem xét rõ ràng 14 biến động của địch. Thấy rõ được việc biến thì đánh ngay, như thế địch sẽ thất bại”.

Võ Vương nói: “Có thể cho nghe 14 biến động đó chăng?”

Thái Công đáp:

“ – Mới tụ tập thì có thể đánh.

– Người và ngựa chưa ăn thì có thể đánh.

–  Thiên thời bất thuận thì có thể đánh.

–  Chưa nắm vững địa hình thì có thể đánh.

– Bỏ chạy thì có thể đánh.

–  Không phòng bị thì có thể đánh.

– Mỏi mệt thì có thể đánh.

– Tướng lìa xa sĩ tốt thì có thể đánh.

– Vừa vượt qua đoạn đường dài thì có thể đánh.

–  Đang vượt sông thì có thể đánh.

–  Đang bối rối thì có thể đánh.

– Đang đi trên đường hẹp có thể đánh, ngăn trở khó khăn thì có thể đánh.

–  Đang rối loạn thì có thể đánh.

– Lòng dạ hoang mang thì có thể đánh”.

Thiên thứ 3: LUYỆN SĨ

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Huấn luyện quân lính như thế nào?”.

Thái Công đáp: “Trong quân ngũ có hạng người dũng cảm, mạnh khoẻ không sợ chết và vui vẻ khi bị thương, xếp hạng người này vào một tốt gọi là lính dám chém giết.

– Có hạng người nhuệ khí cường tráng, dũng mãnh, xông xáo, xếp hạng người này thành một tốt gọi là lính phá trận.

– Có hạng người múa kiếm dài tuyệt vời, sử dụng kiếm như múa, xếp hạng người này vào một tốt, gọi là lính anh dũng tinh nhuệ.

– Có hạng người sức lực to lớn, bền bỉ chống cự địch liên tục, có sức mạnh phá vỡ chuông trống, huỷ diệt cờ xí địch, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lĩnh dũng mãnh.

– Có hạng người vượt nổi chỗ cao, chạy được đường xa, nhẹ chân chạy giỏi, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lính nhanh như cướp.

– Có hạng người khi vương thần thất thế, quyết khôi phục để lập công, khôi phục giang sơn, xếp hạng người này lại một tốt, gọi là lính quyết chiến đấu đến cùng.

– Có hạng người là con em của các vị tướng tử trận, nên quyết trả thù cho vị tướng đó, xếp hạng người này lại một tốt, gọi là lính cảm tử.

– Có hạng người chỉ sống nương tựa và bị đày đoạ bởi kẻ khác, nên muốn nhập ngũ để nêu cao thanh danh, hạng người này xếp thành một tốt, gọi là lính khích lệ.

– Có hạng người bần cùng quẫn bách, nên phẫn nộ nguyện gia nhập quân ngũ để toại lòng hả dạ, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lính bất tử.

– Có hạng người phạm tội, nhưng đã hết hạn, giờ gia nhập quân ngũ để rửa sạch nỗi nhục, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lĩnh may mắn được tuyển dụng.

– Có hạng người có tài nghệ hơn người, có khả năng gánh vác đồ đạc nặng nề đi xa, hợp hạng người này thành một tốt , gọi là lính sẵn sang chờ lệnh.

Sự sắp xếp và tập luyện các hạng quân này không thể không xét kĩ”.

Thiên thứ 4: GIÁO CHIẾN

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Hợp đông đủ ba quân, nếu muốn sĩ tốt thao luyện về đạo giáo chiến thì phải làm thế nào?”.

Thái Công đáp: “Phàm thống lĩnh ba quân có hiệu lệnh của trống chiêng khiến quân sĩ chỉnh tề. Vị tướng phải nói cho quân sĩ quán triệt ba điều lệnh về thao diễn ,ăn ở và phép biến đổi của cờ xí. Phương pháp dạy chiến đấu là: Một người học đánh thành thạo thì dạy cho mười người, mười người học thành thạo rồi dạy cho trăm người, trăm người học nên thì dạy cho ngàn người. Vạn người nên thì dạy cho ba quân. Phép đại chiến khi học thành thạo thì tập hợp thành triệu người, nên có thể trở thành đại binh lập uy trong thiên hạ”.

Võ Vương nói: “Thực là hay vậy”

Thiến thứ 5: QUÂN BINH

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Lấy xe đánh với quân bộ thì một xe đương đầu nổi với mấy quân bộ, mấy quân bộ đương đầu nổi với một xe, lấy quân kị đánh với xe, thì một xe đương đầu với mấy kị, mấy kị đương đầu nổi với một xe?”

Thái Công đáp rằng: “Xe là vây cánh của quân. Xe dùng để đánh phá những trận địa kiên cố của địch và dùng làm phương tiện lúc thua chạy. Kị dùng để dò xét tình hình, xếp viện cho quân bại trận, cắt đứt đường tải lương của quân giặc. Cho nên nếu xe và kị chưa giao chiến với địch thì một xe không thể đương đầu đươc với một quân bộ. Tuy nhiên nếu quân đông lập thành trận địa thì ở vị thế dễ dàng một xe sẽ đánh được 80 quân bộ, 80quân bộ sẽ đánh được một xe. Một kị sẽ đánh được 8 quân bộ, 8 quân bộ đánh được một kị. Một xe đánh được 10 kị, 10 kị đánh được một xe. Nếu ở địa thế hiểm trở, thì một xe địch được 40 quân bộ, 40 quân bộ địch được một xe. Một kị địch được 4 quân bộ, 4 quân bộ địch được một kị. Một xe địch được 6 kị, 6 kị địch được một xe. Xe và kị là binh khí mạnh trong quân đội. 10 xe có thể đánh bại ngàn người, trăm xe đánh bại vạn người, 10 kị đánh bại trăm người, trăm kị đánh bại ngàn người. Đó là con số rât lớn”.

Võ Vương hỏi: “Số lượng sĩ quan chỉ huy xe, kị và cách bày trận phải như thế nào?”

Thái Công nói: “Số sĩ quan chỉ huy xe thì cử 5 xe đặt một trưởng trông coi, 10 xe đặt 1 lại, 50 xe đặt một suất, 100 xe đặt một Tướng. Cách đánh bằng xe nơi thế đất dễ dàng thì cứ 5 xe xếp thành một hang ngang, dài 40 bộ. khoảng cách giữa hai xe là 10 bộ, khoảng cách hai đội là 60 bộ. Đánh ở địa thế hiểm trở thì xe phải di chuyển theo đường xa. Cứ 10 xe lập thành 1 tụ, 20 xe lập thành một đôn, trước sau cách xa 20 bộ, hai bên tả hữu cách nhau 20 bộ. khoảng cách hai đội là 36 bộ, cứ 5 xe đặt một Tướng trông coi, ngang dọc cách nhau 2 dặm, khi di chuyển cần giữ nguyên vị trí. Về số lượng sĩ quan trông coi kị thì 5 kị đặt một trưởng, 10 kị đặt một lại, trăm kị đặt một suất, 200 kị đặt một Tướng trông coi. Cách đánh ở thế đất dễ dàng thì 5 kị xếp thành một hàng trước sau cách khoảng 10 bộ, tả hữu cách 2 bộ, khoảng cách 2 đội 2 bộ, 30 kị lập thành một đồn, 60 kị lập thành một bối, 10 kị đặt một lại trông coi, ngang dọc cũng cách xa 100 bộ, khi di chuyển đều phải giữ nguyên vị trí”.

Thiên thứ 6: VÕ XA SĨ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Việc tuyển xa sĩ phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Phép tuyển xa sĩ thì nên chọn người dưới 40 tuổi trở xuống, cao từ thước rưỡi trở lên, chạy nhanh có thể đuổi kịp loài ngựa, đồng thời có thể di chuyển nhanh chóng tới trước, sau, phải, trái, trên cao, dưới thấp và xoay vòng hay quấn được cờ xí trong người, có thể giương nổi loại nỏ nặng 8 thạch bắn tới trước, sau, trái, phải, mọi mặt đều tiện cho việc thực hành, được gọi là “lĩnh võ xa”. Hạng người này không thể không hậu đãi”.

Thiên thứ 7: VÕ KỊ SĨ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Việc tuyển kị sĩ phải làm như thế nào?”.

 Thái Công đáp: “Cách tuyển kị sĩ là chọn người dưới 40 tuổi cao từ 7 thước 50 trở lên, than thể tráng kiện, nhanh nhẹn hơn người. Có khả năng cưỡi ngựa bắn nỏ đi các mặt tiền, hậu, tả, hữu và xoay vòng, tiến thoái vượt qua hào rạch: leo trèo đồi núi, mạo hiểm xông vào vùng hiểm trở, ngăn được đầm rạch lớn, điều khiển được kẻ địch mạnh, nhiễu loạn được đám đông. Loại người này được gọi là “kị sĩ” không thể không hậu đãi.”

Thiên thứ 8: CHIẾN XA

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Phép đánh bằng chiến xa như thế nào?”

Thái Công đáp: “Quân bộ phải biết trước biến động, xe phải biết trước địa hình, kị phải biết trước đường xa lạ. Phàm tử địa của xe thì có mười và thắng địa của xe chỉ có tám mà thôi”.

Võ Vương hỏi: “Mười điều tử địa là gì?”

Thái Công đáp:

“ –  Đi được mà không về được là tử địa của xe

– Vượt được đất hiểm trở, lấn được địch mà đi xa là kiệt địa của xe.

–  Tiến dễ dàng, sau hiểm trở là khốn địa của xe.

–  Bị rơi vào vùng hiểm trở khó mà thoát ra ngoài là tuyệt địa của xe.

– Lúc xe lọt vào đầm trạch, bùn đất dính đầy xe là lao địa của xe.

–  Bên trái hiểm trở, bên phải dễ dàng, phía trên có gò đống mà xe phải leo dốc là nghịch địa của xe.

–  Lúc xe đi qua bãi ruộng cỏ mênh mông, phải vượt qua các đầm, ao sâu kín là thất địa của xe.

–  Xe ít đường di chuyển dễ dàng lại không đương đầu nổi với quân bộ là bại địa của xe.

–  Phía sau có hào lạch, bên trái có sông sâu, bên phải có đồi núi cao là hoại địa của xe

–  Xe di chuyển gặp lúc mưa dầm dề ngày đêm, mà luôn phải di chuyển, đường sá ngập lụt, vỡ lở, đằng trước không thể tiến, đằng sau không giải toả được, đó là hảm địa của xe.

Mười điều trên là tử địa của xe. Nếu tướng vụng về thường bị bắt, tướng sáng suốt sẽ tránh khỏi”.

Võ Vương hỏi: “Tám điều thắng của xe thì thế nào?”

Thái Công đáp:

“ – Phía trước phía sau trận địa địch chưa ổn định thì phải tiến công ngay.

–  Cờ xí rối loạn, người và ngựa xáo trộn thì tiến công ngay

–  Sĩ tốt chạy tán loạn, ở cả phía trước, sau, phải, trái thì phải tiến công ngay.

– Trận địa không kiên cố, sĩ tốt hai mặt trước sau dựa dẫm lẫn nhau thì tiến công ngay.

– Quân địch đi đến đằng trước thì ngờ vực, đến đằng sau thì hoảng hốt thì tiến công ngay.

–  Ba quân sợ hãi, buộc lòng nổi dậy một cách bất đắc dĩ thì tiến công ngay

–  Đánh ở địa thế dễ dàng mà trời tối, không giải vây được thì tiến công ngay.

– Quân di chuyển đường xa, nên về muộn, trời tối mới cắm trại, quân lính hoang mang thì tiến công ngay.

Tám điều trên là đất thắng của xe. Vị tướng thông suốt mười điều hại, tám điều thắng thì dù địch có dùng hàng ngàn xe, hàng vạn kị bao vây tiến công thì trong vạn trận đánh, vị tướng đó cũng sẽ chiến thắng”.

Thiên thứ 9: THIÊN KỴ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Phép đánh bằng chiến kị như thế nào?”.

Thái Công đáp: “Đánh bằng chiến kị thì có mười lúc thắng, chin lúc bại”.

Võ Vương hỏi: “Mười lúc thắng ra sao?”

Thái Công đáp:

“ – Lúc địch mới đến, thế trận chưa định hẵn, hai cánh quân tiền và hậu chưa hỗ trợ nhau được, ta đánh phá các chiến kị phía trước, đồng thời đánh hãm hai mặt tả hữu thì địch sẽ chạy ngay.

–  Lúc địch dàn trận đã chỉnh tề, kiên cố, sĩ tốt quyết đấu đến cùng, thì quân kị của ta phải sát cánh bên nhau, hoặc đuổi đi, hoặc đuổi lại, hành động nhanh như gió, mạnh như sấm sét, ngày cũng như đêm, thay cờ xí đổi y phục thì quân ta ắt sẽ thắng.

–  Lúc địch bố trí trận địa chưa kiên cố, sĩ tốt chưa muốn đánh thì ta lấn hai mặt tiền, hậu của chúng, đón hai mặt tả hữu mà đánh, địch sẽ hoảng sợ.

–  Lúc chiều về quân địch muốn về nghỉ ngơi, quân lính hoang mang, ta kẹp sát hai bên hông của chúng tiến đánh nhanh mặt sau, lấn chiếm cửa thành luỹ khiến địch không có lối vào, địch ắt sẽ bại ngay.

–  Lúc địch không có địa thế hiểm trở để phòng thủ kiên cố thì quân ta xâm nhập đuổi đánh chúng, cắt đứt đường tiếp tế lương thực thì quân địch sẽ bị đói.

–  Lúc ta đóng ở vị thế bằng phẳng dễ dàng, bốn mặt trông thấy địch, ta dùng xa kị để đánh phá, địch sẽ rối loạn ngay.

–  Lúc địch tháo chạy, sĩ tốt tán loạn, ta xuất binh và đánh kẹp hai bên hông chúng, hoặc chặn hai mặt tiền hậu, thì sẽ bắt được tướng địch.

–  Lúc chiều xế địch trở về, quân chúng đông nên rối loạn, ra lệnh cho 10 kị của ta lập thành đội, trăm kị hợp thành đồn, 5 xe lập thành một tụ, 10 xe hợp thành một quần, cắm cờ xí nhiều nơi, hoặc cắt đứt liên lạc giữa hai mặt tiền, hậu của chúng thì sẽ bắt sống được tướng địch.

Đó là mười lúc thắng của quân kỵ”.

Võ Vương hỏi: “Chín điều bại như thế nào?”

Thái Công đáp:

“- Phàm đánh phá địch bằng quân kị mà không thể phá trận, địch sẽ vờ thua chạy rồi dùng xa kị phản kích mặt sau của ta. Đó là bại địa của quân kị.

– Lúc đuổi theo quân địch qua vùng hiểm trở, truy kích liên tục. Địch sẽ phục ở hai bên hông ta, đồng thời cắt đứt mặt sau của ta. Đó là vi địa của quân kị.

–  Lúc có đường đi mà không lối về, không có ngõ ra, gọi là bị vây hãm vào gầm trời, dồn vào tử huyệt. Đó là tử địa của quân kị.

– Lối vào thì hẹp, lối ra thì xa, địch yếu cũng có thể đánh được ta mạnh, địch ít cũng có thể đánh được ta đông. Đó là mạt địa của quân kị.

– Hai bên tả hữu có nước, mặt trước gò lớn, mặt sau núi cao, khi đánh nhau với địch quân ta ở giữa hai dòng nước, địch ở bên ngoài và trong. Đó là gian địa của quân địch.

–  Địch cắt đường tải lương của ta, đi mà không về được. Đó là khốn địa của quân kị.

–  Khi tiến vào nơi nước đục, đầm ao, tiến thoái lưỡng nan. Đó là hoạn địa của quân kị.

–  Bên tả có mương sâu, bên hữu có đồi núi cao thấp đều như bình địa, tiến thoái đều làm mồi cho địch. Đó là hãm địa của quân kị.

Chín điều trên là tử địa của quân kị, tướng sáng suốt thì có thể thoát khỏi. Tướng u muội thì sẽ bị thảm hại vậy”.

Thiên thứ 10: CHIẾN BỘ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Nguyên tắc đánh nhau giữa bộ binh và xa kị như thế nào?”.

Thái Công đáp: Nếu bộ binh và xa kị đánh nhau thì bộ binh phải dựa vào gò đống hiểm trở, dùng binh khí dài, cung nỏ mạnh đi trước, binh khí ngắn, cung nỏ yếu đi sau, lúc tiến lúc dừng. Xa kị của địch tuy đông, nhưng khi đến đã gặp trận tuyến kiên cố và đánh nhanh ở phía sau có quân tài giỏi và cung nỏ mạnh sẵn sang chống trả”.

Võ Vương hỏi: “Ta không có gò đống, cũng không có địa thế hiểm trở, khi địch kéo nhiều quân đến, xa kị đánh kẹp hai bên hông ta, đón đánh hai mặt tiền và hậu của ta, quân ta khiếp sợ, thua chạy tán loạn thì phải làm sao?”.

Thái Công đáp rằng: “Ra lệnh cho sĩ tốt ta đóng hàng rào gỗ, chông gai, đặt đội trâu ngựa đánh xông trận bốn mặt. Khi thấy xa kị địch sắp đến thì cho quân chôn chông gai, quốc đất thành hố sâu và rộng khoảng 5 thước (gọi là lồng) vòng qua sau, rồi cho người cầm hàng rào gỗ chặn xe địch để làm luỹ. Nếu xe chúng chia làm hai theo mặt trước và mặt sau ta mà lập đồn thì quân tài giỏi và cung nỏ mạnh của ta sẵn sàng trấn thủ hai bên hông, tả và hữu. Sau đó ra lệnh cho quân ta đánh nhanh, đánh liên tục không ngừng”.

Võ Vương nói: “Thật là hay vậy”.


BÁO THAO (豹韬)

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

Thiên thứ 1: LÂM CHIẾN

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu gặp phải rừng rậm, ta và địch chia rừng ra chống giữ nhau. Ta làm thế nào để thủ thì kiên cố mà đánh thì chắc thắng?”

 Thái Công đáp: “Cho ba quân của ta lập thành một đội, xung kích, chỗ nào tiện lợi thì đóng quân cung nỏ bên ngoài kích thuẫn ở bên trong. Chặt cây cỏ cho thật trống, để tiện đường đánh giặc của ta.

Chỗ cao cắm cờ xí, nhắc nhỡ binh sĩ cẩn thận không để cho địch biết rõ tình hình của phép đánh giặc trong rừng thì phải cho quân sử dụng mâu kích xếp thành hàng ngũ, chỗ rừng thưa cho kị binh yểm trợ, chiến xa đặt ở đàng trước, thấy tiện lợi thì đánh, thấy không có lợi thì đừng.

Ở cánh rừng hiểm trở ắt phải bố trí một đội xung kích để phòng ngừa mặt trước mặt sau, quân ta phải đánh nhanh, quân địch tuy đông nhưng tướng địch ắt sẽ bỏ chạy, ta cho binh sĩ luân phiên vừa đánh vừa nghỉ. Mọi người phải đi theo đội ngũ của mình, ấy là phép đánh giặc trong rừng”.

Thiên thứ 2 : ĐỘT CHIẾN

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi quân địch tiến sâu vào nước ta xâm chiếm đất đai ta, lừa bắt trâu và ngựa của ta, quân địch lại đến bao vây dưới chân thành ta, quân sĩ ta kinh hãi, nhân dân ta vì tiếc của cải nên bị địch bắt sống, như vậy làm thế nào để phòng thủ thì kiên cố mà đánh thì chắc thắng?”

Thái Công đáp: “Trường hợp này phải dùng đột binh, vì trâu ngựa không được ăn, binh sĩ hết lương thực. Nên phải đánh nhanh ở mặt trước, rồi ra lệnh cho các ấp xa xôi chọn quân sĩ tinh nhuệ đánh nhanh ở mặt sau, rồi tổ chức đánh địch ban đêm, quân ta tinh nhanh, địch tuy đông, tướng địch cũng có thể bị ta bắt sống”.

Võ Vương hỏi: “Địch chia ra ba bốn mặt hoặc tiến đánh chiếm đất đai ta, hoặc dùng quân bắt trâu ngựa ta, đại quân của địch chưa đến đầy đủ mà cho những cánh quân ô hợp bao vây chân thành ta, khiến cho ba quân ta sợ hãi, như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta phải quan sát cẩn thận, khi quân địch đến đầy đủ thì phải chuẩn bị chu đáo mà chờ địch đến. Cách thành 4 dặm cho xây chiến lũy, chiêng trống cờ xí đều bày ở trên lũy, các đội khác đặt làm phục binh. Trên chiến lũy có đặt nhiều nỏ mạnh, cứ trăm bộ lại có một cửa đột kích, trước mỗi cửa đều có kị binh và chiến xa.

Các chiến sĩ tinh nhuệ, có sức mạnh và gan dạ mai phục một nơi. Nếu quân địch kéo đến cho khinh binh ra giao chiến rồi giả thua bỏ chạy, khi ấy ở trên thành treo cờ xí, đánh chiêng trống làm như cố thủ, quân địch cho rằng quân ta thủ thành nên bao vây, lúc đó phục binh của ta xông ra đánh ở giữa, hoặc đánh ở bên ngoài, quân ta đánh nhanh, đằng trước, hoặc đằng sau.

Quân địch dù có liều lĩnh cũng không hề chống cự nổi, kẻ nhát gan cũng không kịp bỏ chạy.

Đó gọi là đột chiếm, quân địch tuy đông, tướng địch ắt sẽ bỏ chạy”.

Võ Vương nói: “Hay lắm”

Thiên thứ 3: ĐỊCH CƯỜNG

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu, quân ta và quân địch đương đầu nhau, địch đông ta ít, địch mạnh ta yếu. Nửa đêm quân địch kéo đến hoặc đánh bên trái, hoặc đanh bên phải, quân ta náo động, như vậy phải làm sao để đánh thì thắng mà thủ thì vững chắc”.

 Thái Công đáp: “Đó là quân địch uy hiếp quân ta, có lợi cho việc đánh chứ không có lợi cho việc phòng thủ. Ta phải chọn lựa binh sĩ có tài, biết sử dụng nỏ mạnh, chiến xa và cưỡi ngựa, ra quân bên trái và bên phải, rồi đánh nhanh ở đàng trước và đánh gấp ở đàng sau, hoặc đánh ở bên ngoài, hoặc đánh ở bên trong. Như vậy binh sĩ địch ắt phải rối loạn, tướng địch ắt phải sợ hãi”.

Võ Vương hỏi: “Quân địch án ngữ ở phía trước ta, đánh gấp ở phía sau ta, cắt đứt đường tiến quân của cánh quân tinh nhuệ ta, chặn đứng binh sĩ tài ba của ta, khiến quân ở trong và ngoài của ta không thể liên lạc với nhau, quân ta bị rối loạn, tan tác và bỏ chạy. Binh sĩ không có tinh thần chiến đấu, tướng súy và quan quân không quyết tâm chống giữ, như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Câu hỏi của vua sáng suốt lắm! Vậy ta phải ra hiệu lệnh cho rõ ràng. Dùng những người dũng cảm tinh nhuệ và dám mạo hiểm, một người cầm đuốc, hai người đánh trống, như vậy ta sẽ biết được chỗ ở của địch. Lúc ấy ta đánh vào bên ngoài hoặc bên trong, rồi ra ám hiệu cho tắt lửa và ngừng đánh trống. Trong và ngoài hợp lực đánh thật nhanh, quân địch ắt phải thua.

Thiên thứ 4: ĐỊCH VŨ 

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu bất thần gặp quân địch đông và mạnh, chúng dùng chiến xa và kị binh bao vây bên trái và bên phải ta, quân ta đều sợ hãi bỏ chạy không thể ngăn cản được, như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Như vậy gọi là bại binh rồi, phải khéo léo thì có thể thắng, nếu không khéo thì sẽ bị tiêu diệt”.

Văn Vương hỏi: “Phải làm như thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta phải bố trí lính tinh nhuệ, nỏ mạnh, chiến xa và kị binh ở bên trái và bên phải trước, sau cách nhau ba dặm. Khi quân địch đuổi ta thì cho chiến xa và kị binh xông ra đánh bên trái và bên phải. Làm như vậy quân địch ắt phải náo loạn, và quân bỏ chạy của ta cũng sẽ dừng lại.

Võ Vương hỏi: “Khi quân địch đương đầu với chiến xa và kị binh của ta, địch đông ta ít địch mạnh ta yếu, quân địch hàng ngủ chỉnh tề có trật tự và tinh nhuệ, quân ta không dám chống lại địch, như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Ta chọn binh sĩ tinh nhuệ dùng nỏ mạnh, mai phục bên trái và bên phải, chiến xa và kị binh đóng yên một chỗ, đợi đến khi quân địch đi qua chỗ phục binh của ta, cung nỏ bên trái và bên phải cùng lúc bắn ra. Lúc ấy chiến xa kị binh và tinh binh tiến đánh thật nhanh hoặc đánh đằng trước địch hoặc đánh đằng sau địch.

Quân địch tuy đông nhưng tướng địch ắt bỏ chạy.

Thiên thứ 5: ĐIỂU VÂN SƠN BINH

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu gặp phải núi đá cao vòi vọi mà không có cỏ cây, bốn bề đều đương đầu với địch, ba quân ta sợ hãi, binh sĩ ta hoang mang, như vậy phải làm thế nào để thử thì vững chắc mà đánh thì sẽ thắng?”

Thái Công đáp: “Khi đóng quân ở trên núi cao thì sẽ bị địch uy hiếp bao vây, khi đã chọn núi để đóng quân thì phải bày điểu vân trận. Theo cách thức bày trận, trận điểu vân thì phía dương và phía âm cũng phải phòng bị hoặc đóng quân ở phía âm hoặc đóng quân ở phía dương. Nếu đóng quân ở phía dương thì lo phòng bị ở phía âm, nếu đóng quân ở phía âm thì lo phòng bị ở phía dương. Nếu đóng quân ở phía bên trái thì lo phòng bị ở phía bên phải, nếu đóng quân ở phía bên phải thì lo phòng bị ở phía bên trái. Như vậy quân đich chỉ có thể đánh phá ở phía bên ngoài của cánh quân phòng thủ mà thôi. Những con đường ăn thông đến hang động phải dùng chiến xa ngăn chặn. Cờ xí cấm ở trên cao nhắc nhở binh sĩ cẩn thận không để cho quân địch biết rõ tình hình của ta.

Như vậy gọi là xây thành ở trên núi. Khi hàng ngũ đã đàng hoàng, binh sĩ đã bày xong trận, pháp lệnh đã được thi hành, quân giả và quân chính quy đã được thiết lập. Tất cả đều lập đội xung kích ở bên ngoài núi. Chỗ đóng quân phải chia chiến xa và kị binh ra bày điểu vân trận rồi thúc quân đánh thật nhanh. Như vậy quân địch tuy đông, tướng địch có thể bị bắt sống.

Thiên thứ 6: ĐIỂU VÂN TRẠCH BINH

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn binh tiến sâu vào đất chư hầu: ta và địch gặp nhau tại con sông, địch giàu có mà chưa đông, ta nghèo nàn mà binh ít. Ta muốn vượt sông đánh địch mà không thể tiến, muốn cầm cự lâu ngày mà không đủ lương thực. Chỗ ta đóng quân là nơi nước mặn đồng chua bốn bề không có làng mạc, lại không có cỏ cây. Quân ta tìm không ra lương thực, trâu và ngựa của ta không có rơm cỏ để ăn. Như vậy phải làm sao?”.

Thái Công đáp: “Ba quân ta không phòng bị, trâu ngựa không có thức ăn, binh sĩ không có lương thực, như vậy phải tìm cách đánh lừa địch để bỏ đi ngay và phải đặt phục binh ở đằng sau”.

Võ Vương hỏi: “Ta không đánh lừa được địch mà binh sĩ ta lại hoang mang, địch đánh phía trước và phía sau ta. Ba quân ta tán loạn thua chạy. Như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Ta tìm lối thoát là chính, dựa theo tình hình địch mà sử dụng một cách khéo léo”.

Võ Vương hỏi: “Quân địch biết rằng ta có đặt phục binh. Nên đại quân của chúng không dám vượt sông mà chỉ cho những toán nhỏ qua sông. Quân ta thấy vậy rất lấy làm sợ hãi. Như vậyphải làm sao?”

Thái Công đáp: “Nếu như vậy ta phải chia ra làm nhiều toán xung kích, chọn chỗ tiện lợi mà đóng quân. Đợi những toán quân nhỏ của địch sang đến bên này bờ sông thì ta cho phục binh đánh nhanh ở phía sau. Nỏ mạnh ở bên trái và bên phải cùng lúc bắn ra. Chiến xa và kị binh lập thành trận điểu vân lo phòng bị ở trước và ở sau. Quân ta đánh thật nhanh, quân địch thấy quân ta tiến đánh ắt họp đại binh lại để vượt sông. Khi đó ta cho phục binh đánh nhanh ở phía sau, chiến xa và kị binh tiến đánh bên trái và bên phải. Quân địch tuy đông, tướng của địch cũng sẽ bỏ chạy. Điểm quan trọng của việc dùng binh là trong khi lâm chiến với địch phải tuỳ nghi mà đặt xung trận và coi chỗ nào tiện lợi thì đóng quân rồi sau mới chia kị binh ra thành lập điểu vân trận. Đó là điều đặt biệt của việc dùng binh. Gọi là điểu vân tức là điểu tan vân hợp (chim bay tản ra và mây tụ hợp lại).

Thiên thứ 7: THIỂU CHÚNG

   Võ Vương hỏi Thái Công rằng: “Ta muốn dùng binh ít mà đánh binh đông, dùng binh yếu đánh binh mạnh, như vậy phải làm sao?”.

Thái Công nói: “ Muốn dùng binh ít để đánh binh đông thì phải đợi khi chiều tối cho binh mai phục ở chổ cỏ cây rậm rạp và đoạn đường hiểm yếu mà đánh địch. Còn muốn dùng binh yếu đánh quân mạnh thì phải được sự trợ giúp của nước lớn đối với các nước láng giềng”.

Võ Vương hỏi: “Chỗ ta đóng quân không có cỏ cây rậm rạp lại không có những quảng đường hiểm yếu. Địch không đến vào buổi chiều, ta lại không được sự giúp đỡ của nước lớn và các nước láng giềng. Như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta dùng nghệ thuật đánh lừa để dụ dỗ chúng, làm cho tướng của địch phải nghi ngờ. Ta đi đường cong khiến cho địch phải qua chỗ cỏ cây rậm rạp. Ta đi đường xa, khiến địch phải gặp ta vào buổi chiều. Đánh vào lúc địch chưa kịp vượt sông. Hậu quân của địch chưa kịp xuất quân, thì ta cho phục binh đánh nhanh ở bên trái và bên phải.

Chiến xa và kị binh quấy nhiễu mặt trước và mặt sau của địch. Quân địch tuy đông tướng địch cũng phải bỏ chạy. Sau đó ta phải giao hảo với nước lớn, nhún nhường đối với binh sĩ các nước láng giềng, dùng của cải dụ dỗ họ. Dùng lời lẽ khiêm nhường đối với họ, làm như vậy ta sẽ được nước lớn và các nước láng giềng trợ giúp”.

Thiên thứ 8: : PHÂN HIỂM

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu, gặp địch tại nơi hiểm trở, bên trái của ta là núi, bên phải là sông. Bên phải của địch là núi, bên trái là sông. Địch và ta chia vùng hiểm trở mà chống cự nhau, phải làm sau để thủ thì vững chắc mà đánh thì sẽ thắng?”.

Thái Công nói rằng: “Đóng quân bên tả núi thì phòng bị bên hữu núi, đóng quân bên hữu núi thì phòng bị bên tả núi. Chỗ hiểm trở có sông lớn không có thuyền thì dùng cầu nổi (thiên hoàng) để binh ta sang sông, xong phải mở rộng đường đất để tiện cho chiến đấu, đặt xe vũ xung ở trước và sau, nỏ mạnh bày ở hai bên, ra lệnh giữ kỹ các tuyến đường dùng xe vũ xung chặn các cửa hang, cắm cờ xí ở trên cao, như vậy gọi là xây thành bằng xe. Theo phép đánh giặc thì ở chỗ hiểm yếu phải đặt xe vũ xung ở phía trước và cỗ xe đại lỗ dùng để yểm trợ. Binh sĩ tinh nhuệ và nỏ mạnh ở hai bên trái và phải có 3000 người để đóng đồn và bày xung trận. Chỗ tiện lợi thì đóng quân. Tả quân ở bên trái, Hữu quân ở bên phải, Trung quân ở giữa, cùng lúc tiến đánh, đánh xong trở về đồn, thay phiên nhau vừa đánh vừa nghỉ, đánh đến khi nào thắng mới thôi”.

Võ Vương khen rằng : “Hay lắm”



  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tố thư

Thập Nhị Binh Thư – Binh thư số 8: Tố Thư

“Tố Thư” của Hoàng Thạch Công chỉ gồm có 6 thiên, 132 câu, 1360 chữ nhưng cổ thư mỏng như vậy lại chứa đựng đầy mưu lược, trí tuệ với mỗi chữ như châu ngọc, mỗi câu đều là danh ngôn.

Thập Nhị Binh Thư - Binh thư số 8: Tố Thư

Lịch sử có những nhân vật đại trí đại huệ, thành tựu đại nghiệp, không những thi ân trạch khắp chúng dân mà còn có nhân cách cao khiết. Đối với công danh lợi lộc, họ không mong cầu, công thành thân thoái đúng thời điểm, khiến bao đời sau ngưỡng vọng. Trương Lương – một trong “Tam kiệt” khai quốc nhà Hán chính là bậc trí giả như thế.

Trương Lương (262 – 186 TCN), biểu tự Tử Phòng, là người nước Hàn cuối thời Chiến Quốc. Khi ông trưởng thành lại là lúc nước Hàn bị Tần tiêu diệt, nên Trương Lương có gia thù quốc hận với Tần. Năm 218 TCN, Trương Lương lập mưu hành thích vua Tần, nhưng bất thành. Bị truy lùng gắt gao, Trương Lương thay tên đổi họ, trốn chạy ẩn náu ở Hạ Bì.

Chính tại nơi đây đã có giai thoại về duyên kỳ ngộ của Trương Lương với một “Di Thượng Lão Nhân” (cụ già ngồi trên cầu). Chàng thanh niên gặp một vị cao niên ngồi trên cầu, y phục thô kệch. Thấy Trương Lương đi qua, cụ già cố ý đánh rơi giày xuống dưới chân cầu rồi bắt Trương nhặt lên, mang lại giày cho mình. Dù không quen biết nhưng Trương Lương khiêm nhường, nhẫn nại và tự nguyện làm tới 3 lần. Sau lần thứ 3 thì ông già bỏ đi. Được một đoạn thì đột nhiên quay lại và nói: “Tiểu tử có thể dạy dỗ được. Năm ngày sau khi trời vừa sáng lại đến đây gặp ta.”

Trương Lương thấy chuyện này kỳ lạ, liền nhận lời. Đúng 5 ngày sau, Trương Lương đến khi trời hừng sáng thì thấy ông lão kia đã ở trên cầu rồi, quở trách rằng: “Hẹn với người già sao lại đến muộn? Năm ngày sau lại đến”. Lần hẹn thứ 2, gà vừa gáy lần đầu thì Trương Lương liền đến chỗ hẹn. Cụ già vẫn đến trước, nổi giận mắng: “Hẹn với bậc trưởng thượng mà lại đến muộn. Năm ngày sau lại đến đây’. Lần thứ 3, từ nửa đêm, Trương Lương đã đến chỗ hẹn để sớm hơn ông cụ. Lần này thì ông mới hài lòng lấy ra một bộ sách nói với Trương Lương rằng: “Đọc quyển sách này thì làm được thầy bậc vương giả. Mười năm sau, sẽ ứng nghiệm. Mười ba năm sau, con đến gặp ta. Khối đá màu vàng dưới chân núi Cốc Thành ở phía bắc sông Tế là ta đó”.

Nói xong bỏ đi thẳng, không thèm nhận cái lạy tạ của Trương Lương. Ông già mang cốt cách của một cao sĩ quy ẩn nơi thâm sơn cùng cốc. “Di Thượng Lão Nhân” biệt tích sau khi trao cho Trương Lương quyển “Tố Thư”. Sách này ngắn gọn nhưng tuyệt không phải dạng tầm thường. Trương Lương ngày đêm chăm chỉ học tập từng câu chữ vàng ngọc trong sách.

Ông già bí ẩn kia nhìn nhận Trương Lương có thể khuất nhục (những điều) người thường không thể khuất nhục, biết Trương có Lễ – Nhẫn, có chí hướng khoáng đạt, nên toại nguyện tặng sách quý. Cổ thư này chỉ gồm có 6 thiên, 132 câu, 1360 chữ bàn luận về: Nguyên thủy: những phẩm tính căn bản; Chánh đạo: cung cách hành xử trong đời thường của bậc cao nhân; Cầu chí hướng của người: lẽ thành bại ở đời; Tông đạo: phép tư duy của cao nhân; Chánh nghĩa: những sai lầm cần biết để tránh hỏng việc lớn; An lễ: gìn giữ chánh trị nội bộ.

Quân sư Trương Lương theo phò Lưu Bang tranh thiên hạ, với bao nhiêu kỳ mưu thần toán hẳn cũng nhờ Tố Thư mà có. Mười ba năm sau ngày nhận sách quý trên cầu, Trương Lương theo Lưu Bang đi qua núi Cốc Thành. Nhớ lời “Di Thượng Lão Nhân” năm nào, Trương Lương tìm kiếm và quả nhiên có thấy một khối đá màu vàng hình thù rất đẹp. Ông cho chở tảng đá đem về, cung kính gọi là “Hoàng Thạch Công”, coi như báu vật thờ cúng. Sau này khi Trương Lương chết, người nhà đã chôn khối đá màu vàng này cùng với ông.

Chính sử Trung Hoa không hề ghi chép cái tên Hoàng Thạch Công. Ông xuất thân thế nào, tên thật và quê quán đều tuyệt nhiên vắng lặng. Hoàng Thạch Công hoàn toàn là một huyền thoại, hay đúng hơn thì đây chính là bản thân lịch sử hiển hiện thành nhân vật hư cấu nhằm cổ vũ cho cái tài đức phi phàm của quân sư Trương Lương.

Hán Cao Tổ khai mở đại nghiệp nhà Hán kéo dài 4 thế kỷ cũng không thể không nhắc đến Tố Thư – thời ấy ngợi ca sách này là Thiên Thư. Vậy nên Tố Thư gắn liền với triều đại huy hoàng nhất lịch sử Trung Hoa chính là nhà Hán.

“Tố Thư” thuộc binh pháp số 8 trong 12 binh pháp của cuốn sách “Thập Nhị Binh Thư” được Nhà sáng lập – Chủ Tịch Tập đoàn Trung Nguyên Legend Đặng Lê Nguyên Vũ cẩn trọng, tuyển chọn thuộc lĩnh vực Chính trị – Ngoại giao – Quân sự trong “Tủ sách Nền Tảng Đổi Đời”.

1)  Đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ, năm điều ấy thuộc về một thể.
2)  Đạo là cái đường mà người ta bước theo, sai khiến tất cả vạn-vật không biết do theo đâu mà đi. (Đạo là luật biến hóa chung của vũ trụ, cai quản muôn loài, vạn vật)
3)  Đức là cái mà người ta được nơi mình, bao trùm mọi việc, làm cho tất cả đề được như ý muốn của mình (Đức là quyền năng thiêng liêng của các bậc thánh, nhờ đó mà họ làm việc gì cũng dễ thành công)
4) Nhân là điều mà người ta thường mến, là sự có lòng từ bi, thương xót để làm toại lòng muôn loài sinh ra trong trời đất.  (có ý nòi rằng lòng nhân thấm nhuần tới côn trùng, cây cỏ)
5)  Nghĩa là điều mà người ta nên theo, như là tưởng thưởng điều thiện, trừng phạt điều ác để làm nên việc
6) Lễ là cái qui củ mà người ta theo như là sớm dậy tối ngủ, để thành ra cái luân thường thứ tự của con người.
7) Tín phải đủ để chỉ có riêng một lòng mà thôi, nghĩa phải đủ để người theo mình, đức phải đủ để người mong nhớ nơi xa, tài phải đủ để noi gương người xưa, minh mẫn phải đủ để soi xuống dưới, người có đủ điều kiện trên là bậc anh tuấn.
8) Hạnh phải đủ để làm khuôn phép, trí phải đủ để dứt hiềm nghi, tín phải có để giữ hẹn, liêm phải có để sai khiến, phân phối của cải, người có đủ điều kiện trên là bậc anh hào.
9) Giữ chức vụ mà không bỏ phế, xử sự theo chánh nghĩa mà không đổi lòng, thấy điều hiềm nghi mà không miễn chấp bừa bãi, thấy điều lợi mà không lấy bừa bãi, người có đủ điều kiện trên là bật anh kiệt.

Cầu chí hướng của người 


10) Muốn tạo ra căn bản cho người, chẳng thể không một vậy.
11) Hiền nhân quân tử hiểu rõ cái đạo thịnh suy, thông suốt cái số mệnh thành bại, xét cái thế trị - loạn, hiểu thấu cái lý tan - hợp cho nên ẩn nhẫn giữ đạo để chờ thời. 
12) Nếu thời đã tới mà ra hoành đạo thì có thể ở địa vị quan đại thần tối cao, gặp cơ hội mà hành động thì có thể làm nên công nghiệp vẻ vang nhất trên đời. 
13) Nếu không gặp thời, thì thân thể phải chịu chìm đắm để tiêu tan .
14) Như thế để cho cái đạo đủ cao mà danh tiếng được lừng lẫy về sau. 

15) Dứt điều thích, ngăn điều muốn để trừ phiền lụy.
16) Dằn điều trái, bỏ việc ác để từ bỏ lỗi lầm.
17) Chê rượu, lánh sắc để khỏi nhuốm dơ.
18) Tránh điều ngờ, xa điều nghi để khỏi lầm lạc.
19) Học rộng, hỏi cặn kẻ để biết nhiều.
20) Làm việc to lớn, nói lời nhỏ nhẹ để sửa mình.
21) Kính cẩn, dè dặt, nhún nhường, tằn tiện để giữ thân.
22) Mưu kế sâu xa để khỏi cùng khốn.
23) Gần gũi người nhân từ, kết bạn với người ngay thẳng để giúp đỡ nhau trong lúc tai nạn.
24) Gần gũi rộng lượng, cẩn thận chu đáo để tiếp đãi người.
25) Bổ nhiệm và sử dụng kẻ tài năng để cho xong việc.
26) Giận ghét kẻ độc ác, đuổi kẻ dèm pha để ngừa loạn.
27) Tìm xưa xét nay để khỏi nghi ngờ.
28) Trước đó sau lường để đối phó các việc bất ngờ gấp rút.
29) Bày đặt ra các việc quyền biến để gỡ rối.
30) Buộc túi, gặp thuận để khỏi tội lỗi
31) Chặt chẽ, vững vàng, để lập công.
32) Chăm lo, hiền lành, để giữ gìn chung cuộc cho toàn vẹn.

33) Về thuật làm việc hết lòng, gắng sức thì chẳng có gì lâu dài bằng rộng mưu.
34) Chẳng có gì yên bằng nhẫn nhục.
35) Chẳng có gì cần trước hơn là tu đức.
36) Chẳng có gì vui bằng mến điều lành.
37) Chẳng có gì mầu nhiệm hơn lòng chí thành.
38) Chẳng có gì sáng suốt bằng cách xét cái thể chất bên trong sự vật.
39) Chẳng có gì khổ bằng mong nhiều.
40) Chẳng có gì tốt bằng biết đủ.
41) Chẳng có gì đáng thương xót bằng tán tinh
42) Chẳng có gì bệnh hơn là sự vô thường (không chắc chắn).
43) Chẳng có gì ngu tối cho bằng tham lam, keo bẩn.
44) Chẳng có gì cô độc bằng ỷ mình.
45) Chẳng có gì nguy hiểm bằng dùng kẻ đáng nghi.
46) Chẳng có gì dễ thất bại bằng có óc riêng rẽ.
47) Chẳng có gì ngắn ngủi bằng của vô nghĩa (lấy bằng cách không chích đáng).

48)  Đem sự sáng suốt mà bày tỏ cho kẻ dưới rõ là ngu tối (Đạo của thánh hiền là trong thì sáng suốt mà ngoài tỏ ra tối tăm Thánh hiền chi đạo nội minh ngoại hối)
49)  Có lỗi mà không biết là bị che lấp
50)  Mê mà không tỉnh lại là lầm lạc
51)  Dùng lời nói mà chuốc lấy thù oán là tự gây tai họa ( làm mà dám nói ra, đó la quyền tại mình mà họa tại người: nói mà không làm được, đó là quyền tại người họa tại mình)
52)  Tâm ý và mệnh lệnh đều trái lẽ thì việc  sẽ bỏ phế (bế tắc).
53)  Nói năng bừa bãi trước rồi ra lệnh sau thì hư việc.
54)  Nổi giận mà không có uy tín thì sẽ bị xúc phạm (hoặc mang tội lấn lướt).
55)  Ưa sự ngay thẳng mà làm nhục người là mua lấy tai ương.
56)  Trừ cái nhục (riêng) cho kẻ mà mình đang dùng là nguy hiểm (Báo thù riêng cho kẻ dưới tay là nguy hiểm)
57)  Ngạo mạn đối với các bậc đáng kính (có ba bậc đáng kính : bậc có tuổi tác, bậc có tước vị, bậc có đức hạnh) là việc hung ác xấu xa, bất lợi
58)  Bề ngoài thì hợp ý, mà trong lòng thì xa cách, như thế là lẻ loi;
59)  Gần gũi kẻ dèm pha, xa cách người trung trực thì bị diệt vong;
60)  Gần sắc đẹp mà xa người hiền là ngu tối;
61)  Gái đến cửa công thì loạn;
62)  Dùng người có lòng tư kỷ để làm việc quan (công ích) thì không chắc chắn;
63)  Lấn lướt kẻ dưới để chiếm phần thắng là xâm phạm.
64)  Danh mà không hơn thực thì hao tổn ( Thực lực là chỗ nương tựa của thinh danh, thinh danh đem lại uy quyền cho thực lực; nhiều thực lực mà ít thinh danh thì khó thành sự nghiệp, vậy danh phải đi đôi với thực)
65)  Sơ sài (Rộng lượng tha thứ đối với mình) đối với mình mà lại trách phạt người thì không thể trị yên
66)  Kẻ dày với mình mà mỏng với người thì nên bỏ họ mà đừng dùng.
67)  Xét điều lỗi mà vứt bỏ công lao của người thì tổn hại tới quần chúng.
68)  Kẻ dưới và người ngoài ai ai cũng khác lòng thì phải luân vong.
69)  Đã dùng mà không tín nhiệm thì lạt lẽo.
70)  Thưởng mà hẹp hòi thì hỏng việc.
71)  Hứa nhiều mà chó ít thì sinh oán.
72)  Đã tiếp đón mà lại phản đối thì trái lẽ.
73)  Làm ít mà trông mong nhiều thì không kết quả.
74)  Sang mà quên hèn thì chẳng lâu.
75)  Nhớ lỗi cũ mà vứt bỏ công mới là điều chẳng lành.
76)  Dùng người không được chính đáng là điều nguy.
77)  Cưỡng bách người mà dùng thì họ chẳng thuận theo.
78)  Vì người mà chọn làm quan thì loạn.
79)  Mất những điểm mạnh của mình thì trở nên yếu.
80)  Sự quyết định chích sách mà ở trong tay kẻ bất nhân thì nguy hiểm.
81)  Kế hoạch bí mật mà tiết lậu ra ngoài thì thất bại.
82)  Thu vào nhiều mà chi ra ít thì hỏng việc.
83)  Dùng của đút lót việc công là ám muội.
85)  Nghe điều thiện mà không lưu ý, lại không quên lỗi cũ của người, đó là bạo ngược
86)  Đã dùng mà không tin, đã tin mà không dùng, là lộn xộn.
87)  Dùng đức mà nuôi người thì họ sẽ tụ tập.
88)  Dùng hình pháp để trói buộc người thì họ sẽ phân tán.
89)  Công nhỏ mà không thưởng thì không ai chịu lập công lớn.
90)  Không bỏ qua oán nhỏ thì oán lớn sẽ sinh ra.
91)  Thưởng mà người không phục, phạt mà người không vui chịu thì họ sẽ làm phản.
92)  Thưởng cho tới kẻ vô công, phạt cho tới kẻ vô tội là khốc hại.
93)  Nghe dèm pha mà vui, nghe can ngăn mà hờn giận, là sẽ thất bại.
94)  Thường giữ cái mình sẵn có là yên.
95)  Tham của người là tàn hại.

96)  Phúc sinh nhờ chứa thiện, họa sinh vì tích ác.
97)  Oán sinh vì không bỏ qua lỗi nhỏ, mối lo hại sinh ra vì không tính trước mưu kế.
98)  Đói vì khinh rẻ nghề nông, rét vì lười dệt.
99)  Yên (thân) nhờ được người, nguy vì mất kẻ sĩ.
100) Giàu nhờ nghinh tiếp việc xẩy tới, nghèo vì bỏ lỡ thời cơ.
101) Bậc trên hành động vồ thường thì kẻ dưới sẽ sinh lòng nghi kỵ.
102) Khinh lờn bề trên thì sinh tội, lăng nhục kẻ dưới thì họ chẳng gần gũi mến yêu.
103) Bề tôi gần mà không trọng mình thì bề tôi xa sẽ khinh mình.
104) Tự nghi mình thì không tin người, tự tin mình thì không nghi người.
105)  Kẻ sĩ có tà tâm thì không có  bạn chánh đáng, bề trên mà cong vạy thì kẻ dưới không ngay thẳng.
106) Nước ở cảnh nguy biến thì không có người lành.
107) Mến người sâu xa thì cầu hiền gấp, vui được người hiền thì nuôi người trọng hậu.
108) Nước sắp làm bá chủ thì kẻ sĩ đều về giúp, nước sắp mất thì người hiền đã xa lánh trước.
109) Đất mà xấu thì vật lớn không sanh, nước mà cạn thì cá lớn không lội, cây mà trụi lá thì chim lớn không đậu, rừng mà thưa cây thì thú lớn không ở.
110)  Núi mà cao vút thì sẽ đổ, hồ mà đầy nước thì sẽ tràn.
111) Bỏ ngọc giữ đá là có mắt không ngươi, thân dê đội lốt cọp thì chỉ lòe loẹt bề ngoài mà thôi.
112) Cầm áo mà không cầm nơi cổ thì áo sẽ gập xuống, chạy mà không nhìn đất thì sẽ vấp ngã.
113) Cột yếu thì nhà sẽ sập, bề tôi phò tá mà yếu thì nước nghiêng đổ.
114) Chân lạnh thì hại tim, dân oán hận thì hại nước.
115) Núi sắp đổ thì đất đã lở trước, nước sắp suy yếu thì dân đã bị nạn chết.
116) Rễ khô thì cành mục, dân khốn đốn thì nước điêu tàn.
117) Níu theo xe lật thì xẽ bị ngã, ở theo nước mất thì sẽ bị diệt.
118) Xem việc đã thất bại để mà thận trọng, thấy việc sắp thất bại thì phải sợ dẫm vết chân mà lo tránh trước đi.
119) Sợ nguy thì yên, sợ mất thì còn.
120) Người mà làm việc có đạo lý thì tốt, làm việc không có đạo lý thì xấu.  Nếu tốt thì trăm điều may sẽ tới, nếu sấu thì trăm điều rủi sẽ dồn dập vào, chẳng phải nhờ thần thánh nào mà việc cũng tự nhiên xẩy tới như thế.
121) Chuyên dùng kế lành thì không xẩy việc dữ, không lo xa thì sẽ rầu gần.
122) Cùng chí thì hợp nhau.
123) Cùng nhân từ thì chung lo.
124) Cùng trí thức thì mưu đồ chung.
125) Cùng làm ác thì kết bè đảng.
126) Cùng mến thì tìm nhau.
127) Cùng vẻ đẹp thì ghét nhau.
128) Cùng quí một vật thì hại nhau.
129) Cùng lợi thì kỵ (sợ) nhau.
130) Cùng lời nói thì hưởng ứng nhau.
131) Cùng chí thì cảm mến nhau.
132) Cùng loại thì nương nhau.
133) Cùng chính nghĩa thì gần gũi nhau.
134) Cùng nạn thì giúp nhau.
135) Cùng đạo thì chung xây dựng.
136) Cùng nghề thì dò nhau.
137) Cùng khéo thì tranh nhau.
138) Ấy là cái điều mà mình được theo số mệnh như thế, không thể đi ngược với lý lẽ ấy.
139) Bỏ bê không dạy mình mà đi dạy người là nghịch, sửa mình mà dạy người là thuận.  Nghịch thì khó theo, thuận thì dể làm, khó theo thì loạn, dể làm thì yên trị.  Như thế có thể trị mình, trị nhà, trị nước vậy.



  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS