Quan trọng nhất trong hệ thống luân xa là sự quân bình giữa các luân xa.
Có lẽ chưa bao giờ trên mạng internet và trong xã hội phong trào thiền để mở luân xa lại phát triển rầm rộ như hiện nay. Thử gõ “mở luân xa” vào google ta sẽ thấy vô số thông tin liên quan. Cách đây hơn thế kỷ, những tài liệu đầu tiên về hệ thống luân xa (chakras) đươc phổ biến trong thế giới Tây phương chỉ là một vài quyển sách, hoặc là dịch từ những cổ thư của Ấn độ hoặc Tây tạng, hoặc do các nhà Huyền bí học viết ra từ những khảo cứu của bản thân mình.
Trong giới Thần triết học chỉ có Ông C.W. Leadbeater viết quyển The Chakras, còn bà H.P. Blavatsky gần như không nhắc gì đến hệ thống Chakras trong các sách của mình, trừ trong một số tài liệu huấn luyện của Trường Bí Giáo (Esoteric Section). Ngoài giới Thần Triết, có Arthur Avalon với quyển Serpent Power dịch và chú giải các Tantra của Ấn độ nói về Kundalini cũng được đánh giá cao. Sự cẩn thận của các bậc tiền nhân có lý do chánh đáng của nó. Như đức D.K đã cảnh cáo: khi bạn bắt đầu tìm hiểu và làm việc với các chakras và kundalini là bạn thật sự đang đùa với lửa. Trong trường hợp nầy, có lẽ câu nói “sự hiểu biết nửa vời còn nguy hiểm hơn không hiểu biết gì cả” sẽ đúng hơn là câu ngạn ngữ “nửa cái bánh còn tốt hơn là không có gì cả“.
Nhiều người thường nhầm lẫn giữa những những quyền năng tâm linh bậc thấp và bậc cao, và xem bất kỳ ai đó có những quan năng như nhãn thông, nhĩ thông là những người tiến hóa cao tột. Đây là sự nhầm lẫn tai hại, và thực tế đã cho thấy rằng những vị tự xưng là nhà ngoại cảm nhiều khi trình độ trí tuệ và đạo đức không hơn người thường bao nhiêu, đôi khi còn ngược lại. Thấy không có nghĩa là biết. Một người thợ và một nhà bác học như Newton hay Albert Einstein cùng nhìn và thấy vũ trụ như nhau, nhưng chắc chắn sự hiểu biết về vũ trụ của hai bên hoàn toàn khác nhau một trời một vực. Những quan năng như clairvoyance hay clairaudiance (nhìn và thấy trên cõi trung giới) không nói lên một trình độ tâm linh hay tiến hóa siêu phàm gì cả, và một vài giống dân sơ khai kém tiến hóa hay vài loài thú cũng sở hữu những quan năng nầy.
Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, các giống dân chánh thứ 3 (giống dân Lemurian – xem The Secret Doctrine của H.P. Blavatsky) được cho là sở hữu con mắt thứ ba (the third eye). Tuy nhiên, theo dòng tiến hóa thì các quan năng nầy tạm thời chìm dưới tâm thức, và con người tập trung vào phát triển trí tuệ trong giống dân chánh thứ 5. Trong những chu kỳ tiến hóa về sau, những quan năng nầy sẽ phát triển trở lại những ở một bình diện cao hơn, nó không còn là những quan năng bậc thấp (lower psychic powers) mà là các quan năng bậc cao (higher psychic power). Và tiến hóa diễn tiến theo hình xoáy ốc, tuần tự lập lại những chu kỳ trước đó nhưng ở một mức độ ngày càng cao hơn mãi…
Do đó, khi dịch các từ clairvoyance hay clairaudiance bằng thần nhãn hay thần nhĩ dễ gây sự hiểu nhầm, cho đây là những quyền năng cao cả, siêu nhiên. Thành ra, việc các nhà Thần triết sau nầy gọi nó là nhãn thông (hay thấu thị) thì hợp lý hơn và tránh những huyễn cảm sai lạc.
Như vậy, clairvoyance hay clairaudiance không phải là cái mà người học đạo mong cầu hay tìm cách hoạch đắc. Cái mà chúng ta cần là sự phát triển trí tuệ, trực giác, đức hạnh, và khi đó những quyền năng cần thiết sẽ đến với chúng ta. Có lẽ lời dạy sau của đức D.K là một lời nhắc nhở mà những người học đạo phải ghi tâm:
Nếu một người nào đó bằng năng lực của ý chí hay do sự phát triển quá mức của trí tuệ thực hiện được sự hòa hợp những ngọn lửa của vật chất nầy [kundalini và prana] và khơi hoạt nó lên, y sẽ đối diện với những mối nguy hiểm như điên loạn, ma ám, chết chóc hoặc bị bệnh trầm trọng ở một bộ phần nào đó của cơ thể y. Y cũng sẽ bị rủi ro qua việc phát triển quá độ những xung động tình dục do những mãnh lực nầy [kundalini] đi lên không đúng cách, hoặc bị lái đến những luân xa không mong muốn. Lý do của điều nầy là vật chất của cơ thể y chưa đủ tinh khiết để chịu đựng được sự hợp nhất của các ngọn lửa, và các vận hà dọc theo xương sống vẫn còn bị nghẻn lại (clogged and blocked), và do đó trở thành một vật cản, lái ngọn lửa trở lại và hướng xuống. Luồng hỏa nầy (được hợp nhất bằng quyền năng của tâm trí chứ, không kết hợp đồng thời với sự tuôn xuống của Tinh thần) đốt cháy các lưới dĩ thái, và các mãnh lực ngoại lai không mong muốn, thâm chí các vong linh, có thể xâm nhập vào y. Chúng sẽ tàn phá những gì còn sót lại của thể dĩ thái, các tế bào não, hoặc thậm chí cả xác thân của y.
Một người khinh suất không biết Cung của mình [cung của Chơn thần và Chơn Ngã] và do đó không biết dạng tam giác hình học đúng cách để lưu chuyển luồng hoả từ luân xa nầy đến luân xa khác, sẽ khiến luồng nội hoả lưu chuyển sai cách, hậu quả là sẽ đốt cháy các tế bào của y. Trong trường hợp nhẹ nhất, điều nầy sẽ làm thụt lùi lại sự tiến hoá của y một vài kiếp sống, bởi vì y phải bỏ mất nhiều thời gian để xây dựng lại những gì đã bị tàn phá, và lập lại theo cách đúng đắn những gì cần phải làm.
Còn nếu y tiếp tục theo đuổi đường lối sai lạc nầy, bỏ qua sự phát triển tinh thần, chỉ tập trung vào nỗ lực tâm trí để điều khiển vật chất cho các mục tiêu ích kỷ, và nếu y tiếp tục điều nầy mặc kệ những khuyến cáo từ chân ngã của y, của các bậc huấn sư đang trông nom y, nếu điều nầy tiếp tục trong một thời gian dài sẽ mang đến cho y sự hủy diệt cuối cùng trong Đại chu kỳ Manvantara nầy. H.P.B có ám chỉ đến điều nầy khi đề cập đến những trường hợp “mất linh hồn”. Ở đây chúng tôi nhấn mạnh sự hiện thực của điều nầy nhằm cảnh cáo những ai mong tiếp cận đề tài các luồng hỏa vật chất với những hiểm nguy ẩn tàng trong đó. Sự hòa hợp (blending) của các luồng hỏa vật chất nầy phải là kết quả của tri thức thiêng liêng, và phải được điều khiển duy nhất bởi Ánh sáng của Tinh thần, vốn hoạt động thông qua tình thương và vốn là tình thương, và mong mỏi sự hợp nhất tối hậu không phải để thỏa mãn những ham muốn vật chất, nhưng bởi vì mong muốn được giải thoát và tinh khiết hóa để có thể đạt đến sự hợp nhất cao cả hơn với Thượng đế. Mong muốn đạt đến sự hợp nhất nầy không phải vì các mục tiêu ích kỷ, nhưng bởi vì nhằm đạt đến sự hoàn thiện của nhóm và nhằm phục vụ nhân loại một cách rộng rãi và hiệu quả hơn.
Hậu quả của việc “mở luân xa” không đúng cách như đức DK đề cập đến (điên loạn, bệnh tật, chết chóc, ma ám …) trên mạng internet có đề cập nhiều. Do đó người học đạo phải cẩn thận và có trí phân biện. Việc khai mở các luân xa (the awakening of the chakras) không phải là chuyện một sớm một chiều, những gì mà chúng ta sở hữu ngày hôm nay là kết quả của hằng triệu năm tiến hóa. Đề cập đến các luân xa, đức D.K chỉ dùng từ awakening, hàm ý một quá trình lâu dài, kết quả của nhiều kiếp sống. Việc một vài cá nhân dạy cách mở các luân xa bằng tham thiền, bằng ngoại lực của một ai đó trong một thời gian ngắn có lẽ không phù hợp với lý lẽ tự nhiên và tiềm ẩn nhiều rủi ro vì thiếu hiểu biết. Quan trọng nhất trong hệ thống luân xa là sự quân bình giữa các luân xa. Thái quá hay bất cập đều có hại. Nhưng có lẽ trừ các bậc thánh nhân, các Chân sư, hệ thống chakras của chúng ta chúng ta ít nhiều điều lệch lạc. Đối với giống dân thứ 4 (giống dân Atlantean) luân xa phát triển mạnh nhất là luân xa tùng thái dương, và điều nầy cũng đúng với đa phần nhân loại hiện nay vốn sống thiên nặng về cảm tính (astrally polarised). Một số người sống thiên về trí tuệ (mentally polarised) thì các luân xa tim và cuống họng bắt đầu phát triển.Việc luân xa nào phát triển mạnh hơn các luân xa còn lại đều dẫn đến các rắc rối hoặc bệnh tật liên quan đến luân xa đó, cụ thể hơn là vùng cơ thể lân cận của luân xa. Đối với luân xa Tùng thái dương thì đó là vùng bụng bao gồm gan, bao tử, lá lách, ruột … căn bệnh ung thư của các cơ quan trong vùng nầy được cho là có căn nguyên từ sự phát triển thái quá của luân xa tùng thái dương.
Và như đức DK khuyến cáo, quan trọng nhất là không bao giờ tham thiền lên các luân xa, nhất là các luân xa dưới hoành cách mạc, bởi vì người hoc đạo biết rằng năng lượng đi theo tư tưởng (energy follows thought). Việc tập trung tự tưởng lên một luân xa nào đó mà không biêt rõ tình trạng của luân xa đó là việc làm nguy hiểm, dẫn đến việc kích thích thái quá (over-stimulation) luân xa đó, và hậu quả là sự ngưng đọng năng lượng (congestion) tại luân xa, và bệnh tật sẽ phát sinh.
Chakras hay Trung tâm lực là những điểm giao tiếp mà tại đó năng lượng chảy từ một khí thể nầy đến một khí thể khác.
1. Chakras – Luân xa là gì?
Chakra trong tiếng Phạn nghĩa là bánh xe quay, hay luân xa. Trong quyển The Chakras, Ông Leadbeater giải thích như sau:
Chakras hay Trung tâm lực là những điểm giao tiếp mà tại đó năng lượng chảy từ một khí thể nầy đến một khí thể khác.
Năng lực thiêng liêng từ cõi cao đổ vào các luân xa tạo ra các làn sóng thứ cấp chuyển động theo vòng tròn, theo chiều vuông góc với lực đổ vào, giống như một thanh nam châm khi ấn vào một cuộn dây điện tạo ra một dòng điện cảm ứng chạy trong cuộn dây theo chiều vuông góc với từ trường của nam châm.
Bản thân các lực sơ cấp khi đổ vào các luân xa lại túa ra theo đường thẳng vuông góc với chiều đổ vào, tạo thành các nan hoa của bánh xe mà tâm hay moay-ơ của bánh xe lại là tâm của luân xa. Mỗi luân xa có số nan hoa khác nhau. Vì lý do nầy mà trong kinh sách đông phuong các luân xa còn gọi là các bông hoa (hay hoa sen).
Theo Ông C.W. Leadbeater, trong thể dĩ thái (etheric body) của con người có 7 luân xa chính, theo thứ tự từ trên đỉnh đầu xuống như sau:
1. Luân xa đỉnh đầu (Crown chakra – Head center): gồm 2 vòng, vòng bên trong có 12 cánh và vòng bên ngoài 960 cánh.
2. Luân xa trán (brow chakra hay ajna center): gồm 96 cánh, chia thành hai nửa, mỗi một nửa 48 cánh.
3. Luân xa cuống họng (throat chakra hay throat center): 16 cánh
4. Luân xa tim: nằm gần quả tim, có 12 cánh
5. Luân xa rốn (navel chakra): 10 cánh
6. Luân xa lá lách (Spleen chakra): 6 cánh
7. Luân xa gốc (Root chakra): 4 cánh
Số cánh của mỗi luân xa đều có một ý nghĩa huyền linh. (Xem Luân xa Phần VII)
Bảng liệt kê luân xa của Ông C.W. Leadbeater có đôi chút khác với cách liệt kê truyền thống của Kinh sách Ấn độ. Đức D.K trong quyển sách đầu tiên của Ngài (Thư về tham thiền huyền môn) cũng dạy và liệt kê gần tương tự như Ông C.W. Leadbeater, nhưng trong các quyển sách về sau Ngài dạy khác hẳn.
Trong Cosmic Fire và Esoteric Healing:
– Luân xa lá lách không còn liệt kê như là một trong 7 luân xa chính nữa, thay vào đó là luân xa xương cùng (sacral center, hay còn gọi là luân xa tính dục, cũng có 6 cánh).
– Luân xa rốn (Navel chakra) được Ngài gọi là luân xa Tùng Thái dương (Solar Plexus).
– Luân xa trán (Brow chakra) Ngài gọi bằng tên tiếng Phạn là Ajna, và luân xa gốc (Root center) được Ngài gọi là luân xa ở đáy cột sống (the center at the base of the spine).
Luân xa lá lách có một vai trò đặc biệt trong việc hấp thu sinh khí Prana, thuần tuý liên quan đến vật chất. Ngoài ra một điểm quan trọng cần lưu ý, theo Ông C.W. Leadbeater thì miệng của các luân xa nằm trên bề mặt của thể dĩ thái về phía trước mặt (xem hình 2), trong khi đức D.K nhấn mạnh trừ hai luân xa ở vùng đầu (luân xa đỉnh đầu và Ajna center), các luân xa còn lại có miệng nằm ở phía lưng, cách cột sống khoảng 2-3 inch:
… Các nhà thông linh bậc trung (average psychic) xem các luân xa tùng thái dương và cuống họng (hai luân xa duy nhất mà họ dường như có biết đôi điều về chúng) nằm ở phía đằng trước thân mình. Điều nầy khiến năng lượng đi xuống theo con đường giáng hạ thay vì đi lên theo con đường thăng thượng tiến hoá của cột sống. Điều nầy rất quan trọng. [Esoteric Psychology II trang 589]
Một điểm khác nữa là luân xa tim nằm giữa hai bờ vai, về phía mặt sau lưng và cách bề mặt lưng từ 2 đến 3 inch (5cm-8cm), không như Ông Leadbeater vẽ là nằm ngay vị trí trước mặt, ngay vùng trái tim. Điều nầy rất quan trọng trong các bài tham thiền mà đức D.K dạy khi chúng ta quán tưởng hình ảnh Chân sư ở vị trí của luân xa tim.(Meditation on the Master in the Heart)
Theo C.W. Lead beater, thì đường kính luân xa của một người nằm trong khoảng từ 2 inch – 6 inch (5cm đến 15cm), luân xa càng lớn thì nó càng phát triển (awakened), con người càng tiền hoá.
Đức D.K dạy rằng quá trình phát triển của một luân xa giống như bất kỳ một đơn tử (atom) vật chất nào đều có thể phân thành 5 thời kỳ, tượng trưng qua các biểu tượng sau:
1. Vòng tròn:
Ở giai đoạn nầy luân xa trông giống như một trũng hình đĩa (như C.W. Leadbeater mô tả), chiếu ánh sáng mờ nhạt, không sức sống. Luân xa quay rất chậm, gần như không thấy được chuyển động của nó. Giai đoạn nầy tương ứng với thời kỳ kém tiến hoá nhất của con người, với những giống dân phụ đầu tiên của Giống dân chánh thứ 3 (Lemurian).
2. Vòng tròn với một điểm ở trung tâm:
Luân xa chuyển động nhanh hơn trước, và ở trung tâm của luân xa ta thấy xuất hiện một điểm lửa chiếu sáng le lói. Giai đoạn nầy tương ứng với giống dân Lemurian về sau khi tâm trí hơi bắt đầu phát triển đôi chút.
3. Vòng tròn chia đôi:
Trong giai đoạn nầy điểm sáng ở trung tâm của luân xa trở nên linh hoạt hơn; chuyển động xoay tròn làm nó chói sáng hơn trước, phóng chiếu các tia lửa ra theo hai chiều khác nhau khiến cho luân xa dường như bị chia đôi. Chuyển động của luân xa nhanh hơn trước nhiều, và ngọn lửa chia đôi vòng tròn di chuyển tới lui, kích thích ánh sáng của trung tâm luân xa ngày càng sáng hơn. Giai đoạn nầy tương ứng với thời kỳ của guiống dân Atlantean.
4. Vòng tròn chia làm 4:
Bây giờ đến giai đoạn trung tâm của luân xa cực kỳ linh hoạt, và chữ thập bên trong luân xa cùng xoay vòng với luân xa, tạo nên một vẻ đẹp rực rỡ và một sự linh động to lớn. Con người đã đạt đến một giai đoạn phát triển rất cao về trí tuệ, tương ứng với giống dân chánh thứ 5 hay cuộc tuần hoàn thứ 5. Y đồng thời ý thức được hai hoạt động trong y được biểu tượng bằng bánh xe quay và chữ thập bên trong luân xa cùng quay tròn. Y đã ý thức được giá trị tinh thần, tuy rằng y vẫn còn tích cực hoạt động trong cuộc sống của phàm ngã, và y đang tiến gần đến Con đường Dự bị.
5. Chữ vạn (swastika):
Ở giai đoạn nầy luân xa trở nên bốn chiều; chữ thập bên trong luân xa có thể diễn tả như xoay trên trục của nó, và phóng các tia lửa ra theo mọi hướng, và luân xa lúc nầy có thể diễn tả như một quả cầu lửa thay vì một bánh xe lửa. Nó đánh dấu giai đoạn Con đường đạo trong hai phân khúc [Con đường đệ tử và Con đường điểm đạo]. Cuối giai đoạn nầy các luân xa trông giống như các quả cầu lửa chói sáng rực với các nan hoa của luân xa hoà nhập lại vào nhau thành “ngọn lửa đốt cháy toàn thể”
Diễn trình từ giai đoạn một đến giai đoạn 5 xảy ra trong hằng triệu năm. Bằng cách nào con người khai mở (awaken) luân xa , lưới dĩ thái là gì, sự chuyển hoá năng lượng từ luân xa thấp lên luân xa cao ra sao …
Luân xa đỉnh đầu và luân xa Ajna
Chân Sư D.K có thể nói là người viết đầy đủ nhất về Chakra, và là nguồn tài liệu tin cậy nhất cho việc học hỏi về luân xa. Tuy nhiên, như Ngài đã khẳng định, Ngài cố tình phân tán gíao lý về luân xa rải rác ra trong 18 quyển sách của Ngài. Lý do đầu tiên của điều nầy là nhằm thử thách sự kiên nhẫn và bền chí của người học đạo. Lý do thứ hai là bảo vệ kiến thức về Luân xa khỏi sự tò mò của những ai không xứng đáng hoặc chưa phù hợp để biết về nó. Ngài cũng khuyến khích các đệ tử của Ngài nên sưu tập và biên soạn lại (compile) những gì Ngài đã viết thành một quyển sách chuyên đề về Chakra, vì những người đạo sinh cần được biết một cách khoa học về hệ thống luân xa. Tuy nhiên, Ngài cũng cảnh cáo không nên phổ biến tài liệu đó quá rộng rãi ra đại chúng, vì chưa chắc đã có lợi. Tuy nhiên, với sự phổ biến quá mức của nguồn thông tin về các luân xa như hiện nay, việc đưa ra một tài liệu chuyên đề về chakra căn cứ trên những gì Ngài dạy là cần thiết, nhằm tránh cho bạn đọc những hiểu biết sai lạc về luân xa, và từ đó có thể tránh những rủi ro không đáng có. Một yếu tố thuận lợi cho việc biên soạn một tài liệu chuyên về chakra là hiện nay kỹ thuật tin học đã phát triển vượt bậc. Việc compile lại những gì Ngài viết rải rác trong 18 quyển sách của Ngài trước đây là một việc làm gian nan, bây giờ trở thành dễ dàng hơn rât nhiều
Như Luân Xa (Phần I) đã giải thích, khoa học về luân xa trước đây được xem là khoa học bí truyền, không được phổ biến công khai. Ông C.W. Leadbeater là người đầu tiên viết về Chakra phổ biến ở phương tây trong thế kỷ 19. Tuy nhiên, ngay cả Ông cũng có thể chưa tiết lộ hết những gì Ông biết về Chakra, và nhiều điều Ông viết mang tính cách che đậy (blind), không nói rõ ra để người đọc có thể hiểu biết ngay …
Người viết đã sử dụng CDRom của Lucis Trust để biên tập ra tài liệu nầy. Xin trân trọng với các bạn học giáo lý của đức D.K nên có CDRom trên, một nguồn tài liệu học tập vô giá về giáo lý của đức D.K. Giá CDRom mua từ Lucis Trust là 100USD, đó cũng xem như một cách đóng góp tích cực cho việc truyền bá Minh Triết Thiêng Liêng
I. Luân Xa là gì?
Đức D.K giải thích bản chất của luân xa (chakra) theo nhiều cách khác nhau như sau:
1. Thứ nhất ta có thể xem chakra như là những luồng mãnh lực hay năng lượng tuôn xuống từ Chân Ngã hay Linh hồn (Ego hay Soul). Các luồng mãnh lực nầy tạo ra các vòng xoáy trong ba thể của phàm ngã (personality), là thể dĩ thái, thể tình cảm, và thể trí. Do đó ngoài các luân xa của thể dĩ thái hay thể Sinh lực, ta cũng có các luân xa tương ứng trong hai thể còn lại là thể tình cảm và thể trí. Nhưng truy ngược lại sâu hơn ta thấy rằng các mãnh lực nầy lại có nguồn gốc từ Chơn Thần, hay Khía cạnh Thiêng Liêng của con người:
Các trung tâm lực trong con người về cơ bản có liên quan đến phương diện LỬA, hay cái Tinh thần thiêng liêng trong con người . Chúng có quan hệ rõ rệt với Chơn thần, với phương diện Ý chí, với bất tử, với hiện tồn, với Ý chí sinh tồn, và với quyền năng cố hữu của Tinh thần [Cosmic Fire, trang 165]
Các luân xa hoàn toàn được tạo ra bởi các dòng mãnh lực tuôn xuống từ Chân Ngã, và Chân Ngã đến phiên nó lại lại truyền đạt nó từ Chơn Thần. Tại đây, ta có thể hiều tại sao khi Chơn Ngã bắt đầu kiểm soát phàm ngã, hoặc sau nầy (sau điềm đạo) khi Chơn Thần bắt đầu kiểm soát Chơn Ngã, thì các luân xa gia tăng các rung động hay các hoạt động của nó, và do đó tạo ra sự thay đổi và gia tăng sinh lực trong các bầu lửa hay các bầu sinh lực thuần túy nầy [các luân xa]
2. Về phân loại, ta có luân xa chính (major center) hay đại luân xa, luân xa phụ hay tiểu luân xa (minor center), và các luân xa vi tế (minute centers) khác. Đức D.K nói rằng luân xa chính là nơi các đường từ lực (nadis) giao nhau 21 lần, còn luân xa phụ là nơi các nadis giao nhau 14 lần , và các luân xa vi tế là nơi các đường từ lực giao nhau bảy lần. Thông thường, người ta cho rằng có bảy luân xa chính, có 21+49 luân xa phụ lớn và nhỏ, và hàng trăm luân xa tế vi. Các luân xa tế vi nầy có thể chính là các huyệt đạo châm cứu của Đông y. Tuy nhiên trong huyền linh học, người ta chỉ quan tấm đến các luân xa chính mà thôi. Các luân xa chính giữ một vai trò quan trọng cực kỳ trong duy trì sức khỏe và hoạt động của thế xác con người.
3. Trong bảy luân xa chính thường được nhắc đến, có hai luân xa nằm trong phần đầu của con người là luân xa đỉnh đầu (crown center) và luân xa trán (Ajna center). Năm luân xa còn lại năm dọc theo xương sống, trong phần thân của con người. Đó là các luân xa cuống họng (throat center), luân xa tim (heart center), luân xa tùng thái dương (solar plexus center), luân xa xương cùng (sacral center), và luân xa ở đáy cột sống (basic center). Trong năm luân xa trong thân người, có hai luân xa năm trên hoành cách mạc (diaphragm) là luân xa cuống họng và luân xa tim. Ba luân xa còn lại nằm dưới hoành cách mạc. Nói một cách biểu tượng, các luân xa nằm dưới hoành cách mạc liên quan đến phàm ngã (personality), các luân xa trong vùng thân bên trên hoành cách mạc tương ứng với chân ngã của ta, và các luân xa nằm trong đầu liên quan đến khía cạnh tinh thần (spirit).
4. Mỗi luân xa có một tuyến nội tiết liên (gland) quan mật thiết với nó. Đúng thật ra tuyến nội tiết đó là phần hiển lộ (externalisation of the center) của luân xa trong thể xác của chúng ta. Ví dụ luân xa đỉnh đầu liên hệ đến tuyến tùng (pineal gland), luân xa trán liên hệ đến tuyến yên (pituitary body), luân xa cuống họng liên hệ đến tuyến giáp trạng (thyroid gland), luân xa tim liên hệ liên quan đến tuyến ức (thymus gland), luân xa tùng thái dương quan hệ với tuyến tụy (pancreas), luân xa tình dục quan hệ với tuyến sinh dục (gonads), luân xa xương cùng liên quan đến tuyến thượng thận (adrenal). Thông qua các tuyến nầy các luân xa chi phối hoạt động của toàn bộ cơ thể chúng ta, và y học ngày nay đều biết rất rõ vai trò cực kỳ quan trọng của các tuyến nội tiết tuy nhỏ bé nầy. Tuy nhiên đức D.K cũng nói cho chúng ta biết rằng sự hiểu biết của y học về các tuyến nội tiết nầy cũng chưa đầy đủ. Một số tuyến y học biết khá nhiều như tuyến yên, tuyến giáp trạng; một số thì y học đang bắt đầu tìm hiểu dần như tuyến tùng, tuyến ức… Lý do của điều nầy là vì các luân xa tương ứng của các tuyến nấy chưa hoạt động mạnh trong người thường, do đó tác động của các tuyến liên quan cũng rất còn ít ỏi trong những người nầy
5. Trong mỗi cá nhân, mức độ khai mở của các luân xa có khác nhau (xem Luân Xa Phần II), tùy thuộc vào bản chất, trình độ tiến hóa của mỗi người. Thông thường các luân xa nằm dưới hoành cách mạc hoạt động mạnh nhất trong người thường. Các luân xa tim và cuống họng bắt đầu hoạt động hay thức tỉnh trong những người tiến hóa cao hơn (advanced people). Các luân xa nơi đỉnh đầu và luân xa trán khai mở chậm nhất, nó tương ứng với giai đoạn con người bước vào đường đạo.
6. Mỗi luân xa thấp (dưới hoành cách mạc) có một luân xa tương ứng ở phía trên, và khi con ngưởi tiến hóa, năng lượng từ các luân xa thấp sẽ chuyển dịch lên các luân xa tương ứng ở trên của nó. Ví dụ năng lượng của luân xa xương cùng (sacral center) sẽ chuyển di đến luân xa cuống họng (throat center). Luân xa xương cùng là biểu tượng của sự sáng tạo vật chất (physical creation) khi con người tiến hóa cao sẽ chuyển hóa thành năng lượng của sự sáng tạo tinh thần, của nghệ thuật (spiritual creation) của luân xa cuống họng. Sự chuyển di năng lượng nầy là một quá trình dài, và trong khi nó xảy ra thì nó cũng gây ra nhiều xáo trộn trong cơ thể con người. Luân xa tùng thái dương khi phát triển sẽ chuyển di năng lượng của nó vào luân xa tim, còn luân xa xương cùng khi phát triển sẽ chuyển di năng lượng của nó vào luân xa đỉnh đầu. Mỗi một sự chuyển di (transference) năng lượng từ luân xa thấp đấn cao khi đã hoàn tất cũng tương ứng với các cuộc đại điểm đạo 1,2, và 3
Three transferences
Hình 2. Sự chuyển di năng lượng của các luân xa
Các sự chuyển di năng lượng của các luân xa
Thật ra, sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa là một quá trình phức tạp, chúng ta sẽ trở lại điều nầy ờ phần sau.
7. Không phải tất cả các luân xa chính đều nằm trên cùng một phân cảnh giới của một cõi. Ví dụ đối với các luân xa trong thể dĩ thái thì bốn luân xa xương cùng, luân xa tính dục, luân xa tùng thái dương, luân xa lá lách nằm trên phân cảnh giới 4 (đếm từ trên xuống) của cảnh giới hồng trần. Luân xa cuống họng trên phân cản giới thứ ba, luân xa tim trên phân cảnh giới hai, và luân xa đầu trên phân cảnh giới thứ nhất. Điều nầy cũng tương tự cho các luân xa của thể tình cảm và thể trí.
8. Lưới dĩ thái (etheric webs): Nằm phân cách giữa các luân xa chính là các lưới dĩ thái (etheric web). Có bốn lưới dĩ thái trên xương sống và 3 trong đầu. Các lưới dĩ thái nầy cấu tạo bằng một hỗn hợp của các chất dĩ thái và chất hơi. Chúng có màu sắc, kích thước khác nhau và quay tròn theo những tốc độ khác biệt tùy theo luân xa. Các lưới nầy phân cách các luân xa trong cùng một thể với nhau, và đức D.K cho rằng nhiều người có nhãn thông hay lầm lẫn các lưới dĩ thái nầy và chính các luân xa. Chỉ khi nào lưới dĩ thái nầy tan rả dần thì ta mới có thể thấy trọn ven các luân xa. Và cũng chính các luân xa nầy ngăn cản sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa, và chỉ khi nào các lưới nầy biến mất thì sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa mới khả thi.
Đức D.K cho rằng các lưới dĩ thái nầy sẽ tan rã dần khi chúng ta tinh luyện đời sống, kiểm soát các mối xúc cảm dục vọng và phát ý chí tinh thần. Khi chúng ta thực hiện các điều nầy thì năng lượng của chơn ngã sẽ tuôn xuống, kích khởi các luân xa hoạt động mạnh mẽ, sự quay tròn mạnh mẽ nầy sẽ ma sát và mài mòn các lưới dĩ thái ở hai bên luân xa, khiến chúng từ từ biến mất. Ngài cũng lưu ý rằng có những trường hợp đau nhức hay nóng bỏng dọc theo xương sống mà không có một nguyên do sinh lý nào cụ thể thì thường do một trong các lưới dĩ thái dọc theo xương sống bị tan rã, nhất là trong trường hợp của người phụ nữ khi luân xa tùng thái dương phát triển quá mạnh, hay trong trường hợp người đàn ông luân xa tính dục (sacral center) quá phát triển. Hai luân xa nầy do quá trình tiến hóa tự nhiên là những luân xa phát triển mạnh nhất trong các luân xa. Sự phát triển quá mức sẽ phá hủy các lưới dĩ thái kế cận nó, gây ra những hiệu quả sinh lý kể trên. Nhiều đạo sinh khi gặp các hiện tượng kể trên lại nhầm tưởng rằng luồng hỏa xà Kundalini đã kích hoạt trong y, trong khi thực ra đó chỉ là hậu quả của một hay nhiều lưới dĩ thái bị phá hủy. Do đó một cảm giác đau nhức hay cháy bỏng phía xương sống chỉ có ý nghĩa rằng luân xa tương ứng hoạt động quá mức và không có hàm ý một sự phát triển tinh thần hay tiến hóa siêu việt gì cả. Nếu nó là biểu hiện của một sự phát triển tinh thần thì sẽ không có những đau đớn thể xác như trên.
Còn có một lọai lưới dĩ thái khác mà ta có thể gọi là lưới dĩ thái bảo vệ (protective web), nó nằm chen giữa luân xa thể dĩ thái và luân xa tương tứng của thể tình cảm. Nó cấu tạo bằng chất dĩ thái của phân cảnh giới thừ hai và ba; nhiệm vụ của nó là ngăn chặn sự giao lưu tự do của năng lượng của hai cõi giới (hay hai thể). Khi lưới nầy vì một lý do nào đó mà bị rách thì những ảnh hưởng hay mãnh lực của cõi trung giới có thể xâm nhập vào cá nhân đó. Đây là nguyên do của những trường hợp “bị ma ám” (obsession). Có những người rất dễ bị vong linh nhập vào, trong khi người bình thường rất khó bị ám như trên.
II. Các luân xa chính
Theo đức D.K thật ra có mười luân xa chính, nhưng Huyền Linh học chính phái chỉ để ý đến bảy luân xa chính mà thôi. Ba luân xa thấp không phải là đối tượng điều hướng của năng lượng của Chân Ngã. Ba luân xa thấp nầy liên quan sự duy trì hình hài vật chất và có quan hệ mật thiết đến:
Ba cõi giới thấp trong thiên nhiên (cõi giới kim thạch, thảo mộc, và thú vật)
Ba phân cảnh giới của cõi giới hồng trần.
Thái dương hệ thứ ba nhìn từ quan điểm của Thượng đế [Cosmic Fire trang 1156]
1. Luân xa đỉnh đầu (Head center)
Luân xa nầy còn gọi là hoa sen hay luân xa ngàn cánh, tiếng Phạn gọi là Brahmarandra. Thật ra luân xa có hai tầng cánh: tầng trong cùng có 12 cánh và tầng ngoài cùng có 960 cánh, tổng cộng có 972 cánh, nhưng người ta hay gọi vắn tắt là hoa sen ngàn cánh. Ông C.W. Leadbeater phác họa lại hoa sen đỉnh đầu trong hình vẽ sau:
Một nhà huyền bí học khác là Choa Kok Sui cho ta thấy hình ảnh khác của luân xa nầy trong hình vẽ sau:
Ông Leadbeater giải thích thêm rằng ở giai đoạn đầu của cuộc tiến hóa, nó cũng giống như các luân xa khác về kích thước và hình dáng, bề mặt của luân xa lỏm vào dường như để tiếp nhận năng lượng từ Chân Ngã (và Chơn Thần). Khi đã bắt đầu khai mở, bề mặt của nó lồi ra trông giống như nóc tròn (dome) của của các Thánh đường. Dường như lúc nầy con người đã ý thực được vai trò của mình là bắt đầu ban phát ra thay vì chỉ thu nhận như trước. Trong các hình vẽ biểu tượng của các bậc Thánh nhân như Đức Phật, đỉnh đầu của các Ngài được vẽ lồi ra như trong hình vẽ sau:
Trong hình trên, vòm trên cùng tượng trưng cho tầng 12 cánh của luân xa, và tầng dưới tượng trưng cho tầng 960 cánh.
Ta nên lưu ý một điều là đức D.K nhấn mạnh rằng rằng đây là luân xa duy nhất trong con người vào lúc giải thoát (nghĩa là khi con người được điểm đạo La hán) vẫn giữ vị trí hình một hoa sen lộn ngược, nghĩa là quay về phía dưới luân xa xương cụt. Các luân xa khác lúc khởi đầu đều hướng xuống dưới, nhưng khi đã khai mở thì từ từ quay hướng lên trên.
So sánh với tượng Đức Phật ta thấy mô tả của Đức D.K gần tương tự, vòng ngoài 960 cánh của Luân xa hướng xuống, còng vòng trong 12 cánh lại hướng lên (hoặc lồi ra theo mô tả của Ông C.W. Leadbeater.) Luân Xa đỉnh đầu được cho là biểu tượng của Shamballa hay quyền lực Thiêng liêng nhất trong con người. Đức D.K cho rằng nó là Luân xa tổng hợp (center of synthesis), bao gồm bên trong nó tất cả những luân xa khác và mọi sự phát triển của các luân xa khác đều có tác động tương ứng lên luân xa ngàn cánh:
The many-petalled head center at the top of the head becomes exceedingly active. It is the synthetic head center, and the sumtotal of all the other centers. The stimulation of the centers throughout the body is paralleled or duplicated by the concurrent vivification of the many-petalled lotus. It is the meeting place of the three fires, those of the body, of the mind, and of the Spirit [CF 136]
2. Luân xa trán (Ajna)
Luân xa nầy nằm ở vùng trán giữa hai chân mày (khu vực ấn đường). Luân xa nầy đặc biệt khác những luân xa khác là nó thật ra chỉ có hai cánh, mỗi cánh lại bao gổm 48 cánh phụ, tổng cộng 48×2=96 cánh. Hai cánh của nó rẻ sang hai bên trái phải của đầu, trông giống như hai cánh của một chiếc máy bay. Hai cánh của luân xa nầy tượng trưng cho tính nhị nguyên: vật chất và tinh thần, chánh đạo và tà đạo, và do đó, nói một cách biểu tượng, nó tạo thành hai cánh tay của Thập tự giá mà con người bị đóng đinh vào:
This center, having only two real petals, is not a true lotus in the same sense as are the other centers. Its petals are composed of 96 lesser petals or units of force (48 + 48 = 96) but these do not assume the flower shape of the other lotuses. They spread out like the wings of an airplane to the right and left of the head, and are symbolic of the right hand path and the left hand path, of the way of matter and the way of spirit. They constitute symbolically, therefore, the two [150] arms of the Cross upon which the man is crucified—two streams of energy or light placed athwart the stream of life descending from the monad to the base of the spine and passing through the head. [Esoteric Healing trang 150]
Luận xa nầy biểu tượng cho phàm ngã gắn kết (integrated personality) và chỉ khai mở hoàn toàn vào kỳ điểm đạo thứ ba, và do đó cũng là một trong những luân xa được khai mở sau cùng trong hệ thống luân xa. Đức D.K giải thích rằng các luân xa không gắn liền với các cơ quan nội tạng lớn thường rất khó khai mở, bởi vì chúng được bảo vệ chặt chẽ hơn bởi các lưới dĩ thái dày đặc. Ví dụ luân xa tim hay luân xa tùng thái dương có liên hệ với tuyến hung (thymus) và tuyến tụy khá lớn, cũng như các cơ quan trong cơ thể là quả tim và bao tử. Khi chúng được khai mở năng lượng tuôn tràn vào chúng có thể đổ vào các cơ quan nầy, do đó việc khai mở các luân xa nầy ít nguy hiểm và rủi ro hơn. Các luân xa đỉnh đầu hay ajna chỉ liên hệ với các tuyến nội tiết bé nhỏ là tuyến tùng và tuyến yên, do đó chúng được bảo vệ chặt chẽ bởi các lưới dĩ thái và nói chung là khó khai mở
Tuyến nội tiết tương ứng với luân xa Ajna là tuyến yên (pituitary body), kích thước khoảng hạt đậu và nặng khoảng 0.5g. Tuyến yên có 3 thùy: thùy trước, thùy sau, và thùy giữa. Nhưng ở con người thùy giữa rất nhỏ bé, chỉ là một lớp tế bào mỏng. Đức D.K nói rằng hai thùy của tuyến yên tương ứng với hai cánh của luân xa Ajna.
Các nội tiết tố do tuyến yên tiết ra tham gia vào rất nhiều hoạt động quan trọng của cơ thể như: quyết định sự tăng trưởng của cơ thể (GH), sự tăng trưởng và phát triển các tuyến sinh dục (LH, FSH). Đặc biệt các hormon tiền yên còn có tác động điều hòa hầu hết các tuyến nội tiết khác, nên người ta gọi tuyến yên là đầu đàn trong các tuyến hệ nội tiết.
Luân xa cuống họng và luân xa tim
Đức D.K dạy rằng có ba luân xa trong con người tiếp nhận năng lượng của Tam thể thượng (Spiritual Triad) khi đường Antahkarana đã thiết lập, nối liền phàm ngã và chơn thần. Luân xa đỉnh đầu khi đó tiếp nhận năng lượng từ Atma, hay Khía cạnh Ý chí thiêng liêng. Luân xa tim tiếp nhận năng lượng từ Buddhi, hay Tình thương thiêng liêng, còn luân xa cuống họng tiếp nhận năng lượng từ Manas, hay Trí tuệ đại đồng.
3. Luân xa cuống họng (Throat center)
Luân xa nầy có 16 cánh, nằm ở phía sau cổ, các cánh của nó hướng về hai bờ vai và hành tuỷ. Trong người thường, nó là một trong các luân xa hoạt động mạnh, và khai mở hoàn chỉnh ở kỳ điểm đạo thứ nhất. Nó liên quan đến cung 3 hay cung của Trí tuệ sáng tạo. Có 3 luân xa liên hệ với cung 3 tuỳ theo từng giai đoạn tiến hoá của con người:
- Luân xa xương cùng (sacral center) đối với thường nhân và ngưới kém tiến hoá
- Luân xa cuống họng (throat center) đối với người mộ đạo và đệ tử dự bị.
- Luân xa Ajna đối với đệ tử và điểm đạo đồ.
Tuyến nội tiết liên hệ với luân xa nầy là tuyến giáp trạng (thyroid gland) và cận giáp (para-thyroids). Đức D.K cho rằng tuyến giáp trạng có một vai trò tối quan trọng trong việc giữ gìn sức khoẻ của con người, nó giữ gìn sự cân bằng của cơ thể trong một số khía cạnh của thể chất và tượng trưng cho Ngôi Ba của Trí Tuệ. Nó chính thực liên hệ với Đức Chúa Thánh Thần (Holy Ghost) hay Ngôi Ba trong cuộc thể hiện, ứng linh (over-shadow) Đức Mẹ Đồng Trinh Mary. Còn các tuyến cận giáp tương ứng với Mary và Joseph trong mối liên hệ với Đức Chúa Thánh Thần ứng linh. Cuối cùng người ta sẽ khám phá ra có một mối liên hệ chặt chẽ sinh lý học giữa tuyến tùng và tuyến giáp trạng, cũng như giữa tuyến cận trạng và hai thuỳ của tuyến yên, và như thế giữa vùng cuống họng và đầu có một mối quan hệ mật thiết.
Luân xa cuống họng là luân xa tương ứng bậc cao của luân xa xương cùng (sacral center), khi con người tiến hóa cao năng lượng sáng tạo sẽ chuyển dịch từ luân xa xương cùng đến luân xa cuống họng, lúc đó sự sáng tạo sẽ biểu hiện trong các hình thức nghệ thuật, tư tưởng, triết học … Cũng như các luân xa, trong giai đoạn đầu luân xa cuống họng hướng vế phía dưới, bao gồm hai bờ vai và hai lá phổi. Qua quá trình tiến hóa, luân xa khai mở và hướng lên trên về phía hai tai và hành tủy.
4. Luân xa tim (Heart center)
Luân xa nầy có 12 cánh, nằm ở phía sau lưng, giữa hai bờ vai. Nó thể hiện năng lượng của cung 2, cung của Minh triết và Tình thương. Luân xa nầy được khai mở hoàn chỉnh sau kỳ điểm đạo thừ hai, khi đó con người đã làm chủ được dục vọng và chuyển hóa nó thành bác ái và tình thương. Do đó nó cũng là luân xa tương ứng bậc cao của luân xa tùng thái dương. Đức D.K nói rằng hoạt động của luân xa tim không bao giờ dính dáng với cá nhân. Luân xa tim chỉ phản ứng với những xung động của tập thể, những hạnh phúc hoặc bất hạnh của tập thể. Nói tóm tắt, nó là luân xa của nhóm, của đoàn thể. Ví dụ một người mẹ có lòng thương con vô biên, có thể linh cảm được những mối hiểm nguy mà đứa con đang gặp phải, những linh cảm đó chỉ xuất phát từ luân xa tùng thái dương chứ không phải từ luân xa tim. Một bậc giáo chủ có lòng thương đến cả nhân loại, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, thì tình thương đó mới có thể xem là xuất phát từ luân xa tim.
Do đó đức D.K mới nói rằng luân xa nầy chỉ khai mở hoàn chỉnh sau kỳ điểm đạo thứ hai bởi vì chỉ khi đó con người đã làm chủ những dục ham muốn cá nhân, đã chuyển hoá chúng thành bác ái và tinh thương, y không còn mong cầu chi cá nhân mà chỉ hướng đến phụng sự cho cộng đồng, cho đoàn thể mà y sống trong đó. Đức D.K yêu cầu các đệ tử của Ngài hãy quán tưởng lên câu nói sau trong kinh thánh “Con người nghĩ thế nào trong trái tim của y, y sẽ trở nên như thế đó”. Ngài nói rằng “suy nghĩ trong trái tim” (thinking in the heart) khác hoàn toàn với cảm nhận trong tim (feeling in the heart). Nó hàm ý một tâm trí phát triển mạnh mẽ, đi theo đó là tính phân biện. Nó cũng hàm ý con người đã chuyển hoá dục vọng thành tình thương, đã chuyển dịch năng lượng của luân xa tùng thái dương vào luân xa tim. Và hoa sen 12 cánh trong luân xa đỉnh đầu khi đó cũng đã khai mở phần nào. Chúng ta nên nhớ trước đây trong phần luân xa đỉnh đầu có nói bất kỳ những phát triển và hoạt động của luân xa khác đều phản ảnh và tác động lên luân xa 1000 cánh ở đỉnh đầu. Giữa luân xa tim 12 cánh và hoa sen 12 cánh của luân xa đỉnh đầu có một sự tương ứng mật thiết.
Đức D.K dạy rằng có ba luân xa trong con người tiếp nhận năng lượng của Tam thể thượng (Spiritual Triad) khi đường Antahkarana đã thiết lập, nối liền phàm ngã và chơn thần. Luân xa đỉnh đầu khi đó tiếp nhận năng lượng từ Atma, hay Khía cạnh Ý chí thiêng liêng. Luân xa tim tiếp nhận năng lượng từ Buddhi, hay Tình thương thiêng liêng, còn luân xa cuống họng tiếp nhận năng lượng từ Manas, hay Trí tuệ đại đồng. Trong quyển Đường đạo trong kỷ nguyên mới, quyển II, Đức D.K có dạy cho nhóm các đệ tử Ngài 6 bài tham thiền, trong đó bài Tham thiền số I và II dùng để chuyển hoá năng lượng của luân xa tùng thái dương vào luân xa tim và đỉnh đầu (trang 113-119). Các bạn lưu ý những bài tham thiền hoặc phép thở Ngài dạy cho các đệ tử của Ngài thường bị xoá bỏ trong quyển sách, vì nó có thể gây nguy hiểm nếu người đọc tò mò bắt chước theo. Tuy nhiên những bài tham thiền được giữ lại trong quyển sách là những bài tham thiền mà Ngài cân nhắc không nguy hiểm và có thể hữu ích cho người học đạo. Một bài tham thiền mà người mới bước vào đường đạo có thể sử dụng là bài tham thiền về Chân sư nơi luân xa tim (Master in the Heart). Bạn có thể tham khảo trong Thư về tham thiền huyền môn.
Tuyến nội tiết tương ứng với luân xa tim là tuyến ức (thymus gland). Tuyến ức là nơi trưởng thành của tế bào T (Tế bào bạch cầu của hệ miễn dịch). Tuyến ức gồm có hai thuỳ, nằm phía trước lồng ngực. Mỗi thuỳ được phân chia thành nhiều tiểu thuỳ ngăn cách nhau bởi các vách sợi và mỗi tiểu thuỳ có vùng vỏ bên ngoài và vùng tuỷ bên trong.
Một đặc điểm của tuyến ức là nó phát triển mạnh nhất trong giai đoạn từ sau khi sanh đến khi trước dậy thì, sau đó nó thoái hoá dần, nhỏ hẳn đi. Đức D.K nói rằng ở giai đoạn hiện tại người ta biết rất ít về tuyến ức. Lý do tại sao tuyến ức lại thoái hoá và giảm dần hoạt động trong người trưởng thành là bởi vì sự mất cân bằng của hệ nội tiết không đảm bảo sự hoạt động an toàn và đầy đủ của tuyến ức trong người trưởng thành. Tâm lý học hiện đại khi kết hợp với y học đã nhận thấy rằng khi tuyến nầy hoạt động quá mức sẽ khiến con người vô đạo đức và vô trách nhiệm Khi con người đã học hỏi về bản chất của trách nhiệm, chúng ta thấy những dấu hiệu đầu tiên của sự chỉnh hợp với linh hồn, tách ly phàm ngã và hướng về tập thể, và khi đó, song song với sự phát triển nầy, ta sẽ thấy tuyến ức hoạt động một cách đúng đắn. Hiện nay mọi người chưa nhận ra mối quan hệ giữa tuyến tùng và tuyến ức, cũng như của cả hai đối với Luân xa ở đáy cột sống. Khi mà Tam thể thượng đã thể hiện tích cực qua phàm ngã, cả ba luân xa nầy và ba tuyến nội tiết biểu hiện ngoại tại của chúng sẽ hoạt động một cách kết hợp để điều khiến và chi phối toàn thể con người. Khi tuyến tùng trong con người trưởng thành hoạt động một cách đầy đủ (hiện nay chưa được thế) khi đó Ý-chí-hướng-thiện thiêng liêng (Will-to-good) sẽ thể hiện và con người sẽ đạt đến mục đích thiêng liêng (divine purpose). Tương tự khi tuyến ức cũng họat động hòan chỉnh trong con người trưởng thành thì thiện ý (goodwill) sẽ biểu lộ và thiên cơ sẽ bắt đầu thực thi. Đây là bước đầu tiên hướng đến tình thương, thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa nhân loại và hòa bình.Hiện nay thiện chí đang thể hiện khắp thế giới, điều đó cho ta thấy luân xa tim bắt đầu hoạt động, và cũng chứng tỏ rằng luân xa tim trong đỉnh đầu cũng bắt đầu khai mở như là hậu quả của sự gia tăng họat động của luân xa tim trên xương sống.
5. Luân xa tùng thái dương (Solar plexus center)
Luân xa nầy có 10 cánh và nằm ngay dưới xương bả vai. Đức D.K nói rằng luân xa nầy cực kỳ linh hoạt trong nhân loại hiện nay. Nó phát triển mạnh kể từ giống dân chánh thứ tư (giống dân Atlantean), cũng như trong giống dân thứ năm (giống dân Aryan) luân xa cuống họng bắt đầu thức tỉnh.
a. Luân xa tùng thái dương là phản ảnh của “Trái tim của mặt trời” (the heart of the sun) trong phàm ngã.
Nó là yếu tố trung tâm của đời sống phàm ngã cho tất cả những ai dưới cấp bậc đệ tử dự bị. Ở giai đoạn nầy trí tuệ mới chỉ mới chớm họat động một cách yếu ớt. Luân xa tùng thái dương là cơ quan của dục vọng, và là cửa ngõ qua đó thể cảm dục tiến vào thế giới ngoại tại, và là khí cụ vận chuyển năng lượng cảm dục. Nó giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống của một thường nhân, và mục tiêu quan trọng của người mộ đạo (aspirant) là kiểm soát được nó. Y phải chuyển hoá dục vọng thành ước vọng (aspiration)
b. Đa phần nhân loại ngày nay sống trong dục vọng, dù đó là dục vọng tốt, dục vọng tinh thần hay những ham muốn xấu xa hoặc ích kỷ.
Đức D.K dùng một câu bao trọn điều nầy: nhân loại (chưa giác ngộ và thường nhân) sống, chuyển động, và tồn tại thông qua luân xa tùng thái dương nầy. Đối với một thường nhân những ham muốn, dục vọng lại là những động lực giúp họ tiến hóa. Những ham muốn, tham vọng, xúc động chính thực đều là năng lượng hay mãnh lực (forces) trên cõi trung giới. Tất cả đều là năng lượng. (All are energies).
c. Luân xa tùng thái dương cũng là cơ quan mà các đồng tử và các nhà thấu thị (bậc thấp) sử dụng để tiếp xúc với cõi trung giới. Nhãn thông bậc thấp liên quan với luân xa tùng thái dương, trong khi nhãn thông bậc cao liên quan đến luân xa Ajna.
d. Tất cả những rối loạn và bệnh tật của các cơ quan nằm dưới hoành cách mô như bao tử, gan … đều do hoạt động rối lọan của luân xa nầy.
e. Đức D.K gọi luân xa tùng thái dương là một “great clearing house”— một kho chứa và xử lý– của tất cả năng lượng nằm dưới hoành cách mạc, xuất phát từ ba luân xa chính (luân xa xương cùng–sacral center–, luân xa lá lách, luân xa gốc , và các luân xa phụ khác dưới hoành cách mô. Tất cả năng lượng nầy tập trung vào luân xa tùng thái dương trước khi chuyển dịch đến các luân xa cao hơn. Năng lượng của luân xa xương cùng (sacral center) sẽ chuyển dịch đến luân xa cuống họng. Năng lượng của luân xa đáy cột sống sẽ chuyển đến luân xa đỉnh đầu, còn năng lượng của luân xa tùng thái dương sẽ chuyến luân xa tim
f. Cơ quan biểu hiện ngoại tại (externalisation) của luân xa nầy là tuyến tụy (pancreas), bao tử và gan. Các cơ quan nầy được nuôi dưỡng bởi năng lượng và mãnh lực từ luân xa nầy. Đức D.K nói rằng hiểu biết điều nầy một cách đúng đắn sẽ giúp con người chống được các bệnh tật của ba cơ quan nói trên. Bằng cách kiểm soát luân xa tùng thái dương, cũng như tiếp nhận và phóng thích các năng lượng tập trung trong luân xa nầy một cách đúng cách sẽ giúp thanh lọc, tăng cường sức mạnh và bảo vệ ba cơ quan trọng yếu nêu trên.
g. Một điểm đặc biệt nhất về luân xa nầy mà đức D.K tiết lộ cho các đệ tử của Ngài lần đầu tiên là trong luân xa tùng thái dương có hai điểm ánh sáng trọng yếu hay hai điểm năng lượng linh hoạt. Một điểm đã hoạt động từ lâu và là biểu hiện của thể cảm dục. Điểm còn lại đang chờ đợi thức tỉnh nhờ năng lượng từ linh hồn tuôn xuống qua luân xa đỉnh đầu. Khi điều nầy xảy ra người đệ tử thức tỉnh đối với những vấn đề cao cả của đời sống và trở nên nhạy cảm với những làn sóng tâm linh của thế giới tinh thần. Ngài cũng lưu ý chỉ luân xa mới có hai điểm sáng nầy, các luân xa còn lại chỉ có một điểm sáng năng lượng. Bài tham thiền số I và II mà Ngài dạy cho các đệ tử của các Ngài nhằm mang điểm sáng thứ hai vào hoạt động và chuyển di năng lượng từ luân xa nầy đến luân xa tim và đỉnh đầu. Việc di chuyển năng lượng nầy là những việc chuẩn bị cho kỳ điểm đạo thứ hai.
h. Một số người dịch luân xa tùng thái dương là bí huyệt đan điền, nhưng theo wikipedia thì vị trí của huyệt đan điền nằm dưới rốn khoảng 3cm. Trong khi theo đức D.K luân xa tùng thái dương nằm ngay dưới điểm lõm giữa ức. Do đó bạn cần lưu ý điều nầy. Choa Kok Sui cũng phân biệt giữa luân xa rốn và luân xa tùng thái dương.
Luân xa xương cùng và luân xa gốc
Luân xa xương cùng tiếp nhận năng lượng từ Ngôi Ba, luân xa tùng thái dương tiếp nhận năng lượng từ Ngôi Hai, và luân xa đáy cột sống tiếp nhận năng lượng từ Ngôi Một.
6. Luân xa xương cùng (Sacral center)
Để thống nhất thuật ngữ, chúng tôi xin dịch sacral center là luân xa xương cùng và Base center là luân xa gốc hay luân xa đáy cột sống. Luân xa nầy có sáu cánh và nằm ở phía dưới vùng thắt lưng. Nó là luân xa điều khiển năng lượng tính dục. Cũng giống như luân xa tùng thái dương, luân xa nầy cũng hoạt động rất mạnh trong con người từ rất lâu, kể từ giống dân chánh thứ ba–giống dân Lemurian.
a. Ông C.W. Leadbeater tránh không đề cập đến luân xa xương cùng nầy, mà chỉ đề cập đến luân xa lá lách cũng có 6 cánh. Đức D.K trái lại vẫn liệt kê nó ra trong hệ thống luân xa, vì như ngài nói mọi năng lượng hoặc mãnh lực, luân xa đều có nguồn gốc thiêng liêng, vấn đề là phải thích ứng với từng giai đoạn tiến hoá. Đức D.K nói rằng luân xa nầy sẽ tiếp tục hoạt động mạnh như thế cho đến khi hai phần ba của nhân loại đã được điểm đạo, bởi vì tiến trình sinh sản cần được tiếp tục để cung cấp thể xác cho các linh hồn nhập thế. Nhưng khi con người tiến hoá thì luân xa nầy sẽ được đặt dưới sự kiểm soát, các hoạt động tính dục sẽ được xúc tiến một cách thông minh và với sự hiểu biết, chứ không phải do dục vọng thiếu kiểm soát và không có giới hạn như hiện nay.
b. Luân xa xương cùng tiếp nhận năng lượng từ Ngôi Ba, luân xa tùng thái dương tiếp nhận năng lượng từ Ngôi Hai, và luân xa đáy cột sống tiếp nhận năng lượng từ Ngôi Một. Cả ba tạo thành một tam giác phản ảnh tam giác cao hơn bao gồm ba luân xa cuống họng, luân xa tim, và luân xa đỉnh đầu. Hai tam giác nầy hoàn tất việc phản ảnh các Khía cạnh Thiêng Liêng trong con người.
c. Luân xa xương cùng biểu hiện cho năng lượng sáng tạo vật chất, còn luân xa cuống họng thể hiện năng lượng sáng tạo nghệ thuật, văn chương, triết học… Khi luân xa xương cùng hoạt động mạnh, năng lượng của nó sẽ dần chuyển lên luân xa cuống họng. Tuy nhiên bước đầu tiên của sự chuyển dịch nầy là qua trung gian của luân xa tùng thái dương, luân xa mà đức D.K gọi là “great clearing house” của các năng lượng thấp. Khi sự dịch chuyển năng lượng nầy hoàn tất con người đã ở trình độ của bậc điểm đạo đồ thứ nhất.
d. Giữa ba luân xa thấp: luân xa xương cùng, luân xa đáy cột sống, luân xa lá lách cũng có một dòng chảy năng lượng lưu chuyển giữa ba luân xa nầy. Dòng chảy năng lượng nầy là dòng chảy năng lượng của vật chất, của sự kiến tạo và duy trì hình hài vật chất, của sinh lực. Tam giác nầy cũng phản ảnh tam giác cao hơn lưu chuyển năng lượng tinh thần gồm các luân xa: đỉnh đầu, Ajna, và luân xa cuống họng. Trong tam giác thấp, luân xa lá lách là cơ quan tiếp nhận và phân phối sinh lực Prana, luân xa xương cùng là cơ quan của năng lượng sinh sản, luân xa xương cùng là Trung tâm lực của Ý chí Sinh tồn (Will-to-live)
e. Biểu hiện ngoại tại (extranalisation) của luân xa xương cùng là tuyến sinh dục (gonads) và các cơ quan sinh dục nam và nữ, tạm thời phân ly thành hai trong nhân loại. Chính sự phân đôi nầy lại là động lục mạnh mẽ thúc đẩy hướng đến sự hòa hợp, cái động lực kết hợp mà ta gọi là sex. Tính dục thật ra chính là bản năng hướng về sự hợp nhất, mà trước tiên hợp nhất về thể chất. Nó là nguyên lý cố hữu (thường bị hiểu sai) của thần bí học (mysticism), vốn là danh xưng mà chúng ta dành cho sự ao ước hợp nhất với Thiêng liêng. Giống như tất cả những gì mà con người kém tiến hóa tiếp xúc, chúng ta đã làm chệch hướng và biến dạng cái ý tưởng thiêng liêng, lạm dụng một mong ước phi vật chất cho dục vọng trần gian. Chúng ta đã đảo ngược chiều hướng của năng lượng luân xa xương cùng, và do đó phát triển quá mức bản chất và chức năng thú vật trong nhân loại tâm trung.
7. Luân xa gốc hay luân xa đáy cột sống (Base center)
a. Luân xa gốc nằm ở đáy cột sống, gần khu vực xương cụt (coccyx). Luân xa nầy có 4 cánh. Hiện nay nầy tương đối yên tĩnh (kém hoạt động) trong con người. Đức D.K nói rằng nó chỉ thức tỉnh do tác động bởi Ý chí của vị Điểm đạo đồ.
b. Chính Ý chí Hiện tồn (Will-to-be in incarnation) là yếu tố quyết định mức độ hoạt động của luân xa nầy. Đức D.K nói rằng một nhà thấu thị bậc cao có thể biết một người nào đó còn sống bao lâu nữa bằng cách nhìn vào luân xa gốc nầy. Mức độ rung động của nó cho ta biết cái Ý chí hiện tồn của người đó.
c. Nó là nơi mà luồng hỏa xà (serpent fire) Kundalini khoanh tròn nằm nghỉ trong con người. Ở một người bình thường, luồng hoả Kundalini gần như ngũ yên, chỉ một phần năng lượng của nó dùng để duy trì hoạt động bình thường của cơ thể. Đức D.K dạy rằng trong quá tiến hoá của một cá nhân luồng hoả Kundalini thực hiện ba sự hợp nhất (three at-one-ments):
1. Hợp nhất với năng lượng prana trong cơ thể mà Ngài gọi là lửa phát xạ của cơ thể (radiatory fires of the body). Sự hợp nhất nầy xảy ra tại một điểm giữa hai bờ vai.
2. Hợp nhất với lửa trí tuệ tại một điểm năm trên chót đỉnh cột sống, tại trung tâm ở đằng sau cuống họng
3. Hợp nhất với lửa tinh thần tại điểm mà hai ngọn lửa vật chất và trí tuệ hợp nhất lại phóng ra từ đỉnh đầu.
Ngài cũng dạy rằng trong đa phần nhân loại sự hợp nhất đầu tiên đã được diễn ra một cách tự nhiên mà con người không hay biết gì cả. Đây là một điều may mắn cho nhân loại. Ngài cũng nói hiếm có ai đạt được sự hợp nhất thứ nhì. Ngài cũng dạy rằng dọc theo xương sống có ba vận hà năng lượng mà kinh sách Ấn độ gọi là Ida, Pingala và Sushuma. Ba vận hà nầy chính là con đường mà luồng hoả Kundalini sẽ theo đó đi lên khi nó được khơi hoạt. Đức D.K cho rằng ba vận hà nầy là biểu hiện ngoại tại (externalisation) của hệ thống đường Antahkarana nối liền giữa Chơn thần và phàm ngã, bao gồm đường Sutrama, Life Thread, và bản thân đường Antahkarana. Hiện nay luồng hoả Kundalini chỉ mới khơi hoạt đi lên theo một trong ba vận hà trên, do đó hai phần ba năng lượng của nó chỉ nhằm duy trì chức năng sinh dục của luân xa thấp. Từ từ, hai vận hà còn lại sẽ lần lượt đi vào hoạt động và luồng hoả sẽ từ từ đi lên theo hai vận hà còn lại. Nhưng Ngài cũng khuyến cáo chúng ta đừng bao giờ tìm cách khơi dây luồng hoả một cách trái phép bởi vì điều nầy chắc chắn sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại (như đã nêu trong phần I). Việc điều khiển luồng hoả Kundalini đi lên là một việc làm phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết về cung của Chơn thần, cung Linh hồn và nhiều yếu tố phức tạp khác. Do đó nó phải dược thực hiện dưới sự trông nom của một Chân sư hay vị đạo đồ cao cấp. Ngài cũng nói rằng việc khơi hoạt luồng hoả Kundalini là một việc làm gian nan, rất khó, và nhiều người lầm tưởng họ đã khơi hoạt được luồng hoả trong khi thực ra chỉ là sự chuyển di năng lượng của luân xa thấp lên cao, hay sự đốt cháy một trong các lưới dĩ thái dọc theo xương sống mà thôi.
Sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa
I. Sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa
Tại một thời điểm bất kỳ các luân xa trong con người không phát triển đồng đều nhau, có những luân xa hoạt động mạnh hơn các luân xa khác. Thông thường có ba luân xa hoạt động mạnh nhất và tạo thành một tam giác luân xa nổi bật trong một giai đoạn tiến hóa nào đó của mỗi cá nhân. Đức D.K liệt kê một số tam giác luân xa trong quyển A Treatise on Cosmic Fire trang 169-170, và Thư về Tham thiền huyền môn trang 75-77.
Khi một luân thấp đã phát triển mạnh, năng lượng của nó sẽ từ từ dịch chuyển lên luân xa tương ứng cao của nó. Người ta hay nói đến ba sự chuyển di năng lượng cơ bản trong hệ thống luân xa như sau:
– Năng lượng của luân xa xương cùng di chuyển đến luân xa cuống họng.
– Năng lượng của luân xa tùng thái dương chuyển đến luân xa tim.
– Năng lượng của luân xa gốc chuyển đến luân xa đỉnh đầu.
Chúng ta cần lưu ý rằng tất cả những xúc cảm (emotion) như hờn giận, thương, ghét, lo sợ, lòng ích kỷ, tính bao dung … đều là mãnh lực (forces) hay năng lượng (energies) trên cõi thanh. Một nhà thấu thị có thể thấy những năng lượng nầy trên cõi trung giới với hình dạng và màu sắc của nó.
Các sự chuyển di năng lượng nầy thực hiện hoàn chỉnh tương ứng với các cuộc điểm đạo 1, 2, và 3. Tuy nhiên trong thực tế sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa phức tạp hơn rất nhiều. Trong quyển Esoteric Healing trang 214-215 đức D.K dạy rằng ngoài ba sự dịch chuyển năng lượng kể trên còn có các sự dịch chuyển năng lượng khác như sau:
– Sự chuyển dịch năng lượng từ một luân xa bất kỳ hay từ tất cả năm luân xa trên xương sống đến luân xa Ajna. Điều nầy có nghĩa là các năng lượng không điều hợp (uncoordinated) của phàm ngã được chuyển hóa thành sự kết hợp (integration) của phàm ngã.
– Sự chuyển di năng lượng của tất cả sáu luân xa vào luân xa đỉnh đầu.
Ngài cũng lưu ý chúng ta rằng năm sự chuyển dịch năng lượng kể trên không phải xảy ra tuần tự và theo thứ tự như trên. Các quá trình chuyển dịch có thể xảy ra đan xen và chồng chéo lẫn nhau, và có thể xảy ra theo một trật tự khác với trật tự liệt kê trên. Nói chung, sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa nầy xảy ra kéo dài trong nhiều kiếp sống. Lúc đầu nó xảy ra một cách chậm chạp và vô thức. Kế đến nó là kết quả của những nỗ lực có ý thức của con người và của những kinh nghiệm cay đắng. Cuối cùng khi con người đã bước vào đường đạo thì sự chuyển di năng lượng sẽ nhanh chóng hơn rất nhiều vì y được dạy cho cách chuyển dịch có ý thức các dòng năng lượng nầy.
II. Quá trình chuyển dịch năng lượng giữa hai luân xa:
Quá trình chuyển dịch năng lượng của luân xa thấp vào luân xa cao xảy ra trong ba bước sau đây:
Bước 1: Luân xa thấp gia tăng cường độ hoạt động của mình. Điều nầy khiến cơ quan của thể xác liên hệ với nó cũng hoạt động quá mức, hậu quả dẫn đến sự tắt nghẽn (congestion) của năng lượng và bệnh tật.
Bước 2: Dòng năng lượng từ luân xa thấp bắt đầu dịch chuyển đến luân xa cao và được hấp thụ vào luân xa đó. Luân xa cao gia tăng dần hoạt động của mình, trong khi luân xa thấp cũng giảm dần rung động của nó. Tuy nhiên trong giai đoạn nầy, dòng năng lượng thường bị dao động qua lại giữa hai luân xa, đặc biệt trong trường hợp luân xa xương cùng. Ban đầu dòng năng lượng từ luân xa xương cùng bị luân xa cuống họng đẩy ra hướng về luân xa xương cùng để được hấp thu lại. Sau đó nó lại chuyển dịch đến luân xa cuống họng để được hấp thu vào lần nữa. Quá trình nầy lập đi lập lại nhiều lần đến khi năng lượng của luân xa thấp được hoàn toàn hấp thu vào luân xa cao.
Bước 3: Năng lượng của luân xa thấp hoàn toàn được hấp thụ vào luân xa cao. Điều nầy dẫn đến một thời kỳ khó khăn mới, nhưng lần nầy nó xảy ra trong luân xa cao, dẫn đến bệnh tật của cơ quan thể xác có liên hệ với luân xa đó.
Ngoài ra ta cũng lưu ý năng lượng của các luân xa thấp dưới hoành cách mô không đi thẳng vào các luân xa trên mà trước tiên bị hấp thu vào luân xa trung gian là luân xa tùng thái dương. Đức D.K gọi luân xa tùng thái dương là kho xử lý “great clearing house” của tất cả năng lượng thấp dưới hoành cách mô.
III. Bệnh tật là hậu quả ban đầu của sự chuyển dịch năng lượng:
Trong quá trình dịch chuyển năng lượng của luân xa thấp lên luân xa cao tất yếu phải dẫn đến sự rối loạn trong sự phân bố và hấp thu của các dòng năng lượng. Và kết quả là bệnh tật của cơ quan tương ứng. Ví dụ khi năng lượng của luân xa xương cụt thăng lên luân xa tùng thái dương thường xảy ra rối loạn và bệnh tật của hệ thống đường ruột. Khi năng lượng của các luân xa thứ yếu dưới hoành cách mô (không nằm trên cột sống) dâng lên luân xa tùng thái dương thì hay xảy ra bệnh tật của thận và mật.
Một trường hợp khác khi các năng lượng tích tụ trong luân xa tùng thái dương chuyển dịch đến luân xa tim thì tim chịu một áp lực to lớn, thường là rất trầm trọng. Đó là lí do tại sao ngày nay nhiều người tiến hóa cao hay chết vì bệnh tim. Trong chu kỳ kiếp sống dài của linh hồn khó khăn nầy không đáng kể, nhưng trong một kiếp sống ngắn ngủi thì đó là một khó khăn lớn và là một bi kịch. Tương tự khi năng lượng của năm luân xa trên cột sống chuyển di vào luân xa Ajna cũng gây ra những khó khăn riêng của nó. Sự tập trung tất cả năng lượng của năm luân xa vào nó có thể gây ra những hậu quả tâm lý trầm trọng. Con người có thể tạm thời trở thành cực kỳ vị kỷ, một quái vật người như Adolf Hitler và đồng bọn của y, tuy có thể một mức độ thấp hơn. Hoặc y có thể bị bệnh động kinh nặng, hoặc thị giác bị ảnh hưởng, đôi khi mù. Đây là những vấn đề mà ta cần quan tâm.
Việc khai mở các luân xa
Việc khai mở một luân xa là một quá trình dài trải qua nhiều kiếp sống, từ giai đoạn luân xa gần như yên tỉnh không hoạt động đến giai đoạn thứ 5 trải qua hằng triệu năm. Người đạo sinh nên thực hành tinh luyện ba thể, phụng sự, và mở lòng bác ái. Tự khắc các luân xa sẽ khai mở một cách tự nhiên.
I. Việc khai mở các luân xa
Chúng ta đã xem xét qua hệ thống các luân xa, sự chuyển dịch năng lượng từ luân xa thấp lên luân xa cao. Trong phần nầy ta tiếp tục nghiên cứu quá trình khai mở các luân xa. Phần nầy được viết dựa theo quyển A Treatise on White Magic của đức D.K trang 190-211.
Như phần II đã giới thiệu, việc khai mở một luân xa là một quá trình dài trải qua nhiều kiếp sống, từ giai đoạn luân xa gần như yên tỉnh không hoạt động đến giai đoạn thứ 5 trải qua hằng triệu năm. Tuy nhiên trong giai đoạn đầu việc khai mở luân xa xảy ra một cách vô thức và rất chậm chạp. Tuy nhiên càng về sau việc khai mở luân xa nhanh hơn, nhất là khi con người bước vào đường đạo. Trong phần nầy ta sẽ tìm hiểu việc khai mở luân xa của người đệ tử trên đường đạo như thế nào.
1. Các luân xa hiện đang khai mở mạnh nhất trong con người:
Ba luân xa dưới hòanh cách mô:
– Luân xa gốc
– Luân xa xương cùng
– Luân xa tùng thái dương
Đây là ba luân xa hoạt động mạnh nhất trong một thường nhân hiện nay. Các luân xa nầy cần phải được kiểm soát và điều chỉnh lại từ trạng thái tích cực sang thụ động.
Tương tự như thế các luân xa trên hoành cách mô:
– Luân xa tim
– Luân xa cuống họng
– Luân xa Ajna
– Luân xa đỉnh đầu
Đây là những luân xa kém hoạt đông nhất, phải được khai mở và đưa từ trạng thái thụ động sang tích cực.
2. Có hai cách để thực hiện điều này:
– Chuyển dịch năng lượng dương của các luân xa thấp lên luân xa cao.
– Khai mở luân xa đỉnh đầu bằng cách thể hiện hoạt động của ý chí.
Điều đầu tiên được thực hiện bằng cách thanh lọc ba thể của phàm ngã.
– Thanh lọc thể xác bằng cách chăm sóc cơ thể sạch sẽ và nuôi dưỡng nó bằng thức ăn tinh khiết, ít từ điển xấu.
– Tinh lọc thể tình cảm bằng cách kiểm soát dục vọng, nuôi dưỡng tính tốt (character building- lập hạnh), thực hành chánh ngữ.
– Thanh lọc thể trí bằng suy nghĩ chân chánh, hay như Phật dạy, là chánh tư duy.
Khi các luân xa thấp khai mở chúng sẽ tác động lên luân xa đỉnh đầu và nó cũng bắt đầu khai mở dần. Đức D.K dạy rằng việc khai mở luân xa là một tiến trình hai chiều. Khi con người tiến hóa, thanh lọc các thể (thể xác, thể tình cảm và thể trí) thì các luân xa tương ứng sẽ dần khai mở.
Đến một giai đoạn tiến hoá nào đó thì Chân Ngã hay Linh hồn của chúng ta sẽ tác động ngược lại lên các luân xa thấp thông qua luân xa đỉnh đầu. Năng lượng của Chân ngã sẽ tuôn xuống các luân xa thấp, kích thích và khai mở chúng, chuyển di năng lượng của chúng lên các luân xa cao. Việc khai mở luân xa đỉnh đầu được thực hiện bằng cách tham thiền đều đặn, và bằng cách thể hiện ý chí trong đời sống hằng ngày của chúng ta như tổ chức cuộc sống một cách có tổ chức và kỷ luật. Đức D.K nói rằng những lời dạy của các tôn giáo như sống trong sạch, rèn tính tốt, kiểm soát dục vọng và suy nghĩ chơn chánh giờ đã thành sáo ngữ, đã mất ý nghĩa quan trọng của nó. Nhưng thực ra đó là phương pháp căn bản nhất để khai mở luân xa. Yoga Sutra của Patanjali cũng bắt đầu huấn thị về Yoga bằng cách nêu ra năm giới cấm và năm giới tuân thủ (Yama và Niyama).
Lập hạnh, xây dựng tính tốt, sống trong sách, kiểm sóat các xúc cảm, suy nghĩ chân chánh là những sáo ngữ của tất cả tôn giáo, chúng đã đánh mất sức mạnh của chúng bởi vì chúng ta quá quen thuộc với chúng. Không dễ gì để nhớ rằng khi chúng ta sống một cách thanh khiết và đúng đắn, thực ra chúng ta đang đích thực làm việc với các mãnh lực, chinh phục các năng lượng cho nhu cầu của chúng ta, kiểm soát các hành khí (elemental lives) phục vụ các nhu cầu của bản thể tinh thần (spiritual being), kích hoạt bộ máy và cấu trúc sinh lực cho đến nay vẫn còn tiềm tàng, thụ động. Tuy nhiên, điều sau đây vẫn đúng, khi mà các năng lượng tiềm tàng ở đáy cột sống được đưa lên đầu và được mang đến luân xa giữa hai lông mày (xuyên qua luân xa tùng thái dương vốn là kho thu thập và phân phối năng lượng, và hành tủy). Bấy giờ phàm-ngã, tức khía cạnh vật chất, đạt đến tuyệt đỉnh của nó, và Trinh Nữ Mary (Virgin Mary) – hiểu theo ý nghĩa cá nhân, vốn là một thực thể tương ứng hữu hạn với Thực Tại vô hạn − được “đưa đến Thiên Đường” để ngồi ở đó, bên cạnh con trai của mình, tức Đấng Christ, hay linh hồn.
Khi các năng lượng của luân xa xương cùng, từ trước đến nay được tập trung vào hoạt động sáng tạo vật chất và sinh sản, và vì thế là nguồn gốc của đời sống tính dục và mối quan tâm vật chất ở cõi trần được thăng hoa, tái định hướng, và chuyển di đến luân xa cổ họng, bấy giờ người tìm đạo trở thành một mãnh lực sáng tạo hữu thức trong các cõi giới cao; y tiến vào bên trong bức màn che, và bắt đầu tạo tác các mô hình của những sự vật vốn cuối cùng sẽ mang lại các cõi trời và đất mới.
Khi các năng lượng của luân xa tùng thái dương – là các biểu hiện từ trước đến giờ của bản chất dục vọng mạnh mẽ, nuôi dưỡng đời sống tình cảm của phàm-ngã – cũng được chuyển hóa và được tái định hướng, sau đó chúng được đưa đến luân xa tim, tạo ra nhận thức về tâm thức nhóm, về lòng bác ái nhóm và mục đích nhóm, làm cho người chí nguyện trở thành một người phụng sự nhân loại và một người cộng tác thích hợp của các vị Huynh-Trưởng của nhân loại.
Đức D.K cũng nói rằng có nhiều trường phái mà Ngài gọi là “forcing schools”, dạy người học đạo một cách bất cập, bỏ qua giai đoạn phát triển trí tuệ để đi thẳng từ cõi giới tình cảm đến cõi giới trực giác. Ngài nói điều nầy dẫn đến sự nguy hiểm của sự cả tin, đến việc giải thích sai lạc những hiện tượng của những cõi giới cao. Và kết quả là người học đạo thiếu sự nhận biết đúng đắn giá trị của sự vật, đánh giá quá cao những cái không thiết yếu và không nắm bắt được chân giá trị của những hiện thực tinh thần. Đó là lý do tại sao người ta phải trở nhà huyền bí học nếu muốn tiến bước trên con đường đạo. Trở thành nhà thần bí học (mystic) chưa đủ để đi đến đích cuối cùng.
Đức D.K cũng thêm rằng trong những trường hợp phát triển cưỡng bức đi tắt ngang như thế thì năng lượng cũng có thể tuôn vào các luân xa, nhưng bởi vì con người thiếu một sự dẫn dắt thông tuệ nên năng lượng có thể bị rối loạn, dẫn đến những trường hợp đáng buồn. Ngài liệt kê ra những trường hợp như thế: con người phát triển quá mạnh phàm ngã của mình, những tín đồ mê tín dị đoan, những người quá tôn sùng cả tin vào những vị lãnh đạo, những người cuồng tín thiếu quân bình, những đầu óc lệch lạc nhận vơ vào mình những quyền năng chẳng phải của mình. Những người nam và nữ làm nô lệ cho cảm xúc (astralism), hoặc bước đi trong bức màn ảo tưởng rằng họ khác xa với những người xung quanh, và xem mình như cao tột hơn đồng loại bậc trung của họ. Và như thế họ đã phạm vào tội lỗi chia rẽ phân biệt. Thêm vào đó là trường hợp những người bị hư hỏng về tính dục (sex perversion) do sự kích thích quá mức luân xa xương cùng; những trường hợp rối loạn thần kinh chức năng, hoặc quá nhạy cảm (over-sensitivity and emotionalism), gây ra do sự phát triển quá độ luân xa tùng thái dương. Cuối cùng có những trường hợp bị điên loạn gây ra do sự phát triển quá mức của các tế bào não bởi vì tham thiền không cách. Do đó bạn sẽ hiểu tại sao chúng ta phải đi chậm và đồng thời phải phát triển trí tuệ cùng với bản chất tinh thần của chúng ta.
Người đạo sinh bậc trung bắt đầu bằng cách nhận thức rằng y có các luân xa, và y cũng mong muốn tinh luyện tính tình của mình. Những người hiểu biết sẽ thuyết phục y hiểu rằng nếu y nỗ lực, tham thiền, nghiên cứu và phụng sự, chắc chắn sẽ có những chuyển biến bên trong y, tự trong sâu thẳm của bản thân y một sự thức tỉnh năng động sẽ nảy sinh. Y sẽ được dạy rằng sau đó đời sống tinh thần chủ thể sẽ tuôn dậy và làm chủ trong y. Đời sống tinh thần nầy sẽ tư thể hiện như là năng lượng thiêng liêng, xuyên qua thể năng lượng của y, và năng lượng nầy sẽ thay đổi trọng tâm của đời sống của y, tạo ra những những hiệu quả năng động và từ điện để thu hút và nâng cao nhan loại. Bản chất của năng lượng nầy là thất phân và sử dụng bảy điểm tập trung năng lượng trong y như là tác nhan trung gian của nó
Luân xa đầu tiên mà người học đạo tìm cách kích hoạt một cách có ý thức là luân xa tim. Y phải học hỏi để phát triển ý thức tập thể (group conscious), nhạy cảm với các lý tưởng của nhóm; trong kế hoạch và các ý niệm y phải mở rộng ra và bao trùm (inclusive). Y phải học hỏi để yêu thương một cách tinh khiết và tập thể, chứ không vì bởi sự thu hút phàm ngã hay vì động cơ được tưởng thưởng. Cho đến khi luân xa nầy phát triên y không thể được tin cậy để sử dụng quyền lực sáng tạo của luân xa cuống họng, vì khi đó nó chỉ phục vụ cho những tham vọng cá nhân.
Ở đây ta cần lưu ý rằng không một sự khai mở luân xa nào ở đây có thể được tiếp cận từ quan điểm hoàn toàn thụ động tỉnh tại hay từ góc độ một sự khai phá hoàn toàn mới. Tất cả chúng ta đều trong quá trình tiến hoá. Một vài khía cạnh của hệ thống luân xa chúng ta đã khai mở, nhưng chỉ biểu hiện trong mối quan hệ với hình thể vật chất chứ chưa thể hiện những đặc tính của linh hồn. Đằng sau chúng ta là một quá khứ dài thành công. Không một ai trong chúng ta hoàn toàn ích kỷ hoặc chia rẻ. Xã hội nhân loại ngày nay là một khối kết dính và phụ thuộc lẫn nhau. Nhân loại như một toàn thể ngày nay đã làm được nhiều điều trong việc kích mở luân xa tim hoạt động phần nào, và đang khai mở vài khía cạnh quan trọng của luân xa cuống họng.
Vấn đề của nhiêu đạo sinh ngày nay là luân xa tùng thái dương, vì nó là luân xa mở nhiều nhất, hầu như đã khai mở hoàn toàn. Tuy nhiên tiến trình chuyển hoá năng lượng cũng diễn ra đồng thời, dẫn đến nhiều khó khăn và rối loạn. Luân xa tim đang bắt đầu rung động nhưng vẫn chưa thức tỉnh, còn luân xa cuống họng thì thường xuyên thức tỉnh quá sớm do sự chuyển dịch của năng lượng từ luân xa xương cùng. Điều nầy có nhiều nguyên do. Đôi khi do những ước vọng mục đích tinh thần. Nhưng đa phần điều nầy là do việc chối bỏ một đời sống tình dục bình thường vì nhiều lý do: do điều kiện kinh tế hoặc do thiếu sinh lực thể chất dẫn đến khuynh hướng độc thân.
Việc thiếu sinh lực nầy đến lượt mình lại có nhiều nguyên do, nhưng chủ yếu do quá trình di truyền lâu dài gây ra sự thoái hoá của thể xác, hoặc do sự bị ép buộc sống độc thân trong những kiếp trước, sự độc thân ép buộc nầy thường là hậu quả của đời sống tự viện và một đời sống thần bí (mysticism). Khi năng lượng sáng tạo nầy tìm cách thể hiện trong bất kỳ ngành nghệ thuật nào như văn chương, hội hoạ, hay âm nhạc, hoặc trong việc điều hành hoặc tổ chức nhóm hội, nó sẽ không dẫn đến tác hại nào vì nó tìm được lối thoát sáng tạo binh thường. Những đạo sinh cần nhớ những điều nầy. Y đang phải đối mặt một vấn đề phức tạp. Y mù loà bước vào một tình huống vốn là hậu quả của một quá trình dài tiến hoá mà y không có chìa khoá nào để mở. Điều nầy đặc biệt xảy ra trong những giai đoạn đầu trước lần điểm đạo thứ nhất, bởi vì y không có bất kỳ sự hiểu biết nào về quá khứ cũng như tương lai. Y chỉ đơn giản nắm lấy khí cụ và cơ hội của mình và cố làm tốt nhất những gì có thể, với sự hướng dẫn của những qui luật cổ xưa của Raja Yoga và dưới ánh sang của linh hồn y.
Khi luân xa tim đã khai mở và luân xa cuống họng bắt đầu hoạt động thì có một sự tương tác xác định xảy ra giữa hai luân xa. Điều nầy dẫn đến một sự đáp ứng từ luân xa đỉnh đầu ngàn cánh. Từ luân xa ngàn cánh nầy năng lượng thường xuyên tuôn chảy để kích hoạt các luân xa cuống họng và luân xa tim. Toàn bộ điều nầy dẫn đến hai kết quả cần phải lưu ý cẩn thận.
Thứ nhất là sự xuất hiện của ánh sáng trong đầu (Light in the head). Một tia sáng loé lên (nếu tôi có thể mô tả như thế) giữa năng lượng dương từ trên cao tập trung trong hình thể của luân xa ngàn cánh và rung động nâng cao dần của các luân xa tim và luân xa cuống họng. Các luân xa nầy đến phiên mình lại đáp ứng với các năng lượng dâng lên từ luân xa dưới hoành cách mô.
Thứ hai, luân xa giữa hai chân mày cũng bắt đầu hoạt động. Nó tượng trưng cho sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa chủ thể và ngoại thể. Trong một vài sách huyền linh học nó được gọi là hoa sen chín mươi sáu cánh, nhưng thật ra danh xưng đó đề cập đến sự phân hóa năng lượng của hai cánh hoa sen. Ta cần lưu ý rằng tổng số cánh của các luân xa dưới luân xa Ajna là 48 cánh (4+6+10+12+16=48). 48 năng lượng nầy trong hai khía cạnh năng lượng hồng trần và linh hồn tạo thành 48×2=96 khía cạnh hay rung động của hai cánh hoa của luân xa Ajna. Ta cần lưu ý rằng từ cánh hoa biểu tượng cho mãnh lực và hiệu quả của nó trong vật chất.
Do đó luân xa Ajna là tổng hợp của năm luân xa trên cột sống với tổng số 48 cánh. Về mặt biểu tượng học ta có:
| Luân xa đáy cột sống | 4 cánh |
| Luân xa xương cùng | 6 cánh |
| Luân xa tùng thái dương | 10 cánh |
| Luân xa tim | 12 cánh |
| Luân xa cuống họng | 16 cánh |
| Tổng cộng 5 luân xa | 48 cánh |
| Ajna | 2 cánh |
| = 50 cánh = 5 x 10 |
10 là số hoàn thiện (perfection) và 5 là số của phàm ngã. Do đó con số 50 là con số của phàm ngã hoàn thiện.
Đức D.K dạy rằng trong việc khai mở các luân xa người đạo sinh đang làm việc các mãnh lực (forces) hay năng lượng bên trong y. Điều nầy cần có sự hiểu biết về các luân xa và cách khai mở chúng. Nhưng hiểu biết phải đến trước và việc khai mở sẽ đến sau.
Việc khai mở các luân xa có thể chia làm hai giai đoạn.
– Giai đoạn đầu người đạo sinh cứ tinh luyện ba thể bằng một đời sống kỷ luật, đương nhiên các luân xa sẽ tự động hoạt động một cách đúng đắn và khai mở dần. Trong giai đoạn nầy người đạo sinh không tập trung chút nào đến các luân xa cả. Y chỉ quan tâm đến việc tinh luyện ba thể của y: thể xác, thể tình cảm và thể trí. Như thế y đang tác động gián tiếp lên các luân xa thông qua vật chất xung quanh các luân xa đó. Điều nầy là phương thức an toàn nhất và không có gì rủi ro trong giai đoạn nầy cả. Đây là cách mà phần đông đạo sinh noi theo hiện nay và cả trong một thời gian dài sắp đế.
– Kế đến, khi các luân xa của người đạo sinh đã phát triển đến một mức độ nào đó thì y có thể được một huấn sư chỉ dạy cách thức khai mở luân xa một cách khoa học. Cách thức nầy thay đổi tùy theo cung của phàm ngã và của chơn ngã của người đạo sinh. Do đó đây là một phương cách phức tạp và không thể đưa ra một qui tắc chung cho mọi người.
Nhưng điều tiên quyết là người đạo sinh đã tinh lọc ba thể của y đến một mức độ nào đó, đồng thời y cũng không có các khuyết tật gì về thể xác hay mắc bệnh tật nào. Đức D.K nói rằng trong 1000 đạo sinh may ra chỉ có một người có thể bắt đầu khai mở luân xa theo phương pháp thứ hai. Do đó tốt nhất là người đạo sinh nên thực hành tinh luyện ba thể, phụng sự, và mở lòng bác ái. Tự khắc các luân xa sẽ khai mở một cách tự nhiên. Việc nầy tuy chậm mà chắc chắn và an toàn, và đôi khi còn nhanh hơn phương pháp còn lại.
3. Các phương pháp khai mở luân xa
1. Lập hạnh (Character building – Xây dựng đức hạnh) – điều kiện tiên quyết
2. Động cơ đúng đắn
3. Phụng sự
4. Tham thiền
5. Nghiên cứu về khoa học các luân xa
6. Các phương pháp thở.
7. Học về kỹ thuật sử dụng ý chí
8. Phát triển quyền năng sử dụng thời gian
9. Khơi hoạt luồng hỏa Kundalini
Lập hạnh: Đối với Chân sư thì tất cả đều là năng lượng. Cái mà chúng ta gọi thói xấu hay tính tốt đều là thể hiện của một loại năng lượng nào đó. Tính xấu (vices) là năng lượng hay mãnh lực của ba thể của chúng ta, còn đức tính tốt (virtues) là năng lượng xuất phát từ linh hồn. Do đó “character building” hay lập hạnh là thay thế năng lượng của ba thể phàm ngã (tính xấu – vices) bằng năng lượng của linh hồn (đức tính). Đức D.K dạy rằng điều kiện tiên quyết của việc khai mở luân xa là lập hạnh. Đây là cái giúp chúng ta phân biệt giữa chánh và tà. Có những người dạy thiền mở luân xa mà vẫn uống rượu hoặc vướng vào các thói hư tật xấu, thì chắc chắn đó không phải là phương pháp đúng đắn.
Động cơ đúng đắn: Người đạo sinh khi học đạo phải có một động cơ đúng đắn, và động cơ là một diễn trình tiến hóa liên tục. Thí dụ bước đầu y lập hạnh chỉ vì yêu mến hoặc nghe theo lời một vị huấn sư hoặc một người thân thiết mà y yêu mến. Kế đến y phụng sự chân sư của y và muốn noi theo bước chân của các Ngài. Y nỗ lực hết sức để phụng sự các Ngài. Rồi dần dần y tiến đến phụng sự toàn thể nhân loại, lòng nhiệt thành phụng sự chân sư của y chìm dưới lòng yêu mến và phụng sư nhân loại. Kế đến nữa y cảm nhận được Thiên cơ và cái Thiên ý chi phối sự tiến hóa của vũ trụ. Y biến mình thành vận hà xuyên qua đó thể hiện Thiên Cơ và Thiên ý.
Phụng sự: Khi đã có động cơ đúng đắn thì người đạo sinh cũng bắt đầu công việc phụng sự của mình. Hai bước nầy đi song song với nhau. Trước tiên y phụng sự người mà y thương mến, kế đến là gia đình và tổ quốc của y. Kế đến là phụng sự Chân sư và Ashram của Ngài, và từ đó phụng sự nhân loại. Cuối cùng là việc phụng sự Thiên Cơ và Thiên ý.
Tham thiền: Đức D.K đặt tham thiền ở bước thứ tư, sau lập hạnh, động cơ đúng đắn và phụng sự. Bợi vì nếu thiếu ba yếu tố kể trên việc tham thiền trở thành nguy hiểm, bởi vì khi đó tham thiền chỉ khơi hoạt các năng lượng xấu xa trong con người y.
Nghiên cứu về khoa học các luân xa: Đây là chủ đề của những gì ta đang làm hiên nay.
Phương pháp thở: Đức D.K nói rằng chúng ta không nên nghi ngờ về hiệu quả của các phương pháp thở. Giống như ăn và uống có hiệu quả rõ rệt lên thể xác con người, phương pháp thở cũng tác động mạnh lên các thể thanh của chúng ta nếu thực hành trong một thời gian đủ dài. Đức D.K cũng nhấn mạnh rằng chúng ta chỉ có thể áp dụng các phương pháp thở một cách an toàn chỉ khi nào chúng ta đã nỗ lực duy trì một đời sống tiết điệu hằng ngày.
Ngài cũng nói rằng đa phần chúng ta chỉ ở giai đoạn 3 hoặc 4 và chỉ bắt đầu bước vào giai đoạn 5 của 9 giai đoạn trên. Do đó khi chúng ta đã làm tốt các giai đoạn đầu thì tự khắc chúng ta sẽ được chỉ dạy các giai đoạn còn lại.
Kết luận:
Trong những chỉ dạy của đức D.K chúng ta không thấy nói đến mở luân xa nhờ ngoại lực, nghĩa là nhờ một vị thầy khai mở luân xa cho chúng ta.
Điều kiện tiên quyết để mở luân xa là lập hạnh, phụng sự, và động cơ đúng đắn.
Việc khai mở luân xa là một quá trình dài và khoa học, không có một phương pháp chung cho mọi người.
Ngài khuyên chúng ta tuyệt đối không bao giờ tập trung tư tưởng lên luân xa nào trên cột sống, mà tất cả phương pháp tham thiền của chúng ta đều tập trung trong luân xa đỉnh đầu.
Đối với người học đạo phương pháp lập hạnh, phụng sự là phương pháp an toàn và tốt nhất để khai mở luân xa.
Luân xa và bệnh tật
Y khoa hiện nay chưa nhìn nhận thể dĩ thái (etheric body) và do đó không thể biết được tầm quan trọng của thể dĩ thai đến sức khoẻ của con người. Đức D.K nói rằng tương lai khi khoa học chấp nhận đằng sau xác thân vật chất còn có một thể vô hình (đối với người thường) có một vai trò quan trọng hơn xác thân rất nhiều. Các nhà Thần triết học gọi thể dĩ thái là khuôn dĩ thái (etheric double), bởi vì nó là cái khuôn mẫu mà theo đó xác thân của ta được nặn thành. Do đó đối với nhà huyền linh học thì thể dĩ thai có tầm quan trọng hơn rất nhiều so với xác thân vật chất.
Thể dĩ thái (etheric body hay etheric vehicle) còn được gọi là lưới dĩ thái (etheric web), bởi vì các nhà nhãn thông bậc cao thấy nó gần giống như một tấm lưới được đan bởi vô vàn sợi chỉ là các đường từ lực nadis. Các đường từ lực nadis nầy là vận hà vận chuyển sinh lực Prana đi khắp cơ thể để nuôi dưỡng nó. Như Luân xa (Phần II) có nói, đức D.K nói rằng nơi mà các đường từ lực nadis giao nhau 21 lần ta có một luân xa chính. Nơi mà các từ lực nadis giao nhau 14 lần ta có một luân xa phụ. Và nơi mà các nadis giao nhau 7 lần ta có một luân xa vi tế (minute chakra).
Tuyến nội tiết tạo thành một hệ thống liên hợp trong cơ thể, chi phối toàn bộ các cơ quan trong thể xác chúng ta. Những kích thích tố chúng tiết ra được đưa vào máu để vận chuyển đi khắp các cơ thể.
Đức D.K dạy rằng đối với thể dĩ thái-xác thân của chúng ta có một hệ thống các tác nhân liên hệ chặt chẽ với nhau:
1. Thể dĩ thái: thể dĩ thái nầy với vô vàn đường từ lực nadis là nơi tiếp nhận năng lượng từ môi trường xung quanh (prana) cũng như từ các thể cao hơn của con người (thể tình cảm, thể trí, linh hồn và tam thể thượng). Chúng vận chuyển các năng lượng nầy đi khắp cơ thể và thông qua hệ thống luân xa tác động lên các tuyến nội tiết để kiểm soát toàn bộ hoạt động của con người.
2. Hệ thần kinh: Hệ thần kinh với vô số dây thần kinh, đám rối và trung tâm thần kinh chính là các biểu hiện ngoại tại (externalization) của các nadis. Chúng là phương diện âm trong khi các nadis là phương diện dương của hệ thống năng lượng.
3. Hệ thống tuyến nội tiết: là các biểu hiện ngoại tại của các luân xa. Các tuyến nội tiết nầy nằm ở lân cận khu vực luân xa mà nó biểu hiện.
Luân xa | Tuyến nội tiết |
| Luân xa đỉnh đầu | Tuyến tùng (Pineal gland) |
| Ajna | Tuyến yên (Pituitary body) |
| Luân xa cuống họng | Tuyến giáp trạng (Thyroid gland) |
| Luân xa tim | Tuyến ức (Thymus gland) |
| Luân xa tùng thái dương | Tuyến tuỵ (Pancreas) |
| Luân xa xương cùng | Tuyến sinh dục (The gonads) |
| Luân xa đáy cột sống | Tuyến thượng thận (Adrenal glands) |
Ba hệ thống nầy tạo thành một mạng lưới liên hệ vô cùng chặt chẽ với nhau, và ảnh hưởng đến toàn bộ sức khoẻ của con người.
4. Máu: máu là vận hà để mang sinh khí và các năng lượng của ba hệ thống trên đến toàn cơ thể. Y học ngày nay biết nhiều về vai trò của máu đối với các hormone do các tuyến nội tiết tiết ra, nhưng chưa ý thức được tầm quan trọng của máu với hệ thần kinh.
Ảnh hưởng của hoạt động thái quá hoặc bất cập của các luân xa
Y học ngày nay cho rằng bệnh tật là do các yếu tố ngoại tại như vi khuẩn hay virut tấn công lên cơ thể con người, và một trong các cách chữa trị là tiêu diệt các vi khuẩn hay virut đó. Tuy nhiên đức D.K lại dạy rằng chính tình trạng của các luân xa trong cơ thể chúng ta tạo điều kiện cho các tác nhân đó tác động và gây bệnh trên cơ thể ta. Ngài nói rằng:
Hai yếu tố chính gây nên bệnh tật trong cơ thể là sự hoạt động thái quá hay bất cập của các luân xa (overstimulation or understimulation). Chính tình trạng của các luân xa về cơ bản tạo ra tất cả khó khăn đó, khiến cơ thể bị vi khuẩn xâm nhập, và các mầm bệnh tiềm ẩn trong cơ thể chúng ta có thể phát triển. Chúng ta có thể đưa ra giả thiết rằng (và y học sau nầy sẽ chấp nhận tính đúng đắn của nó) tất cả bệnh tật đều là tự phát sinh, rằng tất cả các bệnh tật nếu không phải do nhiễm trùng hay lây nhiễm (contagion or infection) hoặc do tai nạn, đều là hậu quả của sự thiếu hụt hoặc quá mức, bất cập hoặc thái quá của hệ thống nội tiết.
Hệ thống tuyến nội tiết nầy thông qua các hormone và máu ảnh hưởng đến mọi thành phần của cơ thể chúng ta, và chúng ta có thể khẳng định một cách đúng đắn rằng khi hệ thống tuyến nội tiết hoạt động một cách cân bằng và hoàn chỉnh sẽ không có bệnh tật. Các dòng máu cũng sẽ được duy trì trong trạng thái hoàn hảo. Chìa khoá cho sức khoẻ hoàn hảo của một Chân sư Minh Triết nằm ở chỗ Ngài đã hoàn toàn kiểm soát được hệ thống luân xa của Ngài, kiểm soát được sự cân bằng trong việc tiếp nhận và phân phối năng lượng, cũng như trong tác động của chúng lên toàn thể tuyến nội tiết. Nhờ đó mà lúc nào Ngài cũng duy trì được thể xác trong tình trạng hoàn mỹ.
Nằm chen giữa các luân xa và các tuyến nội tiết tương ứng là hệ thần kinh. Tuy nhiên đây lại là nơi mà chúng ta hay gặp khó khăn. Hoặc là các năng lượng bị thiếu hụt, hoặc là không đồng đều: vài luân xa nhận quá nhiều năng lượng, một số lại quá ít. Vài luân xa chưa hoạt động và do đó không đáp ứng với năng lượng; vài luân xa phát triển sớm quá và truyền dẫn quá nhiều năng lượng đến vùng cơ thể mà nó chi phối. Trong y học bí truyền và theo cách giải thích triết học của nó chính hệ thần kinh não tuỷ (cerebro-spinal) chi phối và kiểm soát toàn bộ hệ thống thần kinh, bởi vì thông qua hệ thần kinh não tuỷ nầy mà các luân xa làm việc và tác động lên cơ thể vật chất, cung cấp nó năng lượng mà nó cần thiết. Do đó cuối cùng thì hệ thống thần kinh thông qua bảy luân xa chính đáp ứng với bảy loại năng lượng chủ yếu của bảy cung.
Không một ai, ngoại trừ các Chân sư Minh triết, có hệ thống luân xa khai mở và hoạt động trong trạng thái quân binh, chúng cũng không tương tác đúng đắn với nhau bên trong cơ thể. Hệ thần kinh cũng không đáp ứng một cách đúng đắn với các luân xa. Có hai lý do cho điều nầy và hai lý do nầy đều có can hệ với hệ thần kinh não tuỷ:
– Luân xa đỉnh đầu chưa khai mở, hoặc chỉ bắt đầu khai mở phần nào
– Dòng năng lượng chảy từ luân xa đỉnh đầu không ổn định, do các lười dĩ thái dọc theo xương sống vẫn còn tồn tại và cho rất ít năng lượng từ luân xa đỉnh đầu tuôn xuống.
Sự hiểu biết về hệ tuyến nội tiết ngày nay vẫn còn phôi thai. Người ta biết nhiều về tuyến sinh dục và tuyến giáp trạng, nhưng họ chưa chấp nhận chúng là hậu quả của sự hoạt động hay không hoạt động của các luân xa, và giữa chúng có một sự quan hệ chchặt chẽ.
Người ta biết chút ít về tuyến yên nhưng chưa nhận thức một cách tương xứng tầm quan trọng cực kỳ của nó trong việc ảnh hưởng lên tâm lý của một người. Và thật sự thì người ta chưa biết gì về tuyến ức và tuyến tùng, lý do là các luân xa tương ứng của nó chưa thức tỉnh trong một người kém phát triển hay trong một thường nhân.
Người ta biết khá nhiều về luân xa xương cùng và tuyến giáp trạng, do bởi trong một người thường hai luân xa nầy hoạt động khá mạnh. Khi hai luân xa đã khai mở một cách tương xứng và sự tương tác của chúng đã được thiết lập, bạn sẽ có một người mạnh về tình dục đồng thời cũng là một nghệ sĩ sáng tạo trong một ngành nghệ thuật nào đó. Trong đời sống thường ngày chúng ta chứng kiến các điều nầy thường xuyên.
Khi luân xa ajna và tuyến yên đã phát triển, cũng như sự tương tác giữa ba luân xa xương cùng, luân xa cuống họng, và luân xa ajna đã được thiết lập, cũng như sự tương tác giữa nó và các luân xa kah1c (tuỳ thuộc vào và mục tiêu huấn luyện của người đạo sinh) khi đó bạn sẽ có một nhà thần bí học thực tiển, một nhà từ thiện và một nhà huyền bí học.
Một luân xa khai mở quá sớm nó sẽ dẫn đến tác hại đến luân xa khác.
Nơi nào có sự mất cân bằng, bất cập hoặc thái quá, nơi đó sẽ có khó khăn. Khi hệ tuyến nội tiết không phát triển cân bằng và hài hoà thì chúng không thể bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật và không thể tiết vào máu những hormone mà cơ thể cần.
Y khoa trong thế kỷ tới sẽ được xây dựng trên các giả thuyết sau:
– Y học phòng ngừa sẽ là mục tiêu hàng đầu.
– Cách giữ vệ sinh và cung ứng điều kiện thể chất khoẻ mạnh là thiết yếu.
– Việc cung ứng các hoá chất cần thiết cho cơ thể sẽ được nghiên cứu. Ngành hoá học ngày nay còn đang sơ khai.
– Việc hiểu biết về các định luật về năng lượng sẽ đươc xem là quan trọng, trong đó việc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sinh tố (vitamins) và mặt trời là những biểu hiện đúng đắn.
– Việc sử dụng thể trí cũng sẽ được xem xét như yếu tố hàng đầu trong việc tác động lên các luân xa và thông qua đó lên các tuyến nội tiết. Bằng cách tập trung tư tưởng hoặc rút sự tập trung ra khỏi một luân xa ta có thể ảnh hưởng lên hoạt động của các luân xa và điều chỉnh chúng. Điều nầy căn cứ vào định luật huyền môn: năng lượng đi theo tư tưởng.
Trong trường hợp của người đệ tử năng lực của thể trí của y mạnh hơn người thường, y sẽ là những người đầu tiên hợp tác với ngành y học trong tương lai để thí nghiệm theo chiều hướng nầy. Bằng cách tập trung tư tưởng tham thiền trong luân xa đỉnh đầu và từ đó điều hướng tư tưởng đến luân xa nào đó y có thể tác động lên tuyến nội tiết tương ứng để tạo ra những hiệu quả cần thiết trong cơ thể. Một phần cũng vì y là đệ tử thí việc xác định các cung chi phối con người y.
Sự thức tỉnh của các luân xa và hệ quả
Chúng ta biết rằng trong quá trình phát triển của một luân xa có nhiều giai đoạn:
– Giai đoạn luân xa bắt đầu khai mở. Đức D.K dùng từ thức tỉnh (awakened), để chỉ tình trạng luân xa chuyển từ trạng thái yên ngũ sang trạng thái bắt đầu hoạt động.
– Giai đoạn luân xa hoạt động mạnh (overstimulation)
– Giai đoạn chuyển di năng lượng sang luân xa cao
– Giai đoạn giảm bớt hoạt động. Luân xa thấp được kiểm soát bởi luân xa cao lúc nầy đã đi vào hoạt động.
Các giai đoạn nêu trên đều có những khó khăn và tật bệnh đi kèm. Đức D.K có nêu ra những ví dụ khi các luân xa thức tỉnh và hoạt động thái quá sẽ dẫn đến các bệnh tật ở vùng cơ thể có liên quan như sau:
Sự thức tỉnh của luân xa đỉnh đầu:
Nếu xảy ra quá sớm có thể gây ra những khó khăn trầm trọng, đôi khi có thể đưa đến điên loạn. Các bệnh tất khác có thể xảy ra do sự tuôn xuống quá nhanh của loại năng lượng cao nhất mà con người có thể nhận được trước khi được điểm đạo là viêm một bộ phận não (inflammation), hay u não. Tuy nhiên điều nầy chỉ xảy ra trong trường hợp của những người tiến hoá cao và sống thiên về trí tuệ. Trong những trường hợp khác thì năng lượng tuôn xuống quá sớm từ linh hồn sau khi đi qua luân xa đỉnh đầu có thể tìm đến các luân xa khác trong cơ thể tuỳ theo cung và trình độ phát triển của y.
Sự thức tỉnh của luân xa Ajna:
kết quả của một phàm nhơn đã phát triển và đạt đến sự gắn kết (integrated personality). Nếu dòng năng lượng tương ứng không được kiểm soát đúng đắn sẽ dẫn đến các bệnh tật ở mắt, rối loạn thính giác, vài dạng viêm dây thần kinh (neuritis), chứng nhức đầu, migraine, và những rối loạn thần kinh khác trong cơ thể. Nó có thể gây ra những trục trặc liên quan đến tuyến yên, và do đó gây ra những ảnh hưởng về tâm lý cũng như sinh lý khác có quan hệ với tuyến yên.
Sự thức tỉnh của luân xa tim:
luân xa nầy và luân xa cuống họng là các luân xa đang trong quá trình bắt đầu khai mở nhanh chóng. Luân xa tim thức tỉnh dẫn đến những rối loạn về tim và các bệnh có liên hệ đến thần kinh phế vị và hệ thống thần kinh tự động (vagus nerve and autonomic nerve system). Hiện nay, bệnh tim đang phát nhanh chóng trong con người, đặc biệt trong tầng lớp trí thức, trong tầng lớp chuyên gia, những nhà quản trị doanh nghiệp có nguyên nhân là luân xa tim đang phát triển trong họ. Con người trở nên có ý thức tập thể, hướng về cộng đồng và phụng sự nhóm (group service). Tuyến ức là biểu hiện ngoại tại của luân xa nầy trong tương lai sẽ hoạt động mạnh hơn trong người trưởng thành so với hiện nay khi mà luân xa đã thức tỉnh đầy đủ. Tương tự tuyến tùng sẽ bắt đầu hoạt động mạnh với chức năng đầy đủ của nó trong giống dân chánh thứ sáu, thay vì là một cơ quan thoái hoá như hiện nay khi luân xa đỉnh đầu đã khai mở.
Sự thức tỉnh của luân xa cuống họng:
Đây là luân xa đang khai mở nhanh chóng và dẫn đến những rối loạn trong tuyến giáp và tuyến cận giáp. Khi nó thức tỉnh quá sớm hay phát triển quá mạnh sẽ dẫn đến bệnh cường giáp và gây ảnh hưởng nguy hiểm đến tim và hệ thống biến dưỡng của cơ thể. Luân xa nầy khai mở sớm do quá trình sống độc thân một cách bị bó buộc do nhiều nguyên nhân (do điều kiện kinh tế, tín ngưỡng …), do đó năng lượng của luân xa xương cùng bị chuyển dịch quá sớm đến luân xa cuống họng, mà luân xa nầy chưa sẵn sàng để tiếp nhận dòng năng lượng nầy. Con người chưa đủ phát triển để có thể trở thành sáng tạo trong một ngành nghệ thuật hay văn chương nào đó. Do đó xảy ra tình trạng tắt nghẽn (congestion) nơi luân xa nầy, dẫn đến bệnh tật của tuyến cận giáp như bệnh bứơu cổ, hoặc rối loạn tuyến giáp trạng. Năng lượng chảy đến tuyến giáp trạng thì nhiều mà sử dụng thì ít.
Sự gia tăng hoạt động của luân xa tùng thái dương cũng là nguồn gốc của nhiều tật bệnh ngày nay. Nó gây ra những trục trặc về thần kinh mà phụ nữ thường mắc phải. Nó cũng gây ra bệnh ở bao tử, gan, đường ruột. Đức D.K nói rằng một trong những nguyên do chính (one of the most powerful sources of cancer) của các bệnh ung thư ở nhiều vùng của cơ thể (trừ những ung thư vùng đầu và mặt) có thể truy nguyên một cách huyền bí là do sự tắt nghẽn của năng lượng tại luân xa tùng thái dương. Ngài giải thích thêm rằng luân xa tim và luân xa tùng thái dương có quan hệ mật thiết và tương tác lẫn nhau. Khi chúng cùng thức tỉnh sẽ tạo ra một hiệu quả mạnh mẽ trên máu của chúng ta. Hai luân xa nầy có quan hệ đến nguyên lý sự sống (life principle) vốn được “lưu chuyển trên các làn sóng của dục vọng”, theo cách nói của một văn bản thời xưa. Khi nguyên lý cuộc sống nầy bị ngăn chặn hay tắt nghẽn vì thiếu sự phát triển hay vì một lí do khác, nó sẽ gây ra ung thư trong vùng cơ thể nơi mà hệ thống tế bào yếu kém.
Luân xa xương cùng đã phát triển từ thời xa xưa và hiện nay ta không thể truy nguyên những khó khăn và bệnh tật có liên quan đến sự biểu hiện của tính dục, và cũng không nên làm thế. Trong quá trình đời sống của một nhà thần bí học có một thời kỳ y sẽ gặp khó khăn về tính dục nếu trước đó y không học hỏi cách thức kiểm soát nó và trừ phi có một tỉ lệ cân bằng trong các hoạt động khác của đời sống và những bản năng tự nhiên. Nếu không, khi y tiếp xúc với cõi giới cao và mang năng lượng của linh hồn xuống phàm ngã của y, năng lượng đó sẽ đi thẳng đến luân xa xương cùng thay vì dừng lại ở luân xa cuống họng. Khi điều nầy xảy ra, y có thể sa vào truỵ lạc tính dục (sex pervsersion) hay những hoạt động tính dục thái quá ở hình thức nầy hay hình thức khác.
Sự thức tỉnh của luân xa đáy cột sống: xảy ra ở giai đoạn cuối của đời sống thần bí cao cấp (higher mystical experience). Luân xa đáy cột sống thức tỉnh cũng gây ra những khó khăn và nguy hiểm. Nó ảnh hưởng lên cột sống và các dây thần kinh xuất phát từ cột sống. Luồng hoả xà kundalini được kích hoạt quá sớm sẽ đốt cháy các lưới dĩ thái dọc theo cột sống. Hệ quả là rối loạn thần kinh, viêm tế bào, bệnh lý cột sống và não.
Luân xa lá lách và tam giác prana
Prana của mặt trời được truyền đến địa cầu chúng ta qua trung gian các thiên thần (deva) cấp bậc rất cao màu vàng kim (golden hue).
Prana thái dương hay prana mặt trời
Prana hay là sinh lực là nguồn năng lượng xuất phát từ mặt trời giúp duy trì sự sống của muôn loài. Đức D.K nói rằng prana của mặt trời được truyền đến địa cầu chúng ta qua trung gian các thiên thần (deva) cấp bậc rất cao màu vàng kim (golden hue). Các Ngài tập trung các tia prana qua cơ thể của các Ngài và phóng xuất chúng đến đến địa cầu. Các Ngài tác động giống như một kính hội tụ năng lượng (burning glass). Các Ngài ở trong bầu khí quyển bên trên chúng ta, và đặc biệt tích cực hoạt động ở những khu vực như California và các quốc gia vùng nhiệt đới, nơi mà bầu khí quyển trong lành và khô ráo.
Prana của hành tinh
Các hành tinh (trái đất hay bất kỳ hành tinh nào khác) tiếp nhận prana thái dương, hấp thu những gì cần thiết cho sự sống của nó và thải ra những gì còn lại dưới dạng phát xạ gọi là prana hành tinh (planetary prana). Như vậy prana hành tinh là prana thái dương đã đi qua hành tinh, đã tuần hoàn qua thể dĩ thái của hành tinh, được truyền đến hành tinh trọng trược (physical planet), sau đó được thải ra dưới dạng một phóng xạ có bản chất tương tự như prana thái dương, cộng thêm vào đó tính chất đặc thù của hành tinh đó.
Con người cũng lập lại tiến trình tương tự trong cơ thể của mình. Y hấp thu prana hành tinh qua ba luân xa chính, tuần hoàn các prana trong cơ thể của mình, sau đó phóng xuất prana ra dưới dạng từ điễn của con người.
Đức D.K nói rằng trong cơ thể con người có ba luân xa chính yếu cho việc hấp thu prana:
– Luân xa nằm giữa hai bờ vai.
– Luân xa nằm trên luân xa tùng thái dương.
– Luân xa lá lách.
Hiện nay luân xa chính yếu để hấp thu prana là luân xa giữa hai bờ vai, còn luân xa nằm trên luân xa tùng thái dương gần như không hoạt động do lối sống văn phòng ít hoạt động của con người. Ba luân xa nầy tạo thành một tam giác cho việc hấp thu prana gọi là tam giác prana. Prana đi vào cơ thể xuyên qua một trong ba luân xa nầy, lưu chuyển ba lần quanh tam giác luân xa, sau đó thoát ra ở mặt còn lại của luân xa lá lách. Luân xa lá lách là luân xa chính trong việc hấp thụ prana vào trong cơ thể (assimilator)
Tam giác prana và việc hấp thu prana trong tơ thể người
Lá lách (lá lách và luân xa tương ứng của nó) giữ một vai trò trọng yếu trong việc hấp thụ prana. Tùy theo tình trạng khỏe mạnh hay không của lá lách và luân xa tương ứng của nó mà sinh lực prana sau khi được hấp thu sẽ được tăng cường lên hay gỉam đi (intensification or devitalization). Các luân xa nầy có hình dạng cũng giống các luân xa khác, có dạng hình hoa loa kèn hoặc một xoáy ốc, thu hút prana ở ngõ vào của luân xa. Sau khi lưu chuyển ba lần xung quanh tam giác prana thì prana thoát ra ở bề đối diện của luân xa lá lách, sau đó prana được phân phối đi khắp cơ thể, trước khi thải ra bên ngoài dưới dạng prana con người (human prana). Như vậy luân xa con người (human prana) chính là prana hành tinh sau khi luân chuyển trong cơ thể con người được phóng ra bên ngoài dưới dạng phát xạ, đã bao gồm thêm tính chất của riêng cá nhân đó. Mỗi người có một prana riêng của mình, mang đậm dấu ấn cá nhân của mình, người ta cũng gọi đó là từ điển cá nhân (bio-magnetism).
Luân xa trong đầu
Thông qua việc phát triển 7 luân xa đặc biệt khác nằm trong phạm vi vùng đầu, chúng ta có thể khai mở các luân xa chính trong cơ thể.
Rải rác trong các quyển sách của mình, đức D.K đôi khi hé lộ cho chúng ta biết ngoài bảy luân xa chính và các luân xa phụ, còn có 7 luân xa đặc biệt khác nằm trong phạm vi vùng đầu của chúng ta. Ngài gọi các luân xa nầy là controlling center, nghĩa là các luân xa nầy giữ vai trò kiểm soát các luân xa tương ứng trong cơ thể. Thông qua việc phát triển các luân xa nầy chúng ta có thể khai mở các luân xa chính trong cơ thể.
Trong quyển sách đầu tiên của Ngài, Điểm đạo trong nhân loại và thái dương, phần 14 qui luật của điểm đạo, chúng ta đọc thấy qui luật số 8 huấn thị người tử chuẩn bị điểm đạo như sau:
Khi người đệ tử đã đến gần cửa điểm đạo, Bảy Cái Lớn phải thức tỉnh và tạo ra sự đáp ứng của Bảy Cái Nhỏ trên vòng tròn đôi.
Ngôn từ của các qui luật nầy được Ngài dịch từ những văn bản rất cổ xưa, ý nghĩa rất trừu tượng và khó hiểu. Trong phần giải thích, Ngài nói rằng:
Người đệ tử chuẩn bị phải phát triển phần nào rung động của bảy luân xa trong đầu, thông qua đó tăng cường các rung động của bảy luân xa chính trong cơ thể…Chúng ta chỉ cần biết rằng khi bảy luân xa trong đầu đã đáp ứng với Chân Ngã thì bảy luân xa chính:
– Luân xa đầu (head center), xem như một đơn vị
– Luân xa tim
– Luân xa cuống họng
– Luân xa tùng thái dương
– Luân xa đáy cột sống
– Luân xa lá lách
– Cơ quan sinh dục
Cũng bị ảnh hưởng, nhưng ảnh hưởng theo chiều hướng tinh khiết hoá và kiểm soát.
Trong đoạn văn trên, Ngài đề cập đến luân xa đầu xem như một đơn vị (head center—considered as a unit) có lẽ Ngài muốn nói đến hai luân xa chính trong đầu là luân xa ngàn cánh và luân xa Ajna. Đôi khi Ngài gọi chung hai luân xa trên là luân xa đầu (head center). Ngoài ra Ngài cũng gọi luân xa xương cùng là Cơ quan Sinh dục (organs of generation)
Trong cùng quyển sách trên Ngài có đề cập đến các luân xa trong đầu ở một đoạn khác:
Người ta cho rằng trong đầu của mỗi người có bảy trung tâm lực, liên kết với các luân xa khác trong cơ thể, xuyên qua đó mà mãnh lực của Chơn Ngã được ban phát và luân lưu. Đức Sanat Kumara và sáu vị Kumara khác cũng giữ vai trò tương tự như thế.
Trong đoạn trên Ngài ví vai trò của bảy luân xa trong đầu với vị trí mà đức Sanat Kumara và sáu vị Kumara khác giữ trong vòng tiến hóa của hành tinh chúng ta đủ cho ta hiểu tầm quan trọng của các luân xa nầy như thế nào.
Tóm lại, theo đức D.K thì trong đầu của mỗi người có bảy luân xa trung tâm (central centers), tương ứng với các luân xa chính trong cơ thể (luân xa đỉnh đầu xem như một đơn vị, luân xa tim, luân xa cuống họng, luân xa tùng thái dương, luân xa lá lách, luân xa xương cùng, luân xa đáy cột sống). Khi chúng ta phát triển hay khai mở các luân xa trong đầu tương ứng cũng sẽ phát triển theo. Điều nầy có lẽ cũng gần giống như trong Châm cứu học của đông y, người ta cho rằng trên mặt của mỗi người có những vị trí tương ứng với các cơ quan trong cơ thể (diện chẩn). Tuy nhiên ngay từ thời bà H.P. Blavatsky bà đã đề cập đến các luân xa trong đầu nầy (mà bà gọi là Master Chakras) trong huấn thị cho Bộ phận Bí Giáo (huấn thị số III):
Bảy Luân xa của chúng ta đều ở trong đầu, và chính các Luân xa chính yếu (Master Chakras) nầy cai quản và kiểm soát bảy đám rối thần kinh chính trong cơ thể, cũng như 42 đám rối thần kinh phụ mà Sinh lý học từ chối gọi như thế … Khi đến lúc thì sinh viên trường Nội môn Bí Giáo sẽ được giảng dạy chi tiết về các Master Chakras nầy, cách sử dụng chúng…
Trong đoạn văn trên bà H.P. Blavatsky đồng hóa các luân xa chính trong cơ thể với các đám rối thần kinh (plexus). Tuy nhiên đoạn văn trên cho ta thấy giáo huấn về các luân xa trong đầu không phải chỉ mới được đức D.K đưa ra lần đầu tiên, nhưng chính Ngài là người dạy đầy đủ nhất và rõ ràng nhất về hệ thống luân xa.
Trong Cosmic Fire đức D.K đôi chỗ có giải thích thêm về các luân xa trong đầu nầy, ví dụ trong đoạn sau Ngài nói:
Trong giai đoạn thứ nhì năng lượng của sáu luân xa thấp:
– Luân xa cuống họng
– Luân xa tim
– Luân xa tùng thái dương
– Luân xa lá lách
– Cơ quan sinh dục
– Luân xa đáy cột sốngĐược chuyển dịch vào các luân xa tương ứng trong đầu, thứ tự tùy theo Cung chính và Cung phụ của một người. Bảy luân xa trong đầu là phản ảnh trong tiểu thiên địa của những “căn phòng đã chuẩn bị sẵn trên Cõi trời” để tiếp nhận năng lượng thất phân của Chơn thần. Các căn phòng nầy (chambers) được chuẩn bị bởi năng lượng thấp vốn tiếp nhận năng lượng cao của linh hồn.
Đoạn văn trên hơi khó hiểu và khó dịch ra tiếng Việt trơn tru. Ngài nói trong đầu của chúng ta có bảy luân xa đầu (head centers). Ngài dùng từ chamber có lẽ muốn ám chỉ vị trí của các luân xa trong đầu nầy có liên quan đến các não thất. Ngài cũng nói thêm các chamber nầy được chuẩn bị bởi các năng lượng thấp của phàm ngã, có lẽ ta cũng có thể suy diễn rằng bản thân các luân xa chính trong cơ thể khi phát triển chúng cũng tác động lên các luân xa trong đầu nầy. Chỉ trong giai đoạn về sau, khi Chơn Ngã đã bắt đầu thể hiện và kiểm soát phàm ngã, các luân xa trong đầu nầy bắt đầu đáp ứng với năng lượng từ Chơn Ngã thì chúng sẽ khai mở mạnh lên, đồng thời cũng tác động lên các luân xa chính trong cơ thể, tăng cường các rung động của chúng.
Một điểm cần lưu ý là trong kỳ điểm đạo lần thứ 3 khi đức Sanat Kumara chủ trì điểm đạo thì năng lượng từ Quyền trượng điểm đạo trong tay Ngài truyền đạt năng lượng từ Chơn Thần kích hoạt bảy luân xa trong đầu. Ở các kỳ điểm đạo 1 và 2 khi đức Maitreya chủ trì điểm đạo thì Quyền trượng điểm đạo trong tay Ngài kích thích các luân xa tim và cuống họng của người đạo đồ
Một chi tiết khá huyền bí là đức D.K dạy rằng luân xa lá lách có luân xa tương ứng trong đầu, và người đạo đồ bằng tác động của ý chí, có thể thông qua luân xa trong đầu nầy hấp thụ prana và truyền đến bệnh nhân để chữa bệnh
Một đệ tử thân cận của đức D.K (F.C.D) có hỏi Ngài chi tiết về các luân xa trong đầu nầy, nhưng Ngài từ chối trả lời. Có lẽ Ngài nghĩ những gì Ngài viết đã đủ cho thế hệ chúng ta. Có lẽ những gì ta chưa biết sẽ chờ đợt revelation thứ 3 mà Ngài hứa hẹn sẽ mang đến cho chúng ta trong thế kỷ XXI (năm 2025).
Đấng Thái Dương Thiên Thần – The Solar Angel
Đấng Thái dương Thiên Thần (the Solar Angel) có lẽ là một trong những đề tài huyền nhiệm và bí ẩn nhất của Huyền Linh học mà đức D.K tiết lộ cho chúng ta trong thế kỷ 20.
I. Đấng Thái dương Thiên Thần (Solar Angel) là ai?
Đấng Thái dương Thiên Thần (the Solar Angel) có lẽ là một trong những đề tài huyền nhiệm và bí ẩn nhất của Huyền Linh học mà đức D.K tiết lộ cho chúng ta trong thế kỷ 20. Chính nhờ Ngài mà chúng ta hiểu biết đôi chút về những gì mà bà Blavatsky chỉ đề cập bóng gió trong bộ Giáo lý Bí truyền của Bà. Chúng tôi nói hiểu đôi chút vì thực ra thông qua những gì Ngài tiết lộ chúng ta chỉ mới thấy chút ánh sáng le lói để hiểu về huyền nhiệm của bản thể con người. Các nhà Thần Triết học sau bà Blavatsky giảng dạy cho chúng ta biết rất sơ lược về Chơn Thần (Monad), Chơn Nhơn (Ego or Higher Self), Phàm nhơn hay Phàm Ngã Personality), nhưng đi sâu vào huyền nhiệm có những câu hỏi rất khó trả lời. Chúng ta được giải thích rằng Chơn Thần là một Tia lửa (Spark) của Ngọn Lửa Thiêng (Flame), rằng Chơn Thần là một điểm Linh Quang của Thượng đế, và là Một với Đấng Duy Nhất. Nhưng để hiểu Chơn Thần có lẽ còn quá xa với với chúng ta. Rôi chúng ta được dạy là Chơn Nhơn hay Tam thể Thượng (Spiritual Triad) là phản ảnh (reflection) của Chơn Thần trên ba cõi Atmic Plane, Nirvanic và Budhic. Kế tiếp Chơn Nhơn lại phản ảnh trong Phàm Nhơn trên ba cõi Trí tuệ, Tình cảm và Hồng trần. C.W. Leadbeater giải thích như sau về Chơn Nhơn và Phàm Nhơn trong quyển “Chơn sư và Thánh Đạo”
Cũng y như thế, Chơn Thần tự phân ra một mảnh nhỏ của nó để tạo nên Chơn Nhơn, và trong trường hợp này cũng vậy, sự giới hạn của nó lại càng tăng thêm bội phần. Điều này cũng tái diễn một lần nữa, khi Chơn Nhơn phản ảnh một phần nhỏ của nó vào trong các Thể Trí, Thể Vía và Thể Xác của một người,- cái phần nhỏ đó, chúng ta gọi là Phàm Nhơn.
Cái phần nhỏ cuối cùng này là điểm tâm thức mà những người có nhãn thông có thể nhìn thấy luân chuyển bên trong con người. Khoa biểu tượng học cho rằng người ta thấy nó như “một người bằng vàng nhỏ như ngón tay cái” ở chỗ quả tim; nhưng nhiều người thấy nó dưới hình thức một ngôi sao. Tôi luôn luôn có thể thấy nó như một ngôi sao có ánh sáng chói rạng. Người ta có thể trụ ngôi sao tâm thức đó ở chỗ nào tùy theo ý muốn, nghĩa là ở bất cứ trung tâm nào trong bảy bì huyệt chánh trong thân người. Mỗi người có thể chọn lựa một trung tâm nào tùy nơi Cung đặc biệt của họ, và cũng tùy nơi Giống dân chánh hay Giống dân phụ của họ. Những người thuộc Giống Dân thứ 5, phần nhiều đều trụ cái tâm thức đó ở trong óc, nơi trung tâm tùy thuộc bộ hạch óc. Tuy nhiên, có những người thuộc về những Giống Dân khác, thường trụ nơi luân xa tim, cuống họng hoặc nơi rún.
Ngôi Sao tâm thức đó là đại diện của Chơn Nhơn ở những Cõi hạ Giới, và khi nó biểu lộ qua những Hạ Thể của nó, thì nó gọi là Phàm Nhơn, và chính đó là cái mà chúng ta nhìn thấy ở mọi người chung quanh ta trên thế qian.
Nhưng tuy cái Phàm Nhơn đó là một phần của Chơn Nhơn- tuy rằng sự sinh hoạt và quyền năng của nó cũng là Sự Sống và Quyền Năng của Chơn Nhơn- nhưng nó thường hay quên điều đó, và tự coi như là một cái gì hoàn toàn riêng biệt, và chỉ hoạt động cho mục đích riêng của mình. Nó luôn luôn có một đường thông thương với Chơn Nhơn (chữ Phạn gọi là Antahkarana) nhưng nó không hay cố gắng sử dụng đường thông thương đó. Trong trường hợp những người thường, không bao giờ học hỏi về những vấn đề này, thì Phàm Nhơn hoàn toàn ngự trị, và Chơn Nhơn chỉ tự biểu lộ một cách rất hiếm và bất toàn.
Sự tiến hóa của con người trong những giai đoạn đầu tiên gồm có việc khai mở con đường giao thông đó, để cho Chơn Nhơn có thể càng ngày càng tự biểu lộ rõ rệt, và sau cùng, hoàn toàn chủ trị Phàm Nhơn. Bằng cách đó, Phàm Nhơn sẽ không còn có một tư tưởng hay ý chí riêng biệt nào, mà chỉ có thể là một phản ảnh của Chơn Nhơn ở Cõi Hạ Giới. Ta nên hiểu rằng vì Chơn Nhơn thuộc về cõi thanh cao hơn, nên nó không bao giờ có thể tự biểu lộ hoàn toàn ở cõi Hạ Giới. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng là Phàm Nhơn sẽ không dung dưỡng điều gì mà Chơn Nhơn không muốn, và nó sẽ biểu lộ Chơn Nhơn đến mức độ tối đa ở cõi Hạ Giới.
Ông C.W. Leadbeater giải thích rằng tuy Phàm nhơn có đầy đủ tính chất của Chơn Nhơn nhưng nó nó thường hay quên điều đó, và tự coi như là một cái gì hoàn toàn riêng biệt… Thật ra con đường tiến hóa của Chơn Thần gồm hai giai đoạn Involution và Evolution, chúng tôi tạm dịch là Giáng hạ tiến hóa và Thăng thượng tiến hóa. Trong giai đoạn Involution Sự sống đi sâu vào Vật Chất, gồm ba giai đoạn: giai đoạn Sự sống trong loài các Tinh Hoa Chất (Elemental Essence I, II và III). Kế đến Sự Sống bước vào vòng cung Evolution qua các giai đoạn trong giới Kim thạch (mineral kingdom), Cây cỏ, và Thú vật. Từ giai đoạn Thú vật (Animal Kingdom) bước sang Con người (Human Kingdom) là một bước chuyển lớn về tâm thức, từ Tâm thức bầy đàn (Group Consciousness) chuyển sang Ngã thức (Self-Consciousness). Self-Consciousness và Trí tuệ là cái phân biệt giữa con thú và con người. Trong Giáo lý Bí truyền bà Blavatsky viết như sau:
Tuy Chơn thần của con người và thú vật về cơ bản là giống nhau, nhưng giữa hai có một vực thẳm phân cách không thể vượt qua, vực thẳm của Trí tuệ và Ngã thức (Mentality and Self-Consciousness). Cái khía cạnh caocủa trí tuệ con người là gì, từ đâu đến nếu nó không phải là một bộ phận (portion) của cái tinh hoa (essence), và trong vài trường hợp hiếm hoi, nó là chính cái tinh hoa, của một đấng cao cả? Có thể nào con người, một vị thần bên trong một hình thể thú vật, chỉ thuần là sản phẩm của Sự tiến hóa của Vật chất. Con thú chỉ khác con người ở hình dạng bên ngoài, chứ chất liệu cấu tạo nên hình hài cả hai đầu như nhau, con thú cũng có Chơn thần, tuy rằng chưa phát triển, nhưng tiềm năng trí tuệ của hai khác nhau một trời một vục, giống như Mặt trời và và con đom đóm. Thế cái gì tạo nên sự khác biệt đó, trừ phi con người là một con thú cộng với một đấng thần linh sống động bên trong hình hài vật chất. Chúng ta hãy ngừng lại và tự hỏi câu hỏi trên…
Bút pháp của bà Blavatsky trong Giáo lý Bí truyền cực kỳ khó hiểu và là một thách thức to lớn cho người học đạo. Trong đoạn trích trên bà cho rằng về mặt cấu tạo vật chất giữa con người và thú vật không có gì khác biệt, cả hai cũng đều có chơn thần, tuy nhiên sự khác biệt về trí tuệ và Ngã thức là hố ngăn cách không thể vượt qua, và bà hỏi cái gì tạo ra sự khác biệt đó. Bà trả lời rằng Cái khía cạnh cao (higher aspect) của Trí tuệ con người do một đầng thần linh cao cả (Higher Being) ban cho con người, con người là một con thú cộng với vị thần linh ngự trong hình thể thú vật. Đây là câu nói bí ẩn của Bà mà những người học đạo thời kỳ đó khó có thể hiểu được. Trong đoạn trên bà nhấn mạnh chỉ cái khía cạnh cao (higher aspect) của Trí Tuệ là do một đấng Thần linh cao cả ban phát cho con người, tức bà nói đến Thượng trí (Higher Manas) chứ không nói đến Hạ trí của phàm nhơn. Trong một đoạn khác bà gọi Đẩng Thần Linh ban cho con người cái khía cạnh cao của trí tuệ là Đấng Thái dương thiên thần:
Những vị Ban phát cho con người cái CHƠN NGÃ ý thức bất diệt (conscious immortal EGO) là các đầng “Thái dương thiên thần”, dù cho ta hiểu từ nầy một cách ẩn dụ hay theo nghĩa đen. Huyền nhiệm của Linh hồn Con người hay Chân Ngã ý thức là vô cùng to lớn …
Bà chỉ nói lững lờ như thế : huyền nhiệm về LINH HỒN con người vô cùng to lớn, và để cho người học đạo tự suy gẫm lấy. Một đoạn khác bà trích lời của Platon như sau:
Thật chính xác và đúng biết bao khi Plato nói rằng Linh hồn của con người, hay Chân Ngã, là “sự kết hợp của cái giống nhau và cái kia” (a compound of the same and the other.). Và có mấy ai hiểu được câu nói ẩn dụ nầy của Ông vì thế gian chỉ hiểu rằng linh hồn là hơi thở của Thượng đế (Jehovah). Linh hồn con người là “cái giống nhau và cái kia” như nhà Triết Học-Đạo đồ vĩ đại đã nói, bởi vì Chân Ngã (EGO) (khi hợp nhất với và trong Chơn Thần Thiêng Liêng) là Con người, thế nhưng cũng giống như “CÁI KIA” (the OTHER) là đấng Thiên Thần giáng lâm trong y, cũng giống như TOÀN LINH TRÍ (MAHAT)…
Bà giải thích câu nói bí nhiệm của nhà Triết học vĩ đại Plato nhưng có lẽ mấy ai hiểu được bà nói gì!
Chỉ khi Chân sư D.K giảng giải thêm cho chúng ta sau nầy trong các quyển sách của Ngài thì chúng ta mới có thể bắt đầu hiểu vấn đề trên. Quyển sách đầu tiên Ngài nói về các đấng Thái dương Thiên Thần là quyển Điểm đạo trong Nhân loại và Thái dương hệ, đọan Ngài viết về Nghi lễ Điểm đạo, phần người đệ tử khi điểm đạo được tiết lộ Hai Huyền Nhiệm, được trông thấy với con mắt tinh thần (Inner Vision) đấng Thái đương Thiên Thần trong vô vàn kiếp đã giáng lâmtrong y, ban cho y trí tuệ và Ngã thức, và chính thực là y. Hoặc như Bà Blavatsky nói, Linh hồn của con người là một phần của cái tinh túy (a portion of the essence) của Đấng Thái dương thiên thần. Trong ba cuộc điểm đạo đầu người đạo đồ lần lượt thấy Đấng Thái dương Thiên Thần đó (Ngài gọi là Đấng Hiện Diện – The Presence) dưới các phương diện khác nhau: Phương diện Trí Tuệ tích cực (Active Intelligence), Bác Ái – Minh Triết, Ý Chí.
Người đạo đồ thấy được đấng Thái dương Thiên Thần của mình dưới ba hình thức:
1. Như một đấng Thiên Thần chói rạng, đức D.K nói rằng cũng giống như một người thường nhìn một người khác trước mặt mình, mặt đối mặt.
2. Như một quả cầu bằng lửa chói rạng.
3. Như một Hoa sen chín cánh nhiều màu sắc.
Quyển sách kế tiếp mà Ngài giảng giải thật chi tiết về các đấng Thái dương Thiên thần nầy là A Treatise on Cosmic Fire, trong đó Ngài nói về vai trò của các đấng Thái dương Thiên Thần trong việc Biệt lập cá tính (Individualisation) khi con người chuyển từ giới thú vật sang con người, vai trò của các Ngài trong việc giúp đỡ con người trên đường tiến hóa (evolution), trong tái sinh, trong trong trả nghiệp quả. Đúng thực các Ngài là Đấng Trông Nom thầm lặng (Silent Watcher) của chúng ta. Chính nhờ các Ngài mà chúng ta có thể rút ngắn thời gian tiến hóa của chúng ta rất nhiều so với khi chúng ta được để cho tiến hóa một cách tự nhiện. các Ngài đã đạt đến trình độ giải thoát của các Bậc Cao cả trong Đại Chu kỳ tiến hóa trước (Maha Manvantara)… Sự hi sinh của các Ngài đối với chúng ta là vô bờ bến, vì ở một trình độ vô cùng cao cả như các Ngài, thì việc các Ngài kiên nhẫn dẫn dắt chúng ta từ trình độ sơ khai của người-thú đến khi giải thoát quả là vô cùng to lớn.
Đức D.K nói rằng chỉ khi nào chúng ta đã tiếp xúc với đấng Thái dương Thiên Thần của chúng ta thì khi đó chúng ta mới cơ may tiếp xúc được với Chân sư:
Do đó hãy tìm kiếm ánh sáng của linh hồn bạn và biết rằng linh hồn bạn là người hướng dẫn của bạn. Khi bạn đã tiếp xúc với linh hồn của mình thì khi đó linh hồn bạn, nếu tôi có thể mô tả như sau, sẽ giới thiệu bạn với Chân sư, Lần nữa, với tất cả sự tôn kính, tôi có thể nói thêm rằng Chân sư không sẵn sàng chờ đợi bạn. Trong cõi giới của linh hồn, linh hồn của bạn và linh hồn của Ngài liên kết với nhau, và đồng nhất.
Trong đoạn văn trên đức D.K dùng từ linh hồn để chỉ đấng Thái dương Thiên Thần của chúng ta. Các bạn lưu ý Đấng Thái dương thiên thần khác với Thiên Thần hộ mệnh (Guardian Angel). Đức D.K nói rằng mỗi người sinh ra đầu có một Thiên thần Hộ mệnh, nhưng vị Thiên thần hộ mệnh chỉ theo ta trong một kiếp sống, còn đấng Thái dương Thiên Thần theo ta từ khi chúng ta biệt lập ngã tính đến khi giải thoát. Câu nói của Plato “Con người là sự kết hợp của cái giống nhau và cái kia” ám chỉ linh hồn chúng ta vừa là một với đấng Thái dương thiên thần, vừa không phải. Các Ngài ban cho ta một phần tinh túy của các Ngài, giúp cho chúng ta trí tuệ, nhưng các Ngài không phải là ta. Ở đây hai câu thơ của Tản Đà có thể áp dụng vào đây, thật hay:
Mình với ta tuy hai mà một,
Ta với mình tuy một mà hai.
Trong Thiền Tông trung hoa, các thiền sư hay nhắc đến cái “Bổn Lai Diên Mục“, hay là “khuôn mặt ngàn đời, khuôn mặt từ vô thủy đến vô chung“, có thể được hiểu dưới ánh sáng nầy. Một thiền sư khác thì dùng từ “Vô vị Chân Nhân” có lẽ cũng chỉ điều đó.
Ngày kia, tổ Lâm Tế nói: “Trên đống thịt đỏ lòm có một vô vị chân nhân thường ra vô theo lối cửa mở trên mặt các ngươi. Thầy nào sơ tâm chưa chứng cứ được thì nhìn đây”. Có một thầy bước ra hỏi: “Vô vị chân nhân ấy là cái gì?”. Lâm Tế vụt bước xuống thiền sàng, nắm cứng thầy ta hét lớn: “Nói đi! nói đi!”.
Đống thịt đỏ lòm ám chỉ phàm ngã chúng ta, Vô Vị Chân Nhân có lẽ Ngài muốn nói đến the Solar Angel, hay Linh hồn của chúng ta.
Viết về Thái dương thiên thần có lẽ cần nhiều trang viết hơn nữa. Tuy nhiên, với mục đích cung cấp cho bạn một vài ý niệm sơ khởi để có thể thực hành bài tham thiền về đấng Thái dương Thiên thần có lẽ bấy nhiêu cũng tạm đủ. Các bạn lưu ý, như đức D.K đã dạy, “hãy tìm kiếm ánh sáng của linh hồn bạn và biết rằng linh hồn bạn là người hướng dẫn của bạn. Khi bạn đã tiếp xúc với linh hồn của mình thì khi đó linh hồn bạn sẽ giới thiệu bạn với Chân sư”, thành ra bài Tham thiền về đấng Thái dương Thiên Thần là bước đầu tiên giúp chúng ta tiếp xúc với Chân Ngã của ta.
II. Bài Tham thiền về đấng Thái dương Thiên thần
1. Những ý niệm căn bản cần ghi nhận trước khi tham thiền
Đấng Thái dương Thiên thần là Vị Thầy Thiêng liêng, Vị Chân Sư đầu tiên mà tôi tiếp xúc khi bắt đầu tham thiền huyền linh.
Một ngày nào đó đấng Thái dương Thiên thần sẽ trở thành “tinh tú chói rạng duy nhất trên bầu trời tiểu thiên địa” (microcosmic sky). (câu trong Initiation: Human and Solar)
Đấng Thái dương Thiên thần tiến hóa cao tột, là Thành viên trong “Hội đồng của đấng Thái dương Thượng đế” (council of the Solar Logos) (câu trong Cosmic Fire)
Đấng Thái dương Thiên thần là “Trái Tim của Tình thương Rực lửa” (Heart of Fiery Love), đã hi sinh để nhân loại có thể tiến hóa.
2. Chuẩn bị
Những bước chuẩn bị bạn thực hiện giống như các bước 1, 2, và 3 của bài tham thiền “Master in the Heart”.
3. Tham thiền:
Bạn quán tưởng hình ảnh của đấng Thái dương Thiên Thần theo một trong ba cách:
– Một đấng Thiên thần chói rạng (a radiant Angelic Existence)
– Một quả cầu lửa rực sáng (a radiant ball of fire)
– Một Hoa sen chín cánh rực rỡ nhiều màu sắc
Quán tưởng một luồng ánh sáng màu vàng kim của Ánh sáng, Tình thương, và Quyền năng của đấng Thái dương Thiên thần tuôn tràn xuống vào phàm ngã của bạn.
Bạn ngừng lại giây lát để hấp thụ nguồn năng lượng từ đấng Thái dương Thiên thần.
Quán tưởng cách bạn sẽ sống một cuộc sống như thế nào để xứng đáng với đấng Thái dương Thiên thần của bạn, để Ánh sáng của Ngài mãi chiếu rọi qua bạn, để Ngài sẽ là “vì Tinh tú duy nhất” trên bầu trời Tiểu thiên địa.
4. Ban rải năng lượng
Tưởng tượng bạn đang hướng mặt về nhân loại, năng lượng từ đấng Thái dương Thiên thần đang tuôn chảy qua bạn để ban phát đến toàn thể nhân loại. Đồng thời bạn xướng tụng bài Đại khấn nguyện (Great Invocation). Xong xướng linh từ OM ba lần.
The Great Invocation
From the point of Light within the Mind of God
Let light stream forth into the minds of men.
Let Light descend on Earth.
From the point of Love within the Heart of God
Let love stream forth into the hearts of men.
May Christ return to Earth.
From the centre where the Will of God is known
Let purpose guide the little wills of men—
The purpose which the Masters know and serve.
From the centre which we call the race of men
Let the Plan of Love and Light work out.
And may it seal the door where evil dwells.
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth
OM OM OM
Luân xa và sự chết
Cái chết chỉ là một sự việc bình thường trong diễn trình tiến hoá của nhân loại. Nó là sự chấm dứt một quá trình hay một giai đoạn của đời sống để bắt đầu một gia đoạn mới, một sự chuyển di tâm thức vào cõi giới mới.
Chết là điều mà không ai tránh khỏi, từ người thường đến bậc thánh nhân. Do đó nó luôn luôn khiêu gợi sự tò mò của mọi người. Những người duy vật triệt để, khi cận kề cái chết lại là những người sợ hãi nhất. Vì với họ, chết nghĩa là hết, là chấm dứt. Nhiều người sợ chết vì không ai biết sau khi chết họ sẽ ra sau. Người ta nghiên cứu, tìm hiểu về cái chết. Ngay cả trong giới Thần triết (Theosophy), vẫn có những bất đồng trong việc diễn giải đời sống sau chết. Bà H.P. Blavatsky dạy khác, Ông C.W. Leadbeater và bà Annie Besant dạy khác. Theo lẽ thường, người ta tin bà H.P. Blavatsky hơn vì bà là thầy dạy của C.W. Leabeater và Annie Besant. Nhưng thật ra sự việc không lúc nào đơn giản như vậy. Trong mỗi giai đoạn, Thánh đoàn chỉ phổ biến một phần nào của chân lý. Những vị giáo chủ, những bậc Thầy trong những giai đoạn sau mang đến cho thế gian nhiều chân lý mới hơn, hé lộ cho nhân loại những chân lý chưa phổ biến.
Viết về cái chết, đức D.K dành cả trăm trang trong các quyển sách của Ngài để dạy chúng ta về cái chết. Tập trung nhất là quyển Esoteric Healing. Nhiều người ngạc nhiên tại sao một quyển sách dạy về chữa bệnh lại giảng dạy về cái chết. Thật ra, chết chỉ là một sự việc bình thường trong diễn trình tiến hoá của nhân loại. Chúng ta đã từng chết bao nhiêu lần, nếu chúng ta có thể nhớ lại trong ký ức của linh hồn. Chết là sự chấm dứt một quá trình hay một giai đoạn của đời sống để bắt đầu một gia đoạn mới, một sự chuyển di tâm thức vào cõi giới mới. Đức D.K khẳng định với chúng ta rằng không có chết, đó chẳng qua chỉ là một sự chuyển di tâm thức từ cõi giới nầy sang cõi giới khác. Đó là sự bước vào một cõi giới rộng lớn hơn. Chúng ta thoát khỏi mọi sự ràng buộc trở ngại của thể xác vật chất. Với mỗi hạng người khác nhau cái chết họ trải qua cũng khác biệt.
Đối với người chưa tiến hoá, chết giống như một giấc ngũ và quên hết mọi chuyện, vì với họ thể trí chưa phát triển và kho ký ức của họ thì trống rỗng. Đối với một người bình thường, chết là sự tiếp nối của tiến trình sống, của những mối quan tâm và khuynh hướng của y trong cuộc sống trước đó. Y không nhận ra sự khác biệt nào cả. Y được chăm sóc cẩn thận và thường thì không nhận ra rằng mình đã chết. Đối với người xấu xa, ích kỷ độc ác, những kẻ phạm tội, và những người chỉ biết sống trong vật chất cuối cùng họ sẽ rơi vào trạng thái được gọi là “dính chặt với mặt đất” (earth-bound).Trong khi sống họ tất cả dục vọng ham muốn của họ gắn họ với trần gian, thì sau khi chết nó sẽ tiếp tục buộc họ gắn liền với nó, với mặt đất. Họ tìm kiếm một cách vô vọng mọi cách để tiếp xúc và trở lại trần gian. Trong một vài trường hợp khác, những người tốt bụng, hiền lành cũng rơi vào tình trạng nầy bởi vì lòng yêu thương của họ đối với những người ở lại, hoặc có những bổn phận, trách nhiệm mà họ chưa hoàn thành. Những điều nầy nầy cũng lôi cuốn họ ở lại trong cõi giới gần mặt đất. Đối với người đạo sinh, chết là bước ngay lập tức vào công việc phụng sự mà y từng quen thuộc. Chỉ có điều khác là bây giờ y có thể hoạt động 24 giờ liên tục chứ không phải như trước đây chỉ làm việc trong giấn ngũ.
Những giáo lý của đức D.K dạy gần gũi với những gì Ông C.W. Leadbeater viết hơn so với bà H.P. Blavatsky. Chúng tôi sẽ có loạt bài nói về bệnh tât và sự chết, căn cứ vào giáo lý của đức D.K.
Một điểm cuối cùng nói vế cái chết và luân xa chính là khi chết, linh hồn con người thoát ra thể xác theo ngã nào. Đức DK dạy rằng diễn trình chết trải qua ba giai đoạn:
– Giai đoạn hoàn nguyên (Restitution)
– Giai đoạn thải bỏ (Elimination)
– Giai đoạn tâm thức Devachan (Experience of Devachan)
Các thuật ngữ tiếng Việt trên chúng tôi tạm dùng để dịch các từ tiếng Anh trên. Ba giai đoạn nầy tương ứng với các giai đoạn con người rũ bỏ thế xác và thể dĩ thái (Restitution), thể tình cảm (Elimination), và Devachan. Ông La Văn Thu có lần nêu ý kiến ba giai đoạn của sự chết nầy có thể giải thích câu nói bí ẩn trong Đạo đức kinh của Lão tử “Sinh chi đồ, thập hữu tam; tử chi đồ, thập hữu tam“.
Trở lại giai đoạn hoàn nguyên, khi linh hồn con người rút ra khỏi xác thân lúc chết, đức D.K nói rằng có ba đường thoát chính :
– luân xa tùng thái dương
– luân xa đỉnh đầu
– luân xa tim
Khi xảy ra cái chết, áp lực của sinh lực tác động lên làm rách thể dĩ thái và tạo ra cửa thoát. Sinh lực sẽ tuôn ra khỏi cửa này dưới sức kéo tăng dần của linh hồn. Trong trường hợp con người chỉ biết sống quá thú tánh hay trẻ con, và người sống thiên vế vật chât thể xác và thể tình cảm, cửa rút lui là luân xa tùng thái dương. Người tiến hóa cao như các bậc đệ tử và đạo đồ, lý trí đã phát triển mạnh, lưới dĩ thái ở luân xa đỉnh đầu bị rách tạo thành lối thoát lúc chết.
Với người đồng cốt và những nhà nhãn thông bậc thấp thì lưới dĩ thái ở tùng thái dương đã bị bị rách sớm nên họ dễ dàng đi ra hay nhập vào cơ thể, họ bước vào cõi tình cảm nhưng không có ý thức rõ rệt. Họ không có tâm thức liên tục, và như thế không nối liền giữa sự sống ở cõi trần với những gì họ chứng kiến trên cõi trung giới.
Như vậy cái chết xảy ra qua hai cửa thoát:
– Luân xa tùng thái dương cho người còn sống thiên về tình cảm, vật chất, chưa khai mở trí tuệ.
– Luân xa đỉnh đầu cho người đã dùng lý trí và có khuynh hướng tinh thần.
Có một đường thoát thứ ba đang được dùng tạm thời, nằm ngay dưới luân xa tim dùng cho người trung bình, tốt bụng.
Luồng hỏa xà Kundalini
Kundalini, còn gọi là luồng hoả hầu, xà hỏa (serpent fire) … là năng lượng của Ngôi Ba thượng đế, Nó là luồng lửa của vật chất (fire of matter). Trong một người bình thường Kundalini nằm ngũ yên tại luân xa đáy cột sống. Nói nó ngũ yên chỉ đúng một phần nào, vì thật ra nó có những chu kỳ hoạt động và thức tỉnh. Đức D.K dạy rằng trong con người bình thường, một phần ba năng lượng của nó đã thức tỉnh và đi lên theo một trong ba vận hà (channel) dọc theo cột sống, hai phần ba năng lượng của nó vẫn nằm yên và dùng để nuôi dưỡng các luân xa thấp, các cơ quan sinh dục. Ngài cũng thêm rằng một ba năng lượng của nó đã khơi hoạt đi lên theo sự tiến hoá tự nhiên mà không có sự nỗ lực hay can thiệp có ý thức của con người, và đây cũng là một điều may mắn cho nhân loại.
I. Ba vận hà của luồng hỏa: Ida – Pingala – Sushumna
Từ luân xa đáy cột sống có ba vận hà (channel) chạy dọc theo cột sống đi lên luân xa đỉnh đầu, tiếng Phạn gọi ba vận hà nầy là Ida, Pingala, Sushumna. Một đường(Ida) dùng để nuôi dưỡng vật chất (matter), một đường (Pingala) dùng cho năng lượng nuôi dưỡng tâm thức (consciousness). Một luồng nữa liên hệ với Phương diện Tinh thần (Spirit hay Monad)
II. Ba tam giác lực
Dọc theo xương sống và trong vùng đầu của con người có ba tam giác năng lực được tạo thành bởi các luân xa trong cơ thể. Các tam giác năng lực nầy là:
1. Tam giác đáy cột sống (Basal Triangle) tạo thành bởi ba trung tâm lực:
– Hai cơ quan sinh dục
– Một điểm ở đáy cột sống
2. Tam giác prana (Pranic Triangle), tạo thành bởi ba luân xa:
– Luân xa giữa hai bờ vai
– Luân xa lá lách
– Luân xa trên tùng thái dương
3. Tam giác trí tuệ (Manasic Triangle), tạo thành từ các luân xa:
– Tuyến tùng quả
– Tuyến yên
– Alta major center
Khi diễn tả các luân xa trên, đức DK dùng tên các cơ quan vật chất của các luân xa như tuyến yên, tuyến tùng quả v.v… Chúng ta cũng nên để ý điều nầy. Ví dụ cơ quan sinh dục liên hệ với luân xa xương cùng, tuyến yên với luân xa ajna, …
III. Ba sự hợp nhất (at-one-ment) của luồng hỏa Kundalini
Trong quá trình đi lên, luồng hỏa Kundalini kết hợp (blend) với năng lượng của các tam giác lực prana, trí tuệ (manas), và tinh thần. Như đã nói ở trên, trong một người bình thường thì luồng hoả Kundalini đã đi lên theo môt trong ba vận hà và kết hợp (blend) với tam giác Prana tại một điểm ở giữa hai bờ vai. Đâu là sự hợp nhất thứ nhất của luồng hỏa Kundalini.
Kế đến, luồng hỏa hợp nhất với năng lượng prana đó tiếp tục đi lên theo vận hà thứ hai, kết hợp hòa lẫn với năng lượng của Tam giác trí tuệ (manasic Triangle) tại Luân xa Alta major. Luân xa nầy nằm phía sau đỉnh đầu, phía trên hành tủy, thuộc về phần đầu của con người. Tuy không được liệt kê là một trong bảy luân xa chính nhưng luân xa alta major có vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong việc hình thành Con Mắt Thứ Ba (The Third Eye). Bạn cũng lưu ý không nên nhầm lẫn giữa quan năng nhãn thông (clairvoyance) và Con Mắt Thứ Ba trong giáo lý của đức D.K. Trong các tác phẩm của các tác giả khác (như Lobsang Rampa) thường nói đến nhãn thông là con mắt thứ ba. Đức D.K phân biệt Con Mắt Thứ Ba với quan năng nhãn thông vốn là khả năng thấy trên cõi trung giới và cõi trí tuệ. Con Mắt Thứ Ba còn gọi là Con Mắt của Shiva, được các Thuật sĩ chính phái (White Magician) dùng để điều khiển năng lượng trong việc tạo các hình tư tưởng.
Giữa luân xa Alta major và luân xa cuống họng có một khe hở. Khi luồng hỏa Kundalini đi lên muốn hợp nhất với năng lượng của Tam giác trí tuệ thì con người phải tạo ra một cầu nối bằng chất dĩ thái nối liền khe hở nầy. Việc tạo ra cầu nối nầy là phản ảnh trên cõi hồng trần của việc xây dựng đường Antahkarana trên cõi trí tuệ. Chúng tôi sẽ có bài nói về cấu Antahkara trong các bài viết sau nầy. Việc xây dựng cầu nối liền khe hở nầy được con người tiến hành một cách vô thức. Khi luồng hỏa kundalini đi lên hợp nhất với Tam giác trí tuệ ta có sự hợp nhất thứ nhì của luồng hỏa thì các luân xa đạt đến chiều quay thứ tư (fourth dimension rotation), con người đã trở thành một thánh nhân (advanced man), là một điểm đạo đồ…
Cuối cùng là sự hợp nhất thứ ba xảy ra tại một điểm trên đỉnh đầu, khi luồng hỏa Kundalini (sau khi đã hợp nhất với năng lượng prana và trí tuệ) dâng lên đến luân xa đỉnh đầu, hợp nhất với năng lượng tuôn xuống từ Chơn thần. Sư hợp nhất nầy biến con người thành bậc giải thoát.
IV. Hiệu quả của luồng hỏa đi lên:
Khi luồng hỏa Kundalini đi lên nó gây ra sự tăng cường rung động của các luân xa và toàn thể các nguyên tử của ba thể hồng trần, tình cảm và trí tuệ. Sự gia tăng rung động nầy có hai tác động lên vật chất cấu thành các thể:
1. Nó lọai bỏ các hạt vật chất trọng trược trong các thể. Điều nầy cũng giống như một bánh xe quay nhanh sẽ ném vật chất ra ngoài bề mặt của nó dưới tác dụng lực li tâm.
2. Nó thu hút vào vòng ảnh hưởng của nó những hạt vật chất tương ứng với rung động của nó.
Ngoài ra, luồng hỏa Kundalini cũng thanh lọc hóa các lưới dĩ thái, và ở lần hợp nhất thứ nhì (hợp nhất với lửa trí tuệ), bản thân các lưới dĩ thái bảo vệ của các luân xa sẽ bị phá hủy, và ở kỳ điểm đạo thứ ba con người sẽ đạt được sự liên tục của tâm thức (continuity of consciousness)
Đức D.K cũng nói rằng việc khơi hoạt luồng hỏa Kundalini là một việc làm cực kỳ khó, có thể nói là khó nhất, nên có chuyện nhiều nhà huyền bí học lầm tưởng rằng họ đã khơi hoạt được luồng hỏa Kundalini trong khi thực ra đó chỉ là sự chuyển di năng lượng của các luân xa thấp lên luân xa cao, hoặc do các lưới dĩ thái giữa các luân xa bị phá hủy. Nhưng khi luồng hỏa Kundalin đã khơi hoạt con người sẽ thừa hưởng những hiệu quả của việc đi lên đó: ba thể thấp sẽ được thanh lọc, họ đạt được sự liên tục của tâm thức (nghĩa là họ hoàn toàn nhớ và ý thức được những nhoạt động trên cõi thanh trong giấc ngũ). Ngoài ra sức chịu đựng và năng lực làm việc của họ được gia tăng một cách phi thường. Các bạn có thể kiểm chứng điều nầy trong cuộc đời của các nhà huyền bí học nổi tiếng như H.P. Blavatsky, Douglas M. Baker …
Một điểm chót cần nhắc lại: đức D.K thường xuyên nhắc ta phải tránh sự lầm tưởng rằng ta phải khơi hoạt luồng hỏa Kundalini để khai mở các luân xa và phá hủy các lưới dĩ thái, trong khi đúng ra là phải làm ngược lại. Điều kiện tiên quyết để khơi hoạt luồng hỏa Kundalini là các luân xa trước tiên phải được khai mở, các vận hà dọc theo xương sống phải thông thương, các lưới dĩ thái phải bị phá hủy. Các điều nầy tạo điều kiện cho luồng hỏa Kundalini khi đi lên không bị trở ngại.
V. Sự nguy hiểm khi khơi hoạt luồng hỏa Kundalini quá sớm (premature awakening of Kundalini)
Nếu một người nào đó bằng năng lực của ý chí hay do sự phát triển quá mức của trí tuệ thực hiện được sự hòa hợp những ngọn lửa của vật chất nầy [kundalini và prana] và khơi hoạt nó lên, y sẽ đối diện với những mối nguy hiểm như điên loạn, ma ám, chết chóc hoặc bị bệnh trầm trọng ở một bộ phần nào đó của cơ thể y. Y cũng sẽ bị rủi ro qua việc phát triển quá độ những xung động tình dục do những mãnh lực nầy [kundalini] đi lên không đúng cách, hoặc bị lái đến những luân xa không mong muốn. Lý do của điều nầy là vật chất của cơ thể y chưa đủ tinh khiết để chịu đựng được sự hợp nhất của các ngọn lửa, và các vận hà dọc theo xương sống vẫn còn nghẹt lại (clogged and blocked), và do đó trở thành một vật cản, lái ngọn lửa trở lại và hướng xuống. Luồng hỏa nầy (được hợp nhất bằng quyền năng của tâm trí chứ, không kết hợp đồng thời với sự tuôn xuống của Tinh thần) đốt cháy các lưới dĩ thái, và các mãnh lực ngoại lai không mong muốn, thâm chí các vong linh, có thể xâm nhập vào y. Chúng sẽ tàn phá những gì còn sót lại của thể dĩ thái, các tế bào não, hoặc thậm chí cả xác thân của y.
Một người khinh suất không biết Cung của mình [cung của Chơn thần và Chơn Ngã] và do đó không biết dạng tam giác hình học đúng cách để lưu chuyển luồng hoả từ luân xa nầy đến luân xa khác, sẽ khiến luồng nội hoả lưu chuyển sai cách, hậu quả là sẽ đốt cháy các tế bào của y. Trong trường hợp nhẹ nhất, điều nầy sẽ làm thụt lùi lại sự tiến hoá của y một vài kiếp sống, bởi vì y phải bỏ mất nhiều thời gian để xây dựng lại những gì đã bị tàn phá, và lập lại theo cách đúng đắn những gì cần phải làm.
Còn nếu y tiếp tục theo đuổi đường lối sai lạc nầy, bỏ qua sự phát triển tinh thần, chỉ tập trung vào nỗ lực tâm trí để điều khiển vật chất cho các mục tiêu ích kỷ, và nếu y tiếp tục điều nầy mặc kệ những khuyến cáo từ chân ngã của y, của các bậc huấn sư đang trông nom y, nếu điều nầy tiếp tục trong một thời gian dài sẽ mang đến cho y sự hủy diệt cuối cùng trong Đại chu kỳ Manvantara nầy. H.P.B có ám chỉ đến điều nầy khi đề cập đến những trường hợp “mất linh hồn”. Ở đây chúng tôi nhấn mạnh sự hiện thực của điều nầy nhằm cảnh cáo những ai mong tiếp cận đề tài các luồng hỏa vật chất với những hiểm nguy ẩn tàng trong đó. Sự hòa hợp (blending) của các luồng hỏa vật chất nầy phải là kết quả của tri thức thiêng liêng, và phải được điều khiển duy nhất bởi Ánh sáng của Tinh thần, vốn hoạt động thông qua tình thương và vốn là tình thương, và mong mỏi sự hợp nhất tối hậu không phải để thỏa mãn những ham muốn vật chất, nhưng bởi vì mong muốn được giải thoát và tinh khiết hóa để có thể đạt đến sự hợp nhất cao cả hơn với Thượng đế. Mong muốn đạt đến sự hợp nhất nầy không phải vì các mục tiêu ích kỷ, nhưng bởi vì nhằm đạt đến sự hoàn thiện của nhóm và nhằm phục vụ nhân loại một cách rộng rãi và hiệu quả hơn.
Kỹ thuật hình dung (visualisation)
Ngài nói rằng trong các trường tham thiền nội môn tương lai, việc hình dung sẽ là một trong các kỹ thuật cơ bản được giảng dạy cho các đệ tử. Nó là bước đầu tiên trong việc điều khiển năng lượng (direct energy). Khi người đạo sinh đã thuần thục kỹ thuật hình dung y sẽ dễ dàng áp dụng nó trong các bài tham thiền khác như tham thiền kiến tạo đường antahkarana nối liền giữa phàm ngã và chơn ngã, tham thiền trong việc chữa bệnh hoặc khai mở các luân xa. Trong quyển Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới quyển I, trang 89-90, Ngài viết khá chi tiết về kỹ thuật visualization, chỉ tiếc rằng dịch giả Nguyễn Hữu Kiệt đã lược bỏ đi không dịch đoạn văn quan trọng nầy. Các bạn có thể đọc nguyên bản tiếng Anh trong Discipleship in the New Age, quyển I, trang 89-90. Ngài yêu cầu các đệ tử Ngài hãy bắt đầu thực tập kỹ thuật hình dung với quyết tâm, vì đó kỹ thuật nền tảng của tất cả công việc tham thiền thực thụ
Ngài dạy rằng người đạo sinh hình dung trong đầu của mình, tại một điểm nằm giữa tuyến yên và tuyến tùng (pituitary body and the pineal gland), những hình ảnh mà y đang đang xây dựng và làm việc, thấy trong trí của y những nét tổng quát cũng như chi tiết những hình ảnh đó:
Các bạn xem hình vẽ đi kèm để biết vị trí trong đầu mà ta tập trung hình dung vào đó. Các bạn lưu ý Ngài dạy rằng:
– Việc hình dung được thực hiện tại một điểm nằm giữa tuyến tùng và tuyến yên
– Tại điểm đó, người đệ tử tô vẽ các hình ảnh và các phong cảnh, và qua đó thấy được một cách tổng quát và chi tiết những gì mà y mong muốn và dự định sẽ làm.
– Bằng cách đó tuyến tùng sẽ trở thành trung tâm cua bầu từ điện.
– Người đệ tử tập trung năng lượng tại điểm đó và điều hướng đến một trung tâm lực khác.
Ngài cũng nói thêm rằng khi ta đã tập hình dung tại điểm đó thì dần dần tuyến tùng sẽ từ từ trở thành trung tâm của bầu từ điện. Từ đó, người đệ tử có thể điều khiển năng lượng đến một trung tâm lực hay luân xa nào đó trong thể dĩ thái.
Để thực hành phép hình dung như đức D.K dạy, chúng tôi đề nghị các bạn thực hiện từng bước như sau:
– Thực hành tập hình dung các hình đơn giản hai chiều trước như hình vuông, hình tròn, hình tam giác. Ở bước nầy ta chưa quan tâm đến màu sắc của các hình đó. Bạn chưa nhất thiết hình dung hình ảnh đó tại điểm nằm giữa tuyến yên và tuyến tùng như đức DK dạy.
– Tập hình dung các mầu sắc trong bảy màu căn bản của quang phổ: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm tím.
– Tập hình dung một hình căn bản, ví dụ hình vuông, với các màu khác nhau. Bạn tập như thế nào mà trí của bạn giống như một computer có thể đổi màu sắc của các hình thể một cách dễ dàng như trong phần mềm photoshop.
– Bước kế tiếp bạn hình dung các hình ảnh ba chiều như các hình khối lập phương …
– Hình dung các hình ảnh khó hơn như hình hoa sen, hình khối cầu lửa chói rực, hình ngọn nến cháy trong đêm tối…
– Hình dung các hình ảnh động như hình hoa sen từ từ nở ra ….
– Khi bạn được mức độ nẩy rồi bạn có thể phối hợp đưa hình ảnh hình dung về vị trí như đức D.K dạy.
Việc thực tập kỹ thuật hình dung cần nhiều kiên nhẫn và thời gian. Khi bạn bền chí kết quả ắt sẽ đến. Đây là kỹ thuật cần thiết để thực hành xây dựng đường antahkarana cũng như chuyển dịch năng lượng giữa các luân xa.
Phương pháp thở (Pranayama)
Pranayama có nghĩa là phương pháp kiểm soát Prana, năng lượng của vũ trụ.
I. Pranayama (Control of Prana)
Trong tám pháp môn của Raja Yoga, Pranayama đứng ở vị trí thứ tư sau Asana. Pranayama có nghĩa là phương pháp kiểm soát Prana, năng lượng của vũ trụ. Tuy rằng Patanjali không đề cao quá mức Pranayama trong Yoga Sutra của mình, nhưng Ông khuyến cáo việc nên điều hòa hơi thở trước khi tham thiền qua các chu kỳ hít vào, nín thở, và thở ra. Hầu hết chúng ta không ý thức được rằng có một mối quan hệ mật thiết giữa tâm trí và hơi thở. Khi chúng ta thở hổn hển, ngắt quãng, không điều hòa thì tâm trí ta cũng bất an, và ngược lại, khi chúng ta lo sợ, giận dữ hơi thở ta cũng thiếu an tịnh. Hơn thế nữa, đức D.K dạy chúng ta rằng “đừng có ai đó nghi ngờ về hiệu quả của các bài tập thở lên thể sinh lực (dĩ thái) của chúng ta. Cũng giống như ăn và uống ảnh hưởng một cách chắc chắn trong việc kiến tạo hay phá hủy xác thân, phương pháp thở cũng tạo ra những hiệu quả mạnh mẽ lên thể dĩ thái nếu thực hiện trong một thời gian đủ dài.”
Tuy nhiên việc thực hành Pranayama cũng cực kỳ nguy hiểm, nên người ta khuyên chúng ta chỉ học Pranayama dưới sự hướng dẫn của Chân sư hay một vị đạo đồ. Trong quyển Đường đạo trong kỷ nguyên mới các phép thở mà đức D.K dạy các đệ tử đều bị xóa bỏ, chỉ trừ một vài phương pháp mà Ngài thấy rằng vô hại cho người đọc. Trong quyển Superconsciousness through meditation của tác giả Douglas M. Baker có hướng dẫn một vài phương pháp thở đơn giản mà chúng tôi nghĩ rằng có thể sử dụng được và hữu ích cho bạn đọc. Chúng tôi xin lược dịch và trình bày ở đây để các bạn tham khảo. Xin lưu ý chúng ta nên luôn cẩn thận và có trí phân biện trong khi thực hành. Quan trọng của phép thở là sự điều hòa, chậm rãi. Khi các bạn phát hiện có gì bất thường trong cơ thể thì ngừng thực hành vài ngày, xong hãy thực hành lại. Nếu sự bất thường kéo dài, bạn nên ngừng hẳn sự thực tập.
Pranayama trong Hatha Yoga là cả một bộ môn khoa học. Trong Pranayama, người ta phân chia chu kỳ thở thành ba phần: thở vào, giữ hơi thở (nín thở), và thở ra. Việc nín thở, tiếng Phạn gọi là Kumbhaka, có thể thực hiện sau khi hít vào hoặc sau khi thở ra, và có vai trò trọng yếu trong phép thở. Người ta thực hiện nín thở theo những tỉ lệ khác nhau, ban đầu ít, sau tăng dần lên. Cuối cùng thông qua Pranayama người ta có thể điều khiển sinh lực Prana theo ý mình.
Phương pháp thở bụng hay thở sâu của dưỡng sinh không liên quan gì đến Pranayama, chúng là một phương pháp thể dục tăng cường sức khỏe. Nó gia tăng lượng oxygen hít vào cơ thể, và cũng đồng thời gia tăng lượng Prana hấp thu, tuy nhiên nó không tác động chi đến luồng Prana. Ngược lại, phương pháp thở luân phiên từng lỗ mũi (alternate nostril breathing) có tác động lên luồng Prana ở một mức độ nào đó, nhưng công dụng chính của phương pháp thở nầy là tinh lọc các đường từ lực nadis, đặc biệt là hai vận hà chính Pingala và Ida, trong cơ thể, dọn đường cho sinh lực Prana lưu thông trong các vận hà nầy. Dĩ nhiên khi chúng ta thở bình thường thì sinh lực Prana lưu chuyển theo con đường bình thường tự nhiên của mình. Trong phép thở luân phiên từng lỗ mũi (không có giữ hơi thở lại) có tác dụng làm dịu tâm trí, có thể dùng để chuẩn bị cho giai đoạn tham thiền.
II. Phương pháp thở luân phiên từng lỗ mũi (Alternate Nostril Breath)
Chuẩn bị: Gấp ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải lại như hình 1. Ngón cái tì nhẹ trên lỗ mũi phải, ngón áp út trên lỗ mũi trái, thở ra nhẹ nhàng qua cả hai lỗ mũi.
Thở qua lỗ mũi trái: Ngón cái bít lỗ mũi phải lại, hít vào nhẹ nhàng và chầm chậm qua lỗ mũi trái. Xong dùng ngón áp út bít lỗ mũi trái lại (cả hai lỗ mũi lúc nầy đều đóng lại bằng hai ngón cái và áp út). Giữ hơi thở trong bao lâu mà bạn cảm thấy thoải mái và chịu được. Lúc đầu nên giữ ít, sau khi quen bạn hãy tăng dần lên.
Thở qua lỗ mũi phải: Buông ngón cái ra khỏi lỗ mũi phải, thở ra nhè nhẹ qua mũi phải (lỗ mũi trái vẫn đóng lại bởi ngón áp út). Sau khi thở ra, bạn bắt đầu hít vào qua mũi phải. Khi hít vào xong, bạn dùng ngón cái bít lỗ mũi phải lại, nín thở chừng nào mà bạn cảm thấy thoải mái. Cuối thời gian nín thở, bạn buông ngón áp út ra khỏi mũi trái, bắt đầu thở ra. Hai bước 2 và 3 trên tạo thành một nhịp thở. Một buổi tham thiền bạn chỉ nên thực hành 5 nhịp thở luân phiên là đủ.
Trong khi thực hành bạn nên đếm hơi thở, giữ chu kỳ hít vào, nín thở, và thở ra theo một tỉ lệ cố định. Lý tưởng nhất là tỉ lệ 1:4:2, nghĩa là nếu bạn hít vào 4 nhịp đếm, bạn giữ hơi thở 16 nhịp, và thở ra 8 nhịp. Bạn lưu ý lúc nào nhịp thở ra cũng dài hơn khi hít vào. Lúc bắt đầu thực tập tỉ lệ nên là 1:1:1, sau tăng lên lên 1:2:1, và cuối cùng là 1:4:2.
Khi đã thuần thục, bạn có thể kết hợp phép thở trên với phương pháp hình dung (visualization). Khi hít vào qua mũi trái, bạn tưởng tượng một luồng sinh lực Prana màu trắng đi vào cơ thể qua mũi trái dọc theo cột sống bên trái. Khi nín thở bạn tập trung ánh sáng trắng đó tại luân xa đáy cột sống. Khi thở ra qua mũi phải bạn tưởng tượng ánh sáng trắng đi từ luân xa đáy cột sống theo đường vận hà trung tâm (Sushumna) đến luân xa đỉnh đầu. Khi hít vào qua mũi phải bạn lại tưởng tượng luồng ánh sáng trắng đi vào qua mũi phải dọc theo cột sống phải đến luân xa đáy cột sống. Kế đến giữ hơi thở và tưởng tượng ánh sáng trắng tại luân xa đáy cột sống. Khi thở ra qua mũi trái tưởng tượng ánh sáng trắng đi lên theo vận hà sushumna đến luân xa đỉnh đầu
III. Phép thở toàn diện (Full Breath)
Bạn hít vào, tưởng tượng trên đầu một quả cầu ánh sáng trắng chói rực, khoảng 15cm trên đỉnh đầu. Giữ hơi thở lại và vẫn hình dung trong trí quả cầu ánh sáng trắng đó. Kế đến thở ra và tưởng tượng một luồng ánh sáng trắng từ quả cầu đi xuống đỉnh đầu, qua luân xa đỉnh đầu và bao trùm cơ thể. Xong bạn tiếp tục hít vào. Thực hành 5 lần như thế trong một buổi tham thiền. Chu kỳ hít vào, nín thở, thở ra lúc đầu là 1:2:1 hoặc 1:2:2, sau đó tăng dần lên 1:4:2. Ví dụ bạn hít vào 4 nhịp đếm, nín 8 nhịp, xong thở ra 4 (1:2:1) hoặc 8 nhịp (1:2:2)
Bạn có thể kết hợp xướng linh từ OM trong khi thở ra và tưởng tượng luồng ánh sáng tuôn xuống từ quả cầu ánh sáng trắng trên đỉnh đầu.
Điểm đạo
Không ai có thể được điểm đạo lần nhứ nhất và thứ hai trong cùng một kiếp được
Điểm đạo là một vấn đề nhạy cảm, bởi vì chỉ khi nào chúng ta vượt qua nó chúng ta mới khả dĩ viết về nó được. Hội Thần Triết từng bị đức D.K phê phán vì những tuyên bố đầy ảo tưởng về các điểm đạo đồ của mình. Ngài nói không một điểm đạo đồ (initiate) thực sự nào lại được phép tự nhận mình như thế trước công chúng. Quả vị của mỗi điểm đạo đồ phải được minh chứng trong thực tiển, trong các việc làm hằng ngày, trong ảnh hưởng mà y thể hiện lên thế giới xung quanh. Nó phải được thể hiện bằng một cuộc đời phụng sự hiến dâng, vô kỷ. Và điều quan trọng cần nhớ là các điểm đạo đồ không chỉ hiện diện trong giới tâm linh, các nhà huyền linh học, mà họ hiện diện trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Đức D.K có nêu cho chúng ta một vài ví dụ về các vĩ nhân trong lịch sự nhân loại là các điểm đạo đồ như Winston Churchill, Franklin D. Roosevelt, Vợ chồng Curies, Isaac Newton, Copernicus, Galileo, Harvey…
Trong hội Thần Triết Ông C.W. Leadbeater là người viết nhiều và rõ nhất về các cuộc điểm đạo trong quyển Chân sư và Thánh đạo (The Master and the Path) xuất bản năm 1925. Tuy nhiên, có nhiều điểm khác biệt quan trọng giữa những gì Ông C.W. Leadebeater viết và những gì đức D.K dạy, và chúng ta phải lưu ý những điều nầy. Về quyển sách Chân sư và Thánh đạo đức D.K viết như sau:
Có thể sẽ hữu ích nếu tôi nêu ra một hoặc hai khía cạnh mới của của cái Chân lý căn bản mà tôi đã truyền bá đến thế gian. Nếu như sau nầy có những nhóm huyền môn khác cũng đưa ra những khía cạnh đó của giáo lý là bởi vì những người đó hoặc đã đọc các sách của tôi mà bà A.A. Bailey đã viết ra thay cho tôi, hoặc là họ liên hệ trực tiếp và một cách có ý thức với Đạo viện của tôi.
Một ví dụ về trường hợp nầy là quyển Chân sư và Thánh đạo của Ông C.W. Leadbeater được xuất bản sau quyển sách của tôi, quyển Điểm đạo trong Nhân loại và Thái dương. Nếu so sánh những giáo lý được đưa ra trong đó với giáo lý của tôi, bạn sẽ thấy rõ ràng rằng nó xuất hiện trễ hơn. Tôi nêu ra điều nầy không nhằm mục đích tranh luận giữa các nhóm huyền môn hoặc trong khối quần chúng quan tâm, mà chỉ nêu ra một sự thực hiển nhiên và cũng để bảo vệ công việc đặc biệt nầy của Thánh đoàn. Tôi muốn lưu ý các bạn rằng các giáo lý do tôi đưa ra, ví dụ như trong quyển Luận về Chánh thuật hoặc Luận về Bảy Cung được tuần tự đưa ra trong một quãng thời gian kéo dài nhiều năm trước khi sách được xuất bản …
Ngài viết ra những điều nầy bởi vì nhiều người nhận thấy có nhiều chi tiết tương đồng giữa quyển Chân sư và Thánh đạo của C.W. Leadbeater và quyển Điểm đạo trong Nhân loại và Thái dương của Ngài. Trong quyển sách viết về tiểu sử của Krishnamurti “The years of awakening“, Mary Lutyens có kể rằng trong chốn riêng tư Ông Leadbeater có nghiên cứu và bàn luận một cách hứng thú về các sách của bà A.A. Bailey xuất bản vào thời điểm đó. Trong quyển Chân sư và Thánh đạo Ông C.W. Leadbeater có kể lại sơ lược diễn tiến của hai cuộc điểm đạo lần thứ nhất và thứ hai của Krishnamurti. Nhiều người thắc mắc không biết những gì Ông C.W. Leadbeater kể có thật hay không hay chỉ là những chuyện tưởng tượng. Sau khi Krishnamurti giải tán hội Ngôi Sao Phương Đông và ra khỏi hội Thông Thiên học, người ta lại càng hoài nghi hơn về tính xác thực của những gì mà Hội Thông Thiên học tuyên bố: về các Chân sư, đường đạo, điểm đạo… Thật ra nếu các bạn đọc lại tiểu sử của Krishnamurti (Mary Lutyens viết thành ba quyển, nhất là quyển đầu tiên The years of awakening) bạn sẽ thấy những hành động đó của Krishnamurti chỉ là những phản ứng bất khả kháng trước những hành động của một số vị trong hội Thần Triết. Trước đó, Ông vẫn diễn thuyết và nói về Chân sư, về con đường đệ tử, về điểm đạo. Nhưng khi một số người trong hội Thần Triết đi quá xa, Ông đã khóc vì, như lời Ông nói, họ đã kéo những điều thiêng liêng nhất vào bùn nhơ:
[Wedgwood] đang phân bố quả vị điểm đạo cho mọi người … Điểm đạo và những chuyện thiêng liêng giờ trở thành trò đùa … Tôi tin vào tất cả những điều nầy hoàn toàn nên việc những điều thiêng liêng bị lôi vào bùn nhơ đã làm tôi khóc…”.
Trong quyển Krishnamurti, The years of awakening Krishnamurti có kể lại lễ điểm đạo lần thứ nhất của mình (Chương 4: The First Initiation), nội dung cũng gần tương tự như trong quyển The Master and The Path. Tuy nhiên, nếu những gì được viết ra trong quyển Vị Chân sư III (The Initiate in the Dark Cycle) là đúng sự thực, thì Krishnamurti đã đạt đến quả vị La Hán (Arhat) trong kiếp hiện tại, thì việc Ông lần lượt được điểm đạo lần thứ nhất, thứ hai, cho đến lần thứ tư trong cùng một kiếp sống là chuyện khá lạ lùng và đáng ngạc nhiên. Đó là một lễ điểm đạo diễn ra thực sự hay một diễn biến lập lại trong tâm thức (recapitulation in consciousness), chúng ta không rõ. Tuy nhiên nếu chúng ta tin tưởng những gì đức D.K giảng dạy trong các sách của Ngài thì giữa lần điểm đạo thứ nhứt và thứ nhì là một thời gian rất lâu, trải qua nhiều kiếp sống. Thành ra không ai có thể được điểm đạo lần nhứ nhất và thứ hai trong cùng một kiếp được:
Giữa hai kỳ điểm đạo thứ nhất và thứ hai là thời gian bao gồm nhiều kiếp sống. Người đạo đồ cần nhiều kiếp sống để có thể kiểm soát hoàn toàn thể tình cảm của mình và sẵn sàng cho kỳ điểm đạo kế tiếp. Chúng ta thấy một sự tương đồng đáng chú ý trong cuộc đời của Điểm đạo đồ Jesus như được kể lại trong Kinh thánh Tân Ước. Nhiều năm trải qua kể từ khi Jesus được giáng sinh cho đến khi được làm phép rửa tội, nhưng ba bước cuối cùng chỉ xảy ra trong ba năm. Một khi người đạo đồ được điểm đạo lần thứ hai thì sự tiến bộ sẽ xảy ra nhanh chóng hơn. Các cuộc điểm đạo lần thứ ba và thứ tư có thể xảy trong cùng một kiếp, hay liên tiếp trong các kiếp tiếp theo.
Trong đoạn trên đức D.K nói rất rõ, thời gian lâu nhất giữa các kỳ điểm đạo là giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, có thể là 7 đến 20 kiếp sống (theo suy đoán của chúng tôi). Thành ra cuộc điểm đạo lần thứ hai có thể xem là cuộc điểm đạo khó nhất, nó đòi hỏi sự làm chủ hoàn toàn thể tình cảm, lọai trừ gần hết mọi huyễn cảm (glamours). Sau đó người đạo đồ có thể được điểm đạo lần thứ ba, tư và thứ năm trong thời gian ngắn. Điều nầy hoàn toàn khác hẳn những gì mà Ông C.W. Leadbeater giảng dạy. Ông C.W. Leadbeater nói rằng giữa lần điểm đạo thứ tư và thứ năm trung bình là bảy kiếp sống, trong khi đức D.K dạy rằng từ lần điểm đạo thứ hai đến thứ năm người đạo đồ có thể được điểm đạo trong cùng một kiếp sống hoặc trong các kiếp kế tiếp nhau.
Cuốc điểm đạo lần thứ nhất thuật ngữ Phật giáo gọi là Tu đà hườn (Solapatti), Tiếng Hán Việt dịch là Nhập lưu, hàm ý người đã bước vào Con đường Điểm đạo (Path of Initiation). Ở lần Điểm đạo thứ nhất sự kiểm soát của Chơn Ngã đối với xác thân đã đạt đến một mức độ cao. Người đạo đồ đã kiểm soát và làm chủ các “tội lỗi của xác thịt” như cách mà người Công giáo gọi. Các thói tham ăn, tục uống, dâm dục không còn lôi cuốn y nữa. Con người không còn tuân theo những đòi hỏi của tinh linh xác thân (physical elemental). Sự kiểm soát đã hoàn tất và sự lôi cuốn quyến rũ của xác thân đã không còn. Người đạo đồ đã đạt đến một thái độ tự nguyện tuân theo Chơn Ngã, và sự tự nguyện nầy phải rất mạnh mẽ. Đường thông thương giữa phàm ngã và chơn ngã đã mở rộng, và việc tuân lệnh của xác thân đối với chơn ngã xảy ra hoàn toàn tự động.
Việc tất cả các Điểm đạo đồ chưa đáp ứng được tiêu chuẩn nầy có thể do nhiều lý do, nhưng cái âm điệu họ xướng lên đều hướng về sự ngay thẳng chính trực. Họ nhận thức một cách thành thực và công khai những bất cập và thiếu sót của họ, và thể hiện nỗ lực để đạt đến cái tiêu chuẩn cao nhất, dẫu rằng có thể họ chưa đạt đến sự hoàn thiện. Điểm đạo đồ có thể, và đã sa ngã, và do đó bị luật nhân quả điều chỉnh. Khi sa ngã, họ có thể gây tổn thương đến nhóm, và do đó bị luật nhân quả tác động tác động điều chỉnh, và họ phải chuộc lại những lỗi lầm nầy trong việc phụng sự kéo dài sau nầy, trong khi các thành viên của nhóm, ngay cả khi không có ý thức, áp dụng điều luật nầy. Sự tiến bộ của nhóm sẽ bị trở ngại và trì hoãn trầm trọng, họ phải tốn nhiều thời gian để giải toả nghiệp quả với những cá nhân bị tổn thương.
Việc một người trở thành một điểm đạo đồ khiến y trở thành vận hà cho mãnh lực mạnh mẽ hơn. Do đó mỗi sự sa ngã, chệch hướng đều có những hậu quả tai hại hơn so với những người kém tiến hoá hơn y, và như thế sự trừng phạt và nghiệp quả cũng tương ứng như thế. Chắc chắn là y phải hết nghiệp quả trước khi được phép tiến bước trên đường đạo. Thế còn thái độ của tập thể mà y đã làm tổn thương thì sao? Nó đòi hỏi nhóm phải nhận thức đúng đắn về mức độ lỗi lầm, một sự chấp nhận khôn ngoan về các sự kiện, tránh những phê phán thiếu tình huynh đệ, và hãy ban rãi tình thương lên người anh em phạm lỗi. Tất cả những điều nầy phải công thêm hành động chứng minh cho công chúng thấy rằng những tội lỗi và vi phạm luật đó không hề được bỏ qua hay dung thứ. Thêm vào đó, nhóm phải giúp cho huynh đệ sai phạm nhận biết được lỗi đã phạm, trả đi phần nghiệp quả báo ứng, và sau đó, khi tất cả đã hoàn tất, khôi phục lại vị trí của y trong sự quan tâm và trân trọng của tập thể.
The very fact that a man is an initiate, and therefore the medium for force of a greatly increased kind, makes his lapses from the straight path to have more powerful effects than is the case with a less advanced man; his retribution and punishment will be equally greater. Inevitably he must pay the price before he is allowed to proceed further upon the Way. As for the group he injures, what should their attitude be? A recognition of the gravity of the error, a wise acceptance of the facts in the case, a refraining from unbrotherly criticism, and a pouring out of love upon the sinning brother: all this, coupled with such action as will make clear to the onlooking general public that such sins and infringements of the law are not condoned. To this must be added an attitude of mind within the group concerned which will lead them (whilst taking firm action) to help the mistaken brother to see his error, to work out the retributive karma, and then to reinstate him [84] in their regard and respect when due amends have been made.
Tất cả mọi người không phát triển tuyệt đối theo cùng một đường hướng giống nhau hoặc tương tự nhau, do đó không thể đưa ra những qui luật cứng nhắc về diễn trình của mỗi kỳ điểm đạo, hay là các luân xa nào sẽ được kích hoạt, hoặc những viễn ảnh nào sẽ được ghi nhận. Tất cả phụ thuộc vào cung của người điểm đạo đồ, sự phát triển của y theo một chiều hướng nào đó, nghiệp quả cá nhân của y, nhu cầu cấp bách của thời đại… Tuy nhiên thông thường ở kỳ điểm đạo thứ nhất luân xa tim là luân xa được kích hoạt với mục đích tăng cường sự kiểm soát thể tình cảm, và gia tăng năng lực phụng sự nhân loại. Sau kỳ điểm đạo nầy người đạo đồ được chỉ dạy chủ yếu về cõi trung giới; y phải ổn định thể tình cảm của mình và học cách hoạt động trên cõi trung giới một cách dễ dàng y như là khi hoạt động trên cõi trần. Y được cho tiếp xúc với các thiên thần trên cõi trung giới, học cách kđiều khiển các tinh linh cõi nầy. Y phải hoạt động một cách dễ dàng trên những phân cảnh thấp của cõi nầy; giá trị và chất lượng của những hoạt động của y trên cõi trần cũng tang lên đáng kể. Ở kỳ điểm đạo thứ nhất y bước ra khỏi Phòng Học Tập (Hall of Learning) để bước vào Phòng Minh Triết. (Hall of Wisdom) Trong giai đoạn nầy y tập trung vào phát triển thể tình cảm mặc dầu thể trí của y cũng phát triển đều đặn.
Ngài nhấn mạnh, bởi vì họ là điểm đạo đồ nên nếu họ sa ngã, nghiệp quả của họ nặng nề hơn nhiều so với người thường, bởi vì họ đã được đặc ân tiếp cận với những mãnh lực mạnh mẽ, và họ đã được truyền dạy những hiểu biết về các định luật của Tạo hóa.
Trong quyển sách đầu tiên của đức D.K (viết qua trung gian của bà A.A. Bailey)– quyển Điểm đạo trong Nhân loại và Thái dương hệ–Ngài tiết lộ cho thế gian những sự thật huyền nhiệm của các lễ điểm đạo, về Thánh đoàn, về con đường đệ tử. Chủ yếu chính của quyển sách là nhằm đính chính lại những sai lạc phổ biến trước đó và cung cấp cho công chúng một cái nhìn đúng đắn về Thánh đoàn. Trước đó Bà H.P. Blavatsky có tiết lộ cho thế gian biết về Thánh đoàn nhưng, như lời Ngài nói, Bà trình bày không mạch lạc và không theo một trình tự nào cả.
Các Nhà Thần triết về sau lại diễn đạt giáo lý trên sai lạc và đã phạm một số sai lầm cơ bản:
Những điểm sai lầm của hội Thần Triết mà Ngài chỉ rõ ra là:
1. Họ đã mô tả các Chân sư với đặc tính không hề sai, những điều này không thể có được bởi vì chính các Chân sư cũng đang tiến hóa.
2. Giáo huấn họ đưa ra đã cổ vũ cho một sự chăm chú vào việc phát triển vị ngã, và quan tâm quá nhiều đến sự khai mở và giải thoát cá nhân.
3. Những người được nêu lên như là các điểm đạo đồ và các cao đồ thì hoàn toàn là những người tầm thường, không có ảnh hưởng gì bên ngoài Hội Thần Triết.
4. Người ta đã nhấn mạnh đến lòng sùng kính hoàn toàn đối với các Chân sư — tức là tôn sùng khía cạnh phàm ngã của các Ngài,
5. Họ cũng cho thấy rằng các Chân sư đang can thiệp vào sinh hoạt tổ chức của nhiều nhóm huyền bí khác nhau đã tự xưng là đang làm việc dưới sự điều hành của các Ngài
Đức D.K nhấn mạnh rằng Hội Thần Triết đã sai lầm khi cho rằng các Chân sư tuyệt đối không hề sai. Ngài nói điều nầy không thể có được (impossible infalliblity), bởi vì bản thân các Chân sư cũng đang tiến hóa. Có lẽ chúng ta chúng ta nên suy gẫm kỹ để hiểu đúng điều nầy. Khi đạt đến lần điểm đạo thứ năm, con người đã đạt đến mức hoàn thiện mục tiêu của hệ địa cầu (Earth Scheme):
và trình độ của các Ngài so với chúng ta cũng giống như trình độ của chúng ta hiện nay so với trình độ tiến hóa của một con thú. Tuy nhiên, điều nầy không có nghĩa là các Vị Chân Sư không hề sai. Chữ infallibility hàm ý các Ngài hoạch định, thực hiện những công việc không phải lúc nào đúng như các Ngài tiên liệu, mong muốn, bởi vì những trở lực, bởi vì tự do ý chí của nhân loại. Ví dụ đức D.K thử nghiệm tổ chức các đệ tử của Ngài thành nhóm 24 đệ tử, nhưng cuộc thử nghiệm, như Ngài nói, đã là một thất bại… Chứ ở cấp bậc Chân Sư các Ngài không thể làm những điều sai lầm xấu xa được. Đức D.K cũng nói rằng ngay cả bản thân đức Christ cũng không thể biết trước được phản ứng của nhân loại bởi vì nhân loại có tự do ý chí của mình, và các Ngài không thể can thiệp tác động lên sự tự do ý chí đó. Do đó, có những kế hoạch của Thánh đoàn không xảy như các Ngài tiên liệu, mặc dầu chung cuộc Thiên Cơ sẽ được thực hiện.
Trong bài trước, chúng tôi có trích một đoạn trong Initiation: Human and Solar, trong đó Ngài nói các khả năng các vị điểm đạo đồ sa ngã, và thực tế đã xảy ra một số trường hợp như vậy:
Điểm đạo đồ có thể, và đã sa ngã, và do đó bị luật nhân quả điều chỉnh. Khi sa ngã, họ có thể gây tổn thương đến nhóm, và do đó bị luật nhân quả tác động tác động điều chỉnh, và họ phải chuộc lại những lỗi lầm nầy trong việc phụng sự kéo dài sau nầy, trong khi các thành viên của nhóm, ngay cả khi không có ý thức, áp dụng điều luật nầy. Sự tiến bộ của nhóm sẽ bị trở ngại và trì hoãn trầm trọng, họ phải tốn nhiều thời gian để giải toả nghiệp quả với những cá nhân bị tổn thương.
Ngài nhấn mạnh, bởi vì họ là điểm đạo đồ nên nếu họ sa ngã, nghiệp quả của họ nặng nề hơn nhiều so với người thường, bởi vì họ đã được đặc ân tiếp cận với những mãnh lực mạnh mẽ, và họ đã được truyền dạy những hiểu biết về các định luật của Tạo hóa. Sự sa ngã có thể xảy ra trong hàng ngũ các điểm đạo đồ bậc 1 và bậc 2. Ngài nói các cuộc điểm đạo lần 1 và lần 2 là các Cuộc Điểm Đạo ở Ngưỡng Cửa (Initiations of the Threshold), và do đức Christ chủ trì điểm đạo. Các điểm đạo đồ bậc 1 và 2 được xem là các điểm đạo đồ tập sự (Probationary Initiates). Ở kỳ điểm đạo lần thứ ba chính đức Sanat Kumara chủ trì lễ điểm đạo, và người điểm đạo đồ khi đó được coi là Điểm đạo đồ chính thức.
Trong quyển Đường đạo trong kỷ nguyên mới, quyển II, Ngài có kể cho các đệ tử nghe về một kiếp trước của bà H.P. Blavatsky, khi là Cagliostro (2-6-1743 – 26-8-1795) tại Ý do một sai sót của mình đã gây tác động lớn Ashram của Chân sư Morya và của cả Thánh đoàn trong một thời gian dài, và chỉ mới phai lạt dần gần đây trong thế kỷ 20:
Cần nhớ rằng không một cuộc tấn công (attack) nào lên các Ashram của các Chân sư xuất phát từ cá nhân cả. Những nỗ lực tương đối yếu ớt của một cá nhân không đủ sức tác động lên đời sống hữu thức của các Ashram. Điều xấu xa phải xuất phát từ một nhóm, tuy rằng nó tác động thông qua trung gian một đệ tử. Đó là một vấn đề hoàn toàn khác. Người đệ tử có thể làm điều nầy do sử dụng sai lạc hạ trí với quan năng lý luận của mình, biến đen thành dường như là trắng và chứng tỏ rằng những thiện ý lại chịu trách nhiệm cho những năng lực phân phối cái xấu.Hoặc là người đệ tử do bị ảnh hưởng của huyễn cảm (glamours) khiến cho điều xấu len vào, miễn là cái xấu đó xuất phát từ một nhóm. Ví dụ những tác hại mà H.P.B gây lên Ashram của Chân sư Morya trong kiếp trước của mình khi là Cagliostro chỉ mới phai nhạt gần đây, và ảnh hưởng của nó tác động lên cả Thánh đoàn. Các tác hại nhắm vào Ashram của tôi dễ bị hóa giải hơn, bởi vì Ashram [của tôi] có khả năng đẩy lùi cái xấu. Các cuộc tấn công lên Ashram [cung 2] dễ bị hóa giải bằng tinh thương và hiểu biết, điều khó thực hiện với một Ashram cung 1.
Ngày 27 tháng 12 năm 1789, Cagliostro bị bắt và giam cầm tại Castel Sant’Angelo. Sau đó Ông bị tuyên án tử hình vì là thành viên của hội Tam điểm. Sau đó đức Giáo hoàng thay đổi bản án, biến thành tù chung thân và giam cầm Ông tại Castel Sant’Angelo. Ông tìm cách vượt ngục, bị chuyển đến Fortress of San Leo, và chết sau đó ít lâu. Bạn cũng lưu ý một điều lạ lùng là Ngài dùng His earlier incarnation thay vì Her earlier incarnation để viết về bà H.P.B. Có vài trường hợp trong các sách của Ngài sử dụng pronoun He hay His khi nói về bà H.P. Blavatsky. Chúng tôi phỏng đoán có thể hiện nay bà H.P.B đã tái sinh dưới một hình thể người nam nên Ngài mới dùng ngôi ba nam, hoặc có thể còn có các nguyên nhân bí ẩn khác…
Dường như cuộc đời của các điểm đạo đồ luôn luôn là các cuộc đời đầy sóng gió. Có lẽ họ phải trả nhanh những nghiệp quả xấu của vô vàn kiếp trước đó, trước khi đạt đến bậc giải thoát. Ví dụ như trường hợp Đức Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, Cagliostro, Chân sư Người Anh trong tiền kiếp là Thomas More bị chém đầu trong thế kỷ 16, Giordano Bruno (tiền kiếp của bà Annie Besant) bị hỏa thiêu bởi tòa án dị giáo…










