Container Icon

Vũ Trụ Diễn Sinh

 Kỳ 1. Gieo Mầm Hỗn Độn, Vũ Trụ Diễn Sinh

Vũ trụ này từ vô thủy vốn là một mảng vô hạn không gian hỗn loạn, không chiều không hướng, không có sinh linh, không có vật chất, bất kỳ thứ gì trụ định đều không có, chỉ có những năng lượng tối va chạm và tranh chấp lẫn nhau vô cùng vô tận.

Sau đó, có một thứ xuất hiện được gọi là Hỗn độn. Hỗn độn được gieo mầm vào trong vũ trụ này. Hỗn độn mang theo kho tàng tri thức, những quy luật vận hành toàn vẹn cho một vũ trụ toàn thể. Từ đó, năng lượng bắt đầu có sự giao hòa theo những quy luật nhất định, tạo ra một quả cầu năng lượng cực kỳ khổng lồ. Quả cầu lớn dần lớn dần trong vô hạn không gian hỗn loạn.

Một ngày nọ, quả cầu năng lượng tích đủ năng lượng cần thiết, nó nổ tung ra và bắt đầu hình thành vũ trụ. Dựa theo tri thức Hỗn độn, vụ nổ có chủ đích đó đã kích mở ra không gian có chiều hướng, tạo ra những thứ mà có thể vận chuyển theo quy luật đó là năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên.

Hỗn độn tiếp tục tác động lên năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên theo những quy luật nhất định. Theo đó, năng lượng bản nguyên hội tụ tạo ra vật chất, tinh thần bản nguyên hội tụ tạo ra linh vật.

Các vật chất cơ bản dần dần được hình thành theo nguyên tắc hội tụ năng lượng. Các hạt vật chất nhỏ nhất, các nguyên tố đất nước gió lửa, các hành tình, các dãi thiên hà từ đó qua nhiều tỷ năm dần dà được tạo lập. Nhưng đó sẽ là chuyện về sau. Khởi nguyên vũ trụ giai đoạn đầu, chưa có ánh sáng của định lực, không gian mặc dù đã trụ định nhưng chưa mở ra nhiều chiều, nó là một mảng hồng mông tử khí (khí màu tím), vô cùng vô tận.

Đối với linh vật, chúng tích lũy tinh thần bản nguyên mà hình thành. Khi linh vật tích lũy tinh thần bản nguyên tới mức độ nhất định, đủ về lượng sẽ thay đổi về chất sẽ khai mở ra linh trí. Từ có linh trí, linh vật tiếp tục tinh thần bản nguyên và được tích lũy thêm kiến thức về vũ trụ. Khi tích lũy đủ lượng tinh thần bản nguyên và kiến thức về vũ trụ, linh vật tiếp tục thay đổi về chất, thăng lên cấp linh tính và được gọi là Linh căn. Linh căn là linh vật được tạo thành từ tinh thần bản nguyên và có kiến thức về vũ trụ. Cấp độ tiến hóa của linh căn được thể hiện ở mức tích lũy tinh thần bản nguyên (là tinh thần lực) và kiến thức về vũ trụ (là trí huệ), tinh thần lực và trí huệ có tác động tương hổ lẫn nhau.

Rất nhiều tỷ năm về sau, muôn loài đi tìm con đường tìm về cội nguồn, kết nối hồng hoang để tinh tấn, tiến hóa, tăng trưởng giá trị tích lũy tinh thần lực và trí huệ cho linh căn theo muôn vàn phương cách khác chính nhau. Đó chính là tu đạo vậy!

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 2. Không Gian Hồng Hoang

KỲ 2. KHÔNG GIAN HỒNG HOANG

Sau vụ nổ có chủ đích của khối năng lượng khổng lồ, không gian có chiều hướng bắt đầu hình thành. Phát triển chiều hướng lên đến chiều thứ 3 thì được trụ định. Không gian 3D được hình thành và là không gian khởi nguyên của vũ trụ. Không gian tiếp tục diễn sinh và phát triển. Cho đến nay, vũ trụ ngoài các cấp không gian đa chiều với hữu hình hữu tướng sinh linh, còn có các cấp không gian bên trong vô hình vô tướng sinh linh. Các cấp vô hình vô tướng đó là không gian hồng hoang, nơi sinh sống của muôn hồn tiến hóa và nơi linh hồn luôn muốn tiến về - Cội đạo.

Không gian hồng hoang cũng lại chia thành cao thấp. Sâu nhất trong không gian hồng hoang là cấp Tử mông vô cực, kế đến là Hồng hoang thái cực, và ngoài cùng là Hư vô lưỡng cực.

Tử mông vô cực là không gian cao cấp nhất của Vũ trụ, cội nguồn của Đạo. Trong không gian đó, các Linh Căn vô vi vô ngã, trôi nổi thuận theo Thiên Đạo, hòa mà không tan, hợp mà không mất. Linh Căn được phép hấp thu khí tử mông, là căn khí cực phẩm của Vũ trụ để tăng trưởng tinh thần lực và trí huệ. Tử mông vô cực tuy rằng cấp dưỡng không gian tồn tại và tinh tấn cho chúng linh căn riêng biệt, nhưng toàn thể không gian Tử mông vô cực vẫn là một khối thống nhất. Và toàn bộ tầng không gian này chính là Cội Đạo, là Đại Linh Căn Đại Ngã, là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Vô Cực Đại Chí Tôn, là Chúa Cha, là Thượng Đế của các Đấng Thượng Đế…

Tiếp đến là không gian Hồng hoang thái cực. Nếu không gian Tử mông vô cực là vô ngôi, toàn thể linh căn đều hòa vào Cội đạo, thì không gian Hồng hoang thái cực hình thành phải là hữu ngôi. Vũ trụ diễn sinh đến đây, Cội đạo đã biết, chúng linh căn liền nương Thiên đạo, chia tách trọng trách cho các đại Linh căn tiến hóa để vận hành Vũ trụ, đặng cho vũ trụ phát triển. Không gian Hồng hoang thái cực bấy giờ mới có Hội đồng Thượng đế/Hội đồng các Đấng Sáng Tạo và Hội đồng lại bầu tiếp người đứng đầu là Đức Thượng Đế vậy.

Cấp ngoài cùng của không gian Hồng hoang là không gian Hư vô lưỡng cực. Tại không gian này, các linh căn bắt đầu phân chia tính âm dương, tiện cho phụ trách vận hành tinh thần lực của nhật nguyệt, phụ trách vận hành tinh thần lực và năng lượng vật chất trong các không gian hữu hình tiếp theo. Nhiệm vụ được giao, các linh căn hình thành các tổ chức quản sự về linh hồn, phụ trách các công việc về nhân quả, luân hồi… đặng sao cho linh hồn khi đầu thai xuống các không gian hữu hình việc tu học thuận thiên đạo mà kết quả tu học là tốt nhất có thể.

Đến đây, chúng ta dừng lại một chút để lặp lại câu hỏi muôn đời: Đức Thượng Đế là ai?

Thiết nghĩ, mỗi một chúng ta đều có thể chọn riêng cho mình một đáp án đấy. Các đáp án ấy chung quy rơi vào các tình huống:

- Đức Thượng Đế vô ngôi là Cội đạo, là Thiên đạo, là tất cả Vũ trụ. Ngài luôn hiện hữu bên cạnh chúng ta, chỉ có chúng ta không cảm nhận được Ngài. Ngài giao tiếp với chúng ta là phi ngôn ngữ, chỉ có ánh sáng linh quang của Ngài đâu đó, thời điểm vi diệu nào đó lóe sáng lên trong sâu thẳm linh hồn của bạn. Và bạn sẽ nhận ra những khoảng khắc đó nếu tìm về bên trong chính mình đủ sâu sắc.

- Đức Thượng Đế hữu ngôi là người đứng đầu Hội Đồng Thượng Đế hoặc cả Hội Đồng Thượng Đế, hoặc vị Giáo chủ mà bạn hữu duyên hoặc vị Vua của một quốc độ mà bạn hữu duyên… Tất cả chúng ta đều có trong nhân duyên của mỗi linh hồn. Những vị Thượng đế cũng có nguyện nhân sinh, họ nguyện độ cho những linh hồn hướng về họ, nương tựa sự giúp đỡ của họ. Các vị đó nói chuyện với bạn bằng nhiều phương cách như: lời thì thầm trong tai, kinh sách để lại, những giấc mơ, linh ảnh lúc thiền định, kinh vô ngôn, kinh vô tự v.v… Và những hành trình công phu nhất của họ đó là chiết linh, giáng sinh cõi hữu hình để cứu độ chúng sinh.

Ta vẫn còn những điều thắc mắc như: Linh hồn và linh căn khác nhau ở đâu? Linh căn nằm ở cội Đạo, vậy phải chăng khi ta trở về cội Đạo thì không còn thân hữu hình, không còn tính cá nhân nữa. Nếu vũ trụ phát triển mà Linh hồn thì về Cội đạo mất tự do thì tính hiếu sinh của Vũ trụ có còn không?...

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 3. Thượng Cổ Linh Căn Và Hội Đồng Thượng Đế

KỲ 3. THƯỢNG CỔ LINH CĂN VÀ HỘI ĐỒNG THƯỢNG ĐẾ

Thời điểm ban đầu những linh căn xuất hiện, vũ trụ chưa có ánh sáng - thứ ánh sáng phổ quát giúp vật chất trụ định. Vũ trũ chỉ là một mảng Hồng hoang tràn đầy năng lượng và linh vật, linh căn du hành, bôn tẩu. Những linh căn xuất hiện từ thời đó gọi là Thượng cổ linh căn. Dưới định luật của hỗn độn, trong buổi đầu Hồng hoang đó cũng đã xuất hiện sự tuyển chọn linh căn. Các linh căn nổi bật được Hồng hoang chú trọng bồi tài sẽ được đánh dấu bằng những ấn ký, gọi là Hồng hoang ấn ký. Chữ vạn giữa ngực phật A Di Đà là một minh họa về Hồng hoang ấn ký vậy.

Các linh căn thụ lĩnh Hồng hoang ấn ký có vai trò rất quan trọng cho quá trình diễn sinh vũ trụ, thiết lập thế giới về sau. Bởi vì, nương theo định luật của hỗn độn, không gian hỗn loạn cũng được sắp xếp có chiều hướng, huống chi chỉ là sự hỗn loạn của các trường năng lượng tốt xấu. Quả địa cầu hiện nay đang thời kỳ thăng cấp, điều đó được thực hiện bởi khá nhiều Thượng cổ linh căn hiện cùng chiết linh xuống thế để giúp sức cải tạo địa cầu. Trong số họ, lại có một số linh căn có Hồng hoang ấn ký. Lành thay, Thiên Cấm Sơn đã được an bài, chọn làm nơi tụ họp chính của các linh căn có Hồng hoang ấn ký. Thiên Cấm Sơn còn là Trận Nhãn của Vạn Linh Trận với sứ mệnh vận chuyển cùng Thiên cơ, kịp kỳ tiến nhập kỷ nguyên mới đang diễn ra ngày nay.

Lại nói, Linh căn thuở hồng hoang phát triển thành xã hội. Xã hội thời điểm đó tuy không gian có vật chất tồn tại ở dạng năng lượng và mờ mờ mịt mịt, nhưng trật tự tinh thần đã phân trên dưới rõ ràng.Vũ trụ phát triển cần có quản sự. Các linh căn nổi bật được chọn ra, sau lại chọn tiếp hội đồng quản sự. Hội đồng quản sự lại chọn ra người đứng đầu. Về sau, người ta gọi Hội đồng quản sự đó là Hội đồng Thượng Đế/Hội đồng các Đấng Sáng Tạo; người đứng đầu Hội đồng đó được gọi là Đức Thượng Đế... như đã trình bày ở kỳ trước.

Sau khi bầu ra Thượng đế, Hội đồng làm việc và sắp xếp chương trình phát triển cho vũ trụ. Đó là một tiến trình sáng tạo của các Đấng Toàn Năng và được gọi là Thiên cơ. Thiên cơ có thời gian dài ngắn tùy thuộc tình trạng của Vũ trụ.

Quay lại công cuộc sáng tạo vũ trụ. Thời điểm Hồng hoang, linh vật hấp thu tinh thần và lớn mạnh nhưng không có hình hài cụ thể, bởi linh vật lúc đó chưa trụ lên vật chất. Để kiến tạo vật chất, các Đấng Sáng Tạo đã đi đến quyết định quan trọng thuộc hàng bậc nhất của Vũ trụ này, họ đã sáng tạo ra ánh sáng và kiến thiết các tầng không gian đa chiều. Trạng thái trụ định, sự cân bằng của vật chất phụ thuộc vào mối quan hệ giữa “năng lượng và khối lượng” so với “không gian lực và tác động của ánh sáng” (xem phương trình RB = KnD.f(c) đã trình bày tại “Ánh sáng và con đường tâm linh”).

Thượng Đế, Hội đồng Thượng đế là những người bận rộn bậc nhất trong Vũ trụ này. Họ chưa bao giờ dừng làm việc. Công việc của họ là đảm bảo sự vận hành và phát triển của Vũ trụ phù hợp với Thiên đạo. Để Vũ trụ ngày một sinh động hơn, đẹp hơn, các Đấng Sáng Tạo nương vào các quy luật của Vũ trụ để tạo ra vật chất mới, thúc đẩy linh vật phát triển, thúc đẩy những hành tinh mới, thiên hà mới, thế giới…

Đồng hành với sáng tạo ánh sáng và khai mở không gian, Đức Thượng đế đã thực hiện một quyết định rất quan trọng làm cơ sở cho Vũ trụ này càng thiên biến vạn hóa, sôi động muôn phần. Đó là việc cho hàng vạn vạn linh hồn rời quê hương của họ, rời không gian hồng hoang để tiến nhập các không gian đa chiều hữu hình hữu thể, tham gia công cuộc Vũ trụ diễn sinh.

Vậy linh hồn là gì? Họ rời quê hương đi bằng phương tiện gì? Tồn tại ở không gian bậc hữu hình như thế nào? Và họ sẽ quay về quê hương của mình như thế nào? Câu trả lời sẽ dần hé mở trong các kỳ tiếp theo.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 4. Khái Quát Về Linh Hồn

KỲ 4. KHÁI QUÁT VỀ LINH HỒN

Vũ trụ diễn sinh từ năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên bởi vì đặc tính diệu dụng của 2 thành tố này. Trong khi năng lượng bản nguyên duy trì vận chuyển yêu cầu sự tương liên (kết nối tương ứng và duy trì liên tục không ngắt quãng) thì tinh thần bản nguyên lại có khả năng thu phát gian đoạn. Chính vì vậy, những tồn tại được kiến tạo từ tinh thần nguyên bản có khả năng thu phát gián đoạn.

Ánh sáng là một thành tố được kiến tạo từ tinh thần bản nguyên.

Linh vật khi tích lũy tinh thần lực đến một giá trị nhất định sẽ có khả năng phát ra ánh sáng. Ánh sáng này chính là linh quang, khác với thứ ánh sáng phổ quát đã được giới thiệu trong bài viết “ánh sáng và con đường tâm linh” trước đây. (Để khỏi nhầm lẫn, bài viết sau đây sẽ dùng từ “linh quang”).

Linh quang có được kiến tạo từ tinh thần lực và linh vật có khả năng thu phát tùy ý. Linh quang so với với ánh sáng phổ quát điểm chung và riêng như sau: i) Điểm chung là ánh sáng mang theo ý chí của linh căn, mong muốn thực hiện một công việc gì đó, độ sáng của ánh sáng phụ thuộc vào lượng tinh thần lực tích lũy và mức tích cực của tư tưởng. ii) Điểm riêng là linh quang có phạm vi chiếu sáng hạn chế, tùy thuộc vào ý chí của linh căn; trong khi ánh sáng phổ quát sẽ truyền đi xa nhất có thể.

Trong không gian Tử mông vô cực, các linh căn không phát ra linh quang của riêng mình mà hòa ánh sáng vào chung với không gian Tử mông, tạo thành khối Đại Linh Quang. Trong không gian Hồng hoang vô cực, các linh căn phát ra linh quang mỗi lúc vận hành Thiên cơ còn thông thường thu lại tĩnh dưỡng, thu nạp tinh thần lực.

Đến không gian Hư vô lưỡng cực, toàn bộ linh căn hoạt động trong ánh linh quang của mình. Bởi vì, linh căn khi đã ở không gian Hư vô lưỡng cực đều đã có ý chí của mình, đều có công việc gì đó hoặc cho sự tinh tấn của linh căn hoặc phụng sự diễn sinh cho vũ trụ.

Có thể nói, linh căn khi khoác lên trên mình ánh sáng linh quang và trụ định ở trạng thái đó thì được gọi linh hồn. Vì thế, đã là linh hồn thì sẽ có phận sự của riêng mình, mọi linh hồn đều phải thực hiện hành trình của mình mới có thể quy về Cội đạo. Một chút gợi nhớ, theo phương trình tiến hóa, lúc này linh hồn có e^kφ = 1, nhưng đã có a ≠ 1. Do đó, linh hồn nhất định phải hạ nhập không gian hữu hình hữu thể để thực hiện con đường tiến hóa của mình.

Linh hồn khi ở không gian Hư vô lưỡng cực sẽ không chịu lực bài xích không gian, vì không gian được kiến tạo thích ứng với sự tồn tại của tinh thần lực. Khi hạ nhập không gian hữu hình hữu thể, do chịu các yếu tố tác động đến từ luật vật chất cân bằng nên linh hồn phải có cơ chế bảo vệ. Vì vậy, trước khi hạ nhập không gian hữu hình, linh hồn tiếp tục được khoác lên mình 1 lớp áo năng lượng. Lớp năng lượng này được kiến thiết từ năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên, để vừa phù hợp với linh hồn vừa phù hợp với không gian hữu hình.

Trạng thái linh hồn được bao bọc bởi lớp năng lượng đó được gọi là nguyên thần, và lớp năng lượng đó được gọi là nguyên khí.

Hình thành nguyên thần, lúc này linh hồn mới chính thức được trang bị đầy đủ phương tiện đặng đầu thai vào các sinh linh tại không gian hữu hình.

Khi nguyên khí cạn là lúc linh hồn phải trở về cõi hồn. Nhưng, đa số linh hồn lại bị mắc kẹt bởi vì tác động của luật nhân quả, luật luân hồi.

Vì vậy, chỉ có tu học mới tìm được con đường trở về quê hương, trở về Cội đạo!

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 5. Vũ Trụ Diễn Sinh Thuận, Linh Hồn Tu Học Nghịch

KỲ 5. VŨ TRỤ DIỄN SINH THUẬN, LINH HỒN TU HỌC NGHỊCH

Linh hồn hạ nhập không gian hữu hình, tiến trình vũ trụ diễn sinh được thúc đẩy mạnh mẽ và sôi động. Thiên địa từ đó lập ra các tầng thế giới - đó là một mốc son đáng nhớ. Từ mốc son đó, khái niệm tiên thiên và hậu thiên được hình thành và nhắc đến mãi về sau.

Các linh căn, linh hồn hình thành trước thời điểm đó, được gửi từ không gian Hồng hoang xuống thế giới hữu hình thì được gọi là linh căn, linh hồn tiên thiên. Các linh căn, linh hồn tuân theo nguyên tắc tích lũy tinh thần lực mà nên hình tại không gian hữu hình được gọi là linh căn, linh hồn hậu thiên.

Thời kỳ thành lập thiên địa, các linh hồn tự do lựa chọn hình thái hữu hình lúc hạ nhập không gian hữu hình. Nhiều chủng loài từ thời thượng cổ, duy trì cho đến ngày nay vẫn là chủng loài mạnh mẽ. Các chủng loài đó thường không chọn không gian 3D làm nơi sinh tồn nên loài người chúng ta không thể nhìn thấy chúng, càng khó thấy trong thời kỳ lực phân kỳ không gian mạnh mẽ. Sự sàng lọc muôn loại chủng loài cũng bắt đầu từ đó. Mãi thật lâu về sau mới xuất hiện con người với hình thái như chúng ta ngày nay.

Vũ trụ diễn sinh, không gian dần mở rộng theo vòng xoắn ốc. Phía bên ngoài là không gian 3D, 4D và tăng dần lên vào bên trong. Các chủng loài mới, các vật chất mới, hành tinh mới, thiên hà mới cũng mở rộng dần theo vòng tròn xoắn ốc. Vũ trụ được mở mang rộng dần, rộng dần. Đó hành trình thuận, giúp năng lượng vũ trụ chuyển hóa và định hình thành vật chất trên khắp các chiều không gian hữu hình.

Vũ trụ mở rộng, năng lượng tối tại các vùng biên của nó liên tục được chuyển hóa, cung cấp cho vũ trụ nguồn năng lượng bản nguyên mới, tinh thần bản nguyên mới. Từ đó, vạn vật và sinh linh có được cơ hội tựu hình tựu thể, tinh tấn linh hồn.

Linh hồn đồng hành cùng vũ trụ trong hành trình đó. Thế nhưng, để tiến hóa, linh hồn cần thực hiện hành trình ngược, tiến vào bên trong vòng xoắn ốc. Bởi vì đối với linh hồn tiên thiên thì đó là hành trình hồi hương sau một thực hiện thiên mệnh, còn linh hồn hậu thiên thì cũng cần tìm về nơi cội nguồn để hoàn thiện chính mình. Tinh thần lực và trí huệ vũ trụ trụ tại không gian hồng hoang mới là nơi không còn dính mắc, mới được vĩnh tồn cùng thiên địa.

Trong hành trình tiến nhập không gian hữu hình, không phải toàn bộ linh hồn đều thả mình xuống thế. Nếu làm vậy, không gian Hồng hoang vô chủ, vũ trụ không có tinh thần lực để vận hành từ gốc cội.

Linh căn vốn dĩ được tích lũy từ tinh thần bản nguyên và trí huệ vũ trụ mà hình thành. Khi linh căn có lượng tinh thần lực đủ lớn, nó có khả năng chiết linh - tách ra một phần tinh thần lực để thành một linh căn nhỏ hơn với trí huệ tương tự nhưng cần được củng cố. Linh căn chính (sở hữu lượng tinh thần lực lớn hơn) lúc này gọi là nguyên căn. Linh căn chiết linh và nguyên căn luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Bởi vì đặc tính của tinh thần có khả năng cách không thu phát và cảm ứng nên linh căn chiết linh và nguyên căn có thể cách không liên lạc được với nhau. Đặc điểm này là cơ sở quan trọng trong việc các bậc Đại Năng gửi chiết linh xuống các không gian hữu hình thực hiện công việc vận hành vũ trụ theo Thiên cơ.

Đến đây, ta thấy rằng, linh hồn có vai trò then chốt trong quá trình vũ trụ diễn sinh. Chỉ có điều có vẻ như là nghịch lý: vũ trụ diễn sinh thuận và có linh hồn đồng hành, linh hồn tu học nghịch để cho vũ trụ phát triển…

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 6. Khái Niệm Về Thiên Đạo, Thiên Luật, Thiên Cơ Và Thiên Hình

KỲ 6. KHÁI NIỆM VỀ THIÊN ĐẠO, THIÊN LUẬT, THIÊN CƠ VÀ THIÊN HÌNH

Qua các kỳ trước chúng ta đã cơ sở để hình dung được rằng, vũ trụ hình thành dưới thiên đạo, các bậc đại năng xây dựng nên thiên luật và diễn sinh vũ trụ bằng thiên cơ.

Vậy thì:

- Thiên đạo là những luật lệ của vũ trụ được sinh ra trong quá trình hỗn độn diễn sinh vũ trụ, do hỗn độn quy định.

- Thiên luật là luật lệ do các Đấng Sáng Tạo quy định để phù hợp với quá trình diễn sinh phát triển của Vũ trụ.

Thiên luật được quy định sao cho phải phù hợp với Thiên đạo thì Vũ trụ mới thuận lợi phát triển.

- Thiên cơ là kế hoạch, chương trình hành động để phát triển Vũ trụ của các Đấng Sáng Tạo lập ra.

Ba khái niệm trên khá là rõ ràng.

Về lý, vạn sinh linh trong vũ trụ đều có thể thoát được thiên cơ, ngoài được thiên luật nhưng không bao giờ phá được thiên đạo. Bởi vì Thiên đạo là sinh mệnh của Vũ trụ. Thiên đạo chỉ mất đi khi vũ trụ hoại. Vũ trụ hoại thì sinh linh không còn.

Con người được các Đấng Sáng Tạo dung dưỡng, tạo điều kiện cho phát triển trong các chương trình tu học nằm trong Thiên cơ. Nên nếu có thể nắm bắt được Thiên cơ ít nhiều thì rất có ý nghĩa cho việc tu học và tinh tấn. Trong giai đoạn chuyển đổi trời đất hiện nay, khá nhiều môn phái bế quan tu luyện, không thu nhận thêm đệ tử mới và thường kèm với dặn dò của chân sư là lẳng lặng quan sát Thiên cơ chuyển vận mà từ đó được tinh tấn. Trái Thiên cơ không có nghĩa là trái Thiên đạo, nhưng con người rất rất nhỏ nhoi, tốt nhất là thuận Thiên cơ.

Không theo Thiên luật có nghĩa sống ngoài vòng quản sự của Đấng Sáng Tạo. Đấng Sáng Tạo có ích kỉ đến mức phế bỏ sinh linh đi không? Câu trả lời là không. Tuy nhiên, trước đó, Đấng Sáng Tạo sẽ thử thách sinh linh thật nhiều, để đảm bảo rằng, sinh linh không làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của Vũ trụ. Thiên hình được dùng trong các tình huống đó.

Thiên hình có hai lớp: khảo thiên pháp và khảo thiên tâm. Để dễ hình dung, lấy chuyện Tôn Ngộ Không trái lệnh trời, bỏ chức Bật Mã Ôn về tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh mà kiến giải.

- Khảo thiên pháp: Đây là hình thức thử thách pháp lực của sinh linh. Nếu sinh linh không đủ mạnh, ra ngoài vòng bao bọc của các Đấng Sáng Tạo, gặp phải các thế lực hắc ám, gặp phải không gian hỗn loạn liệu còn tồn tại được không? Để tránh cho sinh linh gặp tình huống đó mà không thể vượt qua, Thiên đình phải khảo thiên pháp. Đó là lý do vì sao Tôn Ngộ Không bị phạt hành hình đủ kiểu. Nhưng vĩ đại thay, ông ta vượt qua.

- Khảo thiên tâm: Sau khi Ngộ Không thoát được khảo thiên pháp, Phật tổ Như Lai đến khảo thiên tâm. Ngộ Không đã không thể vượt qua lần khảo thí này. Tinh thần của Phật tổ Như Lai là hoàn toàn hòa hợp tinh thần của Vũtrụ toàn thể. Ngộ Không có đến tận đâu đi nữa thì không gian đó vẫn là không gian trong vũ trụ toàn thể, do đó ông ta không thoát được sự quan sát Như Lai. Không qua được cửa khảo thiên tâm, Đại Thành liền bị nhốt lại 500 năm dưới Ngũ Hành Sơn để tới khi đi thỉnh kinh cùng Đường Tăng. Đó là lộ trình tiến hóa tinh thần lực, tiến hóa tâm Không của Đại Thánh vậy.

Cho đến khi ông ta hoàn thành lộ trình đó, đến đất Phật thỉnh kinh, ông ta được phong là Đấu Chiến Thắng Phật. Điều đó có ý nghĩa ra sao? Có phải là ông ta tay chân đấm đá hơn Phật không? Dĩ nhiên đây là một câu hỏi hài hước. Ngộ Không đắc quả vị như vậy, ý nói ông ta hoàn toàn được tự do, được phép sống ngoài thiên luật hay không chịu sự câu thúc của Đấng Sáng Tạo. Vậy, “thắng trời” là Tề Thiên Đại Thánh, hay “thắng phật” là Đấu Chiến Thắng Phật chung quy cũng chỉ là ngoài sự câu thúc của Thiên luật mà thôi.

Khá khác với tác phẩm Tây Du Ký, Đại Thánh là nhân vật đại hùng, đại lực, đại từ bi. Ngài là một biểu tượng của trời đất, là tấm gương khuyến học cho các linh căn, linh hồn hậu thiên. Ngài luôn phấn đấu trên con đường tiến hóa. Thành tựu của Ngài vì thế được thần tiên các cõi ngưỡng mộ, đem một phần câu chuyện của Ngài mà hóa duyên hữu tự, ẩn truyền tâm pháp. Mặc dù được đặc ân của trời đất, đứng ngoài Thiên luật, nhưng Đại Thánh vẫn lựa chọn phụng sự Thiên cơ, tham gia cứu độ chúng sinh.

Đối với thiên đạo thì không có ngoại lệ, sinh linh không thể trái thiên đạo.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 7. Thiên Cơ Và Những Dòng Chảy Của Vũ Trụ

KỲ 7. THIÊN CƠ VÀ NHỮNG DÒNG CHẢY CỦA VŨ TRỤ

Bản kế hoạch của các vị đại năng về chương trình phát triển của vũ trụ được kiến thiết từ vô số tinh thần lực hội tụ mà thành. Thiên cơ rộng, bao phủ toàn thể vũ trụ. Hạch tâm của Thiên cơ là khối đại tinh thần lực hội tụ, kết cấu hoàn mỹ được đặt tại không gian Hồng hoang. Vòng ngoài được vận hành bởi muôn ức linh hồn tại Hư vô lưỡng cực, tinh thần lực chúng linh được hòa vào muôn vạn dòng chảy vô hình trong không gian Hồng hoang thái cực và trụ định vững vàng tại tâm là không gian Tử mông vô cực.

Kết cấu từ tinh thần bản nguyên nên Thiên cơ không có hình tướng. Chúng linh có thể tiếp xúc và cảm ngộ bằng linh ảnh.

1955-vu-tru-dien-sinh-ky-7-thien-co-va-nhung-dong-chay-cua-vu-tru-1.jpg

Linh ảnh của Thiên cơ tại không gian hồng hoang đã được nhiều linh hồn tiến hóa nhìn thấy hoặc được các vị chân sư giúp nhìn thấy. Có thể nói, hình tượng con mắt thượng thiên là hình ảnh dễ hình dung nhất của Thiên cơ. Thiên cơ là tinh thần của vũ trụ. Từ không gian vô hình, tinh thần của vũ trụ thẩm thấu ra những chiều không gian, chảy vào vô số dòng năng lượng, len lẫn vào ý chí trong muôn ức linh hồn.

Tại các không gian hữu hình, dưới sự vận hành của Thiên cơ, các dòng chảy năng lượng, dòng chảy tinh thần được thực hiện liên tục và có trật tự. Các vì tinh tú, các vầng thái dương được cấp dưỡng năng lượng và tình thần liên tục không dứt. Năng lượng và tinh thần của các muôn vì tinh tú, thái dương lại được gửi đến vạn vật bằng con đường ánh sáng. Nhờ đó mà vũ trụ được trụ định, vận hành và mở rộng. “Ánh sáng truyền năng lượng theo định chí của Đấng Sáng Tạo” là vậy. Mặt trời sẽ không bao giờ tắt, trừ khi Vũ trụ này băng hoại!

Như những kinh mạch trong cơ thể con người, như những vòng hải lưu trong lòng đại dương, như những dòng đối lưu trong bầu khí quyển, Vũ trụ vận hành với ngàn ngàn vạn vạn dòng chảy năng lượng & tinh thần, lớn nhỏ khác nhau, bao phủ thương khung, tàng nhập vạn vật.

Thiên cơ được định lập kết cấu bởi các vị đại năng, được gia lực bởi muôn ức chúng sinh, được điều hành bởi các vị Thiên đế, được tham gia bởi muôn ức chúng sinh.

Xuất phát từ không gian Hồng hoang, nhưng vì tinh thần có khả năng cảm ứng cách không, nên hễ có sự rung cảm của sinh linh, Thiên cơ liền giao cảm tương ứng. Thiên cơ mạnh lên khi sinh linh trong vũ trụ có tinh thần tích cực, thiên cơ yếu đi khi sinh linh trong vũ trụ có tinh thần tiêu cực. Tinh thần tích cực đồng thuận với xu hướng của sinh cơ. Nên nói, vũ trụ diễn sinh càng mạnh mẽ thì thiên cơ càng vững chắc và ngược lại.

Thiên cơ được thay đổi khi Vũ trụ hoàn thành một giai đoạn của mình. Trong một số trường hợp, Thiên cơ được tái lập hoặc bổ sung ứng với việc vũ trụ sẵn sàng cho việc diễn sinh một thế giới mới.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 8. Cơ Chế Chuyển Hóa Năng Lượng Tối

KỲ 8. CƠ CHẾ CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG TỐI

Thiên cơ vận hành, tinh thần vũ trụ tàng nhập đến tất cả mọi ngõ ngách của vũ trụ. Chính nhờ vậy, sinh linh thực hiện được sứ mệnh của mình, hòa vào dòng chảy tiến hóa, tạo lập, mở rộng và sáng tạo thế giới vật chất, đó là phận sự hữu hình. Bên cạnh đó, cho dù là nắm bắt được hay không, muôn ức sinh linh trong vũ trụ đều đang thực hiện phận sự vô hình trong tiến trình mở rộng vũ trụ.

Đặc tính của tinh thần cho phép thu phát ngắt quãng, cách không cảm ứng nên thông qua các dòng chảy tinh thần mà Thiên cơ đã định lập, các vị đại năng tại các không gian bậc cao hoặc không gian hồng hoang có thể theo đó mà thu thập tinh thần lực để sử dụng cho công việc của mình.

Một đặc tính khác của tinh thần là mức độ hữu ích, năng lực sáng tạo của tinh thần phụ thuộc vào tính tích cực của tinh thần. Cùng một lượng tinh thần bản nguyên tích lũy, tinh thần có tính tích cực càng cao thì lực sáng tạo càng cao.

Dựa vào hai đặc tính này, các vị đại năng hướng dòng, tinh thần lực được thu góp và sử dụng cho công việc chuyển hóa năng lượng tối thành năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên. Hỗn độn tuy là cơ sở để năng lượng tối chuyển hóa nhưng quy mô, hiệu quả chuyển hóa của năng lượng tối phụ thuộc vào tinh thần lực áp đặt lên nó…

Quả là nhiều khái niệm rối rắm.

Tuy nhiên, may mắn cho chúng ta, những điều này tương ứng với những thông điệp yêu thương, tần số rung động, niềm tin, ánh sáng của các tôn giáo. Nói rõ hơn, khi con người sống với thái độ lạc quan tích cực, yêu thương chân tính thì trong vô hình, chúng ta sẽ nhận được lại những kết quả tốt đẹp hơn, sự sống được mở rộng và chúng ta cùng có được một thế giới tươi đẹp hơn.

Năng lượng tối, thứ vô thủy vô chung này không nghĩ lại chính là kho tàng của vũ trụ. Bởi vì từ trong thăm thẳm, vạn vật đều muốn vươn lên, để đẹp đẽ hơn, để tích cực hơn, để hướng chân thiện mỹ toàn vẹn. Năng lượng tối chính nhờ đặc tính này mà chịu luật hỗn độn, chịu lực của tinh thần tích cực mà chịu tách thành năng lượng bản nguyên và tinh thần bản nguyên.

Vũ trụ toàn thể có tinh thần lực càng lớn thì năng lực mở rộng vũ trụ càng lớn. Để mở rộng vũ trụ, con đường các bậc đại năng vẫn thường làm là xây dựng những thế giới mới. Trước khi “xây dựng công trình”, các bậc đại năng cũng phải thực hiện lập những “bản thiết kế thế giới mới”.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 9. Những Bản Thiết Kế Thế Giới Mới

KỲ 9. NHỮNG BẢN THIẾT KẾ THẾ GIỚI MỚI

Có được ánh sáng, có được không gian, có được vật chất, có các linh hồn thực hiện sứ mệnh, các Đấng Sáng Tạo lại họp bàn chương trình kiến tạo ra thế giới. Để kiến tạo ra một thế giới mới, các Đấng Sáng Tạo dùng hiểu biết của mình về Thiên đạo để lập ra những chương trình xây dựng thế giới, như ngôn ngữ thường gọi hiện nay là những bản thiết kế. Họ dùng năng lượng và ý chí để tạo để một bản “Vũ trụ diễn sinh họa đồ thư” (sau đây gọi “họa đồ thư”). Đôi khi bản thiết kế được mô tả có dạng quyển trục như trong các phim tiên hiệp, ví dụ như Sơn hà xã tắc đồ của Thái Ất Chân Nhân trong phim hoạt hình Na Tra - Ma Đồng Giáng Thế.

Bản họa đồ thư đó có linh tính và mang thật nhiều thông tin cần thiết, như các quy luật sắp xếp vật chất và tinh thần, quy luật vận hành vật chất và tinh thần, quy luật tiến hóa của vật chất và tinh thần, quy luật tuyển chọn sinh linh tiến hóa, quy luật không gian, quy luật ánh sáng, quy luật khuyến khích thưởng phạt nhân quả… Bản họa đồ thư cho việc kiến tạo này có vai trò nhỏ thì giống ADN của một loài, lớn thì giống Hỗn độn của Vũ trụ toàn thể. Dựa vào nó mà diễn sinh từng bước từng bước ra các hệ thống hành tinh mới, diễn sinh ra thiên hà mới, diễn sinh ra thế giới mới. Linh vật trụ định trong trạng thái vật chất ổn định thì được gọi là sinh linh. Thế giới bắt đầu có sự sống và tiếp tục diễn sinh, tiếp tục tiến hóa.

Một điều thú vị, không rõ tin vui hay không vui, đó là để tạo ra một bản thiết kế hoàn chỉnh, sẽ có một vài bản họa đồ thư bị lỗi hoặc chưa hoàn mĩ. Đối với các Đấng Sáng Tạo đó là thứ vứt đi, nhưng đối với các sinh linh tu học thì đó là một tài sản vô giá. Bọn họ, những người tu học chắc chắn giành nhau đi tìm. Từ vũ trụ diễn sinh tới nay, các họa đồ thư vứt đi đó đã khó còn lưu lạc vô chủ, mà chúng nằm trong các Tàng kinh của các thế giới đa chiều bậc cao. Trong việc tu học, các bậc chân sư cũng có những cuộc thi của họ. Ở các cuộ thi đó, học trò được chọn của các vị chân sư giỏi sẽ có cơ hội nhận được phần thưởng là các bản họa đồ thư thiếu khuyết đó. Một người học trò nhận được họa đồ thư, họ bắt đầu học và hiểu hơn về vũ trụ, hiểu hơn về thế giới. Một quốc độ được lập ra với tri thức dày dạn được tích lũy từ các bản họa đồ thư là chuyện vẫn thường xảy ra.

Công việc giảng dạy về Vũ trụ học là công việc của các bậc chân sư. Từ cổ đến nay đã có rất nhiều kinh sách mô tả về nó, phù hợp cho từng thời kỳ. Bên cạnh đó, để khuyến học, vào những thời điểm phi thường của Vũ trụ, một số tiểu bối tập tễnh đi trên con đường tiếp bước tiền nhân cũng được phép thông tri đến chúng linh những kiến giải về vũ trụ. (Đây cùng là lý do vì sao giai đoạn gần đây, cực kỳ nhiều thông điệp cùng được viết ra và phổ biến.)

Bởi vì bản thân các họa đồ thư tuy mang những quy luật toàn thể nhưng luôn có sự khác biệt, thêm vào đó, hóa chuyển tri thức từ vô hình sang hữu hình hữu tự sao cho phù hợp với thời đại cũng là một lần làm hao chân nghĩa của họa đồ thư. Kinh vô tự không có tính phổ quát, kinh hữu tự thì chân nghĩa hao hụt.

Sự tồn tại nhiều kiến giải nói trên không có gì là tồi tệ. Chúng sinh có cơ hội tiếp cận kiến giải phù hợp nhất với sự tiến hóa của mình. Để làm được điều đó, cần có một tiền đề là: Người theo học đạo biết mở lòng lĩnh ngộ sao cho tính phổ quát là rộng nhất, lợi lạc là lớn nhất.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 10. Không Gian Xoắn Ốc Tương Liên

KỲ 10. KHÔNG GIAN XOẮN ỐC TƯƠNG LIÊN

Sau khi sáng tạo ra ánh sáng, đồng hành với những thuộc tính đặc biệt của nó, các Đấng Sáng Tạo đã xây dựng được bản thiết kế vũ trụ không gian đa chiều. Từ đó, lấy bậc các không gian Hồng hoang làm trung tâm, các Bậc đại năng diễn sinh ra các không gian nhiều chiều. Khởi thủy, không gian vũ trụ bắt đầu trụ định từ không gian 3D và phát triển rộng dần theo chiều xoắn ốc, đẩy cấp không gian 3D xa dần trung tâm không gian Hồng hoang.

Toàn thể các cấp bậc không gian từ hữu hình đến vô hình có sự tương liên theo hình xoắn ốc. Hình dung này có thể giúp ích chúng ta thực hiện một số kiến giải về tâm linh.

Xét chuyển động quay tròn của vật có dạng là dây hình xoắn ốc ta thấy:

- Một trở lực rất nhỏ tại tâm cũng làm cho toàn bộ dây xoắc ốc dao động mạnh, càng ra ngoài dây xoắc ốc dao động càng mạnh.

- Nếu trở lực xuất hiện ở không gian phía ngoài dây xoắc ốc, bằng lực ly tâm, trở lực sẽ dễ dàng bị phá bỏ và vượt qua. Trở lực phía ngoài cũng gây ảnh hưởng đến sự ổn định của phía trong dây xoắn ốc, do đó, tránh được càng nhiều trở lực thì dây xoắn ốc quay càng ổn định.

- Quỹ đạo quay của phía ngoài cùng của dây là dài nhất, và càng vào phía trong càng ngắn. Điều này cũng tương ứng với lý giải về thời gian ở không gian 3D dài hơn thời gian ở không gian bậc cao trong khi vũ trụ toàn thể đang cùng trôi trong một chu trình.

- Xem xét quỹ đạo quay của điểm gần tâm trong dây xoắn ốc có thể tính toán được quỹ đạo quay của các điểm phía ngoài dây xoắn ốc. Do đó, hiểu biết về thế giới tâm linh (hay là các không gian bậc cao, không gian Hồng hoang), hiểu biết về Thiên cơ sẽ có năng lực dự đoán về tương lai.

Kiến tạo ra Thiên cơ, các bậc đại năng đã nắm rõ sự vận hành của toàn bộ các không gian trong mối quan hệ xoắn ốc tương liên. Những việc to tát xảy ra ở không gian 3D cũng chỉ là một chi tiết hết sức vụn vặt tại các không gian bậc cao hơn, hoặc có khi chỉ là một cái chớp sáng tại không gian Hồng hoang. Hình dung không gian xoắn ốc tương liên cũng có thể giúp ta hiểu được vì sao một số giấc mơ mãi lâu sau mới thành hiện thực. Bởi lẽ, một sự kiện tương ứng đã xảy ra ở chiều không gian bậc cao đã được thần hồn ta ghi nhận. Giấc mơ được biểu đạt bằng những hình ảnh mà trí não 3D của chúng ta quen thuộc và tiếp nhận được (dĩ nhiên, đó không phải là tất cả kịch bản cho những giấc mơ).

Cũng chính vì sự kiện xảy ra ở không gian bậc càng thấp càng phụ thuộc vào không gian bậc cao, nên chúng ta dễ biết cái gì gọi là “vô vi nhi vi, vạn vật tự quy”. Bởi lẽ, ở không gian 3D, sự cố gắng, chủ động của sinh linh có khi chỉ chiếm khoảng 20% kết quả trả về, bởi 80% còn lại đã được quyết định ở các không gian bậc cao. Vì 80% còn lại đó quá mơ hồ cho lý trí thông thường nên người ta thường cho đó là số mệnh. Huyền học địa cầu nâng cấp rất nhanh trong giai đoạn gần đây, thuật ngữ “Higher self” là một thuật ngữ xuất sắc để giải thích cho tình huống này. Có thể nói lại rằng, 80% kết quả trả về cho công việc của một người ở không gian 3D là do các “Higher self” của họ thực hiện ở các không gian lớn hơn 3D, còn 20% còn lại là do họ thực hiện ở không gian 3D. Dĩ nhiên, “Higher self” của người càng cao thì tỷ lệ hoàn thành công việc ở không gian bậc cao càng cao; còn đối với các “Higher self” bị “cầm tù” và mất khả năng cảm ứng “Higher self” thì con số lại khác. Vất vả với nợ nghiệp mình tạo ra, vòng luân hồi của những người có “Higher self” bị cầm tù họ thật là đằng đẵng.

Nói đến đây chúng ta đã vấp khái “số mệnh” thường biết. Vậy liệu rằng số mệnh có tồn tại không, vì chúng ta đã có các bề trên, có sự nâng đỡ, tại sao lại phải chịu khổ chịu cực đủ thể loại…?

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 11. Số Mệnh

KỲ 11. SỐ MỆNH

Ở các kỳ trước, chúng ta đã bàn về Thiên đạo, Thiên luật và Thiên cơ. Một sinh linh khi đi đầu thai, dưới quy định của thiên luật, các vị Thiên sứ chấp sự sẽ sắp đặt cho sinh linh mang sứ mệnh, trả quả, chịu khổ hình hoặc hưởng phúc… bằng cách xem xét sự tác động của Thiên đạo để tính toán cho “số mệnh” của sinh linh đó. Hay nói cách khác, các vị Thiên sứ sẽ tính toán giờ sinh, nơi sinh, sắp đặt một vài tình tiết nhân quả cho sinh linh sao cho tuân thủ Thiên đạo, phù hợp với Thiên cơ. Quy luật vận hành của các vì tinh tú ảnh hưởng đến số mệnh của sinh linh là Thiên đạo; tính toán lựa chọn và tác động nhân quả cho sinh linh sao cho phù hợp với Thiên đạo là nhiệm vụ của Thiên sứ thực hiện theo Thiên luật. Sinh linh đầu thai phải trả nhân quả là Thiên đạo, sinh linh quên chuyện tiền kiếp là Thiên luật, sinh linh tu học sao cho tinh tấn hiệu quả thì nên nương vào Thiên cơ.

Vì thế, nếu sinh linh sinh ra mà hoàn toàn không có ký ức về tiền kiếp, điều đó chứng tỏ sinh linh đó nằm trong quản sự của Thiên luật. Nói điều này để nhắc rằng, những đạo hữu tu đạo chưa hình dung được sự vận hành của Thiên đạo, Thiên luật thì chớ nên cho rằng đạo hạnh, pháp lực là do mình tự có, do mình tự đắc chứ không có bề trên, không có Đấng Sáng Tạo nào cả. Trường hợp sinh linh sinh ra mà ký ức tiền kiếp hoàn toàn không mất, vậy thì Thiên sứ nào đó đã để sai sót phận sự, hoặc sinh linh đó là một tồn tại mà Thiên đình sẽ phải tìm kiếm.

Phương đông nói uống canh Mạnh Bà trước khi đầu thai, phương tây cũng có nói về Thiên sứ cho thuộc uống để sinh linh quên ký ức. Những mẫu chuyện đó nhằm để mô tả sự vận hành của Thiên luật.

Vì sao Thiên luật lại kỳ quái như vậy, bắt người ta quên ký ức của mình? Xin thưa, đó là vì hiệu quả của việc tu học. Đối với con người ký ức nhân duyên một kiếp thật sự là quý giá, nhưng đối với linh hồn đó lại là một sự trở ngại. Cho nên tốt nhất là làm cho linh hồn quên đi. Việc quên đi ký ức gây ra trở ngại khá là lớn cho linh hồn vì mất đi sự tương liên của quá trình tu luyện. Trong điều kiện khó khăn, sinh linh vẫn có niềm tin tưởng ở tâm linh, tin tưởng vào Đấng Sáng Tạo mà tự mình tinh tấn, đó chính là mong muốn của Đức Thượng Đế. Trong quá trình học tập, các sinh linh mạnh dần lên và tới một ngày, họ nhớ lại được tiền kiếp, thấy được sự vận hành của các không gian bậc cao và dự cảm được tương lai, cao hơn là kết nối được với các kho tri thức, năng lượng của Vũ trụ từ đó giúp đỡ các sinh linh khác đang còn mãi miết chìm trong mờ mịt, khổ đau ngay tại không gian mình đang hiện hữu.

Quay lại nói về chuyện trả quả, hay cụ thể hơn là quả khổ. Các vị Thiên sứ căn cứ tinh thần lực của sinh linh để tính toán xem một kiếp nhân sinh thì sinh linh có khả năng trả quả được nhiều ít. Nó giống như quý vị nợ ngân hàng, thu nhập hàng tháng của quý vị tốt thì phương án trả nhiều hàng tháng là có thể, còn ngược lại, thu nhập không tốt thì phải trả chầm chậm thôi. Vì thế, cuộc đời của quý vị đang diễn ra ba chìm bảy nổi thì hãy hiểu rằng: thứ nhất, quý vị mắc nợ thật nhiều nên phải trả nhiều; thứ hai, quý vị là người có năng lực nên mới có khả năng trả nhiều nợ như vậy trong một kiếp nhân sinh. Vậy hãy ngừng oán thán số mệnh cực khổ của mình, và thay bằng thái độ biết ơn bề trên đã kiến tạo cho bạn cuộc sống mà ở đó, cơ hội tiến hóa của bạn đang là cao nhất có thể.

Vậy thì, nhân quả quyết định số mệnh là Thiên đạo; cải hóa nhân sinh, tạo điều kiện tu tập tốt nhất có thể thuận theo số mệnh là Thiên luật; thuận nhân duyên tu tập tinh tấn hiệu quả, “lái thuyền” số mệnh phải biết nương vào Thiên cơ.

Đời người, không gì quý hơn tu học tinh tấn.

Vũ Trụ Diễn Sinh: Kỳ 12. Lặng Ngắm Thiên Cơ, Đợi Ngày Chuyển Thế

KỲ 12. LẶNG NGẮM THIÊN CƠ, ĐỢI NGÀY CHUYỂN THẾ

Một vị chân sư dạy rằng, đã chín tỷ năm, đến nay con thuyền nhân quả cập bến cho một lần đại ân xá. Vì thế, Hội Long Hoa đợt này thật đặc sắc vô cùng so với những Hội Long Hoa trước đó.

Một chu trình tiến hóa cho chúng linh tu học trải qua 3 kỳ, Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên đang dần kéo lên tấm màn kết cuộc. Chúng linh rồi sẽ sớm biết mình đang ở nấc thang nào của hành trình tiến hóa tâm linh.

Trong suốt lịch sử của loài người, lần theo truyền kỳ của huyền môn của phương đông, ta đã biết qua hai đợt phong thần: Đợt thứ nhất xảy ra vào kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế, kỳ đó văn tự chưa có tính phổ quát nên con người không được lưu lại bằng tác phẩm văn học, chỉ còn truyền thuyết mà thôi. Đợt thứ hai xảy ra vào thời Võ Vương phạt Trụ. Tác phẩm Phong thần diễn nghĩa thi vị hóa câu chuyện, đưa ra thật nhiều thông tin mà giới tu chân vẫn thường tra cứu, khảo nghiệm.

Và kỳ Long Hoa Hội này là đợt phong thần thứ 3. Chúng ta sẽ có những danh vị thần tiên mới, có thoái vị, có quy vị, có thăng cấp… Thật là sôi nổi đó mà.

Rồi sau đó, vào Kỷ nguyên mới chúng ta sẽ có gì hay?

Câu trả lời là có rất nhiều thứ hay, ta hãy vụn vặt kể đến một vài thứ:

- Tuổi thọ tăng lên: Khi linh hồn hạ nhập không gian hữu hình, linh hồn phải “khoác áo” ánh sáng và năng lượng tương ứng, được cấp nguyên khí để tồn tại. Nguyên khí là đại lượng bị hao mòn bởi lực bài xích không gian. Ở kỷ nguyên mới, lực không gian hội tụ mạnh nên nguyên khí có tốc độ hao mòn thấp và từ đó tuổi thọ của con người tăng lên. Sách sử có ghi lại rằng ông Bành Tổ thọ 800 tuổi, thời đại Hùng Vương tuổi thọ thường đạt trên 100 tuổi. Đứng ở kiến giải bằng không gian lực, việc này dễ hiểu là vậy. Tuổi thọ tăng, cơ hội tu học tiến hóa của con người sẽ tốt hơn rất nhiều.

- Các trường học pháp thuật sẽ xuất hiện và phổ biến: Bởi không gian 3D và không gian bậc cao được kéo lại gần nhau, việc sử dụng vật chất nhẹ của không gian bậc cao tại không gian bậc thấp hơn sẽ trở nên dễ dàng hơn. Khả năng vận dụng tinh thần lực của linh hồn cũng trở nên dễ dàng hơn. Do đó, quyền năng của tâm linh sẽ dễ phát huy hơn so với thời đại ngày nay. Điều này cũng đã được an bài để dễ hình dung. Con người hiện đại đã có những dự cảm về việc đó qua các tác phẩm như Harry Porter, các bộ tiên hiệp của Trung Quốc...

- Mức năng lượng tích cực của Mẹ Trái Đất nâng cao, cái xấu ô trược dễ dàng bị đẩy xa. Cái gọi là “hồng trần” khiến loài người chịu khổ chịu sầu bao lâu nay sẽ được giảm bớt rất nhiều trong xã hội loài người mới, nhiều vùng đất không có. Bởi vì Địa cầu đã được tiếp cận lên cấp không gian cao hơn với ánh sáng đón nhận cao cấp hơn “hồng trần quang”. Hơn nữa, một số nơi trên bề mặt địa cầu còn là cõi thần tiên tại thế, những nơi mật độ linh khí đậm đặc. Sấm truyền đã nói nhiều về vùng đất Bảy Núi với Thiên Cấm Sơn là trung tâm sẽ là nơi tề tựu người hiền. Trong số họ, 108 vị chấp chưởng quản sự cõi thần tiên tại thế cũng được rõ ràng dần thân phận. Dĩ nhiên, “lý lịch” của họ không phải là thông tin phổ quát.

- Khoa học và huyền môn được xích lại gần nhau. Con người sẽ được thụ hưởng các sản phẩm ứng dụng tiện ích chưa từng có. Các sản phẩm giao thoa giữa công nghệ và pháp thuật sẽ giúp cuộc sống của con người an nhàn hơn, đặng để họ có thời gian hướng nội, tìm kiếm sự tiến bộ, thăng hoa cho linh thể của mình.

Và còn phong phú hơn nữa…

Nhiều, rất nhiều linh hồn đang cảm ứng tốt và quay về tìm lấy chính mình. Trong số họ, có không ít người trung thành với con đường đạo học, các đệ tử huyền môn đều đã đón nhận thông điệp của Vũ trụ linh thiêng: Lặng ngắm Thiên cơ, đợi ngày chuyển thế!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

58 dân tộc người ngoài hành tinh đã từng ghé thăm trái đất

Có tới 58 chủng người ngoài hành tinh đã từng thăm trái đất chúng ta. Trong số này 5 chủng ôn hòa lập 1 liên minh bảo vệ trái đất khỏi các chủng khát máu khác, và đã hoặc đang liên hệ với 5 nước lớn trong HĐBA LHQ; có 1 số chủng đang ở trái đất. cụ thể:


1-Allgruulk(thợ xây)
: tuổi thọ tb: ~205;, lần cuối thấy tại TOKYO-Nhật năm 2005.


2-Killy-tokurt:khả năng hóa thân giống người nhưng không đổi được màu mắt và kích thước, cao 2m, tuổi tb:200, đã từng bắt cóc con người. Lần cuối thấy t7-2008.


3-Pleyadiyans: có khả năng ngoại cảm phát triển, cao >2m.



4-Kyllimir – auk: khả năng ngụy trang cấp cao, lần cuối nhìn thấy trên trái đất t11-1989.



5-Kurs
: có sự liên quan tới sự sinh ra của con người



6-Hav-hannuae-kondras: thường xuyên bắt cóc và giết hại con người, có liên quan tới ma cà rồng. lần cuối thấy trên trái đất là năm 1996


7-Mazarek: rất hung bạo, tàn ác, chuyên đi cướp bóc man rợ, cao 1m6, lần cuối thấy vào năm 1996.


8-Al-gruualix: cao khoảng 2m, sống tới 230 năm, có 8 giới tính khác nhau, lần cuối thấy t12-2004


9-The Messengers(sứ giả truyền tin):chu kỳ viếng thăm mỗi 300, kỳ kế tiếp bắt đầu bất kỳ lúc nào từ bây giờ. họ lưu thông tin trên những mẫu đá bằng hình vẽ và ẩn mình, không bao giờ giao tiếp với loài người. không có hình ảnh chính xác.

10-Ramay: chủng tộc ôn hòa, có quan hệ ngoại giao với loài người, là chủng tộc xây dựng nền văn mình maya và rời Trái đất lúc nền văn minh maya phát triển nhất. Họ có nền khoa học kỹ thuật rất phát triển. lần cuối thấy vào năm 2001.


11-Moovianthan-kayphik: họ đã từng 2 lần tiếp xúc với 2 đời tổng thống Mỹ và Liên Xô cũ, và bây giờ là tổng thống Nga và lãnh đạo cấp cao khác. Họ trao đổi công nghệ để được bắt cóc con người và sinh vật làm thí nghiệm.


12-Rak: là chủng ít ghé thăm Trái đất nhất vì không thích hợp với quần thể cây cối – sinh vật ở đây. Là chủng khơi nguồn niềm tin vào các vị thần tại Ả Rập. Họ cư ngụ tại chiều không gian phía sau chiều không gian của vũ trụ. Lần cuối nhìn thấy là năm.


13-The Invisibales: gần như vô hình trước radar và mắt thường. Đôi khi có thể phát hiện hợ ở gần bằng những đặc điểm: có mùi thơm nhẹ, hình ảnh phản chiếu bị nhòe-mờ, chó-mèo tự nhiên sủa-kêu vô cớ là khả năng họ đang ở gần. Không có hình ảnh chính xác

14-Allmahuluk-Strat-163: có công nghệ rất phát triển, phi thuyền họ tàng hình trước radar và mắt thường, lần cuối phát hiện được t5-2005 tại Bồ Đào Nha.


15-Ainanna: Có căn cứ ẩn trên sao hỏa, thường được gọi là ma sừng, lần phát hiện đầu tiên tại Nhật bản vào 1200 sau công nguyên. Không có hình ảnh.

16-Indugutk(Tall white): Có căn cứ trên mặt trăng để khai thác khoáng sản, chưa rõ là loài gì. Đã liên hệ với các nước Mỹ,Nga,Trung quốc và có khả năng hóa thân, ngụy trang như con người rất hoàn hảo trong bộ trang phục giống phim Men in Black để bảo vệ da của họ khỏi tổn thương dưới ánh nắng.


17-Killimat-arr(k-arr): thường xuất hiện tại vùng tam giác quỷ Bermuda, không biết mục đích ghé Trái đất là gì.


18-2017:Liên lạc với Liên Xô 1 lần duy nhất vào năm 1935, dáng người cao, tóc vàng, có mùi thơm như hoa, khoảng cách từ Trái đất đến họ tới 13,5 tỷ năm ánh sáng. Không có hình ảnh chính xác

19-El-Manouk: Họ nằm trong nhóm 5 chủng tộc ôn hòa bảo vệ loài người, là chủng tạo ra câu nói:”5 vũ trụ, 2500 giống loài,1 chủng tộc”. 5 chủng tộc gặp nhau trên trái đất vào cuối năm 2013 do Trái đất càng ngày có quá nhiều chủng tộc ngoại lai không xác định rõ đến thăm Trái đất.


20-Jihantik: đã liên hệ với con người nhưng không phải các nước lớn. có bản năng tự nhiên hung hãn.


21-Jefok: là sứ giả mang hòa bình, đã từng gặp tổng thống Jonh Kenedy trước 3 tuần trước khi ông bị ám sát. Có công nghệ rất phát triển.


22-Dorsay: có tuổi đời ít nhất là 4 tỉ năm, chiều cao khoảng 0,5m, thức ăn là các chủng tộc khác, kể cả con người. Họ đang có chiến tranh với các chủng khác khoảng 2 tỉ năm.


23-Magell: là chủng tộc sống về đêm 100%, được biết là chủng nhút nhát nhất, không tiếp xúc với con người, thức ăn là côn trùng và các loài gặm nhấm, sống tại Nam Mỹ và bị quân đội Brazil nhốt ít nhất 3 người trong 12 năm. Không biết mục đích họ là gì


24-Akart: phi thuyền họ bị rơi ngoài khơi Brazil, Mỹ đã bỏ ra số tiền rất lớn để mua lại và hiện đang bắt giữ 2 phi hành đoàn. Phi thuyền họ là loại nhanh nhất trong các loại của người ngoài hành tinh.


25-Maitre:Là chủng tộc được gọi là ký sinh, chiều cao ngang con người, mục đích muốn biến Trái đất thành thuộc địa của chúng nhưng bị sự truy cản từ nhóm 5 chủng ôn hòa bảo vệ Trái Đất. đã từng là thành viên nhóm này


26-Dries: đã bắt cóc khoảng 502 người cả nam và nữ nhằm mục đích tái sinh sản. Chúng có 2 Hành tinh tương dương Trái đất và có kế hoạch gặp con người vào 2022.


27-Lang: là chủng tộc đầu tiên viếng thăm Trái đất, tạo nên thần thoại về các nàng tiên.


28-Smad: Theo các chủng tộc khác thì họ xếp vào hạng yếu đuối, có chỉ 6 phi thuyền, rất quan tâm tới tôn giáo của chúng ta. Không có hình ảnh chính xác.

29-Tengri-Tengri: họ sống không cần nước hay bầu khí quyển thích hợp. có 1 phi thuyền sức chứa khoảng 5 triệu người, đã từng thiết lập quan hệ với loài người.


30-Graysli: Chiều cao ngang con người, không tóc, ghé thăm trái đất đầu tiên vào thời Pharaon khoảng 3000 năm trước, ở lại trong 10 năm. Các kim tự tháp được xây lên để tưởng nhớ tới họ, họ quan sát – theo dõi – chăm nom con người trong 200 năm liền, mỗi lần ghé thăm thường đi chung 6 phi thuyền.


31-Anunakene(anunnaki): đến từ hành tinh Nibiru , là hành tinh bí ẩn nhất nằm trong hệ Mặt trời, quỹ đạo của nó phải mất 4000 năm mới gặp mặt trời. Có hình dáng tương tự loài người chúng ta nhưng cao to hơn(2,5m). Khi họ tới đã có rất nhiều chủng tộc khác sinh sống và rất hung bạo. Họ đã đánh bại tất cả trở thành chủng tộc hùng mạnh nhấtHọ chính là chủng loài tạo nên các sinh vật thông minh khác kể cả con người để biến thành nô lệ. Họ rời đi mà không rõ nguyên nhân. Sinh vật họ tạo cuối cùng là các Pharaoh cai trị Ai Cập thời đó.


32-Afim: vóc người nhỏ hơn con người, người xanh,sống không cần oxi,vô hình với loài người, xuống Trái đất để nghiên cứu nguyên nhân sự phát triển của loài người.


33-Solipsi rai: là chủng tộc ôn hòa và hiền lành, nền văn minh 2 tỉ năm nhưng không dễ bị bắt nạt. Họ chuyên nghiên cứu các chủng tộc khác


34-Puxmity: là chủng người rất cao(4m), đã có thời gần 2000 người sống chung với con người. khi họ rời trái đất để lại 25 người tiếp tục ở nhưng bị con người giết hại. Nguyên nhân là bí mật.


35-Xs-tykut: Sống bất tử vì không cấu tạo từ hữu cơ.


36-Tanzany: Theo chủng khác nhận xét chúng là chủng tộc gây ra các thảm họa họa chết người vì nghiên cứu của chúng. Titanic nằm trong số đó.


37-Airk.


38.Vinnytvary: ăn chay, có năng lực siêu nhiên.


39-Strom.


40-Kalenia:ăn chay


41-Mythilae.


42-Reptilians: có khả năng du hành các cõi giới, là loài rất nguy hiểm. ở Trái đất vĩnh viễn.


43-Alcohbata: chủng tộc hiếu chiến.



44-Negumak(Gnomopo):là chủng tộc nguy hiểm, khả năng thôi miên, ảnh hưởng sự tồn vong của con người.


45-Zetareticulai: là những người đại diện cho Anunakene trên trái đất. là chủng người lai của Anunakene, là những thầy tu tế và Pharaoh thời đó. thu thập thông tin về con người 25 lần/năm.


46-Tarice.


47-Puritav-illumu.không có hình ảnh cụ thể.


48-X-izkhông có hình ảnh cụ thể.


49-Caravelde: là chủng tộc nguye hiểm với con người.


50-Elffaf.


51-Matrax: hiền lành ôn hòa


52-Tisar-3: giống con người vài nét. bị Mỹ bắt giữ.


53-Ellina-(Elves).


54-Chulkae: không rõ nguồn gốc, sống dưới lòng đất.


55-Hội đồng liên minh 5 thành viên: rất ít thông tin.


Tham khảo từ youtube impossible, mọi thông tin chỉ tham khảo vui vẻ, tin hay không tùy quí vị.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS