Container Icon

Tìm hiểu về các hiện tượng Ảo ảnh kỳ bí trong lịch sử



11 giờ sáng ngày 4/3/2021, một người đàn ông Anh tên là David Morris sống tại một ngôi làng ở Cornwall, phía tây nam nước Anh, đã nhìn qua cửa sổ về phía biển và phát hiện thấy một con tàu khổng lồ ở đằng xa. Con tàu chở hàng này không ở trên mặt biển, mà treo lơ lửng trên không. Morris sững sờ: “Đây có phải là ảo giác không?”, một chiếc tàu khổng lồ đang đậu trên không hay chỉ là một ảo ảnh?

Anh Morris đã nhanh chóng chớp thời cơ, ghi lại hình ảnh này bằng điện thoại di động, và đăng tải lên Internet. Bức ảnh này sau đó đã gây bão trên mạng xã hội. Có người đặt câu hỏi: “Đây có phải là con tàu ma huyền thoại không?”. Không chỉ vậy, vài ngày sau, cảnh tượng kỳ lạ này đã được bắt gặp trên khắp nước Anh, tại các hạt Cornwall, Devon và Aberdeenshire.

Con tàu ma?

Theo Daily Mail, ngày 17/3/2021, một người dân Ryan Rushforth đã chụp lại một hình ảnh tương tự ở ngoài khơi bờ biển Bournemouth, hạt Dorset.

Thời điểm đó, con tàu du lịch tên là Anthem of the Seas thuộc công ty Royal Caribbean nặng 168.000 tấn, dài 347 mét, với sức chứa 4.180 người được trông thấy như đang bay lơ lửng ở trên không, phía trên mặt nước, gần Bến tàu Bournemouth.

Ông Rushforth kinh ngạc nói: “Là do tôi nhìn nhầm hay con tàu này đang lơ lửng thật vậy? Quả là vô cùng tuyệt vời khi được chứng kiến tận mắt, thật vô cùng kinh ngạc.”

David Braine, nhà khí tượng học của BBC, lý giải hiện tượng này là do các yếu tố trong khí quyển làm cong ánh sáng. Hiện tượng tàu bay lơ lửng này được gọi là hiện tượng Fata Morgana, xảy ra do sức nóng của mặt trời lên bầu khí quyển trên đất liền hoặc trên biển.

Ông cho biết: “Những ảo ảnh siêu việt xảy ra khi xuất hiện sự nghịch nhiệt, là khi không khí lạnh nằm sát với một lớp không khí ấm hơn ở trên”. Một lớp không khí ấm nằm trên một lớp không khí lạnh, khiến ánh sáng từ con tàu bị bẻ cong khi nó đi qua khe hở của các dòng không khí.

Não bộ nhận định rằng ánh sáng truyền theo đường thẳng, chính vì thế, mặc dù ánh sáng bị uốn cong, bộ não vẫn nghĩ vật thể đang nằm tại vị trí đường đi của ánh sáng chạy thẳng. Tức là, những hiện tượng kể trên chỉ là các ảo ảnh quang học.

Hiện tượng ảo ảnh này thường xuất hiện tại vùng Bắc Cực.

Một minh họa sai lầm về ảo ảnh từ thế kỷ 19: Ảo ảnh thực tế không bao giờ có thể vượt xa đường chân trời và ảo ảnh siêu việt không bao giờ có thể làm tăng chiều dài của một vật thể như hình bên phải.
Một minh họa sai lầm về ảo ảnh từ thế kỷ 19: Ảo ảnh thực tế không bao giờ có thể vượt xa đường chân trời và ảo ảnh siêu việt không bao giờ có thể làm tăng chiều dài của một vật thể như hình bên phải. (Ảnh: Wikipedia)

Cho đến nay, trên thế giới đã ghi nhận rất nhiều hiện tượng ảo ảnh quang học tương tự.

“Biển lửa” kinh hoàng

Ở Liên Xô cũ từng ghi chép câu chuyện của một số nhà vật lý học đi vào khu rừng nguyên sinh để tiến hành khảo sát. Ngày thứ ba kể từ khi tiến sâu vào khu rừng, họ đến một vài ngọn đồi nhỏ.

Mệt mỏi sau chuyến đi dài, họ quyết định sẽ nghỉ ngơi khi leo đến đỉnh đồi. Nhưng khi vừa lên đến nơi, họ không tin vào mắt mình: một mảnh đất bằng phẳng rộng lớn đến tận chân trời từ phía Bắc đã trở thành một biển lửa sôi sục, trong đó còn có những cột lửa bốc lên cao ngút. Điều đáng sợ nhất là, biển lửa này đang tiếp cận họ với tốc độ rất nhanh.

Những nhà khoa học này vô cùng kinh hãi, bỏ chạy thục mạng. Họ cảm giác như vừa bước chân vào cổng địa ngục.

Một cô bé tên là Langova ở Petersburg cũng kể lại việc tương tự. Hôm đó, em đang ở với bà ngoại thì đột nhiên hai bà cháu nhìn thấy một biển lửa hừng hực đang lao tới. Bà ngoại hét lên với Langova: “Chạy đi!”. Cô bé nhanh chóng chạy khỏi hiện trường, nhưng khi quay lại nhìn, cô thấy bức tường lửa đã áp sát và cuối cùng chìm trong biển lửa.

Rồi chuyện gì xảy ra sau đó?

Các nhà vật lý ở khu rừng nguyên sinh đã chạy đến một nơi an toàn hơn, và rồi với tinh thần khám phá, họ đã quyết định quay lại thám cứu một phen.

Vì vậy, họ cử ra ba người để leo lên đỉnh đồi một lần nữa một cách thận trọng. Ở đó giờ chẳng còn biển lửa nào nữa! Giờ đây dưới sườn đồi, mặt hồ nhỏ yên tĩnh phủ một lớp sương bàng bạc mỏng manh, lóe sáng lấp lánh không ngừng, xa xa là một cánh rừng nguyên sinh bất tận.

Kết chuyện của cô bé Langova cũng khá lạ lùng. Trong lúc hoảng sợ tột cùng, cô bé đột nhiên phát hiện ra rằng, dù lửa bủa vây nhưng không thể thiêu cháy mình. Sau câu chuyện này, người ta gọi Langova là “cô bé huyền hỏa”.

Những “ảo ảnh” này không chỉ xuất hiện trong đời sống hiện tại, mà từ thời cổ đại nó cũng thường xuyên được ghi chép lại.

Hiện tượng ảo ảnh từng được người Trung Quốc cổ đại ghi lại

Trong triều đại Tống Triết Tông (1085) có một người tên là Tô Đông Pha. Một lần ông đi qua vùng Đăng Châu (tức Bành Lai, Sơn Đông), nghe nói trong vùng có kỳ quan “Hải thị” (tức ảo ảnh trên biển), ông đã đến miếu Hải Thần để chiêm bái. Đến nơi, ông nhìn thấy người đi bộ, xe và ngựa qua lại quanh khu vực đượcj kể lại. Toàn bộ sự kiện này đã khơi nguồn cảm hứng để ông viết lên bài “Hải thị” vô cùng nổi tiếng. Giai thoại này cũng đã được ghi lại trong cuốn sách bách khoa toàn thư “Dạ hàng thuyền” (Những con tàu đi đêm) của học giả Trương Đại thời nhà Minh.

Fata Morgana: Hiện tượng ảo ảnh nhìn từ bờ biển Queensland.
Fata Morgana: Hiện tượng ảo ảnh nhìn từ bờ biển Queensland. (Ảnh: Wikipedia)

Nhìn thấy ảo ảnh động đã là rất ly kỳ rồi, nhưng bạn đã nghe nói về ảo ảnh có mang âm thanh chưa?

Cuốn “Mộng khê bút đàm” của triều Bắc Tống đã ghi chép lại nhiều hiện tượng thần bí, trong đó có ảo ảnh. Sách ghi rằng Âu Dương Tu, một đại thần triều Bắc Tống trong một lần đi ngang qua huyện Cao Đường, đã nghỉ qua đêm tại một quán trọ. Vào nửa đêm, ông nghe thấy âm thanh kỳ quặc trong không gian yên tĩnh. Đó là tiếng xe ngựa, tiếng người và động vật, mỗi loại thanh âm ông đều có thể nghe rất rõ ràng.

Ngày hôm sau, ông hỏi chuyện những lão nhân ở huyện Cao Đường và được cho biết, nhiều năm trước, những âm thanh tương tự cũng xuất hiện giữa ban ngày, dân làng đều có thể nghe thấy rất rõ.

Như vậy, nếu ảo ảnh chỉ đơn giản là một hiện tượng quang học, thì làm thế nào có thể giải thích về sự tồn tại của ảo ảnh âm thanh?

Ngoài ra còn có một loại ảo ảnh mà không thể giải thích bằng lý thuyết về các hiện tượng quang học.

Ảo ảnh xuyên việt thời gian - không gian

Tháng 6/2015, một ảo ảnh xuất hiện ở Thừa Đức, tỉnh Hà Bắc. Những gì xuất hiện bên trong không phải là những cao lầu đại hạ, đường phố đông đúc xe cộ hiện đại, mà là sự xuất hiện của đình đài lầu các của Trung Quốc cổ đại, trong đó một số cảnh vật thậm chí còn giống với truyền thuyết thần thoại “Nam Thiên Môn”.

Như vậy, nếu ảo ảnh thực sự là do quang tuyến chiết xạ mà tới, thì làm thế nào mà quang tuyến lại chiết xạ được các kiến trúc cổ đại tới hiện đại?

Thật trùng hợp, một cảnh quan ảo ảnh xuyên việt thời-không khác xuất hiện trên biển Aegean ở Hy Lạp vào năm 1954, có 2.400 nhân chứng vào thời điểm đó nói rằng: họ nhìn thấy hình bóng của những chiến binh cổ đại, tựa hồ như là hải tặc Viking và dường như đang giao chiến.

Người Viking sống từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XX. Vậy cảnh tượng của những người Viking này được chiết xạ từ đâu?

Gần đây nhất, một video được chia sẻ trên kênh The Hidden Underbelly 2.0 của YouTube đã ghi lại hình ảnh được cho là cánh cổng thiên đường trên bầu trời ở Trung Quốc.

Theo Daily Star, đoạn video được một một nhóm du khách đi thuyền trên hồ nước ghi lại. Những người này khi đó đã vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy một công trình lớn xuất hiện trên mây. Gần nhất là hình ảnh giống như đôi cánh trong khi các công trình nhấp nhô đằng sau.

Khi con thuyền tiến đến gần, những vật thể trôi nổi trên mây càng hiện rõ hơn. Một số lời bình luận cho rằng đây có thể là vương quốc trên mây, hay còn gọi là thiên đường.

Đoạn video đăng tải với dòng mô tả: “Hình ảnh đám mây kỳ quái trên bầu trời Trung Quốc khiến chúng ta nghĩ về thiên đường”. Người khác nói: “Trông giống như có thiên thần đang gác cổng”.

Đáng chú ý là, hiện tượng này đặc biệt thường chỉ xuất hiện ở Trung Quốc.

Một ảo ảnh thường kéo dài hàng chục phút đến vài giờ, một số trường hợp kéo dài trong vài ngày. Điều này một lần nữa đặt ra một câu hỏi khó cho thuyết khúc xạ khí quyển, bởi không thể giải thích tại sao ảo ảnh có thể kéo dài trong nhiều ngày.

Chúng ta biết rằng thấu kính quang học mới chỉ được sử dụng cách nay vài trăm năm. Để mài một thấu kính mà không làm biến dạng khung cảnh không hề dễ dàng. Do đó, để đạt được các điều kiện có thể khiến khí quyển chiết xạ được cảnh vật là cực kỳ khó khăn, nhất là mật độ khí quyển phải bất biến trong vài ngày càng là điều không thể.

Thuyết vũ trụ bình hành

Các chuyên gia và học giả từ Đại học Birmingham ở Vương quốc Anh đã tiến hành một loạt nghiên cứu và phân tích về ảo ảnh, và đề xuất rằng ảo ảnh có thể là huyễn tượng của vũ trụ bình hành (vũ trụ song hành cùng tồn tại ở không gian khác), do thời gian và không gian đan chéo, tạp loạn gây ra.

Thuyết vũ trụ bình hành đề cập đến sự tồn tại của nhiều thời-không trong vũ trụ. Mỗi thời-không đều là bình hành, và chiểu theo quy luật riêng của nó mà vận hành. Nhìn chung, giữa các thời-không là không có điểm giao hội, chỉ là thời gian có nhanh có chậm, có tiền có hậu, nhưng tại tình huống đặc thù, có thể xuất hiện điểm giao hội thời-không, phát sinh hiện tượng thời-không tạp loạn.

Một nhà khoa học khác của Liên Xô cũng nhận định rằng, vào thời điểm vụ nổ Big Bang xảy ra, nó không chỉ tạo ra một thời không, mà tạo ra hơn ba mươi thời không khác nhau, và các thời không này có những mối liên hệ nhất định. Dưới sự vận động của vật chất, tại các điều kiện đặc định, mà hình ảnh ở các không gian khác được phản ánh tới không gian này của chúng ta. Nói cách khác, ảo ảnh là những hình ảnh không có thật, mà nó thể hiện chân thực của không gian khác.

Như vậy, có vẻ như cặp mắt của chúng ta có vẻ không đáng tin cậy như nhiều người vẫn nghĩ, và chúng ta thậm chí có thể bị thị giác đánh lừa? Vậy, câu nói “Mắt thấy mới tin” xem ra không phải là chân lý như chúng ta vẫn nghĩ.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

12 minh chứng về cuộc sống hiện đại của người Ai Cập cổ đại



Nền văn minh Ai Cập cổ đại là một trong 6 nền văn minh cổ đại nổi tiếng trên thế giới. Các nhà khoa học đã phát hiện thấy rất nhiều thiết bị và dụng cụ của nền văn minh này mà con người hiện đại ngày nay vẫn còn đang sử dụng. Liệu đây có phải là một nền văn minh tiền sử, có trước nền văn minh nhân loại ngày nay?

1. Máy bay trực thăng

Nằm cách 450km về phía nam Cairo ở Ai Cập là thành phố Abydos cổ xưa. Người ta tin rằng nơi đây là một trong những di tích lịch sử quan trọng nhất liên quan đến Ai Cập cổ đại và đây cũng là vị trí của một tập hợp các tác phẩm điêu khắc gây ra nhiều tranh cãi giữa các nhà khảo cổ và sử học.

Trong đền thờ Seti đệ nhất (Seti I), chúng ta có thể tìm thấy bên ngoài sảnh Hypostyle và trên một trong những cột trụ là một loạt các tác phẩm điêu khắc trông giống như máy bay trực thăng và tàu không gian. Hình ảnh máy bay trực thăng rất dễ nhận biết và điều này đã dẫn đến câu hỏi những vật này có thể tồn tại thời cổ đại hay không?

Một số nghiên cứu cho rằng người Ai Cập cổ đại là hậu duệ còn sót lại của nền văn minh Atlantis, một nền văn minh có trình độ khoa học kỹ thuật cao thời tiền sử, đồng thời họ còn có mối liên hệ với người ngoài hành tinh. Nếu đúng như vậy, việc người Ai Cập cổ đại sở hữu các phương tiện bay hiện đại cũng chưa hẳn là không thể xảy ra.

2. Hệ thống đèn điện tại Dendera

Có ba phù điêu đá trong đền Hathor của di tích Dendera nằm trên bờ sông Nile, cách khoảng 300 dặm về phía nam Cairo, Ai Cập. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là những hình ảnh mô tả công nghệ điện hoặc hệ thống chiếu sáng cổ xưa.

Trong tác phẩm điêu khắc, có thể hiện các trụ cột trông khá giống với các trụ điện hiện đại được sử dụng trên lưới điện quốc gia hiện giờ với đường dây vươn lên đỡ các bóng đèn hoặc chùm đèn.

Đã có nhiều nghiên cứu về thử nghiệm và chứng minh rằng các vật thể này có thể chiếu sáng. Vậy người Ai Cập lấy điện từ đâu?

Có nhiều giả thuyết cho rằng Kim Tự Tháp là các trạm phát năng lượng không dây khổng lồ thời cổ đại. Điều thú vị là, công nghệ cổ đại đã thất lạc trong lịch sử này đã được tái phát hiện vào đầu thế kỷ 20 bởi nhà bác học thiên tài Nikola Tesla.

Ông cho rằng vị trí của các Kim Tự tháp có liên quan nhiều đến việc phát năng lượng của chúng. Do đó, Tesla đã chọn các địa điểm cho các thí nghiệm phát điện của mình tương tự như với nơi mà các kim tự tháp đã được xây dựng. Đó là Trạm thí nghiệm Colorado Springs của ông và Tháp Wardencliff của ông ấy gần New York. Những kế hoạch của ông đã được xây dựng đặc biệt để thử nghiệm các khả năng truyền năng lượng không dây.

Mặt khác, vào năm 2006, nhà phát minh người Áo, Thomas Trawöger, đã khám phá ra máy phát điện miễn phí từ các mạch nạp năng lượng ở trọng tâm của mô hình kim tự tháp do ông chế tạo.

Điều này càng khẳng định rằng, người Ai Cập cổ đại đã biết dùng đèn điện để chiếu sáng, với công nghệ thậm chí còn vượt xa chúng ta ngày nay.

3. Kẹo bạc hà

Ít ai biết rằng, Ai Cập chính là nơi đã phát minh ra kẹo bạc hà với tác dụng chính giúp đẩy lui những mùi khó chịu từ miệng con người. Kẹo được làm từ hương trầm, nhựa thơm và quế đun sôi với mật ong rồi sau đó tạo hình viên kẹo.

Cũng giống như thời hiện đại ngày nay, người Ai Cập gặp vấn đề khá nghiêm trọng với sức khỏe răng miệng. Nhưng không phải do thức uống có ga hoặc nước ngọt như hiện nay, nhưng người Ai Cập cổ đại có sử dụng phụ gia bột đá trong công nghệ làm bánh mỳ. Điều này đã làm ảnh hưởng tới men răng của họ.

4. Bàn chải và kem đánh răng

Bàn chải đánh răng thời Ai C ập cổ đại.
Bàn chải đánh răng thời Ai C ập cổ đại. (Ảnh: Wikipedia)

Trong nỗ lực để làm sạch hàm rằng, người Ai Cập cùng với người Babylon đã phát minh ra những chiếc bàn chải đầu tiên được làm từ cành gỗ. Bên cạnh đó, họ cũng tiếp tục chế tạo ra thành công một hợp chất để vệ sinh răng miệng.

Thành phần đầu tiên của kem đánh răng ngày xưa bao gồm móng bò, tro, vỏ trứng bị đốt cháy và đá bọt.

Mới đây, các nhà khoa học cũng đã khám phá thêm những công thức chế tạo kem đánh răng của người Ai Cập cổ đại sau khi bị người La Mã chiếm đóng vào thế kỷ thứ IV.

Công thức chế tạo bao gồm muối mỏ, bạc hà, hoa diên vĩ sấy khô và hạt tiêu. Tất cả được trộn lại và tạo nên một loại bột làm trắng răng hoàn hảo. Tuy vậy chưa rõ chính xác lượng pha chế như thế nào.

5. Bowling

Hình ảnh dụng cụ chơi Bowling thời Ai Cập cổ đại.
Hình ảnh dụng cụ chơi Bowling thời Ai Cập cổ đại. (Ảnh: Tổng hợp)

Trong một khu định cư ở Narmoutheos, nằm cách 90 km về phía Nam thủ đô Cairo (Ai Cập), các nhà khảo cổ đã phát hiện một căn phòng có thiết kế giống như một làn xe và những quả bóng đủ kích thước. Làn xe có chiều dài 3,9 mét, rộng 20 cm, sâu 9,6 cm và có một lỗ vuông ở trung tâm rộng 11,9 cm.

Đây đều là những thứ gợi nhắc về môn thể thao bowling ngày nay. Tuy vậy không giống như bowling hiện đại, trò chơi này hẳn là sẽ chơi theo luật khác. Người chơi sẽ đứng ở hướng đối diện cuối mỗi làn và nhắm lăn quả bóng có những kích thước khác nhau vào lỗ trung tâm của đối phương. Trong quá trình ném, người chơi cần sử dụng bóng của họ để "hạ knock out" bóng của đối thủ.

Thông qua những phát hiện này, các nhà khảo cổ tin rằng, người Ai Cập xưa kia cũng đã có những trò chơi giải trí giống như những môn thể thao ngày nay, trong đó bao gồm cả môn bowling hiện đại ngày nay.

6. Đồ cạo râu và cắt tóc

Người Ai Cập cổ đại coi tóc và râu là những thứ mất vệ sinh, kết hợp với thời tiết oi ả vùng Bắc Phi khiến họ phải cắt tóc và cạo râu thường xuyên. Thậm chí, những linh mục dường như còn cạo sạch toàn bộ lông trên cơ thể ba ngày mỗi lần. Đối với xã hội Ai Cập thời xưa, người “mày râu nhẵn nhụi” được coi là "thời thượng".

Để có thể cạo được tóc và râu, người Ai Cập cổ đại đã phát minh ra dụng cụ cạo đầu tiên. Đó là một miếng đá mài sắc nhọn được gắn vào trong tay cầm bằng gỗ. Họ đồng thời cũng phát minh ra nghề cắt tóc. Thợ cắt tóc sẽ được gọi tới các nhà quý tộc giàu sang để tạo những kiểu dáng tóc theo ý muốn của gia chủ.

Điều thú vị là người Ai Cập còn tạo ra tóc và râu giả. Họ sử dụng lông của loài cừu để chế thành những bộ tóc và râu giả. Ngay cả nữ hoàng và vua cũng sử dụng chúng. Râu giả có nhiều hình dạng khác nhau tương đương với phẩm giá và vị thế của người đeo trong xã hội. Những người bình thường sẽ đeo râu giả có độ dài khoảng 5 cm, trong khi vua sẽ đeo những bộ râu giả vô cùng dài tới mức có thể cắt tỉa thành hình vuông.

7. Trang điểm mắt

Hình ảnh trang điểm mắt thời Ai Cập cổ đại.
Hình ảnh trang điểm mắt thời Ai Cập cổ đại. (Ảnh: Wikipedia)

Có thể coi trang điểm mắt không phải là một phát minh gì quá vĩ đại để xếp hạng cùng với lửa và bánh xe. Tuy nhiên, theo quan niệm nó mang lại cho người Ai Cập sự trường thọ. Kể từ khi thuật trang điểm mắt được sử dụng cách đây 4000 năm TCN (như chúng ta biết), nó chưa bao giờ trở nên lạc hậu.

Ấn tượng hơn, một số nền văn hóa coi trọng óc thẩm mỹ vẫn trang điểm mắt dựa trên kỹ thuật của người Ai Cập cổ đại đã từng ứng dụng. Họ kết hợp muội than với một khoáng chất có tên galena để tạo ra thuốc mỡ đen hay còn gọi là kohl vẫn còn phổ biến cho tới nay. Họ cũng tạo màu mắt xanh lá cây bằng cách kết hợp loại khoáng chất có tên malachite với galena để nhuộm màu thuốc mỡ.

Đối với người Ai Cập cổ đại, trang điểm không chỉ giới hạn ở phụ nữ. Đôi mắt và diện mạo luôn song hành với nhau. Ở các tầng lớp cao hơn trong xã hội, việc trang điểm càng được chăm chút nhiều hơn. Người Ai Cập cổ đại tin rằng, việc phủ một lớp trang điểm lên mắt có thể giúp chữa một số bệnh về mắt, thậm chí giúp họ tránh khỏi sự chú ý của quỷ dữ.

8. Ngôn ngữ viết

Việc sử dụng các bản khắc chữ để nói về những câu chuyện lịch sử chắc chắn không còn là điều mới mẻ mà đã xuất hiện ở nền văn minh Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại.

Hệ thống chữ viết Ai Cập cổ đại ban đầu sử dụng chữ tượng hình. Qua thời gian, người Ai Cập bắt đầu bổ sung thêm các yếu tố khác vào hệ thống văn bản của họ bao gồm ký tự giống như bảng chữ cái Alphabet hiện nay, cho phép họ có thể viết tên và những ý tưởng trừu tượng.

Đó là một hệ thống hỗn hợp các chữ cái, ký hiệu âm tiết và chữ tượng hình. Chúng vẫn còn được tìm thấy khá nhiều trong các lăng tẩm tại Ai Cập. Nó cung cấp những hiểu biết về xã hội Ai Cập cổ đại thời xưa.

9. Giấy cói

Không ai phủ nhận rằng, Trung Quốc là quốc gia đầu tiên phát minh ra giấy viết vào khoảng 140 năm TCN. Tuy nhiên ít ai biết rằng, Ai Cập cũng đã có một loại giấy thay thế từ hàng ngàn năm trước, đó là giấy cói.

Trong quá khứ, cói phát triển rất mạnh mẽ ở lưu vực dọc theo bờ sông Nile và một số nơi khác. Loại thực vật này khá cứng, nhiều xơ và khá lý tưởng để tạo nên những tấm vật liệu có thể viết với độ bền cao. Sau khi giấy cói được tạo hình, chúng thường được nối lại thành những cuộn lớn để ghi chép tất cả những thông tin liên quan đến đời sống xã hội của người Ai Cập cổ đại.

Thời Ai Cập cổ đại quy trình sản xuất giấy cói được bảo vệ khá nghiêm ngặt để giữ bí mật sáng tạo. Tuy nhiên, người Ai Cập vẫn bán loại giấy này đi khắp các khu vực khác nhau trên thế giới.

10. Lịch

Hình ảnh lịch Ai Cập cổ đại.
Hình ảnh lịch Ai Cập cổ đại. (Ảnh: Wikipedia)

Nếu hàng ngày chúng ta tính toán thời gian cho những cuộc hẹn hay công việc nhờ những cuốn lịch, chúng ta cũng nên nhớ tới công của những người Ai Cập cổ đại, những người đã tạo ra khái niệm lịch đầu tiên trên thế giới.

Nhờ có lịch, người Ai Cập cổ đại có thể tính toán và dự báo được những trận lũ lịch sử trên sông Nile. Tác dụng đem lại là rõ rệt và tránh được tối đa những thiệt hại cho nền nông nghiệp xưa kia.

Người Ai Cập chia lịch của họ theo ba mùa chính: mùa ngập lụt, mùa phát triển và mùa thu hoạch. Mỗi mùa có bốn tháng, mỗi tháng được chia thành 30 ngày.

Một năm được người Ai Cập định nghĩa sẽ có 360 ngày. Để tạo nên sự khác biệt, họ còn thêm năm ngày giữa mùa thu hoạch và mùa ngập lụt. Năm ngày này được chỉ định là ngày lễ để tôn vinh những người con của các vị thần.

11. Cái cày trong nông nghiệp

Hình ảnh cái cày nông nghiệp trời Ai Cập cổ đại.
Hình ảnh cái cày nông nghiệp trời Ai Cập cổ đại. (Ảnh: Wikipedia)

Trong khi các nhà sử học chưa hoàn toàn chắc chắn về nơi hình thành nên những chiếc cày đầu tiên, nhưng những bằng chứng gợi ý cho thấy, người Ai Cập cổ đại và người Sumerian là những xã hội đầu tiên sử dụng cày trong nông nghiệp từ những năm 4000 TCN.

Sau đó khoảng năm 2.000 TCN, người Ai Cập cổ đại bắt đầu sử dụng cày kết hợp với loài bò để gia tăng năng suất. Ban đầu, những chiếc cày được nối với sừng bò nhưng ý tưởng này có vẻ bất khả thi khi nó cản trở tới quá trình hô hấp của bò. Dần dần, những chiếc cày được gắn với một hệ thống dây đai hiệu quả hơn và qua đó giúp gia tăng năng suất trồng trọt cho con người.

12. Khóa cửa

Những ổ khóa đầu tiên được tạo ra tại Ai Cập vào thời kỳ khoảng 4.000 năm TCN. Về cơ bản, ổ khóa có một then rỗng ở cửa được kết nối với chốt và chỉ được mở bằng cách sử dụng chìa khóa để xoay chốt và rút ra khỏi then. Loại khóa này đảm bảo an toàn hơn so với loại khóa sau này của người La Mã.

Tuy nhiên một nhược điểm của những ổ khóa do người Ai Cập ngày xưa phát minh là kích thước quá lớn, thậm chí có ổ khóa dài tới 0,6 mét.

Là một trong những nền văn minh có truyền thống lâu đời, Ai Cập cổ đại quả thật còn rất nhiều điều bí ẩn cần khám phá. Qua những phát minh trên, chúng ta cũng cần xem xét đến những nền văn minh tiền sử thực sự đã tồn tại. Văn minh hiện nay cũng chỉ là một nền văn minh trên Trái đất. Phải chăng trên Trái đất đã tồn tại các nền văn minh khác nhau?

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

6 tuyệt tác khổng lồ bằng đá cổ xưa trên thế giới



Trên thế giới hiện nay vẫn còn tồn tại một số công trình đá cổ đại với kích thước đồ sộ, kỹ thuật chế tác tinh xảo và độ chính xác gần như tuyệt đối. Với trình độ khoa học kỹ thuật và máy móc như hiện nay thì con người cũng khó có thể xây dựng nên các công trình như thế. Vậy ai đã xây dựng nên các tuyệt tác khổng lồ bằng đá này?

Sau rất nhiều năm nghiên cứu những tuyệt tác khổng lồ bằng đá này, các nhà khoa học vẫn chưa thể đưa ra được câu trả lời thích đáng về nguồn gốc ra đời và cách thức mà chúng được tạo ra.

1. Khu di chỉ Tiwanaku

Nằm trên độ cao gần 3.900 mét so với mực nước biển, thành phố cổ Tiwanaku và di chỉ cự thạch Puma Punku cách đó chỉ vài trăm mét là hai địa điểm khảo cổ bí ẩn nhất thế giới của Bolivia.

Hai công trình này không chỉ gây sửng sốt cho thế giới về kỹ thuật chế tạo đá hết sức cao, mà còn hé lộ về một nền văn minh tiền sử đã biến mất.

Công trình nổi tiếng nhất của Tiwanaku là quần thể đền Kalasasaya, được bao quanh bởi một bức tường thành bằng đá hình chữ nhật có diện tích khoảng 128,74m x 118,26m và chỉ có một cổng vào. Rải rác trong khu đền là các khối đá hình chữ nhật và các cột đá được trang trí với các đường chạm khắc.

Ấn tượng nhất là bức tường bao quanh Kalasasaya được làm từ các phiến đá sa thạch đỏ, có phiến nặng đến 130 tấn.

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn đau đầu để tìm ra câu trả lời vì sao người xưa có thể vận chuyển các khối đá khổng lồ đến Tiwanaku từ mỏ đá cách đó hơn 10 km.

Quan sát kỹ hơn các công trình của Tiwanaku cho thấy một trình độ kỹ thuật hết sức cao nằm trong quá trình xây dựng các công trình đá ở đây:

Nhiều khối đá chữ nhật được cắt với cạnh góc vuông hoàn hảo. Khi được ráp với nhau, chúng tạo thành các liên kết khít tới nỗi một tờ giấy hay một cây kim cũng không thể len vào giữa.

Cách quần thể đền Kalasasaya chỉ khoảng vài trăm mét, là khu di chỉ cự thạch lớn Puma Punku. Đây là một công trình xây dựng bằng những phiến đá khổng lồ được điêu khắc tinh vi, vuông góc, bề mặt nhẵn mịn như gỗ được bào kỹ lưỡng. Các phiến đá ở Puma Punku có viên nặng hơn 100 tấn. Puma Punku giống như một bãi xếp hình lego khổng lồ.

Các phiến đá chữ H đã được xẻ rãnh và lắp ghép với nhau để có thể khớp vào theo cả ba chiều cực kỳ phức tạp, tạo ra các kiến trúc đủ mạnh có thể chống lại cả động đất.
Các phiến đá chữ H đã được xẻ rãnh và lắp ghép với nhau để có thể khớp vào theo cả ba chiều cực kỳ phức tạp, tạo ra các kiến trúc đủ mạnh có thể chống lại cả động đất. (Ảnh: Janikorpi/Wikipedia)

Nổi tiếng nhất ở Puma Punku là các phiến đá hình chữ H. Các phiến đá chữ H đã được xẻ rãnh và lắp ghép với nhau để có thể khớp vào theo cả ba chiều cực kỳ phức tạp, tạo ra các kiến trúc đủ mạnh có thể chống lại cả động đất.

Các đường rãnh được khắc vào các phiến đá đều thẳng tắp, có độ sâu đồng đều. Ngoài ra có nhiều lỗ khoan được phát hiện trên các phiến đá với đường kính giống nhau tuyệt đối.

Một điểm đặc biệt là toàn bộ các khối đá ở Puma Punku được làm từ 2 loại đá chính: đá granite và đá diorit, độ cứng của chúng chỉ thua kim cương. Điều này làm người ta liên tưởng đến công nghệ chế tác bằng tia laser mà con người hiện đại mới bắt đầu từng sử dụng từ cuối thế kỷ 20.

Các nhà nghiên cứu về xây dựng còn cho rằng, xét về độ phức tạp và đòi hỏi kỹ thuật cao của công trình, các kim tự tháp ở Ai Cập cổ đại quá đơn giản so với di chỉ ở Puma Punku.

2. Đền Jupiter ở Baalbek, Li Băng

Ở thành phố Baalbek miền đông Li Băng có lưu lại một tàn tích có tên gọi là Đền Jupiter được xây dựng từ những viên đá nặng hàng trăm tấn.

Một trong những tuyệt tác khổng lồ bằng đá là đền Jupiter tại Li-băng, được xây dựng từ những viên đá nặng hàng trăm tấn và được chế tác bằng thiết bị với công nghệ cao.
Một trong những tuyệt tác khổng lồ bằng đá là đền Jupiter tại Li-băng, được xây dựng từ những viên đá nặng hàng trăm tấn và được chế tác bằng thiết bị với công nghệ cao. (Ảnh: Vyacheslav Argenberg/Wikipedia)

Tàn tích tại Baalbek hùng vĩ đến tuyệt đối, với một cái sân rộng lớn, công trình được xây cất trên nền đất rộng mà ngày nay vẫn còn ba bức tường khổng lồ ngăn đỡ. Những bức tường ngăn này được hình thành từ 27 khối đá, với kích thước lớn hơn bất kì khối đá nào có thể được tìm thấy trên thế giới. Mỗi một khối đá nặng ít nhất là 300 tấn, và có ba khối đá nặng hơn 800 tấn. Ba khối đá này nổi tiếng với tên gọi “Đại Tam Thạch” (Trilithon). Đại Tam Thạch trong những bức tường ngăn là ba trong bốn tảng đá lớn nhất từng được nhấc lên trong lịch sử.

Gần lối vào phía nam của Baalbek là một mỏ đá, nơi đá được khai thác cho đền thờ. Tại khu vực này có một tảng đá nguyên khối đã được xử lý lớn nhất Trái đất. Nó có tên là “Tảng Đá Thai Phụ” với khối lượng ước tính khoảng 1650 tấn, với kích thước 21.5m x 4.8m x 4.2m. Các nhà nghiên cứu ước tính rằng phải dùng tới 24 cần cẩu hạng nặng mới có thể nhấc nó lên được, nhưng di chuyển là điều không tưởng.

“Tảng Đá Thai Phụ” với khối lượng ước tính khoảng 1650 tấn, với kích thước 21.5m x 4.8m x 4.2m.
“Tảng Đá Thai Phụ” với khối lượng ước tính khoảng 1650 tấn, với kích thước 21.5m x 4.8m x 4.2m. (Ảnh: Ralph Ellis/Wikipedia)

Trong khi đang cố gắng xác minh nguồn gốc đích thực của ngôi đền tại Baalbek này, giới khoa học hàn lâm đã khẳng định rằng vào năm 27 trước công nguyên, Hoàng Đế La Mã Augustus đã cho xây dựng một ngôi đền vĩ đại sang trọng bậc nhất này.

Nhưng điều này được cho là khó hiểu bởi vào thời La Mã, Baalbek chỉ là một thành phố nhỏ nằm trên tuyến đường buôn bán tới Damascus. Nó không có một tầm quan trọng nào về tôn giáo hay văn hóa đối với La Mã. Thật khó hiểu tại sao một đế chế La Mã lại phải vất vả khó nhọc tạo ra một công trình kiến trúc tráng lệ và xa xỉ tại một nơi cách rất xa La Mã như Baalbek.

Hơn nữa theo các tài liệu ghi chép khả năng di chuyển những khối đá lớn tại La Mã thời đó là chỉ hơn 300 tấn là đã gặp một mức độ khó khăn rất lớn. Những tảng đá nặng tới 800 tấn như ba khối “Đại Tam Thạch” hoàn toàn nằm ngoài khả năng của người La Mã.

Vậy Đền Jupiter được xây dựng bằng cách nào?

Nhà nghiên cứu nổi tiếng Graham Hancock đề xuất giả thuyết cho rằng những tảng cự thạch này đã được tạc bởi một nền văn minh lâu đời hơn, có niên đại có lẽ khoảng 12.000 năm trước. Người La Mã chỉ là ghi dấu ấn thêm cho công trình này sau khi bị hấp dẫn bởi sự hùng vĩ của nó.

 3. Đền Hoysaleswara, Ấn Độ

Đền Hoysaleswara nằm ở thị trấn Halebidu, bang Karnataka, miền tây nam Ấn Độ được đánh giá là quần thể kiến trúc đặc trưng, mẫu mực nhất của triều đại Hoysala (1000-1346) còn lại cho đến nay.

Các nhà sử học cho rằng đền Hoysaleswara được xây dựng bởi vua Vishnuvardhana từ thế kỷ 12, dành riêng cho việc thờ phụng các vị thần trong tín ngưỡng đạo Hindu.

Tuy nhiên, những chi tiết đá trong ngôi đền đã làm cho người xem phải băn khoăn, những người thợ đá thủ công ngày xưa đã tạo ra chúng như thế nào?

Quan sát gần hơn các trụ đá, ta thấy có các họa tiết và các vòng tròn rất đều nhau bao xung quanh. Hơn nữa các hoạ tiết giữa các cột trụ khác nhau rất đồng đều về kích thước. Điều này chứng tỏ các cột trụ đá không thể được chế tác bởi công cụ thủ công thô sơ như búa và đục, mà chúng được tạo ra bởi máy móc.

Không chỉ có các cột trụ được tiện tròn, đền Hoysaleswara còn có các cột trụ đá hình đa giác đều hoặc có họa tiết phức tạp được chế tác hết sức tinh xảo và đồng đều.

Các cột trụ được tiện tròn có họa tiết phức tạp được chế tác hết sức tinh xảo và đồng đều bên trong đền Hoysaleswara.
Các cột trụ được tiện tròn có họa tiết phức tạp được chế tác hết sức tinh xảo và đồng đều bên trong đền Hoysaleswara. (Ảnh: Anks.manuja/Wikipedia)

Với các công cụ hiện đại ngày nay, chúng ta có thể tạo ra các họa tiết và thiết kế tinh xảo như vậy bằng các máy chính xác, nhưng ngay cả như vậy, việc gia công các trụ đá cao 3,7m như trên vẫn là một công việc rất khó. Vậy làm cách nào những cột trụ này có thể được tạo ra một cách hoàn hảo như vậy vào thời cổ đại?

Những phát hiện trên đã khẳng định phần nào rằng ngôi đền Hoysaleswara đã được chế tạo bởi các công nghệ hiện đại, không kém, thậm chí còn trội hơn hiện nay.

Tuy nhiên, điều kỳ lạ là nó được tạo ra từ thế kỷ 12. Nếu như vậy thì hẳn khi đó Ấn Độ đã có trình độ phát triển hết sức cao, với những cỗ máy khổng lồ có công suất rất lớn để có thể điêu khắc được các tảng đá nguyên khối thành những kiến trúc tinh xảo. Cũng có nghĩa là khi đó trình độ khoa học của Ấn Độ đã phải rất phát triển.

Nhưng, lịch sử khoa học và công nghệ của Ấn Độ hoàn toàn không nói đến những điều này ở thế kỷ 12. Và nếu thực sự Ấn Độ đã có kỹ thuật phát triển ở mức độ như vậy vào 900 năm trước thì có lẽ họ đã không là thuộc địa của Anh vào thế kỷ 18 và hiện nay họ cũng sẽ không ở trong danh sách những nước đang phát triển trên thế giới. Vì thế việc xây dựng đền Hoysaleswara vẫn là điều bí ẩn.

4. Nhà thờ đá nguyên khối bí ẩn ở Ethiopia

Có hàng nghìn nhà thờ đá được xây dựng ở Ethiopia, quốc gia Cơ đốc giáo cổ nhất trên thế giới. Tuy nhiên, ở đây có những nhà thờ có kiến trúc đặc biệt, đó là các nhà thờ được tạc từ đá nguyên khối.

Một trong những nhà thờ nguyên khối, tuyệt tác khổng lồ bằng đá, tại thị trấn Lalibela, bang Amhara, Ethiopia.
Một trong những nhà thờ nguyên khối, tuyệt tác khổng lồ bằng đá, tại thị trấn Lalibela, bang Amhara, Ethiopia. (Ảnh: Bernard Gagnon/Wikipedia)

Thị trấn Lalibela thuộc tỉnh North Wollo, bang Amhara, nằm ở độ cao 2.500 mét so với mực nước biển, phía bắc của Ethiopia.

Chỉ có vỏn vẹn 1,5 vạn người, nhưng Lalibela là một trong những thành phố linh thiêng nhất của Ethiopia. Nó là cố đô của vương triều Zagwe và là một trung tâm hành hương của những người Kitô giáo tại Ethiopia.

Lý do khiến Lalibela trở thành địa điểm linh thiêng của đất nước sùng đạo Thiên Chúa này là 11 nhà thờ được tạo từ đá nguyên khối nằm dưới lòng đất. Những công trình cự thạch này được chia thành 3 nhóm và được nối với nhau bởi các thông đạo được khoét trong lòng đá giống những mê cung.

Ở nhóm công trình phía Bắc, nhà thờ Bet Medhane Alem (nhà thờ Đấng Cứu Thế) được xem là nhà thờ đá nguyên khối rộng nhất trên thế giới. Công trình này dài 33,5m, rộng 23,5m và cao 11,5m. Có bộ diềm mái chạm khắc được đỡ bởi 34 chiếc cột vuông.

Nhóm phía Tây của có nhà thờ Bet Giyorgis (nhà thờ Thánh George), được bảo tồn nguyên vẹn nhất. Nhà thờ Bet Giyorgis nằm trong một hào đá được khoét sâu dưới mặt đất với kích thước rộng 25×25 mét và sâu 30m. Đây cũng là công trình đẹp nhất và nổi tiếng nhất với mặt chiếu bằng có hình dáng chữ thập với nhiều chi tiết điêu khắc tinh xảo.

Nhóm cực Đông bao gồm 4 nhà thờ dành riêng cho hoàng gia.

Tương truyền rằng để có thể xây dựng được 11 nhà thờ trong thời gian 24 năm, nhà vua Gebre Mesqel Lalibela đã sử dụng 40.000 thợ điêu khắc đá lành nghề. Tuy nhiên với tiềm lực kinh tế và con người của Ethiopia lúc bấy giờ việc làm thế nào để nuôi sống và cung cấp điều kiện làm việc cho 40.000 người trong 24 năm là một câu hỏi lớn.

Ngoài ra, có thể thấy kiến trúc, trình độ điêu khắc của một số nhà thờ đá nguyên khối ở Lalibela rất hiện đại, bề thế, tinh mỹ, vượt trên hẳn trình độ xây dựng của Ethiopia gần 1.000 năm trước. Vậy bằng cách nào người Ethiopia 900 năm trước có thể hình dung và xây dựng những công trình có trình độ vượt trên nhận thức của họ lúc bấy giờ?

Một số giả thuyết cho rằng có khả năng người tiền sử với trình độ công nghệ tiên tiến đã xây dựng các nhà thờ đá này và sau khi được người Ethiopia phát hiện họ đã cải tạo và sử dụng nó cho mục đích tín ngưỡng của Cơ đốc giáo. Tuy vậy, những giả thuyết này chỉ khiến cho nguồn gốc của 11 nhà thờ đá nguyên khối này khoác lên nó vẻ huyền bí.

5. Angkor Wat

Rất nhiều người Việt đã từng sửng sốt trước sự vĩ đại của Angkor Wat khi tham quan ngôi đền này ở Campuchia. Nhưng chúng ta sẽ còn sửng sốt hơn nhiều nếu biết về nguồn gốc bí hiểm của công trình này.

Angkor Wat - cụm các công trình tôn giáo cực lớn với vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú của nghệ thuật điêu khắc - một trong những tuyệt tác khổng lồ bằng đá của văn minh tiền sử.
Angkor Wat - cụm các công trình tôn giáo cực lớn với vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú của nghệ thuật điêu khắc - một trong những tuyệt tác khổng lồ bằng đá của văn minh tiền sử. (Ảnh: Wikipedia)

Angkor Wat là một cụm các công trình tôn giáo cực lớn với diện tích lên đến 162,6 hecta. Ngôi đền được ngưỡng mộ bởi vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú của nghệ thuật điêu khắc và số lượng lớn các vị thần được trang hoàng trên những bức tường đá.

Tháp trung tâm của Angkor Wat cao 65m, cao hơn bất cứ một tháp chuông nhà thờ nào ở châu Âu được xây dựng trước thế kỷ 15. Bên dưới các tòa tháp lớn là các đường hành lang dài hun hút, mát lạnh với các khối phù điêu sống động.

Theo các nhà sử học hiện nay, vua Khmer Suryavarman II trị vì Đế quốc Khmer từ năm 1113 đến 1145 được coi là người đã xây dựng đền Angkor Wat trong suốt những năm ông tại vị.

Tuy nhiên điều này đặt ra nghi vấn lớn, bởi thời trị vì của Suryavarman II là khoảng thời gian Đế quốc Khmer đã trên con đường lụi tàn, thậm chí ông còn được cho là thua trận và chết trong trận chiến khi cố gắng xâm chiếm Đại Việt nước ta vào năm 1245. Và năm 1250, Vương quốc Champa cũng đã chiếm đóng Khmer trong một thời gian ngắn. Vậy rất khó để Suryavarman II có thể xây dựng Angkor Wat như các nhà sử học vẫn nhìn nhận.

Một so sánh khác, để xây dựng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh có diện tích chưa đến một nửa so với Angkor Wat, người Trung Quốc vào thế kỷ 15 khi đó đã sử dụng đến 1 triệu công nhân, trong đó có hơn 100 ngàn thợ thủ công xây dựng liên tục trong 14 năm. Nên rất khó có thể hình dung rằng trong thế kỷ 12, người Khmer lại có tiềm lực ngang bằng hoặc hơn so với Trung Quốc ở thế kỷ 15, để có thể xây dựng được đền Angkor Wat vĩ đại.

Như vậy, có cơ sở để khẳng định rằng đền Angkor Wat không hẳn được xây dựng bởi người Khmer những năm 1100 như người ta vẫn nhìn nhận. Vậy ai là chủ nhân thực sự của Angkor Wat?

6. Kim tự tháp Giza

Trong số các kim tự tháp ở Ai Cập, kim tự tháp Giza chính là công trình kỳ vĩ nhất với chiều cao lên tới 146 m, chiều dài đáy là 227,7 m. Để xây dựng được công trình này, người ta phải sử dụng tới hơn 2,5 triệu m2 đá, với diện tích đáy lên tới 52.198,16 m2.

Kim tự tháp Giza là một trong những tuyệt tác khổng lồ bằng đá của người cổ đại.
Kim tự tháp Giza là một trong những tuyệt tác khổng lồ bằng đá của người cổ đại. (Ảnh: Nina/Wikipedia)

Điều gây ngạc nhiên là dù công trình đồ sộ như vậy, độ chênh lệch giữa các góc chỉ dao động trong vòng 8-15cm, một sự chính xác gần như tuyệt đối.

Theo cách hiểu thông thường, người Ai Cập cổ đại đã xây dựng kim tự tháp Giza vào khoảng 2.500 trước Công nguyên, nhưng luận điểm này bộc lộ một vài sơ hở.

Điểm đầu tiên cần phải được nhắc đến là kim tự tháp Giza được xây dựng từ các khối đá thiên nhiên nguyên khối, hoàn toàn không sử dụng các vật liệu liên kết như cách chúng ta dùng xi măng trong công nghệ xây dựng hiện đại. Các khối đá có cân nặng đôi khi đến vài chục tấn được đẽo gọt và ghép lại với nhau theo một cách không thể hoàn hảo hơn, điều này đảm bảo độ vững chắc, hoàn hảo và trường tồn với thời gian.

Các khối đá này được liên kết với nhau hoàn toàn dựa trên trọng lượng của chúng. Phải biết rằng, loại đá này không phải luôn được lấy ngay ở gần kim tự tháp mà một số trường hợp, phải được vận chuyển từ những địa điểm cách xa nơi xây dựng hàng trăm thậm chí hàng ngàn km.

Với những thông số như vậy, việc xây dựng một kim tự tháp tầm cỡ như Kim Tự Tháp Giza cũng là vô cùng khó khăn với trình độ khoa học công nghệ của con người hiện đại, với người Ai Cập cổ đại chủ yếu dùng sức người thì lại càng bất khả thi.

Ngày nay, trong giới khoa học còn nhiều tranh cãi về cách thức xây dựng Kim Tự Tháp. Có một lý giải khá hợp lý là Kim Tự Tháp được xây bởi một nền văn minh tiền sử có trình độ khoa học kỹ thuật cao.

Sử gia Gerry Cannon, người có nhiều năm nghiên cứu về Kim Tự Tháp Giza thì khẳng định rằng:

“Tôi đã thực hiện một số nghiên cứu và phát hiện sự liên hệ giữa các kim tự tháp đến một lục địa bị nhấn chìm. Nó có thể là Atlantis, khi Atlantis chìm họ đã di tản khắp nơi, có lẽ một nhóm đã tới Ai Cập và tất nhiên họ hoàn toàn đủ trình độ và khả năng công nghệ để xây lên các kim tự tháp như chúng ta đã thấy. Không ai khác có thể làm được điều này, nó đòi hỏi công nghệ rất cao. ”

Các nghiên cứu và phát hiện đã cho thấy những phần vĩ đại, đẹp đẽ, chắc chắn nhất của những công trình đá cổ đại được kể trên rất có thể đã được xây dựng bởi những nền văn minh tiền sử, trước nền văn minh 5.000 năm lần này.

Và những người cổ đại của văn minh lần này đã sử dụng, bổ sung hoặc xây dựng những công trình sao chép ngay bên cạnh với trình độ kỹ thuật, giá trị thẩm mỹ và độ bền kém hơn. Điều này khiến cho con người ngày nay không dễ để phân biệt được ai là chủ nhân thật sự đã xây dựng nên những công trình đá vĩ đại đó.

Những tuyệt tác khổng lồ bằng đá cổ đại này vẫn tồn tại sừng sững với thời gian và thách thức trí hiểu biết của nhân loại chúng ta.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS