Container Icon

Bí ẩn về “ngọn lửa vĩnh cửu” không bao giờ tắt ngay cả dưới thác nước

 


“Ngọn lửa vĩnh cửu” đã được người dân bản địa tôn thờ hàng trăm năm và được coi là hiện thân của Thần thánh, sự vĩnh hằng. Có một tin đồn tâm linh rằng ngọn lửa này sẽ chỉ bị dập tắt khi trái đất trải qua một cuộc đại diệt chủng. Vì vậy, lửa còn cháy bao lâu thì những điều tốt đẹp vẫn còn.

Công viên Chestnut Ridge ở Buffalo, New York, Mỹ từ lâu đã nổi tiếng và thu hút lượng lớn du khách bởi nơi đây có thác nước Eternal Flame (có nghĩa là ngọn lửa vĩnh cửu). Ngọn lửa vĩnh cửu là một thác nước rất nhỏ, không có vẻ đẹp gì đặc biệt, nhưng trong khe hở nhỏ bên dưới nó lại có một ngọn lửa “bất tử”.

Kể từ khi được người dân bản địa phát hiện ra cách đây hàng trăm năm, ngọn lửa nhỏ này chưa bao giờ bị dập tắt trong suốt 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Dù dòng nước chảy quanh co, dù không khí có ẩm ướt đến đâu, ngọn lửa muôn đời cũng không thể dập tắt. Và ngay cả khi mọi người cố gắng tìm cách dập lửa, nó vẫn sẽ bùng phát trở lại ngay lập tức.

Ngọn lửa được cho là đã được thắp sáng hàng ngàn năm trước bởi thổ dân châu Mỹ.
Ngọn lửa được cho là đã được thắp sáng hàng ngàn năm trước bởi thổ dân châu Mỹ. (Ảnh: Wikipedia)

Ngọn lửa bất diệt cháy mãi bất chấp mọi quy luật của tự nhiên

Những người dân bản địa ở đây đã tôn thờ “Ngọn lửa vĩnh cửu” trong hàng trăm năm và được coi là hiện thân của Thần thánh, sự vĩnh hằng. Ở đây còn lưu truyền một truyền thuyết tâm linh rằng ngọn lửa này sẽ chỉ bị dập tắt khi trái đất trải qua một cuộc đại diệt chủng. Vì vậy, lửa còn cháy bao lâu thì những điều tốt đẹp vẫn còn. Đến thời hiện đại, các nhà khoa học trên khắp thế giới đã cố gắng lý giải hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ này.

Cho đến năm 2013, một nghiên cứu lớn từ nhóm nghiên cứu của Đại học Indiana (Mỹ) do giáo sư Arndt Schimmelmann đứng đầu đã giải thích rất nhiều điều về ngọn lửa nổi tiếng, mặc dù nó vẫn chưa thể được tiết lộ hoàn toàn chính xác 100% phép thuật của nó.

Ngọn lửa nhỏ đã trở thành một biểu tượng tâm linh và thu hút khách du lịch

Trên thực tế, hiện tượng ngọn lửa bất tử cháy mãi với thời gian còn tồn tại ở một số nơi khác trên thế giới. Những đám cháy này nằm trên những tảng đá sét cổ, nhiệt độ cực cao và nguồn khí tự nhiên tích tụ trong lòng đất. Vì vậy, chúng giống như những ngọn đuốc và mãi mãi được tiếp sức bằng khí ẩn dưới lớp đá.

Tuy nhiên, "ngọn lửa vĩnh cửu" ở New York không đáp ứng các điều kiện như vậy và nó khác so với những ngọn lửa ở nơi khác. Cả hai yếu tố này có nghĩa là đá phiến sét bên dưới ngọn lửa New York không thể tạo ra khí giống như các ngọn lửa khác trên thế giới.

Và các nhà nghiên cứu thừa nhận rằng họ không chắc chắn chính xác khí đốt New York đang được sản xuất như thế nào.

Các phép đo cho thấy những tảng đá dưới ngọn lửa ở đây không đủ nóng để gây ra phản ứng này. Chúng chỉ có nhiệt độ tương đương với một tách trà nóng. Hơn nữa, cấu trúc của phiến đá không giống với cấu tạo của phiến đất sét.

Ngọn lửa đặc biệt có thể mang lại lợi ích to lớn cho ngành địa chất và khai thác tài nguyên

Tuy nhiên, các nhà khoa học khẳng định bên dưới ngọn lửa vẫn là nguồn khí đốt tự nhiên nhưng với những tính chất đặc biệt khác hẳn thông thường. Các nghiên cứu sau đó cho thấy khí rò rỉ xung quanh khu vực thác chứa tỷ lệ etan và propan đặc biệt cao. Nhiều khả năng tại vùng đất này tồn tại một mỏ khí khổng lồ ẩn sâu khoảng 400 mét dưới lòng đất. Các nhà địa chất vẫn đang tích cực thăm dò và nghiên cứu nguồn khí khổng lồ này. Nhiều người cho rằng nếu giải mã được bí mật về “ngọn lửa vĩnh cửu”, con người sẽ tìm ra cách khai thác khí tự nhiên dưới lòng đá hiệu quả hơn.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Những người có khả năng bay lơ lửng trên không trung: Siêu năng lực hay chỉ là tưởng tượng?

 


Dù khoa học ngày nay chưa tìm ra một lời giải hợp lý cho khinh công nhưng một điều rõ ràng rằng khả năng con người bay lên không trung là có tồn tại. Nó không phải là điều đơn giản chỉ nhờ vào kỹ thuật và kiến thức của khoa học hiện đại mà có thể giải thích rõ ràng được.

Con người từ thời xa xưa vẫn không ngừng tìm tòi những thiết bị có thể bay lượn trong không gian. Liệu có khi nào tin rằng con người thực sự có khả năng bay lơ lửng trong không gian ở khoảng cách 1m mà không cần bất cứ sự trợ giúp nào hay không?

Mặc dù khoa học kỹ thuật đã phát triển và có những thành tựu vượt bậc, tuy nhiên, vẫn tồn tại những khả năng mà cho tới nay con người vẫn chưa giải thích được. Những bài tập yoga bay, đi bộ trên mặt nước, thuật khinh công … vẫn là những bí ẩn chưa thể giải đáp.

Những người tập yoga có khả năng bay lên khỏi mặt đất.
Những người tập yoga có khả năng bay lên khỏi mặt đất. (Ảnh minh họa: Pixabay)

Một số người tập luyện yoga lâu năm được cho là có khả năng bay lơ lửng trong không trung từ 50 cm – 1m. Đây được gọi là các Guru. Khoa học hiện đại gần như bất lực và không thể giải thích hiện tượng này.

Những người có khả năng bay trong lịch sử

Theo các ghi chép lưu lại thì khả năng tự bay trong không khí đã tồn tại rất lâu ở Ấn Độ và Tây Tạng.

Điều này hiện diện xung quanh chúng ta là có thật khiến nhiều người cứ ngỡ rằng việc bay trên mặt đất chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng hay sức mạnh của thế lực siêu nhiên nào đó ngoài tầm hiểu biết của con người.

Ông là một trong những nhà yoga hàng đầu Ấn độ đã công bố bức ảnh ông bay lơ lửng trên mặt đất vào cuối thế kỷ 19. Subbayah Pullivar nổi tiếng với màn biểu diễn bay trên không.
Ông là một trong những nhà yoga hàng đầu Ấn độ đã công bố bức ảnh ông bay lơ lửng trên mặt đất vào cuối thế kỷ 19. Subbayah Pullivar nổi tiếng với màn biểu diễn bay trên không. (Ảnh: Paperblog)

Subbayah Pullivar đã tập yoga hơn 20 năm ở trong một căn lều và có thể dùng một thanh gậy chống xuống đất và nhấc toàn cơ thể bay lơ lửng trên không. Ông có thể nhắm nghiền mắt và giữ liên tục như vậy trong 4 phút liền.

Ông là một trong những nhà yoga hàng đầu Ấn độ đã công bố bức ảnh ông bay lơ lửng trên mặt đất vào cuối thế kỷ XIX. Subbayah Pullivar nổi tiếng với màn biểu diễn bay trên không. 

Sau khi tiếp đất, chân tay của ông cứng đờ và phải xoa bóp, ngâm trong nước lạnh liên tục mới trở về trạng thái ban đầu. 

Một số các giáo sĩ Bà la môn ở Ấn Độ hay các ninja Nhật Bản cũng được cho là có khả năng này chứ không những chỉ có những người tập yoga lâu năm.

Cậu bé người Anh tên Henry Jones là một trường hợp khá đặc biệt. Năm Jones 12 tuổi, bỗng nhiên cậu có khả năng bay lên trần nhà. Tuy nhiên hiện tượng này chỉ kéo dài khoảng 1 năm và sau đó biến mất hoàn toàn. Mặc dù không hề luyện tập yoga hay một loại võ công nào nhưng cậu vẫn có khả năng bay lơ lửng.

Giáo sĩ đạo Tin Lành phương Tây là Joseph Capertino, người có khả năng bay lên không trung được nhắc nhiều nhất trong sách báo. Giới khoa học đã quan sát Josef khinh thân 100 lần và ghi chép những nhận xét trong tài liệu chính thức. Tuy nhiên, cũng chính tài khinh thân đã đẩy cuộc đời ông vào chốn long đong, tuyệt vọng do một số kẻ cho rằng ông là phù thủy.

Tranh vẽ Josef trong trạng thái lơ lửng trong không khí. (Ảnh: Techrum)
Tranh vẽ Josef trong trạng thái lơ lửng trong không khí. (Ảnh: Techrum)

Ông sinh ra trong một gia đình mộ đạo ở miền Nam Italia. Để luyện đến trạng thái xuất thần theo phương pháp yoga, ngay từ bé, Josef đã phải chịu đựng mọi gian khổ. Giáo sĩ đạo Tin Lành này có thể lơ lửng trong không khí khoảng 2 tiếng đồng hồ. Tranh vẽ Josef trong trạng thái lơ lửng trong không khí . 

Người có thể khinh thân nổi tiếng nhất thế kỷ XIX là Daniel Douglas Hewm. 

Trong trạng thái nhập thiền, ông có khả năng nhấc mình trôi bồng bềnh lên tận trần nhà. Hewm đã biểu diễn năng lực đặc biệt này trước hàng nghìn khán giả, họ thừa nhận rằng không phát hiện ra bất cứ sự lừa đảo nào ở đây. Trong đó có cả những người nổi tiếng như Thackeray, Mark Twain, Napoléon III, cùng những nhà chính trị, bác sĩ, khoa học gia.

Tranh vẽ Daniel Douglas Hewm biểu diễn khả năng bay lượn.
Tranh vẽ Daniel Douglas Hewm biểu diễn khả năng bay lượn. (Ảnh: skepticblog.org)

Đó là những bằng chững ít ỏi về khả năng bay lơ lửng trong không trung của con người. 

Giải mã bí ẩn đằng sau khả năng biết bay của con người

Có rất nhiều tranh cãi xoay quanh khả năng biết bay của con người. Một số các nhà khoa học cho rằng đây chỉ là màn ảo thuật đánh lừa thị giác con người và hoàn toàn đi ngược lại định luật vạn vật hấp dẫn. Một số nghiên cứu cho rằng khinh công thực ra là sản phẩm của trường sinh học.

Trong kho tàng võ thuật Trung Hoa, cũng có nhắc đến việc con người có khả năng bay lượn (hay còn gọi là khinh công) thông qua tập luyện. Công việc này gồm 2 phần:

Một phần luyện ngoại công gồm các phương pháp tập luyện nhằm mục đích làm cho cơ thể linh hoạt, nhẹ nhàng, bước đi nhanh nhẹn. Cách thường thấy là bọc mo sắt vào chân, rồi tập nhảy trên những cây cọc. Khi tháo bọc sắt, đi lại thấy nhẹ nhàng như gió.

Phần khác gồm các phương pháp tọa thiền luyện tĩnh công nhằm khơi gợi tiềm năng trong cơ thể và giảm nhẹ sức hút của Trái đất. Việc này nghe có vẻ khó tin nhưng trên thực tế rất khoa học và không có gì quá khó hiểu.

Khi kết hợp nhuần nhuyễn hai phần đó, người tập luyện sẽ rất nhanh chóng đạt được khả năng khinh thân. 

Luyện khinh công mà không tu luyện nội tâm sẽ rất khó đạt cảnh giới cao.
Luyện khinh công mà không tu luyện nội tâm sẽ rất khó đạt cảnh giới cao. (Ảnh: Pixabay)

Vật lý học hiện đại cho rằng nếu xảy ra vụ nổ Bigbang như nhiều giả thuyết công nhận thì sẽ không chỉ nổ ra một chiều không thời gian

Nghiên cứu của một nhà vật lý Xô Viết chỉ ra rằng, có ít nhất 24 chiều không thời gian với kích cỡ khác nhau đồng thời tồn tại.

Theo thuyết tương đối của Einstein, mọi vật chất nếu không thuộc về một chiều không thời gian thì nó sẽ không chịu sự ước chế của trường không-thời gian đó. Vật chất trong thân thể họ về cơ bản đã không còn thuộc về thời không này. Đây chính là lý do những người luyện khí công thường trẻ lâu hơn hay thân thể của rất nhiều vị cao tăng đã không bị mục nát sau khi viên tịch hàng trăm năm. Nó không chịu ước chế của thời – không hiện tại chúng ta đang sinh sống, trong đó có cả lực hút hay sức hút của Trái Đất. Người luyện khinh công hay luyện tĩnh công giúp họ chuyển hóa vật chất trong cơ thể họ sang một dạng mới có năng lượng cao hơn rất nhiều.

Vật chất thuộc về thời không khác không chịu ước chế của các quy luật trong thời không hiện hữu.
Vật chất thuộc về thời không khác không chịu ước chế của các quy luật trong thời không hiện hữu. (Ảnh minh họa: Pixabay)

Nếu chỉ luyện ngoại công, thông thường chỉ có thể giúp nhảy bật cao, băng rào, vượt tường, nhào lộn…

Để luyện tập được khinh công thượng thừa thực sự phải trải qua một phen gian khổ, nó khó hơn các công phu khác rất nhiều. Vì vậy, người học đã ít, người đạt đến công phu tuyệt kỹ lại càng hiếm hoi.

Những người biết khinh hành, họ có thể ngày đi vài trăm dặm, trên những nơi địa hình núi non hiểm trở, thậm chí còn có thể chạy trên mặt nước.

Người công phu cao hơn có thể đạt được khả năng khinh hành như đi bộ cực nhanh hoặc chạy trên mặt nước. 

Còn những ai thật sự có thể đạt được cảnh giới cao thâm sẽ có thân thể linh thông như chim én, nhẹ nhàng lướt đi như gió. 

Ngoài ra, giới tu luyện thường có một quy định rằng không cho phép thể hiện năng lực siêu thường trong xã hội nhân loại hiện nay, đa số họ thường mai danh ẩn tích, ở những nơi thâm sơn cùng cốc, không cho con người biết đến. Bởi vì họ không được phá hoại trạng thái hiện nay của con người, nếu không những năng lực hoặc thần thông ấy nhanh biến mất.

Nếu được biểu diễn thì họ chỉ làm dưới mác ảo thuật hoặc thể hiện ở trong núi sâu rừng già, nơi không có người biết. 

Mặc dù vậy, rất nhiều tài liệu hay thậm chí một số chương trình thực tế giúp chúng ta thấy rằng khinh công là thật sự tồn tại.

Câu chuyện về Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi tới Trung Quốc là chỉ bằng 1 cọng lau vượt sông Trường Giang rộng lớn vẫn được lưu truyền trong Phật giáo.

Người Dao tại Việt Nam ở bản Thành Công, xã Lãng Công (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) còn lưu giữ nhiều phong tục nguyên sơ, trong đó có tục làm lễ “xưng tội”và cũng hay kể chuyện về ông thầy mo có khả năng bay lơ lửng trên không. Nếu có lời nào dối trá hoặc không kể hết thì ông thầy mo cứ từ từ lơ lửng bay lên phía bàn thờ. Còn nếu kể thật lòng mình thì ông thầy mo lại từ từ hạ xuống. Trong khung cảnh thành kính, người “xưng tội” ngồi đối diện với bàn thờ treo trên tường, thầy mo ngồi ngay dưới bàn thờ và quay mặt về phía người “xưng tội”. Sau khi thực hiện một số nghi lễ, người “xưng tội” phải kể hết những điều xấu xa mình đã làm trong năm qua.

Trong tác phẩm “Huyền thuật và các pháp sư Tây Tạng” của nhà thám hiểm người Anh David Neel có đoạn: “Vào lúc chiều tà, chúng tôi cưỡi ngựa qua miền cao nguyên rộng lớn, bỗng xuất hiện phía xa xa một chấm đen nhỏ xíu. Qua ống nhòm, tôi nhận ra một người đang sải bước hết sức lạ lùng, nhanh khôn tả. Không thể nói rằng vị thiền sư ấy đang chạy. Cứ mỗi sải bước, nhà sư lại bay trong không trung, bồng bềnh về phía trước giống như một quả bóng đàn hồi. Chúng tôi đã nhìn theo gần 3 cây số. Nhưng rồi ông rẽ ngoặt khỏi con đường ngựa chạy, bay vọt lên sườn núi và mất hút trong dãy núi trập trùng bao bọc".

Đối với người xưa, điều này không có gì quá huyền hoặc. Cách thức nghiên cứu chú trọng thân thể người, vũ trụ và không gian đem lại cho họ rất nhiều huyền cơ bí ẩn. Nếu con người không thay đổi phương pháp nghiên cứu hay nhận thức mà hiện nay sử dụng thì vĩnh viễn không biết được những điều siêu thực đang tồn tại hiện nay. 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Nhân loại đã qua 22 lần ‘tận thế’? Bí ẩn nhập định siêu việt trên dãy Himalaya



Giáo sư Ernst Muldashev và những nhà khoa học hàng đầu thế giới đã dấn thân vào một hành trình kỳ lạ, phát hiện những điều chấn động từ dãy Himalaya.

Như chúng ta đã biết ở phần 1, đạo sư Daram đã cho Giáo sư Muldashev biết rằng trên Trái Đất có ít nhất 22 nền văn minh tiền sử với trình độ phát triển cao đã từng tồn tại và bị hủy diệt; và loài người chúng ta hiện nay thoát thai từ người Lemuria và người Atlan.

Liệu người Lemuria và người Atlan có thực sự tồn tại?

Giáo sư Muldashev cho rằng chính những người khổng lồ Lemuria - với trình độ văn minh và công nghệ rất cao đã xây dựng lên những công trình đá khổng lồ, tinh xảo ở Ai Cập - như các khu đền thờ, các tượng đài bằng đá, Đại kim tự tháp và tượng nhân sư ở cao nguyên Giza.

Năm 1864, luật sư, nhà động vật học người Anh Philip Lutley Sclater đề xuất rằng từ xa xưa, Ấn Độ, Châu Phi và Madagascar là các phần của một lục địa đã biến mất - có hình tam giác trải rộng nam Ấn Độ Dương, gọi là Lemuria.

Lemuria được cho là một lục địa xa xưa đã biến mất có hình tam giác trải rộng ở khu vực Ấn Độ Dương, Châu Phi và Madagascar. (ảnh: quorancd.net)
Lemuria được cho là một lục địa xa xưa đã biến mất có hình tam giác trải rộng ở khu vực Ấn Độ Dương, Châu Phi và Madagascar. (ảnh: quorancd.net)

Trước đó, nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại Plato có viết rằng: Trong quá khứ đã tồn tại một hòn đảo ở Đại Tây Dương có nền văn minh Atlantis phát triển rực rỡ. Nhưng hòn đảo này đã chìm xuống đáy biển chỉ trong một ngày, một đêm - bởi động đất và lũ lụt vào 9.000 năm trước thời của ông.

Tại thành phố Luxor, Ai Cập, còn sót lại 2 tượng đài bằng đá: một chiếc cao 29m - nặng 330 tấn; chiếc khác cao 25m - nặng khoảng 280 tấn. Cả hai đều được làm bằng đá granite nguyên khối, bề mặt mài nhẵn và được chạm khắc các hình tượng với nét khắc vô cùng tinh xảo và chính xác.

Một tượng đài bằng đá cao 25m còn lại bên trái lối vào đền Luxor, Ai Cập (tượng đài bên phải đã bị chuyển về Paris, Pháp) (ảnh qua: amazonaws.com)
Một tượng đài bằng đá cao 25m còn lại bên trái lối vào đền Luxor, Ai Cập (tượng đài bên phải đã bị chuyển về Paris, Pháp) (ảnh qua: amazonaws.com)

Tại khu mỏ đá ở Aswan, cách Luxor hơn 200km, còn có một tượng đài bằng đá granite nguyên khối dài 42m, nặng khoảng 1.200 tấn đang được chế tác dở dang.

Ở khu lăng mộ Rekhmire thuộc thành phố Luxor, người ta thấy những hình ảnh người trong các bức phù điêu. Nếu so sánh tương quan giữa người và động vật trong hình thì sẽ phát hiện “điều kỳ lạ”. Đó là những người cao ngang với chú hươu cao cổ, một con voi cũng chỉ cao bằng một nửa người đàn ông. Như vậy, những người trong hình có chiều cao ít nhất là 5m.

Trong cuộn giấy cói 3.000 năm tuổi mang tên “Djedkhonsuiefankh” được trưng bày tại Bảo tàng Cairo, Ai Cập, người ta thấy xuất hiện một vật thể kỳ lạ - có hình dáng thuôn tròn, với 3 chân chống, cùng hai cánh chìa ra hai bên, nó đang phát sáng rực rỡ và có hình dáng bề ngoài khá giống một UFO hình đĩa bay.

Như vậy, thông tin những người khổng lồ Lemuria hậu kỳ với trình độ văn minh và công nghệ rất cao - đã xây dựng lên những công trình khổng lồ, tinh xảo ở Ai Cập - có thể là hợp lý. Điều này giúp giáo sư Muldashev có thêm tư liệu cho việc khám phá nguồn gốc loài người của mình.

Cuộc trò chuyện hé lộ bí ẩn về xô-ma-chi

Quay về hành trình của đoàn thám hiểm, nhiều điều sẽ được hé mở qua cuộc trò chuyện của Muldashev và vị lạt ma trường phái Bonpo, trong chuyến thám hiểm Tây Tạng lần thứ nhất vào năm 1996.

Vị lạt ma cho biết trong hang động ở Tây Tạng có nhiều người xô-ma-chi. Nhưng không ai nhìn thấy họ trong hang, là vì các hang động đó đóng kín, có lối vào bí mật. Mặt khác, hang động trong núi này nhiều vô kể, và có biết bao nhiêu là nhánh, ngoài những Người đặc biệt thì không ai biết về chúng.

Điều này khiến giáo sư Ernst Muldashev tò mò, ông hỏi: “Có thể làm quen với những Người đặc biệt đó được không, thưa ngài?”

Lạt ma Bonpo cho biết điều đó được, nhưng vô ích. Tất cả họ sẽ trả lời rằng “Ngay với Chúa Trời tôi cũng không nói ra điều đó”. Những Người đặc biệt đó cho rằng tiền bạc, sự sống nơi trần gian không là gì cả nếu đem so với sự vĩ đại của Người! Họ thuộc dưới quyền của Người, là đầy tớ của Người! Việc nhận tiền đối với họ là tội phạm thượng.

Giáo sư Ernst Muldashev thắc mắc rằng “nếu trong số những Người đặc biệt đó có một kẻ phẩm chất kém, phản bội lời thề thì sao? Nếu hắn ta cử ai đó lọt vào hang thì sao?”

Vị lạt ma cho biết điều này tương đương với việc giết người, vì người vào đó sẽ phải đối mặt với cái chết. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng mọi cái đều do Người định đoạt, được phép vào hay không cũng phải do Người.

Như vậy, lạt ma giáo phái Bonpo đã khẳng định sự tồn tại của các hang động trong đó có người nhập xô-ma-chi. Nhưng ông cũng khẳng định rằng sẽ nguy hiểm đến tính mạng để có thể vào các động này.

Lạt ma giáo phái Bonpo (giữa) và Muldashev (trái) (nguồn: Muldashev)
Lạt ma giáo phái Bonpo (giữa) và Muldashev (trái) (nguồn: Muldashev)

Đoàn của giáo sư Muldashev tiếp tục vượt qua đèo núi, tới một bản làng Tây Tạng nằm ở độ cao gần 3.000 mét. Tại đây, họ đã có cơ hội gặp gỡ những Người đặc biệt trông nom động xô-ma-chi.

Người đặc biệt thứ nhất 60 tuổi, người thứ hai 95 tuổi. Cả hai đều trông trẻ hơn tuổi. Họ đều có gia đình và sinh sống như mọi người trong bản.

Ba ngày đầu, hai Người đặc biệt nói về nhiều đề tài khác nhau, nhưng hễ động đến xô-ma-chi là họ im lặng ngay tức thì. Nếu cứ hỏi mãi, thì họ trả lời cụt lủn: “Đó là bí mật”. Sang đến ngày thứ 5, khi đã tạo được sự tin tưởng và thân thiện, họ cởi mở hơn.

Trò chuyện với Người đặc biệt thứ nhất 60 tuổi

Giáo sư Muldashev được Người đặc biệt (60 tuổi) cho biết: Người canh giữ động cần được đại hội các lạt ma phê chuẩn, đồng thời phải có khả năng nhập định thành công để ra vào động trong trạng thái định và được sự cho phép của “Ngài” - chính là người ở trong động xô-ma-chi.

Ông cho biết ông đến động xô-ma-chi một lần trong tháng, lưu lại trung bình ba tiếng đồng hồ. Ông không vào tất cả các gian, mà chỉ vào gian được phép vào.

Giáo sư Muldashev lại hỏi: “Trước khi vào động ngài có khấn không?”

Người đặc biệt cho biết trước khi vào động một tuần, ông bắt đầu tham thiền. Còn khi bước vào gian đầu tiên, cách biệt với gian xô-ma-chi một cái ngách, ông bắt đầu khấn và gia tăng thiền.

Giáo sư Muldashev muốn biết ông có cảm thấy tác động của các lực khác thường không. Người này cho biết ông có cảm thấy. Việc cầu khấn và tăng cường thiền là để thích nghi với tác động của lực đó. Nếu không, có thể sẽ chết, vì sẽ cảm thấy đầu đau kinh khủng. Thật nguy hiểm chết người nếu đã bước vào động mà chưa cảm thấy sẵn sàng.

Muldashev hỏi chi tiết thêm về việc tiếp xúc với người xô-ma-chi, rằng họ có mở miệng khi nói chuyện không? Thân thể họ trông thế nào? Họ có mặc quần áo không?

Người đặc biệt nói: “Họ khẽ mở miệng, nhưng hiếm khi nói chuyện”. “Thân thể gần như bình thường, có thể hơi vàng hơn một tí”. “Ngài có mặc quần áo, nhưng cũng có thể chẳng mặc gì”.

Về con mắt thứ ba, người đặc biệt cho biết ông chưa bao giờ nhìn thấy nó. Về tư thế của người xô-ma-chi, ông trả lời rằng: “Ngài tọa trong tư thế Đức phật. Thân xác Ngài lạnh và chắc nịch”.

Trò chuyện với Người đặc biệt thứ hai 95 tuổi

Khi giáo sư Muldashev đến gặp Người đặc biệt lớn tuổi, ông cũng chỉ cung cấp thông tin rất dè dặt nhưng lại vô cùng quý giá cho đoàn thám hiểm.

Ông cho biết rằng: một số người xô-ma-chi có lồng ngực nhỏ, số khác bình thường. Có người to lớn, có người như những người bình thường. Hộp sọ của họ đủ kiểu. Một số thì to, số khác to và dài như hình tháp, số nữa thì bình thường. Tóc người nào cũng dài.

Ông cũng nói rằng “con mắt thứ ba” chỉ là biểu tượng. Người xô-ma-chi có hai con mắt to, trông khác thường. Trong trạng thái xô-ma-chi, hai mắt khép hờ.

Theo bức hình mà Muldashev mô phỏng người xô-ma-chi, ông nói: “Nếu trong động có khuôn mặt như trên hình vẽ thì thân thể của họ to và béo. Nếu là khuôn mặt kiểu bình thường thì người cũng nhỏ bé hơn”.

Người đặc biệt 95 tuổi trông giữ động xô-ma-chi Tây Tạng (trái), phiên dịch Kiram (giữa) và phó đoàn khảo sát Valery Lobankov (phải) (nguồn: Muldashev)
Người đặc biệt 95 tuổi trông giữ động xô-ma-chi Tây Tạng (trái), phiên dịch Kiram (giữa) và phó đoàn khảo sát Valery Lobankov (phải) (nguồn: Muldashev)

Như vậy, theo thông tin mà Người đặc biệt lớn tuổi cung cấp, trong hang động xô-ma-chi có cả những người bình thường lẫn người khổng lồ của các chủng tộc khác nhau, với các đặc trưng cơ thể khác nhau, bao gồm cả người Lemuria giống như bức hình giả định của Muldashev.

Giáo sư Muldashev lại hỏi: “Có phải những người thuộc các nền văn minh trước đây vẫn được bảo quản trong trạng thái xô-ma-chi không?” 

Người đặc biệt cho biết việc đó có thể làm được. Người xô-ma-chi có thể ở trong động nghìn năm, triệu năm và lâu hơn thế nữa, tùy thuộc vào sức mạnh tâm linh.

Khi Muldashev đột ngột hỏi câu hỏi chính rằng họ có thể vào trong động xô-ma-chi được không, động cơ của họ là tốt lành. Người đặt biệt 95 tuổi trả lời: “Các vị không qua được thử thách đâu. Ngoài tôi và Người đặc biệt ít tuổi hơn, không ai qua được hết… Việc đó nguy hiểm chết người”.

Nhưng hôm sau, ông quyết định cho phép một người trong đoàn vào gian đầu tiên của động. Ông nhấn mạnh rằng nếu cảm thấy trong người khó chịu, hãy quay về ngay, nếu không, sẽ phải chết.

Đoàn thám hiểm nhất trí để Giáo sư Muldashev vào động xô-ma-chi.

Hành trình vào động xô-ma-chi của Giáo sư Muldashev

Động xô-ma-chi cách bản làng khoảng 2-3 cây số. Cửa vào của nó giống như vô số các hốc đá bình thường khác.

Kể về quá trình vào động, Muldashev viết: “Đi được một vài mét... tôi thấy rét... Đi tiếp 15-20 mét tôi dừng lại và không cảm thấy tác động gì... Vừa đi vừa lắng nghe cảm giác của mình, mọi cái đều bình thường. Nhưng cách cửa vào ngách 1, 2 mét, tôi cảm thấy hơi bồn chồn. 

Thoạt đầu tôi tưởng mình sợ và cố gắng trấn áp cảm giác đó. Khi bước vào ngách bỗng tôi thấy sợ mà không biết vì sao, đi tiếp vài chục mét cảm giác đó bỗng biến mất, nhưng thay vào đó là nỗi tức giận ghê gớm vô cớ. Đi tiếp vài chục bước nữa thì thấy đầu đau. 

Nói chung, tôi có thể nói mình là người gan dạ, không phải lần đầu tiên tôi trèo núi vào hang. Tôi cảm thấy rõ ràng tâm trạng sợ hãi và phẫn uất từ đâu đó đến, tức là nguyên nhân không ở trong bản thân tôi. 

Bước tiếp vài chục bước nữa, cảm giác uất ức gia tăng, còn đầu đau như búa bổ. Nén chịu cảm giác đó, tôi đi tiếp gần 10 mét nữa. Đầu đau tới mức tưởng như không chịu được nữa… Tôi cố tập trung để giải thoát nỗi đau”. 

Đó quả là một cuộc chiến sinh tử trong nội tâm của giáo sư Muldashev. Ông cho biết mình phải huy động hết ý chí để chiến đấu với cái đau khủng khiếp, nhưng không có kết quả gì, đầu ông như muốn vỡ tung. Nhưng khó chịu nhất lại chính là tâm trạng uất ức không biết vì đâu, khiến ông muốn trở ra ngoài.

Ông cố chiếu đèn về cuối ngách. Nén cơn đau và tâm thần rối loạn, Muldashev nhìn về phía trước… Những gì nhìn thấy khiến ông kinh ngạc: “Gì thế? Nhẽ nào đó là hình thù những người đang ngồi nhập xô-ma-chi. Đúng, có vẻ như hình người. Dưới ánh sáng của chiếc đèn, tôi thấy họ khổng lồ”.

Không thể chịu đựng thêm, ông quay trở ra, ông biết rằng nếu chỉ cần tiến thêm một chút nữa về phía trước là ông sẽ bỏ mạng.

Muldashev xúc động nghĩ: “Người Lemuria, người Atlan! Họ còn sống, hàng triệu năm nay họ vẫn sống... Ngài mới mạnh mẽ làm sao! Ngài bí ẩn đó là ai? Là người Lemuria-Atlan chăng? Họ không cần được canh giữ, họ mạnh hơn con người trên mặt đất nhiều… Tôi sẽ không bao giờ thắng được Ngài, nếu không được phép của Ngài…”.

Song vẫn còn chút ít nghi hoặc, rằng biết đây mình đã tưởng tượng ra mọi thứ, giáo sư Muldashev quyết định quay lại. Mọi cái lặp lại theo trình tự cũ, cũng lại là tâm trạng uất ức quen thuộc và cơn đau đầu như búa bổ. Càng tiến lên ông càng không chịu được nữa, ông đành quay lại. Lần kiểm nghiệm thứ ba cũng như thế, ông không thể bước tiếp tới chỗ có cảm giác mạnh nhất.

Tâm sự về điều này, Giáo sư Muldashev chia sẻ: “Tôi buồn vì cách người xô-ma-chi chỉ còn vài mét mà không thể đến được với họ. Tôi hoàn toàn cảm nhận được bức rào cản tâm năng của nó, đối với tôi, đó là cái gì đó bí hiểm và hùng mạnh”.

Không chỉ vậy, trong các lần thám hiểm Tây Tạng tiếp theo, đoàn thám hiểm còn có nhiều lần tiếp xúc với các hang động có người xô-ma-chi và cơ chế bảo vệ bằng năng lượng đặc biệt “bất khả xâm nhập”. Có kiểu rào chắn sẽ hút năng lượng, hoặc sẽ gây mù tạm thời cho người bước vào.

Chia sẻ về chuyến thám hiểm lần 1, Giáo sư Muldashev cho biết: “Động xô-ma-chi mới hé mở bức màn bí mật của nó, nhưng chưa mở hoàn toàn. Liệu sẽ có ai đó, vào lúc nào đó, khám phá ra điều bí mật lớn lao của loài người hay không?” 

Vậy bí mật lớn nhất của các hang động xô-ma-chi là gì? Vì sao những Người đặc biệt luôn nói rằng “Với Thượng đế tôi cũng không nói ra điều đó”? 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS