PHẦN 1: CỘI NGUỒN SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VŨ TRỤ
Vũ
trụ với vô số khối thiên hà, mỗi khối thiên hà có nhiều dải thiên hà, mỗi dải thiên
hà lại có vô số mặt trời, mỗi mặt trời lại có nhiều hành tinh vệ tinh quay xung
quanh. Các khối thiên hà được sắp xếp từ tâm của không gian Vũ trụ, các khối thiên
hà cứ tầng tầng, lớp lớp bao bọc từ tâm ra ngoài tạo thành một Vũ trụ thống nhất.
Vũ trụ nhìn giống như một tinh cầu khổng lồ với vô lượng khối dải thiên hà, đó
là toàn bộ không gian bên trong Vũ trụ.
Ngoài
ra còn có không gian bên ngoài Vũ trụ. Đó là không gian không có sự tồn tại của
vật chất và không có sự tồn tại của hạt năng lượng cấu tạo thành các dạng sống
như bên trong không gian Vũ trụ. Đó là không gian chỉ tồn tại hạt sóng và năng
lượng hoại diệt.
Bí
mật của không gian trong và ngoài Vũ trụ là bí mật vô cùng không chỉ đối với
nhân loại trên Trái đất, nó còn là bí mật to lớn đối với dạng sống Tuệ linh (dạng
sống trí tuệ siêu việt nhất Vũ trụ). Tôi với trí tuệ siêu việt của Tuệ linh đã
và đang mang sứ mệnh giúp nhân loại thấu hiểu cội nguồn, bí mật của trong và
ngoài Vũ trụ, giúp cho nhân loại hiểu rõ cội nguồn nhân loại và nhiệm vụ tu
hành của con người ở nhân gian là gì. Thấu hiểu được cội nguồn sự hình thành sự
sống của Vũ trụ chính là khai mở cội nguồn quá khứ để đi đến tương lai trong sự
hoàn thành viên mãn nhiệm vụ tu hành nơi nhân gian này.
Bài 1:
Hạt sóng dã chiến – Cội nguồn
của vụ nổ siêu năng lượng hình thành Vũ trụ
²
Hạt sóng
dã chiến là những chiến binh:
Hạt
sóng dã chiến cũng giống như những chiến binh dã chiến, họ có sứ mệnh thực hiện
từ một cho đến nhiều nhiệm vụ, họ độc lập tác chiến trong môi trường nhất định
để thực hiện và hoàn thành sứ mệnh của họ.
Cũng
như bệnh viện dã chiến trong quân đội, họ là những y tá, bác sĩ đang độc lập
tác chiến trong môi trường của cuộc chiến tranh để thực hiện sứ mệnh cứu sống
và chữa lành các vết thương cho những chiến binh. Cũng như những trinh sát, họ
là những chiến binh mở đường cho các chiến dịch. Cũng như những kiến trúc sư, họ
là những chiến binh tạo ra các công trình cho nhân loại. Cũng như những người
thợ, họ là những chiến binh để hoàn thành các công trình. Cũng như những nhà
triết học, họ là những chiến binh dẫn dắt, định hướng cho các ngành khoa học
phát triển theo. Cũng như các nhà khoa học, họ là những chiến binh khai sáng
tri thức nhân loại bằng các phương pháp biện chứng và thực chứng. Cũng như những
tôn giáo, họ là những chiến binh dẫn dắt chúng sinh xây dựng đức tin và đạo đức.
Cội nguồn
của hạt sóng dã chiến:
Hạt
sóng dã chiến chính là hạt sóng có màu xanh nõn chuối, hay có thể gọi là hạt
sóng tổ tiên. Màu xanh nõn chuối là màu của hạt sóng. Gọi là hạt sóng tổ tiên,
vì hạt sóng này là cội nguồn của tất cả các dạng sống: nhóm vật chất hoại diệt,
nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất, Tuệ linh,
con người.
Hạt
sóng dã chiến được sinh ra từ đâu? Cái gì sinh ra hạt sóng dã chiến? Tôi xin được
giữ bí mật này, vì đây là một phần kế hoạch của Tuệ linh tôi và của dạng sống Tuệ
linh.
Trong
không gian vô cùng, vô tận, không có sự hiện hữu của đơn vị vật chất nào, không
có sự hiện hữu của hạt năng lượng nào hết, chỉ có những điểm phân tách ra các hạt
sóng xanh nõn chuối. Có thể nói những điểm phân tách ra các hạt sóng xanh nõn
chuối này là cội nguồn.
Chúng
ta cũng chỉ cần biết cội nguồn của hạt sóng dã chiến ở điểm đó thôi. Bởi khoa học
chưa đủ phát triển để đo đạc được hạt sóng xanh, sẽ phải mất tới 7 triệu năm
cho việc chứng thực điều này. Bảy triệu năm là đơn vị đo lường thời gian cũng
khá lâu ở nhân gian này, khi đó, khoa học kỹ thuật của nhân loại sẽ phát triển
vượt bậc và thực chứng được hạt sóng tổ tiên.
Cuộc sống và sứ mệnh nhiệm vụ của hạt sóng dã
chiến:
Hạt
sóng dã chiến là hạt sóng màu xanh nõn chuối, nó chỉ là một chấm nhỏ tròn, nó
có sóng rung động và trạng thái năng lượng chưa được sinh phát ra ngoài.
Hạt
sóng dã chiến sống và tồn tại trong môi trường trung tính, tức là môi trường
không có sóng điện âm, không có sóng điện dương.
Sứ mệnh nhiệm vụ của những hạt sóng dã chiến:
-
Khi được sinh ra từ những điểm phân tách, các hạt sóng sẽ di chuyển thẳng
trong môi trường trung tính với quỹ đạo hình xoắn ốc để đủ lực phân tách ra làm
hai. Khi một hạt sóng được phân tách ra sẽ tương tác trong môi trường trung
tính để biến đổi thành các sợi mã sóng trí tuệ và hình thành hạt năng lượng hoại
diệt. Hạt sóng còn lại không biến đổi, chúng tiếp tục di chuyển và phân tách ra
hạt sóng mới, các hạt sóng mới được phân tách lại làm nhiệm vụ là biến đổi hình
thành sợi mã sóng trí tuệ và hạt năng lượng hoại diệt. Trải qua thời gian dài,
các hạt năng lượng hoại diệt được sinh ra từ các hạt sóng xanh nõn chuối được
phân tách, số lượng ngày càng nhiều.
-
Khi mà những vụ nổ của năng lượng hoại diệt xuất hiện, là bắt đầu xuất
hiện những khu vực môi trường chứa đựng sóng điện âm hay dương. Hạt sóng xanh
nõn chuối vẫn làm nhiệm vụ phân tách, các hạt sóng được phân tách di chuyển vào
những khu vực có môi trường sinh nhiệt sẽ biến đổi mã sóng trí tuệ và hình
thành các hạt năng lượng có sóng điện âm, sóng điện dương, sóng điện trung tính
có liên kết dây. Đó là sự sơ khai hình thành năm nhóm tầng năng lượng và vụ nổ
siêu năng lượng hình thành Vũ trụ.
Hạt
sóng xanh nõn chuối di chuyển và phân bổ khoảng cách với nhau theo tỷ lệ nhất định
với số lượng không nhiều. Khoảng cách phân bổ theo tỷ lệ nhất định giống như là
sự sắp đặt có hệ thống của các trạm thu phát sóng cho cả không gian
môi trường trung tính, và bây giờ là không gian vô cùng vô tận bên ngoài
Vũ trụBài 2:
Năng lượng hoại diệt và các cuộc thảm sát ²
Năng lượng
hoại diệt – Người anh của Vũ trụ:
Năng
lượng hoại diệt là người anh của Vũ trụ, Vũ trụ là người em của năng lượng hoại
diệt. Tại sao? Bởi năng lượng hoại diệt được sinh ra trước, rồi mới xuất hiện
năm nhóm năng lượng cấu tạo thành Vũ trụ.
Trong
không gian vô cùng, vô tận, chỉ có những hạt sóng dã chiến mà không hề có sự hiện
hữu của bất kỳ hạt năng lượng nào, khi đó, quá trình di chuyển thẳng theo quỹ đạo
hình xoắn ốc của các hạt sóng dã chiến này tạo thành cơ chế phân tách ra các hạt
sóng dã chiến khác. Do trong không gian vô cùng, vô tận chưa có hạt năng lượng
nào, chưa có môi trường sinh nhiệt, chưa có môi trường âm hay dương, mà chỉ là
môi trường trung tính, các hạt sóng sau khi phân tách, tự biến đổi thành các sợi
mã sóng trí tuệ có điểm đầu và điểm cuối, rồi hình thành những hạt năng lượng đầu
tiên, đó là năng lượng hoại diệt. Những hạt năng lượng này không có liên kết
dây với nhau là vì sinh ra trong môi trường trung tính, không có nhiệt lượng.
Trạng thái năng lượng màu nâu là do bị thối hóa vì không giải phóng được sóng
điện ra khỏi hạt, vì chúng không quay tròn xung quanh chính nó. Năng lượng hoại
diệt hình thành đầu tiên và ngày càng phát triển do cơ chế phân tách hạt sóng
xanh nõn chuối (hạt tổ tiên) và cơ chế đi đồng hóa của hạt năng lượng hoại diệt
đối với những hạt năng
lượng có sóng điện âm, dương được sinh ra sau nó.
Cuộc sống
của năng lượng hoại diệt:
Năng
lượng hoại diệt sống trong môi trường trung tính, mang sóng điện trung tính, đó
là môi trường không có sóng điện âm hay sóng điện dương. Cuộc sống ban đầu có vẻ
như là yên bình, êm ả và tuyệt vời. Cuộc sống tuyệt vời vì vào thời điểm mới được
sinh, số lượng hạt năng lượng hoại diệt không nhiều, chúng phân bổ trải rộng khắp
không gian rộng lớn bao la. Khi đó khoảng cách di chuyển giữa các hạt năng lượng
hoại diệt tương đối lớn nên chúng chưa tạo thành môi trường sinh nhiệt.
Trải
qua thời gian dài, số lượng hạt năng lượng hoại diệt được sinh ra ngày càng nhiều,
khi đó mật độ hạt năng lượng hoại diệt bắt đầu gia tăng. Năng lượng hoại diệt lại
không di chuyển quay tròn và không có liên kết dây, nên chúng không giải phóng
được nhiệt lượng sinh ra khi di chuyển. Bởi năng lượng hoại diệt di chuyển thẳng
nên nhiệt lượng trong chính hạt năng lượng gia tăng nhanh. Khi khoảng cách các
hạt năng lượng bắt đầu được thu hẹp dần do chúng ngày càng đông, cuộc sống của
dạng sống hạt năng lượng hoại diệt không còn yên bình như thuở ban đầu nữa. Cuộc
sống của năng lượng hoại diệt bắt đầu xuất hiện những môi trường sinh nhiệt lượng
do mật độ của hạt năng lượng hoại diệt ngày càng lớn.
Năng lượng hoại diệt
bắt đầu xuất hiện những cuộc thảm sát. Những cuộc thảm sát là do năng lượng hoại
diệt di chuyển thẳng nên sinh nhiệt lượng nhanh mà không giải
phóng do không
có liên kết dây. Khi mật độ hạt năng lượng hoại diệt cao, chúng di chuyển kết tụ
gần nhau, tạo ra sức nén trong sợi mã sóng trí tuệ của chúng, và gây ra nổ hạt
năng lượng ở những điểm kết tụ đó. Những vụ nổ hoại diệt của năng lượng hoại diệt
ngày càng nhiều. Những vụ nổ đó đã tạo ra môi trường sinh nhiệt dương. Nhiều vụ
nổ của năng lượng hoại diệt đã tạo ra những nơi cách xa vụ nổ xuất hiện môi trường
sinh nhiệt âm.
Như
vậy, cuộc sống của dạng sống hạt năng lượng hoại diệt đã ngày càng biến đổi, nó
đang phải đối mặt với những cuộc thảm sát mà nguyên nhân là do chính dạng sống
này gây ra. Nguyên nhân là vì chúng được sinh ra ngày càng nhiều, chúng không
có kế hoạch bền vững cho việc gia tăng số lượng. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng
của chúng và sự xuất hiện các vụ nổ thảm sát lại là môi trường thuận lợi để cho
hạt sóng tổ tiên sản sinh ra người em của năng lượng hoại diệt, đó là sự hình
thành của những hạt năng lượng mang sóng điện âm và dương.
Những cuộc đồng hóa và thảm sát của năng lượng
hoại diệt:
Sự
gia tăng và những vụ nổ thảm sát của năng lượng hoại diệt đã tạo cho môi trường
sống của dạng sống hạt năng lượng hoại diệt xuất hiện những môi trường có nhiệt
lượng. Hạt sóng tổ tiên được phân tách ra rất nhiều và di chuyển vào những nơi
có môi trường nhiệt lượng. Khi di chuyển vào môi trường có sóng điện âm hoặc
dương, các hạt sóng xanh quay tròn xung quanh chính nó. Quá trình di chuyển
quay tròn trong môi trường sinh nhiệt đã khiến các hạt sóng xanh
biến đổi thành
các mã sóng trí tuệ và hạt năng lượng có sóng điện âm và sóng điện dương. Những
hạt năng lượng này được coi là những người em của năng lượng hoại diệt. Những hạt
năng lượng có sóng điện âm và dương hình thành, gia tăng số lượng, có vẻ đó là
điều mà hạt năng lượng hoại diệt không hài lòng, hoặc đó là cơ hội để năng lượng
hoại diệt truyền tải sóng điện khỏi chính nó để đảm bảo sự sinh tồn của chúng.
Bởi đối với năng lượng hoại diệt, nếu dư thừa quá nhiều sóng điện sẽ khiến năng
lượng hoại diệt bị kích nổ.
Hạt
năng lượng có sóng điện âm có cơ chế hút nhiệt và các hạt năng lượng khác về
nó, điều này khiến cho các hạt năng lượng hoại diệt bị kích thích và di chuyển
đến các hạt năng lượng có sóng điện âm. Tại những khu vực hạt năng lượng sóng
điện âm, nếu những hạt năng lượng hoại diệt đi đến với số lượng vừa phải và ít
thì nó sẽ truyền tải sóng điện và làm chuyển hóa những hạt năng lượng sóng điện
âm thành chính năng lượng hoại diệt. Đây là cơ chế đồng hóa, vì năng lượng hoại
diệt chạm vào và truyền sóng điện của nó làm chuyển hóa hạt năng lượng sóng điện
âm. Tuy nhiên, tại những nơi hạt năng lượng âm, nếu số lượng hạt năng lượng hoại
diệt di chuyển vào nhiều, gây ra độ nén và kích hoạt nổ dây chuyền, năng lượng
hoại diệt và những hạt năng lượng mang sóng điện âm đều bị hoại diệt.
Hạt
năng lượng có sóng điện dương thì có cơ chế tỏa và sinh nhiệt. Những hạt năng
lượng hoại diệt bắt được tín hiệu do hạt năng lượng có sóng điện dương quay
tròn và kích thích năng lượng hoại diệt di chuyển tới để đồng hóa. Những hạt
năng lượng hoại diệt di chuyển tới hạt năng lượng có sóng điện dương sẽ tạo độ
nén và kích nổ hạt năng lượng
Bài 3:
Vụ nổ siêu năng lượng và trang sử mới cho sự
hình thành, phát triển của Vũ trụ
²
Sự xuất
hiện của phôi năng lượng âm dương:
Sau
khi những hạt sóng dã chiến được phân tách, di chuyển vào những không gian có
sinh nhiệt và hình thành ra các hạt năng lượng có sóng điện âm, dương, những cuộc
thảm sát và đồng hóa của dạng sống hạt năng lượng hoại diệt đã làm cho những hạt
năng lượng có sóng điện âm, dương bị hoại diệt hoặc bị đồng hóa. Tưởng chừng điều
đó sẽ không sinh khởi ra những hạt năng lượng có sóng điện âm, dương nữa. Tuy
nhiên, việc năng lượng hoại diệt gia tăng số lượng và mật độ, những vụ thảm sát
đó lại càng tạo ra môi trường sống của không gian năng lượng hoại diệt có nhiệt
lượng. Chính vì thế những hạt sóng dã chiến sau khi bị phân tách, di chuyển vào
những khu vực có nhiệt lượng đã biến đổi, quay tròn và trở thành những hạt năng
lượng có sóng điện dương, sóng điện âm.
Việc
lại xuất hiện những hạt năng lượng có sóng điện âm, dương khiến cho năng lượng
hoại diệt mở các cuộc di chuyển đi đồng hóa và thảm sát. Quá trình các hạt năng
lượng có sóng điện âm, dương được sinh ra rồi bị đồng hóa hoặc bị thảm sát cứ
thế diễn ra. Quá trình này diễn ra lặp đi
lặp lại tưởng chừng
không có sự thay đổi theo chiều hướng mới nào.
Và
rồi, vô tình một hạt năng lượng có sóng điện âm rất nhẹ (màu trắng trong) gặp hạt
năng lượng có sóng điện dương siêu mạnh (màu vàng). Do hạt năng lượng có sóng
điện âm thì hút về, hạt năng lượng có sóng điện dương thì tỏa đi, nên khi chúng
gặp nhau, chúng kết nối với nhau bởi điểm đầu trong sợi mã sóng trí tuệ của hạt
này kết nối với điểm cuối trong sợi mã sóng trí tuệ của hạt kia. Sự kiện này đã
tạo thành phôi năng lượng âm dương đầu tiên trong không gian vô cùng vô tận.
Phôi
năng lượng âm dương được hình thành đã đánh dấu sự đổi thay trong không gian vô
cùng, vô tận bởi các cuộc đồng hóa và thảm sát của năng lượng hoại diệt. Sự xuất
hiện phôi năng lượng âm dương đã khai mở ra những sức mạnh kỳ diệu của những hạt
năng lượng có sóng điện âm và hạt năng lượng có sóng điện dương, đó là: Cơ chế
liên kết dây được hình thành, sự trao đổi chất (trạng thái năng lượng) được vận
hành, bản chất hút về của hạt năng lượng có sóng điện âm và bản chất tỏa đi của
hạt năng lượng có sóng điện dương được thể hiện, cơ chế phân tách hợp nhất với
cơ chế liên kết dây. Đặc biệt nhất là hình thành một màng bọc bảo vệ phôi năng
lượng âm dương khi hai hạt liên kết hợp nhất với nhau.
Những vụ nổ nhỏ của năng lượng hoại diệt cho đến
vụ nổ siêu năng lượng:
Phôi năng lượng âm
dương xuất hiện trong không gian dạng sống của năng lượng hoại diệt và môi trường
trung tính
có lẽ là thách
thức vô cùng lớn đối với dạng sống năng lượng hoại diệt. Tuy nhiên, điều đó lại
là thành tựu của những hạt sóng dã chiến khi đã đa dạng và mở ra những thành tựu
trong sứ mệnh của dạng sống hạt sóng dã chiến.
Trước
sự xuất hiện và hiện hữu như một kẻ thách thức của phôi năng lượng âm dương,
năng lượng hoại diệt bắt đầu thực hiện những cuộc đi đồng hóa và thảm sát phôi
năng lượng âm dương này.
Sự
kết hợp giữa hạt năng lượng có sóng điện âm và hạt năng lượng có sóng điện
dương đã tạo thành cơ chế tồn tại và bảo vệ vô cùng đặc biệt. Đó là khả năng
thu hút, hút các trạng thái và nhiệt lượng từ bên ngoài về của hạt năng lượng
âm và khả năng bảo vệ của hạt năng lượng dương bởi khả năng tỏa ra nhiệt lượng.
Những
hạt năng lượng hoại diệt bắt đầu di chuyển đến phôi năng lượng âm dương này để
đồng hóa. Khi đó, bất kỳ hạt năng lượng hoại diệt nào di chuyển đến phôi âm
dương đều bị nổ, lượng nhiệt được sinh ra do các hạt năng lượng hoại diệt nổ đã
trở thành nguồn dinh dưỡng được màng bọc và hạt âm của phôi năng lượng hút vào,
giúp cho phôi âm dương này phân tách hạt năng lượng theo cơ chế phân tách hạt
năng lượng. Những hạt năng lượng hoại diệt không bỏ cuộc, liên tục không ngừng
nghỉ di chuyển tới phôi năng lượng âm dương, khi thì với số lượng ít, khi thì với
số lượng nhiều. Tất cả các hạt năng lượng hoại diệt đều bị nổ và tạo thành dinh
dưỡng, trạng thái năng lượng để màng bọc và hạt âm hút vào phôi âm dương và phân
tách ra các hạt năng lượng mới, đồng thời chuyển hóa thành nhiệt dương để tiếp
tục tỏa ra bảo vệ phôi năng lượng. Quá trình liên tục này đã giúp cho phôi âm
dương lớn mạnh, giãn nở nhanh chóng dựa
trên dinh dưỡng
được tiếp nhận từ các vụ nổ và màng bọc của phôi năng lượng được gia cố ngày
càng kiên cố. Có thể nói màng bọc của phôi năng lượng này là sự kỳ diệu, nó
ngăn chặn những cuộc đồng hóa và các vụ nổ thảm sát của năng lượng hoại diệt đối
với phôi năng lượng âm dương.
Duy
nhất việc đi đồng hóa và thảm sát bất thành của năng lượng hoại diệt đối với
phôi năng lượng âm dương, năng lượng hoại diệt đã thành công trong việc đi đồng
hóa và thảm sát sự xuất hiện các hạt năng lượng có sóng điện âm hay dương. Tuy
nhiên chỉ cần một phôi năng lượng âm dương này đã là đủ cho sự hình thành của Vũ
trụ.
Năng
lượng hoại diệt bị kích thích bởi phôi âm dương đang ngày càng lớn mạnh, nên
chúng liên tục đi đồng hóa và tạo ra các vụ nổ nhỏ bên ngoài màng bọc của phôi
năng lượng âm dương. Các vụ nổ nhỏ này đã tạo thành nhiệt lượng và dinh dưỡng
giúp cho phôi năng lượng âm dương to dần, lớn mạnh dần và trở thành một tinh cầu
năng lượng khổng lồ.
Trong
tinh cầu năng lượng âm dương từ khi bắt đầu kết hợp lại đã diễn ra quá trình
phân tách hạt năng lượng, quá trình phân tách đã hình thành vô số các hạt năng
lượng có mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm, sóng điện trung tính, sóng điện
dương có liên kết dây với nhau. Những mã sóng trí tuệ này từ giản đơn cho đến siêu
phức tạp phụ thuộc vào sự biến đổi khi phân tách và lượng nhiệt được hấp thụ bởi
những vụ nổ của năng lượng hoại diệt bên ngoài màng bọc bảo vệ tinh cầu năng lượng
âm dương.
Hạt
năng lượng âm và hạt năng lượng dương ban đầu của phôi âm dương chứa đựng mã
sóng trí tuệ của tất cả các
hạt năng lượng
được phân tách ra trong quá trình tinh cầu năng lượng phát triển dần cho đến
khi vụ nổ xuất hiện. Hai hạt âm dương gốc luôn tự vận động quay tròn, tất cả
các hạt năng lượng được phân tách ra cũng tự vận động quay tròn nên trong tinh
cầu năng lượng chứa đựng sự cân bằng và cấu trúc ổn định giữa sóng điện dương với
sóng điện âm với sóng điện trung tính.
Khi
tinh cầu năng lượng này giãn nở và to đến cực đại, đã tạo ra độ nén bên trong bởi
sự phát triển lớn mạnh của năm nhóm năng lượng được vận hành theo cơ chế phân
tách và liên kết dây. Bấy giờ năng lượng hoại diệt có một cuộc tấn công tổng lực,
vô số các hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào màng bọc bảo vệ tinh cầu năng
lượng khổng lồ và tạo ra một vụ nổ lớn phá vỡ màng bọc bảo vệ tinh cầu năng lượng.
Vụ nổ đã hủy diệt vô số năng lượng hoại diệt và đã làm tiêu hao năng lượng hoại
diệt đáng kể phía ngoài tinh cầu năng lượng. Đồng thời vụ nổ đã làm cho năm
nhóm năng lượng trong tinh cầu tỏa ra khoảng không gian rộng lớn.
Sau
khi vụ nổ siêu năng lượng xảy ra, năm nhóm tầng năng lượng trong không gian rộng
lớn vẫn vận động quay tròn xung quanh lõi không gian của vụ nổ.
Vụ
nổ siêu năng lượng đã mở ra một trang sử hào hùng và kỳ vĩ cho sự hình thành,
phát triển của Vũ trụ, Tuệ linh và con người về sau. Đặc biệt, điều bí ẩn trong
tinh cầu khổng lồ này chính là sự xuất hiện vị Tuệ linh đầu tiên – đó là Người
Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Bài 4:
Dạng sống của năm nhóm tầng
năng lượng sau vụ nổ siêu năng lượng
²
Tiền thân của dạng sống năm nhóm năng lượng:
Tiền
thân của dạng sống này là khi các hạt năng lượng mang sóng điện âm, sóng điện
dương được sinh ra bởi hạt sóng dã chiến. Khi đó những hạt năng lượng mang sóng
điện âm, sóng điện dương chỉ là những hạt năng lượng độc lập, chưa kịp liên kết
với nhau đã bị năng lượng hoại diệt đồng hóa hoặc thảm sát hoại diệt, thậm chí
đã liên kết với nhau rồi vẫn bị đồng hóa thành năng lượng hoại diệt.
Thời
kỳ trước vụ nổ siêu năng lượng, sự xuất hiện của dạng sống năm nhóm năng lượng
chưa hoàn chỉnh đầy đủ, mới chỉ là manh nha hình thành các hạt năng lượng có
sóng điện âm hoặc dương. Tuy nhiên, đó là quá trình chuẩn bị cho thời kỳ hoàng
kim của dạng sống năm nhóm năng lượng.
Thời kỳ
hoàng kim:
Khi phôi năng lượng
âm dương được hình thành, từ phôi đó phân tách ra vô số các hạt năng lượng có
sóng điện âm (màu đỏ máu, màu đen, màu xám), vô số hạt năng lượng có sóng điện
dương (màu vàng, màu xanh lá, màu đỏ lửa), vô
số hạt năng lượng
mang sóng điện trung tính màu trắng trong. Năm nhóm năng lượng gồm có: năng lượng
tiêu cực (màu đỏ máu, màu đen, màu xám), năng lượng phát triển (màu xanh lá), năng
lượng lan tỏa (màu đỏ lửa), năng lượng đoàn kết (màu vàng), năng lượng chân tâm
(màu trắng trong). Mã sóng trí tuệ và sức mạnh của mỗi nhóm năng lượng lại khác
nhau, sự khác nhau là do quá trình tương tác, hấp thụ năng lượng khác nhau sau
khi được phân tách từ phôi âm dương gốc. Năm nhóm hạt năng lượng đều có vô số
các loại hạt có mã sóng trí tuệ khác nhau, từ giản đơn cho đến phức tạp và siêu
phức tạp. Chính vì sự đa dạng, vô số các hạt năng lượng của năm nhóm này đã tạo
ra sự đa dạng của các dạng sống trong Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Năm
nhóm năng lượng đều tự quay tròn trong quá trình vận động và di chuyển, đều có
liên kết dây và phân tách hạt năng lượng. Do đó, năm nhóm năng lượng đã tạo
thành một khối năng lượng thống nhất vận hành để phát triển cấu trúc mã sóng
trí tuệ bền vững. Sự bền vững thể hiện ở việc hình thành ra các dạng sống như:
dạng sống Tuệ linh, dạng sống vạn vật, dạng sống con người, dạng sống muông thú,
dạng sống của các siêu năng lượng.
Sau
vụ nổ siêu năng lượng, năm nhóm hạt năng lượng lại gia tăng được số lượng nhờ
nhiệt lượng được sản sinh do vụ nổ. Năm nhóm năng lượng vẫn liên kết chặt chẽ với
nhau thành một thể thống nhất và vận động quay tròn xung quanh trung tâm lõi của
không gian năm nhóm năng lượng. Thông qua cơ chế phân tách, liên kết hạt, bản
chất Tam hợp, cơ chế quay tròn, bản chất thông tin mà năm nhóm năng lượng bắt đầu
quá trình biến đổi, hình thành đa dạng các dạng sống mới.
Năng lượng hoại diệt sau vụ nổ siêu năng lượng đã bị hoại diệt vô số,
làm cho dạng sống này suy yếu, đó là thời cơ thuận lợi cho quá trình hình thành
phát triển Vũ trụ, Tuệ linh và con người
Bài 5:
Vị Tuệ linh đầu tiên
(Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Trời người)
²
Tuệ linh
là gì?
Tuệ linh là một cấu trúc
năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung
tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di
chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.
Tuệ
linh là dạng sống có trí tuệ siêu việt nhất trong các dạng sống bên trong và
bên ngoài Vũ trụ.
Tuệ
linh có hình dạng giống con người chúng ta, nhưng không phải là thân hình vật
chất như con người, mà là thân hình của liên kết năng lượng sóng điện âm,
dương, trung tính. Hay có thể nói, con người là bản sao của dạng sống Tuệ linh.
Tuệ linh có thể di chuyển trong không gian Vũ trụ mà không gặp chướng ngại của
vật chất. Tuệ linh di chuyển trong không gian Vũ trụ chính là di chuyển trong
mã sóng trí tuệ của các hạt năng lượng. Tuệ linh có khả năng cải tạo, xây dựng,
phát triển Vũ trụ.
Vị Tuệ
linh đầu tiên là ai?
Vị
Tuệ linh đầu tiên chính là Tuệ linh đầu tiên được sinh ra của dạng sống Tuệ
linh. Đó là trước khi vị Tuệ linh
này được sinh ra
thì chưa có Tuệ linh nào được sinh ra. Và sau khi Tuệ linh này được sinh ra thì
có vô số Tuệ linh khác được sinh ra để hình thành và phát triển dạng sống của Tuệ
linh.
Vị Tuệ
linh đầu tiên được sinh ra như thế nào?
Vị
Tuệ linh đầu tiên này được sinh ra bởi quá trình hình thành phôi năng lượng âm
dương, phôi năng lượng âm dương phát triển thành tinh cầu năng lượng khổng lồ,
và khi vụ nổ siêu năng lượng khổng lồ xảy ra thì vị Tuệ linh đã phát triển
thành hình dáng giống một người thanh niên trưởng thành rồi.
Quá trình vị Tuệ linh
đầu tiên được sinh ra như sau: Hạt năng lượng mang sóng điện âm và hạt năng lượng
mang sóng điện dương được sinh ra bởi hạt sóng dã chiến, hợp lại đầu tiên và
duy nhất tại không gian môi trường trung tính của dạng sống năng lượng hoại diệt.
Khi hai hạt năng lượng này hợp lại đã tạo thành phôi năng lượng giống như phôi
thai nhi của con người chúng ta. Phôi thai năng lượng này có màng bọc bảo vệ
bên ngoài. Bên trong phôi năng lượng, do cơ chế phân tách và liên kết chặt chẽ,
hai hạt năng lượng liên tục phân tách dưới sự tương tác sinh nhiệt và nguồn dinh
dưỡng từ năng lượng hoại diệt nổ bên ngoài màng bọc bảo vệ phôi năng lượng. Quá
trình phân tách hạt năng lượng tạo ra năm nhóm hạt năng lượng để tạo thành tinh
cầu năng lượng khổng lồ cũng chính là quá trình chọn lọc những mã sóng trí tuệ siêu
phức tạp nhất được liên kết chặt với nhau, phát triển ở tâm quả cầu năng lượng
khổng lồ. Các hạt năng lượng ở tâm quả tinh cầu năng lượng được liên kết với
nhau tạo thành các
sóng điện âm dương, nó giống như các mạch máu, mạch khí trong cơ thể con người.
Quả tinh cầu năng lượng khổng lồ ngày càng lớn, khi đó khối năng lượng có mã
sóng trí tuệ siêu phức tạp nhất đó được chuyển hóa thành một hình hài như em
bé. Đó là em bé Tuệ linh được sinh ra, em bé đó vẫn ở giữa trung tâm quả tinh cầu
năng lượng khổng lồ. Trong em bé Tuệ linh chứa đựng hai hạt năng lượng âm dương
ban đầu hình thành, trải qua quá trình phân tách ra vô số các hạt năng lượng âm
dương khác đã giúp cho cấu trúc phôi âm dương của em bé Tuệ linh biến đổi thành
Trụ linh. Trụ linh của em bé Tuệ linh lưu giữ hết tất cả quá trình tương tác,
phân tách hình thành ra vô số các hạt năng lượng với mã sóng trí tuệ từ đơn giản
đến siêu phức tạp. Đến lúc này, em bé Tuệ linh đã là sự hợp nhất của 3 yếu tố cấu
tạo thành Tuệ linh: Trụ trí (tổng mã sóng trí tuệ), Trụ tâm (tổng trạng thái
năng lượng), và hình tướng em bé. Em bé Tuệ linh này chứa đựng mã sóng trí tuệ
của tất cả năm nhóm năng lượng trong quả tinh cầu năng lượng. Quá trình năng lượng
hoại diệt nổ bên ngoài màng bọc của quả tinh cầu năng lượng đã sinh nhiệt và
dinh dưỡng giúp cho quá trình trưởng thành của em bé Tuệ linh ngày càng nhanh.
Đồng thời quá trình em bé Tuệ linh lớn lên và trưởng thành thì vẫn từ Trụ linh
của Tuệ linh này phân tách ra vô số các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ
đơn giản đến siêu phức tạp tạo thành năm nhóm tầng năng lượng trong tinh cầu
năng lượng.
Khi
vụ nổ siêu năng lượng xảy ra, không gian của năm nhóm năng lượng lan tỏa rộng
khắp và quay tròn xung quanh trung tâm của năm nhóm năng lượng. Trong trung tâm
của không gian đó chính là vị Tuệ linh đầu tiên đã trưởng thành. Vị
Tuệ linh này bắt đầu sứ mệnh xây dựng các dạng sự sống bên trong Vũ trụ.
Trí tuệ
và quyền năng của vị Tuệ linh đầu tiên:
Vị
Tuệ linh đầu tiên này có trí tuệ vô lượng nhất trong tất cả các Tuệ linh của dạng
sống Tuệ linh. Không những vậy, trí tuệ của Tuệ linh này chính là trí tuệ của
toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh và con người sau này.
Trước
tiên ta phải hiểu trí tuệ chính là sự kết tinh của cấu trúc mã sóng trí tuệ từ
quá trình hình thành và liên kết hạt năng lượng trong Tuệ linh.
Tại
sao vị Tuệ linh này lại có trí tuệ vô lượng nhất? Trí tuệ của vị này vô lượng
và bao trùm toàn bộ các dạng sống trong Vũ trụ là do:
- Quá trình năng lượng hoại diệt
tấn công gây ra các vụ nổ bên ngoài phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh này
cho đến khi xảy ra vụ nổ siêu năng lượng đã tạo ra vô số sóng rung động trí tuệ
được truyền dẫn vào Trụ linh của vị Tuệ linh này để hình thành vô số mã sóng
trí tuệ.
-
Cùng với quá trình Trụ linh của Tuệ linh này phân tách ra vô số hạt
năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp để trở thành vị Tuệ linh trưởng
thành, từ trong Trụ linh của Tuệ linh này phân tách ra toàn bộ những hạt năng
lượng có mã sóng trí tuệ từ giản đơn đến siêu phức tạp của năm nhóm năng lượng
để tạo thành không gian vận hành của năm nhóm năng lượng hình thành Vũ trụ.
Chính vì vậy trí tuệ
của vị Tuệ linh này là vô lượng, là bao trùm toàn bộ Vũ trụ Chính
vị Tuệ linh này phân tách ra tất cả các mã sóng trí tuệ để hình thành năm nhóm
năng lượng hình thành Vũ trụ. Do đó quyền năng của vị Tuệ linh này cũng là vô
lượng nhất, vô lượng nhất bởi vì trong Tuệ linh này chứa đựng hào quang và tất
cả trạng thái năng lượng của năm nhóm năng lượng. Từ vị Tuệ linh này mà tỏa ra
hào quang ngũ sắc và hào quang ngũ sắc đều nằm trong Trụ linh của vị Tuệ linh
này.
Từ
trí tuệ vô lượng nhất, quyền năng vô lượng nhất đã cho chúng ta thấy vị Tuệ
linh này có cấu trúc mã sóng trí tuệ trong Trụ linh bền vững nhất và đặc biệt
nhất trong Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Vị Tuệ linh đầu tiên là Người Cha vĩ đại của Vũ
trụ và Trời người:
Là
Người Cha vĩ đại? Tại sao lại gọi vị Tuệ linh đầu tiên của Vũ trụ là Người Cha
vĩ đại?
Đó là điều đương
nhiên, là điều tất nhiên thôi, không thể phủ nhận Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ
linh và con người được. Bởi vì tất cả các hạt năng lượng trong năm nhóm năng lượng
được hình thành từ khi phôi năng lượng được hình thành cho đến vụ nổ siêu năng
lượng đều do Trụ linh của vị Tuệ linh này phân tách ra. Chính vì vậy, tất cả
năm nhóm năng lượng được sinh ra từ vị Tuệ linh đầu tiên, hoặc có thể nói là vị
Tuệ linh đầu tiên đã sinh ra năm nhóm năng lượng. Năm nhóm năng lượng chứa đựng
các mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm, sóng điện dương, sóng điện trung tính từ
đơn giản đến siêu phức tạp. Từ năm nhóm năng lượng mà cấu tạo thành các dạng sống
khác nhau, các nhóm vật chất khác nhau trong Vũ trụ. Là
Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người là vì Người Cha vĩ đại không
ngừng nghỉ tiếp tục phân tách ra năng lượng cấu thành các dạng sống trong khắp
Vũ trụ, Người Cha vĩ đại còn miệt mài xây dựng, phát triển Vũ trụ và các dạng sống
khác trở nên bền vững.
Các tên gọi
của vị Tuệ linh này:
Có
rất nhiều danh xưng của vị Tuệ linh đầu tiên. Khi vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh
và con người thấu hiểu thì cũng không cần quan trọng danh xưng của vị Tuệ linh
đầu tiên này. Chỉ cần chúng sinh, Tuệ linh và con người thấu hiểu Ngài là Người
Cha vĩ đại, là vị Tuệ linh đầu tiên được sinh ra, và từ vị Tuệ linh này mà sinh
ra vạn vật, Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Khi chúng ta thấu hiểu bản chất và sự
thật, tức là chúng ta đang nương tựa vào cội nguồn của sự thật, chúng ta sẽ có
sức mạnh vô lượng, sức mạnh của hào quang ngũ sắc từ Ngài. Hào quang ngũ sắc của
Ngài chính là năng lượng phát triển (hào quang màu xanh lá), năng lượng lan tỏa
(hào quang màu đỏ lửa), năng lượng đoàn kết (hào quang màu vàng), năng lượng
chân tâm (hào quang màu trắng trong), năng lượng tiêu cực (hào quang màu đỏ
máu, màu đen, màu xám) và các hào quang của siêu năng lượng.
Tôi. Tôi tôn kính, trân
trọng, kính trọng vị Tuệ linh đầu tiên nên tôi gọi Ngài là Người Cha vĩ đại.
Người Cha vĩ đại không chỉ là người đã phân tách ra tôi và vạn vật, chúng sinh,
mà Ngài cũng là người thầy của tôi và của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh và con người.
Người Cha vĩ đại đã dẫn dắt chúng sinh tìm hiểu và thấu hiểu cội nguồn của hai
Chân lý để cùng Ngài xây
dựng, duy trì, phát triển các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.
Tại nhân gian này, ở
dạng sống của con người, Ngài đã cho chúng sinh rất nhiều danh xưng: danh xưng
là Đấng Sáng Tạo trong Đạo Bà-la-môn; danh xưng là Đức Phật A Di Di Đà trong Đạo
Phật; danh xưng là Đức Chúa Trời trong Đạo Thiên Chúa; danh xưng là Thượng Đế,
Đấng Tạo Hóa, có thể là nhiều hơn thế. Ngài cho chúng sinh dưới nhân gian nhiều
danh xưng khác nhau vì đó là kế hoạch của Ngài. Bài 6:
Dạng sống Tuệ linh và sứ mệnh
thống lãnh Vũ trụ
²
Dạng
sống Tuệ linh là dạng sống có trí tuệ siêu việt nhất, kỳ diệu nhất trong Vũ trụ.
Dạng sống này là tổ hợp liên kết của các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu
phức tạp trong Vũ trụ. Dạng sống này có thể thay đổi hình tướng, di chuyển được
trong không gian Vũ trụ vì không an trụ trong thân tướng vật chất (tổ hợp mã
sóng trí tuệ đơn giản).
Cội nguồn
hình thành dạng sống Tuệ linh:
Cội
nguồn của dạng sống Tuệ linh chính là quá trình phân tách thành năm nhóm hạt
năng lượng từ Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên trong tinh cầu năng lượng khổng
lồ. Sau vụ nổ siêu năng lượng, vị Tuệ linh đầu tiên đã vận hành, tương tác năng
lượng, gieo duyên để các hạt năng lượng siêu phức tạp trong năm nhóm năng lượng
kết hợp thành các phôi âm dương để hình thành các tinh cầu năng lượng nhỏ. Các
tinh cầu năng lượng nhỏ di chuyển quay tròn trong không gian năm nhóm năng lượng
để phân tách hạt năng lượng và hấp thụ năng lượng cho quá trình trưởng thành và
sinh ra em bé Tuệ linh, đó là di chuyển và được dưỡng ở không gian lõi của Vũ
trụ.
Quá
trình gieo duyên và hỗ trợ của vị Tuệ linh đầu tiên đã giúp vô số các Tuệ linh
được sinh ra, đó là quá trình gia tăng dạng sống của Tuệ linh.
Tuệ linh được cấu tạo
thành bởi 3 yếu tố, gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ), Trụ – Tâm (trạng
thái năng lượng, sóng điện), hình tướng Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo
thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình hình thành, phát triển của Tuệ
linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm dương được liên kết lại từ hạt
năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi
năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa
đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Thông qua cơ chế phân tách và liên
kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ
mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ
linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng
lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt
năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí
tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ
linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm
có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực
năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao
chép từ các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều
sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực
chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp.
Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo
thành những hạt dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên
ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên
ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa
chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có
16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và trưởng thành. Trong cấu
trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết
với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần
hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:

Hình: Cấu tạo tam hợp Tuệ linh
tạo thành các
sóng điện âm dương, nó giống như các mạch máu, mạch khí trong cơ thể con người.
Quả tinh cầu năng lượng khổng lồ ngày càng lớn, khi đó khối năng lượng có mã
sóng trí tuệ siêu phức tạp nhất đó được chuyển hóa thành một hình hài như em
bé. Đó là em bé Tuệ linh được sinh ra, em bé đó vẫn ở giữa trung tâm quả tinh cầu
năng lượng khổng lồ. Trong em bé Tuệ linh chứa đựng hai hạt năng lượng âm dương
ban đầu hình thành, trải qua quá trình phân tách ra vô số các hạt năng lượng âm
dương khác đã giúp cho cấu trúc phôi âm dương của em bé Tuệ linh biến đổi thành
Trụ linh. Trụ linh của em bé Tuệ linh lưu giữ hết tất cả quá trình tương tác,
phân tách hình thành ra vô số các hạt năng lượng với mã sóng trí tuệ từ đơn giản
đến siêu phức tạp. Đến lúc này, em bé Tuệ linh đã là sự hợp nhất của 3 yếu tố cấu
tạo thành Tuệ linh: Trụ trí (tổng mã sóng trí tuệ), Trụ tâm (tổng trạng thái
năng lượng), và hình tướng em bé. Em bé Tuệ linh này chứa đựng mã sóng trí tuệ
của tất cả năm nhóm năng lượng trong quả tinh cầu năng lượng. Quá trình năng lượng
hoại diệt nổ bên ngoài màng bọc của quả tinh cầu năng lượng đã sinh nhiệt và
dinh dưỡng giúp cho quá trình trưởng thành của em bé Tuệ linh ngày càng nhanh.
Đồng thời quá trình em bé Tuệ linh lớn lên và trưởng thành thì vẫn từ Trụ linh
của Tuệ linh này phân tách ra vô số các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ
đơn giản đến siêu phức tạp tạo thành năm nhóm tầng năng lượng trong tinh cầu
năng lượng.
Khi
vụ nổ siêu năng lượng xảy ra, không gian của năm nhóm năng lượng lan tỏa rộng
khắp và quay tròn xung quanh trung tâm của năm nhóm năng lượng. Trong trung tâm
của không gian đó chính là vị Tuệ linh đầu tiên đã -
Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ
được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu
trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh
gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình
thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề
cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái
năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh
thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.
-
Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong
Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ
trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng
điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ)
liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới
toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.
Yếu tố thứ 3, là hình
tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con người, hay nói cách khác thì
con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là một cấu trúc liên kết của vô
số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã
sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ
linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu trúc hình tướng
của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh thay
đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có sóng điện âm,
có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc vững chắc của
Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ
linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ
linh là cấu trúc Trụ linh có sóng điện đa âm.
Thông
qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy hình tượng Thiên Chúa, Phật, Thánh
thần không có gì là huyền bí, không có gì là mê tín, không có gì là siêu nhiên,
cũng không phải là duy tâm, bản chất đều là vật chất. Có chăng vật chất này tồn
tại ở thể mã sóng trí tuệ siêu phức tạp nên khoa học và phương tiện kỹ thuật
không thể đo hay thấy được, mắt thường con người cũng không thể nhìn thấy được.
Cuộc sống
và sứ mệnh:
Dạng
sống Tuệ linh vì là năng lượng liên kết chuỗi có mã sóng trí tuệ siêu việt
trong việc di chuyển và cải tạo không gian Vũ trụ nên không an trụ ở thân tướng
vật chất như con người.
Dạng
sống Tuệ linh không có giới tính, không có nam, không có nữ, không có yêu
đương, không có quan hệ sắc dục vợ chồng. Các Tuệ linh liên tục được sinh ra do
quá trình phân tách năng lượng và chọn lọc năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp
nhất để gieo duyên sinh khởi ra các Tuệ linh mới.
Các
Tuệ linh được hình thành từ phôi năng lượng âm dương mà thành em bé, lớn lên và
già. Tuệ linh khi là em bé là do quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng
chưa nhiều và chưa chặt, khi trưởng thành tức là quá trình phân tách, liên kết
chặt. Khi Tuệ linh già tức là đang diễn ra quá trình đứt liên kết hạt năng lượng.
Từ em bé Tuệ linh để trưởng thành và già là do mỗi Tuệ linh trong quá trình
tương tác năng lượng bị nhiễm năng lượng hoại diệt ở mức độ khác nhau mà bị già
và chết. Những Tuệ linh không bị nhiễm năng lượng hoại diệt thì giữ được trạng
thái hình tướng trưởng thành và cấu trúc năng lượng trong Tuệ linh ổn định.
Các
Tuệ linh có sinh, có diệt, những Tuệ linh bị hoại diệt là do năng lượng hoại diệt
xâm nhập vào làm đứt liên kết hạt năng lượng mà hoại diệt. Đây là vấn đề cấp
thiết đặt ra cho cả dạng sống Tuệ linh và vị Tuệ linh đầu tiên.
Vị
Tuệ linh đầu tiên lập ra các lớp học, khu vực nghiên cứu năng lượng khác nhau để
truyền dạy tri thức cho các Tuệ linh mới được sinh, cho tất cả các Tuệ linh thấu
hiểu bản chất năng lượng trong Vũ trụ. Ngài truyền dạy cho các Tuệ linh kinh
nghiệm di chuyển trong không gian Vũ trụ, truyền dạy cho các Tuệ linh tránh bị
năng lượng hoại diệt xâm nhập, truyền dạy vô số tri thức cho các Tuệ linh.
Dạng sống Tuệ linh là
dạng sống có trí tuệ bậc nhất trong và ngoài Vũ trụ. Thấu hiểu được điều đó, vị
Tuệ linh đầu tiên thống lãnh tất cả các Tuệ linh thực hiện các sứ mệnh bảo vệ,
xây dựng, phát triển Vũ trụ ngày càng lớn mạnh và đa dạng hóa các dạng sống
khác trong Vũ trụ. Thành tựu đầu tiên chính là xây dựng được một hành tinh nhiệm
màu nhất trong Vũ trụ, đó là nơi an trụ của dạng sống Tuệ linh.nhau mà bị già
và chết. Những Tuệ linh không bị nhiễm năng lượng hoại diệt thì giữ được trạng
thái hình tướng trưởng thành và cấu trúc năng lượng trong Tuệ linh ổn định.
Các
Tuệ linh có sinh, có diệt, những Tuệ linh bị hoại diệt là do năng lượng hoại diệt
xâm nhập vào làm đứt liên kết hạt năng lượng mà hoại diệt. Đây là vấn đề cấp
thiết đặt ra cho cả dạng sống Tuệ linh và vị Tuệ linh đầu tiên.
Vị
Tuệ linh đầu tiên lập ra các lớp học, khu vực nghiên cứu năng lượng khác nhau để
truyền dạy tri thức cho các Tuệ linh mới được sinh, cho tất cả các Tuệ linh thấu
hiểu bản chất năng lượng trong Vũ trụ. Ngài truyền dạy cho các Tuệ linh kinh
nghiệm di chuyển trong không gian Vũ trụ, truyền dạy cho các Tuệ linh tránh bị
năng lượng hoại diệt xâm nhập, truyền dạy vô số tri thức cho các Tuệ linh.
Dạng sống Tuệ linh là
dạng sống có trí tuệ bậc nhất trong và ngoài Vũ trụ. Thấu hiểu được điều đó, vị
Tuệ linh đầu tiên thống lãnh tất cả các Tuệ linh thực hiện các sứ mệnh bảo vệ,
xây dựng, phát triển Vũ trụ ngày càng lớn mạnh và đa dạng hóa các dạng sống
khác trong Vũ trụ. Thành tựu đầu tiên chính là xây dựng được một hành tinh nhiệm
màu nhất trong Vũ trụ, đó là nơi an trụ của dạng sống Tuệ linh Bài 7:
Hành tinh – Cõi trời kỳ diệu nhất Vũ trụ
²
Hành
tinh hay gọi là cõi trời đều được. Hành tinh kỳ diệu nhất Vũ trụ chính là hành
tinh được hình thành đầu tiên tại không gian lõi của Vũ trụ, là hành tinh nhiệm
màu, kỳ diệu nhất trong Vũ trụ. Có thể gọi đây là cõi trời Tây Phương Cực Lạc
theo cách gọi của Đạo Phật; có thể gọi là Nước của Chúa theo cách gọi của Đạo Thiên
Chúa và theo cách gọi của các dòng Đạo khác.
Để
xây dựng, hình thành được một hành tinh, đặc biệt là một hành tinh to lớn, kỳ
diệu, nhiệm màu, thì đó là một quá trình vận hành tương tác phân tách, liên kết
mã sóng trí tuệ của năm nhóm năng lượng để cấu tạo thành. Nó được cấu tạo thành
thông qua bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn, cơ chế phân tách, liên kết dây mà
vị Tuệ linh đầu tiên và các Tuệ linh cùng vận hành.
Đó
là hành tinh rất to lớn, rất nhiệm màu với vô số hào quang ngũ sắc tỏa ra từ vạn
vật. Khi hành thiền đi trong mã sóng trí tuệ về hành tinh này, sẽ nhìn thấy
hành tinh này không quay quanh bất cứ hành tinh nào khác; xung quanh hành tinh
này không có Mặt trời như Trái đất; các tầng năng lượng trong vạn vật của hành
tinh này luôn luôn tỏa ra hào quang rực rỡ chiếu sáng cho nhiều hành tinh khác
xung quanh nó. Những năng lượng tại hành tinh này đã tạo ra sự sống với vô số
nhiệm màu khiến cho chúng sinh, người tu hành dưới nhân
gian ngày nay phải mơ ước, thậm chí cầu nguyện sau khi hoại diệt thân xác được
vãng sinh về.
Hành
tinh này có đồi núi, cỏ cây hoa lá, hồ nước rộng lớn bao la. Núi đá là những loại
đá quý phát ra ánh sáng màu trắng, xanh, tím, hồng, vàng. Cỏ cây hoa lá cũng tỏa
ra ánh sáng ngũ sắc rực rỡ. Mặt hồ nước phản chiếu ánh sáng màu xanh lưu ly từ
đáy hồ, dưới đáy hồ đều là đá quý lưu ly với những hạt đá nhỏ bé, kích cỡ to nhỏ
như hạt cát hoặc viên sỏi cuội. Tất cả đồi núi, cỏ cây hoa lá, hồ nước ở hành
tinh được hình thành từ quá trình phân tách hạt năng lượng, liên kết dây và tam
hợp cấu tạo mà thành. Hành tinh này là những tinh hoa nhất của năm nhóm năng lượng
kết tụ thành sự nhiệm màu, nên chính vạn vật của hành tinh này đều tỏa ra những
ánh sáng rực rỡ, nhẹ nhàng và an lạc tự tại.
Ở cõi này, vạn vật đều thanh tịnh
và tự tại như các Tuệ linh tại hành tinh này vậy. Khi ta nhìn vào hồ nước thì
không thấy một gợn sóng, khi ta ném một viên đá bẹt trên mặt nước cũng không thấy
có gợn sóng nào, khi ta xuống tắm cũng không làm cho mặt nước gợn sóng. Quả thực
đó là điều thú vị và tuyệt vời, vì khi ta quan sát, cảm thọ, hòa mình vào mặt
nước mới thấy được sự thanh tịnh tự tại của vạn vật, nó khiến cho tâm của ta an
vui theo mà quên đi cõi trần nhân sinh đầy rẫy khổ đau. Hiện tượng mặt nước
không có gợn sóng cũng hiểu thêm là không có Mặt trời và Mặt trăng ở xung quanh
hành tinh này như Trái đất, cũng có thể như vậy đã góp phần tạo ra hành tinh an
lạc. Chưa dừng lại ở đó, khi ta ngồi, đi trên mặt đất, đồi núi với vô số châu
báu đá quý tỏa năng lượng, thì cái ta cảm thấy tuyệt vời nữa là những làn gió mát
mang theo những ánh sáng màu sắc nhẹ nhàng lan tỏa khắp hành tinh, khiến cho
tâm ta an lạc mát mẻ, đó là cái mát mẻ không chỉ cảm
nhận được bằng xúc giác mà còn cảm nhận được tâm an lạc.
Muông
thú hay còn gọi là linh vật của hành tinh này rất đa dạng, từ to lớn cho đến nhỏ
bé, có rồng, sư tử, phượng hoàng, trâu, công, chim muông… Khi nhìn vào linh vật
rồng thì thấy nó cũng có thể thi triển sự biến hóa từ to lớn uốn lượn như bao
phủ cả bầu trời cho đến hóa thành một Tuệ linh. Các linh vật đều có thể biến
hóa bởi họ được hình thành từ liên kết năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp;
họ đã được tu tập, luyện tập tương tác năng lượng mang sóng điện âm dương có
trong chính họ và của cả các hành tinh nên điều này là điều dễ hiểu khi chứng
kiến sự nhiệm màu đó.
Kiến
trúc tại hành tinh này rất đồ sộ bởi các cung điện nguy nga được làm bằng các vật
liệu của hành tinh này, đó là châu báu, vàng bạc, đá quý. Khi đi tham quan các
cung điện đó, không khỏi choáng ngợp bởi ánh sáng rực rỡ cổ kính tỏa ra từ các
kim loại vàng và đá quý. Những cung điện đó là nơi các Tuệ linh được phân chia
nhiệm vụ nghiên cứu, tu luyện xử lý năng lượng của hành tinh này, và sự tương
tác ở nhiều cõi trời khác trong Vũ trụ.
Các
Tuệ linh của hành tinh này luôn cải tạo, xây dựng cho hành tinh có được sự an lạc,
tự tại, thanh tịnh, luôn luôn tỏa ra nhiều tầng năng lượng tốt cho sự sống của
chính hành tinh đó và tiếp tục tỏa ra những tầng năng lượng tốt cho sự duy trì
được trạng thái cân bằng âm dương của các hành tinh khác. Chính vì vậy thế giới
quan của cõi trời này là nhiệm màu nhất, tốt đẹp nhất trong Vũ trụ. Nó tốt đẹp,
nhiệm màu
ở
chỗ là làm cho vạn vật, Tuệ linh, muông thú được hòa theo sự an lạc tự
tại, sự thanh tịnh mà không có sân, không có hận, không có chấp ngã. Cõi
trời nhiệm màu này chính là trung tâm, là lõi của Vũ trụ. Nó cung cấp năng lượng
đã được xử lý của Hội đồng Tuệ linh đến khắp các dải thiên hà, hết thảy các
hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ. Việc cung cấp năng lượng đó để tạo sự liên kết
bền vững giúp cho Vũ trụ luôn luôn quay xung quanh chính trung tâm của Vũ trụ.
Việc đó sẽ giúp Vũ trụ không ngừng phát triển và mang tính bền vững, gắn kết tất
cả các dạng sống trong Vũ trụ thành một thể thống nhất bền vững.
Bài 8:
Hành trình kiến thiết, xây dựng
Vũ trụ của dạng sống Tuệ linh
²
Để
có được một hành tinh kỳ diệu, nhiệm màu nhất Vũ trụ, để dạng sống Tuệ linh được
hình thành và phát triển, chúng ta đều không biết vị Tuệ linh đầu tiên và sau
đó các Tuệ linh khác đã làm thế nào? Làm thế nào và làm như thế nào để xây dựng
được các dạng sống, xây dựng và phát triển Vũ trụ từ sau vụ nổ siêu năng lượng?
Dạng
sống Tuệ linh, các dạng sống khác và toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh, con người được
xây dựng, phát triển bởi vị Tuệ linh đầu tiên. Thông qua cơ chế phân tách liên
kết dây của hạt năng lượng tận cùng, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn mà vị
Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh đã gieo duyên vận hành để kiến thiết và
xây dựng vạn vật, Vũ trụ.
Sau
vụ nổ siêu năng lượng đã tạo ra năm nhóm năng lượng vận hành quay tròn xung
quanh lõi của không gian năm nhóm năng lượng. Trong hạt năng lượng của năm nhóm
năng lượng đều có sợi mã sóng trí tuệ có khả năng liên kết dây. Sợi mã sóng trí
tuệ của mỗi hạt năng lượng trong mỗi nhóm có sức mạnh và hào quang của sóng điện
cũng khác nhau, điều này đã tạo ra sự đa dạng trong trí tuệ của năm nhóm năng
lượng. Sự đa dạng thể hiện ở các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ giản đơn
đến siêu phức tạp. Hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn sẽ có sóng điện yếu,
hạt năng lượng có mã
sóng trí tuệ phức tạp sẽ có sóng điện mạnh, hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ
siêu phức tạp sẽ có sóng điện siêu mạnh. Nhóm năng lượng có mã sóng trí tuệ giản
đơn sẽ cấu tạo thành nhóm vật chất giản đơn, nhóm năng lượng có mã sóng trí tuệ
phức tạp sẽ cấu tạo thành vật chất phức tạp, nhóm năng lượng có mã sóng trí tuệ
siêu phức tạp sẽ cấu tạo thành nhóm siêu vật chất.
Chính
vì có sự phân hóa mã sóng trí tuệ trong năm nhóm năng lượng mà vị Tuệ linh đầu
tiên đã phân loại quá trình kiến thiết, xây dựng Vũ trụ theo các hướng. Những hạt
năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp sẽ được gieo duyên để hình thành
các Tuệ linh và dạng sống Tuệ linh; những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ đơn
giản được cấu tạo thành thành các hành tinh, các dải thiên hà, khối thiên hà;
những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp sẽ được cấu tạo thành năm nhóm
năng lượng vận hành Vũ trụ. Ngoài ra để vận hành được vật chất trong toàn bộ Vũ
trụ tồn tại và vận động thì cần có năng lượng vận hành, loại năng lượng này tôi
sẽ đề cập sau.
Xây dựng
dạng sống Tuệ linh:
Vị
Tuệ linh đầu tiên đã chọn lọc các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp
của năm nhóm năng lượng, tức là những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ tốt nhất
của năm nhóm hạt năng lượng. Ngài bắt đầu gieo duyên để cho các hạt năng lượng
mang sóng điện âm kết hợp với các hạt năng lượng mang sóng điện dương tạo thành
các phôi năng lượng âm dương. Các phôi năng lượng âm dương được dưỡng tại những
nơi có năng lượng cân bằng âm dương để giúp cho quá trình phân
tách hạt năng lượng trong phôi năng lượng được thuận lợi. Đây chính là quá
trình sản sinh tạo ra các Tuệ linh.
Sự
đa dạng trong việc cấy ghép các hạt năng lượng có sóng điện âm dương khác nhau
đã tạo ra các Tuệ linh có trí tuệ khác nhau:
-
Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu đỏ máu (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
phát triển lý luận và phương pháp tiêu cực mạnh.
-
Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu đen (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
phát triển lợi ích cho chính mình mà gây tổn hại vạn vật khác.
-
Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu xám (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
phát triển theo ý của chính mình mà không quan tâm tới những chỉ dạy, chỉ dẫn của
Tuệ linh khác.
-
Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu trắng trong có thiên hướng sóng điện âm đã tạo ra một dạng
sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó
là trí tuệ có thiên hướng phát triển vì lợi ích của vạn vật, Vũ trụ bằng chân
tâm, và không vì lợi ích của chính mình.-
Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu đỏ máu (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh
có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có
thiên hướng lan tỏa những giá trị tiêu cực, lan tỏa những phương pháp u mê gây
hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người.
-
Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu đen (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
lan tỏa hành động tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh và con người.
-
Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu xám (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
lan tỏa u mê tới Tuệ linh và con người.
-
Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với
các hạt năng lượng màu trắng trong có thiên hướng sóng điện âm đã tạo ra một dạng
Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau khi được sinh ra, đó là trí tuệ
có thiên hướng lan tỏa giá trị lợi ích tới Tuệ linh, con người và vạn vật bằng
chân tâm mà không vì lợi ích của mình.
-
Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các
hạt năng lượng màu đỏ máu (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
đoàn kết, bảo vệ những giá trị, những phương pháp gây hại cho vạn vật, Tuệ linh
và con người. -
Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các
hạt năng lượng màu đen (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
đoàn kết, bảo vệ những hành động gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người.
-
Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các
hạt năng lượng màu xám (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu
trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng
bảo vệ, đoàn kết những u mê lạc lối gây tổn thương tới vạn vật, Tuệ linh và con
người.
-
Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các
hạt năng lượng màu trắng trong có thiên hướng sóng điện âm đã tạo ra một dạng sống
Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí
tuệ có thiên hướng bảo vệ, đoàn kết vạn vật, Tuệ linh, con người cùng lan tỏa
và phát triển những giá trị, các phương pháp mang lợi ích tới vạn vật, Tuệ
linh, con người mà không màng đến lợi ích của mình.
-
Kết hợp các hạt năng lượng có sóng điện âm (màu đỏ máu, màu đen, màu
xám) với các hạt năng lượng trắng trong có thiên hướng sóng điện dương đã tạo
các dạng Tuệ linh chuyên tạo ra các giá trị, phương pháp, hành động, dẫn đường
u mê lạc lối, gây tổn hại lợi ích của vạn vật, Tuệ linh và con người.
Sự
cấy ghép giữa các hạt năng lượng có sóng điện âm dương khác nhau đã làm đa dạng
trí tuệ của dạng sống Tuệ linh. Trí tuệ của các Tuệ linh do đặc tính sóng điện
âm dương của hai hạt năng
lượng hợp thành phôi năng lượng gốc (Trụ linh) chi phối và quyết định, đó là bản
chất trí tuệ của dạng sống Tuệ linh. Tuy nhiên, nếu được dạy dỗ và tu luyện cải
tạo thì cấu trúc mã sóng trí tuệ trong Trụ linh của các Tuệ linh cũng sẽ thay đổi
từ không tốt thành tốt.
Khi
các Tuệ linh được sinh ra, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ dạy dỗ tri thức và các
phương pháp di chuyển, cải tạo, phát triển Vũ trụ. Sau đó, vị Tuệ linh đầu tiên
thành lập các hội đồng nghiên cứu, truyền dạy về tương tác và xử lý năng lượng.
Dạng
sống Tuệ linh sống tại cõi trời nhiệm màu, kỳ diệu nhất trong Vũ trụ. Sau này,
các Tuệ linh di chuyển và sống ở các hành tinh khác nhau để phát triển các dạng
sống mới. Việc các Tuệ linh di chuyển đến các hành tinh khác để xây dựng và
phát triển các dạng sống khác chính là lý do xuất hiện dạng sống muông thú và dạng
sống con người ở Trái đất này.
Xây dựng
các hành tinh:
Cũng
như việc gieo duyên tạo ra các Tuệ linh, vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ
linh đã gieo duyên để xây dựng Vũ trụ và các dạng sống khác. Những hạt năng lượng
có mã sóng trí tuệ từ đơn giản đến phức tạp trong năm nhóm khi được kết hợp bởi
những hạt năng lượng có sóng điện âm với những hạt năng lượng có sóng điện
dương khác nhau đã tạo ra sự đa dạng của vật chất. Sự kết hợp đa dạng đã hình
thành các hành tinh khác nhau bởi tính chất sóng điện âm hay dương. Sự kết hợp
đa dạng đã hình thành những vật chất có tính chất sóng điện âm dương khác nhau.
Điều này đã tạo ra kỳ quan của Vũ
trụ là từ không gian năm nhóm năng lượng sau vụ nổ siêu năng lượng đã dần hình
thành và phát triển thành Vũ trụ rộng lớn bao la như ngày nay.
Hành
tinh đầu tiên được xây dựng chính là hành tinh kỳ diệu, nhiệm màu nhất ở tâm của
không gian Vũ trụ. Nơi này chính là nơi an trụ của dạng sống Tuệ linh.
Sự
đa dạng của cấu trúc chỉnh thể các hành tinh mang sóng điện âm dương khác nhau
đã tạo thành các hệ mặt trời. Các hệ mặt trời có cấu trúc vận động ổn định bởi
sự tự quay tròn và các hành tinh, vệ tinh, quay tròn xung quanh các mặt trời. Sự
ổn định cấu trúc quay của các hệ mặt trời đã tạo cho các hành tinh trở thành dạng
sống có sự trật tự và ổn định phát triển.
Quá
trình xây dựng của dạng sống Tuệ linh đã hình thành ra vô số khối thiên hà, mỗi
một khối thiên hà có nhiều dải thiên hà, trong mỗi dải thiên hà có vô số hệ mặt
trời. Đến ngày nay, Vũ trụ đã phát triển thành vô số khối thiên hà, các khối
thiên hà bao bọc tại không gian lõi và tầng tầng lớp lớp bao phủ ra bên ngoài
thành tinh cầu Vũ trụ khổng lồ.
Tinh
cầu Vũ trụ khổng lồ được hình thành từ tinh cầu năm nhóm tầng năng lượng sau vụ
nổ siêu năng lượng vẫn quay tròn. Việc Vũ trụ hình thành và phát triển đến ngày
nay và sẽ còn giãn nở rộng lớn hơn nữa trong tương lai là minh chứng cho cơ chế
phân tách liên kết hạt năng lượng, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn đã và
đang vận hành Vũ trụ.
Sự
miệt mài của vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh đã xây dựng ra được nhiều
dạng sống trong tiến trình phát triển của Vũ trụ. Không chỉ vậy, Vũ trụ đã ngày
càng to lớn và kỳ vĩ, đó là thành quả của quá trình kiến thiết và xây dựng phát triển Vũ
trụ, Tuệ linh và con người. Thành quả vô cùng to lớn này đã cho thấy sự thống
lãnh của dạng sống Tuệ linh trong toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Tính
theo đơn vị đo lường thời gian của Trái đất, đó là đơn vị đo lường thời gian
theo năm để quy ra thời gian từ thời khắc hai hạt năng lượng âm dương hợp thành
phôi âm dương (phôi năng lượng khởi đầu cho vụ nổ lớn), đến thời điểm này đã được
20 tỷ năm. Và phải mất 7 triệu năm nữa để nhân loại chứng thực được hạt sóng
xanh nõn chuối bên ngoài Vũ trụ. Bởi bảy triệu năm nữa thì khoa học nhân loại mới
phát triển vượt bậc để có được các phương tiện di chuyển cũng như đo đạc được
những điều, những thứ mà từ xưa tới nay đều coi là tâm linh huyền bí.
Hành
trình kiến thiết và xây dựng Vũ trụ của dạng sống Tuệ linh vẫn đang tiếp tục diễn
ra trên hành trình bất tận và sẽ có được những thành tựu kỳ diệu trong tương
lai.
Bài 9:
Cuộc chiến tranh không hồi kết
giữa dạng sống của năng lượng hoại diệt với các dạng sống bên trong Vũ trụ
²
Vụ
nổ siêu năng lượng đã làm cho dạng sống năng lượng hoại diệt bị suy giảm nhiều.
Việc dạng sống của năng lượng hoại diệt bị suy giảm đã là thời cơ vàng cho vị
Tuệ linh đầu tiên xây dựng các dạng sống và phát triển Vũ trụ được lớn mạnh.
Thành tựu của vị Tuệ linh đầu tiên này là đã tạo và xây dựng được dạng sống Tuệ
linh, xây dựng được dạng sống năm nhóm tầng năng lượng, xây dựng được các dạng
sống vật chất giản đơn là vô số dải thiên hà được hình thành.
Song
song với quá trình hình thành các dạng sống và sự phát triển vượt bậc của Vũ trụ,
dạng sống năng lượng hoại diệt bắt đầu hồi phục và lớn mạnh. Năng lượng hoại diệt
ngày càng gia tăng số lượng vì luôn luôn được những điểm phát ra hạt sóng dã
chiến phân tách để hình thành những hạt năng lượng hoại diệt, và những lần đồng
hóa các hạt năng lượng có sóng điện âm dương được sinh ra trong môi trường sống
trung tính của năng lượng hoại diệt. Do đó mật độ và số lượng của dạng sống này
ngày càng phát triển vượt bậc.
Các
dạng sống trong Vũ trụ được coi là người em, dạng sống năng lượng hoại diệt được
coi như là người anh. Cũng có thể coi hai dạng sống này như hai thái cực âm và
dương.
Dạng sống trong Vũ
trụ là thái cực dương, dạng sống của năng lượng hoại diệt được coi là thái cực
âm. Âm dương luôn xoay vần và vận động tương tác trong nhau. Trong âm có dương,
trong dương có âm. Điều này là minh chứng bởi trong môi trường sống của năng lượng
hoại diệt có mầm mống sự hình thành của năng lượng có sóng điện âm dương; trong
môi trường sống của Vũ trụ xuất hiện dạng sống năng lượng hoại diệt. Sự tồn tại
và đấu tranh sinh tồn trong nhau đã tạo thành cuộc chiến tranh không hồi kết giữa
hai người anh em này, giữa hai thái cực âm dương này.
Các
dạng sống trong Vũ trụ, ta gọi chung là dạng sống của Vũ trụ, và một bên là dạng
sống của năng lượng hoại diệt.
Các chiến dịch xâm chiếm đồng hóa của năng lượng
hoại diệt vào dạng sống của Vũ trụ:
Trong
học thuyết Hạt năng lượng, tôi có phân tích về sức mạnh và điểm yếu của năng lượng
hoại diệt. Sức mạnh của năng lượng hoại diệt là không có liên kết dây, nên dạng
sống này di chuyển xuyên qua mọi vật chất bên trong Vũ trụ. Sức mạnh di chuyển
của năng lượng hoại diệt là môi trường có sóng điện âm và sự tấn công tổng lực.
Chính vì những sức mạnh này mà dạng sống năng lượng hoại diệt đã mở các chiến dịch
đi xâm chiếm và đồng hóa dạng sống của Vũ trụ.
Khi
dạng sống Tuệ linh hình thành, khi các hành tinh cũng bắt đầu hình thành, năng
lượng hoại diệt bắt đầu các cuộc di chuyển vào trong Vũ trụ. Vì trong Vũ trụ có
nhóm năng lượng tiêu cực mang sóng điện âm, nên những hạt năng lượng hoại diệt
di chuyển ở môi trường có năng lượng sóng điện âm. Khi di chuyển vào trong Vũ
trụ, năng lượng hoại diệt bắt đầu đồng
hóa các hạt năng lượng âm bằng cách là chạm đuôi của chúng vào điểm liên kết sợi
trí tuệ giữa các hạt năng lượng, sau đó truyền sóng điện dư thừa của chúng vào
rồi làm đứt liên kết giữa các hạt, khi bị đứt liên kết giữa các hạt năng lượng
sẽ dẫn đến thối hóa trạng thái năng lượng trong hạt. Và cuối cùng hạt năng lượng
sóng điện âm, hoặc dương hoặc chân tâm chuyển thành hạt năng lượng hoại diệt có
sợi mã sóng trí tuệ màu xanh nõn chuối và trạng thái năng lượng màu nâu. Những
chiến dịch đồng hóa ngày càng được đẩy mạnh, làm cho năm nhóm hạt năng lượng bị
tổn hao.
Tại
những cấu trúc vật chất bên trong Vũ trụ đều có liên kết của nhóm năng lượng có
sóng điện dương với sóng điện âm và sóng điện trung tính. Những hạt năng lượng
hoại diệt di chuyển vào nhóm hạt năng lượng âm và đồng hóa rồi làm thay đổi cấu
trúc liên kết của vật chất, khiến cho cấu trúc vật chất đó bị mất liên kết và
phân rã.
Những
hạt năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu những Tuệ linh có trí tuệ thiên hướng
tiêu cực, tức là những Tuệ linh có cấu trúc sóng điện âm mạnh trong Trụ linh.
Sau đó những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào để đồng hóa và làm phân rã
cấu trúc sóng điện âm dương trong Trụ linh và Tuệ linh. Khi lượng hạt năng lượng
hoại diệt di chuyển vào Trụ linh của Tuệ linh có sóng điện đa âm với số lượng lớn
sẽ làm cho Trụ linh và Tuệ linh đó nhanh bị phân rã mà chuyển thành những hạt
năng lượng hoại diệt.
Những
chiến dịch đi đồng hóa của dạng sống năng lượng hoại diệt đã làm cho nhiều Tuệ
linh bị hoại diệt, làm cho nhiều cấu trúc vật chất bị phân rã, làm tổn hao lớn
năm nhóm năng lượng. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển dạng sống
của Vũ trụ. Quá
trình đi đồng hóa xâm chiếm của dạng sống năng lượng hoại diệt đã khiến cho bên
trong Vũ trụ hình thành các khu vực lớn chứa đựng dạng sống năng lượng hoại diệt,
đó là những cơn bão năng lượng hoại diệt, nó chính là những hố đen trong Vũ trụ
mà khoa học ngày nay đang gọi. Những cơn bão năng lượng hoại diệt được hình
thành trong Vũ trụ đã trở thành nỗi khiếp sợ đối với dạng sống Tuệ linh. Những
cơn bão năng lượng hoại diệt này đã làm phân rã và đồng hóa được vô số Tuệ
linh, vô số các hành tinh có sóng điện đa âm.
Các chiến
dịch mở mang bờ cõi của dạng sống
Vũ trụ:
Những
cuộc xâm chiếm đồng hóa của năng lượng hoại diệt vào Vũ trụ đã tạo thành vô số
cơn bão năng lượng hoại diệt, điều này đã trở thành nguy cơ khiến Vũ trụ bị hoại
diệt từ bên trong. Tuy năng lượng hoại diệt là nguy cơ hoại diệt dạng sống của Vũ
trụ, nhưng nó lại là nguồn năng lượng sống không thể không có đối với Vũ trụ. Năng
lượng hoại diệt cung cấp nguồn năng lượng, dinh dưỡng vô tận cho sự phát triển
dạng sống của Vũ trụ. Điểm yếu của năng lượng hoại diệt đã được vị Tuệ linh đầu
tiên quan sát và thấu hiểu, đó là nếu năng lượng hoại diệt tập trung và nén lại
ở mật độ cao sẽ bị kích nổ, nếu năng lượng hoại diệt gặp môi trường nhiệt lượng
dương lớn cũng sẽ bị kích nổ. Do đó vị Tuệ linh này đã phát động những cuộc mở
mang bờ cõi để mở rộng và gia tăng năng lượng vận hành Vũ trụ.
Những
điểm kích động bằng sóng điện âm ở phía bên ngoài Vũ trụ, nơi giáp ranh với
không gian năng lượng hoại diệt được tạo
ra. Khi đó năng lượng hoại diệt di chuyển thẳng và tập trung tại những điểm bị
kích động bởi sóng điện âm, khi đó sóng điện dương được đẩy tới để tạo ra các vụ
nổ. Những vụ nổ bên ngoài giáp không gian Vũ trụ và không gian năng lượng hoại
diệt đã tạo ra không gian mới chứa đựng dinh dưỡng và nhiệt lượng để giúp Vũ trụ
phân tách và giãn nở lớn hơn. Những cuộc mở mang bờ cõi cho Vũ trụ liên tục được
diễn ra và đã giúp cho Vũ trụ phát triển lớn mạnh như hiện tại.
Những
cuộc mở mang bờ cõi giúp cho Vũ trụ giãn nở và phát triển lớn mạnh hơn ở phía
bên ngoài Vũ trụ. Tuy nhiên ở trong Vũ trụ thì những cơn bão năng lượng hoại diệt
vẫn được hình thành và lớn mạnh. Những cơn bão năng lượng hoại diệt bên trong Vũ
trụ đã làm suy yếu và cạn kiệt năng lượng của Vũ trụ nhanh chóng. Hơn thế nữa,
những năng lượng hoại diệt ẩn giấu trong vật chất, trong Tuệ linh của Vũ trụ
thì vô số. Điều này dẫn đến nguy cơ Vũ trụ bị hoại diệt từ bên trong. Bên ngoài
không gian năng lượng hoại diệt cũng có nguy cơ nổ dây chuyền do bị nén lại bởi
cả năng lượng hoại diệt và Vũ trụ đều phát triển quá nhanh. Cuộc chiến giữa hai
dạng sống không hồi kết đã và đang trở thành nguy cơ hoại diệt toàn bộ các dạng
sống bên trong và bên ngoài Vũ trụ.
Bài 10:
Nguy cơ và nguyên nhân hoại
diệt dạng sống của Vũ trụ và dạng sống năng lượng hoại diệt
²
Vũ
trụ đã phát triển lớn mạnh, trở thành một thể thống nhất như tinh cầu khổng lồ
bởi vô số khối thiên hà. Vũ trụ đã phát triển, giãn nở rộng lớn, kín hết và vượt
ra khỏi cả không gian của năm nhóm năng lượng sau vụ nổ siêu năng lượng. Năng
lượng hoại diệt cũng phát triển lớn mạnh đến mức có thể bị kích nổ dây chuyền.
Do đó vị Tuệ linh đầu tiên đã nhìn thấy thời điểm cả hai dạng sống này bị hoại
diệt.
Nguy cơ
hoại diệt cả hai dạng sống:
Bản
chất cuộc chiến không hồi kết giữa dạng sống năng lượng hoại diệt và dạng sống
của Vũ trụ không phải là để giành thắng lợi, không phải là để trở thành bá chủ.
Dạng sống năng lượng hoại diệt cần phải xả được sóng điện dư thừa ra khỏi hạt
năng lượng, vì năng lượng hoại diệt không có liên kết dây nên chúng không truyền
tải giải phóng để cân bằng được. Năng lượng hoại diệt lại di chuyển thẳng và
không quay tròn nên đây lại là nguy cơ sinh nhiệt lượng quá nhanh và hủy diệt của
năng lượng hoại diệt. Dạng sống của Vũ trụ thì cạn kiệt năm nhóm năng lượng cho
sự phát triển và vận hành Vũ trụ quay, vận hành sự sống của Vũ trụ. Nguồn năng lượng
vô tận giúp Vũ trụ tồn tại và phát triển chính là năng lượng hoại diệt. Nhưng dạng
sống Tuệ linh đang không có phương pháp và cơ chế vận hành an toàn cho cả hai dạng
sống. Do đó, bản chất của cuộc chiến giữa hai dạng sống là để duy trì sự tồn tại
của cả hai dạng sống.
Nguy
cơ hủy diệt của Vũ trụ là cạn kiệt năng lượng, tức là không còn năm nhóm năng
lượng để vận hành sự sống. Khi đó năng lượng hoại diệt sẽ tấn công tổng lực làm
cho Vũ trụ phân rã trở thành năng lượng hoại diệt. Vũ trụ khi bị phân rã sẽ biến
tan thành làn khói màu nâu.
Nguy
cơ hủy diệt dạng sống năng lượng hoại diệt chính là năng lượng này phát triển lớn
mạnh, nhiệt lượng sinh ra không giải phóng được, mật độ giữa các hạt quá lớn nên
bị nén lại và nổ dây chuyền. Khi nổ dây chuyền sẽ hủy diệt toàn bộ năng lượng
hoại diệt. Khi năng lượng hoại diệt bị nổ dây chuyền hủy diệt thì cũng là dấu
chấm hết cho sự sống của Vũ trụ, bởi ảnh hưởng vụ nổ sẽ khiến một phần lớn Vũ
trụ hủy diệt theo và phần còn lại sẽ không còn nguồn cung năng lượng để duy trì
và vận hành sự sống nữa.
Như
vậy, nguy cơ hoại diệt của cả hai dạng sống đã được vị Tuệ linh đầu tiên tiên
lượng được thời gian xảy ra. Ngài quan sát tốc độ quay tròn của Vũ trụ và sự
tiêu hao nhiên liệu, Ngài thấy tốc độ lớn mạnh và sẽ nổ dây chuyền của năng lượng
hoại diệt. Do đó đây là nguy cơ hiện hữu trước mắt của vị Tuệ linh đầu tiên và
của cả hai dạng sống.
Nguyên
nhân hoại diệt:
Từ
nguy cơ hoại diệt của cả hai dạng sống, vị Tuệ linh đầu tiên phân tích nguyên
nhân và tìm ra phương pháp, cơ chế cứu lại sự sống của cả hai dạng sống.
Nguyên
nhân năng lượng hoại diệt bị hoại diệt:
-
Hạt năng lượng hoại diệt không có liên kết dây để truyền tải giải
phóng nhiệt lượng nên bị nén lại mà kích nổ.
-
Hạt năng lượng hoại diệt khi di chuyển không quay tròn nên nhiệt lượng
sinh ra rất lớn.
- Việc năng lượng hoại diệt đi
đồng hóa lại càng làm gia tăng số lượng và mật độ năng lượng hoại diệt.
-
Năng lượng hoại diệt sẽ bị kích động và di chuyển đồng loạt khi bắt được
tín hiệu sóng điện âm.
Với
4 nguyên nhân này, năng lượng hoại diệt sẽ dễ bị kích nổ dây chuyền và hoại diệt
toàn bộ. Do đó, năng lượng hoại diệt cần giảm tải quá trình sinh nhiệt khi di
chuyển và giảm tải sự gia tăng mật độ dân số của dạng sống, ngăn ngừa bị kích động
bởi năng lượng có sóng điện âm. Để ngăn ngừa được sự hoại diệt thì năng lượng
hoại diệt cần có cơ chế ngủ ấm hay còn gọi là ngủ đông, nhưng năng lượng hoại
diệt không thể tự làm được điều này. Khi năng lượng hoại diệt không bị hoại diệt
thì Vũ trụ sẽ không bị hoại diệt.
Nguyên nhân dạng sống của Vũ trụ hoại diệt:
-
Dạng sống năm nhóm năng lượng hoại diệt: một phần là do năng lượng hoại
diệt thông qua năng lượng sóng điện âm di chuyển vào làm đứt liên kết dây và đồng
hóa năm nhóm năng lượng. Một phần là năm nhóm năng lượng đã cạn kiệt do phải
chuyển hóa để cấu thành các cấu trúc vật chất, các hành tinh, các dạng sống
khác. Một phần năm nhóm năng lượng phải vận hành Vũ trụ quay nên cạn kiệt
năng lượng.
Đó là nguyên nhân khiến năm nhóm năng lượng sẽ
hoại diệt.
- Dạng sống là vật chất, các
hành tinh bị hoại diệt: là do không còn đủ năng lượng của năm nhóm năng lượng vận
hành, duy trì cấu trúc quay ổn định; là do bị năng lượng hoại diệt di chuyển
vào làm đứt liên kết hạt và phân rã cấu trúc vật chất cũng như các hành tinh.
Đó là nguyên nhân hoại diệt của dạng sống vật chất và các hành tinh.
-
Dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt: những phôi năng lượng đang được dưỡng
để trở thành Tuệ linh bị hoại diệt là do trong phôi có sóng điện âm chiếm đa số
nên sẽ kích thích hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào để phân rã và đồng
hóa. Những Tuệ linh bị hoại diệt là do cấu trúc Trụ linh trong Tuệ linh có đa
sóng điện âm nên sẽ kích thích năng lượng hoại diệt di chuyển vào làm phân rã cấu
trúc Trụ linh và hoại diệt Tuệ linh.
Một
câu hỏi đặt ra là tại sao phôi năng lượng của vị Tuệ linh đầu tiên lại không bị
năng lượng hoại diệt phân rã? Tôi trả lời là phôi năng lượng của quả tinh cầu
năng lượng tạo thành vụ nổ siêu năng lượng được cấu tạo bởi một hạt năng lượng
dương có sóng điện dương siêu mạnh màu vàng và một hạt năng lượng âm có sóng điện
âm rất nhẹ màu trắng trong. Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt không xâm
chiếm, đồng hóa được phôi năng lượng và quả tinh cầu năng lượng đó.
Phân tích nguyên nhân
hoại diệt của các dạng sống trong Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên thấy dạng sống Tuệ
linh thiếu một cơ chế tạo ra cấu trúc Trụ linh như là một bộ lọc năng lượng. Bộ
lọc sẽ có cơ chế hút năng lượng hoại diệt về
đúng liều lượng
và chuyển hóa thành những năng lượng tốt hơn. Các dạng sống khác thiếu những
năng lượng mới để duy trì và phát triển sự sống tốt hơn, đó có thể là các siêu
năng lượng.
Để
cứu được dạng sống năng lượng hoại diệt thì dạng sống Tuệ linh phải cứu mình
trước, đó là tạo ra bộ lọc năng lượng của Trụ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ
bền vững và siêu việt. Khi tự cứu được dạng sống của mình thì sẽ dễ dàng chuyển
hóa ra các siêu năng lượng và cơ chế cứu lại tất cả các dạng sống khác.
PHẦN 2: CỘI NGUỒN NHÂN LOẠI
Giới thiệu:
Bấy
giờ, tại các điểm tập kết khắp nơi trên Trái đất, tại ven sông, tại ven biển, tại
ven núi, tại trên núi, tại trong rừng…, tất cả đều hào hứng nghe những lời truyền
dạy được coi là luật tu hành nơi nhân gian từ Ngài (vị Tuệ linh đầu tiên).
Ngài
truyền dạy tại các điểm tập kết lịch sử, Ngài nói với các cặp gia đình là: “Ta
đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về cũng phải bằng chân tâm”. Ngài nói
với các cặp bố mẹ: “Ta giao sứ mệnh cho các ngươi phải gả con cái cho nhau để
xây dựng nhân loại”. Ngài nói với các cặp gia đình: “Các ngươi sẽ phải trải qua
nhiều kiếp, trải qua hết các khổ đau và kiếp nạn; lấy kinh nghiệm trải qua đó để
cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được
trở về”. Ngài nói với các hộ gia đình và muông thú: “Ta giao cho các ngươi nhiệm
vụ thuần hóa muông thú để chúng cũng làm người và cùng xây dựng nhân loại”.
Ngài nói với tất cả các hộ gia đình và muông thú: “Ta cho các ngươi biết, để
nhanh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì các ngươi hãy tìm kiếm Chân
lý Vạn vật và chuyển hóa giác ngộ trong khổ đau và kiếp nạn”.
Bài 1:
Kế hoạch táo bạo của vị Tuệ linh đầu tiên ²
Đứng
trước nguy cơ hoại diệt của cả dạng sống của Vũ trụ và dạng sống của năng lượng
hoại diệt, thấy rõ nguyên nhân hoại diệt của cả hai dạng sống, vị Tuệ linh đầu
tiên đã cho lập ra các hội đồng nghiên cứu về tương tác xử lý năng lượng tại
chính hành tinh kỳ diệu và nhiệm màu của Ngài.
Các
hội đồng sau khi được thành lập đã bắt tay vào nghiên cứu. Các phương pháp được
nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm để tìm ra phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ
lọc năng lượng, ngủ đông năng lượng hoại diệt đều bất thành, thậm chí quá trình
nghiên cứu và thử nghiệm không đưa đến được thành tựu nào. Tuy nhiên điều này lại
là một dấu mốc đặc biệt để vị Tuệ linh đầu tiên phân tích nguyên nhân và đưa ra
một kế hoạch táo bạo nhất trong Vũ trụ. Kế hoạch này đã tạo ra sự sống ở Trái đất.
1. Tuệ linh đầu tiên phân tích các nguyên nhân thất bại của các hội đồng
nghiên cứu về năng lượng
Các
Tuệ linh của dạng sống Tuệ linh không an trụ trong thân tướng vật chất giản đơn
nên không có chướng ngại và sự trói buộc.
Các
Tuệ linh của dạng sống Tuệ linh không thấy khổ đau, các Tuệ luôn thấy an lạc tự
tại, bởi dạng sống Tuệ linh không có giới tính, không có sắc dục, không có quan
hệ và ràng buộc bởi mối quan hệ gia đình, không có mưu cầu vật chất, cần gì có
thể biến hóa được. Tuy nhiên, sự hoại diệt lại không ngăn ngừa được.
Các
Tuệ linh không giải mã được sự thật, toàn diện về bản chất Trụ linh của mình,
do đó không biết độc Tâm và thiện Tâm sẽ bộc phát trong các kịch bản tương tác
nào.
Các
Tuệ linh không thấu hiểu, không giải mã được sự thật, toàn diện về dạng sống
năng lượng hoại diệt, nên không có cơ chế phòng thủ cũng như chuyển hóa được
năng lượng hoại diệt.
Các
Tuệ linh không thấu hiểu, không giải mã được sự thật, toàn diện của tất cả các
nhóm năng lượng, vật chất trong Vũ trụ, lại không thấu hiểu việc tất cả vạn vật
trong Vũ trụ bị biến đổi do nhiễm năng lượng hoại diệt. Những điều này làm cho
dạng sống Tuệ linh trong quá trình tương tác, xây dựng, phát triển Vũ trụ dễ bị
năng lượng hoại diệt đồng hóa mà không có cơ chế chuyển hóa.
Vị
Tuệ linh đầu tiên thấy việc năng lượng hoại diệt bị nổ và chuyển hóa thành dinh
dưỡng và năng lượng sống cho Vũ trụ là vì dạng sống đó bị nén lại ở mật độ lớn
và bị năng lượng dương kích nổ.
Các
Tuệ linh nghiên cứu năng lượng không thành công vì thiếu khổ đau, bí bách, thiếu
sự tương tác dồn nén ở mật độ cao, thiếu sự ràng buộc và trách nhiệm. Chính điều
này mà vị Tuệ linh đầu tiên đã lập ra kế hoạch táo bạo cho dạng sống Tuệ linh.
Có thể đến bây giờ thì kế hoạch này được coi
là kế hoạch vĩ đại nhất của
sự sống Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
2. Kế hoạch táo bạo – Kế hoạch vĩ đại của vị Tuệ linh đầu tiên
Kế hoạch táo bạo này được chia làm hai kế hoạch:
Kế hoạch
1:
Kế hoạch đầu tiên của
vị Tuệ linh này là tạo ra một môi trường sống và tu luyện ưu việt cho các Tuệ
linh, đó là môi trường sinh sống và tu luyện trong khổ đau, trong sự khắc nghiệt
về thiên nhiên, về đấu tranh sinh tồn, về tương tác giữa các Tuệ linh với nhau,
vì Ngài nhận thấy rằng ở cõi trời của Ngài, vạn vật thanh tịnh và nhiệm màu,
các Tuệ linh sống trong cảnh thanh tịnh đó không phải là môi trường tốt để rèn giũa
và cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Ngài nhận thấy chỉ có môi trường
khắc nghiệt có tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các môi trường sóng
điện khác nhau mới là cơ hội để cho các Tuệ linh cải tạo và luyện thành công Trụ
linh có bộ lọc năng lượng. Bộ lọc năng lượng có thể hiểu nó như một nhà máy lọc
nước sạch hoặc như nhà máy phát điện hiện nay tại nhân gian. Nếu các Tuệ linh luyện
được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh thì các Tuệ linh đó sẽ tránh được sự hoại
diệt, và lan tỏa phương pháp tu luyện đó cho các Tuệ linh khác cùng luyện đạt
được, để tiếp tục duy trì và cải tạo sự sống trong khắp Vũ trụ. Khi các Tuệ
linh hoàn thành được kế hoạch 1 này, trong Trụ linh sẽ chuyển hóa thành bộ lọc
kép. Siêu hạt năng lượng âm sẽ hấp thụ nhiệt lượng, năm nhóm năng lượng, năng
lượng hoại diệt, sau đó kích nổ năng lượng hoại diệt. Khi đó siêu hạt năng lượng
âm và siêu hạt
năng lượng dương đều phân
tách ra các siêu năng lượng để duy trì, bảo vệ, phát triển sự sống của chính
mình và Vũ trụ.
Không
dừng lại ở việc tu luyện cải tạo Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng,
mà còn phải tìm ra cơ chế sản sinh ra các siêu năng lượng mới, cũng như cơ chế
để cứu được tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ không bị hoại diệt.
Kế hoạch
2:
Là
các Tuệ linh sau khi hoàn thành được kế hoạch 1 sẽ phải đi đến khắp Vũ trụ để
duy trì, bảo vệ sự sống của tất cả các dạng sống, tiếp đó là xây dựng, phát triển
đa dạng các dạng sống mới có cấu trúc mã sóng trí tuệ bền vững. Để thực hiện được
kế hoạch 2, Ngài cần có nhiều và tất cả các Tuệ linh hoàn thành được kế hoạch 1
của Ngài.
Để thực hiện được hai
kế hoạch này, vị Tuệ linh đầu tiên đã gieo ra vô lượng phôi năng lượng âm dương
đến khắp các hành tinh trong Vũ trụ để tìm ra hành tinh có môi trường lý tưởng
nhất cho các Tuệ linh đến đó tu hành. Điều này được hiểu như việc Ngài xây dựng
ra một trường học với tất cả các điều kiện, yếu tố tương tác khắc nghiệt nhất để
giúp các Tuệ linh học tập, tu luyện thành công trong môi trường đó.
Bài 2:
Cuộc di cư lịch sử của dạng
sống Tuệ linh và dạng sống con người xuất hiện
²
Để
tạo được môi trường sinh sống và tu luyện cải tạo luyện Trụ linh của các Tuệ
linh thành bộ lọc năng lượng, Người Cha vĩ đại sẽ phải tìm một hành tinh có chứa
đựng đầy đủ các điều kiện khắc nghiệt nhất, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khắc
nghiệt trong đấu tranh sinh tồn, sự phức tạp hóa trong cuộc sống và cuộc sống
không có gì ngoài khổ đau. Bởi cõi trời của Ngài đã quá nhiệm màu và thanh tịnh
từ vạn vật đến các Tuệ linh, điều đó đã làm cho các Tuệ linh không thể luyện được
Trụ linh có khả năng hấp thụ được năng lượng của khổ đau, năng lượng hoại diệt,
để chuyển hóa thành năng lượng tốt. Chính vì thế chỉ có tạo ra một môi trường sống
ngược lại với sự thanh tịnh và nhiệm màu, đó là không có gì ngoài khổ và sự khắc
nghiệt cùng cực thì mới khiến cho các Tuệ linh tu luyện cải tạo Trụ linh thành
công.
Để
thực hiện được kế hoạch 1 – kế hoạch xây dựng nhân loại, Ngài đã gieo vô số
phôi năng lượng âm dương. Phôi âm dương chính là duyên. Ngài gieo duyên đến khắp
các hành tinh trong Vũ trụ để tìm ra hành tinh có đủ điều kiện sống khắc nghiệt
mà vẫn duy trì được sự sống cho các Tuệ linh. Ngài đã tìm ra được hành tinh phù
hợp, đó là Trái đất. Tại sao Trái đất lại là điều kiện lý tưởng để Ngài xây dựng
nhân loại và là môi trường tu hành cho các Tuệ linh? Bởi Trái
đất quay xung
quanh Mặt trời, Mặt trăng quay xung quanh Trái đất, các hành tinh khác cũng
theo đó mà quay xung quanh nhau tạo thành quỹ đạo di chuyển có sự cân bằng về năng
lượng âm dương, đó là lực đẩy và lực hút giữa các hành tinh mà tạo ra sự duy
trì cân bằng năng lượng âm dương. Đây là điều kiện lý tưởng để các hành tinh
không bị va đập vào nhau gây hủy diệt môi trường tu hành. Quỹ đạo di chuyển của
Trái đất và các hành tinh làm cho thiên nhiên trên Trái đất có sự khắc nghiệt,
đó là môi trường lý tưởng nhất cho các Tuệ linh sinh sống và tu luyện.
Kế
hoạch xây dựng nhân loại làm môi trường tu hành được Ngài chia ra làm 4 kế hoạch,
4 kế hoạch này sẽ giúp cho các Tuệ linh luyện được cấu trúc mã sóng trí tuệ
trong Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất:
1. Kế hoạch 1, vị Tuệ linh đầu tiên (Người Cha vĩ đại) sáng tạo và quan
sát sự sống trên Trái đất
Ngài
gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra hoạt động phun trào nham
thạch, tạo thành núi cao và những vùng trũng khuyết, hố sâu. Ngài quan sát quá
trình thay đổi của Trái đất để tạo ra nơi cao và nơi thấp.
Ngài
gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương đến Trái đất để tạo ra các tầng
năng lượng, các tầng năng lượng di chuyển tạo ra sự tương tác phản ứng tạo
thành bầu khí quyển có oxy và các yếu tố khác. Từ đó hình thành các đám mây gây
ra mưa, nước chảy từ nơi cao xuống nơi thấp, từ núi cao xuống nơi hố sâu, quá
trình này tạo thành sông, hồ, biển. Ngài quan sát quá trình nước mưa rơi từng hạt
xuống, tụ lại và chảy về nơi thấp hơn để kết tụ lại thành một
chỉnh thể nước lớn.
Ngài quan sát nước chảy từ trên cao xuống nơi thấp mà hình thành sông ngòi, ao
hồ và biển lớn.
Ngài
tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra thảm thực vật,
cỏ, cây. Ngài quan sát thấy cỏ cây hút nước để nuôi dưỡng và trưởng thành. Ngài
quan sát hạt mầm Ngài gieo ra nảy mầm, phát triển và to lớn, ra hoa, ra quả và
hạt của quả lại rơi xuống đất và một cây con lại hình thành.
Ngài
tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra các loại vi khuẩn,
vi sinh vật, côn trùng để tương tác với nước, thảm thực vật, cỏ cây để tạo ra sự
tương tác hỗ trợ cho sự sống phát triển, bước tiếp theo là hỗ trợ cho sự sống mới
ở Trái đất.
Ngài
tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra chim muông, Ngài
quan sát những con chim ăn quả chín trên cây, thả hạt vương vãi ra xung quanh
hoặc mang quả đi nơi khác ăn, rồi những hạt cây rơi xuống, nảy mầm và mọc thành
cây, quá trình này tạo thành rừng cây. Ngài lại quan sát chim muông ăn những thức
ăn và mang hạt đi gieo sự sống khắp nơi.
Ngài
tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra muông thú, các
loài thú dữ, các loài thú lành, loài bò sát. Ngài quan sát những muông thú giao
phối giữa giống đực và giống cái để sinh con và phát triển loài. Ngài quan sát
từng loài sống bầy đàn với nhau, chúng không tách rời mà sống xung quanh và bảo
vệ nhau trước sự tấn công của các loài khác. Ngài quan sát các loài thú lớn đi
săn, ăn thịt những loài thú bé và yếu hơn để sinh tồn. Ngài quan sát các loài
thú lành ăn cỏ cây hoa lá để sinh tồn. Ngài quan sát
trong bầy đàn
muông thú sẽ có con làm thủ lĩnh và những con khác phải thuận theo mệnh lệnh của
con thủ lĩnh.
Ngài
gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra vô số loài sống dưới nước
(các loài cá) và trên không (chim muông). Ngài quan sát chúng sống như những
con thú trên mặt đất.
Ngài
quan sát sự tác động, tương tác của Mặt trời, Mặt trăng mà tạo ra gió bão, sóng
biển, thủy triều, mưa, sấm sét dẫn đến trên Trái đất có khu vực thì mưa bão, có
khu vực thì lạnh giá đóng băng, có khu vực nóng và hỏa hoạn.
Ngài
quan sát thấy tất cả vạn vật từ cỏ cây, hoa lá, đến nước, muông thú đều sinh ra
và chết. Nước thì bốc hơi mà cạn kiệt, rồi hơi nước kết tụ thành mây mà gây
mưa. Muông thú không ăn thịt nhau thì do già mà hết vòng sinh tử. Cỏ cây không
bị muông thú ăn thì cũng già khô mà chết. Vạn vật không tự hoại diệt hay ăn
nhau mà chết thì sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng làm cho vạn vật hoại diệt.
Quá
trình gieo duyên tạo ra sự sống phải trải qua thời gian dài để hoàn thiện môi
trường sống khắc nghiệt, lý tưởng, để cho các Tuệ linh xuống sinh sống và tu
hành. Trong quá trình gieo duyên tạo ra sự sống, Ngài đã quan sát và thấy bản
chất quy luật tự nhiên của vạn vật như sau: Đó
là sự kết tụ của tính âm, là sự tỏa ra của tính dương, là sự cân bằng giữa thừa
và thiếu, là sự cân bằng của âm và dương, là sự sinh, sự tồn tại, sự hoại diệt,
sự lan tỏa, sự đoàn kết, sự phát triển duy trì loài, sự gieo duyên, sự xây dựng
phát triển, sự phá hủy, sự thống lĩnh, sự tuân theo, sự gieo nhân và gặt quả, sự
khổ và khổ đau. Quá trình quan sát sự sống và vận hành của vạn vật đã giúp cho Ngài thiết lập giáo
luật công bằng dựa
trên cơ chế phân
tách liên kết hạt năng lượng, đó là luật Nhân quả. Luật Nhân quả để cho vạn vật
và các Tuệ linh sinh sống tại Trái đất phải tuân theo để đảm bảo quá trình tu
luyện cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng được thành công.
2. Kế hoạch 2, vị Tuệ linh đầu tiên đưa các Tuệ linh xuống Trái đất và
nhân loại được hình thành
Sau
khi Ngài đã tạo dựng được môi trường sống tại Trái đất đạt được điều kiện lý tưởng
nhất, đó là sự khắc nghiệt về điều kiện sống, về sự sinh diệt, về khổ đau mà vẫn
đảm bảo được điều kiện duy trì sự sống và cân bằng, Ngài tiếp tục thực hiện kế
hoạch thứ 2 để xây dựng loài người và nhân loại:
Ngài
gieo duyên bằng vô số các phôi năng lượng âm dương để tạo ra sự sàng lọc các
loài thú nguy hiểm đến sự tồn tại và sinh sống của các Tuệ linh khi xuống nhân
gian. Đó là các thời kỳ núi lửa phun trào, thời kỳ băng hà đã làm cho nhiều
loài động vật nguy hiểm to lớn bị hoại diệt và tuyệt chủng, chỉ còn lại những
loài động vật đủ tương tác, giúp cho các Tuệ linh tránh bị hoại diệt và vẫn đảm
bảo các điều kiện tu hành.
Vị
Tuệ linh đầu tiên tập kết đại hội thống nhất phương pháp tu học cho dạng sống
Tuệ linh. Đại hội tập kết diễn ra như sau: Trong
cuộc triệu tập Hội đồng của chư vị Tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ,
vị Tuệ linh đầu tiên trầm ngâm nhìn vào một đĩa thức ăn trắng trên bàn. Trong
suy nghĩ lúc đó của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ linh đều nghĩ là
làm sao việc đưa các Tuệ linh xuống làm con
người phải đạt được thành tựu là tìm ra được phương thuốc cứu lại các Tuệ linh
và Vũ trụ. Sự suy tư mang theo tâm trạng trầm ngâm khi nhìn vào đĩa thức ăn trắng
trên bàn (tất nhiên thức ăn đó là do năng lượng tạo ra). Suy tư một lúc lâu, vị
Tuệ linh đầu tiên liền nói với một Tuệ linh khác: “Hãy mang những con rắn độc ra
đây”. Sau đó có một Tuệ linh mang ra những con rắn độc, có nhiều con nhỏ và một
con to. Vị Tuệ linh đầu tiên lấy những con rắn nhỏ trộn vào đĩa thức ăn đó, tiếp
đến thả hai con rắn, trong đó có một con to xuống nền đất. Hai con rắn đó trườn
vào những bụi cây xung quanh đó. Vị Tuệ linh đầu tiên nhìn vào đĩa thức ăn đã
trộn với rắn độc mà nói: “Để cứu được các Tuệ linh và Vũ trụ, chỉ có thể lấy độc
trộn vào chân tâm (thức ăn trắng) mới tìm ra phương thuốc cứu lại Tuệ linh và
Vũ trụ”. Vị Tuệ linh đầu tiên tiếp tục nói rằng: “Ngoài những độc tố lẫn trong
chính chân tâm, ác tâm xen kẽ thiện tâm thì cần phải có thế lực ác tâm bên ngoài
tác động vào; Môi trường tu hành nơi nhân gian sẽ như vậy”. “Để tìm được Đạo hợp
nhất của Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân
gian”.
Đó là câu nói của vị Tuệ linh đầu tiên.
Như
vậy, tại đại hội tập kết Tuệ linh về phương pháp tu học ở nhân gian, vị Tuệ
linh đầu tiên đã quán triệt phương pháp tu học thông qua 3 hình ảnh về những
con rắn độc. Cụ thể như sau:
-
Những con rắn độc nhỏ được trộn vào đĩa thức ăn trắng là những độc tâm
của mỗi Tuệ linh. Hình ảnh đó tượng trưng các độc tâm đang bị ẩn giấu trong mỗi
Tuệ linh và chưa được bộc phát ra.
-
Một con rắn nhỏ bên ngoài được thả ra là tượng trưng cho độc tâm có
trong vạn vật, trong tất cả các cấu trúc vật chất. Độc tâm đó cũng đang bị ẩn
giấu.
-
Con rắn to được thả ra tượng trưng cho năng lượng hoại diệt. Đó là độc
tâm to nhất đối với tất cả các nhóm vật chất trong Vũ trụ và cả dạng sống Tuệ
linh.
Thông
qua 3 hình ảnh về những con rắn độc: Tất cả các Tuệ linh sẽ phải tương tác với
nhau trong tất cả các kịch bản trong các điều kiện môi trường sóng điện khác
nhau để bộc phát hết độc tâm của chính mình, của vạn vật và của năng lượng hoại
diệt. Khi bộc phát được hết độc tâm chính là quá trình Tuệ linh sẽ giải mã được
thông tin toàn diện nhất về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sau khi giải
mã được thông tin toàn diện, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ nghiên cứu, tìm được được
Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Để bộc phát hết độc
tâm cũng như tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh sẽ phải thông
qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.
Như
vậy, kết quả của đại hội thống nhất phương pháp tu học của dạng sống Tuệ linh ở
nhân gian gồm có 2 điều:
-
Tuệ linh thông qua thân tướng con người phải tương tác với nhau trong
tất cả các kịch bản, trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau để bộc
phát hết độc tâm của mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt.
-
Phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới tìm được Đạo hợp nhất
của Vũ trụ. Đạo hợp nhất chính là bộ lọc sản sinh năng lượng viên mãn để sản
sinh ra các siêu hạt năng lượng cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh.
Sau
đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu học ở nhân gian, những Tuệ linh đầu
tiên đã phát nguyện tiên phong đi xây dựng nhân loại.
Vị
Tuệ linh đầu tiên đã dùng đến sự nhiệm màu về hào quang của các tầng năng lượng
mà đưa các Tuệ linh xuống Trái đất, biến họ thành những con người có da, có thịt,
có xương, có đầy đủ và hoàn chỉnh. Đây là điều đặc biệt duy nhất, chỉ có thế hệ
đầu tiên của các Tuệ linh xuống Trái đất tu hành thì mới được chuyển hóa thành
thân tướng. Để sự chuyển hóa này được thành công thì các Tuệ linh phải dùng
toàn bộ năng lượng trong chính các Tuệ linh và sự trợ giúp của vị Tuệ linh đầu
tiên. Sau khi chuyển hóa thành con người xong thì các Tuệ linh không còn các
pháp nhiệm màu, không thể bay hay di chuyển trong Vũ trụ được nữa, mà phải sống
như những muông thú đã được tạo trước đó, phải đi, phải leo trèo, bơi lội. Các
Tuệ linh hóa thân thành con người được bắt đầu tại các cuộc tập kết ở Trái đất.
Vậy Tuệ linh làm thế nào để hóa thành con người?
-
Các Tuệ linh được tuyển chọn sẽ đều tới Trái đất trong ngày hội chuyển
sinh này. Họ vận hành, di chuyển các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ
giản đơn của năm nhóm hạt năng lượng kết tụ vào cấu trúc Tuệ linh của họ. Những
nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ khác nhau được cấu tạo và mã
hóa thành những tế bào chức năng khác nhau trong cơ thể con người. Cơ thể con
người đã được hợp nhất bởi cấu trúc năng lượng siêu phức tạp của Tuệ linh và cấu
trúc năng lượng giản đơn trong Vũ trụ hợp lại. Để cấu tạo thành một con người
hoàn chỉnh thì cần vô số năm nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn kết tụ lại.
Đây là lần duy nhất dùng phương pháp này. Sau lần tập kết nhân loại đó, các Tuệ linh luân hồi
làm con người sẽ tuân thủ thông qua cơ chế sinh sản của con người.
-
Các muông thú từ trước và sau khi xuất hiện con người đều được hình
thành như con người cho từng giống loài. Tuy nhiên, muông thú thay vì Tuệ linh
an trụ sẽ là linh hồn (cấu trúc năng lượng phức tạp) an trụ để hợp nhất với các
năng lượng giản đơn cấu tạo thành. Sau đó, chúng cũng sẽ tuân thủ sinh sản giống
con người để phát triển giống loài đó.
-
Sau này, khi linh hồn các con thú đã phát triển đạt được khả năng làm
người bởi quá trình giải mã và mã hóa thông tin, họ sẽ được hóa thân làm con
người thông qua quá trình luân hồi và sinh sản.
Cuộc
tập kết lịch sử khởi đầu cho sự hình thành loài người tại nhiều nơi trên Trái đất
như ven sông, ven biển, đồng bằng, trên núi, trong rừng, những nơi đó có vô số
các điểm tập kết lịch sử. Tại các điểm tập kết lịch sử đó, vị Tuệ linh đầu tiên
đã dùng quyền năng của mình để triệu tập tất cả muông thú về nghe Ngài truyền dạy
về luật Nhân quả mà tất cả muông thú cùng với các Tuệ linh sống tại Trái đất phải
tuân theo. Tại mỗi điểm tập kết sẽ có các Tuệ linh được hóa thành từng cặp vợ
chồng với hai con nhỏ, có một con gái và một con trai. Mỗi điểm tập kết sẽ có
hai đến nhiều hộ gia đình và muông thú đến nghe Ngài truyền dạy. Đây là cơ sở để
loài người hình thành các bộ lạc, bộ tộc và ngày nay là quốc gia.
Ngài
truyền dạy tại các điểm tập kết lịch sử, Ngài nói với các cặp gia đình là: “Ta
đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về cũng phải bằng chân tâm”. Ngài nói
với các cặp bố mẹ: “Ta
giao sứ mệnh cho các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân loại”.
Ngài nói với các cặp gia đình: “Các ngươi sẽ phải trải qua nhiều kiếp, trải qua
hết các khổ đau và kiếp nạn; lấy kinh nghiệm trải qua đó để cải tạo Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được trở về”. Ngài nói
với các hộ gia đình và muông thú: “Ta giao cho các ngươi nhiệm vụ thuần hóa
muông thú để chúng cũng làm người và cùng xây dựng nhân loại”. Ngài nói với tất
cả các hộ gia đình và muông thú: “Ta cho các ngươi biết, để nhanh cải tạo Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng thì các ngươi hãy tìm kiếm Chân lý Vạn vật và chuyển
hóa giác ngộ trong khổ đau và kiếp nạn”.
Trong
các cuộc tập kết lịch sử này, Người Cha vĩ đại đã sắp đặt và gợi ý về luật Nhân
quả. Luật Nhân quả chính là Chân lý Vạn vật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ,
mà tất cả các dạng sống dưới nhân gian sẽ phải thông qua khổ đau kiếp nạn để
tìm và thấu hiểu. Không những Ngài gợi ý việc thông qua khổ đau kiếp nạn để tìm
được Chân lý Vạn vật mà còn gợi lý luôn là phải tìm ra Chân lý Giác ngộ để giải
thoát hết các khổ đau đó thì mới luyện được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của
Tuệ linh. Luật Nhân quả là luật công bằng đã được Ngài chuyển hóa từ Chân lý Vạn
vật sau quá trình quan sát sự vận hành của vạn vật, Vũ trụ và xây dựng nó hoàn
chỉnh nhằm tạo ra môi trường tu hành cho Tuệ linh khắp Vũ trụ tại Trái đất này.
Như
vậy, Ngài cũng cần giải mã, thấu hiểu triệt để về tất cả các dạng sống trong và
ngoài Vũ trụ, đặc biệt là năng lượng hoại diệt và bản chất của các Tuệ linh. Thấu
hiểu được tất cả bản chất của vạn vật chính là thấu hiểu Chân lý Vạn vật, tìm
ra được cơ chế chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng chính là Chân
lý Giác ngộ. Để dẫn dắt dạng sống Tuệ linh làm được điều đó, Ngài cùng tu hành
với họ trong nhiều kiếp ở nhân gian, đó là những kiếp quan trọng cho việc dẫn dắt
cũng như chuyển hóa Trụ linh.
3. Kế hoạch 3, vị Tuệ linh đầu tiên gia tăng sự phát triển và phức tạp
môi trường tu hành
Ngài
tiếp tục đưa các Tuệ linh xuống Trái đất để gia tăng dân số cho dạng sống con
người. Sự đặc biệt của sự chuyển hóa từ Tuệ linh thành con người chỉ được thực
hiện
ở
lần đầu tiên khi đưa các Tuệ linh xuống. Bắt đầu từ lần thứ hai cho đến
ngày nay và về sau sẽ phải tuân thủ theo luật luân hồi. Luật luân hồi thể hiện ở
chỗ: khi các cặp vợ chồng giao phối, tinh trùng mang sóng điện dương của người
nam và trứng mang sóng điện âm của người nữ hợp lại thành phôi thai; phôi thai
phát triển trong bụng người nữ đến khi sinh ra thì các Tuệ linh mới thiết nhập
vào em bé và cất tiếng khóc chào đời, đó chính là đánh dấu mốc Tuệ linh đã thiết
nhập vào; khi Tuệ linh thiết nhập vào em bé sẽ quên đi hết quá khứ, trí tuệ của
Tuệ linh, quên đi mình là ai, mình phải làm gì và chết sẽ đi về đâu cũng không
được biết. Ở những thế hệ đầu tiên thì con người vẫn được mở nhãn thần nên vẫn
nhìn được về với các Tuệ linh, biết mình từ đâu đến, đến đây để làm gì. Do đó
con người thời đó sau mỗi lần thu hoạch mùa màng đã biết dâng tế với các Tuệ
linh và Ngài vì Ngài đã giúp đỡ họ phát triển nhân loại. Mỗi một em bé được
sinh ra thì lại có một Tuệ linh được xuống luân hồi hoặc Linh hồn muông thú đã
được thuần hóa đầu thai vào để tu hành. Ngày nay để khai mở được nhãn thần thì
con người phải tu tập mới nhìn được
các Ngài và tìm hiểu được tổ tiên của loài người là ai, do đó hiểu được tổ tiên
của loài người là các Tuệ linh từ dạng sống Tuệ linh hóa thân xuống chứ không
phải là muông thú tiến hóa thành, thấu hiểu là do nguyện lực để xuống đây tu
luyện chứ không phải là bị đọa xuống đây.
Tại
cõi trời của dạng sống Tuệ linh, sau khi các Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian
tu hành, thì các hội đồng nghiên cứu, các hội đồng tu luyện được gia tăng về số
lượng. Sự hình thành này nhằm nghiên cứu các phương pháp, sáng chế ra các công
cụ để giúp cho con người biết cách sản xuất nông nghiệp, biết cách làm nhà để ở,
biết cách đoàn kết để tổ chức thành hình thái bộ tộc, bộ lạc nhằm bảo vệ nhau
trước những bộ tộc, bộ lạc khác. Tại các hội đồng này, khi nghiên cứu xong, các
Tuệ linh sẽ phải phát nguyện với Ngài để luân hồi xuống nhân gian và khi lớn
lên sẽ có trí tuệ hoàn thành phát minh đó để áp dụng cho con người cải tạo cuộc
sống dưới nhân gian. Các hội đồng này tiếp tục nghiên cứu các phương pháp, kỹ
thuật thu phục muông thú, thuần hóa muông thú, thâm canh sản xuất, phát triển nền
nông nghiệp, phát triển hình thái quốc gia, phát minh ra các công trình phát
triển nền công nghiệp, y học, lý số, toán học, hóa học, du hành không gian,
hàng không, công nghệ…, mục đích là giúp dạng sống nhân loại ở Trái đất ngày
càng phát triển và làm cho mức độ tu hành không ngừng được nâng cao.
Vị
Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra cuộc sống ở Trái đất ngày càng phát triển, khoa học
kỹ thuật không ngừng tìm hiểu sự sống ngoài Trái đất. Hình thái cuộc sống từ bộ
tộc, bộ lạc đã chuyển thành quốc gia và hướng đến sự thống nhất của toàn Thế giới
như việc hình thành các tổ chức liên minh đoàn kết của nhiều quốc gia và Thế giới.
Mức độ phức tạp nhiều giai đoạn
được đẩy mạnh thành các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, bộ lạc, giữa các dân
tộc với nhau và toàn Thế giới với nhau. Liệu đây có phải là kế hoạch của Ngài
không? Đây không phải, đây là bản chất độc Tâm của các Tuệ linh đã bộc phát và
mất kiểm soát. Vị Tuệ linh đầu tiên thấu hiểu căn nguyên vì sao độc Tâm của họ
bộc phát và mất kiểm soát nên Ngài dự liệu được những việc làm của họ nơi Trái
đất, từ đó Ngài sẽ có những kế hoạch cân bằng và cứu lại môi trường tu hành
không bị hoại diệt. Những con người nghiên cứu, tu luyện thần thông, truy tìm
giải thoát khổ đau, tu luyện về tâm linh đã tiếp dẫn đến với các Tuệ linh, và
cuộc sống dưới Trái đất đã hình thành rất nhiều môn phái, trường phái, dòng đạo
khác nhau, làm cho sự mong cầu về sự giải thoát, tìm ra con đường giải thoát
hơn bao giờ hết. Các dòng đạo, tôn giáo, môn phái, trường phái, hình tướng đạo
đã góp phần làm cho mức độ tu luyện dưới nhân gian trở nên căng thẳng và phức tạp
vô cùng. Con người đã không biết đâu là đúng đâu là sai, đâu là con đường họ cần
đi theo. Đặc biệt đến nay, con người không biết sự thật về tổ tiên loài người,
mình là ai, ai là mình, mình phải làm gì ở dưới nhân gian. Chính vì thế con người
ngày càng trở nên tha hóa trong cuộc sống, sự hưởng lạc, mưu hại, giết hại nhau
không ngừng, đạo đức xã hội bị biến đổi đi xuống trầm trọng, các giá trị nhân
văn được thay thế bằng giá trị của mê tín dị đoan. Điều này lại đẩy đến cao
trào của sự hoại diệt môi trường tu hành của nhân loại mà vị Tuệ linh đầu tiên
đã tạo ra. Sau mỗi lần như vậy, dưới nhân gian lại xuất hiện các bậc giác ngộ để
dẫn dắt và cứu rỗi cho cả nhân loại.
4. Kế hoạch 4, sự dẫn dắt và tìm ra hai Chân lý cải tạo Trụ linh
Cuộc
sống ở nhân gian ngày càng phức tạp và phát triển, chiến tranh liên miên giữa
các bộ tộc, giữa các quốc gia đã đẩy con người đến tận cùng của khổ đau, tận
cùng của sân hận, tận cùng của toan tính, tận cùng của sự hoại diệt. Con người
không cần biết và quan tâm về cội nguồn của loài người, mình là ai, mình phải
làm gì ở cõi trần nhân gian này. Vì thế con người chỉ mải mê kiếm tìm sự hưởng
lạc, trụy lạc, mưu mô trục lợi về mình. Các Tuệ linh đã luân hồi xuống Trái đất
này vô số, cứ đi xuống mà chưa tìm ra được hai Chân lý để cải tạo Trụ linh nên
chưa thể được về. Cứ thế, dân số ở Trái đất này không ngừng được gia tăng do
nhiều muông thú sau khi được thuần hóa thành thú lành đã được luân hồi đầu thai
thành người để sống cuộc sống kiếp người với những con người là hóa thân của dạng
sống Tuệ linh. Họ sống hỗn độn với nhau và chính hóa thân của các Tuệ linh
không thể nhận biết, họ mưu hại, giết hại, lừa hại nhau, con người giết hại
muông thú, linh hồn các con thú dữ báo thù giết hại lại con người, con người giết
hại lẫn nhau. Tất cả tạo ra vô số khổ đau dưới nhân gian, vô số kiếp nạn trong
nhân gian, đó cũng là cơ hội cho những sứ giả của vị Tuệ linh đầu tiên, cho những
hóa thân của Tuệ linh thôi thúc việc đi tìm ra Chân lý giải thoát khỏi khổ đau.
Vị
Tuệ linh đầu tiên đã gieo duyên, trợ nhân duyên cho vô số các Tuệ linh, chân tu
ở dưới nhân gian, giúp họ được thôi thúc từ tâm để tìm tòi, nghiên cứu và tìm
ra Chân lý Vạn vật và Chân lý giải thoát. Trong lịch sử nhân loại đã chứng kiến
sự hình thành vô số tín ngưỡng thờ các vị thần, vị thánh, hình tướng các đạo
phái ra đời để giúp cho con người xây dựng được đức tin và giá trị đạo đức. Đó
là đức tin của sự tin theo, phụng sự, tu theo để được giải thoát khỏi khổ đau
nơi nhân gian. Nhưng cuối cùng tất cả các tín ngưỡng đó vẫn chưa dẫn dắt được
con người đến với sự hiểu biết về tổ tiên của loài người. Con người vì u mê, vì
tham lam, sân hận mà tạo vô số nghiệp lực và rồi để nghiệp lực đã tạo thành tầng
năng lượng khí xấu bám chặt vào Tuệ linh trong các kiếp kế tiếp. Điều này đã
làm cho loài người ngày càng mê lầm, họ mải mê tìm sự giải thoát khỏi cuộc sống
này bằng lễ nghi, nghi thức cúng cầu đến các vị thần để được giải thoát. Có quá
nhiều tín ngưỡng và hình tướng đạo đã dẫn dụ chúng sinh đến với các nghi lễ để
cầu xin với các đấng, các thần, các Thánh thần nhằm giúp họ cầu được công danh,
địa vị, tiền tài, giúp họ vãng sinh về cõi trời của các vị thần vị thánh đó.
Như vậy, việc hình thành các tín ngưỡng, các hình tướng đạo đã giúp cho chúng
sinh tìm tòi để nhận thấy Chân lý Vạn vật và đi tìm sự giải thoát là điều rất tốt.
Nhưng nó chỉ tốt bởi hình tướng là có xuất hiện nhóm, tổ chức nghiên cứu. Tuy
nhiên nó lại vô tình đẩy chúng sinh đi vào con đường lầm than, mê lầm bởi việc
đi ngược với sứ mệnh là sống trong khổ đau kiếp nạn để tìm ra Chân lý Vạn vật
và Giác ngộ nhằm cải tạo Trụ linh chứ không phải cầu nguyện, niệm danh hiệu để
được sinh về các cõi trời của các vị Thần, vị Chúa hay vị Phật nào cả. Như vậy,
Ngài gieo duyên vô số và hình thành vô số tín ngưỡng, môn phái, hình tướng đạo
nhưng cuối cùng cũng không tìm ra con đường cải tạo Trụ linh mà lại còn đi vào
mê lầm của những nghiệp lực và lừa lọc hại nhau.
Ngài
vẫn không ngừng nghỉ việc gieo duyên trợ giúp những hóa thân của các Tuệ linh
đang mải miết tìm con đường giác ngộ để
cải tạo Trụ linh và các cơ chế cứu lại các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ. Đó
là những con người được thôi thúc từ trong Tâm họ để họ xa rời với lợi ích, ích
kỷ cá nhân, xa rời dục vọng, với phù du giả tướng, để trải qua, thấm nhuần các
khổ đau, các kiếp nạn. Điều đó đã giúp họ có kinh nghiệm vượt qua khổ đau kiếp
nạn, kinh nghiệm này được tích lũy trong nhiều kiếp, khi nó lớn mạnh thì những
con người đó đã trở thành những bậc giác ngộ của nhân loại. Trong lịch sử nhân
loại có thể kể đến những bậc giác ngộ, đặc biệt đầu tiên là Đức Phật Thích Ca
đã tìm ra Chân lý Vạn vật và chuyển hóa giác ngộ được thành Chân lý Giác ngộ để
đạo Phật được hình thành và dẫn dắt chúng sinh tu đạo giải thoát. Tiếp sau đó
là giáo chủ của các tôn giáo lớn. Họ là những lãnh tụ tinh thần dưới nhân gian,
họ đã trải qua nhiều đời nhiều kiếp tu hành trong khổ đau, lấy kinh nghiệm khổ
đau để giác ngộ và cải tạo được Trụ linh thành những bộ lọc năng lượng để trở về
và duy trì sự sống ở khắp Vũ trụ.
Vị
Tuệ linh đầu tiên vẫn đang gieo vô số duyên để 4 kế hoạch tiếp tục diễn ra, tiếp
tục tạo ra môi trường tu hành khắc nghiệt hơn, tiếp tục có các công trình
nghiên cứu từ các hội đồng của dạng sống Tuệ linh được đưa xuống Trái đất để
xây dựng nhân loại. Ngài tiếp tục gieo vô số duyên để giúp cho hóa thân của các
Tuệ linh tìm ra con đường cải tạo Trụ linh viên mãn nhất, giúp cho tất cả các Tuệ
linh đạt được sự cải tạo đó để trở về thực hiện kế hoạch 2 là đi duy trì, bảo vệ,
phát triển sự sống trong và ngoài Vũ trụ.
Như vậy, môi trường
tu hành của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian đã hội tụ đủ sự tương tác của tất cả
3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ (giản đơn, phức tạp và siêu vật chất) với
nhóm năng lượng hoại diệt. Đặc biệt khi dạng sống Tuệ linh bị trói
buộc trong thân xác con người, trong tương tác với tất cả các kịch bản của bốn
hình tướng Đạo, đã tạo ra tột cùng của khổ đau kiếp nạn, tột cùng của an vui hạnh
phúc. Tất cả sự tương tác trong bốn hình tướng Đạo với tất cả các kịch bản
tương tác xảy ra đã giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên thấu hiểu tận cùng về bản chất
của Tuệ linh, bản chất của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.
Sau
hành trình vị Tuệ linh đầu tiên cùng vô số Tuệ linh tu hành ở nhân gian, Ngài
đã giải mã, thấu hiểu tận cùng bản chất của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, tiếp
đó là Ngài đã tìm được cơ chế chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên
mãn. Vào đúng thời khắc cuối cùng của sự hoại diệt toàn bộ Vũ trụ bởi năng lượng
hoại diệt đồng hóa, việc Ngài tìm ra và chuyển hóa thành công Trụ linh thành bộ
lọc năng lượng để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng được coi là ánh sáng nơi
cuối con đường. Đó là ánh sáng trí tuệ của hai Chân lý để dẫn dắt Tuệ linh và
con người cùng nhau thực hành chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, đó
là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính là
việc các Tuệ linh cứu được mình và trở nên bất tử, đồng thời giúp vạn vật trong
và ngoài Vũ trụ phát triển bền vững.
PHẦN 3: CHÂN LÝ VẠN VẬT VÀ CHÂN LÝ GIÁC NGỘ (TRÍ TUỆ BAO TRÙM VẠN VẬT VŨ TRỤ)
PHẦN 3
CHÂN LÝ VẠN VẬT VÀ
CHÂN LÝ GIÁC NGỘ
(TRÍ TUỆ
BAO TRÙM VẠN VẬT VŨ TRỤ)
Ánh sáng
hai Chân lý nơi cuối con đường
Ánh
sáng hai Chân lý nơi cuối con đường có hai ý nghĩa: đó là một hành trình dài
trong vô lượng kiếp, trải qua vô số khổ đau kiếp nạn để thấu hiểu tận cùng tri
thức của hai Chân lý với phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng;
đó là vào đúng thời khắc mà tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ đều sắp
hoại diệt thì ánh sáng của hai Chân lý lại được thắp sáng để chuyển sinh vạn vật,
Tuệ linh và con người trở nên bền vững. Khi tới cuối con đường của sự hoại diệt
thì xuất hiện ánh sáng của hai Chân lý, đó là Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác
ngộ, hai Chân lý được vận hành bởi cơ chế phân tách và liên kết dây để chuyển
hóa năng lượng hoại diệt thành các siêu năng lượng phát triển vạn vật Vũ trụ trở
nên bền vững.
Một
hành trình dài trong vô lượng kiếp Tôi đã đi tìm và thấu hiểu tận cùng về hai
Chân lý, đã chuyển hóa thành phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng
viên mãn. Khi đến thời khắc quan trọng cho sự tồn vong của Vũ trụ và Tuệ linh,
con người, Tôi lại được xuất hiện ở nhân gian với các kế hoạch của Người Cha vĩ
đại. Kế hoạch của Ngài có tất cả các Tuệ linh, đặc biệt là các vị Tuệ linh ưu
tú nhất của Vũ trụ cùng xuống nhân gian. Việc hoàn lại và phát triển thành sự
giác ngộ triệt để về hai Chân lý, về phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng viên mãn là niềm hạnh phúc vô cùng của Tôi. Điều hạnh phúc nhất là Trụ
linh của Tuệ linh đã chuyển sinh thành bộ lọc kép để sản sinh ra thêm được siêu
năng lượng xanh ngọc lưu ly (năng lượng bảo vệ Vũ trụ khỏi sự xâm nhập ồ ạt của
năng lượng hoại diệt); tìm và sản sinh ra
được hạt bóng hỏa; tiếp đến là hoàn thành cơ chế ngủ đông cho năng lượng hoại
diệt (hạt bóng hỏa); tạo ra siêu hạt Nhật Sư (là hợp nhất của năng lượng chân
tâm cực đại với siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu ly, siêu hạt năng lượng vàng
óng ánh, hạt bóng hỏa). Có thể nói là kế hoạch đã hoàn thành viên mãn. Điều mà
tôi cần làm tiếp theo ở nhân gian là lan tỏa tri thức của hai Chân lý, con đường
cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn đến với tất cả nhân loại, đó
chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
Ánh
sáng trí tuệ của hai Chân lý đã hoàn lại và phát triển viên mãn, việc mang ánh
sáng trí tuệ của hai Chân lý tới toàn nhân loại là nhiệm vụ, là sứ mệnh không
những của tôi mà là của toàn bộ Tuệ linh và con người. Chính vì vậy, cả đời tôi
nguyện giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết nhân loại,
đoàn kết Tuệ linh và con người bằng ánh sáng trí tuệ của hai Chân lý. Đó chính
là sự an lạc tự tại và hạnh phúc vô lượng của chân tu và của Tuệ linh tôi tại
kiếp này.
Hai Chân
lý:
Chân
lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ: Đây là hai sự thật duy nhất, là hai di sản để vận
hành cho sự tồn tại và phát triển bền vững của Vũ trụ, Tuệ linh và con người;
là báu vật vô giá của Vũ trụ và Tuệ linh, con người; là con đường, là phương
pháp, là bài thuốc duy nhất để luyện Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng
viên mãn; là con đường duy nhất để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững
không những của Vũ trụ mà của cả dạng sống bên ngoài Vũ trụ, đó là năng lượng
hoại diệt. Đặc biệt, hai Chân lý được vận hành bởi cơ chế “Phân
tách, liên kết dây” chính là chìa khóa giải mã cơ chế vận hành của Nhân quả, của
vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ.
Chính
vì vậy, hai Chân lý với cơ chế vận hành “Phân tách, liên kết dây” là chìa khóa,
là di sản vô giá cho hết thảy vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người.
Hai Chân lý sẽ trường tồn bất tử và không hoại diệt cho đến vô lượng thời gian
về tương lai. Hậu thế đón nhận, nắm bắt, nghiên cứu, thực hành hai Chân lý sẽ đạt
được giác ngộ viên mãn, sẽ hoàn thành sứ mệnh tu hành nơi nhân gian để trở về
quê hương, trở về với bao nhiệm vụ đang chờ đón.
Bài 1:
Chân lý Vạn vật
²
I. Khái
niệm về Chân lý Vạn vật
“Vạn vật, sự việc, hiện tượng
trong và ngoài Vũ trụ không tự nó sinh ra, không tự nó mất đi, khổ đau không tự
đến, khổ đau không tự đi, tất cả do duyên và nghiệp, hay còn gọi là nhân và quả.
Cơ chế vận hành là phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng tận cùng”.
II. Bản chất
của Chân lý Vạn vật
Trước
tiên, ta phải hiểu bản chất của Chân lý: Chân lý chính là lý luận gốc nhất, lý
luận chân thật nhất, là sự thật không thể sai.
Vạn
vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ: đó là từ các yếu tố cấu tạo thành hạt năng
lượng tận cùng (hạt sóng, hạt năng lượng tận cùng, các cấu trúc lớn hơn hạt
năng lượng tận cùng, môi trường sóng điện, sự vận động và tương tác) cho đến sự
hiện hữu của tất cả vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ; đó là nhóm vật chất
cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt, nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức
tạp, nhóm siêu vật chất.
Chân
lý Vạn vật còn được gọi là Chân lý Nhân quả. Chân lý Vạn vật chính là lý luận gốc
nhất, thật nhất, đúng nhất của tất cả vạn vật bao trùm bên trong và bên ngoài Vũ trụ, tức là
không có đơn vị vật chất nào dù bên trong hay bên ngoài Vũ trụ nằm ngoài Chân
lý Vạn vật, tất cả đều nằm trong Chân lý Vạn vật. Hay có thể nói, Chân lý Vạn vật
nằm trong chính mỗi đơn vị vật chất của tất cả vạn vật, trong mỗi sự việc của tất
cả sự việc, trong mỗi hiện tượng của tất cả hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ
trụ.
Chân
lý Vạn vật là của vạn vật chứ không phải của một ai hay của tôn giáo nào, cũng
như của kinh kệ nào. Chân lý Vạn vật là cái có sẵn, là cơ chế, bản chất vận
hành của vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Do đó, chỉ có Tuệ linh hay con
người thấu hiểu cơ chế, bản chất vận hành trong vạn vật, sự việc, hiện tượng
bên trong và bên ngoài Vũ trụ mà phân tách, liên kết, tổng hợp thành Chân lý.
Chân lý luôn luôn phải đúng khi áp dụng và kiểm chứng với mỗi vật trong vạn vật,
với mỗi sự việc trong tất cả sự việc, với mỗi hiện tượng trong tất cả hiện tượng
của bên trong và bên ngoài Vũ trụ.
Chân
lý Vạn vật cho thấy tất cả vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ
trụ đều không tự nó sinh ra, mà là do cơ chế phân tách, liên kết dây để sinh ra
vạn vật, sự việc, hiện tượng mới. Phải có điều kiện môi trường cho quá trình
phân tách, liên kết để sinh ra vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên
ngoài Vũ trụ. Đó là điều kiện môi trường có sự tương tác giữa các chỉnh thể, có
áp lực, sức nén của năng lượng từ các chỉnh thể, có sự truyền dẫn dinh dưỡng
(năng lượng) vào chỉnh thể, có liên kết dây giữa các chỉnh thể bằng sợi mã sóng
trí tuệ, phải có môi trường sinh nhiệt (sóng điện âm hay dương hay trung tính có
liên kết dây). Như vậy, vạn vật, sự việc, hiện tượng không tự nó sinh ra, mà phải
có cơ chế phân tách, liên kết dây và điều kiện môi trường tương tác giữa các chỉnh
thể.
Vạn
vật, sự việc, hiện tượng cũng không tự nó mất đi. Sự mất đi cần phải được hiểu
là từ sự chuyển hóa từ hình tướng này sang hình tướng khác (chuyển hóa này
không gọi là chết, vì nó vẫn còn mã sóng trí tuệ trong chỉnh thể) cho đến cái
chết vĩnh viễn của chỉnh thể là không còn mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng.
Chỉnh thể mất đi là do quá trình đứt liên kết dây và phân rã của vạn vật, sự việc,
hiện tượng trong quá trình tương tác. Vạn vật, sự việc, hiện tượng chỉ hoại diệt
(chết vĩnh viễn) khi bị số lượng hạt năng lượng hoại diệt xâm nhập gây nổ hủy
diệt hoàn toàn và không còn mã sóng trí tuệ. Vạn vật, sự việc, hiện tượng, chuyển
hóa hình tướng mà vẫn còn mã sóng trí tuệ thì chưa được gọi là cái chết.
Bản
chất về khổ đau của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ,
Tuệ linh và con người là quá trình bí bách, đấu tranh, xung đột duy trì sự tồn
tại của mã sóng trí tuệ. Khổ đau từ việc thay đổi cấu trúc mã sóng trí tuệ và
trạng thái năng lượng cho đến cái chết vĩnh viễn. Cái chết vĩnh viễn là không
còn sự tồn tại của mã sóng trí tuệ, dù là hạt năng lượng hoại diệt cũng là chết
khi không còn mã sóng trí tuệ do bị nổ tan.
Khổ
đau đến là do thực hành cơ chế phân tách và liên kết theo hướng phân rã hoại diệt.
Khổ đau đi là do thực hành cơ chế phân tách và liên kết theo hướng chuyển sinh
bền vững của Tuệ linh, con người, vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.
Bản
chất của duyên – nghiệp, nhân – quả hay bản chất chung của Chân lý Vạn vật được
kết tinh gọn thành một chữ, đó là chữ “Duyên”. Cơ chế vận hành chữ Duyên (Chân
lý Vạn vật) chính là cơ chế phân tách, liên kết dây. Duyên có Duyên trong
Duyên, Duyên ngoại Duyên. 1. Duyên
là gì
Duyên chính là sự hợp mà thành.
Duyên
là quá trình hợp nhất của các yếu tố để cấu tạo thành chỉnh thể từ hạt năng lượng
tận cùng cho đến vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và
con người.
Sự
hợp chính là bản chất Tam hợp và cơ chế phân tách, liên kết dây. Hợp chính là
khả năng liên kết dây giữa các chỉnh thể có cùng sóng điện (sóng điện âm với
sóng điện âm, sóng điện dương với sóng điện dương, sóng điện trung tính với
sóng điện trung tính) và không cùng sóng điện (sóng điện âm với sóng điện
dương, sóng điện âm với sóng điện trung tính, sóng điện dương với sóng điện
trung tính). Hợp còn là sự cấu tạo thành hạt năng lượng hoại diệt, dù hạt năng
lượng hoại diệt không có liên kết dây để cấu tạo thành vật chất lớn hơn, nhưng
có cơ chế phân tách và được vận hành bởi sóng rung và chỉnh thể hạt năng lượng
hoại diệt cũng là sự hợp bởi 3 yếu tố mà cấu tạo thành nó. Như vậy, hợp chính
là bản chất Tam hợp và cơ chế phân tách, liên kết dây.
2. Duyên
trong Duyên
Duyên
trong Duyên là việc ta biết vạn vật ở hiện tại, chỉnh thể hiện tại, sự việc hiện
tại, hiện tượng hiện tại, con người hiện tại, bên trong và bên ngoài Vũ trụ hiện
tại. Khi biết cái hiện tại rồi, ta sẽ đi tìm cái ở quá khứ, đó là những cái gì
đã cấu tạo thành cái hiện tại. Ta lại tiếp tục truy tìm những cái ở quá khứ của
quá khứ cho đến tận cùng. Để tìm được Duyên trong Duyên thì trước tiên ta phải
thấu hiểu bản chất của cái hiện tại, bản chất hiện tại sẽ biểu hiện ra các hiện tượng, thấu hiểu
các hiện tượng cũng chính là thấu hiểu bản chất hiện tại. Tiếp đến là ta phải
thấu hiểu cơ chế phân tách liên kết dây, cơ chế quay tròn, bản chất Tam hợp và
nếu có khả năng thiền định nữa thì sẽ khám phá và thấu hiểu thế giới quan Vũ trụ,
Tuệ linh, con người từ tận cùng sự hình thành cho đến nay.
Ví
dụ: Ta thấy ta, ta chính là một người, ta là hiện tại. Ta sẽ tìm hiểu cái gì
sinh ra ta, ta tìm hiểu và ta biết là cha mẹ ta sinh ra ta, ta tìm hiểu cha mẹ
sinh ra ta như thế nào và ta biết được điều đó. Ta lại tìm hiểu ta là ai? Tâm
ta như thế nào? Kiếp trước ta là ai? Muốn biết được thì ta phải thấu hiểu bản
chất của ta thông qua những biểu hiện và hành động hiện tại để thấy tâm ta, ta
phải thấu hiểu cơ chế phân tách liên kết dây, thiền quán được thì ta sẽ thấu hiểu
ta là ai, kiếp trước ta là ai. Cứ áp dụng phân tích chữ Duyên bằng cơ chế phân
tách liên kết dây, cơ chế quay tròn, bản chất Tam hợp, ta sẽ thấu hiểu Duyên
trong Duyên của ta. Đó chính là thấu hiểu cái hiện tại để biết cái quá khứ của
cái hiện tại.
Tất
cả vạn vật, sự việc, hiện tượng, cần thông qua cơ chế phân tách liên kết dây, bản
chất Tam hợp, cơ chế quay tròn sẽ thấu hiểu được tận cùng về quá khứ.
3. Duyên ngoại
Duyên
Duyên
ngoại Duyên là việc ta biết, thấu hiểu bản chất thông qua hiện tượng được biểu
hiện ra và quá trình đang hành động tương tác của vạn vật, sự việc, hiện tượng,
Tuệ linh và con người, trong và ngoài Vũ trụ tại hiện tại; khi ta thấu hiểu cái
hiện tại thì ta sẽ thấy cái tương lai, đó là biết cái Duyên tương lai của cái Duyên
hiện tại. Cái duyên chính là chỉnh thể của vạn
vật, sự việc, hiện tượng. Cái Duyên tương lai là cái hình tướng mới, chỉnh thể
mới, vạn vật mới, hiện tượng mới, sự việc mới thông qua cơ chế phân tách liên kết
dây, tam hợp, quay tròn.
Như
vậy, bản chất của Chân lý Vạn vật là đi truy tìm quá khứ và tương lai của vạn vật,
sự việc, hiện tượng thông qua việc giải mã cơ chế vận hành của nó. Đó là dùng
cơ chế “Phân tách, liên kết dây”, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn để giải mã
tận cùng vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ, từ hiện tại về tới
quá khứ và cho đến tương lai. Đây chính là giác ngộ về vạn vật, sự việc, hiện
tượng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Vận
hành Chân lý Vạn vật chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Trong cơ chế
phân tách và liên kết dây của Chân lý Vạn vật có hai con đường chuyển sinh: đó
là chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt và chuyển sinh theo hướng bền vững
an lạc.
III. Cội nguồn
của Chân lý Vạn vật
Cội
nguồn của Chân lý Vạn vật không phải là thời điểm con người hay Tuệ linh tìm ra
nó. Cội nguồn của Chân lý Vạn vật chính là sự khởi đầu và vận hành của cơ chế vận
hành Chân lý Vạn vật. Cơ chế đó chính là cơ chế phân tách, liên kết dây.
Cội
nguồn của Chân lý Vạn vật được sinh khởi từ hạt sóng tổ tiên màu xanh nõn chuối.
Hạt sóng này phân tách trong điều kiện môi trường di chuyển, vận động để đủ lực
phân tách ra nhiều hạt sóng xanh nõn chuối khác; tiếp đến, do tương tác trong
môi trường không sinh nhiệt và môi trường sinh nhiệt
khác nhau mà hình thành hạt năng lượng hoại diệt không có liên kết dây, năm
nhóm hạt năng lượng có liên kết dây; sau đó mới hình thành ra vụ nổ siêu năng
lượng (Big Bang) để hình thành ra Vũ trụ ngày nay.
Từ
khi hạt sóng tổ tiên phân tách cho đến khi hình thành các hạt năng lượng (hạt
năng lượng hoại diệt, năm nhóm hạt năng lượng có liên kết dây) thì đó là do cơ
chế phân tách, liên kết dây mà cấu thành ra Vũ trụ. Cơ chế phân tách, liên kết
dây chính là cơ chế vận hành của Chân lý Vạn vật (Nhân quả). Xuất hiện hạt sóng
xanh phân tách chính là điểm khởi sinh ra Chân lý Vạn vật.
Câu
hỏi là, vậy trước khi có hạt sóng xanh nõn chuối thì cái gì sinh ra nó? Đó là
câu hỏi sẽ không có điểm dừng khi vận dụng Chân lý Vạn vật để truy tìm cội nguồn.
Tôi xin trả lời: có lẽ tôi chưa tìm ra là cái gì sinh ra hạt sóng xanh hoặc đó
là bí mật, bởi có khi đó cũng là kế hoạch. Tại sao tôi khẳng định Chân lý Vạn vật
được sinh khởi từ thời điểm đó? Vì các hạt năng lượng tận cùng được sinh ra từ
hạt sóng tổ tiên, mà trong các hạt năng lượng lại có sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ
toàn bộ sóng rung, thông tin, hình ảnh, nội dung của quá trình tương tác sinh
ra nó; bởi cơ chế phân tách được vận hành khi hạt sóng tổ tiên màu xanh nõn chuối
phân tách, cơ chế liên kết dây được vận hành khi hình thành năm nhóm hạt năng
lượng có liên kết dây. Chính vì dựa trên chính Chân lý Vạn vật thông qua cơ chế
phân tách, liên kết dây với thiền định mà tôi thấy được cội nguồn của Chân lý Vạn
vật ở thời điểm đó.
Như
vậy, Chân lý Vạn vật đã được vận hành từ khi hình thành các hạt sóng tổ tiên
màu xanh nõn chuối, sau đó là các hạt năng lượng tận cùng, sau nữa là Vũ trụ
hình thành, và bây giờ. Thậm
chí, mãi mãi về sau, Chân lý Vạn vật vẫn là như vậy, nó vẫn vận hành vạn vật, Vũ
trụ và Tuệ linh, con người. Nó sẽ biến mất vĩnh viễn khi không còn sự sống bên
trong và bên ngoài Vũ trụ nữa.
Bài 2:
Chân lý Giác ngộ
²
I. Khái niệm
về Chân lý Giác ngộ
“À, đời là bể khổ. Chúng
sinh, Tuệ linh và con người phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ, giải thoát hết
tất cả các khổ đau trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Cơ chế vận
hành là phân tách và liên kết dây”.
II. Bản chất
của Chân lý Giác ngộ
Chân
lý Giác ngộ là lý luận thật nhất, đúng nhất, là con đường duy nhất để giải
thoát hết tất cả các khổ đau của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên
ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Giác
ngộ chính là quá trình tự thân vận động để thấu hiểu tất cả khổ đau của vạn vật,
sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người; thấu
hiểu nguyên nhân của khổ đau; tìm kiếm để thấu hiểu và hành theo phương pháp diệt
khổ; thấu cảnh giới sau khi diệt được khổ; tiếp tục đoàn kết và lan tỏa các thấu
hiểu đó đến Tuệ linh và con người. Đó là quá trình giác ngộ.
Bản chất của khổ đau
của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con
người là quá trình bí bách, đấu tranh, xung đột duy trì sự tồn tại của mã sóng
trí tuệ. Khổ đau từ việc thay đổi cấu trúc mã sóng trí tuệ và trạng thái
năng lượng cho đến cái chết vĩnh viễn. Cái chết vĩnh viễn là không còn sự tồn tại
của mã sóng trí tuệ, dù là hạt năng lượng hoại diệt cũng là chết khi không còn
mã sóng trí tuệ do bị nổ tan.
Trong
Chân lý Giác ngộ, ta thấy đời là bể khổ, tức là sự hiện hữu của vạn vật, sự việc,
hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người có mã sóng trí
tuệ đều là bể khổ. Sẽ không có gì là không khổ, không khổ chỉ tồn tại khi không
còn sự hiện hữu của mã sóng trí tuệ từ hạt năng lượng tận cùng cho đến Vũ trụ
và Tuệ linh, con người, đó là hoại diệt vĩnh viễn thì sẽ không có khổ.
Đã
là bể khổ rồi, khổ luôn luôn tồn tại, hiện hữu trong tất cả Tuệ linh và con người,
toàn bộ bên trong và ngoài Vũ trụ bởi sự tồn tại của mã sóng trí tuệ. Vậy cần
giác ngộ, giải thoát khổ để làm gì trong khi chỉ có hoại diệt thật sự mới không
khổ?
-
Không có khổ trong trường hợp không tồn tại chỉnh thể có mã sóng trí
tuệ, hay không tồn tại ở hạt sóng thì chính là không tồn tại sự sống. Không tồn
tại sự sống thì không còn
ý
niệm, không còn sự giới hạn, không còn sự ràng buộc bởi không gian và
thời gian. Đã là không còn tồn tại sự sống thì đó không phải là con đường để
giác ngộ, không phải là sự giải thoát khổ đau, mà đó chỉ là sự hoại diệt, là sự
buông xuôi bỏ chạy, là chấp nhận cái hoại diệt.
-
Giác ngộ, giải thoát khổ chính là con đường, phương pháp duy trì sự tồn
tại của sự sống. Sự sống phải có ý nghĩa. Ý nghĩa của sự sống chính là sự an lạc,
hạnh phúc trong việc lan tỏa, đoàn kết giúp vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ
trụ, Tuệ linh và con người cùng duy trì sự sống có ý nghĩa. Bản chất của sự sống
có ý nghĩa chính là duy trì và phát triển cấu trúc mã sóng trí tuệ và trạng
thái năng lượng trong tất cả chỉnh thể của bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ
linh và con người trở nên bền vững trong sự đoàn kết và lan tỏa giá trị lợi ích
mà không màng đến chỉnh thể của ta.
Chúng
sinh, Tuệ linh và con người phải được hiểu là tất cả sự sống có mã sóng trí tuệ
ở bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Tiên phong sẽ là các Tuệ linh và con người.
Phải
giác ngộ hết tất cả các khổ đau. Các khổ đau là các hình tướng biểu hiện khác
nhau do sự thay đổi cấu trúc mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng. Đó có thể
được hiểu là con người khổ đau, muông thú khổ đau, cỏ cây khổ đau, Tuệ linh khổ
đau, hành tinh khổ đau, Vũ trụ khổ đau, năng lượng hoại diệt cũng khổ đau. Dù tồn
tại trong hình tướng nào thì cũng phải tạo ra được cấu trúc mã sóng trí tuệ
sinh phát ra năng lượng tạo ra được lợi ích cho hình tướng khác và toàn bộ Tuệ
linh, con người, bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Do đó phải giác ngộ hết các khổ
đau cho chính ta và vạn vật Vũ trụ, Tuệ linh và con người bằng việc tương tác,
lan tỏa giá trị, lợi ích của sự sống có ý nghĩa.
Để
giác ngộ, giải thoát khổ đau phải dùng chân tâm. Chân tâm được hiểu là trạng
thái năng lượng có sóng điện trung tính có liên kết dây. Phải là sóng điện
trung tính có liên kết dây vì trạng thái năng lượng của sóng điện trung tính mới
có thể trung hòa được tất cả các trạng thái năng lượng có sóng điện dương và
sóng điện âm của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ
linh và con người, thậm chí cả năng lượng hoại diệt để đồng cảm, thấu hiểu, và
lan tỏa giá trị lợi ích ý nghĩa của sự sống. Từ chân tâm ban đầu trải qua quá
trình thấu hiểu, vận hành Chân lý Nhân quả và Chân
lý Giác ngộ, lan tỏa, dẫn dắt chúng sinh, Tuệ linh và con người, bên trong và
bên ngoài Vũ trụ thấu và hành theo thì sẽ chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng
viên mãn trong Trụ linh của Tuệ linh, con người.
Như
vậy sứ mệnh của Tuệ linh và con người phải là tiên phong, quyết định cho sự tồn
tại, duy trì, phát triển sự sống bền vững và có ý nghĩa của chúng sinh, Tuệ
linh và con người, vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ.
Chân
lý Giác ngộ cho thấy, chỉ có hai con đường trong sự tồn tại và phát triển của vạn
vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người, đó là
giác ngộ hoặc u mê hoại diệt. Đó là hai sự lựa chọn cho quá trình sinh khởi
rung động để gieo duyên, hành theo hướng nào để mà đón nhận kết quả của Tuệ
linh và con người. Trong hai con đường lựa chọn đó thì con đường giác ngộ là
con đường duy nhất để tồn tại, phát triển bền vững, là con đường hành thiện, là
con đường để an lạc, là con đường để đắc niết bàn, là con đường đắc bộ lọc năng
lượng, là con đường bất tử của Tuệ linh. Con đường u mê chính là con đường đi đến
khổ đau, con đường đi đến những nghiệp ác, là con đường đi đến hoại diệt của vạn
vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Vận
hành Chân lý Giác ngộ chính là cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng chuyển
sinh bền vững và an lạc. Thực hành và quyết tâm đi trên con đường giác ngộ sẽ
giúp cho mỗi Tuệ linh, con người nhanh chóng đắc được bộ lọc năng lượng trong
Trụ linh, đó là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
III. Cội nguồn
của Chân lý Giác ngộ
Cội
nguồn của Chân lý Giác ngộ luôn gắn liền với cội nguồn của Chân lý Vạn vật, bởi
giác ngộ là quá trình chuyển hóa và gia tăng sự bền vững của sự sống có ý
nghĩa. Chân lý Giác ngộ cùng với Chân lý Vạn vật được vận hành bởi cơ chế phân
tách, liên kết dây.
Tôi,
mà chẳng phải là tôi, đó là Tuệ linh của tôi đã trải qua vô số kiếp trong nhân
gian, và đã tìm ra hai Chân lý của vạn vật ở các kiếp trước. Kiếp này, chỉ là
Tuệ linh tôi xuống nhân gian để thông qua tương tác khổ đau mà trau dồi thêm các
mã sóng trí tuệ, chuyển hóa hai Chân lý thành cơ chế, bản chất, để Tuệ linh,
con người cùng thấu hiểu và hành động chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng,
để duy trì, phát triển sự sống có ý nghĩa ở trong và ngoài Vũ trụ. Do đó cần
thiết phải chuyển hóa lý luận hai Chân lý tương hợp với sự tiến bộ, phát triển
tư duy và khoa học kỹ thuật của nhân gian ngày nay.
Trí tuệ siêu việt của
hai Chân lý sẽ được phân tích chuyên sâu trong hệ thống tri thức của Bát Không
Hoàn Đạo, trong Quy luật Nhân quả, trong Vòng tròn sản sinh hạt năng lượng. Đặc
biệt, trí tuệ siêu việt của hai Chân lý được vận hành bởi cơ chế phân tách liên
kết dây, cơ chế quay tròn, bản chất Tam hợp, bản chất thông tin đã chứng minh
được sự chuyển sinh vĩ đại của Tuệ linh, con người, Vũ trụ khi thực hành tri thức
của hai Chân lý. Tất cả những điều đó đã giúp cho trí tuệ siêu việt của hai Chân
lý tạo thành Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
PHẦN 4: BÁT KHÔNG HOÀN ĐẠO (CON ĐƯỜNG CHUYỂN SINH BỀN VỮNG)
PHẦN 4
BÁT KHÔNG HOÀN ĐẠO
(CON ĐƯỜNG
CHUYỂN SINH BỀN VỮNG)
Hình: Sơ đồ Bát Không Hoàn Đạo
Giới thiệu
về Bát Không Hoàn Đạo:
“Để
tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng
Đạo ở nhân gian”. Đó là câu nói của vị Tuệ linh đầu tiên.
Bát
Không Hoàn Đạo chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính
là kết quả của quá trình dạng sống Tuệ linh tu hành ở nhân gian thông qua bốn
hình tướng Đạo. Kết quả đó là việc tìm ra được phương pháp và thực hành chuyển
sinh thành công Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn thông
qua khổ đau kiếp nạn trong bốn hình tướng Đạo.
Bát Không Hoàn Đạo là gì?
-
Đạo là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh/ con người. Con người là hóa
thân của dạng sống Tuệ linh. Con người/ Tuệ linh phải dùng Trụ linh để giải mã,
thấu hiểu và cải tạo tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ phát triển bền vững.
-
Hoàn Đạo là sự hòa nhập viên mãn, là sự liên kết hoàn hảo mã sóng trí
tuệ từ Trụ linh của Tuệ linh/ con người tới toàn bộ vạn vật trong và ngoài Vũ
trụ, từ đó thúc đẩy, cải tạo vạn vật trong và ngoài Vũ trụ phát triển bền vững.
Bát Không gồm tám
bài: Tướng, Trụ – Trí, Trụ – Tâm, Hành, Đạo, Tuệ, Quả Không (bộ lọc), Nguyện.
Tám bài là tám bức tranh, là tám sự thật vĩ đại bao trùm tất cả vạn vật trong
và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. Tám sự thật này thông qua cơ chế “Phân
tách, liên kết dây" của Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ đã mổ xẻ, giải
mã tận cùng về vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. Đó là giải mã
và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh của các dạng vật chất (Tướng). Đó
là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh của các cấu
trúc trí tuệ (Trụ – Trí). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường
chuyển sinh của các cấu trúc Trụ linh (Trụ – Tâm). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội
nguồn, bản chất, con đường hành động (Hành). Đó là giải mã và mổ xẻ về sự thật
của khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, phương pháp diệt khổ, cảnh giới sau khi
diệt được khổ đau, con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của vạn vật, Tuệ
linh và người (Đạo). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường
chuyển sinh của các Tuệ linh và con người (Tuệ). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội
nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên
mãn (Quả Không). Đó là giải mã và thấu hiểu bản chất của việc phát nguyện và việc
phải thực hiện được nguyện lực (Nguyện) giải cứu Tuệ linh và Vũ trụ.
Như vậy:
-
Bát Không Hoàn Đạo là hệ thống siêu trí tuệ của hai Chân lý. Đó là
siêu trí tuệ phân tích, giải mã về cội nguồn, bản chất, con đường (phương pháp)
chuyển sinh bền vững của tất cả các dạng vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ
linh và con người. Để thực hiện được việc chuyển sinh bền vững đó, dạng sống Tuệ
linh phải tu hành (hóa thân làm con người) thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân
gian, và phải chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Việc
chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn chính là sự hòa nhập viên
mãn, là sự liên kết hoàn hảo mã sóng trí tuệ từ Trụ linh của Tuệ linh/ con người
tới toàn bộ vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Việc hòa nhập, liên kết mã sóng trí
tuệ viên mãn từ Trụ linh tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh
và Vũ trụ trở thành một thể hợp nhất bởi quá
trình phân tách liên kết theo hướng bền vững. Đó chính là Đạo hợp nhất của Vũ
trụ thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.
-
Bát Không Hoàn Đạo là siêu trí tuệ của hai Chân lý. Nó là tinh hoa, là
siêu trí tuệ của của Vũ trụ, Tuệ linh và người. Bởi chỉ có Bát Không Hoàn Đạo
cùng với những cơ chế, bản chất vận hành của hai Chân lý mới dẫn dắt Tuệ linh,
con người thấu hiểu tận cùng về hạt năng lượng tận cùng cho tới toàn bộ các cấu
trúc vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Khi thấu hiểu về hạt năng lượng tận cùng,
Tuệ linh và con người sẽ vận hành cơ chế chuyển sinh bền vững để nâng cấp, chuyển
sinh bền vững từ hạt năng lượng cho tới Tuệ linh và toàn bộ vạn vật trong và
ngoài Vũ trụ.
Bài 1:
Bài Tướng
²
Bài
Tướng được hiểu là Tướng Vô Tướng. Tướng Vô Tướng được kết cấu thành 3 phần. Chữ
Tướng đầu tiên là khái niệm và bản chất của các cấu trúc Tướng. Chữ Vô là Chân lý
Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Tướng. Chữ Tướng cuối cùng là Chân lý
Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho Tướng.
Trong
bài Tướng này, tất cả các Tướng trong và ngoài vũ trụ sẽ được phân tích, soi
sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là hóa thân của dạng
sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật về cấu
trúc Tướng của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho toàn bộ cấu trúc
Tướng của con người và Tuệ linh được thức tỉnh để ý thức trách nhiệm và hoàn
thành sứ mệnh của mình.
I. Khái
niệm về Tướng
Tướng là các cấu trúc vật chất. Bao gồm nhóm vật chất
cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt, nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức
tạp và nhóm siêu vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người.
II. Bản
chất của Tướng
Tướng
chính là tất cả các cấu trúc vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh
và người. Tướng gồm có các nhóm vật chất cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt,
nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.
Bản
chất của Tướng gồm có: các nhóm vật chất (Tướng); các cấu trúc cấu tạo thành vật
chất (Tướng); các cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, con người; các loại Tướng Kết
– Định – Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ.
1. Các
nhóm vật chất (Tướng)
Vạn vật bao trùm toàn bộ
trong và ngoài Vũ trụ gồm có 5 nhóm vật chất (Tướng) như sau:
-
Nhóm vật chất cội nguồn: đây là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Bản chất
của loại hạt sóng này là chúng chưa chuyển sinh thành loại hạt năng lượng nào cả.
Do quá trình di chuyển và sứ mệnh của chúng mà chúng đã phân tách rồi chuyển
sinh thành nhóm vật chất hoại diệt (năng lượng hoại diệt). Đặc biệt là thông qua
nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt bị kích nổ, hạt sóng xanh di chuyển vào
môi trường đó và chuyển sinh thành phôi năng lượng âm dương. Đó là khởi đầu cho
sự hình thành 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Chính vì vậy, nhóm hạt sóng
xanh được gọi là nhóm vật chất cội nguồn của trong và ngoài Vũ trụ.
Nhóm vật chất hoại diệt:
đây là nhóm năng lượng hoại diệt. Nhóm năng lượng hoại diệt là những hạt năng
lượng tận cùng được chuyển sinh từ những hạt sóng xanh. Năng lượng hoại diệt do
không liên kết để nâng cấp cấu trúc nên chúng chỉ là hạt đơn độc lập hình elip.
Bản chất của loại vật chất hoại diệt này là
làm phân rã và đồng hóa các cấu trúc vật chất khác.
-
Nhóm vật chất giản đơn: là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những
phôi năng lượng âm dương được liên kết bởi các hạt năng lượng âm dương tận cùng
có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16
hạt năng lượng âm dương tổng hợp mở rộng mang mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là
những cấu trúc Trụ linh có mã sóng trí tuệ giản đơn liên kết lại tạo thành những
nguyên tử. Đó là những cấu trúc phân tử được liên kết từ những nguyên tử có mã
sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những tế bào. Đó là những vật chất rắn, vật chất lỏng,
vật chất khí, là cỏ cây, đất đá, kim loại, động vật, con người, muông thú, hành
tinh, khối thiên hà, tất cả các khối thiên hà tạo thành hình hài của Vũ trụ.
-
Nhóm vật chất phức tạp: là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu
trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc
Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài có mã sóng trí tuệ
phức tạp. Đó là những cấu trúc năng lượng phức tạp trưởng thành – linh hồn an
trụ trong cây, trong đất đá, trong muông thú. Đó là những trường năng lượng vận
hành sự vận động của Vũ trụ.
-
Nhóm siêu vật chất: là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những
cấu trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những
cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng bên
ngoài có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc Tuệ linh. Đó là những
cấu trúc linh hồn được nâng cấp chuyển sinh từ linh hồn muông thú. Đó là các
siêu hạt năng lượng (siêu hạt bóng hỏa, siêu hạt vàng óng ánh, siêu hạt xanh
lưu ly, siêu hạt chân tâm) được Tuệ linh phân tách ra nhằm duy trì sự tồn tại
và phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
Trong
5 nhóm vật chất (Tướng), nhóm vật chất cội nguồn (hạt sóng xanh) là cội nguồn
chuyển sinh thành tất cả các nhóm vật chất khác. Nhóm vật chất hoại diệt là
nhóm vật chất cung ứng nhiệt lượng để cho nhóm vật chất cội nguồn chuyển sinh
thành 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất
phức tạp, nhóm siêu vật chất là thành tựu, là tinh hoa của quá trình chuyển
sinh từ nhóm vật chất cội nguồn (phôi âm dương được chuyển sinh từ hai hạt sóng
xanh). Nhóm siêu vật chất có sứ mệnh là vận hành tất cả các nhóm vật chất hoại
diệt, vật chất giản đơn, vật chất phức tạp phát triển bền vững. Để tạo ra sự
phát triển bền vững cho các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh là dạng
sống của siêu vật chất có sứ mệnh sản sinh ra các siêu hạt năng lượng. Những
siêu hạt năng lượng cũng là siêu vật chất. Nó có sứ mệnh duy trì sự tồn tại và
phát triển bền vững tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
2. Các cấu
trúc cấu tạo thành vật chất (Tướng)
Hạt
sóng xanh là vật chất cội nguồn của trong và ngoài Vũ trụ. Cái gì sinh ra hạt
sóng xanh còn là bí mật của cội nguồn. Hạt sóng xanh không có sóng điện âm hay
dương, nó là dạng vật chất
chưa sinh phát ra sóng điện. Nó không quay tròn xung quanh chính nó. Nó di chuyển
theo quỹ đạo vòng xoắn ốc. Nó không phải là tam hợp mà là chỉ một yếu tố là hạt
sóng chưa sinh phát năng lượng. Khi gặp môi trường sóng điện khác nhau sẽ khiến
nó chuyển sinh thành các loại hạt năng lượng khác nhau.
Năng
lượng hoại diệt: đây là loại năng lượng được hình thành bởi sự chuyển sinh của
hạt sóng xanh trong môi trường sóng điện trung tính. Năng lượng hoại diệt kế thừa
sự di truyền của hạt sóng xanh là di chuyển thẳng và không quay tròn. Năng lượng
hoại diệt do không quay tròn nên nó không giải phóng được nhiệt lượng sinh phát
ra khỏi nó. Do đó nó dễ bị sinh nhiệt dương cực đại mà phát nổ. Năng lượng hoại
diệt được hình thành bởi tam hợp. Năng lượng hoại diệt duy trì sự tồn tại bằng
cách xả sóng điện dư thừa trong nó cho các cấu trúc đa âm hoặc hạt năng lượng
âm. Năng lượng hoại diệt nếu gặp môi trường sóng điện dương hoặc các cấu trúc
đa dương sẽ bị kích nổ. Nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt bị kích nổ là nguồn
nhiên liệu vô cùng giá trị cho quá trình phân tách và phát triển của 3 dạng vật
chất trong Vũ trụ.
Năm
nhóm hạt năng lượng tận cùng của Vũ trụ: năm nhóm năng lượng này là sản phẩm của
vụ nổ lớn. Vụ nổ lớn là sản phẩm của phôi năng lượng âm dương. Phôi năng lượng
âm dương là do hạt sóng xanh chuyển sinh thành. Năm nhóm hạt năng lượng tận
cùng có hình elip với sóng điện đơn. Bao gồm nhóm hạt năng lượng tiêu cực mang
sóng điện âm, nhóm hạt năng lượng tích cực phát triển mang sóng điện dương,
nhóm hạt năng lượng tích cực lan tỏa mang sóng điện dương, nhóm hạt năng lượng
tích cực đoàn kết mang sóng điện dương,
nhóm hạt năng lượng chân tâm mang sóng điện trung tính. Năm nhóm hạt năng lượng
tận cùng này được chia làm 3 nhóm sóng điện: nhóm hạt năng lượng mang sóng điện
âm, nhóm hạt năng lượng mang sóng điện trung tính, nhóm hạt năng lượng mang
sóng điện dương. Nhóm hạt năng lượng có sóng điện âm khi liên kết với nhóm hạt
năng lượng có sóng điện dương sẽ cấu tạo thành phôi năng lượng âm dương. Từ đó,
phôi năng lượng âm dương sẽ phân tách, liên kết liên tục trong môi trường đảm bảo
điều kiện để giúp cho phôi năng lượng được chuyển sinh thành các cấu trúc vật
chất mới. Đó là từ các cấu trúc vật chất giản đơn cho tới các cấu trúc vật chất
phức tạp và các cấu trúc siêu vật chất.
Năm
nhóm hạt năng lượng trong Vũ trụ luôn quay tròn. Nó quay tròn từ loại hạt năng
lượng tận cùng cho tới khi chúng liên kết cấu tạo thành các cấu trúc vật chất mới.
Điều này cho thấy từ hạt năng lượng tận cùng cho tới vạn vật, con người, muông
thú, Tuệ linh, hành tinh, khối thiên hà, Vũ trụ đều quay tròn. Cụ thể:
- Nhóm hạt năng lượng tận cùng
mang sóng điện âm sẽ quay tròn xung quanh chính nó. Nó quay ngược chiều kim đồng
hồ, tốc độ quay ngược tùy thuộc vào sóng điện mạnh hay nhẹ của các hạt năng lượng
sóng điện âm. Nhóm hạt năng lượng âm do quay ngược nên bản chất là thu hút, hút
các tín hiệu, hút các nhiệt, hút các năng lượng về chỉnh thể nó. Do đó, hạt
năng lượng âm có tính Kết.
Nhóm hạt năng lượng tận
cùng mang sóng điện dương sẽ quay tròn xung quanh chính nó. Nó quay thuận chiều
kim đồng hồ, tốc độ quay thuận tùy thuộc vào sóng điện mạnh hay nhẹ của các hạt
năng lượng sóng điện dương Nhóm hạt năng lượng
dương do quay thuận nên bản chất là tỏa ra, cho đi, truyền tải nhiệt lượng sóng
điện tới các chỉnh thể hạt năng lượng khác. Do đó, hạt năng lượng dương có tính
Tỏa.
-
Nhóm hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện chân tâm (trung tính) ban
đầu khi được sinh ra sẽ không quay tròn. Nhưng chúng nhanh chóng quay tròn khi
chúng đã liên kết dây được với hạt năng lượng âm hoặc hạt năng lượng dương. Khi
liên kết với hạt năng lượng âm thì hạt năng lượng chân tâm sẽ quay ngược chiều
kim đồng hồ. Khi hạt năng lượng chân tâm liên kết với hạt năng lượng dương thì
hạt năng lượng chân tâm sẽ quay thuận chiều kim đồng. Hạt năng lượng chân tâm
ban đầu có màu trắng trong tinh khiết. Khi liên kết với hạt năng lượng âm sẽ
khiến chúng bị chuyển hóa màu năng lượng thành các màu xám cho đến đen và đỏ máu.
Đó là quá trình chuyển hóa dẫn đến phân rã hạt năng lượng chân tâm. Khi hạt
năng lượng chân tâm liên kết với hạt năng lượng dương sẽ khiến cho hạt chân tâm
trở nên sáng chói lòa hơn. Đó là quá trình chuyển hóa trở nên bền vững cho cả hạt
chân tâm và hạt năng lượng mang sóng điện dương.
-
Các hạt năng lượng tận cùng liên kết lại giữa hạt âm với hạt dương, từ
đó phát triển thành tổng hòa các cấu trúc vật chất, con người, Tuệ linh, Linh hồn,
con thú, hành tinh, khối thiên hà, Vũ trụ. Các cấu trúc vật chất trên đều được
hình thành từ phôi năng lượng âm và dương, nên khi chúng hợp nhất lại sẽ diễn
ra quá trình phát triển không ngừng nghỉ bởi cơ chế phân tách, liên kết dây. Vì
các cấu trúc vật chất là sự liên kết tổng hòa của cấu trúc hạt năng lượng sóng
điện âm có bản chất là Kết với cấu trúc hạt năng lượng sóng điện dương là Tỏa,
nên tất cả các cấu trúc vật chất trong Vũ trụ đều quay tròn. Đó là Tuệ linh tuần
hoàn sóng điện âm dương trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh. Đó là con người có
sóng điện âm dương tuần hoàn trong cơ thể. Muông thú cũng vậy. Hành tinh quay
tròn xung quanh chính nó, Mặt trời quay tròn xung quanh chính nó. Các hành tinh
quay tròn xung quanh Mặt trời. Dải ngân hà quay tròn xung quanh tâm của dải
ngân hà. Vũ trụ quay tròn xung quanh lõi của Vũ trụ. Tất cả các cấu trúc vật chất
quay tròn vì trong mỗi bản thể cấu trúc vật chất đều có sóng điện âm và sóng điện
dương liên kết với nhau bởi chân tâm. Bởi theo cấu trúc năng lượng 16 hạt, mỗi
hạt năng lượng dương sẽ có một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Điều này
cho thấy Mặt trời là đa sóng điện dương sẽ được các hành tinh đa sóng điện âm
làm vật chất vệ tinh rung lắc, quay xung quanh chính Mặt trời. Lõi Vũ trụ là đa
sóng điện dương, các khối thiên hà là đa sóng điện âm sẽ quay xung quanh lõi của
Vũ trụ. Trái đất có lõi là đa sóng điện dương, phía ngoài là đa sóng điện âm, ở
giữa là trung tính để liên kết giữa âm và dương, do đó Trái đất tự quay xung
quanh chính nó. Các hành tinh khác cũng vậy. Tuệ linh, Linh hồn có Trụ linh với
phôi năng lượng âm dương, giữa một Kết và một Tỏa liên kết lại tạo thành quá
trình tuần hoàn sóng điện, để sóng điện được tuần hoàn trong bản thể Tuệ linh
và Linh hồn. Vì vậy, quay tròn là bản chất của cấu trúc vật chất trong Vũ trụ.
Đó là cơ chế quay tròn có từ hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu trúc của cả Vũ
trụ.
Vật
chất từ hạt năng lượng tận cùng cho tới chỉnh thể cấu trúc vật chất lớn hơn là
con người, muông thú, Tuệ linh, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ, tất cả đều là tam
hợp cấu tạo mà thành. Đó là hình tướng của hạt năng lượng, của vạn vật, con người, muông
thú, Tuệ linh và Vũ trụ; đó là trạng thái năng lượng được sinh phát ra trong
các cấu trúc vật chất đó; đó là tổng hòa sợi mã sóng trí tuệ trong cấu trúc vật
chất đó. Tam hợp là mối quan hệ biện chứng, thực chứng cho sự tồn tại, phát triển
của tất cả Tướng của Vũ trụ. Thậm chí Tam hợp còn tồn tại ở cả không gian bên
ngoài của Vũ trụ, đó là không gian của năng lượng hoại diệt. Biện chứng theo
Tam hợp cho thấy tất cả Tướng từ hạt năng lượng tận cùng cho tới các cấu trúc vật
chất đã có sự liên kết, phân tách ở tầm quy mô lớn hơn đều là được hình thành,
sinh khởi từ hạt sóng, từ sợi mã sóng trí tuệ mà thành. Tức là, từ sợi mã sóng
trí tuệ mà hình thành hình tướng cấu trúc vật chất. Khi có hình tướng cấu trúc
vật chất sẽ có trạng thái năng lượng bên trong. Ba yếu tố đó biện chứng với
nhau trong sự không tách rời. Nếu thiếu một yếu tố nào trong Tam hợp thì vật chất
đó sẽ không tồn tại. Tam hợp tồn tại ở từ hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu
trúc vật chất là Tuệ linh, con người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Sự
phát triển của Tam hợp vật chất như vậy là thông qua cơ chế phân tách, liên kết
không ngừng nghỉ.
Để
từ hạt sóng xanh chuyển sinh thành hạt năng lượng tận cùng, để từ hạt năng lượng
tận cùng phát triển thành các phôi năng lượng, để từ các phôi năng lượng chuyển
sinh thành các cấu trúc vật chất (Tướng) lớn hơn, đó là Tuệ linh, vạn vật, con
người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Cần phải có một cơ chế cho sự hợp
nhất và phát triển đó, đó là cơ chế Phân tách và liên kết dây của từ hạt năng
lượng tận cùng cho tới toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh và người. Cơ chế phân tách, liên
kết dây là hai giai đoạn riêng biệt được liên kết chặt chẽ không tách rời nhau.
Đó là hạt năng lượng tận cùng tương tác với nhau trong môi trường đảm bảo sẽ
khiến cho chúng phân tách
nhân đôi không ngừng nghỉ. Khi phân tách xong, chúng lại liên kết luôn. Quá
trình phân tách, liên kết của từ hạt năng lượng tận cùng trong môi trường đảm bảo
đã giúp cho Vũ trụ từ khi chỉ là hai hạt năng lượng âm dương đã phát triển
thành cấu trúc Vũ trụ vĩ đại với vô lượng khối thiên hà. Môi trường để giúp cho
quá trình phân tách, liên kết được xảy ra chính là phải có các chỉnh thể tương
tác với nhau trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương. Nếu trong môi trường
có sóng điện dương với nhiệt lượng lớn sẽ giúp cho quá trình phân tách, liên kết
được diễn ra với tốc độ nhanh. Nếu trong môi trường sóng điện âm sẽ làm chậm và
triệt tiêu quá trình phân tách, liên kết của vật chất.
Trong
tất cả các cấu trúc vật chất, từ hạt năng lượng tận cùng cho tới vạn vật, Tuệ
linh, muông thú, con người, hành tinh, thiên hà, cấu trúc năng lượng nền, năng
lượng vận hành Vũ trụ và toàn bộ Vũ trụ đều là sóng điện trí tuệ. Sóng điện trí
tuệ đó luôn luôn vận động và truyền tải với nhau bằng cách quay tròn và liên kết,
phân tách để vận hành, phát triển Tướng được lớn mạnh.
Sự
sống là quá trình tồn tại các cấu trúc Tướng, đó là từ hạt năng lượng tận cùng tới
chỉnh thể Tuệ linh, con người, muông thú, Vũ trụ. Cái chết là sự phân rã và
chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt, thậm chí là không còn tồn tại. Cuộc đấu
tranh giữa sống và chết của Tướng trong và ngoài Vũ trụ diễn ra gay gắt giữa
dòng chảy của quy luật tự nhiên. Nếu Tướng nào thông qua dòng chảy tự nhiên mà
chuyển sinh được bền vững thì sẽ trở nên bất tử. Nếu Tướng nào bị phân rã sẽ trở
thành hoại diệt vĩnh viễn. Dòng chảy của quy luật tự nhiên là quá trình bộc lộ
bản chất của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Khi đó, thông qua cơ chế
phân tách và liên kết,
sự chọn lọc nào bền vững sẽ là sự bất tử, là sự vĩ đại của Tướng.
Thông
qua cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng, thông qua Tam hợp, thông qua quá
trình quay tròn, thông qua sự tương tác với năng lượng hoại diệt, từ năm nhóm hạt
năng lượng tận cùng của Vũ trụ sau vụ nổ lớn đã cấu tạo thành các nhóm cấu trúc
vật chất như sau:
-
Nhóm cấu trúc siêu vật chất. Đó là nhóm siêu vật chất hay còn gọi là
siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh, sau đó là dạng sống Linh hồn an trụ trong
con người, các siêu hạt năng lượng. Nhóm siêu vật chất này được cấu tạo như
sau:
+
Các siêu Tướng bao gồm Tuệ linh và Linh hồn được hình thành từ sự hợp
nhất của hai hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Mã sóng
trí tuệ siêu phức tạp là tốc độ rung động của sóng rung quá lớn và phức tạp.
Khi hạt năng lượng tận cùng có sóng điện dương liên kết với hạt năng lượng tận
cùng có sóng điện âm sẽ tạo thành phôi năng lượng âm dương. Phôi năng lượng âm
dương được dưỡng trong môi trường nhiệt lượng, phôi năng lượng quay tròn và
liên tục phân tách rồi liên kết các hạt năng lượng tận cùng đã được phân tách
ra. Sự lớn mạnh của phôi năng lượng tạo thành Trụ linh trưởng thành. Sau đó, từ
thái cực năng lượng âm và dương trong Trụ linh phân tách thành các hạt năng lượng
tổng hợp âm và dương ra bên ngoài Trụ linh tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng
bên ngoài Trụ linh. Sau đó là cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều ra
bên ngoài Trụ linh.
Hình: Cấu trúc Trụ linh và năng lượng của
nhóm siêu vật chất
+
Khi cấu trúc 16 hạt năng lượng bên ngoài Trụ linh được mở rộng đa chiều,
đó là dấu mốc hình thành em bé Tuệ linh, Linh hồn. Tuệ linh, Linh hồn sẽ trưởng
thành bởi quá
trình vận động, quay tròn
sóng điện để phân tách và liên kết mở rộng cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng.
+
Cấu trúc của nhóm siêu vật chất này có trí tuệ siêu việt nhất Vũ trụ.
Cấu trúc siêu vật chất này có thể biến hóa thành các hình hài giống như con người,
giống như muông thú, giống như hình khối năng lượng. Họ di chuyển được khắp
không gian Vũ trụ. Họ là những Tuệ linh, Linh hồn.
+
Tuệ linh, Linh hồn đạt được tốc độ di chuyển siêu việt, nhanh nhất
trong Vũ trụ. Họ di chuyển bằng bước nhảy vọt trong cấu trúc năng lượng nền của
Vũ trụ. Tức là họ di chuyển bằng ý nghĩ. Chỉ cần khởi ý nghĩ là họ đã di chuyển
được từ lõi của Vũ trụ tới Trái đất. Đây chính là lý do mà tại sao người hành thiền
ở Trái đất có thể chỉ trong ý nghĩ đã tới và thấy cảnh cõi trời của vị Tuệ linh
đầu tiên hay cõi trời Địa phủ là vậy. Bởi Tuệ linh, Linh hồn an trụ trong thân
tướng con người, nên con người có siêu trí tuệ của họ.
+
Mỗi một chỉnh thể của nhóm siêu vật chất này (một Tuệ linh, một Linh hồn)
sẽ chỉ có một phôi năng lượng gốc, hay còn gọi là chỉ có một Trụ linh duy nhất.
Không có bất cứ trường hợp nào mà một Tuệ linh hay một Linh hồn có nhiều hơn một
Trụ linh. Toàn bộ cấu trúc năng lượng trong Tuệ linh, Linh hồn đều được tuần
hoàn bởi 3 loại sóng điện là âm, dương và trung tính. Nó tuần hoàn giống như những
mạch máu, mạch khí của con người.
+
Nhóm siêu vật chất có khả năng sản sinh (phân tách, liên kết) ra các
nhóm vật chất phức tạp, nhóm vật chất giản đơn và các hạt năng lượng siêu phức
tạp.
+
Nhóm siêu vật chất là Tuệ linh sẽ phân tách ra các siêu hạt năng lượng
nếu Trụ linh đã chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
- Nhóm cấu trúc vật chất phức
tạp. Đó là nhóm vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống
năm nhóm năng lượng vận hành nhóm vật chất giản đơn của toàn bộ Vũ trụ. Nhóm vật
chất phức tạp này được cấu tạo như sau:
+ Các Tướng vật chất phức tạp
này chính là năm nhóm năng lượng vận hành sự tồn tại, phát triển của toàn bộ Vũ
trụ.
+ Nhóm vật chất phức tạp là những
hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ rung động rất mạnh và phức tạp. Tất
nhiên không thể bằng so với nhóm siêu vật chất.
+
Nhóm vật
chất phức tạp được chia ra làm 2 loại:
++
Các hạt năng lượng tận cùng của từng nhóm trong năm nhóm năng lượng
liên kết với chính nó tạo thành từng tầng năng lượng. Đó là những hạt năng lượng
tiêu cực mang sóng điện âm liên kết với những hạt năng lượng tận cùng mang sóng
điện âm tạo thành tầng năng lượng tiêu cực. Những hạt năng lượng tận cùng mang
sóng điện dương phát triển liên kết với chính nó tạo thành tầng năng lượng phát
triển. Những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện dương lan tỏa liên kết với
chính nó tạo thành tầng năng lượng lan tỏa. Những hạt năng lượng tận cùng mang
sóng điện dương đoàn kết liên kết với chính nó tạo thành tầng năng lượng đoàn kết.
Những hạt năng lượng tận cùng chân tâm liên kết với chính nó hoặc liên kết với
các tầng năng lượng khác để giúp cho các tầng năng lượng
gắn kết trong chính các tầng năng lượng đó.
++
Nhóm năng lượng có sóng điện âm liên kết với nhóm năng lượng có sóng
điện dương để tạo thành các phôi năng lượng âm dương. Sau đó, các phôi năng lượng
được trưởng thành trở thành Trụ linh trưởng thành, tiếp đến là chuyển sinh
thành các cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các cấu trúc
năng lượng phức tạp này sẽ được an trụ trong nhóm vật chất giản đơn để thực hiện
hành trình chuyển sinh trở thành siêu vật chất. Trong quá trình chuyển sinh đó,
nhóm năng lượng này sẽ làm nhiệm vụ vận hành, phát triển sự sống của nhóm vật
chất giản đơn. Quá trình tu luyện chuyển sinh đã giúp cho nhóm năng lượng này
chuyển sinh thành các Linh hồn ở cây cối, ở muông thú và được chuyển sinh an trụ
làm con người.
+
Nhóm vật chất phức tạp này có trí tuệ siêu việt đứng thứ hai sau nhóm
siêu vật chất.
+
Nhóm vật chất phức tạp này có khả năng di chuyển trong không gian Vũ
trụ rất nhanh, có thể trong ý nghĩ đã từ cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên di
chuyển tới Trái đất. Điều này lý giải tại sao người hành thiền lại chỉ cần
trong một ý nghĩ đã lấy được loại vật chất phức tạp này từ lõi của Vũ trụ vào
cơ thể mình.
+
Nhóm vật chất phức tạp này có khả năng tự phân tách gia tăng số lượng.
Nó an trụ trong nhóm vật chất giản đơn để thúc đẩy sự phân tách, liên kết nhằm
gia tăng (giãn nở) của nhóm vật chất giản đơn.
-
Nhóm cấu trúc vật chất giản đơn. Đó là nhóm vật chất giản đơn hay còn
gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của từ hạt năng lượng
tận cùng, cấu trúc phôi năng lượng âm dương, cấu trúc Trụ linh, cấu trúc nguyên
tử, cấu trúc phân tử, cấu trúc tế bào, vật chất rắn, vật chất lỏng, vật chất
khí, cỏ cây, đất đá, muông thú, con người, hành tinh, khối thiên hà, Vũ trụ.
Nhóm vật chất giản đơn này được cấu tạo như sau:
+
Các hạt năng lượng tận cùng của năm nhóm có mã sóng trí tuệ rất giản
đơn. Tức là những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ rung động rất ít nên gọi là
giản đơn. Những hạt năng lượng âm và dương tận cùng giản đơn đã liên kết hợp nhất
tạo thành phôi năng lượng âm dương, tiếp tục phân tách, liên kết tạo thành Trụ linh
và Trụ linh trưởng thành với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh.
Những cấu trúc Trụ linh trưởng thành đó liên kết với nhau để cấu tạo thành những
nguyên tử. Vô số những nguyên tử liên kết với nhau tạo thành các phân tử, thành
các tế bào, thành các vật chất rắn, lỏng, khí khác nhau.
+
Tốc độ phân tách, liên kết hay còn gọi là tốc độ phát triển giãn nở của
nhóm vật chất giản đơn này là rất siêu tốc độ.
+
Để cấu trúc vật chất giản đơn này tồn tại và phát triển nhanh cần phải
có cấu trúc năng lượng phức tạp (vật chất phức tạp) an trụ trong nó. Đó là, con
người là vật chất giản đơn phải có Linh hồn hoặc Tuệ linh an trụ trong thân người
mới giúp cho con người sống được, phát triển được. Muông thú cũng vậy, chúng tồn
tại và trưởng thành được là do có Linh hồn (vật chất phức tạp) an trụ trong nó.
Cây cối, đất đá… để tồn tại và phát triển được cũng phải có các cấu trúc năng
lượng phức tạp an trụ bên trong.
+
Có những chỉnh thể vật chất giản đơn chỉ có một phôi năng lượng âm
dương gốc mà phân tách, liên kết để phát triển thành. Như là con người, muông
thú, cây cối…
+
Có những chỉnh thể vật chất giản đơn là tổng hòa của vô lượng các cấu
trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt mở rộng của năng lượng giản đơn hợp
thành. Đó là nước, là đất, đá, cát, kim loại, khí, Trái đất, hành tinh, khối
thiên hà…
+
Trí tuệ của cấu trúc vật chất giản đơn là thấp nhất trong Vũ trụ.
Chúng không tự sống, tự tồn tại, tự phân tách liên kết, tự di chuyển được.
Chúng cần phải có siêu vật chất và vật chất phức tạp an trụ cũng như vận hành
chúng.
+
Nhóm vật chất giản đơn là môi trường lý tưởng để giúp nhóm siêu vật chất
và vật chất phức tạp an trụ tu luyện để chuyển sinh được bền vững hơn, được
nâng cấp cấu trúc Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Đó là con người,
muông thú, cây cối, đất đá là môi trường tu hành của Tuệ linh, Linh hồn.
Từ
những bản chất các cấu trúc cấu tạo thành các loại vật chất (Tướng), Tuệ linh
và người sẽ thấy rõ và phân loại được các bản chất riêng biệt của Tướng. Từ đó
sẽ chọn lọc thông qua cơ chế phân tách, liên kết nhằm chuyển sinh cấu trúc Tướng
trở nên bền vững nhất.
3. Cấu
trúc cấu tạo thành Tuệ linh và con người
Con
người là một cấu trúc Tướng, con người lại là hóa thân của dạng sống Tuệ linh.
Do đó, chúng ta cần phải thấu hiểu bản chất Tướng của con người và Tuệ linh. Việc
thấu hiểu Tướng con người và Tuệ linh chính là chìa khóa, là cơ chế để liên kết
được mã sóng trí tuệ từ Trụ linh đến với tất cả vật chất trong
và ngoài Vũ trụ. Theo Tam hợp thì con người và Tuệ linh chính là sự hợp nhất của
ba yếu tố cấu tạo thành.
3.1. Cấu
trúc Tuệ linh
Tuệ linh là một cấu trúc
năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung
tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di
chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.
Tuệ
linh chính là dạng sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống
chủ yếu tại không gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần,
Phật, Thiên Chúa… theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người ngoài hành
tinh, theo cách gọi của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái
đất. Tuệ linh không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh
ra là do cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức
tạp tạo thành. Đó là những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp mang
sóng điện âm và hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp mang sóng điện
dương hợp lại thành phôi âm dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.
Tam hợp yếu tố hợp
thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ), Trụ – Tâm (trạng
thái năng lượng, sóng điện), hình tướng Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo
thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình hình thành, phát triển của Tuệ
linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm dương được liên kết lại từ hạt
năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi
năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa
đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Thông qua
cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những
sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được
chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách
thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái
cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra
các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra
thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ
linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã
sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt
năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc.
Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt
năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá
trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái
cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt dương tổng hợp và những
hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc
16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16
hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh
hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ
linh em bé và trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng
là âm, dương, trung tính được liên kết với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng
có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ
linh cụ thể là:

-
Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ
được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu
trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh
gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình
thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề
cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái
năng lượng và tuần hoàn sóng
điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng
trí tuệ bên ngoài Trụ linh.
-
Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong
Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ
trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng
điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ)
liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới
toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.
-
Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con
người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là
một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện
mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ
linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện
dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm
dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng
lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc
Trụ linh có sóng điện đa
âm.
Khi
gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.
Thông qua cấu trúc cấu
tạo thành Tuệ linh, ta thấy hình tượng Thiên Chúa, Phật, Thánh thần không có gì
là huyền bí, không có gì là mê tín, không có gì là siêu nhiên, cũng không phải
là duy tâm, bản chất đều là vật chất. Có chăng vật chất này tồn tại ở thể mã
sóng trí tuệ siêu phức tạp nên khoa học và phương tiện kỹ thuật không thể đo
hay thấy được, mắt thường con người cũng không thể nhìn thấy được.
3.2. Cấu
trúc con người
Ba yếu tố hợp nhất cấu
tạo ra con người gồm có: Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ. 
-
Yếu tố đầu tiên là Thân tướng: Thân tướng được hình thành do duyên người
cha và người mẹ. Đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang
tính âm của người mẹ hợp thành phôi thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng
người mẹ do cơ chế phân tách tế bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của
người mẹ. Trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn
thiện, em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời.
-
Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân
tướng để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến
tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được
xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp
sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa
sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh
giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em
bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập
vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các
con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con
người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những
việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương;
khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu
thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy
nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi
tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai
trộm. Nếu chúng đầu thai trộm thành người
thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn
thú dữ chưa giết hại được người nào mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do
không đủ năng lượng âm dương cân bằng để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh
hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người
cha mẹ được gieo duyên có thân tướng thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ
linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu em bé có
sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể phá thai
được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ linh, Linh
hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ linh người
mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai vào con người
đều được gọi là Tâm.
-
Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ: Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào
em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải
qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư
duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới
quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát
triển từ hai phần:
+
Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát
ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí
tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ
linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều
lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí
tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn.
+
Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác
với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền
vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân
tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng
trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá
trình tương tác giữa các tướng với nhau.
Bản
chất trong thân tướng của con người đã là tam hợp thân tướng: vô số các mã sóng
trí tuệ, năng lượng từ các mã sóng trí tuệ, hình tướng thân tướng. Như vậy, con
người là tổng hợp giữa Tuệ linh (siêu vật chất) và Thân tướng (vật chất giản
đơn). Do đó, con người là sự sống phức tạp nhất trong Vũ trụ, thứ tiếp mới đến
Tuệ linh, bởi Tuệ linh khi không đầu thai làm người thì không có an trụ trong
thân tướng vật chất giản đơn.
Hiểu
được cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh và con người, chúng ta hiểu được chính
chúng ta. Đó là, chúng ta là một cấu trúc vật chất vô cùng phức tạp được kết hợp
bởi cấu trúc siêu vật chất và cấu trúc vật chất giản đơn. Khi chúng ta hiểu được
chúng ta, chúng ta sẽ giải phóng được siêu trí tuệ trong chính chúng ta. Từ đó,
chúng ta sẽ bỏ đi được những bám định vào giả tướng trong vô lượng kiếp để chuyển
hóa Trụ linh của Tuệ linh (Tâm) thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Chỉ khi chúng
ta thấu hiểu chúng ta, chúng ta mới nhàm đi được thân tướng trong sự tôn trọng
sinh mệnh để thực hành chuyển sinh bền vững.
Các loại Tướng (vật chất) Kết của 3 nhóm vật chất
cấu tạo thành Vũ trụ
Kết
là rung động, là bắt tín hiệu, là thu tín hiệu, là hút về, là lấy về, là hưởng
thụ, là chìm đắm, là chiếm đoạt, là cướp bóc, là thỏa mãn, là giết hại, là gây
tổn hại.

Hình: Cấu
trúc Tướng siêu Kết
Kết
có bản chất là hạt năng lượng âm. Bởi hạt năng lượng âm mới rung động, mới bắt
tín hiệu, mới thu tín hiệu, mới hút về, mới lấy về, mới hưởng thụ, mới chìm đắm,
mới chiếm đoạt, mới
cướp bóc, mới thỏa mãn, mới giết hại, mới gây tổn hại.
Kết
ở mức nhẹ là chỉ rung động, thu hút tín hiệu. Kết ở mức rất mạnh là giết hại,
thỏa mãn mà gây tổn hại tới các chỉnh thể khác.
Trong
bất cứ cấu trúc Tướng (vật chất) nào được hình thành từ sự hợp nhất của phôi
năng lượng âm dương đều có Kết. Bởi khi các vật chất được hình thành từ phôi
năng lượng âm dương thì đã có hạt năng lượng âm gốc (tận cùng) cấu tạo thành.
Mà bản chất của hạt năng lượng âm là Kết. Điều này cho thấy, hết thảy vật chất
(trừ các vật chất hạt năng lượng dương tận cùng và trung tính tận cùng) đều có
bản chất là Kết. Có chăng mức độ Kết ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.
Kết
tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất
phức tạp và nhóm siêu vật chất. Không tính Kết cho nhóm vật chất cội nguồn và vật
chất hoại diệt.
Kết
là bản chất mà bất cứ vật chất nào muốn phát triển nâng cấp cấu trúc trí tuệ phải
có. Bởi chỉ khi có Kết thì hết thảy vật chất trong Vũ trụ mới hấp thụ nhiệt lượng,
hấp thụ dinh dưỡng, hấp thụ trí tuệ để thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết
nhằm tồn tại và phát triển.
Kết ở mức độ nhẹ và vừa
đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững. Kết ở mức độ mạnh và siêu mạnh sẽ
khiến cho cấu trúc vật chất không phát triển được mà dễ dàng bị năng lượng hoại
diệt gây phân rã làm vỡ cấu trúc, hoại diệt vĩnh viễn.
Cấu
trúc Kết của tất cả các Tướng dễ dàng bị phân rã hoại diệt chính là cấu trúc Trụ
linh đa âm. Trụ linh đa âm sẽ khiến cho cấu trúc năng lượng, Tướng đó bị phóng
xạ năng lượng âm. Khi phóng xạ năng lượng âm sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt
xâm nhập vào làm đứt liên kết, bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.
Cấu
trúc Tướng Kết trở nên xấu khi nó bị đa âm và phóng xạ năng lượng âm. Cấu trúc
Tướng Kết trở nên tốt khi nó chỉ là rung động, thu tín hiệu, hút về vừa đủ mà
không gây tổn hại tới các chỉnh thể khác.
Các
Tướng Kết ở mức mạnh và siêu mạnh trong 3 nhóm vật chất như sau:
4.1. Các
Tướng Kết trong nhóm siêu vật chất
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh; dạng sống Tuệ
linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người; là năm
nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Siêu Tướng có bản chất Kết mạnh và siêu mạnh
là:
-
Hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu có mã sóng trí tuệ siêu
phức tạp.
-
Tuệ linh
bị đa âm, bị phóng xạ năng lượng âm.
-
Tuệ linh
đã hóa thành Ngã quỷ sau quá trình tu hành
ở nhân gian.
Tuệ linh, Linh hồn
đang phân rã và tiệm cận sự hoại diệt. Đó là họ đang rung động, hút, chiếm hữu,
gây tổn hại tới các chỉnh thể khác mà không thể kiểm soát được chính họ.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang ở các cửa ngục ác nghiệp ở cõi trời Địa phủ.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang ở cảnh sống âm tại cõi trời Địa phủ.
-
Tuệ linh, Linh hồn mất kiểm soát, chuyển hóa thành ngã quỷ.
-
Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ ở khắp điền thổ, những nơi
thờ tự ở nhân gian.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang bị mắc kẹt ở nhân gian sau khi hết kiếp người
mà chưa được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.
-
Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động
tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh, con người. Đó là người vi phạm vào bốn
hình tướng Đạo, đó là vi phạm vào những điều không được phép vi phạm trong bốn
hình tướng Đạo. Đặc biệt là những con người có đại hệ tư tưởng u mê, tiêu cực
gây tổn hại Tuệ linh, con người. Họ là những người lan tỏa mê tín dị đoan, lan
tỏa tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, lan tỏa chiến tranh, lan tỏa những tư
tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.
Những siêu Tướng Kết ở
mức mạnh và siêu mạnh chính là cấu trúc Trụ linh trong bản thể họ bị phóng xạ
âm ở mức mạnh và rất mạnh. Vì quá trình Kết sẽ khiến cho Trụ linh phân tách ra
vô số hạt năng lượng âm, trong khi hạt năng lượng dương không được phân tách để
tạo thành sự cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng, sẽ có nhiều hạt
năng lượng âm rung lắc xung quanh hạt năng lượng dương. Khi đó, năng lượng hoại
diệt xâm nhập khống chế họ. Họ bị mất kiểm soát và dễ dàng bị phân rã hoàn toàn cho đến khi hoại
diệt vĩnh viễn. Gọi là ngã quỷ là để chỉ sự mất kiểm soát, ám chỉ sự xung đột
sóng điện trong bản thể họ một cách đau đớn và không thể kiểm soát được. Nó như
là quỷ quái trong chính họ.
4.2. Các Tướng Kết trong nhóm vật chất phức tạp
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là Linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang
tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.
Tướng phức tạp có bản chất Kết mạnh và siêu mạnh
là:
-
Những tầng năng lượng tiêu cực có sóng điện âm màu xám, màu đen, màu đỏ
máu. Đó là những tầng năng lượng sóng điện âm vận hành Vũ trụ.
- Những linh hồn các con thú dữ.
Sau khi hoại diệt thân xác, linh hồn chúng tồn tại trên điền thổ và chúng gây tổn
hại tới đời sống của con người. Chúng bị gọi là yêu tinh, yêu quái.
- Những linh hồn, cấu trúc
năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính chất độc tố. Đó là những
cây cối, những đất đá gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của con người và vạn
vật cũng như muông thú.
Bản
chất của những cấu trúc Tướng Kết mạnh và siêu mạnh là do Trụ linh trong bản thể
đó bị phóng xạ năng lượng âm, hoặc trong hạt năng lượng đó có sóng điện âm mạnh.
Khi đó, năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây đứt liên kết, làm phân rã và hoại
diệt các bản thể đó. Yêu tinh, yêu quái là những linh hồn
muông thú bị phóng xạ âm, chưa cải tạo được Trụ linh. Chúng bị khống chế và chi
phối bởi năng lượng hoại diệt đang xâm nhập trong chúng.
4.3. Các Tướng Kết trong nhóm vật chất giản
đơn
Vật
chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn, là nguyên tử, phân tử, tế bào, đó là vật chất
rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ
cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng giản đơn có bản chất Kết mạnh và siêu mạnh
là:
-
Thân tướng
con người:
+
Những con người có thân bệnh. Thân bệnh là năng lượng âm quá nhiều, dư
thừa, khiến cho sóng điện âm dương trong cơ thể không tuần hoàn. Khi đó, năng
lượng hoại diệt xâm nhập làm biến đổi cấu trúc tế bào và gây ra những bệnh lý
hiểm nghèo.
+ Những con người có trí tuệ
bám định, u mê không tin vào Quy luật Nhân quả, vào cội nguồn nhân loại, vào
con đường và sứ mệnh tu hành cải tạo Tuệ linh.
+
Những con người có trí tuệ bám định vào các giả tướng mà không hành
thiện cứu giúp con người, vạn vật và muông thú.
+
Những con người có những hành động gây tổn hại tới vạn vật, con người,
muông thú để thỏa mãn cho bản thể họ.
+
Những con người có đại hệ tư tưởng tiêu cực đi ngược lại Quy luật Nhân
quả.
+
Những con người sống và lan tỏa những đại hệ tư tưởng: u mê, mê tín dị
đoan, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tôn giáo cực đoan, phân chia dân tộc, phân
chia sắc tộc, chiến tranh…
+ Những con người sống và thực
hành, lan tỏa vi phạm bốn hình tướng Đạo.
-
Thân tướng muông thú. Đó là những con thú ăn thịt đồng loại, những con
thú ăn thịt các con thú khác, những con thú không cứu giúp và bảo vệ đồng loại
của chúng. Những con thú không cứu giúp muông thú khác, không giúp đỡ con người,
không cứu giúp vạn vật.
-
Những cỏ cây hút nước, hút dinh dưỡng để tồn tại và phát triển.
-
Những hang sâu trong lòng đất núi. Những vật chất đá không sinh phát
ra năng lượng tốt cho vạn vật. Những kim loại, hóa chất, chất độc trong thiên
nhiên, trong lòng đất.
-
Nước
trung hòa tất cả vạn vật.
-
Những hành tinh có sóng âm mạnh như Trái đất, như Mặt trăng và các
hành tinh không phải là Mặt trời.
-
Những cấu trúc tế bào, phân tử, nguyên tử đa sóng điện âm.
-
Những hạt
năng lượng âm tận cùng màu xám, đen, đỏ
máu.
Những hành tinh có lực
hút mạnh.
5. Các loại Tướng (vật chất) Định của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
Định
là đứng im, là bất động, là tĩnh lặng, là thanh tịnh, là an lạc, là thanh lọc.
Định có nghĩa là không Kết cũng không Tỏa.
Định có bản chất là hạt năng lượng chân tâm, là cấu trúc năng lượng cân
bằng. Là chân tâm, là cấu trúc cân bằng nên mới đứng im, nên mới bất động, nên
mới tĩnh lặng, nên mới thanh tịnh, nên mới an lạc, nên mới thanh lọc.
Trong
bất cứ cấu trúc Tướng (vật chất) nào được hình thành từ sự hợp nhất của phôi
năng lượng âm dương đều có Định. Bởi trong bản thể các hạt năng lượng dương tận
cùng có màng bọc chân tâm rất mạnh. Không những vậy, ở hạt năng lượng âm cũng
có màng bọc năng lượng chân tâm ở mức nhẹ hoặc yếu.
Định
tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất
phức tạp, nhóm siêu vật chất. Không tính Định cho nhóm vật chất cội nguồn và vật
chất hoại diệt.
Định
là bản chất mà bất cứ vật chất nào muốn phát triển nâng cấp cấu trúc trí tuệ phải
có. Bởi chỉ khi có Định thì hết thảy vật chất trong Vũ trụ mới cân bằng, thanh
lọc được năng lượng sau khi Kết. Chỉ có Định mới giúp cho hết thảy vật chất Tỏa
được năng lượng tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.
Định
có nhiều mức độ. Tức là Định có nhiều mức độ cân bằng. Từ mức độ cân bằng ban đầu
gọi là chân tâm ban đầu cho tới các mức độ cân bằng ở mức độ cao hơn, lớn hơn.
Định
là bản chất vô cùng cần thiết cho hành trình chuyển sinh nâng cấp cấu trúc Trụ
linh và bản thể vật chất. Định luôn luôn hiện hữu trong từng tích tắc của thời
gian, của quá trình vận động của hết thảy các dạng vật chất. Định sẽ được phát
huy hết giá trị nếu nó được vận hành thành quy trình tự động cho quá trình Kết
và Tỏa. Tức là nó phải nằm trong toàn bộ quy trình có Kết và có Tỏa. Nếu nó
tách riêng ra, nó sẽ không có được sức mạnh siêu việt.
Các Tướng Định từ cân
bằng nhẹ cho tới siêu mạnh ở trong 3 nhóm vật chất như sau:
5.1. Các
Tướng Định trong nhóm siêu vật chất
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh, dạng sống Tuệ
linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người và năm
nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Siêu Tướng có bản chất Định là:
-
Hạt năng
lượng chân tâm tận cùng có sóng điện trung
tính.
-
Tuệ linh mới được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương thành Tuệ
linh em bé.
-
Tuệ linh có cấu trúc năng lượng cân bằng âm dương trong Trụ linh. Đó
là tại Trụ linh, có hạt năng lượng âm gốc có sóng điện âm nhẹ, và hạt năng lượng
dương gốc có sóng điện dương nhẹ. Đây là Định ở cảnh giới thấp.
-
Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương trong Trụ linh. Trụ linh đa
dương sẽ giúp cho Tuệ linh có Định ở cảnh giới cao và rất cao.
-
Các Tuệ linh không thiện cũng không ác. Đó là Định ở mức thấp.
-
Các Tuệ linh luôn luôn làm những việc thiện vì vạn vật và Tuệ linh,
con người. Đó là các Tuệ linh đã đạt được các thành tựu trên hành trình chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, đó là những bậc cứu nhân độ thế, các bậc
hiền triết.
Định ở cảnh giới tối
thượng là Người Cha – Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ và Tuệ linh, con người. Đó
là bộ lọc năng lượng viên mãn.
-
Các Tuệ linh, Linh hồn đang sống ở cảnh giới tu dưỡng, cân bằng năng
lượng ở cõi trời Địa phủ.
-
Những con người đang sống. Họ không thiện cũng không ác, đó là Định ở
mức thấp. Những con người luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người, đó là Định ở mức
cao.
-
Những con người thông qua bốn hình tướng Đạo mà vẫn cân bằng, không vi
phạm làm tổn hại bốn hình tướng Đạo, từng bước lan tỏa giá trị tới mọi người,
đó là Định.
5.2. Các Tướng Định trong nhóm vật chất phức tạp
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang
tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.
Tướng phức tạp có bản chất Định là:
-
Tầng năng lượng chân tâm có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là tầng năng
lượng vận hành sự sống của cả Vũ trụ. Nó giúp gắn kết giữa các tầng năng lượng
tạo thành sự phát triển mạnh mẽ và lớn mạnh cho Vũ trụ.
Những tầng năng lượng
tích cực mang sóng điện dương có mã sóng trí tuệ phức tạp. Những tầng năng lượng
này có Định ở mức cao. Nó là màng bọc chân tâm bao bọc những hạt năng lượng có
sóng điện dương. Nó chính là quá trình Định ở mức cao để thúc đẩy phát triển mạnh
mẽ hơn nữa.
-
Những linh hồn các con thú lành hiền. Đó là những con thú không giết hại
các con thú khác. Những con thú không ăn thịt thân tướng các con thú khác.
-
Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những
cây có tính thanh lọc. Đó là cây cối, là những loại đá bán quý, đá quý.
5.3. Các Tướng Định trong nhóm vật chất giản
đơn
Vật
chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn, là nguyên tử, phân tử, tế bào; đó là vật chất
rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ
cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng giản đơn có bản chất Định là:
-
Thân tướng
con người:
+
Những con người có thân tướng mạnh khỏe, không bệnh tật.
+
Những con người không thiện cũng không ác. Đó là có tư tưởng cho đến
hành động không thiện cũng không ác.
+
Những cháu bé với chân tâm ban đầu chưa thiện cũng chưa ác.
+
Những con người cân bằng được cuộc sống trong bốn hình tướng Đạo. Họ
không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ từng bước thực hành lan tỏa giá trị đạo
đức tới mọi người và vạn vật, muông thú.
+
Những con người có Định ở mức cao cho tới rất cao là họ sống như bản
năng. Bản năng đó là luôn có tư tưởng cho đến hành động không vì mình, luôn vì
vạn vật, Tuệ linh, con người.
+
Người có bộ lọc năng lượng là người có Định ở mức độ cao nhất. Họ luôn
cân bằng, luôn thanh lọc, luôn an lạc, luôn chuyển hóa tuần hoàn một cách kỳ diệu.
-
Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không ăn thịt, không giết hại
con thú khác; đó là những con thú lành hiền; đó là những con thú giúp đỡ những
con thú khác; những con thú biết giúp đỡ con người. Những con thú biết giúp đỡ
muông thú và con người là Định ở mức rất cao.
-
Những cỏ
cây cân bằng năng lượng. Định ở mức cao.
-
Nước
trung hòa tất cả vạn vật. Định ở mức rất cao.
-
Những hành tinh quay xung quanh chính nó có mức Định cao.
-
Trong mỗi hành tinh đều có khu vực giao nhau giữa tầng địa chất sóng
điện dương và tầng địa chất sóng điện âm là khu vực có mức Định rất cao. Đó là
năng lượng chân tâm gắn kết chỉnh thể hành tinh đó được bền chặt, được tồn tại
và vận động để phát triển.
-
Các hạt năng lượng chân tâm. Các tế bào, phân tử, nguyên tử có cấu
trúc năng lượng cân bằng.
6. Các loại Tướng (vật chất) Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
Tỏa là truyền đi, lan
tỏa, đẩy đi, cho đi, cứu giúp, soi sáng, dẫn đường, chỉ dẫn.
Tỏa
có bản chất là hạt năng lượng dương. Bởi hạt năng lượng dương mới truyền đi, mới
lan tỏa, mới cho đi, mới cứu giúp, mới soi sáng, mới dẫn đường, mới chỉ dẫn.
Tỏa
ở mức nhẹ là soi sáng, chỉ dẫn, truyền tải, cho đi, đẩy đi. Tỏa ở mức mạnh và
siêu mạnh hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể
mình.
Trong
bất cứ cấu trúc Tướng (vật chất) nào được hình thành từ sự hợp nhất của phôi
năng lượng âm dương đều có Tỏa. Bởi khi các vật chất được hình thành từ phôi
năng lượng âm dương thì đã có hạt năng lượng dương gốc (tận cùng) cấu tạo
thành. Mà bản chất của hạt năng lượng dương là Tỏa. Điều này cho thấy, hết thảy
vật chất (trừ các vật chất hạt năng lượng âm tận cùng và trung tính tận cùng) đều
có bản chất là Tỏa. Có chăng mức độ Tỏa ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.
Tỏa
tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất
phức tạp, nhóm siêu vật chất. Không tính Tỏa cho nhóm vật chất cội nguồn và vật
chất hoại diệt.
Tỏa
là bản chất mà bất cứ vật chất nào muốn phát triển nâng cấp cấu trúc trí tuệ phải
có. Bởi chỉ khi có Tỏa thì hết thảy vật chất trong Vũ trụ mới phân tách các hạt
năng lượng dương có liên kết bền vững, để mở rộng cấu trúc hạt năng lượng bên
ngoài Trụ linh. Đó là cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp được mở rộng và bền vững.
Tỏa
càng ở mức độ mạnh và siêu mạnh sẽ giúp sự phát triển của bản thể cấu trúc vật
chất ngày càng lớn mạnh. Bởi, để Tỏa được cần phải trải qua quá trình Kết và Định.
Do đó, Tỏa là hoàn chỉnh của một
quy trình Kết – Định – Tỏa một cách tuần hoàn và viên mãn.

Hình: Cấu
trúc Tướng Tỏa
Cấu
trúc Tỏa của tất cả vật chất sẽ giúp cho các vật chất liên kết với nhau bền chặt
bởi năng lượng chân tâm. Càng tỏa nhiều sẽ càng liên kết chặt chẽ. Khi đó, những
hạt năng lượng dương được phân tách ra rất nhiều, điều này sẽ khiến cho các hạt
năng lượng âm bị giảm sóng điện, không còn rung lắc mạnh. Bên cạnh mỗi hạt năng
lượng dương có sóng điện mạnh chỉ có một hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ.
Lan tỏa mạnh sẽ giúp cho cấu trúc Trụ linh kích nổ được năng lượng hoại diệt,
không bị năng lượng hoại diệt gây phân rã hoặc đồng hóa.
Cấu
trúc của Tướng mà chuyển sinh theo hướng Tỏa sẽ nhanh chóng đạt được chuyển hóa
thành bộ lọc năng lượng. Đó là Kết – Định – Tỏa một cách kỳ diệu.
Các
Tướng Tỏa ở mức mạnh và siêu mạnh trong 3 nhóm vật chất như sau:
6.1. Các
Tướng Tỏa trong nhóm siêu vật chất
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh; dạng sống Tuệ
linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người; năm nhóm
hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Siêu Tướng có bản chất Tỏa mạnh và siêu mạnh
là:
-
Những hạt năng lượng dương màu xanh lá, màu đỏ lửa, màu vàng, vàng óng
ánh.
-
Tuệ linh
có Trụ linh đa dương từ mạnh tới siêu mạnh.
Tuệ linh đang trên
con đường chuyển hóa để đạt được bộ lọc. Đó là những Tuệ linh đã đạt được nhiều
thành tựu trong việc cứu nhân độ
thế, tạo ra được những triết lý sống đạo đức ở nhân gian.
-
Tuệ linh đã đắc được bộ lọc năng lượng có khả năng Tỏa ra vô lượng các
siêu hạt năng lượng.
- Tuệ linh đang an trụ trong
con người có tư tưởng cho đến hành động tích cực luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con
người, là người không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ là những con người
luôn có tư tưởng cho đến hành động lan tỏa những giá trị đạo đức, tuân thủ Quy
luật Nhân quả, thực hành cải tạo đời sống viên mãn tới vạn vật, Tuệ linh, con
người. Những người đạt đến siêu Tỏa mạnh nhất chính là những con người luôn
luôn Phổ độ chúng sinh, Tuệ linh, con người. vì họ lan tỏa đại hệ tư tưởng giác
ngộ tới hết thảy Tuệ linh, con người cùng nhau chuyển sinh bền vững nhất cho Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng.
Những
siêu Tướng Tỏa ở mức mạnh và siêu mạnh sẽ giúp cho Trụ linh của họ phân tách ra
vô số những siêu hạt năng lượng. Từ những siêu hạt năng lượng đó sẽ cấu tạo và
phát triển Tuệ linh họ trở thành liên kết được chặt chẽ, bền vững với tất cả Vũ
trụ, Tuệ linh, con người. Tuệ linh họ trở nên bất tử. Tuệ linh họ có cấu trúc bộ
lọc năng lượng viên mãn bởi họ đi theo hướng chuyển sinh là Tỏa những giá trị
giác ngộ tới tất cả Tuệ linh, con người. Họ sẽ hấp thụ và chuyển hóa được năng
lượng hoại diệt thành siêu hạt năng lượng thông qua bộ lọc trong Trụ linh của họ.
6.2. Các Tướng Tỏa trong nhóm vật chất phức tạp
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang
tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.
Tướng phức tạp có bản chất Tỏa mạnh và siêu mạnh
là:
-
Những tầng năng lượng tích cực có sóng điện dương màu xanh lá, màu đỏ
lửa, màu vàng. Đó là những tầng năng lượng sóng điện dương vận hành Vũ trụ.
-
Những linh hồn các con thú xả thân cứu giúp con người, xả thân cứu
giúp những con thú đồng loại hoặc những con thú khác.
-
Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đá. Đó là những dòng
đá luôn tỏa những năng lượng mang lại sự sống trong lành và an lạc cho con người,
muông thú, cỏ cây xung quanh đó.
-
Những linh hồn của cây cối luôn tỏa năng lượng sự sống ra môi trường
xung quanh.
Bản
chất của những cấu trúc Tướng Tỏa mạnh sẽ giúp cho các cấu trúc năng lượng đó
nhanh được chuyển sinh bền vững và nâng cấp cao hơn.
6.3. Các Tướng Tỏa trong nhóm vật chất giản
đơn
Vật chất giản đơn hay
còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng
trí tuệ giản đơn, là nguyên tử, phân tử, tế bào; đó là vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng
con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành
tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng giản đơn có bản chất Tỏa mạnh và siêu mạnh
là:
-
Thân tướng
con người:
+
Những con người không có bệnh về thân tướng. Họ khỏe mạnh vì sự vận động
lan tỏa.
+ Những người luôn miệt mài
lao động sản xuất, không ngừng nghỉ nghiên cứu các công trình, các phương pháp,
các cấu trúc phát triển sự sống tốt đẹp và bền vững tới vạn vật và Tuệ linh,
con người. Họ là những công nhân, những nông dân, những thương nhân, những nhà
nghiên cứu, những nhà sản xuất, những nhà sáng chế, những nhà phát minh.
+
Những người luôn luôn lan tỏa các giá trị thúc đẩy phát triển bền vững
và an lạc cho con người và vạn vật. Họ là những nhà giáo, là những người lan
truyền tri thức tới Tuệ linh, con người.
+
Những người luôn luôn đoàn kết tất cả Tuệ linh, con người, vạn vật,
muông thú trong sự cảm thông, sẻ chia, giúp đỡ cùng nhau lan tỏa những giá trị,
công trình phát triển bền vững tới Tuệ linh, con người.
+ Những người có hệ tư tưởng
cho đến hành động luôn vì lợi ích mọi người, vạn vật và muông thú mà không màng
tới bản thân họ.
+
Những người hành thiện cứu giúp Tuệ linh, con người, vạn vật và muông
thú.
+
Những người thực hành phổ độ lan tỏa giá trị của giáo lý giác ngộ tới
hết thảy Tuệ linh, con người.
-
Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không giết hại hay làm tổn hại
những con thú khác. Nó xả thân cứu giúp các con thú khác, nó bảo vệ và cứu giúp
đồng loại của nó trong sự không gây tổn hại tới con người và muông thú khác.
-
Những cỏ cây luôn tỏa oxy làm trong lành và an lạc môi trường sống
xung quanh.
-
Nước lan tỏa giá trị làm mát và nuôi dưỡng vạn vật thế gian. Nó bốc
hơi để tạo thành mưa rồi tưới mát cho vạn vật cùng phát triển. Nó là sự sống
luôn cho đi để ngày càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh bởi nó có trong tất cả vạn vật
thế gian.
-
Những loại đá quý, bán quý có giá trị tỏa ra những năng lượng tốt nhằm
tạo ra môi trường sống trong lành và an lạc.
-
Lửa, ánh sáng để soi sáng và làm ấm các dạng sống ở thế gian.
-
Những hành tinh có tính tỏa mạnh là các mặt trời trong Vũ trụ.
-
Là những cấu trúc địa chất nóng chảy, là nham thạch trong các hành
tinh. Nhiệt lượng được tỏa ra để soi sáng, tạo ra sự phân tách liên kết cho vạn
vật, Vũ trụ được phát triển.
-
Là những hạt năng lượng dương màu xanh lá, đỏ lửa, vàng. Là nguyên tử,
phân tử, tế bào đa sóng điện dương.
III. Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Tướng
Chân lý Vạn vật trong Tướng
sẽ là: Tướng không tự sinh ra, Tướng
không tự mất đi, khổ đau của Tướng không tự đến và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay
còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển sinh của Tướng chính là cơ chế “Phân tách và
liên kết dây”.
Chân
lý Vạn vật chính là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng
không là không bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong
khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó,
Chân lý Vạn vật, Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là
tướng không. Thấu hiểu chữ Duyên thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và
tương lai.
Để
thấu hiểu được quá khứ thì ta phải truy tìm Duyên trong Duyên. Muốn tìm được
Duyên trong Duyên tức là ta phải thấu hiểu bản chất, cấu tạo, cơ chế phân tách
liên kết của Duyên hiện tại. Tiếp đến ta lại tìm hiểu những duyên nào liên kết
thành duyên đó. Cứ tiếp tục, liên tục như vậy sẽ giúp ta truy tìm được tận cùng
của quá khứ. Để truy tìm được Duyên trong Duyên cần phải thông qua cơ chế phân
tách liên kết hạt năng lượng và môi trường có điều kiện.
Để
thấu hiểu được tương lai thì ta phải truy tìm Duyên ngoại Duyên. Muốn thấu hiểu,
biết được Duyên nào sẽ hình thành trong tương lai thì ta phải thấu hiểu bản chất
và sự hợp của các Duyên hiện tại. Đó là thông qua cơ chế phân tách liên kết hạt
năng lượng và môi trường có điều kiện hiện tại sẽ cho ta thấy được kết quả
trong tương lai.
Vận
hành Chân lý Vạn vật của Tướng chính là cơ chế phân tách và liên kết hạt năng
lượng. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện.
Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian
nhất định, môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt lượng
của năng lượng hoại diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Tất cả các nhóm vật chất
từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất để xảy ra phân tách và liên kết
thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.
Con
người tồn tại, hiện hữu ở kiếp người này cần phải trả lời được 3 câu hỏi: 1- Ta
là ai? Hoặc: Ai là ta? Trả lời được câu hỏi này sẽ giúp ta thấu hiểu quá khứ
trong vô lượng kiếp, ta đến từ đâu, thành tựu đã đạt được là những gì, thiệt hại
đã gây ra là những gì. 2- Sứ mệnh của ta ở kiếp này là gì? Khi thấu hiểu được
ta là ai, các kiếp tu hành trong quá khứ và thành tựu hay thiệt hại đã có thì
ta sẽ biết sứ mệnh của ta tại kiếp này, đó là hiện tại. 3- Chết xong ta đi về
đâu? Làm được sứ mệnh hay không làm được sứ mệnh thì ta đã trả lời được tương
lai của ta sẽ phải luân hồi đảo kiếp hay đọa thành súc sinh, ngã quỷ, địa ngục
hay được trở về quê hương. Ta không những phải trả lời được và làm tốt nhiệm vụ
ở 3 câu hỏi trên cho ta, mà còn phải trả lời được 3 câu hỏi đó cho tất cả các
nhóm vật chất: Vạn vật là gì? Sứ mệnh của vạn vật? Chết xong vạn vật đi về đâu?
Để trả lời được 3 câu hỏi trên chúng ta phải thấu hiểu cơ chế vận hành của Chân
lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ. Đó là cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng.
Để thấu hiểu cơ chế vận hành của hai Chân lý thì chúng ta phải thấu hiểu cơ chế
quay tròn, tam hợp, thông tin, hạt năng lượng tận cùng.
Khi
chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta
sẽ thấu hiểu và giải mã được vạn vật (Tướng) được sinh ra như thế nào, vạn vật
mất đi do nguyên nhân nào, khổ đau của vạn vật như thế nào, vạn vật hết khổ đau khi
nào, các con đường chuyển sinh của vạn vật. Thấu hiểu và giải mã được vạn vật,
chúng ta sẽ trả lời được 3 câu hỏi cho chính con người và vạn vật. Từ đó, con
người và vạn vật sẽ lựa chọn được con đường chuyển sinh bền vững.
1. Tướng
không tự sinh ra
Tướng
bao gồm có 5 nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Bên ngoài tinh cầu Vũ trụ có
2 nhóm vật chất. Bên trong và bao trùm toàn bộ Vũ trụ có 3 nhóm vật chất. Con
người là dạng sống hóa thân của Tuệ linh, do đó chúng ta phải thấu hiểu được
con người và Tuệ linh được sinh ra như thế nào.
Để
thấu hiểu và giải mã được Tướng (5 nhóm vật chất) sinh ra như thế nào, chúng ta
phải thấu hiểu “Duyên trong Duyên" của Chân lý Vạn vật. Để thấu hiểu Duyên
trong Duyên của Chân lý Vạn vật thì phải thông qua bản chất, cấu tạo, cơ chế
phân tách và liên kết hạt năng lượng trong môi trường có điều kiện. Như vậy,
thông qua bản chất, cấu tạo, cơ chế phân tách và liên kết, chúng ta sẽ thấu hiểu
Tướng được sinh ra như thế nào. Thấu hiểu Tướng được sinh ra như thế nào chính
là chúng ta thấu hiểu bản chất của Tướng ở hiện tại và thấu hiểu tận cùng quá
khứ của Tướng. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta sẽ trả lời được 2 câu hỏi cho
chúng ta và tất cả vạn vật: 1- Ta là ai? Và 2- Sứ mệnh của ta là gì?
Tất
cả 5 nhóm vật chất được sinh ra đều do cơ chế “Phân tách và liên kết". Tuy
nhiên, tùy từng nhóm vật chất mà có thêm các cơ chế, bản chất khác cho quá
trình sinh ra Tướng.
Năm nhóm vật chất được sinh ra như sau:
1.1. Nhóm
vật chất cội nguồn
Nhóm
vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh. Đây là nhóm vật chất tồn tại bên
ngoài không gian tinh cầu Vũ trụ.
Bản
chất của hạt sóng xanh chỉ là hạt sóng chưa sinh phát ra trạng thái năng lượng.
Tuy nhiên hạt sóng xanh chứa đựng lượng nhiệt vô cùng lớn.
Cấu
tạo của hạt sóng xanh không phải là tam hợp yếu tố tạo thành. Hạt sóng xanh chỉ
là một yếu tố cấu tạo thành.
Hạt
sóng xanh di chuyển thẳng và theo quỹ đạo hình xoắn ốc. Khi di chuyển sẽ phân
tách thành hai cho tới nhiều hơn hạt sóng xanh khác.
Hạt
sóng xanh được sinh ra từ những điểm kỳ dị trong không gian. Những điểm đó giống
như những cái hang vô hình sinh ra các hạt sóng xanh.
Hạt
sóng xanh di chuyển và chuyển sinh thành những hạt hoại diệt trong môi trường
trung tính. Sau đó những hạt sóng xanh di chuyển và chuyển sinh thành hạt năng
lượng âm và dương trong môi trường có sóng điện âm, dương. Từ hai hạt năng lượng
âm dương liên kết lại mà tạo thành phôi năng lượng, tinh cầu năng lượng khổng lồ
để rồi có vụ nổ lớn và kiến tạo thành Vũ trụ như ngày nay.
Như
vậy, hạt sóng xanh (vật chất cội nguồn) được sinh ra từ những điểm kỳ dị, được
hình thành và chuyển sinh thông qua cơ chế phân tách, di chuyển không quay
tròn, thông qua môi trường trung tính để chuyển sinh thành năng lượng hoại diệt,
thông qua môi trường sóng điện âm dương để chuyển sinh thành hạt năng lượng âm,
dương. Do đó, hạt sóng xanh là Duyên (Tướng) hiện tại; Duyên trong Duyên là những yếu tố quá
khứ cấu tạo, phân tách liên kết tạo ra hạt sóng xanh hiện tại; quá khứ chính là
những điểm kỳ dị sinh ra với môi trường trung tính cấu tạo thành hạt sóng xanh
hiện tại.
Từ
những bản chất, cơ chế, cội nguồn, sự chuyển sinh của hạt sóng xanh, chúng ta
đã trả lời được 2 câu hỏi cho nhóm vật chất này. Đó là:
-
Hạt sóng xanh là gì? – Nó là vật chất cội nguồn. Nó là chỉnh thể một yếu
tố chưa sinh phát ra trạng thái năng lượng.
-
Sứ mệnh của hạt sóng xanh? – Sứ mệnh là chuyển sinh ra nhóm vật chất
hoại diệt và 3 dạng vật chất trong Vũ trụ. Như vậy, sứ mệnh của nó là sinh ra
Vũ trụ và nguồn vật chất (vật chất hoại diệt) để duy trì sự tồn tại và phát triển
Vũ trụ.
1.2. Nhóm
vật chất hoại diệt
Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại
diệt.
Nhóm vật chất hoại diệt xuất hiện trước cả sự
xuất hiện của
Vũ trụ. Hiện tại nó tồn tại cả trong và ngoài
Vũ trụ.
Bản
chất của hạt năng lượng hoại diệt là hạt sóng xanh chuyển sinh thành hạt năng
lượng chưa giải phóng hết nhiệt lượng ra ngoài. Do đó, hạt năng lượng hoại diệt
còn một lượng lớn nhiệt lượng chưa sinh phát ra ngoài. Hạt năng lượng hoại diệt
được chuyển sinh, hình thành trong môi trường trung tính nên không có cơ chế
liên kết với nhau để truyền tải sóng điện. Vì vậy, hạt năng lượng hoại diệt dễ
bị sinh nhiệt dư thừa trong hạt và dễ bị kích nổ khi bị năng lượng dương tác động.
Năng lượng hoại diệt sẽ giảm tải sóng điện và an toàn
khi xả được sóng điện dư thừa trong hạt sang hạt năng lượng âm. Khi xả sóng điện
sang hạt năng lượng âm sẽ khiến cho những hạt năng lượng âm chuyển hóa thành hạt
năng lượng hoại diệt. Khi hạt năng lượng hoại diệt bị kích nổ sẽ cung cấp nhiệt
lượng lớn cho các vật chất trong Vũ trụ xảy ra quá trình phân tách liên kết bền
vững.
Hạt
năng lượng hoại diệt được cấu tạo hợp thành từ 3 yếu tố: sợi mã sóng trí tuệ được
chuyển sinh từ hạt sóng xanh, hình tướng hạt (hình elip), trạng thái năng lượng
được sinh phát trong hạt.
Hạt
năng lượng hoại diệt di chuyển thẳng, nó không quay tròn xung quanh chính nó, lại
không liên kết để truyền tải sóng điện dư thừa. Chính vì điều này làm cho hạt
năng lượng hoại diệt bị sinh nhiệt dư thừa nhanh và dễ bị kích nổ.
Hạt
năng lượng hoại diệt được hình thành từ quá trình chuyển sinh của hạt sóng xanh
trong môi trường trung tính. Do đó, cội nguồn của năng lượng hoại diệt là hạt
sóng xanh và môi trường trung tính.
Hạt
năng lượng hoại diệt chỉ tồn tại cơ chế phân tách và xả sóng điện dư thừa. Tức
là năng lượng hoại diệt không có cơ chế liên kết.
Như
vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế tồn tại của năng lượng hoại
diệt, chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi cho năng lượng hoại diệt. Cụ thể:
-
Duyên
trong Duyên của năng lượng hoại diệt:
+
Hạt năng lượng hoại diệt là Tướng được hình thành trước Vũ trụ. Năng
lượng hoại diệt là hạt năng lượng được cấu tạo thành từ tam hợp yếu tố.
+
Duyên trong Duyên là các yếu tố quá khứ cấu tạo thành hạt năng lượng
hoại diệt. Các yếu tố quá khứ cấu tạo thành hạt năng lượng hoại diệt là hạt
sóng xanh và môi trường trung tính.
+ Cơ chế để tạo thành Duyên
trong Duyên của hạt năng lượng hoại diệt là cơ chế phân tách trong môi trường
trung tính.
- Hạt năng lượng hoại diệt là
gì? – Hạt năng lượng hoại diệt là nhóm Tướng hoại diệt. Thông qua bản chất biểu
hiện và cơ chế vận hành của hạt năng lượng hoại diệt, chúng ta thấy rằng năng
lượng hoại diệt là vật chất làm phân rã các cấu trúc vật chất có đa sóng âm.
-
Sứ mệnh của năng lượng hoại diệt? – Hạt năng lượng hoại diệt có sứ mệnh
cung cấp nhiệt lượng và dinh dưỡng cho các nhóm vật chất trong Vũ trụ chuyển
sinh bền vững. Để kích hoạt được sứ mệnh của năng lượng hoại diệt, dạng sống Tuệ
linh (siêu vật chất) cần phải vận hành nhóm vật chất giản đơn và phức tạp kích
nổ được năng lượng hoại diệt.
1.3. Nhóm
siêu vật chất
Nhóm
siêu vật chất gồm có: năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm,
dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp; Tuệ linh và linh hồn muông
thú đã được an trụ trong thân tướng con người; những siêu hạt năng lượng.
Cội nguồn của nhóm
siêu vật chất là đều được hình thành sau vụ nổ lớn cấu tạo thành Vũ trụ. Đó là
từ hai hạt sóng xanh chuyển sinh thành hai hạt âm dương trong môi trường sóng
điện âm và dương. Hai hạt năng lượng liên kết
lại tạo thành
phôi năng lượng. Từ phôi năng lượng chuyển sinh thành Trụ linh và tinh cầu năng
lượng khổng lồ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Khi đó, tinh cầu năng lượng
khổng lồ phát nổ và bắt đầu cho quá trình chuyển sinh từ năm nhóm hạt siêu phức
tạp thành các Tuệ linh. Từ Tuệ linh tu luyện Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt
năng lượng.
Bản
chất của nhóm siêu vật chất được coi là trí tuệ của Vũ trụ. Nhóm siêu vật chất
sẽ vận hành và thúc đẩy cả Vũ trụ phát triển bền vững.
Cấu
tạo của nhóm siêu vật chất là tam hợp yếu tố mà hình thành. Năm nhóm hạt năng
lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp đều được hình thành từ sợi mã
sóng trí tuệ, hình tướng của hạt, trạng thái năng lượng trong hạt. Tuệ linh được
cấu tạo từ 3 yếu tố, đó là Trụ – Trí (tổng mã sóng trí tuệ), Trụ – Tâm (trạng
thái năng lượng), hình tướng Tuệ linh. Các siêu hạt năng lượng cũng được hình
thành từ 3 yếu tố là siêu sợi mã sóng trí tuệ, hình tướng của hạt siêu năng lượng,
siêu trạng thái năng lượng.
Nhóm
siêu vật chất có cơ chế vận động là quay tròn. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng
quay tròn xung quanh chính nó theo đặc tính sóng điện, hạt năng lượng âm quay ngược
chiều kim đồng hồ, hạt năng lượng dương quay thuận chiều kim đồng hồ, hạt trung
tính quay thuận hay ngược tùy theo việc nó liên kết với hạt năng lượng nào. Tuệ
linh sẽ có sự tuần hoàn sóng điện âm, dương, trung tính trong bản thể của họ.
Siêu hạt năng lượng cũng quay tròn xung quanh chính siêu hạt, siêu hạt vàng óng
ánh quay thuận, siêu hạt xanh lưu ly quay ngược, siêu hạt chân tâm liên kết và
quay tròn theo siêu hạt vàng óng ánh.
Nhóm
siêu vật chất được hình thành và chuyển sinh bởi cơ chế phân tách và liên kết hạt
năng lượng. Cụ thể nhóm vật chất này được phân tách ra từ phôi năng lượng âm
dương gốc của tinh cầu Vũ trụ. Khi có năm nhóm năng lượng với mã sóng siêu phức
tạp, lại được dưỡng trong môi trường có nhiệt lượng sóng điện đảm bảo, các hạt
năng lượng siêu phức tạp này liên kết với nhau để tạo thành phôi âm dương. Tiếp
tục quá trình phân tách và liên kết liên tục đã tạo thành Trụ linh và Tuệ linh.
Từ Tuệ linh, cũng thông qua cơ chế phân tách liên kết mà cải tạo Trụ linh thành
bộ lọc để sản sinh (phân tách) ra các siêu hạt năng lượng.
Như
vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế quay tròn, cơ chế hình
thành và chuyển sinh của nhóm siêu vật chất, chúng ta sẽ trả lời được những câu
hỏi cho nhóm siêu vật chất. Cụ thể:
-
Duyên
trong Duyên của nhóm siêu vật chất:
+ Duyên (Tướng) hiện tại của
nhóm siêu vật chất chính là bản chất đang bộc phát: nhóm siêu vật chất là nhóm
vật chất tinh hoa nhất trong và ngoài Vũ trụ; nhóm siêu vật chất có sự tuần
hoàn sóng điện âm, dương, trung tính bởi cơ chế liên kết dây; nhóm siêu vật chất
có khả năng di chuyển và cải tạo Vũ trụ.
+ Duyên trong Duyên của nhóm
siêu vật chất là các yếu tố cấu tạo, chuyển sinh thành. Đó là tìm hiểu quá khứ
của nhóm siêu vật chất. Đó là: các siêu hạt năng lượng có 3 yếu tố cấu tạo
thành và được phân tách từ Trụ linh của Tuệ linh; Tuệ linh được cấu tạo từ 3 yếu
tố và được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ siêu phức
tạp thông qua cơ chế phân tách và liên kết; phôi năng lượng âm dương được liên kết từ những
hạt năng lượng âm dương tận cùng bởi phôi âm dương gốc của Vũ trụ phân tách ra.
-
Nhóm siêu vật chất là gì? – Là dạng sống siêu việt nhất của trong và
ngoài Vũ trụ. Bởi họ là dạng năng lượng siêu phức tạp.
-
Sứ mệnh của nhóm siêu vật chất? – Sứ mệnh là duy trì tự tồn tại, phát
triển bền vững của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Dạng sống Tuệ
linh là dạng sống thực hiện sứ mệnh đó.
1.4. Nhóm
vật chất phức tạp
Nhóm
vật chất phức tạp gồm có năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ
phức tạp và những cấu trúc năng lượng linh hồn an trụ trong cỏ cây, đất đá,
muông thú.
Cội
nguồn của nhóm vật chất phức tạp là đều được hình thành sau vụ nổ lớn cấu tạo
thành Vũ trụ. Đó là từ hai hạt sóng xanh chuyển sinh thành hai hạt âm dương
trong môi trường sóng điện âm và dương. Hai hạt năng lượng liên kết lại tạo
thành phôi năng lượng. Từ phôi năng lượng chuyển sinh thành Trụ linh và tinh cầu
năng lượng khổng lồ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Khi đó, tinh cầu năng
lượng khổng lồ phát nổ và bắt đầu cho quá trình chuyển sinh từ năm nhóm hạt
năng lượng phức tạp thành các trường năng lượng, thành linh hồn cỏ cây, linh hồn
đất đá, linh hồn muông thú.
Bản
chất của nhóm vật chất phức tạp là được nhóm siêu vật chất vận hành để an trụ
trong nhóm vật chất giản đơn, để vận hành nhóm vật chất giản đơn. Sự vận hành
này giúp cho cả 3
nhóm vật chất trong Vũ trụ nương tựa nhau để xảy ra các cơ chế và quá trình
phân tách liên kết mang tính phát triển bền vững.
Cấu
tạo của nhóm vật chất phức tạp đều được hình thành từ 3 yếu tố, gọi là tam hợp.
Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng gồm có sợi mã sóng trí tuệ, hình tướng hạt
năng lượng, trạng thái năng lượng sinh phát. Linh hồn của cỏ cây, đất đá, muông
thú gồm có Trụ – Trí, Trụ – Tâm, hình tướng linh hồn.
Nhóm
vật chất phức tạp có cơ chế quay tròn và tuần hoàn sóng điện giống như cấu trúc
của siêu vật chất. Đó là các hạt năng lượng tận cùng quay tròn xung quanh chính
nó theo đặc tính sóng điện âm, dương. Sóng điện âm, dương sẽ tuần hoàn trong cấu
trúc linh hồn.
Nhóm
vật chất phức tạp có cơ chế phân tách, liên kết để hình thành và chuyển sinh
nâng cấp cấu trúc cũng giống như nhóm siêu vật chất. Đó là thông qua môi trường
có sóng điện âm, dương, trung tính sẽ xảy ra quá trình phân tách và liên kết.
Như
vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế quay tròn, cơ chế hình
thành và chuyển sinh của nhóm vật chất phức tạp, chúng ta sẽ trả lời được những
câu hỏi cho nhóm vật chất phức tạp. Cụ thể:
-
Duyên
trong Duyên của nhóm vật chất phức tạp:
+
Duyên (Tướng) hiện tại là những trường năng lượng âm dương khác nhau để
vận hành Vũ trụ quay tròn; là các cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, cỏ
cây ở khắp các hành tinh để thúc đẩy quá trình phân tách của vật chất giản đơn. +
Duyên trong Duyên là những cấu trúc quá khứ cấu tạo thành Duyên hiện tại.
Đó là thông qua cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng trong môi trường sóng
điện âm hoặc dương mà tạo thành trường năng lượng vận hành Vũ trụ, và tạo thành
các cấu trúc linh hồn. Đó là từ các hạt năng lượng âm dương tận cùng mà liên kết
và phân tách để cấu tạo thành.
-
Nhóm vật chất phức tạp là gì? – Là nhóm năng lượng vận hành Vũ trụ
(các khối thiên hà) quay tròn; là các cấu trúc linh hồn an trụ trong vật chất
giản đơn để giúp vật chất giản đơn xảy ra quá trình phân tách liên kết.
-
Sứ mệnh của nhóm vật chất phức tạp? – Là nhóm vật chất (năng lượng)
duy trì và phát triển sự sống của nhóm vật chất giản đơn (tinh cầu Vũ trụ với
vô số các khối thiên hà).
1.5. Nhóm
vật chất giản đơn
Nhóm
vật chất giản đơn gồm có các khối thiên hà, các hành tinh, trái đất, cỏ, cây, đất,
đá, kim loại, nước, khí, phân tử, nguyên tử, tế bào, muông thú, con người…
Trong đó, đặc biệt nhất là con người và muông thú. Con người và muông thú không
đơn thuần là nhóm vật chất giản đơn. Con người được coi là siêu phức tạp, tiếp
đến là muông thú.
Cội
nguồn của nhóm vật chất giản đơn là đều được hình thành sau vụ nổ lớn cấu tạo
thành Vũ trụ. Đó là từ hai hạt sóng xanh chuyển sinh thành hai hạt âm dương
trong môi trường sóng điện âm và dương. Hai hạt năng lượng liên kết lại tạo
thành phôi năng lượng. Từ phôi năng lượng chuyển sinh thành Trụ linh và tinh cầu
năng lượng khổng lồ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Khi đó, tinh cầu năng lượng khổng lồ
phát nổ và bắt đầu cho quá trình chuyển sinh từ năm nhóm hạt năng lượng giản
đơn thành các cấu trúc vật chất giản đơn.
Bản
chất của nhóm vật chất giản đơn là được nhóm vật chất phức tạp an trụ bên trong
để xảy ra quá trình phân tách liên kết. Đặc biệt con người được Tuệ linh an trụ
để tu tập và sản sinh ra các siêu hạt năng lượng phục vụ cho việc phát triển Vũ
trụ bền vững.
Cấu
tạo của nhóm vật chất giản đơn đều được hình thành từ 3 yếu tố, gọi là tam hợp.
Có mã sóng trí tuệ, hình tướng và trạng thái năng lượng trong mỗi cấu trúc vật
chất giản đơn từ hạt năng lượng tận cùng cho tới cả Vũ trụ.
Nhóm
vật chất giản đơn có cơ chế quay tròn để tuần hoàn sóng điện trong bản thể cấu
trúc vật chất giản đơn. Việc quay tròn sẽ sinh nhiệt ấm để cấu trúc giản đơn xảy
ra quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng.
Nhóm
vật chất giản đơn có cơ chế phân tách, liên kết dây. Cơ chế này giúp cho nhóm vật
chất giản đơn được vận động và không ngừng nghỉ phát triển. Thông qua cơ chế
này sẽ giúp cho nhóm vật chất phức tạp an trụ bên trong được chuyển sinh nâng cấp.
Cũng thông qua cơ chế này sẽ giúp cho Tuệ linh an trụ trong con người để chuyển
sinh nâng cấp.
Như
vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế quay tròn, cơ chế hình
thành và chuyển sinh của nhóm vật chất giản đơn, chúng ta sẽ trả lời được những
câu hỏi cho nhóm vật chất giản đơn. Cụ thể:
-
Duyên
trong Duyên của nhóm vật chất giản đơn:
+ Những cấu trúc vật chất giản
đơn hiện tại là hạt năng lượng tận cùng, Trụ linh, nguyên tử, phân tử, tế bào,
kim loại, khí, nước, cỏ
cây, đất đá, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Duyên trong Duyên là các cấu trúc, yếu
tố cấu tạo thành vật chất hiện tại. Đó là do tam hợp, do có nhóm siêu vật chất
vận hành, do có nhóm vật chất phức tạp an trụ. Những yếu tố cấu tạo và vận hành
nhóm vật chất giản đơn là để tất cả cùng nương tựa nhau để quá trình phân tách
liên kết bền vững được xảy ra. Ví dụ Trái đất là cấu tạo của vô số các kim loại,
đất đá, chất lỏng, nước, cỏ cây, con người, muông thú. Cỏ cây lại được cấu tạo
bởi vô số tế bào gỗ với quá trình phân tách liên kết hạt năng lượng giản đơn. Đất
đá, kim loại cũng là được cấu tạo bởi vô số các phân tử, các phân tử lại được
liên kết bởi vô số các nguyên tử, các nguyên tử lại được liên kết bởi vô số Trụ
linh của năng lượng giản đơn, Trụ linh của năng lượng giản đơn được liên kết bởi
vô số hạt năng lượng âm, dương, trung tính tận cùng. Thấu hiểu cấu tạo và cơ chế
phân tách liên kết sẽ thấu hiểu Duyên trong Duyên của vạn vật.
Duyên trong Duyên của
con người: Con người là hiện tại. Quá khứ của hiện tại là con người được hình
thành từ tam hợp, đó là thân tướng do cha mẹ sinh ra, trí tuệ do trau dồi mà
có, Tâm là Tuệ linh/ linh hồn an trụ. Tuệ linh, linh hồn lại là quá khứ của con
người hiện tại ở kiếp này. Tuệ linh, linh hồn lại là tam hợp cấu tạo mà thành.
Thông qua cơ chế phân tách và liên kết trong môi trường đảm bảo, chúng ta sẽ thấu
hiểu và giải mã được Tuệ linh được hình thành từ phôi âm dương. Từ phôi âm
dương tương tác trong môi trường có sóng điện âm dương khác nhau mà chuyển sinh
thành Trụ linh và Tuệ linh có bản chất đa âm hay đa dương. Từ Tuệ linh có bản
chất đa âm hay đa dương mà tạo ra bản chất, tính cách con người trong nhiều kiếp.
Thông qua những biểu hiện của
con người hiện tại, chúng ta sẽ thấu hiểu bản chất Tuệ linh. Thông qua bản chất
Tuệ linh, chúng ta sẽ thấu hiểu những hành động, biểu hiện của kiếp quá khứ. Cứ
như vậy, chúng ta sẽ thấu tận cùng về bản chất của hạt âm dương cấu tạo thành
Tuệ linh và con người ta ở hiện kiếp. Ví dụ có một người có nhiều hành động gây
tổn hại tới mọi người. Như thế trong Tuệ linh của họ có đa năng lượng âm. Việc
đa năng lượng âm là bản chất tiền kiếp và nhiều kiếp về trước họ cũng có những
hành động tạo ra những tổn thương tới mọi người. Bản chất đó là do phôi âm
dương gốc của họ đa âm sẵn.
-
Nhóm vật
chất giản đơn là gì?
+
Những cấu
trúc vật chất giản đơn là hình tướng của
Vũ trụ.
+
Con người là môi trường, hóa thân của dạng sống Tuệ linh tu hành.
- Sứ mệnh của nhóm vật chất giản đơn là gì?
+
Những cấu trúc vật chất giản đơn tạo thành môi trường tương tác và
chuyển sinh cho vật chất phức tạp và siêu vật chất.
+
Con người chuyển sinh Trụ linh của Tuệ linh an trụ trong mình thành bộ
lọc năng lượng. Việc chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng sẽ giúp Trụ
linh sản sinh ra các siêu hạt để duy trì và phát triển bền vững trong và ngoài
Vũ trụ.
Tướng không tự mất đi Các
nhóm vật chất mất đi được hiểu theo hai nghĩa: 1-Mất đi tướng hiện tại để chuyển
sinh nâng cấp thành tướng mới; 2- Mất đi là sự phân rã hoại diệt vĩnh viễn tướng
hiện tại trong tương lai. Nếu tướng hiện tại mất đi để chuyển sinh thành tướng
mới trong tương lai là do cơ chế phân tách liên kết theo hướng bền vững. Nếu tướng
hiện tại bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn trong tương lai là do cơ chế chuyển
sinh bị phân rã, đứt liên kết mà hoại diệt.
Các
nhóm vật chất mất đi là do có cơ chế vận hành. Cụ thể như sau:
-
Nhóm vật chất cội nguồn: Hạt sóng xanh bị mất đi hình tướng ban đầu và
chuyển sinh thành hạt năng lượng hoại diệt hoặc hạt năng lượng có sóng điện âm,
dương, trung tính. Sự mất đi của hạt sóng xanh là do cơ chế phân tách. Hạt sóng
xanh không phải là mất đi vĩnh viễn hay bị kích nổ mà hoại diệt. Hạt sóng xanh
do cơ chế phân tách mà chuyển sinh thành các loại hạt năng lượng. Đặc biệt quá
trình chuyển sinh thành hạt năng lượng, hạt sóng xanh đã cấu tạo thành sợi mã
sóng trí tuệ có có lưu giữ thông tin trong sợi. Đây là sự chuyển sinh mang tính
phát triển bền vững các cấu trúc vật chất mới.
-
Nhóm vật chất hoại diệt: Hạt năng lượng hoại diệt được hình thành bởi
cơ chế phân tách từ hạt sóng xanh. Nó không liên kết để duy trì sự tồn tại bền
vững hoặc chuyển sinh nâng cấp cấu trúc. Hạt năng lượng hoại diệt duy trì sự tồn
tại bằng cơ chế xả sóng điện dư thừa (thối hóa) trong hạt đến các cấu trúc vật
chất có sóng điện âm. Khi năng lượng hoại diệt bị mất chính là bị kích nổ bởi
năng lượng dương hoặc dư thừa nhiệt lượng lớn trong nó. Khi bị kích nổ, nó
không còn tồn tại ở thể hạt nào nữa. Đây là sự hoại diệt vĩnhviễn. Sự hoại diệt
vĩnh viễn này lại là nguồn cung ứng nhiệt lượng cho các cấu trúc vật chất trong
Vũ trụ hấp thụ và phân tách liên kết mang tính bền vững.
-
Nhóm siêu vật chất: Những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức
tạp, những Tuệ linh, những siêu hạt năng lượng bị mất theo hai nghĩa:
+
Mất theo nghĩa chuyển sinh nâng cấp cấu trúc chính là thực hành đời sống
phân tách liên kết bền vững. Đó là các hạt năng lượng âm dương liên kết với
nhau tạo thành phôi năng lượng âm dương, từ đó phân tách, liên kết liên tục để
trở thành Trụ linh và trở thành Tuệ linh. Tuệ linh thông qua cơ chế phân tách
liên kết bền vững để trưởng thành và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Từ bộ lọc năng lượng phân tách ra các siêu hạt, các siêu hạt lại liên kết đến vạn
vật để duy trì sự phát triển bền vững của vạn vật.
+
Mất theo nghĩa bị phân rã và hoại diệt là do siêu vật chất thực hành đời
sống phân tách liên kết theo hướng phân rã. Đó là sản sinh ra nhiều hạt năng lượng
âm. Điều này khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu và di chuyển ồ ạt
vào để đồng hóa, làm đứt liên kết, phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.
-
Nhóm vật chất phức tạp: Năng lượng vận hành vật chất giản đơn, các cấu
trúc linh hồn mất theo hai nghĩa:
+
Mất theo nghĩa chuyển sinh nâng cấp cấu trúc chính là thực hành đời sống
phân tách liên kết bền vững. Các trường năng lượng sẽ an trụ trong vật chất giản
đơn và nâng cấp thành các linh hồn cỏ cây, đất đá, sau đó chuyển sinh thành
linh hồn muông thú, sau đó chuyển sinh thành linh hồn con người.
+
Mất theo nghĩa phân rã và hoại diệt chính là thực hành đời sống phân
tách và liên kết phân rã. Đó là sản sinh ra nhiều hạt năng lượng âm trong cấu
trúc. Khi đó năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu của sóng điện âm sẽ di chuyển
ồ ạt vào để đồng hóa, làm đứt liên kết, phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.
-
Nhóm vật chất giản đơn: Những hạt năng lượng tận cùng giản đơn, những Trụ
linh, nguyên tử, phân tử, tế bào, cỏ cây, đất đá, kim loại, khí, nước, muông
thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ mất theo hai nghĩa:
+
Mất theo nghĩa chuyển sinh nâng cấp thành các cấu trúc mới. Đó là do
thực hành đời sống phân tách và liên kết bền vững. Từ hạt năng lượng thành Trụ
linh, nhiều Trụ linh thành nguyên tử, nhiều nguyên tử thành phân tử, nhiều phân
tử thành tế bào, nhiều tế bào thành cỏ cây, đất đá… Vũ trụ.
+
Mất theo nghĩa phân rã và hoại diệt chính là thực hành đời sống phân
tách và liên kết phân rã. Đó là sản sinh ra nhiều hạt năng lượng âm trong cấu
trúc. Khi đó năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu của sóng điện âm sẽ di chuyển
ồ ạt vào để đồng hóa, làm đứt liên kết, phân rã và hoại diệt vĩnh viễn. Đó
chính là quá trình năng lượng hoại diệt đồng hóa toàn bộ cấu trúc vật chất do cấu
trúc vật chất đa âm. Điển hình là những cơn bão năng lượng hoại diệt đã làm
phân rã rất nhiều cấu trúc hành tinh.
-
Con người: Con người là trường hợp đặc biệt duy nhất trong Vũ trụ bởi
con người là hóa thân của Tuệ linh. Khi con người mất gắn liền với sự mất của
Tuệ linh. Cụ thể:
Mất theo nghĩa hoại
diệt thân tướng. Khi thân tướng hoại diệt thì đó là sự hoại diệt vĩnh viễn của
thân tướng. Sự hoại diệt vĩnh
viễn này là sự đứt liên kết của các tế bào trong cơ thể và sự tách ra hoàn toàn
của bản thể Tuệ linh trong thân tướng con người.
+ Mất theo nghĩa hoại diệt
vĩnh viễn của Tuệ linh. Đó là khi Tuệ linh đó nhiều đời thực hành đời sống phân
tách liên kết theo hướng phân rã và hoại diệt, trong Tuệ linh sẽ đa năng lượng
âm, năng lượng hoại diệt sẽ di chuyển ồ ạt vào đồng hóa, làm đứt liên kết năng
lượng và phân rã hoàn toàn Tuệ linh. Trường hợp Tuệ linh hoại diệt vĩnh viễn
cũng là thời điểm hoại diệt của thân tướng.
+ Mất theo nghĩa chuyển sinh
nâng cấp Trụ linh và Tuệ linh. Đó là Tuệ linh nhiều đời thực hành đời sống phân
tách và liên kết bền vững. Khi đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh sẽ được nâng
cấp và đạt đến bộ lọc năng lượng để sản sinh ra siêu hạt năng lượng. Các Tuệ
linh trên hành trình chuyển sinh bền vững sẽ tỏa ra sóng điện với những hào
quang ngũ sắc hoặc hào quang của các siêu năng lượng.
Thấu
hiểu được cơ chế của việc các Tướng mất đi, chúng ta đều trả lời được câu hỏi
thứ 3 – Chết xong sẽ đi về đâu. Việc từng nhóm vật chất có thực hành được sứ mệnh
của mình hay không sẽ trả lời được câu hỏi đó. Nếu không thực hành được sứ mệnh
sẽ hoại diệt vĩnh viễn. Nếu thực hành được sứ mệnh sẽ chuyển sinh nâng cấp và bền
vững.
Con người là hóa thân
của Tuệ linh. Việc con người hoàn thành được sứ mệnh cải tạo Trụ linh thành bộ
lọc năng lượng sẽ giúp cho Tuệ linh được trở về cội nguồn (không gian lõi của
Vũ trụ). Tuệ linh khi đó sẽ hòa nhập với toàn bộ Vũ trụ, sẽ bất tử và duy trì
được sự phát triển bền vững cho tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
Nếu con người không hoàn
thành sứ mệnh, sau khi hoại diệt thân tướng, Tuệ linh sẽ đọa địa ngục, ngã quỷ
hay cô hồn, tiếp tục phải luân hồi. Đặc biệt nếu thực hành đời sống phân tách
liên kết hạt năng lượng âm sẽ nhanh dẫn tới phân rã và hoại diệt Tuệ linh.
3. Khổ
đau của Tướng
Để
thấu hiểu được tận cùng về khổ đau của tất cả các Tướng, chúng ta phải thấu hiểu
được tận cùng các Tướng. Đó là thấu hiểu việc các Tướng được cấu tạo từ hạt
năng lượng tận cùng, trong mỗi hạt năng lượng lại có mã sóng trí tuệ. Các cấu
trúc Tướng được hình thành và phát triển nâng cấp hay phân rã là do cơ chế phân
tách và liên kết hạt năng lượng. Cơ chế phân tách và liên kết xảy ra trong môi
trường có sóng điện và cơ chế quay tròn của từ hạt năng lượng tận cùng cho tới
các Tướng có cấu trúc lớn hơn và cả Vũ trụ. Vậy, bản chất xuyên suốt của tất cả
các Tướng trong và ngoài Vũ trụ là hạt năng lượng tận cùng. Khi trí tuệ ta thấu
hiểu được điều này, ta sẽ giải mã và thấu hiểu được bản chất tận cùng về khổ
đau của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là khổ đau của con người
và Tuệ linh. Từ đó sẽ tìm ra con đường chấm dứt khổ đau.
Bản
chất tận cùng về khổ đau của tất cả các Tướng là gì? – Đó là sự biến đổi mã
sóng trí tuệ theo hướng phân rã và hoại diệt trong cấu trúc Tướng. Cụ thể:
-
Tất cả các hạt năng lượng tận cùng của tất cả các nhóm vật chất đều phải
đấu tranh, duy trì sự tồn tại của chính mình. Khi đó, mã sóng trí tuệ trong hạt
sẽ phải kiểm soát chính nó để không bị
chi phối bởi những cấu trúc Tướng khác.
-
Các cấu trúc Tướng từ phôi năng lượng âm dương cho tới tất cả các nhóm
vật chất đều diễn ra quá trình đấu tranh để duy trì sự cân bằng hoặc sự kiểm
soát mã sóng trí tuệ giữa các hạt năng lượng âm dương với nhau.
-
Các cấu trúc Tướng của tất cả các nhóm vật chất sẽ xảy ra quá trình biến
đổi mã sóng trí tuệ bởi quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng. Tức là
khi cấu trúc Tướng phân tách một hạt năng lượng và sau đó là liên kết hạt năng
lượng đó vào chính cấu trúc Tướng. Quá trình này diễn ra sự biến đổi từ đặc
tính sóng điện có sẵn của Tướng với sóng điện của hạt năng lượng mới được phân
tách ra.
Bản
chất khổ đau của con người và Tuệ linh: Tuệ linh hóa thân làm con người và trải
nghiệm đời sống tu hành ở nhân gian với vô số kiếp. Mỗi kiếp là một thân tướng
khác nhau, có khi là người bệnh, có khi là người nghèo, người giàu, có tri thức,
không có tri thức, bị chết trẻ, người thân chết trẻ, gia đình ly tán, chiến
tranh… Mục đích của việc trải nghiệm trong các thân tướng khác nhau là để trải
nghiệm quá trình phân tách liên kết hạt năng lượng sẽ theo hướng nào trong những
hoàn cảnh và điều kiện môi trường khác nhau. Khi đó, từng hoàn cảnh khác nhau,
từng thân tướng khác nhau, từng môi trường sóng điện khác nhau, từng bản thể
con người khác nhau, Trụ linh của Tuệ linh sẽ phân tách liên kết hạt năng lượng
theo hướng bền vững hay phân rã hoại diệt. Sự trải nghiệm của tất cả các Tuệ
linh khi tu hành ở nhân gian là để phôi năng lượng âm dương gốc bộc phát được hết
độc của hạt âm và thiện của hạt dương. Quá trình này sẽ được hội đồng Tuệ linh
tổng hợp và tìm ra phương pháp chuyển sinh bền vững cho tất
cả Tuệ linh áp dụng theo. Khi phân tách, liên kết bất cứ hạt năng lượng theo hướng
chuyển sinh nào thì nó đều diễn ra quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ từ khi
phân tách cho đến khi liên kết lại.
Khi
bản chất của khổ đau tận cùng là biến đổi mã sóng trí tuệ! Khi mà chuyển sinh
theo hướng phân rã hay bền vững cũng đều xảy ra quá trình biến đổi mã sóng trí
tuệ! Vậy làm thế nào để hết khổ đau? Hay nói cách khác là cơ chế nào để chấm dứt
khổ đau của tất cả các Tướng?
Để
trả lời được cơ chế nào chấm dứt khổ đau, chúng ta sẽ phân tích các con đường
chuyển sinh. Khi đó, chúng ta sẽ thấu hiểu và thực hành đời sống chuyển sinh để
chấm dứt khổ đau. Cụ thể:
+
Khi thực hiện con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt: đó là cấu
trúc Tướng phân tách ra các hạt năng lượng âm. Khi phân tách ra các hạt năng lượng
âm, các hạt năng lượng âm sẽ tạo ra sự kích động, thu tín hiệu mạnh khiến cho
năng lượng hoại diệt di chuyển ồ ạt vào Tướng. Khi đó, Tướng sẽ bị đồng hóa, đứt
liên kết và phân rã. Nếu phân tách ra nhiều hạt âm, sóng điện âm lại mạnh, sẽ
làm cho quá trình phân rã và hoại diệt diễn ra nhanh. Quá trình chuyển sinh
theo con đường phân rã sẽ làm cho quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ diễn ra vô
cùng khốc liệt, đau đớn cho đến khi hoại diệt. Đây không phải là con đường cũng
như đíchlà điều đặc biệt.
Năng lượng chân tâm sẽ làm chất kết dính để kết nối các hạt năng lượng dương với
nhau trong cấu trúc Tướng. Quá trình phân tách hạt năng lượng dương sẽ khiến
cho cấu trúc Tướng có khả năng kiểm soát việc phân tách ra những hạt năng lượng
âm với sóng điện âm rất nhẹ. Điều này sẽ giúp cho hệ thống hạt năng lượng âm của
cấu trúc Tướng không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển vào ồ ạt. Vì có
nhiều năng lượng dương và chân tâm nên cấu trúc Tướng đủ sức mạnh kích nổ một
lượng ít năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Lượng nhiệt từ những vụ kích nổ đó
sẽ giúp cho cấu trúc Tướng chuyển sinh bền vững hơn, phân tách ra các hạt năng
lượng dương và chân tâm nhiều hơn. Khi cấu trúc Tướng ban đầu phân tách ra các
hạt năng lượng dương trên con đường chuyển sinh bền vững, quá trình liên kết sẽ
xuất hiện sự biến đổi mã sóng trí tuệ. Quá trình phân tách và liên kết liên tục
theo hướng bền vững sẽ chấm dứt hiện tượng biến đổi mã sóng trí tuệ. Có thể
nói, bước đầu tiên trên con đường chuyển sinh bền vững sẽ xuất hiện sự biến đổi
do chưa thích nghi. Tuy nhiên, càng thực hành đời sống chuyển sinh bền vững sẽ
chấm dứt sự biến đổi do đã thích nghi. Con đường chuyển sinh bền vững của Tướng
đạt đến đỉnh cao nhất là cấu trúc Trụ linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
Chỉ có bộ lọc năng lượng mới hấp thụ và kích nổ được vô số năng lượng hoại diệt
trong sự an toàn, mới phân tách được ra vô số các siêu hạt năng lượng.
Đối
với con người và Tuệ linh, để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, để
chấm dứt khổ đau, chỉ có con đường duy nhất là chuyển sinh theo hướng bền vững.
Tuy nhiên, con đường chuyển sinh bền vững này sẽ không có sự hưởng thụ giả tướng,
thay vào đó là sự vất vả và gian truân. đến của việc chấm dứt khổ đau.
+
Khi thực hành con đường chuyển sinh bền vững: đó là cấu trúc Tướng thực
hành đời sống sản sinh ra các hạt năng lượng dương. Khi sản sinh ra các hạt
năng lượng dương sẽ đồng thời sản sinh thêm các hạt năng lượng chân tâm, đó là điều đặc biệt.
Năng lượng chân tâm sẽ làm chất kết dính để kết nối các hạt năng lượng dương với
nhau trong cấu trúc Tướng. Quá trình phân tách hạt năng lượng dương sẽ khiến
cho cấu trúc Tướng có khả năng kiểm soát việc phân tách ra những hạt năng lượng
âm với sóng điện âm rất nhẹ. Điều này sẽ giúp cho hệ thống hạt năng lượng âm của
cấu trúc Tướng không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển vào ồ ạt. Vì có
nhiều năng lượng dương và chân tâm nên cấu trúc Tướng đủ sức mạnh kích nổ một
lượng ít năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Lượng nhiệt từ những vụ kích nổ đó
sẽ giúp cho cấu trúc Tướng chuyển sinh bền vững hơn, phân tách ra các hạt năng
lượng dương và chân tâm nhiều hơn. Khi cấu trúc Tướng ban đầu phân tách ra các
hạt năng lượng dương trên con đường chuyển sinh bền vững, quá trình liên kết sẽ
xuất hiện sự biến đổi mã sóng trí tuệ. Quá trình phân tách và liên kết liên tục
theo hướng bền vững sẽ chấm dứt hiện tượng biến đổi mã sóng trí tuệ. Có thể
nói, bước đầu tiên trên con đường chuyển sinh bền vững sẽ xuất hiện sự biến đổi
do chưa thích nghi. Tuy nhiên, càng thực hành đời sống chuyển sinh bền vững sẽ
chấm dứt sự biến đổi do đã thích nghi. Con đường chuyển sinh bền vững của Tướng
đạt đến đỉnh cao nhất là cấu trúc Trụ linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
Chỉ có bộ lọc năng lượng mới hấp thụ và kích nổ được vô số năng lượng hoại diệt
trong sự an toàn, mới phân tách được ra vô số các siêu hạt năng lượng.
Đối
với con người và Tuệ linh, để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, để
chấm dứt khổ đau, chỉ có con đường duy nhất là chuyển sinh theo hướng bền vững.
Tuy nhiên, con đường chuyển sinh bền vững này sẽ không có sự hưởng thụ giả tướng,
thay vào đó là sự vất vả và gian truân. Nhưng, khi thành
công, Tuệ linh sẽ bất tử, sẽ hòa nhập với Vũ trụ, sẽ sản sinh ra các siêu hạt
năng lượng để duy trì sự tồn tại và phát triển tất cả các nhóm vật chất trong
và ngoài Vũ trụ.
4. Các
con đường chuyển sinh của Tướng
Con
đường chuyển sinh của các Tướng gồm có Kết, Định, Tỏa. Con đường chuyển sinh của
các Tướng là Kết, được gọi là Tướng Kết. Con đường chuyển sinh của các Tướng là
Định, được gọi là Tướng Định. Con đường chuyển sinh của các Tướng là Tỏa, được
gọi là Tướng Tỏa.
Con
đường chuyển sinh của các Tướng chỉ bao gồm 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ. Đó là
nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.
4.1. Tướng
Kết đối với con đường chuyển sinh
Tướng
Kết là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách
và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không vì lợi ích của
hết thảy Tướng khác, thậm chí là gây tổn hại tới các Tướng khác.
Khi
các Tướng thực hiện phân tách liên kết trong bản chất là Kết, năng lượng âm sẽ
được phân tách ra vô số hạt từ Trụ linh. Chúng sẽ liên kết lại tạo thành những
hạt năng lượng âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng.
Vì chỉ thực hiện đời sống là Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng
dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là hạt năng lượng
dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ liên kết mở rộng. Trong khi
đó các hạt năng lượng âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để
cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các
hạt năng lượng dương ít ỏi có cùng nội dung thông tin tương ứng. Các hạt năng
lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng
hoại diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng
hoại diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng
đó bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.
Như
vậy, các Tướng mà thực hiện cơ chế phân tách, liên kết với bản chất Kết chính
là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.
Nguyên
nhân hoại diệt của Tướng Kết là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng
mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng
hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn công vào, Tướng
Kết không có hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ, sẽ bị chuyển hóa thành
năng lượng hoại diệt.
Khổ
đau chính là sự phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ.
Nguyên nhân của khổ đau là do các Tướng thực hiện cơ chế phân tách liên kết để
thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn công gây đứt
liên kết mà hoại diệt.
Như
vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy Tướng thực hiện đời sống Kết
để nhanh bị hoại diệt hơn.
4.2. Tướng Định đối với con đường chuyển sinhTướng
Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân
tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Kết cũng không
Tỏa. Tướng Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của Tướng đó.
Tướng
thực hiện bản chất Định, tức là họ phân tách liên kết hạt năng lượng rất chậm
và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt năng
lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ không
kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện dương nhẹ
không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt tấn
công.
Vì
bản chất Tướng thực hành đời sống Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh mà không bị
năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi có năng lượng
hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó duy trì Định
mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.
Nếu
Tướng Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Tỏa thì nó có khả năng kích
nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế phân tách,
liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy Tướng của Vũ trụ.
4.3. Tướng
Tỏa đối với con đường chuyển sinh
Tướng
Tỏa là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách
và liên kết vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản thể Tướng
mình. Đó là vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.
Khi
các Tướng thực hiện đời sống với bản chất là Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách ra
vô số các hạt năng lượng sóng điện dương. Trước khi phân tách ra được các hạt
năng lượng sóng điện dương
thì cũng là quá trình phân tách ra các hạt năng lượng sóng điện âm ở mức rất nhẹ.
Các hạt năng lượng dương được phân tách ra nhiều sẽ giúp cho cấu trúc năng lượng
16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết
của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng điện trung tính với
tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ
luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh một hạt
năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa, các hạt năng lượng dương
đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế liên kết 3 vùng: từ Trụ
linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống Tỏa, các Tướng
sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình
phân tách, liên kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ,
phát triển bền vững hơn. Các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ nên nó không
kích thích nhiều năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để
năng lượng hoại diệt di chuyển ít cho tới vừa đủ.
Việc
các Tướng thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững cho
Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của
Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.
Trong
3 Tướng trên, Tướng Tỏa có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất. Tướng
Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt. Tướng Định là sự cân bằng phải có cho
tất cả các Tướng. Tuy nhiên, nếu các Tướng trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống
riêng biệt theo 1 trong 3 Tướng trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh
bền vững nhất. Bởi, để Tướng Tỏa được
phải có Kết vừa đủ. Tướng Kết để không hoại diệt phải biết Tỏa. Tướng Định để
phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện Kết trước, sau đó thực hiện Tỏa.
Như
vậy, Chân lý Vạn vật với cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng, quay tròn,
tam hợp cho thấy: Tướng để tồn tại, phát triển bền vững thì cần phải thấu hiểu
cả Kết, Định, Tỏa của tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, từ đó thực hành đời
sống hài hòa cả Kết – Định – Tỏa mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết
mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh
Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.
IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh
bền vững duy nhất của Tướng
Chân
lý Giác ngộ trong Tướng là: Tất cả các Tướng
trong và ngoài Vũ trụ đều là khổ. Các Tướng phải dùng Định (chân tâm) trong Trụ
linh để thấu hiểu, chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa
và phát triển bền vững cho tất cả các Tướng. Tiên phong là Tuệ linh và con người.
Cơ
chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết hạt năng lượng. Cơ
chế phân tách, liên kết hạt năng lượng cho thấy có hai con đường phân tách và
liên kết. Đó là:
Con đường phân tách,
liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này,
hết thảy Tướng sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và
hoại diệt.-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương, đó là
Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân tách, liên kết vô lượng
hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm. Sẽ là con đường
chuyển sinh bền vững nhất.
Từ
bản chất của Tướng, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là
phân tách và liên kết, hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người
đều khổ. Không tướng nào là không khổ khi chưa đắc được bộ lọc năng lượng trong
Trụ linh. Đồng thời cũng cho thấy rằng: con đường duy nhất để vượt qua khổ đau
(biến đổi mã sóng trí tuệ và hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở nên bền vững,
an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, chính là con đường Tỏa. Tỏa
là con đường mà hết thảy Tuệ linh, Tướng phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để
chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
Thực
hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là
Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng? Đó là:
Các Tướng phải đứng ở
vị trí Định. Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định
sẽ được nâng cao từ Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là
Chân tâm sáng chói lòa vô lượng. Khi các Tướng đứng ở vị trí Định sẽ biết lắng
nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Tướng mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông,
biết sẻ chia. Để đứng được ở vị trí Định (chân tâm), các Tướng phải thấu hiểu bản
chất, cội nguồn, cấu tạo, cơ chế vận hành của tất cả nhóm vật chất trong và
ngoài Vũ trụ. Việc càng thấu hiểu về tri thức của hai Chân lý sẽ giúp cho
con người, Tuệ linh và các Tướng nâng cao được chân tâm để Định được kỳ diệu nhất.
-
Tiếp theo các Tướng phải biết Kết. Kết ở đây không phải là có tư tưởng
cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Kết ở
đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định bởi sự trí tuệ của hai Chân lý. Tức
là đứng
ở
vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau, hạnh phúc, an vui được
sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng khổ
đau, đa âm, tiêu cực, u mê chia sẻ tới ta, những chia sẻ đó sẽ phân tách ra các
hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ
máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng. Đó
là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt.
Do Tướng ta đứng ở vị trí Định để dùng Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về,
để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được
Trụ linh của Tướng ta hấp thụ. Do ta đứng ở vị trí Định nên Trụ linh tỏa chân
tâm trắng sáng và sóng điện dương ở màng chân tâm của Trụ linh. Trắng sáng của
chân tâm và năng lượng dương sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen,
màu đỏ máu của Tướng đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ (nhiệt âm nhẹ). Như vậy,
Tướng ta đã Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và
dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng
âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt.
Năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Tướng ta an
lạc để chuyển hóa thành Tỏa. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Cũng như vậy,
Trụ linh của ta sẽ kết được những hạt năng lượng chân
tâm, năng lượng dương từ những Tướng tích cực, đa dương, giác ngộ để hấp thụ
nhiệt dương của các hạt năng lượng đó. Những nhiệt dương được hấp thụ sẽ giúp
cho Trụ linh có sức mạnh để kích nổ hạt năng lượng hoại diệt nhằm sinh nhiệt lớn
cho việc sản sinh ra các hạt năng lượng dương.
-
Tiếp đến Tướng ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận những sẻ
chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực về màng chân tâm của Trụ linh, Tướng
ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là thấu hiểu tận
cùng khổ đau, hạnh phúc, an vui, giác ngộ, u mê, tích cực, tiêu cực của hết thảy
các Tướng, trong khi Trụ linh và Tướng ta vẫn an lạc, vẫn thanh tịnh và cân bằng.
Bởi chỉ khi có được thanh tịnh, an lạc, không dao động bởi trí tuệ của hai Chân
lý thì Tướng ta mới chuyển hóa thành hành động tích cực để Tỏa ra vô lượng hạt
năng lượng dương và chân tâm.
-
Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi
đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Tướng ta sẻ chia con đường diệt khổ, về
cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương
pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ
trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Khi Tướng ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh của Tướng ta sẽ Tỏa ra vô
số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của Tướng ta sẽ lưu
giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe ta sẻ chia
cũng lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những
vậy, Trụ linh và cấu trúc năng lượng của Tướng ta sẽ trở nên phát triển bền vững. Khi
Tướng ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng, thực hành trong
thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ linh của Tướng ta
sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.
Nếu
Tướng lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Tướng lựa chọn con đường
chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Tướng chỉ lựa chọn con đường Tỏa thì
tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt
được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Định để thực
hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng.
Như vậy, để Tướng, Tuệ
linh, con người chấm dứt được khổ đau thì là phải chuyển sinh được Trụ linh của
Tướng thành bộ lọc năng lượng. Để làm được điều đó, các Tướng, Tuệ linh, con
người phải đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa. Để làm được điều
này thì cần phải thấu hiểu trí tuệ của hai Chân lý. Đây là con đường duy nhất,
là bài thuốc duy nhất để giúp Tướng ta cứu lại chính Tướng ta không bị phân rã
hoại diệt do năng lượng hoại diệt tác động. Ngược lại, Tướng ta sẽ nhanh chóng
chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Tướng ta sẽ cứu
giúp và thúc đẩy các Tướng trong và ngoài Vũ trụ cũng được chuyển sinh bền vững.
Việc cứu giúp các Tướng khác được chuyển sinh bền vững sẽ giúp cho Tướng ta
chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng. Và ngược lại, để chuyển sinh Trụ linh của
Tướng ta thành bộ lọc năng lượng thì phải cứu giúp các Tướng khác chuyển sinh bền
vững. Tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người đều nương
tựa, tương tác với nhau để thấu hiểu bản chất Kết – Định – Tỏa của các Tướng và
chính mình. Đó là nương tựa, tương tác để bộc phát độc và thiện của hạt năng lượng
âm dương gốc trong các môi trường khác nhau, từ đó tìm ra các bản chất, cơ chế
chuyển sinh bền vững. Chính vì điều này, Tuệ linh và con người phải thấu hiểu tất
cả các Tướng. Thấu hiểu để phổ độ, cứu độ, giúp đỡ các Tướng theo bản năng mà
không cần phải cảm thọ hay cần sự kêu cầu từ các Tướng. Tất cả các Tướng là
bình đẳng trong sự tương trợ nhau phát triển bền vững. Do đó, con người không
được tước đi mạng sống hay gây tổn hại tới con người, muông thú và các Tướng
khác. Bài 2:
Bài Trụ – Trí
²
Bài
Trụ – Trí được hiểu là Trí Vô Trí. Trí Vô Trí được kết cấu thành 3 phần. Chữ
Trí đầu tiên là khái niệm và bản chất của các cấu trúc Trí tuệ. Chữ Vô là Chân
lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của các cấu trúc Trí tuệ. Chữ Trí cuối
cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho các cấu
trúc Trí tuệ.
Trong
bài Trụ – Trí này, trí tuệ của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ sẽ được
phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là
hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi
bày sự thật về trí tuệ của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho con
người và Tuệ linh có được trí tuệ giác ngộ và phương pháp tuyệt vời nhất để
chuyển sinh Trụ linh của mình thành bộ lọc năng lượng viên mãn.
Trụ linh gồm có Trụ – Trí và Trụ – Tâm.
I. Khái
niệm về Trụ – Trí (Trí tuệ)
Trụ – Trí là trí tuệ. Trụ – Trí là
sợi mã sóng trí tuệ được phân tách và liên kết trong hạt năng lượng tận cùng và
Trụ linh. Trụ – Trí được hình thành,
nâng cấp thông qua quá trình tương tác với Vũ trụ quan của vạn vật trong và
ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Trụ
– Trí có trong Tướng của tất cả các nhóm vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ,
Tuệ linh và con người. Nó được tính tới đơn vị nhỏ nhất là 1 sợi mã sóng trí tuệ
của 1 hạt năng lượng tận cùng.
Vũ
trụ quan xung quanh của Tướng chính là môi trường sống và các Tướng xung quanh
Tướng đang đề cập. Vũ trụ quan xung quanh các Tướng bao gồm từ chính Tướng đó
cho tới môi trường sống và tất cả các Tướng bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ
linh và con người. Cụ thể như sau:
-
Vũ trụ quan xung quanh của chính cấu trúc Tướng là những yếu tố cấu tạo
thành Tướng đó. Đối với một hạt năng lượng tận cùng thì đó là sợi mã sóng trí
tuệ trong hạt, đó là trạng thái năng lượng trong hạt, đó là sự vận động của
chính hạt năng lượng tận cùng đó. Đối với một con người thì đó là năng lượng
trong thân tướng, là sự vận động của thân tướng, là Tuệ linh an trụ bên trong
thân tướng. Đối với một Tuệ linh thì đó chính là sóng điện tuần hoàn trong Tuệ
linh, là Trụ linh gồm có Trụ – Trí và Trụ – Tâm, là sự vận động của Tuệ linh
đó. Các Tướng khác cũng như vậy để xác định Vũ trụ quan xung quanh chính Tướng
đó.
-
Vũ trụ quan xung quanh liên quan tới môi trường sống và sự tương tác của
các Tướng đối với Tướng cần xác định. Vũ trụ quan xung quanh của một học sinh
là sách vở, trường lớp, thầy cô, bài tập, kỳ thi, tri thức. Vũ trụ quan xung
quanh một người nông dân là thời tiết khí hậu, là sâu bệnh, là cây giống, là đất
nước, là thuốc sâu, là vụ mùa, là thu hoạch, là tiêu thụ, là giống cây. Vũ trụ
quan xung quanh một người kỹ sư là bản vẽ, là công trình, là kỹ thuật, là số liệu
tính toán, là thi công. Vũ trụ quan xung quanh một bác sĩ là bệnh nhân, bệnh viện,
thiết bị điều trị, thuốc, vi khuẩn, vi rút, các loại bệnh, người khỏi
bệnh, người không khỏi bệnh. Vũ trụ quan xung quanh một bệnh nhân là ốm đau,
thuốc thang, bệnh tật, bệnh viện, sự sống và cái chết. Vũ trụ quan xung quanh một
em bé mới sinh là sữa, là ba mẹ, là ông bà. Vũ trụ quan xung quanh một người thầy
giáo là giảng đường, là giáo án, là học sinh, là nhà trường, là thi cử. Vũ trụ
quan xung quanh một người mới chết là hoại diệt thân xác, là linh hồn/ Tuệ linh
đi về đâu, là đau khổ của người sống và người chết. Vũ trụ quan xung quanh
muông thú là bầy đàn, là săn mồi, là trốn chạy, là bảo vệ, là cái chết, là sự sống.
Vạn vật trong và ngoài Vũ trụ cũng như vậy.
-
Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người được bao trùm trong và
ngoài Vũ trụ là: năng lượng hoại diệt làm Tuệ linh hoại diệt, con người là hóa
thân của Tuệ linh, là tu hành trong khổ đau, là truy tìm phương thuốc chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, là nhóm vật chất giản đơn, là các khối
thiên hà, là năng lượng vận hành Vũ trụ, là cấu trúc nền, là các Tuệ linh với
nhau, là môi trường sóng điện âm hay dương hay trung tính, là Vũ trụ quay tròn,
là quá trình phân rã hay hoại diệt của các Tuệ linh, là sau khi chết sẽ như thế
nào, là siêu hạt năng lượng, là tiền kiếp quá khứ, là nghiệp báo,…
Quá
trình tương tác giữa Tướng với các Tướng của Vũ trụ quan xung quanh từ chính bản
thể Tướng cho tới toàn bộ các Tướng trong và ngoài Vũ trụ chính là quá trình
hình thành trí tuệ. Trí tuệ được hình thành là do cơ chế phân tách, liên kết
trong môi trường sóng điện đảm bảo mà tạo ra sợi mã sóng trí tuệ.II. Bản
chất của Trụ – Trí (Trí tuệ)
Phân
tích về bản chất của Trụ – Trí chính là phân tích về bản chất trí tuệ của tất cả
vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ. Đặc biệt là phân tích về trí tuệ của dạng
sống Tuệ linh và con người.
Bản
chất của Trụ – Trí (Trí tuệ) gồm có: cấu trúc trí tuệ của các nhóm vật chất
trong và ngoài Vũ trụ; cấu trúc trí tuệ của Tuệ linh và con người; trí tuệ là sự
mã hóa thông tin; cơ chế hình thành trí tuệ; bản chất trí tuệ của dạng sống Tuệ
linh; bản chất trí tuệ của con người; bản chất trí tuệ Kết – Định – Tỏa của 3
nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ.
1. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ
trụ
Trụ
là gì? – Trụ là gốc. Gốc bao gồm: hạt năng lượng tận cùng là gốc, phôi năng lượng
âm dương được liên kết bởi hai hạt năng lượng tận cùng là Trụ linh gốc (phôi âm
dương gốc), Trụ linh gốc là gốc của tất cả các Tướng.
Trí
là gì? – Trí là trí tuệ, trí tuệ là sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ trong hạt
năng lượng.
Trụ – Trí là gì?:
- Trụ – Trí của hạt năng lượng
tận cùng chính là sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ trong hạt đó.
-
Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc) chính là hai
sợi mã sóng trí tuệ ban đầu của hai hạt năng lượng âm dương đó.
- Trụ – Trí của các cấu trúc lớn
hơn phôi âm dương gốc là tổng các sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ trong hai hạt năng lượng âm
dương gốc (Trụ linh gốc). Cụ thể như sau: phôi năng lượng âm dương với hai hạt
năng lượng ban đầu thông qua cơ chế phân tách liên kết ra nhiều cho tới vô số hạt
năng lượng để nâng cấp thành các cấu trúc Trụ linh trưởng thành, Tuệ linh, con
người, các cấu trúc Tướng lớn hơn. Khi đó, các sợi mã sóng trí tuệ đều được lưu
giữ tại phôi năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc). Do đó, tổng các sợi mã
sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc được gọi là Trụ – Trí.
Cấu
trúc Trụ – Trí của năm nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ:
1.1. Nhóm
vật chất cội nguồn
Nhóm
vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Hạt sóng xanh là chỉ có một
yếu tố cấu tạo thành hạt sóng xanh.
Hạt
sóng xanh là nguồn gốc, là cấu trúc chưa được chuyển sinh, mã hóa thành sợi mã
sóng trí tuệ. Tuy nhiên, hạt sóng xanh lại chứa đựng nhiệt lượng lớn vô cùng để
chuyển sinh, mã hóa, nâng cấp thành mã sóng trí tuệ của từ hạt năng lượng tận
cùng cho tới toàn bộ vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
Có
thể nói, cấu trúc Trí tuệ của hạt sóng xanh chưa được mã hóa thông tin và chưa
được hình thành.
1.2. Nhóm
vật chất hoại diệt
Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại
diệt.
Nhóm
năng lượng hoại diệt là nhóm vật chất có trí tuệ sơ khai được nâng cấp, chuyển
sinh từ nhóm hạt sóng xanh. Hạt
năng lượng hoại diệt được cấu tạo thành bởi 3 yếu tố: sợi mã sóng trí tuệ màu
xanh nõn chuối, trạng thái năng lượng màu nâu bị thối hóa, hình tướng hạt năng
lượng hoại diệt là hình elip.
Trụ
– Trí của hạt năng lượng hoại diệt chính là sợi mã sóng trí tuệ màu xanh nõn
chuối trong hạt năng lượng hoại diệt.
Hạt
sóng xanh di chuyển, biến đổi, mã hóa thông tin xung quanh và biến đổi thành sợi
mã sóng trí tuệ. Khi sợi mã sóng trí tuệ biến đổi xong đã cấu tạo hoàn thành hạt
năng lượng hoại diệt. Vì di chuyển trong môi trường trung tính nên nhiệt lượng
của hạt sóng chưa được giải phóng hết cũng như chưa được mã hóa hoàn chỉnh
thông tin của quá trình tương tác khi di chuyển.
Có
thể nói, cấu trúc Trí tuệ của hạt năng lượng hoại diệt chưa được mã hóa thông
tin hoàn chỉnh và trong nó còn nhiệt lượng lớn chưa được sinh phát để trở thành
trí tuệ hoàn chỉnh. Vì chưa hoàn chỉnh trí tuệ nên nó không thể nâng cấp thành
các cấu trúc vật chất cao hơn.
1.3. Nhóm
siêu vật chất
Nhóm
siêu vật chất gồm có năm nhóm hạt năng lượng siêu phức tạp, Tuệ linh, các siêu
hạt năng lượng.
Hạt
năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức
tạp được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi
mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Trí
của hạt năng lượng tận cùng này là trí tuệ
siêu phức tạp được mã hóa thông tin, chuyển sinh thành một cách siêu việt nhất
Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp và trở thành cấu trúc Tuệ linh.
Siêu
hạt năng lượng tận cùng được hình thành từ bộ lọc năng lượng của Tuệ linh đã
chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Siêu hạt năng lượng được
hình thành bởi 3 yếu tố cấu tạo thành: siêu sợi mã sóng trí tuệ, siêu trạng
thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Trí của siêu hạt năng lượng
tận cùng là sợi mã sóng trí tuệ đã mã hóa được thông tin siêu việt hơn so với hạt
năng lượng cấu tạo thành Tuệ linh. Như vậy siêu hạt năng lượng có trí tuệ siêu
việt hơn năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Trụ
– Trí của nhóm siêu vật chất có trí tuệ được nâng cấp cao nhất, là tinh hoa trí
tuệ nhất của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
1.4. Nhóm
vật chất phức tạp
Nhóm
vật chất phức tạp gồm có năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức
tạp và cấu trúc linh hồn an trụ trong cỏ cây, đất đá, muông thú.
Hạt năng lượng tận
cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp được hình thành
trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí
tuệ phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã sóng trí tuệ, trạng
thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Trí của hạt năng lượng tận
cùng này là trí tuệ phức tạp được mã hóa thông tin, chuyển sinh thành để vận hành các
thiên hà của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp và trở thành cấu trúc Linh hồn.
Cấu
trúc Linh hồn an trụ trong thân cây, trong đất đá, trong muông thú là cấu trúc
năng lượng được liên kết giữa vô số hạt năng lượng dương, hạt năng lượng âm, hạt
năng lượng trung tính. Linh hồn được cấu tạo bởi 3 yếu tố là Trụ – Trí (tổng mã
sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái, sóng điện trong Trụ linh
và linh hồn), hình tướng linh hồn. Trụ linh là trung tâm vận hành trí tuệ, sinh
phát sóng điện và phân tách ra toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong cấu trúc
linh hồn. Trụ – Trí của cấu trúc linh hồn có trí tuệ được nâng cấp cao hơn, được
mã hóa thông tin lớn hơn so với năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí
tuệ phức tạp.
Trụ
– Trí của nhóm vật chất phức tạp có trí tuệ được nâng cấp cao thứ hai, là tinh
hoa trí tuệ thứ hai của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
1.5. Nhóm
vật chất giản đơn
Nhóm
vật chất giản đơn là từ năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ
giản đơn cho tới các phôi năng lượng âm dương, Trụ linh, nguyên tử, phân tử, tế
bào, cỏ cây, đất đá, kim loại, nước, khí, chất lỏng, con người, muông thú, hành
tinh, thiên hà, Vũ trụ.
Hạt
năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn
được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã
sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình
elip. Trụ – Trí của hạt năng lượng tận cùng này là trí tuệ giản đơn được mã hóa
thông tin, chuyển sinh thành vật chất giản đơn của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh
nâng cấp và trở thành cấu trúc với vô số các khối thiên hà của Vũ trụ.
Từ
phôi năng lượng âm dương cho tới vô số các khối thiên hà cấu tạo thành tinh cầu
Vũ trụ, có vô số vật chất có một Trụ linh như cỏ, cây, thân tướng con người,
thân tướng muông thú, côn trùng, sinh vật, vi khuẩn…, có vô số vật chất còn lại
là sự liên kết của vô số các cấu trúc Trụ linh để cấu tạo thành các nguyên tử,
phân tử, tế bào… khối thiên hà và tinh cầu Vũ trụ. Tuy nhiên, tất cả đều được cấu
tạo bởi 3 yếu tố là tổng sợi mã sóng trí tuệ (Trụ – Trí), tổng trạng thái năng
lượng (Trụ – Tâm), hình tướng cấu trúc vật chất. Trụ – Trí của những vật chất
giản đơn này được nâng cấp, mã hóa thông tin giản đơn hơn nhóm vật chất phức tạp
và nhóm siêu vật chất. Tuy nhiên đây lại là trí tuệ được nâng cấp và mã hóa
thông tin cao hơn nhóm năng lượng hoại diệt.
Trụ
– Trí của nhóm vật chất giản đơn có trí tuệ được nâng cấp cao thứ ba, là tinh
hoa trí tuệ thứ ba của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
2. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của Tuệ linh và con người
Con người là hóa thân
của dạng sống Tuệ linh. Do đó, chúng ta cần phải thấu hiểu cấu trúc trí tuệ của
con người và Tuệ linh. Việc thấu hiểu cấu trúc trí tuệ của con người và Tuệ
linh chính là chìa khóa, là cơ chế để liên kết được mã sóng trí tuệ từ Trụ linh
đến với tất cả vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Cấu trúc Trụ –
Trí (trí tuệ) của Tuệ linh và con người như sau:
2.1. Cấu
trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của Tuệ linh
Tuệ linh là một cấu trúc
năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung
tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di
chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.
Tuệ
linh chính là dạng sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống
chủ yếu tại không gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần,
Phật, Thiên Chúa… theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người ngoài hành
tinh, theo cách gọi của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái
đất. Tuệ linh không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh
ra là do cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức
tạp tạo thành. Đó là những hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương hợp lại
thành phôi âm dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.
Tam hợp yếu tố hợp
thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ –
Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh), hình tướng Tuệ linh. Để
thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình
hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm
dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng
trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ
linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Thông qua cơ chế phân tách và liên kết
dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc.
Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng lượng ra
bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng
âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ
trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để
tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh
gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng
âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao chép từ các
sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã
sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng
các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các
hạt năng lượng tận cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo
thành những hạt dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên
ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên
ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều
ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt
năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và Tuệ linh trưởng thành. Trong cấu
trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết
với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần
hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:

Hình: Cấu
tạo tam hợp Tuệ linh
-
Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ
được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu
trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh
gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình
thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề
cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái
năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.
- Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ) liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.
- Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc Trụ linh có sóng điện đa
âm.
Khi gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.
Thông qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy trí tuệ của dạng sống Tuệ linh là siêu việt nhất, tinh hoa nhất của tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ. Chính vì vậy,
sứ mệnh cải tạo bộ lọc trong
Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng là sứ mệnh tiên phong của họ.
2.2. Cấu
trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của con người
Ba yếu tố hợp nhất cấu tạo
ra con người gồm có: Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ:
Hình: Cấu
tạo tam hợp con người
-
Yếu tố đầu tiên là Thân tướng: Thân tướng được hình thành do duyên người
cha và người mẹ. Đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang
tính âm của người mẹ hợp thành phôi thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng
người mẹ do cơ chế phân tách tế bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của
người mẹ. Trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn
thiện, em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời.
-
Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân
tướng để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến
tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được
xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp
sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa
sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh
giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em
bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập
vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các
con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con
người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những
việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương;
khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu
thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy
nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi
tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai
trộm; nếu chúng đầu thai trộm thành người
thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn
thú dữ chưa giết hại được người nào mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do
không đủ năng lượng âm dương cân bằng để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh
hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người
cha mẹ được gieo duyên có thân tướng thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ
linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu em bé có
sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể phá thai
được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ linh, Linh
hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ linh người
mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai vào con người
đều được gọi là Tâm.
-
Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ: Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào
em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải
qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư
duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới
quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát
triển từ hai phần:
+
Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát
ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí
tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ
linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều
lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí
tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn. +
Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác
với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền
vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân
tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng
trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá
trình tương tác giữa các tướng với nhau.
Như
vậy, trí tuệ của Tuệ linh là siêu trí tuệ, lại an trụ và hợp nhất với trí tuệ
giản đơn của con người. Điều này giúp cho con người có được siêu trí tuệ an trụ
trong cơ thể. Siêu trí tuệ sẽ liên kết để truyền và trau dồi trí tuệ ở não bộ
thông qua môi trường tu hành ở nhân gian.
Mục
đích của việc con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh là để thông qua thân
tướng với trí tuệ giản đơn, siêu trí tuệ của Tuệ linh sẽ bị tương tác, bí bách,
sinh nhiệt mà tạo ra tận cùng vô số các trường hợp phân tách, liên kết mã sóng
trí tuệ trong Trụ linh của Tuệ linh. Đây được gọi là thông qua môi trường tu
hành nhân gian để bộc phát được hết tất cả độc của sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm và thiện của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương trong Trụ
linh của Tuệ linh. Chỉ khi bộc phát hết mới tìm ra được phương pháp để cấu tạo
lại Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn cho Tuệ linh.
3. Trụ –
Trí (trí tuệ) là sự mã hóa thông tin
Trụ
– Trí là sự mã hóa thông tin. Đây là điều kỳ diệu, là bí mật của vạn vật trong
và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.Thông
tin được mã hóa trong sợi mã sóng trí tuệ của từ hạt năng lượng tận cùng tới
các cấu trúc lớn hơn được vận hành bởi Trụ linh, bao gồm nhóm vật chất hoại diệt,
nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.
Những
thông tin được mã hóa trong Trụ – Trí là nhiệt lượng, môi trường xung quanh,
sóng điện, hình ảnh của các Tướng, âm thanh, rung động, hành động, ngôn ngữ, cảm
xúc, mùi vị, ý thức.
Dựa
trên đặc tính của các nhóm vật chất mà độ phức tạp trong mã hóa thông tin, lượng
thông tin được mã hóa và lưu giữ trong sợi mã sóng trí tuệ cũng sẽ khác nhau.
Nhóm vật chất hoại diệt mã hóa thông tin còn dang dở và chưa hoàn chỉnh. Nhóm vật
chất giản đơn mã hóa thông tin thô sơ, lượng thông tin không nhiều và không có
độ phức tạp. Nhóm vật chất phức tạp mã hóa được nhiều thông tin hơn, lượng
thông tin được mã hóa trong sợi mã sóng trí tuệ có độ phức tạp hơn. Nhóm siêu vật
chất mã hóa được lượng thông tin vô cùng lớn, lượng thông tin được mã hóa trong
sợi mã sóng trí tuệ đạt đến siêu phức tạp.
Quá
trình mã hóa thông tin hoàn chỉnh tạo ra sợi mã sóng trí tuệ bao gồm: các cấu
trúc Tướng tương tác với nhau trong môi trường có sóng điện, có nhiệt lượng, có
cường độ, có độ nén; quá trình tương tác tạo ra độ phức tạp của sóng rung động
bởi môi trường sóng điện; quá trình hành động và kết thúc hành động của các Tướng.
Khi kết thúc hành động hoặc chuyển tiếp hành động của cấu trúc Tướng thì quá
trình mã hóa thông tin tạo ra sợi mã sóng trí tuệ đã hoàn thành. Những yếu tố quyết định đến
lượng và chất của quá trình mã hóa thông tin trong Trụ – Trí:
-
Cơ chế quay tròn của vạn vật, Tuệ linh, con người sẽ mã hóa được lượng
thông tin lớn hơn, chất lượng thông tin chân thật hơn so với cơ chế di chuyển
thẳng.
-
Tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau sẽ giúp cho
vạn vật, Tuệ linh, con người mã hóa được lượng thông tin lớn hơn, chất lượng
thông tin chân thật hơn so với việc tương tác hạn chế trong một vài môi trường.
-
Trong nội tại cấu trúc Trụ – Trí: nếu sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện
dương đạt tới siêu mạnh sẽ giúp cho việc mã hóa thông tin đạt đến số lượng và
chất lượng lớn nhất so với sóng điện dương nhẹ; nếu sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm đạt tới siêu nhẹ sẽ giúp cho việc mã hóa thông tin đạt đến số lượng
và chất lượng lớn nhất so với sóng điện âm siêu mạnh. Đỉnh cao của Trụ – Trí
trong việc mã hóa thông tin là phải kiểm soát và vận hành được cả hai sợi mã
sóng trí tuệ trong Trụ linh. Trụ linh của bộ lọc năng lượng sẽ kiểm soát và vận
hành được một cách kỳ diệu.
Thông tin được mã hóa, lưu
giữ trong sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng tận cùng:
-
Trong hạt năng lượng tận cùng của tất cả các nhóm vật chất, chỉ có một
sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ thông tin của quá trình các Tướng (vật chủ) tương
tác, rung động, hành động tạo ra hạt năng lượng tận cùng đó.
Thông tin lưu giữ
trong hạt năng lượng tận cùng có sự liên kết với thông tin của hạt năng lượng
được phân tách trước hay sau khi hạt năng lượng đó được hình thành, gọi là liên
kết dây.

Thông
tin được mã hóa, lưu giữ trong Trụ linh gốc (phôi năng lượng âm dương gốc) của
các cấu trúc Tướng lớn hơn phôi năng lượng âm dương:
-
Phôi năng lượng được hình thành từ hạt năng lượng âm và dương tận
cùng, gọi là Trụ linh gốc. Trong Trụ linh gốc lưu giữ hai sợi mã sóng trí tuệ với
hai lượng thông tin được liên kết với nhau.
-
Phôi âm dương gốc trải qua quá trình phân tách liên kết để trưởng
thành, nâng cấp thành các cấu trúc lớn hơn. Khi đó, tất cả các sợi mã sóng trí
tuệ lưu giữ toàn bộ thông tin tại hai hạt năng lượng âm dương gốc (phôi âm
dương gốc có sự giãn nở to hơn).
Hình:
Thông tin được mã hóa trong Trụ linh gốc
Tất cả các sợi mã sóng trí tuệ có lưu giữ thông tin trong Trụ – Trí đều
có sự liên kết về nội dung thông tin. Đó là thông tin của hạt năng lượng âm
liên kết với thông tin của hạt năng lượng dương để tạo thành cấu trúc liên kết
một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Đó là thông
tin của các hạt năng lượng dương có liên kết với nhau bằng các hạt năng lượng
chân tâm để phát triển cấu trúc năng lượng của Tướng được mở rộng và lớn mạnh Như
vậy, tất cả các cấu trúc vật chất trong và ngoài Vũ trụ đều là hạt năng lượng tận
cùng. Và, tất cả đều là thông tin được lưu giữ, mã hóa vào sợi mã sóng trí tuệ ở
trong hạt.
Vì
là thông tin được lưu giữ, mã hóa trong hạt nên có những thông tin độc và những
thông tin tốt. Những thông tin độc là bản chất của hạt năng lượng âm, những
thông tin tốt là bản chất của hạt năng lượng dương. Các cấu trúc phát triển bền
vững là bởi được cấu tạo chặt chẽ bởi thông tin tốt, các cấu trúc phân rã hoại
diệt là bởi được cấu tạo bởi thông tin độc.
4. Cơ chế
hình thành Trụ – Trí (trí tuệ)
Cơ
chế hình thành Trụ – Trí chính là cơ chế hình thành sợi mã sóng trí tuệ của từ
hạt năng lượng tận cùng đến các cấu trúc Tướng có Trụ linh trở lên. Cơ chế hình
thành sợi mã sóng trí tuệ này có sự khác nhau giữa các nhóm vật chất trong và
ngoài Vũ trụ.
4.1. Cơ chế hình thành Trụ – Trí của nhóm vật
chất hoại diệt từ nhóm vật chất cội nguồn
Nhóm
vật chất cội nguồn là hạt sóng xanh. Từ nhóm hạt sóng xanh, thông qua cơ chế mà
hình thành sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng hoại diệt, đó là cơ chế phân tách
trong môi trường đảm bảo điều kiện:
- Cơ chế hình thành sợi mã
sóng trí tuệ của từ hạt sóng xanh thành năng lượng hoại diệt là cơ chế phân tách.
Để phân tách được
thành sợi mã sóng trí tuệ thì hạt sóng xanh di chuyển thẳng và diễn ra quá
trình giải mã, mã hóa thông tin
môi trường xung quanh. Vì hạt sóng xanh không quay tròn xung quanh chính nó nên
sự mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh và đầy đủ trong quá trình di chuyển tương
tác.
-
Môi trường sóng điện cho quá trình phân tách từ hạt sóng xanh thành
năng lượng hoại diệt là môi trường sóng điện trung tính.
Như
vậy, cơ chế hình thành cấu trúc Trụ – Trí của nhóm vật chất hoại diệt từ nhóm vật
chất cội nguồn là cơ chế phân tách. Vì chưa có cơ chế liên kết nên trí tuệ của
năng lượng hoại diệt chưa mã hóa được thông tin hoàn chỉnh trong quá trình
tương tác. Do đó cấu trúc trí tuệ của nhóm vật chất hoại diệt chưa được nâng cấp
và tinh hoa như 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ.
4.2. Cơ chế hình thành Trụ – Trí của phôi năng
lượng khởi đầu cho sự hình thành 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ
Nhóm
vật chất cội nguồn là hạt sóng xanh. Từ nhóm hạt sóng xanh, thông qua cơ chế mà
hình thành sợi mã sóng trí tuệ của phôi năng lượng khởi đầu cho sự hình thành 3
nhóm vật chất trong Vũ trụ.
Cơ
chế hình thành sợi mã sóng trí tuệ của phôi năng lượng âm dương khởi đầu cho sự
hình thành Vũ trụ là cơ chế phân tách và liên kết trong môi trường đảm bảo điều
kiện:
-
Đầu tiên là thông qua cơ chế phân tách để tạo ra sợi mã sóng trí tuệ của
hạt năng lượng âm, dương tận cùng từ hạt sóng xanh. Cơ chế này có những điều kiện
sau: +
Hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường có nhiệt lượng sóng điện dương
(những khu vực không gian này được hình thành từ vụ nổ của năng lượng hoại diệt).
Khi di chuyển vào môi trường có sóng điện dương, hạt sóng xanh sẽ quay tròn
(quay thuận) xung quanh chính nó để mã hóa thông tin đầy đủ trong quá trình
tương tác di chuyển và quay tròn. Vì vậy, sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng
dương tận cùng được mã hóa đầy đủ thông tin của quá trình hình thành và di chuyển
tương tác. Do quay tròn nên trong hạt năng lượng dương tận cùng này lại có thêm
cơ chế liên kết.
+
Hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường có nhiệt lượng sóng điện âm (được
hình thành xung quanh những khu vực có nhiệt lượng sóng điện dương). Khi di
chuyển vào môi trường có sóng điện âm, hạt sóng xanh sẽ quay tròn (quay ngược)
xung quanh chính nó để mã hóa thông tin đầy đủ trong quá trình tương tác di
chuyển và quay tròn. Vì vậy, sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng âm tận cùng
được mã hóa đầy đủ thông tin của quá trình hình thành. Do quay tròn nên trong hạt
năng lượng âm tận cùng này lại có thêm cơ chế liên kết.
-
Tiếp đến
là cơ chế liên kết để hình thành cấu trúc Trụ
– Trí của phôi năng lượng âm
dương khởi đầu cho sự hình thành Vũ trụ. Cơ chế này có những điều kiện sau:
+
Hạt năng lượng âm và dương phải quay tròn. Hạt năng lượng âm phải kết,
hạt năng lượng dương phải tỏa.
+
Sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng âm và dương phải có nội dung
thông tin khớp nhau để kết nối.
Nhiệt lượng môi trường
sẽ duy trì sự tồn tại cấu trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương. Như
vậy, cấu trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương là cấu trúc trí tuệ đã mã
hóa được đầy đủ thông tin trong quá trình tương tác để hình thành. Đặc biệt, cấu
trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương là bước chuyển sinh kỳ diệu để hình
thành 3 nhóm vật chất của Vũ trụ từ cơ chế phân tách và liên kết.
4.3. Cơ chế hình thành Trụ – Trí của 3 nhóm vật
chất trong Vũ trụ từ phôi năng lượng âm dương
Phôi
năng lượng âm dương được hình thành từ những hạt sóng xanh thông qua cơ chế
phân tách và liên kết dây. Cơ chế này đã giúp cho từ phôi năng lượng âm dương
phân tách ra vô lượng năm nhóm hạt năng lượng mang sóng điện âm, dương, trung
tính trong tinh cầu năng lượng khổng lồ. Sau khi tinh cầu năng lượng khổng lồ bị
kích nổ, năm nhóm năng lượng đã thông qua cơ chế phân tách, liên kết để hình
thành 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất
phức tạp, nhóm siêu vật chất.
Cơ
chế hình thành Trụ – Trí của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ là cơ chế phân tách
và liên kết trong môi trường đảm bảo điều kiện:
-
Quá trình phân tách phải đảm bảo có nhiệt lượng sóng điện. Các hạt
năng lượng phải quay tròn theo đặc tính sóng điện: hạt âm là quay ngược chiều
kim đồng hồ, hạt dương là quay thuận.
-
Quá trình liên kết phải đảm bảo hạt năng lượng âm và dương phải quay
tròn theo đặc tính sóng điện của từng loại hạt. Sợi mã sóng trí tuệ của hạt
năng lượng âm và dương phải có nội dung thông tin khớp nhau để kết nối. Nhiệt
lượng môi trường sẽ
duy trì sự tồn tại cấu trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương.
Cơ
chế phân tách và liên kết phải diễn ra liên tục không ngừng nghỉ trong môi trường
đảm bảo cho quá trình phân tách và liên kết, để nâng cấp cấu trúc Trụ – Trí của
cả 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ.
Như
vậy, thông qua cơ chế phân tách và liên kết liên tục trong điều kiện đảm bảo,
đã tạo ra 3 nhóm vật chất mã hóa được thông tin đầy đủ trong quá trình tương
tác khi di chuyển, là tinh hoa nhất trong và ngoài Vũ trụ. Trong đó, dạng sống
Tuệ linh cùng nhóm siêu vật chất là siêu cấu trúc Trụ – Trí.
5. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) của dạng sống Tuệ linh
Trí
tuệ của dạng sống Tuệ linh là siêu việt nhất trong tất cả các dạng sống, các
nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Dạng sống Tuệ linh được hình thành đầu
tiên sau vụ nổ của tinh cầu năng lượng khổng lồ. Họ được hình thành và trưởng thành.
Họ xây dựng, kiến tạo, phát triển cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ hoàn
chỉnh như ngày nay từ năm nhóm năng lượng hỗn độn sau vụ nổ.
Vũ trụ phát triển và
không ngừng giãn nở. Đó là do dạng sống Tuệ linh lao động, kiến tạo và vận
hành. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển lớn mạnh của Vũ trụ, năng lượng hoại diệt
cũng ngày càng lớn mạnh. Năng lượng hoại diệt với bản chất là đi tìm những cấu
trúc năng lượng, vật chất đa âm để xả sóng điện dư thừa nhằm tồn tại. Trong khi
đó, Vũ trụ lại có những cấu trúc vật chất, năng lượng đa âm. Chính vì điều
này mà năng lượng hoại diệt đã di chuyển vào Vũ trụ thành những cơn bão để đi
truy tìm sự sống cho chính nó. Có quá nhiều Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt đồng
hóa mà hoại diệt vĩnh viễn, có quá nhiều cấu trúc vật chất bị đồng hóa và hoại
diệt. Tuy nhiên, cũng vì có năng lượng hoại diệt trong Vũ trụ, nên khi chúng bị
kích nổ bởi năng lượng dương đã giúp tạo ra nhiệt lượng cho quá trình Vũ trụ
phân tách liên kết theo hướng bền vững và lớn mạnh.
Dạng
sống Tuệ linh bị hoại diệt nhiều, chưa tìm ra được phương pháp đối phó với năng
lượng hoại diệt chính là vấn đề bản chất của Trụ – Trí. Vấn đề đó là quá trình
hình thành 3 dạng vật chất sau vụ nổ lớn, các phôi năng lượng âm dương của các
Tuệ linh cho tới khi trưởng thành chưa mã hóa được đầy đủ triệt để thông tin của
năng lượng hoại diệt. Đặc biệt hạt năng lượng âm gốc chưa bộc phát hết các kịch
bản phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ, hạt năng lượng dương gốc cũng chưa bộc
phát hết các kịch bản phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ. Tức là độc của hạt
năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương chưa bộc phát hết. Do chưa bộc
phát hết nên chưa tìm ra hết bản chất của Trụ – Trí ở dạng sống Tuệ linh. Chính
vì thế mà chưa tìm ra bài thuốc, phương pháp, cơ chế để sử dụng được năng lượng
hoại diệt cho việc chuyển sinh bền vững. Điều mà sau này tìm được cơ chế, đó là
cơ chế chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là hấp thụ ồ ạt,
kích nổ được năng lượng hoại diệt mà vẫn an toàn để sản sinh ra các siêu hạt
năng lượng phát triển bền vững cho mình và các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ
trụ.
Bản
chất Trụ – Trí của dạng sống Tuệ linh khi chưa chuyển sinh được Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng: - Trụ – Trí có bản chất Kết:
Đó là thu hút, hấp thụ nhiệt từ mạnh cho tới siêu mạnh. Nguyên nhân là do hạt
âm của phôi âm dương gốc có sóng điện âm từ mạnh cho tới siêu mạnh. Do đó, những
Tuệ linh đó có khuynh hướng truy tìm môi trường, cấu trúc sóng điện có khớp nội
dung giống với hạt âm để kết, hút về. Họ sẽ không thực hành được đời sống Tỏa
là cho đi, lan tỏa, giúp đỡ, cống hiến, hy sinh. Nguyên nhân vì hạt năng lượng
dương quá yếu nên bị hạt năng lượng âm chi phối theo đặc tính của hạt năng lượng
âm. Những Tuệ linh có cấu trúc Trụ – Trí kết như vậy sẽ dễ dàng bị năng lượng
hoại diệt xâm nhập để đồng hóa và hoại diệt.
-
Trụ – Trí có bản chất Tỏa: Đó là tỏa đi, cho đi, truyền tải, giúp đỡ,
cống hiến, hy sinh vì vạn vật. Nguyên nhân là do hạt dương trong Trụ linh gốc
có sóng điện dương từ mạnh cho tới siêu mạnh, trong khi đó hạt âm gốc chỉ có
sóng điện chớm âm. Chính vì điều này mà hạt năng lượng dương liên kết được với
tất cả các nhóm vật chất khác bởi hạt năng lượng âm chỉ là chớm sóng điện âm.
Tuy nhiên, nếu cơn bão năng lượng hoại diệt di chuyển vào hoặc các Tuệ linh này
di chuyển gặp phải cơn bão năng lượng hoại diệt cũng sẽ bị phân rã mà hoại diệt.
Bản
chất Trụ – Trí của dạng sống Tuệ linh chưa được bộc phát hết. Chưa bộc phát hết
tức là sợi mã sóng trí tuệ của hạt âm và dương gốc trong Trụ linh chưa phân
tách ra các loại sợi trí tuệ trong tất cả các kịch bản cũng như môi trường
tương tác. Chính vì điều này mà vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra môi trường tu
hành cho dạng sống Tuệ linh ở Trái đất thông qua thân tướng là con người. Quá
trình tu hành trong thân tướng giản đơn sẽ giúp cho Trụ linh phân tách ra hết tất
cả các sợi mã sóng trí tuệ trong tất cả các kịch bản và môi trường tương
tác. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ tìm ra được cơ chế, phương pháp để Tuệ linh
hấp thụ và kích nổ được năng lượng hoại diệt. Đó là con đường chuyển sinh bền vững
để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh.
6. Bản chất
Trụ – Trí (trí tuệ) của con người
Con
người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh, là môi trường tu hành của dạng sống
Tuệ linh. Dạng sống Tuệ linh thông qua thân tướng con người để tu hành ở nhân
gian nhằm tạo ra sự bí bách, độ nén, đau khổ, an vui, hạnh phúc… trong cuộc sống
nhân gian để bộc phát hết độc của hạt âm và thiện của hạt dương trong Trụ linh.
Cũng thông qua quá trình bộc phát độc và thiện trong Trụ linh, sẽ thấy rõ quá
trình năng lượng hoại diệt tấn công đồng hóa cũng như khả năng kích nổ năng lượng
hoại diệt của Tuệ linh trong từng trường hợp tương tác với các hoàn cảnh môi
trường khác nhau. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên mới tìm ra được phương pháp siêu
việt áp dụng chung cho tất cả các Tuệ linh để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng. Chỉ khi chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới có khả
năng hấp thụ và kích nổ được ồ ạt năng lượng hoại diệt để sản sinh ra các siêu
hạt năng lượng mà vẫn an toàn.
Vô
số Tuệ linh hóa thân tu hành ở nhân gian với vô số các kịch bản tương tác trong
các điều kiện môi trường khác nhau đã tạo ra bản chất Trụ – Trí của con người.
Con
người là tam hợp yếu tố cấu tạo thành. Thân tướng được coi như ngôi nhà giam cầm
Tâm (Tuệ linh), Tâm là Tuệ linh an trụ trong ngôi nhà thân tướng, Trụ – Trí
(Trí tuệ) là cánh cửa
trí tuệ để Trụ linh tương tác với tất cả các Tướng trong môi trường khác nhau.
Chính vì điều này đã tạo ra sự kỳ diệu cho con đường tu hành của Tuệ linh ở
nhân gian. Thông qua vô số kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian đã giúp cho mục
đích tu hành đã đạt được thành công.
Bản
chất Trụ – Trí (trí tuệ) của con người gồm có Trí tuệ u mê (độc được bộc phát hết),
trí tuệ giác ngộ (thiện được bộc phát hết) và căn cơ trí tuệ (hành trình để
chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh) của Tuệ linh:
6.1. Trí
tuệ u mê
Trí
tuệ u mê là trí tuệ bị bám định vào các hình tướng hay còn gọi là các giả tướng.
Trí tuệ bám định ở đây cũng được hiểu là cánh cửa ngôi nhà đóng chặt lại không
chịu mở ra để Tâm hướng đến và mang lại sự thấu hiểu Vũ trụ quan bên ngoài về
cho trí tuệ. Trí tuệ bám định cũng được hiểu trí tuệ như con trâu hoặc con bò bị
buộc vào một gốc cây nên nó chỉ quanh quẩn biết mỗi gốc cây đó mà không hiểu biết
xung quanh. Trí tuệ bám định cũng được hiểu là sự bám chặt vào, dính vào giả tướng
để hưởng thụ, thỏa mãn mà không cống hiến cho vạn vật, Tuệ linh và con người.
Hình tướng vạn vật gọi
là giả tướng vì nó do duyên sinh và nó hoại diệt cũng do duyên. Sự sinh diệt
chính là quá trình chuyển hóa của hình tướng, vì có sinh và có hoại diệt nên nó
là giả tướng, tức là sự tồn tại tạm thời, sự tồn tại không vĩnh cửu hay không bất
tử. Vạn vật, Vũ trụ, Tuệ linh, con người, sẽ được phân ra làm 10 giả tướng, và
10 giả tướng chính là 5 cặp phạm trù của hình tướng: giả tướng có và không có; giả tướng yêu thương, sở thích và thù ghét, không thích; giả tướng cầu được và cầu không
được; giả tướng có trí tuệ và không có trí tuệ; giả tướng hành động và không
hành động.
Trí tuệ u mê chính là trí tuệ bám định vào 10 giả tướng này mà không hiểu bản
chất, không hiểu sự thật về các giả tướng để cố tình bám lấy, vơ lấy, hưởng thụ
các giả tướng về thân tướng mình mà không vì vạn vật, Tuệ linh, con người. Đó gọi
là trí tuệ u mê.
Mười
giả tướng được ví như màn đêm tối mịt mù của sự giả dối, màn đêm tối của ác
nghiệp, màn đêm tối của ngã quỷ. Khi trí tuệ bám định và sống trong màn đêm tối
sẽ không thể thấu hiểu được Vũ trụ quan xung quanh, nó như người mù chỉ thấy mỗi
nơi thân tướng mình. Do đó, khi trí tuệ bám định vào bất cứ một giả tướng nào
thì nó tượng trưng cho trí tuệ đang sống và bám định trong màn đêm giả dối của
sự u mê.
Những biểu hiện của Trí tuệ u mê:
Trí tuệ bám định vào giả tướng có:
Con
người bám định vào cái ta có, như là mắt, tai, mũi, miệng, chân tay, có thân tướng
đẹp hay xấu xí, có ngôi nhà to, có tiền tài giàu sang phú quý, có địa vị, có chức
cao trọng vọng, có xe cộ, có nhiều đất đai, có sức khỏe, có nhiều mối quan hệ…
Trí tuệ của những người lãnh đạo các quốc gia thì bám định vào việc có sức mạnh
quân sự, có nhiều tài nguyên thiên nhiên, có sức mạnh kinh tế, có lãnh thổ rộng
lớn, có dân số đông, hùng mạnh hơn quốc gia khác…
Một người bám định
vào thân tướng ta đẹp nên họ chỉ biết rằng ta mới là xinh đẹp mà khinh khi những
người không đẹp bằng ta, thậm chí còn dùng thân tướng xinh đẹp đó để vi phạm
vào đạo đức xã hội, hành nghề mại dâm, dùng thân tướng đó để
ngoại tình với những người giàu có để hưởng lợi ích cho mình và vi phạm luật Nhân
quả về thông dâm tà dâm.
-
Có người bám định vào việc giàu có mà khinh khi người không giàu có,
thậm chí có người còn ăn chơi trụy lạc đến nỗi không còn gì.
-
Có người có địa vị chính trị, họ có chức sắc cao, họ nghĩ và cho rằng
mình là cao sang, họ khinh khi những người không thuộc tầng lớp như họ. Họ sẵn
sàng lợi dụng chức vụ của họ để tham ô tham nhũng, chạy chức chạy quyền. Họ chỉ
giúp đỡ những người bất tài nhưng có nhiều tiền cho họ, họ không biết sử dụng
nhân tài cho Đất nước. Họ ảo tưởng vào chức vụ và sức mạnh của họ mà sẵn sàng
bán nước hại dân, tham quyền cố vị để trục lợi về họ, về gia đình và dòng họ của
họ…
- Những người lãnh đạo quốc
gia thì bám định vào việc quốc gia họ có binh hùng tướng mạnh, kinh tế lớn mạnh
mà coi thường nhân quả. Họ đem binh đi xâm chiếm quốc gia khác, kích động tạo
ra các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia để trục lợi cho quốc gia họ, khiến
cho dân chúng lầm than khổ đau, tang thương chết chóc trên mọi mảnh đất khắp Trái
đất này.
Những người lãnh đạo
của các quốc gia bám định vào việc quốc gia họ có nhiều nguồn tài nguyên, sẵn
sàng khai thác cạn kiệt để trục lợi mang về cho nhóm người lãnh đạo, khiến cho
thiên tai xảy ra, cho con cháu đời sau cạn kiệt tài nguyên, thiếu tiềm lực phát
triển quốc gia. Họ bám định vào việc sẵn có tài nguyên mà không thúc đẩy phát
triển các nguồn lực khác để vẫn đảm bảo
được nguồn lực tài nguyên cho quốc gia.
-
Những người lãnh đạo quốc gia bám định vào sức mạnh làm thay đổi kinh
tế Thế giới hoặc kinh tế của quốc gia khác. Họ sẵn sàng làm lũng đoạn nền kinh
tế Thế giới hoặc can thiệp vào kinh tế Quốc gia khác để trục lợi về quốc gia họ.
Điều này làm cho nhiều quốc gia điêu đứng và chìm sâu trong nghèo đói bởi ảnh
hưởng của sự lũng đoạn kinh tế. Sự can thiệp của họ dẫn đến kinh tế nhiều quốc
gia bị suy thoái và khủng hoảng.
…
Như
vậy, trí tuệ của mỗi cá nhân cho đến nhóm người, vì bám định vào giả tướng mà
chỉ biết vơ vét về mình, bám chặt vào nó mà không biết chia sẻ, chuyển hóa
thành lợi ích cho mọi người và nhân loại. Đó là trí tuệ u mê, u mê vì không thấu
hiểu nhân quả, không thấu hiểu chân tướng của vạn vật là do duyên sinh và do
duyên diệt, nếu chỉ biết lợi mình mà hại người thì sẽ sớm phải nhận quả báo do
ác nghiệp tạo ra.
Trí tuệ bám định vào giả tướng không có:
Cái
không có từ mỗi một con người cho đến những nhóm người là sự đối lập với giả tướng
có.
-
Có người con gái có thân tướng xinh đẹp thì bám định vào việc không có
nhiều tiền mà sẵn sàng quan hệ bất chính với những người giàu có để thỏa mãn việc
được hưởng lạc tiền tài từ người giàu có.
Người giàu có vì bám
định vào việc mình giàu có mà không có người đẹp bên cạnh nên sẵn sàng quan hệ
bất chính để thỏa mãn nhu cầu dục vọng. -
Có người bám định vào việc nghèo khó, họ sẵn sàng buôn bán trẻ em, sẵn
sàng môi giới mại dâm, thậm chí hành nghề mại dâm để thỏa mãn việc giàu có.
-
Có người bám định vào việc không có nhiều tiền và giàu sang như người
khác, họ tìm mọi phương pháp làm giàu. Họ bất chấp thủ đoạn vi phạm pháp luật để
làm giàu như buôn bán ma túy, đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buôn bán những thứ
gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của mọi người để nhanh chóng giàu có và
trục lợi về mình.
-
Có người bám định vào việc mình chưa đủ giàu có bằng những người giàu
có khác, chưa dư thừa tiền của để giúp người nghèo khó hơn, nên họ luôn coi
mình không có điều kiện giúp người.
-
Có người bám định vào việc mình có chức có quyền. Họ coi người cấp dưới
và những người khác không có được địa vị như họ mà sẵn sàng khinh khi, coi thường,
thậm chí xúc phạm và chà đạp người không có địa vị như họ.
- Có người bám định vào việc họ
có chức quyền nên họ không giúp đỡ những người có tài thật sự mà không có tiền
hối lộ cho họ để thăng quan tiến chức.
-
Những người lãnh đạo của nhiều quốc gia bám định vào việc quốc gia họ
không có nhiều nguồn tài nguyên nên họ kích động chiến tranh xâm lược để vơ vét
tài nguyên thiên nhiên của quốc gia khác.
-
Có nhiều lãnh đạo quốc gia bám định vào việc lãnh thổ quốc gia họ nhỏ
bé mà mang binh đi xâm lược để mở rộng lãnh thổ. Sự
tham lam, sự u mê từ mỗi con người cho đến những nhóm người, do bám định vào
cái không có khiến cho vô số người chịu khổ đau, vô số người ngã xuống vùi thân
tướng của mình nơi chiến trận, khiến cho mỗi bước chân trên mặt đất là nơi có
người gửi thân xác nằm xuống do chiến tranh. Nhiều gia đình, người già và trẻ
nhỏ vô tội phải sinh ly tử biệt, nỗi đau của sự mất mát khiến cho những người
chết tạo thành oán khí khắp nhân gian, khiến cho người sống không thể nguôi
ngoai đau khổ.
Trí tuệ bám định vào giả tướng yêu thương, sở thích:
Đó
là do mắt ta nhìn thấy và đôi tai ta nghe thấy bởi giả tướng ta đang có hoặc ta
không có, mà khiến cho trí tuệ ta bám định vào, bám vào để hưởng lợi ích về
mình, gây tổn hại người khác.
-
Có người bám định vào việc yêu thương gia đình của mình, mải miết chăm
chút cho gia đình, họ chỉ nhất nhất làm mọi thứ vì gia đình của họ mà không
màng đến việc giúp đỡ và quan tâm đến mọi người xung quanh. Họ chỉ ích kỷ cho
gia đình họ và coi những việc khác là của xã hội, là việc chung không cần phải
quan tâm và giúp đỡ.
-
Có người đàn ông đã có gia đình, vì bám định vào người phụ nữ khác
xinh đẹp hơn vợ mình, dù người phụ nữ đó có gia đình hay chưa có gia đình. Họ
yêu thương mù quáng, dẫn đến ngoại tình để rồi vi phạm giá trị đạo đức, phạm
vào tội thông dâm tà dâm.
-
Có người phụ nữ dù có gia đình rồi nhưng lại bám định vào người đàn
ông đã có gia đình hay chưa có gia đình, vì thấy ở người đàn ông đó hơn người
chồng của mình mà yêu thương mù quáng dẫn đến
vi phạm giá trị đạo đức, phạm vào tội thông dâm tà dâm.
-
Có người phụ nữ chưa lập gia đình, vì bám định vào người đàn ông có
gia đình mà yêu thương mù quáng dẫn đến
vi
phạm giá
trị đạo đức là ngoại tình.
-
Có người vợ hay chồng vì bám định vào việc vợ hay chồng mình đã ngoại
tình mà cũng ngoại tình để trả thù.
-
Có người bám định vào sở thích dùng những hình tướng, giả tướng, là sản
phẩm hàng hiệu, sẵn sàng vay mượn để thỏa mãn sở thích đó mà không màng đến sự
khó khăn hay lợi ích của vợ chồng con cái.
-
Có người bám định vào sở thích chơi bời, cờ bạc, rượu chè, dẫn đến ngạo
mạn để rồi chìm đắm trong những sở thích đó mà không màng đến lợi ích của gia
đình và mọi người xung quanh.
…
Như
vậy, việc trí tuệ bám định vào yêu thương mù quáng dẫn đến hành động ngoại
tình, thông dâm, tà dâm để thỏa mãn dục vọng ích kỷ của cá nhân mà gây khổ đau
cho nhiều người thân và xã hội. Sở thích để thỏa mãn lợi ích ích kỷ cá nhân mà
gây tổn thương hay không đem lại lợi ích cho người thân và xã hội cũng là trí
tuệ u mê.
Trí tuệ bám định vào giả tướng thù ghét:
Đó
là do mắt ta nhìn thấy, đôi tai ta nghe thấy bởi giả tướng nào đó, nó khiến cho
trí tuệ của ta bám định vào giả tướng mà ta không thích, ta thù ghét. Trí tuệ của
ta không thấy được chân tướng của sự thật, của giả tướng mà chìm đắm trong u mê
để rồi vì cái ích kỷ của ta mà gây tổn thương cho mọi người. -
Có người
bám định vào việc không thích người khác
ở tính cách hay điều gì đó mà nói xấu họ.
-
Có người bám định vào việc không thích những người cùng đẳng cấp mà
khinh khi họ.
-
Có người bám định vào việc ai đó không thỏa mãn được sự mong mỏi và kỳ
vọng của mình mà không thích hay ghét họ.
-
Có người bám định vào việc ai đó mắng mình mà sân hận rồi thù ghét họ.
-
Có người bám định vào việc ai đó ngăn cản mình làm việc gì mà sân hận
rồi thù ghét họ.
-
Có người bám định vào việc bị ai đó lừa hại mình mà coi họ là kẻ thù
và tìm mọi cách để trả thù họ.
-
Có người bám định vào việc ai đó đánh hay mưu hại mình hoặc người thân
của mình để rồi đánh lại hay mưu hại lại nhằm thỏa mãn sự trả thù nơi thân ta.
-
Có người vì bám định vào sở ghét điều gì đó, có khi là mưa, có khi là
nắng, có khi là sự bẩn thỉu, có khi là điều gì đó mà dẫn đến khó chịu, sân hận
để rồi dẫn đến hành động thỏa mãn sở ghét đó mà gây tổn thương cho người khác.
…
Trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được:
Khi
ta không thỏa mãn hay không có các giả tướng để thỏa mãn thì sẽ dẫn đến sinh khởi
của trí tuệ mong muốn, cầu thị, nhờ vả ai đó hay thậm chí là cầu xin Thánh thần,
Thượng đế để có được các giả tướng. Việc cầu để thỏa mãn giả tướng có vô số giả
tướng như: cầu giàu sang, cầu có nhà cửa, cầu có xe cộ
tốt hơn, cầu bình an, cầu có con trai hay cầu có con, cầu thăng quan tiến chức,
cầu nên duyên vợ chồng, cầu thành công việc gì đó, người tu hành cầu pháp để có
thần thông cao hơn người khác, thậm chí cầu cho người khác gặp họa để mình đạt
được giả tướng mình cầu…
-
Khi ta cầu từ việc nhờ vả ai đó, làm lễ cầu xin Thần thánh, Thượng đế
mà khi kết quả không được sẽ khiến cho ta thất vọng, chán nản, thậm chí sân hận
và phỉ báng cả Thần thánh, Thượng đế đã không trợ giúp cho ta đạt được điều ta đang
cầu. Khi đó trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được và vì sự ích kỷ sẽ sẵn
sàng gây tổn thương đến nhiều người và xã hội.
-
Có người bám định vào việc bỏ nhiều tiền để chạy chức chạy quyền, và
khi tiền mất mà không đạt được mong cầu đó dẫn đến thù ghét người mà không giúp
mình.
-
Có người bám định vào việc cầu sinh được con trai mà không có dẫn đến
chán nản mà đi ngoại tình để tìm người có thể sinh con trai cho người đó.
-
Có người bám định vào việc làm bao nhiêu lễ cầu xin Thần thánh, Thượng
đế phù hộ cho mình giàu sang, làm ăn thành công. Khi kết quả ngày càng khiến
cho nợ nần chồng chất thì người đó quay sang phỉ báng Thánh thần và Thượng đế,
họ lại bám định vào việc thù ghét.
-
Người tu hành, đệ tử vì bám định vào giả tướng thần thông, pháp lực,
khi cầu không được từ người thầy, họ sẵn sàng khi sư diệt tổ, hãm hại đồng môn.
…
Trí tuệ bám định vào giả tướng cầu được:
Khi
con người cầu và đạt được sẽ khiến cho trí tuệ bám định vào giả tướng là ta đã
cầu được. Khi cầu được rồi sẽ chuyển sang trí tuệ bám định vào giả tướng ta đã
có, và lại tiếp tục bám định vào giả tướng mình không có để lại bám định vào giả
tướng cầu. Khi con người bám định vào giả tướng cầu được rồi sẽ khiến cho trí
tuệ con người dễ ngạo mạn vào khả năng của trí tuệ, vào khả năng may mắn, vào sự
mê muội trong mê tín dị đoan bởi lễ bái, dễ dàng ngạo mạn với những người cầu
không được. Khi con người cầu vào các giả tướng và đạt được sự cầu đó sẽ lại
khiến cho trí tuệ tiếp tục bám định vào các giả tướng để tham lam, vơ vét các
giả tướng khác về cho thân tướng của họ được thỏa mãn.
Trí tuệ bám định vào giả tướng có trí tuệ:
Khi
con người có bằng cấp, được sắc phong, được phong tặng, có địa vị trong xã hội,
có sự giàu sang, có danh tiếng, có đức cao trọng vọng trong tôn giáo, người tu
hành có thần thông pháp lực…, họ sẽ rất dễ bám định vào việc họ có trí tuệ. Họ
nghĩ họ hơn người khác bởi cái giả tướng đó mà u mê khinh khi những người không
có được giả tướng như họ.
-
Có người bám định vào việc mình có bằng cấp cao trong xã hội mà coi
mình là tầng lớp thượng lưu có trí tuệ hơn người, khinh khi coi thường những
người không có bằng cấp như mình.
-
Có người bám định vào việc mình đọc nhiều kinh văn hơn người khác mà
cho rằng mình là bậc trí tuệ. Họ đọc nhiều mà không phân biệt được lý luận đó
có đúng với quy luật tự nhiên không, có mang lại được lợi ích cho mọi người
không, họ bám định vào mà u mê. -
Có người bám định vào việc mình giàu sang mà coi mình có trí tuệ hơn
người, dẫn đến khinh khi coi thường những người không giàu có như họ.
- Có người bám định vào việc
mình có thần thông pháp lực, có khả năng về tâm linh. Họ coi họ là bậc trí tuệ
hơn người, sẵn sàng dẫn dụ lừa mọi người để trục lợi, họ tạo ra sự huyền bí và
biến thành mê tín dị đoan khiến cho nhiều người khổ đau.
-
Có người bám định vào việc có chức có quyền, mà miệt thị hay khinh khi
người nông dân và các tầng lớp xã hội thấp khác.
…
Họ
u mê khi trí tuệ của họ bám định vào bằng cấp, bám định vào giàu sang phú quý,
bám định vào địa vị, bám định vào chức vụ trong tôn giáo mà không hiểu rằng sự
hiểu biết của họ cũng chỉ giới hạn trong phạm vi lĩnh vực và công việc chuyên
môn. Họ không hiểu bậc trí tuệ giác ngộ là phải thấu hiểu hết tất cả Vũ trụ
quan trong và ngoài Vũ trụ. Vì họ bám định nên họ u mê mà coi họ là bậc trí tuệ,
họ sẵn sàng vì lợi ích của họ mà gây tổn hại lợi ích của mọi người và xã hội.
Trí tuệ bám định vào giả tướng không có trí
tuệ:
Những
người không được học hành nhiều, không có bằng cấp, không có địa vị, không giàu
sang, không có chức sắc gì trong tôn giáo, họ là những người lao động ít học.
Trí tuệ của họ luôn bám định vào việc họ không có trí tuệ bằng người khác.
Có người bám định vào
việc trí tuệ họ không có học hành và không có bằng cấp nên họ tự ti và sợ hãi
khi giao tiếp với những người có bằng
cấp, với những người giàu sang và có địa vị.
-
Có người bám định vào việc mình không có trí tuệ thấu hiểu tâm linh
nên dễ dàng bị những người dùng tâm linh để lừa hại và chiếm đoạt tiền của dựa
trên tín ngưỡng tâm linh và niềm tin tôn giáo.
…
Dù
bám định vào có trí tuệ hay không có trí tuệ thì đều là trí tuệ u mê. U mê ở sự
bám định vào mà không hiểu rằng con người có sự bình đẳng, không có sự phân
chia giai cấp, mỗi con người tồn tại hiện kiếp đều có sự hiểu biết ở các lĩnh vực
khác nhau, mỗi kiếp người đều sẽ trải qua các thân tướng khác nhau. Do đó không
thể đem sự hiểu biết ở lĩnh vực này đi nói là ta có trí tuệ hơn người hiểu biết
ở lĩnh vực khác, không thể so sánh giữa mọi người, sự so sánh khập khiễng như vậy
sẽ dẫn đến sự u mê của sự ngạo mạn hay tự ti.
Trí tuệ bám định vào giả tướng hành động:
Khi
chúng ta đã bám định vào các giả tướng như có, không có, yêu thương, thù ghét,
cầu được, cầu không được, có trí tuệ, không có trí tuệ, thì sẽ dẫn đến việc trí
tuệ của chúng ta lại bám định vào giả tướng hành động. Vì trí tuệ đã u mê bám định
vào các giả tướng để thỏa mãn lợi ích của mình nên họ sẽ sẵn sàng hành động tạo
ác nghiệp hại người và vạn vật.
-
Có người bám định vào việc yêu thương người con gái khác khi đã có vợ
con, họ sẽ hành động quan hệ ngoại tình với người con gái đó, như thế là ác
nghiệp đã tạo.
-
Có người bám định vào có chức có quyền, họ bám định vào người hối lộ
nhiều tiền thì mới giúp, và tiếp đến họ hành động giúp thăng quan tiến chức cho
người đó, như thế nghiệp ác đã tạo.
-
Có người bám định vào việc không có nhiều tiền mà dẫn đến hành động
buôn bán, làm ăn vi phạm pháp luật, nghiệp ác đã tạo.
-
Có người bám định vào việc mình có chức sắc trong tôn giáo hoặc được gọi
là thầy tâm linh mà dẫn đến hành động lợi dụng tâm linh, tôn giáo để trục lợi hại
người, nghiệp ác đã tạo.
…
Như
vậy trí tuệ bám định vào hành động là hành động tạo ra nghiệp ác để thỏa mãn và
đạt được lợi ích về mình mà gây tổn thương cho người khác và xã hội.
Trí tuệ bám định vào giả tướng không hành động:
Khi
chúng ta đã bám định vào các giả tướng như có, không có, yêu thương, thù ghét,
cầu được, cầu không được, có trí tuệ, không có trí tuệ, thì sẽ dẫn đến việc trí
tuệ của chúng ta lại bám định vào giả tướng không hành động. Đó là vì lợi ích
ích kỷ của mình mà không hành động giúp đỡ mọi người, xã hội.
Có người bám định vào
trí tuệ mà coi mình là cao sang và thượng lưu, khi gặp người nghèo khó nhờ
giúp, họ bám định vào mà không giúp đỡ.
-
Có người bám định vào có và yêu thương gia đình, họ chỉ chăm chăm lo
toan cho gia đình họ mà không hành động giúp đỡ người khác.
-
Có người bám định vào chức sắc trong tôn giáo, vị thế trong tâm linh,
họ bám định vào cao sang và trí tuệ nên họ không giúp đỡ những người nghèo khó
đến nhờ.
-
Có người bám định vào việc mình chưa đủ trí tuệ giác ngộ, chưa đủ sức
lực nên không hành động giúp người gặp nạn hay gặp khó khăn khổ đau.
…
Vì
10 giả tướng đều là màn đêm tối mịt mù nên khi con người chúng ta bám định vào
một giả tướng nào thì hình ảnh như ta đang sống giữa đêm tối mịt mù đó. Khi đó
ta sẽ không phân biệt được thật giả trong đêm tối, ta sẽ không biết đâu là đúng
và đâu là sai, ta không nhận biết được hiểm nguy trong màn đêm tối đó. Từ việc
bám định vào một giả tướng sẽ dẫn đến bám định vào hết tất cả các giả tướng
khác mà hành động hay không hành động, đó là vì sự ích kỷ cá nhân mà gây tổn
thương cho người khác.
6.2. Trí
Tuệ giác ngộ
Trí
tuệ giác ngộ là trí tuệ không bị bám định vào giả tướng, đó là trí tuệ thấu hiểu
và biết chuyển hóa giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh và con người. Để có được
trí tuệ giác ngộ thì mỗi con người phải thấu hiểu và luôn luôn dùng hai Chân lý
(Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ) để tham chiếu, soi thấu, thấy chân tướng
của tất cả các giả tướng là do duyên sinh và do duyên diệt, là Nhân quả, để rồi
chuyển hóa các giả tướng đó thành lợi
ích cho Tuệ linh, con người mà không màng gì đến lợi ích cá nhân ta.
Chân
lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ như là mặt trời tỏa ánh sáng hào quang rực rỡ,
khi chiếu vào màn đêm tối mịt mù của giả tướng nào thì sẽ xua tan sự giả dối của
u mê của giả tướng đó. Hai Chân lý sẽ phơi bày sự thật cho Vũ trụ, Tuệ linh và
con người thấu hiểu sự thật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Mặt trời của hai
Chân lý chiếu đến tất cả các giả tướng thì tất cả màn đêm giả dối của giả tướng
đó sẽ bị xua tan và sự thật sẽ hiện hữu. Khi thấu hiểu hết sự thật trong và
ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người thì đó là trí tuệ giác ngộ.
Những biểu hiện của Trí tuệ giác ngộ:
Trí tuệ không bám định vào giả tướng có:
Khi
trí tuệ thấu hiểu Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, đó chính là ánh sáng mặt
trời soi thấu vào trong giả tướng có. Do đó sẽ thấy sự thật của giả tướng có.
Ta tham chiếu vào giả tướng có để chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người và cho
chúng sinh, đó chính là trí tuệ giác ngộ ở giả tướng có.
- Có người giàu có, họ không
bám định vào việc họ giàu có mà coi thường người không giàu có. Khi họ thấu hiểu
Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, họ không ích kỷ cho bản thân họ. Họ tham
chiếu vào điều kiện mà họ có để chuyển hóa thành lợi ích cho cộng đồng xã hội,
cứu giúp dân chúng vùng nghèo đói, vùng thiên tai dịch bệnh. Đó là trí tuệ giác
ngộ đã có để lan tỏa tình yêu thương nhân loại.
Có người có địa vị,
có chức có quyền, họ thấu hiểu được Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ. Họ
không bám định vào đó mà
phân biệt cao sang hay địa vị, họ không lạm dụng quyền lực để tham ô tham
nhũng. Họ tham chiếu vào địa vị quyền lực họ đang có mà giúp đỡ những nhân tài
vào các vị trí đúng với năng lực của họ và mang lại nhiều lợi ích cho Đất nước,
đó là trí tuệ giác ngộ.
-
Có người có địa vị chức sắc trong tôn giáo, họ không bám định vào đó
mà khinh khi không tiếp những người nghèo. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ sẽ
thương yêu và giúp đỡ tất cả mọi người mà không phân biệt người đến nhờ là người
giàu hay nghèo, đó là trí tuệ giác ngộ.
-
Có người có gia đình với cuộc sống hạnh phúc. Khi họ thấu hiểu hai Chân
lý, họ không bám định vào sự chăm chăm chỉ lo cho gia đình mình. Họ tham chiếu
vào cuộc sống mình đang có để đi chia sẻ, giúp đỡ những người khác vượt qua khó
khăn khổ đau, đó là trí tuệ giác ngộ.
-
Có người giàu có, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào việc
thỏa mãn sự giàu có đó để hưởng lợi ích. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ tham
chiếu vào điều kiện họ có để kinh doanh hay tạo ra sản phẩm có lợi ích cho người
dân mà không màng gì đến lợi ích cá nhân mình, đó là trí tuệ giác ngộ.
-
Có người có cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Họ thấu hiểu hai Chân
lý, họ tham chiếu vào cuộc sống của mình mà không bám định vào giả tướng bên
ngoài để dẫn đến gia đình ly tán. Họ vun vén và xây dựng cuộc sống gia đình tốt
đẹp hơn, đó là giác ngộ.
…
Trí tuệ không bám định vào
giả tướng không có: Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu bản chất của giả tướng
không có, tham chiếu vào nó mà chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người và chúng
sinh. Đó là trí tuệ giác ngộ giả tướng không có.
-
Có người không giàu có, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định
vào việc phải giàu có bằng mọi cách mà gây tổn hại cho mọi người. Họ lao động
chân chính, cố gắng cải tạo cuộc sống tốt đẹp hơn và mang lại được nhiều lợi
ích cho mọi người, đó là giác ngộ.
-
Có người không có địa vị cao, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định
vào việc không có địa vị cao mà chạy chức chạy quyền hay tham ô tham nhũng. Họ
cố gắng cống hiến hết mình cho Đất nước bằng trí tuệ không ngừng học tập trau dồi,
đó là giác ngộ.
- Có người không bám định vào
việc không có chức sắc trong tôn giáo, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ luôn luôn
giúp đỡ tất cả mọi người mà không màng đến địa vị chức sắc, đó là giác ngộ.
-
Có người không bám định vào việc hơn thua với bạn đồng môn hay thầy dạy.
Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không màng đến sự cao thấp hơn thua mà luôn sống
đúng đạo thầy trò, không ngừng hành thiện giúp đỡ mọi người, đó là giác ngộ.
…
Trí tuệ không bám định vào giả tướng yêu thương, sở thích:
Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng yêu thương, sở
thích, từ đó tham chiếu và chuyển hóa giả tướng đó thành lợi ích cho mọi người
và chúng sinh. Đó là trí tuệ
giác ngộ vào giả tướng yêu thương, sở thích.
-
Có người con gái xinh đẹp, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không dùng sắc
đẹp đó để đi yêu thương người có gia đình hoặc tà dâm mà vi phạm luật Nhân quả.
Họ tham chiếu vào thân tướng họ mà chuyển hóa thành lao động chân chính, yêu
thương chân chính, tuân thủ luật pháp quốc gia và luật Nhân quả để đem lại hạnh
phúc cho chính mình và mọi người khác. Đó là giác ngộ.
-
Có người khi đã có gia đình, cuộc sống vợ chồng không được viên mãn. Họ
thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào đó mà đi yêu thương ngoại tình,
thông dâm. Họ cùng vợ chồng vun vén và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn và không ảnh
hưởng đến hạnh phúc của người khác, đó là giác ngộ.
-
Có người thích cờ bạc, ăn chơi, mua sắm phung phí. Khi họ thấu hiểu
hai Chân lý, họ sẽ không bám định vào sở thích đó. Họ chuyển hóa thành lao động
chân chính, lo lắng cho mọi người xung quanh, cải tạo cuộc sống tốt đẹp hơn, đó
là giác ngộ.
…
Trí tuệ không bám định vào giả tướng thù ghét:
Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng thù ghét, tham
chiếu và chuyển hóa nó thành lợi ích cho mọi người, đó là trí tuệ giác ngộ ở giả
tướng thù ghét.
-
Có người sân hận người nào đó đã làm cho mình tổn thương, khi thấu hiểu
hai Chân lý, họ không bám định vào thù ghét người đó nữa. Họ an
vui và mang lại lợi ích cho mọi người và chính người mà họ đã thù ghét, đó là
giác ngộ.
-
Có người nào đó khi không thỏa mãn được các giả tướng nên thù ghét và
sân hận với người mà không cho mình được thỏa mãn. Khi họ thấu hiểu hai Chân
lý, họ không còn bám định vào giả tướng đó. Họ tham chiếu và chuyển hóa để mang
lại lợi ích cho mọi người và chính người mà mình đang thù hận, đó là giác ngộ.
…
Trí tuệ không bám định vào giả tướng cầu được hay cầu không được:
Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng cầu là không
có, để mọi người không còn bám định vào cầu. Khi đó mọi người hăng say lao động
sản xuất, lao động chân chính, tu tập chân chính, cố gắng cải tạo cuộc sống tốt
đẹp hơn và mang lại lợi ích cho mọi người khác. Đó là giác ngộ vào giả tướng cầu.
Trí tuệ không bám định vào giả tướng có trí
tuệ:
Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng có trí tuệ,
tham chiếu vào nó để chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người. Đó là trí tuệ giác
ngộ vào giả tướng có trí tuệ.
- Có người có chức có quyền,
có học hàm học vị cao. Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào việc họ
có bằng cấp hay địa vị. Họ luôn luôn giúp đỡ mọi người, giúp đỡ những người
nghèo, họ quan tâm đến lợi ích của chúng sinh, đó là giác ngộ. -
Có người có chức sắc trong tôn giáo, thấu hiểu về tâm linh. Khi thấu
hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào đó, họ không lừa người để trục lợi. Họ
quan tâm và giúp đỡ mọi người mà không phân biệt, đó là giác ngộ.
…
Trí tuệ không bám định vào giả tướng không có trí tuệ:
Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng không có trí tuệ,
tham chiếu vào nó để cố gắng không ngừng cải tạo trau dồi trí tuệ và chuyển hóa
thành lợi ích cho mọi người, đó là trí tuệ giác ngộ.
-
Có người nông dân, họ không có bằng cấp, không có địa vị. Khi họ thấu
hiểu hai Chân lý, họ tham chiếu và thuyết giảng hai Chân lý cho mọi người khác
cùng thấu hiểu. Họ không ngại ngùng hay tự ti mà đi thuyết giảng, họ chuyển hóa
thành lợi ích cho nhiều người, đó là giác ngộ.
…
Trí tuệ không bám định vào giả tướng hành động:
Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng hành động, tham
chiếu vào hành động để mang lại lợi ích cho mọi người. Đó là giác ngộ vào hành
động.
-
Có người do thấu hiểu hai Chân lý nên tham chiếu vào các giả tướng
mình giàu có để chuyển hóa thành hành động là làm từ thiện giúp đỡ người nghèo
và dân chúng vùng thiên tai lũ lụt. Đó là trí tuệ giác ngộ.
-
Có người có chức có quyền, do thấu hiểu hai Chân lý, họ tham chiếu vào
giả tướng mình có chức có quyền mà chuyển hóa thành
hành động để giúp đỡ các nhân tài vào các vị trí phù hợp, giúp đỡ dân tộc Đất
nước cường thịnh, đó là giác ngộ.
…
Người
thấu hiểu hai Chân lý, họ luôn luôn gieo duyên để chuyển hóa thành hành động
giúp đỡ mọi người thấu hiểu hai Chân lý và vượt qua u mê để có trí tuệ giác ngộ.
Trí tuệ không bám định vào giả tướng không hành động:
Đó
là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng không hành động.
Đó là không hành động tạo nghiệp gây tổn thương đến mọi người, không hành động
vi phạm pháp luật quốc gia nơi mình sinh sống, không hành động vi phạm luật Nhân
quả, đó là giác ngộ vào giả tướng không hành động.
-
Có người không bám định vào việc mình nghèo, không bám định vào việc cầu
dẫn đến không hành động làm giàu bằng mọi cách mà vi phạm pháp luật hay vi phạm
đạo đức con người. Do họ thấu hiểu hai Chân lý nên họ lao động chân chính để cải
tạo cuộc sống và mang lại lợi ích cho mọi người và xã hội, đó là giác ngộ.
-
Có người có địa vị quyền chức, họ thấu hiểu hai Chân lý nên họ không
hành động giúp đỡ những người nhiều tiền không có tài, không có đức, chạy chức
chạy quyền. Họ không hành động để mang lại lợi ích cho dân tộc, cho Đất nước,
đó là giác ngộ.
-
Có người có chức sắc trong tôn giáo, họ không bám định vào việc có địa
vị, họ không bám định vào việc không có nhiều tiền. Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ
chuyển hóa thành không hành động
tạo ra mê tín dị đoan, không hành động lừa hại mọi người. Họ chuyển hóa thành
hành động giúp đỡ mọi người bài trừ mê tín dị đoan, đó là giác ngộ.
…
6.3. Căn
cơ Trí tuệ
Bản
chất của trí tuệ là u mê là do bám định vào giả tướng và có được trí tuệ giác
ngộ khi thấu hiểu hai Chân lý và chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người và
chúng sinh, Tuệ linh, con người. Để từ cảnh giới của trí tuệ u mê tiến đến cảnh
giới của trí tuệ giác ngộ viên mãn cũng là khoảng cách, khoảng cách này có thể
chia ra làm 4 nấc thang để đo căn cơ của mỗi người, Tuệ linh có nghị lực vượt
qua từng nấc thang. Thông qua 4 căn cơ này để cho con người dễ dàng nhận thấy
mình hay ai đó đang ở căn cơ nào mà dễ dàng vận dụng hai Chân lý tiếp tục chuyển
hóa mình và mọi người đạt được trí tuệ giác ngộ viên mãn.
Bản
chất của thang đo căn cơ trí tuệ chính là việc trí tuệ của mỗi Tuệ linh, con
người giải mã, mã hóa được lượng mã sóng trí tuệ của vạn vật trong và ngoài Vũ
trụ ở mức từ đơn giản tới siêu trí tuệ, từ nhỏ nhất cho tới bao trùm trong và
ngoài Vũ trụ. Muốn gia tăng được khả năng giải mã, mã hóa các mã sóng trí tuệ của
tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người, thì cần sự
trải nghiệm khổ đau, kiếp nạn đủ lớn và cực đại, thậm chí là phải tột cùng
trong nhiều kiếp tu hành ở nhân gian.
Căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp:
-
Người có căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp là người không thấu hiểu và
không tin về sự thật cội nguồn nhân loại, về sứ mệnh tu hành ở nhân gian, không
thấu hiểu vạn vật và hai Chân lý, không
tin Quy luật Nhân quả. Họ mải mê và đắm chìm trong việc bám định và vơ vét các
giả tướng về nơi thân họ để hưởng thụ. Người có căn cơ thấp thường là chưa trải
qua khổ đau nên chưa tin vào nhân quả nghiệp báo. Họ chỉ tin vào trí tuệ mà họ
bám định, tin và đắm chìm trong giả tướng họ có, họ đắm chìm trong mưu cầu, đắm
chìm trong tất cả các giả tướng.
- Hình ảnh người có căn cơ trí
tuệ giác ngộ thấp là hình ảnh một người lặn ngụp dưới đáy dòng sông. Vì dưới
đáy dòng sông có nhiều cát bụi nên họ nhắm mắt để hưởng thụ sự mát mẻ của phù
du giả tướng, họ không nhận biết được sự nguy hiểm dưới đáy dòng sông. Họ tự
hào vào việc họ thấy và cảm thấy thỏa mãn hay chưa thỏa mãn vào các phù du giả
tướng mà vẫn đắm chìm trong các giả tướng. Họ không màng đến ánh sáng của hai Chân
lý.
-
Họ sẽ chuyển hóa căn cơ trí tuệ lên cao hơn khi có thủy quái tấn công
họ. Khi đó, họ chợt nhận ra, họ hoảng hốt vì bị tổn thương và lo sợ sẽ chết dưới
đáy dòng sông nên họ phải ngoi mình lên mặt nước và đầu họ không còn dưới đáy
sông nữa.
-
Những người căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp sẽ phải tiếp tục trải qua vô
số kiếp nạn khổ đau và sẽ cải tạo Trụ linh thành công vào nhiều đời sau. Tức là
những người có căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp phải gặp nhiều khổ đau kiếp nạn đến
và nhận ra khổ đau thì họ mới chuyển hóa căn cơ lên căn cơ trí tuệ giác ngộ
trung bình và các căn cơ cao hơn.
Căn cơ trí tuệ giác ngộ trung bình:
-
Những người này họ bán tín bán nghi, nửa tin nửa nghi ngờ về cội nguồn
nhân loại, về sứ mệnh tu hành ở nhân gian, về Quy luật
Nhân quả, về quả báo, về hai Chân lý. Họ đã trải qua ít nhiều khổ đau rồi, họ vẫn
mải mê chìm đắm trong phù du giả tướng, vẫn muốn vơ vét và bám định vào các giả
tướng.
-
Hình ảnh tượng trưng cho người có căn cơ trí tuệ giác ngộ trung bình
là một người đằm mình dưới dòng sông, đầu và mặt người đó đã ngoi lên trên mặt
nước, mặt họ đã nhìn thấy Mặt trời và ánh sáng mặt trời của hai Chân lý. Tuy
nhiên, họ vẫn còn đắm chìm hay chưa thỏa mãn bởi phù du giả tướng như dòng nước
mát mà không đi lên bờ. Họ không sợ vi phạm Quy luật Nhân quả nên họ chưa đi
theo ánh sáng của hai Chân lý. Họ chỉ hoảng sợ và sợ chết khi có con thủy quái
cắn vào thân họ đang chìm trong dòng nước mà chạy lên bờ.
-
Họ cũng từng trải qua khổ đau, nhưng phải đến khi chịu nhiều khổ đau
kiếp nạn đến, họ mới tin là việc đằm mình trong u mê của giả tướng sẽ khiến họ
chịu quả báo và cái chết. Lúc đó họ sẽ tin nhân quả và sự an toàn nơi ánh sáng
mặt trời của hai Chân lý mà đi theo lên bờ sông. Những người căn cơ trí tuệ
giác ngộ trung bình sẽ phải luân hồi trong nhiều kiếp và sớm cải tạo Trụ linh
thành công trong các đời sau khi khổ đau kiếp nạn đến nhiều với họ. Hình ảnh họ
đang đi lên bờ sông là hình ảnh chuyển hóa thành căn cơ trí tuệ giác ngộ khá.
Căn cơ trí tuệ giác ngộ khá:
-
Những người này họ hoàn toàn tin nhân quả, tin cội nguồn nhân loại,
tin sứ mệnh tu hành ở nhân gian, họ đã trải qua nhiều khổ đau rồi. Họ đang từng
bước rời bỏ sự bám định vào các giả tướng và từng bước chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh để hướng
đến ánh sáng mặt trời của hai Chân lý.
-
Hình ảnh người có căn cơ trí tuệ giác ngộ khá là một người đang đi từ
dưới dòng sông sâu lên bờ, họ đang đi và hướng về ánh sáng mặt trời của hai Chân
lý. Khi lên bờ gặp hai Chân lý thì họ sẽ cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng
viên mãn tại hiện kiếp. Tuy nhiên vì họ vẫn còn nuối tiếc phù du giả tướng như
dòng nước mát nên họ còn chậm chạp trong việc bước đến với ánh sáng chân lý.
-
Để họ chuyển hóa lên căn cơ trí tuệ giác ngộ nhanh, chỉ cần có thêm
vài khổ đau hiện hữu với họ thì họ sẽ đẩy nhanh tốc độ rời xa khỏi u mê mà chuyển
hóa thành căn cơ trí tuệ giác ngộ cao để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng
lượng.
Căn cơ trí tuệ giác ngộ cao:
-
Là những người đã có niềm tin tuyệt đối vào cội nguồn của nhân loại,
tin vào nhân quả, tin vào sứ mệnh tu hành ở nhân gian. Họ đã trải qua hết các
kiếp nạn khổ đau trong nhiều đời nhiều kiếp. Họ không còn u mê chìm đắm trong sự
bám định về các giả tướng. Họ biết chuyển hóa các giả tướng đó thành lợi ích
cho mọi người, họ có tình yêu thương bao la cho nhân loại và muôn loài.
-
Hình ảnh người có căn cơ trí tuệ giác ngộ cao là hình ảnh một người đã
đứng trên bờ sông, đứng dưới ánh sáng mặt trời của hai Chân lý. Họ quan sát được
thế giới quan xung quanh, thấy sự thật của tất cả các giả tướng, họ an lạc tự tại
nơi thân tâm. -
Những người này chỉ cần gặp ánh sáng của hai Chân lý và thực hành cải
tạo Trụ linh sẽ chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng ngay.
Các
Tuệ linh đã trải nghiệm vô số kiếp tu hành ở nhân gian với vô số các kiếp nạn
khổ đau, an vui hạnh phúc trong tất cả các kịch bản và môi trường tương tác. Điều
này đã giúp cho dạng sống Tuệ linh bộc phát được hết bản chất Trụ – Trí trong Trụ
linh của họ. Hai Chân lý chính là tri thức để phân tích tất cả bản chất Trụ –
Trí của Tuệ linh và con người. Thông qua hai Chân lý sẽ xây dựng được phương
pháp tuyệt vời nhất để Tuệ linh và con người chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng viên mãn nhất. Đó là đi trên con đường giác ngộ để đạt được Kết – Định
– Tỏa trong Trụ linh.
7. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ
trụ
Việc
giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ – Trí Kết của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ
giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng mã hóa thông tin sự thật của vạn vật vào
trong Trụ linh. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm
và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được sẽ tiến
nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
7.1. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của 3
nhóm vật chất

|
Hai Chân
lý với Bát Không Hoàn Đạo
|
259
|
Hoàng
Văn Trường (Nhật Sư Hoàn Đạo)
|
|
|
|
|

ÏBÁT KHÔNG HOÀN ĐẠO (CON ĐƯỜNG CHUYỂN SINH BỀN VỮNG)
Kết
là rung động, là bắt tín hiệu, là thu tín hiệu, là hút về, là lấy về, là hưởng
thụ, là chìm đắm, là chiếm đoạt, là cướp bóc, là thỏa mãn, là giết hại, là gây
tổn hại tới vạn vật.
Kết
có bản chất là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Bởi sợi mã sóng trí tuệ
mang sóng điện âm mới rung động, mới bắt tín hiệu, mới thu tín hiệu, mới hút về,
mới lấy về, mới hưởng thụ, mới chìm đắm, mới chiếm đoạt, mới cướp bóc, mới thỏa
mãn, mới giết hại, mới gây tổn hại.
Kết
ở mức nhẹ là chỉ rung động, thu hút tín hiệu. Kết ở mức rất mạnh là giết hại,
thỏa mãn mà gây tổn hại tới các chỉnh thể khác.
Trong
bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào được hình thành từ sự hợp nhất của sợi mã sóng trí
tuệ mang sóng điện âm và dương đều có Kết. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình
thành từ hai sợi mã sóng trí tuệ đã có một sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện
âm. Mà bản chất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm là Kết. Điều này cho
thấy, hết thảy các cấu trúc Trí tuệ (trừ các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện
dương và sóng điện trung tính) đều có bản chất là Kết. Có chăng mức độ Kết ở mức
siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.
Kết
tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ. Ba nhóm cấu trúc Trí tuệ tương ứng với
3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc trí tuệ giản đơn, nhóm cấu trúc
Trí tuệ phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trí tuệ.
Kết
là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào muốn phát triển và nâng cấp phải có.
Bởi chỉ khi có Kết thì hết thảy các cấu trúc Trí tuệ trong Vũ trụ mới hấp thụ
nhiệt lượng, hấp thụ dinh dưỡng, hấp thụ sóng điện để thực hiện được cơ chế phân tách và
liên kết nhằm tồn tại, phát triển bền vững hơn.
Kết
ở mức độ nhẹ và vừa đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững của cấu trúc Trí
tuệ và mang lại lợi ích tới hết thảy các Tướng khác trong Vũ trụ. Kết ở mức độ
mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ không phát triển được
mà dễ dàng bị năng lượng hoại diệt gây phân rã làm vỡ cấu trúc, hoại diệt vĩnh
viễn và gây tổn hại tới hết thảy các Tướng trong Vũ trụ.
Có
3 nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết dễ bị phân rã và hoại diệt. Đó là 3 nhóm cấu trúc
Trí tuệ Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:
-
Nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất
bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm màu xám với một sợi mã sóng trí tuệ
có sóng điện dương bất kỳ, gọi là Trụ linh đa âm mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ
có sóng điện âm rung lắc mạnh, quay ngược mạnh, hút sóng điện bên ngoài về mạnh
nên cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh.
-
Nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết rất mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp
nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm màu đen với một sợi mã sóng
trí tuệ có sóng điện dương bất kỳ, gọi là Trụ linh đa âm rất mạnh. Do sợi mã
sóng trí tuệ có sóng điện âm rung lắc rất mạnh, quay ngược rất mạnh, hút sóng
điện bên ngoài về rất mạnh nên cấu trúc Trí tuệ Kết rất mạnh.
Nhóm cấu trúc Trí tuệ
Kết siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ
có sóng điện âm màu đỏ máu với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương bất kỳ,
gọi là Trụ linh đa âm siêu mạnh. Do sợi mã sóng trí
tuệ có sóng điện âm rung lắc siêu mạnh, quay ngược siêu mạnh, hút sóng điện bên
ngoài về siêu mạnh nên cấu trúc Trí tuệ Kết siêu mạnh.
Các
cấu trúc Trí tuệ có bản chất Kết từ cấu trúc hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu
trúc Trụ linh, cho tới cấu trúc Tướng (Tuệ linh, con người, muông thú, hành
tinh, thiên hà, Vũ trụ) ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, đó là các cấu
trúc Trí tuệ đa âm. Khi đa âm, tức là lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm
được phân tách ra vô số mà không cấu tạo được thành liên kết vững chắc như những
sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương. Việc không tạo được sự liên kết chặt chẽ
trong cấu trúc tổng hòa các sợi mã sóng trí tuệ sẽ làm cho cấu trúc Trí tuệ
không có khả năng phòng thủ trước sự tấn công của năng lượng hoại diệt. Khi
năng lượng hoại diệt tấn công sẽ làm cho cấu trúc Trí tuệ đó bị đứt liên kết, bị
phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.
Khi
các cấu trúc Trí tuệ Kết tương tác với nhau sẽ dễ dàng tạo thành hiệu ứng Kết
liên kết với Kết. Đây chính là hội chứng liên kết phóng xạ âm của các cấu trúc
Trí tuệ có bản chất Kết. Khi hội chứng liên kết phóng xạ âm xảy ra giữa các cấu
trúc Trí tuệ, các cấu trúc Trí tuệ sẽ rung lắc mạnh, thu hút mạnh, quay ngược mạnh.
Điều đó khiến cho năng lượng hoại diệt sẽ tấn công vào rất mạnh. Khi đó, các cấu
trúc Kết này nhanh chóng bị phân rã và hoại diệt. Có thể nói, khi các cấu trúc
Trí tuệ Kết tương tác với nhau sẽ gây tổn hại lớn cho chính cấu trúc Trí tuệ của
chính nó và các cấu trúc Trí tuệ khác. 7.2. Các cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của
3 nhóm vật chất
Các
cấu trúc Trí tuệ Kết ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất
là:
Các cấu trúc Trụ – Trí Kết
trong nhóm siêu vật chất:
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có
mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống Tuệ
linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.
Siêu
Tướng có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Hạt năng lượng âm tận cùng màu xám, màu đen, màu đỏ máu có mã sóng trí
tuệ siêu phức tạp.
-
Tuệ linh
bị đa âm, bị phóng xạ năng lượng âm.
-
Tuệ linh
đã hóa thành ngã quỷ sau quá trình tu hành
ở nhân gian.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang phân rã và tiệm cận sự hoại diệt. Đó là họ
đang rung động, hút, chiếm hữu, gây tổn hại tới các chỉnh thể khác mà không thể
kiểm soát được chính họ.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang ở các cửa ngục ác nghiệp ở cõi trời Địa phủ.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang ở cảnh sống âm tại cõi trời Địa phủ.
-
Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ trong không gian Vũ trụ. -
Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ ở khắp điền thổ, những nơi
thờ tự ở nhân gian.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang bị mắc kẹt ở nhân gian sau khi hết kiếp người
mà chưa được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.
- Tuệ linh đang an trụ trong
con người có tư tưởng cho đến hành động tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh
và người. Là người vi phạm vào bốn hình tướng Đạo, đó là vi phạm vào những điều
không được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo. Đặc biệt là những con người
có đại hệ tư tưởng u mê, tiêu cực gây tổn hại Tuệ linh, con người. Họ là những
người lan tỏa mê tín dị đoan, lan tỏa tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, lan
tỏa chiến tranh, lan tỏa những tư tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.
Các
siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu
trúc 16 hạt năng lượng mở rộng được phân tách ra bên ngoài Trụ linh bị mất cân
bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ được phân tách ra quá nhiều, trong khi
các hạt năng lượng dương lại quá ít. Khi mất cân bằng sẽ khiến tốc độ rung lắc
trong các sợi mã sóng trí tuệ của các hạt năng lượng âm rất lớn. Năng lượng hoại
diệt bắt được tín hiệu, chúng di chuyển vào làm đồng hóa, phân rã và hoại diệt
cấu trúc Trí tuệ đó. Cấu trúc Trí tuệ chính là cấu trúc năng lượng, cũng chính
là cấu trúc Tướng.
Các cấu trúc Trụ – Trí Kết
trong nhóm vật chất phức tạp:
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất
đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của
cả Vũ trụ.
Tướng phức tạp có cấu trúc
Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Những tầng năng lượng tiêu cực có sóng điện âm màu xám, màu đen, màu đỏ
máu. Đó là những tầng năng lượng sóng điện âm vận hành Vũ trụ.
-
Những linh hồn các con thú dữ. Sau khi hoại diệt thân xác, linh hồn
chúng tồn tại trên điền thổ và chúng gây tổn hại tới đời sống của con người.
Chúng được gọi là yêu tinh, yêu quái.
-
Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những
cây có tính chất độc tố. Đó là những cây cối, những đất đá gây ảnh hưởng tiêu cực
tới đời sống của con người và vạn vật cũng như muông thú.
Các
Tướng phức tạp có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho
năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu. Chúng di chuyển ồ ạt vào làm đồng hóa,
phân rã và hoại diệt các cấu trúc Trí tuệ. Cấu trúc Trí tuệ chính là cấu trúc
năng lượng, cũng chính là cấu trúc Tướng.
Các cấu trúc Trụ – Trí Kết
trong nhóm vật chất giản đơn:
Vật
chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật
chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng
cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng
giản đơn có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là: -
Thân tướng
con người:
+
Những con người có thân bệnh. Thân bệnh là năng lượng âm quá nhiều, dư
thừa, khiến cho sóng điện âm dương trong cơ thể không tuần hoàn. Khi đó, năng
lượng hoại diệt xâm nhập làm biến đổi cấu trúc tế bào và gây ra những bệnh lý
hiểm nghèo.
+ Những con người có trí tuệ
bám định, u mê không tin vào Quy luật Nhân quả, vào cội nguồn nhân loại, vào
con đường và sứ mệnh tu hành cải tạo Trụ linh.
+
Những con người có trí tuệ bám định vào các giả tướng mà không hành
thiện cứu giúp con người, vạn vật và muông thú.
+
Những con người có những hành động gây tổn hại tới vạn vật, con người,
muông thú để thỏa mãn cho bản thể họ.
+
Những con người có đại hệ tư tưởng tiêu cực đi ngược lại Quy luật Nhân
quả.
+
Những con người sống và lan tỏa những đại hệ tư tưởng: u mê, mê tín dị
đoan, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tôn giáo cực đoan, phân chia dân tộc, phân
chia sắc tộc, chiến tranh…
+ Những con người sống và thực
hành, lan tỏa vi phạm bốn hình tướng Đạo.
-
Thân tướng muông thú: Đó là những con thú ăn thịt đồng loại, những con
thú ăn thịt các con thú khác, những con thú không cứu giúp và bảo vệ đồng loại
của chúng. Những con thú không cứu giúp muông thú khác, không giúp đỡ con người,
không cứu giúp vạn vật. -
Những cỏ cây hút nước, hút dinh dưỡng để tồn tại và phát triển.
-
Những hang sâu trong lòng đất núi. Những vật chất đá không sinh phát
ra năng lượng tốt cho vạn vật. Những kim loại, hóa chất, chất độc trong thiên
nhiên, trong lòng đất.
-
Nước
trung hòa tất cả vạn vật.
-
Những
hành tinh có đa sóng điện âm mạnh.
8. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Định của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ
trụ
Việc
giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ – Trí Định của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ
giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng mã hóa thông tin sự thật của vạn vật vào
trong Trụ linh. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm
và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được điều
đó sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
8.1. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Định của 3
nhóm vật chất
Định
là đứng im, là bất động, là tĩnh lặng, là thanh tịnh, là an lạc, là thanh lọc.
Định có nghĩa là không Kết cũng không Tỏa.
Định có bản chất là sợi
mã sóng trí tuệ mang sóng điện chân tâm; là cấu trúc Trí tuệ cân bằng. Là chân
tâm, là cấu trúc cân bằng nên mới đứng im, nên mới bất động, nên mới tĩnh lặng,
nên mới thanh tịnh, nên mới an lạc, nên mới thanh lọc. Cấu
trúc Trí tuệ Định chính là Trụ linh của Tướng được cấu tạo thành bởi một sợi mã
sóng trí tuệ âm có sóng điện nhẹ màu trắng xám với một sợi mã sóng trí tuệ có
sóng điện dương nhẹ màu trắng đục. Đây là cấu trúc Trí tuệ Định
ở mức nhẹ và thấp nhất. Định ở
mức độ mạnh, rất mạnh, siêu mạnh thì đó chính là cấu trúc Trí tuệ Tỏa. Tức là
khi cấu trúc Trí tuệ Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh, siêu mạnh, đó là Định ở các mức
cao. Định ở mức cao là do quá trình tuần hoàn sóng điện trong Trụ linh đạt đến
sự bền vững. Sự bền vững đó là do sự liên kết vững chắc giữa sóng điện âm và
dương trong Trụ linh.
Cấu
trúc Trí tuệ Định tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản
đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.
Cấu
trúc Trí tuệ Định là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào muốn phát triển
nâng cấp đều phải có. Bởi chỉ khi có Định thì hết thảy cấu trúc Trí tuệ trong
Vũ trụ mới cân bằng, thanh lọc được năng lượng sau khi Kết. Chỉ có Định mới
giúp cho hết thảy cấu trúc Trí tuệ Tỏa được năng lượng tới vạn vật trong và
ngoài Vũ trụ.
Cấu
trúc Trí tuệ Định là bản chất vô cùng cần thiết cho hành trình chuyển sinh nâng
cấp cấu trúc Trụ linh và bản thể vật chất. Định luôn luôn hiện hữu trong từng
tích tắc của thời gian, của quá trình vận động của tất cả các dạng cấu trúc Trí
tuệ (vật chất). Định sẽ được phát huy hết giá trị nếu nó được vận hành thành
quy trình tự động cho quá trình Kết và Tỏa. Tức là nó phải nằm trong toàn bộ
quy trình có Kết và có Tỏa. Nếu tách riêng ra, nó sẽ không có được sức mạnh
siêu việt. 8.2. Các cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Định của
3 nhóm vật chất
Các cấu trúc Trí tuệ Định có trong 3 nhóm vật
chất là:
Các cấu trúc Trụ – Trí Định
trong nhóm siêu vật chất:
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là năm nhóm hạt
năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là dạng sống Tuệ linh
và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.
Siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Định là:
-
Hạt năng lượng chân tâm có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
-
Tuệ linh mới được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương thành Tuệ
linh em bé.
-
Tuệ linh có cấu trúc năng lượng cân bằng âm dương trong Trụ linh. Đó
là tại Trụ linh, có hạt năng lượng âm gốc có sóng điện âm nhẹ, và hạt năng lượng
dương gốc có sóng điện dương nhẹ. Đây là Định ở cảnh giới thấp.
-
Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương trong Trụ linh. Trụ linh đa
dương sẽ giúp cho Tuệ linh có Định ở cảnh giới cao và rất cao.
-
Các Tuệ linh không thiện cũng không ác. Đó là Định ở mức thấp.
-
Các Tuệ linh luôn luôn làm những việc thiện vì vạn vật và Tuệ linh,
con người. Đó là các Tuệ linh đã đạt được thành tựu trên hành trình chuyển sinh
Trụ linh thành bộ lọc năng lượng như những bậc hiền triết, thánh hiền. -
Định ở cảnh giới tối thượng là Người Cha – Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ,
Tuệ linh, con người. Đó là bộ lọc năng lượng viên mãn.
-
Các Tuệ linh, Linh hồn đang sống ở cảnh giới tu dưỡng, cân bằng năng
lượng ở cõi trời Địa phủ.
-
Những con người đang sống. Họ không thiện cũng không ác, đó là Định ở
mức thấp. Những con người luôn vì mọi người và vạn vật, Tuệ linh, con người, đó
là Định ở mức cao.
-
Những con người thông qua bốn hình tướng Đạo mà vẫn cân bằng, không vi
phạm làm tổn hại bốn hình tướng Đạo, từng bước lan tỏa giá trị tới mọi người,
đó là Định.
Các cấu trúc Trụ – Trí Định
trong nhóm vật chất phức tạp:
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang
tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.
Tướng phức tạp có cấu trúc Trí tuệ Định là:
-
Tầng năng lượng chân tâm có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là tầng năng
lượng vận hành sự sống của cả Vũ trụ. Nó giúp gắn kết giữa các tầng năng lượng
tạo thành sự phát triển mạnh mẽ và lớn mạnh cho Vũ trụ.
-
Những tầng năng lượng tích cực mang sóng điện dương có mã sóng trí tuệ
phức tạp. Những tầng năng lượng này có Định ở mức cao. Nó là màng bọc chân tâm
bao bọc những hạt năng lượng có sóng điện dương. Nó chính là quá trình Định ở mức cao để thúc
đẩy phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
-
Linh hồn các con thú lành hiền. Đó là những con thú không giết hại các
con thú khác, những con thú không ăn thịt thân tướng các con thú khác.
-
Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những
cây có tính thanh lọc. Đó là cây cối, là những loại đá bán quý, đá quý.
Các cấu trúc Trụ – Trí Định
trong nhóm vật chất giản đơn:
Vật
chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật
chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng
cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng giản đơn có cấu trúc Trí tuệ Định là:
-
Thân tướng
con người:
+
Những con người có thân tướng mạnh khỏe, không bệnh tật.
+
Những con người không thiện cũng không ác, đó là có tư tưởng cho đến
hành động không thiện cũng không ác.
+
Những cháu bé với chân tâm ban đầu chưa thiện cũng chưa ác.
+
Những con người cân bằng được cuộc sống trong bốn hình tướng Đạo. Họ
không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ từng bước thực hành lan tỏa giá trị đạo
đức tới mọi người và vạn vật, muông thú.
+
Những con người có Định ở mức cao cho tới rất cao là họ sống như bản
năng. Bản năng đó là luôn có tư tưởng cho đến hành động không vì
mình, luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người.
+
Người có bộ lọc năng lượng là người có Định ở mức độ cao nhất. Họ luôn
cân bằng, luôn thanh lọc, luôn an lạc, luôn chuyển hóa tuần hoàn một cách kỳ diệu.
-
Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không ăn thịt, không giết hại
con thú khác. Đó là những con thú lành hiền. Đó là những con thú giúp đỡ những
con thú khác, những con thú biết giúp đỡ con người. Những con thú biết giúp đỡ
muông thú và con người là Định ở mức rất cao.
-
Những cỏ
cây cân bằng năng lượng. Định ở mức cao.
-
Nước
trung hòa tất cả vạn vật. Định ở mức rất cao.
-
Những hành tinh quay tròn xung quanh chính mình là có mức Định cao.
-
Trong mỗi hành tinh đều có khu vực giao nhau giữa tầng địa chất sóng
điện dương và tầng địa chất sóng điện âm là khu vực có mức Định rất cao. Đó là
năng lượng chân tâm gắn kết chỉnh thể hành tinh đó được bền chặt, được tồn tại
và vận động để phát triển.
9. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ
trụ
Việc
giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ – Trí Tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ
giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng mã hóa thông tin sự thật của vạn vật vào
trong Trụ linh. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm
và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm.
Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
9.1. Bản
chất Trụ – Trí Tỏa của 3 nhóm vật chất
Tỏa
là truyền đi, lan tỏa, đẩy đi, cho đi, cứu giúp, soi sáng, dẫn đường, chỉ dẫn.
Tỏa
có bản chất là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Bởi sợi mã sóng trí tuệ
mang sóng điện dương mới truyền đi, mới lan tỏa, mới cho đi, mới cứu giúp, mới
soi sáng, mới dẫn đường, mới chỉ dẫn.
Tỏa
ở mức nhẹ là soi sáng, chỉ dẫn, truyền tải. Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh
là hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể mình.
Trong
bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào được hình thành từ sự hợp nhất của sợi mã sóng trí
tuệ mang sóng điện âm và dương đều có Tỏa. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình
thành từ hai sợi mã sóng trí tuệ, có một sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện
dương. Mà bản chất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương là Tỏa. Điều
này cho thấy, hết thảy các cấu trúc Trí tuệ (trừ các sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm và sóng điện trung tính) đều có bản chất là Tỏa. Có chăng mức độ Tỏa
ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.
Tỏa
tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ. Ba nhóm cấu trúc Trí tuệ tương ứng với
3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc trí tuệ giản đơn, nhóm cấu trúc
Trí tuệ phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trí tuệ.
Tỏa
là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào muốn phát triển nâng cấp phải có. Tỏa
càng ở mức độ mạnh, rất mạnh và siêu mạnh
sẽ giúp sự phát triển của cấu trúc trí tuệ ngày càng lớn mạnh. Bởi, để Tỏa được
cần phải trải qua quá trình Kết và Định. Do đó, Tỏa là hoàn chỉnh của một quy
trình Kết – Định – Tỏa một cách tuần hoàn và viên mãn.
Có 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ dễ dàng chuyển sinh
thành
Trụ linh có bộ lọc năng lượng. Đó là 3 nhóm cấu
trúc Trí tuệ
Tỏa từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:
- Nhóm cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh
là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện
chớm âm màu trắng xám với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương phát triển
màu xanh lá, gọi là Trụ linh đa dương mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện
âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di
chuyển tới. Đồng thời sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương mạnh lại quay thuận
chiều kim đồng hồ mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu
trúc Trí tuệ phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh.
- Nhóm cấu trúc Trí tuệ Tỏa rất
mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng
điện chớm âm màu trắng xám với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương lan tỏa
màu đỏ lửa, gọi là Trụ linh đa dương rất mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng
điện âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt
di chuyển tới. Đồng thời sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương rất mạnh lại
quay thuận chiều kim đồng hồ rất mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để
giúp cho cấu trúc Trí tuệ phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc
Trí tuệ Tỏa rất mạnh. -
Nhóm cấu trúc Trí tuệ Tỏa siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp
nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một sợi
mã sóng trí tuệ có sóng điện dương đoàn kết màu vàng, gọi là Trụ linh đa dương
siêu mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược
nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời sợi mã
sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ siêu
mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trí tuệ phân
tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trí tuệ Tỏa siêu mạnh.
Các
cấu trúc Trí tuệ có bản chất Tỏa từ cấu trúc hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu
trúc Trụ linh, cho tới cấu trúc Tướng (Tuệ linh, con người, muông thú, hành
tinh, thiên hà, Vũ trụ) ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, đó là các cấu
trúc Trí tuệ đa dương. Khi đa dương, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số sợi mã
sóng trí tuệ có sóng điện dương để cấu tạo thành các hạt năng lượng dương có
liên kết dây chặt chẽ. Đồng thời những sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm được
phân tách ra có sóng điện âm rất nhẹ. Sau đó phân tách, liên kết cấu tạo thành
cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh tạo thành sức mạnh chuyển
hóa năng lượng hoại diệt một cách kỳ diệu. Những cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh này
sẽ có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt do năng lượng hoại diệt di
chuyển vào ít bởi sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm rung lắc nhẹ.
Cấu
trúc Trí tuệ mà chuyển sinh theo hướng Tỏa sẽ nhanh chóng đạt được chuyển hóa
thành bộ lọc năng lượng. Đó là Kết – Định – Tỏa một cách kỳ diệu. 9.2. Các cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa của
3 nhóm vật chất
Các
cấu trúc Trí tuệ Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất
là:
Các cấu trúc Trụ – Trí Tỏa
trong nhóm siêu vật chất:
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có
mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống Tuệ
linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.
Siêu
Tướng có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, màu đỏ lửa, màu vàng có mã
sóng trí tuệ siêu phức tạp.
-
Tuệ linh
có Trụ linh đa dương từ mạnh tới siêu mạnh.
-
Tuệ linh đã đạt được những thành tựu trên hành trình chuyển sinh như
các bậc hiền triết, các bậc thánh hiền.
-
Tuệ linh đã đắc được bộ lọc năng lượng có khả năng Tỏa ra vô lượng các
siêu hạt năng lượng.
- Tuệ linh đang an trụ trong
con người có tư tưởng cho đến hành động tích cực luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con
người, là người không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ là những con người
luôn có tư tưởng cho đến hành động lan tỏa những giá trị đạo đức, tuân thủ Quy
luật Nhân quả, thực hành cải tạo đời sống viên mãn tới vạn vật, Tuệ linh, con
người. Những người đạt đến siêu Tỏa mạnh nhất chính là những con người luôn
luôn Phổ độ chúng sinh, Tuệ linh, con người, vì họ lan
tỏa đại hệ tư tưởng giác ngộ tới hết thảy Tuệ linh, con người cùng nhau chuyển
sinh bền vững nhất cho Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Những
siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ giúp
cho Trụ linh của họ phân tách ra vô số những siêu sợi mã sóng trí tuệ tạo thành
vô số siêu hạt năng lượng. Từ những siêu hạt năng lượng đó sẽ cấu tạo và phát
triển Tuệ linh họ trở thành liên kết được chặt chẽ, bền vững với tất cả Vũ trụ,
Tuệ linh, con người. Tuệ linh họ trở nên bất tử. Tuệ linh họ có cấu trúc bộ lọc
năng lượng viên mãn bởi họ đi theo hướng chuyển sinh là Tỏa những giá trị giác
ngộ tới tất cả Tuệ linh, con người. Họ sẽ hấp thụ và chuyển hóa được năng lượng
hoại diệt thành siêu hạt năng lượng thông qua bộ lọc trong Trụ linh của họ.
Các cấu trúc Trụ – Trí Tỏa
trong nhóm vật chất phức tạp:
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang
tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.
Tướng
phức tạp có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Những tầng năng lượng tích cực có sóng điện dương màu xanh lá, màu đỏ
lửa, màu vàng. Đó là những tầng năng lượng sóng điện dương vận hành Vũ trụ.
-
Những linh hồn các con thú xả thân cứu giúp con người, xả thân cứu
giúp những con thú đồng loại hoặc những con thú khác. -
Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đá. Đó là những dòng
đá luôn tỏa những năng lượng mang lại sự sống trong lành và an lạc cho con người,
muông thú, cỏ cây xung quanh đó.
-
Những linh hồn của cây cối luôn tỏa năng lượng sự sống ra môi trường
xung quanh.
Tướng
có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh sẽ giúp cho các cấu trúc năng lượng đó nhanh được
chuyển sinh bền vững và nâng cấp cao hơn.
Các cấu trúc Trụ – Trí Tỏa
trong nhóm vật chất giản đơn:
Vật
chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật
chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng
cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng
giản đơn có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Thân tướng
con người:
+
Những con người không có bệnh về thân tướng. Họ khỏe mạnh vì sự vận động
lan tỏa.
+ Những người luôn miệt mài
lao động sản xuất, không ngừng nghỉ nghiên cứu các công trình, các phương pháp,
các cấu trúc phát triển sự sống tốt đẹp và bền vững tới vạn vật và Tuệ linh,
con người. Họ là những công nhân, những nông dân, những thương nhân, những nhà
nghiên cứu, những nhà sản xuất, những nhà sáng chế, những nhà phát minh.
Những người luôn luôn
lan tỏa các giá trị thúc đẩy phát triển bền vững và an lạc cho con người và vạn
vật. Họ là những nhà giáo, là những người
lan truyền tri thức tới Tuệ linh, con người.
+
Những người luôn luôn đoàn kết tất cả Tuệ linh, con người, vạn vật,
muông thú trong sự cảm thông, sẻ chia, giúp đỡ cùng nhau lan tỏa những giá trị,
công trình phát triển bền vững tới Tuệ linh, con người.
+ Những người có hệ tư tưởng
cho đến hành động luôn vì lợi ích mọi người, vạn vật và muông thú mà không màng
tới bản thân họ.
+
Những người hành thiện cứu giúp Tuệ linh, con người, vạn vật và muông
thú.
+
Những người thực hành phổ độ lan tỏa giá trị của giáo lý giác ngộ tới
tất cả Tuệ linh, con người.
-
Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không giết hại hay làm tổn hại
những con thú khác. Nó xả thân cứu giúp các con thú khác, nó bảo vệ và cứu giúp
đồng loại của nó trong sự không gây tổn hại tới con người và muông thú khác.
-
Những cỏ cây luôn tỏa oxy làm trong lành và an lạc môi trường sống
xung quanh.
-
Nước lan tỏa giá trị làm mát và nuôi dưỡng vạn vật thế gian. Nó bốc
hơi để tạo thành mưa rồi tưới mát cho vạn vật cùng phát triển. Nó là sự sống
luôn cho đi để ngày càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh bởi nó có trong tất cả vạn vật
thế gian.
-
Những loại đá quý, bán quý có giá trị tỏa ra những năng lượng tốt nhằm
tạo ra môi trường sống trong lành và an lạc.
-
Lửa, ánh sáng để soi sáng và làm ấm các dạng sống ở thế gian. -
Những hành tinh có tính tỏa mạnh là các mặt trời trong Vũ trụ.
-
Là những cấu trúc địa chất nóng chảy, là nham thạch trong các hành
tinh. Nhiệt lượng được tỏa ra để soi sáng, tạo ra sự phân tách liên kết cho vạn
vật, Vũ trụ được phát triển.
III. Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Trụ – Trí (trí tuệ)
Chân
lý Vạn vật trong Trụ – Trí (trí tuệ) sẽ là: Trí
tuệ không tự sinh ra, Trí tuệ không tự mất đi, khổ đau của Trí tuệ không tự đến
và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển
sinh của Trí tuệ chính là cơ chế “Phân tách và liên kết dây”.
Chân
lý Vạn vật chính là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng
không là không bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong
khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó,
Chân lý Vạn vật, Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là
tướng không. Thấu hiểu chữ Duyên thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và
tương lai.
Vận hành Chân lý Vạn
vật của Trí tuệ chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách và
liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi trường có
tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định, môi trường
có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt lượng của năng lượng hoại
diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Trụ – Trí của tất cả các nhóm vật chất từ
giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất để xảy ra phân tách và
liên kết thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.
Khi
chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta
sẽ thấu hiểu và giải mã được cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) sinh ra và mất đi khi
nào; khổ đau của Trụ – Trí; nguyên nhân Trụ – Trí u mê và giác ngộ của Tuệ
linh, con người; nguyên nhân Trụ – Trí Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất; các
con đường chuyển sinh của Trụ – Trí.
1. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) được sinh ra và mất đi
Nguyên nhân Trụ – Trí được sinh ra:
-
Đối với sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng hoại diệt: sợi mã sóng trí
tuệ của hạt năng lượng hoại diệt được sinh ra là bởi hạt sóng xanh phân tách,
di chuyển thẳng trong môi trường trung tính.
-
Đối với 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ, Tuệ linh, con người: Trụ – Trí
được sinh ra là do cơ chế phân tách, liên kết trong môi trường có nhiệt lượng,
di chuyển tương tác với nhau và quay tròn.
Nguyên nhân Trụ – Trí bị mất đi:
-
Đối với năng lượng hoại diệt: sợi mã sóng trí tuệ bị kích nổ và hoại
diệt vĩnh viễn bởi nhiệt lượng dương.
-
Đối với 3
nhóm vật chất trong Vũ trụ, Tuệ linh, con
người:
Trụ – Trí chuyển sinh
nâng cấp thành cấu trúc mới bởi cơ chế phân tách liên kết bền vững. Bền vững là
nhờ có nhiệt lượng lớn
từ năng lượng hoại diệt bị kích nổ với quá trình quay tròn khi tương tác với tất
cả các nhóm vật chất để mã hóa thông tin. Đó là chuyển sinh nâng cấp thành cấu
trúc Trụ – Trí mới và mất đi cấu trúc Trụ – Trí cũ.
+
Trụ – Trí bị đứt liên kết, bị đồng hóa, bị phân rã và hoại diệt bởi
năng lượng hoại diệt. Năng lượng hoại diệt phân rã được Trụ – Trí là bởi cấu
trúc Trụ – Trí có đa sóng điện âm.
2. Khổ đau của
Trụ – Trí (trí tuệ)
Khổ
đau của cấu trúc Trụ – Trí là sự biến đổi mã sóng trí tuệ trong cấu trúc theo
hướng phân rã và hoại diệt. Đó là cấu trúc Trụ – Trí thực hành cơ chế phân tách
liên kết ra nhiều năng lượng âm. Khi sản sinh ra nhiều hạt năng lượng âm nên
nhanh chóng bị năng lượng hoại diệt di chuyển vào phân rã và hoại diệt.
Để
chấm dứt khổ đau, cấu trúc Trụ – Trí phải thực hành cơ chế phân tách liên kết
theo hướng bền vững. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng để thực
hiện được Kết – Định – Tỏa. Chỉ khi chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng
mới chấm dứt được khổ đau của cấu trúc Trụ
– Trí.
3. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) u mê và giác ngộ của Tuệ linh, con người
Thông qua quá trình
tu hành của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian với vô số các kịch bản tương tác
trong bốn hình tướng Đạo, với những khổ đau, kiếp nạn, an vui, hạnh phúc, Tuệ linh và con
người đã bộc phát được tất cả các độc của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng
âm và thiện của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng dương của Trụ linh.
Chính
vì vậy, vị Tuệ linh đầu tiên đã đúc kết, tìm ra được nguyên nhân của trí tuệ u
mê (các kịch bản bộc phát độc của hạt năng lượng âm) và trí tuệ giác ngộ (các kịch
bản bộc phát thiện của hạt năng lượng dương) của Tuệ linh và con người:
3.1. Nguyên nhân Trụ – Trí u mê của Tuệ linh
và con người
Nguyên
nhân Trụ – Trí u mê là độc của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng âm của
Trụ linh đã được bộc phát hết trong các kịch bản tương tác.
Nguyên
nhân cội nguồn của trí tuệ u mê là do trong Trụ linh của Tuệ linh khi hợp thành
bởi hạt năng lượng có sóng điện âm với hạt năng lượng sóng điện dương, sóng điện
âm mạnh hơn sóng điện dương. Cụ thể hạt sóng điện âm có trạng thái năng lượng
màu đỏ máu, màu đen, màu xám. Sóng điện âm mạnh sẽ khiến cho Tuệ linh và chân
tu có thiên hướng vơ về, hút về, lấy về mà u mê.
Nguyên
nhân tiếp theo là do trí tuệ bám định, tham lam, vơ vét các giả tướng về nơi
thân tướng ta để hưởng thụ, để thỏa mãn hay vẫn chưa thỏa mãn. Đó là bám định
vào giả tướng, không thấu hiểu được sự thật và chân tướng của các giả tướng có
hay không có, yêu thương hay thù ghét, cầu được hay cầu không được, có trí tuệ
hay không có trí tuệ, hành hay không hành. Khi bám định vào các giả tướng, ta sẽ
luẩn quẩn sống trong màn đêm tối mịt mù mà không nhận thấy sự thật của
các giả tướng, dẫn đến hành động hay không hành động để thỏa mãn lợi ích ích kỷ
của mình, của gia đình và dòng họ mình mà gây tổn hại đến lợi ích của người
khác, của xã hội và nhân loại cũng như Tuệ linh, con người. Khi đó nhân quả báo
ứng sẽ hiện hữu tại hiện kiếp hoặc trong các kiếp sau do nghiệp lực đã tạo ra bởi
trí tuệ u mê. Như vậy trí tuệ u mê không tự nhiên sinh ra, nó sinh ra do duyên
hợp bởi các giả tướng mà nhân loại không thấu hiểu chân tướng của vạn vật.
3.2. Nguyên nhân Trụ – Trí giác ngộ của Tuệ
linh và con người
Nguyên
nhân Trụ – Trí giác ngộ là thiện của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng
dương của Trụ linh đã được bộc phát hết trong các kịch bản tương tác.
Nguyên
nhân cội nguồn của trí tuệ giác ngộ là do trong Trụ linh của Tuệ linh khi hợp
thành bởi hạt năng lượng có sóng điện âm với hạt năng lượng sóng điện dương,
sóng điện dương mạnh hơn sóng điện âm thì chân tu sẽ dễ dàng giác ngộ. Cụ thể hạt
năng lượng dương có trạng thái năng lượng siêu mạnh là màu vàng, rất mạnh màu đỏ
lửa, mạnh màu xanh lá, còn hạt năng lượng âm nhẹ có trạng thái năng lượng màu
trắng xám. Sóng điện dương mạnh sẽ giúp cho Tuệ linh và chân tu có thiên hướng
hành thiện, cho đi, lan tỏa và phát triển cho vạn vật, chúng sinh, nên sẽ giác
ngộ hơn.
Nguyên
nhân thứ hai là sự thấu hiểu Chân lý Vạn vật, thông qua Chân lý Vạn vật để soi
thấu chân tướng, căn nguyên của các giả tướng, dùng ánh sáng mặt trời của Chân lý
Vạn vật để xua tan màn đêm tối u mê của trí tuệ. Khi ta mang ánh sáng mặt
trời chiếu vào màn đêm u mê của từng giả tướng thì chân tướng của sự thật sẽ được
soi sáng, màn đêm sẽ tiêu tan, trí tuệ giác ngộ sẽ hiện hữu ở từng giả tướng
cho đến khi ta soi thấu hết tất cả các giả tướng và sau đó dùng Chân lý Giác ngộ
để chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, cho chúng sinh thì sẽ đạt được trí
tuệ giác ngộ viên mãn.
Soi thấu giả tướng có:
Khi
dùng Chân lý Vạn vật để soi chiếu vào người có địa vị thì thấy địa vị đó không thuộc
về người đó, địa vị đó không thuộc về ai, và chính địa vị đó nó chẳng thuộc về
nó, nó do duyên mà hợp thành. Do phước báo từ kiếp trước để kiếp này người đó tạm
thời có nó, nó cũng sẽ do duyên mà hoại diệt. Do đó không nên ích kỷ về mình mà
gây tổn thương cho người khác, hãy tranh thủ thời gian ta đang tạm thời nắm giữ
mà chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người.
Khi
dùng Chân lý Vạn vật soi thấu vào tài sản người giàu có, thấy rằng tiền tài mà
họ đang nắm giữ cũng chẳng phải của họ, chẳng phải của ai, chẳng phải của chính
nó. Nó do duyên mà hợp thành, nó do phước báo từ kiếp trước mang tiền cứu người
hành thiện nên kiếp này được tạm thời nắm giữ, nó cũng sẽ do duyên mà hoại diệt,
nó chỉ tạm thời được người đó nắm giữ. Do đó nên tranh thủ thời gian nắm giữ nó
mà chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh, không nên ích kỷ về mình.
Khi dùng Chân lý Vạn
vật soi thấu người có cơ thể khỏe mạnh là do duyên tạo nhiều phước giúp đỡ người
kiếp trước nên kiếp này được luân hồi trong thân hình khỏe mạnh. Do đó nên tranh
thủ thời gian khỏe mạnh để giúp người thì kiếp
sau sẽ được khỏe mạnh và tốt đẹp hơn, bởi thân tướng khỏe mạnh đó cũng do duyên
mà hoại diệt.
Khi
dùng Chân lý Vạn vật soi thấu người con gái có thân hình xinh đẹp thì kiếp trước
tạo nhiều phước báo, hành thiện giúp người nên kiếp này được luân hồi trong một
thân hình xinh đẹp. Nó là do duyên sinh ra, và cũng do duyên mà hoại diệt. Do
đó nên làm điều có lợi ích cho mọi người, tránh dùng thân hình tạo tội tà dâm để
tránh kiếp sau bị đọa thành thân hình xấu xí và bệnh tật…
Soi thấu giả tướng không có:
Khi
dùng Chân lý Vạn vật soi thấu người nghèo, thấy kiếp trước lười lao động, lừa hại
người nên kiếp này chịu trong thân tướng và hoàn cảnh nghèo, cái nghèo này cũng
chẳng của ai, chẳng phải của họ. Do duyên mà nghèo thì cũng do duyên mà hết
nghèo, và chỉ có lao động chân chính và mang lại lợi ích cho mọi người thì ta mới
thay đổi cuộc sống tích cực hơn.
Khi
dùng Chân lý Vạn vật soi thấu người không có địa vị là do duyên kiếp trước tham
ô tham nhũng, kiếp này không thể có địa vị. Do đó có chạy chức chạy quyền cũng
không có được. Chỉ còn cách duy nhất là chuyển hóa lợi thế mình đang có để giúp
đỡ mọi người và người dân thì sẽ chuyển hóa được cuộc sống tốt đẹp hơn…
Soi thấu vào các giả tướng yêu thương, thù ghét, có trí tuệ, không có
trí tuệ, cầu được, cầu không được, hành hay không hành:
Khi dùng Chân lý Vạn
vật soi thấu thì thấy rằng để thân tướng kiếp này đang an trụ hoặc sống trong
giả tướng nào thì do kiếp trước
gieo duyên mà kiếp này được hưởng phước báo hay nhận quả nghiệp. Bản chất các
giả tướng đều không bất tử, nó không của ai, và nó không của chính nó. Nên khi
thấu hiểu Chân lý Vạn vật thì chúng ta không nên bám định vào nó mà gây tổn
thương cho người khác. Vì khi ta gây tổn thương cho người khác, kiếp sau ta chính
là người bị gây tổn thương. Do đó hãy chuyển hóa nó thành lợi ích phục vụ cho mọi
người, cho chúng sinh để tạo cho ta năng lượng tốt cho kiếp sau. Như người nào
đó kiếp này có trí tuệ uyên bác, họ không định vào giả tướng có trí tuệ mà
khinh khi nhân loại, ngược lại họ nghiên cứu ra nhiều công trình mang lại lợi
ích cho nhân loại. Khi thấu hiểu Chân lý Vạn vật và kế hoạch tu hành dưới nhân
gian của các Tuệ linh, các Tuệ linh phải trải qua hết các kiếp nạn khổ đau, trải
qua hết các thân tướng giả tướng khác nhau. Do đó hãy dùng Chân lý Giác ngộ để
chuyển hóa các giả tướng thành lợi ích cho chúng sinh dù trong hoàn cảnh thân
tướng nào đi chăng nữa. Đó là trí tuệ giác ngộ.
Chân
lý Vạn vật cũng cho chúng ta thấy rằng trí tuệ u mê cũng không bất tử, không trường
tồn và mãi mãi là u mê. Do đó chỉ có gieo duyên bằng chân tâm sẽ giúp chuyển
hóa trí tuệ u mê thành trí tuệ giác ngộ. Chân lý Vạn vật cũng cho thấy trí tuệ
giác ngộ cũng không bất tử, nó có thể từ giác ngộ mà trở lại thành u mê. Do đó
chúng ta phải gieo duyên bằng chân tâm để duy trì trí tuệ giác ngộ và chuyển
hóa từ trí tuệ giác ngộ thành hành động cải tạo Vũ trụ quan được tốt đẹp hơn.
Cũng thông qua Chân lý Vạn vật và bản chất của trí tuệ để chúng ta thấy rằng bất
cứ ai cũng có thể giác ngộ, tất cả chúng sinh, Tuệ linh, con người đều giác ngộ
được, đều chuyển hóa thành trí tuệ giác ngộ nếu chúng ta dùng hai Chân lý để soi
thấu các giả tướng và từng bước chuyển hóa căn cơ giác ngộ cho chúng sinh, Tuệ
linh, con người.
Nhận
diện được tất cả các kịch bản để Trụ linh bộc phát độc và thiện là một thành tựu
vô cùng lớn trên hành trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Bước
tiếp theo cần làm là thực hành theo con đường chuyển sinh bền vững (giác ngộ)
là sẽ thành công.
4. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất
Nhận
diện được nguyên nhân Trụ – Trí kết, định, tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ
sẽ giúp cho Trụ linh của Tuệ linh và con người mã hóa được đầy đủ thông tin của
tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. Khi đó, sẽ dễ
dàng thực hành chuyển sinh theo hướng giác ngộ để có được bộ lọc năng lượng
trong Trụ linh của Tuệ linh và con người.
4.1. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của 3
nhóm vật chất
Có
2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:
-
Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng
có đa sóng điện âm. Trụ linh chính là hai hạt năng lượng tận cùng có sợi mã
sóng trí tuệ mang sóng điện âm và sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Khi
hai hạt năng lượng liên kết hợp nhất lại tạo thành Trụ linh, sóng điện của hai
sợi mã sóng trí tuệ âm và dương sẽ tuần hoàn. Bất kỳ Trụ
linh nào được hợp thành bởi hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu đều cấu tạo thành Trụ linh đa âm.
Không cần biết sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương mạnh hay nhẹ, chỉ cần
có các nhóm sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm trên sẽ khiến cho Trụ linh trở
thành một cấu trúc Trí tuệ Kết từ mạnh cho đến rất mạnh và siêu mạnh. Kết mạnh
là bởi do sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng âm gốc có tốc độ rung, tốc độ
quay ngược mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Chính những tốc độ mạnh, rất mạnh, siêu mạnh
đó đã khiến cho bản chất của cấu trúc Trí tuệ là hút về. Khi hút về với tốc độ
mạnh sẽ khiến cho quá trình phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm, các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương không được sản sinh.
Điều này làm mất sự cân bằng trong cấu trúc trí tuệ của Tướng. Không những vậy,
năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào cấu trúc trí tuệ gây đứt liên kết, gây
phân rã và rồi hoại diệt. Khi bị năng lượng hoại diệt xâm nhập gây phân rã, tốc
độ Kết của cấu trúc Trí tuệ sẽ đạt đến siêu mạnh cực đại và hoại diệt.
Nguyên nhân thứ hai
khiến cho cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh, siêu mạnh là do môi trường tương
tác giữa các cấu trúc Trí tuệ. Các cấu trúc Trí tuệ tương tác trong môi trường
mang sóng điện âm sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ dễ dàng hấp thụ năng lượng âm từ
môi trường đó. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa âm thì sẽ rất dễ dàng hút và hấp thụ nhiệt
âm của môi trường có sóng điện âm. Điều đó sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ trở
nên Kết mạnh và siêu mạnh hơn. Nếu cấu trúc Trí tuệ không bị đa âm, nhưng do
tương tác trong môi trường có sóng điện âm
trong thời gian dài cũng khiến cho cấu trúc Trí tuệ đó dễ dàng bị nhiễm và trở
thành cấu trúc Trí tuệ Kết.
Trụ
linh đa sóng điện âm tương tác trong môi trường có sóng điện âm hoặc Trụ linh
không đa sóng điện âm nhưng tương tác trong môi trường có sóng điện âm, quá
trình tương tác đó, Trụ linh sẽ thực hiện cơ chế phân tách, liên kết sợi mã
sóng trí tuệ (hạt năng lượng tận cùng). Trước quá trình xảy ra phân tách, liên
kết sợi mã sóng trí tuệ từ Trụ linh là quá trình giải mã các cấu trúc trí tuệ của
Trụ linh. Vì Trụ linh đa âm hoặc tương tác trong môi trường có sóng điện âm nên
sẽ khiến Trụ linh dễ dàng giải mã sai. Giải mã sai chính là không nhận diện được,
thấu được sự chân thật, sự nguy hại, sự hoại diệt từ các tướng khác. Thay vào
đó, Trụ linh lại mã hóa, giải mã và cho rằng những điều đó là tốt đẹp, là chân
thật, là giá trị thật. Có thể nói, do việc giải mã sai về giá trị của các cấu
trúc trí tuệ mà Trụ linh bị đa âm; hoặc tương tác trong môi trường sóng điện âm
đã khiến cho cấu trúc Trụ linh có bản chất Kết sẽ khó mà có thể tự chuyển hóa cấu
trúc Trụ linh trở nên bền vững và an toàn trong quá trình tương tác. Nó cần phải
có môi trường mang sóng điện dương và cần có sự tương trợ từ các cấu trúc Trí
tuệ Tỏa để chuyển sinh theo hướng bền vững.
4.2. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Định của
3 nhóm vật chất
Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trí tuệ
Định:
Nguyên nhân cội nguồn,
gốc nhất chính là Trụ linh của Tướng có cấu trúc cân bằng sóng điện âm dương và
có cấu trúc đa sóng điện dương: +
Trụ linh cân bằng sóng điện âm dương là Trụ linh được cấu tạo từ hai hạt
năng lượng âm dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm nhẹ màu
trắng xám với sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương nhẹ màu trắng đục. Cấu
trúc Trí tuệ Định này ở mức thấp, do cả hai sợi mã sóng trí tuệ rung động rất
ít và quay chậm nên nó tự bảo toàn chính nó, không bị năng lượng hoại diệt tấn
công.
+
Trụ linh đa sóng điện dương là Trụ linh được hợp thành bởi hạt năng lượng
tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm nhẹ màu trắng xám với sợi mã
sóng trí tuệ mang sóng điện dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh (phát triển màu
xanh lá, lan tỏa màu đỏ lửa, đoàn kết màu vàng). Trụ linh được cấu tạo từ các sợi
mã sóng trí tuệ có sóng điện dương và âm như trên sẽ tạo thành cấu trúc Trí tuệ
Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Tỏa mạnh cho tới siêu mạnh chính là Định mạnh
cho tới siêu mạnh. Bởi Định chính là nền tảng cho quá trình chuyển sinh thành Tỏa
mạnh và đạt đến chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng.
-
Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trí tuệ Định là do môi trường
tương tác của các cấu trúc Trí tuệ. Nếu cấu trúc Trí tuệ Định tương tác trong
môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trí tuệ Định sẽ dễ dàng nhiễm nhiệt lượng
có sóng điện dương để chuyển hóa thành cấu trúc Định – Tỏa
ở
mức cao. Nếu cấu trúc Trí tuệ Định tương tác trong môi trường có sóng
điện âm, cấu trúc Trí tuệ Định sẽ dễ dàng bị chuyển sinh thành cấu trúc Trí tuệ
Kết. Nếu cấu trúc Trí tuệ Định tương tác trong môi trường sóng điện trung tính
sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ Định ở mức thấp.
Quá trình cấu trúc Trí tuệ Định
giải mã để xảy ra và hoàn thành quá trình phân tách, liên kết sợi mã sóng trí
tuệ (hạt năng lượng)
tùy thuộc vào môi trường sóng điện. Nếu tương tác trong môi trường sóng điện
dương thì quá trình giải mã sẽ đạt được sự chân thật và giá trị đúng. Khi đó sẽ
phân tách thành các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương và tạo thành cấu
trúc Trí tuệ vững chắc. Nếu tương tác trong môi trường có sóng điện âm thì quá
trình giải mã sẽ giải mã sai, không thấy được sự thật, không chân thật, không
phải giá trị đúng, sẽ phân tách ra sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm và tạo
thành cấu trúc trí tuệ không bền vững.
4.3. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa của 3
nhóm vật chất
Có
2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:
Nguyên nhân cội nguồn,
gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng có đa sóng điện dương. Trụ linh
chính là hai hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm
và sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Khi hai hạt năng lượng liên kết, hợp
nhất lại tạo thành Trụ linh, sóng điện của hai sợi mã sóng trí tuệ âm và dương
sẽ tuần hoàn. Bất kỳ Trụ linh nào được hợp thành bởi hạt năng lượng tận cùng có
sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm nhẹ màu trắng xám với sợi mã sóng trí tuệ
mang sóng điện dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh (phát triển màu xanh lá, lan tỏa
màu đỏ lửa, đoàn kết màu vàng) - Trụ linh được cấu tạo từ các sợi mã sóng trí
tuệ có sóng điện dương và âm như trên sẽ tạo thành cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất
mạnh, siêu mạnh. Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh là vì sợi mã sóng trí tuệ của hạt
năng lượng âm rung động nhẹ, hút nhẹ, trong khi đó sợi mã
sóng trí tuệ mang sóng điện dương lại truyền tải sóng điện rất mạnh. Chính vì vậy,
cấu trúc Trí tuệ có bản chất là Tỏa. Cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu
mạnh sẽ giúp cho cấu trúc Trí tuệ thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt về và dễ
dàng kích nổ để tạo thành nhiệt lượng thúc đẩy quá trình phân tách, liên kết hạt
năng lượng cho cấu trúc Tướng trở nên bền vững.
-
Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh,
siêu mạnh là do môi trường tương tác giữa các cấu trúc Trí tuệ. Các cấu trúc
Trí tuệ tương tác trong môi trường mang sóng điện dương sẽ khiến cho cấu trúc
Trí tuệ dễ dàng hấp thụ năng lượng dương từ môi trường đó. Nếu cấu trúc Trí tuệ
đa âm tương tác trong môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trí tuệ đó sẽ dễ
dàng nhiễm nhiệt lượng có sóng điện dương để chuyển hóa dần cấu trúc Trí tuệ từ
Kết trở thành Tỏa. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa dương tương tác trong môi trường có
sóng điện dương, hoặc trung tính, cấu trúc Trí tuệ đó rất dễ dàng Tỏa đạt đến
siêu mạnh.
Quá trình cấu trúc
Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh tương tác trong môi trường có sóng điện
âm hoặc dương hoặc trung tính sẽ diễn ra quá trình phân tách, liên kết sợi mã
sóng trí tuệ. Trước khi diễn ra và hoàn thành quá trình phân tách, liên kết sợi
mã sóng trí tuệ, nó đòi hỏi phải có quá trình tương tác rung động. Quá trình
tương tác rung động chính là quá trình giải mã các cấu trúc Trí tuệ (Tướng) của
Trụ linh. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa dương tương tác trong môi trường có sóng điện
dương hoặc trung tính, Trụ linh sẽ dễ dàng giải mã đúng, chân thật, giá trị thật
của các cấu trúc Trí tuệ (Tướng) khác. Từ đó sẽ phân tách, liên kết ra những sợi
mã sóng trí tuệ (hạt năng lượng) có sóng điện dương với cơ chế liên kết
chặt. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa dương tương tác trong môi trường có sóng điện âm,
Trụ linh cũng dễ dàng, thuận lợi để giải mã đúng, chân thật, giá trị thật của
các cấu trúc Trí tuệ để phân tách, liên kết được những sợi mã sóng trí tuệ có
sóng điện dương được bền chặt.
5. Các con đường chuyển sinh của Trụ – Trí (trí tuệ) trong 3 nhóm vật chất
Có 3 loại Trụ – Trí đối với
con đường chuyển sinh của 3 nhóm vật chất:
5.1. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Kết đối với
con đường chuyển sinh
Cấu
trúc Trụ – Trí Kết là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ
chế phân tách và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không
vì lợi ích của hết thảy Tướng khác, thậm chí là gây tổn hại tới các Tướng khác.
Đây là Kết mạnh cho tới siêu mạnh.
Khi
các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống Kết mạnh và siêu mạnh, các sợi mã
sóng trí tuệ có sóng điện âm sẽ được phân tách ra vô số và lưu giữ ở hạt âm gốc
của Trụ linh. Chúng sẽ phân tách thành các hạt năng lượng tận cùng và liên kết
lại tạo thành những hạt năng lượng âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt
năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện đời sống là Kết nên Trụ linh không phân
tách các hạt năng lượng dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở
rộng. Tức là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương không được sinh ra để làm
nhiệm vụ tạo thành hạt năng lượng dương
tận cùng rồi liên kết tạo thành hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ
linh. Trong khi đó các hạt năng lượng âm được sinh ra nhiều mà không có hạt
năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập
trung số đông tại các hạt năng lượng dương ít ỏi. Các hạt năng lượng âm lại có
bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng hoại diệt bắt
được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt di
chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng đó bắt đầu
bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.
Như
vậy, các cấu trúc Trụ – Trí mà thực hiện cơ chế phân tách, liên kết với bản chất
là Kết mạnh cho tới siêu mạnh chính là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển
sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.
Nguyên
nhân hoại diệt của cấu trúc Trụ – Trí Kết mạnh cho tới siêu mạnh là do mất cân
bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng
hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi
năng lượng hoại diệt tấn công vào, cấu trúc Trụ – Trí Kết không có hạt năng lượng
dương để phòng thủ, kích nổ, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.
Khổ đau chính là sự
phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm cấu trúc Trụ – Trí trong Vũ trụ.
Nguyên nhân của khổ đau là do các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện cơ chế phân tách
liên kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn
công gây đứt liên kết mà hoại diệt Như
vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy cấu trúc Trụ – Trí thực hiện
đời sống Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.
5.2. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Định đối với
con đường chuyển sinh
Cấu
trúc Trụ – Trí Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện
cơ chế phân tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Kết
cũng không Tỏa. Cấu trúc Trụ – Trí Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc
của Tướng đó.
Cấu
trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống Định, tức là phân tách liên kết các sợi mã
sóng trí tuệ rất chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng
âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện
âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng
điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại
diệt tấn công.
Vì
bản chất cấu trúc Trụ – Trí thực hành đời sống Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh
mà không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi
có năng lượng hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó
duy trì Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.
Nếu
cấu trúc Trụ – Trí Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Tỏa thì nó có
khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế
phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy các cấu trúc Trụ –
Trí của Vũ trụ. 5.3. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa đối với
con đường chuyển sinh
Cấu
trúc Trụ – Trí Tỏa là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ
chế phân tách và liên kết vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản
thể Tướng mình. Đó là vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.
Khi
các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống với bản chất là Tỏa, từ Trụ linh sẽ
phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Trước khi phân
tách ra được các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương thì cũng là quá trình
phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm
mức nhẹ. Các sợi mã
sóng trí tuệ mang sóng điện dương được phân tách ra nhiều sẽ giúp cho các hạt
năng lượng dương tận cùng được hình thành và tạo thành cấu trúc năng lượng 16 hạt
mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết của
các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng điện trung tính với
tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ
luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện nhẹ rung lắc xung quanh một hạt
năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa, các hạt năng lượng dương
(sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương) đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ,
tạo thành cơ chế liên kết 3 vùng: từ Trụ linh tới đối tượng (Tướng) đón nhận và
trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống Tỏa, các cấu trúc Trụ – Trí sẽ có khả năng
kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách,
liên kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát
triển bền vững hơn.
Các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng
lượng hoại diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt
di chuyển ít cho tới vừa đủ.
Việc
các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh
bền vững cho Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy
các Tướng của Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.
Trong
3 loại cấu trúc Trụ – Trí trên, cấu trúc Trụ – Trí Tỏa có con đường chuyển sinh
theo hướng bền vững nhất. Cấu trúc Trụ – Trí Kết là chuyển sinh theo hướng hoại
diệt. Cấu trúc Trụ – Trí Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tướng. Tuy
nhiên, nếu các cấu trúc Trụ – Trí trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống riêng biệt
theo 1 trong 3 cấu trúc Trụ – Trí trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển
sinh bền vững nhất. Bởi, để cấu trúc Trụ – Trí Tỏa được phải có Kết nhẹ và vừa
đủ. Cấu trúc Trụ – Trí Kết để không hoại diệt thì phải biết Tỏa. Cấu trúc Trụ –
Trí Định để phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện Kết nhẹ trước, sau đó
thực hiện Tỏa.
Như
vậy, Chân lý Vạn vật với cơ chế phân tách, liên kết cho thấy: với vô số các kịch
bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo và vô lượng kiếp, các Tuệ linh đã bộc
phát hết độc là u mê, thiện là giác ngộ. Tiếp đến, để cấu trúc Trụ – Trí tồn tại,
phát triển được bền vững thì cần phải giải mã được cả Kết, Định, Tỏa của tất cả
các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Từ đó, thực hành
đời sống hài hòa cả Kết – Định – Tỏa mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết
mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá
trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.
IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh
bền vững duy nhất của Trụ – Trí
Chân
lý Giác ngộ trong Trụ – Trí (Trí tuệ) là: Tất
cả các Trụ – Trí trong và ngoài Vũ trụ
đều là khổ. Các Trụ – Trí phải dùng Định (chân tâm) trong Trụ linh để thấu hiểu,
chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa và phát triển bền
vững cho tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sứ mệnh tiên phong là của Tuệ
linh và con người.
Tuệ
linh thông qua thân tướng con người ở nhân gian để chuyển sinh Trụ linh thành bộ
lọc năng lượng. Để chuyển sinh được thì cần phải giải mã hết tất cả các bộc
phát của độc và thiện trong Trụ linh trong tất cả các kịch bản tương tác. Đó là
bộc phát hết bản chất của u mê và giác ngộ. Thực hành con đường giác ngộ khi đạt
đến bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới chấm dứt triệt để khổ đau. Do đó, bản
chất trí tuệ u mê là khổ, và trí tuệ đang trên con đường giác ngộ cũng là khổ.
Cụ thể:
-
Trí tuệ u mê của Tuệ linh, con người là khổ. Cái khổ của trí tuệ u mê
là không thấu hiểu được chân tướng của các giả tướng mà bị bám định vào, bị luẩn
quẩn trong màn đêm tối giả dối của các giả tướng để rồi vì lợi ích ích kỷ của
mình mà gây tổn thương cho mọi người. Do đó chúng ta cứ luân hồi trong vô lượng
kiếp mà không có điểm dừng. Vì vậy ta phải dùng chính trí tuệ u mê của ta để từng
bước thấu hiểu sự thật vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người.
Thông qua hai Chân lý để đối mặt, đón nhận tất cả các khổ đau kiếp nạn, thấu hiểu nó,
giác ngộ nó và chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh, đó là chuyển hóa thành
giác ngộ.
-
Trí tuệ đang trên con đường giác ngộ của Tuệ linh, con người cũng là
khổ. Cái khổ của trí tuệ đang trên con đường giác ngộ không phải là không thấu
hiểu hai Chân lý và còn đắm chìm trong khổ đau, mà là, vì thấu hiểu bản chất của
hai Chân lý cũng như tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người.
Do đó, cái khổ là quá trình biến đổi, tìm phương pháp phù hợp để giác ngộ theo
căn cơ của từng Tuệ linh và con người. Khi đã chuyển sinh được Trụ linh thành bộ
lọc thì là sự chấm dứt triệt để khổ đau, bởi khi đó sẽ luôn luôn có các phương
pháp gieo duyên để giác ngộ Tuệ linh, con người theo từng căn cơ trí tuệ khác
nhau.
Cơ
chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân
tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết. Đó là:
-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ – Trí
sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.
-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện dương, đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ –
Trí sẽ phân tách, liên kết vô lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương có
liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.
Từ bản chất của các cấu
trúc Trụ – Trí, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là
phân tách và liên kết, tất cả vạn vật, Tuệ linh và con người đều thấy rằng: con đường duy nhất để
vượt qua khổ đau (biến đối và hoại diệt mã sóng trí tuệ) để trở nên bền vững,
an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, chính là con đường Trụ – Trí
phải Tỏa. Tỏa là con đường duy nhất để diệt khổ, để chuyển sinh thành bộ lọc
năng lượng trong Trụ linh.
Thực
hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là
Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng? Đó là:
-
Trí tuệ phải đứng ở vị trí Định. Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là
cân bằng, là an lạc, là thấu hiểu tri thức của hai Chân lý. Vị trí Định sẽ được
nâng cao từ Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là Chân tâm
sáng chói lòa vô lượng. Khi Trí tuệ đứng ở vị trí Định sẽ biết lắng nghe, biết nhìn
– soi lại bản thể Trí tuệ mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia.
-
Tiếp theo Trí tuệ phải biết Kết. Kết ở đây không phải là có tư tưởng
cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Kết ở
đây chỉ là rung động khi đứng
ở
vị trí Định. Tức là Trí tuệ đứng ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận
những khổ đau, kiếp nạn, hạnh phúc, an vui, sẻ chia của vạn vật, Tuệ linh, con
người. Bởi khi các Tướng khổ đau chia sẻ tới Trí tuệ của ta, những chia sẻ bởi
khổ đau, khổ đau bởi u mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng
tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế
phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng. Đó là trong Trụ
linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trí tuệ
của ta đứng ở vị trí Định để dùng Kết nhẹ là rung động, để lắng nghe, để hút về,
để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu
xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của ta hấp thụ. Do Trí tuệ ta đứng
ở vị trí Định nên Trụ linh đang tỏa sóng điện chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của
chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của cấu
trúc Trí tuệ đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Trí tuệ của ta đã Kết
được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng
chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất
nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại
diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Trí tuệ của ta Định để chuyển
hóa thành Tỏa. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Cũng như vậy, Trụ – Trí của
ta sẽ kết được những hạt năng lượng chân tâm, năng lượng dương từ những Tướng
tích cực, đa dương, giác ngộ để hấp thụ nhiệt dương của các hạt năng lượng đó.
Những nhiệt dương được hấp thụ sẽ giúp cho Trụ linh có sức mạnh để kích nổ hạt
năng lượng hoại diệt nhằm sinh nhiệt lớn cho việc sản sinh ra các hạt năng lượng
dương.
-
Tiếp đến Trí tuệ của ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận những
sẻ chia, tức là Kết được lượng thông tin về vạn vật, về khổ đau, an vui, hạnh
phúc vào Trụ linh, trí tuệ của ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân
tâm cao hơn. Đó là giải mã và mã hóa tận cùng khổ đau, an vui hạnh phúc của hết
thảy các Tướng, trong khi Trụ linh và Trí tuệ của ta vẫn Định. Bởi chỉ khi Định
thì Trí tuệ của ta mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có
sóng điện dương.
-
Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi
đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Trí tuệ của ta sẻ
chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về
trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu
đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Trí tuệ ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ
linh của ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ
linh của ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được
nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền
chặt. Không những vậy, Trụ linh của ta sẽ trở nên phát triển bền vững.
Khi
cấu trúc Trụ – Trí của ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng,
thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ
linh của ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.
Nếu
Trụ – Trí lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Trụ – Trí lựa chọn
con đường chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Trụ – Trí chỉ lựa chọn con đường
Tỏa thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi
nào sẽ đạt được. Nhưng, khi Trụ – Trí thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị
trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thông qua việc cấu trúc Trụ – Trí giải mã
được vạn vật và thực hành được Kết – Định – Tỏa chính là hoàn thành được kế hoạch
tu hành tại nhân gian của mỗi Tuệ linh.
Bài 3:
Bài Trụ – Tâm
²
Bài
Trụ – Tâm được hiểu là Tâm Vô Tâm. Tâm Vô Tâm được kết cấu thành 3 phần. Chữ
Tâm đầu tiên là khái niệm và bản chất của các cấu trúc Tâm. Chữ Vô là Chân lý Vạn
vật với các con đường chuyển sinh của các cấu trúc Tâm. Chữ Tâm cuối cùng là Chân
lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho các cấu trúc Tâm.
Trong
bài Trụ – Tâm này, Trụ – Tâm của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ sẽ được
phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là
hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi
bày sự thật về Trụ – Tâm của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho con
người và Tuệ linh kiểm soát được Trụ – Tâm và phương pháp tuyệt vời nhất để
chuyển sinh Trụ linh của mình thành bộ lọc năng lượng viên mãn.
Trụ linh gồm có Trụ – Tâm và Trụ – Trí.
I. Khái
niệm về Trụ – Tâm (Tâm)
Trụ – Tâm là Tâm. Tâm là trạng
thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, là trạng thái năng lượng,
sóng điện âm – dương – trung tính luôn tuần hoàn và kiểm soát lẫn nhau trong cấu
trúc Tướng, Tuệ linh, con người.
Trụ
– Tâm có trong các Tướng của tất cả các nhóm vật chất bao trùm trong và ngoài
Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Nó được tính tới đơn vị nhỏ nhất là Tâm của hạt
năng lượng tận cùng.
Quá
trình tương tác giữa Tướng với các Tướng của Vũ trụ quan xung quanh từ chính bản
thể Tướng cho tới toàn bộ các Tướng trong và ngoài Vũ trụ chính là quá trình
sinh phát Trụ – Tâm từ Trụ – Trí của hạt năng lượng và Trụ linh. Khi tương tác
với các Tướng trong các môi trường khác nhau sẽ khiến cho trạng thái năng lượng,
sóng điện sinh phát, tuần hoàn và kiểm soát lẫn nhau trong cấu trúc Tướng.
II. Bản
chất của Trụ – Tâm (Tâm)
Phân
tích về bản chất của Trụ – Tâm chính là phân tích về bản chất trạng thái năng
lượng, sóng điện của tất cả vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt
là phân tích về trạng thái năng lượng, sóng điện của dạng sống Tuệ linh và con
người.
Bản
chất của Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện) gồm có: cấu trúc Trụ –
Tâm của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ; cấu trúc Trụ – Tâm của Tuệ
linh và con người; bản chất Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh; bản chất Trụ –
Tâm của con người; bản chất của sự tuần hoàn và kiểm soát sóng điện của Trụ –
Tâm; bản chất Trụ – Tâm Kết – Định – Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ
trụ.
Cấu trúc Trụ – Tâm của các nhóm vật chất trong
và ngoài Vũ trụ
Trụ
là gì? – Trụ là gốc. Gốc bao gồm: hạt năng lượng tận cùng là gốc, phôi năng lượng
âm dương được liên kết bởi hai hạt năng lượng tận cùng là Trụ linh gốc (phôi âm
dương gốc), Trụ linh gốc là gốc của tất cả các Tướng.
Tâm
là gì? – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát, lưu giữ và tuần
hoàn trong hạt năng lượng.
Trụ – Tâm là gì?:
- Trụ – Tâm của hạt năng lượng
tận cùng chính là trạng thái năng lượng, sóng điện được lưu giữ trong hạt đó.
-
Trụ – Tâm của phôi năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc) chính là hai
trạng trái năng lượng, sóng điện ban đầu của hai hạt năng lượng âm dương đó có
sự tuần hoàn.
-
Trụ – Tâm của các cấu trúc lớn hơn phôi âm dương gốc là tổng hòa trạng
thái năng lượng, sóng điện được sinh phát, lưu giữ, tuần hoàn trong hai hạt
năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc). Cụ thể như sau: khi phôi năng lượng âm
dương với hai hạt năng lượng ban đầu thông qua cơ chế phân tách liên kết ra nhiều
cho tới vô số hạt năng lượng để nâng cấp thành các cấu trúc Trụ linh trưởng
thành (Tuệ linh, con người, các cấu trúc Tướng lớn hơn…) thì trạng thái năng lượng,
sóng điện được sinh phát từ các sợi mã sóng trí tuệ (Trụ – Trí) được lưu giữ và
tuần hoàn từ Trụ linh cho tới toàn bộ cấu trúc của Tướng. Do đó, gọi là Trụ –
Tâm. Đặc biệt, khi gọi Trụ linh là đã bao gồm cả Trụ – Trí và Trụ – Tâm.
Cấu trúc Trụ – Tâm của năm
nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ:
1.1. Nhóm vật chất cội nguồn
Nhóm
vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Hạt sóng xanh là chỉ có một
yếu tố cấu tạo thành hạt sóng xanh. Hạt sóng xanh là nguồn gốc, là cấu trúc
chưa được chuyển sinh thành hạt năng lượng. Tuy nhiên, hạt sóng xanh lại chứa đựng
nhiệt lượng lớn vô cùng để chuyển sinh thành từ hạt năng lượng tận cùng cho tới
toàn bộ vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
Có
thể nói, cấu trúc Trụ – Tâm của hạt sóng xanh chưa được sinh phát thành trạng
thái năng lượng và sóng điện.
1.2. Nhóm
vật chất hoại diệt
Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại
diệt.
Nhóm
năng lượng hoại diệt là nhóm vật chất có trí tuệ sơ khai được nâng cấp, chuyển
sinh từ nhóm hạt sóng xanh.
Hạt
năng lượng hoại diệt được cấu tạo thành bởi 3 yếu tố: sợi mã sóng trí tuệ màu
xanh nõn chuối, trạng thái năng lượng màu nâu bị thối hóa, hình tướng hạt năng
lượng hoại diệt là hình elip.
Trụ
– Tâm của hạt năng lượng hoại diệt chính là trạng thái năng lượng bị thối hóa,
sóng điện bị lưu giữ trong hạt năng lượng hoại diệt.
Hạt
sóng xanh di chuyển thẳng và không quay tròn để biến đổi, chuyển sinh thành hạt
năng lượng hoại diệt. Vì di chuyển trong môi trường trung tính nên nhiệt lượng
của hạt sóng chưa được giải phóng hết cũng như chưa được mã hóa hoàn chỉnh
thông tin của quá trình tương tác khi di chuyển.
Có
thể nói, cấu trúc Trụ – Tâm của hạt năng lượng hoại diệt có trạng thái năng lượng,
sóng điện bị thối hóa vì không liên kết nâng cấp
được với các cấu trúc khác. Đặc biệt trong hạt năng lượng hoại diệt còn nhiệt
lượng lớn chưa được sinh phát hết trong sợi mã sóng trí tuệ.
1.3. Nhóm
siêu vật chất
Nhóm
siêu vật chất gồm có năm nhóm hạt năng lượng siêu phức tạp, Tuệ linh, các siêu
hạt năng lượng.
Hạt
năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức
tạp được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi
mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm
của hạt năng lượng tận cùng này là trạng thái năng lượng, sóng điện siêu việt
nhất Vũ trụ. Từ đó mà tạo thành sức mạnh cho Tuệ linh, cũng như để duy trì sự tồn
tại, phát triển của Vũ trụ.
Siêu
hạt năng lượng tận cùng được hình thành từ bộ lọc năng lượng của Tuệ linh đã
chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Siêu hạt năng lượng được
hình thành bởi 3 yếu tố cấu tạo thành: siêu sợi mã sóng trí tuệ, siêu trạng
thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm của siêu hạt năng lượng
tận cùng có siêu trạng thái năng lượng, sóng điện siêu việt hơn cả năng lượng
ban đầu cấu tạo thành Tuệ linh.
Trụ – Tâm của nhóm
siêu vật chất là trạng thái năng lượng, sóng điện có sức mạnh siêu việt nhất so
với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
1.4. Nhóm
vật chất phức tạp
Nhóm
vật chất phức tạp gồm có năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức
tạp và cấu trúc linh hồn an trụ trong cỏ cây, đất đá, muông thú.
Hạt
năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp
được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã
sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm của
hạt năng lượng tận cùng này là trạng thái năng lượng, sóng điện phức tạp an trụ
và vận hành tất cả vật chất giản đơn của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp
và trở thành cấu trúc Linh hồn.
Cấu
trúc Linh hồn an trụ trong thân cây, trong đất đá, trong muông thú là cấu trúc
năng lượng được liên kết giữa vô số hạt năng lượng dương, hạt năng lượng âm, hạt
năng lượng trung tính. Linh hồn được cấu tạo bởi 3 yếu tố là Trụ – Trí (tổng mã
sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái, sóng điện trong Trụ linh
và linh hồn), hình tướng linh hồn. Trụ linh là trung tâm vận hành, sinh phát trạng
thái năng lượng, sóng điện ra toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong cấu trúc
linh hồn. Trụ – Tâm của cấu trúc linh hồn được nâng cấp cao hơn, sức mạnh hơn,
phức tạp hơn so với năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ phức
tạp.
Trụ
– Tâm của nhóm vật chất phức tạp là trạng thái năng lượng, sóng điện có sức mạnh
siêu việt thứ hai so với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. 1.5. Nhóm
vật chất giản đơn
Nhóm
vật chất giản đơn là từ năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ
giản đơn cho tới các phôi năng lượng âm dương, Trụ linh, nguyên tử, phân tử, tế
bào, cỏ cây, đất đá, kim loại, nước, khí, chất lỏng, con người, muông thú, hành
tinh, thiên hà, Vũ trụ.
Hạt
năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn
được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã
sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm của
hạt năng lượng tận cùng này là trạng thái năng lượng, sóng điện giản đơn để
chuyển sinh thành vật chất giản đơn của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp
và trở thành cấu trúc với vô số các khối thiên hà của Vũ trụ.
Từ phôi năng lượng âm
dương cho tới vô số các khối thiên hà cấu tạo thành tinh cầu Vũ trụ, có vô số vật
chất có một Trụ linh như cỏ cây, thân tướng con người, thân tướng muông thú,
côn trùng, sinh vật, vi khuẩn…, có vô số vật chất còn lại là sự liên kết của vô
số các cấu trúc Trụ linh để cấu tạo thành các nguyên tử, phân tử, tế bào…, khối
thiên hà và tinh cầu Vũ trụ. Tuy nhiên, tất cả đều được cấu tạo bởi 3 yếu tố là
tổng sợi mã sóng trí tuệ (Trụ – Trí), tổng trạng thái năng lượng (Trụ – Tâm),
hình tướng cấu trúc vật chất. Trụ – Tâm của những vật chất giản đơn này có trạng
thái năng lượng, sóng điện giản đơn hơn nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật
chất. Đặc biệt, Trụ – Tâm của nhóm vật chất giản đơn lại dễ dàng kích nổ được
năng lượng hoại diệt nếu đa sóng điện dương và dễ
dàng bị năng lượng hoại diệt đồng hóa nếu đa sóng điện âm.
Trụ
– Tâm của nhóm vật chất giản đơn là trạng thái năng lượng, sóng điện có sức mạnh
siêu việt thứ ba so với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Trụ –
Tâm của nhóm vật chất này hơn được nhóm hoại diệt vì sóng điện, trạng thái năng
lượng có liên kết tuần hoàn với nhau để nâng cấp cấu trúc vật chất. Điều mà Trụ
– Tâm của nhóm năng lượng hoại diệt không có.
2. Cấu
trúc Trụ – Tâm của Tuệ linh và con người
Con
người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, chúng ta cần phải thấu hiểu cấu
trúc Trụ – Tâm của con người và Tuệ linh. Việc thấu hiểu cấu trúc Trụ – Tâm của
con người và Tuệ linh chính là chìa khóa, là cơ chế để liên kết, tuần hoàn, kiểm
soát được trạng thái năng lượng, sóng điện từ Trụ linh đến với tất cả vật chất
trong và ngoài Vũ trụ. Cấu trúc Trụ – Tâm của Tuệ linh và con người như sau:
2.1. Cấu
trúc Trụ – Tâm của Tuệ linh
Tuệ linh là một cấu trúc
năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung
tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di
chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.
Tuệ linh chính là dạng
sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống chủ yếu tại không
gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần, Phật, Thiên Chúa…
theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người trong Trụ linh gốc.
Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt
năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá
trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái
cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt dương tổng hợp và những
hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc
16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16
hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh
hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ
linh em bé và Tuệ linh trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt
năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết với nhau tạo thành cấu trúc
năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu
trúc Tuệ linh cụ thể là:
-
Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ
được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu
trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh
gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình
thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề
cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái
năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh
thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.
-
Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong
Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ
trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng
điện
ngoài hành tinh,
theo cách gọi của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái đất.
Tuệ linh không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh ra là
do cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tạo
thành. Đó là những hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương hợp lại thành phôi
âm dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.
Tam
hợp yếu tố hợp thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ trong
Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh), hình tướng
Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu
quá trình hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng
âm dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã
sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi
là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân
tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng
trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ
đó phân tách thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo
thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân
tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng
ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy,
Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã
sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt
năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí tuệ
được sinh phát
ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ) liên kết, tuần
hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới toàn bộ cấu trúc
hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.
Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con
người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là
một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung
tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu
trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của
Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có
sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc
vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn.
Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc Trụ linh có
sóng điện đa âm.
Khi
gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.
Thông
qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy trí tuệ của dạng sống Tuệ linh là
siêu việt nhất, tinh hoa nhất của tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ.
Chính vì vậy, sứ mệnh cải tạo bộ lọc trong Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt
năng lượng là sứ mệnh tiên phong của họ.
2.2. Cấu
trúc Trụ – Tâm (Tâm) của con người
Ba
yếu tố hợp nhất cấu tạo ra con người gồm có, Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ:
- Yếu tố đầu tiên là Thân tướng:
Thân tướng được hình thành do duyên người cha và người mẹ. Đó là tinh trùng
mang tính dương của người cha và trứng mang tính âm của người mẹ hợp thành phôi
thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng người mẹ do cơ chế phân tách tế
bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của người mẹ. Trải qua quãng thời
gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn thiện, em bé được sinh ra, cất
tiếng khóc chào đời. Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân tướng
để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến tháng thứ
7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được xuống
luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp sẽ
đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa
sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh
giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em
bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập
vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các
con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con
người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những
việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương;
khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu
thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy
nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi
tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai
trộm. Nếu chúng đầu thai trộm thành người thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên
hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn thú dữ chưa giết hại được người nào
mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do không đủ năng lượng âm dương cân bằng
để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn
quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người cha mẹ được gieo duyên có thân tướng
thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày
sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu
em bé có sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể
phá thai được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ
linh, Linh hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ
linh người mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai
vào con người đều được gọi là Tâm.

-
Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ: Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào
em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải
qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư
duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới
quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát
triển từ hai phần:
+
Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát
ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí
tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ
linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều
lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí
tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn.
+
Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác
với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền
vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân
tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng
trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá
trình tương tác giữa các tướng với nhau.
Như
vậy, Trụ – Tâm của Tuệ linh là siêu sóng điện, siêu trạng thái năng lượng. Tuệ
linh lại trở thành Trụ – Tâm của con người khi hóa thân, an trụ trong thân tướng
con người. Điều này giúp cho Tâm của con người có được cả siêu trí tuệ và siêu
trạng thái năng lượng, siêu sóng điện an trụ trong cơ thể.
Mục đích của việc con
người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh là để thông qua thân tướng với trí tuệ,
sóng điện giản đơn, siêu
trí tuệ, siêu trạng thái năng lượng, siêu sóng điện của Tuệ linh sẽ bị tương
tác, bí bách, sinh nhiệt mà tạo ra tận cùng vô số các trường hợp phân tách,
liên kết mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh của
Tuệ linh. Đây được gọi là thông qua môi trường tu hành nhân gian để bộc phát được
hết tất cả độc của hạt năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương trong Trụ
linh của Tuệ linh. Chỉ khi bộc phát hết mới tìm ra được phương pháp để cấu tạo
lại Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn cho Tuệ linh.
3. Bản chất
Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh
Trụ
– Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện) của dạng sống Tuệ linh là siêu sức mạnh,
là siêu việt nhất trong tất cả các dạng sống, các nhóm vật chất trong và ngoài
Vũ trụ. Dạng sống Tuệ linh được hình thành đầu tiên sau vụ nổ của tinh cầu năng
lượng khổng lồ. Họ được hình thành và trưởng thành. Họ xây dựng, kiến tạo, phát
triển cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ hoàn chỉnh như ngày nay từ năm
nhóm năng lượng hỗn độn sau vụ nổ.
Vũ
trụ phát triển và không ngừng giãn nở. Đó là do dạng sống Tuệ linh lao động, kiến
tạo và vận hành. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển lớn mạnh của Vũ trụ, năng lượng
hoại diệt cũng ngày càng lớn mạnh. Năng lượng hoại diệt với bản chất là đi tìm
những cấu trúc năng lượng, vật chất đa sóng điện âm để xả sóng điện dư thừa nhằm
tồn tại. Trong khi đó, Vũ trụ lại có những cấu trúc vật chất, năng lượng đa âm.
Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt đã di chuyển vào Vũ trụ thành những
cơn bão để đi truy tìm sự sống cho chính
nó. Có quá nhiều Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt đồng hóa và hoại diệt vĩnh viễn,
có quá nhiều cấu trúc vật chất bị đồng hóa và hoại diệt. Tuy nhiên, cũng vì có
năng lượng hoại diệt trong Vũ trụ, nên khi chúng bị kích nổ bởi năng lượng
dương đã giúp tạo ra nhiệt lượng lớn cho quá trình Vũ trụ phân tách liên kết
theo hướng bền vững và lớn mạnh.
Dạng
sống Tuệ linh bị hoại diệt nhiều, chưa tìm ra được phương pháp đối phó với năng
lượng hoại diệt chính là vấn đề bản chất của Trụ – Tâm. Vấn đề đó là quá trình
hình thành 3 dạng vật chất sau vụ nổ lớn, các phôi năng lượng âm dương của các
Tuệ linh cho tới khi trưởng thành chưa kiểm soát được sóng điện để kích nổ,
chưa sử dụng được năng lượng hoại diệt. Đặc biệt hạt năng lượng âm gốc chưa bộc
phát hết các kịch bản sinh phát ra trạng thái năng lượng âm, hạt năng lượng
dương gốc cũng chưa bộc phát hết các kịch bản sinh phát ra trạng thái năng lượng
dương. Tức là độc của hạt năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương chưa
bộc phát hết. Do chưa bộc phát hết nên chưa tìm ra hết bản chất cũng như khả
năng kiểm soát của Trụ – Tâm ở dạng sống Tuệ linh. Chính vì thế mà chưa tìm ra
bài thuốc, phương pháp, cơ chế để sử dụng được năng lượng hoại diệt cho việc
chuyển sinh bền vững. Điều mà sau này tìm được cơ chế, đó là cơ chế chuyển sinh
được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là hấp thụ ồ ạt, kích nổ được năng lượng
hoại diệt mà vẫn an toàn để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng phát triển bền
vững cho mình và các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
Bản
chất Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh khi chưa chuyển sinh được Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng: -
Trụ – Tâm có bản chất Kết: Đó là thu hút, hấp thụ trạng thái năng lượng,
sóng điện từ mạnh cho tới siêu mạnh. Nguyên nhân là do hạt âm của phôi âm dương
gốc có sóng điện âm từ mạnh cho tới siêu mạnh. Do đó, những Tuệ linh đó có
khuynh hướng truy tìm môi trường, cấu trúc sóng điện có khớp nội dung giống với
hạt âm để kết, hút về. Họ sẽ không thực hành được đời sống Tỏa là cho đi, lan tỏa,
giúp đỡ, cống hiến, hy sinh. Nguyên nhân vì hạt năng lượng dương quá yếu nên bị
hạt năng lượng âm chi phối theo đặc tính của hạt năng lượng âm. Những Tuệ linh
có cấu trúc Trụ – Tâm kết như vậy sẽ dễ dàng bị năng lượng hoại diệt xâm nhập để
đồng hóa và hoại diệt.
- Trụ – Tâm có bản chất Tỏa.
Đó là tỏa đi, cho đi, truyền tải, giúp đỡ, cống hiến, hy sinh vì vạn vật.
Nguyên nhân là do hạt dương trong Trụ linh gốc có sóng điện dương từ mạnh cho tới
siêu mạnh, trong khi đó hạt âm gốc chỉ có sóng điện chớm âm. Chính vì điều này
mà hạt năng lượng dương liên kết được với tất cả các nhóm vật chất khác bởi hạt
năng lượng âm chỉ là chớm sóng điện âm. Tuy nhiên, nếu cơn bão năng lượng hoại
diệt di chuyển vào hoặc các Tuệ linh này di chuyển gặp phải cơn bão năng lượng
hoại diệt cũng sẽ bị phân rã mà hoại diệt.
Bản
chất Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh chưa được bộc phát hết. Chưa bộc phát hết
tức là trạng thái năng lượng của hạt âm và dương gốc trong Trụ linh chưa sinh
phát ra hết tất cả sức mạnh hay yếu trong tất cả các kịch bản cũng như môi trường
tương tác. Chính vì điều này mà vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra môi trường tu
hành cho dạng sống Tuệ linh ở Trái đất thông qua thân tướng là con người. Quá
trình tu hành trong thân tướng giản đơn sẽ giúp cho Trụ linh sinh phát ra hết tất
cả sức mạnh hay yếu của trạng thái năng lượng trong tất cả các kịch bản và môi
trường tương tác. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ tìm ra được cơ chế, phương
pháp để Tuệ linh hấp thụ và kích nổ được năng lượng hoại diệt. Đó là con đường
chuyển sinh bền vững để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ
linh.
4. Bản chất
Trụ – Tâm (Tâm) của con người
Con
người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh, là môi trường tu hành của dạng sống
Tuệ linh. Dạng sống Tuệ linh thông qua thân tướng con người để tu hành ở nhân
gian nhằm tạo ra sự bí bách, độ nén, đau khổ, an vui, hạnh phúc… trong cuộc sống
nhân gian để bộc phát hết độc của hạt âm và thiện của hạt dương trong Trụ linh.
Cũng thông qua quá trình bộc phát độc và thiện trong Trụ linh, sẽ thấy rõ quá
trình năng lượng hoại diệt tấn công đồng hóa cũng như khả năng kích nổ năng lượng
hoại diệt của Tuệ linh trong từng trường hợp tương tác với các hoàn cảnh môi
trường khác nhau. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên mới tìm ra được phương pháp siêu
việt áp dụng chung cho tất cả các Tuệ linh để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng. Chỉ khi chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới có khả
năng hấp thụ và kích nổ được ồ ạt năng lượng hoại diệt để sản sinh ra các siêu
hạt năng lượng mà vẫn an toàn.
Vô
số Tuệ linh hóa thân tu hành ở nhân gian với vô số các kịch bản tương tác trong
các điều kiện môi trường khác nhau đã tạo ra bản chất Trụ – Tâm của con người.
Con
người là tam hợp yếu tố cấu tạo thành. Thân tướng được coi như ngôi nhà giam cầm
Tâm (Tuệ linh), Trụ – Tâm là Tuệ linh
an trụ trong ngôi nhà thân tướng, Trụ – Trí (Trí tuệ) là cánh cửa trí tuệ để Trụ
linh tương tác với tất cả các Tướng trong môi trường khác nhau. Chính vì điều
này đã tạo ra sự kỳ diệu cho con đường tu hành của Tuệ linh ở nhân gian. Thông
qua vô số kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian đã giúp cho mục đích tu hành đã
đạt được thành công.
Bản
chất Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện) của con người gồm có Độc Tâm
(độc được bộc phát), Thiện Tâm (thiện được bộc phát) và phương pháp dùng Thiện
Tâm chuyển hóa Độc Tâm (hành trình chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ
linh) của Tuệ linh:
4.1. Độc
Tâm của con người
Khi trạng thái năng
lượng, sóng điện của con người bộc phát trở thành Độc Tâm, Độc Tâm thể hiện bản
chất là Tâm chấp ngã, Tâm sân, Tâm hận thù. Cũng có thể hiểu đó là tính quỷ
quái, tính xảo quyệt của Tâm bởi trí tuệ bám định vào giả tướng để vơ vét giả
tướng về nơi thân tướng mình. Trong trạng thái năng lượng, sóng điện của Độc
Tâm, cảnh giới Tâm chấp ngã được coi là nền móng, tiếp đến là cảnh giới Tâm sân
và cảnh giới cao nhất là Tâm hận thù. Độc Tâm hay có thể gọi Tâm chấp ngã, Tâm
sân, Tâm hận thù là gốc của ác nghiệp. Độc Tâm mà vững chắc, lớn mạnh thì luôn
luôn sinh khởi ra hành động tạo ác nghiệp, luôn vì lợi ích ích kỷ về mình mà
gây tổn thương cho vạn vật, Tuệ linh, con người. Do đó muốn triệt bỏ, diệt bỏ,
để không sinh khởi hành động tạo ác nghiệp thì phải thấu hiểu được Độc Tâm. Thấu
hiểu để gieo duyên triệt bỏ, diệt bỏ Độc Tâm thì sẽ không còn sinh khởi hành động
tạo ác nghiệp. Các biểu hiện của bản chất Tâm chấp ngã là:
Tâm chấp ngã vào giả tướng có:
Tâm
chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng có để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng
đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau
khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học
tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm
nó chấp ngã.
- Khi có địa vị chức tước, họ
tham ô tham nhũng, hối lộ, chạy chức chạy quyền, hãm hại người hiền tài, chỉ biết
lợi ích ích kỷ về mình mà gây tổn hại cho dân tộc, Tuệ linh, con người. Vì Tâm
nó thấy quả báo của hành động tạo ác nghiệp đó nên nó bí bách, đau khổ mà luẩn
quẩn như tù nhân trong thân tướng. Nó chấp ngã vì thân tướng không thực hành sứ
mệnh để cải tạo Trụ linh.
-
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào thân tướng khi giàu sang phú quý. Đó là sự hưởng thụ ích kỷ, không những
không giúp người khó khăn nghèo khổ, mà còn làm giàu dựa trên những thủ đoạn
gây tổn hại cho người khác. Tâm nó biết sẽ phải nhận quả báo vì trí tuệ bám định
vào giả tướng mà thân tướng hành động tạo ác nghiệp. Tâm nó chấp ngã vì thân tướng
không học và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh của Tuệ linh.
Tâm bí bách, luẩn quẩn,
xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào lợi ích của gia đình
mình mà không chia sẻ, không giúp đỡ mọi người. Thân tướng chỉ chăm chăm vì lợi
ích ích kỷ cho gia đình mình mà không học, cải tạo Trụ linh nên Tâm nó chấp
ngã. -
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào giả tướng có thân tướng xinh đẹp. Họ bất chấp việc làm gia đình người
khác tan nhà nát cửa để thỏa mãn sắc dục thông dâm tà dâm, để rồi tạo thành ác
nghiệp cho Tâm. Tâm không được thực hành cải tạo Trụ linh nên Tâm nó chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng không có:
Tâm
chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có để tìm mọi cách thỏa mãn giả
tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho
Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng
không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm.
Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
-
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào thân tướng bệnh tật, không đủ sức khỏe để giúp đỡ người khác. Điều này
khiến cho Tâm thấy lãng phí một kiếp người nên bí bách đau khổ. Tâm nó chấp ngã
vì thân tướng không thực hành sứ mệnh cho Tâm.
-
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào thân tướng không giàu có. Điều này dẫn đến hành động làm giàu bất chấp
gây tổn hại cho mọi người để thỏa mãn lợi ích của mình. Tâm nó nhìn thấy kết quả
nghiệp báo và không được thực hành sứ mệnh nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn
trong thân tướng. Vì vậy, tâm nó chấp ngã.
Tâm nó bí bách, luẩn
quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào thân tướng không
có địa vị cao. Điều này khiến cho thân tướng chạy chức chạy quyền gây tổn hại đến quốc gia
dân tộc. Nó nhìn thấy nghiệp báo phải chịu và không được thực hành cải tạo Trụ
linh nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Vì vậy, Tâm nó chấp
ngã.
-
Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
bám định vào thân tướng không có người đẹp bên cạnh. Điều này dẫn đến hành động
bỏ vợ để đi ngoại tình, thông dâm, tà dâm gây đau khổ cho vợ con và gia đình
khác. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và việc không được thực hành cải tạo Trụ linh
nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng yêu thương, sở thích:
Tâm
chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng yêu thương để tìm mọi cách thỏa mãn
giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm
cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng
không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm.
Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
-
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào sắc dục thông dâm tà dâm, để thỏa mãn dục vọng mà gây tổn thương cho vợ
con và gia đình khác. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo, và vì không được thực hành cải
tạo Trụ linh nên nó đau khổ bí bách luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp
ngã.
Tâm bí bách, luẩn quẩn,
xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào các thú vui, sở thích cờ
bạc nghiện ngập, chỉ vì lợi ích ích kỷ mà gây cho người thân và nhiều người đau
khổ. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên
nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng thù ghét:
Tâm
chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng thù ghét để tìm mọi cách thỏa mãn giả
tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho
Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng
không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm.
Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
-
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào giả tướng thù ghét ai đó, không thỏa mãn hay ai đó làm tổn thương đến
ta. Điều này dẫn đến hành động tạo ác nghiệp gây tổn hại cho người khác chỉ vì
thỏa mãn sự trả thù. Tâm nó thấy được nghiệp báo và không được thực hành cải tạo
Trụ linh nên nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp
ngã.
-
Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
bám định vào giả tướng không thích các thân tướng nào đó. Điều này khiến cho
Tâm không thể thực hành cải tạo Trụ linh bằng cách cống hiến vì vạn vật, Tuệ
linh, con người, nên Tâm nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn. Đó là Tâm chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng cầu được:
Tâm chấp ngã vì trí
tuệ bám định vào giả tướng cầu được để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà
không cống hiến vì vạn vật,
mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột
trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành
sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
-
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào việc cầu được danh vọng, cầu được tiền tài, cầu được sắc dục, cầu được
bình an… Điều này, khiến cho thân tướng chỉ vì lợi ích ích kỷ của chính mình mà
gây tổn thương đến mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Nó biết trước nghiệp báo là để
cầu được sẽ phải đánh đổi con đường cải tạo Trụ linh, sẽ phải chịu luân hồi vô
số kiếp mà vẫn chưa cải tạo Trụ linh thành công. Vì vậy, Tâm nó đau khổ, bí
bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.
-
Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
bám định vào giả tướng cầu được rồi lại chuyển sang bám định vào giả tướng có.
Khi đó trí tuệ nó u mê mà ngạo mạn chỉ vì lợi ích ích kỷ mà gây tổn hại lợi ích
của mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và nó không được
thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng.
Đó là Tâm chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng cầu không được:
Tâm chấp ngã vì trí
tuệ bám định vào giả tướng cầu không được để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó
mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ,
luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri
thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh
cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
Tâm
nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào
giả tướng cầu không được về địa vị, về tiền tài, sức khỏe, bình an, con cái… Khi
đó, thân tướng nó thù ghét và hành động phỉ báng Thiên Địa, gây tổn thương đến
vạn vật, con người, Tuệ linh. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và không được thực
hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, luẩn quẩn, đau khổ trong thân tướng. Đó
là Tâm chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng có trí tuệ:
Tâm
chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng có trí tuệ để tìm mọi cách thỏa mãn
giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm
cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng
không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm.
Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
-
Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
bám định vào nó có trí tuệ hơn người bởi bằng cấp, bởi học hàm, bởi học vị, bởi
giàu có, bởi địa vị mà khinh khi người khác, thậm chí trục lợi về mình mà hại
người. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên
nó bí bách, luẩn quẩn đau khổ trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.
Tâm nó bí bách, luẩn
quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào nó có trí tuệ hơn
người, bám định vào nó có chức sắc trong tôn giáo, bám định vào nó trí tuệ thần
thông hơn người. Điều này khiến cho thân tướng lợi dụng vào tôn
giáo, vào tín ngưỡng để trục lợi về mình và gây tổn thương cho mọi người, vạn vật,
Tuệ linh. Tâm nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn, trong thân tướng. Đó là Tâm chấp
ngã.
-
Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám
định vào việc biết và đọc được nhiều kinh văn. Điều này khiến cho trí tuệ ngạo
mạn khinh khi người khác khi cho rằng mình có trí tuệ hơn người mà không có sự ứng
nghiệm vào quy luật vạn vật xem có đúng không. Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, khi
không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng.
Đó là Tâm chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng không có trí
tuệ:
Tâm
chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có trí tuệ để tìm mọi cách thỏa
mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này
làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân
tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho
Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
-
Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
bám định vào việc nó không có trí tuệ, nên không đủ khả năng thấu hiểu hay giúp
đỡ người khác. Điều này khiến cho Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, đau khổ vì trí tuệ
tự ti mà không thực hành học cũng như cải tạo Trụ linh. Đó là Tâm chấp ngã.
Tâm nó bí bách, luẩn
quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có
trí tuệ, dẫn đến không trau dồi
học hỏi để nâng cao trí tuệ. Khi bị người khác lừa hại làm điều sai trái mà
không phân định được đúng sai, dẫn đến hành động tạo ác nghiệp. Tâm nó thấy thực
hành cải tạo Trụ linh sai nên nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng.
Đó là Tâm chấp ngã.
…
Tâm chấp ngã vào giả tướng hành động:
Tâm
chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng hành động để tìm mọi cách thỏa mãn
giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm
cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng
không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm.
Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.
Tâm
bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả
tướng hành động vì lợi ích ích kỷ cá nhân, gia đình, dòng họ mình mà gây tổn
thương đến mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Tâm nó thấy được nghiệp báo và không
được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, luẩn quẩn, đau khổ trong thân
tướng. Đó là Tâm chấp ngã.
Tâm chấp ngã vào giả tướng không hành động:
Tâm chấp ngã vì trí
tuệ bám định vào giả tướng không hành động để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng
đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau
khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học
tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm
nó chấp ngã. Tâm
bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào các
giả tướng mang lại lợi ích cho thân tướng của nó, lợi ích cho gia đình và dòng
họ của nó mà gây tổn thương vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này khiến cho
tâm không được thực hành cải tạo Trụ linh nên tâm đau khổ, luẩn quẩn trong thân
tướng. Đó là Tâm chấp ngã.
Như
vậy, Tâm chấp ngã là nền móng của Độc Tâm. Khi Tâm đã chấp ngã thì sẽ luôn sinh
khởi sang cảnh giới cao hơn là Tâm sân và Tâm hận.
B. Cảnh
giới của Tâm sân
Tâm
sân có biểu hiện như là ngọn lửa thiêu đốt tất cả vạn vật, nhưng bản chất là trạng
thái năng lượng âm, sóng điện âm (độc tâm) bộc phát ra rất mạnh. Tâm sân có
tính hỏa theo cách biểu hiện, nó có tính hủy diệt ngay và luôn. Tâm sân từ ngọn
lửa nhỏ bé ban đầu sẽ trở thành ngọn lửa lớn khi gặp Tâm sân khác hợp lại. Nó sẽ
trở thành ngọn lửa cực đại thiêu đốt vạn vật nếu ngọn lửa sân hợp lại bởi nhiều
ngọn lửa Tâm sân khác. Ngọn lửa Tâm sân sẽ thiêu đốt bất cứ vạn vật, Tuệ linh,
con người khi mà nó đi qua. Đó là ngọn lửa của sự đố kỵ, ngọn lửa của sự ngạo mạn,
ngọn lửa của sự sát sinh, ngọn lửa của sự giết hại, ngọn lửa của sự bất hiếu,
ngọn lửa của sự bất kính, ngọn lửa của sự bất nghĩa, ngọn lửa của sự bất nhân,
ngọn lửa của chiến tranh, ngọn lửa của sự hủy hoại Vũ trụ.
Tâm sân như ngọn lửa,
nó bùng phát ngay và luôn nên khi bất kỳ con người nào mang ngọn lửa của Tâm
sân thì ta dễ dàng nhìn thấy. Tuy là ngọn lửa mang tính hủy diệt, nhưng vì là ngọn lửa Tâm sân
nên nó dễ dàng bị dòng nước mát của Thiện Tâm dập tắt.
Nguyên nhân của
sự sinh khởi cảnh giới Tâm sân:
-
Do Tâm chấp ngã vì trí tuệ u mê không mở cánh cửa trí tuệ hướng ra Vũ
trụ quan xung quanh để học hỏi tri thức hai Chân lý và thực hành cải tạo Trụ
linh cho Tuệ linh. Khi đó Tâm nó như tù nhân luẩn quẩn trong nhà tù thân tướng,
nó suy nhược năng lượng dương và phân rã dần, nó thấy phí hoài một kiếp người,
nó thấy nghiệp báo và vòng sinh tử luân hồi vô lượng không có điểm dừng với nó
nếu trí tuệ vẫn u mê.
- Do năng lượng dương trong cấu
trúc Trụ linh của Tuệ linh (Tâm) không đủ mạnh để chi phối, dẫn dắt trí tuệ và
thân tướng học tri thức hai Chân lý cũng như thực hành cải tạo Trụ linh. Đây là
nguyên nhân nội lực không có sức mạnh.
Chính vì hai nguyên
nhân trên. Khi Tâm nó chấp ngã vì trí tuệ không diệt được u mê, Tâm cũng không
đủ sức mạnh chỉ dẫn trí tuệ nghe theo, nên Tâm nó phải phản kháng. Sự phản
kháng bằng cách sinh khởi thành ngọn lửa thiêu đốt để cho trí tuệ nhìn nhận lại
sự u mê mà mở cánh cửa trí tuệ, để học và thực hành cải tạo Trụ linh. Sự phản
kháng với chấp nhận tạo ác nghiệp để hoại diệt đi thân tướng ngục tù, để được
chuyển sinh sang kiếp mới với mong muốn được thực hành cải tạo Trụ linh. Như vậy
từ cảnh giới của ngọn lửa Tâm sân sẽ dẫn đến hành động tạo nghiệp ác nếu năng
lượng của Tâm sân đủ mạnh. Khi năng lượng của Tâm sân đủ mạnh nó sẽ thiêu đốt vạn
vật thế gian và Tuệ linh, con người trên đường nó đi qua. Nếu năng lượng ngọn lửa
Tâm sân không đủ mạnh để phản kháng hay tạo nghiệp ác thì nó sẽ bị dập tắt mà chuyển hóa
sang cảnh giới tối thượng của Độc Tâm là Tâm hận thù.
C. Cảnh
giới của Tâm hận thù
Cảnh
giới của Tâm hận thù chính là cảnh giới của băng giá, của sự đóng băng, của sự ẩn
trong sâu thẳm, nó mang tính âm siêu mạnh, nó luôn kết lại và được che đậy bởi
sự yên bình như mặt nước, mặt băng.
Nguyên
của cảnh giới Tâm hận thù được sinh khởi từ việc Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định
vào các giả tướng và vì năng lượng trong Tuệ linh không đủ mạnh để chỉ dẫn trí
tuệ nghe theo. Chính vì 2 nguyên nhân này mà từ Tâm chấp ngã chuyển hóa thành
Tâm hận thù; hoặc từ Tâm chấp ngã rồi chuyển hóa thành Tâm sân, khi Tâm sân
không đủ mạnh nó chuyển hóa thành Tâm hận thù.
Tâm
hận thù là cảnh giới tối cao của Độc Tâm con người và Tuệ linh.
Tâm hận thù nó ẩn sâu
bên trong như những tảng băng, nó truyền từ đời này sang đời khác, từ kiếp này
cho đến nhiều kiếp khác. Nó chỉ chờ cơ hội là sẽ bùng phát thành sự hủy diệt cả
nhân loại, Tuệ linh, vạn vật bằng cách nó lan truyền hận thù từ người này sang
người khác như con vi rút lây nhiễm. Đó là sự hận thù mà hãm hại nhau, sự hận
thù mà giết người, sự hận thù mà vi phạm giá trị đạo đức, sự hận thù mà tạo
thành mê tín dị đoan, sự hận thù mà phân biệt sắc tộc, sự hận thù mà tạo thành
chiến tranh hủy diệt. Sự hận như vô số con vi rút làm cho con người tự hoại diệt
chính mình, tự tạo ra chiến tranh hủy diệt, nó làm cho con người mê lầm lạc lối
và mê tín dị đoan để rồi chính tự con người hoại diệt lẫn nhau. Cảnh
giới Tâm hận thù trong Tâm là tảng băng chìm, do đó nếu ta có dùng dòng nước
mát của Thiện Tâm cũng chỉ làm cho tảng băng đó dày hơn và thêm hận thù. Tảng
băng hận thù chỉ bị tan khi gặp ánh sáng mặt trời của hai Chân lý, bởi hai Chân
lý chính là sự thật của Vũ trụ, Tuệ linh, con người, là nhân quả, là giác ngộ.
Hai Chân lý sẽ thiêu đốt sự giả dối che đậy của tảng băng hận thù trong nhiều đời
nhiều kiếp, sẽ đánh tan nghiệp ác, nhân quả trong tảng băng hận thù.
Bản
chất của Độc Tâm còn thể hiện ở bản tính tự ái, đố kỵ, sợ bị nói sự thật về
nhân quả. Người có Độc Tâm luôn luôn có tính tự ái, đố kỵ và sợ bị nói sự thật
về nhân quả. Do đó để phơi bày Độc Tâm là Tâm chấp ngã, Tâm sân, Tâm hận thù
thì chỉ cần dùng ánh sáng của hai Chân lý và sự thật về nhân quả sẽ khiến cho
người có Độc Tâm phơi bày ra. Tiếp đến là tiếp tục dùng tri thức của hai Chân
lý để người có Độc Tâm học và thực hành kiểm soát cũng như triệt bỏ Độc Tâm và
chuyển hóa thành Thiện Tâm.
4.2. Thiện
Tâm của con người
Khi trạng thái năng
lượng, sóng điện của con người được bộc phát hết và chuyển sinh thành Thiện
Tâm, Thiện Tâm thể hiện bản chất là Tâm cống hiến, Tâm an lạc, Tâm buông xả. Điều
này cho thấy rằng Tâm đã có sức mạnh của tri thức hai Chân lý để thực hiện đời
sống cống hiến tới vạn vật, Tuệ linh và con người nhằm cải tạo Trụ linh thành bộ
lọc năng lượng. Trong trạng thái năng lượng, sóng điện của Thiện Tâm, cảnh giới
Tâm cống hiến được coi là nền móng, tiếp đến là cảnh giới Tâm an lạc và cảnh giới
cao nhất là Tâm buông xả. Thiện
Tâm là gốc của thiện nghiệp, của phước báo. Thiện Tâm mà vững chắc, lớn mạnh
thì luôn luôn sinh khởi thành hành động tạo thiện nghiệp, luôn vì lợi ích của vạn
vật, Tuệ linh, con người. Do đó cần phải duy trì, phát triển Thiện Tâm để đi tới
đích của con đường cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt, trên
hành trình đi trên con đường Thiện Tâm cần dẫn dắt, giúp đỡ Tuệ linh, con người,
vạn vật chuyển hóa Độc Tâm thành Thiện Tâm.
Để
có được Thiện Tâm, để duy trì và phát triển bền vững Thiện Tâm, Trí tuệ của
thân tướng phải hợp nhất với Tâm tại Trụ linh để thấu hiểu tri thức của hai Chân
lý và không ngừng nghỉ việc thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Điều này gọi là Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu và cải tạo Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng viên mãn.
Thiện Tâm có 3 cảnh giới:
A. Cảnh
giới của Tâm cống hiến
Cảnh giới của Tâm cống
hiến được coi là nền móng vững chắc cho Thiện Tâm. Khi xây dựng được nền móng của
Tâm cống hiến, Tâm luôn luôn sinh khởi thành Tâm an lạc và Tâm buông xả hết chấp
ngã để hành động tạo thiện phước mang lại lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh và con
người. Cảnh giới của Tâm cống hiến là cảnh giới mà Tâm không còn chấp ngã vì
trí tuệ không còn bám định vào bất kỳ giả tướng nào. Trí tuệ đã chủ động mở
cánh cửa trí tuệ để học và thấu hiểu tri thức hai Chân lý cũng như đã và đang
thực hiện sứ mệnh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Do đó, đây là cảnh
giới mà Tâm mang tình yêu thương vì lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh, con người mà
không màng đến lợi ích cá nhân của mình. Các biểu hiện của bản chất Tâm cống hiến là:
Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng có:
Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng có. Thay vào đó, Tâm đã được thân
tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích
tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được
cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng giàu có, không ích kỷ hưởng thụ và hưởng lạc trên
giả tướng giàu có nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa giả tướng giàu có
thành lợi ích để cống hiến, giúp đỡ vạn vật, Tuệ linh, con người. Đó là Tâm cống
hiến.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng có địa vị, không ích kỷ tham ô tham nhũng và lợi
ích về mình nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa giả tướng có địa vị
thành cống hiến lợi ích cho dân tộc quốc gia và giúp đỡ nhân tài phục vụ Đất nước.
Đó là Tâm cống hiến.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng có gia đình, không còn ích kỷ cho gia đình mình nữa.
Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành cống hiến vì lợi ích cho mọi người,
vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.
Tâm không bí bách, luẩn
quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào thân tướng
xinh đẹp, không còn
ích kỷ cho mình nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lan tỏa những
giá trị lợi ích tới mọi người, vạn vật mà không vi phạm chuẩn mực đạo đức. Đó
là Tâm cống hiến.
…
Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng không có:
Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng không có. Thay vào đó, Tâm đã được
thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi
ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được
cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng không có địa vị nữa, không còn ích kỷ về mình nữa.
Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành cống hiến những giá trị đang có
cho vạn vật, Tuệ linh, con người, không vì địa vị mà gây tổn hại tới mọi người.
Đó là Tâm cống hiến.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng không giàu có nữa, không còn ích kỷ về mình mà gây
tổn hại người khác. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho vạn
vật, Tuệ linh, con người. Đó là Tâm cống hiến.
Tâm không bí bách, luẩn
quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào thân tướng
không có đủ sức khỏe để giúp người, không có ích kỷ cho mình. Tâm đã dẫn dắt được
trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh, con người.
…
Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng yêu thương:
Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng yêu thương. Thay vào đó, Tâm đã
được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá
trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống
Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng yêu thương thông dâm tà dâm nữa, không vì lợi ích
ích kỷ cá nhân mà gây tổn thương mọi người. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa
thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng sở thích cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập nữa, không
còn ích kỷ cho mình mà gây tổn thương mọi người. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ
chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.
…
Tâm cống hiến vì
không chấp ngã vào giả tướng thù ghét:Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng thù ghét. Thay vào đó, Tâm đã được
thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi
ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm
được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Tâm
không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định
vào giả tướng thù ghét ai đó, không ích kỷ thỏa mãn sự trả thù nữa. Tâm đã dẫn
dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó
là Tâm cống hiến.
…
Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng cầu:
Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng cầu. Thay vào đó, Tâm đã được
thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi
ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm
được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Tâm không bí bách, luẩn
quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng cầu,
không còn ích kỷ vì lợi ích của mình mà đi ngược quy luật cũng như gây tổn
thương tới mọi người. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho
mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến. Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng có trí tuệ:
Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng có trí tuệ. Thay vào đó, Tâm đã
được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá
trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống
Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng có trí tuệ, không còn ích kỷ ngạo mạn vì lợi ích
cá nhân nữa. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích vì mọi người, vạn
vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào mình có chức sắc trong tôn giáo hay trong tâm linh, không
còn trục lợi về mình. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho
mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.
…
Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng không có trí tuệ:
Vì Thân – Tâm – Trí hợp
nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã
không chấp ngã vào giả tướng không có trí tuệ. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng
và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn
vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là
đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào giả tướng không có trí tuệ nữa, không còn tự ti và ích kỷ
cho mình nữa, thay vào đó là trau dồi học hỏi tri thức. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ
chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.
-
Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ
không bám định vào trí tuệ u mê, không tự ti nữa mà chịu khó học tập trau dồi
trí tuệ để không bị lừa hại. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa giúp đỡ mọi người
và chúng sinh không bị lừa hại. Đó là Tâm cống hiến.
…
Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng hành động:
Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng hành động. Thay vào đó, Tâm đã được
thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi
ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm
được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Tâm
không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định
vào giả tướng hành động gây tổn hại cho mọi người và vạn vật, không vì lợi ích
ích kỷ cá nhân nữa. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành hành động vì lợi
ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến. Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng không hành động:
Vì
Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì
điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng không hành động. Thay vào đó, Tâm
đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang
giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời
sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Tâm
không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định
vào giả tướng không hành động giúp đỡ mọi người, không còn ích kỷ vì lợi ích cá
nhân. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành không hành động tạo nghiệp và
hành động giúp đỡ mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.
Như
vậy cảnh giới của Tâm cống hiến là cảnh giới của trí tuệ không bám định vào giả
tướng, là cảnh giới mà trí tuệ đã thấu hiểu cội nguồn nhân loại, thấu hiểu sứ mệnh
tu hành
ở
nhân gian, thấu hiểu nhân quả, thấu hiểu hai Chân lý, từ đó chuyển hóa
thành tình yêu thương cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Khi chúng ta đã xây dựng
được nền móng của Tâm cống hiến thì sẽ sinh khởi chuyển thành cảnh giới của Tâm
an lạc và Tâm buông xả.
B. Cảnh
giới của Tâm an lạc
Tâm
an lạc là sự an vui tự tại của Tâm, đây là cảnh giới an lạc, an vui, hạnh phúc
của Tâm.
Nguyên nhân của cảnh
giới Tâm an lạc là Tâm có đủ sức mạnh để dẫn dắt trí tuệ diệt đi sự bám định
vào giả tướng, để trong Tâm không còn sự chấp ngã, không còn sự sân, không còn sự
hận thù. Khi tâm đã diệt đi gốc của Độc Tâm thì sẽ sinh khởi được cảnh giới Tâm
cống hiến. Vì cảnh giới Tâm cống hiến là nền móng của Thiện Tâm, như là dòng nước
mát mà sinh khởi thành cảnh giới Tâm an lạc. Cảnh giới an vui tự tại của Tâm cũng
chính là dòng nước mát tưới mát cho vạn vật, Tuệ linh, con người, gột rửa đi những
đắng cay bụi trần và Độc Tâm. Như vậy, Tâm an lạc là vì Tâm cống hiến, vì cống
hiến nên mới an lạc.
Khi Tâm đã an lạc thì
sự an vui sẽ thể hiện ra thân tướng an vui: đó là sự an vui trong ánh mắt, ánh
mắt nhẹ nhàng và đầy vị tha, ánh mắt tỏa ra niềm vui như nụ cười. Đó là sự an
vui trong cử chỉ hành động của chân tay, đó là sự nhẹ nhàng và điềm đạm bởi
dòng năng lượng an vui lan tỏa ra thân tướng. Đó là sự an vui trong nụ cười, nụ
cười của tình yêu thương chúng sinh bao la, nụ cười của sự không bám định vào bất
cứ giả tướng, nụ cười diệt đi Tâm sân hận của người đối diện. Đó là đôi tai an
vui, sự an vui thể hiện ra đôi tai dù phải nghe những thứ mà đối với người chấp
ngã không hề thích chút nào, dù phải nghe ai đó chửi rủa xúc phạm thân tướng
mình. Đó là an vui ở mũi ta, sự an vui ở mũi khiến cho ta ngửi được hương vị ngọt
bùi đắng cay cuộc đời kiếp người tu hành, nó an vui dù phải ngửi những mùi
không hề thú vị chút nào. Đó là an vui nơi trí tuệ, sự an vui ở trí tuệ khi dù
đối mặt với bất cứ hoàn cảnh nào, kiếp nạn khổ đau nào thì trí tuệ luôn thấy an
vui để thấu hiểu và cùng tâm hợp nhất vượt qua tất cả các khó khăn chướng ngại,
nó giúp cho Tuệ linh, con người không còn phiền não và vọng tưởng. Tâm an lạc
đã lan tỏa ra trí tuệ, lan tỏa ra khắp thân tướng để khắc chế và hoại diệt đi Độc
Tâm trong chính ta, trong anh, trong bạn, trong mọi người. Tâm an lạc tại kiếp
người, bất chấp mọi hoàn cảnh
chướng ngại và đầy rẫy chông gai trên con đường tu hành ở nhân gian thì đó
chính là niết bàn, niết bàn tự tại nhất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người.
Khi
tâm an lạc như dòng nước mát, tưới mát và sinh khởi sự sống cho vạn vật, nó
không những giúp cho Thân, Tâm, Trí ta an vui mà còn chuyển hóa sự an vui đó
cho chúng sinh an vui, cho Tuệ linh, mọi người đều an vui, cho vạn vật an vui.
Nó không những đem lại lợi ích cho ta mà còn đem lại lợi ích cho vạn vật và chúng
sinh, Tuệ linh, con người. Từ nền móng Tâm cống hiến mà sinh khởi thành Tâm an
lạc, từ Tâm an lạc lại sinh khởi lên cảnh giới Tâm buông xả.
C. Cảnh
giới của Tâm buông xả
Cảnh giới của Tâm buông xả gồm có Tâm buông và
Tâm xả:
-
Tâm buông là cả ba tướng trong tam hợp nhân đều buông: trí tuệ không
bám định vào, không bám lấy, không vơ vét các giả tướng về thân tướng ta; Tâm
ta không bị chấp ngã, Tâm không bị sân, bị hận; thân tướng không hành động tạo
ác nghiệp, không ích kỷ về thân tướng mình mà hại người, vạn vật, Tuệ linh. Như
vậy cần cả sự hợp nhất của tam hợp nhân để buông những giả tướng, Độc Tâm, nghiệp
ác mà chưa phải của ta, buông đi sự ích kỷ lợi ích của ta mà sẽ gây họa cho
chúng sinh. Đó là buông đi cái không phải của ta, buông đi cái ta đang định lấy.
-
Tâm Xả là cả ba tướng trong tam hợp nhân đều xả: trí tuệ xả đi những
giả tướng mà trí tuệ đã bám định vào; Tâm xả đi sự chấp ngã, sân, hận đã có
trong Tâm; thân tướng xả đi nghiệp ác đã tạo bằng cách hành thiện cứu giúp người
và chúng sinh. Như vậy cần cả sự hợp nhất của tam hợp nhân để xả đi những giả
tướng, Độc Tâm, nghiệp lực đã là của ta, xả đi những ích kỷ lợi ích của ta mà
đã gây họa cho chúng sinh và Tuệ linh, con người.
Nguyên
nhân của Tâm buông, xả là do Tâm đã xây dựng được nền móng cảnh giới Tâm cống
hiến vững chắc mà sinh khởi lên cảnh giới của Tâm an lạc, từ Tâm an lạc chuyển
thành Tâm buông xả. Cảnh giới Tâm buông xả trong Tâm là cảnh giới tối thượng của
Thiện Tâm. Nó là cảnh giới tối thượng vì nó có sự hợp nhất toàn bộ của trí tuệ
với Thân tướng và Tâm (Tuệ linh) để thấu hiểu và thực hành cải tạo Trụ linh của
Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng, để duy trì sự sống tồn tại và phát triển của
toàn bộ các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người.
Khi
đạt được cảnh giới Tâm buông xả trong Thiện Tâm thì Độc Tâm sẽ không còn làm ta
phiền não mà sống trong Độc Tâm với những cảnh chấp ngã, sân, hận và tạo ác
nghiệp. Bởi khi đó chúng ta luôn phát ra năng lượng Thiện Tâm với các tầng hào
quang màu vàng như ánh sáng mặt trời để tiêu tan màn đêm giả dối như đêm tối của
nghiệp lực, của Độc Tâm. Độc Tâm sẽ không còn an trụ trong ta nữa.
Cảnh
giới Tâm buông xả sẽ khiến cho chúng ta luôn luôn không vì lợi ích ích kỷ của bản
thân, của gia đình, của dòng họ mà gây tổn thương lợi ích của chúng sinh và lợi
ích của Tuệ linh, con người. Mỗi người dù sống trong mọi hoàn cảnh giả tướng
nào thì vẫn luôn luôn chuyển hóa được thành lợi ích cho chúng sinh mà không
màng đến lợi ích cho mình.
Như
vậy bản chất của Thiện Tâm chính là đã thấu hiểu và sống trong sự thật của ánh
sáng mặt trời, sống trong sự tuân thủ nhân quả, trong sự thấu hiểu vạn vật
trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ
linh, con người bằng Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, sống trong sự yêu
thương chúng sinh, Tuệ linh, con người. Chỉ cần cải tạo và lan tỏa phương pháp
cải tạo Trụ linh tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Chúng ta sẽ nhanh chóng chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
4.3. Phương pháp dùng Thiện Tâm hóa giải Độc Tâm
Trong
bản chất của Độc Tâm, Tâm chấp ngã là nền móng vững chắc, nó ăn sâu vào Tuệ
linh, con người, nó mang tính âm mạnh. Cảnh giới Tâm sân là cảnh giới được sinh
khởi từ nền móng chấp ngã, nó mang đặc tính như ngọn lửa thiêu đốt, nó mang
tính âm rất mạnh. Cảnh giới Tâm hận là cảnh giới tối thượng được xây dựng từ nền
móng chấp ngã và sân, nó là thành trì băng giá, nó mang tính âm siêu mạnh.
Ngoài ra bản chất của Độc Tâm còn thể hiện ở sự tự ái, đố kỵ, sợ nói về nhân quả,
nó là cảnh sống trong màn đêm tối giả dối.
Trong
bản chất của Thiện Tâm có 2 điểm chính: là dòng nước mát của sự cống hiến, an lạc,
buông xả; là ánh sáng rực rỡ như mặt trời của sự thật của hai Chân lý, của nhân
quả, là cảnh sống hiên ngang giữa ánh sáng mặt trời.
Phương pháp dùng Thiện Tâm hóa giải Độc Tâm:
Khi gặp Độc Tâm thể hiện tính chấp ngã:
Vì Tâm chấp ngã là nền
móng của sự giả dối, của sự bám định vào giả tướng để lợi mình và hại người nên
ta phải dùng Thiện Tâm là nhẹ nhàng dùng ánh sáng mặt trời của sự thật hai Chân
lý, của nhân quả để xua tan và diệt được nền móng chấp ngã. Khi gặp Độc Tâm thể hiện tính sân:Độc Tâm có 3 cảnh giới:
A. Cảnh giới của Tâm chấp ngã
Chấp là sự bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng của Tâm trong thân tướng con người. Mà Tâm chính là Tuệ linh hoặc Linh hồn, luân hồi đầu thai vào con người ở nhân gian trong nhiều đời nhiều kiếp nhằm cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Tuy nhiên do trí tuệ thân tướng không biết hay không nhớ được sứ mệnh của Tuệ linh, thay vào đó lại bám định, ham muốn và vơ vét giả tướng về thân tướng mình mà không thực hiện sứ mệnh nên Tuệ linh bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Tuệ linh không hoặc chưa có cách nào khiến cho trí tuệ thân tướng thấu hiểu nên gọi là Tâm bí bách.
Ngã là giả tướng, là 10 giả tướng.
Tâm chấp ngã chính là Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ thân tướng bám định vào giả tướng, vơ vét giả tướng về thân tướng mà không sống đời sống cống hiến. Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng trong thân tướng vì trí tuệ không chịu mở cánh cửa ra để học tập tri thức của hai Chân lý, phương pháp cải tạo và chuyển hóa Trụ linh cho Tuệ linh.
Như vậy, nguyên nhân đầu tiên của Tâm chấp ngã là trí tuệ u mê bám định vào các giả tướng để thỏa mãn và hưởng thụ giả tướng. Nguyên nhân thứ hai là Tâm không đủ trạng thái năng lượng của Thiện Tâm để chi phối trí tuệ thân tướng học tri thức hai Chân lý và thực hiện sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh. Điều này khiến cho Tâm bị bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng, đau khổ vì không có cơ hội học tập hai Chân lý cũng như cải tạo Trụ linh của mình.
Vì
Tâm sân là ngọn lửa thiêu đốt nên ta phải dùng dòng nước mát của Thiện Tâm là cống
hiến, an lạc, buông xả để nhẹ nhàng gột rửa và làm mát chúng sinh đang bị Tâm
sân. Tuyệt đối không dùng Tâm sân để đấu chọi với Tâm sân, vì nếu vậy sẽ làm
thành ngọn lửa hủy diệt.
Khi gặp Độc Tâm thể hiện tính hận thù:
Vì
Tâm hận thù là tảng băng và mang tính âm siêu mạnh nên không thể đơn thuần dùng
dòng nước mát của Thiện Tâm để hóa giải được. Ta phải dùng ánh sáng mặt trời của
sự thật hai Chân lý, của nhân quả để tiêu tan màn đêm băng giá của sự giả dối.
Bởi cảnh giới băng giá hận thù này chỉ bị tan chảy bởi ánh sáng mặt trời chói
chang.
Như
vậy tùy từng cảnh giới nào của Độc Tâm mà ta dùng dòng nước mát hay ánh sáng mặt
trời để mà hóa giải cho chúng sinh. Khi dùng ánh sáng mặt trời thì đó là dùng sự
thật của hai Chân lý và nhân quả để làm cho cảnh giới hận và chấp ngã bị tiêu
diệt. Khi dùng ánh sáng mặt trời sẽ khiến cho chúng sinh lầm tưởng ta mắng hay
thù ghét họ, do đó khi vận hành Thiện Tâm hóa giải Độc Tâm thì chúng ta cần vận
dụng tinh tế để phân tích căn cơ trí tuệ của chúng sinh ra sao để lựa mà hóa độ
cho chúng sinh.
Việc thấu hiểu bản chất
Trụ – Tâm của con người, mà con người là hóa thân của Tuệ linh tu hành ở nhân
gian, do đó, với việc thấu hiểu được Độc Tâm và Thiện Tâm, chúng ta phải thấu
hiểu tri thức hai Chân lý để thực hành kiểm soát độc tâm và phát triển thiện
tâm. Làm được điều này, chúng ta sẽ nhanh tiến tới đích của con đường cải tạo
Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. 5. Bản chất của sự tuần hoàn và kiểm soát sóng điện, trạng thái năng lượng
của Trụ – Tâm
Bản
chất của sự tuần hoàn và kiểm soát trạng thái năng lượng, sóng điện của Trụ –
Tâm được tính cho 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Đó là nhóm vật chất giản
đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất. Đặc biệt, bản chất này sẽ giúp
cho Tuệ linh, con người giải mã, thấu hiểu và biết cách liên kết tuần hoàn, kiểm
soát trạng thái năng lượng từ Trụ linh tới toàn bộ cấu trúc năng lượng trong bản
thể mình và vạn vật Vũ trụ.

Để
giải mã, thấu hiểu bản chất của sự tuần hoàn, kiểm soát trạng thái năng lượng,
sóng điện trong Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu cấu trúc liên kết giữa các hạt
năng lượng tổng hợp bên ngoài Trụ linh của cấu trúc Tướng.
Các
hạt năng lượng dương tổng hợp kết nối gần nhau, bên cạnh nhau là bởi có sự kết
nối thông tin gần giống nhau hoặc tiếp nối thông tin với nhau.
Các
hạt năng lượng âm tổng hợp và dương tổng hợp được kết nối với nhau bởi cùng khớp
nội dung thông tin. Chính vì điều này mà hạt năng lượng âm tổng hợp rung lắc
xung quanh hạt năng lượng dương tổng hợp.
Bản chất tuần hoàn trạng
thái năng lượng, sóng điện của Trụ – Tâm:
Trong
Trụ – Tâm con người, Tuệ linh và vạn vật, luôn luôn có 3 nhóm hạt năng lượng với
3 đặc tính sóng điện khác nhau. Đó là nhóm hạt năng lượng âm với sóng điện âm,
nhóm hạt năng lượng dương với sóng điện dương, nhóm hạt năng lượng trung tính
(chân tâm) với sóng điện trung tính. Tuần hoàn sóng điện chính là tuần hoàn trạng
thái năng lượng của 3 nhóm năng lượng trong toàn bộ cấu trúc Tướng.
Nhiệm vụ của từng nhóm hạt năng lượng:
Hạt năng lượng trung
tính (chân tâm) là chất dính và được làm đường truyền kết nối các hạt năng lượng
dương với nhau. Hạt năng lượng trung tính không có sóng điện dương để đẩy và
cũng không có sóng điện âm để thu hút. Hạt năng lượng trung tính chỉ làm nhiệm
vụ là đường truyền của sóng điện thông tin được chạy từ Trụ linh đến toàn bộ
các cụm hạt năng lượng trong toàn bộ cấu trúc năng lượng (Tướng). -
Hạt năng lượng dương là các vị trí, là điểm kết nối để tạo thành cấu
trúc lập phương với 8 hạt năng lượng dương và được các hạt năng lượng chân tâm
kết nối để làm đường truyền. Các hạt năng lượng dương được liên kết với nhau bởi
cấu trúc vô số hình lập phương được gắn kết với nhau. Hạt năng lượng dương có
nhiệt lượng dương, có sóng điện dương. Hạt năng lượng dương làm nhiệm vụ tỏa
nhiệt và đẩy thông tin chuyển tiếp đến các hạt năng lượng dương khác.
-
Hạt năng lượng âm là hạt năng lượng có nhiệm vụ rung lắc để thu tín hiệu,
để hấp thụ nhiệt xung quanh về. Hạt năng lượng âm sẽ rung lắc bên cạnh hạt năng
lượng dương. Hạt năng lượng âm không kết dính với hạt năng lượng dương. Hạt
năng lượng âm có liên kết với hạt năng lượng dương bởi cùng nội dung thông tin
nên hạt năng lượng âm quay xung quanh hạt năng lượng dương. Có thể nói, hạt
năng lượng âm là hạt thu sóng tín hiệu thông tin.
Quy trình tuần hoàn
sóng điện âm, dương, trung tính trong cấu trúc Trụ – Tâm được bắt đầu từ Trụ
linh. Từ Trụ linh, sóng điện thông tin mang đặc tính sóng điện dương sẽ được đẩy
đi tới từng cụm hạt năng lượng âm – dương trong toàn bộ cấu trúc năng lượng
thông qua đường truyền trung tính. Các hạt năng lượng âm bên cạnh các hạt năng
lượng dương có nhiệm vụ thu tín hiệu, hấp thụ nhiệt nên chúng luôn rung lắc.
Khi sóng điện thông tin để đi tới được điểm tiếp theo là hạt năng lượng dương
thì cần phải có hạt năng lượng âm ở điểm đó thu tín hiệu và lực đẩy từ Trụ linh.
Sóng điện thông tin đến được điểm hạt dương đầu tiên sẽ được sóng điện dương của
điểm đầu tiên đẩy sóng điện thông tin đi tới điểm tiếp theo. Hạt năng lượng âm ở
điểm tiếp theo sẽ tiếp tục rung lắc để thu tín hiệu. Sóng điện dương ở điểm hạt dương đẩy sóng
điện thông tin và được hạt năng lượng âm thu tín hiệu nên sóng thông tin được
di chuyển tới điểm hạt dương tiếp theo. Cứ như vậy, sóng điện thông tin sẽ di
chuyển trong toàn bộ trong cấu trúc năng lượng thành vòng tròn và trở về Trụ
linh.
Sóng
điện tuần hoàn với những nhiệm vụ, sứ mệnh riêng biệt của từng nhóm hạt năng lượng.
Những nhiệm vụ đó sẽ giúp sóng điện thông tin từ Trụ linh tuần hoàn liên tục
trong toàn bộ cấu trúc năng lượng để hấp thụ thông tin của Vũ trụ quan xung
quanh trong quá trình tương tác về Trụ linh. Sóng điện thông tin càng tuần hoàn
tự động như một cơ chế sẽ giúp cho cấu trúc năng lượng đó mã hóa, hấp thụ được
vô số thông tin chân thật về Trụ linh để Trụ linh thực hiện quá trình phân tách
và liên kết hạt năng lượng. Cũng được hiểu là, quá trình tuần hoàn sóng điện
thông tin sẽ sinh ra nhiệt ấm để xảy ra quá trình phân tách liên kết hạt năng
lượng tại Trụ linh theo hướng bền vững.
Nếu
cấu trúc vật chất, Tuệ linh, con người mà không xảy ra quá trình tuần hoàn sóng
điện thì sẽ không tồn tại sự sống. Nếu quá trình tuần hoàn bị tắc nghẽn ở những
cụm hạt năng lượng nào thì tại những điểm đó có nhiều hạt năng lượng âm và đường
truyền bị đứt. Những Tướng như vậy sẽ nguy cơ phân rã và dẫn tới hoại diệt cấu
trúc nếu năng lượng hoại diệt tấn công nhiều vào.
Bản chất kiểm soát trạng
thái năng lượng lượng, sóng điện của Trụ – Tâm:
Bản chất việc kiểm
soát sóng điện, trạng thái năng lượng trong Trụ – Tâm là vấn đề của hạt năng lượng
dương và hạt năng lượng âm. Bởi, để sóng điện tuần hoàn được thông suốt trong
toàn bộ cấu trúc Tướng thì hạt năng lượng dương có sóng điện phải mạnh và hạt
năng lượng âm có sóng điện phải yếu. Bởi hạt năng lượng âm có nhiệm vụ là thu
tín hiệu và hạt năng lượng dương là đẩy chuyển tiếp thông tin.
Khi
hạt năng lượng dương mạnh sẽ tỏa nhiệt dương lớn ra xung quanh nó. Khi đó, hạt
năng lượng âm sẽ hấp thụ nhiệt dương và chính nhiệt dương sẽ kiểm soát và giảm
tốc độ quay của hạt năng lượng âm. Khi đó hạt năng lượng âm sẽ chỉ là thu tín
hiệu thông tin và không có khả năng cản trở sóng thông tin di chuyển qua cụm hạt
năng lượng âm – dương đó.
Khi
hạt năng lượng âm có sóng điện mạnh, hạt năng lượng dương có sóng điện yếu, trường
hợp này sẽ khiến cho năng lượng dương bị mất nhiệt dương nhanh bởi lực hút của
hạt năng lượng âm và do hạt năng lượng dương không quay mạnh. Khi đó, hạt năng
lượng dương sẽ không có đủ nhiệt lượng để đẩy thông tin chuyển tiếp đến cụm hạt
năng lượng dương khác, đồng thời lại bị lực hút của hạt năng lượng âm mạnh cản
trở quá trình chuyển tiếp thông tin. Khi đó, sóng điện thông tin không tuần hoàn
được.
Mỗi
một cụm hạt năng lượng trong cấu trúc Tướng gồm có 1 hạt năng lượng âm rung lắc
xung quanh hạt năng lượng dương bởi cùng nội dung thông tin. Hạt năng lượng nào
mạnh sẽ kiểm soát và suy yếu được hạt năng lượng kia.
Bản
chất trong cấu trúc Tướng mà có nhiều cụm hạt năng lượng âm – dương với cấu
trúc có nhiều hạt năng lượng âm tại mỗi điểm của hạt năng lượng dương sẽ tạo
thành cấu trúc đa âm trong Tướng. Đây là nguyên nhân sóng điện không tuần hoàn
và các chứng bệnh sẽ xảy ra. Tuệ linh thì bị phân rã cấu trúc mà nguy cơ
hoại diệt. Con người thì bệnh tật. Vạn vật cũng vì thế mà không liên kết bền vững.
6. Bản chất Trụ – Tâm Kết của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
Trụ
– Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần
hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật.
Do đó, để thấu hiểu được bản chất của Trụ – Tâm, chúng ta phải giải mã, thấu hiểu
bản chất của Trụ linh.
Việc
giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ linh Kết của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ
giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng liên kết, kiểm soát được trạng thái năng
lượng, sóng điện trong Trụ – Tâm của mình. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được
độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng
chân tâm. Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng.
6.1. Bản chất cấu trúc Trụ linh Kết của 3 nhóm
vật chất
Kết
là rung động, là bắt tín hiệu, là thu tín hiệu, là hút về, là lấy về, là hưởng
thụ, là chìm đắm, là chiếm đoạt, là cướp bóc, là thỏa mãn, là giết hại, là gây
tổn hại.
Kết có bản chất là hạt
năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Bởi hạt năng lượng có sợi
mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm mới rung động, mới bắt tín hiệu, mới thu tín
hiệu, mới hút về, mới lấy về, mới hưởng thụ, mới chìm đắm, mới
chiếm đoạt, mới cướp bóc, mới thỏa mãn, mới giết hại, mới gây tổn hại. Đã là Trụ
linh thì phải có hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm.
Kết
ở mức nhẹ là chỉ rung động, thu hút tín hiệu. Kết ở mức rất mạnh là giết hại,
thỏa mãn mà gây tổn hại tới các chỉnh thể khác. Trong bất cứ cấu trúc Trụ linh
nào được hình thành từ sự hợp nhất của hai hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ
mang sóng điện âm và dương đều có Kết. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình
thành từ hai hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ đã có một sợi mã sóng trí tuệ
mang sóng điện âm. Mà bản chất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm là Kết.
Điều này cho thấy, hết thảy các cấu trúc Trụ linh đều có bản chất là Kết. Có
chăng mức độ Kết ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.
Kết
tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trụ linh. Ba nhóm cấu trúc Trụ linh tương ứng
với 3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc Trụ linh giản đơn, nhóm cấu
trúc Trụ linh phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trụ linh.
Kết
là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trụ linh nào muốn phát triển và nâng cấp phải
có. Bởi chỉ khi có Kết thì hết thảy các cấu trúc Trụ linh trong Vũ trụ mới hấp
thụ nhiệt lượng, hấp thụ dinh dưỡng, hấp thụ sóng điện để thực hiện được cơ chế
phân tách, liên kết nhằm tồn tại và phát triển bền vững hơn.
Kết ở mức độ nhẹ và vừa
đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững của cấu trúc Trụ linh và mang lại lợi
ích tới hết thảy các Tướng khác trong Vũ trụ. Kết ở mức độ mạnh, rất mạnh và
siêu mạnh sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh không phát triển được mà dễ dàng bị
năng lượng hoại diệt gây phân rã làm vỡ cấu
trúc, hoại diệt vĩnh viễn và gây tổn hại tới hết thảy các Tướng trong Vũ trụ.
Có
3 nhóm cấu trúc Trụ linh dễ bị phân rã và hoại diệt. Đó là 3 nhóm cấu trúc Trụ
linh Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:
-
Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất
bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu xám với một hạt năng lượng dương tận
cùng màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng đục. Trụ linh
đa âm mạnh được gọi là Trụ linh Kết mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc mạnh,
quay ngược mạnh, hút sóng điện bên ngoài về mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết mạnh.
-
Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết rất mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp
nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đen với một hạt năng lượng dương tận
cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm rất mạnh
được gọi là Trụ linh Kết rất mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc rất mạnh, quay
ngược rất mạnh, hút sóng điện bên ngoài về rất mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết rất
mạnh.
-
Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp
nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đỏ máu với một hạt năng lượng dương
tận cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm siêu
mạnh được gọi là Trụ linh Kết siêu mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc siêu mạnh,
quay ngược siêu mạnh, hút sóng điện bên ngoài về siêu mạnh nên cấu trúc Trụ
linh Kết siêu mạnh.
Cấu
trúc Trụ linh của hết thảy các Tướng trong Vũ trụ Kết ở mức mạnh cho tới rất mạnh
và siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trụ linh đa âm mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Khi
đa âm, tức là lượng hạt năng lượng âm được phân tách ra vô số mà không cấu tạo
được thành liên kết vững chắc như những hạt năng lượng dương. Việc không tạo được
sự liên kết chặt chẽ sẽ làm cho cấu trúc Trụ linh không có khả năng phòng thủ
trước sự tấn công của năng lượng hoại diệt. Khi năng lượng hoại diệt tấn công sẽ
làm cho cấu trúc Trụ linh đó bị đứt liên kết, bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.
Khi
các cấu trúc Trụ linh Kết tương tác với nhau sẽ dễ dàng tạo thành hiệu ứng Kết
liên kết với Kết. Đây chính là hội chứng liên kết phóng xạ âm của các cấu trúc
Trụ linh có bản chất Kết. Khi hội chứng liên kết phóng xạ âm xảy ra giữa các cấu trúc Trụ
linh, các cấu trúc Trụ linh sẽ rung lắc mạnh, thu hút mạnh, quay ngược mạnh. Điều
đó khiến cho năng lượng hoại diệt sẽ tấn công vào rất mạnh. Khi đó, các cấu
trúc Kết này nhanh chóng bị phân rã và hoại diệt. Có thể nói, khi các cấu trúc
Trụ linh Kết tương tác với nhau sẽ gây tổn hại lớn cho chính cấu trúc Trụ linh
của chính nó và các cấu trúc Trụ linh khác.
6.2. Các cấu trúc Trụ linh Kết của 3 nhóm vật
chất
Các
cấu trúc Trụ linh Kết ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất
là:
Các cấu trúc Trụ linh Kết
trong nhóm siêu vật chất:
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống
Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.
Siêu
Tướng có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Tuệ linh
bị đa âm, bị phóng xạ năng lượng âm.
-
Tuệ linh
đã hóa thành ngã quỷ sau quá trình tu hành
ở nhân gian.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang phân rã và tiệm cận sự hoại diệt. Đó là họ
đang rung động, hút, chiếm hữu, gây tổn hại tới các chỉnh thể khác mà không thể
kiểm soát được chính họ.
Tuệ linh, Linh hồn
đang ở các cửa ngục ác nghiệp ở cõi trời Địa phủ. -
Tuệ linh, Linh hồn đang ở cảnh sống âm tại cõi trời Địa phủ.
-
Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ trong không gian Vũ trụ.
-
Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ ở khắp điền thổ, những nơi
thờ tự ở nhân gian.
-
Tuệ linh, Linh hồn đang bị mắc kẹt ở nhân gian sau khi hết kiếp người
mà chưa được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.
-
Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động
tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh, con người. Là người vi phạm vào bốn
hình tướng Đạo, đó là vi phạm vào những điều không được phép vi phạm trong bốn
hình tướng Đạo. Đặc biệt là những con người có đại hệ tư tưởng u mê, tiêu cực
gây tổn hại Tuệ linh, con người. Họ là những người lan tỏa mê tín dị đoan, lan
tỏa tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, lan tỏa chiến tranh, lan tỏa những tư
tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.
Các
siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu
trúc 16 hạt năng lượng mở rộng được phân tách ra bên ngoài Trụ linh bị mất cân
bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ được phân tách ra quá nhiều, trong khi
các hạt năng lượng dương lại quá ít. Khi mất cân bằng sẽ khiến tốc độ rung lắc
trong các hạt năng lượng âm rất lớn. Năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu,
chúng di chuyển vào làm đồng hóa, phân rã và hoại diệt cấu trúc Trụ linh đó. Cấu
trúc Trụ linh chính là cấu trúc năng lượng, cũng chính là cấu trúc Tướng. Các cấu trúc Trụ linh Kết
trong nhóm vật chất phức tạp:
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang
tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.
Tướng
phức tạp có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Những tầng hạt năng lượng âm liên kết với tầng hạt năng lượng chớm
dương đang vận hành Vũ trụ.
- Những linh hồn các con thú dữ.
Sau khi hoại diệt thân xác, linh hồn chúng tồn tại trên điền thổ và chúng gây tổn
hại tới đời sống của con người. Chúng được gọi là yêu tinh, yêu quái.
- Những linh hồn, cấu trúc
năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính chất độc tố. Đó là những
cây cối, những đất đá gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của con người và vạn
vật cũng như muông thú.
Các
Tướng phức tạp có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến
cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu. Chúng di chuyển ồ ạt vào làm đồng hóa,
phân rã và hoại diệt các cấu trúc Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh chính là cấu trúc
năng lượng, cũng chính là cấu trúc Tướng.
Các cấu trúc Trụ linh Kết
trong nhóm vật chất giản đơn:
Vật chất giản đơn hay
còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật chất rắn, lỏng,
khí; là thân tướng con người,
thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, kim loại, nước…; là các hành
tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng
giản đơn có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Thân tướng
con người:
+
Những con người có thân bệnh. Thân bệnh là năng lượng âm quá nhiều, dư
thừa, khiến cho sóng điện âm dương trong cơ thể không tuần hoàn. Khi đó, năng
lượng hoại diệt xâm nhập làm biến đổi cấu trúc tế bào và gây ra những bệnh lý
hiểm nghèo.
+ Những con người có trí tuệ
bám định, u mê không tin vào Quy luật Nhân quả, vào cội nguồn nhân loại, vào
con đường và sứ mệnh tu hành cải tạo Tuệ linh.
+
Những con người có trí tuệ bám định vào các giả tướng mà không hành
thiện cứu giúp con người, vạn vật và muông thú.
+
Những con người có những hành động gây tổn hại tới vạn vật, con người,
muông thú để thỏa mãn cho bản thể họ.
+
Những con người có đại hệ tư tưởng tiêu cực đi ngược lại Quy luật Nhân
quả.
+
Những con người sống và lan tỏa những đại hệ tư tưởng: u mê, mê tín dị
đoan, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tôn giáo cực đoan, phân chia dân tộc, phân
chia sắc tộc, chiến tranh…
+
Những con người sống và thực hành, lan tỏa vi phạm bốn hình tướng Đạo. -
Thân tướng muông thú: Đó là những con thú ăn thịt đồng loại, những con
thú ăn thịt các con thú khác, những con thú không cứu giúp và bảo vệ đồng loại
của chúng. Những con thú không cứu giúp muông thú khác, không giúp đỡ con người,
không cứu giúp vạn vật.
-
Những cỏ cây hút nước, hút dinh dưỡng để tồn tại và phát triển.
-
Những hang sâu trong lòng đất núi. Những vật chất đá không sinh phát
ra năng lượng tốt cho vạn vật. Những kim loại, hóa chất, chất độc trong thiên
nhiên, trong lòng đất.
-
Nước
trung hòa tất cả vạn vật.
-
Những hành tinh có sóng âm mạnh như Trái đất, như Mặt trăng và các
hành tinh không phải là Mặt trời.
7. Bản chất Trụ – Tâm Định của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
Vì
Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần
hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật.
Do đó, để thấu hiểu được bản chất của Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu bản chất
của Trụ linh.
Việc giải mã, thấu hiểu
bản chất Trụ linh Định của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và
con người dễ dàng liên kết, kiểm soát được trạng thái năng lượng, sóng điện
trong Trụ – Tâm của mình. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng
lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được
sẽ tiến nhanh tới
thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
7.1. Bản chất cấu trúc Trụ linh Định của 3
nhóm vật chất
Định
là đứng im, là bất động, là tĩnh lặng, là thanh tịnh, là an lạc, là thanh lọc.
Định có nghĩa là không Kết cũng không Tỏa.
Định
có bản chất là hạt năng lượng có sóng điện chân tâm (trung tính), là cấu trúc
Trụ linh cân bằng. Là chân tâm, là cấu trúc cân bằng nên mới đứng im, nên mới bất
động, nên mới tĩnh lặng, nên mới thanh tịnh, nên mới an lạc, nên mới thanh lọc.
Cấu
trúc Trụ linh Định chính là Trụ linh của Tướng được cấu tạo thành bởi một hạt
năng lượng âm có sóng điện nhẹ màu trắng xám với một hạt năng lượng dương có
sóng điện nhẹ màu trắng đục. Đây là cấu trúc Trụ linh Định ở mức nhẹ và thấp nhất.
Định ở mức độ mạnh, rất mạnh, siêu mạnh thì đó chính là cấu trúc Trụ linh Tỏa.
Tức là khi cấu trúc Trụ linh Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh, siêu mạnh, đó là Định ở
các mức cao. Định ở mức cao là do quá trình tuần hoàn sóng điện trong Trụ linh
đạt đến sự bền vững. Sự bền vững đó là do sự liên kết vững chắc giữa sóng điện
âm và dương trong Trụ linh.
Cấu
trúc Trụ linh Định tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản
đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.
Cấu
trúc Trụ linh Định là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trụ linh nào muốn phát triển
nâng cấp phải có. Bởi chỉ khi có Định thì hết thảy cấu trúc Trụ linh trong Vũ
trụ mới cân bằng, thanh lọc được năng lượng sau khi Kết. Chỉ có Định mới giúp
cho hết thảy cấu trúc Trụ linh Tỏa được năng lượng tới vạn vật trong và ngoài
Vũ trụ.
Cấu
trúc Trụ linh Định là bản chất vô cùng cần thiết cho hành trình chuyển sinh
nâng cấp cấu trúc Trụ linh và bản thể vật chất. Định luôn luôn hiện hữu trong từng
tích tắc của thời gian, của quá trình vận động của hết thảy các dạng cấu trúc Trụ
linh của vạn vật. Định sẽ được phát huy hết giá trị nếu nó được vận hành thành
quy trình tự động cho quá trình Kết và Tỏa. Tức là nó phải nằm trong toàn bộ
quy trình có Kết và có Tỏa. Nếu nó tách riêng, nó sẽ không có được sức mạnh
siêu việt. 7.2. Các cấu trúc Trụ linh Định của 3 nhóm vật
chất
Các cấu trúc Trụ linh Định có trong 3 nhóm vật
chất là:
Các cấu trúc Trụ linh Định
trong nhóm siêu vật chất:
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống
Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.
Siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Định là:
-
Tuệ linh mới được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương thành Tuệ
linh em bé.
-
Tuệ linh có cấu trúc năng lượng cân bằng âm dương trong Trụ linh. Đó
là tại Trụ linh, có hạt năng lượng âm gốc có sóng điện âm nhẹ, và hạt năng lượng
dương gốc có sóng điện dương nhẹ. Đây là Định ở cảnh giới thấp.
-
Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương trong Trụ linh. Trụ linh đa
dương sẽ giúp cho Tuệ linh có Định ở cảnh giới cao và rất cao.
-
Các Tuệ linh không thiện cũng không ác. Đó là Định ở mức thấp.
-
Các Tuệ linh luôn luôn làm những việc thiện vì vạn vật và Tuệ linh,
con người. Đó là các Tuệ linh đã đạt được những thành tựu trên hành trình chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng như các bậc thánh hiền, các bậc hiền triết.
-
Định ở cảnh giới tối thượng là Người Cha – Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ
và Tuệ linh, con người. Đó là bộ lọc năng lượng viên mãn. -
Các Tuệ linh, Linh hồn đang sống ở cảnh giới tu dưỡng, cân bằng năng
lượng ở cõi trời Địa phủ.
-
Những con người đang sống. Họ không thiện cũng không ác, đó là Định ở
mức thấp. Những con người luôn vì mọi người và vạn vật, Tuệ linh, con người, đó
là Định ở mức cao.
-
Những con người thông qua bốn hình tướng Đạo mà vẫn cân bằng, không vi
phạm làm tổn hại bốn hình tướng Đạo, từng bước lan tỏa giá trị tới mọi người,
đó là Định.
Các cấu trúc Trụ linh Định
trong nhóm vật chất phức tạp:
Vật
chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông
thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng
an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang
tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.
Tướng phức tạp có cấu trúc Trụ linh Định là:
-
Những tầng năng lượng dương liên kết với tầng năng lượng âm có sóng điện
âm nhẹ vận hành Vũ trụ.
-
Những linh hồn các con thú lành hiền. Đó là những con thú không giết hại
các con thú khác, những con thú không ăn thịt thân tướng các con thú khác.
- Những linh hồn, cấu trúc
năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính thanh lọc. Đó là cây cối,
là những loại đá bán quý, đá quý.
Các cấu trúc Trụ linh Định trong nhóm vật chất
giản đơn:
Vật
chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật
chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng
cỏ cây, đất đá, kim loại, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng giản đơn có cấu trúc Trụ linh Định là:
-
Thân tướng
con người:
+
Những con người có thân tướng mạnh khỏe, không bệnh tật.
+
Những con người không thiện cũng không ác, đó là có tư tưởng cho đến
hành động không thiện cũng không ác.
+
Những cháu bé với chân tâm ban đầu chưa thiện cũng chưa ác.
+
Những con người cân bằng được cuộc sống trong bốn hình tướng Đạo. Họ
không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ từng bước thực hành lan tỏa giá trị đạo
đức tới mọi người và vạn vật, muông thú.
+
Những con người có Định ở mức cao cho tới rất cao là họ sống như bản
năng. Bản năng đó là luôn có tư tưởng cho đến hành động không vì mình, luôn vì
vạn vật, Tuệ linh, con người.
+
Người có bộ lọc năng lượng là người có Định ở mức độ cao nhất. Họ luôn
cân bằng, luôn thanh lọc, luôn an lạc, luôn chuyển hóa tuần hoàn một cách kỳ diệu.
-
Thân tướng muông thú: Đó là những con thú không ăn thịt, không giết hại
con thú khác. Đó là những con thú lành hiền. Đó là những con thú giúp đỡ những
con thú khác, những con thú biết giúp đỡ con người. Những con thú biết giúp đỡ
muông thú và con người là Định ở mức rất cao. -
Những cỏ
cây cân bằng năng lượng. Định ở mức cao.
-
Nước trung
hòa tất cả vạn vật. Định ở mức rất cao.
-
Những hành tinh quay xung quanh chính nó có mức Định cao.
-
Trong mỗi hành tinh đều có khu vực giao nhau giữa tầng địa chất sóng
điện dương và tầng địa chất sóng điện âm là khu vực có mức Định rất cao. Đó là
năng lượng chân tâm gắn kết chỉnh thể hành tinh đó được bền chặt, được tồn tại
và vận động để phát triển.
8. Bản chất Trụ – Tâm Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
Trụ
– Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần
hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật.
Do đó, để thấu hiểu được bản chất của Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu bản chất
của Trụ linh.
Việc
giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ linh Tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ
giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng liên kết, kiểm soát được trạng thái năng
lượng, sóng điện trong Trụ – Tâm của mình. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được
độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng
chân tâm. Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng.
8.1. Bản chất cấu trúc Trụ linh Tỏa của 3 nhóm
vật chất
Tỏa
là truyền đi, lan tỏa, đẩy đi, cho đi, cứu giúp, soi sáng, dẫn đường, chỉ dẫn.
Tỏa
có bản chất là hạt năng lượng mang sóng điện dương. Bởi hạt năng lượng mang
sóng điện dương mới truyền đi, mới lan tỏa, mới cho đi, mới cứu giúp, mới soi
sáng, mới dẫn đường, mới chỉ dẫn.
Tỏa
ở mức nhẹ là soi sáng, chỉ dẫn, truyền tải. Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh
là hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể mình.
Trong
bất cứ cấu trúc Trụ linh nào được hình thành từ sự hợp nhất của hạt năng lượng
mang sóng điện âm và dương đều có Tỏa. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình
thành từ hai hạt năng lượng, có một hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ mang sóng
điện dương. Mà bản chất của hạt năng lượng mang sóng điện dương là Tỏa. Điều
này cho thấy, hết thảy các cấu trúc Trụ linh đều có bản chất là Tỏa. Có chăng mức
độ Tỏa ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.
Tỏa
tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trụ linh. Ba nhóm cấu trúc Trụ linh tương ứng
với 3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc Trụ linh giản đơn, nhóm cấu
trúc Trụ linh phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trụ linh.
Tỏa
là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trụ linh nào muốn phát triển nâng cấp phải có. Tỏa
càng ở mức độ mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ giúp sự phát triển của cấu trúc Trụ
linh ngày càng lớn mạnh. Bởi, để Tỏa được cần phải trải qua quá trình Kết và Định.
Do đó, Tỏa là hoàn chỉnh của một quy trình Kết – Định – Tỏa một cách tuần hoàn
và viên mãn. Có
3 nhóm cấu trúc Trụ linh dễ dàng chuyển sinh thành Trụ linh có bộ lọc năng lượng.
Đó là 3 nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:
-
Nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất
bởi một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một hạt
năng lượng tận cùng có sóng điện dương phát triển màu xanh lá, gọi là Trụ linh
đa dương mạnh. Do hạt năng lượng âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu
hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời hạt năng lượng có sóng
điện dương mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng
lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trụ linh phân tách, liên kết chặt chẽ. Do
đó, đây là cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh.

-
Nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa rất mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp
nhất bởi một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một
hạt năng lượng tận cùng có sóng điện dương lan tỏa màu đỏ lửa, gọi là Trụ linh
đa dương rất mạnh. Do hạt năng lượng âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên
thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời hạt năng lượng có
sóng điện dương rất mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ rất mạnh sẽ dễ dàng
kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trụ linh phân tách, liên kết
chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trụ linh Tỏa rất mạnh.

Nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp
nhất bởi một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một
hạt năng lượng tận cùng có sóng điện dương đoàn kết màu vàng, gọi là Trụ linh đa
dương siêu mạnh. Do hạt năng lượng âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu
hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời hạt năng lượng có sóng
điện dương siêu mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ siêu mạnh sẽ dễ dàng kích
nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trụ linh phân tách, liên kết chặt
chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trụ linh Tỏa siêu mạnh.
Các cấu trúc Trụ linh có bản chất Tỏa ở mức mạnh cho tới rất mạnh và
siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trụ linh đa dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh.
Khi đa dương, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng có sóng điện
dương để cấu tạo liên kết dây chặt chẽ. Đồng thời những hạt năng lượng âm được
phân tách ra có sóng điện âm rất nhẹ. Sau đó phân tách, liên
kết cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh tạo
thành sức mạnh chuyển hóa năng lượng hoại diệt một cách kỳ diệu. Những cấu trúc
Trụ linh Tỏa mạnh này sẽ có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt do năng
lượng hoại diệt di chuyển vào ít bởi hạt năng lượng mang sóng điện âm rung lắc
nhẹ.
Cấu
trúc Trụ linh mà chuyển sinh theo hướng Tỏa sẽ nhanh chóng đạt được chuyển hóa
thành bộ lọc năng lượng. Đó là Kết – Định – Tỏa một cách kỳ diệu.
8.2. Các cấu trúc Trụ linh Tỏa của 3 nhóm vật
chất
Các
cấu trúc Trụ linh Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất
là:
Các cấu trúc Trụ linh Tỏa
trong nhóm siêu vật chất:
Siêu
vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống
Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.
Siêu
Tướng có cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Tuệ linh
có Trụ linh đa dương từ mạnh tới siêu mạnh.
-
Tuệ linh đã đạt được những thành tựu trên hành trình chuyển sinh như
các bậc thánh hiền, các bậc hiền triết.
-
Tuệ linh đã đắc được bộ lọc năng lượng có khả năng Tỏa ra vô lượng các
siêu hạt năng lượng.
Tuệ linh đang an trụ
trong con người có tư tưởng cho đến hành động tích cực luôn vì vạn vật, Tuệ
linh, con người, là người không
vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ là những con người luôn có tư tưởng cho đến
hành động lan tỏa những giá trị đạo đức, tuân thủ Quy luật Nhân quả, thực hành
cải tạo đời sống viên mãn tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Những người đạt đến
siêu Tỏa mạnh nhất chính là những con người luôn luôn Phổ độ chúng sinh, Tuệ
linh, con người, vì họ lan tỏa đại hệ tư tưởng giác ngộ tới hết thảy Tuệ linh,
con người cùng nhau chuyển sinh bền vững nhất cho Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Những
siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ giúp
cho Trụ linh của họ phân tách ra vô số những siêu sợi mã sóng trí tuệ tạo thành
vô số siêu hạt năng lượng. Từ những siêu hạt năng lượng đó sẽ cấu tạo và phát
triển Tuệ linh họ trở thành liên kết được chặt chẽ, bền vững với tất cả vạn vật
trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Tuệ linh họ trở nên bất tử. Tuệ
linh họ có cấu trúc bộ lọc năng lượng viên mãn bởi họ đi theo hướng chuyển sinh
là Tỏa những giá trị giác ngộ tới tất cả Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Họ sẽ hấp
thụ và chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành siêu hạt năng lượng thông qua
bộ lọc trong Trụ linh của họ.
Các cấu trúc Trụ linh Tỏa
trong nhóm vật chất phức tạp:
Vật chất phức tạp hay
còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng
chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong
cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận
hành sự sống của cả Vũ trụ. Tướng phức tạp có cấu trúc
Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Những tầng năng lượng sóng điện dương liên kết với tầng năng lượng chớm
âm để vận hành Vũ trụ.
-
Những linh hồn các con thú xả thân cứu giúp con người, xả thân cứu
giúp những con thú đồng loại hoặc những con thú khác.
-
Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá. Đó là những
dòng đá luôn tỏa những năng lượng mang lại sự sống trong lành và an lạc cho con
người, muông thú, cỏ cây xung quanh đó.
-
Những linh hồn của cây cối luôn tỏa năng lượng sự sống ra môi trường
xung quanh.
Tướng
có cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh sẽ giúp cho các cấu trúc năng lượng đó nhanh được
chuyển sinh bền vững và nâng cấp cao hơn.
Các cấu trúc Trụ linh Tỏa
trong nhóm vật chất giản đơn:
Vật
chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật
chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng
cỏ cây, đất đá, kim loại, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.
Tướng
giản đơn có cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:
-
Thân tướng
con người:
Những con người không
có bệnh về thân tướng. Họ khỏe mạnh vì sự vận động lan tỏa. + Những người luôn miệt mài
lao động sản xuất, không ngừng nghỉ nghiên cứu các công trình, các phương pháp,
các cấu trúc phát triển sự sống tốt đẹp và bền vững tới vạn vật, Tuệ linh, con
người. Họ là những công nhân, những nông dân, những thương nhân, những nhà
nghiên cứu, những nhà sản xuất, những nhà sáng chế, những nhà phát minh.
+
Những người luôn luôn lan tỏa các giá trị thúc đẩy phát triển bền vững
và an lạc cho con người và vạn vật. Họ là những nhà giáo, là những người lan
truyền tri thức tới Tuệ linh, con người.
+
Những người luôn luôn đoàn kết tất cả Tuệ linh, con người, vạn vật,
muông thú trong sự cảm thông, sẻ chia, giúp đỡ cùng nhau lan tỏa những giá trị,
công trình phát triển bền vững tới Tuệ linh, con người.
+ Những người có hệ tư tưởng
cho đến hành động luôn vì lợi ích mọi người, vạn vật và muông thú mà không màng
tới bản thân họ.
+
Những người hành thiện cứu giúp Tuệ linh, con người, vạn vật và muông
thú.
+
Những người thực hành phổ độ lan tỏa giá trị của giáo lý giác ngộ tới
hết thảy Tuệ linh, con người.
-
Thân tướng muông thú: Đó là những con thú không giết hại hay làm tổn hại
những con thú khác. Nó xả thân cứu giúp các con thú khác, nó bảo vệ và cứu giúp
đồng loại của nó trong sự không gây tổn hại tới con người và muông thú khác.
-
Những cỏ cây luôn tỏa oxy làm trong lành và an lạc môi trường sống
xung quanh.
Nước lan tỏa giá trị
làm mát và nuôi dưỡng vạn vật thế gian. Nó bốc hơi để tạo thành mưa rồi tưới
mát cho vạn vật cùng phát
triển. Nó là sự sống luôn cho đi để ngày càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh bởi nó có
trong tất cả vạn vật thế gian.
-
Những loại đá quý, bán quý có giá trị tỏa ra những năng lượng tốt nhằm
tạo ra môi trường sống trong lành và an lạc.
-
Lửa, ánh sáng để soi sáng và làm ấm các dạng sống ở thế gian.
-
Những hành tinh có tính tỏa mạnh là các mặt trời trong Vũ trụ.
-
Là những cấu trúc địa chất nóng chảy, là nham thạch trong các hành
tinh. Nhiệt lượng được tỏa ra để soi sáng, tạo ra sự phân tách liên kết cho vạn
vật, Vũ trụ được phát triển.
III. Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Trụ – Tâm
Chân
lý Vạn vật trong Trụ – Tâm (Tâm) sẽ là: Tâm
không tự sinh ra, Tâm không tự mất đi, khổ đau của Tâm không tự đến và không tự
đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển sinh của Tâm
chính là cơ chế "Phân tách và liên kết dây".
Chân lý Vạn vật chính
là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng không là không
bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian
nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó, Chân lý Vạn vật,
Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là tướng không. Thấu hiểu chữ Duyên
thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và tương lai.
Vận
hành Chân lý Vạn vật của Tâm chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế
phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi
trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định,
môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt lượng của năng
lượng hoại diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Tâm của tất cả các nhóm vật chất
từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất để xảy ra phân tách và liên kết
thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.
Khi
chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta
sẽ thấu hiểu và giải mã được: nguyên nhân có Độc Tâm và Thiện Tâm của con người,
Tuệ linh; nguyên nhân Trụ – Tâm Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất; các con đường
chuyển sinh của Trụ – Tâm.
1. Nguyên nhân có Độc Tâm và Thiện Tâm của con người, Tuệ linh
Thấu hiểu nguyên nhân
con người, Tuệ linh có Độc Tâm và Thiện Tâm chính là việc đã thấu hiểu tri thức
hai Chân lý với cơ chế vận hành của hai Chân lý. Đó là thấu hiểu được nguyên
nhân nào sinh ra và diệt đi được độc Tâm. Đó là nguyên nhân nào sinh ra và diệt
đi được Thiện Tâm. Khi đó, con người, Tuệ linh sẽ kiểm soát để diệt Độc Tâm và
chuyển hóa thành Thiện Tâm. Tiếp đến là duy trì Thiện Tâm để hoàn thành sứ mệnh
cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh. 1.1. Nguyên nhân có Độc Tâm của con người và
Tuệ linh
Độc
Tâm là Tâm chấp ngã, Tâm sân, Tâm hận thù. Độc Tâm là biểu hiện của việc Trụ
linh và toàn bộ cấu trúc Tâm trong con người, Tuệ linh bị mất kiểm soát cân bằng
trạng thái năng lượng giữa âm và dương. Khi đó, những sóng điện âm, trạng thái
năng lượng âm quá mạnh và chi phối, kiểm soát toàn bộ năng lượng dương và trung
tính. Điều này khiến cho con người, Tuệ linh mất kiểm soát mà mất ý thức cũng
như hành vi.
Độc
Tâm là đau khổ. Đau khổ là vì trong Tâm diễn ra quá trình xung đột trạng thái
năng lượng cho tới việc mất kiểm soát. Do đó năng lượng hoại diệt di chuyển vào
ồ ạt và làm phân rã cấu trúc Tâm. Đi trên con đường Độc Tâm là dẫn đến phân rã
và hoại diệt Tâm.
Có
2 nguyên nhân khiến cho con người và Tuệ linh bộc phát Độc Tâm:
Nguyên
nhân cội nguồn:
Nguyên
nhân cội nguồn không phải là việc con người được sinh ra như thế nào hay bố mẹ
của ai đó được sinh ra như thế nào, tổ tiên con người được sinh ra như thế nào.
Cội nguồn ở đây là của bản thể Tâm (Tuệ linh). Đó là Tuệ linh được hình thành với
bản chất của Trụ linh gốc (phôi năng lượng âm dương gốc) như thế nào. Cụ thể:
-
Tuệ linh được hình thành từ phôi năng lượng gốc với một hạt năng lượng
dương và một hạt năng lượng âm. Trong đó, hạt năng lượng âm có sóng điện âm từ
mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh. Đó là hạt năng lượng âm có màu xám, màu
đen, màu đỏ máu. Khi Trụ linh gốc có sóng điện âm mạnh cho tới
siêu mạnh, hệ thống hạt năng lượng âm trong Trụ linh và Tuệ linh với bản chất
là sóng điện âm mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ rung lắc, hấp thụ nhiệt mạnh, rất
mạnh và siêu mạnh. Điều này khiến cho cấu trúc Tuệ linh đa sóng điện âm trong
quá trình trưởng thành sẽ có thiên hướng hấp thụ nhiệt lượng và năng lượng có
tương hợp về sóng rung động và nội dung thông tin, đó là năng lượng âm.
-
Tuệ linh có Trụ linh gốc đa âm sẽ rất dễ kích động và rung lắc mạnh
cho tới siêu mạnh. Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt sẽ dễ dàng di chuyển
nhiều vào và đồng hóa năng lượng âm trong cấu trúc cũng như chi phối toàn bộ cấu
trúc Tuệ linh đó. Nếu năng lượng hoại diệt di chuyển vào nhiều sẽ gây ra phân
rã và hoại diệt Tuệ linh.
-
Khi Tuệ linh hóa thân làm người và phải tương tác trong bốn hình tướng
Đạo trong nhiều kiếp tu hành ở nhân gian, với bản chất đa âm của Tuệ linh từ
khi được hình thành. Do đó, Tâm sẽ dễ dàng bộc phát Độc Tâm để dẫn tới mất đi sự
kiểm soát về ý thức cũng như hành vi. Họ sẽ gây tổn thương tới vạn vật, Tuệ
linh, con người. Vì Trụ linh đa âm nên khi đầu thai làm con người mà sống trong
môi trường tiêu cực thì con người đó sẽ rất nhanh bộc phát Độc Tâm. Nếu có sống
trong môi trường tích cực thì vẫn có nguy cơ bộc phát Độc Tâm.
Nguyên
nhân trực tiếp:
Nguyên
nhân trực tiếp là những yếu tố của hiện kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian
khiến cho con người bộc phát Độc Tâm. Đó là:
-
Môi trường sống tiêu cực mang sóng điện âm: môi trường sống tiêu cực với
những hủ tục, u mê, mê tín dị đoan, tư tưởng tiêu cực,
với những con người đang bộc phát Độc Tâm. Khi sống trong môi trường tiêu cực
mang sóng điện âm sẽ khiến cho Tâm dễ dàng chuyển hóa thành Độc Tâm. Nhất là Trụ
linh đa âm từ khi được hình thành thì sẽ nhanh bộc phát Độc Tâm. Thậm chí khi
Tuệ linh đa dương cũng có thể bộc phát Độc Tâm khi sống trong môi trường tiêu cực
mang sóng điện âm.
-
Vì chưa được tiếp cận, học, thấu hiểu tri thức của hai Chân lý, con
người sẽ chưa biết về cội nguồn, kế hoạch tu hành, sứ mệnh cải tạo Trụ linh,
Quy luật Nhân quả. Do đó, trí tuệ của họ luôn bám định vào giả tướng để hưởng
thụ mà không thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh. Chính vì vậy mà Tâm bộc phát
thành Độc Tâm.
Như
vậy, Độc Tâm được sinh ra khi con người, Tuệ linh có Trụ linh đa âm và hiện kiếp
sống trong môi trường tiêu cực. Đặc biệt là chưa có được tri thức của hai Chân
lý soi sáng, soi thấu để xóa tan u mê bám định vào giả tướng. Do đó dễ dàng bộc
phát Độc Tâm.
1.2. Nguyên nhân có Thiện Tâm của con người và
Tuệ linh
Thiện Tâm là Tâm cống
hiến, Tâm an lạc, Tâm buông xả. Thiện Tâm là biểu hiện của việc Trụ linh và
toàn bộ cấu trúc Tâm của con người, Tuệ linh đã kiểm soát được sóng điện âm,
dương, trung tính tuần hoàn thông suốt. Đó là trạng thái năng lượng mang sóng
điện dương và trung tính đủ sức mạnh để chi phối và không cho sóng điện âm rung
lắc mạnh và bộc phát. Điều này khiến cho Tuệ linh, con người dễ dàng giải mã được sự
thật của vạn vật và kiểm soát được ý nghĩ cho tới hành động sẽ vì vạn vật, Tuệ
linh, con người.
Thiện
Tâm vẫn còn phải xung đột để chi phối và kiểm soát trạng thái năng lượng, sóng
điện âm của Độc Tâm. Do đó, đi trên con đường Thiện Tâm vẫn còn bí bách của
xung đột kiểm soát. Tuy nhiên, đi trên con đường Thiện Tâm sẽ giúp Trụ linh
phân tách liên kết bền vững bởi năng lượng dương và chân tâm. Khi đi tới đích của
chuyển hóa Trụ linh thành bộ lộc năng lượng sẽ là triệt để không còn bí bách,
luẩn quẩn, xung đột. Bởi nó đã là tự động hóa quá trình tuần hoàn và kiểm soát
kỳ diệu.
Có
2 nguyên nhân khiến cho con người và Tuệ linh bộc phát Thiện Tâm:
Nguyên
nhân cội nguồn:
Nguyên
nhân cội nguồn không phải là việc con người được sinh ra như thế nào hay bố mẹ
của người được sinh ra như thế nào, tổ tiên con người được sinh ra như thế nào.
Cội nguồn ở đây là của bản thể Tâm (Tuệ linh). Đó là Tuệ linh được hình thành với
bản chất của Trụ linh gốc (phôi năng lượng âm dương gốc) như thế nào. Cụ thể:
Tuệ linh được hình
thành từ phôi năng lượng âm dương, gọi là Trụ linh gốc. Trong hai hạt năng lượng
hình thành Trụ linh thì hạt năng lượng âm có sóng điện rất nhẹ, hạt năng lượng
dương có sóng điện dương mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh. Đây gọi là Tuệ
linh được hình thành có Trụ linh đa dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh. Vì Tuệ
linh được hành thành có bản chất là Trụ linh đa dương nên Tuệ linh sẽ có thiên
hướng hấp thụ nhiệt lượng dương, sóng điện dương nhiều hơn là nhiệt lượng âm. Nếu
hấp thụ nhiệt lượng âm thì sóng điện
dương mạnh, rất mạnh, siêu mạnh của Trụ linh sẽ giảm tải được sóng điện âm khi
hấp thụ vào chỉ còn là sóng điện âm nhẹ. Chính vì điều này mà Tuệ linh được trưởng
thành với sự tuần hoàn sóng điện mạnh mẽ, năng lượng dương có sức mạnh kiểm
soát được năng lượng âm. Khi năng lượng dương kiểm soát được năng lượng âm nên
không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển ồ ạt vào đồng hóa Tuệ linh. Vì
năng lượng dương mạnh hơn năng lượng âm nên dễ dàng bộc phát Thiện Tâm.
-
Khi Tuệ linh đầu thai làm người tu hành ở nhân gian trong nhiều kiếp
và thông qua bốn hình tướng Đạo, với bản chất Trụ linh đa dương nên con người
đó dễ dàng giải mã được sự thật của các Tướng khi tương tác. Khi sống trong môi
trường tiêu cực hay tích cực, Trụ linh đa dương sẽ là sức mạnh để Thiện Tâm được
bộc phát.
Nguyên
nhân trực tiếp:
Nguyên
nhân trực tiếp là những yếu tố của hiện kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian
khiến cho con người bộc phát Thiện Tâm, đó là:
Môi trường sống tích
cực mang sóng điện dương: khi Tuệ linh đa dương hóa thân làm người, được sống
trong môi trường tích cực, điều này giống như cá gặp nước, nó sẽ giúp cho con
người đó bộc phát Thiện Tâm rất dễ dàng. Bởi Trụ linh đa dương lại gặp sóng điện
dương nên nó là sức mạnh để Trụ linh thực hành chuyển sinh bền vững. Cũng là
môi trường sống tích cực mang sóng điện dương, nếu Tuệ linh có Trụ linh đa âm đầu
thai sống trong môi trường tích cực, con người đó sẽ hấp thụ được nhiệt lượng của
sóng điện dương và sẽ thay đổi Trụ linh để
triệt bỏ Độc Tâm và bộc phát được Thiện Tâm.
-
Con người có Trụ linh trong Tâm đa âm hay đa dương, nếu gặp được tri
thức hai Chân lý, học, thấu hiểu, thực hành sẽ giúp triệt tiêu được Độc Tâm và
chuyển sinh thành Thiện Tâm. Đặc biệt tri thức của hai Chân lý sẽ dẫn dắt Tuệ
linh, con người chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Như
vậy, để triệt tiêu Độc Tâm và chuyển sinh thành Thiện Tâm, chúng ta trọng tâm
vào tạo ra môi trường tích cực có sóng điện dương và học để thấu hiểu tri thức
của hai Chân lý. Chúng ta phải tự tạo cho chúng ta và cho nhau môi trường tích
cực bằng ý nghĩ cho đến từ những hành động nhỏ, đó là học, thực hành, lan tỏa
tri thức của hai Chân lý cho nhau.
Từ
những nguyên nhân của Độc Tâm và Thiện Tâm ở Tuệ linh, con người, chúng ta thấy
rằng Độc Tâm không bất tử, nó sẽ chuyển hóa thành Thiện Tâm nếu được sống trong
môi trường tích cực và được học cũng như thực hành tri thức của hai Chân lý.
Cũng như vậy, Thiện Tâm cũng không bất tử, chúng ta muốn duy trì Thiện Tâm để tới
đích của cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì chúng ta phải tạo ra môi
trường tích cực và thực hành tri thức của hai Chân lý.
2. Nguyên nhân Trụ – Tâm Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất
Trụ – Tâm là trạng
thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ
trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật. Do đó, để thấu hiểu được
nguyên nhân của Trụ – Tâm Kết, Định, Tỏa, chúng ta phải thấu hiểu được nguyên
nhân Trụ linh Kết, Định, Tỏa.
Thấu
hiểu được nguyên nhân Trụ linh Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ
chính là chìa khóa chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh và
con người. Đó là, Tuệ linh, con người sẽ từ Trụ linh của mình để tuần hoàn, kiểm
soát được trạng thái năng lượng, sóng điện tới toàn bộ cấu trúc của bản thể
mình và tới toàn bộ Vũ trụ.
2.1. Nguyên nhân Trụ linh Kết của 3 nhóm vật
chất
Có
2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:
-
Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng
có đa sóng điện âm.
-
Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh,
siêu mạnh là do môi trường tương tác giữa các cấu trúc Trụ linh. Các cấu trúc
Trụ linh tương tác trong môi trường mang sóng điện âm sẽ khiến cho cấu trúc Trụ
linh dễ dàng hấp thụ năng lượng âm từ môi trường đó. Nếu cấu trúc Trụ linh đa
âm thì sẽ rất dễ dàng hút và hấp thụ nhiệt lượng âm của môi trường có sóng điện
âm. Điều đó sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh trở nên Kết mạnh và siêu mạnh hơn. Nếu
cấu trúc Trụ linh không bị đa âm, nhưng do tương tác trong môi trường có sóng
điện âm trong thời gian dài cũng khiến cho cấu trúc Trụ linh đó dễ dàng bị nhiễm
và trở thành cấu trúc Trụ linh Kết. 2.2. Nguyên nhân Trụ linh Định của 3 nhóm vật chất
Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trụ
linh
Định:
-
Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của Tướng có cấu
trúc cân bằng sóng điện âm dương và có cấu trúc đa sóng điện dương:
+
Trụ linh cân bằng sóng điện âm dương là Trụ linh được cấu tạo từ hạt
năng lượng có sóng điện âm nhẹ màu trắng xám với hạt năng lượng dương có sóng
điện nhẹ màu trắng đục. Cấu trúc Trụ linh Định này ở mức thấp, do cả hai hạt
năng lượng rung động và quay nhẹ.
+
Trụ linh đa sóng điện dương là Trụ linh được hợp thành bởi hạt năng lượng
âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám với hạt năng lượng dương tận cùng có
sóng điện mạnh, rất mạnh và siêu mạnh (phát triển màu xanh lá, lan tỏa màu đỏ lửa,
đoàn kết màu vàng). Trụ linh được cấu tạo từ các hạt năng lượng dương và âm như
trên sẽ tạo thành cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Tỏa mạnh cho
tới siêu mạnh chính là Định mạnh cho tới siêu mạnh. Bởi Định chính là nền tảng
cho quá trình chuyển sinh thành Tỏa mạnh và đạt đến chuyển hóa thành bộ lọc
năng lượng.
-
Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trụ linh Định là do môi trường
tương tác của các cấu trúc Trụ linh. Nếu cấu trúc Trụ linh Định tương tác trong
môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trụ linh Định sẽ dễ dàng nhiễm nhiệt lượng
có sóng điện dương để chuyển hóa thành cấu trúc Định – Tỏa ở mức cao. Nếu cấu
trúc Trụ linh Định tương tác trong môi trường có sóng điện âm, cấu trúc Trụ
linh Định sẽ dễ dàng bị chuyển
sinh thành cấu trúc Trụ linh Kết. Nếu cấu trúc Trụ linh Định tương tác trong
môi trường sóng điện trung tính sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh Định ở mức thấp.
2.3. Nguyên nhân Trụ linh Tỏa của 3 nhóm vật
chất
Có
2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:
-
Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng
có đa sóng điện dương. Khi Trụ linh đa sóng điện dương sẽ khiến cho Trụ linh Tỏa
mạnh, rất mạnh và siêu mạnh.
-
Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh,
siêu mạnh là do môi trường tương tác giữa các cấu trúc Trụ linh. Các cấu trúc
Trụ linh tương tác trong môi trường mang sóng điện dương sẽ khiến cho cấu trúc
Trụ linh dễ dàng hấp thụ năng lượng dương từ môi trường đó. Nếu cấu trúc Trụ
linh đa âm tương tác trong môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trụ linh đó sẽ
dễ dàng nhiễm nhiệt lượng có sóng điện dương để chuyển hóa dần cấu trúc Trụ
linh từ Kết trở thành Tỏa. Nếu cấu trúc Trụ linh đa dương tương tác trong môi
trường có sóng điện dương, hoặc trung tính, cấu trúc Trụ linh đó rất dễ dàng Tỏa
đạt đến siêu mạnh.
3. Các con
đường chuyển sinh của Trụ – Tâm
Trụ – Tâm là trạng thái
năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ trong từ
hạt năng lượng tận cùng
cho đến trong Trụ linh của vạn vật. Do đó, để thấu hiểu được các con đường chuyển
sinh của Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu được các con đường chuyển sinh của
Trụ linh.
Có 3 loại cấu trúc Trụ linh đối với con đường
chuyển
sinh:
3.1. Cấu trúc Trụ linh Kết đối với con đường
chuyển sinh
Cấu
trúc Trụ linh Kết là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ
chế phân tách và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không
vì lợi ích của hết thảy Tướng khác, thậm chí là gây tổn hại tới các Tướng khác.
Khi
các cấu trúc Trụ linh thực hiện phân tách liên kết trong bản chất là Kết, các sợi
mã sóng trí tuệ có sóng điện âm sẽ được phân tách ra vô số và lưu giữ ở Trụ
linh. Chúng sẽ phân tách thành các hạt năng lượng tận cùng và liên kết lại tạo thành
những hạt năng lượng âm tổng hợp, rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở
rộng. Vì chỉ thực hiện đời sống là Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt
năng lượng dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là
sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ tạo
thành hạt năng lượng dương tận cùng rồi liên kết tạo thành hạt năng lượng tổng
hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Trong khi đó các hạt năng lượng âm được sinh ra
nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt
năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương ít ỏi. Các hạt năng lượng
âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng hoại
diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại
diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng đó
bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.
Như
vậy, các cấu trúc Trụ linh mà thực hiện cơ chế phân tách, liên kết với bản chất
Kết chính là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt
vĩnh viễn.
Nguyên
nhân hoại diệt của cấu trúc Trụ linh Kết là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt
năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều,
năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn
công vào, cấu trúc Trụ linh Kết không có hạt năng lượng dương để phòng thủ,
kích nổ năng lượng hoại diệt, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.
Khổ
đau chính là sự phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm cấu trúc Trụ linh
trong Vũ trụ. Nguyên nhân của khổ đau là do các cấu trúc Trụ linh thực hiện cơ
chế phân tách liên kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại
diệt tấn công gây đứt liên kết mà hoại diệt.
Như
vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy cấu trúc Trụ linh thực hiện
đời sống Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.
3.2. Cấu trúc Trụ linh Định đối với con đường
chuyển sinh
Cấu
trúc Trụ linh Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ
chế phân tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Kết
cũng không Tỏa. Cấu trúc Trụ linh Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc
của Tướng đó.
Cấu
trúc Trụ linh thực hiện bản chất Định, tức là phân tách liên kết các sợi mã
sóng trí tuệ rất chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng
âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện
âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng
điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại
diệt tấn công.
Vì
bản chất cấu trúc Trụ linh thực hành đời sống Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh
mà không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi
có năng lượng hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó
duy trì Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.
Nếu
cấu trúc Trụ linh Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Tỏa thì nó có khả
năng kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế
phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy các cấu trúc Trụ linh
của Vũ trụ.
3.3. Cấu trúc Trụ linh Tỏa đối với con đường
chuyển sinh
Cấu
trúc Trụ linh Tỏa là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ
chế phân tách và liên kết vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản
thể Tướng mình. Đó là vì vạn
vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.
Khi
các cấu trúc Trụ linh thực hiện đời sống với bản chất là Tỏa, từ Trụ linh sẽ
phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Trước khi phân
tách ra được các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương thì cũng là quá trình
phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm
ở
mức nhẹ. Các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương được phân tách
ra nhiều sẽ giúp cho các hạt năng lượng dương tận cùng được hình thành và tạo
thành cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn
mạnh. Việc mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết
mang sóng điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt
mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện nhẹ
rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa,
các hạt năng lượng dương đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế
liên kết 3 vùng: từ Trụ linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực
hiện đời sống Tỏa, các cấu trúc Trụ linh sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại
diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng
dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát triển bền vững hơn. Các sợi
mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại
diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển
ít cho tới vừa đủ.
Việc
các cấu trúc Trụ linh thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền
vững cho Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của Vũ trụ
theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.
Trong
3 cấu trúc Trụ linh trên, cấu trúc Trụ linh Tỏa có con đường chuyển sinh theo
hướng bền vững nhất. Cấu trúc Trụ linh Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt.
Cấu trúc Trụ linh Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tướng. Tuy nhiên,
nếu các cấu trúc Trụ linh trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống riêng biệt theo 1
trong 3 cấu trúc Trụ linh trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh bền vững
nhất. Bởi, để cấu trúc Trụ linh Tỏa được phải có Kết vừa đủ. Cấu trúc Trụ linh
Kết để không hoại diệt phải biết Tỏa. Cấu trúc Trụ linh Định để phát triển và tồn
tại thì cần phải thực hiện Kết trước, sau đó thực hiện Tỏa.
Như
vậy, Chân lý Vạn vật và cơ chế phân tách, liên kết cho chúng ta thấu hiểu được
nguyên nhân có Độc Tâm, Thiện Tâm của Tuệ linh và con người. Để triệt được Độc
Tâm và chuyển sinh thành Thiện Tâm, chúng ta phải thấu hiểu và thực hành đời sống
hài hòa cả Kết – Định – Tỏa thì mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết mà
không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.
IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh
bền vững duy nhất của Trụ – Tâm
Chân
lý Giác ngộ trong Trụ – Tâm (Tâm) là: Tất
cả Tâm trong và ngoài Vũ trụ đều là khổ. Tâm phải dùng Định (chân tâm) trong Trụ
linh để thấu hiểu, chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa
và phát triển bền vững cho tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sứ mệnh
tiên phong là của Tuệ linh và con người.
Tuệ
linh thông qua thân tướng con người ở nhân gian để chuyển sinh Trụ linh thành bộ
lọc năng lượng. Để chuyển sinh được thì cần phải giải mã hết tất cả các trường
hợp bộc phát của độc và thiện trong Trụ linh trong tất cả các kịch bản tương
tác. Đó là bộc phát hết bản chất của Độc Tâm và Thiện Tâm. Thực hành con đường
giác ngộ khi đạt đến bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới chấm dứt triệt để khổ
đau. Do đó, bản chất Độc Tâm là khổ, và Tâm đang đi trên con đường Thiện Tâm
cũng là khổ. Cụ thể:
-
Độc Tâm của Tuệ linh, con người là khổ. Cái khổ của Độc Tâm là bị xung
đột trạng thái năng lượng, bí bách, luẩn quẩn, đau đớn bởi Tâm đang phân rã và
đi tới con đường hoại diệt. Do đó chúng ta cứ luân hồi trong vô lượng kiếp mà
không cải tạo được Trụ linh. Khi đó, năng lượng hoại diệt sẽ làm phân rã và hoại
diệt vĩnh viễn bản thể Tâm. Vì vậy ta phải dùng chính trí tuệ của ta để từng bước
thấu hiểu sự thật vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Thông qua
hai Chân lý để đối mặt, đón nhận tất cả các khổ đau kiếp nạn, thấu hiểu nó,
giác ngộ nó và chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh, đó là chuyển hóa thành
giác ngộ, thành Thiện
Tâm.
-
Tâm của Tuệ linh, con người đang đi trên con đường Thiện Tâm cũng là
khổ. Cái khổ của Tâm đang đi trên con đường Thiện Tâm không phải là không thấu
hiểu hai Chân lý và còn đắm chìm trong khổ đau, mà là, vì thấu hiểu bản chất của
hai Chân lý cũng như tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người.
Do đó, cái khổ là quá trình biến đổi, tìm phương pháp phù hợp để giác ngộ theo
căn cơ cho từng Tuệ linh và con người.
Khi đã chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc thì là sự chấm dứt triệt để khổ
đau, bởi khi đó sẽ luôn luôn có các phương pháp gieo duyên để giác ngộ Tuệ
linh, con người theo từng căn cơ trí tuệ khác nhau.
Trụ
– Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần
hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh. Trụ linh
bao gồm có Trụ – Trí và Trụ – Tâm. Do đó, Chân lý Giác ngộ với các con đường
chuyển sinh bền vững duy nhất của Trụ – Tâm phải bao gồm là Trụ linh.
Cơ
chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân
tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết. Đó là:
-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng sóng điện
âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ linh sẽ phân rã
và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.
-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng sóng điện
dương, đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ linh sẽ phân
tách, liên kết vô lượng hạt năng lượng mang sóng điện dương có liên kết chặt chẽ
bởi sợi chân tâm. Sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.
Từ bản chất của các cấu
trúc Trụ linh, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân
tách và liên kết, hết thảy Tướng, Tuệ linh và người đều thấy rằng: con đường
duy nhất để vượt qua khổ đau (phân rã và hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở
nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, chính là con
đường cấu trúc Trụ linh phải
Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, con người phải thực hiện nếu muốn
diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
Thực
hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là
Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng? Đó là:
-
Trụ linh phải tập trung sóng điện ở vị trí Định. Định là chân tâm, là
tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định ban đầu
cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là chân tâm sáng chói lòa vô lượng.
Khi Trụ linh đứng ở vị trí Định sẽ thấu hiểu, biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại
bản thể Trụ linh mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia.
-
Tiếp theo Trụ linh phải dùng sóng điện âm để Kết. Kết ở đây không phải
là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh,
con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định. Tức là Trụ linh đứng
ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui,
những sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng
khổ đau chia sẻ tới Trụ linh của ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u
mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện
âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy
luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng. Đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân
tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trụ linh của ta đứng ở vị
trí Định để dùng Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi
đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của ta hấp
thụ. Do Trụ linh ta đứng
ở vị trí Định nên Trụ linh đang tỏa sóng điện chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của
chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của cấu
trúc Trụ linh đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Trụ linh của ta đã
Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng
chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất
nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại
diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Đồng thời, Trụ linh cũng hấp
thụ được những năng lượng dương, chân tâm từ môi trường tương tác về để tạo
thành nhiệt dương cho Trụ linh kích nổ năng lượng hoại diệt. Đây chính là Kết
mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa hạt năng lượng của hết thảy
cấu trúc Trụ linh đau khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ Vũ trụ.
-
Tiếp đến Trụ linh của ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận
những sẻ chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực, tích cực về Trụ linh, Trụ
linh của ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là giải
mã tận cùng khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui của hết thảy các Tướng, trong
khi Trụ linh và Trí tuệ của ta vẫn Định. Bởi chỉ khi Định thì Trụ linh của ta mới
chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng hạt năng lượng có sóng điện dương.
Cuối cùng là Tỏa. Khi
đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở
đây chính là Trụ linh của ta sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch
tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững
an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Trụ linh ta làm đúng quy trình như vậy,
từ Trụ linh của ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là
trong Trụ linh của ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng
Tướng được nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3
vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc Tướng của ta sẽ trở
nên phát triển bền vững.
Khi
cấu trúc Trụ linh của ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng,
thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ
linh của ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.
Nếu
Trụ linh lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Trụ linh lựa chọn con
đường chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Trụ linh chỉ lựa chọn con đường Tỏa
thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt
được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Định để thực
hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng. Khi có được bộ lọc năng lượng thì Trụ – Tâm và Trụ – Trí đều
đã chấm dứt vĩnh viễn khổ đau.
Bài 4:
Bài Hành
²
Bài
Hành được hiểu là Hành Vô Hành. Bài Hành Vô Hành được kết cấu thành 3 phần. Chữ
Hành đầu tiên là khái niệm và bản chất Hành của các Tướng. Chữ Vô là Chân lý Vạn
vật với các con đường Hành chuyển sinh của các Tướng. Chữ Hành cuối cùng là Chân
lý Giác ngộ với con đường Hành chuyển sinh bền vững duy nhất của các Tướng.
Trong
bài Hành này, Hành tất cả các Tướng trong và ngoài vũ trụ sẽ được phân tích,
soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là hóa thân của
dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật về
Hành của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho Tuệ linh và con người
chọn lựa được con đường Hành siêu việt nhất để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng viên mãn.
I. Khái
niệm về Hành
Hành là hành động. Hành là
quá trình giải mã, rung động, sinh khởi hành động Kết – Định – Tỏa của từ hạt
năng lượng tận cùng cho tới Trụ linh của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ,
Tuệ linh và Người.
II. Bản
chất của Hành
Hết
thảy Tướng (vật chất) từ nhóm vật chất giản đơn cho tới nhóm vật chất phức tạp,
nhóm siêu vật chất, từ hạt năng lượng tận cùng trong và ngoài Vũ trụ cho tới chỉnh
thể cây cối, muông thú, con người, Tuệ linh, các hành tinh, tất cả đều là Hành.
Tất cả các Tướng đều là tam hợp mà thành. Tất cả các Tướng đều vận động quay
tròn. Tất cả các Tướng đều phân tách, liên kết trong môi trường có sóng điện. Tất
cả các Tướng vận động để duy trì tam hợp, duy trì quay tròn, duy trì phân tách
và liên kết để phát triển bền vững.
Từ
bản chất của Tướng, Trụ – Trí, Trụ – Tâm, Tuệ linh, con người đều thấy rằng, hết
thảy các Tướng đều luôn luôn diễn ra quá trình Hành. Đó là vận động đời sống Kết
hoặc Định hoặc Tỏa.
Từ
bản chất các Tướng vận động Kết – Định – Tỏa, Tuệ linh, con người sẽ thấy bản
chất Hành của hết thảy các Tướng được chia ra làm 3 giai đoạn, đó là: giai đoạn
giải mã của các Tướng; giai đoạn rung động của các Tướng; giai đoạn sinh khởi
hành động của các Tướng. Trong mỗi giai đoạn của Hành đều cho thấy bản chất Kết
– Định – Tỏa của hết thảy các Tướng. Từ đó, Tuệ linh, con người sẽ chọn lọc,
xác định được con đường chuyển sinh của các Hành, tiếp đến sẽ chọn được con đường
Hành chuyển sinh bền vững duy nhất cho Tướng, con người, Tuệ linh.
1. Cấu
trúc cấu tạo của Hành
Cả 3 nhóm vật chất cấu
tạo thành Vũ trụ (giản đơn, phức tạp, siêu vật chất) đều diễn ra quá trình hành
động từ giai đoạn giải mã cho đến giai đoạn rung động và giai đoạn sinh khởi hành động. Mỗi
nhóm vật chất khi thực hiện đời sống hành động sẽ tạo ra kết quả sản phẩm như
sau:
-
Nhóm siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng, đó là các Tuệ linh, là
các Tuệ linh và Linh hồn đã và đang an trụ trong thân tướng con người. Nhóm
siêu vật chất khi thực hiện hành động xong sẽ cho ra kết quả như sau:
+
Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng ở dạng phức tạp trong năm
nhóm để vận hành sự sống của cả Vũ trụ và gieo duyên cấu tạo thành các cấu trúc
Linh hồn.
+
Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng siêu phức tạp để được
gieo duyên cấu tạo thành các phôi năng lượng cho quá trình hình thành dạng sống
Tuệ linh, Linh hồn.
+
Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn để cấu tạo thành
nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại,
muông thú, con người, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ.
+
Sản sinh ra các siêu hạt năng lượng bảo vệ và phát triển Vũ trụ.
-
Nhóm vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống
của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn,
cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng
trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ. Nhóm vật chất phức
tạp khi thực hiện hành động xong sẽ cho ra kết quả như sau:
+
Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn để cấu tạo thành
nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại,
muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. +
Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng phức tạp trong năm nhóm để
vận hành sự sống của vật chất giản đơn và Vũ trụ.
-
Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của
nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại, muông
thú, con người, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Nhóm vật chất giản đơn khi thực hiện
hành động xong sẽ cho ra kết quả như sau:
+ Đối với con người sẽ sản
sinh ra siêu hạt năng lượng, sản sinh ra nhóm hạt năng lượng tận cùng phức tạp
của năm nhóm, sản sinh ra nhóm vật chất giản đơn.
+
Đối với muông thú sẽ sản sinh ra năm nhóm hạt năng lượng tận cùng phức
tạp và nhóm vật chất giản đơn.
+
Đối với vật chất rắn, lỏng, khí… sẽ sản sinh ra nhóm vật chất giản
đơn.
Khi
cả 3 nhóm vật chất thực hành đời sống hành động xong, dù là sản sinh ra loại
siêu hạt năng lượng, dù là sản sinh ra loại hạt năng lượng siêu phức tạp, dù là
sản sinh ra loại hạt năng lượng phức tạp, dù là sản sinh ra loại hạt năng lượng
giản đơn, tất cả đều là hạt năng lượng tận cùng. Chỉ có điều, nếu là hạt năng
lượng tận cùng giản đơn được cấu tạo tam hợp bởi vô số hạt thì sẽ tạo thành
nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại,
muông thú, con người, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Đó là loại vật chất mà con
người nhìn được bằng mắt thường. Những loại vật chất phức tạp, siêu phức tạp hoặc
siêu hạt năng lượng thì mắt thường con người không thể nhìn thấy được.
Hạt
năng lượng do tam hợp mà thành. Trong khi đó, yếu tố đầu tiên và quyết định cho
việc hình thành hạt năng lượng hoàn chỉnh
chính là sợi mã sóng trí tuệ. Như vậy, quá trình từ giải mã cho đến rung động
và sinh khởi hành động đều gắn liền với sợi mã sóng trí tuệ. Do đó, để thấu hiểu
cấu trúc của Hành thì chính là phải thấu hiểu cấu trúc của sợi mã sóng trí tuệ
của hạt năng lượng tận cùng. Vì kết thúc quá trình Hành sẽ cho ra sản phẩm là hạt
năng lượng tận cùng với sợi mã sóng trí tuệ.
Cấu
trúc cấu tạo của Hành gắn liền với cấu trúc cấu tạo sợi mã sóng trí tuệ của hạt
năng lượng tận cùng như sau:
- Hành có cấu trúc bao gồm 3 đặc tính sóng điện,
đó là:
+
Tỏa mang đặc tính sóng điện dương. Nó chính là sợi mã sóng trí tuệ
rung động và sinh phát hành động ở cực dương, gọi là Hành Tỏa (hành tích cực). +
Định là đặc tính sóng điện trung tính (chân tâm). Nó chính là sợi mã
sóng trí tuệ rung động và sinh phát hành động ở điểm cân bằng – đường trung
tính, gọi là Hành Định (Hành thỏa hiệp).
+ Kết là đặc tính sóng điện
âm. Nó chính là sợi mã sóng trí tuệ rung động và sinh phát hành động ở cực âm,
gọi là Hành Kết (Hành tiêu cực).
- Hành gồm có giai đoạn giải
mã. Đó là giai đoạn tương tác của các cấu trúc Tướng trong môi trường có sóng
điện. Trong giai đoạn này, Trụ linh của Tướng sẽ cần thời gian tương tác với
các Tướng và hấp thụ nhiệt lượng của môi trường có sóng điện nhằm chuẩn bị cho
quá trình phân tách sợi mã sóng trí tuệ.
-
Giai đoạn hình thành sợi mã sóng trí tuệ của Hành. Giai đoạn này gồm
có 2 đoạn và 3 điểm, đó là:
+ Hành gồm 3 điểm:
++
Điểm số 1 là điểm khởi đầu, là điểm bắt đầu rung động sau khi kết thúc
giai đoạn giải mã của Trụ linh, là điểm thu sóng điện từ môi trường bên ngoài để
hình thành sợi mã sóng trí tuệ cho quá trình Hành.
++
Điểm số 2 là điểm hệ tư tưởng được kết tụ và sinh phát thành hành động
cho quá trình Hành.
++
Điểm số 3 là kết thúc hành động, là điểm truyền tải sóng điện cho quá
cho quá trình Hành tiếp theo.
+ Hành gồm 2 đoạn:
Đoạn từ điểm 1 đến điểm
2: đoạn này được gọi là đoạn mã sóng rung động. Đoạn mã sóng rung động được khởi
đầu khi Trụ linh hấp thụ nhiệt lượng của môi trường có sóng điện sau quá trình
tương tác với các Tướng. Sau đó, do tương tác mà mã
sóng rung động sẽ rung động, dao động liên tục giữa thái cực âm và thái cực
dương, trong đó thái cực cân bằng nằm ở giữa hai thái cực âm và dương. Khi sợi
mã sóng rung động kết tụ được lực sinh phát, hay còn gọi là hệ tư tưởng ở điểm
2. Khi đó, chấm dứt quá trình rung động tạo ra mã sóng trí tuệ. Nó sẽ chuyển
sang đoạn 2.
++
Đoạn từ điểm 2 đến điểm 3: đoạn này được gọi là sợi trí tuệ. Đoạn sợi
trí tuệ này được khởi đầu từ điểm số 2, đó là điểm sinh phát hành động. Hành động
của sợi trí tuệ kết thúc ở điểm số 3. Khi hành động kết thúc cũng là hoàn thành
quá trình hành động để hoàn chỉnh hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ. Khi điểm
2 sinh phát hành động ở thái cực đường trung tính thì điểm 3 cũng sẽ kết thúc ở
điểm trên đường trung tính, đó là hạt năng lượng chân tâm. Khi điểm 2 sinh phát
hành động ở thái cực âm thì điểm 3 cũng sẽ kết thúc ở thái cực âm, đó là hạt
năng lượng âm. Khi điểm 2 sinh phát hành động ở thái cực dương thì điểm 3 cũng
sẽ kết thúc
ở thái cực dương, đó là hạt năng lượng dương.
Hành
được khởi đầu bởi quá trình giải mã cho tới sinh khởi rung động, sinh phát hành
động và kết thúc hành động, đó là một quy trình hoàn chỉnh của Hành. Mỗi một
Hành qua đi sẽ lại diễn ra một Hành mới. Đó chính là cơ chế phân tách liên kết
các hạt năng lượng tận cùng bởi sóng thu ở điểm 1 và sóng phát ở điểm 3 của sợi
mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng sau mỗi quá trình Hành.
2. Giai
đoạn Hành giải mã của Tướng
Giai
đoạn Hành giải mã của Tướng là giai đoạn mà các cấu trúc Tướng tương tác với
nhau trong khoảng thời gian nhất định. Khoảng
thời gian đó phải đảm bảo đủ để sinh khởi sóng rung động cho tiến trình Hành tạo
ra hạt năng lượng với sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh.
Giai
đoạn giải mã phải có sóng điện. Tức là môi trường mà các Tướng tương tác với
nhau phải có sóng điện. Đó là sóng điện dương, hoặc sóng điện âm, hoặc sóng điện
trung tính, hoặc có cả 3 sóng điện trong quá trình các Tướng tương tác với
nhau.
Giai
đoạn giải mã của các Tướng chính là giai đoạn mà các Tướng di chuyển, tương tác
với nhau trong môi trường có sóng điện để nhận thức cho quá trình Hành động.
Giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả là giải mã đúng (Tỏa), giải mã cân bằng (Định),
giải mã sai (Kết). Kết quả của quá trình giải mã chính là khởi đầu cho hành động
chuyển sinh theo hướng Kết hay Định hay Tỏa.
Giai
đoạn giải mã Kết – Định – Tỏa sẽ phụ thuộc vào 2 yếu tố:
-
Yếu tố cội
nguồn chính là Trụ linh:
+
Nếu Trụ linh có bản chất Tỏa thì giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả
là Tỏa để dẫn tới Hành Tỏa.
+
Nếu Trụ linh có bản chất Định thì giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả
là Định để dẫn tới Hành Định.
+
Nếu Trụ linh có bản chất Kết thì giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả Kết
để dẫn tới Hành Kết.
- Yếu tố môi trường có sóng điện tương tác:
+
Trong môi trường có sóng điện dương: Trụ linh có bản chất Kết sẽ có cơ
hội, dễ dàng để giải mã chuyển từ Kết thành Tỏa; Trụ linh có bản chất Định sẽ dễ
dàng chuyển hóa thành giải mã Tỏa; Trụ linh
có bản chất Tỏa sẽ giải mã Tỏa một cách dễ dàng.
+
Trong môi trường có sóng điện trung tính: Trụ linh có bản chất Tỏa sẽ
dễ dàng giải mã Tỏa; Trụ linh có bản chất Định sẽ giải mã Định; Trụ linh có bản
chất Kết sẽ giải mã Kết.
+
Trong môi trường có sóng điện âm: Trụ linh có bản chất Kết sẽ giải mã
Kết; Trụ linh có bản chất Định sẽ dễ dàng giải mã Kết; Trụ linh có bản chất Tỏa
sẽ khó mà chuyển thành giải mã Kết.
Như
vậy, để giải mã được Kết, hay Định, hay Tỏa sẽ phụ thuộc vào môi trường tương
tác và đặc biệt là bản chất của Trụ linh. Ta có thể thấy, Trụ linh có bản chất
Tỏa sẽ là Trụ linh có khả năng giải mã đúng nhất về sự thật, về giá trị thật, về
con đường chuyển sinh bền vững nhất, đó là giải mã Tỏa để hành Tỏa.
3. Giai
đoạn Hành rung động của Tướng
Giai
đoạn hành rung động còn được gọi là giai đoạn nội Hành. Nội Hành tức là đưa ra
được hệ tư tưởng thông qua quá trình rung động trong Trụ linh của Tướng, tức là
rung động bên trong con người, Tuệ linh, Tướng.
Giai
đoạn bắt đầu rung động của Hành là giai đoạn chấm dứt quá trình giải mã tương
tác của các cấu trúc Tướng.
Giai
đoạn rung động là giai đoạn bắt đầu, khởi đầu cho quá trình Hành. Giai đoạn
rung động được bắt đầu từ điểm 1 trong sợi mã sóng trí tuệ. Giai
đoạn rung động là giai đoạn từ điểm 1 đến điểm 2 trong sợi mã sóng trí tuệ của
hạt năng lượng.
Giai
đoạn Hành rung động là giai đoạn mà Trụ linh của Tướng đang đấu tranh, xung đột,
dao động sóng điện trong cấu trúc Trụ linh để chuyển biến và phân tách ra hạt
năng lượng. Khi Tướng tương tác với Tướng khác trong môi trường có sóng điện,
khi đó, Trụ linh sẽ thông qua Tướng để giải mã Tướng. Sau khi giải mã Tướng
xong, Trụ linh sẽ rung động mạnh. Rung động mạnh là quá trình giao tranh, xung
đột, dao động sóng điện trong Trụ linh để sinh khởi hành động. Sự giao tranh
hay còn gọi là nội Hành. Nội Hành vì đó là quá trình xung đột sóng điện trong
chính cấu trúc Tướng và Trụ linh của Tướng. Rung động mạnh vì mã sóng rung động
dao động nhẹ cho tới mạnh, rất mạnh, siêu mạnh giữa cực âm và cực dương.
Quá trình giai đoạn Hành rung động diễn ra như
sau:
- Trụ linh bắt đầu sinh khởi
rung động. Đó là điểm số 1 trong sợi mã sóng trí tuệ. Đó là điểm mà cấu trúc Trụ
linh bắt đầu phân tích, nghiên cứu về cấu trúc Tướng khác. Khi đó, Trụ linh sẽ
tuần hoàn sóng điện âm dương trong Trụ linh và thông qua môi trường tương tác
có sóng điện.
-
Trụ linh sẽ rung động từ điểm cân bằng (đường chân tâm) khi bắt đầu
sinh khởi sóng rung động.
- Tiếp đến là Trụ linh sẽ sinh
khởi sóng rung động theo hướng Tỏa hoặc theo hướng Kết.
-
Do bản chất Trụ linh và môi trường sóng điện, Trụ linh sẽ rung động
liên tục sóng rung giữa hai thái cực là âm và dương. Đường cân bằng là điểm mà
sóng rung động sẽ liên tục di chuyển qua. -
Quá trình Trụ linh rung động tạo thành nhiều cho tới vô số nhịp sóng
rung động trong quá trình hình thành sợi mã sóng trí tuệ.
-
Khi Trụ linh kết tụ và dừng rung động ở điểm số 2 trong sợi mã sóng
trí tuệ để chuyển thành sinh khởi hành động tương tác tới Tướng khác chính là dấu
mốc chấm dứt quá trình Hành rung động.
- Điểm sinh khởi hành động tới
Tướng khác chính là hệ tư tưởng được kết tụ và sinh phát trạng thái năng lượng
của sợi mã sóng trí tuệ. Nếu điểm số 2 mà nằm trên đường trung tính thì đó là hệ
tư tưởng Định (tư tưởng thỏa hiệp). Nếu điểm số 2 nằm trên cực dương thì đó là
hệ tư tưởng Tỏa (tư tưởng tích cực). Nếu điểm số 2 nằm ở cực âm thì đó là hệ tư
tưởng Kết (tư tưởng tiêu cực).
Quá trình rung động và kết tụ hệ tư tưởng của
điểm 2
ở
thái cực nào là phụ thuộc vào quá trình giải mã chuyên sâu (quá trình
sinh khởi và rung động của mã sóng rung động) bởi Trụ linh và môi trường tương
tác của các Tướng.
Quá
trình sinh khởi rung động từ điểm 1 cho đến khi kết thúc ở điểm 2 sẽ cho thấy
có 3 loại mã sóng Hành rung động. Đó là mã sóng Hành rung động Định, mã sóng
Hành rung động Kết, mã sóng Hành rung động Tỏa.
Bản chất của Hành rung động Kết – Định – Tỏa:
Hành rung
động Kết:
Hành rung động Kết được gọi là hệ tư tưởng
tiêu cực.
Hành rung động Kết là
kết quả của quá trình giải mã, sinh khởi và kết thúc quá trình rung động của Trụ
linh. Điểm kết thúc quá trình rung động là điểm số 2 trong sợi mã sóng trí tuệ. Đó là hệ tư tưởng,
là kết quả Hành rung động Kết tại cực âm của hạt năng lượng.
Hành rung động Kết có bản chất là:
-
Là phản chiếu bản chất của Trụ linh đa sóng năng lượng âm. Đó là Trụ
linh có bản chất Kết.
-
Là phản ánh môi trường cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi
trường có sóng điện âm. Đó là môi trường tiêu cực.
-
Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được
cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được môi trường có sóng điện âm để chuyển
sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Do đó, cấu trúc Trụ linh mới Hành
rung động Kết.
-
Hành rung động Kết là bản chất Trụ linh và Tướng rung động mạnh, giải
mã sai về sự thật, hút nhiệt và vạn vật về, tham lam, vơ vét, thỏa mãn, chìm đắm
hưởng thụ, giết hại, gây tổn hại tới các Tướng khác.
Hành
rung động Kết sẽ chắc chắn sinh khởi thành Hành Kết tương tác tới các Tướng
xung quanh. Khi đã có hệ tư tưởng Kết thì nó luôn luôn sẽ chuyển sinh thành
Hành Kết tương tác với các Tướng khác. Đó là ngoại Hành Kết để tạo ra hạt năng
lượng âm.
Hành rung
động Định:
Hành rung động Định được gọi là hệ tư tưởng thỏa
hiệp.
Hành rung động Định
là kết quả của quá trình giải mã, sinh khởi và kết thúc quá trình rung động của
Trụ linh. Điểm kết thúc quá trình rung động là điểm số 2 trong sợi mã sóng trí tuệ. Đó là hệ tư tưởng,
là kết quả Hành rung động Định tại đường trung tính của hạt năng lượng.
Hành rung động Định có bản chất là:
-
Là phản chiếu bản chất của Trụ linh cân bằng sóng điện âm dương. Đó là
Trụ linh có bản chất Định.
-
Là phản ánh môi trường cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi
trường có sóng điện chân tâm.
-
Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được
cấu trúc Trụ linh cân bằng, vượt qua được môi trường có sóng điện chân tâm để
chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Trụ linh cũng không bị hấp dẫn
của cực âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Kết. Do đó, cấu trúc
Trụ linh mới Hành rung động Định.
-
Hành rung động Định là bản chất Trụ linh và Tướng rung động nhẹ, rung
lắc nhẹ, không tham lam, không vơ vét, không hút về, không chiếm hữu, không giết
hại, không gây tổn hại tới Tướng khác. Bên cạnh đó cũng không truyền đi, không
cho đi, không soi sáng, không tỏa, không giúp đỡ, không cứu giúp, không chỉ dẫn,
không phổ độ cho Tướng khác. Đó là bản chất không Kết cũng không Tỏa. Nó tự an
lạc, tự cân bằng, tự bảo vệ chính nó bằng sự thanh tịnh và tự tại của chân tâm.
Hành
rung động Định sẽ chắc chắn sinh khởi thành Hành Định tương tác tới các Tướng
xung quanh. Khi đã có hệ tư tưởng Định thì nó luôn luôn sẽ chuyển sinh thành
Hành Định tương tác với các Tướng khác. Đó là ngoại Hành Định để tạo ra hạt
năng lượng chân tâm.
Hành rung
động Tỏa:
Hành rung động Tỏa được gọi là hệ tư tưởng
tích cực.
Hành
rung động Tỏa là kết quả của quá trình giải mã, sinh khởi và kết thúc quá trình
rung động của Trụ linh. Điểm kết thúc quá trình rung động là điểm số 2 trong sợi
mã sóng trí tuệ. Đó là hệ tư tưởng, là kết quả Hành rung động Tỏa tại cực dương
của hạt năng lượng.
Hành rung động Tỏa có bản chất là:
-
Là phản chiếu bản chất của Trụ linh đa sóng năng lượng dương. Đó là Trụ
linh có bản chất Tỏa.
-
Là phản ánh môi trường cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi
trường có sóng điện dương.
- Là bản chất mà Trụ linh và
Tướng đó có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được
môi trường có sóng điện âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa.
Do đó, cấu trúc Trụ linh mới Hành rung động Tỏa.
-
Hành rung động Tỏa là bản chất Trụ linh và Tướng truyền tải sóng điện
mạnh, lan tỏa, cho đi, cứu giúp, soi sáng, chỉ dẫn, phổ độ tới các Tướng khác
mà không màng tới bản thể Tướng mình.
Hành
rung động Tỏa sẽ chắc chắn sinh khởi thành Hành Tỏa tương tác tới các Tướng
xung quanh. Khi đã có hệ tư tưởng Tỏa thì nó luôn luôn sẽ chuyển sinh thành
Hành Tỏa tương tác với các Tướng khác. Đó là ngoại Hành Tỏa để tạo thành hạt
năng lượng dương.
4. Giai
đoạn sinh khởi Hành của Tướng
Giai
đoạn sinh khởi hành động của Tướng được gọi là ngoại Hành. Ngoại Hành là sau
khi có được hệ tư tưởng của nội Hành (giai đoạn rung động bên trong), Tuệ linh,
con người, Tướng sẽ diễn ra quá trình tương tác với các Tướng, Tuệ linh, con
người khác.
Giai
đoạn sinh khởi Hành của Tướng chính là giai đoạn ngoại Hành của Tướng tương tác
tới các Tướng khác.
Giai
đoạn ngoại Hành chính là giai đoạn bắt đầu từ sinh khởi hành động, sinh phát
năng lượng tại điểm số 2 (hệ tư tưởng) đã kết tụ được sau giai đoạn Hành rung động
cho đến kết thúc hành động ở điểm 3 trong sợi mã sóng trí tuệ.
Nếu
không có giai đoạn ngoại Hành thì sẽ không có hạt năng lượng nào được tạo ra. Nếu
không có ngoại Hành thì Hành rung động cũng sẽ tự tiêu tan và không còn tồn tại
mã sóng rung động đã được tạo ra trước đó.
Ngoại
Hành chính là diễn biến tiếp theo của Hành rung động. Hay có thể nói, ngoại
Hành là sản phẩm, là kết quả của Hành rung động (nội Hành).
Quá trình giai đoạn ngoại Hành diễn ra như
sau:
-
Khi điểm 2 (hệ tư tưởng của Hành rung động) ở trên đường trung tính sẽ
sinh phát thành hành động tương tác tới các Tướng khác và kết thúc hành động ở
điểm 3 của sợi mã sóng trí tuệ cũng nằm trên đường trung tính. Đó là ngoại Hành
Định. Tức là ngoại Hành thỏa hiệp.
Khi điểm 2 (hệ tư tưởng
của Hành rung động) ở cực dương sẽ sinh phát thành hành động tương tác tới các
Tướng khác và kết thúc hành động ở điểm 3 của sợi mã sóng trí tuệ cũng ở cực
dương. Đó là ngoại Hành Tỏa. Tức là ngoại Hành tích cực. -
Khi điểm 2 (hệ tư tưởng của Hành rung động) ở cực âm sẽ sinh phát
thành hành động tương tác tới các Tướng khác và kết thúc hành động ở điểm 3 của
sợi mã sóng trí tuệ cũng ở cực âm. Đó là ngoại Hành Kết. Tức là ngoại Hành tiêu
cực.
Điểm
3 trong sợi mã sóng trí tuệ là đánh dấu kết thúc quá trình Hành của Tướng. Nó
chính là kết thúc quá trình phân tách hạt năng lượng trong Trụ linh, để từ đây,
sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh đó sẽ phân tách ra làm 3 cho tới vô số hạt
năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ đó để phân tách vào 3 vùng theo Quy luật Nhân
quả.
Quá
trình ngoại Hành từ điểm 2 tới điểm 3 trong sợi trí tuệ sẽ cho thấy có 3 loại
ngoại Hành. Đó là ngoại Hành Kết, ngoại Hành Định, ngoại Hành Tỏa.
Bản chất của ngoại Hành Kết – Định – Tỏa:
Ngoại
Hành (Hành sinh khởi) Kết:
Ngoại Hành Kết là ngoại Hành tiêu cực.
Hành
sinh khởi Kết là kết quả của quá trình Hành rung động của Trụ linh cũng là Kết.
Điểm sinh khởi Hành số 2 và điểm kết thúc Hành số 3 trong sợi mã sóng trí tuệ
là thể hiện được bản chất ngoại Hành của Tướng.
Hành sinh khởi Kết có bản chất là:
-
Là phản chiếu bản chất của Hành rung động Kết; là phản chiếu của Trụ
linh Kết, đa âm.
-
Là phản ánh cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có
sóng điện âm.
-
Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được
cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được môi trường
có sóng điện âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Do đó, cấu
trúc Trụ linh sinh khởi thành ngoại Hành Kết.
-
Hành sinh khởi Kết là bản chất Trụ linh và Tướng ngoại Hành tham lam,
vơ vét, chiếm hữu, cướp bóc, giết hại, gây tổn hại tới các Tướng, là lan tỏa,
phát triển, đoàn kết hệ tư tưởng Kết tới các Tướng.
Hành
sinh khởi Kết sẽ chắc chắn phân tách ra hạt năng lượng có sóng điện âm. Khi đó,
hạt năng lượng âm này làm cho cấu trúc Trụ linh và Tướng bị đa âm. Trụ linh sẽ
không có cơ chế liên kết dây vững chắc, nên dễ bị năng lượng hoại diệt xâm nhập
gây phân rã, hoại diệt cấu trúc Tướng và Trụ linh.
Ngoại
Hành (Hành sinh khởi) Định:
Ngoại Hành định là ngoại Hành thỏa hiệp.
Hành
sinh khởi Định là kết quả của quá trình Hành rung động của Trụ linh cũng là Định.
Điểm sinh khởi Hành số 2 và điểm kết thúc Hành số 3 trong sợi mã sóng trí tuệ
là thể hiện được bản chất ngoại Hành của Tướng.
Hành sinh khởi Định có bản chất là:
-
Là phản chiếu bản chất của Hành rung động Định; là phản chiếu của Trụ
linh cân bằng. Là Trụ linh Định.
-
Là phản ánh cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có
sóng điện chân tâm.
-
Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được
cấu trúc Trụ linh cân bằng, vượt qua được môi trường có sóng điện chân tâm để
chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Trụ linh cũng không bị hấp dẫn của cực
âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Kết. Do đó, cấu trúc Trụ
linh mới ngoại Hành Định.
-
Hành sinh khởi Định là bản chất Trụ linh và Tướng không ngoại Hành Tỏa
và cũng không ngoại Hành Kết.
Hành
sinh khởi Định sẽ chắc chắn phân tách ra hạt năng lượng có sóng điện chân tâm.
Tuy nhiên, đây là hạt chân tâm yếu, nó dễ bị chuyển hóa khi liên kết với hạt
năng lượng âm hoặc hạt năng lượng dương.
Ngoại
Hành (Hành sinh khởi) Tỏa:
Ngoại Hành Tỏa là ngoại Hành tích cực.
Hành
sinh khởi Tỏa là kết quả của quá trình Hành rung động của Trụ linh cũng là Tỏa.
Điểm sinh khởi Hành số 2 và điểm kết thúc Hành số 3 trong sợi mã sóng trí tuệ
là thể hiện được bản chất ngoại Hành của Tướng.
Hành sinh khởi Tỏa có bản chất là:
-
Là phản chiếu bản chất của Hành rung động Tỏa; là phản chiếu của Trụ
linh Tỏa, đa dương.
-
Là phản ánh cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có
sóng điện dương.
- Là bản chất mà Trụ linh và
Tướng đó có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được môi
trường có sóng điện âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Do
đó, cấu trúc Trụ linh sinh khởi thành ngoại Hành Tỏa.
Hành sinh khởi Tỏa là
bản chất Trụ linh và Tướng ngoại Hành luôn cho đi, lan tỏa, truyền tải, cứu
giúp, phổ độ tới hết thảy Tướng khác mà không vì Tướng của mình. Hành
sinh khởi Tỏa sẽ chắc chắn phân tách ra hạt năng lượng có sóng điện dương và
kèm thêm hạt năng lượng chân tâm ở mức độ cân bằng cao. Khi đó, từ Trụ linh sẽ
phân tách ra các hạt năng lượng phân tách vào 3 vùng theo Quy luật Nhân quả. Việc
phân tách ra các hạt năng lượng dương và hạt chân tâm cao sẽ giúp cho cấu trúc
Trụ linh và Tướng tạo được cấu trúc liên kết bền vững và an lạc bởi hạt năng lượng
dương và sợi chân tâm (hạt chân tâm trở thành sợi dây gắn kết các hạt năng lượng
dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh).
III. Chân lý Vạn vật với các con đường Hành chuyển sinh của các Tướng.
Chân
lý Vạn vật trong Hành sẽ là: Hành của Tướng
không tự sinh ra, Hành của Tướng không tự mất đi, khổ đau trong Hành của Tướng
không tự đến và không tự đi, tất cả do cơ chế phân tách và liên kết dây.
Vận
hành Chân lý Vạn vật của Tướng trong Hành chính là cơ chế phân tách và liên kết
dây. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện.
Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian
nhất định, trong độ nén và dẫn tới sinh nhiệt bùng phát. Tất cả các nhóm vật chất
để xảy ra Hành cho quá trình phân tách và liên kết thì đều phải tồn tại trong
môi trường có điều kiện.
Trong điều kiện môi
trường cho quá trình Hành để phân tách và liên kết xảy ra phải có sóng điện. Đó
là môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính hoặc tất cả. Điều kiện
môi trường Hành để phân tách, liên kết đã tạo ra 3 loại Hành
khác nhau của Tướng. Ba loại Hành này sẽ cho Tuệ linh, con người thấy được rõ
ràng con đường Hành chuyển sinh bền vững và con đường Hành chuyển sinh phân rã
rồi hoại diệt. Từ đó, thấu hiểu nguyên nhân tại sao và Tuệ linh, con người sẽ lựa
chọn được con đường Hành chuyển sinh siêu việt nhất cho các Tướng được bền vững
và an lạc.
Có 3 loại Hành của Tướng trên con đường chuyển
sinh:
1. Hành Kết của Tướng đối với con đường chuyển sinh
Tướng
Hành Kết bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân
tách và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không vì lợi ích
của hết thảy Tướng khác, thậm chí là Hành gây tổn hại tới các Tướng khác.
Khi các Tướng thực hiện
Hành phân tách liên kết trong bản chất là Kết, năng lượng âm sẽ được phân tách
ra vô số hạt từ Trụ linh. Chúng sẽ liên kết lại tạo thành những hạt năng lượng
âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện
đời sống là Hành Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng dương ra để
tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là hạt năng lượng dương không
được sinh ra để làm nhiệm vụ liên kết mở rộng. Trong khi đó các hạt năng lượng
âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1.
Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương
ít ỏi. Các hạt năng lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc
nên khiến cho năng lượng hoại diệt
bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt
di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng đó bắt đầu
bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.
Như
vậy, các Tướng mà Hành theo cơ chế phân tách, liên kết với bản chất Kết chính
là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.
Nguyên
nhân hoại diệt của Tướng Hành Kết là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng
lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều,
năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn
công vào, Tướng Hành Kết không có hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ, sẽ
bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.
Khổ
đau chính là sự phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ.
Do đó, nguyên nhân của khổ đau là do các Tướng Hành theo cơ chế phân tách liên
kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Hành Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn
công gây đứt liên kết mà hoại diệt.
Như
vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy Tướng thực hiện đời sống
Hành Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.
2. Hành Định của Tướng đối với hành trình chuyển sinh
Tướng
Hành Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân
tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Hành Kết cũng không Hành Tỏa.
Tướng Hành Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của Tướng đó.
Tướng
thực hiện bản chất Hành Định, tức là họ phân tách liên kết hạt năng lượng rất
chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt
năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ
không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện
dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt
tấn công.
Vì
bản chất Tướng thực hành đời sống Hành Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh mà
không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi có
năng lượng hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó duy
trì Hành Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.
Nếu
Tướng Hành Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Hành Tỏa thì nó có khả năng
kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế phân
tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy Tướng của Vũ trụ.
3. Hành Tỏa của Tướng đối với hành trình chuyển sinh
Tướng Hành Tỏa là bao
gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết
vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản thể Tướng mình. Đó là Hành
vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Khi
các Tướng thực hiện đời sống với bản chất là Hành Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách
ra vô số các hạt năng lượng sóng điện dương. Trước khi phân tách ra được các hạt
năng lượng sóng điện dương thì cũng là quá trình phân tách ra các hạt năng lượng
sóng điện âm ở mức nhẹ. Các hạt năng lượng dương được phân tách ra nhiều sẽ
giúp cho cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và
lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên
kết mang sóng điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16
hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện
nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống
Hành Tỏa, các hạt năng lượng dương đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo
thành cơ chế liên kết 3 vùng: từ Trụ linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ.
Khi thực hiện đời sống Hành Tỏa, các Tướng sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại
diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng
dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát triển bền vững hơn. Các hạt
năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại
diệt di chuyển vào, nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển
ít cho tới vừa đủ.
Việc
các Tướng thực hiện đời sống Hành Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững
cho Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của
Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.
Trong 3 loại Hành của
Tướng ở trên, Tướng Hành Tỏa có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất.
Tướng Hành Kết là chuyển
sinh theo hướng hoại diệt. Tướng Hành Định là sự cân bằng phải có cho tất cả
các Tướng. Tuy nhiên, nếu các Tướng trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống Hành
riêng biệt theo 1 trong 3 loại Hành của Tướng ở trên thì sẽ khó khăn để đạt đến
sự chuyển sinh bền vững nhất. Bởi, để Tướng Hành Tỏa được phải có Hành Kết vừa
đủ. Tướng Hành Kết để không hoại diệt phải biết Hành Tỏa. Tướng Hành Định để
phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện Hành Kết trước, sau đó thực hiện
Hành Tỏa.
Như
vậy, Chân lý Vạn vật và cơ chế phân tách, liên kết cho thấy, Tướng để tồn tại,
phát triển bền vững thì cần phải thấu hiểu cả Hành Kết, Hành Định, Hành Tỏa, từ
đó thực hành đời sống hài hòa cả Hành Kết – Định – Tỏa mới đạt đến đích của
chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Hành Kết mà không phải là Kết mới tạo thành
sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng
viên mãn nhất.
IV. Chân lý Giác ngộ với con đường Hành chuyển
sinh bền vững duy nhất của các Tướng
Chân
lý Giác ngộ trong Hành là: Hết thảy Hành
của Tướng là khổ, tất cả Tướng phải dùng Hành Định để thấu hiểu Hành Kết – Định
– Tỏa của hết thảy Tướng. Từ đó, chuyển hóa Trụ linh thành Hành Kết – Định – Tỏa.
Cơ
chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân
tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường Hành phân tách và liên kết, đó là:
Con đường Hành phân
tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Hành Kết. Nếu Hành theo
con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân
rã và hoại diệt. Đây là con đường Hành chuyển sinh phân rã và hoại diệt.
-
Con đường Hành phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương,
đó là Hành Tỏa. Nếu Hành theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân tách, liên
kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là
con đường Hành chuyển sinh bền vững nhất.
Từ
bản chất Hành của Tướng, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận
hành là phân tách và liên kết, hết thảy Tướng, Tuệ linh và con người đều thấy rằng:
con đường Hành duy nhất để vượt qua khổ đau (hoại diệt cấu trúc năng lượng) để
trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh chính là
con đường Hành Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, Tướng phải thực hiện
nếu muốn diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
Thực
hiện con đường Hành Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải
là Hành Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Hành Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng? Đó là:
-
Tướng phải đứng ở vị trí Hành Định. Hành Định là chân tâm, là tĩnh lặng,
là cân bằng, là an lạc. Vị trí Hành Định sẽ được nâng cao từ Hành Định ban đầu
cho tới các cảnh giới tối cao của Hành Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô lượng.
Khi Tướng đứng ở vị trí Hành Định sẽ biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại bản thể
Tướng mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết giải mã, biết sẻ chia.
-
Tiếp theo Tướng phải biết Hành Kết. Hành Kết ở đây không phải là có tư
tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người.
Hành Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng
ở vị trí Hành Định. Tức là đứng ở vị trí Hành Định để lắng nghe, đón nhận những
khổ đau kiếp nạn, an vui hạnh phúc, sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh,
con người. Bởi khi các Tướng khổ đau chia sẻ tới ta, những chia sẻ bởi khổ đau,
khổ đau bởi u mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu
cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân
tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng, đó là trong Trụ linh họ
1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Tướng ta đứng ở
vị trí Hành Định để dùng Hành Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón
nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ
linh của Tướng ta hấp thụ. Do ta đứng ở vị trí Hành Định nên Trụ linh đang tỏa
chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm
màu xám, màu đen, màu đỏ máu của Tướng đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ.
Như vậy, Tướng ta đã Hành Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các
Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt
năng lượng âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng
hoại diệt, năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta.
Cũng như vậy, Kết nhiệt, năng lượng dương từ các Tướng tích cực để tạo sóng điện
dương kích nổ năng lượng hoại diệt. Tướng ta an lạc để chuyển hóa thành Hành Tỏa.
Đây chính là Hành Kết mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa hạt
năng lượng của hết thảy Tướng đau khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ
Vũ trụ.
-
Tiếp đến Tướng ta lại Hành Định. Hành Định ở đây là sau khi đã đón nhận
những sẻ chia, tức là Hành Kết được năng lượng tiêu cực, tích cực về Trụ linh,
Tướng ta tiếp tục Hành Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là thấu
hiểu tận cùng khổ đau, an vui của hết thảy các Tướng, trong khi Trụ linh và Tướng
ta vẫn an lạc, vẫn thanh tịnh. Bởi chỉ khi có được thanh tịnh, an lạc, không
dao động thì Tướng ta mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng hạt năng lượng dương
và siêu hạt.
-
Cuối cùng là Hành Tỏa, sau khi đã trải qua quá trình Hành Định rồi
Hành Kết, lại Hành Định rồi đến cuối cùng là Hành Tỏa. Hành Tỏa ở đây chính là
Tướng ta sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh,
về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn
mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh
Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Tướng ta làm đúng quy trình như vậy, từ
Trụ linh của Tướng ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là
trong Trụ linh của Tướng ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối
tượng Tướng được nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Hành Tỏa sẽ tạo thành
liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc năng lượng
của Tướng ta sẽ trở nên phát triển bền vững.
Khi
Tướng ta thực hiện quy trình Hành Kết – Định – Tỏa thành bản năng, thực hành
trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ linh của Tướng
ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.
Nếu
Tướng lựa chọn con đường chỉ Hành Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Tướng lựa chọn con
đường chỉ Hành Định thì nguy cơ hoại diệt
cao. Nếu Tướng chỉ lựa chọn con đường Hành Tỏa thì tuy không có nguy cơ hoại diệt
cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng là mất
nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp
theo quy trình đứng ở vị trí Hành Định để Hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình
siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Như
vậy. Để chuyển sinh Trụ linh của Tướng thành bộ lọc năng lượng, Tướng ta phải đứng
ở vị trí Hành Định để thực hành Kết – Định – Tỏa. Đây là con đường duy nhất, là
bài thuốc duy nhất để giúp Tướng ta cứu lại chính Tướng ta không bị phân rã hoại
diệt do năng lượng hoại diệt tác động. Ngược lại, Tướng ta sẽ nhanh chóng chuyển
sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Tướng ta sẽ cứu giúp và
thúc đẩy các Tướng trong Vũ trụ cũng được chuyển sinh bền vững. Việc cứu giúp
các Tướng khác được chuyển sinh bền vững sẽ giúp cho Tướng ta chuyển sinh thành
bộ lọc năng lượng. Và ngược lại, để chuyển sinh Trụ linh của Tướng ta thành bộ
lọc năng lượng thì phải cứu giúp các Tướng khác chuyển sinh bền vững.
Bài 5:
Bài Đạo
²
Bài Đạo chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
Bài
Đạo được hiểu là Đạo Vô Đạo. Đạo Vô Đạo được kết cấu thành 3 phần. Chữ Đạo đầu
tiên là khái niệm và bản chất của Đạo. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường
chuyển sinh của Đạo. Chữ Đạo cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển
sinh bền vững duy nhất của Đạo.
Trong
bài Đạo này, Đạo hợp nhất của Vũ trụ sẽ được phân tích, soi sáng, phơi bày sự
thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, dạng sống con người là hóa thân của dạng sống
Tuệ linh để đi tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Do đó, tri thức của hai Chân lý sẽ
thức tỉnh con người, Tuệ linh về cội nguồn và có sức mạnh thực hiện hoàn thành
sứ mệnh của mình sau khi đã thấu hiểu về Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
I. Khái
niệm về Đạo
Đạo là Vũ trụ quan xung
quanh Tuệ linh và con người. Tuệ linh và con người phải dùng Trụ linh để thấu
hiểu, cải tạo, phát triển Vũ trụ quan trở nên bền vững.
Đạo là Vũ trụ quan
xung quanh Tuệ linh và con người. Vì sao Tuệ linh và con người là trung tâm của
Vũ trụ? Vì sao Đạo lại là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người? Sao
không phải là dạng sống nào khác? – Bởi vì Tuệ linh
được sinh ra đầu
tiên, trước khi tinh cầu năng lượng khổng lồ bị kích nổ để hình thành Vũ trụ
cho đến nay. Tức là, Tuệ linh đầu tiên đã được hình thành từ hai hạt năng lượng
âm và dương tận cùng (gốc). Đó là phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh đầu tiên
– Người Cha – Người Thầy của Vũ trụ. Phôi năng lượng đó cũng là phôi năng lượng
gốc của Vũ trụ. Như vậy, vị Tuệ linh đầu tiên và Vũ trụ đều được hình thành từ
một phôi năng lượng âm dương gốc. Do cơ chế phân tách, liên kết dây của hạt
năng lượng mà từ phôi năng lượng gốc của vị Tuệ linh đầu tiên đã phân tách và
chuyển sinh thành vô số Tuệ linh, hình thành các nhóm vật chất từ giản đơn cho
tới phức tạp và siêu phức tạp. Vũ trụ phát triển từ vụ nổ năng lượng với sự hiện
hữu vĩ đại của vị Tuệ linh đầu tiên. Ngài ấy đã gieo duyên để chuyển sinh ra vô
số Tuệ linh từ những hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.
Tiếp đến Ngài cùng dạng sống Tuệ linh xây dựng các hành tinh, các khối thiên
hà. Các khối thiên hà với vô số hệ mặt trời, mỗi hệ mặt trời lại có vô số hành
tinh. Vô số các khối thiên hà được sắp xếp từ lõi của Vũ trụ (cõi trời của vị
Tuệ linh đầu tiên) tầng tầng lớp lớp từ trong ra ngoài tạo thành tinh cầu Vũ trụ
khổng lồ. Vị Tuệ linh đầu tiên cùng dạng sống Tuệ linh an trụ tại lõi của Vũ trụ.
Ngài cùng dạng sống Tuệ linh xây dựng, phát triển, bảo vệ Vũ trụ. Do đó, Đạo là
Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh. Tuệ linh là trung tâm của Vũ trụ. Tuệ linh là
dạng sống thống lãnh bảo vệ, phát triển Vũ trụ. Sau này khi dạng sống Tuệ linh
hóa thân thành con người để truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ thì con người và
Tuệ linh là trung tâm của Vũ trụ.
Để
cải tạo, phát triển Đạo hợp nhất của Vũ trụ trở nên bền vững, Tuệ linh và con
người phải thông qua hai Chân lý để thấu hiểu tất
cả các bản chất của chính Tuệ linh, con người và tất cả các nhóm vật chất cấu tạo
thành Vũ trụ quan xung quanh. Tiếp đến là thông qua Chân lý Vạn vật để giải mã,
thấu hiểu Đạo hợp nhất của Vũ trụ với các con đường chuyển sinh. Cuối cùng là
thông qua Chân lý Giác ngộ để xác định được con đường chuyển sinh bền vững duy
nhất cho Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
II. Bản
chất của Đạo hợp nhất Vũ trụ
Vị
Tuệ linh đầu tiên cùng dạng sống Tuệ linh đã tu tập, nghiên cứu, giải mã, truy
tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ từ khi được hình thành cho tới nay, và cuối cùng đã
tìm ra được Đạo hợp nhất của Vũ trụ thông qua Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ.
Đó là tìm được bản chất tận cùng, các con đường chuyển sinh và con đường chuyển
sinh bền vững duy nhất của Đạo Vũ trụ trong sự hợp nhất.
Để
thấu hiểu tất cả các bản chất của Đạo hợp nhất Vũ trụ thì phải thông qua bản chất
về hạt năng lượng tận cùng (hạt năng lượng nhân quả), thông qua cơ chế phân
tách và liên kết dây (cơ chế vận hành của hai Chân lý), thông qua cấu trúc tam
hợp của vạn vật, thông qua cơ chế quay tròn, thông qua bản chất của thông tin,
thông qua sự sống và cái chết, thông qua cơ chế chuyển sinh.
Bản chất Đạo hợp nhất
của Vũ trụ gồm có: Cội nguồn của Vũ trụ, Tuệ linh, con người; cấu trúc của Vũ
trụ, Tuệ linh và con người; bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của 5 nhóm
vật chất và Tuệ linh; bản chất khổ đau của vạn vật và Tuệ linh; Tuệ linh giải
mã và mã hóa thông tin toàn diện thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian; bản
chất khổ đau và con đường diệt khổ của con người và Tuệ linh; kiểm soát độc tâm và kích
hoạt thiện tâm của con người và Tuệ linh; Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở hình tướng
và tâm tướng; bản chất Kết – Định – Tỏa của Đạo hợp nhất Vũ trụ.
Cội nguồn
của Vũ trụ, Tuệ linh và con người
1. Cội nguồn của Vũ trụ
Vũ
trụ chúng ta đang sống hiện tại là 1 tinh cầu với vô số các khối thiên hà. Các
khối thiên hà được sắp xếp từ không gian lõi cho tới hết phía bên ngoài tinh cầu
Vũ trụ. Các khối thiên hà đầu tiên được sắp xếp bao trùm không gian lõi bởi sự
liên kết giữa các khối thiên hà, vô số các khối thiên hà tiếp theo được sắp xếp
bao phủ theo hướng tầng tầng, lớp lớp các khối thiên hà bên trong và phủ khắp
toàn tinh cầu Vũ trụ. Mỗi khối thiên hà lại được sắp xếp bởi nhiều dải thiên hà
cấu tạo thành. Mỗi dải thiên hà lại có vô số hệ mặt trời được sắp xếp tập trung
tạo thành các dải ánh sáng rực rỡ. Mỗi hệ mặt trời lại có nhiều hành tinh quay
xung quanh. Trái đất chúng ta đang sống chính là một hành tinh quay xung quanh
một mặt trời. Đó là một Vũ trụ kỳ vĩ.
Tại
thời điểm hiện tại của Vũ trụ, thông qua cơ chế phân tách liên kết của hạt năng
lượng, chúng ta trở ngược về thời điểm hai hạt năng lượng tận cùng có sóng điện
âm và dương liên kết với nhau để tạo ra phôi âm dương cho sự khởi đầu của Vũ trụ.
Tính theo đơn vị đo lường thời gian của Trái đất cũng tương đương 20 tỷ năm.
Như vậy, mất 20 tỷ năm để từ một phôi năng lượng âm dương thông qua cơ chế phân
tách và liên kết hạt năng lượng để tạo thành một Vũ trụ kỳ vĩ với vô số các khối
thiên hà được cấu tạo thành một tinh cầu Vũ trụ khổng lồ. Đây đã phải là cội
nguồn của Vũ trụ chưa? – Nó chưa phải là cội
nguồn của Vũ trụ. Cội nguồn của Vũ trụ còn ở tiến xa về quá khứ rất nhiều.
Cội nguồn quá khứ của Vũ trụ theo trình tự như
sau:
Trong không gian vô tận, vô cùng, không có khu vực nào có sóng điện âm
hay dương, có những điểm như những cái hang vô hình. Từ những cái hang vô hình
đó, có những hạt sóng xanh bé li ti được bay ra ngoài không gian. Những hạt
sóng xanh chưa sinh phát ra nhiệt lượng, chưa sinh phát ra trạng thái năng lượng.
Đặc biệt là những hạt sóng xanh này chưa mã hóa thông tin nên nó chưa phát triển
nâng cấp thành các cấu trúc có trí tuệ. Những hạt sóng xanh được coi là cội nguồn
của Vũ trụ.
Những hạt sóng xanh được sinh ra từ những cái hang vô hình để di chuyển
ra ngoài theo quỹ đạo hình xoắn ốc. Những hạt sóng xanh di chuyển ra ngoài
không gian không có sóng điện khiến chúng không quay tròn xung quanh chính nó.
Những hạt sóng xanh di chuyển theo hình xoắn ốc là do quỹ đạo di chuyển từ lúc
sinh ra. Vì những hạt sóng xanh khi di chuyển đã bắt đầu sinh nhiệt lượng trong
nội tại hạt sóng xanh, chúng phân tách nhân đôi và tách ra để tiếp tục di chuyển.
Quá trình di chuyển trong môi trường không có sóng điện, những hạt sóng xanh bắt
đầu sinh nhiệt nên chúng bắt đầu giải mã, mã hóa thông tin quá trình di chuyển
vào hạt. Quá trình di chuyển, giải mã, mã hóa đã khiến chúng chuyển sinh thành
sợi mã sóng trí tuệ còn dang dở. Sợi mã sóng trí tuệ còn dang dở đó đã tạo
thành hạt năng lượng tận cùng, đó là năng lượng hoại diệt. Năng lượng hoại diệt
có sợi mã sóng trí tuệ đã giải mã và mã hóa được những thông tin nhất định
trong quá trình di chuyển. Tuy nhiên vì môi trường không có sóng điện, vì hạt
sóng xanh không quay tròn, việc mã hóa thông tin và
nâng cấp thành cấu trúc trí tuệ chưa cao. Nó mới chỉ dừng lại ở hạt năng lượng
tận cùng và không có cơ chế liên kết giữa các hạt năng lượng hoại diệt với
nhau. Vì năng lượng hoại diệt không liên kết với nhau nên chúng không tuần hoàn
được sóng điện cho nhau trong quá trình vận động. Điều này khiến cho chúng
nhanh bị dư thừa nhiệt lượng trong hạt khi chúng di chuyển với mật độ dày.
Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt đã bị kích nổ ở nhiều khu vực trong
không gian chứa đựng vô số năng lượng hoại diệt. Những vụ nổ của năng lượng hoại
diệt đã bắt đầu tạo ra những môi trường nhỏ có sóng điện âm và dương. Như vậy,
năng lượng hoại diệt là nền móng để xuất hiện Vũ trụ cũng như là nguồn cung
năng lượng giúp Vũ trụ phát triển về sau này. Quá trình năng lượng hoại diệt được
sinh ra đã giúp cho năng lượng hoại diệt phát triển lớn mạnh và bao trùm trong
không gian vô tận. Năng lượng hoại diệt sống trong môi trường không có sóng điện
âm dương.
Khi xuất hiện những khu vực có sóng điện dương và âm trong không gian
sống của năng lượng hoại diệt, các hạt sóng xanh vẫn được sinh ra, có những hạt
sóng xanh đã di chuyển vào các khu vực có sóng điện âm, dương đó. Những hạt
sóng xanh di chuyển vào không gian sóng điện dương đã chuyển hóa thành hạt năng
lượng dương tận cùng có cơ chế liên kết dây. Những hạt sóng xanh di chuyển vào
không gian sóng điện âm đã chuyển hóa thành hạt năng lượng âm tận cùng có cơ chế
liên kết dây. Quá trình các hạt sóng xanh di chuyển vào không gian có sóng điện
âm và dương đã khiến cho các hạt sóng xanh quay tròn xung quanh chính nó để giải
mã, mã hóa thông tin trong quá trình biến đổi và chuyển sinh thành sợi mã sóng
trí tuệ hoàn chỉnh. Những sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh đã cấu tạo thành hạt năng lượng hoàn chỉnh có khả năng nâng cấp cao hơn bởi chúng có khả năng liên kết. Khi xuất hiện những hạt năng lượng tận cùng có sóng điện, những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển tới để xả sóng điện dư thừa trong nó. Quá trình này sẽ thành công khi các hạt năng lượng hoại diệt gặp được hạt năng lượng âm. Quá trình xả sóng điện dư thừa sẽ thất bại khi gặp hạt năng lượng dương, bởi cả hai sẽ bị kích nổ. Những hạt năng lượng có sóng điện được sinh ra và bị kích nổ hoặc bị đồng hóa xảy ra liên tục, tuy chưa phát triển thành cấu trúc vật chất mới, nhưng là tín hiệu để hình thành cấu trúc vật chất với trí tuệ lớn hơn.
Sự xuất hiện phôi năng lượng âm dương trong không gian năng lượng hoại diệt đã xảy ra. Đó là một hạt năng lượng dương màu vàng có sóng điện dương siêu mạnh đã liên kết với một hạt năng lượng âm màu trắng xám với sóng điện âm rất nhẹ. Khi hai hạt năng lượng âm dương liên kết với nhau đã xuất hiện màng bọc chân tâm bao bọc phôi âm dương. Đây là sự nâng cấp trí tuệ vô cùng lớn từ khi xuất hiện hạt sóng xanh. Phôi năng lượng âm dương này được sinh ra từ hạt sóng xanh. Đây là phôi năng lượng âm dương khởi đầu cho sự hình thành Vũ trụ.
Phôi năng lượng âm dương khi liên kết với nhau, chúng quay tròn để giải mã, mã hóa thông tin trong quá trình vận động. Sự xuất hiện phôi năng lượng âm dương trong không gian sống của năng lượng hoại diệt đã khiến cho năng lượng hoại diệt bắt đầu xâm nhập tới để xả sóng điện dư thừa. Vì có màng bọc chân tâm bao bọc vững chắc, vì sóng điện âm trong phôi năng lượng rất nhẹ nên không kích động nhiều năng lượng hoại diệt xâm nhập tới. Khi năng lượng hoại diệt xâm nhập
tới, vì có sóng điện dương siêu mạnh của hạt năng lượng dương nên sóng điện
dương được truyền ra và làm kích nổ năng lượng hoại diệt. Phôi năng lượng âm
dương hấp thụ nhiệt lượng vào để xảy ra quá trình phân tách hạt năng lượng
trong phôi năng lượng âm dương. Quá trình tấn công của năng lượng hoại diệt và
quá trình kích nổ, hấp thụ nhiệt của phôi năng lượng diễn ra liên tục. Quá
trình đó đã giúp cho phôi âm dương này chuyển sinh thành tinh cầu năng lượng khổng
lồ với màng bọc chân tâm vô cùng vững chắc. Bên trong tinh cầu năng lượng khổng
lồ có một Trụ linh cho quá trình vận hành tinh cầu năng lượng khổng lồ. Trụ
linh đó chính là phôi năng lượng âm dương đã chuyển sinh thành. Chính Trụ linh
đó đã phân tách ra năm nhóm năng lượng cấu tạo thành Vũ trụ sau này. Trụ linh
đó chính là Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên, tức là vị Tuệ linh đầu tiên được
hình thành song song cùng Vũ trụ.
Tinh cầu năng lượng
khổng lồ với năm nhóm hạt năng lượng bị nén bên trong, đồng thời, năng lượng hoại
diệt cũng lớn mạnh nên chúng tấn công ồ ạt vào màng bọc tinh cầu năng lượng khổng
lồ. Vừa bị sức nén từ bên trong tinh cầu và nhiều năng lượng hoại diệt tập
trung lớn ở màng bọc chân tâm của tinh cầu năng lượng do đó, màng bọc tinh cầu
năng lượng đã bị kích nổ. Vụ nổ đó đã khiến cho không gian năng lượng hoại diệt
vô cùng lớn xung quanh bên ngoài tinh cầu bị nổ theo. Năm nhóm năng lượng trong
tinh cầu sau vụ nổ đã giải phóng ra bên ngoài tạo thành không gian rộng lớn của
năm nhóm năng lượng khổng lồ. Không gian năm nhóm năng lượng khổng lồ do có cơ
chế liên kết dây, do có quay tròn nên quay tròn xung quanh lõi của không gian
năm nhóm năng lượng.
Vụ nổ đã làm cho năng lượng hoại diệt bị tiêu hao quá lớn. Vụ nổ cũng
cung cấp nhiệt lượng vô cùng lớn và giá trị để giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên kiến
thiết, xây dựng thành các dạng sống, thành Vũ trụ như ngày nay với vô số khối thiên
hà.
Như
vậy, cội nguồn của Vũ trụ là một hành trình dài vô tận để có được sự sống của
Vũ trụ như ngày nay. Hạt sóng xanh được gọi là cội nguồn của Vũ trụ. Năng lượng
hoại diệt bị kích nổ sẽ cung cấp năng lượng cho quá trình phát triển Vũ trụ trở
nên bền vững và lớn mạnh. Năm nhóm năng lượng thông qua cơ chế quay tròn, tam hợp,
phân tách liên kết dây để cấu tạo thành tinh cầu Vũ trụ với vô số các khối
thiên hà. Vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh đã kiến thiết, xây dựng,
phát triển, bảo vệ Vũ trụ phát triển bền vững.
1.2. Cội
nguồn của Tuệ linh
Tuệ
linh là một cấu trúc năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ,
có khả năng di chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.
Tuệ linh chính là dạng
sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống chủ yếu tại không
gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần, Phật, Thiên Chúa…
theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người ngoài hành tinh, theo cách gọi
của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái đất. Tuệ linh
không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh ra là do cơ chế
phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những
hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương hợp lại thành phôi âm
dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.
Vậy, cội nguồn của dạng sống
Tuệ linh? – Cội nguồn của dạng sống Tuệ linh được chia làm hai hành trình:
Vị Tuệ linh đầu tiên
được hình thành cùng lúc và song song với sự hình thành tinh cầu năng lượng của
Vũ trụ. Đó là, khi phôi năng lượng âm dương của Vũ trụ được hình thành thì đó
chính là phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh đầu tiên. Khi phôi năng lượng
đó hình thành và phân tách liên kết trong môi trường có năng lượng hoại diệt bị
kích nổ bên ngoài màng bọc chân tâm, phôi năng lượng đó giải mã, mã hóa thông
tin toàn diện môi trường xung quanh để phân tách ra năm nhóm hạt năng lượng tận
cùng để cấu tạo thành tinh cầu Vũ trụ. Quá trình phân tách đó đồng thời diễn ra
quá trình liên kết những hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp
nhất, tinh hoa nhất để cấu tạo thành Trụ linh trưởng thành và sau này là hình
hài một vị Tuệ linh sống trong tinh cầu năng lượng đó. Khi vụ nổ xảy ra, vị Tuệ
linh đầu tiên đứng giữa không gian lõi của không gian năm nhóm năng lượng khổng
lồ. Như vậy, vị Tuệ linh đầu tiên được hình thành từ hai hạt sóng xanh chuyển
sinh thành. Đó là hai hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường có sóng điện âm và
dương để giải mã, mã hóa thông tin và nâng cấp cấu trúc trí tuệ thành hạt năng
lượng tận cùng. Sau đó hai hạt năng lượng âm dương tận cùng này liên kết với
nhau để cấu tạo thành phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh đầu tiên và cũng
là của Vũ trụ. Có thể nói, Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên này lưu giữ toàn bộ
sợi mã sóng trí tuệ của cả tinh cầu năm nhóm năng lượng. Đây là điều đặc biệt
và duy nhất chỉ có vị Tuệ linh đầu tiên có,
điều mà dạng sống Tuệ linh được hình thành sau này không có được.
Sau vụ nổ năng lượng, vị Tuệ linh đầu tiên bắt đầu kiến thiết, xây dựng
các dạng sống trong toàn bộ Vũ trụ. Vị Tuệ linh đầu tiên đã phân năm nhóm năng
lượng thành 3 nhóm để kiến thiết và xây dựng. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng
có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được kết tụ tại lõi không gian năm nhóm hạt
năng lượng Vũ trụ để tạo thành các phôi năng lượng âm dương để chuyển sinh
thành vô số các Tuệ linh. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ
phức tạp được cấu tạo thành vật chất vận hành Vũ trụ. Năm nhóm hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn được cấu tạo thành vật chất giản đơn để tạo
thành các khối thiên hà. Dạng sống Tuệ linh chính là siêu vật chất. Dạng sống
Tuệ linh được hình thành từ những hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ
siêu phức tạp và được dưỡng tại lõi của Vũ trụ, thông qua cơ chế phân tách liên
kết, quay tròn, tam hợp, giải mã và mã hóa thông tin để chuyển sinh thành Trụ linh
và thành các em bé Tuệ linh. Các Tuệ linh được sinh ra đều được vị Tuệ linh đầu
tiên dẫn dắt, dạy dỗ và cùng nhau xây dựng Vũ trụ lớn mạnh như ngày nay. Như vậy,
dạng sống Tuệ linh được sinh ra từ những hạt năng lượng tận cùng đã được phân
tách từ Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên. Đây là điều dễ hiểu khi các Tuệ linh
không có được sức mạnh giải mã thông tin, xử lý thông tin, phát triển cũng như
sức mạnh như vị Tuệ linh đầu tiên.
Có
thể nói, cội nguồn của dạng sống Tuệ linh được bắt nguồn từ phôi năng lượng âm
dương của Vũ trụ. Phôi năng lượng âm dương của Vũ trụ được hình thành từ hai hạt
sóng xanh. Năng lượng
hoại diệt là nguồn cung nhiệt lượng cho quá trình hình thành, phát triển của Vũ
trụ và Tuệ linh.
1.3. Cội
nguồn của con người
Con
người là dạng sống vật chất giản đơn. Trong cơ thể con người là tổng hợp của vô
số các nhóm cấu trúc tế bào chức năng được phân tách và liên kết tạo thành cơ
thể hoàn chỉnh. Đó là da, tóc, xương, mỡ, thịt, máu, gân, mạch, tim, phổi, gan,
mắt, tai, mũi, miệng, răng, đầu, thân, chân, tay… Những tế bào chức năng được
mã hóa thông tin với sứ mệnh nhiệm vụ riêng để cấu tạo thành con người hoàn chỉnh.
Có thể nói, con người là bản thu nhỏ của Vũ trụ. Mỗi tế bào trong cơ thể con
người lại được cấu tạo bởi vô số phân tử nhỏ hơn, mỗi phân tử lại được cấu tạo
bởi vô số nguyên tử nhỏ hơn, mỗi nguyên tử lại được cấu tạo bởi vô số hạt năng
lượng tận cùng có sóng điện âm – dương – trung tính.
Để
thấu hiểu hơn về cội nguồn con người, chúng ta cần tìm hiểu một chút về nước.
Khi hiểu được điều này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khoa học và rõ ràng về cội
nguồn cũng như sự hình thành của con người. Đó là, biển nước được hình thành từ
vô lượng giọt nước, mỗi một giọt nước được hình thành từ vô số phân tử nước, mỗi
một phân tử nước lại được hình thành từ hai nguyên tử hiđro và một nguyên tử
oxy. Con người không thể nhìn được bằng mắt thường, không sờ thấy được các
nguyên tử này bởi chúng quá nhỏ. Tiếp đến, mỗi một nguyên tử oxy hay hiđro lại
được hình thành, cấu tạo từ vô số hạt năng lượng tận cùng để tạo ra các hạt
năng lượng âm tổng hợp, dương tổng hợp, trung tính tổng hợp. Như vậy, nước được
cấu tạo từ vô số các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn. Các cấu
trúc liên kết của những hạt năng lượng tận
cùng có sự mã hóa thông tin và có sứ mệnh khác nhau cũng như tế bào của con người
vậy. Vậy, khi tế bào con người mổ xẻ tới hạt năng lượng tận cùng thì chúng ta
cũng không thể nhìn thấy hay sờ thấy được. Chúng ta chỉ nhìn được những cấu
trúc vật chất lớn và tốc độ rung động chậm.
Vậy cội nguồn con người được hành thành như
sau:
Quá trình dạng sống Tuệ linh được sinh ra, trưởng thành, họ xây dựng,
kiến thiết phát triển các dạng sống trong Vũ trụ từ năm nhóm năng lượng sau vụ
nổ, chính vì đó mà hình thành Vũ trụ với vô số khối thiên hà như ngày nay. Tuy
nhiên, quá trình Vũ trụ phát triển thì dạng sống của năng lượng hoại diệt cũng
lớn mạnh vượt bậc về số lượng. Năng lượng hoại diệt xâm nhập vào bên trong Vũ
trụ để truy tìm các cấu trúc vật chất có sóng điện âm nhằm xả sóng điện dư thừa.
Chính vì các cấu trúc năng lượng âm có bản chất là hút về nên đây là điều năng
lượng hoại diệt cần để chúng tự cứu chính chúng. Nếu không xả bỏ sóng điện dư
thừa thì chúng sẽ bị kích nổ mà hoại diệt. Trong Vũ trụ hình thành các cơn bão
năng lượng hoại diệt. Những cơn bão năng lượng hoại diệt đã làm cho vô số Tuệ
linh bị phân rã và hoại diệt khi gặp phải. Không những vậy, các hành tinh, các
cấu trúc vật chất trong Vũ trụ cũng bị phân rã khi bị các cơn bão năng lượng hoại
diệt càn quét qua. Nguyên nhân dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt nhiều là do khả
năng giải mã, mã hóa thông tin trong quá trình hình thành và phát triển còn hạn
chế nên không có khả năng miễn dịch cũng như chuyển hóa được năng lượng hoại diệt.
Chính vì điều đó, dù dạng sống Tuệ linh đã tìm mọi phương pháp để giúp cho
chính họ có khả năng miễn dịch cũng như chuyển hóa được năng lượng hoại diệt, nhưng tất cả đều
chưa có kết quả. Dạng sống Tuệ linh tồn tại trong một trạng thái an lạc bên
trong Vũ trụ nên chưa trải nghiệm đầy đủ các môi trường tương tác khác nhau.
Trong khi đó, năng lượng hoại diệt lại tồn tại bên ngoài tinh cầu Vũ trụ. Chính
vì điều này, dù dạng sống Tuệ linh có an lạc cũng không đủ khả năng miễn dịch
và chuyển hóa năng lượng hoại diệt. Có thể nói, dạng sống Tuệ linh chưa bộc
phát được khả năng phản vệ, triệt tiêu năng lượng hoại diệt nên dễ dàng bị phân
rã bởi năng lượng hoại diệt.
Vị Tuệ linh đầu tiên thấy rõ được những hạn chế của cả dạng sống Tuệ
linh: Chưa tương tác trong đầy đủ các môi trường khác nhau, chưa giải mã, mã
hóa được đầy đủ các thông tin của vạn vật và các môi trường hoàn chỉnh. Chính
vì vậy, vị Tuệ linh đầu tiên cùng dạng sống Tuệ linh đã nghiên cứu và xây dựng
môi trường tu hành cho dạng sống Tuệ linh. Môi trường đó phải đảm bảo quy tụ,
mô phỏng được các môi trường sóng điện tương tác của tất cả các nhóm vật chất
trong và ngoài Vũ trụ để Tuệ linh tương tác và giải mã. Đặc biệt, dạng sống Tuệ
linh sẽ phải an trụ và hòa nhập trong thân tướng giản đơn để đẩy nhanh tốc độ
tương tác cũng như giải mã và mã hóa thông tin chân thật nhất. Tuệ linh sẽ hóa
thân thành thân tướng con người để thực hiện hành trình đi tìm con đường tự cứu
mình và Vũ trụ. Đó là hành trình đi tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ tại nhân gian.
Thời cơ để đưa các Tuệ linh hóa thân làm con người đã chín muồi, sự
chín muồi bởi dạng sống muông thú đã được thử nghiệm trước để xem quá trình
chuyển sinh có đạt được điều mong muốn của các Tuệ linh không. Khi kết quả đã đạt
được chính là thời điểm mà Tuệ linh được tập kết để hóa thân thành con người.
Các Tuệ linh hóa thân thành con người được bắt đầu tại các cuộc tập kết
ở Trái đất. Vậy Tuệ linh làm thế nào để hóa thành con người? – Các Tuệ linh được
tuyển chọn sẽ đều tới Trái đất trong ngày hội chuyển sinh này. Họ vận hành, di
chuyển các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn của năm nhóm hạt
năng lượng kết tụ vào cấu trúc Tuệ linh của họ. Những nhóm hạt năng lượng tận
cùng có mã sóng trí tuệ khác nhau được cấu tạo và mã hóa thành những tế bào chức
năng khác nhau trong cơ thể con người. Cơ thể con người đã được hợp nhất bởi cấu
trúc năng lượng siêu phức tạp của Tuệ linh và cấu trúc năng lượng giản đơn
trong Vũ trụ hợp lại. Để cấu tạo thành một con người hoàn chỉnh thì cần vô số
năm nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn kết tụ lại. Đây là lần duy nhất dùng
phương pháp này. Sau lần tập kết nhân loại đó, các Tuệ linh luân hồi làm con
người sẽ tuân thủ thông qua cơ chế sinh sản của con người.
Các muông thú từ trước và sau khi xuất hiện con người đều được hình
thành như con người cho từng giống loài. Tuy nhiên, muông thú thay vì Tuệ linh
an trụ sẽ là linh hồn (cấu trúc năng lượng phức tạp) an trụ để hợp nhất với các
năng lượng giản đơn cấu tạo thành. Sau đó, chúng cũng sẽ tuân thủ sinh sản giống
con người để phát triển giống loài đó.
Sau này, khi linh hồn các con thú đã phát triển đạt được khả năng làm
người bởi quá trình giải mã và mã hóa thông tin, họ sẽ được hóa thân làm con
người thông qua quá trình luân hồi và sinh sản.
Như
vậy, cội nguồn con người có hai nguồn. Đó là từ dạng sống Tuệ linh và từ linh hồn
muông thú hóa thành. Dạng sống Tuệ linh là xuống Trái đất để tu hành. Dạng sống linh hồn của
muông thú được con người thuần hóa và giúp chuyển sinh thành con người. Cả hai
đang sống cùng nhau mà không nhận biết về nhau.
Cấu trúc
của Vũ trụ, Tuệ linh và con người
1. Các
nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
Không
gian bên trong và bên ngoài Vũ trụ có 5 nhóm vật chất. Không gian bên ngoài Vũ
trụ có 2 nhóm vật chất (nhóm vật chất cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt) và
không gian bên trong Vũ trụ có 3 nhóm vật chất (nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật
chất phức tạp, nhóm siêu vật chất). Ba nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ từ
năm nhóm hạt năng lượng tận cùng sau vụ nổ của tinh cầu năng lượng khổng lồ.
Năm
nhóm vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ như sau:
Nhóm vật chất cội nguồn:
Đây là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Bản chất của loại hạt sóng này là chúng
chưa chuyển sinh thành loại hạt năng lượng nào cả. Do quá trình di chuyển và sứ
mệnh của chúng mà chúng đã phân tách rồi chuyển sinh thành nhóm vật chất hoại
diệt (năng lượng hoại diệt). Đặc biệt là thông qua nhiệt lượng của năng lượng
hoại diệt bị kích nổ, hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường đó và chuyển sinh thành
phôi năng lượng âm dương. Đó là khởi đầu cho sự hình thành 3 nhóm vật chất cấu
tạo thành Vũ trụ. Chính vì vậy, nhóm hạt sóng xanh được gọi là nhóm vật chất cội
nguồn của trong và ngoài Vũ trụ. Nhóm vật chất cội nguồn cùng nhóm vật chất hoại
diệt tồn tại trong không gian vô tận bên ngoài tinh cầu Vũ trụ.
Nhóm vật chất hoại diệt: Đây là nhóm năng lượng hoại diệt. Nhóm năng
lượng hoại diệt là những hạt năng lượng tận cùng được chuyển sinh từ những hạt
sóng xanh. Năng lượng hoại diệt do không liên kết để nâng cấp cấu trúc nên
chúng chỉ là hạt đơn độc lập hình elip. Bản chất của loại vật chất hoại diệt
này là làm phân rã và đồng hóa các cấu trúc vật chất khác. Năng lượng hoại diệt
khi bị kích nổ sẽ tạo ra nhiệt lượng lớn và giá trị vô cùng cho quá trình phát
triển bền vững của Vũ trụ. Nhóm vật chất hoại diệt cùng nhóm vật chất cội nguồn
tồn tại ở không gian vô tận bên ngoài tinh cầu Vũ trụ.
Nhóm vật chất giản đơn: Đó là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng
điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản
đơn. Đó là những phôi năng lượng âm dương được liên kết bởi các hạt năng lượng
âm dương tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những cấu trúc Trụ linh
trưởng thành với 16 hạt năng lượng âm dương tổng hợp mở rộng mang mã sóng trí
tuệ giản đơn. Đó là những cấu trúc Trụ linh có mã sóng trí tuệ giản đơn liên kết
lại tạo thành những nguyên tử. Đó là những cấu trúc phân tử được liên kết từ những
nguyên tử có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những tế bào. Đó là những vật chất
rắn, vật chất lỏng, vật chất khí, là cỏ cây, đất đá, kim loại, động vật, con
người, muông thú, hành tinh, khối thiên hà, tất cả các khối thiên hà tạo thành
hình hài của Vũ trụ.
Nhóm vật chất phức tạp: Đó là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng
điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp.
Đó là những cấu trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó
là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng
bên ngoài có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc năng lượng phức tạp
trưởng thành – linh hồn an trụ trong cây, trong đất đá, trong muông thú. Đó là
những trường năng lượng vận hành sự vận động của Vũ trụ. Nhóm vật chất phức tạp
là năng lượng vận hành nhóm vật chất giản đơn.
Nhóm siêu vật chất: Đó là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những
cấu trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những
cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài có mã
sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc Tuệ linh. Đó là những cấu trúc
linh hồn được nâng cấp chuyển sinh từ linh hồn muông thú. Đó là các siêu hạt
năng lượng (siêu hạt bóng hỏa, siêu hạt vàng óng ánh, siêu hạt xanh ngọc lưu
ly, siêu hạt chân tâm) được Tuệ linh phân tách ra nhằm duy trì sự tồn tại và
phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
Trong
5 nhóm vật chất: Nhóm vật chất cội nguồn (hạt sóng xanh) là cội nguồn chuyển
sinh thành tất cả các nhóm vật chất khác. Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm vật
chất cung ứng nhiệt lượng để cho nhóm vật chất cội nguồn chuyển sinh thành 3
nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức
tạp, nhóm siêu vật chất là thành tựu, là tinh hoa của quá trình chuyển sinh từ
nhóm vật chất cội nguồn (phôi âm dương được chuyển sinh từ hai hạt sóng xanh).
Nhóm siêu vật chất có sứ mệnh là vận hành tất cả các nhóm vật chất hoại diệt, vật
chất giản đơn, vật chất phức tạp cùng phát triển bền vững. Để tạo ra sự phát
triển bền vững cho các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh là dạng sống
của siêu vật chất có sứ mệnh sản sinh ra các siêu hạt năng lượng. Những siêu hạt
năng lượng cũng là siêu vật chất. Nó có sứ mệnh duy trì sự tồn tại và phát triển
bền vững tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
2.2. Cấu
trúc nền vận hành Vũ trụ
Cấu
trúc nền vận hành Vũ trụ chính là một dạng cấu trúc được liên kết giữa các hạt
năng lượng tổng hợp với nhau và bao trùm trong toàn bộ không gian trong tinh cầu
Vũ trụ.
Cấu trúc nền được
liên kết đa chiều bởi vô lượng cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp như sau: Trong cấu trúc nền 16 hạt này gồm có 8 hạt năng lượng có sóng điện
dương, có 8 hạt năng lượng có sóng điện âm.
Tám hạt năng lượng có sóng điện dương sẽ được liên kết chặt chẽ với
nhau tạo thành 8 đỉnh của hình lập phương. Hạt năng lượng chân tâm làm nhiệm vụ
liên kết.
Tám hạt năng lượng có sóng điện âm sẽ rung lắc tạo thành hạt năng lượng
vệ tinh xung quanh 8 hạt năng lượng dương.
Hạt năng lượng dương là hạt tổng hợp, được liên kết lại bởi nhiều hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện dương siêu nhẹ. Do các hạt năng lượng
dương tận cùng có sóng điện dương siêu nhẹ, tốc độ quay thuận chiều kim đồng hồ
nhẹ nên khi hợp lại thành hạt tổng hợp, sóng điện dương của hạt tổng hợp cũng
là siêu nhẹ. Màu của trạng thái năng lượng hạt dương tổng hợp là màu trắng đục
ngà.
Hạt năng lượng âm là hạt tổng hợp, được liên kết lại bởi nhiều hạt
năng lượng âm tận cùng có sóng điện âm siêu nhẹ. Do các hạt năng lượng âm tận
cùng có sóng điện âm siêu nhẹ, tốc độ quay ngược chiều kim đồng hồ nhẹ nên khi
hợp lại thành hạt tổng hợp, sóng điện âm của hạt tổng hợp cũng là siêu nhẹ. Màu
của trạng thái năng lượng hạt âm tổng hợp là màu trắng xám.
Trong cấu trúc nền
này, mỗi hạt năng lượng âm làm nhiệm vụ rung lắc để thu hút tín hiệu cho dạng vật
chất phức tạp và siêu vật chất nhận diện được điểm đến, tức là nhận diện được
đích tới. Mỗi hạt năng lượng dương làm địa điểm để tới và đồng thời làm nhiệm vụ
đẩy, chuyển nối tiếp thông tin đi trong cấu trúc nền. Có thể hiểu rằng, cấu
trúc nền có tác dụng: Hạt năng lượng dương là đẩy chuyển tiếp thông tin, hạt
chân tâm là đường truyền, còn hạt năng lượng âm là tín hiệu thu hút để
vật chất phức tạp và siêu vật chất di chuyển trong khắp không gian Vũ trụ.
Cấu
trúc nền có trung tâm là ở lõi của Vũ trụ, đó là nơi dạng sống Tuệ linh (siêu vật
chất) an trụ. Từ đó, cấu trúc 16 hạt sẽ được phân tách thành vô lượng cấu trúc
16 hạt như vậy từ trung tâm ra các chiều không gian. Sự phân tách và liên kết
vô tận đó đã bao trùm toàn bộ tinh cầu Vũ trụ.
Tất
cả dạng vật chất giản đơn, dạng vật chất phức tạp và dạng siêu vật chất đều tồn
tại, sống trong cấu trúc nền này. Sự di chuyển thành quỹ đạo của các hành tinh,
của các hệ mặt trời, của các dải thiên hà, của các khối thiên hà, của cả toàn bộ
Vũ trụ đều dựa trên cấu trúc nền này. Năm nhóm năng lượng của vật chất phức tạp
và các siêu hạt năng lượng sẽ di chuyển trong cấu trúc nền này để liên kết tới
các hành tinh, vật chất, toàn bộ Vũ trụ để vận hành toàn bộ Vũ trụ vận động
theo quỹ đạo nhất định, đó là quỹ đạo quay tròn. Dạng sống Tuệ linh (siêu vật
chất) sẽ phân tách hạt năng lượng di chuyển trong cấu trúc nền, vận hành năng
lượng trong cấu trúc nền này để xây dựng sự phát triển, tồn tại cho Vũ trụ.
Tuệ
linh, Linh hồn cũng phải thông qua cấu trúc nền mới có thể di chuyển được trong
Vũ trụ. Bởi cấu trúc nền sẽ giúp cho Tuệ linh, Linh hồn xác định được phản hồi
tín hiệu dựa trên các hạt năng lượng âm trong cấu trúc. Di chuyển tới điểm đến
được chính xác cũng như dễ dàng vì có các hạt năng lượng dương và liên kết của
chúng.
Các
hạt năng lượng trong cấu trúc nền có mã sóng trí tuệ phức tạp. Do đó, con người
không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Cấu
trúc nền được vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh xây dựng để vận hành
được tất cả các dạng sống trong tinh cầu Vũ trụ được dễ dàng. Để việc vận hành
Vũ trụ dễ dàng, để việc truyền tải sóng điện, truyền tải năng lượng, truyền tải
thông tin được dễ dàng thì đó chính là lý do mà vị Tuệ linh đầu tiên cùng dạng
sống Tuệ linh kiến tạo cấu trúc nền chỉ là những hạt năng lượng chớm sóng điện
âm và chớm sóng điện dương.
2.3. Cấu
trúc Tam hợp của Vũ trụ
Tinh
cầu Vũ trụ được cấu tạo bởi 3 nhóm vật chất, đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm
vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất. Ba nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
được gọi là cấu trúc tam hợp của Vũ trụ. Tức là ba cấu trúc này tồn tại hợp nhất
với nhau mà không tách rời, tồn tại trong nhau, nương tựa nhau để cùng phát triển
bền vững.
Tam hợp của Vũ trụ như sau:
Nhóm vật chất giản đơn với vô số các khối thiên hà được sắp xếp tầng tầng
lớp lớp từ không gian lõi bao trùm toàn bộ tinh cầu Vũ trụ khổng lồ. Đây là
hình tướng của Vũ trụ.
Năm nhóm năng lượng và các siêu hạt năng lượng được vận hành từ không
gian lõi của Vũ trụ lan tỏa tạo thành những tia năng lượng được liên kết dây tới
tất cả các hành tinh, các khối thiên hà của toàn bộ Vũ trụ. Nhiệm vụ của năm nhóm
năng lượng và các siêu năng lượng là an trụ trong toàn bộ hình tướng của Vũ trụ
để thúc đẩy hình tướng được phân tách và giãn nở theo hướng bền vững; tiếp theo
là vận hành hình tướng Vũ trụ quay tròn để sinh nhiệt, kích nổ được năng lượng hoại diệt cũng
như giúp cho hình tướng Vũ trụ phân tách liên kết bền vững.
Trí tuệ của Vũ trụ chính là dạng sống Tuệ linh. Dạng sống Tuệ linh được
gọi là trí tuệ của cả Vũ trụ. Dạng sống Tuệ linh vận hành nhóm vật chất phức tạp
để giúp cho hình tướng Vũ trụ được hình thành và phát triển bền vững.
Ba
nhóm vật chất này tồn tại trong nhau, nương tựa nhau để phát triển trong sự
không thể tách rời. Nhóm siêu vật chất và Tuệ linh muốn tồn tại và phát triển
phải nương tựa nhóm vật chất giản đơn. Nhóm vật chất giản đơn muốn tồn tại và
phát triển được phải nhờ có nhóm siêu vật chất, Tuệ linh vận hành và được nhóm
vật chất phức tạp an trụ. Nhóm vật chất phức tạp muốn tồn tại và phát triển được
phải có nhóm siêu vật chất, Tuệ linh vận hành và được an trụ trong nhóm vật chất
giản đơn.
2.4. Cấu
trúc Vũ trụ quay tròn
Cả tinh cầu Vũ trụ đều vận động quay tròn. Cụ
thể như
sau:
Hạt năng lượng tận cùng của cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ
(giản đơn, phức tạp và siêu phức tạp) đều vận động quay tròn xung quanh chính
nó. Hạt năng lượng âm quay ngược chiều kim đồng hồ, hạt năng lượng dương quay
thuận chiều kim đồng hồ. Mỗi hạt năng lượng tận cùng vận động quay tròn để tạo
thành cơ chế liên kết dây. Có cơ chế liên kết dây mới cấu tạo thành các cấu
trúc vật chất có trí tuệ và độ phức tạp cao hơn.
Phôi năng lượng âm
dương của cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ đều vận động quay tròn. Đó là
sóng điện âm dương trong phôi năng lượng tuần hoàn với nhau để thực hiện quá
trình giải mã và mã hóa thông tin. Khi đủ lượng thông tin sẽ thực hiện cơ chế
phân tách và liên kết các hạt năng lượng.
Trụ linh và các cấu trúc như con người, muông thú, Tuệ linh, linh hồn,
cây cối, đất đá… đều vận động quay tròn. Đó là trạng thái năng lượng, sóng điện
dương tuần hoàn trong toàn bộ cấu trúc dựa trên đường truyền chân tâm. Quá
trình quay tròn tuần hoàn sóng điện dương sẽ phải thông qua hệ thống hạt năng
lượng âm rung lắc tại mỗi điểm cụm hạt năng lượng âm dương trong cấu trúc. Việc
từ Trụ linh cho tới Tuệ linh, con người, muông thú, cỏ cây, linh hồn, đất đá… vận
động tuần hoàn sóng điện âm dương sẽ giúp cho toàn bộ cấu trúc giải mã và mã hóa
thông tin đầy đủ cho quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng. Bên cạnh
đó, việc tuần hoàn sóng điện sẽ giúp cho cấu trúc đó có nhiệt lượng dương để
phân tách liên kết theo hướng bền vững.
Các hành tinh đều vận động quay tròn. Mỗi hành tinh đều có cấu trúc
sóng điện âm, dương, trung tính, đặc biệt lại được sự vận hành từ dạng sống Tuệ
linh và năng lượng phức tạp nên các hành tinh quay tròn xung quanh chính nó để
làm nhiệm vụ chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành nhiệt lượng lớn cho quá
trình phân tách giãn nở của các hành tinh.
Hệ mặt trời đều vận động quay tròn. Đó là các hành tinh có đa sóng điện
âm sẽ quay tròn xung quanh mặt trời. Mỗi hành tinh đều quay tròn xung quanh
chính nó và quay tròn xung quanh hệ mặt trời là do dạng sống Tuệ linh vận hành
năng lượng phức tạp tạo thành. Khi các hành tinh đa sóng điện âm quay tròn xung
quanh hệ mặt trời sẽ tạo thành ngày đêm, ban đêm sẽ đa năng lượng âm để thu hút
năng lượng hoại diệt, ban ngày sẽ đón được sóng điện dương của mặt trời để ngủ
đông hoặc kích nổ năng lượng hoại diệt. Hệ mặt trời quay tròn nhằm nhiệm vụ
chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành nhiệt lượng dương cho quá trình giãn nở
và phát triển bền vững của Vũ trụ.
Các dải thiên hà đều vận động quay tròn xung quanh nó trong mỗi khối
chứa đựng các dải thiên hà. Cả tinh cầu khổng lồ với vô số khối thiên hà được sắp
xếp tầng tầng lớp lớp từ trong lõi ra ngoài đều vận động quay tròn xung quanh
lõi của Vũ trụ. Tinh cầu Vũ trụ quay tròn nhằm tạo ra nhiệt lượng cho quá trình
duy trì sự tồn tại, sinh nhiệt để thực hiện được cơ chế phân tách và liên kết bền
vững. Đặc biệt, việc vận động quay tròn sẽ tuần hoàn được năng lượng khắp Vũ trụ,
sẽ giúp chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành nhiệt lượng giúp cho toàn bộ 3 dạng
vật chất trong Vũ trụ đều phát triển bền vững. Hệ thống cấu trúc năng lượng âm,
vật chất đa âm trong Vũ trụ sẽ làm nhiệm vụ rung lắc để thu hút năng lượng hoại
diệt xâm nhập vào, tiếp đó là hệ thống năng lượng dương, cấu trúc vật chất đa
dương sẽ tỏa sóng điện dương để kích nổ năng lượng hoại diệt.
Như
vậy, cấu trúc Vũ trụ vận động quay tròn chính là nhà máy khổng lồ hấp thụ năng
lượng hoại diệt để kích nổ và chuyển hóa nhiệt lượng cho quá trình tồn tại,
phát triển bền vững. Trong nhà máy khổng lồ đó, mỗi con người, Tuệ linh, cỏ
cây, linh hồn, đất đá, Trụ linh, phôi năng lượng âm dương đều là những nhà máy
nhỏ để chuyển hóa năng lượng hoại diệt. Những cấu trúc, dạng sống nào chưa chuyển
hóa, chưa vận hành được cơ chế chuyển hóa sẽ phải học cách để chuyển hóa, đó là
học cách chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đây là điều mà dạng sống
Tuệ linh đang tu hành trong thân tướng con người để học và chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng, để chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành các siêu năng lượng tốt
cho sự phát triển của cả Vũ trụ.
2.5. Cấu
trúc Vũ trụ đều là thông tin
Vũ
trụ có 3 nhóm vật chất là giản đơn, phức tạp và siêu vật chất. Ba nhóm vật chất
này đều được cấu tạo từ hạt năng lượng tận cùng. Trong mỗi hạt năng lượng tận
cùng lại có sợi mã sóng trí tuệ và nhiệt lượng được lưu giữ bên trong. Sợi mã
sóng trí tuệ chính là sợi lưu giữ thông tin được giải mã và mã hóa trong quá
trình vận động. Như vậy, cả Vũ trụ đều là thông tin. Vũ trụ chứa đựng lượng
thông tin vô cùng vĩ đại. Tuệ linh, con người… đều là cấu trúc chứa đựng khối
lượng thông tin vô cùng lớn.
Thông
tin của Vũ trụ được phân chia theo cấp độ từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu
phức tạp:
Thông tin giản đơn chính là nhóm vật chất giản đơn. Thông tin giản đơn
vì sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng tận cùng có nhịp rung động giản đơn
và chậm. Chính vì nhịp sóng rung động giản đơn và chậm nên nó chỉ ghi, lưu giữ
được lượng thông tin ít và giản đơn trong sợi. Vì thông tin giản đơn nên nhóm vật
chất giản đơn không tự di chuyển được mà phải nhờ tới nhóm vật chất phức tạp và
siêu phức tạp.
Thông tin phức tạp chính là nhóm vật chất phức tạp. Thông tin phức tạp
vì sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng tận cùng có nhịp rung động mạnh,
nhiều nhịp và phức tạp. Chính vì thế, sợi mã sóng trí tuệ ghi, lưu giữ được lượng
lớn thông tin và có độ phức tạp lớn trong sợi. Vì thông tin phức tạp nên nhóm vật chất
phức tạp có khả năng vận hành và thúc đẩy Vũ trụ phát triển.
Thông tin siêu phức tạp hay còn gọi là siêu thông tin. Thông tin siêu
phức tạp là của dạng sống Tuệ linh và siêu vật chất. Thông tin siêu phức tạp vì
sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng tận cùng đã ghi, lưu giữ được lượng
thông tin khổng lồ và vô cùng phức tạp bởi nhịp rung động của mã sóng trí tuệ
siêu nhanh và nhiều. Chính vì có siêu thông tin trong sợi mã sóng trí tuệ nên dạng
sống Tuệ linh, siêu vật chất có siêu trí tuệ nhất Vũ trụ, có khả năng di chuyển
và vận hành cả Vũ trụ.
Thông tin của Vũ trụ được chia theo đặc tính tốt
và độc
hại:
Thông tin có đặc tính tốt chính là thông tin được lưu giữ trong sợi mã
sóng trí tuệ của các hạt năng lượng dương. Gọi là thông tin tốt bởi vì trong hạt
chứa đựng nhiệt lượng, thông tin tích cực để giúp cho vạn vật trong Vũ trụ phát
triển bền vững. Nguyên nhân là thông tin tốt vì sợi mã sóng trong hạt năng lượng
dương rung động sinh nhiệt dương để kích nổ được năng lượng hoại diệt, để phát
triển cấu trúc liên kết bền vững.
Thông tin có đặc tính
độc hại là thông tin được lưu giữ trong sợi mã sóng trí tuệ của các hạt năng lượng
âm. Gọi là thông tin độc hại bởi vì trong hạt chứa đựng nhiệt lượng, thông tin
tiêu cực gây phân rã cấu trúc. Nguyên nhân là thông tin độc hại vì sợi mã sóng
trong hạt năng lượng âm không kiểm soát được sóng rung động, sẽ dẫn tới việc
năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu và di chuyển tới để gây phân rã cấu
trúc. Thông tin của Vũ trụ được
phân chia theo nhiệm vụ thu, phát và đường truyền tín hiệu:
Hệ thống hạt năng lượng âm trong toàn bộ vật chất của Vũ trụ có nhiệm
vụ thu tín hiệu, hút tín hiệu thông tin di chuyển tới cấu trúc.
Hệ thống hạt năng lượng dương trong toàn bộ vật chất của Vũ trụ có nhiệm
vụ đẩy chuyển tiếp thông tin di chuyển.
Hệ thống hạt năng lượng chân tâm (trung tính) trong toàn bộ vật chất của
Vũ trụ có nhiệm vụ làm đường truyền liên kết giữa các hạt năng lượng dương để
thông tin được di chuyển.
Như
vậy, toàn bộ Vũ trụ là thông tin. Thông tin có độ phức tạp khác nhau, có đặc
tính tốt và độc hại khác nhau, có nhiệm vụ khác nhau. Vấn đề là vận hành cũng
như kiểm soát thông tin làm sao để Vũ trụ, Tuệ linh, con người phát triển theo
hướng bền vững.
2.6. Cấu
trúc Tuệ linh
Cấu
trúc cấu tạo thành Tuệ linh chính là cấu trúc tam hợp mà thành Tuệ linh.
Tam hợp yếu tố hợp
thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ –
Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh), hình tướng Tuệ linh. Để
thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình
hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm
dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng
trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ
linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí
tuệ siêu phức tạp. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng,
Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những
sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã
sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc
và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc
liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và
thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh
trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là
nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên
ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí
tuệ trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ
linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng,
sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận
cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt
dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để
cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu
trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài
chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở
rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và Tuệ linh trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ
linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết với
nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn
sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:
Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ
được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu
trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh
gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình
thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề
cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái
năng lượng và tuần hoàn sóng
điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng
trí tuệ bên ngoài Trụ linh.
Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong
Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ
trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng
điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ)
liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới
toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.
Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con
người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là
một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện
âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện
mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ
linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện
dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm
dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng
lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc
Trụ linh có sóng điện đa
âm.
Khi
gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.
Thông
qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy trí tuệ của dạng sống Tuệ linh là
siêu việt nhất, tinh hoa nhất của tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ.
Chính vì vậy, sứ mệnh cải tạo bộ lọc trong
Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng là sứ mệnh tiên phong của họ.
2.7. Cấu
trúc con người
Cấu trúc cấu tạo thành con
người chính là tam hợp cấu tạo thành con người.
Ba yếu tố hợp nhất cấu tạo
ra con người gồm có, Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ:
Yếu tố đầu tiên là Thân tướng: Thân tướng được hình thành do duyên người
cha và người mẹ. Đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang
tính âm của người mẹ hợp thành phôi thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng
người mẹ do cơ chế phân tách tế bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của
người mẹ. Trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn
thiện, em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời.
Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân
tướng để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến
tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được
xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp
sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa
sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh
giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em
bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập
vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các
con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con
người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những
việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương;
khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu
thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy
nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi
tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai
trộm; nếu chúng đầu thai trộm thành người
thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn
thú dữ chưa giết hại được người nào mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do
không đủ năng lượng âm dương cân bằng để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh
hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người
cha mẹ được gieo duyên có thân tướng thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ
linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu em bé có
sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể phá thai
được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ linh, Linh
hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ linh người
mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai vào con người
đều được gọi là Tâm.
Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ. Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào
em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải
qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư
duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới
quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát
triển từ hai phần:
Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát
ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí
tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ
linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều
lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí
tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn.
Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác
với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền
vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân
tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng
trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá
trình tương tác giữa các tướng với nhau.
Như
vậy, trí tuệ của Tuệ linh là siêu trí tuệ lại an trụ, hợp nhất với trí tuệ giản
đơn của con người. Điều này giúp cho con người có được siêu trí tuệ an trụ
trong cơ thể. Siêu trí tuệ sẽ liên kết để truyền và trau dồi trí tuệ ở não bộ
thông qua môi trường tu hành ở nhân gian.
Bản chất sự giải mã và mã
hóa thông tin của 5 nhóm vật chất và Tuệ linh
Không
chỉ có các nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ là thông tin. Các nhóm vật chất
bên ngoài Vũ trụ cũng là thông tin.
Giải
mã thông tin là quá trình phân tích về bản chất của các cấu trúc vật chất xung
quanh, môi trường sóng điện xung quanh trong quá trình tương tác.
Mã
hóa thông tin là quá trình hấp thụ sóng điện từ môi trường xung quanh, là quá
trình ghi lại, là quá trình lưu giữ thông tin của quá trình tương tác vào sợi
mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng.
Trong thông tin lại
có đặc tính độc và tốt khác nhau, có nhiệm vụ khác nhau, có độ phức tạp khác
nhau. Tất cả những đặc tính, nhiệm vụ, độ phức tạp của thông tin đều được cấu tạo thành bởi quá trình giải
mã và mã hóa thông tin của năm nhóm vật chất.
3.1. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của nhóm vật chất cội nguồn
Nhóm vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh
nõn
chuối.
Bản chất của hạt sóng xanh
là chưa xảy ra quá trình giải mã và mã hóa thông tin.
Nguyên nhân:
Hạt sóng xanh chưa vận động đủ để sinh nhiệt và biến đổi thành sợi mã
sóng trí tuệ. Chưa có sợi mã sóng trí tuệ nên chưa giải mã và mã hóa được thông
tin.
Môi trường trung tính và di chuyển thẳng làm cho hạt sóng xanh chưa biến
đổi thành sợi mã sóng trí tuệ để giải mã và mã hóa thông tin.
Sứ mệnh của hạt sóng xanh là chuyển hóa thành các loại năng lượng nên
nó chỉ giải mã và mã hóa thông tin khi nó chuyển hóa thành các loại năng lượng
trong điều kiện đảm bảo.
3.2. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của nhóm vật chất hoại diệt
Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại
diệt.
Bản chất nhóm năng lượng hoại
diệt giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh.
Nguyên nhân:
Hạt sóng xanh di chuyển, vận động trong thời gian dài ở môi trường
trung tính nên nó chưa biến đổi thành sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh. Tuy là đã
biến đổi thành hạt năng lượng hoàn chỉnh nhưng nhiệt lượng chưa được giải phóng
hết nên việc giải mã và mã hóa thông tin cũng không hoàn chỉnh.
Hạt sóng xanh di chuyển thẳng và không quay tròn trong môi trường
trung tính nên hạt năng lượng hoại diệt không giải mã cũng như mã hóa được đầy
đủ thông tin.
Hạt
năng lượng hoại diệt được hình thành trong môi trường trung tính và không quay
tròn. Do đó, trong quá trình vận động đã không giải mã và mã hóa được đầy đủ
thông tin. Đó là năng lượng hoại diệt không giải mã và mã hóa được thông tin của
môi trường có sóng điện âm, dương.
3.3. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của
nhóm vật chất giản đơn
Nhóm
vật chất giản đơn là các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn
cho tới các nguyên tử, phân tử, tế bào, cỏ cây, đất đá, con người, muông thú,
hành tinh, dải thiên hà, khối thiên hà, tinh cầu Vũ trụ.
Bản
chất nhóm vật chất giản đơn đã giải mã và mã hóa được thông tin tốt hơn nhóm vật
chất hoại diệt. Giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn vì đã biến đổi được thành sợi
mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh và có cơ chế liên kết dây. Tuy nhiên, xét trong toàn
bộ trong và ngoài Vũ trụ thì việc giải mã và mã hóa thông tin vẫn chưa hoàn chỉnh.
Nguyên nhân:
Nhóm vật chất giản đơn giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất
hoại diệt vì quá trình vận động có quay tròn trong môi trường có sóng điện âm
hoặc dương. Đây chính là điều mà năng lượng hoại diệt không có. Vì giải mã và
mã hóa thông tin tốt hơn năng lượng hoại diệt nên vật chất giản đơn mới liên kết
để phát triển cấu trúc vật chất lớn hơn.
Nhóm vật chất giản đơn giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh vì
nhóm vật chất này tồn tại trong môi trường không có năng lượng hoại diệt nên
không giải mã được năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy thông tin được giải mã và
mã hóa chưa hoàn chỉnh khi xét trong và ngoài Vũ trụ.
Nhóm vật chất giản đơn giải mã và mã hóa thông tin chưa được bằng nhóm
vật chất phức tạp và siêu vật chất. Nguyên nhân bởi mã sóng rung động trong hạt
năng lượng của chúng rất giản đơn. Vì giản đơn nên quá trình vận động để giải
mã và mã hóa thông tin cần có siêu vật chất cũng như vật chất phức tạp vận
hành, tức là bị phụ thuộc trong quá trình giải mã và mã hóa thông tin.
3.4. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của
nhóm vật chất phức tạp
Nhóm
vật chất phức tạp là các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp
cho tới những tầng năng lượng vận hành Vũ trụ, các linh hồn an trụ trong thân
cây, trong muông thú và đất đá.
Bản chất nhóm vật chất
phức tạp đã giải mã và mã hóa được thông tin tốt hơn nhóm vật chất hoại diệt và
nhóm vật chất giản đơn. Giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn vì đã biến đổi được thành sợi
mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh ở mức độ phức tạp và có cơ chế liên kết dây. Tuy
nhiên, xét trong toàn bộ trong và ngoài Vũ trụ thì việc giải mã và mã hóa thông
tin vẫn chưa hoàn chỉnh.
Nguyên nhân:
Nhóm vật chất phức tạp giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất
hoại diệt vì quá trình vận động có quay tròn trong môi trường có sóng điện âm
hoặc dương. Đây chính là điều mà năng lượng hoại diệt không có. Vì giải mã
thông tin tốt hơn năng lượng hoại diệt nên vật chất phức tạp mới liên kết để
phát triển cấu trúc vật chất lớn hơn.
Nhóm vật chất phức tạp giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh vì
nhóm vật chất này tồn tại trong môi trường không có năng lượng hoại diệt nên
không giải mã được năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy thông tin được giải mã và
mã hóa chưa hoàn chỉnh khi xét trong và ngoài Vũ trụ.
Nhóm vật chất phức tạp giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất
giản đơn. Nguyên nhân vì sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng phức tạp có tốc độ,
nhịp rung lớn và phức tạp hơn năng lượng giản đơn. Chính vì điều này mà nhóm vật
chất phức tạp tự di chuyển để giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất
giản đơn.
Nhóm vật chất phức tạp
giải mã và mã hóa thông tin chưa được bằng nhóm siêu vật chất. Nguyên nhân bởi
mã sóng rung động trong hạt năng lượng của chúng mới chỉ là phức tạp. Trong khi
đó, nhóm siêu vật chất có mã sóng rung động, nhịp rung, tốc độ đạt siêu phức tạp.
Chính vì điều này mà nhóm vật chất phức tạp mã hóa và giải mã thông tin chưa tốt
bằng nhóm siêu vật chất. 3.5. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của
nhóm siêu vật chất
Nhóm
siêu vật chất là các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp
cho tới Tuệ linh và các siêu hạt năng lượng.
Bản
chất nhóm siêu vật chất đã giải mã và mã hóa được thông tin tốt nhất trong 5
nhóm vật chất. Giải mã và mã hóa thông tin tốt nhất vì đã biến đổi được thành sợi
mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh ở mức độ siêu phức tạp và có cơ chế liên kết dây.
Tuy nhiên, xét trong toàn bộ trong và ngoài Vũ trụ thì việc giải mã và mã hóa
thông tin vẫn chưa hoàn chỉnh.
Nguyên nhân:
Nhóm siêu vật chất giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất
hoại diệt vì quá trình vận động có quay tròn trong môi trường có sóng điện âm
hoặc dương. Đây chính là điều mà năng lượng hoại diệt không có. Vì giải mã thông
tin tốt hơn năng lượng hoại diệt nên nhóm siêu vật chất mới liên kết để phát
triển cấu trúc siêu vật chất lớn hơn.
Nhóm siêu vật chất giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh vì nhóm
vật chất này tồn tại trong môi trường không có năng lượng hoại diệt nên không
giải mã được năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy thông tin được giải mã và mã
hóa chưa hoàn chỉnh khi xét trong và ngoài Vũ trụ.
Nhóm siêu vật chất giải
mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất phức tạp và nhóm vật chất giản
đơn. Nguyên nhân vì sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng siêu phức tạp có tốc độ,
nhịp rung lớn và siêu phức tạp hơn năng lượng phức tạp và giản đơn. Chính vì điều
này mà nhóm siêu vật chất có khả năng
di chuyển, vận hành được cả hai nhóm vật chất để giải mã và mã hóa thông tin
siêu việt nhất.
3.6. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của
dạng sống Tuệ linh
Tuệ
linh là dạng sống có trí tuệ siêu việt nhất Vũ trụ. Tuệ linh có sự tuần hoàn
sóng điện âm – dương – trung tính và có khả năng di chuyển cũng như cải tạo,
phát triển Vũ trụ.
Tuệ
linh nằm trong nhóm siêu vật chất của Vũ trụ và có khả năng mã hóa cũng như giải
mã thông tin tốt nhất. Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích khả năng giải mã và
mã hóa thông tin của dạng sống Tuệ linh sẽ thấy còn rất hạn chế. Những hạn chế
đã làm cho dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt vô số.
Nguyên nhân:
Dạng sống Tuệ linh (không tính vị Tuệ linh đầu tiên) được hình thành
và phát triển trong tinh cầu Vũ trụ, quá trình hình thành lại được dưỡng trong
không gian lõi của Vũ trụ nên không được giải mã và mã hóa thông tin của năng
lượng hoại diệt. Chính vì vậy, dạng sống Tuệ linh không có thông tin để có khả
năng miễn nhiễm loại năng lượng hoại diệt. Do đó, khi gặp năng lượng hoại diệt
với số lượng lớn sẽ khiến dạng sống Tuệ linh dễ dàng bị phân rã và hoại diệt.
Đây có thể gọi là chết vì thiếu thông tin.
Vì dạng sống Tuệ linh không giải mã và mã hóa được thông tin của năng
lượng hoại diệt nên không hiểu bản chất của chúng. Vì không hiểu được bản chất
của chúng nên không kiểm soát được sóng điện trong bản thể mình. Đó là không kiểm
soát được năng lượng âm rung lắc mạnh. Bởi khi năng lượng âm rung lắc mạnh
chính là thời cơ năng lượng hoại diệt xâm nhập vào và hoại diệt dần Tuệ linh.
Vì không hiểu bản chất của năng lượng hoại diệt tương tác với các nhóm
vật chất trong Vũ trụ cũng như sự biến đổi cấu trúc vật chất của Vũ trụ, nên dạng
sống Tuệ linh lại rơi vào trạng thái không giải mã cũng như mã hóa chính xác tất
cả các nhóm vật chất bên trong Vũ trụ. Vì vậy tạo thành sự trở ngại vô cùng
trong hành trình bảo vệ, phát triển Vũ trụ.
Như
vậy, dạng sống Tuệ linh do không giải mã và mã hóa được thông tin của năng lượng
hoại diệt, điều này đã dẫn tới việc không giải mã và mã hóa chính xác được
thông tin của cả 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ khi có sự tương tác với năng lượng
hoại diệt. Đây là nguyên nhân dạng sống Tuệ linh bị phân rã và hoại diệt bởi
năng lượng hoại diệt. Điều này giống với việc các tế bào trong cơ thể con người
vì không giải mã và mã hóa thông tin của các loại vi rút khi chúng xâm nhập vào
cơ thể nên cơ thể không sản sinh ra những tế bào miễn dịch để tiêu diệt vi rút.
Chính vì vậy mà con người bị vi rút lây lan và hoại diệt thân xác.
Như
vậy, sự giải mã và mã hóa thông tin hoàn chỉnh là phải giải mã và mã hóa được đầy
đủ thông tin của tất cả quá trình tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện
khác nhau. Nếu nhóm vật chất nào, dạng sống nào làm được điều này sẽ tạo thành
cơ chế miễn nhiễm và nâng cấp cấu trúc đạt đến bộ lọc năng lượng viên mãn. Nếu
nhóm vật chất nào, dạng sống nào không giải mã và mã hóa được đầy đủ thông tin
của tất cả quá trình tương tác cũng như môi trường sóng điện khác nhau thì nguy
cơ hoại diệt là vô cùng lớn. Chỉ khi giải mã và mã hóa được hết tất cả thông
tin ở tất cả các môi trường sóng điện
khác nhau, ở tất cả các tương tác khác nhau mới giúp cấu trúc đó tạo ra được cơ
chế chuyển hóa để phát triển bền vững.
4. Bản chất
khổ đau của vạn vật và Tuệ linh
Từ
cấu trúc và cơ chế vận hành của từng nhóm vật chất, từ bản chất của sự giải mã
và mã hóa thông tin trong năm nhóm vật chất và Tuệ linh, từ sự tương tác giữa
các nhóm vật chất với nhau trong các môi trường sóng điện khác nhau, tất cả đã
tạo thành bản chất khổ đau của vạn vật và dạng sống Tuệ linh.
Bản
chất tận cùng về khổ đau của tất cả vạn vật là gì? – Đó là sự biến đổi mã sóng
trí tuệ theo hướng phân rã và hoại diệt.
4.1. Bản chất khổ đau của nhóm vật chất hoại
diệt
Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại
diệt.
Bản
chất khổ đau của năng lượng hoại diệt là biến đổi mã sóng trí tuệ dẫn đến bị
kích nổ và hoại diệt vĩnh viễn. Đó là sợi mã sóng trí tuệ bị sinh phát nhiệt lượng
quá nhanh và bị kích nổ nếu những hạt năng lượng tập trung với mật độ lớn. Đó
là năng lượng hoại diệt gặp phải năng lượng dương hoặc cấu trúc vật chất đa
dương sẽ làm kích nổ năng lượng hoại diệt.
Nguyên nhân khổ đau của năng lượng hoại diệt:
Năng lượng hoại diệt được hình thành trong môi trường trung tính và di
chuyển thẳng nên sợi mã sóng trí tuệ chưa hoàn chỉnh.
Vì sợi mã sóng trí tuệ biến đổi chưa hoàn chỉnh nên chưa có cơ chế liên kết dây
với nhau để tuần hoàn sóng điện. Chính vì thế mà sợi mã sóng trí tuệ dễ bị sinh
nhiệt nhanh và hoại diệt nếu không kiểm soát được quá trình di chuyển và khoảng
cách giữa các hạt năng lượng hoại diệt.
Năng lượng hoại diệt vì hình thành trong môi trường trung tính nên
không thể giải mã và mã hóa được thông tin của các nhóm năng lượng, các cấu
trúc vật chất được hình thành ở môi trường sóng điện âm dương khác nhau. Vì
không thấu hiểu được năng lượng dương, các nhóm vật chất đa dương nên năng lượng
hoại diệt dễ dàng bị kích nổ khi di chuyển vào môi trường và vật chất đa sóng
điện dương.
4.2. Bản chất khổ đau của 3 nhóm vật chất cấu
tạo thành Vũ trụ
Ba
nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức
tạp và nhóm siêu vật chất.
Bản
chất khổ đau của 3 nhóm vật chất này là biến đổi mã sóng trí tuệ của từ hạt
năng lượng tận cùng dẫn tới sự phân rã và hoại diệt. Đó là sự mất kiểm soát
sóng điện giữa hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương trong cấu trúc để rồi
bị phân rã và hoại diệt. Đó là sóng điện âm, dương, trung tính không tuần hoàn
nên dẫn tới bị phân rã và hoại diệt. Đó là bị năng lượng hoại diệt phân rã hoại
diệt hoặc bị kích nổ mà hoại diệt.
Nguyên nhân khổ đau của 3 nhóm vật chất:
Cả 3 nhóm vật chất hình thành và phát triển trong môi trường có sóng
điện âm dương nên không có khả năng giải mã, mã hóa thông tin của năng lượng hoại
diệt. Chính vì vậy mà không thấu
hiểu năng lượng hoại diệt. Do đó, dễ dàng bị năng lượng hoại diệt đồng hóa cũng
như kích nổ mà hoại diệt vĩnh viễn.
Những hạt năng lượng âm được hình thành trong môi trường sóng điện âm,
những hạt năng lượng dương được hình thành trong môi trường sóng điện dương.
Tuy là cả hai đều có cơ chế liên kết dây, nhưng lại không thấu hiểu nhau vì
chưa giải mã cũng như mã hóa được đầy đủ thông tin của nhau. Chính vì điều này
dẫn tới việc đấu tranh để kiểm soát lẫn nhau của hai loại hạt năng lượng âm và
dương.
Khi một nhóm vật chất, một loại hạt có sóng điện nào đó bị nhiễm năng
lượng hoại diệt, chúng sẽ bị biến đổi sóng điện và cấu trúc. Điều này làm cho
cơ chế liên kết phân tách không có sự bền vững. Khi đó sóng điện không tuần
hoàn và dẫn tới quá trình đứt, vỡ cấu trúc.
Cả 3 nhóm vật chất không giải mã và mã hóa được thông tin hoàn chỉnh của
nhau và cả nhóm năng lượng hoại diệt. Vì không giải mã và mã hóa được nên không
có trí tuệ thấu hiểu đặc tính cũng như độc tố của nhau. Do đó, trong nội tại cấu
trúc, nội tại của hạt năng lượng của cả 3 nhóm vật chất không có khả năng kiểm
soát và chuyển hóa những độc của nhau và của năng lượng hoại diệt.
Nguyên nhân khổ đau cuối cùng của cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ
trụ là do hết năng lượng vận hành Vũ trụ quay tròn. Khi Vũ trụ không quay tròn
sẽ không tuần hoàn được sóng điện để chuyển hóa được năng lượng hoại diệt. Khi
đó năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập ồ ạt và phân rã hoại diệt Vũ trụ vĩnh viễn. 4.3. Bản
chất khổ đau của dạng sống Tuệ linh
Bản
chất khổ đau của dạng sống Tuệ linh là biến đổi sợi mã sóng trí tuệ dẫn tới hoại
diệt. Đó là sự mất kiểm soát sóng điện giữa hạt năng lượng âm và hạt năng lượng
dương trong cấu trúc Tuệ linh để rồi bị phân rã và hoại diệt. Đó là sóng điện
âm, dương, trung tính không tuần hoàn nên dẫn tới bị phân rã và hoại diệt. Đó
là bị năng lượng hoại diệt phân rã hoại diệt hoặc bị kích nổ mà hoại diệt.
Những
nguyên nhân tận cùng, triệt để về khổ đau của dạng sống Tuệ linh:
A. Bản chất khổ đau được hình thành từ phôi âm
dương gốc của Tuệ linh
Các
Tuệ linh được hình thành từ sự liên kết giữa hạt năng lượng dương tận cùng có
mã sóng trí tuệ siêu phức tạp với hạt năng lượng âm tận cùng có mã sóng trí tuệ
siêu phức tạp. Khi liên kết giữa hai hạt năng lượng tận cùng xảy ra được gọi là
phôi âm dương. Từ phôi âm dương này thông qua cơ chế phân tách liên kết hạt năng
lượng đã phát triển thành Trụ linh trưởng thành và Tuệ linh.
Bản
chất của phôi năng lượng âm dương đều phải được cấu tạo bởi hạt năng lượng âm.
Nếu không có hạt năng lượng âm thì không hình thành phôi năng lượng âm dương
cũng như Tuệ linh. Hạt năng lượng âm được gọi là Kết.
Kết
là bản chất mà Tuệ linh phải có để chuyển hóa năng lượng cũng như phát triển. Bởi
Kết bao gồm có thu hút tín hiệu, rung lắc, hấp thụ, hút về, lấy về, sở hữu, chiếm
hữu, cướp đoạt, giết hại để thỏa mãn. Kết
ở mức độ nhẹ và vừa đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững của Tuệ linh.
Tuy nhiên nếu Kết ở mức mạnh sẽ khiến cho Tuệ linh bị mất kiểm soát sóng điện,
bị năng lượng hoại diệt chi phối dẫn tới phân rã và hoại diệt.
Có
3 nhóm cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh dễ bị phân rã và hoại diệt. Đó là 3 nhóm
cấu trúc Trụ linh Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:
Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất
bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu xám với một hạt năng lượng dương tận
cùng màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng đục. Trụ linh
đa âm mạnh được gọi là Trụ linh Kết mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc mạnh,
quay ngược mạnh, hút sóng điện bên ngoài về mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết mạnh.
Khi đó Tuệ linh sẽ mất khả năng kiểm soát sóng điện âm, dương, trung tính trong
chính mình. Tiếp đến là phân tách mất kiểm soát các hạt năng lượng âm mà không
phân tách được năng lượng dương. Cuối cùng năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào
gây phân rã và hoại diệt Tuệ linh.
Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết rất mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp
nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đen với một hạt năng lượng dương tận
cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm rất mạnh
được gọi là Trụ linh Kết rất mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc rất mạnh, quay
ngược rất mạnh, hút sóng điện bên ngoài về rất mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết rất
mạnh. Khi đó Tuệ linh sẽ mất khả năng kiểm soát sóng điện âm, dương, trung tính
trong chính mình. Tiếp đến là phân tách mất kiểm soát các hạt năng lượng âm mà
không phân tách được năng lượng dương.
Cuối cùng năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào gây phân rã và hoại diệt Tuệ
linh.
Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp
nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đỏ máu với một hạt năng lượng dương
tận cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm siêu
mạnh được gọi là Trụ linh Kết siêu mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc siêu mạnh,
quay ngược siêu mạnh, hút sóng điện bên ngoài về siêu mạnh nên cấu trúc Trụ
linh Kết siêu mạnh. Khi đó Tuệ linh sẽ mất khả năng kiểm soát sóng điện âm,
dương, trung tính trong chính mình. Tiếp đến là phân tách mất kiểm soát các hạt
năng lượng âm mà không phân tách được năng lượng dương. Cuối cùng năng lượng hoại
diệt sẽ xâm nhập vào gây phân rã và hoại diệt Tuệ linh.
Cấu
trúc Trụ linh của tất cả Tuệ linh trong Vũ trụ Kết ở mức mạnh cho tới rất mạnh
và siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trụ linh đa âm mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Khi
đa âm, tức là lượng hạt năng lượng âm được phân tách ra vô số mà không cấu tạo
được thành liên kết vững chắc như những hạt năng lượng dương. Việc không tạo được
sự liên kết chặt chẽ sẽ làm cho cấu trúc Trụ linh không có khả năng phòng thủ
trước sự tấn công của năng lượng hoại diệt cũng như tác động của các năng lượng
âm. Khi năng lượng hoại diệt tấn công sẽ làm cho cấu trúc Trụ linh đó bị đứt
liên kết, bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.
B. Bản chất khổ đau do giải mã và mã hóa thông
tin hạn chế của Tuệ linh
Tuệ
linh giải mã và mã hóa thông tin chưa toàn diện và còn hạn chế. Đó là chưa thấu
hiểu được bản chất của chính mình, chưa thấu
hiểu được bản chất của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ, chưa thấu hiểu được
bản chất của năng lượng hoại diệt.
Đầu
tiên là dạng sống Tuệ linh chưa thấu hiểu chính bản chất của hạt năng lượng âm
và hạt năng lượng dương trong phôi âm dương của mình. Tức là dạng sống Tuệ linh
chưa giải mã được đầy đủ và chính xác về bản chất phôi năng lượng âm dương của
mình. Đó là không thấu hiểu và không nhận diện được trong kịch bản tương tác với
môi trường sóng điện như thế nào thì hạt năng lượng âm gốc sẽ phân tách ra hạt
mới hay hạt năng lượng dương gốc phân tách ra hạt mới. Vì không thấu hiểu chính
mình nên trong quá trình tương tác để hấp thụ nhiệt lượng cho quá trình phân
tách liên kết và trưởng thành rất hạn chế. Vì không thấu hiểu chính mình nên
khi tương tác trong môi trường sóng điện âm dễ dàng bị nhiễm quá nhiều nhiệt âm
mà xảy ra quá trình phân tách nhiều hạt năng lượng âm và không thể phân tách được
hạt năng lượng dương. Khi tương tác trong môi trường sóng điện dương mới phân
tách ra các hạt năng lượng dương và chân tâm. Khi tương tác với môi trường có
năng lượng hoại diệt thì dễ dàng bị năng lượng hoại diệt phân rã hoặc kích nổ
trong khi chưa có khả năng phòng thủ cũng như chuyển hóa. Chính vì vậy gọi là
không thấu hiểu được điểm yếu và điểm mạnh của chính mình. Tiếp đến là không biết
kiểm soát điểm yếu và kích hoạt điểm mạnh của mình trong quá trình tương tác.
Tiếp theo dạng sống
Tuệ linh không thấu hiểu được bản chất của năng lượng hoại diệt. Vì không giải
mã và mã hóa được năng lượng hoại diệt nên không thấu hiểu được điểm mạnh, điểm
yếu của năng lượng hoại diệt. Họ không thấu hiểu rằng
trong các kịch bản nào của quá trình tương tác sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt
xâm nhập và làm phân rã họ. Họ cũng không thấu hiểu trong các kịch bản nào năng
lượng hoại diệt sẽ bị kích nổ để chuyển hóa thành nhiệt cho họ thực hiện được
phân tách liên kết bền vững. Dạng sống Tuệ linh chưa thấu hiểu điểm mạnh và điểm
yếu của mình, thêm nữa lại chưa thấu hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của năng
lượng hoại diệt. Do đó, dạng sống Tuệ linh vô cùng sợ hãi năng lượng hoại diệt
xâm nhập và làm họ hoại diệt. Sự sợ hãi khiến họ trong quá trình xây dựng và
phát triển bản thể mình cùng Vũ trụ luôn trong trạng thái duy trì ở vùng an
toàn. Tuy nhiên, khi gặp cơn bão năng lượng hoại diệt thì sẽ không còn vùng an
toàn nào cho họ cả. Họ hoại diệt vô số. Sự hoại diệt giống như sự lây nhiễm của
một loại vi rút hủy diệt mà chưa có vắc xin đặc trị.
Cuối
cùng, dạng sống Tuệ linh cũng không thấu hiểu được hết bản chất và đặc tính của
tất cả 3 nhóm vật chất, không thấu hiểu bản chất và đặc tính của các nhóm năng
lượng âm, dương, trung tính. Đặc biệt hơn nữa, năng lượng hoại diệt xâm nhập
vào các cấu trúc vật chất của cả 3 nhóm vật chất. Sự xâm nhập đó làm biến đổi cấu
trúc vật chất mà dạng sống Tuệ linh không biết. Dạng sống Tuệ linh chỉ nhận diện
được khi cấu trúc vật chất đó bị phân rã. Khi đó, quá trình dạng sống Tuệ linh
tương tác với 3 nhóm vật chất trong các môi trường sóng điện khác nhau đã bị
năng lượng âm và những cấu trúc vật chất biến đổi chi phối và làm cho cấu trúc
Tuệ linh bị nhiễm sóng điện âm và năng lượng hoại diệt mà không biết cũng như
không kiểm soát được.
Như
vậy, từ không thấu hiểu bản chất của chính mình cho tới không thấu hiểu bản chất
của năng lượng hoại diệt cũng như 3 nhóm
vật chất và các môi trường sóng điện, dạng sống Tuệ linh sống đời sống khổ đau
trong sự hòa quyện của từ bản chất phôi âm dương đa âm cho tới sự tương tác với
các nhóm vật chất khác trong các môi trường sóng điện khác nhau. Điều này khác
với vẻ an lạc, tự tại của dạng sống Tuệ linh mà con người được biết tới thông
qua các quan điểm tôn giáo.
C. Bản chất khổ đau do Tuệ linh chưa kiểm soát
được chính mình
Bản
chất khổ đau của dạng sống Tuệ linh chưa kiểm soát được chính mình là vì chưa
giải mã được bản chất của chính mình và của tất cả các nhóm vật chất cũng như
các môi trường sóng điện khác nhau.
Khổ
đau do dạng sống Tuệ linh chưa kiểm soát được chính mình gồm có chưa kiểm soát
được phôi âm dương gốc, chưa kiểm soát được cụm hạt năng lượng âm dương trong cấu
trúc, chưa kiểm soát được sự tuần hoàn sóng điện âm dương trong Tuệ linh khi
tương tác với các nhóm vật chất trong các môi trường sóng điện khác nhau.
Tuệ
linh chưa kiểm soát được phôi âm dương gốc (Trụ linh gốc) của mình. Gồm có:
Chưa biết khi nào hạt
năng lượng âm trong Trụ linh gốc sẽ phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng
điện âm từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết khi tương tác với các đối tượng
vật chất nào thì sẽ phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện âm từ nhẹ
cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết khi tương tác trong môi trường sóng điện âm
dương khác nhau, nhẹ hay mạnh sẽ phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện
âm từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết
trong trường hợp tương tác nào sẽ bị năng lượng hoại diệt xâm nhập từ ít cho tới
vô số vào mình. Có thể nói, dạng sống Tuệ linh không biết được hạt năng lượng
âm gốc sẽ phân tách ra các loại hạt năng lượng âm như thế nào trong tất cả các
kịch bản tương tác.
Chưa biết khi nào hạt năng lượng dương trong Trụ linh gốc sẽ phân tách
ra các hạt năng lượng dương có sóng điện dương từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là
chưa biết khi tương tác với các đối tượng vật chất nào thì sẽ phân tách ra các
hạt năng lượng dương có sóng điện dương từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết
khi tương tác trong môi trường sóng điện âm dương khác nhau, nhẹ hay mạnh sẽ
phân tách ra các hạt năng lượng dương có sóng điện dương từ nhẹ cho tới siêu mạnh.
Đó là chưa biết trong trường hợp tương tác nào thì năng lượng dương sẽ kích nổ
được năng lượng hoại diệt cũng như chuyển hóa giảm tải sóng điện âm của năng lượng
âm. Có thể nói, dạng sống Tuệ linh không biết được hạt năng lượng dương gốc sẽ
phân tách ra các loại hạt năng lượng dương như thế nào trong tất cả các kịch bản
tương tác.
Tuệ linh không có khả năng kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm bộc
phát, đó là không kiểm soát được tốc độ rung lắc và hút nhiệt xung quanh về
trong trạng thái mất kiểm soát. Tuệ linh cũng không có khả năng vận hành, kích
hoạt được sóng điện dương của hạt năng lượng dương để kiểm soát và giảm tốc độ
rung lắc của hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh.
Tuệ linh chưa kiểm soát được
các cặp hạt năng lượng âm dương trong cấu trúc của Tuệ linh. Gồm có:
Trong cấu trúc liên kết hạt năng lượng trong Tuệ linh sẽ có vô số các
điểm hạt năng lượng dương kết nối với nhau bằng các sợi chân tâm. Tại mỗi điểm
hạt năng lượng dương sẽ có một hạt năng lượng âm rung lắc, quay xung quanh hạt
năng lượng dương. Hạt năng lượng dương có nhiệm vụ là dùng nhiệt dương để đẩy
chuyển tiếp thông tin từ Trụ linh truyền qua nó. Hạt năng lượng âm có nhiệm vụ
thu hút tín hiệu vừa đủ để tín hiệu thông tin từ Trụ linh di chuyển tới.
Tại điểm hạt năng lượng dương, nếu hạt năng lượng dương có sóng điện
dương yếu và hạt năng lượng âm có sóng điện âm mạnh, điều này sẽ khiến cho đặc
tính sóng điện âm kết mạnh sẽ hấp
thụ nhiệt và làm suy yếu hạt năng lượng dương. Thậm chí sóng điện thông tin
trong quá trình di chuyển tới cụm hạt dương đó sẽ bị hạt năng lượng âm cản trở
quá trình tuần hoàn. Điều này khiến cho Tuệ linh mất kiểm soát và hành động sản
sinh ra hạt năng lượng âm để gia tăng hạt âm tại cụm đó. Khi đó sẽ có nhiều hơn
một hạt năng lượng âm tại cụm hạt năng lượng âm dương. Điều này sẽ làm cho năng
lượng hoại diệt xâm nhập vào và gây đứt liên kết cũng như phân rã cụm hạt năng
lượng trong Tuệ linh.
Tại điểm hạt năng lượng dương, nếu hạt năng lượng dương mạnh và hạt
năng lượng âm yếu, điều này sẽ khiến cho đặc tính sóng điện dương tỏa mạnh sẽ
kiểm soát được sóng điện của hạt năng lượng âm. Khi đó cấu trúc cặp hạt năng lượng
âm dương sẽ thuận lợi cho sóng điện từ Trụ linh tuần hoàn để chạy qua. Tuy
nhiên, do chưa giải mã được chính mình cũng như các nhóm vật chất khác và môi
trường sóng điện âm dương khác nhau, nên Tuệ linh dễ dàng mất kiểm soát tại các
cặp hạt năng lượng âm dương. Hạt dương sẽ bị suy yếu và hạt âm sẽ bộc phát rung
lắc mạnh cho tới siêu mạnh.
Tuệ
linh chưa kiểm soát được tuần hoàn sóng điện trong toàn bộ Tuệ linh. Để Tuệ
linh khỏe mạnh và có khả năng phòng thủ cũng như chuyển hóa được các năng lượng
khác cũng như năng lượng hoại diệt, Tuệ linh cần phải tuần hoàn được sóng điện
âm dương và trung tính. Đó là phải có đường chân tâm kết nối giữa các hạt năng
lượng dương trong cấu trúc phải vững chắc. Đó là hệ thống hạt năng lượng dương
phải có sóng điện dương mạnh để tỏa nhiệt và đẩy được thông tin di chuyển. Đó
là hệ thống hạt năng lượng âm phải nhẹ chỉ để làm nhiệm vụ rung lắc và thu hút
vừa đủ. Tuy nhiên, do chưa
kiểm soát được phôi âm dương gốc, do chưa kiểm soát được các cụm hạt năng lượng
âm dương, do chưa giải mã và thấu hiểu được các nhóm vật chất cũng như các môi
trường sóng điện khác nhau, nên khi tương tác trong quá trình vận động sẽ dễ
dàng mất kiểm soát sóng điện tuần hoàn trong toàn bộ Tuệ linh. Khi đó hệ thống
hạt năng lượng âm của cả Tuệ linh rung lắc rất mạnh và làm suy yếu sóng điện dương.
Quá trình này sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt xâm nhập ồ ạt vào toàn bộ cấu
trúc Tuệ linh để đồng hóa và làm phân rã Tuệ linh.
D. Bản chất khổ đau do Tuệ linh chưa trưởng
thành và chưa có cơ chế chuyển hóa năng lượng
Dạng
sống Tuệ linh chưa trưởng thành và chưa có cơ chế chuyển hóa được năng lượng hoại
diệt và các loại năng lượng khác chính là khổ đau của Tuệ linh. Cả hai đều có
chung một nguyên nhân chính. Đó là trong Trụ linh của Tuệ linh chưa phân tách đủ
lượng sợi mã sóng trí tuệ trong sự kiểm soát được độc của hạt âm và kích hoạt
được thiện của hạt năng lượng dương gốc. Khi chưa trưởng thành và chưa có cơ chế
chuyển hóa được năng hoại diệt cũng như các loại năng lượng khác sẽ khiến cho
Tuệ linh dễ dàng biến đổi mã sóng trí tuệ và phân rã hoại diệt.
Tại
sao Tuệ linh chưa trưởng thành lại liên quan tới khổ đau và liên quan tới cơ chế
chuyển hóa năng lượng của Tuệ linh? Điều này có liên quan và có cơ sở rõ ràng.
Cụ thể:
Trước tiên phải thấu hiểu rằng hạt năng lượng tận cùng cấu tạo thành tất
cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Trong hạt năng lượng tận cùng lại
lưu giữ, ghi lại, mã hóa được thông tin trong quá trình vận động. Như vậy, hạt năng lượng tận cùng là thông
tin. Trong thông tin lại có độc và tốt, có nhiệm vụ chức năng khác nhau.
Tuệ linh được hình thành từ phôi năng lượng tận cùng, phát triển thành
Trụ linh và Tuệ linh em bé. Để từ Tuệ linh em bé trưởng thành thì đó là quá
trình cấu trúc Trụ linh phải tương tác trong các môi trường sóng điện để phân tách
và liên kết các hạt năng lượng chứa đựng thông tin.
Tuệ linh để trưởng thành được thì phải kiểm soát được độc của hạt năng
lượng âm trong Trụ linh không cho bộc phát; phải kiểm soát được quá trình tương
tác với các môi trường sóng điện khác nhau để không bị năng lượng hoại diệt chi
phối; phải kích hoạt được hạt năng lượng dương để phân tách ra các hạt năng lượng
dương, chân tâm. Chỉ khi kiểm soát được Trụ linh chỉ phân tách ra các hạt năng
lượng âm có sóng điện âm nhẹ và phân tách ra nhiều hạt năng lượng dương có sóng
điện dương mạnh cũng như nhiều hạt chân tâm, thì mới giúp cấu trúc năng lượng của
Tuệ linh được liên kết bền vững và trưởng thành. Trưởng thành tức là sản sinh
ra vô số sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ và vô số sợi mã sóng trí tuệ
có sóng điện dương mạnh và chân tâm mạnh. Điều này cũng giống con người là phân
tách tế bào mạnh khỏe để trưởng thành.
Tuệ linh để trưởng
thành còn là một quá trình xa vời. Bởi vì Tuệ linh không giải mã được chính
mình, không giải mã được các nhóm vật chất và năng lượng hoại diệt, không kiểm
soát được độc của hạt năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương, nên khi
tương tác, vận động với mong muốn để trưởng thành đều dễ dàng bị chi phối bởi
năng lượng âm của chính mình, của vạn vật và năng lượng hoại diệt. Do đó, các
Tuệ linh bị chi phối mà sản sinh ra nhiều năng lượng âm.
Khi sản sinh nhiều năng lượng âm sẽ không giúp Tuệ linh trưởng thành, ngược lại
còn làm cho năng lượng hoại diệt xâm nhập vào làm phân rã và hoại diệt.
Chỉ khi Tuệ linh trưởng thành mới giúp Tuệ linh giải mã và mã hóa được
nhiều cho tới toàn diện thông tin chân thật của tất cả các nhóm vật chất trong
và ngoài Vũ trụ. Khi Tuệ linh trưởng thành mới cấu tạo đủ lượng sợi mã sóng trí
tuệ mang sóng điện âm nhẹ và đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương
mạnh để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng. Bộ lọc năng lượng chính là cơ chế chuyển
hóa được năng lượng hoại diệt và các nhóm năng lượng khác.
Tại
sao dạng sống Tuệ linh lại chưa trưởng thành và chưa có được cơ chế chuyển hóa
năng lượng hoại diệt cũng như các nhóm năng lượng khác? Những nguyên nhân đó
là:
Dạng sống Tuệ linh chưa giải mã và mã hóa được đầy đủ cũng như toàn diện
thông tin của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là chưa giải
mã, thấu hiểu được năng lượng hoại diệt và chính mình.
Dạng sống Tuệ linh do chưa có độ nén, cường độ lớn trong tương tác nên
chưa bộc phát được hết tất cả các kịch bản tương tác với các môi trường sóng điện
khác nhau. Do chưa thể kiểm soát được độc tâm của hạt năng lượng âm gốc nên dẫn
tới quá trình sản sinh hạt năng lượng âm ồ ạt. Do chưa thể kích hoạt được thiện
tâm của hạt năng lượng dương gốc nên chưa biết cách sản sinh cũng như dùng năng
lượng dương kiểm soát năng lượng âm. Do đó dạng sống Tuệ linh chưa trưởng
thành.
Vì dạng sống Tuệ linh chưa trưởng thành nên chưa đủ lượng sợi mã sóng
trí tuệ để cấu tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó
là phải đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm rất nhẹ và đủ lượng sợi
mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương siêu mạnh. Chỉ khi đạt được điều đó mới đủ
điều kiện để có thể chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Dạng
sống Tuệ linh chưa giải mã được chính mình, chưa giải mã được năng lượng hoại
diệt, chưa giải mã được tất cả các nhóm vật chất, chưa trưởng thành được, chưa
chuyển hóa được bộ lọc năng lượng. Tất cả là do chưa có tri thức của hai Chân
lý soi sáng cũng như cơ chế để làm được tất cả điều đó. Do đó, khi Tuệ linh
chưa trưởng thành và chưa có cơ chế chuyển hóa năng lượng sẽ là khổ đau.
Như
vậy, dạng sống Tuệ linh đang thiếu một môi trường tu luyện để học tập, giải mã
được tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là giải mã, thấu
hiểu để kiểm soát được chính mình. Tuy nhiên, sự tự do và tự tại của dạng sống
Tuệ linh lại không đáp ứng được điều đó.
Tuệ linh giải mã và mã hóa thông tin toàn diện thông qua bốn hình tướng
Đạo ở nhân gian
Từ
cội nguồn của Vũ trụ và Tuệ linh, từ cấu trúc của Vũ trụ và Tuệ linh, từ bản chất
sự giải mã và mã hóa thông tin còn hạn chế của dạng sống Tuệ linh, từ bản chất
khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên đã nghiên cứu, truy tìm cơ
chế, truy tìm phương pháp giúp cho dạng sống Tuệ linh giải mã được thông tin
toàn diện của chính mình và tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Việc
giải mã toàn diện và đúng sẽ giúp cho dạng sống Tuệ linh mã hóa được thông tin
tốt cho quá trình phân tách liên kết bền vững. Khi phân tách liên kết
theo hướng bền vững sẽ giúp Tuệ linh trưởng thành và có cơ chế chuyển hóa năng
lượng.
Vị
Tuệ linh đầu tiên nhận thấy khi dạng sống Tuệ linh còn tự do an lạc thì sẽ
không thể giải mã và mã hóa được thông tin toàn diện. Khi đó Tuệ linh sẽ không
thể trưởng thành và có cơ chế chuyển hóa năng lượng. Chính vì vậy, vị Tuệ linh
đầu tiên đã nghiên cứu ra một môi trường cho dạng sống Tuệ linh tu học. Môi trường
tu học của dạng sống Tuệ linh giống như một trường học nghiêm khắc. Môi trường
tu học cho dạng sống Tuệ linh phải đối ngược hoàn toàn với sự tự do tự tại của
dạng sống Tuệ linh. Môi trường tu học sẽ đảm bảo được sự tương tác của tất cả
các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ cùng tương tác với Tuệ linh. Tuệ linh sẽ
phải an trụ trong thân tướng vật chất giản đơn là con người. Đó là môi trường
tu học có đầy đủ khổ đau kiếp nạn, an vui và hạnh phúc. Tuy nhiên, bản chất là
không có gì ngoài khổ đau. Khổ đau được hiện hữu trong bốn hình tướng Đạo ở
nhân gian để mô phỏng hết tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các môi
trường sóng điện cho từng đặc tính Trụ linh của các Tuệ linh khác nhau.
Khi
tất cả các Tuệ linh trải nghiệm tu học trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian với
vô số kiếp tu hành, tất cả dạng sống Tuệ linh sẽ bộc phát được hết độc tâm và
thiện tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với các môi trường khác nhau. Khi
đó, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ giải mã được toàn diện, mã hóa toàn diện, thống kê
toàn diện về bản chất của tất cả các nhóm vật chất, dạng sống Tuệ linh trong
quá trình tương tác tại môi trường tu học này. Tiếp đến là vị Tuệ linh đầu tiên
sẽ soi sáng sự thật của chính dạng sống Tuệ linh, soi sáng sự thật bản chất của
tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Cuối
cùng là vị Tuệ linh đầu tiên sẽ tìm ra phương pháp, cơ chế để giúp dạng sống Tuệ
linh trưởng thành, để giúp Tuệ linh có được bộ lọc năng lượng chuyển hóa năng
lượng hoại diệt và các nhóm năng lượng khác. Khi có được bộ lọc năng lượng mới
giúp cho tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh
cùng phát triển bền vững.
Để
đảm đảm bảo môi trường tu học cho dạng sống Tuệ linh cũng như sự chắc chắn
thành công, vị Tuệ linh đầu tiên đã kiến tạo môi trường tu hành ở Trái đất. Đó
là xây dựng môi trường tu hành cho muông thú để quan sát quá trình tương tác,
giải mã, mã hóa, chuyển sinh của muông thú và vạn vật ở Trái đất. Vị Tuệ linh đầu
tiên đã thấy được thành công trong quá trình chuyển sinh của vạn vật cũng như
muông thú tại Trái đất. Chính vì điều đó, vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra bước
ngoặt thành tựu trên hành trình phát triển Vũ trụ và Tuệ linh.
5.1. Đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu
học ở nhân gian của hội đồng Tuệ linh
Vị
Tuệ linh đầu tiên tập kết đại hội thống nhất phương pháp tu học cho dạng sống
Tuệ linh. Đại hội tập kết diễn ra như sau: Trong
cuộc triệu tập Hội đồng của chư vị Tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ,
vị Tuệ linh đầu tiên trầm ngâm nhìn vào một đĩa thức ăn trắng trên bàn. Trong
suy nghĩ lúc đó của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ linh đều nghĩ là làm
sao việc đưa các Tuệ linh xuống làm con người phải đạt được thành tựu là tìm ra
được phương thuốc cứu lại các Tuệ linh và Vũ trụ. Sự suy tư mang theo tâm trạng
trầm ngâm khi nhìn vào đĩa thức ăn trắng trên bàn (tất nhiên
thức ăn đó là do năng lượng tạo ra). Suy tư một lúc lâu, vị Tuệ linh đầu tiên liền
nói với một Tuệ linh khác: “Hãy mang những con rắn độc ra đây”. Sau đó có một
Tuệ linh mang ra những con rắn độc, có nhiều con nhỏ và một con to. Vị Tuệ linh
đầu tiên lấy những con rắn nhỏ trộn vào đĩa thức ăn đó, tiếp đến thả hai con rắn,
trong đó có một con to xuống nền đất. Hai con rắn đó trườn vào những bụi cây
xung quanh đó. Vị Tuệ linh đầu tiên nhìn vào đĩa thức ăn đã trộn với rắn độc mà
nói: “Để cứu được các Tuệ linh và Vũ trụ, chỉ có thể lấy độc trộn vào chân tâm
(thức ăn trắng) mới tìm ra phương thuốc cứu lại Tuệ linh và Vũ trụ”. Vị Tuệ
linh đầu tiên tiếp tục nói rằng: “Ngoài những độc tố lẫn trong chính chân tâm,
ác tâm xen kẽ thiện tâm thì cần phải có thế lực ác tâm bên ngoài tác động vào;
Môi trường tu hành nơi nhân gian sẽ như vậy”. “Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ
trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian”. Đó là câu nói của vị Tuệ
linh đầu tiên.
Như
vậy, tại đại hội tập kết Tuệ linh về phương pháp tu học ở nhân gian, vị Tuệ
linh đầu tiên đã quán triệt phương pháp tu học thông qua 3 hình ảnh về những
con rắn độc. Cụ thể như sau:
Những con rắn độc nhỏ được trộn vào đĩa thức ăn trắng là những độc tâm
của mỗi Tuệ linh. Hình ảnh đó tượng trưng các độc tâm đang bị ẩn giấu trong mỗi
Tuệ linh và chưa được bộc phát ra.
Một con rắn nhỏ bên
ngoài được thả ra là tượng trưng cho độc tâm có trong vạn vật, trong tất cả các
cấu trúc vật chất. Độc tâm đó cũng đang bị ẩn giấu.
Con rắn to được thả ra tượng trưng cho năng lượng hoại diệt. Đó là độc
tâm to nhất đối với tất cả các nhóm vật chất trong Vũ trụ và cả dạng sống Tuệ
linh.
Thông
qua 3 hình ảnh về những con rắn độc: Tất cả các Tuệ linh sẽ phải tương tác với
nhau trong tất cả các kịch bản trong các điều kiện môi trường sóng điện khác
nhau để bộc phát hết độc tâm của chính mình, của vạn vật và của năng lượng hoại
diệt. Khi bộc phát được hết độc tâm chính là quá trình Tuệ linh sẽ giải mã được
thông tin toàn diện nhất về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sau khi giải
mã được thông tin toàn diện, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ nghiên cứu, tìm được được
Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Để bộc phát hết độc
tâm cũng như tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh sẽ phải thông
qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.
Như
vậy, kết quả của đại hội thống nhất phương pháp tu học của dạng sống Tuệ linh ở
nhân gian gồm có 2 điều:
Tuệ linh thông qua thân tướng con người phải tương tác với nhau trong
tất cả các kịch bản, trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau để bộc
phát hết độc tâm của mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt.
Phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới tìm được Đạo hợp nhất
của Vũ trụ. Đạo hợp nhất chính là bộ lọc sản sinh năng lượng viên mãn để sản
sinh ra các siêu hạt năng lượng cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh.
Sau
đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu học ở nhân gian, những Tuệ linh đầu
tiên đã phát nguyện tiên phong đi xây dựng nhân loại. 5.2. Đại hội tập kết hóa thân thành nhân loại ở
nhân gian
Vị
Tuệ linh đầu tiên được coi là Người Cha vĩ đại, Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ,
Tuệ linh và con người. Ngài đã dẫn dắt các Tuệ linh xuống nhân gian tu học và tạo
thành dấu mốc lịch sử cho sự xuất hiện của con người. Ngài cùng các Tuệ linh thực
hiện con đường truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ ở nhân gian trong nhiều đời,
nhiều kiếp.
Cuộc
tập kết lịch sử khởi đầu cho sự hình thành loài người: Tại vô số nơi trên Trái
đất, tại ven sông, tại ven biển, tại đồng bằng, tại trên núi, tại trong rừng, tại
những nơi đó có vô số các điểm tập kết lịch sử. Tại các điểm tập kết lịch sử
đó, Người Cha vĩ đại đã dùng quyền năng của mình để triệu tập tất cả muông thú
về nghe Ngài truyền dạy và những lời Ngài truyền dạy chính là luật, là luật Nhân
quả mà tất cả muông thú cùng với các Tuệ linh sống tại Trái đất phải tuân thủ
theo. Tại mỗi điểm tập kết sẽ có các Tuệ linh được hóa thành từng cặp vợ chồng
và hai con nhỏ, có một con gái và một con trai. Mỗi điểm tập kết sẽ có hai cho
đến nhiều hộ gia đình và nhiều muông thú đến nghe Ngài truyền dạy. Đây là cơ sở
để loài người hình thành các bộ lạc, bộ tộc và ngày nay là quốc gia.
Người Cha vĩ đại truyền
dạy tại các điểm tập kết lịch sử: Ngài nói với các cặp gia đình là: “Ta đưa các
ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về cũng phải bằng chân tâm”; Ngài nói với các
cặp bố mẹ: “Ta giao sứ mệnh các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân
loại”; Ngài nói với các cặp gia đình: “Các ngươi sẽ phải trải qua nhiều kiếp,
trải qua hết các khổ đau và kiếp nạn, lấy kinh nghiệm trải qua đó để cải tạo Trụ linh thành bộ
lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được trở về”; Ngài nói với các hộ
gia đình và muông thú: “Ta giao cho các ngươi nhiệm vụ thuần hóa muông thú để
chúng cũng làm người và cùng xây dựng nhân loại”. Ngài nói với tất cả các hộ
gia đình và muông thú: “Ta cho các ngươi biết, để nhanh cải tạo Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng thì các ngươi hãy tìm kiếm Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ
trong khổ đau và kiếp nạn”.
Trong
các cuộc tập kết lịch sử này, Người Cha vĩ đại đã sắp đặt và gợi ý về luật Nhân
quả. Luật Nhân quả chính là Chân lý Vạn vật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ,
mà tất cả các dạng sống dưới nhân gian sẽ phải thông qua khổ đau kiếp nạn để
tìm và thấu hiểu. Không những Ngài gợi ý việc thông qua khổ đau kiếp nạn để tìm
được Chân lý Vạn vật mà còn gợi lý luôn là phải tìm ra Chân lý Giác ngộ để giải
thoát hết các khổ đau đó thì mới luyện được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của
Tuệ linh. Luật Nhân quả là luật công bằng đã được Ngài chuyển hóa từ Chân lý Vạn
vật sau quá trình quan sát sự vận hành của vạn vật, Vũ trụ và xây dựng nó hoàn
chỉnh nhằm tạo ra môi trường tu hành cho Tuệ linh khắp Vũ trụ tại Trái đất này.
Thông
qua những sự sắp đặt trong các cuộc tập kết cho Tuệ linh xuống nhân gian tu
hành cùng muông thú và những lời truyền dạy của Ngài, thông qua sự tương tác hợp
nhất bởi không gian và thời gian của mỗi con người mà tạo thành hình tướng Đạo.
Hình tướng Đạo được biểu hiện ra bốn hình tướng: Đạo đời, Đạo lễ, Đạo đường, Đạo
Đế vương. Đó là phương pháp tu hành mà Ngài đã đưa ra trong đại hội thống nhất
phương pháp tu hành cho Tuệ linh.

Mỗi
một con người hiện diện tại nhân gian này phải thể hiện được chí khí “Đầu đội
trời, chân đạp đất, gánh vác trên vai bốn hình tướng Đạo, không được bỏ hay làm
gãy hình tướng Đạo nào”. Trong hình tướng Đạo lễ, đó là tri ân báo hiếu cha mẹ
tổ tiên, nghĩa tình vợ chồng, huynh đệ, con cái; Đạo đời là đối nhân xử thế và
mưu sinh; Đạo đường là con đường tri thức, giác ngộ, tôn giáo, nền giáo dục; Đạo
Đế vương là quân dân ái quốc. Chỉ
duy nhất thời kỳ đầu tiên các Tuệ linh hóa thân thành con người mới thông qua
liên kết giữa cấu trúc năng lượng của chính mỗi Tuệ linh với vô số hạt năng lượng
giản đơn kết tụ để tạo ra hình hài con người hoàn chỉnh. Sau thời kỳ đầu tiên,
các Tuệ linh hoặc các linh hồn đủ tiêu chuẩn luân hồi làm người sẽ phải thông
qua luật luân hồi. Đó là thông qua cơ chế sinh sản của con người để luân hồi đầu
thai làm người.
Vô
số các Tuệ linh xuống nhân gian tu hành. Cũng có vô số linh hồn muông thú được
chuyển sinh để luân hồi làm con người. Tất cả con người sống, tương tác trong
cuộc sống ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo.
Vô
số Tuệ linh cùng vô số linh hồn trong thân tướng con người thông qua bốn hình
tướng Đạo trong nhiều đời nhiều kiếp. Quá trình đó đã tạo ra tất cả các kịch bản
tương tác với tất cả các môi trường sóng điện khác nhau cho từng Tuệ linh và
linh hồn. Do đó, tất cả những độc tâm và thiện tâm của Tuệ linh, linh hồn thông
qua thân tướng con người đã được bộc phát hết. Độc tâm của vạn vật và bản chất
của năng lượng hoại diệt cũng được bộc phát hết.
Trải
qua hành trình tu hành của Tuệ linh ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo
trong nhiều đời nhiều kiếp, vị Tuệ linh đầu tiên đã giải mã và mã hóa được toàn
diện về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Do đó,
Ngài đã tìm ra cơ chế, phương pháp chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Đó chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ đã được tìm thấy.
Bản chất khổ đau và con đường
diệt khổ của con người và Tuệ linh
Bản
chất khổ đau của Tuệ linh đã được phân tích ở các phần trước. Trong phần này là
phân tích bản chất khổ đau của con người, tức là khổ đau của Tuệ linh trong
thân tướng con người. Đó là những khổ đau mới, khổ đau mà dạng sống của Tuệ
linh không có khi chưa hóa thân làm con người.
Bởi
vì tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian trong nhiều đời nhiều kiếp
sẽ tạo ra được tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các điều kiện môi trường
khác nhau cho mỗi Tuệ linh, chính vì điều này đã giúp cho Tuệ linh thông qua
thân tướng con người để bộc phát được hết tất cả các độc tâm và thiện tâm. Từ
đó vị Tuệ linh đầu tiên xây dựng được con đường diệt khổ để cải tạo Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh.
Khổ
đau chính là độc tâm đã được bộc phát thông qua bốn hình tướng Đạo với tất cả
các kịch bản tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau. Con đường
diệt khổ chính là thiện tâm đã và đang được kích hoạt thông qua bốn hình tướng
Đạo với tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện
khác nhau.
6.1. Bản
chất của khổ đau
Vị Tuệ linh đầu tiên
đã thấu hiểu Chân lý Vạn vật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con
người. Đó là cội nguồn, bản chất, cấu trúc cấu tạo, cơ chế vận hành, thông tin,
môi trường của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Chân lý Vạn
vật được hiểu là hình tướng của Đạo. Tiếp đó Ngài đã tìm ra Chân lý Giác ngộ.
Chân lý Giác ngộ chính là Tâm Đạo,
là con đường duy nhất cải tạo thành công Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc
năng lượng để tiếp tục cải tạo sự sống của tất cả các dạng sống của trong và
ngoài Vũ trụ.
Khi
giác ngộ được Chân lý Giác ngộ sau khi giác ngộ Chân lý Vạn vật của vạn vật
trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người, Ngài đã thốt lên rằng: “À, đời là bể khổ. Chúng sinh, Tuệ linh và
con người phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ giải thoát hết tất cả các khổ
đau của vạn vật ở bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người”.
Trong
Chân lý Giác ngộ, ta thấy đời là bể khổ, không có gì khác ngoài khổ. Khi phân
nhóm của khổ, ta sẽ thấy có nhóm khổ đau do quy luật tự nhiên và nhóm khổ đau tại
Tâm. Trong mỗi nhóm khổ sẽ có các khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, và phương
pháp diệt khổ đau.
Vậy khổ đau của con người là gì?
Khổ đau của con người là sự bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái
năng lượng của Tâm (Tuệ linh) trong thân tướng của con người. Nguyên nhân bởi
trí tuệ của con người bám định vào các giả tướng để vơ vét, hưởng thụ, thỏa mãn
mà không học tập, không thực hành cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh.
Con
người là tam hợp yếu tố cấu tạo thành, đó là thân tướng, là trí tuệ trau dồi được
ở hiện kiếp, là Tâm (Tuệ linh). Do đó:
Đối tượng của khổ đau
chính là Tâm (Tuệ linh). Tuệ linh bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng
lượng trong thân tướng con người.
Khổ đau chính là quá trình độc tâm bắt đầu sinh khởi cho tới khi bộc
phát hết.
Nguyên
nhân của khổ là do trí tuệ bám định vào giả
tướng.
Giả tướng chính là quá trình tương tác giữa con người với con người,
giữa con người với vạn vật và muông thú trong các môi trường sóng điện khác
nhau, hoàn cảnh khác nhau thông qua bốn hình tướng Đạo. Có thể nói rằng giả tướng
chính là tất cả các kịch bản tương tác của Tuệ linh thông qua thân tướng con
người trong tất cả các điều kiện môi trường sóng điện khác nhau bởi bốn hình tướng
Đạo.
Như
vậy, môi trường tu hành ở nhân gian cho Tuệ linh đã thỏa mãn được cường độ
tương tác, tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ cùng tương tác, có đầy
đủ môi trường sóng điện, đặc biệt là Tuệ linh không còn tự do trong thân tướng.
Đây là môi trường tu hành lý tưởng để giúp Tuệ linh bộc phát hết độc tâm và
kích hoạt hết thiện tâm. Kết quả là tất cả Tuệ linh tu hành ở nhân gian đã bộc
phát hết độc tâm cũng như thiện tâm. Đây được coi là thành tựu vô cùng quan trọng
để tạo thành bước ngoặt chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
6.2. Khổ đau do quy luật tự nhiên và phương
pháp diệt khổ
Khổ
đau do quy luật tự nhiên là những khổ đau mà chúng ta đều biết, đều nhận thấy,
nó sẽ xảy ra, không ai thoát khỏi khổ đau do quy luật tự nhiên. Đó là những khổ
đau mang đặc tính lặp đi lặp lại bởi đặc tính này chính là Chân lý Vạn vật. A. Các khổ
đau do quy luật tự nhiên
Sinh
khổ: Mỗi người được sinh ra đã là khổ, cái khổ của thân tướng thai nhi nằm
trong bụng mẹ chật hẹp và bị o ép, cái khổ của Tuệ linh hoặc Linh hồn phải đi
theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để chờ ngày thai nhi chào đời. Khi chào đời thì Tuệ
linh hoặc Linh hồn đã thiết nhập vào thân tướng em bé yếu ớt đó để bắt đầu một
kiếp người đầy rẫy khổ đau mà cất tiếng khóc báo hiệu cho Tuệ linh và con người
biết. Sinh ra mới có sự hiện hữu của vạn vật, Tuệ linh, con người. Con người
chúng ta hiện hữu cũng phải được sinh ra, đó là sự thật hiển nhiên của Chân lý Vạn
vật.
Già
khổ: Đó là cái khổ khi mỗi người chúng ta lớn lên và rồi già yếu. Khi đó thân
tướng chúng ta không còn được khỏe mạnh, chân tay yếu mềm, răng yếu, mắt nhìn
không rõ, tai nghe cũng kém đi, trí nhớ không còn minh mẫn, nỗi sợ khi đối diện
với sự cô đơn lẻ loi về già khiến cho chúng ta sợ hãi và đau khổ. Cái khổ này
ai cũng phải trải qua, không ai là không trải qua, bởi nó là Chân lý Vạn vật.
Bệnh
khổ: Đó là bệnh tật, từ cảm nắng, cảm lạnh, hắt hơi sổ mũi cho đến những bệnh nặng
như bệnh nan y hay những bệnh không thể chữa khỏi. Bệnh tật không chừa một ai cả,
dù giàu có, địa vị hay nghèo khó. Những bệnh không chữa được thì có giàu có, địa
vị đến đâu thì vẫn không thể chữa khỏi. Nỗi khổ của người bệnh là luôn luôn sợ
chết, luyến tiếc với gia đình và tiền tài giả tướng.
Tử
khổ: Đó là cái chết, ai rồi cũng phải chết, không ai là không chết, có chăng mỗi
người trải qua cái chết như thế nào. Có người già rồi mà chết, có người chết vì
bệnh tật, có người chết vì chiến tranh, có người chết vì tai nạn, có người chết vì giết hại
nhau. Khi chết, Tuệ linh tách ra và nhìn thân tướng mình an trụ bao lâu nay mà
luyến tiếc không nỡ xa rời. Có Tuệ linh hoặc Linh hồn khi chết rồi còn bị con
cháu nhờ thầy pháp về trấn yểm vong làm cho cái khổ chồng chất cái khổ. Vừa mới
luyến tiếc thân tướng và con cháu chưa nguôi ngoai đã bị thầy pháp bắt yểm và bị
tra tấn làm cho nỗi đau khổ tăng tột cùng, khiến cho nhiều Tuệ linh hoặc Linh hồn
trở nên sân hận mà đọa thành ngã quỷ.
Sinh
ly khổ: Đó là cái khổ của người đang sống phải chia ly nhau. Đó là bố mẹ chia
ly con gái về nhà chồng, chồng chia ly vợ khi Đất nước có chiến tranh, người
yêu chia ly nhau để ra chiến trận bảo vệ Tổ quốc, những đôi yêu nhau không hợp
cũng chia ly nhau, vợ chồng không hạnh phúc chia ly nhau. Đây là cái khổ do quy
luật tự nhiên, bởi không ai bên ai mãi mãi hay bất tử cả, bởi do duyên mà đến với
nhau thì cũng do duyên mà rời xa nhau, khi rời xa nhau sẽ khiến cho chúng ta
lưu luyến mà khổ đau trong tâm. Cái khổ của chia ly nó tăng gấp bội khi Đất nước
có chiến tranh. Khi đó, cha mẹ già chia tay con ra chiến trận, vợ chia tay chồng
ra chiến trận, con thơ chia tay cha ra chiến trận, nỗi đau đó giằng xé trong
tâm không hề nguôi ngoai, sự đau khổ trong sự oán hận kẻ thù.
Tử
biệt khổ: Đó là cái khổ của người sống phải chứng kiến và tiễn biệt người thân
nằm vào đất mẹ, chứng kiến người thân chết do tai nạn, chết do chiến tranh, chết
do bệnh, chết do già, chết do tự tử. Ai cũng phải chết, không ai là không chết,
đó là cái chết của thân tướng trở về với đất mẹ. Nhưng cái chết của những con
người vì binh đao khói lửa, phải vùi thân tướng nằm xuống nơi đất mẹ, những người
thân đau khổ khóc thành những dòng nước mắt của sự oán hận, oán hận của
sự tham sân si của nhân loại mà gây ra vô số cuộc chiến tranh trên khắp Thế giới
để cho oán khí nghi ngút khắp đất trời.
B. Nguyên nhân của khổ đau do quy luật tự nhiên
Khổ
đau do quy luật tự nhiên là sự thật hiển nhiên nó phải đến, phải xảy ra và sẽ
trải qua ở môi trường tu hành nhân gian. Nó là khổ đau được xây dựng cho môi trường
tu hành của Tuệ linh thông qua Chân lý Vạn vật, nên không có nguyên nhân khổ
đau. Khổ đau do quy luật tự nhiên là phải đối mặt, không thể chạy trốn hay chạy
thoát được.
Những
khổ đau do quy luật tự nhiên chính là những kịch bản tương tác trong các môi
trường sóng điện khác nhau để giúp Tuệ linh bộc phát độc và thiện tâm.
Những
khổ đau do quy luật tự nhiên lại tạo thành vô số các kịch bản cũng như các môi
trường tương tác khác để Tuệ linh thông qua thân tướng con người bộc phát được
độc và thiện tâm.
C. Phương pháp diệt khổ đau do quy luật tự nhiên
Phương
pháp diệt khổ đau của quy luật tự nhiên là: “Chúng sinh, Tuệ linh và con người
phải dùng chân tâm chạy đua với thời gian, hy sinh lợi ích của mình để mang lại
lợi ích, niềm vui và hạnh phúc cho tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ,
Tuệ linh và con người”.
Khi
chạy đua với thời gian để mang lại niềm vui hạnh phúc cho mọi người thì đó là Tâm
đã dẫn dắt được Trí tuệ để điều khiển Thân tướng thực hành cải tạo Trụ linh,
nên Tâm sẽ an vui mà diệt
được khổ đau do quy luật tự nhiên tại kiếp người. Tuệ linh cũng hy sinh lợi ích
mà chạy đua với thời gian để thông qua khổ đau kiếp nạn nhằm thấu hiểu, triệt bỏ
được độc tâm và kích hoạt thiện tâm. Khi đó sẽ nhanh chóng chuyển hóa Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng viên mãn.
Những
cái khổ do quy luật tự nhiên phải đến và trải qua, không ai trốn thoát được.
Trong khi một kiếp người thì có hạn, nó trôi qua rất nhanh, khi ta vừa sinh ra
đã thấy già rồi, khi ta đang khỏe mạnh đã thấy bệnh rồi, khi ta đang bên nhau
đã thấy chia ly rồi. Do đó nếu không chạy đua với thời gian để thấu hiểu vạn vật
trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người, thấu hiểu Chân lý Vạn vật và Chân
lý Giác ngộ, tiếp tục chạy đua với thời gian để thực hành, cải tạo Vũ trụ quan
thì sẽ lãng phí một kiếp người.
Lịch
sử nhân loại của các quốc gia đã chứng minh rất rõ ràng sự giác ngộ khổ đau do
quy luật tự nhiên. Đó là khi quốc gia có ngoại bang xâm lăng, tất cả những người
con dân tộc cùng nhau đoàn kết ra chiến trường để đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo
vệ bình yên và hòa bình cho dân tộc, cho xóm làng. Nếu mỗi người dân không chạy
đua với thời gian để đoàn kết đánh giặc mà lại nghĩ là khổ do quy luật tự
nhiên, cứ đón nhận thì sẽ làm cho máu chảy đầu rơi trên khắp Đất nước, người
người chìm trong tang thương khổ đau. Do đó quốc gia nào cũng có những bậc Thánh
nhân có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ cùng nhân dân của họ giác ngộ được
khổ đau do quy luật tự nhiên, họ không màng thân xác, họ ra chiến trận để bảo vệ
quê hương và dân tộc họ được hòa bình ấm no. Một
người bị bệnh thì cũng phải chạy đua với thời gian để chữa khỏi, để còn giúp
cho gia đình, xã hội ngày càng tốt đẹp, chứ không phải có bệnh rồi mặc kệ đối mặt
chờ chết.
Mọi
người đều phải chạy đua với thời gian để khi chưa bệnh, khi chưa già, khi chưa
tử biệt, để tận dụng thời gian kiếp người ngắn ngủi mà học tập và thực hành. Đó
là học tập tri thức của hai Chân lý và thực hành cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh.
Khi cải tạo cho mình đồng nghĩa gắn liền với cải tạo Vũ trụ quan xung quanh. Nếu
không chạy đua để học và thực hành cải tạo Trụ linh thì sẽ lãng phí kiếp người.
Đặc biệt là sẽ phải luân hồi vô lượng kiếp và có nguy cơ bị hoại diệt Tuệ linh
bởi thực hành cơ chế sản sinh năng lượng âm sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt
vào phân rã.
Tất
cả mọi người cùng nhau chạy đua thời gian để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho
nhau sẽ tạo ra sức mạnh cải tạo vô cùng kỳ diệu cho cả Vũ trụ. Những năng lượng
dương và các siêu năng lượng sẽ được hình thành để cấu trúc, vận hành sự sống của
tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.
6.3. Khổ
đau tại Tâm và phương pháp diệt khổ
Khổ
đau tại Tâm là những cơn khổ đau xảy ra với Tâm mà ta không biết trước. Nó như
những cơn bão bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng đi qua Tâm
trong cuộc đời của mỗi người. Mỗi đời người có từ vài cho tới rất nhiều cơn bão
khổ đau đi qua Tâm. Những cơn bão khổ đau có khi nhẹ nhàng và cũng có khi dồn dập,
thậm chí trong mỗi kiếp người cảm nhận như không thể vượt qua được sự đau khổ
đó.
Khổ
đau tại Tâm là Tâm ta bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng trong
ngôi nhà Thân tướng. Nguyên nhân bởi trí tuệ bám định vào các giả tướng mà
không học tập để thấu hiểu tri thức của hai Chân lý. Điều đó dẫn tới Tâm không
hợp nhất được Thân và Trí để học tập và thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng. Vì vậy, Tâm đau khổ trong thân tướng vật chất và bị trí tuệ của
thân tướng thực hành đời sống thỏa mãn giả tướng.
A. Các khổ
đau tại Tâm
Khổ
đau tại Tâm gồm có 10 khổ đau. Mười khổ đau chính là mười giả tướng mà Tâm thấy
khổ đau: Có, không có, yêu thương, thù ghét, có trí tuệ, không có trí tuệ, cầu
được, cầu không được, hành động, không hành động. Trong mỗi một khổ đau tại Tâm
lại có rất nhiều nội dung khổ đau nhỏ bên trong.
Mười khổ đau tại Tâm đó là:
Tâm đau khổ vào giả tướng có: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám
định vào giả tướng có. Đó là có địa vị, giàu sang, tiền tài, danh vọng… mà
không thấu hiểu được Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo
Trụ linh của Tuệ linh ở kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi
nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách.
Cái đau khổ bí bách của Tâm là vì trí tuệ chỉ biết bám định vào, vơ vét, giữ lấy
các giả tướng mình đang có để thụ hưởng ích kỷ nơi thân tướng nó mà không chuyển
hóa các giả tướng đó thành lợi ích cho chúng sinh, vạn vật, Tuệ linh và con người.
Tâm đau khổ vào giả tướng không có: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí
tuệ bám định vào giả tướng không có. Đó là không có địa
vị, tiền tài, giàu sang, sức khỏe… mà không thấu hiểu được Chân lý Vạn vật và
Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người
ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực
hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ bí bách của Tâm là vì trí
tuệ chỉ biết bám định vào, vơ vét những giả tướng mà mình không có một cách ích
kỷ về mình mà gây tổn thương cho mọi người và vạn vật, Tuệ linh.
Tâm đau khổ vào giả tướng yêu thương, sở thích: Đó là Tâm bí bách đau
khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng yêu thương, sở thích. Đó là thông dâm, tà
dâm, sắc dục, ngoại tình, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút… mà không thấu hiểu Chân
lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại
kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được
tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là
vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng được thụ hưởng trụy lạc, sắc dục với giả
tướng khác mà gây tổn thương cho vô số người khác và vạn vật, Tuệ linh.
Tâm đau khổ vào giả tướng thù ghét: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí
tuệ bám định vào giả tướng thù ghét. Đó là không thích ai đó, thù hận ai đó,
không thích cái gì đó… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm
thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như
tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh
mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào các giả
tướng không thích hay thù ghét mà ích kỷ thỏa mãn sự thù hận để gây tổn thương
cho mọi người và vạn vật, Tuệ linh.
Tâm đau khổ vào giả tướng cầu được: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí
tuệ bám định vào giả tướng cầu được. Đó là cầu được danh, cầu được tiền tài
giàu có, cầu được cờ bạc, cầu được tình duyên, cầu được con… mà không thấu hiểu
Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ
linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng
không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này
của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng cầu được cái mình không có để
trở thành có, rồi luẩn quẩn trong các giả tướng có và yêu thích để vì ích kỷ về
mình mà gây tổn thương đến mọi người và vạn vật, Tuệ linh.
Tâm đau khổ vào giả tướng cầu không được: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì
trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được. Đó là cầu không được địa vị,
không được giàu có, không được con, không được cờ bạc, không được tình duyên…
mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ
linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi
nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách.
Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng cầu mà không
được nên ích kỷ dẫn đến thù ghét mà gây tổn hại mọi người và vạn vật, Tuệ linh.
Tâm đau khổ vào giả tướng có trí tuệ: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí
tuệ bám định vào giả tướng có trí tuệ. Đó là coi mình là người có trí tuệ hơn
người, nghĩ mình có chức sắc, địa vị, giàu sang, bằng cấp, tầng lớp trí thức…
mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ
linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi
nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách.
Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng mình có trí
tuệ mà khinh khi, ngạo mạn, chà đạp người khác để thỏa mãn sự ngạo mạn về mình.
Tâm đau khổ vào giả tướng không có trí tuệ: Đó là Tâm bí bách đau khổ
vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có trí tuệ. Đó là coi mình là người
nghèo hèn, không bằng cấp, lao động, nông dân, công nhân, không địa vị, không
giàu có, không phải tầng lớp trí thức… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân
lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn
ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành
cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám
định vào cho thân tướng mình u mê không có trí tuệ mà tự ti, sợ hãi khi gặp người
giàu có, địa vị hay trí thức mà không cố gắng trau dồi trí tuệ để mang lại lợi
ích cho mọi người và Vũ trụ, Tuệ linh.
Tâm đau khổ vào giả tướng hành động: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí
tuệ bám định vào giả tướng hành động. Đó là hành động tạo ác nghiệp. do không
thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của
Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng
không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này
của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng hành động vì lợi ích ích kỷ về
mình mà gây tổn thương mọi người và vạn vật, Tuệ linh.
Tâm đau khổ vào giả tướng không hành động: Đó là Tâm bí bách đau khổ
vì trí tuệ bám định vào giả tướng không hành động. Đó là không hành động tạo
thiện phước, do không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực
hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù
nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà
đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng
không hành động vì lợi ích cho mọi người nên gây tổn thương cho mọi người và vạn
vật, Tuệ linh.
Mười
khổ đau tại Tâm chính là các độc Tâm không dễ dàng để sinh khởi và bộc phát hết.
Bởi những độc Tâm này nó là bản chất từ phôi âm dương gốc của mỗi Tuệ linh. Để
bộc phát được hết độc Tâm, khổ đau tại Tâm, cần phải có sự tương tác trong bốn
hình tướng Đạo với tất cả các kịch bản và môi trường sóng điện khác nhau. Có thể
nói, mười khổ đau tại Tâm được bộc phát là điều tuyệt vời đối với dạng sống Tuệ
linh.
Mười
khổ đau tại Tâm cùng với các khổ đau của quy luật tự nhiên tạo thành tất cả các
kịch bản tương tác trong mọi điều kiện sóng điện khác nhau của mỗi Tuệ linh tu
hành
nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo. Đây là thành công rực rỡ của
hành trình tu hành của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian. Đó là kết quả mong chờ của
tất cả dạng sống Tuệ linh bởi đã có được môi trường tu hành hoàn hảo để giúp
cho Tuệ linh giải mã được sự thật về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.
Kết
quả của các khổ đau tại Tâm và của quy luật tự nhiên chính là kết quả của tất cả
các độc Tâm đã được bộc phát hết. Đó là độc Tâm của Tuệ linh và con người được
bộc phát hết. Đó là độc Tâm của vạn vật đều được bộc
phát hết.
Đó là độc Tâm của năng lượng hoại diệt được bộc
phát hết.
B. Nguyên
nhân khổ đau tại tâm
Khổ
đau tại Tâm là những độc Tâm được sinh khởi cho tới bộc phát hết bởi tất cả các
kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo với các môi trường sóng điện khác
nhau. Như vậy, việc bộc phát được các khổ đau (độc tâm) là điều vô cùng tuyệt vời.
Nguyên
nhân cội nguồn của khổ đau tại Tâm là vì dạng sống Tuệ linh chưa giải mã được
thông tin toàn diện của chính mình, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Vì chưa
bộc phát hết độc Tâm cũng như thiện Tâm nên chưa có khả năng trưởng thành, chưa
có cơ chế chuyển hóa năng lượng hoại diệt để duy trì sự phát triển bền vững của
mình và Vũ trụ. Chính vì nguyên nhân cội nguồn này mà dẫn tới việc dạng sống Tuệ
linh hóa thân làm con người để tu hành ở nhân gian. Tu hành ở nhân gian nhằm giải
mã được vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là giải mã được độc Tâm và thiện
Tâm của mình. Khi giải mã được sẽ tìm ra cơ chế chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng.
Nguyên nhân trực tiếp của khổ đau tại Tâm:
Đầu tiên là do trí tuệ thân tướng không thấu hiểu về vạn vật, cội nguồn,
sứ mệnh tu hành, tri thức hai Chân lý.
Tiếp đến là trí tuệ bám định vào giả tướng để thỏa mãn mà không tu học
cũng như thực hành cải tạo Trụ linh cho Tâm. Do đó, Tâm sinh khởi và bộc phát
đau khổ trong tất cả các kịch bản tương tác bởi bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.
Tâm đau khổ vì Tâm (Tuệ linh) là siêu vật chất lại phải an trụ trong
thân tướng giản đơn, đã vậy lại không dạy bảo, chỉ dẫn được trí tuệ của thân tướng.
Điều đó dễ dàng làm cho độc Tâm của Tuệ linh được bộc phát.
Phương pháp diệt khổ đau tại Tâm
Phương
pháp diệt khổ đau tại Tâm là: “Chúng sinh, Tuệ linh và con người phải dùng chân
tâm chạy đua với thời gian, hy sinh lợi ích của mình để mang lại lợi ích, niềm
vui và hạnh phúc cho tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và
con người”.
Việc
bộc phát được khổ đau, bộc phát được độc Tâm là điều vô cùng giá trị và tuyệt vời
đối với dạng sống Tuệ linh. Quả thật không dễ dàng gì để Tuệ linh giải mã được
bản chất của chính mình, của vạn vật và của cả năng lượng hoại diệt. Bởi khi giải
mã được khổ đau tại tâm chính là giải mã được tận cùng của tất cả các kịch bản
mà Tuệ linh không kiểm soát được năng lượng âm của phôi âm dương gốc cũng như
toàn bộ Tuệ linh. Khi giải mã được những độc Tâm thì cũng chính là việc Tuệ
linh đã giải mã được tất cả các kịch bản mà năng lượng hoại diệt xâm nhập vào
làm phân rã Tuệ linh, đồng thời cũng là giải mã được những độc Tâm của vạn vật,
Tuệ linh khác, con người khác tác động vào trong tất cả các kịch bản.
Khi
giải mã và thấu hiểu được tất cả các khổ đau, các độc Tâm, Tuệ linh và con người
phải thực hành quá trình mã hóa thông tin tốt cho việc phân tách và liên kết hạt
năng lượng bền vững để Tuệ linh trưởng thành và chuyển hóa được Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng.
Phương pháp diệt khổ đó là:
Tất cả con người và Tuệ linh đều phải chạy đua với thời gian. Nếu
không chạy đua với thời gian thì không biết còn cơ hội để cải tạo Trụ linh được
hay không. Bởi chỉ cần khi Tuệ linh không kiểm soát được độc tâm sẽ khiến cho
năng lượng hoại diệt xâm nhập và làm phân rã Tuệ linh. Do đó thời gian không chờ
đợi bất kỳ ai hay Tuệ linh nào cả.
Dùng chân tâm để học tập, thấu hiểu tri thức của hai Chân lý. Khi có
tri thức của hai Chân lý sẽ giải mã được toàn bộ sự thật của vạn vật trong và
ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Chân tâm chính là trạng thái mà con người
có trí tuệ thấu hiểu và biết lắng nghe, biết phân tích đúng sai.
Cuối cùng là chuyển hóa những giả tướng mình có để mang lại niềm vui
và hạnh phúc tới mọi người, vạn vật và Tuệ linh. Đó chính là thực hành đời sống
cống hiến vì vạn vật, Tuệ linh và con người.
Khổ
đau tại Tâm giống như những cơn bão liên tục càn quét qua Tâm, mục đích là để
giúp Trụ linh của Tuệ linh bộc phát triệt để hết các độc tâm và phải chuyển hóa
để kích hoạt hết thiện Tâm. Do đó, con người chúng ta phải chạy đua với thời
gian để có trí tuệ giác ngộ toàn diện. Có trí tuệ giác ngộ toàn diện sẽ giúp
chúng ta có sức mạnh đương đầu và triệt tiêu hết tất cả các độc Tâm. Khi triệt
tiêu được hết tất cả độc Tâm thì chúng ta phải kích hoạt hết tất cả các thiện
Tâm.
Giữa
độc Tâm và thiện Tâm cùng có chung cơn bão khổ đau. Bởi mỗi cơn bão khổ đau tại
Tâm đều có chung nội dung đối xứng giữa độc và thiện. Nếu chúng ta mới chỉ triệt
được độc Tâm mà chưa kích hoạt được thiện Tâm thì cơn bão đó sẽ vẫn tiếp tục tới.
Chỉ khi nào chúng ta vừa triệt bỏ được độc và kích hoạt được thiện thì cơn bão
khổ đau đó mới chấm dứt. Cứ như vậy,
con người chúng ta phải triệt để vượt qua được 10 cơn bão khổ đau tại tâm và 6
cơn bão khổ đau của quy luật tự nhiên trong tất cả các kịch bản tương tác của bốn
hình tướng Đạo ở nhân gian. Triệt được hết tất cả các độc Tâm sau khi bộc phát
và kích hoạt được tất cả thiện Tâm mới giúp cho Tuệ linh có đủ lượng sợi mã
sóng trí tuệ chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Kiểm soát độc tâm và kích hoạt
thiện tâm của con người và Tuệ linh
Vô
số Tuệ linh thông qua thân tướng con người tu hành ở nhân gian với tất cả các kịch
bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo với các môi trường sóng điện khác nhau.
Quá trình đó đã giúp cho mỗi Tuệ linh bộc phát được hết độc Tâm và kích hoạt được
hết thiện Tâm. Việc bộc phát được hết độc Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm
đã giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên giải mã triệt để và tận cùng về sự thật của dạng
sống Tuệ linh, của vạn vật cấu tạo thành Vũ trụ, của năng lượng hoại diệt. Từ
đó, Ngài thấu hiểu tất cả các kịch bản liên kết phân tách theo các hướng phân
rã hoại diệt hay bền vững của Tuệ linh và các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ
trụ, thấu hiểu tận cùng khổ đau, phương pháp diệt khổ của Tuệ linh và tất cả
các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.
Các Tuệ linh muốn trưởng
thành và chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì phải xuống nhân
gian tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo. Khi tu hành ở nhân gian trong tất cả
các kịch bản tương tác bởi bốn hình tướng Đạo trong các môi trường sóng điện
khác nhau sẽ giúp cho Tuệ linh bộc phát được hết độc Tâm và kích hoạt được hết
thiện Tâm. Tuy nhiên,
để mỗi Tuệ linh tự trải nghiệm cũng như bộc phát hết độc và thiện thì cần vô số
kiếp tu hành ở nhân gian. Điều này sẽ mất quá nhiều thời gian và sự nguy hiểm cho
mỗi Tuệ linh có bản chất Trụ linh đa âm.
Để
giúp cho các Tuệ linh tu hành ở nhân gian nhanh chóng giải mã được độc Tâm và
kiểm soát được độc Tâm khi nó sinh khởi bộc phát trong tất cả các kịch bản
tương tác, vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng ra bộ quy tắc không được phép vi phạm
trong bốn hình tướng Đạo để giúp cho con người, Tuệ linh dễ dàng nhận diện được
độc Tâm và kiểm soát để triệt bỏ độc Tâm khi nó sinh khởi cũng như bộc phát.
Khi con người, Tuệ linh thấu hiểu bộ quy tắc này sẽ giúp cho họ nhận diện cũng
như có trí tuệ để thấu hiểu và kiểm soát được độc Tâm. Kiểm soát được tất cả độc
Tâm chính là thành tựu đã chuyển hóa được sóng điện trong hạt năng lượng âm gốc
thành sóng điện âm rất nhẹ. Đây là điều kiện để Tuệ linh kích hoạt được thiện
Tâm và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Để giúp cho các Tuệ
linh tu hành ở nhân gian nhanh chóng giải mã được thiện Tâm và kích hoạt được
thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác, vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng
ra bộ quy tắc phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo để giúp cho con người,
Tuệ linh dễ dàng nhận diện được thiện Tâm và kích hoạt được thiện Tâm trong các
tương tác. Khi con người, Tuệ linh thấu hiểu bộ quy tắc này sẽ giúp cho họ mã
hóa cũng như có trí tuệ để thấu hiểu và kích hoạt được thiện Tâm. Kích hoạt được
tất cả thiện Tâm chính là thành tựu đã chuyển hóa được sóng điện trong hạt năng
lượng dương gốc thành sóng điện dương siêu mạnh. Đây là điều kiện
để Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
7.1. Bộ quy tắc kiểm soát độc Tâm của Tuệ linh
và con người
Bộ
quy tắc không được phép vi phạm trong tương tác của mỗi con người với bốn hình
tướng Đạo sẽ giúp cho mỗi con người giải mã và có trí tuệ thấu hiểu về khổ đau
cũng như độc Tâm của mình. Tiếp đến là mỗi người thực hành kiểm soát và triệt
tiêu độc Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với bốn hình tướng Đạo. Việc
thấu hiểu để kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm sẽ giúp cho chúng ta thấu hiểu
chính chúng ta cũng như tất cả con người, vạn vật, Tuệ linh trong quá trình
tương tác đó.
A. Hình
tướng Đạo lễ
Hình
tướng Đạo lễ là mối quan hệ tương tác trong gia đình, dòng họ, giữa vợ chồng,
con cái, anh em, cha mẹ, tổ tiên, người sống với người đã mất. Đó là:
Con người không được phép bất hiếu với tổ tiên loài người: phỉ báng,
chửi rủa Thiên Địa, xúc phạm những người có công xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Con cháu không được phép bất hiếu với tổ tiên: chửi rủa, phá mồ mả, đập
phá nơi thờ tự và tri ân gia tiên.
Con cái không được phép bất hiếu, bất nhân với cha mẹ: chửi rủa, chà đạp,
đánh đập, bỏ mặc, giết hại cha mẹ và người nuôi dưỡng.
Vợ chồng không được phép bất nghĩa, bất nhân: ngoại tình, thông dâm,
tà dâm, đánh đập, chà đạp nhân phẩm của nhau, bỏ nhau, giết hại nhau.
Anh em không được phép bất nghĩa, bất nhân: tranh giành lợi ích, đánh
đập, chà đạp, giết hại nhau.
Cha mẹ không được phép bất nghĩa, bất nhân với con cái: bỏ rơi con
cái, giết hại con cái, chà đạp đánh đập con cái, dạy con cái làm điều ác hại
người.
Không được
nạo phá thai nhi.
Không được
sống độc thân.
Không được bỏ bố, bỏ mẹ, bỏ vợ, bỏ chồng, bỏ con cái để sống cuộc sống
ích kỷ.
Hình tướng
Đạo đời
Hình tướng Đạo đời là đối
nhân xử thế, mưu sinh, lao động sản xuất, tương tác với vạn vật. Cụ thể:
Không được sát sinh: giết hại muông thú, hành nghề sát sinh.
Không được thông dâm, tà dâm: khi đã lập gia đình và đang chung sống với
nhau dưới sự bảo hộ của luật pháp quốc gia thì không được phản bội lại vợ chồng
mà đi lấy thêm vợ, chồng hoặc thông dâm với người khác; không được hiếp dâm,
không được lạm dụng tình cảm của người khác để thỏa mãn dục vọng.
Không được chửi rủa, chà đạp nhân phẩm người khác, không được đánh đập
người khác.
Không được
giết hại người khác và giết hại chính
mình.
Không được
buôn người: trẻ em, phụ nữ, nô lệ.
Không được
hành nghề mại dâm.
Không được dối trên lừa dưới, không được lừa đảo chiếm đoạt tài sản của
người khác.
Không được
trộm cắp, cướp của.
Không được phép sản xuất buôn bán những thứ gây tổn hại cho con người
và muông thú, không được buôn bán và sản xuất những thứ mà pháp luật quốc gia
không cho phép.
Không được
lười lao động.
Người chủ lao động không được bóc lột sức lao động của người lao động,
không được chửi rủa, không được chà đạp nhân phẩm, không được đánh đập và giết
hại người lao động.
Hình tướng Đạo đường
Hình tướng Đạo đường là con
đường truyền dạy tri thức, trí tuệ của người thầy đối với người trò. Cụ thể:
Học trò không được phép bất kính, bất nhân với thầy: chửi rủa, chà đạp
nhân phẩm, đánh đập, giết hại thầy.
Các học trò, các môn sinh không được gây mất đoàn kết, không được hãm
hại nhau, không được chia rẽ xung đột.
Các môn sinh không được nói dối nhau, không được nói dối thầy.
Thầy không được phép bất nhân, bất nghĩa với trò: chửi rủa, chà đạp
nhân phẩm, đánh đập, giết hại trò, dạy trò làm những điều ác, truyền dạy cho học
trò đi ngược nhân quả vạn vật.
Thầy không được phép lợi dụng học trò để thỏa mãn ái dục và tà dâm.
Không được dùng tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo để lừa đảo hại người,
trục lợi về mình, phá hủy giá trị đạo đức nhân văn của dân tộc và nhân loại.
Không được hành nghề mê tín dị đoan, bói toán, cúng cầu đi ngược Quy
luật Nhân quả.
Không được tuyên truyền những mê tín dị đoan, những hệ tư tưởng tiêu cực,
hệ tư tưởng cúng bái cầu xin, hệ tư tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.
Không được kích động, xung đột tôn giáo, không được lợi dụng tôn giáo
để tuyên truyền giáo lý sai khiến cho con người đánh mất giá trị đạo đức nhân
văn tốt, khiến cho nhân loại u mê mà lừa hại hoại diệt lẫn nhau.
Hình tướng
Đạo Đế vương
Hình
tướng Đạo Đế vương là mối quan hệ giữa những người lãnh đạo quốc gia và dân
chúng đối với quốc gia dân tộc. Trong đó, dân tộc, lãnh thổ là chủ; vua quan,
lãnh đạo và nhân dân là bề tôi. Cụ thể:
Vua, quan không được phép bất trung với quốc gia, dân tộc: kích động
chiến tranh, đi chiến tranh xâm lược, tham ô tham nhũng, bán nước hại dân, đàn
áp giết hại dân chúng, để người dân đói nghèo dịch bệnh.
Người dân không được phép bất trung với quốc gia: lười lao động, hành
nghề mê tín dị đoan, xúi giục kích động phản động chia rẽ dân tộc, phản bội Tổ
quốc, chạy trốn khi quốc gia lâm nguy.
Những
quy tắc không được phép vi phạm trong bốn biểu hiện hình tướng Đạo chính là luật
Nhân quả. Luật Nhân quả là luật công bằng, là sự phản chiếu lại nghiệp lực của
chúng sinh đã tạo ra, nếu chúng sinh nào vi phạm vào những quy tắc của bốn biểu
hiện hình tướng Đạo thì sẽ phải chịu quả nghiệp ở nhiều kiếp sau, thậm chí sẽ phải
chịu quả nghiệp nhãn tiền
trước mắt, và sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh sẽ phải đọa vào các cửa ngục
ngã quỷ.
Vị
Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng bộ quy tắc không được phép vi phạm trong bốn hình
tướng Đạo, còn gọi là nhân quả là để giúp con người và Tuệ linh nhận diện và
triệt bỏ được độc tâm, cũng như không thực hành con đường chuyển sinh phân rã
hoại diệt. Nếu con người và Tuệ linh vi phạm vào tức là sản sinh năng lượng âm,
đó là con đường chuyển sinh theo hướng hoại diệt Tuệ linh.
7.2. Bộ quy tắc kích hoạt thiện Tâm của Tuệ
linh và con người
Bộ
quy tắc phải làm được trong tương tác của mỗi con người với bốn hình tướng Đạo
sẽ giúp cho mỗi con người mã hóa và có trí tuệ thấu hiểu về phương pháp diệt khổ
cũng như thiện Tâm của mình. Tiếp đến là mỗi người thực hành kích hoạt thiện
Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với bốn hình tướng Đạo. Việc thấu hiểu
để kích hoạt được thiện Tâm sẽ giúp cho chúng ta chuyển hóa được Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng.
A. Hình
tướng Đạo lễ
Hình
tướng Đạo lễ là mối quan hệ tương tác trong gia đình, dòng họ, giữa vợ chồng,
con cái, anh em, cha mẹ, tổ tiên, người sống với người đã mất. Đó là:
Con người phải thấu hiểu Thiên Địa, thấu hiểu về vị Tuệ linh đầu tiên
là Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Do đó phải tri ân đối với
Thiên Địa.
Con cháu phải tưởng
nhớ, tri ân với những vị anh hùng dân tộc đã có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
phải tưởng nhớ và tri ân với cha
ông đã hy sinh thân xác để xây dựng và bảo vệ quốc gia mình đang sinh sống.
Con cái phải báo hiếu cha mẹ: phụng dưỡng, chăm sóc, thậm chí hy sinh
thân xác để bảo vệ cha mẹ.
Vợ chồng phải chung thủy tuyệt đối: yêu thương nhau, hy sinh vì nhau.
Anh em phải nghĩa tình viên mãn: đoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ nhau.
Cha mẹ phải trả nghĩa con cái: dạy con cái thành người tốt, thấu hiểu
đạo lý làm người, hy sinh vì con cái.
Phải kết hôn lập gia đình và chăm sóc gia đình hạnh phúc để duy trì
phát triển nhân loại.
Hình tướng
Đạo đời
Hình tướng Đạo đời là đối
nhân xử thế, mưu sinh, lao động sản xuất, tương tác với vạn vật. Cụ thể:
Phải thương yêu muông thú, bảo vệ muông thú, cứu giúp muông thú và vạn
vật, bảo vệ thiên nhiên.
Phải tôn trọng những người khác giới, giữ các mỗi quan hệ khác giới
trong sáng.
Phải giúp đỡ người khó khăn, khổ đau, hoạn nạn, nghèo khó.
Phải hy sinh lợi ích của mình để bảo vệ nhân loại, mang lại niềm vui
và hạnh phúc cho nhân loại.
Phải sống
có nghĩa tình, phải giữ chữ tín đối với nhau.
Phải quan
tâm chăm sóc người già, trẻ em, phụ nữ.
Kinh doanh, sản xuất phải tuân thủ pháp luật quốc gia và phải mang lại
được lợi ích cho mọi người.
Phải chăm
chỉ lao động, hăng say lao động sản xuất.
Người chủ lao động phải quan tâm, thương yêu và giúp đỡ người lao động.
Hình tướng Đạo đường
Hình tướng Đạo đường là con
đường truyền dạy tri thức, trí tuệ của người thầy đối với người trò. Cụ thể:
Học trò
phải kính trọng thầy dạy.
Các học trò, các môn sinh phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau.
Các môn
sinh phải nói lời thật tâm, phải chia sẻ thật.
Thầy phải yêu thương trò và phải truyền dạy cho trò thấu hiểu đạo lý
làm người để cải tạo thế giới quan tốt đẹp hơn.
Thầy phải tôn trọng phẩm hạnh của học trò, tôn trọng và giữ gìn mối
quan hệ trong sáng.
Phải tôn tạo và bảo tồn những giá trị trong sáng của tín ngưỡng văn
hóa, của các dòng đạo.
Phải bài trừ mê tín, u mê lạc lối trong các tín ngưỡng, trong các tôn
giáo bởi sự cúng cầu trái Quy luật Nhân quả.
Phải thấu hiểu Thiên – Địa – Nhân, thấu hiểu Người Cha vĩ đại của Tuệ
linh, con người. Phải thấu hiểu các dòng đạo đều là con dân của Ngài, do đó
nhân loại phải đoàn kết, đoàn kết tôn giáo để cùng nhau cải tạo thế giới quan tốt
đẹp hơn.
Thầy và trò phải phổ độ và truyền dạy những tri thức chuẩn mực của hai
Chân lý để nhân loại cùng đón nhận và thực hành cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh.
Hình tướng Đạo Đế vương
Hình
tướng Đạo Đế vương là mối quan hệ giữa những người lãnh đạo quốc gia và dân
chúng đối với quốc gia dân tộc. Trong đó, dân tộc, lãnh thổ là chủ; vua quan
lãnh đạo và nhân dân là bề tôi. Cụ thể:
Vua, quan phải xây dựng được quốc thái dân an, đời sống nhân dân ấm
no, hòa bình, hạnh phúc, phải hy sinh lợi ích của mình để bảo vệ lợi ích quốc
gia, bảo vệ lợi ích của dân tộc.
Người dân phải đoàn kết dân tộc, hăng say lao động sản xuất, hy sinh
trí tuệ và thân xác để bảo vệ dân tộc, phát triển quốc gia ngày càng cường thịnh.
Phải đoàn kết nhân loại, phải bài trừ sự kích động dân tộc, bài trừ
chiến tranh.
Những
quy tắc phải làm được trong bốn biểu hiện hình tướng Đạo chính là luật giác ngộ.
Thực hành được luật giác ngộ chính là thực hành được cơ chế phân tách và liên kết
hạt năng lượng bền vững cho Tâm. Khi Trụ linh phân tách ra vô số những hạt năng
lượng của sự hy sinh và cống hiến thì trong tương lai, trong các kiếp sau sẽ được
liên kết lại để kế thừa thành tựu và tiếp tục hành trình chuyển sinh bền vững.
Những
quy tắc phải làm được trong bốn hình tướng Đạo chính là để giúp con người và Tuệ
linh mã hóa được thông tin chân thật và kích hoạt thiện Tâm. Bởi nếu vị Tuệ
linh đầu tiên không xây dựng thành bộ quy tắc cũng như gọi là luật giác ngộ thì
con người và Tuệ linh sẽ không thể tìm ra con đường siêu việt nhất để cải tạo
Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Như
vậy, bộ quy tắc không được phép vi phạm và bộ quy tắc phải thực hiện được của
con người và Tuệ linh trong tất cả các kịch
bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo chính là con đường chuyển hóa Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng. Con đường này được bảo vệ bởi những quy tắc kiểm soát
độc tâm và lực đẩy để nhanh tới đích là những quy tắc phải làm được. Có thể
nói, hai bộ quy tắc này chính là sự cứu giúp Tuệ linh, con người, đó là động lực
để Tuệ linh và con người nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ tu học ở nhân gian để
trở về bảo vệ và phát triển bền vững trong và ngoài Vũ trụ.
Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở Hình tướng và
Tâm
Vị
Tuệ linh đầu tiên đã từng nói: “Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, dạng sống
Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian".
Đạo
của Vũ trụ hợp nhất chính là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người. Tuệ
linh và con người phải dùng Trụ linh để thấu hiểu, cải tạo, phát triển Vũ trụ
quan trở nên bền vững.
Dạng
sống Tuệ linh chưa giải mã được toàn diện chính bản chất trong Trụ linh của
mình, chưa giải mã được tất cả sự thật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Do
đó, họ chưa thấu hiểu cũng như cải tạo, phát triển Vũ trụ quan xung quanh họ trở
nên bền vững, họ bị hoại diệt vô số. Vạn vật cấu tạo thành Vũ trụ cũng hoại diệt
và tổn hao lớn, nguy cơ tất cả dạng sống trong và ngoài Vũ trụ sẽ hoại diệt.
Chính vì vậy mà dạng sống Tuệ linh dưới sự dẫn dắt của vị Tuệ linh đầu tiên đã
tạo ra môi trường tu hành ở nhân gian cho dạng sống Tuệ linh an trụ trong thân
tướng con người giản đơn. Họ an trụ trong thân tướng con người giản đơn để
tương tác với nhau, với tất cả các
nhóm vật chất cùng lúc, trong tất cả các kịch bản và môi trường khác nhau thông
qua bốn hình tướng Đạo. Điều này đã giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên giải mã được
toàn diện về Vũ trụ quan xung quanh dạng sống Tuệ linh. Đó là giải mã và thấu
hiểu về cội nguồn, cấu trúc, cơ chế vận hành của tất cả các nhóm vật chất. Đó
là giải mã và thấu hiểu được độc Tâm và thiện Tâm của chính họ và tất cả các
nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là năng lượng hoại diệt. Tiếp đến,
Ngài đã tìm ra cơ chế để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho tất cả
dạng sống Tuệ linh. Để mỗi Tuệ linh thực hành được cơ chế chuyển hóa Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng thì tất cả các Tuệ linh phải hóa thân xuống nhân gian
tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo. Khi tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo
sẽ giúp cho tất cả Tuệ linh giải mã và thấu hiểu được toàn diện về Vũ trụ quan
xung quanh họ. Cuối cùng là thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng
để phát triển bền vững chính họ và Vũ trụ quan xung quanh họ.
Đạo
của Vũ trụ là sự hợp nhất của hình tướng, là sự hợp nhất của Tâm, là sự hợp nhất
giữa hình tướng và Tâm. Thấu hiểu và thực hành đúng sẽ giúp cho mỗi Tuệ linh và
con người đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, đó là đắc được bộ lọc năng lượng.
8.1. Đạo
của Vũ trụ hợp nhất ở Hình tướng
Hình
tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất gồm có không gian hợp nhất, tất cả các nhóm vật
chất trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất, thời gian hợp nhất. Tất cả hợp nhất tại
con người tạo thành bốn hình tướng Đạo.
Không
gian hợp nhất gồm có không gian bên trong tinh cầu Vũ trụ và không gian bên
ngoài tinh cầu Vũ trụ. Con người tồn tại bên trong không gian của Vũ trụ và chịu
sự tương tác của tất cả các nhóm vật chất bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Do đó,
không gian trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất tại con người.
Tất
cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất tại con người. Bên ngoài Vũ
trụ có nhóm vật chất cội nguồn và nhóm vật chất hoại diệt. Bên trong Vũ trụ có
nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất. Tất cả
năm nhóm vật chất tương tác với nhau trong sự thúc đẩy sự phát triển của nhau.
Con người là đại diện của nhóm vật chất giản đơn bởi thân tướng và được Tuệ
linh là đại diện của nhóm siêu vật chất an trụ bên trong. Con người sống và
tương tác với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Do đó, tất cả các
nhóm vật chất tồn tại trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất tại con người.
Thời
gian hợp nhất tại con người. Thời gian gồm có quá khứ cội nguồn, hiện tại và
tương lai. Thời gian quá khứ là từ hạt sóng xanh hình thành ra năng lượng hoại
diệt cho tới khi hình thành tinh cầu năng lượng, tinh cầu năng lượng khổng lồ bị
nổ và hình thành ra các dạng sống trong Vũ trụ, các Tuệ linh trải qua vô số kiếp
tu hành ở nhân gian trong thân tướng con người. Thân tướng con người hiện tại
là thời gian hiện tại, là kết quả của quá khứ từ cội nguồn trong sự vận động để
có sự hiện hữu ở hiện tại. Những vận động, hành động chuyển sinh
ở hiện tại của con người sẽ tạo thành kết quả ở tương lai. Từ quá khứ tới hiện
tại được vận động, tồn tại, phát triển bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Từ
hiện tại để kết tạo thành tương lai cũng phải được vận động thông qua cơ chế
phân tách và liên kết dây.
Hình
tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất bởi không gian, thời gian, sự tương tác của tất cả
các nhóm vật chất ở mỗi con người tại môi trường tu hành Trái đất thông qua bốn
hình tướng Đạo. Bốn hình tướng Đạo mà mỗi con người phải sống và tương tác
trong nhiều kiếp tu hành là để tạo ra tất cả các kịch bản tương tác trong môi trường
sóng điện khác nhau với tất cả các nhóm vật chất. Mục đích là thông qua bốn
hình tướng Đạo hợp nhất tại con người là để Tuệ linh không có được sự tự do khi
đang ở bên trong thân tướng con người, để bộc phát được độc Tâm và kích hoạt được
thiện Tâm. Đặc biệt là phải thấu hiểu tất cả sự thật của tất cả các nhóm vật chất,
chính mình, năng lượng hoại diệt để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Bốn
hình tướng Đạo gồm có: Đạo đời, Đạo đường, Đạo Đế vương, Đạo lễ. Thông qua tất
cả các kịch bản tương tác của mỗi con người trong bốn hình tướng Đạo nhằm thấu
hiểu bản chất của Tâm và tìm được con đường chuyển hóa Tâm thành bộ lọc năng lượng.
8.2. Đạo
của Vũ trụ hợp nhất ở Tâm tướng
Vì
hình tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở thân tướng con người, do đó Đạo của Vũ trụ
hợp nhất cũng là ở Tâm tướng con người. Tâm
tướng chính là trạng thái năng lượng được sinh phát từ sợi mã sóng trí tuệ của
hạt năng lượng tận cùng cho tới Trụ linh của Tuệ linh, của vạn vật, Tâm của con
người.
Tất
cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ đều được cấu tạo từ hạt năng lượng tận
cùng. Trong hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ và trạng thái năng
lượng. Sợi mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng bên trong hạt được gọi là
Tâm.
Vũ
trụ là tam hợp yếu tố mà thành. Dạng sống Tuệ linh được coi là trí tuệ sinh
phát trạng thái năng lượng để vận hành hình tướng Vũ trụ. Trong Tuệ linh, cấu
trúc Trụ trí sinh phát ra trạng thái năng lượng (Trụ tâm) để vận hành tướng Tuệ
linh. Trụ trí và Trụ tâm của Tuệ linh được gọi là Trụ linh. Dạng sống Tuệ linh
là bộ não, là trung tâm điều hành của cả Vũ trụ. Khi Tuệ linh hóa thân tu hành
trong cơ thể con người để truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ thì Tâm của Vũ trụ
chính là Tâm của con người.
Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại Tâm tướng con người
là
vì:
Tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ đều khổ đau, dạng sống
Tuệ linh cũng khổ đau. Khổ đau chính là biến đổi mã sóng trí tuệ và xung đột trạng
thái năng lượng trong cấu trúc tướng theo hướng phân rã và hoại diệt. Nguyên
nhân của khổ đau là do các nhóm vật chất, Tuệ linh giải mã sai và không hoàn chỉnh
về chính mình và vạn vật. Khi giải mã sai sẽ dẫn tới mất kiểm soát trong quá
trình tương tác và chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt.
Dạng sống Tuệ linh hóa thân tu hành ở nhân gian để thông qua các kịch
bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo nhằm giúp Tuệ
linh bộc phát hết độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm. Khi triệt được hết độc
Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với tất
cả vạn vật ở nhân gian sẽ giúp cho hóa thân của Tuệ linh là con người sẽ tìm được
con đường diệt khổ đau. Con đường diệt khổ đau là hành trình để tới được đích của
mục đích tu hành, đó là đắc được bộ lọc năng lượng.
Như
vậy, Tâm của con người là Tuệ linh, Tuệ linh là tâm của Vũ trụ. Vì vậy, việc truy
tìm được con đường giải thoát khổ đau và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng
lượng của Tuệ linh ở nhân gian chính là tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ tại
Tâm tướng con người.
8.3. Đạo của Vũ trụ hợp nhất giữa Hình tướng
và Tâm tướng
Vì
Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại hình tướng và Tâm tướng của con người, mà giữa hình
tướng và Tâm tướng là một chỉnh thể hợp nhất, nên Đạo của Vũ trụ hợp nhất giữa
hình tướng và Tâm tướng của con người.
Đạo
của Vũ trụ hợp nhất giữa hình tướng và Tâm tướng con người chính là việc thông
qua bốn hình tướng Đạo
nhân gian của mỗi con người
để thấu hiểu độc tâm và thiện tâm của chính mình, của mọi người, của vạn vật, của
năng lượng hoại diệt trong tất cả các kịch bản tương tác với các điều kiện môi
trường sóng điện khác nhau, từ đó truy tìm được con đường triệt tiêu độc Tâm và
kích hoạt được thiện Tâm của chính mình để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng. Khi đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh sẽ sản sinh ra các
siêu hạt năng lượng để cải tạo, phát triển tất cả các nhóm
vật chất trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.
Vị
Tuệ linh đầu tiên đã kiến tạo môi trường tu hành của Tuệ linh ở nhân gian một
cách kỳ diệu. Đó là trói buộc Tuệ linh trong thân tướng giản đơn là con người để
tương tác với nhóm vật chất giản đơn, với nhóm vật chất phức tạp, với nhóm siêu
vật chất, với năng lượng hoại diệt, với con người. Sự trói buộc và tương tác với
tất cả các nhóm vật chất thông qua bốn hình tướng Đạo sẽ giúp cho bản chất độc
Tâm và thiện Tâm của Tuệ linh, của tất cả vật chất sẽ được bộc phát hết. Độc
Tâm chính là khổ đau, là năng lượng âm. Thiện Tâm là giác ngộ, là năng lượng
dương.
Độc
Tâm và thiện Tâm chính là bản chất của Tâm. Tâm chính là Tâm Đạo của Vũ trụ. Độc
Tâm và thiện Tâm được bộc phát triệt để thông qua tất cả các kịch bản tương tác
của mỗi con người trong bốn hình tướng Đạo. Điều này sẽ giúp cho con người và
Tuệ linh thấy được giá trị tuyệt vời của việc tu hành thông qua bốn hình tướng
Đạo ở nhân gian để cải tạo Trụ linh thành được bộ lọc năng lượng.
A. Hình
tướng Đạo lễ
Thấu
hiểu được độc Tâm bộc phát khi nào, khi nào triệt được độc Tâm, khi nào kích hoạt
được thiện Tâm trong các nội dung của hình tướng Đạo lễ, khi đó chúng ta sẽ thấu
hiểu và có niềm tin tưởng tuyệt đối ở bộ quy tắc không được phép vi phạm và bộ
quy tắc phải làm được trong hình tướng Đạo lễ. Bởi đó là những chỉ dẫn của vị
Tuệ linh đầu tiên để giúp cho Tuệ linh và con người ở nhân gian thấu hiểu cũng
như thực hành nhanh nhất, siêu việt nhất để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng
lượng viên mãn. Độc
Tâm là khổ đau, là hạt năng lượng âm của Tâm. Hạt năng lượng âm được sản sinh bởi
hành động thỏa mãn lợi ích ích kỷ về mình mà không màng hoặc gây tổn thương tới
vạn vật, Tuệ linh và con người. Thiện Tâm là giác ngộ, là hạt năng lượng dương
của Tâm. Hạt năng lượng dương được sản sinh bởi hành động cống hiến vì vạn vật,
Tuệ linh và con người mà không vì lợi ích ích kỷ của bản thân.
Hạt
năng lượng âm và hạt năng lượng dương sẽ được sản sinh thông qua các nội dung
trong hình tướng Đạo lễ như sau:
Nội dung trong quyết định kết hôn: Hôn nhân là nhiệm vụ của mỗi một
con người để duy trì nòi giống mà vị Tuệ linh đầu tiên đã đặt ra, đặc biệt là để
có các kịch bản tương tác trong hình tướng Đạo lễ. Bởi các kịch bản tương tác
trong hình tướng Đạo lễ không thể thiếu trong việc giúp Trụ linh của Tuệ linh bộc
phát được độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm. Khi một người, dù trong thân tướng
nam giới hay nữ giới, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, họ phải đứng trước sự quyết
định của hôn nhân. Đó là từ bỏ cuộc hôn nhân để sống cuộc sống độc thân và an
nhàn hoặc quyết định kết hôn để xây dựng cuộc sống gia đình dù cuộc sống hôn
nhân có đầy sóng gió. Khi đó, những quyết định sẽ tạo ra hai hướng sản sinh hạt
năng lượng:
Quyết định sống độc thân để thỏa mãn sự an nhàn và không phải phiền
não về cuộc sống gia đình: Khi quyết định như vậy, độc Tâm trong Trụ linh bắt đầu
bộc phát và sẽ phân tách ra những hạt năng lượng âm vì Tuệ linh đau khổ không
được thực hành cải tạo Trụ linh trong khi kiếp người ngắn ngủi. Nguyên nhân
phân tách ra các hạt năng lượng âm là vì
Dạng
sống Tuệ linh hóa thân thành con người để truy tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
Vì vậy hình tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại hình tướng con người. trí tuệ không hợp nhất với
Tâm để quyết tâm tu học và chuyển hóa Trụ linh.
Quyết định kết hôn để sống cuộc sống gia đình và sẵn sàng đương đầu
cũng như chuyển hóa những sóng gió trong đời sống hôn nhân: Khi quyết định như
vậy là Trụ linh đã kiểm soát và triệt được độc Tâm không cho bộc phát ở nội
dung hôn nhân. Đặc biệt Trụ linh bắt đầu kích hoạt thiện Tâm, đó là phân tách
ra những hạt năng lượng dương của sự cống hiến và mang lại giá trị tốt đẹp cho
mọi người trong cuộc sống hôn nhân.
Nội dung vợ chồng mới
kết hôn: Cuộc sống hôn nhân tạo ra vô số các kịch bản tương tác để bộc phát độc
Tâm cũng như kích hoạt được thiện Tâm. Trước khi kết hôn, những thói quen, những
cái tôi ích kỷ cho bản thân vẫn chưa được bộc phát ở cả người nam và người nữ.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn, sự hòa hợp, sự bất đồng trong quan điểm sống của vợ
chồng mới kết hôn sẽ làm bộc phát tất cả những cái tôi ích kỷ, những sự bất
hòa, những điểm chưa hòa hợp trong môi trường mới. Khi đó, những
quyết định từ hai vợ chồng sẽ tạo ra hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Khi mỗi người giữ nguyên cái tôi ích kỷ, giữ nguyên những suy nghĩ cho
đến hành động tiêu cực về nhau trong những bất đồng về cuộc sống, Trụ linh sẽ
phân tách ra những hạt năng lượng âm. Nguyên nhân là kịch bản tương tác trong
cuộc sống vợ chồng mới kết hôn đã khiến cho bộc phát độcTâm.

Mỗi người quyết định bỏ cái tôi ích kỷ, bỏ những suy nghĩ và hành động
tiêu cực để hòa hợp với nhau, để mang lại hạnh phúc cho nhau, khi đó, Trụ linh
sẽ phân tách ra những hạt năng lượng dương của sự phát triển hạnh phúc gia
đình. Những quyết định đã giúp Trụ linh kiểm soát, triệt tiêu được độc Tâm và đặc
biệt là kích hoạt được thiện Tâm.
Nội dung người vợ hoặc chồng không có khả năng sinh con: Đây là một kịch
bản tương tác dễ dàng khiến cho con người bộc phát độc Tâm. Khi người vợ hoặc
người chồng không có khả năng sinh con, trong nhiều hoàn cảnh cũng như áp lực từ
những người thân trong gia đình, người vợ và người chồng sẽ có những quyết
định đầy khó khăn. Những quyết định tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

Một trong hai người không vượt qua được những áp lực, những mong cầu
có con từ chính bản thân và từ những người thân. Hai người đưa ra quyết định ly
hôn để giải thoát cho nhau với mong muốn sẽ có con với người khác. Nếu quyết định
theo hướng này, Trụ linh của cả hai sẽ sản sinh ra hạt năng lượng âm, đó là độc
tâm đã bộc phát. Người không có khả năng có con sẽ đau khổ, oán hận mà sản sinh
ra hạt năng lượng âm. Người mong muốn có con mà phá vỡ hạnh phúc gia đình sẽ sản
sinh hạt năng lượng âm. Nguyên nhân là cả hai không vượt qua được giả tướng con
cái trong hoàn cảnh áp lực dẫn tới độc tâm bộc phát và không kiểm soát được.
Cả hai người cùng tìm giải pháp khác, có thể là nhận con nuôi hay can
thiệp bằng y học để quyết tâm xây dựng hạnh phúc gia đình. Đây là quyết định
khó khăn và cần nghị lực để vượt qua những áp lực từ những người thân. Vì thấu
hiểu giá trị hạnh phúc vợ chồng cần phải trao cho nhau, vì đã hy sinh và cống
hiến cho nhau, nên từ Trụ linh của cả hai đã kiểm soát và triệt bỏ được độc
Tâm, đồng thời kích hoạt được thiện Tâm, đó là sản sinh ra các hạt năng lượng
dương của tình yêu và đoàn kết.
Nội dung người vợ mang thai: Khi người vợ mang thai, trong nhiều hoàn
cảnh họ đấu tranh tư tưởng và đi đến quyết định là phá bỏ thai nhi hoặc giữ lại
để sinh và nuôi con trưởng thành. Cuộc sống mỗi người có những tương tác và
hoàn cảnh khác nhau, hoàn cảnh khác nhau tạo thành sóng điện chi phối quyết định
của mỗi con người. Khi đứng trước việc có thai trong những hoàn cảnh không mong
muốn sinh con, dù hoàn cảnh như thế nào thì việc quyết định theo hai hướng sẽ sản
sinh ra những hạt năng lượng khác nhau:

Người vợ, người chồng vì thấy hoàn cảnh khó khăn, vì thấy thai nhi bệnh
tật mà quyết định phá thai để không phải vướng bận cũng như vất vả hơn trong cuộc
sống cho chính mình và con cái. Nếu quyết định phá bỏ thai nhi thì đó là hành động
của u mê không thấu hiểu việc được làm người là vô cùng quý trọng đối với bất kỳ
Tuệ linh hay linh hồn nào. Bởi được làm người
là để được tương tác trong tất cả các kịch bản để bộc phát độc Tâm và học cách
triệt bỏ được độc Tâm cũng như kích hoạt thiện Tâm. Khi phá bỏ thai nhi, Trụ
linh của người cha, người mẹ sẽ phân tách ra hạt năng lượng âm của sự giết người.
Đó là độc Tâm bộc phát rất mạnh.
Người vợ, người chồng quyết tâm vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn để giữ
thai nhi, để sinh con và nuôi dưỡng con thành người. Đó là hạnh động giúp cho
Trụ linh của người vợ và người chồng phân tách ra hạt năng lượng dương. Việc
phân tách được hạt năng lượng dương chính là thiện Tâm được kích hoạt, đồng thời
cũng triệt và kiểm soát không cho độc Tâm bộc phát.
Nội dung quyết định có hay không ngoại tình: Cuộc sống sau hôn nhân sẽ
khiến cho mỗi người cảm thấy nhàm chán, dần dần nó có cơ hội bộc phát những độc
Tâm bởi các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo. Khi một người đã có
gia đình, vì sự nhàm chán trong tình yêu, vì sự khuyết điểm của nhau, vì sự
không hạnh phúc hay hòa hợp về nhau, thậm chí là thích sự mới mẻ trong cuộc sống
tình yêu, chỉ cần tương tác với một người khác mà cảm thấy được sự ấm áp cũng
như thỏa mãn được mong muốn, người vợ hoặc người chồng sẽ có hai hướng đưa ra
quyết định cho việc sản sinh hạt năng lượng:
Quyết định ngoại tình để thỏa mãn sự mong muốn về tình yêu hạnh phúc
hơn vợ chồng đang có, để thỏa mãn sự đổi mới: Quyết định này khiến cho Trụ linh
sản sinh ra hạt năng lượng âm. Đó là độc Tâm đã bị bộc phát. Nguyên nhân vì trí
tuệ bám định vào giả tướng của kịch bản tương tác mà không thấu hiểu cũng như
kiểm soát được độc Tâm để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Quyết định triệt bỏ từ suy nghĩ cho tới hành động ngoại tình: Người vợ,
người chồng cư xử chuẩn mực với mọi người khác giới bên ngoài, quyết tâm xây dựng
hạnh phúc gia đình trong sự triệt bỏ cái tôi ích kỷ để mang lại hạnh phúc cho
nhau, cho gia đình. Trụ linh khi đó sẽ phân tách ra các hạt năng lượng dương của
sự cống hiến và hy sinh vì gia đình. Hạt năng lượng dương chính là thiện Tâm được
kích hoạt, đồng thời thiện tâm đã triệt và kiểm soát để không cho độc Tâm bộc
phát.
Nội dung đối mặt với người vợ hoặc người chồng ngoại tình: Đối mặt với
người vợ hoặc người chồng ngoại tình sẽ khiến cho mỗi người rất khó kiểm soát
được cảm xúc và quyết định. Tình yêu vi phạm chuẩn mực giá trị đạo đức là nội
dung tương tác khiến cho vô số Tuệ linh gục ngã ở nhân gian tu hành này. Dù
trong hoàn cảnh nào, sự đối mặt và đưa ra các quyết định khi người vợ hoặc người
chồng ngoại tình sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Người vợ hoặc người
chồng quyết định không tha thứ và cảm hóa người chồng hoặc người vợ đã có hành
vi ngoại tình. Biết
rằng lỗi lầm là của người đã có hành vi ngoại tình, tuy nhiên việc không tha thứ
cũng như không cảm hóa người có hành vi ngoại tình sẽ khiến cho Trụ linh sản
sinh ra hạt năng lượng âm của sự chấp ngã và oán hận vì hành vi ngoại tình của
người chồng hoặc người vợ. Như vậy độc Tâm đã bộc phát nhưng không kiểm soát được.

Người vợ hoặc người chồng đưa ra quyết định là tha thứ, đồng thời cảm
hóa người ngoại tình để thay đổi và xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc. Khi
đó Trụ linh sẽ phân tách ra các hạt năng lượng dương của sự vị tha và đoàn kết.
Đó là thiện Tâm đã được kích hoạt, đồng thời thiện Tâm đã triệt và kiểm soát
không cho độc Tâm bộc phát.
Nội dung người chồng cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập: Người chồng nghiện
ngập, rượu chè, cờ bạc là một kịch bản rất thú vị, thú vị cho những người thân
xung quanh và người vợ. Tất nhiên việc người chồng nghiện ngập, cờ bạc, rượu
chè là thực hiện sản sinh năng lượng âm. Tuy nhiên trong kịch bản nội dung
tương tác này sẽ khiến cho người vợ và những người thân đưa ra những
quyết định tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Người vợ không chịu đựng được người chồng nghiện ngập, cờ bạc, rượu
chè mà đưa ra quyết định ly hôn, thậm chí trong nhiều hoàn cảnh là giết hại người
chồng. Khi quyết định như vậy sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra hạt năng lượng
âm. Đó là độc Tâm đã được bộc phát. Nguyên nhân là Quy luật Nhân quả có sự phản
chiếu từ tiền kiếp, vì không thấu hiểu nên dẫn tới không kiểm soát được độc Tâm
và đã để độc Tâm bộc phát.
Người vợ và những người thân có quyết định tha thứ, có giải pháp để cảm
hóa người chồng không còn nghiện ngập, cờ bạc, rượu chè. Khi đó Trụ linh sẽ sản
sinh ra những hạt năng lượng dương của sự cảm hóa giúp nhau triệt được độc Tâm.
Đó là thiện Tâm đã được kích hoạt để kiểm soát, triệt bỏ được độc Tâm của chính
mình và của người chồng.
Nội dung vợ chồng bất nhân, bất nghĩa hay hy sinh vì nhau: Đúng là cuộc
sống tương tác trong hình tướng Đạo lễ đã tạo ra vô số
kịch bản để bộc phát độc Tâm cũng như kích hoạt được thiện Tâm. Mối quan hệ cuộc
sống của vợ chồng là kịch bản biến hóa thành các kịch bản mới vô cùng phong
phú. Khi vợ chồng sống với nhau, trải qua những biến cố cuộc sống, những cái
tôi ích kỷ bộc phát, những so sánh thiệt hơn, những thỏa mãn hay không thỏa mãn
đã đưa ra những quyết định của cả hai vợ chồng để tạo thành hai hướng sản sinh
hạt năng lượng:
Vợ chồng bất nhân, bất nghĩa với nhau: Đó là những quyết định đã tạo
thành hành động chà đạp nhân phẩm nhau, xúc phạm nhau, đánh đập nhau, bỏ nhau,
giết hại nhau. Những quyết định này khiến cho Trụ linh phân tách ra nhiều hạt
năng lượng âm. Đó là độc Tâm đã bộc phát và không kiểm soát được. Nguyên nhân
vì trí tuệ bám định vào các giả tướng để thỏa mãn ích kỷ cho bản thân mình mà
gây tổn thương tới người vợ hoặc chồng.
Vợ chồng tình nghĩa và hy sinh vì nhau: Đó là những suy nghĩ cho tới
những hành động yêu thương nhau, giúp đỡ nhau, tôn trọng
nhau, bảo vệ nhau, hy sinh vì nhau. Những hành động đó khiến cho Trụ linh phân
tách ra những hạt năng lượng dương của tình thương và đoàn kết. Đó là những thiện
Tâm đã được kích hoạt, đồng thời thiện Tâm đã kiểm soát và triệt được độc Tâm.
Nội dung người vợ hoặc người chồng chết mà chưa có con: Đây là những kịch
bản phải có trong hành trình tu hành của các Tuệ linh ở nhân gian. Khi người vợ
hoặc người chồng chết mà hai vợ chồng chưa có con, kịch bản này tạo thành những
quyết định của người còn lại trong cuộc sống. Những quyết định tạo thành hai hướng
sản sinh ra hạt năng lượng:
Người vợ hoặc người chồng quyết định kết hôn tiếp. Đây là một canh bạc
vì sẽ gây tổn thương tới đứa con, gây tổn thương tới người đã mất. Bởi kế hoạch
cái chết là để giúp người ở lại bộc phát và kiểm soát được độc Tâm. Khi người ở
lại ham muốn giả tướng mà quyết định kết hôn tiếp, Trụ linh sẽ phân tách ra các
hạt năng lượng âm. Đó là độc Tâm đã bộc phát vì không có sự hy sinh cũng như cống
hiến cho con, trả nghĩa vì người đã chết. Đặc biệt sẽ không có thời gian cải tạo
Trụ linh vì mải mê trong mối tình mới.
Người vợ hoặc người chồng ở vậy nuôi con thành tài. Đây là sự cống hiến
hy sinh vì con cái. Khi con cái trưởng thành, cũng là thời gian quý báu để thực
hành cải tạo Trụ linh thông qua con đường phổ độ tri thức giác ngộ tới mọi người.
Trụ linh sẽ sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự hy sinh, cống hiến cho
con cái và xã hội. Đó là thiện Tâm đã được kích hoạt để triệt tiêu và kiểm soát
được độc Tâm.
Nội dung người vợ hoặc chồng mắc bệnh: Nội dung kịch bản tương tác này
sẽ tạo ra những quyết định của người vợ, người chồng đối với người mắc bệnh. Những
quyết định tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Người vợ hoặc người chồng vì hoàn cảnh nào đó mà đưa ra quyết định bỏ
mặc người chồng hoặc vợ đang bị bệnh. Khi có suy nghĩ cho tới hành động bỏ mặc
sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra năng lượng âm. Người bị bỏ mặc cũng oán hận
mà sản sinh ra năng lượng âm. Như vậy vừa bộc phát độc Tâm của mình và khiến
người vợ hoặc chồng cũng bộc phát độc Tâm.
Người vợ hoặc người chồng chạy đua với thời gian, hy sinh công sức, tiền
của để cứu chữa người chồng hoặc vợ đang bị bệnh. Sự hy sinh và cứu giúp sẽ khiến
cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của tình yêu và sự hy sinh.
Đó là thiện Tâm được kích hoạt cho cả vợ và chồng, từ đó sẽ triệt tiêu và kiểm
soát được độc Tâm.
Nội dung cha mẹ với con cái: Nội dung tương tác của cha mẹ với con cái
có rất nhiều nội dung, nội dung sẽ là hành trình từ con còn bé cho tới khi cha
mẹ hoại diệt thân tướng. Trong nội dung của cha mẹ với con cái chỉ đưa ra nội
dung tổng hợp, trong từng nội dung nhỏ, chúng ta đều vận dụng trên trục tọa độ
sản sinh hạt năng lượng. Những quyết định của cha mẹ đối với con cái tạo thành
hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Cha mẹ không cống hiến cho con cái từ chuyện học hành, nuôi dạy đúng đắn
thành người, cha mẹ chửi bới con cái, đánh đập con cái, xúc phạm con cái, bỏ mặc
con cái, giết hại con cái. Những hành động đó khiến cho Trụ linh của cha mẹ sản sinh ra
các hạt năng lượng âm của bất nhân, bất nghĩa. Những hạt năng lượng âm là những
độc Tâm đã bộc phát và không kiểm soát được.

Cha mẹ có những quyết định hy sinh, cống hiến vì con cái, nuôi dạy con
cái thành người tốt, bảo vệ con cái, thậm chí hy sinh cho con cái. Những quyết
định này khiến cho Trụ linh của cha mẹ sản sinh ra những hạt năng lượng dương của
tình nghĩa và sự hy sinh. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm được
kích hoạt cả ở cha mẹ và của con cái.
Nội dung con cái với cha mẹ: Nội dung tương tác của con cái với cha mẹ
là các kịch bản tương tác của con cái trong sự báo hiếu, tri ân với cha mẹ. Nội
dung này là tổng hợp của vô số các kịch bản tương tác giữa con cái với cha mẹ.
Khi gặp từng nội dung nhỏ trong tương tác của con cái với cha mẹ, chúng ta áp dụng
trục tọa độ sản sinh hạt năng lượng sẽ thấu hiểu và kiểm soát được độc Tâm cũng
như kích hoạt được thiện Tâm. Những quyết định
của con cái đối với cha mẹ sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

Con cái đưa ra những quyết định bất nhân, bất hiếu với cha mẹ: Bỏ mặc,
xúc phạm, chà đạp nhân phẩm, giết hại cha mẹ. Khi đó Trụ linh sẽ phân tách ra
những hạt năng lượng âm của sự u mê và dã tâm. Như vậy, độc Tâm bộc phát mà
không kiểm soát được.
Con cái đưa ra những quyết định báo hiếu và hy sinh vì cha mẹ. Đây là
những quyết định khiến cho Trụ linh của con cái phân tách ra những hạt năng lượng
dương của báo hiếu và hy sinh. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện
Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt bỏ độc Tâm trong tương tác với cha mẹ.
Nội dung anh em trong gia đình: Nội dung tương tác trong anh em gia đình
có nhiều kịch bản tương tác. Những quyết định đưa ra đều tạo thành hai hướng sản
sinh hạt năng lượng:
Anh em tranh giành quyền lợi, lợi ích, chà đạp nhân phẩm, xúc phạm, giết
hại nhau. Những hành động đó sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh hạt năng lượng âm.
Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.
Anh em không tranh giành, nhường nhịn nhau, cho nhau, giúp nhau, bảo vệ
nhau, hy sinh vì nhau. Những hành động đó sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh hạt
năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm được kích hoạt
để kiểm soát và triệt bỏ được độc Tâm.
Nội dung con cháu với tổ tiên: Nội dung con cháu với tổ tiên có nhiều
kịch bản tương tác, đó là sự tri ân và báo hiếu của con cháu với tổ tiên. Những
quyết định trong nội dung con cháu với tổ tiên sẽ tạo thành hai hướng sản sinh
hạt năng lượng:
Con cháu phỉ báng tổ tiên, xúc phạm tổ tiên, phá hoại nơi thờ tự hay mồ
mả của tổ tiên. Những hành động này sẽ khiến Trụ linh của con cháu phân tách ra
những hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng
âm là những độc Tâm đã bộc phát và không kiểm soát được.

Con cháu tri ân, tôn kính, bảo vệ mồ mả, bảo vệ nơi thờ tự tổ tiên. Những
hành động này khiến cho Trụ linh phân tách ra những hạt năng lượng dương của sự
tri ân báo hiếu với tổ tiên. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm được
kích hoạt và kiểm soát cũng như triệt bỏ được độc
Tâm.
Nội dung con người đối với cội nguồn: Nội dung này có vô số các kịch bản,
đó là phỉ báng Thiên Địa, hành nghề mê tín dị đoan, lợi dụng Thánh thần hay Thượng
đế để lừa người và trục lợi về mình, bảo vệ sự tôn kính với Thiên Địa và tri ân
cội nguồn của nhân loại. Những hành động sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt
năng lượng:
Những hành động phỉ
báng cội nguồn Thiên Địa, lợi dụng Thánh thần để hành nghề mê tín dị đoan, lợi
dụng tôn giáo để mị dân: Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra vô số những hạt năng
lượng âm. Đó là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.

Những hành động bài trừ mê tín dị đoan, bảo vệ sự trong sáng của cội
nguồn cũng như tôn kính Thiên Địa: Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh
ra vô số hạt năng lượng dương. Đó là những thiện Tâm được kích hoạt, đồng thời
kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm.
… Còn vô số nội dung tương tác với các hoàn cảnh khác nhau trong hình
tướng Đạo lễ. Mỗi nội dung tương tác trong hình tướng Đạo lễ, chỉ cần áp dụng
trục tọa độ sản sinh hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương là chúng ta sẽ
thấu hiểu độc Tâm bộc phát khi nào, độc Tâm được triệt khi nào và thiện tâm được
kích hoạt khi nào.
Hình tướng
Đạo đời
Thấu
hiểu được độc Tâm bộc phát khi nào, khi nào triệt được độc Tâm, khi nào kích hoạt
được thiện Tâm trong các nội dung của hình tướng Đạo đời, khi đó chúng ta sẽ thấu
hiểu và có niềm tin tưởng tuyệt đối ở bộ quy tắc không được phép vi phạm và
bộ quy tắc phải làm được trong hình tướng Đạo đời. Bởi đó là những chỉ dẫn của
vị Tuệ linh đầu tiên để giúp cho Tuệ linh và con người ở nhân gian thấu hiểu
cũng như thực hành nhanh nhất, siêu việt nhất để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng viên mãn.
Độc
Tâm là khổ đau, là hạt năng lượng âm của Tâm. Hạt năng lượng âm được sản sinh bởi
hành động thỏa mãn lợi ích ích kỷ về mình mà không màng hoặc gây tổn thương tới
vạn vật, Tuệ linh và con người. Thiện Tâm là giác ngộ, là hạt năng lượng dương
của Tâm. Hạt năng lượng dương được sản sinh bởi hành động cống hiến vì vạn vật,
Tuệ linh và con người mà không vì lợi ích ích kỷ của bản thân.
Hạt
năng lượng âm và hạt năng lượng dương sẽ được sản sinh thông qua các nội dung
trong hình tướng Đạo đời như sau:
Nội dung con người bảo vệ hay giết hại muông thú: Tại các cuộc tập kết
nhân loại, vị Tuệ linh đầu tiên đã giao nhiệm vụ cho con người là thuần hóa
muông thú để chúng cũng trở thành người tu hành cùng. Thuần hóa là để linh hồn
của chúng có đủ năng lượng và duy trì được sự sống khi đầu thai làm con người.
Tuy nhiên, cuộc sống sinh tồn của con người, những thú vui bởi giết hại và ăn
thịt muông thú đã diễn ra không lâu sau cuộc tập kết nhân loại. Những quyết định
bảo vệ hay giết hại muông thú sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Con người giết hại muông thú để thỏa mãn thú vui hoặc thỏa mãn sở
thích ăn uống. Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng
âm của sự giết hại. Những hạt năng lượng âm
chính là độc Tâm được bộc phát và mất kiểm soát.

Con người không giết hại muông thú, cứu giúp muông thú được sống tự
do. Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của
sự cứu giúp và bảo vệ. Những hạt năng lượng dương là thiện Tâm được kích hoạt
và kiểm soát được độc Tâm của chính con người và chính linh hồn của muông thú
khi chúng được cứu giúp.
Nội dung con người có hành nghề giết mổ hay không: Cuộc sống mưu sinh
và những giá trị lợi ích của đồng tiền là những kịch bản để giúp bộc phát độc
và thiện Tâm của Tuệ linh ở nhân gian. Những hành động quyết định hành nghề giết
mổ hay không hành nghề giết mổ trong những hoàn cảnh của sự lựa chọn của các kịch
bản này sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Con người quyết định
hành nghề giết mổ để mưu sinh, để làm giàu, để thỏa mãn cuộc sống tốt đẹp hơn.
Những hành động này
khiến Trụ linh sản sinh vô số năng lượng âm và những linh hồn của muông thú
cũng oán hận mà sản sinh vô số năng lượng âm. Như vậy, những hành động hành nghề
giết mổ đã bộc phát vô số độc Tâm của con người và muông thú trong sự mất kiểm
soát.

Con người quyết định không hành nghề giết mổ, con người tìm kiếm công
việc khác để mưu sinh thay thế cho làm nghề giết mổ. Những hành động này khiến
cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự không sát sinh. Đó
là thiện Tâm được bộc phát và đã kiểm soát, triệt tiêu được độc Tâm.
Nội dung con người lười lao động hay chịu khó lao động: Sự vận động để
sinh tồn, để phát triển trí tuệ, để phát triển cuộc sống, để cải tạo Trụ linh gắn
liền với lao động sản xuất. Lười lao động hay chịu khó lao động là những quyết
định tạo thành hai hướng sản sinh ra hạt năng lượng:
Con người khi có những quyết định không chịu khó lao động sản xuất, lười
lao động sản xuất. Những quyết định này khiến cho Trụ
linh sản sinh hạt năng lượng âm. Nguyên nhân vì trí tuệ bám định vào giả tướng
thích hưởng thụ và ghét lao động nên thân và Tâm không hợp nhất để cải tạo Trụ
linh trong kiếp người ngắn ngủi. Khi đó, độc Tâm đã bị bộc phát và mất kiểm
soát.

Con người có những hành động chịu khó, chăm chỉ lao động sản xuất. Khi
đó, Trụ linh sẽ phân tách ra những hạt năng lượng dương của sự cống hiến và
phát triển cuộc sống. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm đã được
kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm.
Nội dung của người lao động đối với chủ lao động: Mối quan hệ tương
tác của người lao động với chủ lao động sẽ tạo thành những quyết định trong quá
trình lao động. Những quyết định sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Không chăm chỉ lao động,
không cống hiến, phá hoại sản xuất cũng như công việc của chủ lao động: Những
hành động này sẽ khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm
là những độc Tâm đã bị bộc phát và mất kiểm soát.
Chăm chỉ lao động, cống hiến và tận tình trong công việc: Những hành động
này khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự cống hiến và tận
tình. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm
soát cũng như triệt tiêu được độc Tâm.
Nội dung của người chủ lao động với người lao động: Tương tác giữa chủ
lao động với người lao động tạo ra vô số các kịch bản để bộc phát độc Tâm và
kích hoạt thiện Tâm của cả hai đối tượng. Những quyết định của người chủ lao động
với người lao động tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Người chủ lao động có những hành động chà đạp nhân phẩm người lao động,
bóc lột sức lao động, đàn áp, đánh đập, thậm chí là giết hại người lao động. Những
hành động này khiến cho Trụ linh của người chủ lao động sản sinh ra các hạt
năng lượng âm của u mê và hành động độc ác.
Những hạt năng lượng âm
chính là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.
Người chủ lao động có những hành động quan tâm, giúp đỡ, cưu mang, tận
tâm với người lao động. Những hành động này khiến cho Trụ linh của người chủ
lao động sản sinh ra những hạt năng lượng dương mang đặc tính bảo vệ, cứu giúp
và cống hiến. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt
để kiểm soát và triệt được độc Tâm của người chủ và người lao động.
Nội dung của việc kinh doanh vi phạm pháp luật hay không vi phạm pháp
luật: Nội dung kinh doanh vi phạm pháp luật có vô số những nội dung nhỏ khác bởi
nội dung này có vô số các kịch bản tương tác. Những quyết định trong kinh doanh
có vi phạm hay tuân thủ pháp luật sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Con người kinh doanh sản xuất vi phạm pháp luật như sản xuất, buôn bán
những mặt hàng, nội dung mà pháp luật quốc gia sở tại cấm. Khi con người cố
tình thực hiện các hành vi sản xuất kinh doanh những mặt hàng cấm sẽ khiến Trụ linh sản
sinh ra các hạt năng lượng âm. Đó là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm
soát. Nguyên nhân vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có giàu sang mà vi phạm
pháp luật để thỏa mãn sự giàu có.
Con người tuân thủ pháp luật, thực hành kinh doanh, sản xuất những mặt
hàng, những điều mà pháp luật của quốc gia sở tại cho phép. Những hành động này
khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự tuân thủ mà
không vi phạm vào pháp luật. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện
Tâm đã được kích hoạt để kiểm soát và triệt bỏ được độc Tâm.
Nội dung của việc kinh doanh gây tổn hại hay có lợi ích cho con người
và vạn vật: Nội dung này có nhiều kịch bản tương tác với vô số các lĩnh vực, mặt
hàng kinh doanh gây hại hay mang lại lợi ích cho con người. Những tham lam về sự
giàu sang hay những nhận thực của việc làm giàu chân chính đã tạo thành những
quyết định sản sinh hạt năng lượng theo hai hướng:
Kinh doanh những sản phẩm, những mặt hàng, những vấn đề gây tổn hại tới
đời sống, tới sức khỏe của con người, đó là những sản phẩm không chất lượng, những
sản phẩm giả, những thủ đoạn hại người: Những hành động kinh doanh như vậy sẽ
khiến cho Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm
là những độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát.
Kinh doanh những sản phẩm chất lượng, những sản phẩm mang lại lợi ích
cho con người, những sản phẩm an toàn với con người: Những hành động như vậy sẽ
khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự phát triển và
cống hiến. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để
triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm.
Nội dung có ăn chơi trụy lạc hay không: Trong các kịch bản tương tác của
nội dung ăn chơi trụy lạc hay không ăn chơi trụy lạc có nhiều nội dung nhỏ. Đó
là từ những thú vui hưởng thụ cho tới những tệ nạn gây nguy hiểm sức khỏe và tính mạng. Những quyết định
lựa chọn lối sống sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Con người ăn chơi, trụy lạc, hưởng thụ mà không tu học cải tạo Trụ
linh. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm.
Những hạt năng lượng âm là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên
nhân là vì trí tuệ bám định vào sự hưởng thụ giả tướng mà thỏa mãn các thú vui
ăn chơi, gây tổn thương cho gia đình và chính mình. Trong khi một kiếp người
thì ngắn ngủi, chỉ mải ăn chơi là sẽ không có cơ hội cải tạo Trụ linh.
Con người không ăn chơi trụy lạc, thay vào đó là chăm chỉ lao động,
chăm chỉ học hành, thực hành đời sống cống hiến vì vạn vật và nhân loại. Những
hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự cống
hiến. Những năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm
soát và triệt tiêu được độc Tâm.
Nội dung tình yêu nam nữ: Trong nội dung tình yêu nam nữ có nhiều nội
dung nhỏ. Đó là từ những tình yêu ở tuổi còn trẻ cho tới tiền hôn nhân. Những
quyết định trong tình yêu nam nữ sẽ tạo thành
hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Tình yêu gắn liền với
những lợi dụng thân xác để thỏa mãn sắc dục, lợi dụng và gây tổn thương cho
nhau. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng
âm. Những hạt năng lượng âm chính là độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.
Nguyên nhân là trí tuệ u mê bám định vào sắc dục và tình yêu không trong sáng để
thỏa mãn nhu cầu ích kỷ của bản thân. Tình yêu gắn liền với những sự tôn trọng, trong sáng vì nhau, bảo vệ
phẩm giá cho nhau, không lợi dụng gây tổn thương cho nhau. Những hành động này
khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của tình yêu và đoàn
kết. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm đã được kích hoạt để
kiểm soát và triệt tiêu được độc
Tâm.
Nội dung có tà dâm hay không: Nội dung tà dâm có nhiều nội dung nhỏ
khác nhau. Tà dâm là những hành vi pháp luật không cho phép, là những hành vi
vi phạm đạo đức. Đó là những
hành động ngoại tình, những hành vi hiếp dâm, những hành vi ấu dâm, những hành
vi lợi dụng để thỏa mãn sắc dục. Những quyết định có hay không hành vi tà dâm sẽ
tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Con người thực hiện những hành vi tà dâm sẽ khiến cho Trụ linh sản
sinh ra những hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm là độc Tâm đã được bộc
phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là trí tuệ u mê bám định vào giả tướng sắc dục
nên khiến cho độc Tâm bộc phát.
Con người thực hiện những hành vi chuẩn mực, tôn trọng những người
khác giới, bảo vệ cho nhau, không lợi dụng hay đáp ứng sự ham muốn sắc dục của
người khác. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng
lượng dương của sự bảo vệ và đoàn kết. Những hạt năng lượng dương chính là những
thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát cũng như triệt tiêu được độc Tâm.
Nội dung giết người
hay cứu người: Nội dung hành động giết người hay cứu người có rất nhiều kịch bản
trong tương tác bởi bốn
hình tướng Đạo. Đây có lẽ là các kịch bản tương tác vô cùng khốc liệt để bộc
phát được độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm. Những hành động sẽ tạo thành hai
hướng sản sinh hạt năng lượng:

Những hành động giết người khác, hành động tự tử dù trong bất cứ hoàn
cảnh nào đều khiến Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng âm của sự giết hại.
Những hạt năng lượng âm chính là độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát.
Nguyên nhân là bởi trí tuệ bám định vào thù ghét mà khiến độc Tâm bộc phát.
Những hành động cứu người trong tất cả các hoàn cảnh khác nhau đều khiến
Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự cứu giúp và hy sinh để bảo
vệ. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để triệt
tiêu và kiểm soát được độc Tâm.
Nội dung giúp người hay hãm hại người: Trong nội dung này cũng có nhiều
nội dung nhỏ. Giúp người hay hại người chưa tới mức là giết hại. Tuy nhiên những
hành động trong nội dung tương tác này
đều tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

Những hành động hãm hại người để thỏa mãn sự đố kỵ hay thù ghét đều
khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính
là những độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là trí tuệ bám
định vào giả tướng thù ghét hay đố kỵ mà bộc phát độc Tâm.
Những hành động giúp người vượt qua khó khăn hay kiếp nạn đều khiến Trụ
linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương chính là
những thiện Tâm được kích hoạt để triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm.
Nội dung trong mối quan hệ khác giới khi đã có gia đình: Các kịch bản
trong mối quan hệ khác giới sẽ sinh phát thành các kịch bản trong nội dung ngoại
tình. Do đó, những hành động trong nội dung mối quan hệ khác giới sẽ tạo thành
hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Lợi dụng trong tương tác cuộc sống để có những hành động không chuẩn mực,
hành động khiếm nhã với người khác giới đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt
năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là các độc Tâm đã được bộc phát và
mất kiểm soát trong mối quan hệ với người khác giới.
Trong tương tác với những người khác giới có những hành động tôn trọng,
những hành động chuẩn mực sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng
dương. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm
soát và triệt tiêu những độc Tâm.
Nội dung hành nghề mại dâm hay không: Cuộc sống khó khăn, những lợi thế
về sắc đẹp và thân hình của những người nam và người nữ đã tạo thành nhiều kịch
bản tương tác trong cuộc sống phải đưa ra quyết định bởi những cám dỗ. Những
quyết định có hành nghề mại dâm hay không sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt
năng lượng:
Thực hiện hành nghề mại dâm để thỏa mãn nhu cầu ái dục, để thỏa mãn
nhu cầu tiền của, dù là lý do nào khác đi nữa, tất cả đều khiến Trụ linh sản
sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm
đã được bộc phát và mất kiểm soát.
Không vì bất kỳ lý do nào, người nam hay người nữ đều đưa ra những quyết
định không hành nghề mại dâm. Điều này đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt
năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích
hoạt để triệt tiêu và kiểm soát được những độc Tâm trong các kịch bản tương tác
trong cuộc sống.
Nội dung buôn bán trẻ em phụ nữ hay cứu giúp họ: Có nhiều kịch bản cho
nội dung này. Những quyết định cứu giúp hay buôn bán trẻ em và phụ nữ đều khiến
cho Trụ linh có hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Thực hiện các hành vi buôn bán trẻ em và phụ nữ sẽ khiến cho Trụ linh
sản sinh ra những hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những độc
Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.
Nguyên nhân là do trí tuệ bám định vào giả tướng mong giàu sang nên khiến độc
Tâm bộc phát.
Thực hiện các hành vi cứu giúp và bảo vệ trẻ em, phụ nữ đều khiến Trụ
linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự cứu giúp và bảo vệ. Những hạt
năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt
tiêu độc Tâm.
Nội dung chà đạp nhân phẩm, đánh đập hay bảo vệ nhân phẩm và giúp đỡ:
Nội dung này có vô số các kịch bản tương tác. Những quyết định đều tạo thành
hai hướng sản sinh hạt năng lượng:
Những hành động chà đạp nhân phẩm, đánh đập người khác đều khiến Trụ
linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những
độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát.
Những hành động bảo vệ nhân phẩm, giúp đỡ nhau đều khiến cho Trụ linh
sản sinh ra các hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương
chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu những độc
Tâm.
8.4. Tuệ linh và con người đắc được Đạo hợp nhất
của Vũ trụ
Trước
tiên chúng ta hãy hình dung cơ thể con người để trưởng thành thì cần phải ăn uống
có dinh dưỡng, cần phải vận động để tế bào phân tách và trưởng thành. Một người
có được sự thành công trong cuộc sống thì họ cần phải học tập và vận động ứng dụng
tri thức trong công việc. Như vậy để một người trưởng thành và thành công trong
cuộc sống cần phải vận động. Đó là vận động để giải mã sự thật của vạn vật, vận
động để mã hóa tri thức thành hạt năng lượng, vận động để cơ thể trưởng thành,
vận động để mã hóa và chuyển hóa thành sự thành công.
Xét
về sự trưởng thành của cơ thể con người, ban đầu cơ thể con người chỉ là phôi
thai nhi được hợp nhất bởi trứng mang tính âm và tinh trùng mang tính dương,
thông qua cơ chế phân tách và liên kết tế bào mà cơ thể phôi thai nhi có được sự
trưởng thành. Quá trình trưởng thành của thai nhi gắn liền với quá trình tất cả
các tế bào được phân tách từ phôi thai nhi đã được mã hóa thành những tế bào chức
năng. Đó là nhóm cấu trúc tế bào được mã hóa thông tin để cấu tạo thành xương,
các nhóm cấu trúc tế bào được mã hóa thành tế bào cấu tạo thành gan, thận, tim,
phổi, da, mặt, đầu, chân, tay… Từ những nhóm tế bào chức năng đã được mã hóa,
chúng phân tách liên kết chặt để cấu tạo cơ thể trở nên to lớn và khỏe mạnh.
Vậy
làm thế nào để Tuệ linh có được sự trưởng thành cũng như đắc được Đạo hợp nhất
của Vũ trụ?
Tất cả các Tuệ linh đều
phải tu hành ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo mới giúp Tuệ linh trưởng thành và đắc được
Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Vì tại môi trường tu hành này, vị Tuệ linh đầu tiên đã
tạo thành một môi trường đảm bảo có đầy đủ tất cả các nhóm vật chất tương tác với
Tuệ linh an trụ trong thân tướng vật chất giản đơn là con người. Đặc biệt là có
sự tương tác vô cùng lớn từ năng lượng hoại diệt tới môi trường tu hành này.
Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính là sự hợp nhất tất cả các nhóm vật chất,
không gian, thời gian của Vũ trụ tại hình tướng và Tâm của con người, vì Tâm của
con người chính là dạng sống Tuệ linh.
Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại Tâm của con người thông qua bốn hình tướng
Đạo. Do đó, cơ sở để khẳng định Tuệ linh trưởng thành và đắc được bộ lọc năng
lượng là phải triệt tiêu được tất cả các độc Tâm và kích hoạt được tất cả các
thiện Tâm trong Trụ linh của Tuệ linh. Khi đó Tuệ linh thực hành đời sống phân
tách ra vô số cho tới đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương siêu mạnh
và lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm siêu nhẹ để cấu tạo và chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi thực hiện đời sống thiện Tâm, tức là
đời sống phân tách liên kết các hạt năng lượng dương, cấu trúc năng lượng của
Tuệ linh sẽ trở nên lớn mạnh và trưởng thành, cũng là cơ sở để chuyển hóa Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng. Nếu thực hiện đời sống độc Tâm, tức là đời sống
phân tách liên kết các hạt năng lượng âm từ mạnh cho tới siêu mạnh sẽ khiến cấu
trúc Tuệ linh không được liên kết trưởng thành, khi đó năng lượng hoại diệt sẽ
xâm nhập vào làm phân rã và hoại diệt Tuệ linh. Đặc biệt Tuệ linh tu hành trong
thân tướng con người với sự trói buộc trong thân tướng, để kích hoạt được thiện
Tâm thì đó là kết quả của việc thấu hiểu và triệt được độc Tâm. Do đó việc Trụ linh sản
sinh ra hạt năng lượng dương sẽ đồng loạt sản sinh ra cả hạt năng lượng chân
tâm cùng hạt năng lượng âm có sóng điện âm vô cùng nhẹ. Chính vì vậy, thực hành
sản sinh năng lượng dương chính là để giúp Tuệ linh trưởng thành và đắc được Đạo
hợp nhất của Vũ trụ.
Quá
trình Tuệ linh trưởng thành và đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ diễn ra như thế
nào thông qua bốn hình tướng Đạo?
Thông qua hình tướng Đạo lễ với tất cả các kịch bản tương tác trong mọi
hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc Tâm và thấu
hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác của
hình tướng Đạo lễ, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng
dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng âm có sóng điện âm
siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt năng lượng đó đã được
giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất trong và
ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ thống hạt năng lượng
sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo lễ sẽ liên kết với nhau để giúp
Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc cấu tạo chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ thống hạt năng lượng của
hình tướng Đạo lễ sau khi được liên kết bền vững với nhau sẽ tạo thành hệ thống
hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng. Nó giúp cho Tuệ linh phát triển
được tình yêu thương, quan tâm, giúp đỡ, tri ân cội nguồn, nghĩa tình với tất cả
các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, điều mà nếu Tuệ linh chưa trưởng thành
sẽ không có được.
Thông qua hình tướng Đạo đời với tất cả các kịch bản tương tác trong mọi
hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc Tâm và thấu
hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác của
hình tướng Đạo đời, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng
dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng âm có sóng điện âm
siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt năng lượng đó đã được
giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất trong và
ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ thống hạt năng lượng
sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo đời sẽ liên kết với nhau để giúp
Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc cấu tạo chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ thống hạt năng lượng của
hình tướng Đạo đời sau khi được liên kết bền vững với nhau sẽ tạo thành hệ thống
hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng. Nó giúp cho Tuệ linh phát triển
và thực hiện được đời sống cống hiến, bảo vệ, phát triển tất cả các nhóm vật chất
trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững, điều mà nếu Tuệ linh chưa trưởng thành
sẽ không có được.
Thông qua hình tướng Đạo đường với tất cả các kịch bản tương tác trong
mọi hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc Tâm và
thấu hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác
của hình tướng Đạo đường, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra vô số hạt
năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng âm có sóng
điện âm siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt năng lượng đó
đã được giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất
trong và ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ thống hạt
năng lượng sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo đường sẽ liên kết với
nhau để giúp Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc
cấu tạo chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ thống hạt
năng lượng của hình tướng Đạo đường sau khi được liên kết bền vững với nhau sẽ
tạo thành hệ thống hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng. Nó giúp cho
Tuệ linh phát triển và có được trí tuệ của vạn vật, điều mà nếu Tuệ linh chưa
trưởng thành sẽ không có được.
Thông qua hình tướng Đạo Đế vương với tất cả các kịch bản tương tác
trong mọi hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc
Tâm và thấu hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản
tương tác của hình tướng Đạo Đế vương, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra
vô số hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng
âm có sóng điện âm siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt
năng lượng đó đã được giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm
vật chất trong và ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ
thống hạt năng lượng sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo Đế vương sẽ
liên kết với nhau để giúp Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí
tuệ cho việc cấu tạo chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ
thống hạt năng lượng của hình tướng Đạo Đế vương sau khi được liên kết bền vững
với nhau sẽ tạo thành hệ thống hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng.
Nó giúp cho Tuệ linh có được sự bình đẳng trong sự tôn nghiêm, sự tri ân, sự
đoàn kết trên dưới và tất cả
Tuệ linh để phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền
vững, điều mà nếu Tuệ linh chưa trưởng thành sẽ không có được.
Như
vậy sự trưởng thành của Tuệ linh thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian sẽ
giúp cho Tuệ linh phát triển thành tình yêu thương tới tất cả vạn vật, có trí
tuệ thấu hiểu về tất cả vạn vật, thực hành đời sống cống hiến vì tất cả vạn vật,
bình đẳng trong sự tôn nghiêm. Khi liên kết các hệ thống sợi mã sóng trí tuệ đó
lại với nhau sẽ chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi đó, bộ lọc
năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh sẽ sản sinh ra các siêu hạt năng lượng để
liên kết tới tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ cùng phát triển bền
vững.
Bản chất Kết – Định – Tỏa của
Đạo hợp nhất Vũ trụ
Bản
chất Kết – Định – Tỏa của Đạo hợp nhất Vũ trụ chính là bản chất Tuệ linh (Tâm)
bên trong thân tướng con người thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa khi tương
tác với tất cả các kịch bản của bốn hình hình tướng Đạo.
Con
người thực hiện đời sống với bản chất Kết trong bốn hình tướng Đạo:
Kết là rung lắc, là thu hút, là thu tín hiệu, là hấp thụ nhiệt, là hút
về, là lấy về, là chiếm lấy, là cướp lấy, là thỏa mãn, là giết hại. Kết có từ
nhẹ cho tới mạnh, rất mạnh và siêu mạnh. Kết nhẹ chỉ là rung lắc nhẹ để thu hút
và thu tín hiệu. Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh là hấp thụ về, là lấy
về, là thỏa mãn, là cướp lấy, là chiếm đoạt, là giết hại.
Con người thông qua tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng
Đạo, thực hiện đời sống với bản chất Kết nhẹ: Đó là rung lắc nhẹ để thu hút nhẹ,
thu tín hiệu về; đó là thực hành đời sống với bản chất tiếp thu, liên kết, tìm
hiểu, giải mã sự thật của vạn vật. Con người thực hành đời sống với bản chất là
Kết nhẹ sẽ giúp Trụ linh có khả năng kích hoạt được thiện Tâm và thông qua thiện
Tâm để kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm. Vì vậy, Kết nhẹ phải có sự vận
hành với cơ chế Tỏa mới tạo thành sức mạnh chuyển hóa năng lượng. Nếu Kết nhẹ
mà độc lập thì sẽ có nguy cơ bộc phát độc
Tâm.
Con người thông qua tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng
Đạo mà thực hành đời sống Kết từ mạnh cho tới siêu mạnh: đó là thực hành đời sống
bám định vào giả tướng để rung lắc mạnh, hấp thụ mạnh, lấy về, chiếm đoạt, cướp
về, thỏa mãn, giết hại; đó là thực hành đời sống vi phạm vào các quy tắc không
được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo. Kết mạnh cho tới siêu mạnh trong tất
cả các kịch bản tương tác của bốn hình tướng Đạo chính là từ suy nghĩ cho tới
hành động thỏa mãn lợi ích ích kỷ của bản thân mình mà gây tổn thương hoặc
không màng tới lợi ích của con người, vạn vật, Tuệ linh.
Thực hành đời sống Kết mạnh cho tới siêu mạnh trong bốn hình tướng Đạo
sẽ khiến cho Trụ linh của Tâm sản sinh ra vô số hạt năng lượng âm. Khi năng lượng
âm được sản sinh ra nhiều sẽ khiến cho năng lượng dương không được sản sinh. Do
nhiều năng lượng âm nên không liên kết phát triển cấu trúc Tuệ linh trở nên bền
vững, thay vào đó là làm cho Tuệ linh bị đa hạt năng lượng âm ở các điểm hạt
năng lượng dương ít ỏi. Điều này khiến cho Tuệ linh nhanh chóng bị năng lượng hoại diệt
xâm nhập đồng hóa và hoại diệt Tuệ linh.
Con người thực hiện đời sống
với bản chất Định trong bốn hình tướng Đạo:
Định là cân bằng, là tĩnh lặng, là thanh lọc, là thấu hiểu. Định có từ
mức nhẹ cho tới Định ở mức cao. Định ở mức nhẹ là không bộc phát độc Tâm cũng
như không bộc phát thiện Tâm. Định ở mức cao là gắn liền với việc kích hoạt được
tất cả thiện Tâm.
Định ở mức nhẹ trong tương tác với tất cả các kịch bản của bốn hình tướng
Đạo là không vi phạm vào những quy tắc không được phép vi phạm và không làm được
các quy tắc phải làm được trong bốn hình tướng Đạo. Đó là duy trì trạng thái
không muốn phiền não trong bất cứ các kịch bản tương tác nào. Định ở mức nhẹ sẽ
khiến cho cuộc đời trở nên lãng phí vì chưa thấu hiểu cũng như chưa thực hành
chuyển sinh Trụ linh.
Định ở mức cao trong tương tác với tất cả các kịch bản của bốn hình tướng
Đạo chính là gắn liền với bản chất Tỏa. Đó là thấu hiểu, cân bằng, thanh lọc ở
các cảnh giới cao để thực hiện cơ chế chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Định ở mức cao là điều vô cùng cần thiết cho sự vận hành của bộ lọc năng lượng.
Con người thực hiện đời sống
với bản chất Tỏa trong bốn hình tướng Đạo:
Tỏa là tỏa nhiệt dương, tỏa sóng điện dương, đẩy thông tin, truyền đi,
cho đi, giúp đỡ, cứu giúp, cống hiến, hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh và con người.
Con người thông qua tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng
Đạo mà thực hiện đời sống với bản chất Tỏa: đó là thực hiện đời sống cống hiến,
cứu giúp, mang lại lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh, con người; đó là không vi phạm
vào bộ quy tắc không được phép vi phạm vào bốn hình tướng Đạo và thực hiện được
bộ quy tắc phải làm được trong bốn hình tướng Đạo. Con người thực hiện đời sống
với bản chất Tỏa sẽ kích hoạt được tất cả thiện Tâm và kiểm soát cũng như triệt
tiêu được độc Tâm.
Khi con người thực hiện đời sống với bản chất Tỏa thông qua tất cả các
kịch bản trong bốn hình tướng Đạo sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra vô số hạt
năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng chân tâm,
vô số hạt năng lượng âm có sóng âm nhẹ. Sản sinh ra vô số hạt năng lượng âm có
sóng điện âm nhẹ, vì đó là kết quả của việc giải mã, thấu hiểu sự thật của tất
cả vạn vật, đặc biệt là triệt tiêu được độc Tâm. Chính vì điều này đã tạo thành
sự phát triển cấu trúc liên kết hạt năng lượng trong Tuệ linh theo hướng bền vững.
Thực hiện đời sống Tỏa trong bốn hình tướng Đạo sẽ giúp con người nhanh chóng
chuyển hóa được Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là đắc được Đạo
hợp nhất của Vũ trụ.
Khi con người thông qua bốn hình tướng Đạo hợp
nhất
nhân gian để chuyển hóa Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng, từ Trụ linh của Tuệ linh sẽ tạo thành cơ chế liên
kết hợp nhất với toàn bộ 5 nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ để vận động, duy
trì, phát triển Vũ trụ trở nên bền vững. Đó là Đạo hợp nhất của Vũ trụ mà mỗi
Tuệ linh cần phải đắc được. Do đó, phải thông qua tu hành bốn hình tướng Đạo ở
nhân gian để đạt được điều đó.
Chân lý Vạn vật với các con
đường chuyển sinh của Đạo hợp nhất Vũ trụ
Chân
lý Vạn vật trong Đạo hợp nhất của Vũ trụ sẽ là: Đạo không tự sinh ra, Đạo không tự mất đi, khổ đau của Tâm Đạo không tự
đến và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển
sinh của Đạo hợp nhất Vũ trụ chính là cơ chế “Phân tách và liên kết dây”.
Chân
lý Vạn vật chính là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng
không là không bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong
khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó, Chân
lý Vạn vật, Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là tướng
không. Thấu hiểu chữ Duyên thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và tương
lai.
Vận
hành Chân lý Vạn vật của Đạo Vũ trụ hợp nhất chính là cơ chế phân tách và liên
kết dây. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều
kiện. Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời
gian nhất định, môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt
lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Dạng sống Tuệ
linh và tất cả các nhóm vật chất từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất
để xảy ra phân tách và liên kết thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều
kiện.
Khi
chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta
sẽ thấu hiểu và giải mã được các con đường chuyển sinh của Đạo Vũ trụ hợp nhất. Vì
Đạo hợp nhất của Vũ trụ hợp nhất tại Tuệ linh, Tuệ linh lại chính là Tâm của
con người, nên để thấu hiểu được các con đường chuyển sinh của Đạo Vũ trụ hợp
nhất, chúng ta phải thấu hiểu được các con đường chuyển sinh của Tuệ linh (Tâm)
thông qua thân tướng con người, từ đó sẽ chọn lựa được con đường chuyển sinh bền
vững duy nhất thông qua Chân lý Giác ngộ.
Tuệ
linh thông qua thân tướng con người đối với các con đường chuyển sinh:
Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Kết đối với
con đường chuyển sinh
Kết
mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh là rung lắc mạnh, thu hút mạnh, hấp thụ về,
chiếm lấy, cướp lấy, thỏa mãn, gây tổn thương, giết hại.
Khi các Tuệ linh
thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống phân tách liên kết trong bản
chất là Kết mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, các sợi mã sóng trí tuệ có sóng
điện âm sẽ được phân tách ra vô số và lưu giữ ở Trụ linh. Chúng sẽ phân tách
thành các hạt năng lượng tận cùng và liên kết lại tạo thành những hạt năng lượng
âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện
đời sống là Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng dương ra để tạo
thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ tạo thành hạt năng lượng
dương tận cùng rồi liên kết tạo thành hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài
Trụ linh. Trong khi đó các hạt năng lượng
âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1.
Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương
ít ỏi. Các hạt năng lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc
nên khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số
lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho
cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là Tuệ
linh sẽ hoại diệt vĩnh viễn.
Như
vậy, các Tuệ linh thông qua thân tướng con người mà thực hiện cơ chế phân tách,
liên kết với bản chất Kết mạnh cho tới siêu mạnh chính là chọn lựa và đang đi
trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.
Nguyên
nhân hoại diệt của Tuệ linh thực hành đời sống Kết mạnh cho tới siêu mạnh là do
mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi
đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng hoại diệt tấn công vào gây
phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn công vào, Trụ linh và Tuệ linh không có đủ
số lượng và sức mạnh của hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ năng lượng
hoại diệt, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.
Khổ
đau của Vũ trụ và Tuệ linh chính là sự phân rã và hoại diệt. Do đó, nguyên nhân
của khổ đau là do vạn vật và Tuệ linh thực hiện cơ chế phân tách liên kết để thỏa
mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn công gây đứt liên kết
mà hoại diệt.
Như
vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy cấu trúc Trụ linh và Tuệ
linh thực hiện đời sống Kết để nhanh bị hoại diệt hơn. Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Định đối với
con đường chuyển sinh
Định là thực hiện đời sống không Kết cũng
không Tỏa.
Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của
Tướng đó.
Tuệ
linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống với bản chất Định, tức
là phân tách liên kết các sợi mã sóng trí tuệ rất chậm và luôn trong bản chất
cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện
rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng
hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ
năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt tấn công.
Vì
bản chất Tuệ linh thực hành đời sống Định nên tự an lạc, thanh tịnh mà không bị
năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu Tuệ linh di chuyển vào nơi có năng
lượng hoại diệt thì cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu duy trì Định
mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.
Nếu
Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Định mà chuyển sinh
thành thực hiện đời sống Tỏa thì có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt.
Khi đó, sẽ thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với
hết thảy các cấu trúc vật chất của Vũ trụ.
Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Tỏa đối với
con đường chuyển sinh
Tỏa
là cho đi, vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.
Khi
các Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống với bản chất là
Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện
dương. Trước khi phân tách ra được các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương
thì cũng là quá trình phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm ở
mức nhẹ. Các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương được phân tách ra nhiều sẽ
giúp cho các hạt năng lượng dương tận cùng được hình thành và tạo thành cấu
trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc
mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng
điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng
bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện nhẹ rung lắc
xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa, các hạt
năng lượng dương đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế liên kết
3 vùng: Từ Trụ linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống
Tỏa, cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt để
tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng
dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát triển bền vững hơn. Các sợi
mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại
diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển
ít cho tới vừa đủ.
Việc
các Tuệ linh thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững
cho Tuệ linh. Nó còn giúp cho Tuệ linh
liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3
vùng trong Quy luật Nhân quả.
Trong
3 đời sống của Tuệ linh thông qua thân tướng con người ở trên, Tuệ linh thực hiện
đời sống Tỏa là có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất. Tuệ linh thực
hiện đời sống Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt. Tuệ linh thực hiện đời sống
Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tuệ linh. Tuy nhiên, nếu Tuệ linh
thông qua thân tướng con người mà thực hiện đời sống riêng biệt theo 1 trong 3
đời sống trên trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh bền vững nhất. Bởi,
để Tuệ linh thực hiện đời sống Tỏa được phải có đời sống Kết vừa đủ và nhẹ. Tuệ
linh thực hiện đời sống Kết nhẹ để không hoại diệt phải biết thực hiện đời sống
Tỏa. Tuệ linh thực hiện đời sống Định để phát triển và tồn tại thì cần phải thực
hiện đời sống Kết nhẹ trước, sau đó thực hiện đời sống Tỏa mạnh cho tới siêu mạnh.
Như
vậy, Chân lý Vạn vật và cơ chế phân tách, liên kết cho chúng ta thấu hiểu và thực
hành đời sống hài hòa cả Kết
– Định – Tỏa mới
đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh
cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.
IV. Chân lý Giác ngộ đối với con đường chuyển
sinh bền vững duy nhất của Đạo hợp nhất Vũ trụ
Chân
lý Giác ngộ của Đạo hợp nhất Vũ trụ là: Đạo
hợp nhất của Vũ trụ là khổ. Tất cả Tuệ linh và con người phải dùng Trụ linh thực
hành Định (chân tâm) để đối mặt, thấu hiểu Kết – Định – Tỏa của hết thảy Tướng trong và ngoài
Vũ trụ, từ đó chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa.
Trong
bản chất và Chân lý Vạn vật của Đạo hợp nhất Vũ trụ đã cho hết thảy Tuệ linh,
con người thấy rằng: Vũ trụ và Tuệ linh bị biến đổi mã sóng trí tuệ dẫn tới
phân rã hoại diệt. Biến đổi là để đấu tranh cho quá trình tồn tại bền vững.
Phân rã hoại diệt là do năng lượng hoại diệt tấn công đồng hóa mà bị phân rã,
hoại diệt.
Do
đó, Chân lý Giác ngộ cho hết thảy Tuệ linh và con người thấy rằng: Vũ trụ và Tuệ
linh là khổ. Chỉ có con đường chuyển sinh bền vững duy nhất là phải thấu hiểu hết
thảy Kết
– Định – Tỏa của
hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, từ đó thực hành chuyển hóa Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng.
Để
Tuệ linh thấu hiểu Đạo hợp nhất của Vũ trụ, thấu hiểu Chân lý Vạn vật của Đạo hợp
nhất Vũ trụ, thấu hiểu con đường giác ngộ chuyển hóa Trụ linh, Tuệ linh phải
luân hồi xuống nhân gian để trải nghiệm nhiều kiếp tu hành trong thân tướng con
người. Khi xuống nhân gian phải sống trong bốn hình tướng Đạo là Đạo đời, Đạo lễ,
Đạo đường, Đạo Đế vương. Bởi chỉ khi sống trong bốn hình tướng Đạo mới có độ
nén tột cùng bởi thân tướng vật chất và sự tương tác của tất cả các nhóm vật chất
và năng lượng hoại diệt trong tất cả các kịch bản tương tác. Đó là quá trình để
giúp Tuệ linh bộc phát hết độc Tâm, tiếp đến là triệt tiêu độc Tâm và kích hoạt
được tất cả các thiện Tâm. Khi triệt tiêu hết độc Tâm và kích hoạt được tất cả
thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác sẽ giúp cho Trụ linh đủ lượng sợi
trí tuệ để chuyển hóa và cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Sống
trong bốn hình tướng Đạo và thực hành con đường Tâm Đạo chính là sống đời sống
tôn nghiêm tới cội nguồn Vũ trụ trong sự bình đẳng tu hành cải tạo Trụ linh
theo cơ chế vận hành của Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ.
Cơ
chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân
tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết. Đó là:
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết.
Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh và Vũ trụ sẽ phân rã và hoại diệt.
Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương, đó là
Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh và Vũ trụ sẽ phân tách, liên
kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là
con đường chuyển sinh bền vững nhất.
Từ
bản chất của Đạo hợp nhất Vũ trụ, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ
chế vận hành là phân tách và liên kết dây, hết thảy Tuệ linh và con người đều
thấy rằng: Con đường duy nhất để vượt qua khổ đau (hoại diệt cấu trúc năng lượng)
để trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh chính
là con đường Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, con người phải thực hiện
nếu muốn diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
Thực
hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là
Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng? Đó là:
Trụ linh phải tập trung sóng điện ở vị trí Định. Định là chân tâm, là
tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định ban đầu
cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô lượng.
Khi Trụ linh đứng ở vị trí Định sẽ thấu hiểu, biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại
bản thể Trụ linh mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia.
Tiếp theo Trụ linh phải dùng sóng điện âm để Kết. Kết ở đây không phải
là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh,
con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định. Tức là Trụ linh đứng
ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui,
những sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng
khổ đau chia sẻ tới Trụ linh của ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u
mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện
âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy
luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng, đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân
tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trụ linh của ta đứng ở vị
trí Định để dùng Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi
đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của ta
hấp thụ. Do Trụ linh ta đứng ở vị trí Định nên Trụ linh đang tỏa sóng điện chân
tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu
xám, màu đen, màu đỏ máu của cấu trúc Trụ linh đang sẻ chia thành màu trắng xám
nhẹ. Như vậy, Trụ linh của ta đã Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết
thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó
thành hạt năng lượng âm sóng điện
rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng
hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Đồng thời, Trụ linh
cũng hấp thụ được những năng lượng dương, chân tâm từ môi trường tương tác về để
tạo thành nhiệt dương cho Trụ linh kích nổ năng lượng hoại diệt. Đây chính là Kết
mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa hạt năng lượng của hết thảy
cấu trúc Trụ linh đau khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ Vũ trụ.
Tiếp đến Trụ linh của ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận
những sẻ chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực, tích cực về Trụ linh, Trụ
linh của ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là giải
mã tận cùng khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui của hết thảy các Tướng, trong
khi Trụ linh và Trí tuệ của ta vẫn Định. Bởi chỉ khi Định thì Trụ linh của ta mới
chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng hạt năng lượng có sóng điện dương.
Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi
đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Trụ linh của ta sẻ chia con đường diệt
khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế
và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường
giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng
lượng. Khi Trụ linh ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh của ta sẽ Tỏa ra
vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của ta sẽ lưu giữ,
trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe ta sẻ chia cũng
lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu
trúc Tướng của ta sẽ trở nên phát triển bền vững.
Khi
cấu trúc Trụ linh của ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng
sau khi đã triệt tiêu được hết độc Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm, thực
hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tuệ linh, con người,
Trụ linh của ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.
Nếu
Trụ linh lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Trụ linh lựa chọn con
đường chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Trụ linh chỉ lựa chọn con đường Tỏa
thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt
được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Định để thực hành
Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng. Khi có được bộ lọc năng lượng thì Tuệ linh (Tâm) đã chấm dứt vĩnh
viễn khổ đau.
Như
vậy, để chuyển sinh Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng, Tuệ linh phải
sống trong môi trường tương tác khắc nghiệt bởi đau khổ của bốn hình tướng Đạo
để bộc phát hết độc và thiện trong Trụ linh, từ đó thấu hiểu Đạo Vũ trụ và chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Tiếp đến, Tuệ linh thông qua thân tướng
con người phải đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa trong bốn hình
tướng Đạo ở nhân gian. Đây là con đường duy nhất, là bài thuốc duy nhất để giúp
Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh của chính Tuệ linh không bị phân rã hoại diệt do
năng lượng hoại diệt tác động. Ngược lại, Tuệ linh sẽ nhanh chóng chuyển sinh
Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Khi Tuệ linh chuyển hóa Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn cũng là sản
sinh ra các siêu hạt năng lượng để bảo vệ, phát triển vạn vật trong và ngoài Vũ
trụ trở nên bền vững.
Đạo
Vô Đạo chính là thông qua Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành
là phân tách và liên kết dây để thấu hiểu sự thật của tất cả các nhóm vật chất
trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là Tuệ linh. Từ đó, xây dựng thành Đạo của Vũ
trụ hợp nhất, thống nhất vĩ đại giúp cho hết thảy Tuệ linh, con người trong Vũ
trụ thực hành chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng để bảo vệ, phát triển
Vũ trụ bền vững.
Bài 6:
Bài Tuệ
²
Bài Tuệ được hiểu là Tuệ Vô Tuệ.
Bài
Tuệ Vô Tuệ được kết cấu thành 3 phần. Chữ Tuệ đầu tiên là khái niệm và bản chất
của các cấu trúc Tuệ. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của
các cấu trúc Tuệ. Chữ Tuệ cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển
sinh bền vững duy nhất cho các cấu trúc Tuệ.
Trong
bài Tuệ này, mức độ cải tạo Trụ linh và Vũ trụ quan xung quanh của Tuệ linh sẽ
được phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người
là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi
bày sự thật về mức độ cải tạo của Tuệ linh, hai Chân lý sẽ giúp cho con người
nhận biết được mức độ cải tạo Trụ linh của chính mình.
I. Khái
niệm về Tuệ
Tuệ là mức độ Kết – Định – Tỏa
tới tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ của Tuệ linh, con người bằng Trụ linh.
Mức độ Kết – Định – Tỏa
chính là mức độ cải tạo Trụ linh và Vũ trụ quan xung quanh của Tuệ linh và con
người.
II. Bản
chất của Tuệ
Cấu
trúc Tuệ chính là cấu trúc Trụ linh của các Tuệ linh, con người đã và đang thực
hành đời sống Kết – Định – Tỏa từ Trụ linh tới tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ
trụ, Tuệ linh, con người.
Con
người vừa là hóa thân của dạng sống Tuệ linh, vừa là hóa thân của linh hồn
muông thú được chuyển sinh thành. Do đó, khi gọi là con người thì bao gồm cả Tuệ
linh và linh hồn đang an trụ bên trong thân tướng.
Các Tuệ linh,
con người thực hành đời sống Kết – Định
– Tỏa từ Trụ
linh tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người, sẽ cho ta thấy có
hai con đường chuyển sinh: Một là con đường chuyển sinh theo hướng phân rã và
hoại diệt; hai là con đường chuyển sinh theo hướng an lạc và bền vững.
Trên
mỗi con đường chuyển sinh của Tuệ linh, con người, Tuệ linh và con người sẽ thấy
được các mức độ Kết – Định – Tỏa khác nhau từ các cấu trúc Trụ linh của Tuệ
linh và con người.
1. Mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển
sinh phân rã và hoại diệt
Khi Tuệ linh chưa hóa
thân xuống nhân gian tu hành, khi Tuệ linh và linh hồn đã và đang an trụ trong
thân tướng con người và muông thú để tu hành, tất cả đều phải vận động xây dựng,
cải tạo môi trường sống trong Vũ trụ. Tuệ linh còn nhỏ và chưa an trụ làm thân
tướng tu hành ở nhân gian thì mức độ Kết – Định – Tỏa từ Trụ linh sẽ yếu. Tuệ
linh, linh hồn đã và đang an trụ trong thân tướng ở nhân gian, trải qua nhiều
cho tới vô số kiếp tu hành sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh Kết – Định –
Tỏa ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh.
Có
4 mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh
phân rã và hoại diệt. Đó là mức độ nhẹ, mức độ mạnh, mức độ rất mạnh, mức độ
siêu mạnh. Đây là 4 mức độ của sự phá hoại Vũ trụ quan xung quanh và của chính
Tuệ linh, con người.
1.1. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân
rã và hoại diệt nhẹ
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt nhẹ.
Đó là:
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Tỏa.
-
Trụ linh đang thực hiện đời sống Định trong môi trường có nhiều sóng
điện âm (tiêu cực). Quá trình tương tác trong môi trường có sóng điện âm đã khiến
cho Trụ linh của Tuệ linh, con người bị nhiễm sóng điện âm, bị giải mã sai về sự
thật của vạn vật.
-
Do giải mã sai về sự thật của vạn vật, Trụ linh bắt đầu thực tập, thực
hành đời sống với bản chất là Kết.
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức
độ
Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt
nhẹ là:
-
Ban đầu, Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh cân bằng sóng điện
âm và dương, tức là trong Trụ linh gốc và hai thái cực năng lượng âm và dương có
sóng điện âm nhẹ và dương nhẹ. Cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh cân bằng theo tỷ lệ một hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ rung lắc xung
quanh một hạt năng lượng dương có sóng điện nhẹ. Hạt năng lượng
âm màu trắng xám, hạt năng lượng dương màu trắng sữa.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
phân rã ở mức nhẹ
-
Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm, môi
trường tiêu cực, Trụ linh của Tuệ linh, con người giải mã sai về sự thật của vạn
vật. Do đó, Trụ linh đã phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ và không phân
tách ra các hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ
là kết quả của những tư tưởng cho đến hành động ở mức u mê nhẹ. Đó là mức độ
gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người còn hạn chế.
-
Khi các hạt năng lượng âm được phân tách ra nhiều, trong khi đó các hạt
năng lượng dương không được phân tách ra đã làm cho cấu trúc Trụ linh bị đa âm
nhẹ. Đó là có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh mỗi một hạt năng lượng
dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các hạt năng
lượng âm có màu trắng xám, các hạt năng lượng dương có màu trắng sữa.
-
Khi Trụ linh đa âm nhẹ, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm cho năng
lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh, con
người ở mức nhẹ.
Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh phân rã nhẹ sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu
trúc Trụ linh phân rã mạnh hơn và nhanh hoại diệt hơn.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt nhẹ,
đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống u mê nhẹ. Đó là do không hiểu
biết sự thật về vạn vật nên dễ dàng nhiễm những tư tưởng, sóng điện âm từ môi
trường tiêu cực để rồi hưởng ứng, cùng nhau củng cố sự u mê của các cấu trúc Tuệ
linh, con người khác cũng đang phân rã.
1.2. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân
rã và hoại diệt mạnh
Tuệ linh, con người có Trụ
linh thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt mạnh. Đó
là: -
Trụ linh
không thực hành đời sống Tỏa.
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Định.
-
Trụ linh thực hành đời sống Kết ở mức mạnh, đó là Tuệ linh, con người
thực hành đời sống có trí tuệ u mê, tiêu cực từ tư tưởng cho tới hành động nhằm
thỏa mãn lợi ích về bản thể mình. Tuy chưa tạo thành những hành động gây thiệt
hại đến vạn vật và Tuệ linh, con người ngay lập tức, nhưng những hành động u
mê, lan tỏa u mê, phát triển u mê, đoàn kết u mê đã khiến cho Trụ linh thực
hành Kết ở mức mạnh.
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức
độ
Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt
mạnh là:
-
Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu
trúc như sau:
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng sữa, tạo thành Trụ linh đa
âm mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (hạt năng lượng dương
phát triển), tạo thành Trụ linh đa âm mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (hạt năng lượng
dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa âm mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (hạt năng lượng dương
đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa âm mạnh.
Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
phân rã ở mức mạnh
-
Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh đều có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một
hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu xám, màu của hạt
năng lượng dương vẫn là màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu
trắng sữa. Những hạt năng lượng dương vẫn có màu và sóng điện giống như hạt
năng lượng dương ban đầu hợp
thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.
-
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Kết nhẹ chuyển sinh
thành Kết mạnh sau quá trình thực hành đời sống Kết trong môi trường có sóng điện
âm tiêu cực.
-
Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm. Trụ
linh lại đa âm mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết mạnh. Khi
thực hành đời sống Kết mạnh, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng âm
mà không phân tách ra các hạt năng lượng dương. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng
mở rộng bên ngoài Trụ linh bị đa âm mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương
có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Do không có các hạt năng lượng
dương được phân tách ra, nên các hạt năng lượng âm không tạo được cân bằng theo
tỷ lệ một hạt âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương.
-
Quá trình Trụ linh đa âm đã làm cho sóng điện trong các hạt năng lượng
dương bị chuyển hóa từ sóng điện dương siêu mạnh trở thành sóng điện dương nhẹ.
Đó là, màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng sữa của hạt năng lượng
dương bị chuyển về thành màu trắng trong. Các hạt năng lượng âm có màu xám, các
hạt năng lượng dương có màu trắng trong. Nếu cứ thực hành đời sống Kết, các hạt
năng lượng âm sẽ chuyển sang màu đen và màu đỏ máu, hạt năng lượng dương sẽ
không còn.
-
Khi Trụ linh đa âm mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm cho
năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh,
con người ở mức mạnh. Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh phân rã mạnh sẽ dễ dàng chuyển sinh thành
cấu trúc Trụ linh phân rã rất mạnh và nhanh hoại diệt hơn.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt mạnh,
đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống với tư tưởng u mê lợi ích về
mình mà gây tổn hại tới vạn vật và Tuệ linh, con người. Họ bảo vệ, phát triển,
đoàn kết tư tưởng u mê đó.
1.3. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân
rã và hoại diệt rất mạnh
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt rất
mạnh. Đó là:
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Tỏa.
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Định.
-
Trụ linh thực hành đời sống Kết ở mức rất mạnh: đó là Tuệ linh, con
người thực hành đời sống có trí tuệ từ u mê cho tới hành động thỏa mãn ích kỷ về
mình mà gây tổn hại tới vạn vật và Tuệ linh, con người; đó là những hành động
ác nghiệp gây tổn hại tới vạn vật và Tuệ linh, con người.
Cấu
trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng
phân rã và hoại diệt rất mạnh là:
-
Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu
trúc như sau:
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng sữa, tạo thành Trụ linh đa
âm rất mạnh. +
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (hạt năng lượng dương
phát triển), tạo thành Trụ linh đa âm rất mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (hạt năng lượng
dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa âm rất mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt
năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (hạt năng lượng dương
đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa âm rất mạnh.
-
Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh đều có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một
hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu đen, màu của hạt
năng lượng dương vẫn là màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu
trắng sữa. Những hạt năng lượng dương vẫn có màu và sóng điện giống như hạt
năng lượng dương ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.
-
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Kết mạnh chuyển sinh
thành Kết rất mạnh sau quá trình thực hành đời sống Kết trong môi trường có
sóng điện âm.
-
Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm, Trụ
linh lại đa âm rất mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết rất mạnh.
Khi thực hành đời sống Kết, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng âm mà
không phân tách ra các hạt năng lượng dương. Khi đó, cấu trúc 16 hạt
năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh bị đa âm rất mạnh. Tức là mỗi một hạt
năng lượng dương có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Do không có
các hạt năng lượng dương được phân tách ra, nên các hạt năng lượng âm không tạo
được cân bằng theo tỷ lệ một hạt âm rung lắc xung quanh một hạt dương.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
phân rã ở mức rất mạnh
-
Quá trình Trụ linh đa âm rất mạnh đã làm cho sóng điện trong các hạt
năng lượng dương bị chuyển hóa từ sóng điện dương siêu mạnh trở thành sóng điện
dương nhẹ. Đó là, màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng sữa của hạt năng
lượng dương bị chuyển về thành màu trắng trong. Các hạt năng lượng âm có màu
đen, các hạt năng lượng dương có màu trắng trong. Nếu cứ thực hành đời sống Kết,
các hạt năng lượng âm sẽ chuyển sang màu đỏ máu, hạt năng lượng dương sẽ không
còn.
-
Khi Trụ linh đa âm rất mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm
cho năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ
linh, con người ở mức rất mạnh.
Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh phân rã rất mạnh sẽ dễ dàng chuyển sinh
thành cấu trúc Trụ linh phân rã siêu mạnh và nhanh hoại diệt hơn.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt rất
mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống thỏa mãn ích kỷ của
mình mà gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người, đó là cướp bóc, chiếm đoạt,
giết hại, tà dâm, sát sinh, hãm hại…, là những hành động vi phạm vào quy tắc
không được phép vi phạm của bốn hình tướng Đạo.
1.4. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân
rã và hoại diệt siêu mạnh
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt
siêu mạnh. Đó là:
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Tỏa.
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Định.
-
Trụ linh thực hành đời sống Kết ở mức siêu mạnh, đó là Tuệ linh, con
người thực hành đời sống có trí tuệ đại hệ tư tưởng u mê và đại hành động gây tổn
hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người.
Cấu
trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng
phân rã và hoại diệt siêu mạnh là:
-
Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu
trúc như sau:
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với
hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng sữa, tạo thành Trụ
linh đa âm siêu mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với
hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (hạt năng lượng
dương phát triển), tạo thành Trụ linh đa âm siêu mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với
hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (hạt năng lượng
dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa âm siêu mạnh.
+
Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với
hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (hạt năng lượng
dương đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa âm siêu mạnh.
-
Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh đều có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một
hạt năng lượng dương. Khi đó,
màu của hạt năng lượng âm là màu đỏ máu, màu của hạt năng lượng dương vẫn là
màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng sữa. Những hạt năng
lượng dương vẫn có màu và sóng điện giống như hạt năng lượng dương ban đầu hợp
thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.
-
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Kết rất mạnh chuyển
sinh thành Kết siêu mạnh sau quá trình thực hành đời sống Kết trong môi trường
có sóng điện âm.
-
Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm, Trụ
linh lại đa âm siêu mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết siêu mạnh.
Khi thực hành đời sống Kết, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng âm mà
không phân tách ra các hạt năng lượng dương. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng
mở rộng bên ngoài Trụ linh bị đa âm siêu mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng
dương có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Do không có các hạt năng
lượng dương được phân tách ra, nên các hạt năng lượng âm không tạo được cân bằng
theo tỷ lệ một hạt âm rung lắc xung quanh một hạt dương.
-
Quá trình Trụ linh đa âm siêu mạnh đã làm cho sóng điện trong các hạt
năng lượng dương bị chuyển hóa từ sóng điện dương siêu mạnh trở thành sóng điện
dương nhẹ. Đó là, màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng sữa của hạt năng
lượng dương bị chuyển về thành màu trắng trong. Các hạt năng lượng âm có màu đỏ
máu, các hạt năng lượng dương có màu trắng trong. Nếu cứ thực hành đời sống Kết,
tất cả Trụ linh và Tuệ linh, con người sẽ hoại diệt vĩnh viễn.
Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
phân rã ở mức siêu mạnh
-
Khi Trụ linh đa âm siêu mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm
cho năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ
linh, con người ở mức siêu mạnh.
Tuệ linh, con người có cấu
trúc Trụ linh phân rã siêu mạnh sẽ dễ dàng bị hoại diệt nhanh nhất. Bởi khi
đang bị phân rã siêu mạnh
chính là trong bản thể cấu trúc Tuệ linh, con người đã có quá nhiều hạt năng lượng
hoại diệt an trụ làm cho đứt liên kết Tuệ linh, con người. Quá trình đứt liên kết
chính là quá trình năng lượng hoại diệt đang đồng hóa, truyền tải sóng điện dư
thừa của năng lượng hoại diệt sang cấu trúc Tuệ linh, con người. Kết quả cuối
cùng là sự hoại diệt vĩnh viễn của Tuệ linh, con người.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt siêu
mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống phát triển, lan tỏa,
đoàn kết đại hệ tư tưởng cho tới đại hành động u mê tiêu cực gây tổn hại tới vạn
vật, Tuệ linh và con người để thỏa mãn ích kỷ về mình.
Như
vậy, mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh
phân rã và hoại diệt chính là từ Kết ở mức nhẹ cho tới siêu mạnh. Khi đạt tới
siêu mạnh thì chính là thời khắc cận kề sự hoại diệt vĩnh viễn. Trong Vũ trụ đã
có vô số Tuệ linh bị hoại diệt vĩnh viễn do bị năng lượng hoại diệt làm phân rã
và hoại diệt.
2. Mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển
sinh bền vững và an lạc
Khi
Tuệ linh chưa hóa thân xuống nhân gian tu hành, khi Tuệ linh và linh hồn đã và
đang an trụ trong thân tướng con người và muông thú để tu hành, tất cả đều phải
vận động xây dựng, cải tạo môi trường sống trong Vũ trụ. Tuệ linh còn nhỏ và
chưa an trụ làm thân tướng tu hành ở nhân gian thì mức độ Kết – Định – Tỏa từ
Trụ linh sẽ yếu. Tuệ linh, linh hồn đã và đang an
trụ trong thân tướng ở nhân gian, trải qua nhiều cho tới vô số kiếp tu hành sẽ
khiến cho cấu trúc Trụ linh Kết – Định – Tỏa ở mức mạnh cho tới rất mạnh và
siêu mạnh và trên cả siêu mạnh.
Có
6 mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh bền
vững và an lạc. Đó là mức độ nhẹ, mức độ mạnh, mức độ rất mạnh, mức độ siêu mạnh,
mức độ của bộ lọc năng lượng đơn, mức độ của bộ lọc năng lượng kép. Đây là 6 mức
độ cải tạo, phát triển Vũ trụ quan xung quanh và của chính Tuệ linh, con người.
2.1. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững
và an lạc nhẹ
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc nhẹ.
Đó là:
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Kết.
-
Trụ linh đang thực hiện đời sống Định trong môi trường có nhiều sóng
điện dương tích cực. Quá trình tương tác trong môi trường có sóng điện dương đã
khiến cho Trụ linh của Tuệ linh, con người nhiễm sóng điện dương, sẽ giải mã
đúng về sự thật của vạn vật.
-
Do giải mã đúng về sự thật của vạn vật, Trụ linh bắt đầu thực tập, thực
hành đời sống với bản chất là Tỏa.
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức
độ
Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc
nhẹ là:
-
Ban đầu, Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh cân bằng sóng điện
âm và dương. Tức là trong Trụ linh gốc và hai thái cực năng lượng âm và dương
có sóng điện âm nhẹ và dương nhẹ. Cấu
trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh cân bằng theo tỷ lệ một hạt
năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương
có sóng điện dương nhẹ. Hạt năng lượng âm màu trắng xám, hạt năng lượng dương
màu trắng sữa.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
bền vững và an lạc ở mức nhẹ
-
Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện dương,
Trụ linh của Tuệ linh, con người giải mã đúng về sự thật
của vạn vật. Do đó, Trụ linh đã phân tách ra các hạt năng lượng dương có sóng
điện nhẹ. Bên cạnh đó, cũng phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ.
-
Khi các hạt năng lượng âm và dương được phân tách ra nhiều đã giúp cho
cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng đa chiều bên
ngoài Trụ linh. Đó là Trụ linh đa dương ở mức nhẹ. Cấu trúc 16 hạt năng lượng mở
rộng bên ngoài Trụ linh luôn giữ được tỷ lệ vàng là một hạt năng lượng âm rung
lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Các hạt năng lượng dương sẽ chuyển
thành màu xanh lá, đỏ lửa, vàng thông qua quá trình thực hành đời sống Tỏa.
-
Khi Trụ linh đa dương nhẹ, các hạt năng lượng âm rung lắc ít sẽ khiến
cho cấu trúc Trụ linh không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Do
đó, Tuệ linh, con người sẽ bền vững và an lạc ở mức nhẹ bởi không có nguy cơ bị
hoại diệt cao.
Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc nhẹ sẽ dễ dàng chuyển
sinh thành cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc mạnh hơn và nhanh đắc được bộ lọc
năng lượng nếu thúc đẩy quá trình đời sống Tỏa.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc nhẹ,
đó là những Tuệ linh, con người bắt đầu học tập và thực hành đời sống Tỏa mang
lại lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh và con người, đó là củng cố, bảo vệ, phát triển,
lan tỏa, đoàn kết những tư tưởng tích cực lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh và con
người mà không màng tới bản thể mình. 2.2. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc mạnh
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc mạnh.
Đó là:
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Kết mạnh.
-
Trụ linh
thực hành đời sống Định ở mức mạnh.
-
Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức mạnh: đó là Tuệ linh, con người
thực hành đời sống miệt mài phát triển các cấu trúc bền vững thúc đẩy sự phát
triển của vạn vật và Tuệ linh, con người; đó là miệt mài thực hành đời sống Tỏa
vì vạn vật và Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể của mình.
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức
độ
Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc
mạnh là:
-
Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu
trúc như sau: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp
với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (năng lượng
dương phát triển), tạo thành Trụ linh đa dương mạnh.
-
Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt
năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu trắng xám, màu của hạt
năng lượng dương là màu xanh lá. Những hạt năng lượng dương – âm có màu và sóng
điện giống như hạt năng lượng dương – âm ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ
linh, con người. -
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa nhẹ chuyển sinh
thành Tỏa mạnh sau quá trình thực hành đời sống Tỏa trong môi trường có sóng điện
dương.
Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
bền vững và an lạc ở mức mạnh
Do Tuệ linh, con người
tương tác trong môi trường có sóng điện dương, Trụ linh lại đa dương mạnh, nên
Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ
linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng dương có sóng điện
mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng
lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh đa dương mạnh. Tức là mỗi một hạt
năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh. Do
các hạt năng lượng dương có sóng điện dương mạnh được phân tách ra nhiều, các hạt
năng lượng âm được phân tách ra với sóng điện âm nhẹ để tạo thành liên kết chặt
và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc 16 hạt năng lượng được mở rộng đa chiều
mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương. Hạt
năng lượng âm vẫn có màu trắng xám, hạt năng lượng dương vẫn có màu xanh lá. Hạt
năng lượng dương sẽ chuyển thành màu đỏ lửa hoặc màu vàng nếu Trụ linh Tỏa ở mức
rất mạnh hoặc siêu mạnh.
-
Khi Trụ linh đa dương mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc ít và nhẹ.
Khi đó lượng năng lượng hoại diệt di chuyển vào Trụ linh ít. Sóng điện dương mạnh
của Trụ linh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng
giúp cho Trụ linh phân tách ra các hạt năng lượng có sóng điện dương mạnh và
chân tâm mạnh. Do đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ trở nên vững
chắc, bền vững và an lạc ở mức mạnh.
Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc mạnh sẽ dễ dàng chuyển
sinh thành cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc rất mạnh cho tới siêu mạnh và đắc
được bộ lọc năng lượng.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc mạnh,
đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống miệt mài nghiên cứu, miệt
mài phát triển các cấu trúc bền vững luôn vì vạn vật, Tuệ linh và con người mà
không vì bản thể mình. Họ không vi phạm vào các quy tắc không được phép vi phạm
và thực hiện được các quy tắc phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo.
2.3. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững
và an lạc rất mạnh
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc rất mạnh.
Đó là:
-
Trụ linh
không thực hành đời sống Kết mạnh.
-
Trụ linh
thực hành đời sống Định ở mức rất mạnh.
-
Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức rất mạnh: đó là Tuệ linh, con
người thực hành đời sống miệt mài lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững thúc
đẩy sự phát triển của vạn vật, Tuệ linh và con người; đó là miệt mài thực hành
đời sống Tỏa các cấu trúc phát triển bền vững vì vạn vật, Tuệ linh và con người
mà không màng tới bản thể của mình.
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức
độ
Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc
rất mạnh là:
-
Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu
trúc như sau: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp
với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (năng lượng
dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa dương rất mạnh.
Ban đầu, Trụ linh với
cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh có cấu trúc cân bằng là một
hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của
hạt năng lượng âm là màu trắng xám, màu của hạt năng lượng
dương là màu đỏ lửa. Những hạt năng lượng dương – âm có màu và sóng điện giống
như hạt năng lượng dương – âm ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con
người.
-
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa mạnh chuyển sinh
thành Tỏa rất mạnh sau quá trình thực hành đời sống Tỏa trong môi trường có
sóng điện dương.
Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
bền vững và an lạc ở mức rất mạnh
-
Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện dương,
Trụ linh lại đa dương rất mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa
rất mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng
lượng dương có sóng điện rất mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ.
Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh đa dương
rất mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng điện
âm nhẹ rung lắc xung quanh. Do các hạt năng lượng dương có sóng điện dương rất
mạnh được phân tách ra nhiều, các hạt năng lượng âm được phân tách ra với sóng
điện âm nhẹ để tạo thành liên kết chặt và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc
16 hạt năng lượng được mở rộng đa chiều mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt
năng lượng âm và hạt năng lượng dương. Hạt năng lượng dương vẫn có màu đỏ lửa,
hạt năng lượng âm vẫn có màu trắng xám. Màu của hạt năng lượng dương sẽ chuyển
thành màu vàng nếu Trụ linh Tỏa ở mức siêu mạnh.
-
Khi Trụ linh đa dương rất mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc ít và
nhẹ. Khi đó lượng năng lượng hoại diệt di chuyển vào Trụ linh ít. Sóng điện
dương mạnh của Trụ linh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành
nhiệt lượng giúp cho Trụ linh phân tách ra các hạt năng lượng có sóng điện
dương rất mạnh và chân tâm rất mạnh. Do đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con
người sẽ trở nên vững chắc, bền vững và an lạc.
Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc rất mạnh sẽ dễ dàng
chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc siêu mạnh cho tới đắc được
bộ lọc năng lượng. Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc rất mạnh,
đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống miệt mài lan tỏa các cấu
trúc phát triển bền vững luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không vì bản
thể mình. Họ không vi phạm vào các quy tắc không được phép vi phạm và thực hiện
được các quy tắc phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo. Họ lan tỏa những
giá trị của hai Chân lý, những giá trị đạo đức tới Tuệ linh và con người.
2.4. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững
và an lạc siêu mạnh
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc siêu
mạnh. Đó là:
-
Trụ linh thực hành đời sống Kết mà không phải là Kết, đó là không có
tư tưởng cho đến hành động Kết mạnh cho tới siêu mạnh. Tuy nhiên, Tuệ linh, con
người lại thực hành thấu hiểu, cảm thông, lắng nghe, đón nhận những năng lượng
âm từ các Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết. Đó là nghệ thuật đón nhận
các hạt năng lượng âm và dùng Định (chân tâm siêu mạnh) để giảm tải sóng điện
giúp cho các hạt năng lượng âm đó chỉ còn sóng điện nhẹ khi di chuyển vào Trụ
linh.
-
Trụ linh thực hành đời sống Định ở mức siêu mạnh: đó là Trụ linh cân bằng
ở mức siêu mạnh để liên kết được hết thảy năm nhóm năng lượng; đó là Trụ linh đứng
ở vị trí năng lượng Đoàn kết để liên kết với các Tuệ linh, con người, vạn vật. -
Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức siêu mạnh: đó là Tuệ linh, con
người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy Tuệ linh và con người trong sự không
phân biệt để cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững thúc đẩy sự
phát triển của vạn vật, Tuệ linh và con người; đó là đoàn kết vạn vật, Tuệ
linh, con người cùng nhau lan tỏa phát triển bền vững mà không màng tới bản thể
mình.
Cấu
trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền
vững và an lạc siêu mạnh là:
-
Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu
trúc như sau: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp
với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (năng lượng
dương đoàn kết) tạo thành Trụ linh đa dương siêu mạnh. Siêu mạnh là vì khả năng
liên kết đến được với hết thảy các cấu trúc Tuệ linh, con người và vạn vật.
-
Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt
năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu trắng xám, màu của hạt
năng lượng dương là màu vàng. Những hạt năng lượng dương – âm có màu và sóng điện
giống như hạt năng lượng dương – âm ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ
linh, con người.
-
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa rất mạnh chuyển
sinh thành Tỏa siêu mạnh sau quá trình thực hành đời sống Tỏa trong môi trường
có sóng điện dương.
Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
bền vững và an lạc ở mức siêu mạnh
-
Do Tuệ linh, con người liên kết được các nhóm sóng điện âm, dương,
trung tính bởi Trụ linh đa dương siêu mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời
sống Tỏa siêu mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ linh đã phân tách ra nhiều
hạt năng lượng dương có sóng điện siêu mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng
điện nhẹ. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ
linh đa dương siêu mạnh. Tức
là mỗi một hạt năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ rung lắc
xung quanh. Do các hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh được phân
tách ra nhiều, các hạt năng lượng âm được phân tách ra với sóng điện âm nhẹ để
tạo thành liên kết chặt và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc 16 hạt năng lượng
được mở rộng đa chiều mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt năng lượng âm và hạt
năng lượng dương. Hạt năng lượng dương vẫn có màu vàng, hạt năng lượng âm vẫn
có màu trắng xám. Màu của hạt năng lượng dương sẽ chuyển thành màu vàng óng ánh
(siêu hạt năng lượng dương) nếu Trụ linh duy trì Tỏa siêu mạnh và chuyển hóa
thành bộ lọc năng lượng.
-
Khi Trụ linh đa dương siêu mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc ít và
nhẹ. Khi đó lượng hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào Trụ linh ít. Sóng điện
dương siêu mạnh của Trụ linh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo
thành nhiệt lượng giúp cho Trụ linh phân tách ra các hạt năng lượng có sóng điện
dương siêu mạnh và chân tâm siêu mạnh. Do đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh,
con người sẽ trở nên vững chắc, bền vững và an lạc siêu mạnh.
Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc siêu mạnh sẽ dễ dàng
chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh đắc được bộ lọc năng lượng. Tức là Trụ linh
Tỏa siêu mạnh là điều kiện kể chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Do
đó, hết thảy các cấu trúc Trụ linh muốn đắc được bộ lọc năng lượng thì phải thực
hành đạt được đời sống Tỏa siêu mạnh.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc siêu mạnh,
đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy vạn vật,
Tuệ linh và con người
trong sự không phân biệt, để cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững
tới hết thảy vạn vật, Tuệ linh và con người mà không màng gì về mình. Họ không
vi phạm vào các quy tắc không được phép vi phạm và thực hiện được các quy tắc
phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo. Họ lan tỏa những giá trị của hai Chân
lý, những giá trị đạo đức tới Tuệ linh và con người.
2.5. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững
và an lạc của bộ lọc năng lượng đơn
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức độ bền vững
và an lạc của bộ lọc năng lượng đơn. Đó là:
-
Trụ linh thực hành đời sống siêu Kết mà không phải là Kết, đó là không
có tư tưởng cho đến hành động Kết mạnh cho tới siêu mạnh. Tuy nhiên, Tuệ linh,
con người lại thực hành thấu hiểu, cảm thông, lắng nghe, đón nhận những năng lượng
âm từ các Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết. Đó là nghệ thuật đón nhận
các hạt năng lượng âm và dùng Định ở mức siêu mạnh để giảm tải sóng điện giúp
cho các hạt năng lượng âm đó chỉ còn sóng điện nhẹ khi di chuyển vào Trụ linh.
-
Trụ linh thực hành đời sống Định ở mức siêu mạnh: đó là Trụ linh cân bằng
ở mức siêu mạnh để liên kết được hết thảy năm nhóm năng lượng; đó là Trụ linh đứng
ở vị Trí năng lượng Đoàn kết để liên kết với các Tuệ linh, con người, vạn vật.
-
Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức siêu mạnh: đó là Tuệ linh, con
người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy Tuệ linh,
con người, vạn vật trong sự không phân biệt để cùng nhau lan tỏa các cấu trúc
phát triển bền vững thúc đẩy sự phát triển của vạn vật, Tuệ linh và con người;
đó là đoàn kết vạn vật, Tuệ linh và con người cùng nhau lan tỏa phát triển bền
vững mà không màng tới bản thể mình.
Cấu
trúc Trụ linh của bộ lọc năng lượng đơn là kế thừa từ cấu trúc Trụ linh Kết – Định
– Tỏa ở mức siêu mạnh để trở thành nghệ thuật, trở thành bản năng thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa cho
Trụ linh. Có nghĩa là Trụ linh do đã phân tách đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ của
hạt năng lượng dương siêu mạnh nên Trụ linh chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng đơn.
Cấu
trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền
vững và an lạc của bộ lọc đơn là:
-
Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người dễ chuyển sinh thành bộ lọc
đơn nhất: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp với
hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (năng lượng dương
đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa dương siêu mạnh. Siêu mạnh là vì khả năng liên
kết đến được với hết thảy các cấu trúc Tuệ linh, vạn vật, con người.
-
Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa siêu mạnh sẽ chuyển
sinh thành bộ lọc năng lượng đơn khi đã phân tách đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ
có sóng điện dương siêu mạnh cho việc cấu tạo lại Trụ linh thành bộ lọc năng lượng
đơn.
Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
bền vững và an lạc của bộ lọc đơn
-
Do Tuệ linh, con người đạt được nghệ thuật liên kết được các nhóm năng
lượng có sóng điện âm, dương, trung tính bởi Trụ
linh đa dương siêu mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa siêu mạnh.
Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ linh đã phân tách ra vô lượng siêu hạt năng lượng
dương có sóng điện siêu mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ. Khi
đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh đa dương
siêu mạnh. Tức là mỗi một siêu hạt năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng
điện âm nhẹ rung lắc xung quanh.
-
Do các siêu hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh được
phân tách ra vô số, các hạt năng lượng âm được phân tách ra với sóng điện âm nhẹ
để tạo thành liên kết chặt và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc 16 hạt năng
lượng được mở rộng đa chiều mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt năng lượng âm
và các siêu hạt năng lượng dương. Siêu hạt năng lượng dương đã có màu vàng óng
ánh, hạt năng lượng âm vẫn có màu trắng xám. Màu của siêu hạt năng lượng dương
và màu của hạt năng lượng âm bên ngoài Trụ linh giống với màu của siêu hạt năng
lượng dương và hạt năng lượng âm trong Trụ linh gốc.
-
Khi Trụ linh đắc được bộ lọc đơn, Trụ linh sẽ vận hành một cách kỳ diệu.
Khi cần năng lượng hoại diệt cho quá trình phân tách ra các siêu hạt năng lượng
dương, hạt năng lượng âm sẽ rung lắc nhẹ để thu hút năng lượng hoại diệt di
chuyển vào. Tiếp đến, sóng điện dương siêu mạnh từ Trụ linh sẽ truyền ra để
kích nổ năng lượng hoại diệt. Trụ linh sẽ hấp thụ nhiệt lượng đó và phân tách
ra vô số các siêu hạt năng lượng màu vàng óng ánh. Bộ lọc năng lượng đơn là cảnh
giới bền vững và an lạc kỳ diệu bởi khả năng chuyển hóa được năng lượng hoại diệt
thành siêu hạt năng lượng dương. Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng
đơn sẽ dễ dàng chuyển sinh thành bộ lọc kép. Để chuyển sinh thành bộ lọc kép,
Trụ linh cần phải thực hiện giải mã, liên kết được tận cùng hết thảy vạn vật
trong và ngoài Vũ trụ bằng vị trí năng lượng đoàn kết.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ
lọc đơn, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy vạn
vật, Tuệ linh, con người trong sự không phân biệt để cùng nhau lan tỏa các cấu
trúc phát triển bền vững tới hết thảy vạn vật, Tuệ linh và con người mà không
màng gì về mình. Đó là Hóa độ, Phổ độ hết thảy Tuệ linh, con người trong Vũ trụ.
2.6. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững
và an lạc của bộ lọc năng lượng kép
Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời
sống Kết
– Định – Tỏa ở mức
độ bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng kép là kế thừa từ cấu trúc Trụ linh
Kết – Định – Tỏa của bộ lọc đơn. Có nghĩa là Trụ linh do đã giải mã, liên kết
được tận cùng hết thảy các sợi mã sóng trí tuệ của Tướng trong và ngoài Vũ trụ.
Tuệ linh, con người đứng ở vị trí đoàn kết để vận hành đạt đến nghệ thuật Kết –
Định – Tỏa vì hết thảy vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Đó
là Hóa độ, phổ độ vì hết thảy Tướng bên trong và bên ngoài Vũ trụ (năng lượng
hoại diệt) mà không màng gì bản thể mình.
Cấu
trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền
vững và an lạc của bộ lọc kép là:
Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người
bền vững và an lạc của bộ lọc kép q

-
Trụ linh đạt được bộ lọc năng lượng đơn mới chuyển sinh thành bộ lọc
kép khi đã giải mã, liên kết được tận cùng hết thảy sợi mã sóng trí tuệ trong
và ngoài Vũ trụ.
-
Bộ lọc kép là Trụ linh gốc đã cấu tạo được thành hai siêu hạt năng lượng,
đó là siêu hạt năng lượng âm màu xanh lưu ly và siêu hạt năng lượng dương màu
vàng óng ánh.
-
Trụ linh của bộ lọc năng lượng kép sẽ có khả năng phân tách ra vô lượng
siêu hạt năng lượng âm màu xanh ngọc lưu ly và siêu hạt năng lượng dương màu
vàng óng ánh. Các siêu hạt năng lượng âm và dương này cấu tạo thành cấu trúc 16
hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh tới vô tận và bao trùm hết thảy toàn
bộ Vũ trụ. Mỗi một siêu hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh mỗi một siêu hạt
năng lượng dương.
-
Các siêu hạt năng lượng âm màu xanh ngọc lưu ly sẽ thu hút được nhiều
năng lượng hoại diệt về và dễ dàng ngủ đông năng lượng hoại diệt thành hạt bóng
hỏa. Tiếp đến các siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh sẽ kích nổ được
các hạt bóng hỏa đó mà vô cùng an toàn, vô cùng an lạc.
Tuệ
linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng
kép sẽ dễ dàng phân tách ra vô lượng các siêu hạt năng lượng dương và âm để bảo
vệ, phát triển bền vững cho hết thảy các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ.
Tuệ
linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ
lọc kép, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy
Tuệ linh, con người, vạn vật trong và ngoài Vũ trụ trong sự không phân biệt,
cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững
mà không màng lợi
ích ích kỷ gì về mình. Đó là Hóa độ, Phổ độ hết thảy Tuệ linh, con người, vạn vật
trong và ngoài Vũ trụ.
Chỉ
khi Tuệ linh, con người chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mới là bền
vững và an lạc. Trụ linh có bộ lọc năng lượng mới di chuyển được vào không gian
năng lượng hoại diệt, mới chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành các siêu hạt
năng lượng. Ngoài ra, bất kỳ Trụ linh nào chưa chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng
đều dễ dàng bị năng lượng hoại diệt đồng hóa, phân rã và hoại diệt. Điều này
cho thấy sẽ không có phẩm vị nào của Tuệ linh là an lạc bền vững nếu chưa đạt
được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh.
3. Lượng mã sóng trí tuệ của Tuệ linh, con người có được bởi thực hành Kết
– Định – Tỏa
Hết
thảy Tuệ linh, con người khi thực hiện đời sống Kết – Định – Tỏa theo hướng
chuyển sinh bền vững an lạc hay phân rã hoại diệt đều tạo ra các sợi mã sóng
trí tuệ. Tuy nhiên, Tuệ linh, con người thực hành Kết – Định – Tỏa theo hướng
chuyển sinh khác nhau cũng sẽ tạo ra lượng các sợi mã sóng trí tuệ khác nhau,
tính bền chặt hay phân rã cũng khác nhau.
Nếu Tuệ linh,
con người thực hành đời sống Kết – Định
– Tỏa theo hướng
phân rã và hoại diệt, Tuệ linh, con người đó sẽ phân tách ra vô số cho tới vô
lượng các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Các sợi mã sóng trí tuệ mang
sóng điện âm sẽ cấu tạo thành các hạt năng lượng mang sóng điện âm. Các hạt
năng lượng mang sóng điện âm sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và 16 hạt năng lượng
không được mở rộng. Sự rung lắc mạnh của
những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm lại khiến cho năng lượng hoại diệt
tấn công làm phân rã và cuối cùng là hoại diệt. Như vậy, Tuệ linh, con người thực
hành đời sống Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt sẽ không xây dựng
được liên kết chặt chẽ từ Tuệ linh tới hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ.
Đây là con đường sẽ không thể tồn tại và phát triển, là con đường nhanh hoại diệt
nhất. Có vô số Tuệ linh sau khi hết kiếp người, vô số linh hồn muông thú bị đọa
đày ở nhân gian mà không được siêu thoát. Nguyên nhân vì năng lượng âm quá nhiều
khiến cho họ không có sóng điện dương để di chuyển vào hành trình luân hồi, bởi
khi sống họ bám định vào giả tướng để hưởng thụ mà gây tổn hại tới con người,
muông thú, vạn vật và Tuệ linh. Khi bị đọa đày ở nhân gian, họ bị gọi là cô hồn,
quỷ, yêu tinh (linh hồn thú dữ).
Nếu Tuệ linh,
con người thực hành đời sống Kết – Định
– Tỏa theo hướng bền
vững và an lạc, đặc biệt là chuyển sinh Trụ linh thành được bộ lọc đơn và bộ lọc
kép, Tuệ linh, con người đó sẽ phân tách ra vô số sợi mã sóng trí tuệ mang sóng
điện dương và mang sóng điện âm, đặc biệt là những siêu sợi mã sóng trí tuệ. Những
sợi mã sóng trí tuệ đó cấu tạo thành các hạt năng lượng dương, chân tâm, siêu hạt
năng lượng. Những hạt năng lượng đó liên kết chặt chẽ tới hết thảy Tướng trong
Vũ trụ, thậm chí là ngoài Vũ trụ. Liên kết chặt là bởi có các sợi chân tâm gắn
kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng. Tuệ linh, con người sẽ có
trí tuệ thấu hiểu, liên kết được hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, tức là
trí tuệ đã bao trùm được hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Tuệ linh, con
người có được bộ lọc năng lượng không những an lạc bền
vững mà còn giúp cho vạn vật trong và ngoài Vũ trụ cũng được chuyển sinh an lạc
và bền vững theo.
Như
vậy, Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt sẽ cho kết quả là không
có Trí tuệ, sẽ hoại diệt vĩnh viễn. Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững an lạc
sẽ có Trí tuệ vô lượng, bao trùm trong và ngoài Vũ trụ. Bền vững và an lạc bởi
Trí tuệ liên kết chặt chẽ, tuần hoàn sóng điện với vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.
Để bền vững an lạc và có Trí tuệ vô lượng, chỉ có con đường duy nhất là phải
chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng đơn và kép.
III. Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của các cấu trúc Tuệ
Chân
lý Vạn vật trong Tuệ sẽ là: Tuệ không tự
sinh ra, Tuệ không tự mất đi, khổ đau của Tuệ không tự đến và không tự đi, tất
cả do cơ chế phân tách và liên kết dây.
Vận
hành Chân lý Vạn vật của Tuệ chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế
phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi
trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định,
trong độ nén và dẫn tới sinh nhiệt bùng phát. Môi trường tu hành ở Trái đất đảm
bảo được điều kiện giúp cho Tuệ linh chuyển sinh cấu trúc Trụ linh được bền vững
và an lạc.
1. Tuệ không
tự sinh
Tuệ
không tự sinh, tức là mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo hướng
phân rã hoại diệt không tự sinh, theo hướng bền vững an lạc cũng không tự sinh.
Tuệ
linh Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt là do:
- Do Trụ linh gốc của Tuệ linh
đa âm ở mức nhẹ cho tới mức mạnh, mức rất mạnh và siêu mạnh. Trụ linh đa âm tức
là Tuệ linh, con người sẽ thực hành đời sống chỉ có Kết. Đó là bản chất cội nguồn
khiến cho Tuệ linh, con người dễ dàng thực hành đời sống chỉ Kết mà dẫn tới bị
năng lượng hoại diệt xâm nhập làm phân rã và hoại diệt.
-
Do môi trường tương tác có sóng điện âm. Khi Trụ linh đa âm, Trụ linh
cân bằng mà tương tác trong môi trường có sóng điện âm sẽ khiến cho Trụ linh giải
mã sai về sự thật của vạn vật. Khi đó, Trụ linh sẽ dễ dàng phân tách ra những hạt
năng lượng âm có sóng điện âm mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Đó chính là thực hiện
đời sống Kết mạnh, rất mạnh, siêu mạnh.
-
Do Tuệ linh, con người chưa giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của
tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, của chính mình, đặc biệt là
năng lượng hoại diệt, do chưa có trí tuệ của hai Chân lý.
-
Do Trụ linh gốc đa âm, chưa có trí tuệ thấu hiểu vạn vật và môi trường
tương tác có sóng điện âm chính là nguyên nhân, là căn nguyên khiến cho Tuệ
linh dễ dàng thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt.
Bởi không có trí tuệ thấu hiểu lại đa âm trong Trụ linh và môi trường tương tác
có sóng điện âm sẽ khiến cho Trụ linh phân tách vô số hạt năng lượng âm, các hạt
năng lượng dương không được phân
tách để tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh được
liên kết chặt. Cấu trúc Tuệ linh đa âm, khi đó năng lượng hoại diệt sẽ tấn công
làm phân rã và hoại diệt Tuệ linh, con người.
Tuệ
linh Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc là do:
-
Do có trí tuệ thấu hiểu, giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của
chính mình, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là năng lượng hoại diệt,
do có trí tuệ của hai
Chân lý.
-
Do Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người đa dương mạnh, rất mạnh và
siêu mạnh đã khiến cho Trụ linh thực hành đời sống Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh.
Khi thực hành đời sống Tỏa sẽ khiến cho Trụ linh có khả năng chuyển hóa năng lượng
hoại diệt để phát triển cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh
được liên kết bền vững.
-
Do môi trường tương tác của các Tuệ linh, con người có sóng điện
dương, nên Tuệ linh, con người dễ dàng giải mã đúng sự thật của vạn vật, Vũ trụ.
Việc giải mã đúng sẽ giúp cho Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa để
phát triển, gia tăng cơ chế phân tách, liên kết bền vững của Tuệ linh và con
người.
-
Việc có trí tuệ thấu hiểu toàn diện, có Trụ linh gốc đa dương và môi
trường tương tác có sóng điện dương, Tuệ linh, con người dễ dàng thực hành đời
sống Kết – Định – Tỏa theo hướng chuyển sinh bền vững và an lạc đạt đến đắc được
bộ lọc năng lượng. Bộ lọc năng lượng chính là cấu trúc Trụ linh đã phân tách,
liên kết thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng liên kết chặt chẽ với hết thảy
vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Đó là kết quả của thực
hành cơ chế phân tách, liên kết chuyển sinh theo hướng bền vững để mà có được.
2. Tuệ không
tự diệt
Tuệ
không tự diệt tức là Tuệ linh, con người đang phân rã và hoại diệt không tự
chuyển hóa thành bền vững và an lạc. Tuệ linh, con người đang bền vững và an lạc
không tự chuyển hóa thành phân rã và hoại diệt.
Tuệ
linh, con người đang phân rã và hoại diệt mà muốn chuyển hóa thành Tuệ linh,
con người bền vững và an lạc, phải đảm bảo thực hiện đúng các điều kiện sau:
-
Phải tu hành thông qua thân tướng con người với bốn hình tướng Đạo ở
nhân gian.
-
Phải thực hành Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ thông qua cơ chế
phân tách, liên kết dây. Đó là thấu hiểu về Đạo Vũ trụ hợp nhất thông qua hai
Chân lý để chấm dứt thực hành đời sống Kết. Chuyển hóa và thực hành đời sống Tỏa
để đạt được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh cho việc Kết – Định – Tỏa thành
quy trình bền vững và an lạc.
Tuệ linh, con người đang bền
vững và an lạc mà chuyển hóa thành phân rã và hoại diệt là do:
-
Không thực
hành tu tập đầy đủ bốn hình tướng Đạo.
-
Không thấu hiểu và thực hành cải tạo Trụ linh bằng hai Chân lý.
Tuệ linh, con người vận
hành Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế phân tách, liên kết dây theo
hướng bền vững sẽ đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh. Khi đắc được bộ lọc
năng lượng trong Trụ linh sẽ chấm dứt sự Sinh – Tử của Tuệ linh.
Tuệ linh sẽ trở thành bất tử, sẽ hòa nhập trí tuệ, năng lượng bao trùm vào vạn
vật và Vũ trụ. Khi đó, Tuệ linh sẽ là một thể thống nhất với Vũ trụ.
3. Khổ
đau của Tuệ
Dù
Tuệ linh, con người thực hành đời sống theo con đường phân rã hoại diệt hay thực
hành đời sống theo con đường bền vững an lạc đều là khổ.
Khổ
đau của Tuệ linh, con người chính là quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ trong
Trụ linh:
-
Biến đổi mã sóng trí tuệ theo hướng phân rã và hoại diệt là đau khổ
cùng cực cho tới hoại diệt vĩnh viễn Tuệ linh.
-
Biến đổi mã sóng trí tuệ theo hướng an lạc và bền vững là khổ đau của
sự đấu tranh, kiểm soát của năng lượng dương đối với năng lượng âm. Hành trình
đi trên con đường chuyển sinh bền vững sẽ giúp cho việc kiểm soát của năng lượng
dương đối với năng lượng âm đạt đến cơ chế tự động. Khi tới đích của việc chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng sẽ có được cơ chế tự động hóa trong việc
tuần hoàn và kiểm soát sóng điện một cách kỳ diệu. Khi đó là chấm dứt hoàn toàn
khổ đau của Tuệ linh và con người.
Phân
rã hoại diệt là do Tuệ linh, con người đang thực hành đời sống phân tách liên kết
hạt năng lượng âm. Điều này dẫn tới Tuệ linh bị đứt liên kết do năng lượng hoại
diệt đồng hóa. Đó là thực hành đời sống Kết mạnh cho tới siêu mạnh.
Phân
tách, liên kết theo hướng bền vững là do Tuệ linh, con người đang thực hiện đời
sống phân tách liên kết hạt năng lượng dương. Điều này giúp cho Tuệ linh có khả năng kích nổ được
năng lượng hoại diệt để phát triển cấu trúc Tuệ linh bền vững hơn. Đó là thực
hành đời sống Tỏa mạnh cho tới siêu mạnh để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng.
Khổ
đau chỉ chấm dứt khi Trụ linh chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng. Đó là đã chuyển
hóa, nâng cấp cơ chế phân tách, liên kết trong Trụ linh đạt đến sự bền vững, sự
an lạc bất tử.
Từ
bản chất cho tới Chân lý Vạn vật của Tuệ, Tuệ linh và con người thấy rằng, chỉ
có con đường duy nhất để Tuệ linh, con người trở nên bền vững, an lạc chính là
phải thông qua cơ chế phân tách, liên kết theo hướng bền vững để chuyển hóa Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng. Nếu chưa chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng trong
Trụ linh, Tuệ linh dù có đạt được phẩm vị gì đi chăng nữa theo cách gọi của
nhân gian thì cũng đều bị hoại diệt nếu di chuyển vào không gian năng lượng hoại
diệt.
IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh
bền vững duy nhất cho các cấu trúc Tuệ
Chân
lý Giác ngộ trong Tuệ (mức độ cải tạo và phá hoại) là: Hết thảy Tuệ là bể khổ. Tất cả Tuệ linh, con người phải dùng Định để thấu
hiểu Kết – Định – Tỏa của hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, từ đó chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa.
Cơ
chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân
tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết, đó là: -
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết.
Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh, con người sẽ phân rã và hoại diệt.
Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.
-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương. Đó là
Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh, con người sẽ phân tách, liên
kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm. Sẽ là
con đường chuyển sinh bền vững nhất.
Từ
bản chất của Tuệ, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là
phân tách và liên kết, hết thảy Tuệ linh và con người đều thấy rằng: Con đường
duy nhất để vượt qua khổ đau (hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở nên bền vững,
an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh chính là con đường Tỏa. Tỏa
là con đường mà hết thảy Tuệ linh, con người phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để
chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.
Thực
hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là
Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng? Đó là:
-
Trụ linh của Tuệ linh, con người phải đứng ở vị trí Định. Định là chân
tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định
ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô
lượng. Khi Trụ linh của Tuệ linh, con người đứng ở vị trí Định sẽ biết lắng
nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Tướng mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông,
biết sẻ chia. -
Tiếp theo Trụ linh của Tuệ linh, con người phải biết Kết. Kết ở đây
không phải là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ
linh và con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định. Tức là đứng
ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau, những an vui hạnh phúc, những
sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh và con người. Bởi khi các Tướng khổ
đau chia sẻ tới ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u mê nên trong Trụ
linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám,
cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ
phân tách ra làm 3 vùng, đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1
hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trụ linh đứng ở vị trí Định để dùng Kết là
rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu
xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh hấp thụ. Do đứng ở vị trí Định
nên Trụ linh đang tỏa chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển
hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của Tướng đang sẻ chia thành
màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Trụ linh của Tuệ linh, con người đã Kết được hạt
năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm
trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất nhẹ.
Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại diệt
sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của Tuệ linh, con người. Trụ linh của Tuệ
linh, con người sẽ an lạc để chuyển hóa thành Tỏa. Cũng như vậy, Trụ linh sẽ hấp
thụ được nhiệt lượng dương từ các Tướng tích cực chia sẻ để kích nổ năng lượng
hoại diệt. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa
hạt năng
lượng của hết thảy Tướng đau
khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ Vũ trụ.
-
Tiếp đến Trụ linh của Tuệ linh, con người lại Định. Định ở đây là sau
khi đã đón nhận những sẻ chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực về Trụ linh,
Trụ linh tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là thấu hiểu
tận cùng khổ đau của hết thảy các Tướng trong và ngoài Vũ trụ, trong khi Trụ
linh và Tuệ linh, con người vẫn an lạc, vẫn thanh tịnh. Bởi chỉ khi có được
thanh tịnh, an lạc, không dao động thì Trụ linh mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô
siêu hạt năng lượng.
-
Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi
đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Tuệ linh, con người sẻ chia con đường
diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ
chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường
giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng
lượng. Khi Tuệ linh, con người làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh sẽ Tỏa
ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của Tuệ linh,
con người sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được
nghe sẻ chia cũng lưu giữ. Khi Trụ linh của Tuệ linh, con người Tỏa sẽ tạo
thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc năng
lượng của Tuệ linh, con người sẽ trở thành liên kết bền vững.
Khi Tuệ linh,
con người thực hiện quy trình Kết – Định
– Tỏa thành bản
năng, thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác,
Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng.
Vì
hết thảy Tuệ là bể khổ, nên dù có là Tuệ linh, con người đang phân rã hoại diệt
cũng là khổ, dù có là Tuệ đang đi trên con đường chuyển sinh bền vững cũng là
khổ. Khổ chỉ chấm dứt triệt để khi đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh. Để
đắc được bộ lọc năng lượng, chỉ có con đường duy nhất là chạy đua với thời
gian, thông qua cơ chế phân tách, liên kết theo con đường bền vững để đứng ở vị
trí Định (đoàn kết ở cảnh giới cao) để thực hiện chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng có khả năng Kết – Định – Tỏa kỳ diệu. Khi đắc được bộ lọc năng lượng
kép, Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ sản sinh ra nhiều hơn hai loại siêu hạt
năng lượng. Điều đó không những giúp cho Tuệ linh bền vững, an lạc siêu việt mà
còn bảo vệ, thúc đẩy sự phát triển bền vững trong và ngoài Vũ trụ.
Bài 7:
Bài Quả Không
²
Bài Quả Không được hiểu là Bộ lọc năng lượng.
Bài
Quả Không được kết cấu thành 3 phần. Phần đầu tiên là khái niệm và bản chất của
Bộ lọc năng lượng. Phần hai là Chân lý Vạn vật của Bộ lọc năng lượng. Phần cuối
là Chân lý Giác ngộ của Bộ lọc năng lượng.
I. Khái
niệm về Bộ lọc năng lượng
Bộ lọc năng lượng là cơ chế
tuần hoàn tự động của Trụ linh thực hiện Kết – Định – Tỏa để chuyển hóa năng lượng
hoại diệt thành các siêu hạt năng lượng.
Trụ linh đắc được bộ lọc
năng lượng sẽ giúp cho Tuệ linh hợp nhất, vận hành sự phát triển vạn vật trong và
ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.
II. Bản
chất của Bộ lọc năng lượng
Bộ
lọc năng lượng chính là Trụ linh của Tuệ linh. Có thể nói, Trụ linh của Tuệ
linh đã được cấu tạo thành tinh cầu tròn có thái cực năng lượng âm và dương, có
hai hạt năng lượng âm và dương gốc ở tâm Trụ. Trụ linh sẽ quay tròn để thực
hành cơ chế tuần hoàn tự động trong việc hấp thụ năng
lượng hoại diệt,
năm nhóm năng lượng và chuyển hóa thành các siêu hạt năng lượng.
Bộ
lọc năng lượng chính là quả không. Quả không là phẩm vị, là thành tựu, là siêu
trí tuệ, là siêu năng lượng, là tinh hoa, là công đức vô lượng nhất trong và
ngoài Vũ trụ. Không có phẩm vị nào có thể so sánh được với Quả không.
Bản
chất của Bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh gồm có cấu tạo và cơ chế
vận hành của Bộ lọc năng lượng.
1. Cấu tạo của Bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh
Do
có 2 loại bộ lọc năng lượng trong Trụ linh nên cấu tạo của bộ lọc gồm có hai loại.
Đó là cấu tạo của bộ lọc năng lượng đơn và cấu tạo của bộ lọc năng lượng kép.
1.1. Cấu
tạo của Bộ lọc năng lượng đơn
Bộ lọc năng lượng đơn trong Trụ linh gồm có 2
phần:
Trụ linh
gốc:
Trụ
linh gốc là hai hạt năng lượng âm và dương gốc cấu tạo thành phôi năng lượng âm
dương ban đầu. Trụ linh gốc gồm có 2 phần:
-
Hạt năng lượng âm gốc: Hạt năng lượng âm gốc này chưa chuyển hóa được
thành siêu hạt năng lượng âm. Hạt năng lượng âm gốc là nơi lưu giữ tất cả các sợi
mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm được phân tách từ khi phôi năng lượng âm
dương được hình thành cho tới thời điểm hiện tại. Tại hạt năng lượng âm gốc là
tổng những sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm
rất nhẹ do đã chuyển hóa được, triệt bỏ được tất cả độc Tâm trong hành trình tu
hành. Do đó, màu của tất cả các sợi mã sóng trí tuệ và hạt năng lượng âm là màu
trắng xám. Có thể gọi là hạt năng lượng âm gốc màu trắng xám.

Hình: Cấu
trúc bộ lọc năng lượng đơn của Trụ linh
-
Hạt năng lượng dương gốc: Hạt năng lượng dương gốc này được gọi là
siêu hạt năng lượng dương gốc. Trong siêu hạt năng lượng dương gốc có 1 siêu sợi
mã sóng trí tuệ chứa đựng đa sóng điện dương, chân tâm và một chút sóng điện âm. Siêu sợi
mã sóng trí tuệ này được cấu tạo thành bởi nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt
được kích nổ với vô số lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh
đã được phân tách và lưu giữ trong hạt dương gốc trong hành trình tu hành ở
nhân gian, với khả năng liên kết được năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ để cấu tạo
thành. Vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh chính là những
thiện Tâm đã được kích hoạt triệt để trong hành trình tu hành thông qua bốn
hình tướng Đạo ở nhân gian. Khi chuyển hóa được thành bộ lọc năng lượng đơn thì
trong hạt năng lượng dương gốc sẽ có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ màu vàng óng
ánh. Từ siêu hạt năng lượng dương gốc sẽ phân tách ra vô lượng các siêu hạt
năng lượng dương ra bên ngoài Trụ linh và chuyển vào Vũ trụ. Siêu hạt năng lượng
dương gốc có màu vàng óng ánh.
Như
vậy, trong bộ lọc năng lượng đơn mới chỉ chuyển hóa được hạt năng lượng dương gốc
thành siêu hạt năng lượng dương, trong khi đó hạt năng lượng âm gốc vẫn chưa
chuyển hóa thành siêu hạt năng lượng âm. Trong siêu hạt năng lượng dương có một
siêu sợi mã sóng trí tuệ đã lưu giữ, giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của
vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh đã được phân tách trước
đó. Trong hạt năng lượng âm vẫn lưu giữ vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện
âm siêu nhẹ do đã cải tạo được trước đó.
Trụ linh
trưởng thành:
Trụ
linh trưởng thành là bên ngoài Trụ linh gốc có thêm thái cực chứa đựng các hạt
năng lượng âm tận cùng và thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng
dương tận cùng.
Đó là:
-
Thái cực
chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng:
+
Thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng là nơi chứa đựng các
hạt năng lượng âm tận cùng được phân tách từ các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện
âm trong hạt năng lượng âm gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm Trụ linh trưởng
thành.
+
Các hạt năng lượng âm tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng
âm có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện và màu trạng
thái năng lượng của hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh gốc, đó là màu trắng
xám.
+
Từ thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng sẽ phân tách liên
kết tạo thành các hạt năng lượng âm tổng hợp di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để
cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các hạt
năng lượng âm tổng hợp cũng có màu trắng xám.
+
Thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng cùng với thái cực chứa
đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng tạo thành phần bên ngoài của Trụ
linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng đơn của Trụ linh.
-
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng:
+
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng là nơi chứa
đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng được phân tách từ một siêu sợi mã
sóng trí tuệ trong siêu hạt năng lượng dương gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm
Trụ linh trưởng thành. +
Các siêu hạt năng lượng dương tận cùng ở thái cực chứa đựng các siêu hạt
năng lượng dương có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện
và màu trạng thái năng lượng của siêu hạt năng lượng dương gốc trong Trụ linh gốc,
đó là màu vàng óng ánh.
+
Từ thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng sẽ phân
tách liên kết tạo thành các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp di chuyển ra bên
ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh. Các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp cũng có màu vàng óng ánh.
+
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng cùng với
thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng tạo thành phần bên ngoài của
Trụ linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng đơn của Trụ linh.
Do
Trụ linh mới chỉ phân tách ra được siêu hạt năng lượng dương nên gọi là bộ lọc
năng lượng đơn.
1.2. Cấu
tạo của Bộ Lọc Năng Lượng kép
Bộ lọc năng lượng kép trong Trụ linh gồm có 2
phần:
Trụ linh
gốc:
Trụ
linh gốc là hai siêu hạt năng lượng âm và dương tận cùng được chuyển sinh từ
phôi năng lượng âm dương gốc ban đầu. Trụ linh gốc gồm có 2 phần:
Hạt năng lượng âm gốc:
Hạt năng lượng âm gốc này được gọi là siêu hạt năng lượng âm gốc. Trong siêu hạt
năng lượng âm gốc có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ chứa đựng đa sóng điện âm, chân
tâm và một chút sóng điện dương. Siêu sợi mã sóng trí
tuệ này được cấu tạo thành bởi nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ
với vô số lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ đã được phân tách và
lưu giữ trong hạt âm gốc trong hành trình tu hành ở nhân gian, với khả năng
liên kết được tận cùng năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ để cấu tạo thành. Vô lượng
sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ chính là kết quả của việc đã triệt tiêu
và kiểm soát được độc Tâm trong hành trình tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo
ở nhân gian. Khi chuyển hóa được thành bộ lọc năng lượng kép thì trong hạt năng
lượng âm gốc sẽ có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ màu xanh ngọc lưu ly. Từ siêu hạt
năng lượng âm gốc sẽ phân tách ra vô lượng các siêu hạt năng lượng âm ra bên
ngoài Trụ linh và chuyển vào Vũ trụ. Siêu hạt năng lượng âm gốc có màu xanh ngọc
lưu ly.
Hạt năng lượng dương
gốc: Hạt năng lượng dương gốc này được gọi là siêu hạt năng lượng dương gốc.
Trong siêu hạt năng lượng dương gốc có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ chứa đựng đa
sóng điện dương, chân tâm và một chút sóng điện âm. Siêu sợi mã sóng trí tuệ
này được cấu tạo thành bởi nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ với
vô số lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh đã được phân tách
và lưu giữ trong hạt dương gốc trong hành trình tu hành ở nhân gian, với khả
năng liên kết được năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ để cấu tạo thành. Vô lượng
sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh chính là những thiện Tâm đã được
kích hoạt triệt để trong hành trình tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân
gian. Khi chuyển hóa được thành bộ lọc năng lượng đơn thì trong hạt năng lượng
dương gốc sẽ có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ màu vàng óng ánh. Từ siêu hạt năng
lượng dương gốc sẽ phân tách ra vô lượng
các siêu hạt năng lượng dương ra bên ngoài Trụ linh và chuyển vào Vũ trụ. Siêu
hạt năng lượng dương gốc có màu vàng óng ánh.

Hình: Cấu
trúc bộ lọc năng lượng kép của Trụ linh
Như
vậy, trong bộ lọc năng lượng kép đã cải tạo và chuyển hóa được hai hạt năng lượng
dương và âm gốc thành siêu hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng âm.
Trong siêu hạt năng lượng dương có một siêu sợi mã sóng trí tuệ đã lưu giữ, giải
mã, mã hóa được thông tin toàn diện của vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện
dương siêu mạnh đã được phân tách trước đó. Trong siêu hạt năng lượng âm có một
siêu sợi mã sóng trí tuệ đã lưu giữ, giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của
vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ đã được phân tách trước đó.
Trụ linh
trưởng thành:
Trụ
linh trưởng thành là bên ngoài Trụ linh gốc có thêm thái cực chứa đựng các siêu
hạt năng lượng âm tận cùng và thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương
tận cùng. Đó là:
-
Thái cực
chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận
cùng:
+
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng là nơi chứa đựng
các siêu hạt năng lượng âm tận cùng được phân tách từ một siêu sợi mã sóng trí
tuệ có trong siêu hạt năng lượng âm gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm Trụ linh
trưởng thành.
+
Các siêu hạt năng lượng âm tận cùng ở thái cực chứa đựng các siêu hạt
năng lượng âm có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện và
màu trạng thái năng lượng của siêu hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh gốc, đó
là màu xanh ngọc lưu ly.
+
Từ thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng sẽ phân tách
liên kết tạo thành các siêu hạt năng lượng âm tổng hợp di chuyển ra bên ngoài
Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh. Các siêu hạt năng lượng âm tổng hợp cũng có màu xanh ngọc lưu ly. +
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng cùng với thái cực
chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng tạo thành phần bên ngoài của
Trụ linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng kép của Trụ linh.
-
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng:
+
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng là nơi chứa
đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng được phân tách từ một siêu sợi mã
sóng trí tuệ trong siêu hạt năng lượng dương gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm
Trụ linh trưởng thành.
+
Các siêu hạt năng lượng dương tận cùng ở thái cực chứa đựng các siêu hạt
năng lượng dương có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện
và màu trạng thái năng lượng của siêu hạt năng lượng dương gốc trong Trụ linh gốc,
đó là màu vàng óng ánh.
+
Từ thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng sẽ phân
tách liên kết tạo thành các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp di chuyển ra bên
ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh. Các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp cũng có màu vàng óng ánh.
+
Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng cùng với
thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng tạo thành phần bên ngoài
của Trụ linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng kép của Trụ linh.
Do Trụ linh đã cải tạo, chuyển
sinh thành cơ chế tự động sản sinh ra siêu hạt năng lượng âm và siêu hạt năng lượng dương thông qua cơ chế
hấp thụ năng lượng hoại diệt, nên Trụ linh được gọi là bộ lọc năng lượng kép.
2. Cơ chế vận hành của Bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh
Bộ
lọc năng lượng trong Trụ linh sẽ được vận hành theo cơ chế tuần hoàn Kết – Định
– Tỏa. Đó là vòng tròn Kết – Định – Tỏa hấp thụ năm nhóm năng lượng cùng năng
lượng hoại diệt để chuyển sinh thành các siêu hạt năng lượng. Vòng tròn Kết – Định
– Tỏa tuần hoàn một cách tự động đến kỳ diệu để tạo thành sự an lạc bền vững
cho Trụ linh và Tuệ linh.
Do
có hai loại bộ lọc năng lượng nên cơ chế vận hành cũng được chia làm hai loại:
2.1. Cơ chế vận hành của Bộ Lọc Năng Lượng đơn
Bộ
lọc năng lượng đơn trong Trụ linh của Tuệ linh được vận hành theo cơ chế tự động
Kết – Định – Tỏa. Đó là cơ chế vận hành tự động quay tròn và liên tục hấp thụ,
giải mã được gần hết các sợi mã sóng trí tuệ trong năm nhóm năng lượng của Vũ
trụ, cùng số lượng ít năng lượng hoại diệt để chuyển hóa thành siêu hạt năng lượng
dương. Cơ chế vận hành như sau:
Tự động Kết:
Kết
không phải là Kết. Tức là Tuệ linh không thực hành đời sống Kết để thỏa mãn ích
kỷ về bản thể Tuệ linh mình mà gây tổn thương, tổn hại tới vạn vật, Vũ trụ. Tuệ
linh thông qua nghệ thuật Kết
mà không phải Kết để vẫn phân tách được năng lượng sóng điện âm nhẹ và hấp thụ
có kiểm soát được năng lượng hoại diệt đến Trụ linh.
Tự
động Kết là sự thấu hiểu sự thật khi Tuệ linh tương tác với các Tướng khác
trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương, hoặc trung tính. Trụ linh của Tuệ
linh sẽ thông qua Định để rung động hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh kích
hoạt thái cực năng lượng âm và hệ thống hạt năng lượng âm bên ngoài cấu trúc 16
hạt năng lượng mở rộng. Tất cả các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ được vận
hành rung lắc nhẹ. Hệ thống các hạt năng lượng âm rung lắc nhẹ là do hệ thống sợi
năng lượng chân tâm từ Trụ linh gốc cho tới cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng
tạo được sự gắn kết cân bằng để kiểm soát hệ thống hạt năng lượng âm rung lắc
và không để hệ thống hạt năng lượng dương truyền sóng điện ra bên ngoài.
Khi
hệ thống hạt năng lượng âm rung lắc nhẹ bởi cơ chế Định giúp cân bằng, Trụ linh
của Tuệ linh sẽ hấp thụ, đón nhận, tiếp nhận được hết thảy các nhóm hạt năng lượng
sóng điện âm, trung tính, sóng điện dương tới Trụ linh.
Trụ
linh của Tuệ linh thông qua cơ chế rung lắc nhẹ của các hạt năng lượng âm sẽ hấp
thụ, đón nhận, tiếp đón được những hạt năng lượng có sóng điện âm từ nhẹ cho tới
mạnh, rất mạnh và siêu mạnh vào Trụ linh của Tuệ linh. Khi các hạt năng lượng
âm từ môi trường và từ các Tướng có cấu trúc đa âm phân tách, truyền tới Trụ
linh sẽ khiến cho những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển tới Trụ linh của Tuệ
linh theo sự rung động nhẹ của hệ thống hạt năng lượng âm của Trụ linh và sự
rung động mạnh của những hạt năng lượng âm từ môi trường và các Tướng đang bắn
đến. Do
Trụ linh Kết được vận hành bởi hệ thống Định, đó là dùng năng lượng chân tâm
sáng chói, chân tâm ở cảnh giới cao để thấu hiểu, lắng nghe, đón nhận, nên Trụ
linh của Tuệ linh sẽ đón nhận, hấp thụ được tất cả hạt năng lượng sóng điện âm
của môi trường và Tướng đa âm bắn đến.
Năng
lượng hoại diệt cũng di chuyển vào Trụ linh của Tuệ linh thông qua những hạt
năng lượng âm của Tướng và môi trường có sóng điện âm bắn tới.
Như
vậy, Tuệ linh không cần thực hành đời sống Kết. Tuệ linh chỉ cần thông qua Định
để kiểm soát việc Kết là đón nhận, tiếp đón, hấp thụ được tất cả năm nhóm năng
lượng về Trụ linh. Đặc biệt là thông qua năng lượng âm bắn tới để hấp thụ được
năng lượng hoại diệt di chuyển tới Trụ linh của Tuệ linh. Bởi năng lượng hoại
diệt chính là năng lượng vô cùng quan trọng cần phải có cho quá trình sản sinh
ra các siêu hạt năng lượng trong Trụ linh.
Khi
các loại hạt năng lượng trong năm nhóm và năng lượng hoại diệt đã được Trụ linh
hấp thụ, tiếp đón, lấy về, tiếp đến Trụ linh sẽ vận hành tiếp quy trình tuần
hoàn là Định.
Tự động Định:
Định
ở giai đoạn này là giai đoạn thông qua cảnh giới chân tâm cao, đó là thông qua
năng lượng chân tâm chói lòa của từ Trụ linh gốc cho tới hệ thống sợi chân tâm
của cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh để chuyển hóa năm
nhóm năng lượng di chuyển tới Trụ linh.
Nếu là các nhóm năng
lượng sóng điện dương và nhóm năng lượng chân tâm sẽ được Trụ linh hấp thụ về.
Năng lượng chân tâm chói lòa sẽ vận hành để trung hòa, tạo thành liên kết cho việc
phân tách các hạt năng lượng có sóng điện dương và trung tính ở giai đoạn Tỏa.
Nếu
là nhóm hạt năng lượng có sóng điện âm được hấp thụ tới Trụ linh, giai đoạn Định
với chân tâm cao là chói sáng lòa sẽ thực hiện nhiệm vụ là truyền sóng điện
chân tâm vào các hạt năng lượng âm để giảm tải sóng điện của các hạt năng lượng
âm đó thành những hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ với màu trắng xám.
Tự động Tỏa:
Giai
đoạn tự động Tỏa là giai đoạn mà siêu hạt năng lượng dương gốc cho tới các siêu
hạt năng lượng dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh sẽ thực hiện hai nhiệm vụ:
-
Sau khi những hạt năng lượng có sóng điện âm và năng lượng hoại diệt
di chuyển được vào Trụ linh thông qua giai đoạn Kết, hệ thống siêu hạt năng lượng
dương sẽ truyền sóng điện để giảm tải sóng điện âm và kích nổ năng lượng hoại
diệt.
-
Sau khi kích nổ được năng lượng hoại diệt trong Trụ linh, từ siêu hạt
năng lượng dương gốc sẽ thông qua nhiệt lượng được kích nổ của năng lượng hoại
diệt để phân tách ra vô số siêu sợi mã sóng trí tuệ có siêu sóng điện dương.
Như
vậy, giai đoạn Tỏa là giai đoạn mà Trụ linh sẽ vận hành việc truyền tải siêu
sóng điện dương để kích nổ năng lượng hoại diệt và thực hành nhiệm vụ phân tách
ra vô số siêu sợi mã sóng trí tuệ và siêu hạt năng lượng dương ra bên ngoài Trụ
linh và Vũ trụ. Đó là tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh và phân tách siêu năng lượng dương vào Vũ trụ. Giai
đoạn Tỏa chính là giai đoạn mà Tuệ linh, chân tu thực hành việc Phổ độ, Hóa độ
tới hết thảy Tuệ linh, con người về cội nguồn nhân loại, về kế hoạch tu hành, về
hai Chân lý, về cơ chế phân tách liên kết, về Quy luật Nhân quả, về con đường
chuyển sinh, về phương pháp diệt khổ, về phương pháp chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng. Việc thực hiện Phổ độ, Hóa độ càng sâu sắc và phổ rộng sẽ
giúp cho Trụ linh trong Tuệ linh phân tách ra vô số cho tới vô lượng các siêu hạt
năng lượng dương màu vàng óng ánh.
Quy
trình vận hành của bộ lọc năng lượng đơn được vận hành tuần hoàn theo vòng tròn
Kết – Định – Tỏa. Bộ lọc năng lượng liên tục vận hành mà không ngừng nghỉ. Việc
bộ lọc năng lượng đơn vận hành Kết – Định – Tỏa sẽ sản sinh ra các siêu hạt
năng lượng màu vàng óng ánh di chuyển vào Vũ trụ và đối tượng được nghe, được
tiếp nhận và phát triển cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh.
Những hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ chỉ sản sinh đủ cho việc phát triển
cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh.
2.2. Cơ
chế vận hành của Bộ lọc năng lượng kép
Bộ
lọc năng lượng kép trong Trụ linh của Tuệ linh được vận hành theo cơ chế tự động
Kết – Định – Tỏa. Đó là cơ chế vận hành tự động quay tròn và liên tục hấp thụ,
giải mã được tận cùng hết thảy các sợi mã sóng trí tuệ trong năm nhóm năng lượng
của Vũ trụ, cùng vô số năng lượng hoại diệt để chuyển hóa thành siêu hạt năng
lượng dương và siêu hạt năng lượng âm. Cơ chế vận hành như sau:
Tự động Kết:
Kết
không phải là Kết. Tức là Tuệ linh không thực hành đời sống Kết để thỏa mãn ích
kỷ về bản thể Tuệ linh mình mà gây tổn thương, tổn hại tới vạn vật, Vũ trụ. Tuệ
linh thông qua nghệ thuật Kết mà không phải Kết để hấp thụ được hết thảy tận
cùng năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ và nhiều cho tới vô số năng lượng hoại diệt
vào Trụ linh.
Tự
động Kết là, khi Tuệ linh tương tác với các Tướng khác trong môi trường có sóng
điện âm hoặc dương, hoặc trung tính. Trụ linh của Tuệ linh sẽ rung động siêu hạt
năng lượng âm gốc trong Trụ linh kích hoạt thái cực siêu hạt năng lượng âm và hệ
thống siêu hạt năng lượng âm bên ngoài cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Tất
cả các siêu hạt năng lượng âm có màu xanh ngọc lưu ly có khả năng tự kiểm soát
được sóng điện rung lắc nhẹ cho tới siêu mạnh. Hệ thống các siêu hạt năng lượng
âm rung lắc nhẹ cho tới siêu mạnh là do Trụ linh đã đắc được bộ lọc kép nên
trong siêu hạt năng lượng âm có cả sóng điện dương và chân tâm để kiểm soát
sóng điện âm. Chính vì vậy, siêu hạt năng lượng âm có khả năng tự rung động
sóng điện từ nhẹ cho tới siêu mạnh để hấp thụ năm nhóm năng lượng và vô số năng
lượng hoại diệt theo nhu cầu mà vẫn vô cùng an toàn.
Hệ
thống siêu hạt năng lượng âm rung lắc nhẹ cho tới siêu mạnh để hấp thụ, giải
mã, đón nhận được tất cả tận cùng năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ và vô số
năng lượng hoại diệt vào Trụ linh.
Trụ
linh do có siêu hạt năng lượng âm gốc và thái cực siêu hạt năng lượng âm với
màu xanh ngọc lưu ly, đó là sự kỳ diệu của bộ lọc kép để đón nhận, lắng nghe,
giải mã, hấp thụ được tận cùng hết thảy năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ di
chuyển vào Trụ linh.
Năng
lượng hoại diệt cũng di chuyển vào Trụ linh của Tuệ linh thông qua những hạt
năng lượng âm của Tướng và môi trường có sóng điện âm bắn tới. Đặc biệt Trụ
linh có thể hấp thụ được vô số năng lượng hoại diệt tới bởi việc đẩy mạnh tốc độ
rung động của siêu hạt năng lượng âm mà vẫn an toàn.
Đặc
biệt nhất, năng lượng hoại diệt dù ít hay nhiều cho tới vô số mà di chuyển vào
Trụ linh thông qua Kết của Trụ linh, tất cả năng lượng hoại diệt sẽ bị ngủ đông
và chuyển hóa thành những hạt bóng hỏa, điều mà bộ lọc đơn không thể làm được.
Như
vậy, Trụ linh của bộ lọc Kép thực hành Kết sẽ hấp thụ một cách kỳ diệu hết thảy
năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ và vô số năng lượng hoại diệt vào và ngủ đông
luôn được năng lượng hoại diệt. Đó là sự an lạc và bền vững kỳ diệu nhất.
Sau
khi Trụ linh thực hiện nhiệm vụ Kết, Trụ linh sẽ vận hành tiếp quy trình tuần
hoàn là Định.
Tự động Định:
Định
ở giai đoạn này là giai đoạn thông qua cảnh giới chân tâm rất cao, đó là thông
qua năng lượng chân tâm chói lòa của từ Trụ linh gốc cho tới hệ thống sợi chân
tâm của cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh để chuyển hóa năm
nhóm năng lượng di chuyển tới Trụ linh.
Nếu
là các nhóm năng lượng sóng điện dương, nhóm năng lượng chân tâm, nhóm năng lượng
âm sẽ được Trụ linh hấp thụ về, năng lượng chân tâm chói lòa sẽ vận hành để trung
hòa, tạo thành liên kết cho việc phân tách các siêu hạt năng lượng ở giai đoạn
Tỏa.
Tự động Tỏa:
Giai
đoạn tự động Tỏa là giai đoạn mà siêu hạt năng lượng dương gốc cho tới các siêu
hạt năng lượng dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ
linh sẽ thực hiện hai nhiệm vụ:
-
Sau khi những hạt năng lượng có sóng điện âm và năng lượng hoại diệt
di chuyển được vào Trụ linh thông qua giai đoạn Kết đã bị ngủ đông thành hạt
bóng hỏa, hệ thống siêu hạt năng lượng dương sẽ truyền sóng điện để giảm tải
sóng điện âm và kích nổ năng lượng hoại diệt đã bị ngủ đông.
-
Sau khi kích nổ được năng lượng hoại diệt đã bị ngủ đông trong Trụ
linh để tạo thành nhiệt lượng, cả siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu ly và siêu
hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh trong Trụ linh gốc sẽ phân tách ra vô số
siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu ly và vàng óng ánh.
Như
vậy, giai đoạn Tỏa là giai đoạn mà Trụ linh sẽ vận hành việc truyền tải sóng điện
dương siêu mạnh để kích nổ năng lượng hoại diệt và thực hành nhiệm vụ phân tách
ra vô số siêu sợi mã sóng trí tuệ và siêu hạt năng lượng dương và âm ra bên
ngoài Trụ linh và Vũ trụ. Đó là tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng
bên ngoài Trụ linh và phân tách siêu năng lượng dương vào Vũ trụ.
Giai
đoạn Tỏa chính là giai đoạn mà Tuệ linh, chân tu thực hành việc Phổ độ, Hóa độ
tới hết thảy Tuệ linh, con người về cội nguồn nhân loại, về kế hoạch tu hành, về
hai Chân lý, về cơ chế phân tách liên kết, về Quy luật Nhân quả, về con đường
chuyển sinh, về phương pháp diệt khổ, về phương pháp chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng. Việc thực hiện Phổ độ, Hóa độ càng sâu sắc và phổ rộng sẽ giúp cho Trụ
linh trong Tuệ linh phân tách ra vô số cho tới vô lượng các siêu hạt năng lượng
dương màu vàng óng ánh và vô số siêu hạt năng lượng âm màu xanh ngọc lưu ly.
Quy
trình vận hành của bộ lọc năng lượng kép được vận hành tuần hoàn theo vòng tròn
Kết – Định – Tỏa. Bộ lọc năng lượng liên tục vận hành mà không ngừng nghỉ. Việc
bộ lọc năng lượng kép vận hành Kết – Định – Tỏa sẽ cùng lúc sản sinh ra các
siêu hạt năng lượng màu vàng óng ánh và các siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu
ly để di chuyển vào Vũ trụ và đối tượng được nghe, được tiếp nhận và phát triển
cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Đó là cấu trúc 16 hạt
năng lượng mở rộng với tỷ lệ vàng là 1 siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng
ánh có 1 siêu hạt năng lượng âm có màu xanh ngọc lưu ly rung lắc xung quanh.
Như
vậy, đạt được bộ lọc năng lượng đơn là bước đệm để đạt được bộ lọc năng lượng
kép. Chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng kép là mục đích tối thượng của
Tuệ linh trên hành trình duy trì, phát triển bền vững sự sống của chính mình, của
vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.
III. Chân
lý Vạn vật của Bộ lọc năng lượng
Chân
lý Vạn vật của bộ lọc năng lượng sẽ là: Bộ
lọc năng lượng không tự sinh ra, bộ lọc năng lượng không tự mất đi, khổ đau của
Tuệ linh không tự đến và không tự đi, tất cả do cơ chế phân tách và liên kết
dây.
Vận
hành Chân lý Vạn vật để chuyển hóa Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng
là phân tách và liên kết dây, đó là thực hành phân tách và liên kết dây theo hướng
chuyển sinh bền vững an lạc trong một môi trường tu hành khắc nghiệt và không
có gì ngoài khổ đau ở nhân gian. Đó chính là thông qua môi trường tu hành với đầy
đủ các loại sóng điện và sự tương tác cực đại của năng lượng hoại diệt để Tuệ
linh và con người giải mã được độc Tâm, từ đó thông qua hai Chân lý với cơ chế
phân tách và liên kết theo hướng bền vững để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng.
1. Bộ lọc
năng lượng không tự sinh ra
Bộ lọc năng lượng không tự
nhiên mà có. Để có được bộ lọc năng lượng, hết thảy Tuệ linh và con người phải:
-
Phải phát nguyện tu hành ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo
trong nhiều kiếp. Việc tu hành ở nhân gian trong nhiều kiếp nhằm giúp Trụ linh
bộc phát hết độc tâm, kích hoạt triệt để thiện tâm, từ đó mới giúp cho Tuệ linh
thấu hiểu được con đường hoại diệt và con đường an lạc.
- Môi trường tu hành khắc nghiệt
ở nhân gian không có gì ngoài khổ đau là để giúp cho Tuệ linh và con người thấu
hiểu được Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và
liên kết dây. Từ cơ chế phân tách và liên kết dây sẽ giúp cho Tuệ linh và con
người thấu hiểu được giá trị của con đường chuyển sinh bền vững.
-
Tuệ linh và con người sau hành trình tu hành sẽ phải thấu hiểu tận
cùng về cội nguồn, kế hoạch tu hành, Quy luật Nhân quả, con đường diệt khổ
thông qua hình tướng và Tâm Đạo.
-
Then chốt cho việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng chính
là phải Phổ độ, Hóa độ. Đó là thuyết giảng giáo pháp giác ngộ về cội nguồn nhân
loại, kế hoạch tu hành, hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết dây, con
đường diệt khổ thông
qua hình tướng và tâm tướng Đạo, Quy luật Nhân quả và con đường chuyển sinh bền
vững thành bộ lọc năng lượng tới hết thảy Tuệ linh, con người. Quá trình Phổ độ,
Hóa độ chính là quá trình mà Tuệ linh và con người thực hành phân tách và liên
kết năng lượng để tạo ra đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc chuyển hóa Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng.
Do
vậy, để Trụ linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng đòi hỏi một hành trình dài
cho việc học tập, thấu hiểu và thực hành theo tri thức của hai Chân lý. Chỉ có
thấu hiểu và thực hành theo tri thức của hai Chân lý mới giúp Tuệ linh và con
người chuyển sinh thành công Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.
Có
thể hiểu rằng, thấu và thực hành theo Chân lý Vạn vật chính là liên kết và vận
hành được Kết trong hạt năng lượng âm gốc và thái cực năng lượng âm trong Trụ
linh. Thấu và thực hành được Chân lý Giác ngộ chính là phân tách và liên kết được
vững chắc hạt năng lượng dương gốc và thái cực dương trong Trụ linh. Quá trình
vận hành hai Chân lý sẽ giúp cho Tuệ linh đang vận hành cơ chế phân tách và
liên kết theo hướng bền vững và an lạc. Đó là con đường đắc được bộ lọc năng lượng
viên mãn.
2. Bộ lọc
năng lượng không tự mất đi
Khi
đã đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, Tuệ linh vẫn sẽ có thể hỏng và vỡ
bộ lọc năng lượng nếu:
-
Tuệ linh không thực hành Kết – Định – Tỏa để chuyển hóa năng lượng hoại
diệt thành các siêu hạt năng lượng. -
Tuệ linh không tiếp tục vận hành hai Chân lý với cơ chế phân tách và
liên kết dây, tức là Tuệ linh không thực hành Phổ độ, Hóa độ hết thảy chúng
sinh, Tuệ linh và con người.
Dù
Tuệ linh có đắc được bộ lọc năng lượng mà không thực hành Kết – Định – Tỏa,
không vận hành hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết theo hướng bền vững
thì Tuệ linh cũng sẽ thối hóa bộ lọc năng lượng và sẽ chuyển sinh theo hướng
phân rã và hoại diệt. Và ngược lại, bộ lọc năng lượng của Tuệ linh sẽ không thể,
không bao giờ bị vỡ hoặc bị hoại diệt nếu Tuệ linh thực hành Kết – Định – Tỏa
và vận hành hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết theo hướng bền vững.
3. Khổ đau của Tuệ linh đến và chấm dứt là do cơ chế phân tách, liên kết
dây
Khổ đau của Tuệ linh chính là:
-
Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng
bền vững nhưng chưa đắc được bộ lọc năng lượng.
-
Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng
phân rã và hoại diệt.
-
Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt phân rã làm đứt liên kết dây và hoại
diệt.
Như
vậy, khổ đau của Tuệ linh là do cơ chế phân tách và liên kết dây chưa đạt được
việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Bởi khi chưa đạt được bộ lọc
năng lượng thì Trụ linh và Tuệ linh vẫn
dễ dàng bị hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt làm cho phân rã và hoại diệt.
Để chấm dứt hết khổ đau của Tuệ linh, Tuệ linh
phải:
- Tuệ linh phải thấu hiểu Chân
lý Vạn vật để thấu hiểu: + Thấu hiểu cội nguồn Vũ trụ.
+ Thấu hiểu bản chất hình tướng
Đạo của Vũ trụ. + Thấu hiểu bản chất Tâm Đạo của Vũ trụ.
+
Thấu hiểu cơ chế phân tách và liên kết với các con đường chuyển sinh của
hết thảy Tuệ linh và Vũ trụ.
-
Tuệ linh phải thấu hiểu Chân lý Giác ngộ với cơ chế phân tách và liên
kết theo hướng chuyển sinh bền vững.
-
Sau khi thấu hiểu hai Chân lý, Tuệ linh phải thực hành Phổ độ, Hóa độ.
Đó là thuyết giảng tri thức của hai Chân lý tới hết thảy Tuệ linh và con người
cùng thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Thấu
và thực hành hai Chân lý theo con đường thuyết pháp Phổ độ, Hóa độ tới hết thảy
Tuệ linh và con người sẽ chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn,
Tuệ linh chỉ khi thực hiện chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mới
chấm dứt triệt để khổ đau. Khi đó, Tuệ linh sẽ an lạc. Khi đó, Tuệ linh mới có
niết bàn thật sự. Đó là sự an lạc tự tại của cơ chế vận hành Kết – Định – Tỏa
chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành các siêu hạt năng lượng giúp bảo vệ, phát
triển bền vững hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người.
IV. Chân
lý Giác ngộ của Bộ Lọc Năng Lượng
Chân
lý Giác ngộ của bộ lọc năng lượng là: Để
đắc được bộ lọc năng lượng là bể khổ. Tuệ linh phải dùng Định trong Trụ linh để
đối mặt, giác ngộ chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa.
Từ
bản chất của bộ lọc năng lượng, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế
vận hành là phân tách và liên kết, hết thảy Tuệ linh và con người đều thấy rằng:
Con đường duy nhất để vượt qua khổ đau của Tuệ linh chính là phải đắc được bộ lọc
năng lượng. Bộ lọc năng lượng là đích đến mà hết thảy Tuệ linh, con người phải
thực hiện nếu muốn diệt khổ để an lạc và bền vững cấu trúc Trụ linh và Tuệ
linh.
Vì
để đắc được bộ lọc năng lượng là bể khổ của Tuệ linh, nên Tuệ linh phải dùng Định
trong Trụ linh để đối mặt, chạy đua với thời gian học tập, thấu hiểu và thực
hành Kết – Định – Tỏa. Thấu hiểu và thực hành cùng với chạy đua với thời gian mới
có cơ hội chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Khi
đắc được bộ lọc năng lượng chính là chấm dứt khổ đau. Tuy nhiên, để vận hành bộ
lọc được bất tử và an lạc tuyệt đối. Tuệ linh sẽ phải tiếp tục Phổ độ, Hóa độ tới
hết thảy chúng sinh và Tuệ linh, con người. Đó là thuyết pháp về tri thức của
hai Chân lý để giúp cho hết thảy Tuệ linh và con người cùng thấu hiểu và thực
hành con đường chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Khi trong Vũ trụ có
nhiều hơn một Tuệ linh có được bộ lọc năng lượng viên mãn sẽ càng giúp cho Vũ
trụ có được nhiều cho tới vô lượng các siêu hạt năng lượng để bảo vệ, phát triển
Vũ trụ bền vững an lạc. Không những vậy, ngoài hai siêu hạt năng lượng vàng óng
ánh và xanh lưu ly, Tuệ linh có bộ lọc năng
lượng kép còn sản sinh ra các siêu hạt năng lượng kỳ diệu hơn để bảo vệ sự sống
bền vững cho cả không gian năng lượng hoại diệt bên ngoài Vũ trụ.
Bảo
vệ, phát triển bền vững hết thảy Tướng ở bên trong và bên ngoài Vũ trụ chính là
giá trị giác ngộ vô lượng đã đạt được của Tuệ linh bởi Đạo hợp nhất của Vũ trụ
đã được hình thành. Chính vì giá trị vô lượng cho hết thảy Tướng ở bên trong và
bên ngoài Vũ trụ, hết thảy Tuệ linh và con người cần thực hành tri thức của Đạo
hợp nhất Vũ trụ, đó là tri thức của hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết
chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc.
Chỉ
khi có được bộ lọc năng lượng mới là bất tử của Tuệ linh, mới là niết bàn của
Tuệ linh, mới là an lạc và bền vững tuyệt đối của Tuệ linh, mới không bị phân
rã và hoại diệt, mới là Quả vị tối thượng. Do đó, sẽ không có bất cứ phẩm vị
nào, bất cứ Quả vị nào, bất cứ danh hiệu nào mà nhân loại ca tụng sẽ an lạc, sẽ
là niết bàn, sẽ là tối thượng, sẽ là bất tử nếu chưa đắc được bộ lọc năng lượng.
Bởi nếu chưa đắc được bộ lọc năng lượng thì hết thảy Tuệ linh đều có nguy cơ từ
thấp cho tới cao sẽ bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn. Do đó, chỉ có danh hiệu
duy nhất, Quả vị duy nhất, phẩm vị duy nhất, thành tựu duy nhất là Quả vị Quả
Không – Bộ lọc năng lượng của Tuệ linh.
Bài 8:
Bài Nguyện
²
Bài Nguyện được hiểu là Nguyện Vô Nguyện.
Bài
Nguyện Vô Nguyện gồm 3 phần. Chữ Nguyện đầu tiên là khái niệm và bản chất trong
Nguyện của Tuệ linh. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật trong Nguyện của Tuệ linh. Chữ
Nguyện cuối cùng là Chân lý Giác ngộ trong Nguyện của Tuệ linh.
I. Khái
niệm về Nguyện
Nguyện là sự tự phát nguyện
để truy tìm Đạo giải thoát khổ đau cho Tuệ linh và Vũ trụ thông qua việc tu
hành trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.
Nguyện
chính là những mong muốn thực hiện được và phải là sự tự phát ra từ chính chỉnh
thể của sự sống chứ không chịu bất kỳ sự ép buộc hay bị bắt buộc từ chỉnh thể sự
sống khác. Thậm chí nguyện không chịu sự chi phối từ những yếu tố chủ quan của
những chỉnh thể sống khác.
II. Bản
chất của Nguyện
Khi
nói đến nguyện là ta phải hiểu được cội nguồn sự hình thành, phát triển của Vũ
trụ, cội nguồn của dạng sống Tuệ linh, cội nguồn của nhân loại. Cội nguồn của
nhân loại chính là các Tuệ
linh của dạng sống Tuệ linh ở cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ, phát nguyện xuống
Trái đất tạo ra dạng sống của nhân loại để tu hành. Do đó nguyện sẽ được chia
ra làm đại nguyện của các Tuệ linh và tâm nguyện của chân tu là con người.
1. Đại nguyện
của Tuệ linh
Nói
đến đại nguyện là nói tới nguyện lực của dạng sống Tuệ linh hóa thân thành con
người tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian để truy tìm Đạo hợp nhất
của Vũ trụ. Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính là đắc được bộ lọc năng lượng trong
Trụ linh của mỗi Tuệ linh, bởi khi đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh
chính là kết quả của việc các Tuệ linh đã thấu hiểu tận cùng về hình tướng Đạo
của Vũ trụ, thấu hiểu Tâm Đạo của Vũ trụ là con đường diệt khổ đau.
Nguyên
nhân của việc dạng sống Tuệ linh phát đại nguyện hóa thân xuống nhân gian tu
hành để truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ Trụ:
-
Vô số Tuệ linh bị hoại diệt. Bị hoại diệt vô số là do năng lượng hoại
diệt đồng hóa và phân rã Tuệ linh.
-
Vũ trụ cạn kiệt năng lượng và không có cơ chế phòng thủ trước sự tấn
công của năng lượng hoại diệt. Khi Vũ trụ cạn kiệt năng lượng vận hành quay
tròn, năng lượng hoại diệt sẽ tấn công tổng lực và Vũ trụ sẽ bị phân rã hoàn
toàn.
- Dạng sống Tuệ linh vẫn chưa
thấu hiểu được bản chất của mình nên chưa kiểm soát được độc và thiện trong Trụ
linh. Dạng sống Tuệ linh cũng không thấu hiểu bản chất của năng lượng hoại diệt
nên không có cơ chế phòng thủ cũng như chuyển hóa được năng lượng hoại diệt. Dạng
sống Tuệ linh chưa thấu
hiểu tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ nên chưa thể tìm ra cơ chế bảo vệ vạn
vật cùng tồn tại phát triển bền vững.
- Sự an lạc của dạng sống Tuệ
linh khi chưa bị trói buộc bởi thân tướng giản đơn không phải là môi trường lý
tưởng để giúp Tuệ linh bộc phát được độc và thiện Tâm. Khi chưa bộc phát được độc
và thiện Tâm thì Tuệ linh sẽ không bao giờ hiểu được chính mình, khi đó sẽ
không bao giờ thấu hiểu được năng lượng hoại diệt và tất cả vật chất trong và
ngoài Vũ trụ.
Từ
những nguyên nhân trên, nên dạng sống Tuệ linh chưa giải mã được toàn diện từ
chính bản thể mình cho tới vạn vật và năng lượng hoại diệt. Đây là chưa thấu hiểu
hình tướng vạn vật xung quanh Tuệ linh, là chưa thấu hiểu hình tướng Đạo của Vũ
trụ. Vì dạng sống Tuệ linh và vạn vật đều tồn tại và mang trong mình khổ đau
cho đến hoại diệt, đó là chưa thấu hiểu Tâm đạo với con đường diệt khổ. Chính
vì môi trường không thuận lợi để giúp dạng sống Tuệ linh thấu hiểu, truy tìm được
Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu mình, cứu Vũ trụ, nên vị Tuệ linh đầu tiên đã
xây dựng ra môi trường tu hành đảm bảo được điều kiện lý tưởng cho dạng sống Tuệ
linh tu học để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ Trụ. Khi thời cơ chín muồi, vị Tuệ
linh đầu tiên đã tập kết đại hội Tuệ linh thống nhất phương pháp tu hành để Tuệ
linh phát đại nguyện hóa thân xuống nhân gian tu hành.
Vị
Tuệ linh đầu tiên tập kết đại hội thống nhất phương pháp tu học cho dạng sống
Tuệ linh. Đại hội tập kết diễn ra như sau: Trong
cuộc triệu tập Hội đồng của chư vị Tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ,
vị Tuệ linh đầu tiên trầm ngâm nhìn vào một đĩa thức ăn trắng trên bàn. Trong
suy nghĩ lúc đó của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ
linh đều nghĩ là làm sao việc đưa các Tuệ linh xuống làm con người phải đạt được
thành tựu là tìm ra được phương thuốc cứu lại các Tuệ linh và Vũ trụ. Sự suy tư
mang theo tâm trạng trầm ngâm khi nhìn vào đĩa thức ăn trắng trên bàn (tất
nhiên thức ăn đó là do năng lượng tạo ra). Suy tư một lúc lâu, vị Tuệ linh đầu
tiên liền nói với một Tuệ linh khác: “Hãy mang những con rắn độc ra đây”. Sau
đó có một Tuệ linh mang ra những con rắn độc, có nhiều con nhỏ và một con to. Vị
Tuệ linh đầu tiên lấy những con rắn nhỏ trộn vào đĩa thức ăn đó, tiếp đến thả
hai con rắn, trong đó có một con to xuống nền đất. Hai con rắn đó trườn vào những
bụi cây xung quanh đó. Vị Tuệ linh đầu tiên nhìn vào đĩa thức ăn đã trộn với rắn
độc mà nói: “Để cứu được các Tuệ linh và Vũ trụ, chỉ có thể lấy độc trộn vào
chân tâm (thức ăn trắng) mới tìm ra phương thuốc cứu lại Tuệ linh và Vũ trụ”. Vị
Tuệ linh đầu tiên tiếp tục nói rằng: “Ngoài những độc tố lẫn trong chính chân
tâm, ác tâm xen kẽ thiện tâm thì cần phải có thế lực ác tâm bên ngoài tác động
vào; Môi trường tu hành nơi nhân gian sẽ như vậy”. “Để tìm được Đạo hợp nhất của
Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian”. Đó là câu nói của vị Tuệ
linh đầu tiên.
Như
vậy, tại đại hội tập kết Tuệ linh về phương pháp tu học ở nhân gian, vị Tuệ
linh đầu tiên đã quán triệt phương pháp tu học thông qua 3 hình ảnh về những
con rắn độc. Cụ thể như sau:
-
Những con rắn độc nhỏ được trộn vào đĩa thức ăn trắng là những độc tâm
của mỗi Tuệ linh. Hình ảnh đó tượng trưng các độc tâm đang bị ẩn giấu trong mỗi
Tuệ linh và chưa được bộc phát ra. -
Một con rắn nhỏ bên ngoài được thả ra là tượng trưng cho độc tâm có
trong vạn vật, trong tất cả các cấu trúc vật chất. Độc tâm đó cũng đang bị ẩn
giấu.
-
Con rắn to được thả ra tượng trưng cho năng lượng hoại diệt. Đó là độc
tâm to nhất đối với tất cả các nhóm vật chất trong Vũ trụ và cả dạng sống Tuệ
linh.
Thông
qua 3 hình ảnh về những con rắn độc: Tất cả các Tuệ linh sẽ phải tương tác với
nhau trong tất cả các kịch bản trong các điều kiện môi trường sóng điện khác
nhau để bộc phát hết độc tâm của chính mình, của vạn vật và của năng lượng hoại
diệt. Khi bộc phát được hết độc tâm chính là quá trình Tuệ linh sẽ giải mã được
thông tin toàn diện nhất về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sau khi giải
mã được thông tin toàn diện, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ nghiên cứu, tìm được được
Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Để bộc phát hết độc
tâm cũng như tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh sẽ phải thông
qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.
Như
vậy, kết quả của đại hội thống nhất phương pháp tu học của dạng sống Tuệ linh ở
nhân gian gồm có 2 điều:
-
Tuệ linh thông qua thân tướng con người phải tương tác với nhau trong
tất cả các kịch bản, trong tất các môi trường sóng điện khác nhau để bộc phát hết
độc tâm của mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt.
-
Phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới tìm được Đạo hợp nhất
của Vũ trụ. Đạo hợp nhất chính là bộ lọc sản sinh năng lượng viên mãn để sản
sinh ra các siêu hạt năng lượng cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Sau
đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu học ở nhân gian, những Tuệ linh đầu
tiên đã phát đại nguyện tiên phong đi xây dựng nhân loại. Có thể thấy rằng, việc
phát đại nguyện truy tìm Đạo hợp nhất Vũ trụ chính là dạng sống Tuệ linh đang
truy tìm con đường duy trì sự tồn tại, phát triển bền vững của mình và của cả vạn
vật trong và ngoài Vũ trụ.
Tất
cả các Tuệ linh nếu muốn an toàn trước năng lượng hoại diệt, nếu muốn phát triển
bền vững thì không có con đường nào khác là phát đại nguyện xuống nhân gian tu
hành. Không có vị nào bắt ép các Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian. Tất cả các
Tuệ linh muốn xuống nhân gian tu hành phải phát nguyện với vị Tuệ linh đầu
tiên, sau đó được sắp xếp kế hoạch tu hành cho từng Tuệ linh. Mỗi Tuệ linh xuống
nhân gian sẽ được xây dựng thành từng cây nhân quả. Giữa các Tuệ linh sẽ có sự
liên kết kỳ diệu giữa các cây nhân quả để việc tu hành sẽ có tất cả các kịch bản
tương tác trên hành trình tu hành ở nhân gian.
Đại
nguyện xuyên suốt của tất cả dạng sống Tuệ linh là cải tạo Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng thông qua tu hành trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.
Những
đại nguyện nhỏ của những Tuệ linh nghiên cứu và phát triển môi trường tu hành sẽ
được thực hiện trong quá trình phát triển của nhân loại. Chính vì điều này,
nhân loại trải qua từng thời kỳ đều có những bậc vĩ nhân xuất hiện để phát triển
kinh tế, khoa học, văn hóa, đạo đức, triết học… Tất cả những vị Tuệ linh thực
hiện đại nguyện nhỏ này đều phải thực hiện đại nguyện duy nhất là cải tạo Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng. Tất
cả các Tuệ linh phát đại nguyện xuống tu hành ở nhân gian là để bộc phát hết độc
Tâm, triệt được độc Tâm, kích hoạt được thiện Tâm. Do đó, trong tương tác với tất
cả các kịch bản thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới giúp cho các Tuệ
linh bộc phát để thấu hiểu chính mình, thấu hiểu vạn vật và thấu hiểu năng lượng
hoại diệt.
Để
dẫn dắt dạng sống Tuệ linh tu hành ở nhân gian, vị Tuệ linh đầu tiên cũng luân
hồi ở nhân gian ở những thời điểm quan trọng. Vị Tuệ linh đầu tiên ngoài việc
cùng tu hành với các Tuệ linh ở nhân gian, Ngài sẽ phải thống kê, giải mã, mã
hóa sự thật của vạn vật, của Tuệ linh, của năng lượng hoại diệt, sau đó là chuyển
hóa thành phương pháp để giúp cho dạng sống Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng sau khi tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
Khi
các Tuệ linh xuống nhân gian tu hành, họ sẽ không được biết mình là ai, trí tuệ
của Tuệ linh sẽ bị phong tỏa. Đây chính là sự trói buộc Tuệ linh trong thân tướng
để giúp cho con người chìm vào khổ đau kiếp nạn, an vui hạnh phúc. Điều này sẽ
giúp cho Tuệ linh nhanh tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Chỉ khi hoàn thành đại
nguyện cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mới được coi là hoàn thành đại
nguyện.
2. Tâm nguyện
của con người
Nói
tới tâm nguyện thì đó là nói đến con người. Đó là sự mong muốn và phát ra nguyện
lực để thực hiện được mong muốn đó.
Khi
các Tuệ linh hóa thân làm người, họ bị che đi tất cả trí tuệ của Tuệ linh. Họ sẽ
thông qua những sóng điện trong Tâm được truyền ra não bộ để kích thích chân tu
tìm hiểu, nghiên cứu, trải
nghiệm và thực hành sứ mệnh đại nguyện của Tuệ linh. Tùy vào mức độ thành tựu
hay chưa đạt được thành tựu trên hành trình tu hành ở nhân gian mà hội đồng Tuệ
linh sẽ hỗ trợ, dẫn dắt những chân tu đó trên hành trình tu học ở nhân gian. Những
tôn giáo là những chỉ dẫn, là những gợi nhắc của hội đồng Tuệ linh đến với các
chân tu ở nhân gian, đó là giúp cho con người có niềm tin vào cội nguồn, có niềm
tin vào việc truy tìm con đường diệt khổ để trở về quê hương. Những đau khổ tột
cùng của mỗi chân tu cũng là những dấu hiệu nhận biết để giúp chân tu tìm hiểu
và thực hành sứ mệnh đại nguyện cho Tuệ linh.
Tuy
nhiên, đời sống con người bởi sự phong phú về giả tướng sẽ khiến cho họ chìm đắm
mà không tin cũng như không thực hành đại nguyện của mình. Chính vì vậy, những
thời điểm quan trọng của các bước ngoặt lịch sử và sự thành công của con đường
tìm được Đạo hợp nhất Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên lại có kế hoạch dẫn dắt và
truyền dạy tri thức để thức tỉnh toàn bộ nhân loại thực hành đại nguyện cho Tuệ
linh.
Đại
nguyện của Tuệ linh phải được hợp nhất với Tâm nguyện của chân tu. Đó sự hợp nhất
giữa Thân – Tâm – Trí cùng thực hành đại nguyện chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng. Đó là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
Khi
Tuệ linh nào đó đã đắc được bộ lọc năng lượng, khi cần thiết vào những thời điểm
cần phải hóa thân xuống nhân gian để cứu giúp nhân loại cũng như dẫn dắt họ tu
hành đắc được bộ lọc thì họ sẽ lại hóa thân làm người. Đây là quyền tự do của
Tuệ linh khi đã hoàn thành đại nguyện mà không ai áp đặt hay cấm đoán họ không
được phép hóa thân xuống nhân gian để phổ độ, hóa độ chúng sinh. 3. Kết quả
hành trình tu hành ở nhân gian
Tất
cả các Tuệ linh nguyện xuống tu hành trong thân tướng con người, trong nhiều kiếp,
trong đau khổ tột cùng, trong an vui hạnh phúc. Tất cả điều đó sẽ giúp cho vị
Tuệ linh đầu tiên thấu hiểu được toàn diện bản chất độc tâm và thiện tâm của Tuệ
linh. Khi các bản chất của Trụ linh bộc phát hết ra, Ngài sẽ thấu hiểu được các
cơ chế vận hành tương tác, các bản chất của hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ.
Khi đó Ngài sẽ thấu hiểu hình Tướng Đạo và tìm được Tâm Đạo. Đó là Ngài thấu hiểu
con đường diệt được khổ đau cho dạng sống Tuệ linh thông qua hình tướng Đạo đã
được thấu hiểu. Đó là để tìm ra được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, hết thảy Tuệ linh
sẽ phải sống và truy tìm Đạo giải thoát khổ đau ở nhân gian.
Kết
quả với thành tựu vô lượng của Vũ trụ là Ngài cùng với tất cả Tuệ linh thông
qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian đã tìm được con đường diệt khổ viên mãn nhất,
đó là Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ. Chân lý Vạn vật để giúp Tuệ linh và
con người thấu hiểu Tướng Đạo, Chân lý Giác ngộ là Tâm Đạo để giúp cho Tuệ linh
và con người diệt khổ đau bằng con đường chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng
lượng viên mãn.
Như
vậy, Ngài đã tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ
trụ, Ngài cùng hết thảy Tuệ linh tu hành và tìm ra được Đạo Giác Ngộ viên mãn ở
nhân gian.
III. Chân
lý Vạn vật của Nguyện
Chân
lý Vạn vật của Nguyện sẽ là: Nguyện không
tự sinh ra, Nguyện không tự mất đi, khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ không tự đến
và không tự đi, tất cả do cơ chế phân tách và liên kết dây.
Vận
hành Chân lý Vạn vật của Nguyện chính là cơ chế phân tách và liên kết dây.
Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây để truy tìm được cội nguồn quá khứ,
để thấy bản chất, căn nguyên, con đường chuyển sinh của hết thảy Tuệ linh và Tướng
trong và ngoài Vũ trụ. Vì vậy, thông qua Chân lý Vạn vật với cơ chế phân tách
và liên kết dây sẽ giúp cho hết thảy Tuệ linh và con người thấu hiểu con đường
để tồn tại và diệt khổ chính là phát đại nguyện tu hành ở nhân gian.
Nguyện
tu hành ở nhân gian để thông qua khổ đau nhằm bộc phát hết độc tâm, kích hoạt
triệt để thiện Tâm, từ đó tìm được Đạo giải thoát khổ đau. Đó là con đường cứu
cánh duy nhất để giúp Tuệ linh tìm được Đạo giải thoát khổ đau của mình, của vạn
vật trong và ngoài Vũ trụ. Đó là con đường duy nhất để cứu Tuệ linh và Vũ trụ.
1. Nguyện
không tự sinh ra
Nguyện
của hết thảy Tuệ linh chính là tự phát, là xin được xuống nhân gian tu hành
trong thân tướng con người. Không có sự cưỡng ép hay bắt buộc Tuệ linh phải chịu
đọa đày đau khổ ở nhân gian.
Nguyện
của Tuệ linh truy tìm Đạo giải thoát ở nhân gian không tự sinh ra là vì:
-
Vô số Tuệ
linh bị hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt.
-
Vũ trụ cũng cạn kiệt năng lượng và sẽ hoại diệt. Vũ trụ hoại diệt thì
Tuệ linh cũng hoại diệt.-
Các Tuệ linh không bộc phát hết được độc Tâm, không kích hoạt được thiện
Tâm, nên họ không hiểu chính họ, họ không tìm được con đường cứu họ bởi sự tấn
công của năng lượng hoại diệt.
-
Các Tuệ linh đã từng thành lập các hội đồng nghiên cứu năng lượng để
truy tìm Đạo giải thoát nhưng thất bại. Thất bại vì môi trường tu luyện không
có độ nén để tạo ra các phản ứng năng lượng giữa các Trụ linh của các Tuệ linh.
-
Vũ trụ chưa có Đạo hợp nhất bởi Tướng Đạo và Tâm Đạo. Tức là Tuệ linh
không thấu hiểu bản chất của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, của mình nên không
thấu hiểu hình tướng Đạo. Vì không thấu hiểu hình tướng Đạo nên không thấu hiểu
Tâm Đạo, đó là không thấu hiểu nguyên nhân khổ đau, con đường diệt khổ đau cho
mình và vạn vật.
Chính
vì vậy, vị Tuệ linh đầu tiên xây dựng môi trường tu hành không gì ngoài khổ đau
và khắc nghiệt để các Tuệ linh xuống làm thân tướng con người tu hành. Môi trường
tu hành đảm bảo độ nén, đảm bảo sự tương tác tột cùng bí bách để giúp cho các
phản ứng năng lượng xảy ra giữa các Tuệ linh ở nhân gian được bộc phát hết độc
tâm, kích hoạt được triệt để thiện Tâm, sau đó sẽ tìm được Đạo hợp nhất Vũ trụ.
Do
đó, hết thảy Tuệ linh đã phát nguyện, đã xin được an trụ trong thân tướng con
người để tu hành ở nhân gian. Đó là nguyện để truy tìm được Đạo hợp nhất của Vũ
trụ thông qua hình tướng Đạo ở nhân gian để tìm được Đạo giải thoát khổ đau.
2. Nguyện
không tự diệt
Nguyện
không tự chấm dứt. Tức là nguyện của Tuệ linh trong việc truy tìm Đạo hợp nhất
của Vũ trụ không tự chấm dứt. Nó chỉ chấm dứt khi:
-
Tuệ linh nào đó trong Vũ trụ tìm ra được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
-
Trong Đạo hợp nhất của Vũ trụ đó phải có giáo lý giúp cho Tuệ linh,
con người thấu hiểu tận cùng về Tướng Đạo và Tâm Đạo giải thoát khổ đau của Tuệ
linh, con người, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.
-
Các Tuệ linh ứng dụng giáo lý Đạo hợp nhất đó để chuyển hóa Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng viên mãn.
Muốn
chấm dứt được nguyện, các Tuệ linh phải thực hành giáo lý Đạo hợp nhất Vũ trụ để
chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Khi đó, Tuệ linh sẽ không
phải luân hồi ở nhân gian. Tuệ linh có bộ lọc năng lượng sẽ vận hành cơ chế Kết
– Định – Tỏa để hấp thụ năng lượng hoại diệt và sản sinh ra các siêu hạt năng
lượng bảo vệ, phát triển bền vững trong và ngoài Vũ trụ.
Nguyện
của mỗi Tuệ linh sẽ chấm dứt khi chưa chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng mà đã bị hoại diệt. Sự chấm dứt của nguyện trong trường hợp này
không phải là điều mà các Tuệ linh mong muốn. Đó là sự thất bại.
3. Khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ không tự đến và không tự chấm dứt
Khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ chính là do:
-
Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng
bền vững nhưng chưa đắc được bộ lọc năng lượng.
-
Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng
phân rã và hoại diệt.
-
Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt phân rã làm đứt liên kết dây và hoại
diệt.
-
Vũ trụ bị
năng lượng hoại diệt làm phân rã và hoại
diệt.
Như
vậy, khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ là do cơ chế phân tách và liên kết dây chưa
đạt được việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Bởi khi chưa đạt được
bộ lọc năng lượng thì Trụ linh của Tuệ linh và Vũ trụ vẫn dễ dàng bị hoại diệt
bởi năng lượng hoại diệt làm cho phân rã và hoại diệt.
Để
chấm dứt hết khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ, Tuệ linh phải:
-
Tuệ linh phải thấu hiểu bản chất của Tướng Đạo và Tâm Đạo của Vũ trụ,
đó là tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
-
Tuệ linh phải thực hành theo giáo lý của Đạo hợp nhất Vũ trụ trong việc
chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng và sản sinh ra các siêu hạt năng lượng.
-
Tuệ linh phải thực hành Phổ độ, Hóa độ giáo lý giác ngộ của Đạo hợp nhất
Vũ trụ tới hết thảy Tuệ linh và con người cùng thực hành cải tạo Trụ linh thành
bộ lọc năng lượng viên mãn.
Do
vậy, để chấm dứt được khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ chính là hết thảy Tuệ
linh, con người cùng thực hành con đường giải thoát khổ đau thông qua giáo lý
hai Chân lý với cơchế phân tách và
liên kết theo hướng bền vững, đó là tu hành và đắc được bộ lọc năng lượng viên
mãn thông qua Đạo hợp nhất Vũ trụ đã tìm được.
IV. Chân
lý Giác ngộ của Nguyện
Chân
lý Giác ngộ của Nguyện là: Nguyện là bể
khổ. Tất cả Tuệ linh phải dùng Trụ linh để đối mặt, hoàn thành việc truy tìm được
Đạo hợp nhất Vũ trụ và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Cơ
chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân
tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết, đó là:
-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết.
Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con
đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.
-
Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương, đó là
Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân tách, liên kết vô lượng
hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là con đường
chuyển sinh bền vững nhất.
Nguyện
là bể khổ. Không nguyện cũng là bể khổ. Bởi không nguyện để khổ đau ở nhân gian
thì cũng sẽ bị hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt. Do đó, có nguyện hay không
thì cũng là bể khổ. Nguyện tuy là bể khổ nhưng thông qua khổ đau bởi môi trường
tu hành, Tuệ linh sẽ tìm được Tâm Đạo giải thoát khổ đau trong bốn hình tướng Đạo
ở nhân gian.
Chỉ
có con đường duy nhất để tìm được Đạo giải thoát khổ đau cho Tuệ linh và Vũ trụ
là phải nguyện xuống nhân gian để tu hành.
Đó là con đường duy nhất. Con đường duy nhất này mới giúp cho Tuệ linh chuyển
hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Vì nguyện tu hành ở nhân gian là con đường
duy nhất để cứu Tuệ linh và Vũ trụ, nên hết thảy Tuệ linh phải dùng Trụ linh để
đối mặt và chạy đua với thời gian để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Đạo
hợp nhất Vũ trụ đã được tìm ra, giáo lý giác ngộ bởi hai Chân lý đã giúp cho vị
Tuệ linh đầu tiên chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Các Tuệ
linh sẽ không phải truy tìm Đạo hợp nhất Vũ trụ nữa. Điều họ cần làm là nghiên
cứu, học tập và thực hành hai Chân lý của Đạo hợp nhất Vũ trụ này vào việc cải
tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Sẽ
không có ngoại lệ nào để đắc được bộ lọc năng lượng mà không phải xuống nhân
gian tu hành. Ngay cả vị Tuệ linh đầu tiên cũng không phải là ngoại lệ. Do đó,
Tuệ linh và con người phải quyết chí phát nguyện và thực hiện việc cải tạo Trụ
linh thành bộ lọc viên mãn cho thành công.
PHẦN 5: CÕI TRỜI ĐỊA PHỦ (CÕI TẠM CỦA NHÂN GIAN TU HÀNH)
I. Giới thiệu về cõi trời Địa phủ – Cõi tạm của nhân gian tu hành
Có nhiều
người hỏi:
-
Có phải Địa phủ là ở trong lòng Trái đất?
+ Tất nhiên
là không phải Địa phủ ở trong lòng của Trái
đất rồi.
-
Tại sao lại gọi Địa phủ là
cõi trời trong khi có chữ Địa và ám chỉ về sau cái chết của con người?
+
Đúng là ám chỉ về sau cái chết
của con người nên gọi là Địa. Và đây là một cõi trời, một hành tinh dành cho
con người sau khi hoại diệt thân xác ở nhân gian này.
-
Tại sao lại gọi là Địa phủ mà không gọi là Địa
ngục?
+
Bởi vì Địa phủ chính là cõi
trời có các Hội đồng Tuệ linh giác ngộ vận hành và quản lý các cảnh sống tu tập
cho con người sau khi hoại diệt thân xác nơi nhân gian. Địa ngục là một trong
các cảnh sống của cõi trời đó nên gọi là Địa phủ sẽ hợp lý và đầy đủ ý hiểu nhất.
-
Có phải Địa ngục có quỷ hành
sai, những con quỷ đầu trâu có sừng, những con quỷ đó hung hăng đi bắt linh hồn
con người về để tra tấn và hành hạ?
+
Đó là sự nhầm lẫn và hiểu
sai về các hội đồng quản lý và hành pháp tại cõi trời Địa phủ. Không có quỷ
hành sai nào cả, cũng không có quỷ nào ở cõi trời Địa phủ đi bắt linh hồn con
người về để tra tấn hay hành hạ gì cả.
-
Người chết phạm vào giờ
trùng tang là quỷ hành sai sẽ tra tấn linh hồn đó, họ tra tấn để linh hồn đó
khai ra họ tên, nơi ở của người thân để quỷ hành sai về bắt linh hồn những người
thân đó. Có đúng không vậy?
+ Không đúng, đây lại là câu chuyện nhảm nhí được lưu truyền trong nhân
gian.
-
Người tu hành, thầy pháp có
thể phá cửa ngục để giải cứu linh hồn bị đọa trong đó không?
+
Không thể. Tuyệt đối không
có người tu hành nào, thầy pháp nào phá được cửa ngục cả. Đó là luận điệu mị
dân để hành nghề kiếm tiền của nhiều người tu hành tâm linh, nhiều thầy pháp.
-
Có thể dùng đàn lễ, tiền
vàng mã, đồ lễ nhiều, nhiều thầy tu hành, nhiều pháp sư giỏi để làm lễ phổ độ
cho linh hồn khỏi bị đọa trong cửa ngục được không?
+
Phổ độ giúp linh hồn không bị
đọa trong cửa ngục, giúp cho linh hồn được chuyển sinh là có thật. Tuy nhiên, để
làm được điều đó thì cần có chân tâm và thấu hiểu về Địa phủ. Việc dùng đàn lễ,
tiền vàng mã, nhiều đồ lễ, nhiều thầy tu, nhiều pháp sư làm cũng là những chiêu
trò mị dân hành nghề mê tín dị đoan. Hiểu về Địa phủ, bất cứ người nào đang sống
đều có thể làm được mà không phải mất tiền, không phải nhờ vả thầy tu cũng như
các thầy pháp.
-
Làm sao để người đang sống
mà có thể kiểm chứng được cõi trời Địa phủ?
Có chứ. Đó là hành thiền để bản thể Tuệ linh trong
chân tu người đang sống liên kết năng lượng trong cấu trúc nền của Vũ trụ để di
chuyển tới cõi trời Địa phủ. Nhiều môn sinh của tôi thường xuyên thực hành thiền
định để tới đó khi cần thiết cho công việc trợ giúp chúng sinh sau khi hoại diệt thân xác
nơi nhân gian.
-
Thiền định để tới được cõi
trời Địa phủ? Vậy làm sao để thiền tới được Địa phủ trong khi vô số người tu
thiền định, vô số các bậc tâm linh nổi tiếng không thể thực hiện được?
+
Đó là bí mật của tạo hóa, của
kế hoạch tu hành nơi nhân gian. Để thiền đi được đến cõi trời Địa phủ phải thấu
hiểu được cõi trời Địa phủ. Điều đó chưa được nói đến trong bất kỳ tôn giáo,
tín ngưỡng nào, có chăng có nói nhưng chưa chính xác. Thêm nữa, Địa phủ có những
cảnh sống năng lượng tiêu cực rất nguy hiểm, người thiền định mà không có tâm lực
cũng như chân tâm mà vô tình đi vào đó sẽ gây hậu quả nghiệm trọng cho chân tu.
Nặng là đột tử hoại diệt thân xác.
…
Còn
vô số câu hỏi về sau khi con người chết và về Địa ngục, Địa phủ. Vậy, hãy tìm
hiểu về cõi trời Địa phủ sẽ giúp cho mọi người tỏ tường về cảnh sống sau khi
con người hoại diệt thân xác và cõi trời Địa phủ của Nhân gian.
Vậy cõi
trời Địa phủ là:
Cõi
trời Địa phủ không phải là không gian bên trong Trái đất. Cõi trời Địa phủ là một
cõi trời to lớn, là một hành tinh vật chất to lớn nằm trong không gian của Vũ
trụ bao la với vô số dải ngân hà (mỗi dải ngân hà lại có vô số hệ mặt trời, mỗi
hệ mặt trời lại có vô số những hành tinh quay tròn xung quanh nó). Vậy, cõi trời
Địa phủ cũng có thể được hiểu là một hành tinh giống với Trái đất chúng ta đang
sinh sống. Tại
cõi trời Địa phủ không có con người với thân tướng vật chất giản đơn, không có
muông thú với thân tướng vật chất giản đơn, đó là nơi các cấu trúc bản thể năng
lượng Tuệ linh và Linh hồn an trụ. Sự an trụ của Tuệ linh và Linh hồn là bởi họ
đang thực hiện quá trình trên con đường chuyển sinh để giúp cho Trụ linh trở
nên bền vững an lạc hơn.
Trái
đất là môi trường tu hành, là trường học cho dạng sống Tuệ linh an trụ trong
thân tướng con người, thậm chí là thân tướng muông thú để tu hành, để cải tạo Trụ
linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Do đó, Trái đất là nhân gian
tu hành, là cõi tạm của dạng sống Tuệ linh với trí tuệ siêu việt nhất trong Vũ
trụ rộng lớn bao la. Trái đất là cõi tạm của dạng sống Tuệ linh thì cõi trời Địa
phủ lại là cõi tạm của nhân gian.
Chúng ta cứ hình dung
như sau: Dạng sống Tuệ linh sẽ phải tu hành ở nhân gian trong thân tướng vật chất
con người rất nhiều cho đến vô số kiếp để đạt được mục đích chuyển sinh Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng. Trong đó, mỗi một kiếp người được ví như con người
chúng ta đã sống và lao động hết một ngày trời, khi hết một ngày lao động vất vả
với các thành tựu hay thất bại thì chúng ta sẽ phải cân bằng lại năng lượng sau
một giấc ngủ đêm. Giấc ngủ đêm đó sẽ giúp cho chúng ta có lại tinh thần, có lại
sự cân bằng của sức khỏe để tiếp tục một ngày lao động làm việc mới. Cõi trời Địa
phủ chính là vậy. Cõi trời Địa phủ được coi như quán trọ đêm để cho Tuệ linh,
Linh hồn nghỉ ngơi, đúc kết lại bài học tu hành một kiếp người, để cân bằng lại
tinh thần và năng lượng cho kiếp người tiếp theo. Do đó, Địa phủ là cần thiết cho
các Tuệ linh và Linh hồn đang tu hành ở nhân gian. Nó cũng giống như sự
cần thiết việc ngủ đêm của con người vậy. Việc con người chúng ta ngủ đêm ở gầm
cầu, hay ngủ đêm trong rừng đầy rẫy hổ báo thú dữ, hay ngủ đêm nơi giông bão, hay
ngủ đêm nơi nhà tranh mái ngói, hay ngủ đêm trong dinh thự xa hoa, hay ngủ đêm
nơi khách sạn sang trọng…, điều đó phụ thuộc vào sự nỗ lực và thành tựu lao động
trong một ngày để có hay không có đủ tiền cho việc thuê trọ nơi sang trọng hay
phải ngủ tạm bợ nơi nguy hiểm ở gầm cầu, nơi giông bão, nơi rừng với muông thú
dữ. Tuệ linh và Linh hồn cũng vậy, sự thất bại hay thành tựu một kiếp người sẽ
khiến họ được nghỉ ở cảnh sống tương ứng nơi cõi trời Địa phủ. Đó là sự tương
phản công bằng cho hành trình tu hành nơi nhân gian của Tuệ linh và Linh hồn.
Vì
môi trường tu hành của dạng sống Tuệ linh duy nhất chỉ có ở Trái đất, nên cũng
chỉ có duy nhất một cõi trời Địa phủ cho tất cả bản thể Tuệ linh và Linh hồn tu
hành nơi nhân gian để được nghỉ ngơi cân bằng lại năng lượng, được đúc kết lại
bài học tu hành sau một kiếp thân tướng nơi nhân gian tu hành này. Tức là chỉ
có một cõi trời Địa phủ duy nhất cho tất cả nhân loại trong sự không phân chia
tôn giáo, tín ngưỡng, trước và sau khi có các tôn giáo. Vì vậy, cõi trời Địa phủ
là cõi tạm của tất cả nhân loại từ khi xuất hiện nhân loại ở Trái đất đến nay.
Cõi
trời Địa phủ là cõi trời được vận hành quản lý bởi các Hội đồng Tuệ linh có trí
tuệ giác ngộ ưu tú trong dạng sống Tuệ linh. Tại cõi trời Địa phủ có 3 Hội đồng
Tuệ linh giác ngộ quản lý và vận hành; có 5 cảnh sống tu luyện đúc kết bài học
kinh nghiệm tu hành và tu luyện dưỡng lại năng lượng cho kế hoạch chuyển sinh
kiếp mới; có các lớp học đạo và giáo lý; có quy trình chuyển sinh và phương
pháp giáo hóa, hóa độ cho các Tuệ linh
và Linh hồn rõ ràng, luôn nâng cấp theo sự giác ngộ của các Tuệ linh tu hành
nơi nhân gian.
II. Cội nguồn sự hình thành cõi trời Địa phủ
Tôi được
nghe như:
-
Địa phủ của
người Trung Quốc, Việt Nam, Ai Cập, Hy
Lạp…
-
Địa ngục
của dòng đạo A, B, C nào đó.
-
Mục Kiền Liên trong Đạo Phật thiền định xuống Địa ngục cứu mẹ.
-
Địa ngục
của các tín ngưỡng khác nhau trên khắp Thế
giới.
-
Nhiều người
ngủ mơ được đi về Địa phủ hay Địa
ngục.
-
Nhiều người cận kề sinh tử, khi thân xác vẫn nằm bất động trong một
khoảng thời gian nhất định, Linh hồn/ Tuệ linh đã được đi về Địa phủ, Âm phủ, Địa
ngục, đi vào đường hầm ánh sáng xuống Địa phủ.
-
Địa ngục, Địa phủ, Âm phủ… rất nhiều sự thắc mắc và hoài nghi của nhân
gian.
Vậy thực hư ra sao? Những thắc
mắc trên có đúng không? Và, cõi trời Địa phủ được hình thành từ khi nào?
Như sau:
Khi vị Tuệ linh đầu tiên của
Vũ trụ (Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa, Chúa Trời, Đức A Di Di Đà Phật) đang suy nghĩ
và
lên kế hoạch cho
việc chuẩn bị đưa các Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian làm những con người đầu
tiên, khởi đầu cho sự hình thành nhân loại ở Trái đất, những suy tư, những suy
nghĩ khởi lên trong Ngài. Sự suy tư, suy nghĩ bởi Ngài thấy rõ rằng khi đưa các
Tuệ linh với bản chất các Trụ linh đa âm khác nhau, đa dương khác nhau, cân bằng
âm dương sẽ tạo ra sự phức tạp của môi trường tu hành nơi nhân gian. Bản chất
trí tuệ của các Tuệ linh sẽ được bộc lộ thông qua tương tác bốn trong thân tướng
với hình tướng Đạo, điều mà ở cõi trời nhiệm màu và thanh tịnh của Ngài không
thể làm bộc lộ được bản chất trí tuệ của họ ẩn giấu từ trong Trụ linh. Ngài
không những suy tư cho những Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian tu hành mà còn
suy tư cho những cấu trúc linh hồn trong muông thú mà Ngài đã gieo duyên chuyển
sinh từ các cấu trúc năng lượng trong thời gian dài trước đó. Làm sao để tạo ra
một môi trường có thể giúp các Tuệ linh cân bằng được năng lượng và học được
các bài học kinh nghiệm tu hành sau một kiếp người nhanh nhất! Làm sao để tạo
ra một môi trường để giáo hóa, giúp cho các linh hồn muông thú học được tập
tính làm người khi chúng đã tích lũy đủ lượng mã sóng trí tuệ và năng lượng bởi
nhiều kiếp làm muông thú!
Sau
thời gian dài suy tư, tính toán, Ngài hiểu rằng những Trụ linh đa âm hay đa
dương hoặc cân bằng của Tuệ linh và Linh hồn sẽ có những hướng chuyển sinh khác
nhau. Sẽ có hướng chuyển sinh bền vững an lạc hơn, sẽ có hướng chuyển sinh tiêu
cực là phân rã và hoại diệt, sẽ có hướng chuyển sinh bị mắc kẹt nơi nhân gian
tu hành. Do đó, Ngài đã đã lên kế hoạch xây dựng những môi trường để con người
và muông thú ở nhân gian sau khi hết một kiếp thân tướng được an trụ về đó để
đúc kết bài học kinh nghiệm tu hành,
được cân bằng năng lượng cho
hành trình chuyển sinh tiếp theo. Đó là:
- Đối với những Tuệ linh khi
hóa thân thành con người, họ có lối sống tích cực, đó là bộc lộ được sự phát
triển, sự lan tỏa, sự đoàn kết lan tỏa sự phát triển tới mọi người, muông thú
và vạn vật mà không màng tới mình: Những con người này sau khi hết kiếp người, Tuệ
linh sẽ được trở về cõi trời của Ngài để cân bằng lại năng lượng, để đúc kết lại
bài học kinh nghiệm kiếp người vừa qua.
- Đối với những Tuệ linh hóa
thân làm con người, họ có lối sống tiêu cực ích kỷ về bản thể họ mà gây tổn hại
tới vạn vật, muông thú, Tuệ linh và con người: Những con người này sau khi hết
kiếp thân tướng, Tuệ linh họ sẽ trở về một cõi tạm riêng để thấy lại những lối
sống tiêu cực của kiếp người vừa qua, từ đó đúc kết bài học kinh nghiệm tu
hành, cân bằng năng lượng để cho hành trình chuyển sinh kiếp người tiếp theo.
Những linh hồn muông thú cũng sẽ được chuyển sinh về cõi tạm này để tu luyện, học
tập tập tính của con người dần dần, tiếp tục chuyển sinh làm muông thú và được
chuyển sinh làm con người. Cõi tạm này chính là cõi trời Địa phủ.
Ngài cũng hiểu rằng,
những linh hồn muông thú, những Tuệ linh của những con người có hướng chuyển sinh
phân rã sẽ giải phóng ra rất nhiều năng lượng âm. Những năng lượng âm khi giải
phóng ra chính là những hạt năng lượng nhân quả tiêu cực tác động rất mạnh đến
môi trường xung quanh, tới chính Tuệ linh và Linh hồn. Do đó, Ngài phải xây dựng
riêng một cõi trời dành cho họ. Và Ngài đã thực hiện gieo duyên, xây dựng cõi
trời Địa phủ với các cảnh sống có chứa đựng các nhóm năng lượng đủ kích thích để
giúp cho
các Tuệ linh,
Linh hồn sau kiếp người và muông thú được nhanh chóng phản chiếu lại toàn bộ những
suy nghĩ cho đến hành động tiêu cực. Điều này sẽ giúp cho họ học được bài học
kinh nghiệm tu hành nhanh nhất.
Khi
Ngài thực hiện kế hoạch đưa các Tuệ linh hóa thân xuống làm con người trong các
cuộc tập kết nhân loại đầu tiên, đó cũng là thời điểm cõi trời Địa phủ đã được
hoàn thành với các Hội đồng Tuệ linh quản lý vận hành, với các cảnh sống năng
lượng tương ứng với các loại suy nghĩ cho đến hành động của con người và muông
thú được bộc phát ở nhân gian. Sự xuất hiện của con người ở nhân gian chính là dấu
mốc đánh dấu việc hình thành cõi trời Địa phủ.
Cõi
trời Địa phủ ban đầu cũng sơ khai như Trái đất vậy, các Tuệ linh ưu tú của dạng
sống Tuệ linh sẽ được phân công về đó để quản lý vận hành, để hỗ trợ Tuệ linh
và Linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian. Ban đầu họ chưa có hệ thống
giáo lý, chưa có Chân lý Giác ngộ, chưa có khuôn mẫu đạo đức rõ ràng để răn dạy.
Hội đồng Tuệ linh tại cõi trời Địa phủ lấy những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu
tiên trong các cuộc tập kết nhân loại để làm kim chỉ nam cho việc giáo hóa các Tuệ
linh, Linh hồn tại cõi trời Địa phủ.
Khi
nhân loại ngày càng phát triển và nhiều tín ngưỡng, nhiều tôn giáo ra đời, ở
cõi trời Địa phủ sẽ đón nhận những giá trị chuẩn mực, những giá trị đạo đức, những
Chân lý, những giáo lý ưu việt trong sự tuân thủ những lời răn dạy của vị Tuệ
linh đầu tiên ở các cuộc tập kết nhân loại để làm giáo lý giáo hóa tại cõi trời
Địa phủ. Điều này cho thấy, cõi trời Địa phủ sẽ phát triển theo sự phát triển về
sự giác ngộ, về con đường chuyển sinh trở nên bền vững an lạc ở nhân
gian để xây dựng
hoàn chỉnh giáo lý cho sự giáo hóa Tuệ linh và Linh hồn ở cõi trời đó.
Cõi trời Địa phủ là
dành cho những Tuệ linh, Linh hồn của tất cả con người và muông thú trên nhân
gian khi họ có lối sống theo hướng chuyển sinh tiêu cực là phân rã hoại diệt.
Do đó, Địa phủ là cõi trời dành cho tất cả con người mà không phân biệt họ theo
tín ngưỡng nào, theo tôn giáo nào hoặc không theo tôn giáo nào. Các tín ngưỡng,
tôn giáo là sự bám định bởi ý thức hệ khi họ còn sinh sống trên nhân gian mà họ
tin theo. Ban đầu từ sự bám định và niềm tin đó, ở cõi trời Địa phủ sẽ lấy khởi
điểm từ tôn giáo, tín ngưỡng để dần dần giáo hóa và cân bằng năng lượng cho họ
nhanh được chuyển sinh kiếp mới.
III. Mục đích
thành lập cõi trời Địa phủ
Tôi được
nghe như:
-
Tôi mơ thấy linh hồn bố tôi đang bị giam giữ trong phòng tối tăm lạnh
lẽo ở Địa ngục.
-
Tôi thiền thấy các linh hồn bị tra tấn trong các cửa ngục ác nghiệp,
có linh hồn phải lao động khổ sai, có linh hồn bị ném lên vạc dầu, có linh hồn
bị các con thú dữ khổng lồ cắn xé, có linh hồn bị đóng băng, có linh hồn trong
biển lửa…, nhìn rất hãi hùng.
-
Có người khi được nhắc về Địa ngục, Địa phủ là họ hoảng loạn và lo sợ.
-
Tôi thấy có người kể, khi ngủ linh hồn tách ra về Địa phủ thăm ngôi
nhà của linh hồn người thân vừa mới chết, tại ngôi nhà đó có những linh hồn là
bạn của linh hồn người thân. Khi thăm được một thời gian thì linh hồn người
thân đó nói là đi về ngay đi, không được quay lại đây nữa.
-
Có người nói thiền định tới Địa phủ thấy linh hồn người thân đang đi học
lớp học đạo.
-
Có người mơ ngủ được thấy hội đồng gia tiên đang ở Địa phủ.
- Nhiều tín ngưỡng, tôn giáo kể
về Địa ngục rất đáng sợ với những con quỷ to lớn, những con quỷ thân người mặt
thú, những con quỷ cắn xé ăn những linh hồn, những con quỷ đi truy bắt linh hồn
nơi Địa ngục tăm tối.
-
Những người thiền định thấy những linh hồn ở Địa phủ đang tu thiền,
đang sống trên những ngôi đồi với cỏ cây, hoa lá, ánh sáng vàng hoặc trắng. Họ
tĩnh lặng cảm nhận sự tự tại ở trên những ngôi đồi đó.
Rất
nhiều điều tôi nghe được, có những điều rất đúng, có những điều không đúng, có
những điều được thêu dệt tạo thành, gây ra sự sợ hãi và hiểu lầm cho nhân gian.
Mục đích
thành lập cõi trời Địa phủ:
Mục đích bao trùm của việc thành lập cõi trời
Địa phủ
– Cõi tạm của
nhân gian tu hành, đó là: Địa phủ là cõi tạm của Tuệ linh và Linh hồn của con
người và muông thú. Đó là nơi đúc kết lại bài học kinh nghiệm tu hành một kiếp
thân tướng ở nhân gian. Đó là nơi để tu dưỡng, cân bằng lại năng lượng sau một
kiếp thân tướng ở nhân gian. Đó là nơi học tập, trau dồi kiến thức giác ngộ làm
hành trang cho kiếp thân tướng tiếp theo. Đó là nơi hỗ trợ, trợ giúp bản thể Tuệ
linh, Linh hồn chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt nhận diện được con đường
chuyển sinh của họ, từ đó giúp họ đi được vào con đường chuyển sinh theo hướng
bền vững an lạc. Đó là nơi giúp cho Tuệ linh, Linh hồn biết cách, học được cách
sống có trách nhiệm, biết hy sinh vì nhau, hy sinh vì vạn vật, Vũ trụ, Tuệ linh
và con người. Bởi chỉ có hy sinh vì nhau mới xây dựng được cơ chế phân tách
liên kết bền vững và an lạc.
Từ
mục đích bao trùm trên sẽ được phân chia ra làm các mục đích chi tiết, mục đích
cụ thể theo đúng tiến trình của sự vận hành tại cõi trời Địa phủ. Cụ thể như
sau:
-
Mục đích đầu tiên là đón nhận, tiếp nhận các Tuệ linh của con người
đang chuyển sinh theo hướng phân rã hoại
diệt. Đó là những
con người có ý nghĩ cho đến hành động chưa mang lại lợi ích cho mọi người, cho
vạn vật và muông thú. Đó là những con người có ý nghĩ cho đến hành động tiêu cực
gây tổn hại lợi ích của vạn vật, muông thú, Tuệ linh và con người. Đón nhận, tiếp
nhận tất cả các linh hồn của muông thú. Cõi trời Địa phủ không đón nhận Tuệ
linh của những con người có lối sống chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc, đó
là những con người luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người, muông thú mà không
màng tới bản thân. Những Tuệ linh này sau khi hết kiếp người sẽ được về cõi trời
nhiệm màu của vị Tuệ linh đầu tiên để tu dưỡng và luân hồi chuyển sinh tiếp
theo.
-
Mục đích tiếp theo là: Sau khi đón nhận các Tuệ linh, linh hồn, tại
cõi trời Địa phủ, họ sẽ được nhớ lại các hành trình tu hành trên nhân gian.
-
Mục đích tiếp theo là: Họ sẽ được trải nghiệm sự phản chiếu của quá
trình phóng xạ năng lượng âm trong Trụ linh họ. Đó là các cảnh Địa ngục được tạo
dựng bởi những năng lượng tiêu cực tương ứng để tạo thành cơ chế phản chiếu
nghiệp ác họ đã tạo khi sống ở nhân gian. Những sự phản chiếu của liên kết năng
lượng tiêu cực sẽ làm cho họ thấy những bản thể năng lượng hình hài xấu xí, tưởng
rằng đó là quỷ sai, tưởng rằng đó là thú dữ khổng lồ truy giết họ. Đó đều là sự
tương tác liên kết năng lượng tiêu cực tạo ra để giúp họ cảm thọ được những
tiêu cực khổ đau mà họ tạo ra cho vạn vật, muông thú, con người ở nhân gian khi
họ sống.
- Mục đích tiếp theo là: Cõi
trời Địa phủ mở các lớp học giáo lý, những giá trị đạo đức để giúp cho họ an lạc
trở lại, giúp cho họ không bị phản chiếu nghiệp ác nữa, từ đó chuyển cảnh tu
luyện tại cõi trời Địa phủ.
-
Mục đích tiếp theo là: Họ sẽ sống cuộc sống tại cảnh âm. Nơi đó vẫn
còn phiền não. Họ tiếp tục tham gia các lớp học đạo để trau dồi kinh nghiệm sống
theo hướng chuyển sinh bền vững an lạc hơn.
-
Mục đích tiếp theo là: Họ sẽ chuyển sang cảnh tu luyện, cân bằng năng
lượng và tiếp tục học đạo, học giáo lý đạo đức để làm hành trang cho con đường
chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc trong kiếp thân tướng mới. Đó là sự lấy
lại tinh thần, năng lượng và hành trang để có thể dễ dàng vượt qua được các kiếp
nạn khổ đau và đi được đúng trên con đường chuyển sinh bền vững an lạc ở nhân
gian.
Mục
đích cuối cùng là đón nhận giá trị giáo lý siêu việt nhất, Chân lý bao trùm Vũ
trụ cho sự chuyển sinh bền vững an lạc nhất của các bậc giác ngộ thông qua việc
họ tu hành ở nhân gian, từ đó sẽ dùng những Chân lý đó, giá trị đó, phương pháp
đó, con đường đó để hóa độ, Phổ độ, Cứu độ các Tuệ linh, các linh hồn đang còn
mắc kẹt trong hành trình chuyển sinh, đang chuyển sinh trên con đường phân rã
đi vào được con đường chuyển sinh bền vững an lạc.
Mục
đích thành lập cõi trời Địa phủ của vị Tuệ linh đầu tiên được xuất phát từ tình
yêu thương từ bi vô lượng của Ngài. Tình yêu thương từ bi vô lượng đó không bao
giờ phai mờ. Đó là tình yêu thương hết thảy vạn vật, Tuệ linh, con người, dẫn dắt,
khai sáng cho họ chuyển sinh được bền vững cấu trúc Trụ linh đạt đến sự an lạc
nhất, đó là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh.
Quá trình phát triển của cõi trời Địa phủ
Cõi
trời Địa phủ từ khi được thành lập tới nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển
khác nhau. Sự phát triển của cõi trời Địa phủ không phải là sự phát triển về đời
sống, không phải là phát triển về cơ sở vật chất giản đơn như Trái đất, không
phải là sự phát triển về khoa học kỹ thuật. Sự phát triển của cõi trời Địa phủ
chính là sự phát triển về giáo lý, phát triển về phương pháp giúp cho các Tuệ
linh, Linh hồn khi an trụ về đó nhanh chóng đúc kết được bài học tu hành, nhanh
chóng cân bằng năng lượng, có được hành trang vững chắc để đi đến được con đường
chuyển sinh bền vững khi làm người. Như vậy, ta phải hiểu là sự phát triển của
cõi trời Địa phủ chính là phát triển về phương pháp, phát triển về giáo lý giáo
hóa chúng sinh ở cõi trời đó.
Quá
trình phát triển giáo lý, phương pháp giáo hóa của cõi trời Địa phủ từ khi Địa
phủ hình thành tới nay được chia làm 3 giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, giáo lý
và phương pháp giáo hóa lại được thay đổi theo từng thời kỳ phát triển ý thức hệ
về trí tuệ giác ngộ của con người ở nhân gian. Sự thay đổi trong mỗi giai đoạn
đều phải đảm bảo nguyên tắc tuân thủ theo bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu
tiên, phải lấy bốn lời răn dạy đó làm kim chỉ nam cho hệ thống lý luận giáo hóa
ở cõi trời Địa phủ.
Ba giai đoạn phát triển đó là:
Giai đoạn
phát triển đầu tiên
Giai
đoạn phát triển đầu tiên về hệ thống giáo lý, phương pháp giáo hóa Tuệ linh,
Linh hồn ở cõi trời Địa phủ được gắn liền với thời kỳ phát triển ý thức hệ đầu
tiên của nhân loại. Giai đoạn này gắn liền với sự xuất hiện con người đầu tiên ở
nhân gian cùng với bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên cho đến trước khi
xuất hiện cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 của chính vị Tuệ linh đầu
tiên ở nhân gian.
Giai
đoạn phát triển ý thức hệ đầu tiên của nhân loại được bắt đầu từ các cuộc tập kết
nhân loại của Hội đồng Tuệ linh cùng với vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân loại. Giai
đoạn phát triển ý thức hệ này được kéo dài cho tới cuộc đại độ thống nhất chúng
sinh lần 1 của vị Tuệ linh đầu tiên. Trong giai đoạn ý thức hệ đầu tiên của
nhân loại, chủ yếu hình thành và tồn tại ý thức hệ tri ân tổ tiên loài người,
đó là tri ân Thiên Địa, tri ân các vị thần, tri ân Thượng Đế/ Đấng Tạo Hóa/ Đấng
Sáng Tạo. Giai đoạn ý thức hệ đầu tiên của nhân loại là thông qua sự tri ân để
giúp cho nhân loại học tập những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên trong sự
nghiệp xây dựng nhân loại, xây dựng môi trường tu hành trở nên phong phú và phức
tạp. Việc xây dựng nhân loại trở nên phong phú và phức tạp đều là sứ mệnh của
con người. Trong giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển ý thức hệ tri ân của
con người với những bậc Thánh nhân có công xây dựng bảo vệ Tổ quốc của dân tộc,
quốc gia họ. Tất cả đều là ý thức hệ tri ân từ nhân gian tới cội nguồn Tuệ
linh, của con người để học tập, noi gương và thực hành theo những lời răn dạy của
vị Tuệ linh đầu tiên.
Bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên trong các cuộc tập kết nhân loại
để xây dựng nhân loại: Tại các cuộc tập kết nhân loại ở Trái đất, các Tuệ linh
sẽ phát nguyện thành từng hộ gia đình gồm có một vợ, một chồng, một con gái, một
con trai. Mỗi điểm tập kết có nhiều hộ gia đình cùng với vô số muông thú đến để
nghe những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên. Những lời răn dạy là kim chỉ
nam để cho tất cả Tuệ linh và con người tu hành ở nhân gian phải tuân thủ theo,
lấy đó làm khuôn mẫu đạo đức để chuyển hóa và cải tạo Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng. Bốn lời răn dạy đó là: “1-
Ngài nhìn và nói với các hộ gia đình: Ta đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm
thì về sẽ phải bằng chân tâm. 2- Ngài nhìn và nói với các hộ gia đình: Ta giao
sứ mệnh cho các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân loại. 3- Ngài
chỉ vào muông thú và nói với các hộ gia đình: Ta giao cho các ngươi sứ mệnh phải
thuần hóa muông thú, để chúng chuyển sinh làm người cùng tu hành ở nhân gian. 4-
Các ngươi sẽ phải trải qua hết tất cả các khổ đau kiếp nạn để cải tạo Trụ linh
thành bộ lọc năng lượng”. Bốn lời răn dạy này với cuộc tập kết nhân loại đã cho thấy có bốn hình tướng Đạo trong
đó, điều mà đã được quán triệt từ trước khi dạng sống Tuệ linh xuống nhân gian
tu hành. Đó là hình tướng Đạo đời (đối nhân xử thế, lao động sản xuất, phát triển
nhân loại), hình tướng Đạo lễ (vợ chồng nghĩa tình, con cái hiếu nghĩa với cha
mẹ tổ tiên, cha mẹ nghĩa tình với con cái, anh em nghĩa tình viên mãn), hình tướng
Đạo đường (con đường tri thức, đó là thầy trò), hình tướng Đạo Đế vương (mối
quan hệ giữa người đứng đầu và người dân đối với lãnh thổ dân tộc). Bốn lời răn
dạy đã tạo thành khuôn mẫu đạo đức thông qua bốn hình tướng Đạo. Thông qua bốn
hình tướng Đạo sẽ cho thấy sự bộc lộ bảnchất trí tuệ của
con người đang chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt hay chuyển sinh theo hướng
bền vững an lạc. Nếu chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt thì sẽ bộc lộ
thành lối sống ích kỷ không giúp đỡ mọi người và vạn vật, muông thú, ích kỷ về
mình mà gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Nếu chuyển sinh theo hướng
bền vững an lạc là không vì ích kỷ của mình, luôn mang lại giá trị lợi ích tới
vạn vật, Tuệ linh và con người. Thông qua bốn biểu hiện hình tướng Đạo, Hội đồng
Tuệ linh trên cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ linh ở cõi trời
Địa phủ sẽ thực hiện nhiệm vụ chuyển sinh các Tuệ linh, Linh hồn sau khi hết kiếp
người về cảnh giới nghỉ ngơi khác nhau. Nếu con người chuyển sinh theo hướng bền
vững sẽ được chuyển sinh về cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên, nếu con người
chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt sẽ được chuyển sinh về cõi trời Địa phủ.
Hội
đồng Tuệ linh ở cõi trời Địa phủ sẽ thông qua bốn hình tướng Đạo với những vi
phạm của Tuệ linh, Linh hồn khi sống ở nhân gian để giáo hóa cho họ thấy con đường
chuyển sinh họ đang đi là đúng hay sai. Hội đồng Tuệ linh cõi trời Địa phủ sẽ
giáo hóa cho họ về những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên, về bốn hình tướng
Đạo, về con đường chuyển sinh gây tổn hại tới Tuệ linh, con người và vạn vật mà
họ đã vi phạm, từ đó giúp họ cân bằng năng lượng cho sự chuyển sinh tiếp theo.
Giáo
lý giáo hóa, phương pháp giáo hóa của cõi trời Địa phủ ở giai đoạn này chủ yếu
là thực hiện theo bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên, thông qua bốn hình
tướng Đạo để giáo hóa về giá trị đạo đức của Tuệ linh, Linh hồn ở cõi Địa phủ.
Giai đoạn này chưa có giáo lý giáo hóa về Tâm Đạo, tức
là chưa có giáo
lý giác ngộ để giáo hóa cho các Tuệ linh, Linh hồn nhanh học được bài học tu
hành, nhanh cân bằng được năng lượng, có hành trang để vượt được qua khổ đau kiếp
nạn ở kiếp nhân gian mới. Các Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời Địa phủ để được
chuyển sinh làm kiếp mới sẽ mất rất lâu thời gian cho quá trình đúc kết bài học
tu hành, cân bằng năng lượng để chuyển sinh kiếp nhân gian mới.
Như
vậy, giai đoạn phát triển đầu tiên về giáo lý và phương pháp giáo hóa ở cõi trời
Địa phủ là tuân thủ theo bốn lời răn dạy cùng với bốn hình tướng Đạo của vị Tuệ
linh đầu tiên đã định ra ở nhân gian. Ở giai đoạn giáo hóa này, cõi trời Địa phủ
sẽ không định vào hình thức tín ngưỡng nào trên nhân gian để giáo hóa.
2. Giai
đoạn phát triển thứ hai
Giai
đoạn phát triển thứ hai về hệ thống giáo lý, phương pháp giáo hóa Tuệ linh,
Linh hồn ở cõi trời Địa phủ được gắn liền với thời kỳ phát triển ý thức hệ thứ
hai của nhân loại. Giai đoạn này gắn liền với cuộc đại độ thống nhất chúng sinh
lần 1 của vị Tuệ linh đầu tiên cho đến trước khi xuất hiện cuộc đại độ thống nhất
chúng sinh lần 2 của vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian.
Giai
đoạn phát triển ý thức hệ thứ 2 của nhân loại được bắt đầu từ cuộc đại độ thống
nhất chúng sinh lần 1 của vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian, đó là kiếp nhân
sinh mà vị Tuệ linh đầu tiên đã hóa thân thành chân tu là Đức Phật Thích Ca. Khi
Ngài ấy hoàn lại trí tuệ giác ngộ hai Chân lý và bắt đầu lan tỏa hai Chân lý,
đó là thời khắc đánh dấu cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 được bắt đầu.
Ý thức hệ về trí
tuệ giác ngộ ở
nhân gian được thay đổi từ cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 của Đức Phật
Thích Ca. Đó là thông qua hai Chân lý, Ngài đã soi sáng cho chúng sinh nơi nhân
gian thấu hiểu về cội nguồn, kế hoạch tu hành nơi nhân gian, con đường diệt khổ
bằng Tâm Đạo thông qua bốn hình tướng Đạo, đặc biệt nhấn mạnh tới những lời răn
dạy của cuộc tập kết nhân loại. Cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 này đã
cho thấy sự thay đổi lớn trong ý thức hệ trí tuệ giác ngộ của con người, đó là
đề cao tính bình đẳng hết thảy Tuệ linh và con người, đề cao tính đoàn kết cùng
nhau cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Sự thay đổi lớn về trí tuệ giác
ngộ chính là đã có con đường Tâm Đạo gắn chặt với bốn hình tướng Đạo. Con đường
Tâm Đạo là con đường giác ngộ viên mãn để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.
Tuy
nhiên, do trí tuệ của nhân loại thời đó và về sau không thể thực chứng được trí
tuệ siêu việt của hai Chân lý, vậy nên hai Chân lý đã bị biến đổi, bị vỡ nát chỉ
còn thành hệ tư tưởng nhân quả, con đường giác ngộ cũng vì đó mà đánh mất kim
chỉ nam của bốn lời răn dạy của Ngài ở cuộc tập kết nhân loại đầu tiên. Vì vậy,
bốn hình tướng Đạo cũng vì thế mà không được tuân thủ. Người tu hành về sau đã
không còn biết cội nguồn, kế hoạch tu hành, sứ mệnh làm gì. Do đó, hết thảy Tuệ
linh và con người ở nhân gian đều chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt. Sự
thất bại của hai Chân lý sau khi Đức Phật nhập diệt chính là vì chưa có cơ chế
lý giải sự vận hành của hai Chân lý, chưa có các học thuyết, các quy luật chứng
thực sự vận hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Sự thất bại của hai
Chân lý sau đó cũng là do trí tuệ nhân loại chưa thể hiểu được tinh hoa của hai
Chân lý.
Sau
khi đạo Phật được hình thành, các tôn giáo khác được ra đời cũng đều đưa ra những
ý thức hệ tri ân tổ tiên nhân loại là Thượng Đế, Chúa Trời, phải hành thiện, không
vi phạm vào hình tướng Đạo, bản chất cũng là thực hiện những lời răn dạy của
Ngài để chuyển sinh được bền vững.
Có
thể nói giai đoạn ý thức hệ thứ hai ở nhân loại chính là giai đoạn sơ khai của
quá trình lan tỏa hai Chân lý nhằm thống nhất chúng sinh cùng đoàn kết vượt qua
hết tất cả khổ đau kiếp nạn để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Vì là
sơ khai nên ngoài vị Tuệ linh đầu tiên có được bộ lọc năng lượng thì vẫn chưa
có Tuệ linh nào cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Vừa là sơ khai của
hai Chân lý và do trí tuệ của nhân loại giai đoạn này chưa phát triển kịp thời
để tiếp nhận trí tuệ của hai Chân lý nên hai Chân lý đã bị vỡ nát. Điều này dẫn
tới việc nhân loại đắm chìm trong sự tri ân mê tín dị đoan, đó là cầu cúng để
xin phước báo từ các bậc giác ngộ, từ Chúa Trời mà không hề biết về cội nguồn,
kế hoạch tu hành, sứ mệnh và con đường cải tạo Trụ linh trở nên bền vững.
Sau
cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 ở nhân gian, tuy hai Chân lý đã không
còn, nhưng ở cõi trời Địa phủ đã áp dụng hệ thống giáo lý giác ngộ sơ khai của
hai Chân lý trong việc giáo hóa Tuệ linh và Linh hồn để họ nhanh đúc kết được
bài học kinh nghiệm tu hành một kiếp người, nhanh cân bằng được năng lượng, có
hành trang để kiếp thân tướng mới chuyển sinh được bền vững hơn. Có thể nói,
sau khi cõi trời Địa phủ áp dụng giáo lý sơ khai của hai Chân lý để giáo hóa, các
Tuệ linh, Linh hồn đã nhanh chóng được chuyển sinh, những thành tựu tu hành
trên nhân gian cũng vì thế mà được cải thiện nhiều. Giáo lý giáo hóa bằng hai
Chân lý sơ
khai vẫn đầy đủ
bốn lời răn dạy và bốn hình tướng Đạo, đồng thời lại thêm Tâm Đạo là con đường
diệt khổ để đi tới sự giác ngộ, để nhanh chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng
lượng. Điều này đã giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn nhận thức rõ được sự chuyển
sinh phân rã hoại diệt của họ và giúp họ có động lực, hành trang cho sự kiên định
trên con đường chuyển sinh bền vững.
Trong
giai đoạn giáo hóa này ở cõi trời Địa phủ, Hội đồng Tuệ linh quản lý cõi trời
này đã thông qua sự bám định của các Tuệ linh, Linh hồn khi họ sống đã tin và
theo các tôn giáo, lấy sự bám định đó, đức tin, niềm tin để bước đầu giáo hóa,
tiếp đến là vận hành giáo lý sơ khai của hai Chân lý để thúc đẩy quá trình cân
bằng năng lượng và chuyển sinh làm thân tướng kiếp mới.
3. Giai đoạn
phát triển thứ ba
Giai
đoạn phát triển thứ ba về hệ thống giáo lý, phương pháp giáo hóa Tuệ linh, Linh
hồn ở cõi trời Địa phủ được gắn liền với thời kỳ phát triển ý thức hệ thứ ba của
nhân loại. Giai đoạn này gắn liền với cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 2 của
vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian.
Giai
đoạn phát triển ý thức hệ thứ 3 của nhân loại được bắt đầu từ cuộc đại độ thống
nhất chúng sinh lần 2 của vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian, đó là thời điểm mọi
người đang đọc tri thức của hai Chân lý từ thời điểm này trở về sau. Hệ thống
giáo lý của hai Chân lý được phân tích thấu hiểu tận cùng bằng thực chứng biện
chứng của cơ chế vận hành hai Chân lý, bằng hệ thống bản chất của hạt năng lượng
tận cùng – hạt năng lượng nhân quả, bằng hệ thống quy trình sản sinh
ra các siêu hạt
năng lượng cũng như chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn thông
qua việc thực hành khuôn mẫu đạo đức trong bốn hình tướng Đạo cùng với bốn lời
răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên. Trong hệ thống giáo lý của hai Chân lý đã
phân tích rõ ràng, chỉ rõ con đường Tâm Đạo là con đường giác ngộ (Chân lý Giác
ngộ) để chuyển sinh Trụ linh trở nên bền vững an lạc siêu việt. Thông qua Chân
lý Vạn vật và cơ chế vận hành của nó để thấu hiểu tận cùng về cội nguồn Vũ trụ,
cội nguồn nhân loại, kế hoạch tu hành, sứ mệnh phải đoàn kết Tuệ linh, con người
để cùng nhau đối mặt, giác ngộ hết tất cả khổ đau kiếp nạn. Đó là con đường duy
nhất, nhanh nhất, siêu việt nhất để giúp Tuệ linh và con người chuyển sinh được
Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.
Giáo
lý của hai Chân lý là trí tuệ siêu việt để đoàn kết chúng sinh thấu hiểu tận
cùng cội nguồn Vũ trụ, cội nguồn nhân loại, cơ chế vận hành Quy luật Nhân quả của
cả vạn vật, Tuệ linh, con người, Vũ trụ; khuôn mẫu đạo đức để nhận diện rõ con
đường chuyển sinh bền vững hay phân rã, quy luật vận hành sản sinh siêu hạt
năng lượng, phương pháp chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó chính
là Hoàn Đạo, là Đạo hợp nhất của Vũ trụ, sự hoàn lại đầy đủ của bốn lời răn dạy,
của bốn hình tướng Đạo, của con đường Tâm Đạo của vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng
và tìm ra được. Đó là sự hoàn hảo về giáo lý giáo hóa hết thảy Tuệ linh, con
người chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng trong Trụ linh. Hệ thống giáo lý của
hai Chân lý chính là Đạo hợp nhất viên mãn của Vũ trụ, Tuệ linh và con người.
Chính vì vậy, đây là giáo lý, là trí tuệ siêu việt để thực hiện kế hoạch đại độ
thống nhất chúng sinh lần 2 của Ngài.
Khi giáo lý của Hai Chân lý hoàn chỉnh được xuất
hiện
ở
nhân gian, đó cũng là thời khắc mà Hội đồng Tuệ linh cõi trời Địa phủ
áp dụng hệ thống giáo lý của hai Chân lý để giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn con người,
muông thú sau khi hết kiếp nhân gian trở về Địa phủ. Giáo lý siêu việt của hai
Chân lý đã chứng minh được sự kỳ diệu khi Hội đồng Tuệ linh cõi trời Địa phủ áp
dụng trong việc giáo hóa ở cõi Địa phủ. Giáo lý siêu việt của hai Chân lý đã chứng
minh được sự kỳ diệu khi mà các môn sinh của tôi đã áp dụng để chuyển sinh các
cấu trúc năng lượng Tuệ linh, Linh hồn sắp phân rã hoại diệt được hồi sinh,
giúp các Tuệ linh, Linh hồn mắc kẹt trên nhân gian được chuyển sinh về Địa phủ.
Những môn sinh của tôi còn chứng minh được sức mạnh của hai Chân lý khi họ thiền
định để tới cõi trời Địa phủ, họ đích thân xin phép Hội đồng Tuệ linh ở đó để
thuyết pháp hai Chân lý để giáo hóa các Tuệ linh và Linh hồn. Sự kỳ diệu là những
Tuệ linh, Linh hồn được nghe giáo pháp của hai Chân lý giáo hóa đã cân bằng
năng lượng rất nhanh, họ đi vào hành trình chuyển sinh rất nhanh chóng.
Hiện
tại, tại cõi trời Địa phủ, Hội đồng Tuệ linh quản lý cõi trời này vẫn thông qua
sự bám định của các Tuệ linh, Linh hồn khi sống có niềm tin vào tôn giáo. Hội đồng
Tuệ linh lấy đó làm bước tiếp dẫn các Tuệ linh, Linh hồn trở về Địa phủ, tiếp
theo dùng giáo lý hai Chân lý để giáo hóa chúng sinh tại cõi trời Địa phủ.
Như
vậy, giáo lý và phương pháp giáo hóa tại cõi trời Địa phủ đã thay đổi theo từng
thời kỳ. Sự thay đổi đó gắn liền với quá trình thay đổi về ý thức hệ trí tuệ
giác ngộ của nhân loại. Sự phát triển, thay đổi đạt đến sự hoàn thiện viên mãn
của giáo lý hai
Chân lý đã giúp cho cõi trời Địa phủ đạt đến sự phát triển rực rỡ trong sự giáo
hóa Tuệ linh, Linh hồn có được hành trang sức mạnh chuyển sinh theo hướng bền vững
an lạc nhanh nhất, đó là thúc đẩy quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc
năng lượng viên mãn. Dù trên nhân gian có nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng khác
nhau, tất cả những Tuệ linh, Linh hồn mà chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt
sẽ đều trở về cõi trời Địa phủ để tu dưỡng trong sự không phân biệt tôn giáo,
tín ngưỡng mà họ theo khi sống ở nhân gian.
Các hội đồng vận hành quản lý cõi trời Địa phủ
Cõi
trời Địa phủ có 3 Hội đồng Tuệ linh và một Tuệ linh đứng đầu quản lý vận hành sứ
mệnh giáo hóa chúng sinh cõi trời này. Đó là Hội đồng Hoàn Đạo, Hội đồng Hành
pháp, Hội đồng Quản lý Hành chính. Mỗi Hội đồng Tuệ linh có sứ mệnh, nhiệm vụ
khác nhau trong toàn bộ quy trình từ tiếp nhận các Tuệ linh, Linh hồn cho đến
giáo hóa và chuyển sinh luân hồi kiếp mới.
Các
Hội đồng Tuệ linh đều là những Tuệ linh ưu tú, có trí tuệ giác ngộ nhất trong
Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Họ được vị Tuệ linh đầu tiên chọn lựa và phân
công nhiệm vụ, sứ mệnh cho họ tại cõi trời Địa phủ. Họ sẽ đảm nhiệm sứ mệnh với
các vị trí khác nhau, sau đó họ lại tiếp tục chuyển sinh làm người để tu luyện
cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi họ chuyển sinh làm người thì sẽ
có những Tuệ linh khác đảm nhiệm thay thế vào vị trí của họ. Vì họ là những Tuệ
linh ưu tú làm nhiệm vụ giáo hóa nên khi chuyển sinh làm người, họ sẽ có ý nghĩ
cho đến hành động là đa dương mạnh, tức là họ luôn luôn suy nghĩ và hành động
đoàn kết, lan tỏa phát triển bền vững tới vạn vật, Tuệ linh và con người mà
không màng tới bản thân họ. Sau khi cải tạo được Trụ linh trở nên bền vững hơn,
họ có thể tiếp tục về cõi trời Địa phủ làm sứ mệnh giáo hóa hoặc đến các cõi trời
khác trong Vũ trụ để thực hiện sứ mệnh khác.
Tuệ
linh đứng đầu và 3 hội đồng quản lý, vận hành, giáo hóa chúng sinh cõi trời Địa
phủ là:
1. Tuệ
linh đứng đầu cõi trời Địa phủ
Vị
Tuệ linh đầu tiên chính là Đức A Di Di Đà (danh hiệu gốc) hay còn có các danh
xưng khác là Đấng Sáng Tạo, Đấng Tạo Hóa, Đức Chúa Trời… Ngài là vị Tuệ linh đã
gieo duyên, thành lập cõi trời Địa phủ để làm cõi tạm cho các Tuệ linh, Linh hồn
tu hành ở nhân gian được về đó tu dưỡng sau khi hết một kiếp thân tướng ở nhân
gian. Ngài chính là Tuệ linh đứng đầu và quản lý cũng như vận hành toàn bộ cõi
trời Địa phủ. Ngài cũng đã tạo ra những danh hiệu khác của Ngài ở cõi trời Địa
phủ để giáo hóa chúng sinh cõi trời này. Tuy nhiên, chúng ta chỉ cần hiểu Ngài
là vị đứng đầu cõi trời Địa phủ.
Tuệ
linh đầu tiên của Vũ trụ, chính Ngài là Tuệ linh đứng đầu quản lý và vận hành
cõi trời Địa phủ làm nhiệm vụ giáo hóa, hỗ trợ các Tuệ linh, Linh hồn tu hành ở
nhân gian. Đó là các Tuệ linh, Linh hồn khi tu hành ở nhân gian trong thân tướng
con người và muông thú đã đi ngược bốn lời răn dạy của Ngài đã truyền dạy ở các
cuộc tập kết xây dựng nhân loại, đi ngược và vi phạm vào giá trị đạo đức trong
bốn hình tướng Đạo. Việc không thực hiện các lời răn dạy, việc vi phạm vào giá
trị đạo đức của bốn hình tướng Đạo là biểu hiện của việc các Tuệ linh, Linh hồn
đang chuyển sinh theo hướng phân rã và hoại diệt. Do đó, Ngài, với tình thương
yêu bao la đến hết thảy Tuệ linh, con người nên đã thành lập cũng như đứng đầu
để quản lý, vận hành sứ mệnh giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn đang đi theo hướng
chuyển sinh phân rã
hoại diệt. Ngài
thông qua những lời răn dạy và hình tướng Đạo đã được Ngài truyền dạy và xây dựng
cho nhân loại để giáo hóa các Tuệ linh, Linh hồn nhận thức rõ được con đường họ
đang chuyển sinh là phân rã hoại diệt, từ đó giảng dạy, chỉ dẫn cho họ con đường
chuyển sinh bền vững. Thông qua những thành tựu về trí tuệ giác ngộ bởi chân tu
của Ngài
ở
nhân gian trong việc tìm ra phương pháp ưu việt giúp chuyển sinh Trụ
linh thành bộ lọc năng lượng, Ngài sẽ lấy giáo lý, chân lý, phương pháp đó để
áp dụng giáo hóa các Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời Địa phủ.
Ngài
là bậc trí tuệ vô lượng nhất của Vũ trụ, Ngài di chuyển khắp trong và ngoài Vũ
trụ. Nhiệm vụ chính của Ngài là ở không gian lõi Vũ trụ, từ cõi trời này (lõi Vũ
trụ), Ngài vận hành sự sống của toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Ngài vận
hành thông qua cấu trúc nền của Vũ trụ, thông qua các mã sóng trí tuệ trong tất
cả các dạng vật chất của Vũ trụ, bởi các dạng vật chất đó được cấu tạo từ năm
nhóm năng lượng đã được phân tách từ Trụ linh của Ngài. Sự di chuyển của Ngài
trong Vũ trụ chỉ cần bằng một ý nghĩ. Do đó, việc Ngài đứng đầu quản lý, vận
hành, giáo hóa cõi trời Địa phủ là chuyện giản đơn. Đặc biệt, Ngài đã xây dựng
các hội đồng trợ giúp công việc cho Ngài tại cõi trời này.
2. Hội đồng
Hoàn Đạo
Hội
đồng Hoàn Đạo là hội đồng quản lý cao nhất tại cõi trời Địa phủ. Đây là hội đồng
của các Tuệ linh có trí tuệ giác ngộ cao nhất tại cõi trời Địa phủ. Hội đồng
Hoàn Đạo là hội đồng được quản lý trực tiếp bởi vị Tuệ linh đứng đầu.
Hội
đồng Hoàn Đạo với ý nghĩa là hội đồng trí tuệ giác ngộ nhất tại cõi trời Địa phủ,
là hội đồng giáo hóa, chỉ dẫn con đường, chỉ dẫn phương pháp giúp cho các Tuệ
linh, Linh hồn ở cõi trời này có hành trang tri thức chuyển sinh bền vững. Từ
đó, khi luân hồi thân tướng kiếp mới, họ sẽ tu tập để đi đến sự thành tựu viên
mãn của tu Đạo, đó là tu hành tới đích của sự giác ngộ thông qua hình tướng Đạo
và Tâm Đạo với kim chỉ nam là bốn lời răn dạy của Ngài. Đó là Hoàn Đạo.
Nhiệm vụ
của Hội đồng Hoàn Đạo:
-
Hội đồng Hoàn Đạo trực tiếp quản lý Hội đồng Hành pháp, Hội đồng Quản
lý Hành chính và các cảnh sống tại cõi trời Địa phủ.
-
Hội đồng Hoàn Đạo tiếp nhận giáo lý, phương pháp giáo hóa chúng sinh tại
cõi trời Địa phủ từ vị Tuệ linh đứng đầu.
-
Hội đồng Hoàn Đạo lưu giữ, quản lý hồ sơ của Tuệ linh và Linh hồn tu
hành ở nhân gian. Đó là quản lý, lưu giữ sổ sinh và sổ tử.
-
Hội đồng Hoàn Đạo thực hiện tra xét, phán xử, luận thiện nghiệp, ác
nghiệp của Tuệ linh, Linh hồn khi mới được về Địa phủ sau một kiếp thân tướng.
Từ đó, dựa trên thiện nghiệp và ác nghiệp để sắp xếp cho họ an trụ vào các cảnh
sống tương ứng.
-
Hội đồng Hoàn Đạo xây dựng, sắp xếp, triển khai các lớp học đạo để
giáo hóa cho các Tuệ linh, Linh hồn từ khi được trở về Địa phủ cho tới khi được
luân hồi xuống nhân gian.
-
Hội đồng Hoàn Đạo trực tiếp giảng dạy, giáo hóa chúng sinh tại cõi trời
Địa phủ theo kế hoạch của hội đồng.
-
Hội đồng Hoàn Đạo sẽ triển khai, mở lớp, thực hiện giảng dạy giáo hóa
cấp tốc Tuệ linh, Linh hồn khi nhân được chỉ thị từ Tuệ linh đứng đầu. Những
trường hợp này là do ở nhân gian, người tu đạo thấu hiểu về cõi trời Địa phủ, về
sứ mệnh nhiệm vụ của các hội đồng. Khi thấu hiểu, họ tấu lễ nương tựa Tuệ linh
đứng đầu và Hội đồng Giác ngộ giảng dạy, giáo hóa cho các Tuệ linh, Linh hồn vừa
trở về Địa phủ hoặc đang trong các cảnh sống Địa ngục, cảnh âm. Đó chính là
nghi lễ phổ độ của người tu đạo tại nhân gian.
-
Hội đồng Hoàn Đạo hỗ trợ, tạo điều kiện cho người tu hành thiền định tới
cõi trời Địa phủ giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn là người thân của họ. Để nhiệm vụ
này được thực hiện thì người tu hành ở nhân gian phải thấu hiểu bốn lời răn dạy,
thấu hiểu giá trị đạo đức của bốn hình tướng Đạo, thấu hiểu hai Chân lý, thấu
hiểu con đường chuyển sinh bền vững an lạc. Khi đó, Tuệ linh của người thiền định
sẽ được giám sát quá trình giảng giáo lý giáo hóa bởi Hội đồng Hoàn Đạo.
-
Hội đồng Hoàn Đạo lên kế hoạch và giao việc thực hiện cho Hội đồng
Hành pháp và Hội đồng Quản lý Hành chính trong việc đón nhận Tuệ linh, Linh hồn
sau khi hoại diệt thân tướng ở nhân gian được trở về Địa phủ, tu tập, học tập ở
các cảnh sống và chuyển sinh kiếp thân tướng mới ở nhân gian.
Hội đồng Hành pháp
Hội
đồng Hành pháp là hội đồng thực thi các quy tắc, các pháp chế tại cõi trời Địa
phủ. Đây là hội đồng được vận hành bởi các Tuệ linh có trí tuệ giác ngộ cao.
Hội
đồng Hành pháp được quản lý trực tiếp từ Hội đồng Hoàn Đạo và từ Tuệ linh đứng
đầu.
Nhiệm vụ
của Hội đồng Hành pháp:
-
Thực thi
nhiệm vụ từ Tuệ linh đứng đầu.
-
Thực thi
nhiệm vụ từ Hội đồng Hoàn Đạo.
-
Thực thi nhiệm vụ trong sổ sinh và sổ tử, đó là đi bắt về các Tuệ
linh, Linh hồn đang an trụ trong thân tướng con người vì không tu tập cải tạo
Tuệ linh trong khi ác nghiệp đã tạo quá nhiều từ nhiều kiếp. Chính vì chân tu
không chịu tu tập cải tạo nên Hội đồng Hành pháp sẽ dựa trên nghiệp ác quá nhiều
mà bắt Tuệ linh, Linh hồn đó bỏ lại thân xác để về Địa phủ, để được giáo hóa lại
rồi cho luân hồi kiếp mới. Điều này là giúp cho Tuệ linh, Linh hồn đó nhận thức
được sứ mệnh tu hành và có hành trang cho kiếp mới biết tu tập để cải tạo chính
họ trở nên bền vững an lạc.
-
Tiếp dẫn, đưa các Tuệ linh, Linh hồn tới nhân gian đầu thai sau quá
trình tu dưỡng ở cõi trời Địa phủ.
- Tiếp dẫn, đón các Tuệ linh,
Linh hồn sau khi hoại diệt thân xác kiếp thân tướng ở nhân gian để trở về Địa
phủ.
- Dẫn các Tuệ linh, Linh hồn bị
đọa ở nhân gian do chết vì tai nạn, chết vì tự tử, chết do chiến trận, chết do
đâm chém… được trở về Địa phủ sau khi đã trải nghiệm việc bị đọa ở nhân gian.
-
Dẫn giải, đón nhận các Tuệ linh, Linh hồn mắc kẹt ở nhân gian trở về Địa
phủ khi họ được người tu hành siêu độ cho họ.
4. Hội đồng
Quản lý Hành chính
Hội
đồng Quản lý Hành chính là hội đồng quản lý các cảnh sống, quản lý bộ máy và
các thủ tục tại cõi trời Địa phủ. Đây là hội đồng được vận hành bởi các Tuệ
linh có trí tuệ giác ngộ cao.
Hội
đồng Quản lý Hành chính được quản lý trực tiếp từ Hội đồng Hoàn Đạo và từ Tuệ
linh đứng đầu.
Nhiệm vụ
của Hội đồng Quản lý Hành chính:
-
Thực thi
nhiệm vụ từ Tuệ linh đứng đầu.
-
Thực thi
nhiệm vụ từ Hội đồng Hoàn Đạo.
-
Quản lý cửa khẩu âm dương. Cửa khẩu âm dương là nơi mà các Tuệ linh,
Linh hồn sau khi hoại diệt thân xác được đi qua để về Địa phủ, đồng thời cũng
là nơi mà các Tuệ linh, Linh hồn đi qua để tới nhân gian luân hồi kiếp mới. Đây
cũng là nơi đi vào cõi trời Địa phủ của các chân tu thiền định đi tới.
-
Quản lý vận hành cảnh sống tiếp nhận Tuệ linh, Linh hồn về Địa phủ, đó
là cảnh các phòng tạm chờ phân xử thiện nghiệp, ác nghiệp của các Tuệ linh,
Linh hồn khi mới tới Địa phủ trước khi phân vào các cảnh sống khác.
-
Quản lý vận hành các cửa ngục trong cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ.
-
Quản lý vận hành cảnh sống Địa âm, quản lý Tuệ linh, Linh hồn gia tiên
của các dòng họ (các Tuệ linh, Linh hồn có
cùng dòng họ khi
sống ở nhân gian), quản lý cảnh sống lao động tự do, buôn bán, mưu sinh ở cảnh
âm. Quản lý việc cung cấp, phát chẩn nhà cửa, phương tiện phục vụ cuộc sống cho
Tuệ linh, Linh hồn ở cảnh Địa âm.
-
Quản lý vận hành cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng của các Tuệ
linh và Linh hồn, đó là quản lý cảnh sống của các ngôi đồi âm đức của từng gia
tiên dòng họ.
-
Quản lý vận hành các lớp học đạo, học giáo lý của các Tuệ linh, Linh hồn.
-
Quản lý
các thủ tục tại cõi trời Địa phủ.
Như
vậy, cõi trời Địa phủ với 3 hội đồng dưới sự điều hành, quản lý của Tuệ linh đứng
đầu đã vận hành quản lý cũng như giáo hóa chúng sinh tại cõi này một cách khoa
học, chặt chẽ. Điều này đã tạo ra sức mạnh lớn giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn
sau một kiếp thân tướng có được kinh nghiệm, hành trang tri thức để chuyển sinh
được trở nên bền vững hơn ở nhân gian.
Các cảnh
sống tại cõi trời Địa phủ
Cõi
trời Địa phủ có 5 cảnh sống, bao gồm: Cảnh sống chờ phân xử, cảnh sống Địa âm,
cảnh sống Địa ngục
– Ngã quỷ, cảnh
sống tu dưỡng cân bằng năng lượng, cảnh tu dưỡng học tập giáo lý. Năm cảnh sống
này là 5 bức tranh thể hiện được đầy đủ về đời sống của các Tuệ linh, Linh hồn ở
Địa phủ sau một kiếp thân tướng ở nhân gian. Đó là một hành trình từ khi được
trở về Địa phủ, được đúc kết bài học kinh nghiệm tu hành, được học tập giáo lý,
được giáo hóa, được tu dưỡng cân bằng năng lượng và tiếp tục luân hồi kiếp mới ở
nhân gian.
Sự
vận hành tuần tự theo 5 cảnh sống là quá trình thúc đẩy nhanh chóng việc các Tuệ
linh, Linh hồn sau một kiếp người học được các bài học tu hành, được giáo hóa,
được trang bị tri thức chuyển sinh bền vững, được cân bằng năng lượng cho kiếp
chuyển sinh mới. Điều này giúp cho quá trình chuyển sinh luân hồi ở nhân gian
được nhanh chóng và nhanh chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng hơn.
Cõi trời Địa phủ
không có ngày và đêm. Các cảnh sống được Tuệ linh đứng đầu tạo dựng thành các tầng
năng lượng tiêu cực khác nhau, chân tâm, tích cực khác nhau để tạo thành môi
trường thuận lợi nhất giúp các Tuệ linh học tập bài học tu hành cũng như cân bằng
được năng lượng nhanh. Các tầng năng lượng của các cảnh sống được tạo thành dựa
trên sự u mê bám chấp, sân, hận, tạo ác nghiệp khác nhau của Tuệ linh, con người
khi sống đã tạo. Điều này tạo thành liên chết vì tai nạn,
chết do tự tử, chết do đột tử, chết do linh hồn thú dữ truy giết, chết do vi phạm
pháp luật nhân gian mà bị xử tử hình, chết do thiên tai, chết do dịch bệnh, chết
do tu tập tà pháp thần thông mà đột tử. Vì chưa đến cung số theo sổ sinh tử,
nên họ sẽ phải bị giam giữ trong các phòng tối để chờ đến đúng ngày giờ chết đã
được ấn định trong sổ sinh tử thì mới được phân xử luận thiện – ác nghiệp. Khi
phân xử, Hội đồng Hoàn Đạo sẽ giảng giải những ác nghiệp, những thiện nghiệp,
con đường phân rã Tuệ linh, Linh hồn tới đâu. Tiếp đó, sẽ chuyển các Tuệ linh,
Linh hồn đó vào các cảnh sống tương ứng với năng lượng ác nghiệp để đúc kết lại
bài học tu hành trên nhân gian.
Sau
khi các Tuệ linh, Linh hồn sống trong cảnh chờ phân xử, họ sẽ được chuyển tới
các cảnh sống khác nhau dựa trên sự phân rã cấu trúc năng lượng trong Trụ linh
mạnh hay yếu, tức là dựa trên thiện hay ác nghiệp đã tạo ra.
Nguyên tắc
phân xử để chuyển cảnh sống:
-
Nếu sống mà bám chấp, không hành thiện cũng không hành ác, sau khi
phân xử sẽ được sang cảnh sống Địa
âm.
-
Nếu sống mà không bám chấp, chưa hành thiện cũng không hành ác sẽ được
sống cảnh tu dưỡng năng lượng âm dương.
-
Nếu sống có tạo ác nghiệp và thiện nghiệp, họ sẽ sống trong cảnh Địa
ngục – Ngã quỷ để học bài học của ác nghiệp đã tạo. Sau đó, họ sẽ sống cảnh sống
Địa âm. -
Nếu sống mà chỉ tạo ác nghiệp mà không tạo thiện nghiệp. Họ sẽ sống cảnh
Địa ngục – Ngã quỷ, sau đó mới được chuyển sang cảnh âm.
2. Cảnh sống
Địa ngục – Ngã quỷ
Cảnh
sống Địa ngục – Ngã quỷ là cảnh sống dành cho các Linh hồn, Tuệ linh khi còn sống
trên nhân gian tạo nghiệp ác gây tổn hại vạn vật, muông thú và Tuệ linh, con
người. Khi hoại diệt thân tướng ở nhân gian, sau khi phân xử luận công tội, họ
sẽ phải sống trong cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ, đó là sống trong 7 đại cửa ngục ác
nghiệp trong cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ.
Cảnh
sống Địa ngục – Ngã quỷ là cảnh sống của những Tuệ linh, Linh hồn khi sống tạo
ác nghiệp trên nhân gian. Mà nguồn gốc của hành động tạo ác nghiệp là Ngã quỷ,
là độc Tâm, đó là gốc của chấp ngã, sân và hận. Cho nên, năng lượng trong cảnh
sống Địa ngục và Ngã quỷ bao trùm là màu xám tối, đen tối và màu đỏ máu. Tầng
năng lượng xám tối, màu đen, đỏ máu của Ngã quỷ là tầng năng lượng xấu, do đó
những người tu thiền du linh xuống cảnh sống này nếu không có năng lượng tốt của
màu trắng và màu vàng sẽ dễ bị nhiễm mà sinh khởi bệnh tật. Thậm chí có những
người tu thiền du linh vào cảnh Ngã quỷ dưới Địa phủ đã bị các Tuệ linh ngã quỷ
bắt lại, khi đó con cháu hoặc người thân tưởng người đó đột tử chết mà làm ma
chay. Để thiền du linh xuống các cửa ngục và các cửa Ngã quỷ thì người tu hành
phải có tầng năng lượng tốt trong tâm mới có thể an toàn đi tham quan các cảnh
sống nơi Địa phủ. Trong
7 đại cửa ngục ác nghiệp sẽ chia ra làm 6 đại cửa ngục dành riêng cho các linh
hồn và một đại cửa ngục dành riêng cho các Tuệ linh. Tổng có 72 cửa ngục nhỏ từ
7 đại cửa ngục lớn. Cửa ngục của các Linh hồn gọi là cửa Địa ngục với 6 đại cửa
lớn và tổng là 54 cửa ngục nhỏ. Cửa ngục của các Tuệ linh là cửa Ngã quỷ với một
đại cửa Ngã quỷ lớn và tổng là 18 cửa Ngã quỷ nhỏ.
2.1. Sáu
đại cửa Địa ngục cho các Linh hồn
Linh
hồn là cấu trúc năng lượng có trí tuệ di chuyển, cải tạo cuộc sống trên Trái đất.
Họ đã từng bước xây dựng được tập tính, lối sống của con người là hóa thân của
Tuệ linh (người Thiên ấn) tương tác cũng như dạy dỗ. Họ chính là Linh hồn của
các con thú, Linh hồn của con người (người Nhân mệnh) được chuyển sinh từ Linh
hồn an trụ trong thân tướng muông thú được an trụ trong thân tướng con người.
Sáu
đại cửa Địa ngục giam giữ Linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian, trải
qua 49 ngày lưu trú cảnh sống chờ phân xử. Vào ngày 49, khi phân xử, giáo hóa,
các Linh hồn khi sống ở nhân gian mà phạm vào các ác nghiệp nhóm tội tương ứng
sẽ phải đọa vào sống ở các cửa ngục khác nhau. Nếu Linh hồn phạm nhiều ác nghiệp
thì sẽ phải trải qua hết tất cả các cửa ngục cho đến khi nào Linh hồn nhận thức
được bài học ác nghiệp và sám tâm được ác nghiệp mình đã tạo ra thì mới được
chuyển sang cảnh học giáo lý và sống cảnh sống Địa âm. Các cửa Địa ngục được sắp
xếp từ nhẹ đến nặng như sau:
1- Cửa Địa
ngục lao động khổ sai:
+
Trong cửa lao động khổ sai được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng
với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.
+
Cảnh sống trong cửa ngục lao động khổ sai là hình ảnh các Linh hồn phải
lao động khổ sai, khuân vác, đập đá, lao động cật lực không được ăn uống gì khi
mà chân tay bị xiềng xích và bị hình ảnh các con quỷ đánh đập.
+
Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải
đọa vào cửa Địa ngục lao động khổ sai: Lười lao động; chửi rủa đánh đập người lao
động, chà đạp nhân phẩm người lao động; bóc lột, chiếm đoạt sức lao động của
người khác.
2- Cửa Địa
ngục hành xác:
+
Trong cửa Địa ngục hành xác được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng
với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.
+
Cảnh sống trong cửa ngục hành xác là một khu vực gồm các con mãng xà,
con trăn, con rắn, các loài thú khổng lồ. Những Linh hồn bị ném hay vứt vào
trong đó. Những con ác thú đó trườn, truy đuổi cắn xé thân hình của các Linh hồn
(họ cảm nhận thân hình họ giống với thân tướng khi sống trên nhân gian). Cảnh
tượng này không ngừng nghỉ và diễn ra liên tục trong thời gian rất dài.
+
Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải
đọa vào cửa Địa ngục hành xác: Nói dối gây thiệt hại về của cải, sức khỏe và
tính mạng người khác; tội lừa đảo; tội trộm cướp; tội chiếm đoạt tài sản người
khác; tội đánh đập muông thú; tội đánh đập hãm hại người khác.
3- Cửa Địa
ngục lao tối lạnh giá:
+
Trong cửa Địa ngục lao tối lạnh giá được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa
tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.
+
Cảnh sống trong cửa ngục lao tối lạnh giá là hình ảnh đêm tối lạnh
giá, có mưa, có tuyết rơi, những Linh hồn bị những mũi tên băng bay xuyên vào
tim, những Linh hồn hoảng loạn chạy trong đêm tối mưa rơi lạnh giá và bị các
con thú khổng lồ truy đuổi để cắn xé ăn thịt, những Linh hồn không mặc quần áo
bị treo trên cột và bị những con thú nhảy lên ăn thịt. Khi các Linh hồn chết (họ
đang nghĩ đó là thân tướng như khi còn sống ở nhân gian) rồi lại tỉnh lại và lại
bị truy giết đến chết rồi lại tỉnh lại, quá trình này lặp đi lặp lại trong khoảng
thời gian rất dài.
+
Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải
đọa vào cửa Địa ngục lao tối lạnh giá: Hành nghề sát sinh; giết hại muông thú
làm thú vui; giết hại muông thú khác để thỏa mãn thú vui ăn uống, thông dâm, tà
dâm, hiếp dâm; chửi rủa, đánh đập người khác; chà đạp nhân phẩm người khác.
4- Cửa Địa
ngục hành hình:
+
Trong cửa Địa ngục hành hình được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương
ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.
+
Cảnh sống trong cửa ngục hành hình là hình ảnh ngũ quỷ phanh thây, cảnh
Linh hồn bị truy đuổi và giết chết, cảnh bị đẩy xuống vực sâu mà chết, cảnh bị
đập vào đầu mà chết, cảnh bị giết chết và phanh xác… Cảnh Linh hồn bị giết lặp
đi lặp lại nhiều lần trong thời gian rất dài.
+
Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải
đọa vào cửa Địa ngục hành hình: Giết hại người khác; giết hại chính mình; phá,
giết hại thai nhi.
5- Cửa Địa
ngục hỏa thiêu:
+ Trong cửa Địa ngục hỏa thiêu
được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống
Linh hồn đã gây ra.
+ Cảnh sống trong cửa ngục hỏa
thiêu là cảnh Linh hồn sẽ thấy bị các con quỷ đuổi bắt và ném vào vạc dầu mà chết
cháy, bị các con quỷ ném vào núi lửa mà chết cháy, bị đốt chết, bị mũi tên lửa
bắn vào mà chết, bị phóng hỏa mà chết cháy. Linh hồn bị hỏa thiêu chết đi sống
lại trong thời gian rất dài.
+
Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải
đọa vào cửa Địa ngục hỏa thiêu: Đánh đập, chà đạp, giết hại cha mẹ; đánh đập,
chà đạp, giết hại thầy dạy; phóng hỏa giết hại người.
6- Cửa Địa
ngục băng giá:
+
Trong cửa Địa ngục băng giá được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng
với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.
+ Cảnh trong cửa ngục băng giá
dài vô tận. Những Linh hồn bị đóng băng, bị chôn vùi trong dòng sông băng,
trong núi băng. Họ không động đậy được thân hình, họ lạnh buốt không thể diễn tả
được. Sự lạnh buốt không thể diễn tả là bài học cho bản chất tạo ra quá nhiều
ác nghiệp gây tổn hại lớn cho Tuệ linh, con người, vạn vật, muông thú. Họ sẽ phải
mất thời gian dài vô tận, lâu nhất so với các cửa Địa ngục bài học ác nghiệp
khác mới được chuyển sang cảnh sống âm. +
Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải
đọa vào cửa Địa ngục băng giá: Bán nước hại dân, tham ô tham nhũng, kích động
chiến tranh; kích động xung đột dân tộc, tiết lộ bí mật quốc gia, phản bội Tổ
quốc.
Những
người Nhân mệnh nếu vi phạm vào chửi rủa Thiên Địa, chửi rủa Thánh thần, Phật,
Chúa Trời, Thượng Đế, phá đình chùa, phá mồ mả gia tiên thì sẽ phải đọa hết tất
cả lần lượt 6 đại cửa Địa ngục rồi mới được chuyển sang sống cảnh âm.
2.2. Một
đại cửa Ngã quỷ dành cho các Tuệ linh
Trong
cửa Ngã quỷ dành cho các Tuệ linh (khi sống làm người họ được gọi là dòng người
Thiên ấn) trên các cõi trời xuống nhân gian tu hành, nhưng vì tạo ác nghiệp nên
sẽ bị đọa vào trong cửa ngục đặc biệt này. Cửa Ngã quỷ được cõi trời Địa phủ quản
lý và dùng các tầng năng lượng của sự giác ngộ để giúp cho họ nhanh chóng thấu
hiểu và học được bài học ác nghiệp đã tạo ra ở nhân gian khi sống trong thân tướng.
Cửa
Ngã quỷ bao gồm 18 cửa nhỏ: Cửa lao động khổ sai có 3 cửa nhỏ; cửa hành xác có
3 cửa nhỏ; cửa lao tối lạnh giá có 3 cửa nhỏ; cửa hành hình có 3 cửa nhỏ; cửa hỏa
thiêu có 3 cửa nhỏ; cửa băng giá có 3 cửa nhỏ. Cảnh sống ở các cửa ngục của Tuệ
linh đều giống như cảnh sống các cửa ngục của Linh hồn. Cửa Ngã quỷ chỉ khác so
với cửa Địa ngục là mức độ chịu hình phạt nặng hơn, sự giam giữ nghiêm ngặt hơn
vì họ là Tuệ linh nên cấu trúc phóng xạ năng lượng âm rất mạnh và rất nguy hiểm
đối với con người cũng như các Linh hồn khi tới gần họ. Khi các Tuệ linh bị đọa
trong các cửa ngục này thì họ sẽ
hóa thành quỷ và ăn thịt, giết hại nhau đến chết thân hình của họ. Khi sống lại
họ lại lặp đi lặp lại hành động tạo nghiệp như khi còn sống trên nhân gian.
Hành động giết hại nhau đến chết và rồi sống lại cứ lặp đi lặp lại trong thời
gian rất dài.
Cửa
ngục băng giá của các Tuệ linh cũng dài vô tận, họ cần rất nhiều thời gian, nhiều
hơn bất cứ cửa ngục nào để trải nghiệm lại những bài học ác nghiệp đã tạo khi sống
ở nhân gian. Tuệ linh được về Địa phủ, được vào cửa ngục băng giá là điều đáng
mừng đối với họ. Bởi với ác nghiệp tạo ra vô số như vậy thì họ chưa bị hoại diệt
bởi sự phân rã hoàn toàn Tuệ linh là điều rất mừng. Được về Địa phủ, sống trong
cảnh cửa ngục băng giá là vẫn còn cơ hội để cải tạo và chuyển sinh lại Trụ
linh. Đáng mừng là vì vậy.
Những
người Thiên ấn nếu vi phạm vào chửi rủa Thiên Địa, chửi rủa Thánh thần, Phật,
Thượng Đế, Chúa Trời, phá đình chùa, phá mồ mả gia tiên thì sẽ phải đọa hết tất
cả lần lượt 18 cửa ngục trong Ngã quỷ rồi mới được chuyển sang sống cảnh âm.
Tất cả các cửa ngục
mà có hình ảnh con quỷ đuổi giết Linh hồn hay Tuệ linh, hình ảnh các con thú dữ
giết hại Linh hồn hay Tuệ linh, hình ảnh có người đánh đập tra tấn Linh hồn hay
Tuệ linh đều không phải là các Ngài ở Địa phủ, và cũng không phải có con quỷ
hay dã thú nào hết. Đây là do ác nghiệp khi sống trên nhân gian mà họ đã tạo
ra. Bởi những suy nghĩ từ bám chấp, tiêu cực cho đến hành động tiêu cực gây tổn
hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người đều được lưu giữ thành các hạt năng lượng
trong Trụ linh và Tuệ linh, Linh hồn họ, đó là bởi cơ chế phân tách liên kết hạt
năng lượng. Chính vì cơ chế phân tách, liên kết như vậy nên vị Tuệ linh đầu tiên đã xây
dựng các cảnh sống, các cửa Địa ngục có các tầng năng lượng ác nghiệp với vô số
hạt năng lượng tiêu cực tương ứng để khi các Tuệ linh, Linh hồn tạo ác nghiệp
khi sống ở nhân gian bị đưa vào đó sẽ tạo thành liên kết giữa các hạt năng lượng
ác nghiệp mà tạo ra ảo ảnh, ảo thanh, ảo giác. Họ sẽ đắm chìm trong sự phản chiếu
của ác nghiệp đã tạo ra
ở
nhân gian bởi cơ chế liên kết kỳ diệu này. Điều này đã khiến cho những
bậc tu hành ở nhân gian không thể hiểu được và vẫn lầm tưởng là Địa ngục, Địa
phủ có ác quỷ, có quỷ sai giết hại Linh hồn, Tuệ linh cũng như đi giết hại con
người.
Tất
cả các cảnh tra tấn, truy giết sẽ bị tiêu tan, Tuệ linh, Linh hồn sẽ thoát ra
được các cảnh Địa ngục ngã quỷ nếu họ tĩnh tâm, buông xả được những bám chấp,
tiêu cực và các hành động ác nghiệp. Khi đó, họ tin vào con đường họ đã và thực
hành ác nghiệp ở nhân gian là sai trái, là con đường hoại diệt chính họ. Họ có
niềm tin vào hai Chân lý, nguyện đi theo hai Chân lý. Khi đó, họ sẽ được đưa ra
khỏi cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ để tham gia cảnh sống học giáo lý và chuyển
sang cảnh sống Địa âm.
Khi
các Linh hồn và Tuệ linh đang bị đọa trong Địa ngục – Ngã quỷ thì họ tuyệt đối
không thể nhận bất cứ lễ vật gì do con cháu ở nhân gian cúng lễ dâng tiến. Họ
chỉ nhận được năng lượng hành thiện hoặc năng lượng ác nghiệp từ con cháu và
người thân ở nhân gian. Nếu con cháu và người thân hành thiện nghiệp thì họ
nhanh ngộ được bài học ác nghiệp của họ. Nếu con cháu, người thân ở nhân gian
hành ác nghiệp thì họ sẽ mất nhiều thời gian hơn để ngộ được bài học ác nghiệp
của họ, họ chỉ ngộ được khi thấy con cháu, người thân trả giá cho những ác nghiệp
đã tạo. Khi
mỗi dòng họ hay gia đình mà có Linh hồn, Tuệ linh bị đọa trong các cửa ngục thì
gọi là động âm, tức là Linh hồn, Tuệ linh bị động tâm, chưa định thần nên con
cháu sẽ không được yên theo do năng lượng của gia tiên tác động vào mong con
cháu phổ độ gia tiên siêu thoát khỏi cảnh Địa ngục – Ngã quỷ. Khi mỗi dòng họ
mà có nhiều Linh hồn, Tuệ linh bị đọa trong các cửa Địa ngục – Ngã quỷ thì trên
dương gian con cháu sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cuộc sống, thậm chí có
nhiều người chết trẻ, đây là nghiệp cửu trùng của cả người sống và người đã chết
trong dòng họ đó tích tụ lại mà nhận quả báo.
3. Cảnh sống
Địa âm
Cảnh
sống Địa âm là cảnh sống của những năng lượng âm có sóng điện âm ở mức nhẹ.
Năng lượng âm nhẹ được vị Tuệ linh đầu tiên tạo dựng cho cảnh sống này. Cảnh sống
Địa âm là cảnh sống được chi phối bởi năng lượng tiêu cực nhẹ của sự bám định,
ý nghĩ, tư tưởng tiêu cực. Đó là tư tưởng tiêu cực mong muốn, mơ mộng, khát
khao được thỏa mãn giả tướng về mình một cách ích kỷ mà không vì lợi ích của Tuệ
linh, con người và vạn vật. Cảnh sống Địa âm tượng trưng cho trí tuệ u mê bám
víu, hút lấy giả tướng về mình mà chưa hành động gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ
linh và con người. Cảnh sống này không có năng lượng của ý nghĩ, suy nghĩ, tư
tưởng tích cực.
Tầng
năng lượng của cảnh sống Địa âm là màu xám sáng như chiều tối mà Mặt trời đã lặn.
Năng lượng và không gian ảm đạm, yên tĩnh của sự suy tư âu sầu. Sự ảm đạm và
không gian tỏa năng lượng màu xám sáng là do các Linh hồn, Tuệ linh vẫn còn
bám định, chấp ngã, sân, hận nên mới tỏa ra năng lượng âm màu xám hòa quyện tầng
năng lượng đã được kiến tạo của cảnh sống Địa âm. Điều này sẽ làm bài học rất
giá trị để giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn học tập được cách thay đổi hệ tư tưởng
để chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc.
Đối tượng Tuệ linh, Linh hồn được sống cảnh Địa
âm:
+
Cảnh sống Địa âm là cảnh sống dành cho các Linh hồn, Tuệ linh khi sống
ở nhân gian có tư tưởng cho đến hành động không thiện cũng không ác.
+
Là cảnh sống dành cho các Tuệ linh, Linh hồn khi sống dù có tạo được
những thiện nghiệp, nhưng vẫn có tư tưởng, ý nghĩ u mê tiêu cực, vẫn chấp ngã,
sân và hận.
+
Tuệ linh, Linh hồn khi sống ở nhân gian tuy không tạo ác nghiệp những
vẫn còn u mê, chấp ngã, sân, hận, nên phải sống trong cảnh sống Địa âm để nhận
diện lại tư tưởng tiêu cực đó có lợi hay có hại cho con đường chuyển sinh.
+
Các Tuệ linh, Linh hồn sau khi được siêu thoát khỏi các cửa ngục và được
học đạo thì sẽ được chuyển sang sống cảnh Địa âm để được lao động tự do và tiếp
tục tu học cân bằng năng lượng cũng như tham gia các lớp học đạo để chuyển hóa
trí tuệ và chuyển hóa cảnh sống sang cảnh sống cân bằng năng lượng.
Cảnh sống
Địa âm có:
+
Nhà tranh mái ngói, nhà tranh mái lá, nhà gỗ, mỗi ngôi nhà chỉ vài mét
vuông. Không có nhà tầng, nhà lầu, xe hơi, xe máy, xe đạp hay bất kỳ phương tiện
khoa học kỹ thuật nào ở cõi trời Địa phủ.
+ Có chợ quê, có cánh đồng
lúa, có cảnh lao động tự do buôn bán và sản xuất nông nghiệp, có thầy đồ dạy học,
có thầy bốc thuốc… có đồi núi và ao hồ. Cuộc sống đơn sơ là để giúp cho các Tuệ
linh, Linh hồn nhanh chóng buông đi những bám định vào giả tướng ở nhân gian.
+
Có ngân hàng hay còn gọi là kho khố Địa phủ. Các Tuệ linh ở Hội đồng
Quản lý Hành chính sẽ phát chẩn cho các Tuệ linh, Linh hồn được chuyển từ Địa
ngục – Ngã quỷ ra sống cảnh Địa âm. Các Tuệ linh, Linh hồn sau khi sống cảnh chờ
phân xử, sau khi phân xử ở ngày 49 mà không có ác nghiệp, nhưng vẫn u mê bám định,
vẫn chấp ngã, sân, hận thì sẽ được nhận phát chẩn và sống ở cảnh Địa âm. Họ được
cấp phát nhà cửa và công cụ lao động, tư trang quần áo và những đồ dùng cần thiết
cho cuộc sống ở cảnh Địa âm. Các Tuệ linh, Linh hồn khi sống cảnh sống Địa âm sẽ
không nhận được bất cứ đồ lễ gì từ con cháu ở nhân gian cúng lễ như tiền vàng,
nhà lầu, xe cộ… Những vật chất ở nhân gian đều không thể gửi được đến cõi trời
Địa phủ. Khi con cháu dâng lễ hay tri ân thì Tuệ linh, Linh hồn cũng chỉ nhận
dòng năng lượng hành thiện hay tạo ác nghiệp hoặc năng lượng chấp ngã của con
cháu chứ không ăn hay thụ hưởng được đồ lễ.
Cảnh
sống Địa âm là dành cho các Tuệ linh, Linh hồn khi sống trên nhân gian có trí
tuệ u mê mà chấp ngã, sân hận, nhưng chưa tạo nghiệp ác. Đó là cảnh sống mà các
Tuệ linh, Linh hồn đã trải nghiệm ở cảnh sống Địa ngục chuyển sang. Do đó, họ vẫn
còn u mê và bám chấp để thỏa mãn các giả tướng. Các Tuệ
linh, Linh hồn ở cảnh sống này vẫn đòi hỏi con cháu cúng lễ nhiều, vẫn hay chấp
nhặt người thân ở nhân gian. Sự chấp ngã dài lâu hay nhanh giác ngộ của Tuệ
linh, Linh hồn vừa phụ thuộc vào việc tu hành của con cháu và người thân trên
dương gian, vừa phụ thuộc vào quá trình tu học giáo lý của chính họ ở Địa phủ.
Để các Tuệ linh, Linh hồn nhanh giác ngộ để
chuyển sang cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng thì con cháu ở nhân gian và
Tuệ linh, Linh hồn ở cảnh Địa âm phải thực hiện như sau:
+
Tuệ linh, Linh hồn ngoài việc lao động, sinh hoạt ở cảnh sống Địa âm sẽ
phải tham gia các lớp học đạo, học giáo lý do Hội đồng Hoàn Đạo giảng dạy.
+
Con cháu, người thân ở nhân gian phải hành thiện giúp đỡ chúng sinh;
làm lễ phổ độ gia tiên để nhờ Hội đồng hoàn đạo thuyết pháp giảng giải cho cả
gia tiên dưới Địa phủ; con cháu có khả năng thiền định xuống dưới Địa phủ nhờ Hội
đồng Hoàn đạo triệu tập gia tiên mà thuyết giảng Chân lý Vạn vật và Chân lý
Giác ngộ để giúp gia tiên giác ngộ và chuyển được sang cảnh tu dưỡng cân bằng
năng lượng; con cháu không đốt tiền vàng, các đồ giả tướng như nhà cửa, xe cộ, vì
họ không thể nhận được thứ gì cả; không nên lễ bái cầu xin công danh hay tiền
tài từ gia tiên, bởi họ đang cầu xin con cháu hành thiện để họ được nhận dòng
năng lượng hành thiện đó mà giúp họ được siêu thoát sang cảnh tu dưỡng cân bằng
năng lượng.
+
Khi con cháu, người thân ở nhân gian hành thiện, giúp đỡ chúng sinh
thì năng lượng hành thiện đó sẽ được chuyển cho gia
tiên khi ta tưởng nhớ, khi ta thắp hương tri ân gia tiên. Khi ta tri ân và thắp
hương tưởng nhớ bằng tâm đức hành thiện có được sẽ giúp cho gia tiên dưới Địa
phủ nhận được năng lượng đó mà gột rửa được chấp ngã. Khi đó các Ngài ở Hội đồng
Quản lý Hành chính sẽ phát chẩn nhiều cho gia tiên, nhưng vì gia tiên đã giác
ngộ nên không nhận những đồ phát chẩn, họ sẽ được chuyển sang cảnh tu dưỡng cân
bằng năng lượng. Nhưng khi con cháu trên nhân gian làm nhiều việc ác, tạo ra
nhiều ác nghiệp thì gia tiên dưới Địa phủ sẽ chấp vào đó mà không thể giác ngộ
được, họ sẽ luẩn quẩn theo Tâm ngã quỷ của con cháu, luẩn quẩn theo nghiệp của
con cháu. Cho dù con cháu ở nhân gian có đốt nhiều vàng mã, cúng lễ to đến mấy
thì gia tiên cũng không nhận được một thứ gì hết.
Tuệ
linh và Linh hồn tồn tại và phát triển dựa trên sự phân tách và liên kết hạt
năng lượng bền vững ở họ chứ không phải là thụ hưởng vật chất. Do đó nếu gia
tiên nhận được các tầng năng lượng hành thiện tích đức từ con cháu thì họ sẽ
nhanh giác ngộ mà chuyển sinh kiếp người mới, nếu gia tiên nhận được các tầng
năng lượng ác nghiệp từ con cháu thì họ sẽ đọa trong cửa ngục và cảnh âm lâu
dài mà khó được giác ngộ để siêu thoát.
4. Cảnh sống
tu dưỡng cân bằng năng lượng
Cảnh sống tu dưỡng
cân bằng năng lượng là cảnh sống có năng lượng tốt nhất ở cõi trời Địa phủ. Đây
là cảnh sống cuối cùng mà các Tuệ linh, Linh hồn chuyển sinh về Địa phủ sau kiếp
người sẽ phải sống trước khi luân hồi kiếp thân tướng mới ở nhân gian. Cảnh
sống tu dưỡng cân bằng năng lượng được vị Tuệ linh đầu tiên kiến tạo ra các tầng
năng lượng tích cực có sóng điện dương. Nó tượng trưng cho sự cân bằng, sự giác
ngộ ra lối sống tiêu cực ở kiếp người vừa qua, nó tượng trưng cho quá trình định
hình tư tưởng tích cực cũng như tương tác năng lượng từ con cháu và người thân ở
nhân gian. Đó là sự tích lũy của cả hội đồng gia tiên ở Địa phủ và con cháu ở
nhân gian để tạo thành cơ chế liên kết năng lượng. Đó là cơ chế mà Tuệ linh,
Linh hồn cần phải học và xây dựng để bản thể Tuệ linh, Linh hồn học tập được sự
liên kết của tình yêu thương, giúp đỡ nhau, sống vì nhau, vì vạn vật, Vũ trụ,
Tuệ linh và con người. Do đó, không những cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng, mà
tất cả các cảnh sống ở Địa phủ là nhằm giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn đang
chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt từng bước học được ý thức hệ trong việc
có trách nhiệm, biết hy sinh vì nhau, hy sinh vì Trời và người cùng toàn bộ Vũ
trụ.
Đối tượng Tuệ linh, Linh hồn được sống ở cảnh
sống tu dưỡng cân bằng năng lượng:
+
Các Tuệ linh, Linh hồn được chuyển đến từ cảnh sống Địa âm sau khi học
đạo và được giác ngộ không còn chấp ngã, sân, hận nữa.
+ Các Tuệ linh, Linh hồn khi sống
ở nhân gian không có chấp ngã, sân, hận, không tạo nghiệp, đã bắt đầu và giúp đỡ
được vạn vật, Tuệ linh, con người, muông thú, sau khi hết kiếp thân tướng ở
nhân gian và sống cảnh sống 49 ngày chờ phân xử sẽ được chuyển luôn sang cảnh
tu dưỡng cân bằng năng lượng để cân bằng năng lượng và tu học giáo lý. Cảnh
sống tu dưỡng cân bằng năng lượng có các ngọn đồi thấp, thoai thoải, có nhiều
cây xanh trùng trùng điệp điệp như bất tận. Mỗi một gia tiên dòng họ sẽ được
sinh sống và tu luyện trên một ngọn đồi, được gọi là ngọn đồi âm đức của mỗi
gia tiên dòng họ. Trong mỗi ngọn đồi âm đức thì mỗi một Tuệ linh, Linh hồn sẽ
có các nấm đất rộng khoảng 1 mét vuông để ngồi hành thiền và nghe các vị Tuệ
linh giác ngộ thuyết pháp và tu dưỡng cân bằng năng lượng chờ ngày đầu thai kiếp
mới ở nhân gian.
Tầng
năng lượng bao trùm cho cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng là năng lượng
màu vàng nhạt. Đó là năng lượng định hướng cho các Tuệ linh, Linh hồn hướng tới
tư tưởng và hành động giống với năng lượng đoàn kết. Bởi chỉ có tư tưởng và
hành động theo năng lượng đoàn kết màu vàng mới xây dựng được cơ chế phân tách
liên kết bền vững. Đó là con đường để chuyển sinh bền vững. Tuy nhiên, mỗi một
ngôi đồi của gia tiên dòng họ lại có tầng năng lượng khác nhau, có gia tiên
dòng họ thì có năng lượng màu vàng rực rỡ và cỏ cây xanh tốt, có gia tiên dòng
họ thì chỉ có năng lượng màu trắng và cỏ cây tươi tốt, có gia tiên thì có năng
lượng màu xám đen và đồi núi bị sạt lở, có gia tiên thì không có cỏ cây và năng
lượng thì màu đen và đỏ máu.
Âm đức dòng họ gia
tiên được thể hiện thông qua màu sắc năng lượng và sự tươi tốt hay không của
cây cối tại mỗi ngôi đồi âm đức. Dòng họ nào có âm đức tốt là ngôi đồi âm đức
có năng lượng màu vàng, trắng vàng, trắng, có cỏ cây xanh tốt, có nhiều cây cổ
thụ. Dòng họ nào mà âm đức kém thì ngôi đồi âm đức bị sạt lở, năng lượng màu
xám, đen, đỏ máu, cỏ cây không xanh tốt và không có cây cổ thụ. Dòng họ sắp đi
đến diệt vong thì ngôi đồi âm đức có năng lượng màu đỏ máu, đen nhiều,
đồi âm đức bị sụt, cỏ cây bị cháy hoặc chết. Ngôi đồi nào có nhiều năng lượng
màu vàng thì dòng họ đó có các vị Tuệ linh giác ngộ rất cao hóa thân xuống và
đang hành đạo rất tốt. Ngôi đồi nào có năng lượng màu trắng và phớt vàng thì
dòng họ đó có các vị Tuệ linh giác ngộ cao hóa thân xuống đang hành đạo tốt.
Ngôi đồi nào có năng lượng màu tím, màu hồng, màu xanh thì dòng họ đó có các bậc
Thánh nhân hóa thân xuống cứu giúp dân tộc. Ngôi đồi nào có năng lượng màu đỏ
máu thì con cháu có người tâm hóa quỷ đang hại người, hại dân tộc, hại chúng
sinh. Ngôi đồi nào có năng lượng màu đen thì con cháu đang tạo nhiều nghiệp lực.
Ngôi đồi nào có năng lượng màu xám thì con cháu ở nhân gian đang rất u mê.
Thông
qua ngôi đồi âm đức của gia tiên dòng họ mà biết được con cháu dòng họ đang
hành thiện nghiệp hay tạo ác nghiệp. Con cháu muốn giúp cho âm đức dòng họ được
nâng cao và gia tiên nhanh được siêu thoát chuyển sinh kiếp mới thì con cháu phải
hành thiện giúp vạn vật, Tuệ linh, con người hoặc thiền định xuống Địa phủ giảng
Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ để truyền sự giác ngộ đó gia hộ cho gia
tiên nhanh siêu thoát chuyển sinh.
5. Cảnh sống
tu học giáo lý
Cảnh
sống tu học giáo lý là cảnh sống mà tất cả các Tuệ linh, Linh hồn tới Địa phủ
sau một kiếp thân tướng sẽ phải tham gia. Nếu các Tuệ linh, Linh hồn mà không học
hay chống đối việc học giáo lý, họ sẽ không được luân hồi kiếp mới. Do đó, việc
tham gia tu học giáo lý là điều bắt buộc với tất cả chúng sinh cõi trời Địa phủ.
Việc
lên kế hoạch mở các lớp học giáo lý thường xuyên theo định kỳ và đột xuất là do
Hội đồng Hoàn Đạo thực hiện.
Việc
giảng dạy giáo lý là do các Tuệ linh của Hội đồng Hoàn Đạo thực hiện. Đôi khi
Tuệ linh đứng đầu sẽ giảng dạy.
Đối
tượng được tham gia tu học giáo lý là tất cả Tuệ linh, Linh hồn sống ở Địa phủ.
Khi sống ở nhân gian, họ đang chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt, tức là
họ có tư tưởng cho đến hành động ích kỷ về họ mà không mang lại lợi ích hoặc
gây tổn hại lợi ích của vạn vật, muông thú, Tuệ linh, con người.
Cảnh sống
tu học giáo lý gồm có các lớp học sau:
+
Lớp học đặc biệt dành cho những Tuệ linh, Linh hồn bị hoại diệt thân
tướng ở nhân gian khi chưa tới cung số tuổi thọ ấn định theo sổ sinh tử, tức là
những Tuệ linh, Linh hồn này đã tạo nhiều ác nghiệp ở kiếp quá khứ mà kiếp này
họ không cải tạo, dẫn tới hoại diệt thân tướng. Họ tạo nhiều ác nghiệp dẫn tới
vi phạm pháp luật nhân gian mà bị tử hình. Họ chết do tai nạn, chết do đột tử bởi
linh hồn thú dữ giết hại, chết do chiến tranh, chết do đâm chém, chết do tự tử,
chết do thiên tai lũ lụt, chết do dịch bệnh. Vì chưa tới cung số phải chết, lại
được những người tu hành siêu độ cho về Địa phủ, nên họ sẽ phải học lớp học
giáo lý đặc biệt này. Lớp học này là giúp họ nhớ lại toàn bộ diễn biến kiếp
thân tướng ở nhân gian. Sau khi học xong lớp giáo lý này mới được phân xử để
phân sang các cảnh sống Địa ngục. Nếu con cháu ở nhân gian mà thấu hiểu hai
Chân lý, thực hiện nghi lễ phổ độ cho họ, họ sẽ không phải đọa vào cảnh sống Địa
ngục – Ngã
quỷ nữa. Họ sẽ được sống cảnh
sống lớp học giáo lý thay thế cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ.
+
Lớp học thay thế cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ: Đó là các Tuệ linh,
Linh hồn sau khi trải qua cảnh sống chờ ngày 49 để phân xử sau khi hoại diệt
thân tướng, đáng lẽ ra do ác nghiệp mà họ sẽ phải bị phân vào sống cảnh Địa ngục
– Ngã quỷ. Tuy nhiên, vì được con cháu thấu hiểu hai Chân lý, đã thực hành nghi
thức phổ độ cho gia tiên, cho vong linh (Tuệ linh, Linh hồn), nên họ sẽ được đặc
cách không phải đúc kết bài học ác nghiệp trong cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ. Họ
sẽ được tham gia lớp học giáo lý đúc kết bài học ác nghiệp đã tạo ở kiếp thân
tướng vừa qua. Vì sự giác ngộ của con cháu, người thân, vì họ nương tựa vào hai
Chân lý nên được Hội đồng Giác ngộ ở Địa phủ cho tham gia khóa học thay thế cho
cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ. Khi hoàn thành khóa học, họ sẽ chuyển sang sống cảnh
Địa âm.
+
Lớp học giáo lý dành cho những Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh Địa âm:
Các Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh Địa âm phải tham gia lớp học này để học cách
thay đổi tư tưởng, thay đổi suy nghĩ để không còn bám định u mê về giả tướng nữa.
Khi hoàn thành họ sẽ được chuyển sang cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng.
+
Lớp học giáo lý dành cho những Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh sống tu dưỡng
cân bằng năng lượng: Các Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng
sẽ phải tham gia khóa học này, họ học thiền định để cân bằng năng lượng, học những
hành trang về tư tưởng hành động tích cực và chuyển sinh bền vững. Khi họ học
xong, họ sẽ được chuyển sinh luân hồi kiếp thân tướng mới.
Như
vậy, cảnh sống tu học giáo lý gắn liền với 4 cảnh sống trên để thông qua đó
giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn nhanh chóng học được các bài học ác nghiệp, thiện
nghiệp, từng bước thay đổi tư tưởng tiêu cực chuyển sang tư tưởng tích cực. Việc
thay đổi đó sẽ giúp cho họ dễ thực hiện được chuyển sinh theo hướng bền vững và
an lạc khi luân hồi kiếp mới.
Hành trình chuyển sinh qua cõi trời Địa phủ
sau kiếp thân tướng ở nhân gian
Hành
trình một vòng chuyển sinh luân hồi của con người và muông thú từ khi hoại diệt
thân tướng cho tới khi trở về Địa phủ, sống trong các cảnh sống và chuyển sinh
luân hồi tới nhân gian đầu thai kiếp mới sẽ trải qua quy trình như sau:
Hành trình 1: Con người, muông thú hoại
diệt thân tướng sẽ chia ra làm hai trường hợp:
+
Trường hợp 1: Hoại diệt thân tướng ở nhân gian đúng với tuổi thọ ấn định
theo sổ sinh tử. Chết do tuổi già, chết do bệnh tật dù tuổi thọ nhiều hay ít.
+
Trường hợp 2: Hoại diệt thân tướng ở nhân gian khi chưa tới tuổi thọ ấn
định theo sổ sinh tử. Tức là những Tuệ linh, Linh hồn này đã tạo nhiều ác nghiệp
ở kiếp quá khứ mà kiếp này họ không cải tạo, dẫn tới hoại diệt thân tướng. Họ tạo
nhiều ác nghiệp dẫn tới vi phạm pháp luật nhân gian mà bị tử hình. Họ chết do
tai nạn, chết do đột tử bởi linh hồn thú dữ giết hại, chết do chiến tranh, chết
do đâm chém, chết do tự tử, chết do thiên tai lũ lụt, chết do dịch bệnh.
Hành trình 2: Hội đồng Hành pháp sẽ đón,
tiếp dẫn, đưa các Tuệ linh, Linh hồn ở trường hợp 1 của hành trình 1 trở về Địa
phủ.
Đối
với trường hợp 2 của hành trình 1, cõi trời Địa phủ sẽ không đón về. Cõi trời Địa
phủ để cho Tuệ linh, Linh hồn của họ quẩn quanh nơi họ hoại diệt thân tướng. Đó
là kế
hoạch để cho họ
trải nghiệm bài học không trân trọng thân tướng tu hành, không trân trọng thân
tướng mà tu tập cải tạo Tuệ linh. Kế hoạch để họ đọa ở nhân gian sẽ hoàn thành
nếu những con người sống trên những mảnh đất mà họ bị đọa giác ngộ, được những
con người đó siêu độ cho về Địa phủ thì họ được về Địa phủ. Hoặc được những người
tu hành siêu độ cho họ về Địa phủ thì họ mới được về Địa phủ. Khi có con người
giác ngộ để siêu độ cho họ về Địa phủ là hoàn thành kế hoạch bài học trải nghiệm
của họ ở nhân gian. Hoàn thành là vì thông qua việc họ bị đọa như thế để con
người biết được việc chết do ác nghiệp sẽ bị đọa mà không được siêu thoát, để
con người có niềm tin vào Thế giới Tuệ linh, Linh hồn.
Hành trình 3: Tuệ linh, Linh hồn sẽ được
lưu trú trong cảnh sống chờ phân xử. Họ chờ đến ngày thứ 49 sau khi thân tướng
hoại diệt ở nhân gian để được phân xử công tội đã tạo ra khi sống ở nhân gian.
Trong thời gian 49 ngày, Tuệ linh, Linh hồn vẫn được Hội đồng Hành pháp dẫn về
nhân gian để thăm người thân, thăm những dấu mốc ký ức quan trọng của kiếp đó.
Hành trình 4: Phân xử Tuệ linh, Linh hồn ở
ngày thứ 49 sau khi hoại diệt thân tướng ở nhân gian. Nếu Tuệ linh, Linh hồn tạo
ác nghiệp đều phải đọa vào cảnh sống Địa ngục
– Ngã quỷ. Nếu
Tuệ linh, Linh hồn không tạo ác nghiệp nhưng còn chấp ngã thì sẽ được sống cảnh
sống Địa âm. Nếu Tuệ linh, Linh hồn không tạo ác nghiệp, không chấp ngã, có sự
giác ngộ và hành thiện thì sẽ được sống cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng.
Hành trình 5: Chuyển cảnh sống Tuệ linh,
Linh hồn vào các cảnh sống tương ứng với ác nghiệp hay thiện nghiệp khi còn sống
trên nhân gian.
Tuệ
linh, Linh hồn sẽ phải đọa vào các cửa ngục Ngã quỷ do đã tạo ác nghiệp khi còn
sống trên nhân gian.
Tuệ
linh, Linh hồn sẽ được sống cảnh âm sau khi vượt qua thời gian đọa trong cửa ngục
hoặc sau 49 ngày kể từ khi hoại diệt thân tướng, hoặc được con cháu phổ độ mà
không phải sống cảnh Địa ngục – Ngã quỷ, họ được học đạo và sống cảnh Địa âm.
Tuệ
linh, Linh hồn sẽ được sống cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng chờ ngày đầu thai
do được chuyển từ cảnh sống Địa âm sang, hoặc sau 49 ngày hoại diệt thân tướng
do phước báo mà được sống luôn cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng.
Hành trình 6: Tuệ linh, Linh hồn được
luân hồi kiếp mới ở nhân gian. Sau thời gian tu luyện trong cảnh tu dưỡng cân bằng
năng lượng đạt được sự cân bằng, lĩnh hội, học tập được tư tưởng sống tích cực,
có đủ năng lượng tích cực cho sự an trụ vào thân tướng mới ở nhân gian, tùy
theo ác nghiệp khi sống mà vẫn phải đọa thành súc sinh, tùy theo thiện nghiệp
khi sống mà được chuyển sinh làm người ở kiếp mới.
Do
năng lượng của chúng sinh khi sống ở nhân gian có chấp ngã, sân hận, tạo ác
nghiệp, mà thiện nghiệp thì chưa nhiều, nên sau khi hết kiếp thân tướng, Tuệ
linh, Linh hồn chưa thể định thần, không đủ năng lượng để đi về các cõi cũng
như Địa phủ. Do đó, cõi trời Địa phủ đã có Hội đồng Hành pháp thực thi nhiệm vụ
hỗ trợ các vong linh nhanh chóng đi được vào quy trình của vòng luân hồi chuyển
sinh. Tuy nhiên, cõi trời Địa phủ vẫn đảm bảo kế hoạch của vị Tuệ linh đầu tiên
là để cho các Tuệ linh, Linh hồn được trải
nghiệm đủ khi bị
đọa ở nhân gian sau khi hết kiếp thân tướng. Đó là kế hoạch để giúp cho con người
đang sống nhận diện được khổ đau mà truy tìm con đường giác ngộ cũng như giúp
cho các Tuệ linh, Linh hồn mắc kẹt ở nhân gian được siêu độ về Địa phủ.
Sau
một vòng chuyển sinh, dù có đọa thành súc sinh hay làm người ở kiếp mới thì đó
là quy trình tuần hoàn các Tuệ linh và Linh hồn cần phải nhanh chóng trải qua.
Bởi thông qua các khổ đau và kiếp nạn thì các Tuệ linh và Linh hồn mới có cơ hội
cải tạo Trụ linh của họ thành bộ lọc năng lượng. Do đó sau khi hoại diệt thân
tướng ở nhân gian, Tuệ linh, Linh hồn không được trở về Địa phủ để đúng quy
trình luân hồi thì con đường tu hành của họ trong vô lượng kiếp còn dài. Có những
Tuệ linh sau khi hết kiếp thân tướng vì ác nghiệp là tự tử, khi thiền định gặp
họ đang đọa trong điền thổ đất đã trải qua gần 1000 năm. Như vậy việc luân hồi
của họ bị gián đoạn quá lâu. Việc các thầy pháp, thầy tu, hành giả dùng pháp
thuật trấn giữ vong hồn (Tuệ linh, Linh hồn sau khi hoại diệt thân tướng) để thực
hiện mục đích riêng là đang tạo ác nghiệp cho chính họ và khiến cho các Tuệ
linh, Linh hồn không được đi đúng theo quy trình chuyển sinh luân hồi.
Khi
các Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương siêu mạnh, những bậc giác ngộ hóa
thân xuống nhân gian làm nhiệm vụ, sau khi hoại diệt thân tướng, họ sẽ trở về
cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên mà không phải trở về Địa phủ. Khi họ hoại diệt
thân tướng, sẽ có các chư vị Tuệ linh từ cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên tới
đón về.
Phương pháp siêu độ cho Tuệ linh, Linh hồn sau
kiếp thân tướng ở nhân gian
Siêu
độ chính là một phần trong hóa độ để siêu thoát cho Tuệ linh, Linh hồn sau khi
hết kiếp thân tướng ở nhân gian để nhanh chóng được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.
1. Siêu độ
sẽ có 4 mức độ như sau
Mức độ 1: Siêu độ về Địa phủ sau khi
hết kiếp thân tướng ở nhân gian. Ở mức độ này chỉ cần Tuệ linh, Linh hồn được
trở về Địa phủ, dù là trong cửa ngục Ngã quỷ thì cũng đã là được siêu thoát về
Địa phủ. Bởi có nhiều Tuệ linh, Linh hồn bị đọa ở nhân gian vì nhiều nguyên
nhân nên không được trở về Địa phủ, họ không thể bước được vào vòng chuyển sinh
luân hồi để tiếp tục tu hành cải tạo Tuệ linh. Dù là vào Địa ngục – Ngã quỷ thì
cũng là đã được vào quy trình chuyển sinh luân hồi, nên cũng coi là điều rất tốt.
Mức độ 2: Siêu độ khỏi cảnh Địa ngục –
Ngã quỷ sang cảnh sống Địa âm ở cõi trời Địa phủ. Đó là đẩy nhanh tốc độ giúp Tuệ
linh, Linh hồn thấu hiểu ác nghiệp đã tạo ra ở nhân gian khi sống, giúp họ
nhanh chóng định thần để Tâm không còn bấn loạn mà bị phản chiếu những hình ảnh
truy giết, tra tấn hành hình nữa.
Mức độ 3: Siêu độ khỏi cảnh sống Địa
âm để sang cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng. Đó là đẩy nhanh quá trình diệt
chấp ngã của Tuệ linh, Linh hồn để chuyển sang cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng,
chờ ngày chuyển sinh luân hồi đầu thai kiếp mới.
Mức độ 4: Siêu độ khỏi cõi trời Địa
phủ để chuyển sinh luân hồi kiếp mới ở nhân gian. Dù có đầu thai thành súc sinh
hay tiếp làm người thì vẫn là rất tốt và đáng mừng, vì họ đang được bước những
bước dài trên con đường tu hành, phải trải qua nhiều kiếp để cải tạo được bộ lọc
năng lượng viên mãn cho Tuệ linh, Linh hồn.
2. Phương pháp siêu độ cho Tuệ linh, Linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng
ở nhân gian
Việc
siêu độ cho Tuệ linh, linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian là để
nhanh được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.
+ Mỗi chúng sinh khi còn sống
nên học tập, nghiên cứu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ, rời xa ác nghiệp và
hành thiện giúp người, giúp vạn vật, giúp muông thú. Sau khi hết kiếp thân tướng
ở nhân gian sẽ được trở về cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng ở cõi trời Địa
phủ, hoặc trở về cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên. Cứ vận hành hai Chân lý
trong việc cải tạo Trụ linh ở nhân gian sẽ giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn
nhanh chóng cải tạo thành bộ lọc năng lượng chỉ trong vài kiếp tu hành nơi nhân
gian.
+
Mỗi con người là bậc con cháu, nên học tập nghiên cứu Chân lý Vạn vật
và Chân lý Giác ngộ để thiền định đến cõi trời Địa phủ thuyết pháp hai Chân lý
cho gia tiên trong tất cả các cảnh giới để gia tiên nhanh được siêu thoát từng
cảnh giới. Nếu không có khả năng thiền định thuyết pháp thì dùng Chân tâm tấu
Thiên Địa và nhờ Hội đồng Hoàn Đạo ở cõi trời Địa phủ giảng giáo lý hai Chân lý
cho gia tiên.
+
Con cháu ở nhân gian phải hành thiện nghiệp, không hành nghề tạo ác nghiệp.
Việc đó sẽ thúc đẩy cho gia tiên nhanh định thần và giác ngộ để siêu thoát các
cảnh giới.
Đó
là phương pháp siêu độ mà mỗi người đang sống ở nhân gian cần học tập, nghiên cứu,
thực hành giúp đỡ các vong linh gia tiên (Tuệ linh, Linh hồn đã hết kiếp thân
tướng
ở
nhân gian) nhanh chóng được các bậc giác ngộ ở cõi trời Địa phủ giáo
hóa. Đó cũng là động lực, là sự nương tựa của gia tiên vào những người con
cháu, người thân còn đang sinh sống ở nhân gian mà đã có sự giác ngộ.
Cõi
trời Địa phủ có liên kết chặt chẽ với cõi nhân gian, và các cõi trời trong Vũ
trụ cũng đều liên kết chặt chẽ với cõi nhân gian này. Việc liên kết chặt chẽ là
để cho các Tuệ linh, Linh hồn thông qua môi trường tu hành ở nhân gian từng bước
xây dựng được tình yêu thương, trách nhiệm, sự lan tỏa, sự giúp đỡ nhau. Quá
trình này sẽ tạo thành cơ chế liên kết dây bởi những năng lượng dương và năng
lượng chân tâm giữa các Tuệ linh, Linh hồn trong khắp Vũ trụ. Đó là con đường
chuyển sinh bền vững an lạc để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng duy
nhất. Tức là chỉ có con đường duy nhất là đứng ở vị trí đoàn kết để thấu hiểu hết
tất cả các nhóm năng lượng như tiêu cực, tích cực phát triển, tích cực lan tỏa,
tích cực chân tâm, tích cực đoàn kết để cùng nhau thấu hiểu, phát triển sự bền
vững của cả Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Hiểu được điều này, mỗi người, mỗi
muông thú, mỗi Tuệ linh, mỗi Linh hồn sẽ sống vì nhau, không ích kỷ cho bản thể
mình. Như vậy, con đường thành Đạo viên mãn sẽ nhanh đạt tới đích cuối cùng.
Phần kết:
Những
tri thức siêu việt trong cuốn “Hai Chân Lý Với Bát Không Hoàn Đạo" đã giải
mã tận cùng: cội nguồn của Vũ trụ; cội nguồn của nhân loại; bản chất của tất cả
Trụ linh của Tuệ linh; bản chất của tất cả vạn vật trong Vũ trụ; bản chất của
năng lượng hoại diệt; nguyên nhân khổ đau của Tuệ linh, con người và vạn vật
trong Vũ trụ; các con đường chuyển sinh của Tuệ linh, con người và vạn vật Vũ
trụ. Đặc biệt, tri thức siêu việt của hai Chân lý đã đưa ra được con đường,
phương pháp siêu việt nhất để tất cả Tuệ linh, con người cùng nhau thực hành
chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đắc được bộ lọc năng lượng chính
là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.
Để
đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh phải tu hành thông qua bốn
hình tướng Đạo ở nhân gian. Thông qua hình tướng Đạo để tìm được Tâm Đạo, đó là
tìm được con đường giải thoát khổ đau của dạng sống Tuệ linh, con người và vạn
vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ.
Đặc
biệt, tri thức siêu việt của Hai Chân lý đã hợp nhất, thống nhất được giữa chủ
nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Điều này cho thấy rằng, tất cả đều là vật
chất, đó là các nhóm vật chất khác nhau bởi sự hợp thành từ những loại hạt năng
lượng tận cùng có mã sóng rung động từ giản đơn cho tới siêu phức tạp.