Container Icon

ĐỜI SỐNG HUYỀN BÍ CỦA CON NGƯỜI



Tác Giả: ANNIE BESANT

Vài lời nói đầu 

Năm 1912, trong một loạt bài thuyết trình giữa công chúng, Ðức Bà A. Besant có đề cập đến
những đề tài sau đây:
1.- Ðời sống của con người tại cõi trần – Ý nghĩa của sự chết.
2.- Ðời sống của con người trên cõi Trung giới và sau khi chết.
3.- Ðời sống của con người trên cõi Thượng giới và sau khi chết.
4.- Thể Trí, Tinh thần của con người và đời sống thiêng liêng.
Ðể cởi mở những thắc mắc của người đời vì những câu hỏi sau đây: “Tôi là ai? Tại sao tôi
sanh ra ở cõi trần? Tôi thác rồi còn hay mất? Nếu còn tôi về đâu? Cõi nào? ” Mấy bài nầy kết
hợp lại làm ra quyển Đời sống huyền bí của con người.
Những lời giải bày của Ðức Bà A. Besant tuy vắn tắt song rất rành rẽ và đầy đủ. Mặc dù là
những đại cương, nhưng chúng nó rất hữu ích cho những người tìm chơn lý và những
người mộ đạo; nhất là: Phương pháp biến đổi tánh nóng giận là tánh thông thường của
người đời ra tánh kiên nhẫn, từ bi, mở trí thông minh, lấy ơn đáp oán, cùng là cách tư tưởng
và cảm xúc truyền nhiễm con người. Ngoài ra còn có thể áp dụng phương pháp này vào sự
đào luyện các tánh tốt khác mà con người muốn hoạch đắc nữa.
Quí bạn cũng biết được trạng thái của con người sau khi thác ở hai cõi Trung giới và
Thượng giới, cùng là Tinh thần và đời sống thiêng liêng như thế nào?
Tôi chỉ nêu ra những điểm chính mà thôi, còn nhiều điểm khác rất cần thiết cho sự mở mang
trí thức và sự tiến hóa của con người. Quí bạn đọc đến sẽ rõ.
Quí bạn nào muốn biết thêm chi tiết, xin xem bốn quyển sau đây:
1- Những thể của con người – L’homme et ses corps par A. Besant.
2- Chơn nhơn và những thể của nó – Le Soi et ses enveloppes par A. Besant.
3- Cõi Trung giới – Le plan astral par Leadbeater.
4- Cõi Thượng giới – Le monde céleste ou Plan mental par Leadbeater
và bốn quyển do ông A.E.Powell sưu tập:
1- Cái phách – Le double éthérique.
2- Cái Vía – Le corps astral.
3- Cái Trí – Le corps mental.
4- Thượng trí và Chơn nhơn - Le corps causal et L’Ego.

Có một điều mà tôi tưởng phải nhấn mạnh là các vị cao đồ của Chơn sư như Ðức Bà
Blavatsky – A. Besant – Rukmini – và Ðức Ông Leadbeater – Jinarajadasa – Arundale – Sri
Ram v.v… đều học hỏi trực tiếp các cõi Trời vì các Ngài đã mở được Huệ Nhãn.
Các Ngài xuất hồn qua cõi Trung giới và Thượng giới, quan sát nhân vật ở mỗi cảnh rồi lúc
về nhập xác viết lại những điều mà các Ngài đã thấy.
Các Ngài theo dõi linh hồn các hạng người từ lúc sắp sửa bỏ xác cho tới khi về ở hai cõi
Trung giới và Thượng giới. Các Ngài cũng xem xét sự sinh hoạt của họ ở hai cõi đó nữa.
Các Ngài tiến hóa đã cao cho nên không thể nào lầm lẫn như chúng ta vậy.
Những lời của các Ngài dạy dỗ đều do những sự kinh nghiệm của các Ngài đã thâu thập
được trong đường Ðạo.
Tôi tin chắc rằng ai đem thực hành những phương pháp của Ðức Bà A. Besant chỉ bảo trong
ba cuốn:
- Đời sống Huyền bí của con người,
- Trước thềm Thánh điện,
- Con đường của người đệ tử,
trong một thời gian không gián đoạn thì sẽ thấy tâm trí mình bắt đầu trở nên sáng suốt vì
một góc màn vô minh đã vén lên, mình tự biết mình đã tiến tới được một vài bước.
Tôi đã chứng kiến mấy điều đó nhiều lần rồi cho nên không ngần ngại mà giới thiệu ba cuốn
này với quí bạn thân mến.
 
Châu Ðốc, mồng một tháng bảy năm Giáp Thìn, nhằm mồng 8 tháng 8 năm 1964

BẠCH LIÊN

 

I - ÐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI TẠI CÕI TRẦN Ý
NGHĨA CỦA SỰ CHẾT
 
Nhiều người không thể nào tự cảm thấy sung sướng và thỏa mãn nếu họ không hiểu biết một
cách thật rõ ràng và chắc chắn về bản thân mình và về thế giới bao quanh họ. Họ không an phận
sống trong một thế giới khó hiểu với những sự việc xảy ra dường như nối tiếp nhau mà không lý
do và cũng không phương giải thích. Khi nhận xét rằng hạnh phúc của mỗi người đều khác nhau
không biết bao nhiêu, họ tự hỏi: «Tại sao mấy người này sinh ra để chịu đựng những sự đau khổ
như thế đó, còn những người kia lại sống trong hạnh phúc và sang giàu». Luôn luôn những câu
hỏi này được nêu lên, làm rối loạn tâm trí của con người ưa suy nghĩ. Tôi muốn trình bày với chư
huynh hôm nay và trong hai tuần liên tiếp một lý thuyết về con người và về cuộc đời, có lẽ lý
thuyết này sẽ giúp chư huynh hiểu rõ hơn về Bản thân mình và về thế giới xung quanh, và vì vậy
mà chư huynh sẽ trở nên những người hữu dụng hơn. Ðó là mục đích của ba bài thuyết trình về
cái đề tài rộng lớn này.
Tôi không muốn làm cho chư huynh tin chắc rằng tôi có lý; cái điều hệ trọng trong những gì mà
tôi sắp nói ra đây, là việc khuyến khích chư huynh suy nghĩ. Tôi không yêu cầu chư huynh chấp
thuận một lý thuyết đã có sẵn, nhưng chỉ xin chư huynh ngẫm nghĩ về các luận cứ mà tôi đưa ra
đây. Theo cách đó, chư huynh sẽ tạo lấy cho mình một quan niệm, chư huynh sẽ khêu gợi đến trí
thông minh của mình và sẽ đi đến một sự kết luận nó làm chư huynh hài lòng, vì chư huynh đã
nghĩ ra nó, nó sẽ hướng dẫn cuộc đời của chư huynh, vì chính là do những tư tưởng của chư
huynh mà chư huynh kết luận như thế.
Trước hết chúng ta hãy nhận xét về giá trị của một sự hiểu biết như thế. Sử dụng được sự hiểu
biết này, ấy là có đủ tài năng điều khiển đời sống của mình thay vì để cho nó trôi giạt bình bồng,
giống như nhiều người trong chúng ta đây đã sống. Ấy là có đủ tài năng nhìn thấy mục đích và
lựa chọn con đường của mình đi. Ấy là lần lần làm chủ tinh thần và thể xác, và thức tỉnh, không
những trong cõi Trần này, mà còn ở cả trong những cảnh giới liên quan với cõi Trần, những cảnh
giới mà chư huynh sẽ đến sau khi chết, lúc chư huynh cởi bỏ xác thân. Tất cả chư huynh đều
sống trong ba cõi: sống một cách thức tỉnh trong cõi Trần, và sống một cách tiềm thức [1] ở hai
cõi khác, như khoa tâm lý học kim thời thường nói; chư huynh đã biết rõ cõi Trần ở xung quanh
chúng ta đây: tại cõi Trần, chư huynh hành động, những cảm xúc của chư huynh được biểu lộ ra,
những tư tưởng của chư huynh luôn luôn hoạt động. Tôi sẽ chỉ cho chư huynh thấy rằng có một
cảnh giới hay một Cõi tương ứng với những cảm xúc, tự cõi này phát sinh ra những cảm xúc
biểu lộ ra nơi xác thân; còn có một Cõi hay một Cảnh giới khác của tư tưởng phát sinh ra những
sự kích thích biểu lộ nơi khối óc hồng trần. Hiện nay chư huynh sống một cách tiềm thức trong
Cảnh giới của tình cảm và tư tưởng. Theo đà tiến hóa tự nhiên “Tiềm thức” sẽ trở thành “Có ý
thức”. Ðiều gì mà hiện nay chư huynh cảm thấy một cách mơ hồ, sau này rồi sẽ trở nên phân
minh, xác thực, có mạch lạc. Ðiều này không phải chỉ là một lý thuyết suông vì một vài người
trong chúng ta đã tự ý thúc đẩy sự tiến hóa của mình, và cái điều trước kia là tiềm thức nay bỗng
trở nên có ý thức, tức là sự hiểu biết vậy.
Đó là cái đề tài mà tôi bàn với chư huynh. Hôm nay chúng ta nói đến cõi Trần, cõi quen thuộc
nhất đối với chư huynh; chư huynh sẽ hiểu được làm sao những Cảnh giới của Tình cảm và của
Tư tưởng nhờ xác thân mà biểu lộ được trong cõi Trần. Chủ nhật sau, chúng ta sẽ biết trong giấc
ngủ, sau khi rời bỏ xác thân, chư huynh sống và thức tỉnh trong Cảnh giới của tình cảm như thế

nào, nghĩa là cái Cảnh giới mà chư huynh bước qua liền sau khi từ trần. Tới kỳ hội hợp thứ ba,
tôi sẽ chỉ cho chư huynh thấy tại sao Cảnh giới của tư tưởng thật là cõi Thiên Ðường, cõi này
con người sau khi bỏ xác phàm và sau khi lìa bỏ cõi Trung giới sẽ vào đó. Ðây chỉ là một sự
phác họa đơn sơ cái con đường mà tôi hy vọng đặt chư huynh đi tới đó bằng cách trình bày
những sự việc với chư huynh và để chư huynh tự do đánh giá chúng.
Một khi làm xong được việc này rồi, tôi hy vọng đã chứng minh được với chư huynh rằng khoa
học và môn tâm lý học hiện thời đã bắt đầu nhìn nhận sự thâm nhập của hai cõi Trung giới và
Thượng giới vào cõi Hồng trần và đang cố gắng tìm hiểu những gì phát sinh tự cái miền mà
chúng gọi là “Tiềm thức”. Hai môn học này hiểu rõ cái sức mạnh của tiềm thức, nhìn nhận cái
động lực lớn lao này nó thỉnh thoảng lại nổi sóng gió, hủy phá tan tành những gì mà chúng ta gọi
là lẽ phải hay những cảm xúc thường tình. Khi nghiên cứu khoa học tâm lý học kim thời, chư
huynh sẽ thấy tỏ rõ một vài sự việc trước kia coi dường như là tối tăm khó hiểu mà tôi sắp giải
bày trước chư huynh đây. Tôi hy vọng thành công trong việc khuyên chư huynh nên nghiên cứu
về đề tài này, một đề tài hứng thú nhất đối với tâm trí con người. Ði theo con đường này, người
ta sẽ hoạch đắc được một quyền lực, một sức mạnh, một sự kiên nhẫn mà không một phương nào
khác khai mở cho bằng được.
Ai đã học được cái cách sống và thức tỉnh, viên mãn trong ba cảnh giới, ai đã xét đoán được
những mối tương quan giữa Cõi hữu hình với Cõi vô hình, biết lựa chọn những sự việc quan hệ
và những sự việc không quan hệ, phù phiếm vô giá trị, thì người đó đã phân biệt được cái Chơn
với cái Giả rồi vậy. Khi cánh cửa của sự tử vong mở rộng ra trước mặt y – tôi e rằng đối với đa
số chúng ta, những cánh cửa tử này dắt đến cõi lạ đầy những sự bí mật, và vì vậy mà người ta
mới kinh sợ nó – thì y có thể bình tĩnh bước qua cửa tử một cách dạn dĩ, một cách can đảm
không hề bị nao núng. Y chỉ để lại phía sau mình cái phần thô kệch nhất của bản thể mình, tức là
xác thân y, rồi với những tình cảm và tư tưởng giống hệt như khi còn sống, y đi đến những miền
quen thuộc chứ không phải xa lạ nữa, nó không phải là một miền kinh khủng, mà là một miền
đầy hứa hẹn.
Đó là đại cương của cái đề tài mà tôi cố gắng trình bày với chư huynh. Ðể khởi đầu, tôi phải đưa
ra một tư tưởng mà dường như chư huynh khó lòng chấp thuận được lúc này hơn là tất cả những
điều tôi sẽ nói với chư huynh sau này. Dù chư huynh là tín đồ Cơ Ðốc Giáo hay chư huynh là
người Ấn Ðộ, điều này không quan hệ gì, chư huynh hãy suy nghĩ trong một lúc đến tất cả những
gì mà tôn giáo của mình đã dạy về Bản thể của Thượng Ðế. Tôi xin chư huynh nhớ lại điều đó,
vì con người được tạo thành giống như hình dáng của Thượng Ðế, như một đoạn văn rất hay của
Thánh Kinh thần bí Hy Bá Lạp (Hébreux) đã nói: «Ðức Thượng Ðế sinh con người ra giống như
hình dạng của Ngài vậy, vĩnh cửu, trường tồn» [2] . Con người phản chiếu Ðức Thượng Ðế trong
lương thức của nó. Vì khoa Thần học không phải là hoàn toàn xa lạ đối với chư huynh, cho nên
chư huynh sẽ dễ dàng mà theo dõi tư tưởng của tôi, nếu chư huynh suy nghĩ đến cái điều mà tôn
giáo của chư huynh chỉ dạy về Bản Chất Tam thể của Thượng Ðế và hiểu được ý nghĩa của chơn
lý này khi Bản Chất này phản chiếu nơi con người với tư cách là Tinh Thần. Những ai có một
khối óc triết lý sẽ suy nghĩ về Thượng Ðế chia làm Ba ngôi trong lương thức của Ngài. Chư
huynh là người Ấn Ðộ từng biết rõ danh từ Sat-Chit-Ananda miêu tả Ba ngôi, Ba trạng thái của
Thượng Ðế duy nhất, hay là Ðấng Tối Cao: Ấy là Sự Sống (sat), Sự Hiểu Biết (Chit) và Chí phúc
(Anada). Vài người từ Tây Phương đến đây sẽ nhớ đến cái đoạn văn hùng hồn của Dante nói về
đấng Duy Nhất mà “oai quyền và sự hoạt động chỉ là một.” Tôi cũng xin chư huynh nhớ lại
thuyết Ba ngôi trong Cơ Ðốc Giáo và trong Ấn Ðộ Giáo. Khi nhận xét về Ba ngôi này, chư

huynh hiểu ngay rằng đây là Ba Trạng Thái của Thượng Ðế hữu hình, nghĩa là được nhân cách
hóa.
Đó là trạng thái cao cả của Thượng Đế, Ngài biểu lộ ra như là sự hoạt động có tính sáng tạo, ban
phát sự sống cho mọi sinh linh, Ngài là nguồn cội duy nhất của sự sống và của sự sinh tồn.
Người Ấn Độ gọi Ngài là Ngôi thứ ba của Đức Thượng Đế, Đức Brahma, ngự trên những làn
nước của vật chất. Các tín đồ Cơ Ðốc Giáo gọi Ngài là Đức Chúa Thánh Thần, Tinh thần của
Chúa bay trên mặt nước bao phủ cả vũ trụ mà Ngài đã tạo lập ra.
Bây giờ, chư huynh hãy nghĩ đến Ngôi thứ hai đối với những người Ấn Độ, thì đó là Đức
Vishnou, nguồn cội của mọi Minh Triết Tình Thương vô bờ bến bảo tồn vũ trụ. Ðối với những
tín đồ Cơ Ðốc Giáo, đó là Ngôi thứ hai oai hùng, con của Ðức Chúa Cha, mà họ gọi là Chúa Ki
Tô (Christ) và hết lòng tin tưởng.
Rồi đến Đấng Tối Cao; những tín đồ Cơ Ðốc Giáo gọi Ngài là Đức Chúa Cha, chính Ngài là
Ananda, Mahadeva, mà đặc tính là Oai quyền; vì chỉ ở nơi nào uy quyền được kính trọng tuyệt
đối thì chỗ đó mới an hưởng được cảnh thanh bình của Trời ban cho. Cảnh hỗn loạn xảy ra khi
có chỗ nào hoảng hốt kinh sợ, nhưng đối với Thượng Ðế toàn năng, không bao giờ có một sự sợ
hãi nào cả và vì vậy mà sự an lạc vô biên không bao giờ bị một vật gì ở ngoài đến quấy rối được,
bởi vì không có một cái gì có ra đây mà không phải ở trong bản thể của Ngài.
Ðó là những điều mà chúng ta học được về Bản thể của Thượng Ðế và cũng là tất cả những gì
mà Trí nông cạn của chúng ta có thể hiểu được: một đơn vị chia làm Ba ngôi: Quyền năng, Minh
Triết Bác Ái cùng là sự Hoạt động Sáng Tạo.
Tinh thần con người được tạo nên giống như hình ảnh đó. Quyền năng của Đấng Tối Cao tự biểu
lộ nơi ta thành Ý chí. Minh Triết Bác Ái của Đấng Tối Cao trở thành sự Khôn Ngoan và lòng Từ
Ái nơi ta. Sự Hoạt Động Sáng Tạo của Ngài được biến thành Trí khôn và nhờ Trí khôn này chư
huynh làm cho vật chất có hình hài. Khi Trí khôn này tự hiện ra dưới cái hình thức cao cả của
Thiên Tài, thì nó khiến cho họa sĩ ghi được trên khung vải những bức họa tuyệt đẹp tồn tại mãi
với thời gian; nó cảm hứng nhạc sĩ giúp y tìm được cung giai tiết điệu tuyệt vời, nó khiến cho
nhà điêu khắc gọt đẽo tảng đá hóa thành một pho tượng có hình dáng đẹp đẽ nẩy sinh ra tự trong
tư tưởng của y. Con người thật là cao cả và những khả năng của y thật là rộng lớn biết bao; vì
Tinh thần con người là một điểm Linh Quang của Ðức Thượng Ðế. Tôi không cần nhắc lại với
chư huynh cái câu người ta đã dạy người Ấn Độ: «Ngươi chính là Đức Phạn Vương Brahma» và
người Cơ Ðốc: «Các ngươi há lại không biết rằng thân thể các ngươi là đền thờ Ðức Chúa Trời
và Tinh Thần Ngài đang ngự trong mình các ngươi sao». Những tiềm lực của mầm giống thiêng
liêng cao cả đến nỗi khi ta phát triển chúng bằng một phương pháp tinh luyện không ngớt thì
cuối cùng tất cả mọi người sẽ được toàn thiện như “Ðức Chúa Cha ở trên trời trọn lành vậy”. Đó
là Tinh Thần dưới Ba Trạng Thái Ý chí, Minh Triết và Trí Tuệ; đó là một điểm mà tôi xin chư
huynh nên nhớ; chúng ta sẽ không có thì giờ mà nhắc lại, vì đề tài quá ư rộng lớn.
Nhiều người trong chư huynh đã quen thuộc với cái ý niệm rằng con người chia ra làm ba phần:
Xác thân, Linh hồn và Chơn Thần. Chơn thần của Thượng Đế [3] ngự ngay ở trên đầu con người,
và cái phần của lương thức của nó nhập vô xác thịt thì được gọi là linh hồn, danh từ này rất đúng
nếu nó được hiểu cho trúng cách.
Sự phân chia con người ra làm ba phần này do Thánh Paul đề xướng. Chúng ta nhớ lấy. Chơn
thần thì “bất sinh bất diệt, trường tồn, vĩnh cửu, vô thủy, vô chung”. Nó bay là là ở phía trên xác
thân chứ không phải nó ở hẳn trong đó, và cái phần của Chơn thần nhập vô xác, cái lương tri, cái

sự sống thì gọi là linh hồn; tôi cũng dùng cái danh từ Linh Hồn này. Như thế, chúng ta có Tinh
Thần Ðức Thượng Ðế trong con người, phưởng phất ở trên đầu, cố gắng đem về với mình cái
bản thể thấp hèn; Linh hồn là cái phần Tinh thần nhập vô xác thịt, và vì vậy cho nên thường
thường hãy còn bị mù quáng, điên cuồng và bất lực; xác thân, cái lớp vỏ vật chất (dù nó thuộc về
loại nào, điều này cũng không quan hệ) mà Linh hồn khoác vào mình như một lớp y phục để tiếp
xúc với cõi đời là trường tiến hóa của nó. Vì cũng giống hệt như một hạt giống đem gieo xuống
đất và không thể nào mọc thành cây nếu không có đất, hạt giống thiêng liêng đem vùi sâu dưới
miếng đất của kinh nghiệm của con người để có thể phát triển những quyền năng tiềm tàng của
mình.
Cái tinh thần phân làm Ba Ngôi này, hoạt động như một Linh hồn trong xác thân làm đầy đủ
nhiệm vụ của mình theo ba đường lối. Nó tác động như Trí khôn. Chư huynh đã biết rõ quyền
năng của tư tưởng, đó là đặc tính của con người, quyền năng này sử dụng cái chất mà giáo sư
Clifford đã gọi rất đúng là “Chất khí tư tưởng’’  [4] . Kế đó, Tinh thần lại tác động trong chất khí
tình cảm [5] và đến lượt thứ ba, nó tác động trong Vật chất Hồng trần.
Chất khí tình cảm là chất khí mà những mối cảm xúc của chư huynh làm cho rung động lên.
Không một mãnh lực nào có thể tác động nếu không có một thứ vật chất làm trung gian giúp nó
biểu lộ ra. Các khoa học đều chứng minh điều đó với ta. Một câu châm ngôn mà nhiều người
biết, nói rằng: «Không sức mạnh nào mà không có vật chất, cũng như không vật chất nào mà lại
không có sức mạnh». Vậy thì mỗi quyền năng trong ba quyền năng của con người cần có một
khung cảnh vật chất làm trung gian để biểu lộ sự hoạt động của mình. Đối với Trí khôn, Linh
hồn dùng một vật chất mà ta gọi là chất khí tư tưởng; những tình cảm, sự vui mừng hay sự đau
đớn tự biểu lộ nhờ một thứ vật chất mà ta gọi là chất khí tình cảm cũng gọi là chất thanh khí của
cái Vía, vì những mối cảm xúc sử dụng nó để tự diễn đạt. Sau chót, vật chất hồng trần cũng cần
thiết để cho con người có thể tác động trong Cõi Trần là nơi y đang sống; vì thường thường, chư
huynh không thể dùng tư tưởng mà tạo ra một hành động được, và dời đổi vật chất tại cõi Trần.
Tôi không nói rằng điều này không thể làm được nhưng người tầm thường làm không nổi. Muốn
dùng ý chí làm cho vật chất hoạt động thì con người phải có xác thân. Vậy thì xác thân là công
cụ của ý chí để làm ra sự hành động. Cũng giống thế, thể Vía là dụng cụ của những mối cảm xúc,
và thể Trí là dụng cụ của sự khôn ngoan. Bây giờ thân thể của chư huynh làm bằng chất khí tư
tưởng, chất khí tình cảm và chất khí hồng trần cũng chỉ là một dụng cụ, một bộ phận của một cái
máy; nó không phải chính là con người thiệt thọ, vì Con Người thiệt thọ là Tinh thần chia làm ba
Ngôi, hình dáng của Thượng Ðế như tôi đã nói trước đây.
Nếu chư huynh xem xét xác thân, chư huynh hãy nghĩ đến nó trong một lúc như là gồm có hai
phần giống y như hai bộ phận của một cái máy mà chư huynh thấy trong nhà in chẳng hạn. Chư
huynh gặp một bản in bất động. Chư huynh nói: «Tôi có một bộ phận phát động và một bộ phận
phát điện, tôi cho máy chạy và máy làm việc». Cũng giống như thế, xác thân chư huynh cũng có
hai bộ phận đó với mình. Máy phát động của nó [6] , chính là sinh lực tác động trong dĩ thái, còn
máy của nó, chính là xác thân dày đặc mà chư huynh có thể nhìn thấy, sờ mó được, lấy giác quan
mà biết được. Nhờ sự so sánh mượn ở cơ giới, sự phân chia xác thân trở nên dễ hiểu. Thân thể
của chư huynh là một cái máy hết sức hoàn hảo, tuyệt đối thích nghi và có một bộ phận phát
động, còn xác thân dày đặc là cái máy.
Máy này vâng lời Linh hồn phân làm ba ngôi của con người trong những bộ phận khác nhau mà
chư huynh đã quen thuộc. Chư huynh có một khối óc và một thần kinh hệ. Ấy là bộ phận của
dụng cụ thuộc về tư tưởng. Tư tưởng của chư huynh cảm đến cái óc và thần kinh hệ. Bộ phận
này gọi là não tủy hệ, nhờ dụng cụ này chư huynh mới suy nghĩ được. Rồi đến cái phần gồm các

hạch, liên quan đến một thần kinh hệ khác gọi là giao cảm thần kinh hệ, đó là dụng cụ của những
mối cảm xúc. Rồi đến những bắp thịt là dụng cụ cần cho sự hoạt động; Ý chí nhờ những dây thần
kinh mà bắt các bắp thịt làm việc.
Ðó thiệt là tất cả những gì mà chư huynh cần biết về xác thân để có thể hiểu được một cách trọn
vẹn đề tài mà tôi sắp trình bày với chư huynh.
Sự khác biệt căn bản giữa nam và nữ là do ưu thế của não tủy hệ hay giao cảm thần kinh hệ. Ở
một người nam tầm thường bực trung bình, khối óc và não tủy hệ làm chủ cơ thể. Ðó là cái điều
mạnh nhất nơi y, cái nét đặc biệt của nam tính. Ở nơi người nữ, chính những hạch và giao cảm
thần kinh hệ làm chủ. Ðó là sự khác biệt căn bản mà không có định luật nào làm cho thay đổi
được, và công việc của người nam hay nữ làm trong xã hội phải được căn cứ trên sự khác biệt tự
nhiên và không hề thay đổi này: sự khác biệt giữa nhiệm vụ của người cha và người mẹ do sự
cấu tạo khác nhau của thân thể. Ở người cha, khối óc chiếm ưu thế, ở người mẹ, những cảm xúc
cùng với tất cả những gì nuôi dưỡng những cảm xúc đó ngự trị. Sự hiểu biết như thế rất hữu ích
để phân xét đứng đắn về những vấn đề hiện tại và sử dụng trọn vẹn những hoạt động của nam
giới và nữ giới; một quốc gia sẽ được cả phái nam lẫn phái nữ phụng sự, và mỗi bên làm việc
trong phạm vi của mình.
Khi nghiên cứu như thế về con người, ta thấy nó chia ra làm ba phần rõ rệt.
Tôi đã dùng danh từ Tiềm thức. Chư huynh nhận thức được cái công việc của trí khôn mình và
của thần kinh hệ; công việc này thuộc về trí khôn chư huynh khi chư huynh không ngủ, đang
thức đây. Chư huynh không nhận thức được (trừ khi theo cái nghĩa của Tiềm thức) cái công việc
làm của trí khôn trong chất khí tư tưởng nơi đó trí khôn luôn luôn làm việc, chỉ thỉnh thoảng
người ta mới nhận thức được cái công việc đó, thí dụ trong trường hợp của Thiên tài. Lát nữa tôi
sẽ trở lại vấn đề này. Ðối với những mối cảm xúc thì cũng vậy. Chư huynh biết rằng thỉnh
thoảng những mối cảm xúc của mình ảnh hưởng đến cái xác thân một cách rõ rệt. Chư huynh
buồn rầu nhiều, trái tim ngưng lại. Trái tim là một bắp thịt chứ không phải là một cái hạch, và nó
ngừng lại là do ảnh hưởng của một dây thần kinh của giao cảm thần kinh hệ, dây này đi thẳng
đến trái tim. Có hai dây thần kinh; một dây khiến cho trái tim đập, còn một dây khác qui định sự
hoạt động của tim. Thí dụ trái tim ngưng đập thì sự gì đã xảy ra. Sự đau đớn đã gây nên mối cảm
xúc, cảm xúc này kích thích một trong hai sợi dây đó, cho đến nỗi dây thần kinh này khiến cho
bắp thịt của trái tim co rút lại, và trong một chốc lát trái tim ngừng đập.
Thỉnh thoảng sự sợ hãi cũng khiến cho trái tim ngừng đập hay đập mau. Ðiều này hoàn toàn tùy
thuộc dây giao cảm thần kinh bị động. Nếu đó là sợi dây thần kinh điều khiển những tiếng đập
của trái tim, thì máu chảy dồn về, sẽ khiến trái tim đập nhanh hơn, còn sợi dây thần kinh thứ hai
thì bị tê liệt. Nhưng những mối cảm xúc luôn luôn có ảnh hưởng đến giao cảm thần kinh hệ và
những dây giao cảm thần kinh thì ảnh hưởng đến trái tim, đến bộ máy tiêu hóa, đến những hạch
và những bắp thịt – dù là ở nơi trái tim hay ở khắp bộ máy tiêu hóa – và do những giao cảm thần
kinh mà ảnh hưởng đến những hạch hay bắp thịt trong cơ thể. Những giọt lụy là gì, nếu không
phải là nước do hạch của con mắt tiết ra, khi hạch này bị một dây thần kinh kích thích vì một sự
cảm xúc nào đó. Những sự nhận xét này rất hữu ích để ta biết được rằng trí khôn luôn luôn ảnh
hưởng đến xác thân một cách nhất định cũng như những mối cảm xúc và những bắp thịt do ý chí
sai khiến là cái phần của thân thể dùng để làm di chuyển đồ vật. Ý chí phải cần đến sự giúp đỡ
của bắp thịt thì mới phát sinh được sự hành động. Sự tác động của tiềm thức thuộc về cảm xúc
hay tư tưởng có thể đem biểu lộ trong đời sống có ý thức được, tôi sẽ nói về điều này khi tôi đề
cập tới đời sống của con người trong cõi Trung giới. Hiện giờ đây ta chỉ cần nhận thấy rằng ta có

một dụng cụ để cho ý chí, trí khôn và những cảm xúc sử dụng, và chúng ta biết rõ những phần
của xác thân tương ứng với ba loại tiếp xúc ấy.
Bây giờ ta hãy nói về Thiên tài. Thiên tài là sự hành động bình thường của trí khôn trên cảnh giới
đặc biệt của nó, nó tác động chớp nhoáng trên khối óc, khối óc ở trong “trạng thái gọi là không
quân bình” [7] . Chư huynh hiểu rõ như thế là nghĩa gì. Chư huynh có thể tưởng tượng một vật nào
đó bị dính cứng và đứng sửng, nếu người ta đẩy nó thì nó nhúc nhích rồi tức thì nó lại trở về
ngay vị trí cũ. Hay là chư huynh có thể xem xét một vật, vì bị đẩy tới nên bắt đầu lắc lư, nó lắc
qua lắc lại như vậy mãi, nó có thể bị ngã xuống hay lần lần trở về trạng thái không nhúc nhích
như cũ. Chính cái trạng thái không ổn định của khối óc khiến cho tinh thần có dịp tự biểu lộ
thành thiên tài. Ðó là cái trạng thái mà Shakespeare đã đề cập tới khi ông nói: «Những bậc Thiên
tài thì giống như những kẻ điên khùng». Có sự thật trong lời nói này, nhưng không phải hoàn
toàn đúng với chơn lý đâu, nó có nửa phần chơn lý thôi. Vì khối óc của người thiên tài luôn luôn
không quân bình, lý do là y đi trên con đường tiến hóa tối cao. Người mà ta gọi là bậc Thiên tài
vượt đến những mức cao nhất của trào lưu tiến bộ của con người. Khối óc của y phát triển và tiến
hóa nhanh chóng, những tế bào sinh sôi nẩy nở, những tế bào của cái óc luôn luôn đâm ra những
rễ mới và những nhánh nhóc mới ra tứ phía. Nơi nào có sự sống và sự hoạt động, thì nơi đó có sự
thiếu quân bình. Ðối với những tư tưởng tầm thường của mỗi ngày thì một khối óc mất một chút
quân bình cũng đủ rồi. Cuộc sống tầm thường hằng ngày không đòi hỏi ở ta những khả năng trí
thức cao cả, nhưng nếu chư huynh bắt đầu suy nghĩ về một đề tài khó khăn mờ mịt, nếu chư
huynh bắt đầu bắt buộc khối óc mình hiểu một điều cao hơn khả năng trí óc tầm thường của
mình, thì lúc đó sẽ có một sự căng thẳng chứng tỏ rằng chư huynh bắt khối óc làm một công việc
bất thường. Trong trường hợp này cần phải thận trọng đừng để cho một sự phát triển quá nhanh
chóng làm mất quân bình.
Và trong câu nói quả quyết của Lombroso có những điều sau đây là đúng. Có hai trạng thái mất
quân bình: sự mất quân bình vì phát triển nhanh chóng và sự mất quân bình vì bệnh tật, trụy lạc;
trường hợp trên là thiên tài, trường hợp dưới là sự điên khùng. Trường hợp trên chứa đựng một
mối hy vọng cho tương lai, trường hợp dưới là sự cằn cỗi và sự trở về vật chất vô cơ. Khối óc
của người điên khùng thiếu quân bình, đúng vậy, nhưng trạng thái này phát sinh do một tỳ vết,
một vết thương hay là một sự suy nhược. Khối óc bậc có thiên tài mất quân bình vì nó tiến hóa
nhanh đến nỗi mỗi ngày lại thấy một quyền năng mới mẻ nẩy nở; linh hồn tiếp cho khối óc một
sức mạnh mới. Đối với các vị Giáo chủ của những tôn giáo lớn, những bậc thiên tài đạo đức thì
cũng thế. Khối óc của họ rất tinh tế, mong manh, mất quân bình theo chiều hướng tiến hóa chứ
không phải theo chiều hướng của bệnh tật. Những luồng sóng thần lực của những cảnh giới cao
siêu nâng họ lên cao; sự hiểu biết siêu hình bủa rải xuống họ như nước chảy. Nguồn linh cảm
thấm vào người họ và nhấc họ lên khỏi trạng thái bình thường, làm cho lời nói của họ hùng hồn
và tư tưởng của họ cao siêu. Tất cả những tôn giáo đều nhìn nhận có những người như vậy. Họ
tiết lậu những điều mà chúng ta không trông thấy, họ là những người được linh cảm trong mỗi
tôn giáo. Lombroso nói rằng những người này cũng là điên khùng vậy. Nếu thiên tài và linh cảm
đạo đức chỉ là sự điên khùng, thì cầu Trời cứ gởi những người điên khùng như vậy đến với
chúng ta. Chúng ta sẵn sàng đem một triệu khối óc tầm thường mà đổi lấy một khối óc nhờ nó
mà Ðức Thượng Ðế có thể hiện ra với chúng ta, vì chúng ta là những kẻ đui mù đây. Làm sao có
thể tránh được sự nguy hiểm khó khăn mà nhà bác học đã chứng minh rõ ràng. Xứ Ấn Ðộ có cho
ta một phương pháp khiến bộ óc con người cảm thụ lẹ làng mà tránh được sự nguy hiểm là sinh
ra tính nóng nảy dữ dội, triệu chứng đầu tiên của bệnh thần kinh. Phương pháp này là pháp môn
Yoga. Giờ đây, tôi nhận xét pháp môn Yoga về phương diện luyện tập xác thân nhiều hơn là về
phương diện luyện trí của nó. Theo lý thuyết của Pháp môn Yoga thì con người là một Tinh

Thần ở trong một thể xác. Bình thường thì Tinh Thần này không cảm đến xác thân bao nhiêu,
nhưng nếu chư huynh luyện tập cho xác thân mình trở nên nhạy cảm, thì khi đó Tinh Thần có thể
sử dụng nó như một nhạc khí và những khúc nhạc du dương sẽ nổi lên, những khúc nhạc thần
tiên chứ không phải những khúc nhạc Hồng Trần. Những nhà hiền triết định nghĩa khoa Yoga là
sự hợp nhất, sự hợp nhất với Thượng Đế. Họ nói rằng: Chư huynh phải tập luyện xác thân. Xác
thân của người thường chưa chuẩn bị để thu nhận những luồng thần lực của đời sống cao siêu,
chúng sẽ làm cho xác thân đó tan tành ra từng mảnh. Trước khi kêu gọi thần lực tuôn xuống, chư
huynh phải chuẩn bị xác thân mình để tiếp nhận nó. Ðể đạt được mục đích đó, người ta đưa ra
một phương pháp liên quan đến thức ăn, giấc ngủ và sự tinh luyện xác thân; phương pháp này
không làm hại cho sức khỏe, sẽ khiến cho xác thân nhạy cảm hơn rất nhiều, dễ thụ cảm hơn xác
thân của người thường. Rồi người ta khuyên phải tham thiền. Do sự tập trung tư tưởng, tinh thần
trụ vào sự vật duy nhất và khối óc bị bắt buộc tuân theo kỷ luật đó. Những tín đồ Cơ Ðốc Giáo
La Mã cũng luyện theo phương pháp này và lẽ tự nhiên những vị xa lánh trần tục biết cách công
phu này nhiều hơn. Những người ngoài đời cũng áp dụng nó để huấn luyện cái trí họ biết vâng
lời và khối óc họ được nhạy cảm. Kỷ luật rất khắc khổ cho nên nhiều người không màng giữ
giới. Tuân theo kỷ luật này thì không được ăn thịt, vì ăn thịt làm cho xác thân thô trược; xác thân
phải nhẹ nhàng, thanh bai, tinh tế, nhạy cảm; không được uống rượu – dưới bất cứ hình thức nào
– vì đó là một thứ thuốc độc đối với vài bộ phận của khối óc, những bộ phận mà chư huynh phải
sử dụng đến khi tham thiền. Vậy nên tuyệt nhiên cấm uống rượu. Tất cả những cơ năng của sự
sống phải được quy định. Không được ngủ nhiều quá hay ít quá. Ngủ nhiều sinh trì trệ, chậm
chạp, ngủ ít thì thần kinh sẽ bị kích thích, dễ nổi giận. Khoa Yoga là một phương pháp quân bình
tuyệt hảo. Nó có tính cách hoàn toàn khoa học và phải đạt được mục đích vì nó có căn bản nơi
những định luật của thiên nhiên. Nhưng nó đòi hỏi nhiều năm thực hành siêng năng trước khi
thành công; khi thành công rồi và khi mà xác thân trở nên nhạy cảm, thì lúc đó chư huynh có thể
vững tâm mở cửa cho Tinh Thần đi vô và đón tiếp Nó trong đền thiêng tức là cái xác thân mà
chư huynh đã tinh luyện để phụng sự Nó. Lúc đó đời sống trở nên có ý thức ở trong tất cả cảnh
giới, và những giác quan siêu việt nhất cũng được phát triển dễ dàng như các giác quan thường.
Xác thân là cái dụng cụ hoàn hảo nhất của chúng ta, vì nó là cái dụng cụ đầu tiên và tiến hóa
nhất, những thể khác (Vía, Trí) còn đang tiến hóa, ta có thể dùng khoa Yoga mà thúc đẩy sự tiến
hóa này. Xác thân ta là một dụng cụ có thể phát triển để ứng đáp với những hoài vọng cao cả
nhất. Chỉ những điều kiện là khắc khổ; cũng giống thế, tất cả những định luật của thiên nhiên đều
không thể cưỡng lại, không thể vi phạm. Nếu chư huynh làm đầy đủ những điều kiện thì thiên
nhiên sẽ ứng đáp với chư huynh, không làm đủ những điều kiện thì không bao giờ chư huynh
hoạch đắc được những mãnh lực đó, vì định luật luôn luôn bất biến, nó là sự biểu lộ của Thiên ý
vậy. Tới đây chúng ta hãy ngừng lại ở ý niệm này trong giây phút.
Sự chết là gì? Nếu tôi trở lại với sự so sánh ở lúc đầu, đó là bộ máy phát động đã rời bỏ toàn thể
cái máy lớn, không hơn không kém; bộ máy phát động (cái phách) gồm những phần thanh bai tế
nhị nhất trong thân thể ta, nó do những dĩ thái hồng trần cấu tạo ra, trong đó tất cả sức mạnh của
sinh lực tác động và nhờ đó mà cái phần dày đặc là xác thân chuyển động, cảm xúc, tư tưởng, và
sống; cái bộ máy phát động này để lại phía sau mình nó cái xác thân thô trược. Sự chết chỉ là thế
mà thôi, nó không đá động gì đến cái Bản thể thiệt thọ của chư huynh, nó chỉ ngăn cách chư
huynh với cái xác thân trong đó chư huynh đã từng sống, cái xác thân mà chư huynh đã lìa bỏ
mỗi đêm trong giấc ngủ, vì thế cho nên sự chia lìa này không phải là mới mẻ lạ lùng đối với chư
huynh. Xác thân là một cái áo mà chư huynh đã cởi bỏ khi về đến nhà; sự chết chỉ là liệng bỏ
một cái áo không cần thiết nữa, vì nó không còn có thể ứng đáp với những nhu cầu của Tinh
Thần. Tinh Thần này mới là con người thiệt thọ; thế mà người ta lại sợ chết . . . Nhưng cái lớp áo

bên ngoài, cái xác thân này có một điều rất ích lợi nếu chư huynh muốn học tập cách sử dụng nó.
Nó có tính cách tự động, chư huynh có thể sai khiến nó làm đúng điều gì mà chư huynh muốn;
với một chút kinh ngiệm chư huynh sẽ sử dụng được tính tự động của xác thân để đi đến mục
tiêu mong muốn. Thí dụ chư huynh thấy rằng xác thân chư huynh chống cự lại nếu chư huynh
bảo nó hành động theo một đường lối nào đó; vậy chư huynh hãy làm cái việc đó một cách đều
đặn; rồi sự thực hành này sau sẽ trở thành một thói quen, và khi thói quen này đã trở nên hoàn
toàn rồi thì xác thân sẽ làm việc đó một cách tự động máy móc. Trong khi chư huynh ai đã chơi
dương cầm hay Vi na (đàn Ấn Ðộ) đều biết rằng trong khi tập đàn lúc đầu, người ta phải chú ý
đến mỗi cử động, phải chú ý khi ngón tay khảy dây đàn hay bấm nốt đàn trên phím. Nhưng sau
này, khi đã tiến tới, không cần chú ý điều khiển những ngón tay nữa, chúng tự động. Chư huynh
không cần phải nghĩ đến những ngón tay thuần thục của mình nữa; tính tự động của xác thân đã
khiến chư huynh có thể để cho những ngón tay tự chúng làm cái công việc mà chư huynh đã dạy
chúng.
Không có một thói xấu nào mà người ta lại không có thể diệt trừ bằng cách sử dụng Ý chí một
cách liên tục. Nếu một tư tưởng xấu xa cứ ám ảnh mãi tâm trí chư huynh và nếu chư huynh
không muốn như vậy, chư huynh hãy xua đuổi nó đi và lấy một tư tưởng tốt lành mà thay thế nó.
Dần dần tính tự động của khối óc sẽ giúp chư huynh và sẽ thay thế chư huynh mà hành động.
Chư huynh hay nóng giận, lời nói cộc cằn từ miệng cứ thốt ra mãi; chư huynh hãy bắt cái miệng
mình làm thinh. Đừng bao giờ nói mà không suy nghĩ trước. Trong vài tuần lễ, điều này làm cho
chư huynh bực bội, khó chịu, rồi sau thói quen trở nên tự động, và không còn cho phép cái
miệng được thốt ra một lời nào mà Tinh thần không ưng thuận. Ôi, chư huynh biết được rằng
điều này thật dễ dàng. Bước đầu thì khó khăn cũng như tất cả những bước đầu khác, nhưng thiên
nhiên đã xây dựng những thể của chúng ta để chúng tuân theo mạng lệnh của ý chí chúng ta, chỉ
chúng ta chịu khó tập luyện chúng cho có thói quen vâng lời.
Tôi đã nói về Tinh thần, Linh hồn và Xác thân. Nay tôi xin trình bày trước mắt chư huynh cái
hình ảnh của chư huynh. Tinh thần ngự ở phía trên, ở giữa tức là Linh hồn tức là cái lương tri
đang thức tỉnh và ở dưới là xác thân. Linh hồn ở quãng giữa có thể có hoài vọng lên cao về phía
Tinh thần hay là nó có thể bị lôi kéo về phía xác thân, chính là trong phần hồn xảy ra sự chiến
đấu của con người, luôn luôn con người tìm cách trở về với Tinh thần đã sinh ra nó; một mặt
khác nó còn bị những dục vọng dữ dội và những sự thèm khát của xác thân lôi cuốn, đây là
những điều mà nó phải rán chế ngự ở thế gian này. Nó toan bay lên trời, nhưng trái đất lại níu nó
xuống lại; mỗi người đều biết sự chiến đấu này. Tự chư huynh, chư huynh có thể theo sự ước
vọng lên cao này, chư huynh chống chọi với những dục vọng thô trược, chư huynh tiến lên về
phía Thượng Đế. Ngài ngự nơi chư huynh đây, chư huynh phải làm chủ xác thân, nó phải là kẻ
tôi tớ của chư huynh, mặc dù trước kia chư huynh đã cho phép nó đóng vai ông chủ. Nếu chư
huynh có một con ngựa rất đẹp, can đảm và bướng bỉnh, thoạt đầu nó không chịu vâng lời, chắc
chư huynh không muốn hành hạ nó, trừng trị nó một cách tàn bạo, nhưng chư huynh sẽ huấn
luyện nó một cách dịu dàng và thận trọng cho tới khi nó vâng lời chư huynh. Xác thân chính là
con ngựa đó vậy. Chư huynh đừng hành hạ nó, đừng đối đãi tàn bạo với nó. Chư huynh hãy huấn
luyện nó, hãy uốn nó, nó phải vâng lời theo mệnh lệnh của chư huynh, nó phải vâng theo ý chí
của Tinh thần. Năm tháng sẽ trôi qua, và Tinh thần sẽ trở thành vị chủ nhân của xác thân, xác
thân sẽ nhờ quyền năng Tinh thần mà được giải thoát và trở nên cái dụng cụ quí báu của Tinh
thần tức là của Chúa của nó vậy.
Vậy thì, khi sự tranh chấp nổi lên nơi bản thân chư huynh, khi Chơn Ngã cao cả và bản ngã thấp
hèn chiến đấu với nhau, xin chư huynh hãy nhớ rằng tương lai của chư huynh tùy thuộc ở sự lựa

chọn của chư huynh đó. Mỗi khi mà chư huynh sa ngã trước những sự quyến rủ thấp hèn, thì
những quyến rủ này trở nên mạnh mẽ hơn. Từ nay trở đi, mỗi bước nhượng bộ cho bản ngã thấp
hèn sẽ là một cái khoen sắt nối thêm vào, một sức nặng trì xuống ngăn cản chư huynh không cho
bay lên cao. Chư huynh hãy lắng nghe lời kêu gọi của Tinh thần: ‘‘Các ngươi thuộc về quyền sở
hữu của ta, các ngươi không thuộc về quyền sở hữu của xác thân, ta đã gởi các ngươi xuống trần
thế để các ngươi tự giải thoát chứ không phải để trở thành những tên nô lệ.” Nếu chư huynh lựa
chọn điều này thì mỗi tháng trôi qua, mỗi mùa Xuân đến, đời sống của chư huynh sẽ trở nên dễ
dàng hơn, vui vẻ hơn, mạnh mẽ hơn. Chư huynh vốn dòng giống Thiêng Liêng, những vị
Thượng Ðế vị lai chứ không phải là những ma quỉ cần phải chiến thắng. Nếu chư huynh nghe
theo Chơn ngã cao cả thì Ðức Thượng Ðế thiêng liêng sẽ hiện đến càng ngày càng rõ ràng nơi
chư huynh và chư huynh sẽ biết được sự an tịnh cùng niềm hoan lạc của con người đã tự biết
mình, đã sử dụng được xác thân mình như là một dụng cụ, một tên tôi tớ. 

II - ÐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI TRÊN CÕI TRUNG
GIỚI SAU KHI CHẾT
 
Nay chúng ta đề cập đến phần thứ hai của đề tài. Những ai trong chư huynh đã quen thuộc với
những kinh sách thời Trung Cổ, đều biết một danh từ rất thông dụng ngày nay, đó là danh từ
“Hào quang.” Những nhà luyện kim [8] đã cho chư huynh biết chữ đó và chư huynh cũng thấy nói
trong những cuốn sách y học. Paracelse đã dùng chữ này để chỉ cơ thể và bản chất con người.
Chữ này được Thông Thiên Học đương thời chấp nhận vì nó miêu tả đúng hơn mọi chữ khác các
phần vô hình của thân thể con người có liên quan đến những mối cảm xúc. Ở thời Trung Cổ, chữ
này dùng để che đậy một vài ý niệm mà các tác giả không dám nói thẳng ra. Khi chư huynh đọc
những cuốn sách của thời đại đó, nếu chư huynh muốn than phiền rằng chúng thật là khó hiểu,
thì xin chư huynh hãy nhớ cho rằng tác giả những sách đó có thể bị giam cầm hay là lên giàn
hỏa. Họ bắt buộc phải giấu kín những chơn lý dưới một ngôn ngữ có tính cách tượng trưng, nếu
nói rõ những chơn lý đó ra thì sẽ nguy hiểm lắm.
Cách một năm hay mười tám tháng, tiếng “hào quang” này được một vị y sĩ ở Luân Ðôn thốt ra
tức là Bác sĩ Kilner trong một buổi nhóm họp khoa học. Theo như tôi biết thì đó là lần đầu tiên
một nhà thông thái, khi nói đến cơ thể con người có thể chứng minh trước con mắt thịt của con
người cái phần vô hình lúc bình thường thì không thấy được, nó chính là hào quang con người
vậy. Người ta dựng lên những tấm màn có thể ngăn ánh sáng lại hay để cho ánh sáng lọt vào, tùy
theo nhu cầu; người ta dùng hai tấm kính đó có một chất lỏng làm thành một bức màn che trong
suốt. Khi nhìn một người thường qua bức màn chắn đó và tùy theo những điều kiện đặc biệt của
ánh sáng và bóng tối, Bác sĩ Kilner có thể làm con mắt thịt không kinh nghiệm và không luyện
tập thấy được cái phần thô trược nhất gọi là “Hào quang”con người.
Bình thường thì người ta không sao thấy được cái hào quang có màu sắc nó bao quanh con
người. Mỗi người trong chư huynh đều có xung quanh mình một bầu chất khí tế nhị, giống như
một đám mây, màu sắc của nó thay đổi tùy theo những cảm xúc và tư tưởng của chư huynh. Vị
quan sát viên trông thấy sự thay đổi màu sắc đó, nhưng chỉ quan sát viên nào đã phát triển được
một thị giác sắc bén hơn là thị giác thường mới nhìn thấy được mà thôi; không cần đến cái cách
thức máy móc của Bác sĩ Kilner, y vẫn có thể nhìn thấy cái đám mây bao quanh con người, con
thú, cây cỏ và hòn đá. Một phần đám mây này do chất thanh khí làm ra, đó là chất khí của tình
cảm, vì những mối cảm xúc, những sự thay đổi trạng thái trong lương tri làm cho chất khí đó
rung động. Một khi một mối cảm xúc xuyên qua lương tri chư huynh, chất thanh khí ở trong
mình chư huynh và xung quanh chư huynh bỗng nổi lên như sóng gợn ba đào, giống hệt như khi
chư huynh lấy một cái dùi mà đánh vào một cái cồng (cái chiêng). Một nhà bác học sẽ nói với
chư huynh rằng có một khu vực lớn đầy những làn sóng rung động bao quanh cái cồng (chiêng),
những làn sóng rung động đập vào tai chư huynh làm cho chư huynh nghe những tiếng tăm; giữa
chư huynh và cái cồng thì không ai trông thấy được những làn sóng rung động đó; tuy nhiên,
những làn rung động ấy vẫn có, vì bằng cớ là chúng đã đập vào cái cơ quan thích hợp để thu
nhận chúng và phát sinh lại chúng.
Cũng giống như thế, khi chư huynh bị một việc gì làm cho xúc động, thì có một sự đụng chạm
trong chất thanh khí này: những làn sóng phát sinh từ trong mình chư huynh tràn lan ra ngoài
giống như là một bầu lớn đầy những khí chất đang rung động; tuân theo luật thiên nhiên cũng
như tất cả mọi làn rung động, khi chúng đi xa các nguồn phát sinh ra chúng thì chúng càng yếu

sức và càng bị tiêu mòn lần lần. Chư huynh hãy nghĩ đến cái chất khí tế nhị mịn màng, vô hình,
mà sự cảm xúc làm cho rung động, giống như không khí rung động khi một âm thanh phát sinh
từ một cái cồng, từ một cây vĩ cầm hay là một cây dương cầm vậy. Nhưng cái chất thanh khí này
không ứng đáp với âm thanh hay ánh sáng, hay điện lực, tôi có thể nói rằng nó chỉ có thể ứng
đáp với một làn rung động của sự cảm xúc mà thôi. Đó là cái nét đặc biệt mà Thượng Ðế, vị
Kiến trúc sư tối cao, đã ban cho nó, khiến cho sự cảm xúc được liên hệ đến một chất khí đặc biệt,
giống hệt như những chất khí khác ứng đáp với âm thanh, với ánh sáng, với điện lực. Chất khí
hay vật chất luôn luôn được dùng làm trung gian để di chuyển tinh lực hay khí lực xuyên qua
không gian.
Chắc chư huynh cũng không lấy làm lạ lùng khi thấy chỉ một chất khí đặc biệt ứng đáp với
những mối cảm xúc trong khi học hỏi về vật lý, chư huynh đã quen thuộc với những đặc tính này
rồi. Một tia ánh sáng không làm nẩy sinh trong không khí những làn rung động đập vào lỗ tai,
cũng giống như thế, những làn rung động mà chúng ta nhận thấy như những âm thanh không thể
phát sinh do những làn sóng dĩ thái mà ta gọi là ánh sáng được. Chư huynh nên nhớ rằng Sir
William Crookes một lần kia đã lập ra một bảng kê khai những loại rung động. Ông chia những
làn sóng rung động ra từng loại, chúng tự biểu lộ ra, thành ra điện lực, âm thanh hay ánh sáng,
sau cùng ông nhận thấy rằng có những làn sóng rung động mà con người chưa biết được, mà
chúng ta cũng chưa nhận thức được; có thể sau này chúng được áp dụng trong tương lai, chúng
sẽ ứng đáp với một hình thức của mãnh lực khác hay của sinh lực khác, có lẽ chúng sẽ ứng đáp
với tư tưởng. Tôi sẽ nói đến tư tưởng trong kỳ họp sau; bây giờ đây tôi nói đến sự biểu lộ đặc
biệt của lương tri mà người ta gọi là sự cảm xúc.
Tôi xin chư huynh hãy nhớ lại một điều khác nữa về sự liên quan giữa một sự biến đổi của lương
tri gọi là sự cảm xúc và cái chất khí rung động dưới ảnh hưởng của nó. Sự cảm xúc tương ứng
với một lối rung động đặc biệt và cái lối rung động này cũng tương ứng với sự cảm xúc. Nếu
chất thanh khí rung động, thì ở tự nơi lương tri của chư huynh bỗng nổi lên một sự cảm xúc
tương ứng với cái làn rung động đặc biệt đã va chạm vào chư huynh và truyền qua chất thanh khí
của cái vía của chư huynh. Ðiều này đã được chứng minh một cách rất hứng thú. Tôi chỉ nói rằng
chư huynh có thể tìm học về vấn đề này trong những cuốn sách Pháp nói về những sự thí nghiệm
của khoa thôi miên và những trạng thái xuất thần của thuật thôi miên. Trong những cuốn sách đó
người ta nói rằng chư huynh có thể khêu gợi một sự cảm xúc và làm phát sinh một cử động
tương ứng của một người bị chư huynh thôi miên khi chư huynh truyền sự cảm xúc và sự cử
động đó qua trí óc của y. Như thế, nếu chư huynh cầm lấy bàn tay của người bị thôi miên và giựt
giựt như là chư huynh đang nổi giận thì y liền tỏ vẻ nổi giận ngay; hay nếu chư huynh làm cho
sự tức giận phát sinh, thì những cử chỉ, những dấu hiệu bên ngoài của sự tức giận liền hiện ngay
nơi y.
Nếu chư huynh muốn thí nghiệm những điều mà đối với chư huynh có lẽ chúng có vẻ mới lạ, thì
chư huynh hãy đọc những cuốn sách trong đó chư huynh có thể tìm thấy những kết quả sự sưu
tầm của khoa học liên quan đến đề tài này. Bây giờ, chư huynh có thể thừa nhận như là một giả
thiết rằng một cảm xúc làm nẩy sinh một làn rung động trong chất thanh khí và nếu một làn rung
động phát sinh trong chất đó thì mối cảm xúc tương ứng liền nẩy sinh ngay khi làn rung động
này va chạm vào một con người.
Cần phải nhớ một điểm khác nữa, đó là một phần chất thanh khí của ý chí xuyên qua chất dày
đặc của xác thân ta và như vậy trở thành một thành phần của xác thân. Chư huynh hẳn còn nhớ
tôi đã định nghĩa xác thân như thế nào, đó chỉ là một dụng cụ của lương tri, một dụng cụ vật chất
mà thôi. Thoạt đầu, ta có những chất đặc, những chất lỏng, những chất hơi, những chất dĩ thái,

rồi đến cái chất thanh khí của cái Vía nó thấm nhuần tất cả bốn loại đó. Khi chư huynh nhúng
một miếng bông đá (éponge) xuống nước, nước liền thấm vào miếng bông đá mà cũng vẫn bao
quanh miếng đó. Cũng giống như thế, cả thân thể con người đều thấm nhuần chất thanh khí của
cái Vía và một phần lớn chất thanh khí này cũng bao quanh xác thân. Chất thanh khí này thường
được gọi là thể Vía, để cho dễ hiểu, từ nay tôi gọi chất này là cái phần Vía của xác thân vì chư
huynh còn nhớ rằng tôi đã chia con người ra làm ba phần: Tinh thần, Linh hồn và Xác thân. Mà
chất thanh khí của cái Vía thấm nhuần Xác thân còn lan rộng ra ngoài cái thể xác dày đặc hữu
hình; một phần của nó làm ra hào quang, tức là đám mây vô hình bao bọc lấy xác thân dày đặc
của con người. Khi tách rời khỏi xác thân, cái Vía có một hình dáng giống hệt cái xác thân của
nó. Nhưng ngoài trường hợp này nó chỉ là một đám mây thường, thấm nhuần xác thân và len lỏi
vào trong hình hài của con người. Chư huynh hãy tưởng tượng đến cái chất thanh khí đó thâm
nhập vào mỗi phần của xác thân và lan rộng ra ngoài nữa, và xung quanh nó cũng có một đại
dương làm bằng chất thanh khí lúc nào cũng có thể rung động nếu chất thanh khí trong mình của
chư huynh rung động
Xác thân và cái Vía khác nhau rất xa. Xác thân là cái thể tiến hóa nhất trong các thể, nó đã tiến
hóa trước hết và vì thế nên đã tiến bộ nhiều. Cái Vía chưa tiến hóa bằng xác thân; nhưng chư
huynh càng có học thức, càng trau dồi nghệ thuật, tư tưởng và đời sống hằng ngày của chư
huynh càng có những xu hướng thanh cao, thì cái Vía càng phát triển nơi chư huynh. Nó đang
tiến hóa và sự phát triển của nó được tiếp diễn một cách nhanh chóng, căn cứ vào sự phát triển trí
khôn và tư tưởng trong nhân loại.
Ngày nay, cái Vía của những người tiến bộ nhất trong nhân loại thì mở mang rất lớn và tốt đẹp,
nhờ nó mà sự phát triển kỳ diệu của thiên tài về sự cảm xúc biểu lộ nơi người nghệ sĩ đã được
tăng trưởng. Ðối với tất cả chư huynh, những người sáng suốt và ưa suy nghĩ thì cái Vía cũng đã
tiến hóa khá nhiều rồi.
Cần phải hiểu rằng con người tùy theo phong thổ, khí hậu, chủng tộc mà khác nhau rất xa. Chư
huynh cũng nên nhớ rằng cái Vía của chư huynh cũng có những giác quan giống như xác thân
vậy. Nhiều người nhờ những điều kiện về chủng tộc và khí hậu nên mở mang những giác quan
này. Ở Californie, phía Tây Châu Mỹ, hay ở tại một quốc gia ở Trung Mỹ, áp suất của điện lực
trong không khí thường cao đến nổi trẻ em chơi đùa bằng cách lấy bàn chân cọ sát vào tấm thảm,
và như vậy, thân thể của các em chứa đầy điện, và các em có thể lấy ngón tay mình chạm vào má
một em khác và làm cho tia điện xẹt ra ở đầu ngón tay em. Trong những điều kiện này, những
giác quan của cái Vía được phát triển mau lẹ lắm. Dọc khắp bờ biển phía Tây Châu Mỹ, chư
huynh sẽ thấy có nhiều người (tuy nhiên chưa phải là đa số) đã phát triển thể Vía của họ trên một
mức rất cao, họ đã trở nên những người nhạy cảm. Tôi xin nói thêm rằng ở vào trình độ tiến hóa
của chúng ta hiện thời, ai ai cũng có thể trong chốc lát, đi đến cái mức nhạy cảm đó bằng cách
cho kẻ khác thôi miên mình, điều này làm tê liệt xác thân, nhưng làm cho ta có thể có thần nhãn
hay thần nhĩ được. Ðiều này chứng tỏ rằng những giác quan của cái Vía sắp sửa trở nên hoạt
động. Ở một người nam hay người nữ tầm thường, tuy đã được tiến hóa đến mức cao đó rồi,
nhưng thường những giác quan của cái Vía chỉ biểu lộ ra khi nào chúng bị một cái gì ở ngoại
cảnh kích thích. Tuy nhiên trong một vài trường hợp, cái giác quan này cũng hiện ra một cách tự
nhiên. Nếu bộ thần kinh của chư huynh bị kích thích quá độ, nếu chư huynh làm việc quá sức,
nếu chư huynh bị nóng đến 39 độ, chư huynh có thể có thần nhãn hay thần nhĩ. Khí chư huynh bị
nóng (sốt) và chư huynh mê sảng, đó là vì xác thân quá yếu đuối đã để cho cái Vía ngự trị mình
trong chốc lát và in xuống khối óc yếu mệt những hiện tượng gì mà cái Vía đã nhìn thấy ở Cõi
Trung Giới. Chư huynh thường hay thấy nhiều người cứ mỗi khi đau ốm là có thần nhãn, đó là

một thứ thần nhãn nguy hiểm, nếu xác thân không đủ sức khỏe, thì thứ thần nhãn này sẽ phát
sinh một sự căng thẳng quá độ khiến cho tinh thần bị suy giảm hay có khi còn làm ra những cơn
loạn thần kinh. Có thần nhãn mở ra theo một lối khác, những âm thanh phát sinh ra những màu
sắc và có đôi ba người trông thấy màu sắc ấy. Hoàng hậu xứ Lô Mã Ni là bà Carmen Sylva, vừa
mới có đăng trên tạp chí “Thế kỷ thứ 19 và những thế kỷ sau đó” một bài miêu tả sự có thần
nhãn của chính bà. Mỗi khi bà nghe âm nhạc là bà trông thấy màu sắc, tùy theo giọng nhạc cao
thấp, các màu sắc này trở nên sậm và lợt. Tiếng kèn săn bắn phát sinh màu đỏ tươi, âm nhạc có
tính cách đạo đức làm cho bầu không khí bị nhuộm màu xanh dương lợt [9] . Chư huynh sẽ tìm
thấy rất nhiều chi tiết liên quan đến đề tài này trong những sách báo Thông Thiên Học. Nay, chư
huynh hãy xem xét về một cảm xúc mà có lẽ đa số chư huynh đều có, đó là một cảm giác bực
bội, băn khoăn ban đêm trong khi chư huynh ở nhà một mình. Một lần đề cập đến ma quỉ,
Carlyle nói: ‘‘Tôi không tin ma quỉ, nhưng nếu tôi thức giấc nửa đêm thì tôi sợ nó”. Nhiều người
đã có ít nhiều cái cảm giác đó hay một cảm giác tương tự.
Rất nhiều người trong chúng ta ban ngày rất can đảm cũng sẽ hiểu cảm giác này nghĩa là gì.
Riêng tôi, tôi nhớ hồi tôi còn là một người hoài nghi và sống một mình ở Luân Ðôn. Tôi ngồi
viết đến hai, ba giờ sáng, tới lúc đó tôi phải hết sức cố gắng mới dám tắt đèn đi và leo lên thang
lầu trên căn nhà hiu quạnh và lạnh trang. Tôi tự cảm thấy mình bồn chồn băn khoăn bực bội,
nhưng lại tự ái, không muốn công nhận điều đó. Nay tôi đã hiểu biết Cõi Trung Giới, tôi không
còn sợ hãi điều gì nữa; trước kia tôi không tin cõi đó và tôi đâm ra sợ sệt. Tại sao vậy ?  Trước
tôi không hiểu vì lý do nào, mà nay thì tôi biết rồi. Trong những giờ khuya đó, sinh lực bị giảm
đi. Tất cả những ông thầy thuốc đều nói với chư huynh rằng, mức độ sinh khí lên cao tột lúc nửa
đêm. Khi đau ốm, người ta thường hay chết vào khoảng từ nửa đêm đến hai, ba giờ sáng. Lúc đó
sinh khí bị giảm bớt, chất thanh khí thạnh hơn, nó nhận được những cảm giác ở Cõi Trung Giới
và truyền chúng qua cho khối óc; thế nên chúng ta lùi bước trước sự huyền bí lạ lùng và phải sợ
hãi.
Có lẽ vài ba người trong chư huynh đã từng có tánh linh biết được những sự việc tới. Nếu một
người bạn ở xa bị đau ốm, tuy chư huynh không được báo tin, chư huynh cũng sẽ cảm thấy một
sự bồn chồn lo lắng cho y. Khi một người bạn từ trần, chư huynh sẽ thấy tâm thần dã dượi đúng
vào lúc y tắt hơi. Nếu chư huynh muốn kiểm soát lại những cảm giác đó chư huynh hãy tập ghi
nhớ giờ phút trong lúc đó chư huynh bị xúc động không lý do và chư huynh hãy gìn giữ những
lời ghi chú để sau này xem lại coi giờ phút đó có đúng với những sự việc liên quan đến một
người bà con hay một người bạn mà chư huynh tưởng tới không. Chư huynh tự mình học hỏi
mình, chư huynh sẽ hiểu biết được nhiều hơn là đi nghe diễn thuyết. Những buổi diễn thuyết chỉ
có tính cách hướng dẫn. Sự hiểu biết là kết quả công phu khảo cứu và quan sát riêng của mình.
Trong vài trường hợp chất thanh khí tự biểu lộ rõ ràng và có thể sờ mó được. Ðiều xảy ra khi
một thứ cảm giác làm xúc động trọn cả một đám đông. Một vài thí dụ của trường hợp này là
nghệ thuật hùng biện nhắm vào những cảm xúc của con người. Ða số trong chư huynh đã biết
tiếng bạn tôi Charles Bradlaugh, một trong những nhà hùng biện danh tiếng ngày nay. Tôi đã
nghe ông diễn thuyết về một đề tài xã hội cho những nhân viên của Carlton Club, các vị nghị
viện khả kính. Ngồi trước mặt diễn giả, tất cả các thính giả đều vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt chỉ
vì họ bị lôi cuốn bởi một cảm xúc bừng dậy trong Vía của họ đang rung động vì ảnh hưởng mãnh
liệt của diễn giả. Nhưng tôi hoài nghi rằng tới ngày hôm sau khi nhớ lại buổi diễn thuyết này, họ
sẽ phản đối kịch liệt những quan niệm đã đưa ra mà họ tán thành sốt sắng hôm trước. Và trường
hợp như thế xảy ra luôn luôn. Thí dụ như trong một vài trường hợp sợ hãi cuồng loạn. Thình lình
một tiếng hét vang, vài ba người đâm hoảng hốt. Cái Vía của họ rung động; những làn sóng kinh

khủng nổi lên rồi lan ra xa. Chúng truyền nhiễm cái Vía của những người tụ họp gần đó làm cho
họ cũng phát sợ. Tới chừng đó thì họ mất hết hồn vía rồi cả thảy đua chạy tán loạn để tránh một
hiểm họa tưởng tượng.
Ðối với những cơn loạn thần kinh thì cũng như vậy. Một vị y sĩ sẽ nói rằng nếu trong một phòng
bệnh của nhà thương, một bệnh nhân bỗng nổi cơn loạn thần kinh thì người ta phải mang y ngay
ra nơi khác để tránh cho những bệnh nhân khác khỏi bị lây. Tại sao vậy ! Vì những cảm xúc đã
làm rung động cái Vía của người thứ nhất thì sự rung động này sẽ truyền sang cái Vía của những
người khác và như thế thì cơn loạn thần kinh sẽ nhiễm họ.
Chư huynh hãy nhớ lại những kinh nghiệm của mình. Chư huynh gặp một người vui vẻ, sung
sướng, chư huynh liền nói. Khi người này bước vào thật giống như một tia sáng mặt trời chiếu
rạng. Một người khác đến gần chư huynh, mang theo mình một đám mây u uất, buồn chán. Tất
cả chúng ta đều phát buồn và chán nản. Tại sao vậy ! Tất cả những điều này đều có một lý do. Sự
vui hay buồn đều hay lây, chúng tăng tiến giống như một mầm bệnh hay một sức khỏe cường
tráng. Tất cả những gì khiến cho vật chất rung động thì đều có tính cách hay lây vì những sự
rung động của vật chất vẫn được tái diễn và làm nổi dậy những mối cảm xúc tương tự nơi kẻ
khác.
Đây là một thí dụ cuối cùng. Chư huynh gặp một người có tánh xấu hay tức giận. Trong trường
hợp này, chư huynh có bao giờ để ý thấy rằng mình bị lây, chư huynh cũng tức giận, tuy rằng
trước đó chư huynh rất thơ thới và đầy thiện chí hay không?  Những làn rung động của cái Vía
của người này đã truyền sang chư huynh và khiến chư huynh tức giận, nổi cáu.
Vì thế cho nên những vị Ðại Giáo Chủ thường khuyên chư huynh lấy ơn mà trả oán, lấy tình
thương yêu mà đáp lại lòng thù hận. Nếu một người kia tới chư huynh mà trong lòng rất thù hận
chư huynh, và nếu chư huynh cũng rất thù hận y, thì những làn sóng thù hận này vì giống nhau
nên trợ sức cho nhau và trở nên mãnh liệt, tàn bạo. Sự tức giận khêu gợi sự tức giận, lòng thù
hận mà nẩy sinh lòng thù hận, hai người sẽ cải lộn với nhau và có thể trở thành những kẻ thù
địch đời đời. Bởi thế cho nên mỗi vị Đại Giáo Chủ khuyên ta rằng: ‘‘Các con đừng đem cái ác,
các con hãy đem cái lành mà đáp lại cái ác”. Ðức Phật đã nói: ‘‘Lấy oán trả oán thì oán không
dứt, lấy ơn trả oán thì oán mới tiêu”. Ðức Chúa Ki Tô dạy chư huynh phải chúc phước lành cho
những kẻ oán ghét chư huynh. Ấy đó thánh huấn của các vị Ðại Minh Triết, Giáo Chủ nhân loại
ban ra vốn có lý do khoa học. Vừa mới đây một người có tánh hoài nghi nói với tôi rằng: ‘‘Tại
sao tôi lại phải lấy ơn đáp oán. Như vậy thật là phi lý”. Tôi không bàn cãi với y trên quan điểm
đạo đức. Tôi chỉ trình bày cho y thấy cái kết quả cụ thể, khiến cho y chú ý đến những làn rung
động của sự tức giận và những làn rung động đối lập phát sinh từ lòng thương yêu; tôi cắt nghĩa
cho y rõ vì làm sao những làn sóng thương yêu dập tắt được làn sóng thù hận, tránh được những
sự cãi vã và mang lại niềm hòa khí. Lúc đó, y trả lời rằng: ‘‘Ôi, bây giờ bà nói đúng lý, tôi mới
hiểu rõ tại sao tôi phải dĩ ơn báo oán”.
Vậy phải nhớ điều này, chư huynh có thể tự ý mình mở mang những cảm tình tốt đẹp, thanh cao
và do đó mà giúp đỡ những kẻ khác chiến thắng được những cảm tình xấu xa thấp hèn của họ.
Chư huynh có thể trở thành một nguồn ơn huệ làm cho người tức giận nguôi ngoai, người quạu
quọ dịu dàng, chư huynh ban rải xung quanh mình sự hài lòng, an phận, nhiều hạnh phúc, nỗi vui
mừng bằng cách tuân theo định luật thiên nhiên vững vàng và không bị vi phản. Trước khi chấm
dứt đề tài này, tôi phải nói cho chư huynh biết cái trách nhiệm của chư huynh đối với kẻ khác.
Không những một mối cảm xúc tốt lành làm nổi dậy nơi chư huynh một làn rung động của thanh
khí mà nó còn lan tràn ra xung quanh và cảm đến cái Vía của kẻ khác. Mối cảm xúc xấu xa cũng

tác động như vậy. Vậy thì không phải tự chủ ở bề ngoài mà thôi. . . dằn xuống, không ngó,
không nhìn một cách giận dữ, không ăn nói quạu quọ, không phát sinh một cử chỉ đe dọa, cũng
chưa đủ đâu, chư huynh phải trừ tận gốc rễ cái tánh giận dữ tiềm tàng mặc dù không thấy được.
Do những dục vọng, những sự đắm mê của chư huynh, chư huynh nhiễm xã hội và ngay lúc đó
chư huynh phải chịu trách nhiệm về cái ảnh hưởng mà chư huynh ban rải ra. Ðiều này phải được
xem xét một cách nghiêm nhặt, nhất là trong những giai cấp xã hội có những kẻ phạm tội ác,
tánh nết tàn bạo mà người ta thường gặp ở Tây Phương nhiều hơn ở Đông Phương; ở Tây
Phương mỗi khi tức giận là người ta hành hung liền. Không bao giờ những người nam và những
người nữ trong giai cấp chư huynh lại có những hành động như thế, bởi vì họ tự chủ, họ là những
người có giáo dục, họ có phẩm giá xứng đáng và biết tự trọng quá đi. Nhưng trong thâm tâm họ
hãy còn chất chứa sự tức giận; cái Vía của họ hãy còn rung động dưới ảnh hưởng của sự tức
giận, và những làn rung động này lan tràn trong Cõi Trung Giới, nơi đó chúng gặp nhiều làn
rung động khác một loại với nhau. Tất cả những tư tưởng tức giận ở Cõi Trung Giới liền hợp
nhau lại thành một lượn sóng lớn, truyền ra xa những cảm xúc dữ tợn; khi lượn sóng này gặp
một người kém tiến hóa ở ngay vào cái lúc y bị khiêu khích, tức thì nó kích thích y, khiến y hành
động một cách hung bạo hơn là ở những trường hợp khác. Y có thể hành hung giết người và
pháp luật trần gian không sao có thể trừng phạt những kẻ phải chịu một phần trách nhiệm về sự
hành động của y, nhưng mà họ vẫn được kính trọng quí mến đến khi họ xuống mồ, còn kẻ phạm
tội thì bị tù đày đặng đền bù tội lỗi của mình. Nhưng luật trời vẫn phán xét tất cả mọi sự, phán
xét tánh tình cũng như phán xét sự hành động; cái định luật tuyệt đối công bằng nó thưởng phạt
mỗi người đúng với nhân mà y đã gieo và cấp cho mỗi người cái phần mà y đã dự vào trong tội
ác của kẻ sát nhân. Ðịnh luật này biết rõ sức mạnh của một tư tưởng xấu sinh ra vì tánh bơ thờ,
nó nhập với một tư tưởng xấu đã có sẵn và chúng làm cho xã hội bị tổn hại chẳng ít.
Ðối với những hành động anh hùng hào kiệt thì cũng giống như vậy; thí dụ khi một người kia
xông vào một cái nhà đang cháy phừng phừng hay nhảy xuống một con sông nước chảy cuồn
cuộn, không nghĩ tới sự nguy hiểm đang chờ đợi mình, mà chỉ nghĩ đến đứa trẻ cần phải cứu
sống mà thôi; có thể người đó thật ra không có gì là khí phách anh hùng cả, mà thình lình y hành
động được như thế là nhờ luồng tư tưởng dũng cảm ở chung quanh y kích thích y. Luồng tư
tưởng dũng cảm này là sự kết hợp của sự can đảm của y sĩ tận tâm điều trị một chứng bệnh hiểm
nghèo, sự can đảm của người nữ y tá săn sóc đứa trẻ thoi thóp vì bệnh yết hầu, sự can đảm của
bà mẹ cúi xuống với đứa con đau ốm, sự can đảm của cá nhân và của đoàn thể. Sự can đảm của
một thường dân chất phác chỉ biết làm đầy đủ cái nhiệm vụ của mình và họ quên mất cái đức
tính cao thượng của họ. Nhưng mà những tư tưởng quả cảm của họ lan tràn trong không khi
xung quanh; những tư tưởng sống ở đó và di chuyển, khi con người can đảm nhưng không phải
là người anh hùng, xông pha vào nước lửa thì những tư tưởng cao thượng đó có dịp dùng anh
này để biểu lộ ra bằng những hành vi phi thường và theo luật trời định đoạt, phần thưởng cho
những đức hạnh vẫn phân phát cho những ai đã sinh ra và đã chia sớt tình cảm cao thượng đó.
Như thế chúng ta hiểu được sự liên lạc giữa tất cả chúng sanh và luôn luôn người này ảnh hưởng
tới người kia xuyên qua Cõi Trung Giới, tức là cái Ðại dương thanh khí bao phủ chúng ta.
 

NAY CHÚNG TA HÃY NÓI VỀ GIẤC NGỦ.

 
Khi chư huynh ngủ thì sự gì xảy ra: Cái Vía của chư huynh cùng những thể khác thanh bai tế nhị
hơn liền rời bỏ xác thân dày đặc. Chư huynh sẽ nói: ‘‘Ðó là quan niệm những kẻ mọi rợ dã man,
những kẻ tin thuyết Linh hồn, thuyết Tâm linh”. Trong khi nhận xét những tư tưởng của kẻ mọi
rợ dã man, chư huynh đừng quá kiêu căng. Những kẻ này phần đông là con cháu bạc nhược, biến
chứng của những quốc gia hùng cường thuở xưa, và họ hãy còn gìn giữ đôi ba tín ngưỡng truyền
thống của mình. Những sự khảo cứu kim thời càng ngày càng có xu hướng chứng minh rằng kẻ
mọi rợ dã man không phải là con người ấu trĩ như người ta thường tưởng; thật ra y là ông bô lão
sống lại nơi thời kỳ lú lẫn, hoang dại. Trong những dân tộc dã man, đôi ba tập tục hãy còn sót lại
chứng tỏ, như Frederich Myers đã nói rằng ông thông hiểu về Tiềm thức mà chính khoa tâm lý
học hiện kim của chúng ta bây giờ vừa mới khám phá được sự hiểu biết về Tiềm thức mà thôi.
Viện cớ rằng một ý niệm phát sinh từ nơi dân tộc còn dã man nên loại đi thì đó không phải là
một lập luận vững chắc, có giá trị đâu. Một kẻ dã man có khi đúng với thực tế và vì y sống gần
thiên nhiên hơn nên y biết được đôi ba điều mà chư huynh không biết. Vậy tôi xin chư huynh chỉ
công nhận như là giả thuyết cái quan niệm rằng khi chư huynh ngủ ban đêm, chư huynh sống
trong cái phần thanh bai tế nhị nhất của bản thể .mình và để lại trên giường xác thân, nó là cái
phần vật chất hữu hình nặng nề nhất. Chúng ta thường có những giấc chiêm bao; chư huynh phải
nghiên cứu kỹ càng về điều đó. Những giấc chiêm bao là cái gì vậy: Chúng nó có ba loại tất cả.
Chư huynh có thể tìm những tài liệu trong cuốn sách Triết Lý Thần bí của Du Prel [10] , đó là một
tác phẩm giáo khoa về đề tài đặc biệt này. Nơi đây chư huynh sẽ tìm thấy một sự nghiên cứu về
những giấc mộng đầy cảm hứng và rất minh bạch. Vài ba giấc mộng không có nghĩa lý gì hết,
những giấc mơ đứt quảng, những mảnh ký ức về những gì đã xảy ra ban ngày, ngày hôm trước,
tuần lễ trước hay tháng trước, những mảnh rời rạc, giống như những mảnh gạch bông được chấp
nối lại, phi lý, không đầu đuôi, đa số chúng thường phát sinh do một mạch máu trong óc bị đè ép,
do máu chảy quá mạnh hay do một tĩnh mạch nhỏ bị ngưng lại vì sự tiêu hóa không điều hòa.
Chư huynh có thể dẹp qua một bên những giấc chiêm bao thuộc về loại đó, chúng không có
nghĩa lý gì cả.
Rồi đến những giấc chiêm bao vẫn còn có tính cách hồng trần, nhưng đã thuộc về cái phách của
xác thân. Người ta đã thí nghiệm rất nhiều về những giấc chiêm bao phát sinh từ một sự đụng
chạm. Trong cuốn sách vừa nói trên, chư huynh sẽ thấy nhiều thí dụ về loại đó. Tôi chỉ xin đưa
ra một thí dụ thôi, thật là kinh khủng. Người ta rờ vào gáy một người đang ngủ – y thức dậy nói:
‘‘Tôi trải qua một giấc chiêm bao thật hãi hùng. Tôi chiêm bao thấy tôi giết một người, vì vậy tôi
bị bắt giải ra tòa xét xử và kết án, tôi bị giam trong khám rồi người ta đưa tôi ra trước máy
chém. Ðến lúc lưỡi dao chạm vào tôi thì tôi thức giấc.” Chỉ bị rờ vào cổ mà y có một giấc chiêm
bao bi thảm đến thế; tất cả đều xảy ra một cách rất nhanh chóng không đầy một phút trong một
thời gian ngắn ngủi như vậy mà cái giấc mộng dài kia đã có đủ thời giờ để diễn ra. Người ta tìm
thấy nhiều giấc chiêm bao như thế trong khi kiên nhẫn khảo cứu về bản tính những giấc mộng,
những sự nghiên cứu này đưa ra một kết luận thuộc về tâm lý: ngoài xác thân, tư tưởng tác động
trên một thứ vật chất mịn màng thanh bai hơn là chất của nó dùng trong xác thân; điều này cắt
nghĩa tại sao những trạng thái lương tri lại nối tiếp nhau một cách nhanh chóng như thế; điều này
không thể nào xảy ra được trong khối óc cũng trong một thời gian ngắn như thế. Những giấc
chiêm bao này không có ý nghĩa gì nhiều, một sự tiếp xúc ngoại cảnh đã phát sinh ra chúng, sự
tiếp xúc này khống cần phải có tính cách vật chất; một tư tưởng đi xuyên qua cái trí có thể làm
cho giấc mộng ngưng lại.

Còn có một loại mộng nữa. Ðó là những kinh nghiệm thiệt thọ của con người ở ngoài khối óc
xác thịt của y, những kinh nghiệm của con người trong cái Vía và sống trong Cõi Trung Giới.
Những giấc mộng này có giá trị của chúng; khi chư huynh thức giấc, những giấc mộng này có vẻ
linh động lắm. Nhờ chúng chư huynh có thể có được một sự hiểu biết, mà khi thức dậy chư
huynh không có. Trong cuốn sách: ‘‘Cá tánh của con người” của Frederick Myers [11] chư huynh
sẽ thấy vài giấc mộng của loại này. Tác giả đã thu thập được trong giấc ngủ những hiểu biết mà
trong khi thức dậy thì người ta không có. Chư huynh hãy thử tự mình thí nghiệm mà coi. Nếu
chư huynh thích những bài toán đố về số học hay chư huynh đang tìm lời giải đáp cho một vấn
đề khác, chư huynh hãy ghi vào trí mình khi đi ngủ rồi chư huynh đừng suy nghĩ về nó nữa, vì
làm như vậy chư huynh sẽ thức mãi, nhưng mà chư huynh hãy coi cái trí mình như một cái hộp.
Chư huynh hãy đặt vấn đề trong cái hộp và đừng lo đến nó nữa. Thường thường, buổi sáng ra
chư huynh tìm được câu giải đáp. Có một dạo tôi thích tìm cách giải đáp những bài toán đố khó
về số học. Buổi chiều tôi nghĩ đến một câu hỏi mà tôi chưa tìm được lời giải đáp, và tôi áp dụng
cái phương pháp vừa nói trên kia. Buổi sáng, lời giải đáp hiện ra trong trí tôi và tôi lấy bút ghi
lấy nó trước khi thật tỉnh giấc. Một khi trở lại nhập xác thì khó mà ghi ấn tượng vào khối óc. Nếu
chư huynh muốn làm những thí nghiệm đó thì hãy để một cái bút chì và một miếng giấy bên
cạnh mình và hãy lấy viết biên liền giải đáp đã tìm được trước khi thức tỉnh hẳn. Robert Louis
Stevenson nói rằng một hồn ma quen với ông trong lúc ban đêm đã cho ông cái ý kiến để viết
cuốn sách nhan đề: ‘‘Bác sĩ Jekill và ông Hyde”. Mozart, nhà nhạc sĩ đại tài cũng nói rằng ban
đêm trong lúc ông ngủ ông nghe được những bản nhạc tuyệt diệu thâm trầm; khi vừa tỉnh giấc
bèn chép lại từng nốt những bản nhạc đó. Nhà đại thi sĩ Tennyson cũng có một kinh nghiệm
giống như thế. Khi lặp đi lặp lại mãi tên của mình, ông tự thôi miên và đi vào một trạng thái
không sao miêu tả được. Ông thấy mọi việc đều rõ ràng sáng suốt, ông biết không làm gì có sự
chết, ông thấy rằng chỉ khi nào mất hết phàm ngã đi thì mới thật là sống được một cuộc đời thiệt
thọ. Nhưng Tennyson là một bực thiên tài thì những hiện tượng ấy hiện ra một cách dễ dàng hơn
là một người thường.
Chư huynh cũng có thể thử làm một thí nghiệm khác nữa. Thí dụ chư huynh biết một người đang
đau khổ hay mắc một tật xấu. Nhưng chư huynh ở xa và không thể đến giúp bạn được. Chư
huynh hãy nghĩ đến y khi đang ngủ, chư huynh hãy nghĩ rằng chư huynh muốn ở gần y để an ủi
y. Khi chư huynh vừa ngủ thiếp đi tư tưởng của chư huynh đến gần y và chư huynh có thể làm
dịu nỗi đau khổ của y. Nhiều tật xấu đã được tiêu diệt theo lối đó. Tật nghiện rượu đã được chữa
theo phương pháp đó. Trong khi ngủ con người thu nhận những cảm tưởng một cách dễ dàng
hơn, chư huynh có thể lại gần y trong cái Vía và trình bày với y những lý lẽ, chúng sẽ khiến y
ngừng lại không làm việc quấy, khi y tỉnh giấc. Trên Cõi Trung Giới những tư tưởng này ghi vào
trí y, và khi thức dậy y ngở là y đã suy nghĩ như thế. Vậy chư huynh có thể giúp đỡ bạn bè theo
cách đó, mỗi người trong chúng ta đều có thể làm được điều này và không cần phải luyện tập
một cách đặc biệt.
Ðối với những người thân mến của chư huynh đã quá cố, vì sự tự biết đã chia ly, phân cách, thì
cũng vậy. Thỉnh thoảng, chư huynh chiêm bao thấy họ. Thật ra đó không phải là một giấc mơ
hay là sự tưởng tượng; chư huynh đã đích thực được xum họp với họ trong cảnh giới mà chư
huynh đã vô khi xác thân chư huynh đã ngủ. Chư huynh hãy nghĩ đến những người thân mến,
chư huynh hãy nhớ tới những kỷ niệm của họ; trong khi ngủ, chư huynh sẽ được xum họp với họ
một cách tỉnh táo. Và chỉ khi nào chư huynh thức giấc, người đời gọi sự thức giấc này là sự sống
của một cuộc đời có ý thức, nhưng đối với những cảnh giới cao siêu thức giấc này chỉ là một
giấc ngủ mà thôi và đối với họ, chính là chư huynh như đã biến đi mất, đã ngủ đi vì chư huynh
không còn cảm thấy sự tiếp xúc với họ hay sự hiện diện của họ. Theo lối đó, chư huynh có thể

giúp đỡ họ nhiều. Khi tự phát triển, chư huynh sẽ “tỉnh giấc” trên Cõi Trung Giới. Như thế có
nghĩa là những giác quan thuộc về Vía của chư huynh được hướng ra ngoại cảnh. Chư huynh sẽ
trông thấy, cảm thấy, chư huynh nghe được, chư huynh hiểu biết và có thể hành động, nói năng
một cách tự do như ở Cõi Trần. Tôi xin nói rằng còn tự do hơn là ở đây nữa. Và khi một tai họa
lớn lao xảy ra, một trận động đất, một vụ đắm tàu hay một cuộc chiến tranh tai hại như trận chiến
tranh hiện tại ở phía Đông Âu Châu [12] . Nếu chư huynh muốn, chư huynh có thể cứu vớt những
kẻ đáng thương bị chết bất đắc kỳ tử, họ bỏ xác một cách đột ngột trong khi đang hăng hái chiến
đấu, đang lúc tức giận, đang lúc rung rẩy, không biết hiện giờ mình đang ở đâu và có việc gì
đang xảy ra với mình đây. Chư huynh có thể đi đến với họ, giống như những vị Thiên Thần bác
ái để dỗ dành, an ủi, khuyên nhủ, khi chư huynh đã học được cách trở nên tỉnh táo trên những
cảnh giới cao siêu, và khi nào chư huynh đạt được tâm thức đó, chư huynh sẽ không còn sợ chết
vì cái cảnh giới mỗi đêm chúng ta đi vào thì cũng sẽ là cái cảnh giới của chúng ta vào ở sau khi
chúng ta chết. Một vài tín đồ Gia Tô Giáo gọi đó là Cõi Trung Gian ở khoảng giữa Cõi Hồng
Trần này và Thiên Ðường. Người Ấn Ðộ gọi nó là Kamaloka, Cõi Dục Giới, cảnh giới của dục
vọng và của cảm xúc. Thật vậy, đó là thế giới của sự xúc động. Khi chết đi, chư huynh dẹp bỏ
xác thân lại một bên giống như mỗi đêm chư huynh đi ngủ và chư huynh bước vào Cõi Trung
Giới quen thuộc, còn xưa kia thì chư huynh đã sống trong xác thân. Khi chư huynh tỉnh dậy
trong cái cảnh giới mới mẻ đó, sau giấc ngủ mà người đời gọi là chết, chư huynh sẽ thấy mình
giống y như chư huynh hãy còn ở Cõi Hồng Trần. Chư huynh vẫn cảm xúc, vẫn tư tưởng, vẫn
hiểu biết như xưa. Chư huynh không hề thay đổi, nhưng mà hoàn cảnh của chư huynh ở đây tùy
thuộc cái đời sống của chư huynh ở Cõi Trần. Vì vậy cần biết cái điều gì nó chờ đợi chúng ta sau
khi chết. Ðối với tín đồ Cơ Ðốc Giáo đã tin chắc từ xưa có một hỏa ngục để hành hạ tội nhân đời
đời thì sự chết là một sự đáng sợ, dù là đối với những người lương thiện nhất cũng vậy. Có
những người hữu lý hơn, họ thấy họ là những người không đức hạnh hoàn toàn để được vào Cõi
Thọ mà họ cũng không độc ác đến nỗi phải chịu đựng những hình phạt trong một hỏa ngục đời
đời, thế nên họ không lo lắng gì cả và nói: ‘‘Hãy đợi bao giờ chết sẽ hay”. Như vậy, đối với họ là
ổn thỏa lắm rồi, nhưng đó không phải là phương pháp hay nhất để bước vào một thế giới xa lạ.
Những người Công Giáo La Mã gọi Cõi Trung Giới này là “Hỏa ngục luyện tội” (Le Purgatoire).
Miễn là chư huynh đừng phạm những trọng tội thì khi chết, Giáo Hội sẽ có thể sắp đặt mọi sự và
nếu Giáo Hội có bất lực đi nữa thì cũng hãy còn những ơn phước lớn lao ngoại lệ của Ðức
Thượng Ðế ban xuống để cứu rỗi linh hồn khỏi vòng đau khổ vô hạn. Tuy nhiên, trái lại với sự
dự đoán của Giáo Hội, Hỏa ngục luyện tội không thích hợp với tất cả những ai chưa phải là bậc
thánh. Ðó là chỗ ở của những kẻ đã sống trong tội lỗi rõ ràng và thô tục, nhất là kẻ ham ăn, hốc
uống, những kẻ say sưa và những kẻ trụy lạc, dâm đảng. Ba trọng tội này thuộc về xác thân
khiến cho con người đau khổ vô cùng sau khi chết. Không phải Ðức Chúa Trời nổi giận nên phạt
họ, vì Ngài là Từ Bi Bác Ái, cũng không phải là Ngài trả thù ta, vì Ngài là Đấng Cha lành của
chúng ta. Những dục vọng đó phát sinh từ cái Vía lôi cuốn con người. Qua Cõi Trung Giới tất cả
những sự thèm muốn đó vẫn hãy còn mãnh liệt trong khi xác thân là cái dụng cụ giúp cho chúng
được thỏa mãn đã bị bàn tay giá lạnh của Tử Thần tiêu diệt rồi. Ðó chính là cái hỏa ngục thiệt
thọ vậy, đó là khi kẻ say sưa thèm rượu mà không được uống, khi kẻ ham ăn thèm những món ăn
ngon lành mà không có, khi kẻ dâm đảng thèm thú vui xác thịt mà không được thích ý. Những
mối dục vọng nồng nhiệt này, mãnh liệt hơn những sự thèm muốn hồng trần, không còn được
thỏa mãn nữa. Vì không thể tiếp xúc với cái gì mà họ thèm thuồng, những dục vọng của họ thiêu
đốt họ như một ngọn lửa tàn phá cho tới khi nào chúng bị tiêu tan đi lần lần, vì không còn đồ dẫn
hỏa nữa. Nếu chư huynh để cho dục vọng của mình tăng trưởng và nếu chư huynh chết một cách
thình lình, thì Cõi Dục Vọng sẽ dành cho chư huynh những nỗi đau đớn ghê gớm, vì theo như

định luật, chư huynh đã gieo nhân nào thì chư huynh sẽ gặt quả nấy. Chính chư huynh là kẻ đao
phủ tự xử tội mình và chỉ vì điên khùng nên chư huynh mới tự làm cho mình khổ sở sau khi chết.
Nhưng có biết bao nhiêu người đã chết rồi mà không đau khổ; tuy nhiên, họ cũng không sung
sướng; họ buồn nản lạ lùng. Vì rằng khi còn sống họ chỉ chú ý đến những sự việc nhỏ nhặt vô
nghĩa, vô lý. Nếu chư huynh thích những cuộc giải trí phù phiếm, nếu chư huynh không thích
những công việc trí thức, nếu chư huynh không nghĩ đến mỹ thuật, văn chương, không tưởng đến
những cái gì kích thích những cảm tình cao thượng, nếu chư huynh thích cờ bạc, những cuộc
đánh cá; nếu chư huynh chỉ đi nhà thờ để nhìn ngắm những cái áo hợp thời trang nhất, thì tôi
phải nói rõ rằng sau khi chư huynh chết, chư huynh sẽ không sung sướng lắm đâu, và như vậy
trong một thời gian khá lâu. Lúc đó chư huynh sẽ không thích một điều gì, vì ở Cõi Trung Giới,
chư huynh không thể làm thỏa mãn những ý muốn phù phiếm của mình, không phải trông nom
nhà cửa, không phải làm những công việc lặt vặt, chúng choán hết đời sống của chư huynh xưa
kia. Có lẽ chư huynh sẽ nói rằng: “Tôi buộc phải làm những công việc nội trợ nặng nhọc hay
làm đầy đủ những nhiệm vụ của nghề nghiệp. Phải chăng bà muốn nói rằng ở bên kia cửa tử, tôi
sẽ vì vậy mà vô cùng chán nản tuy không bị đau khổ”. Có một phương pháp để chư huynh tránh
được sự buồn não nề. Chư huynh hãy làm cái công việc tầm thường mà chư huynh bắt buộc phải
làm, coi nó như một phần tử cố hữu của sự hoạt động của Thượng Ðế, như là một cách dự phần
có ý thức vào công nghiệp của Ngài trong thế gian này và nhờ như vậy xã hội mới được tồn tại.
Nếu chư huynh coi theo cách đó cái công việc của người lái buôn nhờ y ta mới có được những y
thực; cái công việc của nhà luật gia làm cho sáng tỏ sự công bình của Thượng Ðế, cái công việc
của ông quan tòa áp dụng thiên luật để làm những điều hữu ích cho loài người; cái công việc của
thầy thuốc tượng trưng cho cái uy quyền thiêng liêng của Trời mà nâng đỡ con người, của người
mẹ chăm nom, thương mến con giống như Ðức Mẹ thiêng liêng, Ðức Thánh Mẫu nuôi dưỡng thế
gian và nhờ vậy nhân loại mới sống và khỏe mạnh, cái công việc của nhà lập pháp lấy tư tưởng
mà diễn tả luật Trời, nếu chư huynh luôn luôn liên kết những công việc hàng ngày của mình với
những công việc Ðại đồng thiêng liêng, thì lúc đó chư huynh sẽ vượt khỏi giới hạn của bổn phận
tầm thường: vượt khỏi những chi tiết nhỏ nhen của đời sống Hồng Trần, chư huynh sẽ đi vào
trong sự vinh quang của công việc Thiêng Liêng, công nghiệp của Thượng Ðế toàn năng trong
vũ trụ của Ngài. Những lý thuyết này không phải là mới mẻ đâu. Chư huynh hãy nhớ rằng
Georges Herbert đã dạy thuyết này khi nói về một người tớ gái đang quét dọn một căn phòng:
“Người tớ gái, trong cái tinh thần đó, đã làm cho mọi việc đều trở nên thiêng liêng. Cô quét một
căn phòng để tuân theo thiên luật và làm cho công việc này trở nên cao thượng”. Còn có trường
hợp này nữa: chư huynh hãy nghĩ đến cái hạng người đi hốt rác quét đường mương, quét cống,
họ thường bị khinh bỉ, ghê gớm, họ chịu nhục nhã, họ dơ dáy, chư huynh không muốn tiếp xúc
với họ. Nhưng chính nhờ cái công việc bẩn thỉu của họ mà chúng ta mới được sạch sẽ, nhờ họ
chịu khổ sở nên ta mới được khỏe mạnh, nhờ họ phải đê hèn nên chúng ta mới được thanh cao
lịch sự giống như những cánh hoa sen từ đống bùn mọc lên, những xu hướng thanh nhã của
chúng ta phát triển được là nhờ cái công việc làm dơ dáy của họ rất cần thiết cho xã hội. Chư
huynh hãy nói với họ rằng chính họ đã cộng tác với thiên nhiên. Chư huynh hãy dạy bảo họ, hãy
mở mang trí khôn của họ, hãy làm cho họ tin chắc rằng công việc của họ là một phần của cái
công việc cao thượng của thiên nhiên. Chư huynh hãy cố gắng làm cho họ hiểu rằng từ nơi sình
lầy, thiên nhiên khiến cho một đóa hoa mọc lên. Thiên nhiên xóa bỏ sự ô uế và biến đổi nó thành
ra mùi thơm dịu dàng. Nếu chư huynh làm cho họ hiểu rõ những chân lý này và một mặt khác
nếu chư huynh cũng hiểu được rằng ta phải kính trọng họ chứ không nên khinh bỉ họ, thì lúc đó
chư huynh đã học được điều bí mật cao cả của đời sống tinh thần. Chư huynh sẽ biết rằng
Thượng Ðế là người thợ duy nhất, và vì vậy cho nên mọi công việc đều đáng tôn kính, phải được

người ta kính trọng. Chư huynh hãy suy ngẫm về những tư tưởng này, khi chư huynh thấu triệt
chúng, chư huynh sẽ hiểu đời sống một cách tường tận hơn. Tất cả những ai không có những tật
xấu tệ hại về xác thân, tất cả những ai không có những khuynh hướng và những cảm tình thô bỉ
thì đều có một đời sống hạnh phúc và hưởng lạc thú nồng nàn ở Cõi Trung Giới bên kia cửa tử,
họ cũng có thể giúp ích cho con người nhiều hơn là khi họ còn sống. Tôi đã nói sơ lược qua về
đề tài rất phức tạp và đã tìm cách bổ khuyết những chỗ thiếu sót bằng cách kể tên vài ba cuốn
sách có thể mang đến cho chư huynh những điều chỉ dẫn rộng rãi hơn. Ðể kết thúc cái phần thứ
hai này trong sự nghiên cứu của chúng ta, tôi chỉ có thể khuyên chư huynh: hãy tăng gia những
kiến thức của mình; hãy hiểu rằng định luật điều khiển thế gian và những mối cảm xúc của chư
huynh cũng như sự luân chuyển của vũ trụ đều bị định luật kiểm soát. Nếu chư huynh học cách
điều khiển, dìu dắt những cảm tình của mình, bắt chúng phải tùng phục mình, nếu chư huynh
không để cho chúng lôi cuốn mình đi, thì sự thông hiểu về định luật sẽ làm cho đời sống của chư
huynh yên tĩnh và bền vững hơn. Chư huynh sẽ hiểu rằng ở đây sự học hỏi về đề tài này rất ngắn
ngủi, lẽ dĩ nhiên nó rất nông cạn, nhưng nó đáng cho chư huynh nghiên cứu thêm theo phương
hướng mà trí thông minh của chư huynh chỉ dẫn. Hôm nay tôi chỉ đưa ra cho chư huynh một lời
chỉ dẫn giản dị nó có thể dẫn dắt chư huynh đến con đường của sự hiểu biết và của đạo hạnh, nó
sẽ làm cho đời sống của chư huynh được sáng sủa rực rỡ và đến lúc chư huynh lâm chung, trong
lòng chư huynh vẫn an tĩnh.
Các sinh viên có thể đọc những cuốn sách này: “Cõi Trung Giới (Le Plan Astral) và Thần nhãn
(La clairvoyance)” cùng những trang nói về Trung Giới trong cuốn “Minh Triết Cổ Kính”
(Sagesse antique) “Những định luật căn bản của Thông Thiên Học” (Lois fondamentales de la
Théosophie). Họ có thể học những kinh nghiệm về thôi miên trong cuốn sách của Binet và Féré
nói về vấn đề này, và cuốn “Chứng loạn thần kinh nặng nề” của Charcot.

III - ÐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI TRÊN CÕI THƯỢNG
GIỚI  VÀ SAU KHI CHẾT
 Nay chúng ta nói về đề tài thứ ba, có lẽ là đề tài hứng thú nhất. Chúng ta sẽ nói đến cái Trí, cảnh
giới của nó và sau khi chết đi, cái Trí của con người sẽ ra sao. Chư huynh nhớ rằng trong bài
diễn thuyết đầu tiên tôi đã nói đến William Kingdon Clifford. Ông dùng danh từ chất khí tư
tưởng, ông Clifford thuộc về phái “Bất khả tri luận” (Agnosticisme), ông còn có thể đi xa hơn
thế nữa khi định nghĩa quan niệm triết lý của mình. Ông không tin rằng lương tri con người còn
sống sau khi xác thân chết, nhưng ông nghĩ rằng cái lương tri cá nhân này sẽ trở về cái đại dương
lương tri của vũ trụ. Cũng giống như các nhà bác học khác, ông luôn luôn thấy rằng mỗi khi sự
sống hay sức mạnh biểu lộ ra thì có ngay một hình hài bằng vật chất dùng để làm vận cụ cho sức
mạnh ấy sử dụng; vì vậy ông kết luận rằng vì tư tưởng là một hiện tượng hiển nhiên không sao
chối cãi được trong thế giới chúng ta thì tất nhiên phải có một loại vật chất riêng biệt, ứng đáp
với tư tưởng, nó có công dụng như là một hoạt động trường của tư tưởng và ảnh hưởng đến thế
giới chúng ta. Cách lập luận này không vượt mức giới hạn của khoa học thường; nhưng nó
không đi xa được nữa. Vậy ông nghĩ rằng trí khôn có thể tự biểu lộ qua chất khí tư tưởng cũng
giống như những làn sóng dĩ thái tiếp xúc với thị giác, những làn sóng của không khí mang đến
lỗ tai những rung động gọi là âm thanh. Dù chư huynh cùng với chúng tôi coi tinh thần con
người như là một Trí khôn bất sinh bất diệt, hay là coi nó là một sự biểu hiệu nhất thời của lương
tri, khi mà chúng tôi cho rằng có một loại vật chất tương ứng với Trí khôn đó, cũng như con mắt
ứng đáp với ánh sáng, và lỗ tai ứng đáp với âm thanh thì chắc chắn chư huynh không cho chuyện
đó vô lý. Theo chúng tôi hiểu thì cái Tinh Thần bất sinh bất diệt của chúng ta, hay là cái Tinh
Thần vô thủy vô chung, muốn tiếp xúc với những Cõi Hạ Giới, phải lấy vật chất của những cõi
đó đặng bao mình. Như chúng ta đã thấy trong kỳ hội họp đầu tiên, Tinh thần hiện ra như là Ý
chí, Minh triết và sự Hoạt động Sáng tạo, cũng giống như thế, Tinh thần phải mượn Vật chất của
ba cõi, Thượng Giới, Trung Giới và Cõi Trần, đặng làm cõi ba lớp áo khoác lên mình thì mới có
thể biểu lộ ra được. Tôi nói: ba cõi hay ba cảnh giới, đây là cái điểm duy nhất mà tôi xin chư
huynh hãy chấp thuận như một giả thuyết thôi, mỗi cảnh giới này đều khác biệt với những cảnh
giới kia do kiểu mẫu của hạt nguyên tử căn bản của nó. Dĩ nhiên khoa học người đời không công
nhận điều này. Chúng tôi chủ trương rằng những chất đặc, những chất lỏng hay những chất hơi –
chúng tôi còn nói thêm cả chất dĩ thái nữa – chỉ là những sự phối hợp của nguyên tử căn bản
Hồng Trần; cũng giống như thế, ở Cõi Thượng Giới và Cõi Trung Giới, hạt nguyên tử căn bản
của mỗi cõi tạo thành mọi sự phối hợp; những trạng thái vật chất khác nhau chỉ vì tại hạt nguyên
tử căn bản ấy xếp đặt theo nhiều kiểu khác nhau mà thôi. Ðã biết những trạng thái vật chất trong
Cõi Trần dưới những hình thức chất đặc, chất lỏng, chất hơi, chư huynh có thể tưởng tượng ra
những trạng thái đó trong Cõi Thượng Giới và Trung Giới và nghĩ đến một thế giới do chất khí
tư tưởng lập thành, nơi đó tư tưởng tự biểu lộ.
Trong ba cảnh giới này, hai cảnh giới đóng kín lại đối với chúng ta, nghĩa là chúng ta không nghĩ
thấu được những hiện tượng của chúng nó. Do khối óc, ta chỉ biết được một cảnh giới mà thôi,
nhưng lương tri của ta tác động khắp cả ba cảnh giới. Vật chất thanh bai tế nhị nhất cũng có thật
như vật chất dày đặc nhất. Tôi xin các bạn Ấn Ðộ đừng bàn cãi bây giờ về danh từ “có thật” này.
Tôi không nói theo khoa siêu hình học. Nhưng chư huynh hãy nhớ rằng, trong Cõi Trần của
chúng ta, chính nhờ cái vật chất thanh bai tế nhị này mà lương tri tiếp xúc được với ngoại giới.
Chư huynh sẽ nói: Ðược rồi, như vậy là đúng lắm. Chúng tôi xin đồng ý với bà rằng chúng ta mà
nghe được là nhờ những làn rung động của không khí mà lúc bình thường chúng ta không trông
thấy được và những làn sóng dĩ thái giúp cho ta thấy được, mặc dù đối với chúng ta, chúng nó

vẫn vô hình. Nhưng bà lại nói rằng còn có những loại vật chất khác di chuyển những sự hiểu biết
riêng biệt đến lương tri. Xin chư huynh hãy biết rằng khối óc chư huynh đang tiến hóa, khối óc
này chưa được hoàn thiện, nó đang phát triển, nó chưa được đầy đủ. Chư huynh đã làm phát triển
cơ quan của ngũ giác trong xác thân và lương tri, đã sử dụng chúng để tiếp xúc với ngoại giới;
cũng giống y như thế, bây giờ chư huynh phải làm phát triển trong khối óc hai cơ quan của đời
sống tương lai, chúng sẽ giúp cho lương tri của con người, khi thức tỉnh và đang làm việc trong
khối óc, biết được các hiện tượng của Cõi Trung Giới và của Cõi Thượng Giới. Dĩ nhiên là quan
niệm này  không phù hợp với quan niệm của khoa học ngoài đời nhưng sự hiểu biết của chúng ta
về đề tài này đã được tăng trưởng đôi chút trong những năm gần đây. Hai cơ quan mà người ta
rất ít chú ý đến là hạch mũi (corps pituitaire) và hạch óc tùng quả tuyến (glande pinéale). Những
khảo cứu về hai hạch này khiến cho ta biết rằng tùng quả tuyến có phát tiết ra một chất ở bên
trong và hạch mũi trong vài trường hợp làm cho xác thân nảy nở một cách bất thường. Các nhà
bác học cũng nhìn nhận rằng nếu người ta uống rượu thì hơi rượu sẽ theo những lỗ hỏng bên
trong mà bốc lên đến hạch mũi, đầu độc hạch này rất nhanh và rất nặng. Ðó là tất cả những gì mà
khoa học đã nói về vấn đề này.
Còn chúng tôi, thì chúng tôi xin nói rằng nhớ hạch mũi chúng ta biết được những hiện tượng của
Cõi Trung Giới. Trong tương lai, hạch này sẽ là cơ quan truyền đạt sự hiểu biết về những hiện
tượng của Cõi Trung Giới đến lương thức con người khi y thức tỉnh. Do kinh nghiệm cá nhân,
chúng tôi cũng biết rằng nếu người ta cố gắng phát triển Thần nhãn và những giác quan khác
thuộc Cõi Trung Giới, thì phải đề phòng cẩn thận, vì khi bắt bộ phận này của khi óc phải cố gắng
nhiều quá, người ta có thể làm cho hạch mũi sưng lên [13] , bệnh này rất khó chữa, không dễ dàng
gì mà chữa khỏi hẳn được. Tôi chỉ nói điều này để chỉ rõ sự liên quan, còn chư huynh muốn suy
luận cách nào cũng được.
Theo ý kiến chúng tôi, hạch óc (tùng quả tuyến) có nhiệm vụ làm cho khối óc tiếp xúc với Cõi
Thượng Giới. Những sự sưu tầm ra mới đây thật là hữu ích về vấn đề này. Một nhà thần kinh học
danh tiếng người Đức, ông Von Frank Hachwart đang tìm học nhiệm vụ của tùng quả tuyến. Ông
nói rằng: tuy ông chưa đưa ra được một điều gì rõ ràng minh bạch, nhưng ông chắc chắn rằng có
một sự liên quan giữa cơ quan này và cái trí của con người . Có một hiện tượng sinh lý mà người
ta biết rõ, đó là vài ba chất do hạch đó tiết ra không thấy có ở trong khối óc của một đứa trẻ sơ
sinh, hay của một người già hoặc của một người ngu. Người ta chỉ thấy những chất này trong óc
của một người chết đi trong lúc trí khôn của y đang hoạt động. Ðó chỉ là một dấu hiệu – tôi
không dám nói đó là một sự gì khác hơn là một dấu hiệu – mở đường khai lối cho những sự
nghiên cứu vị lai. Và tôi không ngần ngại gì mà nói rằng – cũng như trước kia tôi đã nói nhiều
lần, quan niệm của những người có Thần nhãn và những người Thần bí sau này sẽ được khoa
học vị lai chấp thuận. Tôi không nhấn mạnh thêm nữa.
Vậy vấn đề này sẽ được giải quyết trong tương lai khi nào lương tri ta đang thức tỉnh mà cũng
biết về những cảnh giới vô hình. Tôi xin nói quả quyết với chư huynh rằng người ta có thể có
được Thần nhãn bằng cách cảm đến những cơ quan đó ở trong óc, đồng thời phải tham thiền
trong một thời gian khá lâu. Một số người, ở ngay đây và ở cả nơi khác nữa, đã phát triển cái khả
năng biết được và nhận xét được, trong khi thức tỉnh, những hiện tượng của Cõi Thượng Giới và
Trung Giới. Tôi cũng xin nói với chư huynh về những người Thần bí khi đề cập đến một buổi
diễn thuyết rất hay do vị Tu viện trưởng nhà thờ Saint Paul thuyết trình, chư huynh có thể đọc
bài tường thuật trong nhật báo Times, báo này bình luận đôi ba nghi vấn được nêu lên.
Theo quan niệm của chúng tôi, cái Trí, hay là cơ quan của trí khôn trong xác thân ta, là do chất
Thượng Thanh Khí cấu thành, và tư tưởng có nhiệm vụ tổ chức nó. Chư huynh càng tập luyện tư

tưởng của mình, thì cái Trí của chư huynh càng được tổ chức chu đáo. Cái công việc sáng tạo
của tư tưởng ảnh hưởng về phương diện vật chất đến khối óc, về phương diện trí thức nó làm cho
trí khôn mở mang, về phương diện luân lý đạo đức thì nó đào tạo tính tình. Chư huynh hãy nhớ
rằng chúng ta nói đến một phần ảnh hưởng của Năng lực Sáng tạo thiêng liêng, sự hoạt động của
ngôi thứ ba của Ðức Thượng Ðế, Ngài đã sinh hóa các thế giới. Tinh thần chư huynh, Trí khôn
chư huynh đối với chư huynh, thì cũng giống như Tinh thần Sáng tạo thiêng liêng đối với một vũ
trụ, đó là cái khả năng sáng tạo duy nhất để chư huynh sử dụng, nhờ quyền lực đó mà chư huynh
có thể tự cải tạo khối óc đến một mức độ nào đó, tự cải tạo rất nhiều trong phạm vi trí khôn, và
tự cải tạo hoàn toàn trong phạm vi đức hạnh. Quyền lực này ở nơi chư huynh, chư huynh chỉ cần
phải học cách sử dụng nó. Tôi sẽ rán chỉ cho chư huynh con đường phải theo nó và làm cho
huynh thấy rằng quyền lực này là một Ðịnh luật của Thiên nhiên.
“Con người nghĩ đến điều gì thì y sẽ trở nên điều đó”. Câu này là một đoạn văn có trong
Upanishads Ấn Ðộ mà đa số chư huynh đều biết. Salomon, vị vua Do Thái cũng diễn tả tư tưởng
ấy như sau đây: “Con người nghĩ đến điều gì thì y chính là điều đó vậy”. Chư huynh muốn nói
theo câu châm ngôn của nhà hiền triết Ấn Ðộ hay nhà hiền triết Do Thái điều này không quan hệ
gì, cả hai vị đều dạy một định luật của thiên nhiên ngày nay thường bị lãng quên quá nhiều.
Về phần khối óc, tư tưởng có tính cách sáng tạo ảnh hưởng đến nó và kích thích nó phát triển.
Chư huynh hãy lấy một cuốn sách hay dạy về cơ thể học và hãy học về cách cấu tạo của khối óc.
Chư huynh sẽ thấy rằng khối óc của một đứa trẻ thì tương đối bóng láng nhẳn nhụi, khối óc của
nhà tư tưởng chết đi trong lúc đứng tuổi thì có rất nhiều những nếp răn, những làn xoay vần gọi
là não hồi. Và nếu chư huynh đọc một cuốn sách về sinh lý học chứ không phải cuốn sách cơ thể
học, chư huynh sẽ thấy rằng khối óc có một số tế bào lớn có cái hột nhưng mà số tế bào này
tương đối ít ỏi. Ở trong óc của một trẻ sơ sinh thì những tế bào này triệt để rời xa nhau ra. Sau
khi trẻ đã lên bảy tuổi rồi thì chúng bắt đầu nối liền với nhau bằng những cái cuống từ những tế
bào đó đâm ra. Khi tư tưởng phát triển, khi đứa trẻ bắt đầu lý luận, phán xét, so sánh thì trí khôn
tác động trên khối óc là khí cụ của tư tưởng, nó kích thích sự tăng trưởng của cái óc và biến đổi
những tế bào của cái óc. Những tế bào này đâm ra những rễ nhỏ. Những rễ này tiếp hợp với nhau
và dần dần tạo thành một thứ lưới nối liền tất cả những tế bào lại với nhau. Những tế bào này
không tăng số lượng, nhưng chúng trở nên to lớn hơn và các rễ nhỏ cứ càng nhiều mãi ra. Khi
nhờ sự lập luận mà trí khôn của đứa trẻ càng ngày tiến tới thì chất của cái óc nở ra, và dụng cụ
của tư tưởng thành hoàn hảo hơn. Vì vậy, nhiều y sĩ kết luận rằng nên tìm cách phát triển khiếu
quan sát nhận xét hơn là khiếu lập luận ở một trẻ em dưới bảy tuổi; cũng không nên bắt em này
phải có một trí khôn quá lớn, vì não tủy của nó chưa được phát triển đầy đủ. Như vậy, chư huynh
thấy rằng, tư tưởng hoạt động có tính cách sáng tạo ảnh hưởng đến cả cái khối óc cứng rắn làm
toàn bằng vật chất hồng trần dày đặc.
Nay chúng ta hãy nói đến tính nết. Tôi không hề có tham vọng rằng chư huynh đệ đồng ý với tôi
về vấn đề này. Tôi chỉ xin chư huynh tự mình làm thử một thí nghiệm này để chứng minh rằng
cái định luật mà tôi sắp nói đến đây là có thật. Theo một định luật của Thiên nhiên, khi trí khôn
chú ý vào một đức tánh nào thì đức tánh đó sẽ dần dần thành một phần tử của tánh nết mình; về
sau đức tánh ấy biểu lộ ra một cách tự động không khó nhọc chút nào. Vậy một người có thể tự ý
mình mà xây dựng tánh nết mình một cách thích đáng chỉ cần phải hành động đúng với luật đó,
tuân theo nó và kiên tâm trì chí tùy theo những sự kinh nghiệm đòi hỏi.
Ðây là phương pháp phải theo. Chư huynh hãy tìm hiểu tánh nết mình và chư huynh hãy ngừng
lại ở một nhược điểm của mình như thiếu thành thực, hèn nhát hay nóng giận, hay là một tật xấu
hay một thói xấu tệ hại nào đó. Khi chư huynh thấy rằng mình thường sa ngã trước tật xấu xa đó,

thí dụ một người làm trái ý chư huynh thì chư huynh nổi giận, nếu chư huynh phải đương đầu
với một sự nguy hiểm thì chư huynh tỏ ra hèn nhát, nếu gặp một sự khó khăn thì chư huynh lại
nói dối để thoát thân; chư huynh hãy dẹp mọi chuyện đó qua một bên và đừng nghĩ đến chúng
nữa. Chư huynh hãy nhấn mạnh vào cái tính tốt đối lập và đừng bao giờ nghĩ đến tật xấu nữa.
Mỗi khi cái trí trụ vào một nhược điểm nào thì nhược điểm đó sẽ tăng trưởng, vì tư tưởng đã
thêm sức cho nó; nó còn mãi thay vì biến mất đi. Dầu chư huynh chỉ hối tiếc thôi thì sinh lực của
tư tưởng cũng khiến cho nhược điểm hóa ra mạnh mẽ; sự hối tiếc của chư huynh tăng cường cho
nhược điểm và làm cho nó bám chặt vào tính nết mình. Hãy để nó lại ở phía sau . Ðừng bao giờ
chư huynh để cho trí mình ngưng lại nơi đó cả, dù chỉ trong một lát thôi, nhưng chư huynh hãy
nghĩ đến tính tốt đối lập lại. Chỉ thình lình nghĩ đến tính tốt thì không đủ đâu. Mỗi sáng khi ngủ
dậy, trước khi đi ra ngoài và xen lẫn với người đời, chư huynh hãy định trí trong năm ba phút vài
tính tốt mà chư huynh muốn xây dựng, tùy theo cái sức chú ý của mình. Mỗi sáng chư huynh hãy
làm như vậy một cách kiên nhẫn, đừng nghỉ một ngày nào cả; nếu không thì hình tư tưởng mà
chư huynh muốn có sẽ tan ra và huờn lại chất thượng thanh khí như trước. Rồi mỗi ngày, một
cách tự nhiên, chư huynh phạm vào cái lỗi mà chư huynh đang tìm cách sửa chữa; chư huynh
đừng lo chi điều đó; chư huynh cứ mỗi buổi sáng tiếp tục định trí đi, chư huynh hãy tập trung tư
tưởng vào tính tốt mà chư huynh muốn có. Thí dụ chư huynh đang tìm cách hoạch đắc tính kiên
nhẫn, buổi sáng chư huynh nghĩ đến tính đó, trong ngày hôm đó, nếu có ai làm cho chư huynh
bực mình chư huynh sẽ đáp lại một cách quạo quọ, nhưng trong khi đang trả lời, chư huynh bỗng
nghĩ rằng: “Ôi tôi muốn được kiên nhẫn biết bao.” Ðiều này không quan hệ gì cả. Khi nào chư
huynh đã tham thiền về tính kiên nhẫn được bốn năm ngày, thì ngay khi những lời nói tức giận
tự miệng chư huynh sắp thốt ra, chư huynh tự nhũ: “Tôi muốn kiên nhẫn.” Chư huynh cứ tiếp tục
một cách bền chí, và chẳng bao lâu, cái tư tưởng kiên nhẫn sẽ hiện ra trước khi câu trả lời sắc
bén được thốt ra. Cứ bền chí mà tiếp tục như thế đi, kết quả sẽ thu thập được nhanh hay chậm là
tùy theo sự chú ý của chư huynh, tùy theo quyền lực tư tưởng của chư huynh, nhưng chẳng sớm
thì muộn, tính hay tức giận sẽ biến mất và sẽ có tính kiên nhẫn thay thế vào. Chư huynh sẽ nhận
thấy rằng chư huynh tự động lấy sự kiên nhẫn mà đáp lại sự khiêu khích, lấy sự dịu dàng mà đáp
lại sự tức giận. Chư huynh đã xây dựng nơi mình tánh tốt mong muốn. Chư huynh có thể tham
thiền nhiều cách, chư huynh tùy theo sự khéo léo của mình mà tự phác họa cho mình một
chương trình. Khi còn trẻ, tôi hay tức giận nên một trong những phương pháp ưa thích của tôi là
cố gắng làm tượng trưng cho tánh kiên nhẫn; trong khi tôi tham thiền, chư huynh không hề gặp
một vị Thánh mẫu nào như tôi vậy. Dù ở ngoài giờ tham thiền, tính tôi có thế nào đi chăng nữa,
nhưng trong giờ tham thiền đó, tôi là một người hoàn toàn triệt để, tuyệt đối kiên nhẫn. Trong trí,
tôi tưởng tượng xung quanh tôi có đủ những người đáng ghét, những người đáng bực mình nhất
mà tôi đã biết; rồi trong trí tưởng tượng, tôi phác họa một cách quá đáng những cử chỉ khiêu
khích của họ, và cùng một lúc, tôi cũng tìm cách tăng trưởng tính kiên nhẫn của tôi theo cái đà
đó. Tôi tưởng tượng trong trí một tấn bi kịch nhỏ trong đó người ta làm hết cách để chọc giận tôi,
tôi trả lời những sự khiêu khích đó như là một Griselda [14] kim thời. Sau một thời gian, tôi nhận
thấy rằng khi tôi gặp những người đó, họ không còn có thể nào làm cho tôi nổi giận được nữa.
Tôi tự hỏi rằng: “Sao trước kia tôi lại cho họ là những người đáng ghét !” Một cách vô tâm, nhờ
những sự cố gắng của tôi tính kiên nhẫn đã trở thành một phần tử cố hữu của hạnh kiểm tôi rồi.
Mỗi người trong chư huynh đều có thể làm như vậy. Chư huynh hãy làm thử coi, vì một kinh
nghiệm bé nhỏ do chư huynh làm còn có giá trị bằng một trăm bài diễn thuyết được nghe trong
sự ngờ vực, không tin là đúng. Vì định luật là bất di bất dịch thì lẽ tự nhiên thế nào chư huynh
cũng thành công. Theo lối đó chư huynh có thể hoạch đắc hết tánh tốt này đến tánh tốt nọ, cứ chú
ý đến mỗi nét đặc biệt cho đến khi chư huynh thấy rằng mình giống với lý tưởng của mình thêm

được đôi chút, tuy bây giờ chư huynh còn ở xa lý tưởng, nhưng rồi chư huynh cũng biết rằng
mình đang leo lên núi và lý tưởng ở trên đỉnh núi đang chiếu sáng rực rỡ và vì thế cho nên chư
huynh không chịu dừng lại nhịp bước ở chân núi. Tôi không đủ thời giờ để đưa ra những thí dụ
khác nữa.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét đến trí khôn. Nếu chư huynh muốn phát triển nó một cách mãnh
liệt, chư huynh phải suy nghĩ cho sâu xa, chư huynh đừng lo ngại vì phải cố gắng suy nghĩ. Mỗi
ngày chư huynh phải đọc dù chỉ trong nửa trang thôi một cuốn sách khó hiểu để tập luyện trí
thông minh của mình làm cho nó thêm mạnh mẽ. Nhưng tham thiền là một phương pháp rất tốt
để phát triển cái Trí. Nhiều người trong chư huynh nghĩ rằng tham thiền chỉ là một lối công phu
có tính cách thuần túy tôn giáo. Dĩ nhiên là có tính cách tôn giáo, vì tất cả những điều gì lành
thiện đều ở trong phạm vi của tôn giáo; nhưng ngoài cái giá trị tôn giáo của nó ra, sự tham thiền
còn có một giá trị lý trí nữa. Nó khiến cho ta có thể tập trung tư tưởng, không để cho một vật phù
du làm cho ta lảng trí, lo ra, nếu không tham thiền, vật đó sẽ thu hút tất cả sự chú ý của ta; nhờ
tham thiền ta định trí vào một tư tưởng duy nhất và không rời bỏ tư tưởng đó cho đến khi hoàn
toàn hiểu thấu nó; đó là kết quả của sự tham thiền, vừa hữu ích ở cõi trần này, vừa cần thiết để
chuẩn bị đời sống của ta ở bên kia cửa tử. Chư huynh chỉ cần tham thiền mười hay mười lăm
phút mỗi ngày, chư huynh sẽ thấy quyền năng của tư tưởng mình được tăng cường. Sau khi tập
luyện như vậy, những đoạn sách mà chư huynh đã đọc mà chưa được hiểu lúc ban đầu, nay bỗng
trở nên rõ ràng dễ hiểu, vì con người có thể sửa đổi cái trí cũng như có thể sửa đổi hạnh kiểm của
mình. Khi chư huynh đọc sách với mục đích phát triển trí khôn, thì chư huynh phải hiểu cho thấu
đáo tư tưởng của tác giả, nếu ta xem những câu văn được viết ra thì thật là không đủ. Từ ngữ chỉ
diễn tả được có phân nửa tư tưởng, và có khi còn ít hơn thế nữa; nếu chư huynh đọc nhanh một
cuốn sách, giở hết trang này đến trang nọ, chỉ nhớ những điểm chánh thì trí khôn của chư huynh
sẽ không phát triển được bao nhiêu. Chư huynh hãy chọn một đề tài khó hiểu và suy nghĩ vào
một đoạn văn lâu hơn là khi đọc nó, điều này sẽ giúp cho trí thông minh của chư huynh được
phát triển; ngoài ra chư huynh sẽ bỏ được cái tật xấu thông thường của thời đại hiện tại là tự đem
sự chú ý của mình chia sớt cho hàng chục đề tài khác nhau, do đó mà chư huynh không hiểu biết
một cách rõ ràng và sâu xa về một điều gì cả; trí khôn phải làm chủ đề tài của nó nghiên cứu.
Tư tưởng tạo cho trí khôn một thói quen. Chư huynh có bao giờ để ý thấy rằng khi ta đọc những
nhật báo với các bài tường thuật ngắn nói về tin tức của mọi xứ trên hoàn cầu thì tư tưởng của nó
bị tản mát đi, không chủ định lại được. Ngày nay ta cần đọc nhật báo; ta cần phải biết những gì
xảy ra xung quanh ta. Nhưng muốn trừ thói bay nhảy của cái trí, chư huynh phải có một cuốn
sách diễn tả một tư tưởng vững chắc và liên tục dù chư huynh có rất ít thời giờ để đọc nó. Ðiều
này sửa chữa cái thói quen hay xao lảng của cái trí của chư huynh, một thói quen không sao
tránh khỏi được, nó phát sinh từ việc đọc hằng ngày những bài báo ngắn. Bây giờ [15] ít có tờ nhật
báo nào đăng tải một bài đúng đắn, bắt ta phải suy nghĩ. Những người bỉnh bút (biên tập viên) cố
gắng tóm tắt đưa ra một ý kiến rồi để cho độc giả truyền đi. Ít khi một cột báo trình bày cho
chúng ta một lý luận được chặt chẽ và liên tục, nhưng mỗi nhật báo đều dành một cột cho những
bài ngắn độ mười hay hai mươi hàng chữ. Nếu người ta ưa thích những bài ngắn này hơn là
những bài bắt buộc ta phải suy nghĩ, thì đó là dấu hiệu của một sự kém học thức giống như con
bướm bay từ bông này đến bông khác, con người không thu thập được một món ăn đầy đủ cho
những ngày sắp tới. Vì chúng ta bắt buộc phải đọc nhật báo nên chúng ta phải lấy sự tham thiền
hay sự đọc sách mà suy nghĩ sâu xa để bổ túc vào những điều bất lợi cố hữu của sự thông tin của
báo chí; như thế chúng ta sẽ không nhiễm cái thói quen có hại là đi từ đề tài này sang đề tài khác,
chúng ta sẽ không phung phí sức lực trí não của mình, nếu không thì một khi chúng ta cần đến
sức mạnh đó, nó đã mất đi rồi.

Một thói quen trọng hệ khác là sự làm chủ tư tưởng. Xin hỏi đã có bao nhiêu người trong chư
huynh đã làm chủ tư tưởng được, dù trong một mức độ nhỏ bé. Cái Trí của chư huynh đã chẳng
ngự trị chư huynh đó sao ? Muốn kiếm bằng cớ về việc này thì thật là dễ dàng. Một sự lo lắng có
làm cho chư huynh mất ngủ chăng ? Nếu như vậy thì chính là cái Trí của chư huynh nó đã sai
khiến chư huynh, chớ không phải chư huynh làm chủ nó. Cái Trí của chư huynh phải tùng phục
chư huynh cho đến đỗi nếu ban ngày chư huynh đã lo nghĩ việc nào rồi, thì ban đêm chư huynh
phải đuổi sự lo nghĩ đó ra khỏi trí mình, chư huynh phải có thể suy xét mà không cho nó thâm
nhập trí óc mình khiến cho ngày hôm sau chư huynh phải kiệt sức. Chư huynh phải làm chủ tư
tưởng mình, cho đến đỗi chư huynh không băn khoăn bứt rứt. Người ta công nhận rằng những
nỗi lo âu làm hao mòn con người, còn công việc thì không bao giờ có điều đó. Những nỗi lo âu
giống như một cái máy mà những bánh xe quay cuồng không mục đích và như vậy máy sẽ hư
hỏng một cách nhanh chóng hơn là khi máy chạy một cách hữu ích. Khối óc của chư huynh là
một cái máy. Chư huynh đừng để cho tư tưởng làm cho cái óc mỏi mệt khi tư tưởng đó không
tạo được điều gì có ích. Chư huynh phải canh gác cửa ra vào và giữ chìa khóa, và để ra ngoài tất
cả những gì không cần thiết và những điều này chính là tất cả những gì không cần nghĩ tới trong
lúc đó. Làm như thế mới là khôn ngoan, không bao giờ được nghĩ đến một vấn đề làm cho ta rối
trí, trừ ra khi nào nó có thể tăng gia quyền năng của ta để giúp ta vượt qua những nỗi khó khăn;
và điều này không thể áp dụng cho hai chữ bứt rứt. Bứt rứt nghĩa là cứ nhớ đi nhớ lại mãi một
nỗi u buồn, nghĩ đến những điều mà người này hay người nọ sẽ nói ra. Chư huynh hãy bỏ những
ý nghĩ đó, nếu chư huynh chú trọng đến quyền năng của tư tưởng. Chư huynh phải kiểm soát cái
Trí, chư huynh phải bắt cái Trí tuân theo mạng lịnh của ý chí của chư huynh.
CÕI THƯỢNG GIỚI CÓ THẬT. Khi nói về tư tưởng, tôi đã bảo rằng nó tự biểu lộ nơi cõi trần
này nhờ khối óc, trong lương tri ta khi ta thức tỉnh. Nhưng cái cõi riêng biệt của tư tưởng, cõi
Thượng giới cũng có thật – còn “thật nhiều” hơn là cõi Hồng trần nơi chư huynh sống đây. Ở cõi
Thượng giới, đúng như người ta nói, những tư tưởng là những vật, chúng có hình hài rõ ràng,
nên người ta nhận biết được chúng; mỗi khi chư huynh suy nghĩ, chư huynh ảnh hưởng đến chất
Thượng Thanh Khí xây dựng những hình tư tưởng, những hình này có thể truyền đi xa. Chư
huynh đã hiểu bầu không khí tư tưởng là gì. Mỗi quốc gia có một tư tưởng đặc biệt. Chư huynh
không sao hiểu nổi một hiện tượng thuộc về trí não, nếu chư huynh không thoát ra khỏi bầu
không khí tư tưởng của xứ sở của chư huynh và cách suy nghĩ của chư huynh nữa. Chúng ta hãy
xem xét những quốc gia trước khi họ đánh nhau. Ða số những vụ xung đột đều phát sinh từ
những vụ hiểu lầm nhau. Trước một sự việc đã xảy ra, họ đều thấy một cách khác nhau. Một
người Pháp và một người Đức không thể có một quan điểm giống nhau trong sự nhận xét về vấn
đề Alsace Loraine được. Cái bầu không khí quốc gia của mỗi người làm cho họ thấy vấn đề này
sai lạc. Luôn luôn bầu không khí tư tưởng đó bao vây chúng ta; tại xứ Ấn Độ nơi đó nhiều giống
dân sống chung đụng với nhau, phân nửa trong số những sự hiểu lầm đều phát sinh tự cái bầu
không khí quốc gia đặc biệt nó bao bọc mỗi người. Mỗi người hiểu và nhận xét tất cả những vấn
đề, tất cả những sự cảm xúc, tất cả những sự hành động của đồng loại xuyên qua bầu không khí
đó. Người Ấn Độ nhìn xét mọi việc xuyên qua một bầu không khí Ấn Ðộ, và người Anh thì
xuyên qua một bầu không khí Anh; vì vậy tình trạng bất hòa mới xảy ra. Ða số những tai họa
không phát sinh tự những sự bất đồng ý kiến thật sự mà phát sinh tự những sự hiểu lầm, mỗi bên
đều muốn bắt đối phương phải chấp thuận những ý kiến phát sinh do lớp vỏ tư tưởng của mình
nó hoàn toàn khác hẳn với đối phương.
Bởi vì những tư tưởng, những hình tư tưởng đó là những vật bao vây chúng ta, và mọi tư tưởng
đều có thể truyền đi xa. Cái lối chuyển di tư tưởng đặc biệt mà người ta gọi là Thần giao cách
cảm là một trường hợp đặc biệt của sự chuyển di tư tưởng (một người tự ý mình gởi một tư

tưởng đến kẻ khác bằng cách cố gắng truyền cho họ cái tư tưởng phát sinh nơi mình). Chư huynh
cũng có thể làm thử thí nghiệm này nữa, tuy nó khó hơn cái trước. Ðể khởi đầu, hai người trong
chư huynh cùng ngồi trong một gian phòng, cách xa nhau chút đỉnh, quay lưng lại với nhau. Một
người phải cố gắng tưởng đến một vật gì nhất định một cách hết sức mạnh mẽ, như một cái hình
tam giác hay một cái hình kỷ hà học nào đó, vì đó là một việc dễ làm. Một người thì tư tưởng,
còn người kia thì rán hết sức mình để cho trí óc mình trống rỗng; mỗi người đều có một cái bút
chì và một mảnh giấy. Một người lập lại tư tưởng trong trí mình, còn người kia vẽ cái hình đó
đột nhiên hiện ra trong trí y mà đừng bàn cãi gì về nó, cũng đừng tự hỏi nó có đúng không. Ðó là
một trong những điều kiện khiến cho sự thí nghiệm này thành công. Sau một hay là hai tuần lễ,
chư huynh đổi ngược lại vai trò sau khi so sánh kết quả của sự gởi tư tưởng đi và sự tiếp thu tư
tưởng. Không phải một người cứ tiếp thu tư tưởng mãi, như thế y trở nên thụ động quá, thụ cảm
quá đối với những cảm giác bên ngoài. Chúng ta không nên thụ động ở một thế giới như cõi Trần
của chúng ta đây, có biết bao nhiêu tư tưởng xấu xa bao vây chúng ta. Khi chư huynh nhận thấy
mình thành công nhiều lần, chư huynh cũng cứ tiếp tục thí nghiệm như thế, nhưng mỗi người
ngồi riêng trong một cái buồng, rồi mỗi người ngồi riêng trong một căn nhà khác nhau: sau hết
chư huynh hãy thí nghiệm ở cách xa nhau, càng xa nhiều chừng nào càng tốt chừng nấy. Trừ phi
chư huynh khác hẳn với hằng trăm người cũng đã thí nghiệm như thế rồi (Hội Khảo cứu Tâm
linh đã ghi được rất nhiều kết quả như thế), chư huynh sẽ thấy rằng tư tưởng gởi đi và tư tưởng
nhận được càng ngày càng giống nhau; về sau chư huynh có thể dùng phương pháp này một cách
chắc chắn như dùng vô tuyến điện, cái điều mà người ta thu nhận được bằng máy điện báo, bằng
sức mạnh của điện khí, thì chư huynh dùng sức mạnh của tư tưởng mà thâu nhận được vậy.

NAY TÔI XIN NÓI ÐẾN TRẠNG THÁI SAU KHI CHẾT TRÊN CÕI THƯỢNG GIỚI.
Một phần của cõi Thượng Giới là nơi mà ta gọi là Thiên Đàng – Svarga – nơi chôn nhau cắt rún
và nơi cư ngụ thiệt thọ của chư huynh. Khi chúng ta bắt đầu học hỏi về Thượng Giới bằng thể
Trí – chư huynh nên nhớ rằng dân cư bình thường của cõi này hằng sống trong cái Trí – chúng ta
nhận thấy rằng những người tự cõi Trung Giới đi sang cõi Thượng Giới này, phải cởi bỏ thể Vía
của mình ra, giống như khi mới chết họ đã để lại ở cõi Hồng Trần xác thân họ. Vậy, khoác lên
mình một cái thể Trí mà họ đã sử dụng khi còn sống, họ đi vào cõi Thiên Ðàng, nó là một phần
của Thượng Giới, họ được che chở, không còn có những nỗi đau khổ buồn rầu, khó khăn, nơi đó
họ sống một cuộc đời cực lạc, sung sướng vô cùng và tiếp tục sự tiến hóa mà họ đã khởi đầu khi
họ còn sống ở cõi Trần.
Chư huynh có thể chia sơ lược những dân cư cõi Thiên Đàng này ra làm bốn hạng:
1/ Những người hồi còn ở trên thế gian đã đặc biệt có những mối tình thương đậm đà nhưng vô
tư lợi, nhất là đối với những cá nhân, gia đình, bạn bè v. v. . . Họ sống trong một thời gian rất lâu
với những người mà họ đã mến yêu nơi trần thế, trong một sự thân mật hơn, khắn khít hơn, hoàn
toàn hơn là khi còn bức tường xác thịt chia cách họ.
2/ Hạng thứ hai gồm những tín đồ các tôn giáo dù Đấng Thiêng Liêng mà họ thờ phượng là vị
nào, và dù họ là người Cơ Ðốc Giáo, Ấn Ðộ Giáo, Phật Giáo, Bái Hỏa Giáo hay là Do Thái
Giáo, điều này cũng không quan hệ. Hình thức vẫn vô số nhưng ở nơi những vị mà chư huynh
tôn sùng, sự sống chỉ là một mà thôi; lẽ tự nhiên tất cả những tư tưởng, tất cả những hoài vọng
đều dâng lên một vị Thượng Ðế duy nhất mà thôi. Chư huynh hãy gọi Ngài bằng cái từ ngữ thích
hợp nhất với mình; cái nhãn hiệu bề ngoài không quan hệ, tấm lòng của Thượng Ðế bao hàm tất
cả. Những ai trong khi sống ở cõi Trần đã thờ phượng một hình hài đặc biệt, thì khi lên Thiên

Ðàng, họ lại tìm thấy hình hài ấy tượng trưng cho Thượng Ðế trong những hoài vọng Hồng Trần
của họ. Vì Thượng Ðế luôn luôn ẩn tàng trong cái hình hài thân mến của tín đồ; trên cõi Thiên
Ðàng, không ai là một người xa lạ cả. Mỗi người đều thấy rõ ở đây cái lý tưởng cao siêu nhất của
mình.
3/ Rồi đến một hạng người rất đông, những ai đã mến yêu, nhưng một cách rộng rãi và phong
phú hơn: đó là những người thương yêu nhân loại, làm những việc hữu ích cho con người, những
ai vì mến yêu tôn giáo đã hi sinh một phần lớn những tiện nghi và thú vui để giúp đỡ các đồng
loại mình. Họ mãng chăm lo trù hoạch phác họa những dự định, nghiên cứu những phương pháp
để đem thực hiện trong tương lai đặng giúp đỡ thế gian. Giống như kiến trúc sư hoàn thành
những bức họa đồ của mình, họ cũng hoàn thành cái tòa lâu đài bác ái và phụng sự mà họ sẽ xây
dựng trong những thế kỷ vị lai để giúp đời.
4/ Trong hạng thứ tư có những đại tư tưởng gia, những đại nghệ sĩ, những ai áp dụng sự công
bằng vì yêu mến sự công bằng chớ không phải vì cái phần thưởng mà tôn giáo mang ra để lòe
mắt họ; những ai đi tìm kiếm sự hiểu biết, những ai trau dồi nghệ thuật. Tất cả những người đó
đều ở Thiên Ðàng, gặt hái những gì mà họ đã gieo và gieo thêm hạt cả trên đó nữa, tùy theo cái
kết quả mà họ vừa gặt được, để cho ở một kiếp phụng sự vị lai, họ lại gặt hái được nữa.
Tôi đã nói quá nhanh về đề tài này, nhưng nó thật là quá rộng rãi khi nghiên cứu về vấn đề này,
chư huynh bắt đầu hiểu rằng cái đời sống ở Thiên Ðàng là cái kết quả trực tiếp của đời sống của
mình nơi Ðịa cầu. Nếu chư huynh vun trồng lòng bác ái, chư huynh hãy mến yêu hết sức mình;
người yêu của chư huynh có xua đuổi chư huynh, bạn bè của chư huynh có phản bội chư huynh,
điều này không quan trọng. Tình yêu không thể nào chết được. Nếu mặc dù ác ý, mặc dù phản
bội, mặc dù sự láo dối, chư huynh cứ vững lòng thương yêu, thì rồi trên cõi Thiên Ðàng, bạn bè
của chư huynh sẽ trở lại với chư huynh, điều gì đã mất đi nơi thế gian, chư huynh sẽ lại tìm thấy
nó nơi Thiên Ðàng. Nhưng muốn được như vậy, chư huynh đừng có chán nản trong tình thương
bởi vì phải đem dệt sợi chỉ vàng ở trên Thiên Ðàng thì không nên để bị cắt đứt ở cõi Trần này.
Ðối với những ai trong chư huynh thờ phượng một hình ảnh Thiêng Liêng thì cũng thế. Chư
huynh đừng cảm thấy bối rối khi thấy lòng mình lạnh lùng, lãnh đạm; đó không phải là đời sống
thiệt thọ của chư huynh đâu, đó chỉ là những cảm xúc của chư huynh khi lên khi xuống như dòng
nước thủy triều. Chư huynh hãy giữ cho tấm lòng Sùng tín của mình được trong trắng và mạnh
mẽ, và trên cõi Thiên Ðàng, chư huynh sẽ quì dưới chân Thần tượng của mình trong nhiều thế kỷ
lâu dài, chư huynh sẽ thưởng thức cái Diễm Phúc Vô Tận Vô Biên nơi đó qui tụ những hoài
vọng của chư huynh; sẽ không có một tấm màn nào ngăn cách trái tim của chư huynh với trái tim
của Ngài. Nếu chư huynh muốn hoạch đắc sự hiểu biết, chư huynh phải gieo hạt ở cõi Trần này.
Chư huynh phải khởi sự tại nơi đây cái việc mà chư huynh sẽ tiếp tục trong cõi Thiên Ðàng; lúc
đó chư huynh sẽ gặp những nhà đại văn hào mà khi còn ở cõi Trần, chư huynh đã đồng một quan
điểm với họ. Chư huynh sẽ được tự do lựa chọn bạn bè vì trên cảnh giới này, người ta được sum
họp với những ai đồng tâm đồng chí với mình; trên những quãng vô tận của cõi trời, chư huynh
sẽ sống thân mật với những đại văn hào đó, những người mà chư huynh đã có thiện cảm về mặt
tư tưởng khi xưa. Nếu chư huynh có xu hướng về nghệ thuật và nếu những tác phẩm của chư
huynh không được xuất sắc, chư huynh hãy có hoài vọng luôn luôn tiến lên cao và tiếp tục chiến
đấu; dù cách cấu tạo còn vụng về, thì đó cũng không quan trọng gì, không một sự cố gắng nào
của chư huynh lại bị mất đi cả. Nơi Thiên Ðàng, chư huynh lại tìm thấy những hoài vọng đó,
chúng sẽ là những tài liệu cho chư huynh làm việc.
Nếu lý tưởng của chư huynh là phụng sự nhân loại, làm nhẹ bớt gánh đau khổ của thế gian, an ủi
những nỗi thương tâm của con người, tìm một giải pháp cho những nỗi cơ hàn của nhân loại, chư

huynh hãy cố gắng cho nhiều, hãy kiên tâm chiến đấu nơi cõi Trần; vì tất cả những gì ta ham
muốn nơi Hồng Trần, thì sẽ được biến thành quyền năng trên cõi Trời; những hi vọng và những
hoài vọng sẽ trở thành những năng khiếu khiến ta thực hiện được những sở nguyện đó; điều này
giống hệt như một người muốn dệt một tấm lụa tuyệt đẹp: họ thu lượm nơi đây một sợi chỉ màu
này, nơi kia một sợi chỉ màu khác, chỗ nọ vài ba sợi chỉ vàng, rồi những sợi chỉ bạc. Tất cả
những sợi tơ và sợi kim tuyến đó gom góp lại, y sẽ ngồi tại nhà y, trước khung cửi và sẽ dệt tấm
áo tuyệt đẹp sẵn sàng để mặc, đó là sự liên hệ giữa đời sống Hồng Trần và đời sống trên Thiên
Ðàng. Nơi trần thế này chư huynh thâu thập những mối hi vọng, những tư tưởng, những hoài
vọng huy hoàng, chư huynh góp những sợi chỉ đó lại mang chúng về nơi cư ngụ thiệt thọ của
mình, khi chư huynh bước qua cửa tử đặng đi đến cõi Thiên Đàng; nơi đó tư tưởng được biến
thành quyền năng. Nơi đó chư huynh tự dệt cho mình tấm áo mà chư huynh sẽ mặc lại khi đầu
thai xuống Trần. Không một hoài vọng nào bị quên lãng, không một tư tưởng nào bị mất đi,
không một món báu vật nào bị chiếm đoạt. Sự đau khổ sẽ biến đổi thành quyền năng, những nỗi
đau đớn giống như một vòng gai nhọn sẽ trở thành những vòng trân châu sáng ngời, vòng trân
châu này tượng trưng cho quyền năng cứu rỗi nhơn loại; vì mỗi đau khổ đều chất chứa bên trong
cái mầm mống của một năng lực mới, như Edward Carpenter đã nói. Ðó là sự liên quan giữa đời
sống Hồng Trần này và đời sống nối tiếp trên Thượng giới. Chư huynh phải hiểu nó, đó là một
việc quan trọng, vì nếu đời sống Hồng Trần của chư huynh nghèo nàn về tư tưởng và hoài vọng,
thì đời sống Thiên Ðàng của chư huynh cũng sẽ nghèo nàn; trên Thiên Ðàng, chư huynh không
thể bắt đầu làm một việc mới; lý do này rất giản dị, ở cõi Trần, tư tưởng đã xây dựng nên thể Trí
của chư huynh, và chỉ khi nào lên cõi Thượng Giới chư huynh mới tiếp xúc với những sự vật mà
chư huynh đã nghĩ đến khi còn sống. Chư huynh phải làm việc với những tài liệu đó.
 THỂ TRÍ.
 Trong lúc sinh tiền, tư tưởng của ta rút chất Thượng Thanh Khí đặc biệt phù hợp với nó để nuôi
dưỡng thể Trí và chỉ có chất Thượng Thanh Khí đó mới khiến cho con người tiếp xúc được với
Thượng Giới. Ngoài nó ra không có dụng cụ nào khác để tiếp xúc, và vì thế cho nên đành phải
bó tay trước chất Thượng Thanh Khí đã làm ra cái Trí của y. Y không nhận thức được bất cứ sự
vật gì ở xung quanh y, nếu y không có những cơ quan giúp y tiếp xúc được với các sự vật ấy.
Cũng giống y như thế, ở cõi Trần chúng ta không nhận thức được hằng hà sa số những làn rung
động; chúng ta không ứng đáp được với chúng bởi vì chúng ta không có cơ quan thích hợp. Vì
hiện giờ chúng ta vô ý thức nên không biết rằng ta thiếu thốn một vật nào đó; ở bên kia cửa tử thì
cũng giống hệt như vậy. Nhưng mà chúng ta có thể ứng đáp với những làn rung động ấy thì chân
trời của đời sống càng trở nên rộng rãi hơn.
Ðó là những vật liệu duy nhất để cho huynh sử dụng, và nếu chư huynh thiếu chúng thì chư
huynh không thể làm gì khác được. Ðiều này làm cho chư huynh thấy rằng đời sống hiện tại của
mình thật là vô cùng quan trọng. Nó cung cấp cho chư huynh những tài liệu của đời sống ở Thiên
Ðàng; đời sống này phong phú nhiều hay ít tùy theo cái sống kinh nghiệm quí báu mà chư huynh
đã thu thập được. Chư huynh hãy đứng về phương diện ấy mà xem xét; chư huynh hãy tự phán
xét lấy mình, hãy suy xét những quyền năng của riêng mình, những khả năng của mình, và hãy
bắt đầu làm ở tại đây những gì mà chư huynh muốn tiếp tục ở Cõi cao.
Trước đây, tôi có đề cập đến một buổi diễn thuyết của ông Tu viện Trưởng nhà thờ Saint Paul.
Nói về nhà Thần bí Cơ Ðốc, ông bảo: “Tất cả những nhà Thần bí đều cho rằng lúc nào Thiên
Ðàng cũng ở xung quanh ta đây”. Và điều này thật là rất đúng vậy. Do thể Trí của chư huynh
tiếp xúc được với cõi Thượng Giới, vì Thiên Ðàng là cõi Thượng Giới như tôi đã nói với chư
huynh; tuy nhiên cõi Thiên Ðàng là một miền của cõi Thượng Giới được che chở một cách đặc

biệt. Vậy thì chư huynh có thể đem cõi Thiên Ðàng lại với mình tùy theo sự phát triển thể Trí của
chư huynh và tùy theo cách chư huynh sống và thức tỉnh ở cõi đó càng ngày càng nhiều hơn
trước. Giữa những âm thanh hỗn loạn của cõi Trần này, chư huynh có thể nghe thấy những khúc
nhạc thiêng liêng, chư huynh có thể mang cái ánh sáng rực rỡ, cái diễm sắc, cái vẻ huy hoàng
của Thiên Ðàng vào trong miền u tối và xấu xa của Trần gian. Đó thật là cái điều mà Saint Paul
muốn nói khi Ngài bảo: “Chúng ta là dòng dõi của nước Thiên Ðàng. Chúng ta từ Thiên Ðàng
xuống Trần, và chúng ta cũng sẽ về nơi đó”. [16]  Nếu chư huynh nhớ kỹ điều này thì chư huynh
cũng như bao kẻ khác sẽ không bao giờ có ý muốn hỏi rằng: “Trên Thiên Ðàng, tôi có nhận ra
những bạn hữu của tôi không”. Vì chư huynh bao giờ cũng sẽ là chính chư huynh, không hề có
sự thay đổi. Chư huynh cũng vẫn cùng mang một thể Trí như bây giờ, chư huynh đang suy nghĩ
trong đó, và chư huynh sẽ gặp những bạn bè của mình với những thể Trí mà họ đang mang trong
lúc này đây. Vậy chư huynh sẽ nhìn nhận được họ, chớ không sao có thể khác được. Những sợi
dây liên kết chư huynh với bạn bè không phải có tính cách vật lý mà thôi; chư huynh cũng đã
liên kết với họ bởi những cảm xúc và trí thông minh nữa, đó là những sợi dây của chính chư
huynh chớ không phải của những lớp vỏ, quần áo của chư huynh mặc. Một người cũng có thể
nói: “Chiều nay khi về tới nhà, tôi cởi áo choàng ngoài ra, và vợ tôi thay đồ mát thì tôi có sẽ
nhận ra được nàng không? ” Thế nào chư huynh cũng sẽ nhìn nhận ra những người thân mến,
những người mà chư huynh cảm phục. Còn những kẻ thù của chư huynh? Không, chư huynh sẽ
không hề gặp họ đâu. Họ cũng sẽ hưởng hạnh phúc nơi Thiên Ðàng, nhưng sẽ không thể có sự
gặp gỡ đáng tiếc giữa họ và chư huynh, vì nơi Thiên Ðàng, tình thương yêu là Ðịnh luật tối cao;
và lòng thù hận không tìm thấy được thứ vật chất nào để tự biểu lộ được. Vì thế đời sống của chư
huynh chỉ là một. Hiện nay chư huynh sống ở cả ba cảnh giới. Ðể khởi đầu, xin chư huynh coi
quan niệm này như một giả thuyết. Rồi nếu những sách mà chư huynh đọc đã giúp cho những tư
tưởng đó được mạnh mẽ thêm thì chư huynh hãy tự mình học hỏi mình dưới ánh sáng của những
ý niệm ấy, và chư huynh hãy xem thử coi chúng có soi sáng cho nhiều chỗ tối tăm chăng, chúng
có giúp chư huynh hiểu được rành rẽ những người xung quanh và tự hiểu lấy mình không. Nếu
chư huynh nắm vững được điều này, chư huynh sẽ có hi vọng, vì dù bây giờ chư huynh vẫn ít
tiến bộ trên con đường phát triển mà chư huynh muốn theo đuổi thì điều đó cũng không quan
trọng gì. Chư huynh hãy hết sức vun trồng những khuynh hướng của mình, và rồi trên cõi Thiên
Ðàng một sức mạnh mới mẻ sẽ làm cho chúng trở nên nồng nhiệt hơn; chư huynh hãy trau dồi
những thiên tư của mình một cách sốt sắng, và ở bên kia cửa tử, chư huynh sẽ được đền bù lại
công lao khó nhọc một cách rộng rãi. Nhưng nếu chư huynh bóp nghẹt hoài vọng và năng khiếu
của mình thì mùa gặt trên Thiên Ðàng sẽ thất bát vì chư huynh chưa làm đầy đủ những điều kiện
cần thiết để khi lên Thiên Ðàng, chư huynh sống được một cuộc đời lâu dài và sung sướng.
Nhưng nếu chư huynh không chấp nhận được quan niệm Thông Thiên Học, nếu quan niệm này
không phù hợp với những sự hiểu biết mà chư huynh đã hoạch đắc được, thì ít ra chư huynh hãy
để cho quyền năng sáng tạo của tư tưởng trở thành một sự luyện tập thường lệ đối với mình, và
chư huynh hãy nhận định rõ sự luyện tập ấy là như thế nào. Tất cả chư huynh đều nghe người ta
nói đến những tư tưởng nhất định chúng ám ảnh con người. Có khi vì vậy mà ta sinh ra điên
khùng, có khi tư tưởng đó khiến một người tầm thường trở nên một vị anh hùng. Tư tưởng nhất
định của một người điên là một ý niệm sai lầm không phù hợp với thiên nhiên, mà cũng không
phù hợp với những việc xung quanh. Kẻ điên tưởng rằng người y làm bằng thủy tinh và vì vậy y
cứ sợ nó bể đi mãi, y là một người điên vì tư tưởng nhất định của y sai lầm. Nhưng chư huynh
hãy xem xét về tư tưởng nhất định của một người đại ái quốc như ông Arnold Von Winkelried;
khi thấy hàng ngũ chặt chẽ của quân địch và thấy dân quân do ông chỉ huy lùi bước trước cái mũi
giáo song song của đoàn quân Áo thiện chiến, ông bèn xông tới trước quân thù, giơ hai tay ôm

lấy những ngọn giáo khiến cho bao nhiêu mũi giáo nhọn đều đâm vào ngực ông, ông hi sinh đời
mình để thọc phủng hàng ngũ quân địch, những người của ông mới phá tan hàng rào quân địch
được và mới thắng trận. Tư tưởng nhất định của ông là lòng yêu nước, nó đã làm cho ông thành
một vị anh hùng hi sinh đời mình để cho tổ quốc được độc lập.
Phải xem xét về bản chất của tư tưởng nhất định; sự quan trọng tối cao là tư tưởng đó phải đúng
với sự thật, tư tưởng nhất định bắt buộc chư huynh phải vâng lời nó một cách mù quáng bất chấp
mọi lý luận, mọi bằng chứng, mọi ý kiến của một người bạn; bỏ qua cả những quyền lợi của
chính chư huynh nữa; tư tưởng nhất định ra lịnh và chư huynh vâng lời, dù cho có sự gì xảy đến
cho chư huynh trong cõi đời phù du này cũng mặc.
Khi tư tưởng nhất định cao thượng và đúng với sự thật, thích hợp với cơ tiến hóa, tượng trưng
cho những hi vọng cao nhất của chư huynh, những tư tưởng nhân từ nhất, khoan dung nhất,
những hoài vọng cao cả nhất, thì ta gọi nó là một Lý Tưởng.
Mỗi người cần phải có một lý tưởng, nhất là đối với những người trẻ tuổi nhất trong chư huynh,
những thanh niên. Hãy chọn lý tưởng của mình lúc còn xuân xanh và đến khi tuổi cao tác lớn,
chư huynh sẽ thực hiện gần được nó. Người ta không thể sống một cách khôn ngoan, đúng đắn,
nếu người ta không có một lý tưởng để hoài vọng, một lý tưởng mà chư huynh yêu quí hơn bất
cứ vật gì mà đời có thể hiến cho chư huynh và hơn bất cứ cái gì mà người ta có thể tìm được.
Vậy thì chư huynh phải có một lý tưởng mỗi buổi sáng, chư huynh hãy nghĩ đến nó trong chốc
lát và dần dần chư huynh sẽ thành ra phản ảnh của lý tưởng đó. Giống như hình dáng của chư
huynh phản chiếu trong một tấm gương, lý tưởng của chư huynh sẽ thành hình trong trí chư
huynh và chư huynh sẽ giống y cái điều mà chư huynh thường suy nghĩ đến, cái điều mà chư
huynh tôn kính. Chư huynh đừng sợ hãi mà không dám nêu lên cho mình một lý tưởng quá đẹp
đẽ, quá cao thượng, chư huynh đừng nghĩ rằng chư huynh sẽ không đạt được nó; nội một việc
nghĩ ra lý tưởng đó cũng là một sự bảo đảm cho sự thành công của chư huynh. Tất cả những gì
mà chư huynh có thể tưởng tượng ra trong trí, chư huynh sẽ có thể thực hiện được sau này;
chung cuộc, tất cả những mối hi vọng của chư huynh đều sẽ thành tựu. Ðời sống của chư huynh
vốn vô cùng vô tận, chư huynh không bị thời gian hạn chế, nhưng chư huynh có trước mặt mình
những thời đại vô tận vô biên. Sau cùng, chư huynh sẽ đạt được lý tưởng của mình và sẽ lấy đời
sống của chính mình mà tượng trưng nó trên cõi Trần này.
Chư huynh hãy có một mục đích, chư huynh đừng sống một cuộc đời vô tư lự, vô ích, không
xứng đáng với danh từ “con người”, chư huynh đừng để cho trên những cõi cao siêu người ta nói
về chư huynh như vầy: “Người nam hay người nữ này đầu thai làm người sớm quá”. Chư huynh
hãy tạo cho mình một lý tưởng, chư huynh hãy thờ phụng nó, hãy thờ phụng bằng đời sống của
mình hơn là bằng những lời nói, hãy lấy tư tưởng, hoài vọng, hành động của mình mà thờ phụng
nó. Như thế đời sống của chư huynh sẽ dần dần trở nên đẹp đẽ, hùng cường và khôn ngoan giống
như trong lý tưởng. Và dù cho ở cõi Trần này, chư huynh không thực hiện được những mối hoài
vọng của mình, khi chết đi, chư huynh cũng hoạch đắc được một sự cao cả mà chư huynh sẽ
không sao đạt được nếu làm cách khác. Trên cõi Thiên Ðàng, cái lý tưởng của chư huynh sẽ ra
nghênh tiếp chư huynh, với cái vẻ huy hoàng của đời sống trường tồn bất diệt: nó khắn khít với
chư huynh, chia xẻ với chư huynh cái tinh hoa của đời sống của nó, và những hi vọng của chư
huynh hồi còn ở cõi Trần sẽ được thực hiện trên cõi Thiên Ðàng, và sau nhiều ngày, chư huynh
sẽ trở xuống cõi Trần đầu thai lại và thành ra Người Phụng Sự Nhân Loại.

 IV - TINH THẦN CON NGƯỜI VÀ ĐỜI SỐNG THIÊNG
LIÊNG
 
Tôi đã nói với chư huynh về những thể của con người: Thể Trí, Thể Vía và Xác thân. Hôm nay
tôi xin chư huynh theo tôi đến một cảnh giới cao siêu hơn, tinh khiết hơn. Tôi xin chư huynh tiến
lên cao hay thâm nhập vào – chư huynh ưa thích dùng từ ngữ nào thì xin tùy ý – những nơi cao
cả, những chốn thâm sâu của Lương Tri trong nội tâm, nơi đó chư huynh nhìn nhận được cái Bản
Thể Thiêng Liêng của mình, thực hiện được sự cao cả mà chư huynh muốn vượt tới, nơi đó chư
huynh sẽ giữ vững vị trí của mình trong tương lai. Xin chư huynh để cho tôi dắt dẫn đến những
cảnh giới của Lương Tri nó nâng chư huynh lên cao, vượt khỏi những nỗi lo âu của cõi Trần này
và khiến cho chư huynh được yên tĩnh giữa những sự náo động xung quanh mình, sung sướng
tuy có những nỗi u buồn bên ngoài, bình thản khi mà những sự tranh đấu và những huyên náo
bao vây chư huynh, vui vẻ ở nơi mà thế nhân chỉ trông thấy những lý do để bất mãn và lo sợ.
Chư huynh cũng vẫn nhớ rằng người ta nói: Mục đích của các triết lý chơn chánh là diệt trừ được
sự đau khổ. Có một miền kia không có sự đau khổ, một vương quốc không có những nỗi lo
phiền. Con người có thể sống như một Thực Thể Tinh Thần, y có thể sống nơi Bản Thể mà ta
thường một đôi khi gọi là Chơn Ngã, và sống như vậy, y biết được nguồn an lạc vô biên ở giữa
những hiện tượng của thời gian. Muốn sống được như thế, y phải vượt lên khỏi những nỗi buồn
rầu của cõi Trần này, nhưng y không cần phải rời bỏ cõi Trần là nơi số mệnh đã đặt y vào đó;
không cần phải tìm chốn rừng rậm hay động cả non cao để lánh mình, không cần phải xa lánh
những nơi phồn hoa đô hội. Y vẫn có thể làm việc ở nơi công cộng, biện hộ ở Tòa án, săn sóc
các bệnh nhân ở dưỡng đường, giúp việc trong một tiệm buôn hay là chiếm cái địa vị cao sang
của người trị nước. Làm đầy đủ mỗi nhiệm vụ của mình hơn là một thế nhân, không bao giờ lùi
bước trước bổn phận nhưng tận dụng những khả năng và sức làm việc của mình mà làm đầy đủ
bổn phận, và tuy đang sống nơi thế tục mà vẫn hiểu được Bản Thể Thiêng Liêng của mình, và
làm việc không phải để mưu cầu những của cải phù du của Trần gian, nhưng với tư cách là một
dụng cụ trong sự hoạt động của Thượng Ðế – đó là tất cả những điều cần thiết để hưởng được sự
an lạc và sống một cuộc đời Tinh Thần.
Bây giờ đây Tinh Thần là gì? Vì nếu chúng ta không biết Chơn Ngã hay Tinh Thần là gì, thì
chúng ta không sao hiểu nỗi đời sống Tinh Thần là gì vậy. Tinh Thần chính nó là Con Người, là
một Ðiểm Linh Quang mà Shri Krishna đã gọi là: “Một phần tử của chúng ta, một Sinh vật”.
Chư huynh sẽ hiểu một cách dễ dàng hơn ý nghĩa của Tinh Thần nếu chư huynh suy nghĩ một
chốc lát đến cái câu mà ai cũng biết trong kinh Bhagavad Gita: “Đấng ngự trong xác thân”.
Chúng ta đã học về những thể rồi; nay chúng ta học đến “Đấng ngự trong xác thân, Con Người.”
Con người thiệt thọ ấy là Đức Thượng Đế ẩn tàng trong lớp áo nhục thể. Chư huynh hãy nhớ
rằng người ta nói: “Không nên than khóc cho người sống cũng như cho kẻ đã chết” và lý do của
sự vượt qua khỏi những nỗi khốn cùng của nhân loại, lý do của sự lãnh đạm này đã được giải
nghĩa một cách thanh bai khéo léo và hoàn toàn cho đến đỗi thật là làm một sự liều lĩnh nếu tôi
kể những lời đó ra đây, xen lẫn vào những lời hèn mọn của chính tôi. Chư huynh hãy nhớ người
ta đã nói về mỗi con người rằng:
“Chơn Thần vô thủy thì vẫn vô chung. Ðấng ngự trong xác thân vốn bất sinh bất diệt. Ngài tồn
tại đời đời kiếp kiếp. Khi xác thân bị tiêu hủy, Ngài cũng không chết. Cũng giống như một người

liệng bỏ những quần áo hư cũ đi và mặc những y phục khác. Con người ngự trong xác thân liệng
bỏ những thể hư hoại để vào ở trong những thể mới khác”.
Rồi lời của Đức Giáo chủ lại vang dội lên:
“Không một sự gì có thể phá hoại được Đấng ngự trong xác thân. Đấng ngự trong xác thân bất
khả phân ly, nước lửa không xâm phạm được, không thể hư hoại được, trường tồn bất diệt, đâu
đâu cũng có Ngài, bất di bất dịch, cố cựu, ẩn tàng, bất khả tri, bất biến; biết được như thế rồi
người ta không nên lo âu cái gì cả”.
Vậy thì tất cả đều được chứa đựng trong cái vỏ của trái hồ đào. Nếu chư huynh chính là chư
huynh, Ðấng ngự trong xác thân, nếu trong những thể hữu hoại của mình, chư huynh biết được
rằng sự sinh và sự tử đều không ảnh hưởng đến mình, trường tồn bất diệt, vô thủy vô chung, thì
tại sao chư huynh lại có lý do để đau khổ than van, vì đã biết rằng mình chia sớt đời sống của
Thượng Ðế và cũng trường tồn bất diệt như Ngài.
Sự liên quan giữa Ðấng ngự trong xác thân và những thể mà Ngài khoác lên mình là thế nào?
Nếu đối với đôi ba người trong chư huynh, cái ý niệm về đời sống vô tận vô biên có thể làm cho
ngạc nhiên, thì xin chư huynh hãy để cho tôi nhắc lại với chư huynh một sự tương tự như thế
trong thiên nhiên, nó khiến cho chư huynh hiểu rõ được sự khác biệt giữa Ðấng ngự trong xác
thân với xác thân đó. Chư huynh hãy nhớ đến lời tuyên bố của nhà đại bác học người Anh,
Thomas Huxley, về thuyết Luân hồi: “Những sự tương tự mà người ta tìm thấy trong thiên nhiên
là những bằng cớ rõ rệt của tín ngưỡng này, và không có một sự gì phủ nhận nó được”. Chư
huynh hãy lấy sự so sánh một khu rừng rộng rãi và xem xét về đời sống của cái cây nó mọc và
phát triển trên mặt đất; trong những xứ ở miền bắc thì cái thí dụ này lại còn rõ rệt hơn là những
xứ ở miền nam này. Chư huynh thấy mỗi năm một lần cây trổ những lá non xanh mướt, những lá
cây này hút đồ ăn trong không khí và nhờ chất đó biến đổi ra cây mới sống được. Những chất
này đều gom góp trong nhựa cây khi lá rụng và khi nhiệm vụ của lá hoàn thành. Nhựa cây chứa
đầy những chất bổ mà lá đã gom góp được, liền từ thân cây chảy xuống rễ cây tỏa ra dưới gốc và
nằm đó trong một thời gian, mắt con người không trông thấy được. Nhưng Ðông vừa mãn thì
Xuân lại sang, tiếng chim hót líu lo, cùng trong một lúc, cảnh vật bừng tỉnh với một đời sống
mới; nhựa cây lại đi lên, theo thân cây đến nhánh nhóc. Nhựa lan tràn trong mỗi bộ phận của cây
và ban rải sự sống. Những mầm non nở lần, những lá mới lại đơm ra, và một lần nữa, cây lại
khoác lên mình cái tấm áo rực rỡ của mùa hè, và lá cây lại tái lập cái công việc tiêu hóa đồ ăn
nhờ đó mới sống được. Ðời sống con người cũng giống như thế, Tinh thần giống như cái cây,
một mầm mống của Thượng Ðế đem gieo trên miếng đất của đời sống nhân loại. Những chiếc lá
cây thì giống như những kiếp sống của con người, tự biểu lộ ra để gom góp chất sống nhờ đó
Tinh thần mới hiện ra được. Chúng gom góp chất bổ và chuyển di nó cho đời sống, đời sống này
là nhựa cây. Những lá cây rơi xuống và chết đi. Chúng bị chôn vùi dưới đất hay là bị thiêu ra tro
mạt, nhưng sự sống là nhựa cây đi lên phía Tinh thần, mang đến cho nó chất bổ dưỡng, đó là kết
quả của kinh nghiệm Hồng Trần. Ở trong Tinh thần, chất này biến đổi thành quyền lực, những
quan năng khi trở xuống trần đầu thai, Tinh thần ban rải sự sống mới mẻ cũng như cái cây trổ lá
vậy. Một lần nữa, Trường đời lại dạy dỗ chúng ta và khiến cho Tinh thần biểu lộ được. Ðó là sự
liên quan giữa Tinh thần và các thể Xác, Vía, Trí, đó là sự khác nhau giữa cái Trường tồn vĩnh
cữu và cái phù du nhất thời. Và nếu chư huynh so sánh đời sống Hồng Trần với những lá cây,
nếu chư huynh tự coi mình như một cái cây không bao giờ chết và chỉ trổ những lá mới trong đời
sống của mình, chư huynh sẽ có một hình ảnh tốt đẹp của Chơn Ngã; nhờ những thể mới, Tinh
thần tìm kiếm được chất bổ cần thiết để tự phát triển, còn chính Tinh thần thì vẫn hằng có đời đời

và bất sanh bất diệt; luôn luôn làm phát sinh, tự những khả năng vô cùng vô tận của nó, những
quyền năng cụ thể để chứng tỏ sự tiến hóa của con người.
Theo cách đó, chúng ta nhìn thấy được những sự tiến bộ của đời sống trường tồn thỉnh thoảng bị
che đậy dưới tấm màn nhục thể. Chúng ta vừa nói rằng đời sống này là một phần đời sống của
Ðức Thượng Ðế. Tôi đã thuật lại những Thánh ngôn, những lời châu ngọc của Shri Krishna khi
Ngài nói về cái tính cách thiêng liêng và tuyên bố rằng Chơn Thần Jivatma là một phần của Bản
thể Ngài; điều này khiến ta hiểu được những đặc tính của Tinh thần, và nếu ta suy nghĩ chút
đỉnh, ta sẽ biết rằng đời sống Tinh thần hiện ra nơi ta cách nào trong khi chúng ta còn chìm đắm
trong đời sống vật chất của những cõi Hạ giới. Vì chúng ta biết rằng trong Bản thể của Thượng
Ðế có ba đặc tính lớn tự biểu lộ, và nếu con người là một phần tử của Ngài, thì đặc tính đó cũng
phải tự biểu lộ, nhưng chúng bị hạn định, còn ở nơi Ngài chúng nó vô biên, chúng đương phát
triển nơi ta, còn ở nơi Ngài chúng là hoàn hảo và đầy đủ. Và bởi chúng ta biết rằng một trong
những đặc tính của Ðấng Tối Cao là quyền năng, và bởi vì Ngài cai trị các thế giới, cho nên
chúng ta nhìn thấy ngay cái phản ảnh của quyền năng của Ngài trong Tinh thần của con người,
đó là Ý chí, tuy rằng trong một thời gian nó bị hạn chế rất nhiều và rất kém tiến hóa. Và cũng
như ta đã nhìn nhận nơi Thượng Ðế cái Lương Tri hoàn hảo, nó tự biết mình cũng như tất cả
những gì có nơi Ngài, vì Ngài là Ðấng Ðộc Nhất vô nhị. Chúng ta cũng nhìn thấy nơi con người
cái trạng thái kỳ diệu đó, tức là sự khôn ngoan, sự minh triết, nó chính là sự hiểu biết về Ðấng
Duy Nhất, là sự thực hiện Thượng Ðế nơi con người, sự thực hiện Chơn Ngã nơi con người có
thể nói được, không phải bằng lời nói suông, mà trong thực thể rằng: “Tôi là Ngài”. Sự minh
triết này là sự hiểu biết về Đấng Duy Nhất, và chư huynh hãy nhớ rằng người ta đã viết (trong
Thánh kinh) như vầy: “Tất cả những gì ở ngoài Chơn Như đó thì đều là vô minh cả”. Cho nên
chúng ta trông thấy cái trạng thái Sáng Tạo nơi Thượng Ðế phản chiếu trong Trí khôn con người,
nhờ quyền năng Sáng Tạo đó mà con người có thể ban cho mọi vật một hình dáng mới mẻ.
Nhưng dù có thừa nhận ba Ngôi nơi con người, Ý Chí, Minh Triết, Trí Sáng Tạo, người ta có thể
tự hỏi rằng làm sao mà chúng ta biết được: đến lúc nào những Ðặc tính Thiêng liêng đó bắt đầu
tự biểu lộ nơi đời sống thấp hèn, và không biết chúng ta có thể nhìn nhận sự hiện hữu của Tinh
Thần, phân biệt nó với vô số hoạt động của nhục thể không? Sự khác biệt giữa cái gì thiêng liêng
và những sự kích thích của dục vọng nó ngự trị loài người là thế nào? Một người theo đuổi thú
vui, danh vọng, uy quyền, thế lực chính trị, y hăng hái muốn đoạt cho được việc đó, chúng bao
vây y tứ phía trong cõi đời đẹp đẽ này. Tùy theo hoài vọng của y, y chạy từ vật này đến vật khác,
nếu thú vui quyến rủ y, y tìm kiếm những nơi nào có nó; nếu y tham vọng được có danh tiếng,
thì y làm việc suốt ngày, cố công gắng sức thêm mãi nắm lấy mối cơ hội để tiến thân; y đi từ chỗ
này đến chỗ khác cùng khắp mọi nơi, y đến chốn nào mà y tưởng chốn đó có cái gì cần thiết cho
mục đích của y, có thể thỏa mãn sự ham muốn của y. Khi mà con người còn bị dục vọng chỉ huy,
khi mà còn bị phong trần lôi cuốn thì y hãy còn sống một cuộc đời phàm tục chớ không phải một
cuộc đời tinh thần; y chưa nhận thức được cái Chơn Ngã thiệt thọ của mình. Nhưng khi mà dù bị
dục vọng tấn công, y vẫn đứng vững, khi y bị những vụ quyến rủ bao vây, y vẫn không lay
chuyển, trơ như đá, vững như trồng, khi sự giàu sang ở kề bên mình mà y không màng đến bởi vì
sự giàu sang làm cho y tổn thương danh dự, khi y có thể đạt được quyền thế mà phải hi sinh
những nguyên tắc đạo đức của mình, khi thú vui quyến rủ y mà xét ra có tổn hại cho kẻ khác, khi
y tự xem xét cõi lòng của y và tự nhủ: “Tôi không muốn phạm tội, tôi không muốn tự mình làm
nhơ danh, tuy rằng dục vọng đang kích thích tôi và sự quyến rủ đang lôi cuốn tôi”. Lúc đó từ nơi
sâu thẳm của Tinh Thần, ý chí con người toàn năng bỗng vươn lên cao và đời sống Tinh thần bắt
đầu điều khiển y, vì ý chí không phát sinh tự nơi xác thịt mà phát sinh tự nơi Tinh Thần. Và khi
mà con người bắt đầu hiểu được sự sống vẫn duy nhất ở tất cả những người thân mến xung

quanh y, khi y hiểu rằng tất cả mọi người đều là những anh em, tình thương yêu bắt đầu liên kết
y với họ, y đem tấm lòng thương yêu đứa con ruột của y ban rải cho tất cả những đứa trẻ mồ côi
nghèo khổ không người che chở ; khi y đem tấm lòng thương yêu người mẹ ruột đáng tôn kính
của y chia sớt cho những người già cả vì y coi những người bô lão như là cha mẹ của y, khi y coi
những đứa trẻ như con ruột của y; khi tình thương yêu hòa hợp với sự biết được “Vạn Vật Nhất
Thể” và đem ban rải cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, nòi giống, giai cấp, môn
phái; thì lúc đó sự Minh Triết biết được Ðấng Duy Nhất bắt đầu cảm hóa con người, và cái tình
yêu riêng tư cạn hẹp, rất tuyệt đẹp theo cách thế của nó bỗng biến đổi ra thành Bác ái Thiêng
liêng ban rải cho vạn vật. Và khi ở giữa những sự náo động cuồng loạn của Hạ trí, con người lẹ
làng nhận ra cái ảnh hưởng cao siêu; khi y nghe tiếng nói của Thượng trí nó bắt đầu điều khiển
và sửa đổi Hạ trí để đạt được mục đích nhất định thì lúc đó sự hoạt động sáng tạo của trí khôn
khởi sự nắm giữ quyền hành không cho cái Trí chăm chú mãi vào sự nhận xét những hiện tượng.
Trong trường hợp này, người ta thấy rõ ràng sự hiện diện của Tinh Thần, và đời sống của Tinh
Thần ẩn dưới nhục thể bắt đầu biểu lộ ra.
Và ngay lúc đó người ta nêu câu hỏi này: Ðời sống Tinh Thần là gì? Ðời sống Tinh Thần không
bao giờ liên quan tới những đặc tính của cái Vía và của cái Trí, mà người Ấn Ðộ gọi là Siddhis,
còn người Tây phương gọi là những phép thần thông. Ðời sống Tinh Thần không phải là thần
nhãn, thần nhĩ, nó không bắt buộc những thể Xác, Vía, Trí, phải làm việc trong ba cảnh hạ giới.
Ðời sống Tinh Thần không phải là sự hiểu biết sâu rộng về những cõi vô hình, mấy cõi này cũng
đầy dẫy những hiện tượng như cõi Trần. Ðời sống Tinh Thần không hề liên quan, liên hệ đến tất
cả những điều đó. Tính chất và nét đặc biệt của nó hoàn toàn khác hẳn. Ðời sống Tinh Thần cũng
gọi là Ðạo Tâm, là Sự hiểu biết về Ðấng Duy Nhất, và bao hàm một đời sống phù hợp với sự
hiểu biết đó.
Có lẽ vài ba người trong chư huynh còn nhớ đến bác sĩ Miller – chư huynh nên kính trọng bác sĩ
vì ông là một tín đồ Cơ Ðốc tính tình cao thượng – ông có viết thơ cho những người học trò cũ
của ông cách đây vài ba năm, lời lẽ thanh bai mà tôi xin chư huynh nhớ lấy ba chữ đầu. Ông nói:
“Ấn Độ Giáo đã hiến dâng cho nhân loại hai món quà rất quí báu: ấy là những lý thuyết về
Thượng Ðế tự tại (Thiên lý tự tại) và nhân loại tương liên”. Một tín đồ chơn chánh của một tôn
giáo tuyên dương một cách tốt đẹp cái giá trị của một tôn giáo khác với tôn giáo mình, như vậy
chứng tỏ ông có tầm mắt rộng rãi, tâm hồn cao thượng, đó luôn luôn là những đặc điểm của
người Cơ Đốc Giáo. Tôi nhấn mạnh vào câu: “Đức Thượng Đế tự tại”. Có thể đối với chư
huynh, câu này dường như khô khan, lạnh lùng và vô duyên; có cần phải phiên dịch lại nó để chư
huynh hiểu được ý nghĩa thiệt của nó không ? Dĩ nhiên câu này có nghĩa là Thượng Ðế ngự trị
khắp nơi và trong mọi vật; nhưng như thế cũng chưa đủ. Câu này còn có nghĩa là khi chư huynh
đi dọc theo bờ biển, ngắm nhìn những lượn sóng của đại dương bủa vào bờ như sấm dậy. Chư
huynh nhận thấy cái quyền năng thiêng liêng, oai nghi của Thượng Ðế biểu hiện trong đó. Chư
huynh băng qua một cánh rừng đẹp đẽ, chư huynh thưởng thức cái cảnh âm u, tịch mịch, bốn bề
vắng lặng, bóng mát rợp che giữa buổi nắng chang đúng ngọ. Ôi ! chừng đó chư huynh mới biết
được cảnh an lạc thiêng liêng; chư huynh mới biết được sự trầm lặng nó biểu lộ Đức Thượng Đế.
Nhờ tất cả những mối cảm giác này mà chư huynh tiếp xúc được với Thượng Ðế và cảm thấy
được sự hiện diện của Ngài. Khi chư huynh ở trên những rặng núi Hi mã lạp sơn cao vút, xa
xăm, nếu chư huynh xem xét sự bền vững kỳ diệu của chúng, những miền tuyết phủ quanh năm
trùng trùng điệp điệp, không đường lối ra vào, trong những rặng núi đó, chư huynh thấy được cái
oai hùng và sự vĩnh cữu của Ðức Thượng Ðế, và ở trong băng tuyết chư huynh thấy được sự
thanh bạch, thuần khiết của Ngài. Rồi khi chư huynh quan sát những từng trời cao vút, nơi đó

các nhà thiên văn chỉ thấy những tinh cầu luân chuyển, khoảng không gian bao la bát ngát kia đã
nói cho chư huynh rõ cái Uy linh trầm mặc của Ngài. Không có cái chi trên đầu ta ở mấy từng
trời cao rộng, không có cái chi ở dưới chơn ta, trong những hang sâu vực thẳm mà lại không
chứng tỏ sự hiện diện của Ngài và không nói rằng: Ngài là Linh hồn của vạn vật. Thế nên chư
huynh ngắm xem phong cảnh, chư huynh thấy Đức Thượng Đế xuyên qua y phục của Ngài. Đó
mới thật là cái nghĩa của câu Ðức Thượng Ðế ngự trị khắp nơi hay là Thiên lý tự tại, bởi vì có
một mình Ngài hiện tồn mà thôi. Nếu chư huynh muốn, chúng ta hãy xem xét ý niệm này cặn kẽ
hơn. Nhiều người bài xích Ða thần giáo, nhưng khi người ta hiểu rõ thuyết này thì thấy nó chỉ là
sự cố gắng của con người vì bị hạn chế trong sự diễn tả tư tưởng nên phải lấy vô số hình ảnh để
cắt nghĩa về Ðức Thượng Ðế giáng trần. Nhờ như vậy ai nấy đều thấy thật là rõ ràng sự biểu lộ
của Ðức Thượng Ðế, còn nhà triết học biện luận về vấn đề này một cách mập mờ, khó hiểu. Thật
sự, nhân loại đáng thương hại này chỉ hiểu được Ðức Thượng Ðế là khi nào Ngài biến hình, hiện
ra trong vô số Thần linh. Nếu chư huynh khôn ngoan chớ không đến đỗi phi lý, chư huynh không
để cho khoa học chỉ nhận xét những vẻ bề ngoài mà lại chỉ trích cái sự hiểu biết sâu xa hơn, nó
dạy cho chư huynh những điều huyền bí về đời sống của con người và của Thượng Ðế. Nếu chư
huynh muốn thì chư huynh cứ học hỏi với khoa học Tây phương, nhưng về phần chư huynh thì
chư huynh hãy dạy cho Tây phương biết về đời sống vô biên và sự hiện diện của Thượng Ðế
khắp mọi nơi. Nếu chư huynh làm như vậy, thì thật ra thuyết Ða thần của chư huynh sẽ là một
điều rất tốt đẹp. Vì khi nhìn thấy người vợ âu yếm cúi xuống với mình, chư huynh sẽ thấy đó là
Lakshmi, ánh sáng và Nữ Thần Nội Trợ chiếu sáng ngời qua cặp mắt của người vợ thân yêu; và
khi người vợ nhìn người chồng, kẻ đảm đương và trụ cột của gia đình, nàng sẽ thấy chàng là
Thượng Ðế Vishnou, Đấng duy trì và bảo tồn Ðời sống của Vũ trụ. Nhìn qua ánh mắt của con cái
mình, chư huynh sẽ thấy ánh mắt của Đức Krishna và trò chơi trẻ nít của Ngài với những nữ mục
đồng Gopis. Và khi người mẹ cúi xuống chiếc nôi với con, chư huynh sẽ nhìn thấy Ðức Thánh
mẫu Durga, Ðức Mẹ thiêng liêng của Vũ trụ chăm nom săn sóc thế giới. Ðúng như vậy, thuyết
Ða thần là sự sống của con người đã được Tinh thần hóa; những hình hài không còn làm cho
chúng ta bị mù quáng nữa, chúng ta quả quyết nhìn thấy sự sống ở trong những hình hài đó. Sự
sống chỉ có một, mà hình hài thì vô số; Sự sống chỉ có một, mà nhãn hiệu thì vô cùng. Trong
Thánh kinh há chẳng có câu này: “Kẻ nào thờ phụng tất cả những hình hài, thì chính kẻ đó không
thờ phụng Ta (Đức Thượng Đế) hay sao ! Dù không thờ phụng theo tục cổ truyền”. Như thế chư
huynh sẽ bắt đầu hiểu rằng Ðời sống Tinh Thần hay là Ðạo Tâm có nghĩa là sự nhận biết được
Thượng Ðế ở khắp mọi và ở trong mọi vật.
Nay tôi xin nói qua với chư huynh sự liên quan giữa Ðời sống Tinh Thần hay là Ðạo Tâm và nền
thương mãi, nơi công sở, ngoài đường phố, và nếu có thể được, tôi xin giải nghĩa cho chư huynh
rõ làm cách nào mỗi người trong chúng ta đều có thể thành một người có tâm đạo nếu chư huynh
quả quyết muốn được như vậy. Chúng ta hãy xem xét vô số hoạt động của đời sống Hồng Trần,
những đường lối khác nhau để giúp đỡ và duy trì thế gian: nền thương mãi nó liên kết những
quốc gia lại với nhau và dự phần vào việc nuôi dưỡng nhân loại luôn luôn sinh sôi nẩy nở; những
thương thuyền vượt qua đại dương chở đầy những hàng hóa từ quốc gia này đến quốc gia khác,
những người lái buôn và những thương gia phân phát hàng hóa đó cho tất cả mọi người, khiến
cho ai ai cũng có được những thứ cần dùng; trật tự được gìn giữ trong xã hội, những sự cố gắng
của những người ngăn cấm không cho kẻ mạnh hiếp kẻ yếu trong những vụ buôn bán; tất cả cái
guồng máy luật pháp vĩ đại – ông quan tòa nơi tòa án, vị luật sư nơi pháp đình, viên cảnh sát ở
ngoài đường, những ai giúp cho guồng máy xã hội chạy đều, bênh vực kẻ yếu khỏi kẻ mạnh lấn
át; đời sống gia đình, căn bản của mọi quốc gia; sự che chở của người cha, tình yêu thương của
người mẹ, sự vui vẻ của đứa con, nhiệm vụ của vị lương y không sợ sự truyền nhiễm và liều thân

làm giảm bớt sự đau khổ, nhà giải phẫu có bàn tay khéo léo và nhờ kinh nghiệm có thể cứu sống
một mạng người trong cơn nguy hiểm; tất cả những ai dạy học và cung hiến cho quốc gia những
kẻ nam nhi hùng tráng và những bực anh thư; tất cả những ai làm việc để giữ gìn nhân loại, họ là
gì ? nếu không phải là những cán bộ của công việc duy nhất của Thượng Ðế, họ là những bàn
tay, những bàn chân, họ là trái tim của Thượng Ðế tác động trong mỗi nghề nghiệp trần gian.
Chư huynh còn nhớ câu chuyện cổ tích về bốn giai cấp và nguồn cội của chúng, những người Bà
la môn tự miệng của Thượng Ðế mà sinh ra, những vị Kshattryas (Sái đế lị), các vị đế vương và
chiến sĩ tự vai Ngài, những người Vaishyas (Tỷ xá) buôn bán tự các ngón tay cái Ngài, còn
những người Sudras (Su tra) tôi tớ tự chân Ngài. Nghe câu chuyện lạ lùng đó, chư huynh phát
tức cười và nói: “Chuyện này chỉ nên mang ra mà kể cho con nít nghe trong buổi hoàng hôn”.
Tuy nhiên có một chơn lý ở trong câu chuyện đó, không những nó chỉ liên quan đến bốn giai cấp
ở Ấn Ðộ, mà còn liên quan đến bốn giai cấp lớn của mỗi quốc gia, dù chư huynh có gọi chúng là
những giai cấp hay không cũng vậy. Vì những người có học thức dạy dỗ dân chúng, những ai
mang kiến thức của mình mà chia xẻ cho người khác, những vị giáo sĩ điều khiển những sự thờ
phụng trong các tôn giáo, những giáo sư ban rải sự hiểu biết, đó phải chăng là lời nói của
Thượng Ðế thốt ra nơi miệng con người hay sao ! đó há chẳng phải là giai cấp Bà la môn, những
nhà thông thái và những vị giáo chủ của nhân loại hay sao ! Còn hạng Kshattryas (Sái đế lị) có
những người tiêu biểu là các vị hoàng đế, các vị vương hầu, các tòa nội các, các nghị viện, các
quan lại, từ bậc cao cấp nhất xuống tới bậc hạ cấp nhất, từ ngôi cửu ngũ tới hạng tiểu quan lại, há
chẳng phải là những cánh tay của quốc gia được ủy nhiệm điều khiển và bảo tồn dân chúng để
cho người thợ lương thiện có thể hành nghề mọn của mình mà không sợ bị húng hiếp và thiên hạ
hưởng cảnh thanh bình của Ðức Thượng Ðế do Đức Vua ban ra hay sao?  Còn hạng Vaishyas
(Tỷ xá), những người thương gia, những người có tài tổ chức các công việc, những ai nắm trong
tay mình bí quyết làm cho mọi người được sung sướng, những người há chẳng phải những vị
Quốc vương hay sao? Nước nhà há chẳng phải nhờ họ để được an toàn, cường thịnh và giữ vững
địa vị mình trên trường quốc tế hay sao? Bây giờ ta hãy nói đến hạng Sudras (Su tra) họ há
chẳng phải là nền tảng của xã hội tổ chức cần thiết cho các cơ quan hay sao? Những người thợ
thuyền, những người khai thác tài nguyên của xứ sở, những người tôi tớ giúp cho đời sống vật
chất của gia đình được dễ dàng, mấy người đó há chẳng phải là những bàn chân của Thượng Ðế,
nhờ họ mà công việc mới hoàn thành sao?
Còn người tu sĩ Sanyasi vượt lên trên bốn giai cấp của xã hội, chẳng phải đó là những người thi
ân cho đời trong một lãnh vực cao rộng hơn hay sao ? Nếu người Sudras (Su tra) phụng sự cho
con người thì người tu sĩ Sanyasi làm tôi cho nhân loại; thế thì đẳng cấp hạ tiện nhất là phản ảnh
của bậc cao quí nhất trong nhân loại. Than ôi ! trong cái tôn giáo cao thượng và cổ kính của chư
huynh còn có biết bao nhiêu điều mà chư huynh chưa hiểu, còn có biết bao nhiêu điều mà chư
huynh cũng chưa từng thấy thoáng qua trong những giấc mộng của mình nữa.
Xin chư huynh để cho tôi nói rõ sự ứng dụng. Thoạt đầu tôi xin nói về một nghề mà dường như
thường bị chỉ trích: tôi muốn nói đến ngành Tư pháp. Hôm trước đây, tôi sung sướng được nghe
một diễn giả bênh vực những vị cầm cân luật pháp đã bị người ta công kích; diễn giả nói ông biết
chắc những vị này chơn chánh – có lẽ chơn chánh còn hơn một số đông đồng loại của họ mà
người ta không tìm cách buộc tội. Nếu một vị luật sư là người có một bản tính tinh thần và không
có một lý do gì mà ông ta lại không phải là một người như vậy – tôi thường diễn thuyết trước
một số đông luật sư thì ông ta sẽ tự coi mình như là hiện thân của sự công bình của Thượng Ðế ở
cõi trần này. Không bao giờ ông lại cãi cho một người để y thắng kiện trong sự bất công; ông sẽ
tự coi mình là có trách nhiệm trong sự công bình thiêng liêng, ông sẽ rất cẩn thận làm cho sự
công bình ấy được thực hiện. Có lẽ chư huynh sẽ hỏi tôi rằng ông không nên bênh vực một kẻ

phạm tội ác hay sao? Nên chứ, ông phải bênh vực y vì kẻ phạm tội ác cũng có quyền được hưởng
sự công bình, vì tình trạng của y cũng như tình trạng của nguyên cáo phải được xem xét kỹ
lưỡng vậy. Một kẻ phạm tội dù có xấu xa độc ác đến đâu, người đại diện cho công lý thiêng liêng
cũng phải nêu cái phần phải của nó ra bởi vì luật thiêng liêng đều trả cho mỗi người cái phần của
y đáng hưởng. Ông coi chừng để không có một sự gì bị xóa đi, bị bớt đi, để không có một sự gì
làm chứng gian dối. Như thế có nghĩa không được làm cho tội trạng nặng thêm lên, như thế có
nghĩa là phải trình bày sự việc một cách rất khéo léo và rất nhiều thiện cảm: không được che giấu
sự thật, sự công bình sẽ không bị sự gian dối làm cho lem ố. Nếu ông hiểu được sự cao thượng
của nhiệm vụ mình, ông sẽ xem thường không thèm dùng đến mưu mô và bất chánh. Sự công
bình ở cõi Trần phải phát sinh tự nơi công lý của Thượng Ðế, nó phải bênh vực kẻ yếu đuối và
kẻ bị ức hiếp, phải sửa chữa những lỗi lầm của kẻ làm thiệt hại đến đồng loại. Tôi xin hỏi chư
huynh, nếu vị luật sư mà hành động như vậy há chẳng phải trọn giới Tư pháp được tiếng khen
thanh liêm, trong sạch hay sao ? và chẳng phải đó là một cơ quan cao quí đại diện cho công lý
thiêng liêng trên mặt đất hay sao? Như thế những người lương thiện sẽ được sung sướng hơn
trước và những người hung dữ, độc ác sẽ bớt ngạo mạn khi ra trước công lý vì đã biết rằng luật
pháp vô tư, không có sự bất chánh nào hay là thế lực nào làm cho lay chuyển được nó. Chư
huynh cũng xem xét công việc của người thương gia. Y là bàn tay của Thượng Ðế, phân phát
khắp thế gian những gì cần thiết cho sự sống của con người. Nếu y quan niệm việc làm của mình
theo cách đó thì cái cửa hàng chật hẹp của y sẽ trở nên thanh khiết và cao thượng biết bao. Sự
buôn lậu, sự lường gạt, sự giả mạo sẽ không còn nữa. Người ta sẽ không còn ngụy tạo những
hàng vải, không còn trộn cát vào đường, không còn bỏ nhánh cây vào trà, không còn gian lận
trong việc bán hàng nữa. Nếu được như thế thì cũng như những điều đã nói về pháp luật ở trên
đời sống tinh thần sẽ mang hạnh phúc tới.
Xin chư huynh cũng nghĩ về gia đình theo quan điểm đó, nghĩ về người chồng và người vợ.
Người chồng tự coi mình như là người chồng thiêng liêng, là Thượng Ðế, và chính Ðức Krishna
đã tự gọi mình là: “Ta là Ðức phu quân” – người chồng sẽ hiểu rằng không phải người vợ sinh
ra chỉ để cho người chồng được sung sướng và vui vẻ, để làm thỏa mãn thú vui xác thịt của y, để
tăng trưởng hạnh phúc của y đâu. Giống như Ðức Vishnou đối với Vũ trụ của Ngài, người chồng
đối với người vợ phải là một người bạn, một người che chở, và nâng đỡ cái gánh nặng đang đè
lên đôi vai yếu đuối của nàng, ban rải cho nàng một tấm tình thương yêu âu yếm mà người chồng
có đặc quyền hiến cho vợ mình. Và người vợ phải nhớ rằng đối với Vishnou nàng là nữ thần
Lakshmi, nàng coi chồng như một người gìn giữ và che chở nàng: tình thương yêu của nàng là
một sự tự ý hiến dâng, như thế mới quí báu, vì đó không phải là một mối tình bị bắt buộc phải
theo quyền một người chồng mà đó là những bông, những trái được hái về để dâng lên cho chàng
giống như những bông hoa dâng lên vị Thần mà nàng thờ phụng. Nếu người cha trong gia đình
thừa nhận cái lý tưởng thiêng liêng đó trong đời sống của mình thì y sẽ là tượng trưng cho cái
chức vị cao thượng nhất của Thượng Ðế, là Ðấng Từ phụ và người Bằng hữu của nhân loại. Ôi,
chư huynh sẽ giúp đỡ các con trai và các con gái của chư huynh được biết bao nhiêu nếu chư
huynh cố gắng làm được một người cha thiêng liêng. Trong sự buồn rầu, trong cơn nguy khốn,
các con của chư huynh sẽ chạy lại với chư huynh chớ không lẫn trốn như chúng thường làm, vì
chúng sợ hãi nhiều hơn là yêu mến. Chúng sẽ biết rằng cha chúng là người bạn thân nhất, là
người chở che âu yếm nhất; chúng biết rằng chúng có thể tâm sự tất cả với cha và chúng sẽ luôn
luôn được tha thứ vì cha chúng cố gắng để tượng trưng cho Ðức Chúa Cha trên Trời. Ai ai cũng
có những tật xấu. Trong những lúc yếu đuối của chư huynh, khi chư huynh lầm lỗi, chư huynh
cầu xin lượng bao dung của Thượng Ðế; vậy đối với con cái chư huynh, chư huynh cũng phải
xót thương chúng và giúp đỡ chúng một cách thích hợp. Như vậy, khi chư huynh già cả, chúng

sẽ tận tâm với chư huynh như đối với Ðức Chúa Cha, chúng sẽ nâng đỡ chư huynh, vì xưa kia
khi chúng còn trẻ dại chư huynh đã che chở và dìu dắt chúng. Còn về các đứa con gái của chư
huynh, chư huynh đừng tưởng rằng chúng không có quyền đòi hỏi chư huynh nếu chư huynh thật
muốn sống như Ðức Chúa Cha. Chúng mới lên bảy, lên tám, lên chín tuổi mà chư huynh đã ràng
buộc chúng trong những sợi dây trói của một cuộc hôn nhân không sao thay đổi được, trong khi
đó chúng không hiểu gì cả, không hiểu rằng sau này chúng sẽ góa chồng sớm và đời chúng bị
đen tối, chúng chỉ còn giữ trong lòng kỷ niệm của một người chồng đã chết mà chưa hề ăn ở với
chúng. Ôi ! xin chư huynh hãy nghĩ đến những kẻ góa bụa hãy còn trinh tiết ấy, và xin nói cho
biết, như vậy những người cha của chúng có làm đầy đủ bổn phận mình, cái bổn phận thiêng
liêng không. Một người cha có quyền để cho một đứa con gái đang cần được sự che chở và giữ
gìn, đương đầu với những nỗi lo âu và những sự nguy hiểm của sự sanh con đẻ cái không ? Chư
huynh là người có những hoài vọng thiêng liêng, chư huynh phải sửa đổi nhiều về quan niệm đó,
để cho con trai và con gái của mình khi lớn lên sẽ thành những công dân của một quốc gia xứng
đáng được tự trị và được tự do [17] vì người chồng còn con nít và người vợ cũng còn con nít thì
không thể là những người công dân xứng đáng của một nước độc lập; suốt đời chúng là những kẻ
yếu đuối vì trưởng thành quá sớm. Chư huynh hãy hiểu rõ đời sống thiêng liêng là gì; đó là bổn
phận, đó là tình thương yêu, đó là phải làm đầy đủ nhiệm vụ của mình trong đời sống gia đình và
trong xã hội, tự coi mình như những người đại diện của các vị thần minh, dự phần vào cái công
nghiệp mà Thượng Đế làm cho vũ trụ của Ngài. Còn phải nhận xét về một quan điểm khác nữa.
Chúng ta đều hoài vọng nhiều hay ít về đời sống thiêng liêng. Chúng ta nói đến sự hợp nhất với
Thượng Ðế; chúng ta nói chúng ta muốn vượt lên cao mãi trên những nấc thang thanh bạch,
thông hiểu và từ ái, và như vậy thì chúng ta rất hữu lý. Nhưng có một điều mà chư huynh không
được quên vì nó không cần thiết cho đời sống tinh thần. Sự sống chỉ là một; dù nó tác động nơi
kẻ tội lỗi hay nơi một vị Thánh nhân, nơi kẻ nghèo hèn hay nơi một người quí phái; sự sống này
có tính cách thiêng liêng, vì nó phát sinh tự Thượng Ðế. Chư huynh muốn được hợp nhất với
Ngài, với các nhà Ðại hiền Rishis, với các Chơn Sư hay các vị Thánh, mà chư huynh có sẵn sàng
hợp nhất với kẻ kiêu sa dâm dật, với kẻ buôn hương bán phấn và với kẻ cường đồ cướp đảng hay
không? Sự sống thiêng liêng cũng có nơi họ vậy. Nét đặc biệt của Ðạo Tâm là gì? Chư huynh
tinh khiết và tại sao lại có sự tinh khiết đó? Ấy là để cho chư huynh có thể sống riêng rẽ và được
hài lòng vì mình cao thượng hơn kẻ khác hay sao? Ôi ! không phải như thế, chư huynh được tinh
khiết là để chư huynh có thể trà trộn với những kẻ nhơ nhớp để tinh khiết họ và dắt dẫn họ đến
gần sự thực hiện đời sống thiêng liêng. Chư huynh có học thức, chư huynh không ưa thích kẻ
ngu dốt, chư huynh lánh xa kẻ vô học, cộc cằn, thô bỉ. Nhưng nếu chư huynh có học thức, ấy là
để cho kẻ ngu dốt, kẻ thấp hèn trụy lạc hưởng nhờ sự hiểu biết của chư huynh, chư huynh được
khôn ngoan để dạy họ, để chia sớt cho họ những ánh sáng của đời sống duy nhất nó chỉ là một, ở
nơi họ cũng như ở nơi chư huynh. Ðó là một bài khó học thuộc lắm. Luôn luôn chúng ta cầu xin
Ðấng Cao Cả cúi xuống để nâng đỡ chúng ta lên cao. Vậy chúng ta có sẵn sàng giơ tay ra nắm kẻ
ở dưới mình để nhấc họ lên đến trình độ của chúng ta hay không? Nếu không có điều đó thì
không có Ðạo Tâm, không có Tôn giáo chơn chánh; thì đó chỉ là lòng ích kỷ ẩn mình dưới cái
lớp mặt nạ của lòng sùng Ðạo và kẻ thấp hèn lại muốn tỏ ra mình là cao thượng. Khi nghĩ đến
đời sống Tinh thần, xin chư huynh nhớ rằng nó bao hàm tất cả, không loại ra ngoài một cái chi
cả. Nó bao trùm mọi sự, không bài trừ cái nào, nó sẵn sàng chia sớt với mọi người những kho
tàng quí báu thiêng liêng của nó, chúng chỉ có giá trị khi được sử dụng để làm cho đời sống
nghèo nàn khổ cực của đồng loại được trở nên giàu có sung sướng và rộng rãi hơn.
Có lẽ một tư tưởng được tượng trưng bằng một hình ảnh, sẽ được chư huynh ghi nhớ kỹ càng
hơn là những lời nói rất chóng bị lãng quên. Trước khi từ biệt chư huynh, tôi xin nói tư tưởng đó

ra. Có lẽ đôi khi chư huynh đứng gần một nhà điêu khắc làm việc giỏi như vài nhà nghệ sĩ đại tài
bây giờ. Trong khối đá hoa, y tạc nên một bức tượng để diễn tả ý niệm của mình cho được rõ
ràng và linh động trước tâm trí loài người. Nếu chư huynh hỏi han nhà nghệ sĩ đó thì y sẽ nói
rằng đối với y đó không phải là khối đá hoa mà y biến đổi thành một pho tượng; chính trong khối
đá hoa này một bức tượng đang ẩn mình, mỗi lần đục đẽo y đánh vỡ một mảnh đá hoa, khiến cho
hình càng lộ thêm ra, nhờ như vậy lần lần được gần pho tượng hơn. Y làm việc hoài, làm việc
mãi, con mắt thiên tài của y nhìn thấy cái hình dáng mà chư huynh và tôi, chúng ta không nhận
ra được, cái đục và cái chàng gọt đẽo đá hoa nhưng nó không tạc được tứ chi tuyệt đẹp của pho
tượng vì pho tượng này có sẵn trong khối đá. Ðối với chư huynh thì cũng giống như vậy. Tinh
Thần thiêng liêng tức là Thượng Ðế vẫn ngự trị trong mỗi người của chư huynh ẩn tàng dưới xác
thịt, bị nhốt trong những thể, bị giấu kín đằng sau những sự cảm xúc và trí khôn, cho nên con
mắt phàm không nhìn nhận được Ngài. Chư huynh không phải sáng tạo ra cái hình ảnh này. Xưa
nay vẫn có nó ở đó. Chư huynh không cần phải xây dựng nó, chư huynh chỉ cần giải phóng nó
mà thôi. Thượng Ðế ngự trị nơi chư huynh, Ngài chờ đợi để tự biểu lộ, chư huynh có cái vinh
hạnh làm tiêu tan tất cả những gì cản trở sự biểu lộ đó. Chư huynh có một cái đục đó là tư tưởng
của mình, còn cái chàng của chư huynh chính là quyền năng của Ý chí. Chư huynh hãy sử dụng
Ý chí và tư tưởng mình, hãy xua đuổi những cảm xúc của xác thân và của tâm trí; tất cả những gì
không phải là Ngài thì phải tiêu tan đi. Rồi thì một pho tượng thiêng liêng tuyệt đẹp sẽ được tạc
trên đời sống hồng trần; vẻ huy hoàng của Thượng Ðế nội tâm sẽ sáng chói, sẽ soi đường và sưởi
ấm mọi người với cái ánh sáng rực rỡ của nó. Thượng Ðế giáng phàm để trở thành người sống
trên mặt đất, và chư huynh sẽ có cái vinh hạnh giải thoát Ngài để Ngài giúp đỡ nhân loại. Vậy thì
trong đời sống hằng ngày, chư huynh hãy là những nhà nghệ sĩ, nhà điêu khắc làm việc trong
xưởng đời. Và khi chư huynh từ giả cõi đời này, chư huynh sẽ biết rằng mình là Tinh thần trường
tồn vĩnh cửu, chư huynh sẽ không còn lầm mình với những thể bị bỏ lại phía sau. Và như thế chư
huynh sẽ đi vào một đời sống rộng rãi hơn, kiếp số của chư huynh sẽ tốt đẹp, tương lai của chư
huynh sẽ rực rỡ vì chư huynh sẽ được tự do, chư huynh sẽ là Chơn thần được giải thoát, chư
huynh sẽ là Thượng Ðế biểu lộ ra; chư huynh đã đạt được mục đích của nhơn sinh.
 

[1] Tiềm thức là sự hoạt động tinh thần ngoài ý thức của mình nó có nghĩa là những hoạt
động mà ý thức của mình không kiểm soát nổi. Tiềm thức hay là bán ý thức cũng một nghĩa.
(Lời dịch giả)
[2] Đức Chúa Trời dựng nên loài người giống như hình Ngài. Sáng Thế Ký 27. (Lời dịch giả.)
3 Cũng gọi là Tinh thần.
[4] Gọi là chất Thượng Thanh Khí. (Lời dịch giả)
[5] Gọi là chất Thanh Khí. (Lời dịch giả)
[6] Máy phát động này tức là cái phách (double éthérique). (Lời dịch giả)
[7] Equilibre instable.
[8] Alchimiste.
[9] Màu này là màu của lòng sùng đạo (bleu dévotionnel). (Lời dịch giả)
[10] La philosophie du Mysticisme par Du Prel.

   Xin đọc cuốn « Những giấc chiêm bao » (Les rêves) của Đức Leadbeater (Lời dịch giả)
[11] La personnalité humaine par Frederick Myers.
[12] Trong xứ Balkans 1912 (ghi chú của dịch giả từ Anh văn ra Pháp văn).
[13] Hạch mũi sưng lên thì hai con mắt mở trao tráo mà không thấy đường (Lời dịch giả).
[14] Griselda là một người đàn bà gương mẫu về đức tính kiên nhẫn và vâng lời chìu lụy
chồng. Bà là vợ của Hầu tước Saluzzio. Hầu tước bắt bà làm những công việc khổ sở, dù
mệt nhọc, bà luôn luôn tuân theo không bao giờ than van hay oán trách. Trong cuốn
Decameron của Boccacio và cuốn Canterbury Tales của nhà văn hào Chaucer cũng có thuật
chuyện này.
[15] Xin chư quí độc giả nhớ “Bây giờ” đây là năm 1912. Thuở đó, văn chương, khoa học, mỹ
thuật chưa tiến bộ như ngày nay. Hiện giờ có những báo chí chuyên khoa và báo chí dự một
phần lớn vào việc mở khai dân trí, cải tiến dân sanh. 50 năm đã qua, nhiều biến cố đã xảy ra
và sửa đổi cuộc diện thế giới, nhưng luật trời vẫn bất di bất dịch. (Lời dịch giả. B.L.)
[16] Thế nên người ta mới nói “chết là về quê về kiểng” (Lời dịch giả)
[17] Xin nhớ Bà A. Besant thuyết bài này năm 1912 tới nay đã nửa thế kỷ rồi, cuộc đời đã biến
thiên rất nhiều. (Lời dich giả)

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS