Tâm ý:
Tịnh hay bất tịnh
Tri hay thông tri
Hoặc hóa duyên hữu sự
Hoặc tự duyên tư trì
Kỳ 1 - Dẫn nhập
Đã từ lâu, tự tính con người không hẳn là Phật, mà là Ma - Phật cùng tồn tại.
Trên con đường tu học để tiến bộ, tại sao nên chọn Phật mà không nên chọn Ma. Vì rằng, Ma cũng là con của Đức Thượng Đế Tối Cao (sau đây gọi bằng các danh từ: Cha/ Đấng Sáng Tạo/ Đức Thượng Đế). Ma cũng làm việc cho Cha và cũng sở hữu các sức mạnh, quyền năng rất tốt. So với người đồng cấp tu Phật, thì pháp lực của Ma sẽ mạnh hơn.
Lý do nằm ở chỗ, sự tự do sáng tạo của Phật và Ma khác nhau. Trong khi Ma bị gông cùm, phong ấn, tù đày phần lớn thời gian, và công việc chỉ được Cha dùng đến khi cần cho các công cuộc nhất định, ví như công cuộc đại tái tạo khi chuyển thế từ thời kỳ mạt kiếp Hạ nguyên sang thời kỳ thánh đức Thượng nguyên. Đối với Phật, Cha cho tu học, thử thách chỉ trong những đoạn thời gian nhất định, còn lại Cha cho hưởng an lạc và ký thác công cuộc sáng tạo mà Cha vĩnh hằng theo đuổi.
Tu Phật khổ trong lúc học, tu Ma khổ ải triển miên.
Vũ trụ cần phát triển để làm động lực cho sự tồn tại của mình. Do đó, Cha sẽ không cho giới học Phật nghỉ ngơi, thanh thản luôn luôn. Bởi vì, sự sao nhãng của các con Cha sẽ làm vũ trụ chậm phát triển, ngừng phát triển. Vũ trụ bị thu hẹp là mong muốn của Ma Vương, từ thuở Thiên Ngoại Ma Vương dụ dỗ các con của Cha ăn trái cấm.
Cha tiên tri và biết được điều xảy ra trong vũ trụ mà Cha cai quản, nhưng vì sự phát triển của Vũ trụ, Cha đã để cho các con của mình nếm trái cấm. Từ đó các con bị nhiễm trần, các con phải chịu khó tu học hòng thoát khỏi sự ràng buộc của Ma Vương.
Mặc dù Thiên Ngoại Ma không thuộc sự cai quản của Cha, nhưng con cái của chúng, sinh ra trong Vũ trụ mà Cha cai quản, nên Cha biết rành chúng.

PHẦN 2. SƠ LƯỢC VỀ KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU
Con của Cha, tồn tại ở hình dáng con người (hiện đại) đang am hiểu và sử dụng không gian Vũ trụ mà Cha sáng tạo trong phạm vi rất hạn hẹp.
Con người chỉ có thể hiểu biết và sử dụng không gian 3 chiều (3D) mà không hề biết sự tồn tại của các chiều không gian cao hơn nữa.
Không gian vũ trụ này không phải là bất biến, bởi vì nó đang được mở rộng trong từng sát na, với sự góp công của hàng tỉ sinh linh tồn tại trong nó. Đánh bại Thiên Ma, Thiên Ngoại Ma, từng bước khống chế không gian loạn lưu, gieo mầm hỗn độn và diễn sinh không gian là công việc của các Bậc Đại Năng điều hành, với sự góp sức của hàng tỉ tỉ trường năng lượng tích cực của các sinh linh khác.
Không gian vũ trụ không chỉ là không gian 3D, điều đó may mắn sao đã được khoa học chứng minh (có nghĩa rằng có nhiều người tin vào điều đó). Nhưng có chút không may, nó lại ràng buộc lòng tin con người vào điều chỉ có thể thấy được bằng 2 con mắt. Trong khi vũ trụ là không gian đa chiều.

Tính đến chiều thứ 7:
- Chiều không gian thứ 4 là chiều tồn tại của các vong linh, thần linh. Không gian 4 chiều (4D) là một nấc trung gian, nó lệ thuộc rất nhiều vào không gian 3D để tồn tại. Do đó, các thực thể tồn tại ở chiều không gian nay cần được con người xây dựng những công trình như đền chùa miếu nhất định để được an trụ.
- Không gian 5D tạo bởi từ không gian 3D và chiều thứ 4, chiều thứ 5. Các động thiên, xứ sở thần tiên được xây dựng trong từ không gian 5D trở đi. Không gian 5 chiều (5D) là không gian tồn tại của vị Thánh và bậc tương đương.
- Không gian 6 chiều (6D) tạo bởi từ không gian 4D và chiều thứ 5, thứ 6. Không gian 6D là không gian tồn tại của các vị Bồ Tát và các bậc tương đương.
- Không gian 7 chiều (7D) tạo bởi từ không gian 5D và chiều thứ 6, thứ 7. Không gian 7D là không gian tồn tại của các vị Phật và các bậc tương đương.
Không gian 3D là không gian căn bản, các không gian đa chiều mặc dù siêu việt nhưng cơ bản phải neo trụ vào các vị trí trong không gian 3D. Các vị trí đó đã được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: tiết điểm không gian, cánh cổng không gian, đường hầm không gian…
Người ta có thể tìm thấy không gian 4D để hầu hết các điểm của không gian 3D. Còn không gian 5D trở lên thì không hẳn vậy. Những vị trí trong không gian 3D xuất hiện cánh cổng tương thông với không gian chiều thứ 5 (và hơn nữa) đều là những nơi linh thiêng. Những nơi mà sách phong thủy xưa gọi là long huyệt có thể là những điểm như vậy. Tại các vị trí đó, con người trong không gian vật lý có cơ hội giao tiếp với các thực thể trong các chiều không gian đa chiều. Vì thế, những vị trí đó thường xảy ra tranh chấp giữa hai thế lực Phật - Ma. Người không có sự linh mẫn, khi giao tiếp với thực thể trong chiều không gian đa chiều bậc cao vì vậy dễ mắc sai lầm khi thực thể đó là thành phần thuộc Ma giới.
Cho nên sách nói, khi không có sự dẫn dắt của chân sư, việc lần mò, tự tìm kiếm cơ hội giao tiếp với thế giới vô hình (cũng là thế giới của các không gian đa chiều bậc cao) là một điều nguy hiểm.
Vậy liệu chúng ta, những con người trong không gian vật lý, có khả năng nình thấy không gian chiều thứ 4 trở lên không?

PHẦN 3. NHÌN THẤY KHÔNG GIAN 4D TRỞ LÊN
Có rất nhiều trước tác nói về sự tồn tại của vong hồn, thần linh. Xưa nay xảy ra nhiều tình huống mà người ta khẳng định là quan sát được sự tồn tại của các thực thể đó. Cơ bản có thể chia thành 2 loại tình huống.
Tình huống khoa học:
- Sử dụng máy ảnh, máy quay phim, vô tình ghi lại được hình ảnh các vong linh, thần linh.
Tình huống phi khoa học như:
- Nhìn thấy trong lúc mộng mị;
- Nhìn thấy khi trải qua kinh nghiệm cận tử;
- Những người tu đạo nhìn thấy bằng việc sử dụng con mắt thứ 3.
Những tình huốn phi khoa học tổng kết lại 1 điều rằng, con người có khả năng nhìn thấy sinh linh tồn tại ở các chiều không gian từ 4 chiều trở lên. Tuy nhiên, hình thức chủ động và thụ động là hoàn toàn khác nhau. Đa phần các tình huống kinh nghiệm kể lại đều là thụ động.
Thiền gia đây đó nói rằng, mở được con mắt thứ 3 sẽ có khả năng nhìn thấy thần linh, tiên, Phật… Điều đó là hữu lý, bởi vì, con mắt thứ 3 (còn được gọi là Thần Nhãn) được Đấng Sáng Tạo tạo ra với mục đích thiêng liêng và có rất nhiều chức năng. Người thế giới 3D không tiếp cận được với không gian từ chiều thứ 4 thường gọi đó là pháp thuật, quyền năng…
Đối với tình huống khoa học, bằng một cơ chế phù hợp nào đó, khi thiết bị ghi nhận ánh sáng và vẽ lại thông tin, ánh sáng tại các chiều không gian từ 4 trở lên đã được ghi lại. Vì vậy, khi trả lại thông tin ghi nhận bằng hình ảnh, người ta phát hiện ra trong khung hình có những hình ảnh mà lúc trước không hề nhìn thấy trong không gian 3D.
Như vậy, từ hai tình huống khoa học và phi khoa học đều cho thấy, nhìn thấy không gian từ chiều thứ 4 trở lên là hoàn toàn có thể.
Nhưng tại sao trong các câu chuyện kể của dân gian, trong các kinh sách có lâu năm nói thật nhiều những câu chuyện về thần thánh mà người hiện đại lại cảm thấy mờ mịt với các vấn đề đó. Dần dần họ cho rằng chuyện thần thánh chỉ là trí tưởng tượng.
Thực ra, điều này liên quan đến đặc tính liên kết giữa các chiều không gian theo các thời kỳ và sẽ được giới thiệu trong kỳ tiếp theo với tựa đề "Đặc tính liên kết giữa các chiều không gian theo các thời kỳ".

PHẦN 4. ĐẶC TÍNH LIÊN KẾT GIỮA CÁC CHIỀU KHÔNG GIAN THEO CÁC THỜI KỲ
Lực liên kết giữa các chiều không gian không là bất biến mà thay đổi theo từng thời kỳ, tùy thuộc cơ bản vào vị trí giữa vạn ngàn tinh tú trong Vũ trụ. Ứng với mỗi thời kỳ Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên, lực liên kết giữa các chiều không gian khác nhau. Đi cùng với sự biến đổi đó của Thiên đạo, thiên luật thay đổi thông suốt từ vô vi đến hữu vi, từ không gian đa chiều bậc cao đến không gian vật lý.
Để dễ dàng tiếp cận, lấy lý thuyết chiêm tinh học về 12 cung hoàng đạo để giải thích. Mười hai cung hoàng đạo được biết đến đó là: Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, Sư Tử, Xử Nữ, Thiên Bình, Thiên Yết, Nhân Mã, Ma Kết, Bảo Bình và Song Ngư. Mỗi kỷ nguyên ứng với một cung hoàng đạo dài khoảng 2160 năm, tùy thuộc vào kích thước các chòm sao và những yếu tố vô hình khác. Lực liên kết giữa các chiều không gian do đặc tính của các chòm sao quyết định. Có 3 tình huống:
- Lực phân kỳ: Là thời kỳ mà lực liên kết giữa các chiều không gian yếu đi, việc di chuyển từ chiều không gian càng cao xuống chiều càng thấp trở nên khó khăn;
- Lực trung hòa: Là thời kỳ mà lực liên kết giữa các chiều tương đối ổn định, không quá khó khăn, cũng không dễ dàng di chuyển giữa các chiều không gian;
- Lực hội tụ: Là thời kỳ mà lực liên kết giữa các chiều không gian mạnh lên, việc di chuyển qua lại giữa các chiều trở nên dễ dàng.

Điều này giải thích được vì sao có những giai đoạn lịch sử nghe toàn chuyện thần tiên xuất hiện, có giai đoạn thì chuyện thần tiên nghe thật xa xôi cứ như là trí tưởng tượng của con người mà thôi.
Thời kỳ Song Ngư, con người phát triển tính cá nhân và có xu hướng trọng vật chất, là một thời kỳ mà lực phân kỳ của các chiều không gian rất lớn. Lực phân kỳ thời kỳ này lớn đến mức người địa cầu đa số đã tin rằng, Thần Phật chỉ lại trí tưởng tượng của một nhóm người yếu đuối, đi tìm sự giúp của trí tưởng tượng, là một phép “A Quy” để tránh khổ đau.
Trước đó, thời kỳ Bạch Dương, con người phục tùng Thiên luật và trọng danh dự, là một thời kỳ liên kết có tính trung hòa, với sự thừa kế đặc tính hội tụ của thời kỳ Kim Ngưu. Thời kỳ này Thần Phật dễ dàng xuất hiện cạnh con người, và giúp cho con người địa cầu tất cả mọi mặt trong cuộc sống. Do vậy, nhiều kiến trúc cổ còn tồn tại thể hiện sự vĩ đại của nó, mà thời kỳ Song Ngư đỉnh cao cũng không thể nào so sánh được.
May thay, thời kỳ Bảo Bình tới đây, là một thời kỳ tính liên kết hội tụ rất mạnh mẽ, con người sẽ thức tỉnh tinh thần và phụng sự Đấng Sáng Tạo. Chư vị Phật Tiên sẽ sát cánh cùng con người địa cầu trong một kỷ nguyên đẹp đẽ, hiếm có trong lịch sử nhân loại.

Đặc tính liên kết của các chiều không gian theo thời kỳ là một trong những mấu chốt quan trọng để các bậc đại năng đưa ra các quyết định về chương trình công việc được sắp xếp cho hàng thiên niên kỷ (cũng được gọi là Thiên Cơ).
Với không gian đa chiều và đặc tính của nó, nhiều câu chuyện hoặc tâm linh hoặc khoa học về vượt thời gian, người ngoài hành tinh… được giải thích trong một trật tự logic. Để nói nhiều hơn về các điều đó, kỳ tới sẽ tiếp tục với chủ đề thời gian vĩnh hằng và mối quan hệ giữa thời gian và không gian đa chiều.

PHẦN 5. THỜI GIAN VẬT LÝ, THỜI GIAN VĨNH HẰNG VÀ THỜI GIAN ĐA CHIỀU
“Thời gian” là một thành tố kỳ lạ của vũ trụ, nó “chảy” thông suốt qua mọi chiều không gian và tác động lên tất cả các không gian mà nó chảy qua. Đâu đó trong vĩnh hằng thời gian là bất biến, tuy nhiên, qua các không gian đa chiều khác nhau, thời gian sẽ ngắn dài khác nhau.
Để dễ lý giải, ta xem có các “loại thời gian” sau đây:
- “Thời gian vật lý” là thời gian “chảy” trong không gian 3D.
- “Thời gian vĩnh hằng” là thời gian “chảy” trong toàn thể vũ trụ.
- “Thời gian đa chiều” là thời gian “chảy” trong không gian đa chiều (từ chiều thứ 4 trở lên).
Trong cùng một đại lượng “thời gian vĩnh hằng”, “thời gian vật lý” là lớn nhất và “thời gian đa chiều” bé dần trong chiều không gian lớn dần.
Giống như một phương trình nhiều biến số, khi số biến số càng nhiều, thì tác động của một biến số lên tổng thể càng bé đi.

Sách xưa cũng như sách nay, người tìm hiểu huyền học sẽ dễ dàng bắt gặp những khái niệm như “Một ngày ở trên trời bằng một năm ở trần gian”. Vì khi các thiền nhân xuất thể đi về các không gian bậc cao, họ lang thang trên đó 1 khoảng thời gian tưởng ngắn, nhưng khi quay về thì thời gian vật lý đã trôi qua thật dài. Câu nói trên là một đánh giá định tính của đặc tính thời gian. Có lẽ tới một thời điểm nào đó, bằng huyền môn hoặc bằng khoa học, người ta sẽ tính được một ngày trong không gian 7D dài bằng bao nhiêu ngày trong không gian 6D, một ngày trong không gian 6D dài bằng bao nhiêu ngày trong không gian 5D… một các định lượng.
Từ Thức khi lên tiên sống được một thời gian (có lẽ là đi vào động thiên ở không gian 5D), tới khi quay về đã nhiều năm trôi qua, trong làng không còn ai biết ông cả. Đây là một dẫn chứng của dân gian (trong vô vàn dẫn chứng) cho thấy tính biến thiên theo không gian của thời gian. Cũng trong chuyện Từ Thức lên tiên, dân gian biết đến cánh cổng đi vào tiên giới mà khi đi vào thì thấy, khi trở lại tìm không ra. Đó là vì sao?
Khoa học cũng cho rằng, khi thiết bị bay đạt vận tốc bay bằng hoặc hơn vận tốc ánh sáng, không gian và thời gian bị bóp méo và con người có thể du hành xuyên thời gian. Đây cũng là một giả thuyết của khoa học chứng minh cho tính biến thiên của thời gian. Tuy nhiên, có một sự nhầm lẫn ở đây. Sự nhầm lẫn đó là bởi vì, không phải thời gian bị thiết bị bay bóp méo, mà là thiết bị bay bằng cơ chế phù hợp đã đi vào chiều không gian bậc cao, do đó thời gian bay của thiết bị trong không gian này chênh lệch nhiều lần so với thời gian bay trong không gian vật lý. Vì vậy, khi họ dừng bay và trở ra không gian vật lý, thời gian đã trôi qua nhiều năm, và các nhà khoa học lầm tưởng đó là du hành xuyên thời gian.
Vậy thì, vì sao Từ Thức không tìm ra cánh cửa đi vào cõi tiên khi quay lại đúng chỗ vào năm xưa, và vì sao thiết bị bay đạt vận tốc ánh sáng lại có thể đi xuyên không gian? Đó là vì đặc tính của ánh sáng. Ánh sáng có những quyền năng đặc biệt và đó sẽ là chủ đề của kỳ tiếp theo.

PHẦN 6. ÁNH SÁNG VÀ QUYỀN NĂNG CỦA NÓ
Sự thay đổi của vật chất thay đổi rất nhiều theo các bậc không gian đa chiều khác nhau. Đi vào không gian đa chiều bậc càng cao, vật chất càng nhẹ đi. Con người kỷ Song Ngư là một điển hình về nặng thể vật chất, họ gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều tinh thần lực nếu muốn đi vào không gian bậc cao.
May thay, ánh sáng là một loại vật chất hiếm hoi có thể đi thông qua hầu hết các chiều không gian mà khó gặp cản trở. Ánh sáng có rất nhiều công năng, vì sự huyền diệu của nó, nên gọi các công năng đó là quyền năng.
Việc các thiết bị ghi hình vô tình chụp được các thực thể (người ta thường gọi là Thần, Ma…) chính là nhờ công năng của ánh sáng. Ánh sáng vượt qua không gian 3D, tiến nhập vào không gian đa chiều và ghi lại hình ảnh của các thực thể này. Sau đó nhờ thiết bị ghi hình mã hóa, trả lại cho con người thấy hình ảnh.

Con người trong kỳ Bảo Bình sẽ hướng nền khoa học vào công năng của ánh sáng, giúp họ có thể tìm cách di chuyển vào chiều không gian thứ 4 và hy vọng tiếp tục di chuyển vào các chiều không gian cao hơn nữa. Ánh sáng cũng tồn tại nhiều cung bậc khác nhau, thể hiện quyền năng của nó. Ví như ánh sáng Phật màu vàng có quyền năng vô cùng to lớn, nếu ánh sáng này được dùng như một lực phá hủy, thế giới sẽ nhanh chóng sụp đổ. Thế nên, Cha cho chư vị đức Phật sử dụng ánh sáng này chỉ khi họ thắng được tâm ma, đắc quả vị Phật để giúp ích cho chúng sinh, phụng sự đại công cuộc dưỡng dục sinh cơ, phát triển Vũ trụ mà Cha hằng định chí.
Công nghệ ánh sáng sẽ phát triển và bỏ công nghệ điện tử lại phía sau. Công nghệ ánh sáng là công nghệ đồng hành với không gian đa chiều, còn công nghệ điện tử có thể nói chỉ là công cụ bị hạn chế rất nhiều trong vật chất truyền dẫn, khiến nó có tính năng như không gian 2 chiều.
Đến cuối kỷ nguyên Song Ngư, người ta bắt đầu sử dụng tới các thiết bị 3D. Chúng ta liền thấy được thuộc tính của ánh sáng với những mô hình 3D, màn trình chiều ánh sáng 3D. Những công nghệ như công nghệ Laser cũng được chú trọng phát triển. Trong các bộ phim, câu chuyện viễn tưởng, người hiện đại đã bắt đầu có những cảm nhận về công nghệ ánh sáng và những quyền năng của nó. Trong bộ phim Cuộc chiến tranh giữa các vì sao, các thanh gươm ánh sáng là một ấn tượng đặc biệt… Đó là những tín hiệu của một sự khởi đầu về công nghệ ánh sáng mà luôn đi kèm với khai phá không gian.

Ánh sáng có quyền năng dịch chuyển xuyên không gian, dịch chuyển phi trọng lượng, và nhiều ứng dụng khác nữa. Các nền văn minh trong quá khứ thực ra đã biết sử dụng các quyền năng của ánh sáng:
- Dịch chuyển phi trọng lượng: Người Ai Cập cổ đại đã di chuyển những khối cự thạch bằng ánh sáng. Thời đó, người và thần sống được phép ở gần nhau. Các vị Thần Ai Cập đã dùng ánh sáng tinh thần để nhấc các tảng cự thạch, di chuyển lên thuyền bè chuyên chở, và lại dùng ánh sáng tinh thần để sắp xếp các tảng cự thạch lên Kim tự tháp. Quyền năng của ánh sáng làm cho các tảng cự thạch được thoát khỏi ràng buộc không gian vật lý 3D, nên chúng trở nên nhẹ đi khiến người ta dễ dàng di chuyển. Khi các vị thần dứt nguồn ánh sáng, các tảng cự thạch lại nặng nề như vốn có.
- Dịch chuyển xuyên không gian: Chuyện Từ Thức lên tiên của Việt Nam là một ví dụ về quyền năng dịch chuyển xuyên không gian của ánh sáng. Cánh cổng đi vào cõi tiên là một cánh cổng ánh sáng. Khi Từ Thức đi vào tiên cảnh, cánh cổng ánh sáng đang được mở ra. Đến khi chàng nhớ quê trở về, quay trở lại thì cánh cổng đã đóng và chàng đi không cách nào tìm lại được.
Kỷ nguyên mới sẽ là kỷ nguyên phát triển của công nghệ ánh sáng, bởi những nền tảng trong “chương trình công việc” của các Bậc Đại Năng hoàn tất cho cư dân quả địa cầu này trong một thời gian dài đã khá đầy đủ. Chúng ta có khoa học đã tiệm cận năng lực khai phá công nghệ này, chúng ta có các công trình cổ đại là một minh chứng về năng lực kỳ vĩ của các thần nhân. Có một điều nên ghi nhớ, khoa học giúp công nghệ ánh sáng tiếp cận với đại chúng, còn huyền môn, nơi những người hiền tề tựu mới là chốn thực sự nắm giữ quyền năng của ánh sáng.

PHẦN 7. SƠ LƯỢC VỀ CON MẮT THỨ 3
Con mắt thứ 3 được sách vở, thiền môn nhắc đến thật nhiều, đó là cánh cửa mở ra thế giới tâm linh, cũng là cánh cửa giúp con người tiếp cận không gian đa chiều. Người tiến hóa càng cao, con mắt thứ 3 càng phát triển và nhìn thấu chiều không gian càng cao.
Trong kho tàng pháp nhãn, Cha đang sở hữu hơn 3000 con đường tiến hóa khác nhau của Con mắt thứ 3. Một trong số các cao nhân tu thành, có pháp nhãn viên mãn được sách vở nhắc thật nhiều là Nhị Lang Thần. Bằng vào việc mở bung Con mắt thứ 3, Nhị Lang Thần có được 72 phép thần thông biến hóa.
Một vài nguyên tắc cơ bản của Con mắt thứ 3 đó là:
Tâm nhãn kết nối với hư không, tùy thuộc vào căn nguyên của mỗi người để biết hư không đó xa hay gần.
Thị nhãn kết nối vi diệu với hệ thống dây thần kinh (hữu và vô) của não bộ, sẽ gồm có một số phần cơ bản như sau:
- Khối tiếp nhận thông tin
- Khối chuyển hóa thông tin
- Khối cảm nhận tinh thần
- Khối hóa dụng tinh thần

Tiếp nhận và chuyển hóa thông tin nôm na như đầu vào và đầu ra tiến trình. Mức độ đầu tiên khi người tu học sử dụng Con mắt thứ 3 đó là cảm giác. Họ bắt đầu cảm thấy như có người nói chuyện với mình, cảm thấy có thần linh… Tất cả những hiện tượng đó đều nói lên rằng, Con mắt thứ 3 đã hoạt động và “thấy” được chiều không gian từ thứ 4 trở lên.
Trong khối tiếp nhận thông tin có một cảm quan (biến) đảm nhận chức năng cảm quang. Khi con người tu học tiến hóa đủ lực, biến cảm quang phát triển viên mãn là lúc người tu có thể nhìn được chân thật hình ảnh của các chiều không giao bậc cao. Việc ghi nhận được thực hiện theo những cơ chế phức tạp, trong đó gồm cả phương cách, Con mắt thứ 3 xuất thông tin cảm nhận sang 2 nhục nhãn và người ta thấy được thông qua nhục nhãn.
Khối cảm nhận tinh thần và khối hóa dụng tinh thần giúp người tiến hóa cảm nhận tiếp thu trí huệ, xây dựng pháp lực khi họ tiếp xúc với kho tàng tri thức, kho tàng năng lượng trong các không gian đa chiều. Điều này nói lên việc vì sao các thiền nhân ngồi thiền hàng giờ, hàng tháng và hơn nữa mà ngộ được trí huệ, đắc được thần thông.
Pháp đồ Cửu Trùng Đài của Lục Tổ Huệ Năng đặt cho Con mắt thứ 3 cái tên là Hư vô huyện lý là vì vậy. Đả thông huyệt này, con người ngoài giao tiếp được với các chiều không gian bậc cao, trong tiếp xúc được với các kho tàng tri thức, thần thông của vũ trụ.
Liên quan đến quyền năng của ánh sáng, khai mở Con mắt thứ 3 đến trình độ nhất định sẽ giúp con người thực hiện được việc xuyên qua không gian, khu vật dịch vật…
Do vậy, trách nhiệm phát triển công nghệ ánh sáng của thời kỳ mới rơi lên vai của những con người tiến hóa. Họ học hỏi, họ nghiên cứu, họ sáng chế và hướng dẫn chúng dân bằng huyền môn và bằng khoa học. Để trong thời đại mới, con người có thể sử dụng công nghệ ánh sáng mà phụng sự cho đại công cuộc phát triển sinh cơ, mở rộng vũ trụ.

PHẦN 8. VẬT CHẤT ĐA DẠNG TRONG KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU BẬC CAO
Vũ trụ này là không gian đa chiều, tiến nhập không gian đa chiều bậc càng cao đại biểu cho năng lực tiến hóa của con người càng cao. Sự sống của sinh linh ở các không gian đa chiều bậc cao là sự thật và trước khi nói về nó, hãy nói về vật chất trong không gian gian đa chiều bậc cao.
Vật chất rất đa dạng và phong phú khi đi vào không gian đa chiều, bậc càng cao càng có nhiều vật chất quý hiếm. Để dễ hình dung, hãy nói về một số nguyên tố hóa học và sự tồn tại của nó ở các không gian.
Nói về Oxy.
Ở không gian 3D, Oxy tồn tại dưới dạng bình thường có O2, mà một ít tồn tại được ở dạng O3. O3 sẽ không bền vững mà có xu hướng trở về dạng O2. Sở dĩ việc đó xảy ra như vậy, vì luật của không gian 3D là vật chật nặng nề, nên ngay cả thể khí của một loại nguyên tố cũng phải tồn tại ở dạng nặng nề, ổn định nhất của nó.
Tuy nhiên, ở không gian 4D, O5 tồn tại và khá ổn định. Lên tới không gian 6D, O9 là một thể vật chất phổ biến.
Điều thú vị là sinh linh ở không gian 3D rất yêu thích khí O5 và O9. Các loại hoa khi nhận được O5của các linh tinh (Fairy) cấp dưỡng, hoa sẽ nở tươi hơn và xinh hơn (tức là hoa nở theo tự nhiên) so với việc nở do các chất kích thích hóa học. Các linh tinh di chuyển vào không gian 4D và chở O5 về cho hoa. Hoa phải hấp thu ngay khi linh tinh đưa về, nếu không O5 sẽ liền tan thành O2. Khi hoa bị ngắt đi, linh tinh tiếp tục theo hoa một khoảng thời gian để chăm sóc. Sau đó bỏ đi, hoa cũng sẽ héo nhanh chóng.
Các nhiếp ảnh gia phát hiện ra rằng, khi chụp hoa trồng được chăm bón với nhiều hóa chất ở các nhà vườn, ảnh sẽ không giàu sức sống bằng các bông hoa trồng ở trong nhà dân hoặc hoa dại. Bởi lẽ, dưới sự mô tả của anh sáng, sinh cơ của các bông hoa được linh tinh cấp dưỡng bằng O5 sẽ mạnh mẽ, dồi dào hơn các bông hoa được con người cấp dưỡng bằng các mánh khóe.
Bài thiền học lấy khí O9 của các thiền gia cũng là một điều mới mẻ. Cách đây cũng không nhiều năm lắm, tại Việt Nam, một số thiền gia đã thực hành bài học này. Trải nghiệm chung nhất của các thiền gia là khi tiếp cận được với O9 trong người cảm thấy thư thái, thoải mái.

Nói về Au
Cũng như các vật chất khác, Au tồn tại trong không gian 3D và các không gian đa chiều, bậc càng cao thể của Au càng nhẹ.
Kinh sách có nói nhiều về kim thân.
Người có kim thân có thể đi vào ra các chiều không gian, tối thiểu đạt tới chiều thứ 7. Bởi vì người đắc đạo có được kim thân là thân thể có năng lực tổng hợp được Au đa hình thái, phù hợp với không gian tương ứng.
Khi tồn tại ở không gian 3D, họ phô thân thể dưới dạng bình thường, nhưng khi bước vào chiều thứ 7, thân thể được chuyển sang trạng thái Au9 với một màu vàng óng.
Các vật chất khác cũng tuân theo quy luật như vậy. Ở không gian đa chiều bậc càng cao, nguyên tố tương ứng tồn tại dưới dạng vật chất càng nhẹ (ứng với cân bằng năng lượng càng cao). Không gian đa chiều cũng có đất lửa gió nước, cũng có núi cao, sông dài nhưng nhẹ nhàng hơn. Vậy mới có nhiều cảnh thần tiên với non bồng, nhược thủy.
Một vài điều suy ngẫm
Ở thời kỳ Song Ngư, lực liên kết không gian phân kỳ quá mạnh, vật chất được coi trọng, và coi trọng thái quá. Con người lầm tưởng năng lực của một đời người chính là sở hữu nhiều vật chất và có địa vị xã hội cao. Nhưng đến thời kỳ Bảo Bình, lực liên kết không gian hội tụ (cũng sẽ rất mạnh), con người mới hiểu ra rằng, năng lực chân chính là sở hữu trí huệ và quyền năng tâm linh. Người có khả năng ra vào chiều không gian càng cao là có quyền năng càng cao (cũng là tiến hóa càng cao). Đó cũng là lúc, vật chất vật lý (của không gian 3D) bắt đầu bị coi nhẹ, người “giàu có” là người có khả năng tiếp cận và sử dụng vật chất của các không gian đa chiều, bậc càng cao càng là người “giàu có”. Các thiền sư, đạo nhân lúc này sẽ được nhìn nhận như là những người “giàu có”, các bộ môn về tinh thần học, tâm thức học, tâm linh… được coi trọng và phát triển.
Câu nói vật chất là phù du nghe chừng cũng sẽ không hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ, quan niệm về vật chất của thời kỳ Bảo Bình đã hoàn toàn thay đổi. Biết về các chiều không gian, biết về sự tồn tại của những bậc nhân loại đã tiến hóa Thần Thánh Tiên Phật, con người sẽ không còn hồ đồ như trước nữa, họ sẽ dấn thân lên một con đường tu học và xây dựng mới. Ở kỷ nguyên đó, tinh thần và những “vật chất” phục vụ cho tinh thần sẽ được coi trọng, coi trọng tuyệt đối.

PHẦN 9. SỰ SỐNG Ở KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU BẬC CAO & NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH
Sinh linh tồn tại trong không gian chiều càng cao sẽ có trạng thái vật chất càng nhẹ. Các chủng loài sinh linh đa dạng cũng bao gồm thực vật, động vật và con người. Trường năng lượng của các cá thể và tổng thể sinh linh sẽ tương hợp với trường năng lượng của không gian đó.
Cách nói cõi vô hình là một cách nói khác và có lẽ sẽ thay đổi khi con người tiến bộ tiến nhập các chiều không gian cao hơn. Cho đến chiều không gian thứ 7, người ta vẫn thấy các vị Phật hình dáng con người, thấy được sông dài lả lướt, thấy được núi non bồng bềnh, thấy được đền đài kiến trúc, thấy được mây lành bay bay…
Đồng dạng nguyên tố với không gian vật lý, nhưng vật chất tồn tại ở dạng nhẹ hơn và mức năng lượng cân bằng cao hơn. Thêm vào đó, nhiều nguyên tố mà bảng hệ thống tuần hoàn của nhân loại chưa đề cập đến cũng sẽ tìm được trong các không gian bậc cao.
Đã có những thước phim cho rằng, mặt trăng có tồn tại “Người ngoài hành tinh” và bề mặt mặt trăng xuất hiện những nguyên tố kim loại mà ở quả địa cầu phải tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Đó là vì, “người ngoài hành tinh” có nền văn minh cao hơn người địa cầu hiện đại, họ khai thác và sử dụng được nhiều vật chất hơn những thứ hiện có trong không gian 3D.
Trong không gian đa chiều bậc cao, các kiến trúc được xây dựng phù hợp với mức cân bằng năng lượng của nó. Các yếu tố đất lửa gió nước cũng đầy đủ để diễn sinh và cấu thành sự sống. Thực vật, động vật phong phú và đa dạng, với sức mạnh và trí thông minh cao hơn thực vật, động vật sống trong không gian 3D. Linh thú cũng sống trong các chiều không gian đó, với linh tính càng cao thì đạt đến chiều không gian càng cao.

VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA "NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH”
“Người ngoài hành tinh” là một danh từ lạ lẫm mà con người của thời kỳ Song Ngư gán cho họ. Thực ra “người ngoài hành tinh” là người của những nền văn minh cổ xưa của quả địa cầu này. Họ đã phát triển nền văn minh rất rực rỡ, tiến nhập được không gian 4D, 5D và có thể đã đạt tới 6D. Tuy nhiên, vì ma tính nổi lên, họ cho rằng mình đã siêu nhiên và có quyền năng thắng được Đức Thượng Đế dẫn đến làm nhiều điều sai trái. Kết quả, Đức Thượng Đế đã xóa sổ nền văn minh của các chủng người này, nhưng không hoàn toàn tuyệt chủng. Những con người có tâm tính thiện lương được Cha giữ lại, hội đồng chư Thiên bàn bạc và giao cho họ một số vùng đất để tiếp tục sinh tồn. Họ buộc phải hoạt động hạn chế, không được thường xuyên xuất hiện ở chiều không gian 3D.
“Người ngoài hành tinh” sống được trên mặt trăng, dưới lòng biển, trong lòng đất, nơi mà con người hiện đại chưa đủ sức đặt chân đến. Thiết bị di chuyển của quá siêu tưởng so với loài người hiện đại. Trong đó có đĩa bay, một thiết bị có khả năng xuyên qua không gian đa chiều. Một ít người địa cầu đã quan sát được, nhưng thưởng chỉ một lúc thì mất dấu.
“Người ngoài hành tinh” là hiện hữu. Tuy nhiên, họ chịu sự hạn chế của Đức Thượng Đế. Nếu Cha để cho chủng người hiện đại của Địa cầu xảy ra chiến tranh với “Người ngoài hành tinh” để giành lấy không gian sống, loại người hiện đại chỉ có thất bại.
Phật tính là điều Đức Thượng Đế mong muốn các con của mình hướng tới. Ngài đang cho chúng ta - những con người hiện đại cơ hội đó.

PHẦN 10. PHƯƠNG THỨC GIAO TIẾP THAY ĐỔI THEO CÁC CHIỀU KHÔNG GIAN
Ở không gian đa chiều bậc cao, sự giao tiếp của các thực thể diễn ra như thế nào? Nếu giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và viết, có lẽ nói được nửa câu thì không gian 3D đã chuyển được nửa ngày. Như vậy thì phận sự chăm sóc, dưỡng dục sinh cơ của chúng sinh trong không gian 3D của các bậc đại năng không thể thực hiện được.
Bởi vậy, không gian bậc càng cao, phương thức giao tiếp càng tinh vi. Trước đây khoa học truyền tin xa bằng tín hiệu tương tự, hiện nay truyền tín hiệu số theo gói. Ở không gian đa chiều bậc cao, các thực thể có thể giao tiếp bằng thông điệp tư tưởng, suy nghĩ của người truyền muốn đến và suy nghĩ của người tiếp muốn nhận là hoàn thành giao tiếp. Cao hơn nữa, sự giao tiếp diễn ra bằng sự giao hòa ánh sáng. Các bản khế ước, chương trình nghị sự của các bậc đại năng được thực hiện dễ dàng bằng việc giao hòa các khối ánh sáng và năng lượng, hoạch định nên con đường diễn sinh, tiến hóa cho vũ trụ…
Về kinh sách, cũng có nhiều hình thái khác nhau để người học đạo có thể tiếp cận. Có thể chia thành 3 chủng loại cơ bản: hữu tự kinh, pháp tự kinh và vô tự kinh.
- Hữu tự kinh cũng giống như sách vở ở không gian 3D, đây là phương thức giao tiếp đơn giản và thô lậu nhất. Hữu tự kinh chuyển từ không gian đa chiều bậc cao xuống 3D có thể thực hiện bằng đàn cơ chẳng hạn.
- Pháp tự kinh thực ra cũng đã xuất hiện ở không gian 3D nhờ công nghệ khoa học, ví như các đĩa quang chứa đựng thông tin được đọc bằng máy vi tính. Tại các không gian bậc cao, pháp tự kinh là các đồ vật chứa thông tin, tri thức được các pháp sư dùng những phương cách nhất định ghi vào đó. Người đọc bằng phương cách thích hợp sẽ xem được thông tin, tri thức trong đó. Trong tu tiên truyện, các ngọc giản là pháp tự kinh vậy. Thông thường pháp tự kinh ghi và đọc bằng tinh thần lực.
- Vô tự kinh cũng là đồ vật chứa đựng thông tin, tuy nhiên không đơn giản như pháp tự kinh. Vô tự kinh cũng gồm nhiều đẳng cấp, từ đơn giản tới phức tạp. Vô tự kinh khác pháp tự kinh ở chỗ, sự diễn sinh từ vô tự sang hữu tự phụ thuộc vào người tiếp nhận. Vì vậy, không phân biệt ngôn ngữ hay phương cách, miễn người đọc vô tự kinh đủ năng lực tiếp nhận. Một số bản vô tự kinh đặc biệt có linh tính và tự sinh hóa kiến thức cho mình. Một đạo sư tiếp nhận 1 bản vô tự kinh loại này, đi theo vô số năm tháng, kiến thức tích lũy trong bản kinh đó được tăng trưởng. Khi cần dùng đến, xem lại sẽ rất hữu ích cho vị đạo sư đó. Sẽ có những tình huống mà vô tự kinh cùng hòa đồng với trí huệ của đạo sư.
Khi các thiền nhân đủ sức giao tiếp với các thực thể tại các không gian đa chiều bậc cao, thiền nhân sẽ có cơ hội được thụ pháp hoặc trực tiếp hoặc qua kinh thư. Phương pháp thụ pháp trực tiếp sẽ tốn rất nhiều thời gian cho thiền nhân, vì thời gian của không gian bậc cao chênh lệch lớn với không gian 3D. Đó là lý do các thiền nhân cần rất nhiều thời gian nhập định nếu muốn thụ pháp trực tiếp.
Cũng có phương pháp giao tiếp khác là các thiền nhân nhanh chóng nhận được kinh sách (pháp tự hoặc vô tự kinh) từ bề trên và trở lại không gian 3D. Lúc đó thông tin, tri thức đã nằm trong bản kinh, thần hồn lưu giữ. Thiền nhân tĩnh tọa, tự mình mở kinh sách xem học mới đặng đủ thời gian tu học.
Phương thức giao tiếp và sự tu học thay đổi rất lớn khi tiến nhập các không gian bậc càng cao. Người gặp duyên lành, một lần được chân sư dẫn dắt tiến nhập được tàng kinh nào đó, được tiếp nhận một họa đồ thư có linh tính chẳng hạn, chặng đường tu học của lập tức chuyển biến sang một cung bậc khác. Hà Đồ, Lạc Thư là hai bộ vô tự kinh nổi tiếng từ xưa vậy. Tuy nhiên, pháp tự kinh và vô tự kinh đối với người ở thế giới 3D là vô hình kinh, họ không thấy được nên sinh ra lắm mối nghi. Thực hành tu học thông qua hữu hình hữu tự kinh vấp phải những sự chấp trước và hàng rào khái niệm của ngôn ngữ. Có những bản kinh lại được dịch thông qua mấy lần ngôn ngữ, chân nghĩa lệch lạc. Như vậy mới thấy hữu hình kinh quá nhiều hạn chế.
Phương thức giao tiếp trong không gian đa chiều là đa dạng, chúng sinh tùy thời có thể chọn cách tu học sao cho phù hợp với bản thân để hiệu quả tinh tấn là tốt nhất.

PHẦN 11. QUỐC ĐỘ TRÊN CÁC KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU
Người học đạo sẽ nghe thật nhiều về hai chữ “Quốc độ”, là nơi những linh hồn thanh thản siêu thoát được đi về sau khi bỏ lại thân xác vật lý.
Trong vũ trụ không gian đa chiều có rất nhiều quốc độ. Cha cho các con của Cha khi đạt tới quả vị nhất định được quyền mở ra quốc độ để độ chúng sinh. Quốc độ xuất hiện từ không gian 6D trở lên. Trong không gian 5D, các không gian sinh tồn cũng được mở ra rất nhiều, nhưng Cha không khuyến khích mở ra quốc độ vì sợ làm các con Cha lười nhác trễ nãi việc tu học tinh tấn. Khi sinh linh tiến nhập được không gian 6D, 7D với các quốc độ cõi Trời, cõi Phật, nhận thức liền thay đổi thật nhiều và định chí tu học lúc đó mới đủ lớn.
Hình dung một quốc độ như một quốc gia bình thường ở không gian 3D. Vị Tiên Phật làm chủ quốc độ đó được ví với Vua. Vị ấy điều hành và chịu trách nhiệm cho sự diễn sinh, phồn thịnh của quốc độ đó. Cư dân của một quốc độ có nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể sinh ra và lớn lên ở quốc độ đó, cũng có thể được tuyển chọn từ các không gian khác đưa đến.
Đối với người địa cầu của chúng ta, quốc độ của Phật A-Di-Đà, quốc độ của Chúa Giê-su là nơi chúng ta được khuyến khích hướng tới. Vì định chí của Phật A-Di-Đà, của Chúa Giê-su là độ người địa cầu chúng ta. Nhưng không phải chỉ có quốc độ của 2 Ngài, mà còn nhiều quốc độ của nhiều vị Tiên Phật khác nữa. Các vị cổ Phật cũng để mắt tới con người địa cầu chúng ta, nhưng tiêu chuẩn của các ngài khắt khe hơn. Trong Phong thần diễn nghĩa có một vài tình tiết hay ho. Các ngài cổ Phật tranh tuyển người xuất chúng, phù hợp về quốc độ của các Ngài. Kỳ Phong thần đợt này cũng xảy ra chuyện như vậy. Một số người tiến hóa sẽ được rước về quốc độ của các vị cổ Phật.
Quốc độ Bạch Quang ở không gian 6D cũng là một quốc độ phồn thịnh. Chào đón kỷ nguyên mới, quốc độ Bạch Quang sẽ được người địa cầu biết đến một cách phổ biến.

Quốc độ là đặc ân hay sự ràng buộc đối với các vị Phật Tiên?
Thực ra đó là một sự lựa chọn. Các vị Phật Tiên hoàn toàn có thể từ chối việc lập ra quốc độ khi đã được Cha thông tri. Như thế thì họ có thể đi chu du trong khắp cả vũ trụ, tích góp đạo hạnh, tự mình tu học không theo chương trình của Cha. Thế nhưng, diễn sinh và phát triển một quốc độ lại là một con đường tu đạo hiệu quả. Thông qua việc hòa nhập và dung dưỡng vạn vạn sinh linh trong quốc độ của mình, các vị Phật Tiên mới có thể hòa mình với đạo một cách triệt để. Hạn chế của việc lập ra quốc độ là vị Phật Tiên đó phải gắn liền sinh mệnh của mình với quốc độ, không thể tự mình lang thang đây đó. Để tái thiết tu học, tích lũy công đức, ngoài chăm lo quốc độ của mình, các ngài thường phân thân đầu thai khắp các cấp không gian để tu học. Từ đó, năng lực cai quản chúng sinh của các ngài được lớn mạnh, định chí của các ngài đặt trên con đường phát triển lên đặng toàn năng. Biết đâu, nhiều tỉ năm tiếp theo, Cha sẽ chọn một vị Vua của một quốc độ nào đó thay Cha cai quản vũ trụ này.
Đối với chúng sinh, vãng sinh về một quốc độ nào đó là một phúc duyên, nhưng không có nghĩa là trường cửu. Nếu chỉ có nghỉ ngơi và hưởng thụ thanh nhàn, sinh linh không thể nào tiến hóa. Do đó, hết kỳ hạn hoặc đến lúc phù hợp, chúng sinh được cho đi đầu thai để tiếp tục tu học, tiến hóa.
Người hiền mới được độ về quốc độ của Phật Tiên, người càng tiến hóa thì năng lực hoạt động của họ trên quốc độ càng cao. Vì vậy, chớ nên lấy việc vãng sinh về một miền quốc độ nào đó làm đích đến của việc tu học, hãy lấy việc tinh tấn và hiệu quả của tinh tấn làm đầu. Trong 8 tỷ dân địa cầu hiện tại, số người từ các miền quốc độ không gian bậc cao phân thân đầu thai làm người chẳng ít chút nào. Những vị như vậy mà chỉ khăn khắn tu đặng thanh nhẹ kịp trở về thì lúc xưa phát nguyện nhân sinh e hơi uổng công.
Trên tuân thiên cơ, dưới dựa thời vận, những con người thừa hành sứ mệnh chớ quên điều đó. Người từ các quốc độ Phật đã vậy, người phụng sự Thiên Đình càng phải cầm chắc điều đó.

PHẦN 12. SỨ MỆNH CỦA THIÊN ĐÌNH (KỲ CHÓT)
Trong vũ trụ không gian đa chiều này, Thiên Đình không phải là tổ chức tối cao nhất, nhưng có thể xem là một trong những tổ chức quan trọng nhất. Ví như, quốc độ của các Đức Phật cai quản thuộc về không gian 7D, nhiều vị tiên trưởng thành tựu quả vị trên Chân Tiên cũng vượt qua không gian 6D. Các vị ấy không phải chỉ có vui mây thưởng nguyệt vĩnh hằng mà thường xuyên phải chăm lo xây dựng quốc độ của mình, cứu độ chúng sinh… Trong khi đó, Thiên Đình với hạch tâm là điện Linh Tiêu chỉ được xây dựng tại không gian 6D. Thế nhưng Thiên Đình là tổ chức chịu trách nhiệm chính về việc vận hành vũ trụ theo ý muốn của các bậc đại năng và Đấng Sáng Tạo.
Để giải thích, phải nói một chút về Thiên cơ.
Khi các bậc đại năng và Cha diễn sinh Thiên cơ, mỗi vị đại năng thả một quả cầu năng lượng bao hàm hiểu biết, mong muốn và lực đạo của mình để hòa chung với nhau. Đặng cuối cùng là Cha cũng thả ra một quả cầu, cũng bao hàm hiểu biết, mong muốn và lực đạo của mình, nhưng thêm một đặc quyền nữa là định chí của Đấng Sáng Tạo trong đó. Chừng đó, các quả cầu tự giao hòa và sinh diễn Thiên cơ. (Nên các bậc đại năng đều hiểu biết Thiên cơ, nhưng không ai ra được một dự ngôn chính xác 100% được cả, vì định chí của Đấng Sáng Tạo là biến số cuối cùng).
Thiên cơ diễn sinh, phải có tổ chức thừa hành. Trọng trách đó được giao lên vai của tổ chức có tên gọi là Thiên Đình. Bên dưới Thiên Đình là muôn vàn tổ chức khác như các Tiên Cung, Diêm Phủ, Long Cung… các tổ chức hữu hình trong cõi 3D cũng đều chịu sự chi phối của Thiên Đình và v.v… Có thể nói, phạm vi quản sự của Thiên Đình trải rộng trên hầu hết không gian từ 6D trở xuống.
Thiên Đình sắc phong, các thủ lĩnh tại Tiên Cung, Diêm Phủ, Long Cung… sẽ phụng sự Thiên Đình làm việc.
Nói thêm một chút, không gian 7D và cao hơn nữa, Thiên Đình không có quyền quản sự. Ở các tầng không gian đó, Thiên Đình sẽ có đồng minh, có trung lập, có bất đồng, và có cả đối đầu.
Tuy nhiên, đừng xem thường con người của Thiên Đình. Rất nhiều trong số họ đạt được quả vị của con người ở các không gian bậc cao như Phật và cao hơn nữa. Điện Linh Tiêu và kiến trúc kèm theo - hội sở chính của Thiên Đình là một khối kiến trúc rất đặc biệt trong vũ trụ này. Cái tên Linh Tiêu Bảo Điện không phải là sính ngữ. Trong Bảo Điện có nhiều động thiên ẩn, mật; nhiều cánh cổng không gian câu thông với “thượng giới”. Những thế lực ẩn mật đó mới thực sự là căn cơ của Thiên Đình. Chúng ta biết đến Tam Thanh chẳng hạn, các vị đó thường xuyên ngao du “thượng giới”, ít khi tham gia triều chính thiên triều. Nhưng mỗi lần Thiên Đình nguy biến đều có dấu ấn công đức của các ngài để lại.
Đã có những câu chuyện, bộ phim nói về thời kỳ Thiên Đình bị Ma vương chiếm đóng. Cái đó cũng xảy ra. Tuy nhiên thời gian chiếm đóng sẽ không thể kéo dài được. Căn cơ của Thiên Đình vững chắc, Ma vương chiếm được điện Linh Tiêu cũng chỉ là trung tâm thừa hành của Thiên Đình, các không gian ẩn mật và cánh cổng mở ra “thượng giới” Thiên ma không thể nào xâm nhập. Hết kì kiếp nạn, Ngọc Hoàng Thượng Đế lại quy vị, thiết lập lại triều chính, thưởng phạt phân minh.
Kỳ kiếp nạn của Thiên Đình xảy ra vào thời kỳ không gian có lực phân kỳ mạnh nhất, khi mà chúng sinh không gần được Phật Tiên, họ mất đi niềm tin vào Thượng đế nên bị Thiên ma lợi dụng, phá quấy và dấy lên cuộc đại phản nghịch. Các bậc đại năng liền lấy cơ hội đó, kiến thiết một đại trường thi cho chúng sinh. Đại trường thi đó lúc được đẩy lên cao trào có cái tên thường gọi là Hội Long Hoa. Hội Long Hoa là một quá trình, không phải một sự kiện như nhiều người lầm tưởng.
Đến năm 2020 thì đại trường thi xem như kết thúc, Ngọc Hoàng Thượng Đế quy vị và ngài đang xét công luận tội chúng sinh, ban cho thi hành án, sắp đặt lại trật tự thế giới.
Những gì đang xảy ra ở thế giới 3D hiện nay đang cho chúng ta thấy tường tận hoặc tội trạng của chúng sinh và sự thi hành án. Chúng ta cũng đang chờ đợi Phong thần bảng kỳ này, điều đó sẽ sớm đến.
Nếu Hội Long Hoa là một quá trình, thì Hội Long Vân lại là một sự kiện. Cái tên Hội Long Vân thực sự là mới mẻ đối với đại chúng.
Ngọc Hoàng Thượng Đế, chủ điện Linh Tiêu là người chịu trách nhiệm cai quản các tổ chức từ không gian 6D trở xuống, đặng việc vận hành của Vũ trụ theo đúng Thiên cơ mà các bậc đại năng ở Thượng Thiên xếp đặt. Ông chủ điện Linh Tiêu không vì thế mà là người “thấp bé” hơn so với chư vị Tiên Phật khác. Ông ta, người Cha cõi 6D là hiện thân của Đấng Sáng Tạo, là phân thân của vị Cha cả toàn năng.
Vì sao?
Vì Cha thấy các con xa Cha, làm điều phiền muộn, nên Cha đã hóa ra thật nhiều phân thân trên hầu các cấp không gian, để tiện giao tiếp với các con của Cha. Cõi thấp, cõi cao gì Cha cũng có mặt cả. Người địa cầu tu học chưa rành, đã vội phân biệt ngôi cao ngôi thấp, nhận Phật không nhận Cha. Nên nhớ, cõi Phật bắt đầu ở không gian 7D, trong khi vũ trụ toàn thể có nhiều chiều hơn 7. Chỉ có các con Cha khờ khạo mới thị phi bàn chuyện cao thấp, chứ Phật là Tỉnh Thức, đâu có gì là ngôi vị.



















