Container Icon

HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ

 


Trở về là về đâu? Thực tế là chẳng có đâu để mà trở về cả. Tất cả là ở đây và bây giờ. Niết bàn, Quốc độ, Thiên đường, Tiên giới, Địa ngục đều ở đây. Tâm bạn hướng tới đâu thì sẽ là cảnh đó.

Niết bàn tại tâm, thiên đường tại tâm, địa ngục tại tâm. Trái đất là nơi đầu tiên trong lịch sử vũ trụ hỗ trợ sự sống đa chiều kích, đa cảnh giới. Tất cả quy về một, một thế giới đa trải nghiệm.

Có thể nhiều bạn sẽ không tin vào điều này nhưng thực sự là chẳng có kết thúc nào đẹp hơn thế. Chúng ta sẽ trải qua từng tầng bậc của hành trình tiến hoá. Thậm chí là trong một kiếp sẽ được trải nghiệm cung bậc cảm xúc của tất cả các cõi.

Đây là một bản kế hoạch, Trái đất đang được nâng lên các mật độ và chiều kích cao hơn với tốc độ chóng mặt. Tất nhiên kéo theo đó là tất cả các loài sinh vật của hành tinh xanh này.

Nếu các bạn để ý sẽ thấy có nhiều sinh vật đang dần biến mất (chết hàng loạt không rõ lý do), một số sinh vật "trở lại" một cách đầy bí ẩn. Liên tục có những khám phá khảo cổ mới về lịch sử hình thành nhân loại. Trái đất của chúng ta đang "quay trở lại vào ánh sáng". Kéo theo đó là sự gia tăng nhận thức nhanh chóng của loài người (sự kiện đại thức tỉnh).

Và tất nhiên muốn gia tăng nhận thức thì cần tăng tần số nên nghịch cảnh mới kéo đến để loại bỏ các cảm xúc tiêu cực ra khỏi cơ thể chúng ta. Nhiều bạn đã có nhận thức ở mức 5D (giác ngộ - tình yêu) nhưng trái đất vẫn đang hỗ trợ sự sống những người ở tầm nhận thức 3D (phân biệt), 4D (thức tỉnh). Tất cả mọi nỗi sợ tiềm ẩn đều sẽ được khều lên, Corona là một trong số đó.

Có càng nhiều nỗi sợ thì cuộc sống sẽ càng nhiều bấp bênh trong hành trình chuyển hóa này. Nỗi sợ là cảm xúc tiêu cực, là rung động nặng nề có đặc tính co, dúm, vón. Còn cảm xúc tích cực có đặc tính bung, giãn, nở. Vậy nên đạo là tỏa ra còn đời là thu vào. Càng học đạo thì càng có tính "cho đi", và cho đi vô điều kiện.

Muốn hành trình tiến hóa được thuận lợi, ít chông gai chúng ta cần thay đổi bản thân một cách "có ý thức". Bởi vì bạn sẽ liên tục tinh tấn trong quá trình sửa mình theo chiều hướng tích cực (hướng thượng), nên bạn sẽ "thuận tự nhiên" hơn vì phù hợp với sự thăng lên của trái đất. Khi bạn có sự hiểu biết nhiều hơn về bức tranh trò chơi trái đất, bạn sẽ ít sợ hơn. Vì hiểu rồi nên không còn sợ nữa, chưa hiểu thì rất là hoang mang nên sợ hãi.

Ngày xưa Đức Phật chẳng biết niết bàn ở đâu nên mới chứng ngộ được niết bàn do không có tâm chấp vào niết bàn. Đức Phật dạy nơi kinh Hoa Nghiêm: Trong 49 năm ta chưa hề nói 1 câu, 1 chữ, 1 lời nào. Ý rằng nếu còn chấp vào câu chữ, vào Pháp thì chẳng bao giờ có thể chứng ngộ được. Chấp vào bất cứ thứ gì đều là rào cản, có những rào cản vô cùng vi tế mà trong vô thức chúng ta không hề nhận ra. Thế nên khi mình qua bài nào rồi thì sẽ nhìn thấy cái tâm chấp của người khác mà họ không ý thức được rằng họ đang chấp.

"Minh tâm - kiến tánh". Thấy tánh thành Phật

Thực ra chúng ta đều là Phật đã thành, Phật tính đã có sẵn bên trong mỗi chúng ta. Chỉ cần tu sửa tâm tánh cho khớp với Phật tánh bên trong. Tức là tính Phật và tính của thân thể này tương đồng là thành Phật thôi (tính Phật nói cho dễ hiểu là hướng thượng, hướng thiện). Nó rất đơn giản nhưng cũng chẳng hề giản đơn. Đó là một quá trình.

KHÔNG và CÓ vốn chẳng ở nơi thực tại, thực tại là cái "ngay bây giờ". Ngay bây giờ là duy nhất, mà duy nhất thì không có phân biệt.

Trong thiện đã có ác, trong ác lại có thiện. Thiện không thể là thiện nếu không có ác, ác không thể là ác nếu không có thiện. Còn phân biệt đúng sai thì chẳng hiểu "thực tại" là gì. Còn phân biệt thiện ác thì chẳng hiểu "tình thương" là gì. Tư tưởng phân biệt không thể là cái hiện giờ, cái thực thể của nội tâm, cái bản tính thường hằng bất biến, vô thủy vô chung được.

Xưa nay chúng ta vẫn luôn được tự do, có ai ràng buộc chúng ta đâu mà đi tìm giải thoát? Người nào đang đi tìm giải thoát tức tự ràng buộc chính mình. Theo bất cứ ai kể cả Phật tức đang xa rời chính tâm mình và như thế khó mà giải thoát. Cần lấy tâm làm gốc và tâm không chấp vào bất cứ điều gì mới có thể thực sự giải thoát được.

Nói chung đây là nơi mà chúng ta đang "hiện hữu", chúng ta muốn nó thành cái gì thì nó sẽ thành cái đó. Tin gì nấy tới. Một người tin chưa đủ thì vạn, triệu, tỉ người tin chắc chắn nó sẽ thành. Một người lan tỏa không đủ sức mạnh thì vạn, triệu người cùng lan tỏa.

Những người thức tỉnh đi đánh thức những người đang say ngủ, đợt thủy triều này sẽ kéo theo các đợt thủy triều khác. Đó sẽ là những làn sóng của tình yêu thương đánh thức mục đích sống của toàn thể nhân loại, bắt đầu ngay tại đây và ngay bây giờ.

LIỆU BẠN CÓ PHẢI MỘT TRONG SỐ ĐÓ ???

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Bát Không Hoàn Đạo


 PHẦN 1: CỘI NGUỒN SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VŨ TRỤ

Vũ trụ với vô số khối thiên hà, mỗi khối thiên hà có nhiều dải thiên hà, mỗi dải thiên hà lại có vô số mặt trời, mỗi mặt trời lại có nhiều hành tinh vệ tinh quay xung quanh. Các khối thiên hà được sắp xếp từ tâm của không gian Vũ trụ, các khối thiên hà cứ tầng tầng, lớp lớp bao bọc từ tâm ra ngoài tạo thành một Vũ trụ thống nhất. Vũ trụ nhìn giống như một tinh cầu khổng lồ với vô lượng khối dải thiên hà, đó là toàn bộ không gian bên trong Vũ trụ.

 

Ngoài ra còn có không gian bên ngoài Vũ trụ. Đó là không gian không có sự tồn tại của vật chất và không có sự tồn tại của hạt năng lượng cấu tạo thành các dạng sống như bên trong không gian Vũ trụ. Đó là không gian chỉ tồn tại hạt sóng và năng lượng hoại diệt.

 

Bí mật của không gian trong và ngoài Vũ trụ là bí mật vô cùng không chỉ đối với nhân loại trên Trái đất, nó còn là bí mật to lớn đối với dạng sống Tuệ linh (dạng sống trí tuệ siêu việt nhất Vũ trụ). Tôi với trí tuệ siêu việt của Tuệ linh đã và đang mang sứ mệnh giúp nhân loại thấu hiểu cội nguồn, bí mật của trong và ngoài Vũ trụ, giúp cho nhân loại hiểu rõ cội nguồn nhân loại và nhiệm vụ tu hành của con người ở nhân gian là gì. Thấu hiểu được cội nguồn sự hình thành sự sống của Vũ trụ chính là khai mở cội nguồn quá khứ để đi đến tương lai trong sự hoàn thành viên mãn nhiệm vụ tu hành nơi nhân gian này.

Bài 1:

 

Hạt sóng dã chiến – Cội nguồn của vụ nổ siêu năng lượng hình thành Vũ trụ

˜²™

 

 

 

Hạt sóng dã chiến là những chiến binh:

 

Hạt sóng dã chiến cũng giống như những chiến binh dã chiến, họ có sứ mệnh thực hiện từ một cho đến nhiều nhiệm vụ, họ độc lập tác chiến trong môi trường nhất định để thực hiện và hoàn thành sứ mệnh của họ.

 

Cũng như bệnh viện dã chiến trong quân đội, họ là những y tá, bác sĩ đang độc lập tác chiến trong môi trường của cuộc chiến tranh để thực hiện sứ mệnh cứu sống và chữa lành các vết thương cho những chiến binh. Cũng như những trinh sát, họ là những chiến binh mở đường cho các chiến dịch. Cũng như những kiến trúc sư, họ là những chiến binh tạo ra các công trình cho nhân loại. Cũng như những người thợ, họ là những chiến binh để hoàn thành các công trình. Cũng như những nhà triết học, họ là những chiến binh dẫn dắt, định hướng cho các ngành khoa học phát triển theo. Cũng như các nhà khoa học, họ là những chiến binh khai sáng tri thức nhân loại bằng các phương pháp biện chứng và thực chứng. Cũng như những tôn giáo, họ là những chiến binh dẫn dắt chúng sinh xây dựng đức tin và đạo đức.

 

Cội nguồn của hạt sóng dã chiến:

Hạt sóng dã chiến chính là hạt sóng có màu xanh nõn chuối, hay có thể gọi là hạt sóng tổ tiên. Màu xanh nõn chuối là màu của hạt sóng. Gọi là hạt sóng tổ tiên, vì hạt sóng này là cội nguồn của tất cả các dạng sống: nhóm vật chất hoại diệt, nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất, Tuệ linh, con người.

 

Hạt sóng dã chiến được sinh ra từ đâu? Cái gì sinh ra hạt sóng dã chiến? Tôi xin được giữ bí mật này, vì đây là một phần kế hoạch của Tuệ linh tôi và của dạng sống Tuệ linh.

 

Trong không gian vô cùng, vô tận, không có sự hiện hữu của đơn vị vật chất nào, không có sự hiện hữu của hạt năng lượng nào hết, chỉ có những điểm phân tách ra các hạt sóng xanh nõn chuối. Có thể nói những điểm phân tách ra các hạt sóng xanh nõn chuối này là cội nguồn.

 

Chúng ta cũng chỉ cần biết cội nguồn của hạt sóng dã chiến ở điểm đó thôi. Bởi khoa học chưa đủ phát triển để đo đạc được hạt sóng xanh, sẽ phải mất tới 7 triệu năm cho việc chứng thực điều này. Bảy triệu năm là đơn vị đo lường thời gian cũng khá lâu ở nhân gian này, khi đó, khoa học kỹ thuật của nhân loại sẽ phát triển vượt bậc và thực chứng được hạt sóng tổ tiên.

 

 

Cuộc sống và sứ mệnh nhiệm vụ của hạt sóng dã chiến:

 

Hạt sóng dã chiến là hạt sóng màu xanh nõn chuối, nó chỉ là một chấm nhỏ tròn, nó có sóng rung động và trạng thái năng lượng chưa được sinh phát ra ngoài.

Hạt sóng dã chiến sống và tồn tại trong môi trường trung tính, tức là môi trường không có sóng điện âm, không có sóng điện dương.

 

Sứ mệnh nhiệm vụ của những hạt sóng dã chiến:

 

-    Khi được sinh ra từ những điểm phân tách, các hạt sóng sẽ di chuyển thẳng trong môi trường trung tính với quỹ đạo hình xoắn ốc để đủ lực phân tách ra làm hai. Khi một hạt sóng được phân tách ra sẽ tương tác trong môi trường trung tính để biến đổi thành các sợi mã sóng trí tuệ và hình thành hạt năng lượng hoại diệt. Hạt sóng còn lại không biến đổi, chúng tiếp tục di chuyển và phân tách ra hạt sóng mới, các hạt sóng mới được phân tách lại làm nhiệm vụ là biến đổi hình thành sợi mã sóng trí tuệ và hạt năng lượng hoại diệt. Trải qua thời gian dài, các hạt năng lượng hoại diệt được sinh ra từ các hạt sóng xanh nõn chuối được phân tách, số lượng ngày càng nhiều.

 

-    Khi mà những vụ nổ của năng lượng hoại diệt xuất hiện, là bắt đầu xuất hiện những khu vực môi trường chứa đựng sóng điện âm hay dương. Hạt sóng xanh nõn chuối vẫn làm nhiệm vụ phân tách, các hạt sóng được phân tách di chuyển vào những khu vực có môi trường sinh nhiệt sẽ biến đổi mã sóng trí tuệ và hình thành các hạt năng lượng có sóng điện âm, sóng điện dương, sóng điện trung tính có liên kết dây. Đó là sự sơ khai hình thành năm nhóm tầng năng lượng và vụ nổ siêu năng lượng hình thành Vũ trụ.

 

Hạt sóng xanh nõn chuối di chuyển và phân bổ khoảng cách với nhau theo tỷ lệ nhất định với số lượng không nhiều. Khoảng cách phân bổ theo tỷ lệ nhất định giống như là sự sắp đặt có hệ thống của các trạm thu phát sóng cho cả không gian

môi trường trung tính, và bây giờ là không gian vô cùng vô tận bên ngoài Vũ trụ

Bài 2:

 

Năng lượng hoại diệt và các cuộc thảm sát ˜²™

 

 

 

Năng lượng hoại diệt – Người anh của Vũ trụ:

 

Năng lượng hoại diệt là người anh của Vũ trụ, Vũ trụ là người em của năng lượng hoại diệt. Tại sao? Bởi năng lượng hoại diệt được sinh ra trước, rồi mới xuất hiện năm nhóm năng lượng cấu tạo thành Vũ trụ.

 

Trong không gian vô cùng, vô tận, chỉ có những hạt sóng dã chiến mà không hề có sự hiện hữu của bất kỳ hạt năng lượng nào, khi đó, quá trình di chuyển thẳng theo quỹ đạo hình xoắn ốc của các hạt sóng dã chiến này tạo thành cơ chế phân tách ra các hạt sóng dã chiến khác. Do trong không gian vô cùng, vô tận chưa có hạt năng lượng nào, chưa có môi trường sinh nhiệt, chưa có môi trường âm hay dương, mà chỉ là môi trường trung tính, các hạt sóng sau khi phân tách, tự biến đổi thành các sợi mã sóng trí tuệ có điểm đầu và điểm cuối, rồi hình thành những hạt năng lượng đầu tiên, đó là năng lượng hoại diệt. Những hạt năng lượng này không có liên kết dây với nhau là vì sinh ra trong môi trường trung tính, không có nhiệt lượng. Trạng thái năng lượng màu nâu là do bị thối hóa vì không giải phóng được sóng điện ra khỏi hạt, vì chúng không quay tròn xung quanh chính nó. Năng lượng hoại diệt hình thành đầu tiên và ngày càng phát triển do cơ chế phân tách hạt sóng xanh nõn chuối (hạt tổ tiên) và cơ chế đi đồng hóa của hạt năng lượng hoại diệt đối với những hạt năng lượng có sóng điện âm, dương được sinh ra sau nó.

 

 

Cuộc sống của năng lượng hoại diệt:

 

Năng lượng hoại diệt sống trong môi trường trung tính, mang sóng điện trung tính, đó là môi trường không có sóng điện âm hay sóng điện dương. Cuộc sống ban đầu có vẻ như là yên bình, êm ả và tuyệt vời. Cuộc sống tuyệt vời vì vào thời điểm mới được sinh, số lượng hạt năng lượng hoại diệt không nhiều, chúng phân bổ trải rộng khắp không gian rộng lớn bao la. Khi đó khoảng cách di chuyển giữa các hạt năng lượng hoại diệt tương đối lớn nên chúng chưa tạo thành môi trường sinh nhiệt.

 

Trải qua thời gian dài, số lượng hạt năng lượng hoại diệt được sinh ra ngày càng nhiều, khi đó mật độ hạt năng lượng hoại diệt bắt đầu gia tăng. Năng lượng hoại diệt lại không di chuyển quay tròn và không có liên kết dây, nên chúng không giải phóng được nhiệt lượng sinh ra khi di chuyển. Bởi năng lượng hoại diệt di chuyển thẳng nên nhiệt lượng trong chính hạt năng lượng gia tăng nhanh. Khi khoảng cách các hạt năng lượng bắt đầu được thu hẹp dần do chúng ngày càng đông, cuộc sống của dạng sống hạt năng lượng hoại diệt không còn yên bình như thuở ban đầu nữa. Cuộc sống của năng lượng hoại diệt bắt đầu xuất hiện những môi trường sinh nhiệt lượng do mật độ của hạt năng lượng hoại diệt ngày càng lớn.

 

Năng lượng hoại diệt bắt đầu xuất hiện những cuộc thảm sát. Những cuộc thảm sát là do năng lượng hoại diệt di chuyển thẳng nên sinh nhiệt lượng nhanh mà không giải

phóng do không có liên kết dây. Khi mật độ hạt năng lượng hoại diệt cao, chúng di chuyển kết tụ gần nhau, tạo ra sức nén trong sợi mã sóng trí tuệ của chúng, và gây ra nổ hạt năng lượng ở những điểm kết tụ đó. Những vụ nổ hoại diệt của năng lượng hoại diệt ngày càng nhiều. Những vụ nổ đó đã tạo ra môi trường sinh nhiệt dương. Nhiều vụ nổ của năng lượng hoại diệt đã tạo ra những nơi cách xa vụ nổ xuất hiện môi trường sinh nhiệt âm.

 

Như vậy, cuộc sống của dạng sống hạt năng lượng hoại diệt đã ngày càng biến đổi, nó đang phải đối mặt với những cuộc thảm sát mà nguyên nhân là do chính dạng sống này gây ra. Nguyên nhân là vì chúng được sinh ra ngày càng nhiều, chúng không có kế hoạch bền vững cho việc gia tăng số lượng. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng của chúng và sự xuất hiện các vụ nổ thảm sát lại là môi trường thuận lợi để cho hạt sóng tổ tiên sản sinh ra người em của năng lượng hoại diệt, đó là sự hình thành của những hạt năng lượng mang sóng điện âm và dương. 

Những cuộc đồng hóa và thảm sát của năng lượng hoại diệt:

 

Sự gia tăng và những vụ nổ thảm sát của năng lượng hoại diệt đã tạo cho môi trường sống của dạng sống hạt năng lượng hoại diệt xuất hiện những môi trường có nhiệt lượng. Hạt sóng tổ tiên được phân tách ra rất nhiều và di chuyển vào những nơi có môi trường nhiệt lượng. Khi di chuyển vào môi trường có sóng điện âm hoặc dương, các hạt sóng xanh quay tròn xung quanh chính nó. Quá trình di chuyển quay tròn trong môi trường sinh nhiệt đã khiến các hạt sóng xanh

biến đổi thành các mã sóng trí tuệ và hạt năng lượng có sóng điện âm và sóng điện dương. Những hạt năng lượng này được coi là những người em của năng lượng hoại diệt. Những hạt năng lượng có sóng điện âm và dương hình thành, gia tăng số lượng, có vẻ đó là điều mà hạt năng lượng hoại diệt không hài lòng, hoặc đó là cơ hội để năng lượng hoại diệt truyền tải sóng điện khỏi chính nó để đảm bảo sự sinh tồn của chúng. Bởi đối với năng lượng hoại diệt, nếu dư thừa quá nhiều sóng điện sẽ khiến năng lượng hoại diệt bị kích nổ.

 

Hạt năng lượng có sóng điện âm có cơ chế hút nhiệt và các hạt năng lượng khác về nó, điều này khiến cho các hạt năng lượng hoại diệt bị kích thích và di chuyển đến các hạt năng lượng có sóng điện âm. Tại những khu vực hạt năng lượng sóng điện âm, nếu những hạt năng lượng hoại diệt đi đến với số lượng vừa phải và ít thì nó sẽ truyền tải sóng điện và làm chuyển hóa những hạt năng lượng sóng điện âm thành chính năng lượng hoại diệt. Đây là cơ chế đồng hóa, vì năng lượng hoại diệt chạm vào và truyền sóng điện của nó làm chuyển hóa hạt năng lượng sóng điện âm. Tuy nhiên, tại những nơi hạt năng lượng âm, nếu số lượng hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào nhiều, gây ra độ nén và kích hoạt nổ dây chuyền, năng lượng hoại diệt và những hạt năng lượng mang sóng điện âm đều bị hoại diệt.

 

Hạt năng lượng có sóng điện dương thì có cơ chế tỏa và sinh nhiệt. Những hạt năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu do hạt năng lượng có sóng điện dương quay tròn và kích thích năng lượng hoại diệt di chuyển tới để đồng hóa. Những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển tới hạt năng lượng có sóng điện dương sẽ tạo độ nén và kích nổ hạt năng lượng

Bài 3:

 

Vụ nổ siêu năng lượng và trang sử mới cho sự hình thành, phát triển của Vũ trụ

˜²™

 

 

 

Sự xuất hiện của phôi năng lượng âm dương:

 

Sau khi những hạt sóng dã chiến được phân tách, di chuyển vào những không gian có sinh nhiệt và hình thành ra các hạt năng lượng có sóng điện âm, dương, những cuộc thảm sát và đồng hóa của dạng sống hạt năng lượng hoại diệt đã làm cho những hạt năng lượng có sóng điện âm, dương bị hoại diệt hoặc bị đồng hóa. Tưởng chừng điều đó sẽ không sinh khởi ra những hạt năng lượng có sóng điện âm, dương nữa. Tuy nhiên, việc năng lượng hoại diệt gia tăng số lượng và mật độ, những vụ thảm sát đó lại càng tạo ra môi trường sống của không gian năng lượng hoại diệt có nhiệt lượng. Chính vì thế những hạt sóng dã chiến sau khi bị phân tách, di chuyển vào những khu vực có nhiệt lượng đã biến đổi, quay tròn và trở thành những hạt năng lượng có sóng điện dương, sóng điện âm.

 

Việc lại xuất hiện những hạt năng lượng có sóng điện âm, dương khiến cho năng lượng hoại diệt mở các cuộc di chuyển đi đồng hóa và thảm sát. Quá trình các hạt năng lượng có sóng điện âm, dương được sinh ra rồi bị đồng hóa hoặc bị thảm sát cứ thế diễn ra. Quá trình này diễn ra lặp đi

lặp lại tưởng chừng không có sự thay đổi theo chiều hướng mới nào.

 

Và rồi, vô tình một hạt năng lượng có sóng điện âm rất nhẹ (màu trắng trong) gặp hạt năng lượng có sóng điện dương siêu mạnh (màu vàng). Do hạt năng lượng có sóng điện âm thì hút về, hạt năng lượng có sóng điện dương thì tỏa đi, nên khi chúng gặp nhau, chúng kết nối với nhau bởi điểm đầu trong sợi mã sóng trí tuệ của hạt này kết nối với điểm cuối trong sợi mã sóng trí tuệ của hạt kia. Sự kiện này đã tạo thành phôi năng lượng âm dương đầu tiên trong không gian vô cùng vô tận.

 

Phôi năng lượng âm dương được hình thành đã đánh dấu sự đổi thay trong không gian vô cùng, vô tận bởi các cuộc đồng hóa và thảm sát của năng lượng hoại diệt. Sự xuất hiện phôi năng lượng âm dương đã khai mở ra những sức mạnh kỳ diệu của những hạt năng lượng có sóng điện âm và hạt năng lượng có sóng điện dương, đó là: Cơ chế liên kết dây được hình thành, sự trao đổi chất (trạng thái năng lượng) được vận hành, bản chất hút về của hạt năng lượng có sóng điện âm và bản chất tỏa đi của hạt năng lượng có sóng điện dương được thể hiện, cơ chế phân tách hợp nhất với cơ chế liên kết dây. Đặc biệt nhất là hình thành một màng bọc bảo vệ phôi năng lượng âm dương khi hai hạt liên kết hợp nhất với nhau.

 

 

Những vụ nổ nhỏ của năng lượng hoại diệt cho đến vụ nổ siêu năng lượng:

 

Phôi năng lượng âm dương xuất hiện trong không gian dạng sống của năng lượng hoại diệt và môi trường trung tính

có lẽ là thách thức vô cùng lớn đối với dạng sống năng lượng hoại diệt. Tuy nhiên, điều đó lại là thành tựu của những hạt sóng dã chiến khi đã đa dạng và mở ra những thành tựu trong sứ mệnh của dạng sống hạt sóng dã chiến.

 

Trước sự xuất hiện và hiện hữu như một kẻ thách thức của phôi năng lượng âm dương, năng lượng hoại diệt bắt đầu thực hiện những cuộc đi đồng hóa và thảm sát phôi năng lượng âm dương này.

 

Sự kết hợp giữa hạt năng lượng có sóng điện âm và hạt năng lượng có sóng điện dương đã tạo thành cơ chế tồn tại và bảo vệ vô cùng đặc biệt. Đó là khả năng thu hút, hút các trạng thái và nhiệt lượng từ bên ngoài về của hạt năng lượng âm và khả năng bảo vệ của hạt năng lượng dương bởi khả năng tỏa ra nhiệt lượng.

 

Những hạt năng lượng hoại diệt bắt đầu di chuyển đến phôi năng lượng âm dương này để đồng hóa. Khi đó, bất kỳ hạt năng lượng hoại diệt nào di chuyển đến phôi âm dương đều bị nổ, lượng nhiệt được sinh ra do các hạt năng lượng hoại diệt nổ đã trở thành nguồn dinh dưỡng được màng bọc và hạt âm của phôi năng lượng hút vào, giúp cho phôi âm dương này phân tách hạt năng lượng theo cơ chế phân tách hạt năng lượng. Những hạt năng lượng hoại diệt không bỏ cuộc, liên tục không ngừng nghỉ di chuyển tới phôi năng lượng âm dương, khi thì với số lượng ít, khi thì với số lượng nhiều. Tất cả các hạt năng lượng hoại diệt đều bị nổ và tạo thành dinh dưỡng, trạng thái năng lượng để màng bọc và hạt âm hút vào phôi âm dương và phân tách ra các hạt năng lượng mới, đồng thời chuyển hóa thành nhiệt dương để tiếp tục tỏa ra bảo vệ phôi năng lượng. Quá trình liên tục này đã giúp cho phôi âm dương lớn mạnh, giãn nở nhanh chóng dựa

trên dinh dưỡng được tiếp nhận từ các vụ nổ và màng bọc của phôi năng lượng được gia cố ngày càng kiên cố. Có thể nói màng bọc của phôi năng lượng này là sự kỳ diệu, nó ngăn chặn những cuộc đồng hóa và các vụ nổ thảm sát của năng lượng hoại diệt đối với phôi năng lượng âm dương.

 

Duy nhất việc đi đồng hóa và thảm sát bất thành của năng lượng hoại diệt đối với phôi năng lượng âm dương, năng lượng hoại diệt đã thành công trong việc đi đồng hóa và thảm sát sự xuất hiện các hạt năng lượng có sóng điện âm hay dương. Tuy nhiên chỉ cần một phôi năng lượng âm dương này đã là đủ cho sự hình thành của Vũ trụ.

 

Năng lượng hoại diệt bị kích thích bởi phôi âm dương đang ngày càng lớn mạnh, nên chúng liên tục đi đồng hóa và tạo ra các vụ nổ nhỏ bên ngoài màng bọc của phôi năng lượng âm dương. Các vụ nổ nhỏ này đã tạo thành nhiệt lượng và dinh dưỡng giúp cho phôi năng lượng âm dương to dần, lớn mạnh dần và trở thành một tinh cầu năng lượng khổng lồ.

 

Trong tinh cầu năng lượng âm dương từ khi bắt đầu kết hợp lại đã diễn ra quá trình phân tách hạt năng lượng, quá trình phân tách đã hình thành vô số các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm, sóng điện trung tính, sóng điện dương có liên kết dây với nhau. Những mã sóng trí tuệ này từ giản đơn cho đến siêu phức tạp phụ thuộc vào sự biến đổi khi phân tách và lượng nhiệt được hấp thụ bởi những vụ nổ của năng lượng hoại diệt bên ngoài màng bọc bảo vệ tinh cầu năng lượng âm dương.

 

Hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương ban đầu của phôi âm dương chứa đựng mã sóng trí tuệ của tất cả các 

hạt năng lượng được phân tách ra trong quá trình tinh cầu năng lượng phát triển dần cho đến khi vụ nổ xuất hiện. Hai hạt âm dương gốc luôn tự vận động quay tròn, tất cả các hạt năng lượng được phân tách ra cũng tự vận động quay tròn nên trong tinh cầu năng lượng chứa đựng sự cân bằng và cấu trúc ổn định giữa sóng điện dương với sóng điện âm với sóng điện trung tính.

 

Khi tinh cầu năng lượng này giãn nở và to đến cực đại, đã tạo ra độ nén bên trong bởi sự phát triển lớn mạnh của năm nhóm năng lượng được vận hành theo cơ chế phân tách và liên kết dây. Bấy giờ năng lượng hoại diệt có một cuộc tấn công tổng lực, vô số các hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào màng bọc bảo vệ tinh cầu năng lượng khổng lồ và tạo ra một vụ nổ lớn phá vỡ màng bọc bảo vệ tinh cầu năng lượng. Vụ nổ đã hủy diệt vô số năng lượng hoại diệt và đã làm tiêu hao năng lượng hoại diệt đáng kể phía ngoài tinh cầu năng lượng. Đồng thời vụ nổ đã làm cho năm nhóm năng lượng trong tinh cầu tỏa ra khoảng không gian rộng lớn.

 

Sau khi vụ nổ siêu năng lượng xảy ra, năm nhóm tầng năng lượng trong không gian rộng lớn vẫn vận động quay tròn xung quanh lõi không gian của vụ nổ.

 

Vụ nổ siêu năng lượng đã mở ra một trang sử hào hùng và kỳ vĩ cho sự hình thành, phát triển của Vũ trụ, Tuệ linh và con người về sau. Đặc biệt, điều bí ẩn trong tinh cầu khổng lồ này chính là sự xuất hiện vị Tuệ linh đầu tiên – đó là Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

Bài 4:

 

Dạng sống của năm nhóm tầng năng lượng sau vụ nổ siêu năng lượng

˜²™

 

 

 

Tiền thân của dạng sống năm nhóm năng lượng:

 

Tiền thân của dạng sống này là khi các hạt năng lượng mang sóng điện âm, sóng điện dương được sinh ra bởi hạt sóng dã chiến. Khi đó những hạt năng lượng mang sóng điện âm, sóng điện dương chỉ là những hạt năng lượng độc lập, chưa kịp liên kết với nhau đã bị năng lượng hoại diệt đồng hóa hoặc thảm sát hoại diệt, thậm chí đã liên kết với nhau rồi vẫn bị đồng hóa thành năng lượng hoại diệt.

 

Thời kỳ trước vụ nổ siêu năng lượng, sự xuất hiện của dạng sống năm nhóm năng lượng chưa hoàn chỉnh đầy đủ, mới chỉ là manh nha hình thành các hạt năng lượng có sóng điện âm hoặc dương. Tuy nhiên, đó là quá trình chuẩn bị cho thời kỳ hoàng kim của dạng sống năm nhóm năng lượng.

 

 

Thời kỳ hoàng kim:

 

Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, từ phôi đó phân tách ra vô số các hạt năng lượng có sóng điện âm (màu đỏ máu, màu đen, màu xám), vô số hạt năng lượng có sóng điện dương (màu vàng, màu xanh lá, màu đỏ lửa), vô

số hạt năng lượng mang sóng điện trung tính màu trắng trong. Năm nhóm năng lượng gồm có: năng lượng tiêu cực (màu đỏ máu, màu đen, màu xám), năng lượng phát triển (màu xanh lá), năng lượng lan tỏa (màu đỏ lửa), năng lượng đoàn kết (màu vàng), năng lượng chân tâm (màu trắng trong). Mã sóng trí tuệ và sức mạnh của mỗi nhóm năng lượng lại khác nhau, sự khác nhau là do quá trình tương tác, hấp thụ năng lượng khác nhau sau khi được phân tách từ phôi âm dương gốc. Năm nhóm hạt năng lượng đều có vô số các loại hạt có mã sóng trí tuệ khác nhau, từ giản đơn cho đến phức tạp và siêu phức tạp. Chính vì sự đa dạng, vô số các hạt năng lượng của năm nhóm này đã tạo ra sự đa dạng của các dạng sống trong Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

Năm nhóm năng lượng đều tự quay tròn trong quá trình vận động và di chuyển, đều có liên kết dây và phân tách hạt năng lượng. Do đó, năm nhóm năng lượng đã tạo thành một khối năng lượng thống nhất vận hành để phát triển cấu trúc mã sóng trí tuệ bền vững. Sự bền vững thể hiện ở việc hình thành ra các dạng sống như: dạng sống Tuệ linh, dạng sống vạn vật, dạng sống con người, dạng sống muông thú, dạng sống của các siêu năng lượng.

 

Sau vụ nổ siêu năng lượng, năm nhóm hạt năng lượng lại gia tăng được số lượng nhờ nhiệt lượng được sản sinh do vụ nổ. Năm nhóm năng lượng vẫn liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất và vận động quay tròn xung quanh trung tâm lõi của không gian năm nhóm năng lượng. Thông qua cơ chế phân tách, liên kết hạt, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn, bản chất thông tin mà năm nhóm năng lượng bắt đầu quá trình biến đổi, hình thành đa dạng các dạng sống mới.

Năng lượng hoại diệt sau vụ nổ siêu năng lượng đã bị hoại diệt vô số, làm cho dạng sống này suy yếu, đó là thời cơ thuận lợi cho quá trình hình thành phát triển Vũ trụ, Tuệ linh và con người

Bài 5:

 

Vị Tuệ linh đầu tiên

 

(Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Trời người)

˜²™

 

 

 

Tuệ linh là gì?

 

Tuệ linh là một cấu trúc năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.

 

Tuệ linh là dạng sống có trí tuệ siêu việt nhất trong các dạng sống bên trong và bên ngoài Vũ trụ.

 

Tuệ linh có hình dạng giống con người chúng ta, nhưng không phải là thân hình vật chất như con người, mà là thân hình của liên kết năng lượng sóng điện âm, dương, trung tính. Hay có thể nói, con người là bản sao của dạng sống Tuệ linh. Tuệ linh có thể di chuyển trong không gian Vũ trụ mà không gặp chướng ngại của vật chất. Tuệ linh di chuyển trong không gian Vũ trụ chính là di chuyển trong mã sóng trí tuệ của các hạt năng lượng. Tuệ linh có khả năng cải tạo, xây dựng, phát triển Vũ trụ.

 

 

Vị Tuệ linh đầu tiên là ai?

 

Vị Tuệ linh đầu tiên chính là Tuệ linh đầu tiên được sinh ra của dạng sống Tuệ linh. Đó là trước khi vị Tuệ linh

này được sinh ra thì chưa có Tuệ linh nào được sinh ra. Và sau khi Tuệ linh này được sinh ra thì có vô số Tuệ linh khác được sinh ra để hình thành và phát triển dạng sống của Tuệ linh.

 

 

Vị Tuệ linh đầu tiên được sinh ra như thế nào?

 

Vị Tuệ linh đầu tiên này được sinh ra bởi quá trình hình thành phôi năng lượng âm dương, phôi năng lượng âm dương phát triển thành tinh cầu năng lượng khổng lồ, và khi vụ nổ siêu năng lượng khổng lồ xảy ra thì vị Tuệ linh đã phát triển thành hình dáng giống một người thanh niên trưởng thành rồi.

 

Quá trình vị Tuệ linh đầu tiên được sinh ra như sau: Hạt năng lượng mang sóng điện âm và hạt năng lượng mang sóng điện dương được sinh ra bởi hạt sóng dã chiến, hợp lại đầu tiên và duy nhất tại không gian môi trường trung tính của dạng sống năng lượng hoại diệt. Khi hai hạt năng lượng này hợp lại đã tạo thành phôi năng lượng giống như phôi thai nhi của con người chúng ta. Phôi thai năng lượng này có màng bọc bảo vệ bên ngoài. Bên trong phôi năng lượng, do cơ chế phân tách và liên kết chặt chẽ, hai hạt năng lượng liên tục phân tách dưới sự tương tác sinh nhiệt và nguồn dinh dưỡng từ năng lượng hoại diệt nổ bên ngoài màng bọc bảo vệ phôi năng lượng. Quá trình phân tách hạt năng lượng tạo ra năm nhóm hạt năng lượng để tạo thành tinh cầu năng lượng khổng lồ cũng chính là quá trình chọn lọc những mã sóng trí tuệ siêu phức tạp nhất được liên kết chặt với nhau, phát triển ở tâm quả cầu năng lượng khổng lồ. Các hạt năng lượng ở tâm quả tinh cầu năng lượng được liên kết với nhau tạo thành các sóng điện âm dương, nó giống như các mạch máu, mạch khí trong cơ thể con người. Quả tinh cầu năng lượng khổng lồ ngày càng lớn, khi đó khối năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp nhất đó được chuyển hóa thành một hình hài như em bé. Đó là em bé Tuệ linh được sinh ra, em bé đó vẫn ở giữa trung tâm quả tinh cầu năng lượng khổng lồ. Trong em bé Tuệ linh chứa đựng hai hạt năng lượng âm dương ban đầu hình thành, trải qua quá trình phân tách ra vô số các hạt năng lượng âm dương khác đã giúp cho cấu trúc phôi âm dương của em bé Tuệ linh biến đổi thành Trụ linh. Trụ linh của em bé Tuệ linh lưu giữ hết tất cả quá trình tương tác, phân tách hình thành ra vô số các hạt năng lượng với mã sóng trí tuệ từ đơn giản đến siêu phức tạp. Đến lúc này, em bé Tuệ linh đã là sự hợp nhất của 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh: Trụ trí (tổng mã sóng trí tuệ), Trụ tâm (tổng trạng thái năng lượng), và hình tướng em bé. Em bé Tuệ linh này chứa đựng mã sóng trí tuệ của tất cả năm nhóm năng lượng trong quả tinh cầu năng lượng. Quá trình năng lượng hoại diệt nổ bên ngoài màng bọc của quả tinh cầu năng lượng đã sinh nhiệt và dinh dưỡng giúp cho quá trình trưởng thành của em bé Tuệ linh ngày càng nhanh. Đồng thời quá trình em bé Tuệ linh lớn lên và trưởng thành thì vẫn từ Trụ linh của Tuệ linh này phân tách ra vô số các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ đơn giản đến siêu phức tạp tạo thành năm nhóm tầng năng lượng trong tinh cầu năng lượng.

 

Khi vụ nổ siêu năng lượng xảy ra, không gian của năm nhóm năng lượng lan tỏa rộng khắp và quay tròn xung quanh trung tâm của năm nhóm năng lượng. Trong trung tâm của không gian đó chính là vị Tuệ linh đầu tiên đã trưởng thành. Vị Tuệ linh này bắt đầu sứ mệnh xây dựng các dạng sự sống bên trong Vũ trụ.

 

 

Trí tuệ và quyền năng của vị Tuệ linh đầu tiên:

 

Vị Tuệ linh đầu tiên này có trí tuệ vô lượng nhất trong tất cả các Tuệ linh của dạng sống Tuệ linh. Không những vậy, trí tuệ của Tuệ linh này chính là trí tuệ của toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh và con người sau này.

 

Trước tiên ta phải hiểu trí tuệ chính là sự kết tinh của cấu trúc mã sóng trí tuệ từ quá trình hình thành và liên kết hạt năng lượng trong Tuệ linh.

 

Tại sao vị Tuệ linh này lại có trí tuệ vô lượng nhất? Trí tuệ của vị này vô lượng và bao trùm toàn bộ các dạng sống trong Vũ trụ là do:

 

-  Quá trình năng lượng hoại diệt tấn công gây ra các vụ nổ bên ngoài phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh này cho đến khi xảy ra vụ nổ siêu năng lượng đã tạo ra vô số sóng rung động trí tuệ được truyền dẫn vào Trụ linh của vị Tuệ linh này để hình thành vô số mã sóng trí tuệ.

 

-    Cùng với quá trình Trụ linh của Tuệ linh này phân tách ra vô số hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp để trở thành vị Tuệ linh trưởng thành, từ trong Trụ linh của Tuệ linh này phân tách ra toàn bộ những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ giản đơn đến siêu phức tạp của năm nhóm năng lượng để tạo thành không gian vận hành của năm nhóm năng lượng hình thành Vũ trụ.

 

Chính vì vậy trí tuệ của vị Tuệ linh này là vô lượng, là bao trùm toàn bộ Vũ trụ Chính vị Tuệ linh này phân tách ra tất cả các mã sóng trí tuệ để hình thành năm nhóm năng lượng hình thành Vũ trụ. Do đó quyền năng của vị Tuệ linh này cũng là vô lượng nhất, vô lượng nhất bởi vì trong Tuệ linh này chứa đựng hào quang và tất cả trạng thái năng lượng của năm nhóm năng lượng. Từ vị Tuệ linh này mà tỏa ra hào quang ngũ sắc và hào quang ngũ sắc đều nằm trong Trụ linh của vị Tuệ linh này.

 

Từ trí tuệ vô lượng nhất, quyền năng vô lượng nhất đã cho chúng ta thấy vị Tuệ linh này có cấu trúc mã sóng trí tuệ trong Trụ linh bền vững nhất và đặc biệt nhất trong Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

 

Vị Tuệ linh đầu tiên là Người Cha vĩ đại của Vũ trụ và Trời người:

 

Là Người Cha vĩ đại? Tại sao lại gọi vị Tuệ linh đầu tiên của Vũ trụ là Người Cha vĩ đại?

 

Đó là điều đương nhiên, là điều tất nhiên thôi, không thể phủ nhận Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người được. Bởi vì tất cả các hạt năng lượng trong năm nhóm năng lượng được hình thành từ khi phôi năng lượng được hình thành cho đến vụ nổ siêu năng lượng đều do Trụ linh của vị Tuệ linh này phân tách ra. Chính vì vậy, tất cả năm nhóm năng lượng được sinh ra từ vị Tuệ linh đầu tiên, hoặc có thể nói là vị Tuệ linh đầu tiên đã sinh ra năm nhóm năng lượng. Năm nhóm năng lượng chứa đựng các mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm, sóng điện dương, sóng điện trung tính từ đơn giản đến siêu phức tạp. Từ năm nhóm năng lượng mà cấu tạo thành các dạng sống khác nhau, các nhóm vật chất khác nhau trong Vũ trụ. Là Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người là vì Người Cha vĩ đại không ngừng nghỉ tiếp tục phân tách ra năng lượng cấu thành các dạng sống trong khắp Vũ trụ, Người Cha vĩ đại còn miệt mài xây dựng, phát triển Vũ trụ và các dạng sống khác trở nên bền vững.

 

 

Các tên gọi của vị Tuệ linh này:

 

Có rất nhiều danh xưng của vị Tuệ linh đầu tiên. Khi vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh và con người thấu hiểu thì cũng không cần quan trọng danh xưng của vị Tuệ linh đầu tiên này. Chỉ cần chúng sinh, Tuệ linh và con người thấu hiểu Ngài là Người Cha vĩ đại, là vị Tuệ linh đầu tiên được sinh ra, và từ vị Tuệ linh này mà sinh ra vạn vật, Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Khi chúng ta thấu hiểu bản chất và sự thật, tức là chúng ta đang nương tựa vào cội nguồn của sự thật, chúng ta sẽ có sức mạnh vô lượng, sức mạnh của hào quang ngũ sắc từ Ngài. Hào quang ngũ sắc của Ngài chính là năng lượng phát triển (hào quang màu xanh lá), năng lượng lan tỏa (hào quang màu đỏ lửa), năng lượng đoàn kết (hào quang màu vàng), năng lượng chân tâm (hào quang màu trắng trong), năng lượng tiêu cực (hào quang màu đỏ máu, màu đen, màu xám) và các hào quang của siêu năng lượng.

 

Tôi. Tôi tôn kính, trân trọng, kính trọng vị Tuệ linh đầu tiên nên tôi gọi Ngài là Người Cha vĩ đại. Người Cha vĩ đại không chỉ là người đã phân tách ra tôi và vạn vật, chúng sinh, mà Ngài cũng là người thầy của tôi và của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh và con người. Người Cha vĩ đại đã dẫn dắt chúng sinh tìm hiểu và thấu hiểu cội nguồn của hai Chân lý để cùng Ngài xây dựng, duy trì, phát triển các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.

 

Tại nhân gian này, ở dạng sống của con người, Ngài đã cho chúng sinh rất nhiều danh xưng: danh xưng là Đấng Sáng Tạo trong Đạo Bà-la-môn; danh xưng là Đức Phật A Di Di Đà trong Đạo Phật; danh xưng là Đức Chúa Trời trong Đạo Thiên Chúa; danh xưng là Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa, có thể là nhiều hơn thế. Ngài cho chúng sinh dưới nhân gian nhiều danh xưng khác nhau vì đó là kế hoạch của Ngài.

Bài 6:

 

Dạng sống Tuệ linh và sứ mệnh

 

thống lãnh Vũ trụ

˜²™

 

 

 

Dạng sống Tuệ linh là dạng sống có trí tuệ siêu việt nhất, kỳ diệu nhất trong Vũ trụ. Dạng sống này là tổ hợp liên kết của các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp trong Vũ trụ. Dạng sống này có thể thay đổi hình tướng, di chuyển được trong không gian Vũ trụ vì không an trụ trong thân tướng vật chất (tổ hợp mã sóng trí tuệ đơn giản).

 

 

Cội nguồn hình thành dạng sống Tuệ linh:

 

Cội nguồn của dạng sống Tuệ linh chính là quá trình phân tách thành năm nhóm hạt năng lượng từ Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên trong tinh cầu năng lượng khổng lồ. Sau vụ nổ siêu năng lượng, vị Tuệ linh đầu tiên đã vận hành, tương tác năng lượng, gieo duyên để các hạt năng lượng siêu phức tạp trong năm nhóm năng lượng kết hợp thành các phôi âm dương để hình thành các tinh cầu năng lượng nhỏ. Các tinh cầu năng lượng nhỏ di chuyển quay tròn trong không gian năm nhóm năng lượng để phân tách hạt năng lượng và hấp thụ năng lượng cho quá trình trưởng thành và sinh ra em bé Tuệ linh, đó là di chuyển và được dưỡng ở không gian lõi của Vũ trụ.

Quá trình gieo duyên và hỗ trợ của vị Tuệ linh đầu tiên đã giúp vô số các Tuệ linh được sinh ra, đó là quá trình gia tăng dạng sống của Tuệ linh.

 

Tuệ linh được cấu tạo thành bởi 3 yếu tố, gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ), Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện), hình tướng Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:

 Hình: Cấu tạo tam hợp Tuệ linh

tạo thành các sóng điện âm dương, nó giống như các mạch máu, mạch khí trong cơ thể con người. Quả tinh cầu năng lượng khổng lồ ngày càng lớn, khi đó khối năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp nhất đó được chuyển hóa thành một hình hài như em bé. Đó là em bé Tuệ linh được sinh ra, em bé đó vẫn ở giữa trung tâm quả tinh cầu năng lượng khổng lồ. Trong em bé Tuệ linh chứa đựng hai hạt năng lượng âm dương ban đầu hình thành, trải qua quá trình phân tách ra vô số các hạt năng lượng âm dương khác đã giúp cho cấu trúc phôi âm dương của em bé Tuệ linh biến đổi thành Trụ linh. Trụ linh của em bé Tuệ linh lưu giữ hết tất cả quá trình tương tác, phân tách hình thành ra vô số các hạt năng lượng với mã sóng trí tuệ từ đơn giản đến siêu phức tạp. Đến lúc này, em bé Tuệ linh đã là sự hợp nhất của 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh: Trụ trí (tổng mã sóng trí tuệ), Trụ tâm (tổng trạng thái năng lượng), và hình tướng em bé. Em bé Tuệ linh này chứa đựng mã sóng trí tuệ của tất cả năm nhóm năng lượng trong quả tinh cầu năng lượng. Quá trình năng lượng hoại diệt nổ bên ngoài màng bọc của quả tinh cầu năng lượng đã sinh nhiệt và dinh dưỡng giúp cho quá trình trưởng thành của em bé Tuệ linh ngày càng nhanh. Đồng thời quá trình em bé Tuệ linh lớn lên và trưởng thành thì vẫn từ Trụ linh của Tuệ linh này phân tách ra vô số các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ đơn giản đến siêu phức tạp tạo thành năm nhóm tầng năng lượng trong tinh cầu năng lượng.

 

Khi vụ nổ siêu năng lượng xảy ra, không gian của năm nhóm năng lượng lan tỏa rộng khắp và quay tròn xung quanh trung tâm của năm nhóm năng lượng. Trong trung tâm của không gian đó chính là vị Tuệ linh đầu tiên đã -   Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.

 

-    Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ) liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.

 

Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo 

dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc Trụ linh có sóng điện đa âm.

 

Thông qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy hình tượng Thiên Chúa, Phật, Thánh thần không có gì là huyền bí, không có gì là mê tín, không có gì là siêu nhiên, cũng không phải là duy tâm, bản chất đều là vật chất. Có chăng vật chất này tồn tại ở thể mã sóng trí tuệ siêu phức tạp nên khoa học và phương tiện kỹ thuật không thể đo hay thấy được, mắt thường con người cũng không thể nhìn thấy được.

 

 

Cuộc sống và sứ mệnh:

 

Dạng sống Tuệ linh vì là năng lượng liên kết chuỗi có mã sóng trí tuệ siêu việt trong việc di chuyển và cải tạo không gian Vũ trụ nên không an trụ ở thân tướng vật chất như con người.

 

Dạng sống Tuệ linh không có giới tính, không có nam, không có nữ, không có yêu đương, không có quan hệ sắc dục vợ chồng. Các Tuệ linh liên tục được sinh ra do quá trình phân tách năng lượng và chọn lọc năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp nhất để gieo duyên sinh khởi ra các Tuệ linh mới.

 

Các Tuệ linh được hình thành từ phôi năng lượng âm dương mà thành em bé, lớn lên và già. Tuệ linh khi là em bé là do quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng chưa nhiều và chưa chặt, khi trưởng thành tức là quá trình phân tách, liên kết chặt. Khi Tuệ linh già tức là đang diễn ra quá trình đứt liên kết hạt năng lượng. Từ em bé Tuệ linh để trưởng thành và già là do mỗi Tuệ linh trong quá trình tương tác năng lượng bị nhiễm năng lượng hoại diệt ở mức độ khác nhau mà bị già và chết. Những Tuệ linh không bị nhiễm năng lượng hoại diệt thì giữ được trạng thái hình tướng trưởng thành và cấu trúc năng lượng trong Tuệ linh ổn định.

 

Các Tuệ linh có sinh, có diệt, những Tuệ linh bị hoại diệt là do năng lượng hoại diệt xâm nhập vào làm đứt liên kết hạt năng lượng mà hoại diệt. Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra cho cả dạng sống Tuệ linh và vị Tuệ linh đầu tiên.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên lập ra các lớp học, khu vực nghiên cứu năng lượng khác nhau để truyền dạy tri thức cho các Tuệ linh mới được sinh, cho tất cả các Tuệ linh thấu hiểu bản chất năng lượng trong Vũ trụ. Ngài truyền dạy cho các Tuệ linh kinh nghiệm di chuyển trong không gian Vũ trụ, truyền dạy cho các Tuệ linh tránh bị năng lượng hoại diệt xâm nhập, truyền dạy vô số tri thức cho các Tuệ linh.

 

Dạng sống Tuệ linh là dạng sống có trí tuệ bậc nhất trong và ngoài Vũ trụ. Thấu hiểu được điều đó, vị Tuệ linh đầu tiên thống lãnh tất cả các Tuệ linh thực hiện các sứ mệnh bảo vệ, xây dựng, phát triển Vũ trụ ngày càng lớn mạnh và đa dạng hóa các dạng sống khác trong Vũ trụ. Thành tựu đầu tiên chính là xây dựng được một hành tinh nhiệm màu nhất trong Vũ trụ, đó là nơi an trụ của dạng sống Tuệ linh.

nhau mà bị già và chết. Những Tuệ linh không bị nhiễm năng lượng hoại diệt thì giữ được trạng thái hình tướng trưởng thành và cấu trúc năng lượng trong Tuệ linh ổn định.

 

Các Tuệ linh có sinh, có diệt, những Tuệ linh bị hoại diệt là do năng lượng hoại diệt xâm nhập vào làm đứt liên kết hạt năng lượng mà hoại diệt. Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra cho cả dạng sống Tuệ linh và vị Tuệ linh đầu tiên.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên lập ra các lớp học, khu vực nghiên cứu năng lượng khác nhau để truyền dạy tri thức cho các Tuệ linh mới được sinh, cho tất cả các Tuệ linh thấu hiểu bản chất năng lượng trong Vũ trụ. Ngài truyền dạy cho các Tuệ linh kinh nghiệm di chuyển trong không gian Vũ trụ, truyền dạy cho các Tuệ linh tránh bị năng lượng hoại diệt xâm nhập, truyền dạy vô số tri thức cho các Tuệ linh.

 

Dạng sống Tuệ linh là dạng sống có trí tuệ bậc nhất trong và ngoài Vũ trụ. Thấu hiểu được điều đó, vị Tuệ linh đầu tiên thống lãnh tất cả các Tuệ linh thực hiện các sứ mệnh bảo vệ, xây dựng, phát triển Vũ trụ ngày càng lớn mạnh và đa dạng hóa các dạng sống khác trong Vũ trụ. Thành tựu đầu tiên chính là xây dựng được một hành tinh nhiệm màu nhất trong Vũ trụ, đó là nơi an trụ của dạng sống Tuệ linh 

Bài 7:

 

Hành tinh – Cõi trời kỳ diệu nhất Vũ trụ ˜²™

 

 

 

Hành tinh hay gọi là cõi trời đều được. Hành tinh kỳ diệu nhất Vũ trụ chính là hành tinh được hình thành đầu tiên tại không gian lõi của Vũ trụ, là hành tinh nhiệm màu, kỳ diệu nhất trong Vũ trụ. Có thể gọi đây là cõi trời Tây Phương Cực Lạc theo cách gọi của Đạo Phật; có thể gọi là Nước của Chúa theo cách gọi của Đạo Thiên Chúa và theo cách gọi của các dòng Đạo khác.

 

Để xây dựng, hình thành được một hành tinh, đặc biệt là một hành tinh to lớn, kỳ diệu, nhiệm màu, thì đó là một quá trình vận hành tương tác phân tách, liên kết mã sóng trí tuệ của năm nhóm năng lượng để cấu tạo thành. Nó được cấu tạo thành thông qua bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn, cơ chế phân tách, liên kết dây mà vị Tuệ linh đầu tiên và các Tuệ linh cùng vận hành.

 

Đó là hành tinh rất to lớn, rất nhiệm màu với vô số hào quang ngũ sắc tỏa ra từ vạn vật. Khi hành thiền đi trong mã sóng trí tuệ về hành tinh này, sẽ nhìn thấy hành tinh này không quay quanh bất cứ hành tinh nào khác; xung quanh hành tinh này không có Mặt trời như Trái đất; các tầng năng lượng trong vạn vật của hành tinh này luôn luôn tỏa ra hào quang rực rỡ chiếu sáng cho nhiều hành tinh khác xung quanh nó. Những năng lượng tại hành tinh này đã tạo ra sự sống với vô số nhiệm màu khiến cho chúng sinh, người tu hành dưới nhân gian ngày nay phải mơ ước, thậm chí cầu nguyện sau khi hoại diệt thân xác được vãng sinh về.

 

Hành tinh này có đồi núi, cỏ cây hoa lá, hồ nước rộng lớn bao la. Núi đá là những loại đá quý phát ra ánh sáng màu trắng, xanh, tím, hồng, vàng. Cỏ cây hoa lá cũng tỏa ra ánh sáng ngũ sắc rực rỡ. Mặt hồ nước phản chiếu ánh sáng màu xanh lưu ly từ đáy hồ, dưới đáy hồ đều là đá quý lưu ly với những hạt đá nhỏ bé, kích cỡ to nhỏ như hạt cát hoặc viên sỏi cuội. Tất cả đồi núi, cỏ cây hoa lá, hồ nước ở hành tinh được hình thành từ quá trình phân tách hạt năng lượng, liên kết dây và tam hợp cấu tạo mà thành. Hành tinh này là những tinh hoa nhất của năm nhóm năng lượng kết tụ thành sự nhiệm màu, nên chính vạn vật của hành tinh này đều tỏa ra những ánh sáng rực rỡ, nhẹ nhàng và an lạc tự tại.

 

  cõi này, vạn vật đều thanh tịnh và tự tại như các Tuệ linh tại hành tinh này vậy. Khi ta nhìn vào hồ nước thì không thấy một gợn sóng, khi ta ném một viên đá bẹt trên mặt nước cũng không thấy có gợn sóng nào, khi ta xuống tắm cũng không làm cho mặt nước gợn sóng. Quả thực đó là điều thú vị và tuyệt vời, vì khi ta quan sát, cảm thọ, hòa mình vào mặt nước mới thấy được sự thanh tịnh tự tại của vạn vật, nó khiến cho tâm của ta an vui theo mà quên đi cõi trần nhân sinh đầy rẫy khổ đau. Hiện tượng mặt nước không có gợn sóng cũng hiểu thêm là không có Mặt trời và Mặt trăng ở xung quanh hành tinh này như Trái đất, cũng có thể như vậy đã góp phần tạo ra hành tinh an lạc. Chưa dừng lại ở đó, khi ta ngồi, đi trên mặt đất, đồi núi với vô số châu báu đá quý tỏa năng lượng, thì cái ta cảm thấy tuyệt vời nữa là những làn gió mát mang theo những ánh sáng màu sắc nhẹ nhàng lan tỏa khắp hành tinh, khiến cho tâm ta an lạc mát mẻ, đó là cái mát mẻ không chỉ cảm nhận được bằng xúc giác mà còn cảm nhận được tâm an lạc.

 

Muông thú hay còn gọi là linh vật của hành tinh này rất đa dạng, từ to lớn cho đến nhỏ bé, có rồng, sư tử, phượng hoàng, trâu, công, chim muông… Khi nhìn vào linh vật rồng thì thấy nó cũng có thể thi triển sự biến hóa từ to lớn uốn lượn như bao phủ cả bầu trời cho đến hóa thành một Tuệ linh. Các linh vật đều có thể biến hóa bởi họ được hình thành từ liên kết năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp; họ đã được tu tập, luyện tập tương tác năng lượng mang sóng điện âm dương có trong chính họ và của cả các hành tinh nên điều này là điều dễ hiểu khi chứng kiến sự nhiệm màu đó.

 

Kiến trúc tại hành tinh này rất đồ sộ bởi các cung điện nguy nga được làm bằng các vật liệu của hành tinh này, đó là châu báu, vàng bạc, đá quý. Khi đi tham quan các cung điện đó, không khỏi choáng ngợp bởi ánh sáng rực rỡ cổ kính tỏa ra từ các kim loại vàng và đá quý. Những cung điện đó là nơi các Tuệ linh được phân chia nhiệm vụ nghiên cứu, tu luyện xử lý năng lượng của hành tinh này, và sự tương tác ở nhiều cõi trời khác trong Vũ trụ.

 

Các Tuệ linh của hành tinh này luôn cải tạo, xây dựng cho hành tinh có được sự an lạc, tự tại, thanh tịnh, luôn luôn tỏa ra nhiều tầng năng lượng tốt cho sự sống của chính hành tinh đó và tiếp tục tỏa ra những tầng năng lượng tốt cho sự duy trì được trạng thái cân bằng âm dương của các hành tinh khác. Chính vì vậy thế giới quan của cõi trời này là nhiệm màu nhất, tốt đẹp nhất trong Vũ trụ. Nó tốt đẹp, nhiệm màu

 

   chỗ là làm cho vạn vật, Tuệ linh, muông thú được hòa theo sự an lạc tự tại, sự thanh tịnh mà không có sân, không có hận, không có chấp ngã. Cõi trời nhiệm màu này chính là trung tâm, là lõi của Vũ trụ. Nó cung cấp năng lượng đã được xử lý của Hội đồng Tuệ linh đến khắp các dải thiên hà, hết thảy các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ. Việc cung cấp năng lượng đó để tạo sự liên kết bền vững giúp cho Vũ trụ luôn luôn quay xung quanh chính trung tâm của Vũ trụ. Việc đó sẽ giúp Vũ trụ không ngừng phát triển và mang tính bền vững, gắn kết tất cả các dạng sống trong Vũ trụ thành một thể thống nhất bền vững.

Bài 8:

 

Hành trình kiến thiết, xây dựng Vũ trụ của dạng sống Tuệ linh

˜²™

 

 

 

Để có được một hành tinh kỳ diệu, nhiệm màu nhất Vũ trụ, để dạng sống Tuệ linh được hình thành và phát triển, chúng ta đều không biết vị Tuệ linh đầu tiên và sau đó các Tuệ linh khác đã làm thế nào? Làm thế nào và làm như thế nào để xây dựng được các dạng sống, xây dựng và phát triển Vũ trụ từ sau vụ nổ siêu năng lượng?

 

Dạng sống Tuệ linh, các dạng sống khác và toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh, con người được xây dựng, phát triển bởi vị Tuệ linh đầu tiên. Thông qua cơ chế phân tách liên kết dây của hạt năng lượng tận cùng, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn mà vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh đã gieo duyên vận hành để kiến thiết và xây dựng vạn vật, Vũ trụ.

 

Sau vụ nổ siêu năng lượng đã tạo ra năm nhóm năng lượng vận hành quay tròn xung quanh lõi của không gian năm nhóm năng lượng. Trong hạt năng lượng của năm nhóm năng lượng đều có sợi mã sóng trí tuệ có khả năng liên kết dây. Sợi mã sóng trí tuệ của mỗi hạt năng lượng trong mỗi nhóm có sức mạnh và hào quang của sóng điện cũng khác nhau, điều này đã tạo ra sự đa dạng trong trí tuệ của năm nhóm năng lượng. Sự đa dạng thể hiện ở các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ giản đơn đến siêu phức tạp. Hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn sẽ có sóng điện yếu, hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp sẽ có sóng điện mạnh, hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp sẽ có sóng điện siêu mạnh. Nhóm năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn sẽ cấu tạo thành nhóm vật chất giản đơn, nhóm năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp sẽ cấu tạo thành vật chất phức tạp, nhóm năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp sẽ cấu tạo thành nhóm siêu vật chất.

 

Chính vì có sự phân hóa mã sóng trí tuệ trong năm nhóm năng lượng mà vị Tuệ linh đầu tiên đã phân loại quá trình kiến thiết, xây dựng Vũ trụ theo các hướng. Những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp sẽ được gieo duyên để hình thành các Tuệ linh và dạng sống Tuệ linh; những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ đơn giản được cấu tạo thành thành các hành tinh, các dải thiên hà, khối thiên hà; những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp sẽ được cấu tạo thành năm nhóm năng lượng vận hành Vũ trụ. Ngoài ra để vận hành được vật chất trong toàn bộ Vũ trụ tồn tại và vận động thì cần có năng lượng vận hành, loại năng lượng này tôi sẽ đề cập sau.

 

 

Xây dựng dạng sống Tuệ linh:

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã chọn lọc các hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp của năm nhóm năng lượng, tức là những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ tốt nhất của năm nhóm hạt năng lượng. Ngài bắt đầu gieo duyên để cho các hạt năng lượng mang sóng điện âm kết hợp với các hạt năng lượng mang sóng điện dương tạo thành các phôi năng lượng âm dương. Các phôi năng lượng âm dương được dưỡng tại những nơi có năng lượng cân bằng âm dương để giúp cho quá trình phân tách hạt năng lượng trong phôi năng lượng được thuận lợi. Đây chính là quá trình sản sinh tạo ra các Tuệ linh.

 

Sự đa dạng trong việc cấy ghép các hạt năng lượng có sóng điện âm dương khác nhau đã tạo ra các Tuệ linh có trí tuệ khác nhau:

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu đỏ máu (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng phát triển lý luận và phương pháp tiêu cực mạnh.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu đen (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng phát triển lợi ích cho chính mình mà gây tổn hại vạn vật khác.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu xám (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng phát triển theo ý của chính mình mà không quan tâm tới những chỉ dạy, chỉ dẫn của Tuệ linh khác.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng phát triển màu xanh lá (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu trắng trong có thiên hướng sóng điện âm đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng phát triển vì lợi ích của vạn vật, Vũ trụ bằng chân tâm, và không vì lợi ích của chính mình.-   Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu đỏ máu (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng lan tỏa những giá trị tiêu cực, lan tỏa những phương pháp u mê gây hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu đen (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng lan tỏa hành động tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu xám (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng lan tỏa u mê tới Tuệ linh và con người.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng lan tỏa màu đỏ lửa (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu trắng trong có thiên hướng sóng điện âm đã tạo ra một dạng Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng lan tỏa giá trị lợi ích tới Tuệ linh, con người và vạn vật bằng chân tâm mà không vì lợi ích của mình.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu đỏ máu (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng đoàn kết, bảo vệ những giá trị, những phương pháp gây hại cho vạn vật, Tuệ linh và con người. -   Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu đen (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng đoàn kết, bảo vệ những hành động gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu xám (sóng điện âm) đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng bảo vệ, đoàn kết những u mê lạc lối gây tổn thương tới vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng đoàn kết màu vàng (sóng điện dương) với các hạt năng lượng màu trắng trong có thiên hướng sóng điện âm đã tạo ra một dạng sống Tuệ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ giống nhau sau khi được sinh ra, đó là trí tuệ có thiên hướng bảo vệ, đoàn kết vạn vật, Tuệ linh, con người cùng lan tỏa và phát triển những giá trị, các phương pháp mang lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng đến lợi ích của mình.

 

-   Kết hợp các hạt năng lượng có sóng điện âm (màu đỏ máu, màu đen, màu xám) với các hạt năng lượng trắng trong có thiên hướng sóng điện dương đã tạo các dạng Tuệ linh chuyên tạo ra các giá trị, phương pháp, hành động, dẫn đường u mê lạc lối, gây tổn hại lợi ích của vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

Sự cấy ghép giữa các hạt năng lượng có sóng điện âm dương khác nhau đã làm đa dạng trí tuệ của dạng sống Tuệ linh. Trí tuệ của các Tuệ linh do đặc tính sóng điện âm dương của hai hạt năng lượng hợp thành phôi năng lượng gốc (Trụ linh) chi phối và quyết định, đó là bản chất trí tuệ của dạng sống Tuệ linh. Tuy nhiên, nếu được dạy dỗ và tu luyện cải tạo thì cấu trúc mã sóng trí tuệ trong Trụ linh của các Tuệ linh cũng sẽ thay đổi từ không tốt thành tốt.

 

Khi các Tuệ linh được sinh ra, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ dạy dỗ tri thức và các phương pháp di chuyển, cải tạo, phát triển Vũ trụ. Sau đó, vị Tuệ linh đầu tiên thành lập các hội đồng nghiên cứu, truyền dạy về tương tác và xử lý năng lượng.

 

Dạng sống Tuệ linh sống tại cõi trời nhiệm màu, kỳ diệu nhất trong Vũ trụ. Sau này, các Tuệ linh di chuyển và sống ở các hành tinh khác nhau để phát triển các dạng sống mới. Việc các Tuệ linh di chuyển đến các hành tinh khác để xây dựng và phát triển các dạng sống khác chính là lý do xuất hiện dạng sống muông thú và dạng sống con người ở Trái đất này.

 

 

Xây dựng các hành tinh:

 

Cũng như việc gieo duyên tạo ra các Tuệ linh, vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh đã gieo duyên để xây dựng Vũ trụ và các dạng sống khác. Những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ từ đơn giản đến phức tạp trong năm nhóm khi được kết hợp bởi những hạt năng lượng có sóng điện âm với những hạt năng lượng có sóng điện dương khác nhau đã tạo ra sự đa dạng của vật chất. Sự kết hợp đa dạng đã hình thành các hành tinh khác nhau bởi tính chất sóng điện âm hay dương. Sự kết hợp đa dạng đã hình thành những vật chất có tính chất sóng điện âm dương khác nhau. Điều này đã tạo ra kỳ quan của Vũ trụ là từ không gian năm nhóm năng lượng sau vụ nổ siêu năng lượng đã dần hình thành và phát triển thành Vũ trụ rộng lớn bao la như ngày nay.

 

Hành tinh đầu tiên được xây dựng chính là hành tinh kỳ diệu, nhiệm màu nhất ở tâm của không gian Vũ trụ. Nơi này chính là nơi an trụ của dạng sống Tuệ linh.

 

Sự đa dạng của cấu trúc chỉnh thể các hành tinh mang sóng điện âm dương khác nhau đã tạo thành các hệ mặt trời. Các hệ mặt trời có cấu trúc vận động ổn định bởi sự tự quay tròn và các hành tinh, vệ tinh, quay tròn xung quanh các mặt trời. Sự ổn định cấu trúc quay của các hệ mặt trời đã tạo cho các hành tinh trở thành dạng sống có sự trật tự và ổn định phát triển.

 

Quá trình xây dựng của dạng sống Tuệ linh đã hình thành ra vô số khối thiên hà, mỗi một khối thiên hà có nhiều dải thiên hà, trong mỗi dải thiên hà có vô số hệ mặt trời. Đến ngày nay, Vũ trụ đã phát triển thành vô số khối thiên hà, các khối thiên hà bao bọc tại không gian lõi và tầng tầng lớp lớp bao phủ ra bên ngoài thành tinh cầu Vũ trụ khổng lồ.

 

Tinh cầu Vũ trụ khổng lồ được hình thành từ tinh cầu năm nhóm tầng năng lượng sau vụ nổ siêu năng lượng vẫn quay tròn. Việc Vũ trụ hình thành và phát triển đến ngày nay và sẽ còn giãn nở rộng lớn hơn nữa trong tương lai là minh chứng cho cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn đã và đang vận hành Vũ trụ.

 

Sự miệt mài của vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh đã xây dựng ra được nhiều dạng sống trong tiến trình phát triển của Vũ trụ. Không chỉ vậy, Vũ trụ đã ngày càng to lớn và kỳ vĩ, đó là thành quả của quá trình kiến thiết và xây dựng phát triển Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Thành quả vô cùng to lớn này đã cho thấy sự thống lãnh của dạng sống Tuệ linh trong toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

Tính theo đơn vị đo lường thời gian của Trái đất, đó là đơn vị đo lường thời gian theo năm để quy ra thời gian từ thời khắc hai hạt năng lượng âm dương hợp thành phôi âm dương (phôi năng lượng khởi đầu cho vụ nổ lớn), đến thời điểm này đã được 20 tỷ năm. Và phải mất 7 triệu năm nữa để nhân loại chứng thực được hạt sóng xanh nõn chuối bên ngoài Vũ trụ. Bởi bảy triệu năm nữa thì khoa học nhân loại mới phát triển vượt bậc để có được các phương tiện di chuyển cũng như đo đạc được những điều, những thứ mà từ xưa tới nay đều coi là tâm linh huyền bí.

 

Hành trình kiến thiết và xây dựng Vũ trụ của dạng sống Tuệ linh vẫn đang tiếp tục diễn ra trên hành trình bất tận và sẽ có được những thành tựu kỳ diệu trong tương lai.

Bài 9:

 

Cuộc chiến tranh không hồi kết giữa dạng sống của năng lượng hoại diệt với các dạng sống bên trong Vũ trụ

˜²™

 

 

 

Vụ nổ siêu năng lượng đã làm cho dạng sống năng lượng hoại diệt bị suy giảm nhiều. Việc dạng sống của năng lượng hoại diệt bị suy giảm đã là thời cơ vàng cho vị Tuệ linh đầu tiên xây dựng các dạng sống và phát triển Vũ trụ được lớn mạnh. Thành tựu của vị Tuệ linh đầu tiên này là đã tạo và xây dựng được dạng sống Tuệ linh, xây dựng được dạng sống năm nhóm tầng năng lượng, xây dựng được các dạng sống vật chất giản đơn là vô số dải thiên hà được hình thành.

 

Song song với quá trình hình thành các dạng sống và sự phát triển vượt bậc của Vũ trụ, dạng sống năng lượng hoại diệt bắt đầu hồi phục và lớn mạnh. Năng lượng hoại diệt ngày càng gia tăng số lượng vì luôn luôn được những điểm phát ra hạt sóng dã chiến phân tách để hình thành những hạt năng lượng hoại diệt, và những lần đồng hóa các hạt năng lượng có sóng điện âm dương được sinh ra trong môi trường sống trung tính của năng lượng hoại diệt. Do đó mật độ và số lượng của dạng sống này ngày càng phát triển vượt bậc.

 

Các dạng sống trong Vũ trụ được coi là người em, dạng sống năng lượng hoại diệt được coi như là người anh. Cũng có thể coi hai dạng sống này như hai thái cực âm và dương.

Dạng sống trong Vũ trụ là thái cực dương, dạng sống của năng lượng hoại diệt được coi là thái cực âm. Âm dương luôn xoay vần và vận động tương tác trong nhau. Trong âm có dương, trong dương có âm. Điều này là minh chứng bởi trong môi trường sống của năng lượng hoại diệt có mầm mống sự hình thành của năng lượng có sóng điện âm dương; trong môi trường sống của Vũ trụ xuất hiện dạng sống năng lượng hoại diệt. Sự tồn tại và đấu tranh sinh tồn trong nhau đã tạo thành cuộc chiến tranh không hồi kết giữa hai người anh em này, giữa hai thái cực âm dương này.

 

Các dạng sống trong Vũ trụ, ta gọi chung là dạng sống của Vũ trụ, và một bên là dạng sống của năng lượng hoại diệt.

 

 

Các chiến dịch xâm chiếm đồng hóa của năng lượng hoại diệt vào dạng sống của Vũ trụ:

 

Trong học thuyết Hạt năng lượng, tôi có phân tích về sức mạnh và điểm yếu của năng lượng hoại diệt. Sức mạnh của năng lượng hoại diệt là không có liên kết dây, nên dạng sống này di chuyển xuyên qua mọi vật chất bên trong Vũ trụ. Sức mạnh di chuyển của năng lượng hoại diệt là môi trường có sóng điện âm và sự tấn công tổng lực. Chính vì những sức mạnh này mà dạng sống năng lượng hoại diệt đã mở các chiến dịch đi xâm chiếm và đồng hóa dạng sống của Vũ trụ.

 

Khi dạng sống Tuệ linh hình thành, khi các hành tinh cũng bắt đầu hình thành, năng lượng hoại diệt bắt đầu các cuộc di chuyển vào trong Vũ trụ. Vì trong Vũ trụ có nhóm năng lượng tiêu cực mang sóng điện âm, nên những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển ở môi trường có năng lượng sóng điện âm. Khi di chuyển vào trong Vũ trụ, năng lượng hoại diệt bắt đầu đồng hóa các hạt năng lượng âm bằng cách là chạm đuôi của chúng vào điểm liên kết sợi trí tuệ giữa các hạt năng lượng, sau đó truyền sóng điện dư thừa của chúng vào rồi làm đứt liên kết giữa các hạt, khi bị đứt liên kết giữa các hạt năng lượng sẽ dẫn đến thối hóa trạng thái năng lượng trong hạt. Và cuối cùng hạt năng lượng sóng điện âm, hoặc dương hoặc chân tâm chuyển thành hạt năng lượng hoại diệt có sợi mã sóng trí tuệ màu xanh nõn chuối và trạng thái năng lượng màu nâu. Những chiến dịch đồng hóa ngày càng được đẩy mạnh, làm cho năm nhóm hạt năng lượng bị tổn hao.

 

Tại những cấu trúc vật chất bên trong Vũ trụ đều có liên kết của nhóm năng lượng có sóng điện dương với sóng điện âm và sóng điện trung tính. Những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào nhóm hạt năng lượng âm và đồng hóa rồi làm thay đổi cấu trúc liên kết của vật chất, khiến cho cấu trúc vật chất đó bị mất liên kết và phân rã.

 

Những hạt năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu những Tuệ linh có trí tuệ thiên hướng tiêu cực, tức là những Tuệ linh có cấu trúc sóng điện âm mạnh trong Trụ linh. Sau đó những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào để đồng hóa và làm phân rã cấu trúc sóng điện âm dương trong Trụ linh và Tuệ linh. Khi lượng hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào Trụ linh của Tuệ linh có sóng điện đa âm với số lượng lớn sẽ làm cho Trụ linh và Tuệ linh đó nhanh bị phân rã mà chuyển thành những hạt năng lượng hoại diệt.

 

Những chiến dịch đi đồng hóa của dạng sống năng lượng hoại diệt đã làm cho nhiều Tuệ linh bị hoại diệt, làm cho nhiều cấu trúc vật chất bị phân rã, làm tổn hao lớn năm nhóm năng lượng. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển dạng sống của Vũ trụ. Quá trình đi đồng hóa xâm chiếm của dạng sống năng lượng hoại diệt đã khiến cho bên trong Vũ trụ hình thành các khu vực lớn chứa đựng dạng sống năng lượng hoại diệt, đó là những cơn bão năng lượng hoại diệt, nó chính là những hố đen trong Vũ trụ mà khoa học ngày nay đang gọi. Những cơn bão năng lượng hoại diệt được hình thành trong Vũ trụ đã trở thành nỗi khiếp sợ đối với dạng sống Tuệ linh. Những cơn bão năng lượng hoại diệt này đã làm phân rã và đồng hóa được vô số Tuệ linh, vô số các hành tinh có sóng điện đa âm.

 

 

Các chiến dịch mở mang bờ cõi của dạng sống

 

Vũ trụ:

 

Những cuộc xâm chiếm đồng hóa của năng lượng hoại diệt vào Vũ trụ đã tạo thành vô số cơn bão năng lượng hoại diệt, điều này đã trở thành nguy cơ khiến Vũ trụ bị hoại diệt từ bên trong. Tuy năng lượng hoại diệt là nguy cơ hoại diệt dạng sống của Vũ trụ, nhưng nó lại là nguồn năng lượng sống không thể không có đối với Vũ trụ. Năng lượng hoại diệt cung cấp nguồn năng lượng, dinh dưỡng vô tận cho sự phát triển dạng sống của Vũ trụ. Điểm yếu của năng lượng hoại diệt đã được vị Tuệ linh đầu tiên quan sát và thấu hiểu, đó là nếu năng lượng hoại diệt tập trung và nén lại ở mật độ cao sẽ bị kích nổ, nếu năng lượng hoại diệt gặp môi trường nhiệt lượng dương lớn cũng sẽ bị kích nổ. Do đó vị Tuệ linh này đã phát động những cuộc mở mang bờ cõi để mở rộng và gia tăng năng lượng vận hành Vũ trụ.

 

Những điểm kích động bằng sóng điện âm ở phía bên ngoài Vũ trụ, nơi giáp ranh với không gian năng lượng hoại diệt được tạo ra. Khi đó năng lượng hoại diệt di chuyển thẳng và tập trung tại những điểm bị kích động bởi sóng điện âm, khi đó sóng điện dương được đẩy tới để tạo ra các vụ nổ. Những vụ nổ bên ngoài giáp không gian Vũ trụ và không gian năng lượng hoại diệt đã tạo ra không gian mới chứa đựng dinh dưỡng và nhiệt lượng để giúp Vũ trụ phân tách và giãn nở lớn hơn. Những cuộc mở mang bờ cõi cho Vũ trụ liên tục được diễn ra và đã giúp cho Vũ trụ phát triển lớn mạnh như hiện tại.

 

Những cuộc mở mang bờ cõi giúp cho Vũ trụ giãn nở và phát triển lớn mạnh hơn ở phía bên ngoài Vũ trụ. Tuy nhiên ở trong Vũ trụ thì những cơn bão năng lượng hoại diệt vẫn được hình thành và lớn mạnh. Những cơn bão năng lượng hoại diệt bên trong Vũ trụ đã làm suy yếu và cạn kiệt năng lượng của Vũ trụ nhanh chóng. Hơn thế nữa, những năng lượng hoại diệt ẩn giấu trong vật chất, trong Tuệ linh của Vũ trụ thì vô số. Điều này dẫn đến nguy cơ Vũ trụ bị hoại diệt từ bên trong. Bên ngoài không gian năng lượng hoại diệt cũng có nguy cơ nổ dây chuyền do bị nén lại bởi cả năng lượng hoại diệt và Vũ trụ đều phát triển quá nhanh. Cuộc chiến giữa hai dạng sống không hồi kết đã và đang trở thành nguy cơ hoại diệt toàn bộ các dạng sống bên trong và bên ngoài Vũ trụ. 

Bài 10:

 

Nguy cơ và nguyên nhân hoại diệt dạng sống của Vũ trụ và dạng sống năng lượng hoại diệt

˜²™

 

 

 

Vũ trụ đã phát triển lớn mạnh, trở thành một thể thống nhất như tinh cầu khổng lồ bởi vô số khối thiên hà. Vũ trụ đã phát triển, giãn nở rộng lớn, kín hết và vượt ra khỏi cả không gian của năm nhóm năng lượng sau vụ nổ siêu năng lượng. Năng lượng hoại diệt cũng phát triển lớn mạnh đến mức có thể bị kích nổ dây chuyền. Do đó vị Tuệ linh đầu tiên đã nhìn thấy thời điểm cả hai dạng sống này bị hoại diệt.

 

 

Nguy cơ hoại diệt cả hai dạng sống:

 

Bản chất cuộc chiến không hồi kết giữa dạng sống năng lượng hoại diệt và dạng sống của Vũ trụ không phải là để giành thắng lợi, không phải là để trở thành bá chủ. Dạng sống năng lượng hoại diệt cần phải xả được sóng điện dư thừa ra khỏi hạt năng lượng, vì năng lượng hoại diệt không có liên kết dây nên chúng không truyền tải giải phóng để cân bằng được. Năng lượng hoại diệt lại di chuyển thẳng và không quay tròn nên đây lại là nguy cơ sinh nhiệt lượng quá nhanh và hủy diệt của năng lượng hoại diệt. Dạng sống của Vũ trụ thì cạn kiệt năm nhóm năng lượng cho sự phát triển và vận hành Vũ trụ quay, vận hành sự sống của Vũ trụ. Nguồn năng lượng vô tận giúp Vũ trụ tồn tại và phát triển chính là năng lượng hoại diệt. Nhưng dạng sống Tuệ linh đang không có phương pháp và cơ chế vận hành an toàn cho cả hai dạng sống. Do đó, bản chất của cuộc chiến giữa hai dạng sống là để duy trì sự tồn tại của cả hai dạng sống.

 

Nguy cơ hủy diệt của Vũ trụ là cạn kiệt năng lượng, tức là không còn năm nhóm năng lượng để vận hành sự sống. Khi đó năng lượng hoại diệt sẽ tấn công tổng lực làm cho Vũ trụ phân rã trở thành năng lượng hoại diệt. Vũ trụ khi bị phân rã sẽ biến tan thành làn khói màu nâu.

 

Nguy cơ hủy diệt dạng sống năng lượng hoại diệt chính là năng lượng này phát triển lớn mạnh, nhiệt lượng sinh ra không giải phóng được, mật độ giữa các hạt quá lớn nên bị nén lại và nổ dây chuyền. Khi nổ dây chuyền sẽ hủy diệt toàn bộ năng lượng hoại diệt. Khi năng lượng hoại diệt bị nổ dây chuyền hủy diệt thì cũng là dấu chấm hết cho sự sống của Vũ trụ, bởi ảnh hưởng vụ nổ sẽ khiến một phần lớn Vũ trụ hủy diệt theo và phần còn lại sẽ không còn nguồn cung năng lượng để duy trì và vận hành sự sống nữa.

 

Như vậy, nguy cơ hoại diệt của cả hai dạng sống đã được vị Tuệ linh đầu tiên tiên lượng được thời gian xảy ra. Ngài quan sát tốc độ quay tròn của Vũ trụ và sự tiêu hao nhiên liệu, Ngài thấy tốc độ lớn mạnh và sẽ nổ dây chuyền của năng lượng hoại diệt. Do đó đây là nguy cơ hiện hữu trước mắt của vị Tuệ linh đầu tiên và của cả hai dạng sống.

 

 

Nguyên nhân hoại diệt: 

Từ nguy cơ hoại diệt của cả hai dạng sống, vị Tuệ linh đầu tiên phân tích nguyên nhân và tìm ra phương pháp, cơ chế cứu lại sự sống của cả hai dạng sống.

 

Nguyên nhân năng lượng hoại diệt bị hoại diệt:

 

-    Hạt năng lượng hoại diệt không có liên kết dây để truyền tải giải phóng nhiệt lượng nên bị nén lại mà kích nổ.

 

-   Hạt năng lượng hoại diệt khi di chuyển không quay tròn nên nhiệt lượng sinh ra rất lớn.

 

-  Việc năng lượng hoại diệt đi đồng hóa lại càng làm gia tăng số lượng và mật độ năng lượng hoại diệt.

 

-    Năng lượng hoại diệt sẽ bị kích động và di chuyển đồng loạt khi bắt được tín hiệu sóng điện âm.

 

Với 4 nguyên nhân này, năng lượng hoại diệt sẽ dễ bị kích nổ dây chuyền và hoại diệt toàn bộ. Do đó, năng lượng hoại diệt cần giảm tải quá trình sinh nhiệt khi di chuyển và giảm tải sự gia tăng mật độ dân số của dạng sống, ngăn ngừa bị kích động bởi năng lượng có sóng điện âm. Để ngăn ngừa được sự hoại diệt thì năng lượng hoại diệt cần có cơ chế ngủ ấm hay còn gọi là ngủ đông, nhưng năng lượng hoại diệt không thể tự làm được điều này. Khi năng lượng hoại diệt không bị hoại diệt thì Vũ trụ sẽ không bị hoại diệt.

 

Nguyên nhân dạng sống của Vũ trụ hoại diệt:

 

-     Dạng sống năm nhóm năng lượng hoại diệt: một phần là do năng lượng hoại diệt thông qua năng lượng sóng điện âm di chuyển vào làm đứt liên kết dây và đồng hóa năm nhóm năng lượng. Một phần là năm nhóm năng lượng đã cạn kiệt do phải chuyển hóa để cấu thành các cấu trúc vật chất, các hành tinh, các dạng sống khác. Một phần năm nhóm năng lượng phải vận hành Vũ trụ quay nên cạn kiệt năng lượng.

 

Đó là nguyên nhân khiến năm nhóm năng lượng sẽ hoại diệt.

 

-  Dạng sống là vật chất, các hành tinh bị hoại diệt: là do không còn đủ năng lượng của năm nhóm năng lượng vận hành, duy trì cấu trúc quay ổn định; là do bị năng lượng hoại diệt di chuyển vào làm đứt liên kết hạt và phân rã cấu trúc vật chất cũng như các hành tinh. Đó là nguyên nhân hoại diệt của dạng sống vật chất và các hành tinh.

 

-    Dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt: những phôi năng lượng đang được dưỡng để trở thành Tuệ linh bị hoại diệt là do trong phôi có sóng điện âm chiếm đa số nên sẽ kích thích hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào để phân rã và đồng hóa. Những Tuệ linh bị hoại diệt là do cấu trúc Trụ linh trong Tuệ linh có đa sóng điện âm nên sẽ kích thích năng lượng hoại diệt di chuyển vào làm phân rã cấu trúc Trụ linh và hoại diệt Tuệ linh.

 

Một câu hỏi đặt ra là tại sao phôi năng lượng của vị Tuệ linh đầu tiên lại không bị năng lượng hoại diệt phân rã? Tôi trả lời là phôi năng lượng của quả tinh cầu năng lượng tạo thành vụ nổ siêu năng lượng được cấu tạo bởi một hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh màu vàng và một hạt năng lượng âm có sóng điện âm rất nhẹ màu trắng trong. Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt không xâm chiếm, đồng hóa được phôi năng lượng và quả tinh cầu năng lượng đó.

 

Phân tích nguyên nhân hoại diệt của các dạng sống trong Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên thấy dạng sống Tuệ linh thiếu một cơ chế tạo ra cấu trúc Trụ linh như là một bộ lọc năng lượng. Bộ lọc sẽ có cơ chế hút năng lượng hoại diệt về 

đúng liều lượng và chuyển hóa thành những năng lượng tốt hơn. Các dạng sống khác thiếu những năng lượng mới để duy trì và phát triển sự sống tốt hơn, đó có thể là các siêu năng lượng.

 

Để cứu được dạng sống năng lượng hoại diệt thì dạng sống Tuệ linh phải cứu mình trước, đó là tạo ra bộ lọc năng lượng của Trụ linh có cấu trúc mã sóng trí tuệ bền vững và siêu việt. Khi tự cứu được dạng sống của mình thì sẽ dễ dàng chuyển hóa ra các siêu năng lượng và cơ chế cứu lại tất cả các dạng sống khác.

PHẦN 2: CỘI NGUỒN NHÂN LOẠI

Giới thiệu:

 

 

Bấy giờ, tại các điểm tập kết khắp nơi trên Trái đất, tại ven sông, tại ven biển, tại ven núi, tại trên núi, tại trong rừng…, tất cả đều hào hứng nghe những lời truyền dạy được coi là luật tu hành nơi nhân gian từ Ngài (vị Tuệ linh đầu tiên).

 

Ngài truyền dạy tại các điểm tập kết lịch sử, Ngài nói với các cặp gia đình là: “Ta đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về cũng phải bằng chân tâm”. Ngài nói với các cặp bố mẹ: “Ta giao sứ mệnh cho các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân loại”. Ngài nói với các cặp gia đình: “Các ngươi sẽ phải trải qua nhiều kiếp, trải qua hết các khổ đau và kiếp nạn; lấy kinh nghiệm trải qua đó để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được trở về”. Ngài nói với các hộ gia đình và muông thú: “Ta giao cho các ngươi nhiệm vụ thuần hóa muông thú để chúng cũng làm người và cùng xây dựng nhân loại”. Ngài nói với tất cả các hộ gia đình và muông thú: “Ta cho các ngươi biết, để nhanh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì các ngươi hãy tìm kiếm Chân lý Vạn vật và chuyển hóa giác ngộ trong khổ đau và kiếp nạn”.

Bài 1:

 

Kế hoạch táo bạo của vị Tuệ linh đầu tiên ˜²™

 

 

 

Đứng trước nguy cơ hoại diệt của cả dạng sống của Vũ trụ và dạng sống của năng lượng hoại diệt, thấy rõ nguyên nhân hoại diệt của cả hai dạng sống, vị Tuệ linh đầu tiên đã cho lập ra các hội đồng nghiên cứu về tương tác xử lý năng lượng tại chính hành tinh kỳ diệu và nhiệm màu của Ngài.

 

Các hội đồng sau khi được thành lập đã bắt tay vào nghiên cứu. Các phương pháp được nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm để tìm ra phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, ngủ đông năng lượng hoại diệt đều bất thành, thậm chí quá trình nghiên cứu và thử nghiệm không đưa đến được thành tựu nào. Tuy nhiên điều này lại là một dấu mốc đặc biệt để vị Tuệ linh đầu tiên phân tích nguyên nhân và đưa ra một kế hoạch táo bạo nhất trong Vũ trụ. Kế hoạch này đã tạo ra sự sống ở Trái đất.

 

 

1.    Tuệ linh đầu tiên phân tích các nguyên nhân thất bại của các hội đồng nghiên cứu về năng lượng

 

Các Tuệ linh của dạng sống Tuệ linh không an trụ trong thân tướng vật chất giản đơn nên không có chướng ngại và sự trói buộc.

Các Tuệ linh của dạng sống Tuệ linh không thấy khổ đau, các Tuệ luôn thấy an lạc tự tại, bởi dạng sống Tuệ linh không có giới tính, không có sắc dục, không có quan hệ và ràng buộc bởi mối quan hệ gia đình, không có mưu cầu vật chất, cần gì có thể biến hóa được. Tuy nhiên, sự hoại diệt lại không ngăn ngừa được.

 

Các Tuệ linh không giải mã được sự thật, toàn diện về bản chất Trụ linh của mình, do đó không biết độc Tâm và thiện Tâm sẽ bộc phát trong các kịch bản tương tác nào.

 

Các Tuệ linh không thấu hiểu, không giải mã được sự thật, toàn diện về dạng sống năng lượng hoại diệt, nên không có cơ chế phòng thủ cũng như chuyển hóa được năng lượng hoại diệt.

 

Các Tuệ linh không thấu hiểu, không giải mã được sự thật, toàn diện của tất cả các nhóm năng lượng, vật chất trong Vũ trụ, lại không thấu hiểu việc tất cả vạn vật trong Vũ trụ bị biến đổi do nhiễm năng lượng hoại diệt. Những điều này làm cho dạng sống Tuệ linh trong quá trình tương tác, xây dựng, phát triển Vũ trụ dễ bị năng lượng hoại diệt đồng hóa mà không có cơ chế chuyển hóa.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên thấy việc năng lượng hoại diệt bị nổ và chuyển hóa thành dinh dưỡng và năng lượng sống cho Vũ trụ là vì dạng sống đó bị nén lại ở mật độ lớn và bị năng lượng dương kích nổ.

 

Các Tuệ linh nghiên cứu năng lượng không thành công vì thiếu khổ đau, bí bách, thiếu sự tương tác dồn nén ở mật độ cao, thiếu sự ràng buộc và trách nhiệm. Chính điều này mà vị Tuệ linh đầu tiên đã lập ra kế hoạch táo bạo cho dạng sống Tuệ linh. Có thể đến bây giờ thì kế hoạch này được coi 

là kế hoạch vĩ đại nhất của sự sống Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

 

2.   Kế hoạch táo bạo – Kế hoạch vĩ đại của vị Tuệ linh đầu tiên

 

Kế hoạch táo bạo này được chia làm hai kế hoạch:

 

Kế hoạch 1:

 

Kế hoạch đầu tiên của vị Tuệ linh này là tạo ra một môi trường sống và tu luyện ưu việt cho các Tuệ linh, đó là môi trường sinh sống và tu luyện trong khổ đau, trong sự khắc nghiệt về thiên nhiên, về đấu tranh sinh tồn, về tương tác giữa các Tuệ linh với nhau, vì Ngài nhận thấy rằng ở cõi trời của Ngài, vạn vật thanh tịnh và nhiệm màu, các Tuệ linh sống trong cảnh thanh tịnh đó không phải là môi trường tốt để rèn giũa và cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Ngài nhận thấy chỉ có môi trường khắc nghiệt có tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau mới là cơ hội để cho các Tuệ linh cải tạo và luyện thành công Trụ linh có bộ lọc năng lượng. Bộ lọc năng lượng có thể hiểu nó như một nhà máy lọc nước sạch hoặc như nhà máy phát điện hiện nay tại nhân gian. Nếu các Tuệ linh luyện được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh thì các Tuệ linh đó sẽ tránh được sự hoại diệt, và lan tỏa phương pháp tu luyện đó cho các Tuệ linh khác cùng luyện đạt được, để tiếp tục duy trì và cải tạo sự sống trong khắp Vũ trụ. Khi các Tuệ linh hoàn thành được kế hoạch 1 này, trong Trụ linh sẽ chuyển hóa thành bộ lọc kép. Siêu hạt năng lượng âm sẽ hấp thụ nhiệt lượng, năm nhóm năng lượng, năng lượng hoại diệt, sau đó kích nổ năng lượng hoại diệt. Khi đó siêu hạt năng lượng âm và siêu hạt 

năng lượng dương đều phân tách ra các siêu năng lượng để duy trì, bảo vệ, phát triển sự sống của chính mình và Vũ trụ. 



Không dừng lại ở việc tu luyện cải tạo Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng, mà còn phải tìm ra cơ chế sản sinh ra các siêu năng lượng mới, cũng như cơ chế để cứu được tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ không bị hoại diệt.

 

Kế hoạch 2:

 

Là các Tuệ linh sau khi hoàn thành được kế hoạch 1 sẽ phải đi đến khắp Vũ trụ để duy trì, bảo vệ sự sống của tất cả các dạng sống, tiếp đó là xây dựng, phát triển đa dạng các dạng sống mới có cấu trúc mã sóng trí tuệ bền vững. Để thực hiện được kế hoạch 2, Ngài cần có nhiều và tất cả các Tuệ linh hoàn thành được kế hoạch 1 của Ngài.

 

Để thực hiện được hai kế hoạch này, vị Tuệ linh đầu tiên đã gieo ra vô lượng phôi năng lượng âm dương đến khắp các hành tinh trong Vũ trụ để tìm ra hành tinh có môi trường lý tưởng nhất cho các Tuệ linh đến đó tu hành. Điều này được hiểu như việc Ngài xây dựng ra một trường học với tất cả các điều kiện, yếu tố tương tác khắc nghiệt nhất để giúp các Tuệ linh học tập, tu luyện thành công trong môi trường đó.

Bài 2:

 

Cuộc di cư lịch sử của dạng sống Tuệ linh và dạng sống con người xuất hiện

˜²™

Để tạo được môi trường sinh sống và tu luyện cải tạo luyện Trụ linh của các Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng, Người Cha vĩ đại sẽ phải tìm một hành tinh có chứa đựng đầy đủ các điều kiện khắc nghiệt nhất, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khắc nghiệt trong đấu tranh sinh tồn, sự phức tạp hóa trong cuộc sống và cuộc sống không có gì ngoài khổ đau. Bởi cõi trời của Ngài đã quá nhiệm màu và thanh tịnh từ vạn vật đến các Tuệ linh, điều đó đã làm cho các Tuệ linh không thể luyện được Trụ linh có khả năng hấp thụ được năng lượng của khổ đau, năng lượng hoại diệt, để chuyển hóa thành năng lượng tốt. Chính vì thế chỉ có tạo ra một môi trường sống ngược lại với sự thanh tịnh và nhiệm màu, đó là không có gì ngoài khổ và sự khắc nghiệt cùng cực thì mới khiến cho các Tuệ linh tu luyện cải tạo Trụ linh thành công.

 

Để thực hiện được kế hoạch 1 – kế hoạch xây dựng nhân loại, Ngài đã gieo vô số phôi năng lượng âm dương. Phôi âm dương chính là duyên. Ngài gieo duyên đến khắp các hành tinh trong Vũ trụ để tìm ra hành tinh có đủ điều kiện sống khắc nghiệt mà vẫn duy trì được sự sống cho các Tuệ linh. Ngài đã tìm ra được hành tinh phù hợp, đó là Trái đất. Tại sao Trái đất lại là điều kiện lý tưởng để Ngài xây dựng nhân loại và là môi trường tu hành cho các Tuệ linh? Bởi Trái 

đất quay xung quanh Mặt trời, Mặt trăng quay xung quanh Trái đất, các hành tinh khác cũng theo đó mà quay xung quanh nhau tạo thành quỹ đạo di chuyển có sự cân bằng về năng lượng âm dương, đó là lực đẩy và lực hút giữa các hành tinh mà tạo ra sự duy trì cân bằng năng lượng âm dương. Đây là điều kiện lý tưởng để các hành tinh không bị va đập vào nhau gây hủy diệt môi trường tu hành. Quỹ đạo di chuyển của Trái đất và các hành tinh làm cho thiên nhiên trên Trái đất có sự khắc nghiệt, đó là môi trường lý tưởng nhất cho các Tuệ linh sinh sống và tu luyện.

 

Kế hoạch xây dựng nhân loại làm môi trường tu hành được Ngài chia ra làm 4 kế hoạch, 4 kế hoạch này sẽ giúp cho các Tuệ linh luyện được cấu trúc mã sóng trí tuệ trong Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất:

 

 

1.   Kế hoạch 1, vị Tuệ linh đầu tiên (Người Cha vĩ đại) sáng tạo và quan sát sự sống trên Trái đất

 

Ngài gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra hoạt động phun trào nham thạch, tạo thành núi cao và những vùng trũng khuyết, hố sâu. Ngài quan sát quá trình thay đổi của Trái đất để tạo ra nơi cao và nơi thấp.

 

Ngài gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương đến Trái đất để tạo ra các tầng năng lượng, các tầng năng lượng di chuyển tạo ra sự tương tác phản ứng tạo thành bầu khí quyển có oxy và các yếu tố khác. Từ đó hình thành các đám mây gây ra mưa, nước chảy từ nơi cao xuống nơi thấp, từ núi cao xuống nơi hố sâu, quá trình này tạo thành sông, hồ, biển. Ngài quan sát quá trình nước mưa rơi từng hạt xuống, tụ lại và chảy về nơi thấp hơn để kết tụ lại thành một 

chỉnh thể nước lớn. Ngài quan sát nước chảy từ trên cao xuống nơi thấp mà hình thành sông ngòi, ao hồ và biển lớn.

 

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra thảm thực vật, cỏ, cây. Ngài quan sát thấy cỏ cây hút nước để nuôi dưỡng và trưởng thành. Ngài quan sát hạt mầm Ngài gieo ra nảy mầm, phát triển và to lớn, ra hoa, ra quả và hạt của quả lại rơi xuống đất và một cây con lại hình thành.

 

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra các loại vi khuẩn, vi sinh vật, côn trùng để tương tác với nước, thảm thực vật, cỏ cây để tạo ra sự tương tác hỗ trợ cho sự sống phát triển, bước tiếp theo là hỗ trợ cho sự sống mới ở Trái đất.

 

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra chim muông, Ngài quan sát những con chim ăn quả chín trên cây, thả hạt vương vãi ra xung quanh hoặc mang quả đi nơi khác ăn, rồi những hạt cây rơi xuống, nảy mầm và mọc thành cây, quá trình này tạo thành rừng cây. Ngài lại quan sát chim muông ăn những thức ăn và mang hạt đi gieo sự sống khắp nơi.

 

Ngài tiếp tục gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra muông thú, các loài thú dữ, các loài thú lành, loài bò sát. Ngài quan sát những muông thú giao phối giữa giống đực và giống cái để sinh con và phát triển loài. Ngài quan sát từng loài sống bầy đàn với nhau, chúng không tách rời mà sống xung quanh và bảo vệ nhau trước sự tấn công của các loài khác. Ngài quan sát các loài thú lớn đi săn, ăn thịt những loài thú bé và yếu hơn để sinh tồn. Ngài quan sát các loài thú lành ăn cỏ cây hoa lá để sinh tồn. Ngài quan sát 

trong bầy đàn muông thú sẽ có con làm thủ lĩnh và những con khác phải thuận theo mệnh lệnh của con thủ lĩnh.

 

Ngài gieo vô số duyên có phôi năng lượng âm dương để tạo ra vô số loài sống dưới nước (các loài cá) và trên không (chim muông). Ngài quan sát chúng sống như những con thú trên mặt đất.

 

Ngài quan sát sự tác động, tương tác của Mặt trời, Mặt trăng mà tạo ra gió bão, sóng biển, thủy triều, mưa, sấm sét dẫn đến trên Trái đất có khu vực thì mưa bão, có khu vực thì lạnh giá đóng băng, có khu vực nóng và hỏa hoạn.

 

Ngài quan sát thấy tất cả vạn vật từ cỏ cây, hoa lá, đến nước, muông thú đều sinh ra và chết. Nước thì bốc hơi mà cạn kiệt, rồi hơi nước kết tụ thành mây mà gây mưa. Muông thú không ăn thịt nhau thì do già mà hết vòng sinh tử. Cỏ cây không bị muông thú ăn thì cũng già khô mà chết. Vạn vật không tự hoại diệt hay ăn nhau mà chết thì sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng làm cho vạn vật hoại diệt.

 

Quá trình gieo duyên tạo ra sự sống phải trải qua thời gian dài để hoàn thiện môi trường sống khắc nghiệt, lý tưởng, để cho các Tuệ linh xuống sinh sống và tu hành. Trong quá trình gieo duyên tạo ra sự sống, Ngài đã quan sát và thấy bản chất quy luật tự nhiên của vạn vật như sau: Đó là sự kết tụ của tính âm, là sự tỏa ra của tính dương, là sự cân bằng giữa thừa và thiếu, là sự cân bằng của âm và dương, là sự sinh, sự tồn tại, sự hoại diệt, sự lan tỏa, sự đoàn kết, sự phát triển duy trì loài, sự gieo duyên, sự xây dựng phát triển, sự phá hủy, sự thống lĩnh, sự tuân theo, sự gieo nhân và gặt quả, sự khổ và khổ đau. Quá trình quan sát sự sống và vận hành của vạn vật đã giúp cho Ngài thiết lập giáo luật công bằng dựa 

trên cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng, đó là luật Nhân quả. Luật Nhân quả để cho vạn vật và các Tuệ linh sinh sống tại Trái đất phải tuân theo để đảm bảo quá trình tu luyện cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng được thành công.

 

 

2.    Kế hoạch 2, vị Tuệ linh đầu tiên đưa các Tuệ linh xuống Trái đất và nhân loại được hình thành

 

Sau khi Ngài đã tạo dựng được môi trường sống tại Trái đất đạt được điều kiện lý tưởng nhất, đó là sự khắc nghiệt về điều kiện sống, về sự sinh diệt, về khổ đau mà vẫn đảm bảo được điều kiện duy trì sự sống và cân bằng, Ngài tiếp tục thực hiện kế hoạch thứ 2 để xây dựng loài người và nhân loại:

 

Ngài gieo duyên bằng vô số các phôi năng lượng âm dương để tạo ra sự sàng lọc các loài thú nguy hiểm đến sự tồn tại và sinh sống của các Tuệ linh khi xuống nhân gian. Đó là các thời kỳ núi lửa phun trào, thời kỳ băng hà đã làm cho nhiều loài động vật nguy hiểm to lớn bị hoại diệt và tuyệt chủng, chỉ còn lại những loài động vật đủ tương tác, giúp cho các Tuệ linh tránh bị hoại diệt và vẫn đảm bảo các điều kiện tu hành.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên tập kết đại hội thống nhất phương pháp tu học cho dạng sống Tuệ linh. Đại hội tập kết diễn ra như sau: Trong cuộc triệu tập Hội đồng của chư vị Tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên trầm ngâm nhìn vào một đĩa thức ăn trắng trên bàn. Trong suy nghĩ lúc đó của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ linh đều nghĩ là  

làm sao việc đưa các Tuệ linh xuống làm con người phải đạt được thành tựu là tìm ra được phương thuốc cứu lại các Tuệ linh và Vũ trụ. Sự suy tư mang theo tâm trạng trầm ngâm khi nhìn vào đĩa thức ăn trắng trên bàn (tất nhiên thức ăn đó là do năng lượng tạo ra). Suy tư một lúc lâu, vị Tuệ linh đầu tiên liền nói với một Tuệ linh khác: “Hãy mang những con rắn độc ra đây”. Sau đó có một Tuệ linh mang ra những con rắn độc, có nhiều con nhỏ và một con to. Vị Tuệ linh đầu tiên lấy những con rắn nhỏ trộn vào đĩa thức ăn đó, tiếp đến thả hai con rắn, trong đó có một con to xuống nền đất. Hai con rắn đó trườn vào những bụi cây xung quanh đó. Vị Tuệ linh đầu tiên nhìn vào đĩa thức ăn đã trộn với rắn độc mà nói: “Để cứu được các Tuệ linh và Vũ trụ, chỉ có thể lấy độc trộn vào chân tâm (thức ăn trắng) mới tìm ra phương thuốc cứu lại Tuệ linh và Vũ trụ”. Vị Tuệ linh đầu tiên tiếp tục nói rằng: “Ngoài những độc tố lẫn trong chính chân tâm, ác tâm xen kẽ thiện tâm thì cần phải có thế lực ác tâm bên ngoài tác động vào; Môi trường tu hành nơi nhân gian sẽ như vậy”. “Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian”. Đó là câu nói của vị Tuệ linh đầu tiên.

 

Như vậy, tại đại hội tập kết Tuệ linh về phương pháp tu học ở nhân gian, vị Tuệ linh đầu tiên đã quán triệt phương pháp tu học thông qua 3 hình ảnh về những con rắn độc. Cụ thể như sau:

 

-    Những con rắn độc nhỏ được trộn vào đĩa thức ăn trắng là những độc tâm của mỗi Tuệ linh. Hình ảnh đó tượng trưng các độc tâm đang bị ẩn giấu trong mỗi Tuệ linh và chưa được bộc phát ra. 

-    Một con rắn nhỏ bên ngoài được thả ra là tượng trưng cho độc tâm có trong vạn vật, trong tất cả các cấu trúc vật chất. Độc tâm đó cũng đang bị ẩn giấu.

 

-   Con rắn to được thả ra tượng trưng cho năng lượng hoại diệt. Đó là độc tâm to nhất đối với tất cả các nhóm vật chất trong Vũ trụ và cả dạng sống Tuệ linh.

 

Thông qua 3 hình ảnh về những con rắn độc: Tất cả các Tuệ linh sẽ phải tương tác với nhau trong tất cả các kịch bản trong các điều kiện môi trường sóng điện khác nhau để bộc phát hết độc tâm của chính mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt. Khi bộc phát được hết độc tâm chính là quá trình Tuệ linh sẽ giải mã được thông tin toàn diện nhất về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sau khi giải mã được thông tin toàn diện, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ nghiên cứu, tìm được được Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Để bộc phát hết độc tâm cũng như tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh sẽ phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

Như vậy, kết quả của đại hội thống nhất phương pháp tu học của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian gồm có 2 điều:

 

-   Tuệ linh thông qua thân tướng con người phải tương tác với nhau trong tất cả các kịch bản, trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau để bộc phát hết độc tâm của mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt.

 

-   Phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đạo hợp nhất chính là bộ lọc sản sinh năng lượng viên mãn để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. 

Sau đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu học ở nhân gian, những Tuệ linh đầu tiên đã phát nguyện tiên phong đi xây dựng nhân loại.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã dùng đến sự nhiệm màu về hào quang của các tầng năng lượng mà đưa các Tuệ linh xuống Trái đất, biến họ thành những con người có da, có thịt, có xương, có đầy đủ và hoàn chỉnh. Đây là điều đặc biệt duy nhất, chỉ có thế hệ đầu tiên của các Tuệ linh xuống Trái đất tu hành thì mới được chuyển hóa thành thân tướng. Để sự chuyển hóa này được thành công thì các Tuệ linh phải dùng toàn bộ năng lượng trong chính các Tuệ linh và sự trợ giúp của vị Tuệ linh đầu tiên. Sau khi chuyển hóa thành con người xong thì các Tuệ linh không còn các pháp nhiệm màu, không thể bay hay di chuyển trong Vũ trụ được nữa, mà phải sống như những muông thú đã được tạo trước đó, phải đi, phải leo trèo, bơi lội. Các Tuệ linh hóa thân thành con người được bắt đầu tại các cuộc tập kết ở Trái đất. Vậy Tuệ linh làm thế nào để hóa thành con người?

 

-    Các Tuệ linh được tuyển chọn sẽ đều tới Trái đất trong ngày hội chuyển sinh này. Họ vận hành, di chuyển các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn của năm nhóm hạt năng lượng kết tụ vào cấu trúc Tuệ linh của họ. Những nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ khác nhau được cấu tạo và mã hóa thành những tế bào chức năng khác nhau trong cơ thể con người. Cơ thể con người đã được hợp nhất bởi cấu trúc năng lượng siêu phức tạp của Tuệ linh và cấu trúc năng lượng giản đơn trong Vũ trụ hợp lại. Để cấu tạo thành một con người hoàn chỉnh thì cần vô số năm nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn kết tụ lại. Đây là lần duy nhất dùng phương pháp này. Sau lần tập kết nhân loại đó, các Tuệ linh luân hồi làm con người sẽ tuân thủ thông qua cơ chế sinh sản của con người.

 

-    Các muông thú từ trước và sau khi xuất hiện con người đều được hình thành như con người cho từng giống loài. Tuy nhiên, muông thú thay vì Tuệ linh an trụ sẽ là linh hồn (cấu trúc năng lượng phức tạp) an trụ để hợp nhất với các năng lượng giản đơn cấu tạo thành. Sau đó, chúng cũng sẽ tuân thủ sinh sản giống con người để phát triển giống loài đó.

 

-    Sau này, khi linh hồn các con thú đã phát triển đạt được khả năng làm người bởi quá trình giải mã và mã hóa thông tin, họ sẽ được hóa thân làm con người thông qua quá trình luân hồi và sinh sản.

 

Cuộc tập kết lịch sử khởi đầu cho sự hình thành loài người tại nhiều nơi trên Trái đất như ven sông, ven biển, đồng bằng, trên núi, trong rừng, những nơi đó có vô số các điểm tập kết lịch sử. Tại các điểm tập kết lịch sử đó, vị Tuệ linh đầu tiên đã dùng quyền năng của mình để triệu tập tất cả muông thú về nghe Ngài truyền dạy về luật Nhân quả mà tất cả muông thú cùng với các Tuệ linh sống tại Trái đất phải tuân theo. Tại mỗi điểm tập kết sẽ có các Tuệ linh được hóa thành từng cặp vợ chồng với hai con nhỏ, có một con gái và một con trai. Mỗi điểm tập kết sẽ có hai đến nhiều hộ gia đình và muông thú đến nghe Ngài truyền dạy. Đây là cơ sở để loài người hình thành các bộ lạc, bộ tộc và ngày nay là quốc gia.

 

 

Ngài truyền dạy tại các điểm tập kết lịch sử, Ngài nói với các cặp gia đình là: “Ta đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về cũng phải bằng chân tâm”. Ngài nói với các cặp bố mẹ: “Ta giao sứ mệnh cho các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân loại”. Ngài nói với các cặp gia đình: “Các ngươi sẽ phải trải qua nhiều kiếp, trải qua hết các khổ đau và kiếp nạn; lấy kinh nghiệm trải qua đó để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được trở về”. Ngài nói với các hộ gia đình và muông thú: “Ta giao cho các ngươi nhiệm vụ thuần hóa muông thú để chúng cũng làm người và cùng xây dựng nhân loại”. Ngài nói với tất cả các hộ gia đình và muông thú: “Ta cho các ngươi biết, để nhanh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì các ngươi hãy tìm kiếm Chân lý Vạn vật và chuyển hóa giác ngộ trong khổ đau và kiếp nạn”.

 

Trong các cuộc tập kết lịch sử này, Người Cha vĩ đại đã sắp đặt và gợi ý về luật Nhân quả. Luật Nhân quả chính là Chân lý Vạn vật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, mà tất cả các dạng sống dưới nhân gian sẽ phải thông qua khổ đau kiếp nạn để tìm và thấu hiểu. Không những Ngài gợi ý việc thông qua khổ đau kiếp nạn để tìm được Chân lý Vạn vật mà còn gợi lý luôn là phải tìm ra Chân lý Giác ngộ để giải thoát hết các khổ đau đó thì mới luyện được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh. Luật Nhân quả là luật công bằng đã được Ngài chuyển hóa từ Chân lý Vạn vật sau quá trình quan sát sự vận hành của vạn vật, Vũ trụ và xây dựng nó hoàn chỉnh nhằm tạo ra môi trường tu hành cho Tuệ linh khắp Vũ trụ tại Trái đất này.

 

Như vậy, Ngài cũng cần giải mã, thấu hiểu triệt để về tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là năng lượng hoại diệt và bản chất của các Tuệ linh. Thấu hiểu được tất cả bản chất của vạn vật chính là thấu hiểu Chân lý Vạn vật, tìm ra được cơ chế chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng chính là Chân lý Giác ngộ. Để dẫn dắt dạng sống Tuệ linh làm được điều đó, Ngài cùng tu hành với họ trong nhiều kiếp ở nhân gian, đó là những kiếp quan trọng cho việc dẫn dắt cũng như chuyển hóa Trụ linh.

 

 

3.    Kế hoạch 3, vị Tuệ linh đầu tiên gia tăng sự phát triển và phức tạp môi trường tu hành

 

Ngài tiếp tục đưa các Tuệ linh xuống Trái đất để gia tăng dân số cho dạng sống con người. Sự đặc biệt của sự chuyển hóa từ Tuệ linh thành con người chỉ được thực hiện

 

   lần đầu tiên khi đưa các Tuệ linh xuống. Bắt đầu từ lần thứ hai cho đến ngày nay và về sau sẽ phải tuân thủ theo luật luân hồi. Luật luân hồi thể hiện ở chỗ: khi các cặp vợ chồng giao phối, tinh trùng mang sóng điện dương của người nam và trứng mang sóng điện âm của người nữ hợp lại thành phôi thai; phôi thai phát triển trong bụng người nữ đến khi sinh ra thì các Tuệ linh mới thiết nhập vào em bé và cất tiếng khóc chào đời, đó chính là đánh dấu mốc Tuệ linh đã thiết nhập vào; khi Tuệ linh thiết nhập vào em bé sẽ quên đi hết quá khứ, trí tuệ của Tuệ linh, quên đi mình là ai, mình phải làm gì và chết sẽ đi về đâu cũng không được biết. Ở những thế hệ đầu tiên thì con người vẫn được mở nhãn thần nên vẫn nhìn được về với các Tuệ linh, biết mình từ đâu đến, đến đây để làm gì. Do đó con người thời đó sau mỗi lần thu hoạch mùa màng đã biết dâng tế với các Tuệ linh và Ngài vì Ngài đã giúp đỡ họ phát triển nhân loại. Mỗi một em bé được sinh ra thì lại có một Tuệ linh được xuống luân hồi hoặc Linh hồn muông thú đã được thuần hóa đầu thai vào để tu hành. Ngày nay để khai mở được nhãn thần thì con người phải tu tập mới nhìn được các Ngài và tìm hiểu được tổ tiên của loài người là ai, do đó hiểu được tổ tiên của loài người là các Tuệ linh từ dạng sống Tuệ linh hóa thân xuống chứ không phải là muông thú tiến hóa thành, thấu hiểu là do nguyện lực để xuống đây tu luyện chứ không phải là bị đọa xuống đây.

 

Tại cõi trời của dạng sống Tuệ linh, sau khi các Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian tu hành, thì các hội đồng nghiên cứu, các hội đồng tu luyện được gia tăng về số lượng. Sự hình thành này nhằm nghiên cứu các phương pháp, sáng chế ra các công cụ để giúp cho con người biết cách sản xuất nông nghiệp, biết cách làm nhà để ở, biết cách đoàn kết để tổ chức thành hình thái bộ tộc, bộ lạc nhằm bảo vệ nhau trước những bộ tộc, bộ lạc khác. Tại các hội đồng này, khi nghiên cứu xong, các Tuệ linh sẽ phải phát nguyện với Ngài để luân hồi xuống nhân gian và khi lớn lên sẽ có trí tuệ hoàn thành phát minh đó để áp dụng cho con người cải tạo cuộc sống dưới nhân gian. Các hội đồng này tiếp tục nghiên cứu các phương pháp, kỹ thuật thu phục muông thú, thuần hóa muông thú, thâm canh sản xuất, phát triển nền nông nghiệp, phát triển hình thái quốc gia, phát minh ra các công trình phát triển nền công nghiệp, y học, lý số, toán học, hóa học, du hành không gian, hàng không, công nghệ…, mục đích là giúp dạng sống nhân loại ở Trái đất ngày càng phát triển và làm cho mức độ tu hành không ngừng được nâng cao.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra cuộc sống ở Trái đất ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật không ngừng tìm hiểu sự sống ngoài Trái đất. Hình thái cuộc sống từ bộ tộc, bộ lạc đã chuyển thành quốc gia và hướng đến sự thống nhất của toàn Thế giới như việc hình thành các tổ chức liên minh đoàn kết của nhiều quốc gia và Thế giới. Mức độ phức tạp nhiều giai đoạn được đẩy mạnh thành các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, bộ lạc, giữa các dân tộc với nhau và toàn Thế giới với nhau. Liệu đây có phải là kế hoạch của Ngài không? Đây không phải, đây là bản chất độc Tâm của các Tuệ linh đã bộc phát và mất kiểm soát. Vị Tuệ linh đầu tiên thấu hiểu căn nguyên vì sao độc Tâm của họ bộc phát và mất kiểm soát nên Ngài dự liệu được những việc làm của họ nơi Trái đất, từ đó Ngài sẽ có những kế hoạch cân bằng và cứu lại môi trường tu hành không bị hoại diệt. Những con người nghiên cứu, tu luyện thần thông, truy tìm giải thoát khổ đau, tu luyện về tâm linh đã tiếp dẫn đến với các Tuệ linh, và cuộc sống dưới Trái đất đã hình thành rất nhiều môn phái, trường phái, dòng đạo khác nhau, làm cho sự mong cầu về sự giải thoát, tìm ra con đường giải thoát hơn bao giờ hết. Các dòng đạo, tôn giáo, môn phái, trường phái, hình tướng đạo đã góp phần làm cho mức độ tu luyện dưới nhân gian trở nên căng thẳng và phức tạp vô cùng. Con người đã không biết đâu là đúng đâu là sai, đâu là con đường họ cần đi theo. Đặc biệt đến nay, con người không biết sự thật về tổ tiên loài người, mình là ai, ai là mình, mình phải làm gì ở dưới nhân gian. Chính vì thế con người ngày càng trở nên tha hóa trong cuộc sống, sự hưởng lạc, mưu hại, giết hại nhau không ngừng, đạo đức xã hội bị biến đổi đi xuống trầm trọng, các giá trị nhân văn được thay thế bằng giá trị của mê tín dị đoan. Điều này lại đẩy đến cao trào của sự hoại diệt môi trường tu hành của nhân loại mà vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra. Sau mỗi lần như vậy, dưới nhân gian lại xuất hiện các bậc giác ngộ để dẫn dắt và cứu rỗi cho cả nhân loại. 


4.    Kế hoạch 4, sự dẫn dắt và tìm ra hai Chân lý cải tạo Trụ linh

 

Cuộc sống ở nhân gian ngày càng phức tạp và phát triển, chiến tranh liên miên giữa các bộ tộc, giữa các quốc gia đã đẩy con người đến tận cùng của khổ đau, tận cùng của sân hận, tận cùng của toan tính, tận cùng của sự hoại diệt. Con người không cần biết và quan tâm về cội nguồn của loài người, mình là ai, mình phải làm gì ở cõi trần nhân gian này. Vì thế con người chỉ mải mê kiếm tìm sự hưởng lạc, trụy lạc, mưu mô trục lợi về mình. Các Tuệ linh đã luân hồi xuống Trái đất này vô số, cứ đi xuống mà chưa tìm ra được hai Chân lý để cải tạo Trụ linh nên chưa thể được về. Cứ thế, dân số ở Trái đất này không ngừng được gia tăng do nhiều muông thú sau khi được thuần hóa thành thú lành đã được luân hồi đầu thai thành người để sống cuộc sống kiếp người với những con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Họ sống hỗn độn với nhau và chính hóa thân của các Tuệ linh không thể nhận biết, họ mưu hại, giết hại, lừa hại nhau, con người giết hại muông thú, linh hồn các con thú dữ báo thù giết hại lại con người, con người giết hại lẫn nhau. Tất cả tạo ra vô số khổ đau dưới nhân gian, vô số kiếp nạn trong nhân gian, đó cũng là cơ hội cho những sứ giả của vị Tuệ linh đầu tiên, cho những hóa thân của Tuệ linh thôi thúc việc đi tìm ra Chân lý giải thoát khỏi khổ đau.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã gieo duyên, trợ nhân duyên cho vô số các Tuệ linh, chân tu ở dưới nhân gian, giúp họ được thôi thúc từ tâm để tìm tòi, nghiên cứu và tìm ra Chân lý Vạn vật và Chân lý giải thoát. Trong lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự hình thành vô số tín ngưỡng thờ các vị thần, vị thánh,  hình tướng các đạo phái ra đời để giúp cho con người xây dựng được đức tin và giá trị đạo đức. Đó là đức tin của sự tin theo, phụng sự, tu theo để được giải thoát khỏi khổ đau nơi nhân gian. Nhưng cuối cùng tất cả các tín ngưỡng đó vẫn chưa dẫn dắt được con người đến với sự hiểu biết về tổ tiên của loài người. Con người vì u mê, vì tham lam, sân hận mà tạo vô số nghiệp lực và rồi để nghiệp lực đã tạo thành tầng năng lượng khí xấu bám chặt vào Tuệ linh trong các kiếp kế tiếp. Điều này đã làm cho loài người ngày càng mê lầm, họ mải mê tìm sự giải thoát khỏi cuộc sống này bằng lễ nghi, nghi thức cúng cầu đến các vị thần để được giải thoát. Có quá nhiều tín ngưỡng và hình tướng đạo đã dẫn dụ chúng sinh đến với các nghi lễ để cầu xin với các đấng, các thần, các Thánh thần nhằm giúp họ cầu được công danh, địa vị, tiền tài, giúp họ vãng sinh về cõi trời của các vị thần vị thánh đó. Như vậy, việc hình thành các tín ngưỡng, các hình tướng đạo đã giúp cho chúng sinh tìm tòi để nhận thấy Chân lý Vạn vật và đi tìm sự giải thoát là điều rất tốt. Nhưng nó chỉ tốt bởi hình tướng là có xuất hiện nhóm, tổ chức nghiên cứu. Tuy nhiên nó lại vô tình đẩy chúng sinh đi vào con đường lầm than, mê lầm bởi việc đi ngược với sứ mệnh là sống trong khổ đau kiếp nạn để tìm ra Chân lý Vạn vật và Giác ngộ nhằm cải tạo Trụ linh chứ không phải cầu nguyện, niệm danh hiệu để được sinh về các cõi trời của các vị Thần, vị Chúa hay vị Phật nào cả. Như vậy, Ngài gieo duyên vô số và hình thành vô số tín ngưỡng, môn phái, hình tướng đạo nhưng cuối cùng cũng không tìm ra con đường cải tạo Trụ linh mà lại còn đi vào mê lầm của những nghiệp lực và lừa lọc hại nhau.

 

Ngài vẫn không ngừng nghỉ việc gieo duyên trợ giúp những hóa thân của các Tuệ linh đang mải miết tìm con đường giác ngộ để cải tạo Trụ linh và các cơ chế cứu lại các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ. Đó là những con người được thôi thúc từ trong Tâm họ để họ xa rời với lợi ích, ích kỷ cá nhân, xa rời dục vọng, với phù du giả tướng, để trải qua, thấm nhuần các khổ đau, các kiếp nạn. Điều đó đã giúp họ có kinh nghiệm vượt qua khổ đau kiếp nạn, kinh nghiệm này được tích lũy trong nhiều kiếp, khi nó lớn mạnh thì những con người đó đã trở thành những bậc giác ngộ của nhân loại. Trong lịch sử nhân loại có thể kể đến những bậc giác ngộ, đặc biệt đầu tiên là Đức Phật Thích Ca đã tìm ra Chân lý Vạn vật và chuyển hóa giác ngộ được thành Chân lý Giác ngộ để đạo Phật được hình thành và dẫn dắt chúng sinh tu đạo giải thoát. Tiếp sau đó là giáo chủ của các tôn giáo lớn. Họ là những lãnh tụ tinh thần dưới nhân gian, họ đã trải qua nhiều đời nhiều kiếp tu hành trong khổ đau, lấy kinh nghiệm khổ đau để giác ngộ và cải tạo được Trụ linh thành những bộ lọc năng lượng để trở về và duy trì sự sống ở khắp Vũ trụ.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên vẫn đang gieo vô số duyên để 4 kế hoạch tiếp tục diễn ra, tiếp tục tạo ra môi trường tu hành khắc nghiệt hơn, tiếp tục có các công trình nghiên cứu từ các hội đồng của dạng sống Tuệ linh được đưa xuống Trái đất để xây dựng nhân loại. Ngài tiếp tục gieo vô số duyên để giúp cho hóa thân của các Tuệ linh tìm ra con đường cải tạo Trụ linh viên mãn nhất, giúp cho tất cả các Tuệ linh đạt được sự cải tạo đó để trở về thực hiện kế hoạch 2 là đi duy trì, bảo vệ, phát triển sự sống trong và ngoài Vũ trụ.

 

Như vậy, môi trường tu hành của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian đã hội tụ đủ sự tương tác của tất cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ (giản đơn, phức tạp và siêu vật chất) với nhóm năng lượng hoại diệt. Đặc biệt khi dạng sống Tuệ linh bị trói buộc trong thân xác con người, trong tương tác với tất cả các kịch bản của bốn hình tướng Đạo, đã tạo ra tột cùng của khổ đau kiếp nạn, tột cùng của an vui hạnh phúc. Tất cả sự tương tác trong bốn hình tướng Đạo với tất cả các kịch bản tương tác xảy ra đã giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên thấu hiểu tận cùng về bản chất của Tuệ linh, bản chất của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Sau hành trình vị Tuệ linh đầu tiên cùng vô số Tuệ linh tu hành ở nhân gian, Ngài đã giải mã, thấu hiểu tận cùng bản chất của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, tiếp đó là Ngài đã tìm được cơ chế chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Vào đúng thời khắc cuối cùng của sự hoại diệt toàn bộ Vũ trụ bởi năng lượng hoại diệt đồng hóa, việc Ngài tìm ra và chuyển hóa thành công Trụ linh thành bộ lọc năng lượng để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng được coi là ánh sáng nơi cuối con đường. Đó là ánh sáng trí tuệ của hai Chân lý để dẫn dắt Tuệ linh và con người cùng nhau thực hành chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, đó là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính là việc các Tuệ linh cứu được mình và trở nên bất tử, đồng thời giúp vạn vật trong và ngoài Vũ trụ phát triển bền vững.


PHẦN 3: CHÂN LÝ VẠN VẬT VÀ CHÂN LÝ GIÁC NGỘ (TRÍ TUỆ BAO TRÙM VẠN VẬT VŨ TRỤ)


PHẦN 3

 

CHÂN LÝ VẠN VẬT VÀ

 

CHÂN LÝ GIÁC NGỘ

 

(TRÍ TUỆ BAO TRÙM VẠN VẬT VŨ TRỤ)

Ánh sáng hai Chân lý nơi cuối con đường

 

 

Ánh sáng hai Chân lý nơi cuối con đường có hai ý nghĩa: đó là một hành trình dài trong vô lượng kiếp, trải qua vô số khổ đau kiếp nạn để thấu hiểu tận cùng tri thức của hai Chân lý với phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng; đó là vào đúng thời khắc mà tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ đều sắp hoại diệt thì ánh sáng của hai Chân lý lại được thắp sáng để chuyển sinh vạn vật, Tuệ linh và con người trở nên bền vững. Khi tới cuối con đường của sự hoại diệt thì xuất hiện ánh sáng của hai Chân lý, đó là Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, hai Chân lý được vận hành bởi cơ chế phân tách và liên kết dây để chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành các siêu năng lượng phát triển vạn vật Vũ trụ trở nên bền vững.

 

Một hành trình dài trong vô lượng kiếp Tôi đã đi tìm và thấu hiểu tận cùng về hai Chân lý, đã chuyển hóa thành phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Khi đến thời khắc quan trọng cho sự tồn vong của Vũ trụ và Tuệ linh, con người, Tôi lại được xuất hiện ở nhân gian với các kế hoạch của Người Cha vĩ đại. Kế hoạch của Ngài có tất cả các Tuệ linh, đặc biệt là các vị Tuệ linh ưu tú nhất của Vũ trụ cùng xuống nhân gian. Việc hoàn lại và phát triển thành sự giác ngộ triệt để về hai Chân lý, về phương pháp cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn là niềm hạnh phúc vô cùng của Tôi. Điều hạnh phúc nhất là Trụ linh của Tuệ linh đã chuyển sinh thành bộ lọc kép để sản sinh ra thêm được siêu năng lượng xanh ngọc lưu ly (năng lượng bảo vệ Vũ trụ khỏi sự xâm nhập ồ ạt của năng lượng hoại diệt); tìm và sản sinh ra được hạt bóng hỏa; tiếp đến là hoàn thành cơ chế ngủ đông cho năng lượng hoại diệt (hạt bóng hỏa); tạo ra siêu hạt Nhật Sư (là hợp nhất của năng lượng chân tâm cực đại với siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu ly, siêu hạt năng lượng vàng óng ánh, hạt bóng hỏa). Có thể nói là kế hoạch đã hoàn thành viên mãn. Điều mà tôi cần làm tiếp theo ở nhân gian là lan tỏa tri thức của hai Chân lý, con đường cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn đến với tất cả nhân loại, đó chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

Ánh sáng trí tuệ của hai Chân lý đã hoàn lại và phát triển viên mãn, việc mang ánh sáng trí tuệ của hai Chân lý tới toàn nhân loại là nhiệm vụ, là sứ mệnh không những của tôi mà là của toàn bộ Tuệ linh và con người. Chính vì vậy, cả đời tôi nguyện giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết nhân loại, đoàn kết Tuệ linh và con người bằng ánh sáng trí tuệ của hai Chân lý. Đó chính là sự an lạc tự tại và hạnh phúc vô lượng của chân tu và của Tuệ linh tôi tại kiếp này.

 

 

Hai Chân lý:

 

Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ: Đây là hai sự thật duy nhất, là hai di sản để vận hành cho sự tồn tại và phát triển bền vững của Vũ trụ, Tuệ linh và con người; là báu vật vô giá của Vũ trụ và Tuệ linh, con người; là con đường, là phương pháp, là bài thuốc duy nhất để luyện Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn; là con đường duy nhất để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững không những của Vũ trụ mà của cả dạng sống bên ngoài Vũ trụ, đó là năng lượng hoại diệt. Đặc biệt, hai Chân lý được vận hành bởi cơ chế “Phân tách, liên kết dây” chính là chìa khóa giải mã cơ chế vận hành của Nhân quả, của vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ.

 

Chính vì vậy, hai Chân lý với cơ chế vận hành “Phân tách, liên kết dây” là chìa khóa, là di sản vô giá cho hết thảy vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Hai Chân lý sẽ trường tồn bất tử và không hoại diệt cho đến vô lượng thời gian về tương lai. Hậu thế đón nhận, nắm bắt, nghiên cứu, thực hành hai Chân lý sẽ đạt được giác ngộ viên mãn, sẽ hoàn thành sứ mệnh tu hành nơi nhân gian để trở về quê hương, trở về với bao nhiệm vụ đang chờ đón.

Bài 1:

 

Chân lý Vạn vật

˜²™

 

 

 

I. Khái niệm về Chân lý Vạn vật

 

“Vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ không tự nó sinh ra, không tự nó mất đi, khổ đau không tự đến, khổ đau không tự đi, tất cả do duyên và nghiệp, hay còn gọi là nhân và quả. Cơ chế vận hành là phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng tận cùng”.

 

 

II.   Bản chất của Chân lý Vạn vật

 

Trước tiên, ta phải hiểu bản chất của Chân lý: Chân lý chính là lý luận gốc nhất, lý luận chân thật nhất, là sự thật không thể sai.

 

Vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ: đó là từ các yếu tố cấu tạo thành hạt năng lượng tận cùng (hạt sóng, hạt năng lượng tận cùng, các cấu trúc lớn hơn hạt năng lượng tận cùng, môi trường sóng điện, sự vận động và tương tác) cho đến sự hiện hữu của tất cả vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ; đó là nhóm vật chất cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt, nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất.

 

Chân lý Vạn vật còn được gọi là Chân lý Nhân quả. Chân lý Vạn vật chính là lý luận gốc nhất, thật nhất, đúng nhất của tất cả vạn vật bao trùm bên trong và bên ngoài Vũ trụ, tức là không có đơn vị vật chất nào dù bên trong hay bên ngoài Vũ trụ nằm ngoài Chân lý Vạn vật, tất cả đều nằm trong Chân lý Vạn vật. Hay có thể nói, Chân lý Vạn vật nằm trong chính mỗi đơn vị vật chất của tất cả vạn vật, trong mỗi sự việc của tất cả sự việc, trong mỗi hiện tượng của tất cả hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ.

 

Chân lý Vạn vật là của vạn vật chứ không phải của một ai hay của tôn giáo nào, cũng như của kinh kệ nào. Chân lý Vạn vật là cái có sẵn, là cơ chế, bản chất vận hành của vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Do đó, chỉ có Tuệ linh hay con người thấu hiểu cơ chế, bản chất vận hành trong vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ mà phân tách, liên kết, tổng hợp thành Chân lý. Chân lý luôn luôn phải đúng khi áp dụng và kiểm chứng với mỗi vật trong vạn vật, với mỗi sự việc trong tất cả sự việc, với mỗi hiện tượng trong tất cả hiện tượng của bên trong và bên ngoài Vũ trụ.

 

Chân lý Vạn vật cho thấy tất cả vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ đều không tự nó sinh ra, mà là do cơ chế phân tách, liên kết dây để sinh ra vạn vật, sự việc, hiện tượng mới. Phải có điều kiện môi trường cho quá trình phân tách, liên kết để sinh ra vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Đó là điều kiện môi trường có sự tương tác giữa các chỉnh thể, có áp lực, sức nén của năng lượng từ các chỉnh thể, có sự truyền dẫn dinh dưỡng (năng lượng) vào chỉnh thể, có liên kết dây giữa các chỉnh thể bằng sợi mã sóng trí tuệ, phải có môi trường sinh nhiệt (sóng điện âm hay dương hay trung tính có liên kết dây). Như vậy, vạn vật, sự việc, hiện tượng không tự nó sinh ra, mà phải có cơ chế phân tách, liên kết dây và điều kiện môi trường tương tác giữa các chỉnh thể. 

Vạn vật, sự việc, hiện tượng cũng không tự nó mất đi. Sự mất đi cần phải được hiểu là từ sự chuyển hóa từ hình tướng này sang hình tướng khác (chuyển hóa này không gọi là chết, vì nó vẫn còn mã sóng trí tuệ trong chỉnh thể) cho đến cái chết vĩnh viễn của chỉnh thể là không còn mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Chỉnh thể mất đi là do quá trình đứt liên kết dây và phân rã của vạn vật, sự việc, hiện tượng trong quá trình tương tác. Vạn vật, sự việc, hiện tượng chỉ hoại diệt (chết vĩnh viễn) khi bị số lượng hạt năng lượng hoại diệt xâm nhập gây nổ hủy diệt hoàn toàn và không còn mã sóng trí tuệ. Vạn vật, sự việc, hiện tượng, chuyển hóa hình tướng mà vẫn còn mã sóng trí tuệ thì chưa được gọi là cái chết.

 

Bản chất về khổ đau của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người là quá trình bí bách, đấu tranh, xung đột duy trì sự tồn tại của mã sóng trí tuệ. Khổ đau từ việc thay đổi cấu trúc mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng cho đến cái chết vĩnh viễn. Cái chết vĩnh viễn là không còn sự tồn tại của mã sóng trí tuệ, dù là hạt năng lượng hoại diệt cũng là chết khi không còn mã sóng trí tuệ do bị nổ tan.

 

Khổ đau đến là do thực hành cơ chế phân tách và liên kết theo hướng phân rã hoại diệt. Khổ đau đi là do thực hành cơ chế phân tách và liên kết theo hướng chuyển sinh bền vững của Tuệ linh, con người, vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Bản chất của duyên – nghiệp, nhân – quả hay bản chất chung của Chân lý Vạn vật được kết tinh gọn thành một chữ, đó là chữ “Duyên”. Cơ chế vận hành chữ Duyên (Chân lý Vạn vật) chính là cơ chế phân tách, liên kết dây. Duyên có Duyên trong Duyên, Duyên ngoại Duyên. 1. Duyên là gì

 

Duyên chính là sự hợp mà thành.

 

Duyên là quá trình hợp nhất của các yếu tố để cấu tạo thành chỉnh thể từ hạt năng lượng tận cùng cho đến vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

Sự hợp chính là bản chất Tam hợp và cơ chế phân tách, liên kết dây. Hợp chính là khả năng liên kết dây giữa các chỉnh thể có cùng sóng điện (sóng điện âm với sóng điện âm, sóng điện dương với sóng điện dương, sóng điện trung tính với sóng điện trung tính) và không cùng sóng điện (sóng điện âm với sóng điện dương, sóng điện âm với sóng điện trung tính, sóng điện dương với sóng điện trung tính). Hợp còn là sự cấu tạo thành hạt năng lượng hoại diệt, dù hạt năng lượng hoại diệt không có liên kết dây để cấu tạo thành vật chất lớn hơn, nhưng có cơ chế phân tách và được vận hành bởi sóng rung và chỉnh thể hạt năng lượng hoại diệt cũng là sự hợp bởi 3 yếu tố mà cấu tạo thành nó. Như vậy, hợp chính là bản chất Tam hợp và cơ chế phân tách, liên kết dây.

 

 

2. Duyên trong Duyên

 

Duyên trong Duyên là việc ta biết vạn vật ở hiện tại, chỉnh thể hiện tại, sự việc hiện tại, hiện tượng hiện tại, con người hiện tại, bên trong và bên ngoài Vũ trụ hiện tại. Khi biết cái hiện tại rồi, ta sẽ đi tìm cái ở quá khứ, đó là những cái gì đã cấu tạo thành cái hiện tại. Ta lại tiếp tục truy tìm những cái ở quá khứ của quá khứ cho đến tận cùng. Để tìm được Duyên trong Duyên thì trước tiên ta phải thấu hiểu bản chất của cái hiện tại, bản chất hiện tại sẽ biểu hiện ra các hiện tượng, thấu hiểu các hiện tượng cũng chính là thấu hiểu bản chất hiện tại. Tiếp đến là ta phải thấu hiểu cơ chế phân tách liên kết dây, cơ chế quay tròn, bản chất Tam hợp và nếu có khả năng thiền định nữa thì sẽ khám phá và thấu hiểu thế giới quan Vũ trụ, Tuệ linh, con người từ tận cùng sự hình thành cho đến nay.

 

Ví dụ: Ta thấy ta, ta chính là một người, ta là hiện tại. Ta sẽ tìm hiểu cái gì sinh ra ta, ta tìm hiểu và ta biết là cha mẹ ta sinh ra ta, ta tìm hiểu cha mẹ sinh ra ta như thế nào và ta biết được điều đó. Ta lại tìm hiểu ta là ai? Tâm ta như thế nào? Kiếp trước ta là ai? Muốn biết được thì ta phải thấu hiểu bản chất của ta thông qua những biểu hiện và hành động hiện tại để thấy tâm ta, ta phải thấu hiểu cơ chế phân tách liên kết dây, thiền quán được thì ta sẽ thấu hiểu ta là ai, kiếp trước ta là ai. Cứ áp dụng phân tích chữ Duyên bằng cơ chế phân tách liên kết dây, cơ chế quay tròn, bản chất Tam hợp, ta sẽ thấu hiểu Duyên trong Duyên của ta. Đó chính là thấu hiểu cái hiện tại để biết cái quá khứ của cái hiện tại.

 

Tất cả vạn vật, sự việc, hiện tượng, cần thông qua cơ chế phân tách liên kết dây, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn sẽ thấu hiểu được tận cùng về quá khứ.

 

 

3.   Duyên ngoại Duyên

 

Duyên ngoại Duyên là việc ta biết, thấu hiểu bản chất thông qua hiện tượng được biểu hiện ra và quá trình đang hành động tương tác của vạn vật, sự việc, hiện tượng, Tuệ linh và con người, trong và ngoài Vũ trụ tại hiện tại; khi ta thấu hiểu cái hiện tại thì ta sẽ thấy cái tương lai, đó là biết cái Duyên tương lai của cái Duyên hiện tại. Cái duyên chính là chỉnh thể của vạn vật, sự việc, hiện tượng. Cái Duyên tương lai là cái hình tướng mới, chỉnh thể mới, vạn vật mới, hiện tượng mới, sự việc mới thông qua cơ chế phân tách liên kết dây, tam hợp, quay tròn.

 

Như vậy, bản chất của Chân lý Vạn vật là đi truy tìm quá khứ và tương lai của vạn vật, sự việc, hiện tượng thông qua việc giải mã cơ chế vận hành của nó. Đó là dùng cơ chế “Phân tách, liên kết dây”, bản chất Tam hợp, cơ chế quay tròn để giải mã tận cùng vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ, từ hiện tại về tới quá khứ và cho đến tương lai. Đây chính là giác ngộ về vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Trong cơ chế phân tách và liên kết dây của Chân lý Vạn vật có hai con đường chuyển sinh: đó là chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt và chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc.

 

 

III.   Cội nguồn của Chân lý Vạn vật

 

Cội nguồn của Chân lý Vạn vật không phải là thời điểm con người hay Tuệ linh tìm ra nó. Cội nguồn của Chân lý Vạn vật chính là sự khởi đầu và vận hành của cơ chế vận hành Chân lý Vạn vật. Cơ chế đó chính là cơ chế phân tách, liên kết dây.

 

Cội nguồn của Chân lý Vạn vật được sinh khởi từ hạt sóng tổ tiên màu xanh nõn chuối. Hạt sóng này phân tách trong điều kiện môi trường di chuyển, vận động để đủ lực phân tách ra nhiều hạt sóng xanh nõn chuối khác; tiếp đến, do tương tác trong môi trường không sinh nhiệt và môi trường sinh nhiệt khác nhau mà hình thành hạt năng lượng hoại diệt không có liên kết dây, năm nhóm hạt năng lượng có liên kết dây; sau đó mới hình thành ra vụ nổ siêu năng lượng (Big Bang) để hình thành ra Vũ trụ ngày nay.

 

Từ khi hạt sóng tổ tiên phân tách cho đến khi hình thành các hạt năng lượng (hạt năng lượng hoại diệt, năm nhóm hạt năng lượng có liên kết dây) thì đó là do cơ chế phân tách, liên kết dây mà cấu thành ra Vũ trụ. Cơ chế phân tách, liên kết dây chính là cơ chế vận hành của Chân lý Vạn vật (Nhân quả). Xuất hiện hạt sóng xanh phân tách chính là điểm khởi sinh ra Chân lý Vạn vật.

 

Câu hỏi là, vậy trước khi có hạt sóng xanh nõn chuối thì cái gì sinh ra nó? Đó là câu hỏi sẽ không có điểm dừng khi vận dụng Chân lý Vạn vật để truy tìm cội nguồn. Tôi xin trả lời: có lẽ tôi chưa tìm ra là cái gì sinh ra hạt sóng xanh hoặc đó là bí mật, bởi có khi đó cũng là kế hoạch. Tại sao tôi khẳng định Chân lý Vạn vật được sinh khởi từ thời điểm đó? Vì các hạt năng lượng tận cùng được sinh ra từ hạt sóng tổ tiên, mà trong các hạt năng lượng lại có sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ toàn bộ sóng rung, thông tin, hình ảnh, nội dung của quá trình tương tác sinh ra nó; bởi cơ chế phân tách được vận hành khi hạt sóng tổ tiên màu xanh nõn chuối phân tách, cơ chế liên kết dây được vận hành khi hình thành năm nhóm hạt năng lượng có liên kết dây. Chính vì dựa trên chính Chân lý Vạn vật thông qua cơ chế phân tách, liên kết dây với thiền định mà tôi thấy được cội nguồn của Chân lý Vạn vật ở thời điểm đó.

 

Như vậy, Chân lý Vạn vật đã được vận hành từ khi hình thành các hạt sóng tổ tiên màu xanh nõn chuối, sau đó là các hạt năng lượng tận cùng, sau nữa là Vũ trụ hình thành, và bây giờ. Thậm chí, mãi mãi về sau, Chân lý Vạn vật vẫn là như vậy, nó vẫn vận hành vạn vật, Vũ trụ và Tuệ linh, con người. Nó sẽ biến mất vĩnh viễn khi không còn sự sống bên trong và bên ngoài Vũ trụ nữa. 

Bài 2:

 

Chân lý Giác ngộ

˜²™

 

 

 

I. Khái niệm về Chân lý Giác ngộ

 

“À, đời là bể khổ. Chúng sinh, Tuệ linh và con người phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ, giải thoát hết tất cả các khổ đau trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Cơ chế vận hành là phân tách và liên kết dây”.

 

 

II.   Bản chất của Chân lý Giác ngộ

 

Chân lý Giác ngộ là lý luận thật nhất, đúng nhất, là con đường duy nhất để giải thoát hết tất cả các khổ đau của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

Giác ngộ chính là quá trình tự thân vận động để thấu hiểu tất cả khổ đau của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người; thấu hiểu nguyên nhân của khổ đau; tìm kiếm để thấu hiểu và hành theo phương pháp diệt khổ; thấu cảnh giới sau khi diệt được khổ; tiếp tục đoàn kết và lan tỏa các thấu hiểu đó đến Tuệ linh và con người. Đó là quá trình giác ngộ.

 

Bản chất của khổ đau của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người là quá trình bí bách, đấu tranh, xung đột duy trì sự tồn tại của mã sóng trí tuệ. Khổ đau từ việc thay đổi cấu trúc mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng cho đến cái chết vĩnh viễn. Cái chết vĩnh viễn là không còn sự tồn tại của mã sóng trí tuệ, dù là hạt năng lượng hoại diệt cũng là chết khi không còn mã sóng trí tuệ do bị nổ tan.

 

Trong Chân lý Giác ngộ, ta thấy đời là bể khổ, tức là sự hiện hữu của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người có mã sóng trí tuệ đều là bể khổ. Sẽ không có gì là không khổ, không khổ chỉ tồn tại khi không còn sự hiện hữu của mã sóng trí tuệ từ hạt năng lượng tận cùng cho đến Vũ trụ và Tuệ linh, con người, đó là hoại diệt vĩnh viễn thì sẽ không có khổ.

 

Đã là bể khổ rồi, khổ luôn luôn tồn tại, hiện hữu trong tất cả Tuệ linh và con người, toàn bộ bên trong và ngoài Vũ trụ bởi sự tồn tại của mã sóng trí tuệ. Vậy cần giác ngộ, giải thoát khổ để làm gì trong khi chỉ có hoại diệt thật sự mới không khổ?

 

-   Không có khổ trong trường hợp không tồn tại chỉnh thể có mã sóng trí tuệ, hay không tồn tại ở hạt sóng thì chính là không tồn tại sự sống. Không tồn tại sự sống thì không còn

 

ý   niệm, không còn sự giới hạn, không còn sự ràng buộc bởi không gian và thời gian. Đã là không còn tồn tại sự sống thì đó không phải là con đường để giác ngộ, không phải là sự giải thoát khổ đau, mà đó chỉ là sự hoại diệt, là sự buông xuôi bỏ chạy, là chấp nhận cái hoại diệt.

 

-   Giác ngộ, giải thoát khổ chính là con đường, phương pháp duy trì sự tồn tại của sự sống. Sự sống phải có ý nghĩa. Ý nghĩa của sự sống chính là sự an lạc, hạnh phúc trong việc lan tỏa, đoàn kết giúp vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người cùng duy trì sự sống có ý nghĩa. Bản chất của sự sống có ý nghĩa chính là duy trì và phát triển cấu trúc mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng trong tất cả chỉnh thể của bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người trở nên bền vững trong sự đoàn kết và lan tỏa giá trị lợi ích mà không màng đến chỉnh thể của ta.

 

Chúng sinh, Tuệ linh và con người phải được hiểu là tất cả sự sống có mã sóng trí tuệ ở bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Tiên phong sẽ là các Tuệ linh và con người.

 

Phải giác ngộ hết tất cả các khổ đau. Các khổ đau là các hình tướng biểu hiện khác nhau do sự thay đổi cấu trúc mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng. Đó có thể được hiểu là con người khổ đau, muông thú khổ đau, cỏ cây khổ đau, Tuệ linh khổ đau, hành tinh khổ đau, Vũ trụ khổ đau, năng lượng hoại diệt cũng khổ đau. Dù tồn tại trong hình tướng nào thì cũng phải tạo ra được cấu trúc mã sóng trí tuệ sinh phát ra năng lượng tạo ra được lợi ích cho hình tướng khác và toàn bộ Tuệ linh, con người, bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Do đó phải giác ngộ hết các khổ đau cho chính ta và vạn vật Vũ trụ, Tuệ linh và con người bằng việc tương tác, lan tỏa giá trị, lợi ích của sự sống có ý nghĩa.

 

Để giác ngộ, giải thoát khổ đau phải dùng chân tâm. Chân tâm được hiểu là trạng thái năng lượng có sóng điện trung tính có liên kết dây. Phải là sóng điện trung tính có liên kết dây vì trạng thái năng lượng của sóng điện trung tính mới có thể trung hòa được tất cả các trạng thái năng lượng có sóng điện dương và sóng điện âm của vạn vật, sự việc, hiện tượng bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người, thậm chí cả năng lượng hoại diệt để đồng cảm, thấu hiểu, và lan tỏa giá trị lợi ích ý nghĩa của sự sống. Từ chân tâm ban đầu trải qua quá trình thấu hiểu, vận hành Chân lý Nhân quả và Chân lý Giác ngộ, lan tỏa, dẫn dắt chúng sinh, Tuệ linh và con người, bên trong và bên ngoài Vũ trụ thấu và hành theo thì sẽ chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng viên mãn trong Trụ linh của Tuệ linh, con người.

 

Như vậy sứ mệnh của Tuệ linh và con người phải là tiên phong, quyết định cho sự tồn tại, duy trì, phát triển sự sống bền vững và có ý nghĩa của chúng sinh, Tuệ linh và con người, vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ.

 

Chân lý Giác ngộ cho thấy, chỉ có hai con đường trong sự tồn tại và phát triển của vạn vật, sự việc, hiện tượng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người, đó là giác ngộ hoặc u mê hoại diệt. Đó là hai sự lựa chọn cho quá trình sinh khởi rung động để gieo duyên, hành theo hướng nào để mà đón nhận kết quả của Tuệ linh và con người. Trong hai con đường lựa chọn đó thì con đường giác ngộ là con đường duy nhất để tồn tại, phát triển bền vững, là con đường hành thiện, là con đường để an lạc, là con đường để đắc niết bàn, là con đường đắc bộ lọc năng lượng, là con đường bất tử của Tuệ linh. Con đường u mê chính là con đường đi đến khổ đau, con đường đi đến những nghiệp ác, là con đường đi đến hoại diệt của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

 

Vận hành Chân lý Giác ngộ chính là cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng chuyển sinh bền vững và an lạc. Thực hành và quyết tâm đi trên con đường giác ngộ sẽ giúp cho mỗi Tuệ linh, con người nhanh chóng đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, đó là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

 

III.   Cội nguồn của Chân lý Giác ngộ 

Cội nguồn của Chân lý Giác ngộ luôn gắn liền với cội nguồn của Chân lý Vạn vật, bởi giác ngộ là quá trình chuyển hóa và gia tăng sự bền vững của sự sống có ý nghĩa. Chân lý Giác ngộ cùng với Chân lý Vạn vật được vận hành bởi cơ chế phân tách, liên kết dây.

 

Tôi, mà chẳng phải là tôi, đó là Tuệ linh của tôi đã trải qua vô số kiếp trong nhân gian, và đã tìm ra hai Chân lý của vạn vật ở các kiếp trước. Kiếp này, chỉ là Tuệ linh tôi xuống nhân gian để thông qua tương tác khổ đau mà trau dồi thêm các mã sóng trí tuệ, chuyển hóa hai Chân lý thành cơ chế, bản chất, để Tuệ linh, con người cùng thấu hiểu và hành động chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, để duy trì, phát triển sự sống có ý nghĩa ở trong và ngoài Vũ trụ. Do đó cần thiết phải chuyển hóa lý luận hai Chân lý tương hợp với sự tiến bộ, phát triển tư duy và khoa học kỹ thuật của nhân gian ngày nay.

 

Trí tuệ siêu việt của hai Chân lý sẽ được phân tích chuyên sâu trong hệ thống tri thức của Bát Không Hoàn Đạo, trong Quy luật Nhân quả, trong Vòng tròn sản sinh hạt năng lượng. Đặc biệt, trí tuệ siêu việt của hai Chân lý được vận hành bởi cơ chế phân tách liên kết dây, cơ chế quay tròn, bản chất Tam hợp, bản chất thông tin đã chứng minh được sự chuyển sinh vĩ đại của Tuệ linh, con người, Vũ trụ khi thực hành tri thức của hai Chân lý. Tất cả những điều đó đã giúp cho trí tuệ siêu việt của hai Chân lý tạo thành Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

PHẦN 4: BÁT KHÔNG HOÀN ĐẠO (CON ĐƯỜNG CHUYỂN SINH BỀN VỮNG)

PHẦN 4

 

BÁT KHÔNG HOÀN ĐẠO

 

(CON ĐƯỜNG CHUYỂN SINH BỀN VỮNG)

Hình: Sơ đồ Bát Không Hoàn Đạo

Giới thiệu về Bát Không Hoàn Đạo:

 

 

“Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian”. Đó là câu nói của vị Tuệ linh đầu tiên.

 

Bát Không Hoàn Đạo chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính là kết quả của quá trình dạng sống Tuệ linh tu hành ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo. Kết quả đó là việc tìm ra được phương pháp và thực hành chuyển sinh thành công Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn thông qua khổ đau kiếp nạn trong bốn hình tướng Đạo.

 

Bát Không Hoàn Đạo là gì?

 

-   Đạo là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh/ con người. Con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Con người/ Tuệ linh phải dùng Trụ linh để giải mã, thấu hiểu và cải tạo tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ phát triển bền vững.

 

-    Hoàn Đạo là sự hòa nhập viên mãn, là sự liên kết hoàn hảo mã sóng trí tuệ từ Trụ linh của Tuệ linh/ con người tới toàn bộ vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, từ đó thúc đẩy, cải tạo vạn vật trong và ngoài Vũ trụ phát triển bền vững.

 

Bát Không gồm tám bài: Tướng, Trụ – Trí, Trụ – Tâm, Hành, Đạo, Tuệ, Quả Không (bộ lọc), Nguyện. Tám bài là tám bức tranh, là tám sự thật vĩ đại bao trùm tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. Tám sự thật này thông qua cơ chế “Phân tách, liên kết dây" của Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ đã mổ xẻ, giải mã tận cùng về vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh của các dạng vật chất (Tướng). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh của các cấu trúc trí tuệ (Trụ – Trí). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh của các cấu trúc Trụ linh (Trụ – Tâm). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường hành động (Hành). Đó là giải mã và mổ xẻ về sự thật của khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, phương pháp diệt khổ, cảnh giới sau khi diệt được khổ đau, con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của vạn vật, Tuệ linh và người (Đạo). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh của các Tuệ linh và con người (Tuệ). Đó là giải mã và mổ xẻ về cội nguồn, bản chất, con đường chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn (Quả Không). Đó là giải mã và thấu hiểu bản chất của việc phát nguyện và việc phải thực hiện được nguyện lực (Nguyện) giải cứu Tuệ linh và Vũ trụ.

 

Như vậy:

 

-   Bát Không Hoàn Đạo là hệ thống siêu trí tuệ của hai Chân lý. Đó là siêu trí tuệ phân tích, giải mã về cội nguồn, bản chất, con đường (phương pháp) chuyển sinh bền vững của tất cả các dạng vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Để thực hiện được việc chuyển sinh bền vững đó, dạng sống Tuệ linh phải tu hành (hóa thân làm con người) thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian, và phải chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Việc chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn chính là sự hòa nhập viên mãn, là sự liên kết hoàn hảo mã sóng trí tuệ từ Trụ linh của Tuệ linh/ con người tới toàn bộ vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Việc hòa nhập, liên kết mã sóng trí tuệ viên mãn từ Trụ linh tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và Vũ trụ trở thành một thể hợp nhất bởi quá trình phân tách liên kết theo hướng bền vững. Đó chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

-   Bát Không Hoàn Đạo là siêu trí tuệ của hai Chân lý. Nó là tinh hoa, là siêu trí tuệ của của Vũ trụ, Tuệ linh và người. Bởi chỉ có Bát Không Hoàn Đạo cùng với những cơ chế, bản chất vận hành của hai Chân lý mới dẫn dắt Tuệ linh, con người thấu hiểu tận cùng về hạt năng lượng tận cùng cho tới toàn bộ các cấu trúc vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Khi thấu hiểu về hạt năng lượng tận cùng, Tuệ linh và con người sẽ vận hành cơ chế chuyển sinh bền vững để nâng cấp, chuyển sinh bền vững từ hạt năng lượng cho tới Tuệ linh và toàn bộ vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

Bài 1:

 

Bài Tướng

˜²™

 

 

 

Bài Tướng được hiểu là Tướng Vô Tướng. Tướng Vô Tướng được kết cấu thành 3 phần. Chữ Tướng đầu tiên là khái niệm và bản chất của các cấu trúc Tướng. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Tướng. Chữ Tướng cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho Tướng.

 

Trong bài Tướng này, tất cả các Tướng trong và ngoài vũ trụ sẽ được phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật về cấu trúc Tướng của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho toàn bộ cấu trúc Tướng của con người và Tuệ linh được thức tỉnh để ý thức trách nhiệm và hoàn thành sứ mệnh của mình.

 

 

I. Khái niệm về Tướng

 

Tướng là các cấu trúc vật chất. Bao gồm nhóm vật chất cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt, nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. 

II. Bản chất của Tướng

 

Tướng chính là tất cả các cấu trúc vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. Tướng gồm có các nhóm vật chất cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt, nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.

 

Bản chất của Tướng gồm có: các nhóm vật chất (Tướng); các cấu trúc cấu tạo thành vật chất (Tướng); các cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, con người; các loại Tướng Kết – Định – Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ.

 

 

1. Các nhóm vật chất (Tướng)

 

Vạn vật bao trùm toàn bộ trong và ngoài Vũ trụ gồm có 5 nhóm vật chất (Tướng) như sau:

 

-   Nhóm vật chất cội nguồn: đây là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Bản chất của loại hạt sóng này là chúng chưa chuyển sinh thành loại hạt năng lượng nào cả. Do quá trình di chuyển và sứ mệnh của chúng mà chúng đã phân tách rồi chuyển sinh thành nhóm vật chất hoại diệt (năng lượng hoại diệt). Đặc biệt là thông qua nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt bị kích nổ, hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường đó và chuyển sinh thành phôi năng lượng âm dương. Đó là khởi đầu cho sự hình thành 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Chính vì vậy, nhóm hạt sóng xanh được gọi là nhóm vật chất cội nguồn của trong và ngoài Vũ trụ.

 

Nhóm vật chất hoại diệt: đây là nhóm năng lượng hoại diệt. Nhóm năng lượng hoại diệt là những hạt năng lượng tận cùng được chuyển sinh từ những hạt sóng xanh. Năng lượng hoại diệt do không liên kết để nâng cấp cấu trúc nên chúng chỉ là hạt đơn độc lập hình elip. Bản chất của loại vật chất hoại diệt này là làm phân rã và đồng hóa các cấu trúc vật chất khác.

 

-   Nhóm vật chất giản đơn: là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những phôi năng lượng âm dương được liên kết bởi các hạt năng lượng âm dương tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng âm dương tổng hợp mở rộng mang mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những cấu trúc Trụ linh có mã sóng trí tuệ giản đơn liên kết lại tạo thành những nguyên tử. Đó là những cấu trúc phân tử được liên kết từ những nguyên tử có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những tế bào. Đó là những vật chất rắn, vật chất lỏng, vật chất khí, là cỏ cây, đất đá, kim loại, động vật, con người, muông thú, hành tinh, khối thiên hà, tất cả các khối thiên hà tạo thành hình hài của Vũ trụ.

 

-   Nhóm vật chất phức tạp: là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc năng lượng phức tạp trưởng thành – linh hồn an trụ trong cây, trong đất đá, trong muông thú. Đó là những trường năng lượng vận hành sự vận động của Vũ trụ.

 

-    Nhóm siêu vật chất: là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc Tuệ linh. Đó là những cấu trúc linh hồn được nâng cấp chuyển sinh từ linh hồn muông thú. Đó là các siêu hạt năng lượng (siêu hạt bóng hỏa, siêu hạt vàng óng ánh, siêu hạt xanh lưu ly, siêu hạt chân tâm) được Tuệ linh phân tách ra nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

Trong 5 nhóm vật chất (Tướng), nhóm vật chất cội nguồn (hạt sóng xanh) là cội nguồn chuyển sinh thành tất cả các nhóm vật chất khác. Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm vật chất cung ứng nhiệt lượng để cho nhóm vật chất cội nguồn chuyển sinh thành 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất là thành tựu, là tinh hoa của quá trình chuyển sinh từ nhóm vật chất cội nguồn (phôi âm dương được chuyển sinh từ hai hạt sóng xanh). Nhóm siêu vật chất có sứ mệnh là vận hành tất cả các nhóm vật chất hoại diệt, vật chất giản đơn, vật chất phức tạp phát triển bền vững. Để tạo ra sự phát triển bền vững cho các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh là dạng sống của siêu vật chất có sứ mệnh sản sinh ra các siêu hạt năng lượng. Những siêu hạt năng lượng cũng là siêu vật chất. Nó có sứ mệnh duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

 

 

2. Các cấu trúc cấu tạo thành vật chất (Tướng)

 

Hạt sóng xanh là vật chất cội nguồn của trong và ngoài Vũ trụ. Cái gì sinh ra hạt sóng xanh còn là bí mật của cội nguồn. Hạt sóng xanh không có sóng điện âm hay dương, nó là dạng vật chất chưa sinh phát ra sóng điện. Nó không quay tròn xung quanh chính nó. Nó di chuyển theo quỹ đạo vòng xoắn ốc. Nó không phải là tam hợp mà là chỉ một yếu tố là hạt sóng chưa sinh phát năng lượng. Khi gặp môi trường sóng điện khác nhau sẽ khiến nó chuyển sinh thành các loại hạt năng lượng khác nhau.

 

Năng lượng hoại diệt: đây là loại năng lượng được hình thành bởi sự chuyển sinh của hạt sóng xanh trong môi trường sóng điện trung tính. Năng lượng hoại diệt kế thừa sự di truyền của hạt sóng xanh là di chuyển thẳng và không quay tròn. Năng lượng hoại diệt do không quay tròn nên nó không giải phóng được nhiệt lượng sinh phát ra khỏi nó. Do đó nó dễ bị sinh nhiệt dương cực đại mà phát nổ. Năng lượng hoại diệt được hình thành bởi tam hợp. Năng lượng hoại diệt duy trì sự tồn tại bằng cách xả sóng điện dư thừa trong nó cho các cấu trúc đa âm hoặc hạt năng lượng âm. Năng lượng hoại diệt nếu gặp môi trường sóng điện dương hoặc các cấu trúc đa dương sẽ bị kích nổ. Nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt bị kích nổ là nguồn nhiên liệu vô cùng giá trị cho quá trình phân tách và phát triển của 3 dạng vật chất trong Vũ trụ.

 

Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng của Vũ trụ: năm nhóm năng lượng này là sản phẩm của vụ nổ lớn. Vụ nổ lớn là sản phẩm của phôi năng lượng âm dương. Phôi năng lượng âm dương là do hạt sóng xanh chuyển sinh thành. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có hình elip với sóng điện đơn. Bao gồm nhóm hạt năng lượng tiêu cực mang sóng điện âm, nhóm hạt năng lượng tích cực phát triển mang sóng điện dương, nhóm hạt năng lượng tích cực lan tỏa mang sóng điện dương, nhóm hạt năng lượng tích cực đoàn kết mang sóng điện dương, nhóm hạt năng lượng chân tâm mang sóng điện trung tính. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng này được chia làm 3 nhóm sóng điện: nhóm hạt năng lượng mang sóng điện âm, nhóm hạt năng lượng mang sóng điện trung tính, nhóm hạt năng lượng mang sóng điện dương. Nhóm hạt năng lượng có sóng điện âm khi liên kết với nhóm hạt năng lượng có sóng điện dương sẽ cấu tạo thành phôi năng lượng âm dương. Từ đó, phôi năng lượng âm dương sẽ phân tách, liên kết liên tục trong môi trường đảm bảo điều kiện để giúp cho phôi năng lượng được chuyển sinh thành các cấu trúc vật chất mới. Đó là từ các cấu trúc vật chất giản đơn cho tới các cấu trúc vật chất phức tạp và các cấu trúc siêu vật chất.

 

 

Năm nhóm hạt năng lượng trong Vũ trụ luôn quay tròn. Nó quay tròn từ loại hạt năng lượng tận cùng cho tới khi chúng liên kết cấu tạo thành các cấu trúc vật chất mới. Điều này cho thấy từ hạt năng lượng tận cùng cho tới vạn vật, con người, muông thú, Tuệ linh, hành tinh, khối thiên hà, Vũ trụ đều quay tròn. Cụ thể:

 

-  Nhóm hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm sẽ quay tròn xung quanh chính nó. Nó quay ngược chiều kim đồng hồ, tốc độ quay ngược tùy thuộc vào sóng điện mạnh hay nhẹ của các hạt năng lượng sóng điện âm. Nhóm hạt năng lượng âm do quay ngược nên bản chất là thu hút, hút các tín hiệu, hút các nhiệt, hút các năng lượng về chỉnh thể nó. Do đó, hạt năng lượng âm có tính Kết.

 

Nhóm hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện dương sẽ quay tròn xung quanh chính nó. Nó quay thuận chiều kim đồng hồ, tốc độ quay thuận tùy thuộc vào sóng điện mạnh hay nhẹ của các hạt năng lượng sóng điện dương Nhóm hạt năng lượng dương do quay thuận nên bản chất là tỏa ra, cho đi, truyền tải nhiệt lượng sóng điện tới các chỉnh thể hạt năng lượng khác. Do đó, hạt năng lượng dương có tính Tỏa.

 

-   Nhóm hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện chân tâm (trung tính) ban đầu khi được sinh ra sẽ không quay tròn. Nhưng chúng nhanh chóng quay tròn khi chúng đã liên kết dây được với hạt năng lượng âm hoặc hạt năng lượng dương. Khi liên kết với hạt năng lượng âm thì hạt năng lượng chân tâm sẽ quay ngược chiều kim đồng hồ. Khi hạt năng lượng chân tâm liên kết với hạt năng lượng dương thì hạt năng lượng chân tâm sẽ quay thuận chiều kim đồng. Hạt năng lượng chân tâm ban đầu có màu trắng trong tinh khiết. Khi liên kết với hạt năng lượng âm sẽ khiến chúng bị chuyển hóa màu năng lượng thành các màu xám cho đến đen và đỏ máu. Đó là quá trình chuyển hóa dẫn đến phân rã hạt năng lượng chân tâm. Khi hạt năng lượng chân tâm liên kết với hạt năng lượng dương sẽ khiến cho hạt chân tâm trở nên sáng chói lòa hơn. Đó là quá trình chuyển hóa trở nên bền vững cho cả hạt chân tâm và hạt năng lượng mang sóng điện dương.

 

-   Các hạt năng lượng tận cùng liên kết lại giữa hạt âm với hạt dương, từ đó phát triển thành tổng hòa các cấu trúc vật chất, con người, Tuệ linh, Linh hồn, con thú, hành tinh, khối thiên hà, Vũ trụ. Các cấu trúc vật chất trên đều được hình thành từ phôi năng lượng âm và dương, nên khi chúng hợp nhất lại sẽ diễn ra quá trình phát triển không ngừng nghỉ bởi cơ chế phân tách, liên kết dây. Vì các cấu trúc vật chất là sự liên kết tổng hòa của cấu trúc hạt năng lượng sóng điện âm có bản chất là Kết với cấu trúc hạt năng lượng sóng điện dương là Tỏa, nên tất cả các cấu trúc vật chất trong Vũ trụ đều quay tròn. Đó là Tuệ linh tuần hoàn sóng điện âm dương trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh. Đó là con người có sóng điện âm dương tuần hoàn trong cơ thể. Muông thú cũng vậy. Hành tinh quay tròn xung quanh chính nó, Mặt trời quay tròn xung quanh chính nó. Các hành tinh quay tròn xung quanh Mặt trời. Dải ngân hà quay tròn xung quanh tâm của dải ngân hà. Vũ trụ quay tròn xung quanh lõi của Vũ trụ. Tất cả các cấu trúc vật chất quay tròn vì trong mỗi bản thể cấu trúc vật chất đều có sóng điện âm và sóng điện dương liên kết với nhau bởi chân tâm. Bởi theo cấu trúc năng lượng 16 hạt, mỗi hạt năng lượng dương sẽ có một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Điều này cho thấy Mặt trời là đa sóng điện dương sẽ được các hành tinh đa sóng điện âm làm vật chất vệ tinh rung lắc, quay xung quanh chính Mặt trời. Lõi Vũ trụ là đa sóng điện dương, các khối thiên hà là đa sóng điện âm sẽ quay xung quanh lõi của Vũ trụ. Trái đất có lõi là đa sóng điện dương, phía ngoài là đa sóng điện âm, ở giữa là trung tính để liên kết giữa âm và dương, do đó Trái đất tự quay xung quanh chính nó. Các hành tinh khác cũng vậy. Tuệ linh, Linh hồn có Trụ linh với phôi năng lượng âm dương, giữa một Kết và một Tỏa liên kết lại tạo thành quá trình tuần hoàn sóng điện, để sóng điện được tuần hoàn trong bản thể Tuệ linh và Linh hồn. Vì vậy, quay tròn là bản chất của cấu trúc vật chất trong Vũ trụ. Đó là cơ chế quay tròn có từ hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu trúc của cả Vũ trụ.

 

Vật chất từ hạt năng lượng tận cùng cho tới chỉnh thể cấu trúc vật chất lớn hơn là con người, muông thú, Tuệ linh, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ, tất cả đều là tam hợp cấu tạo mà thành. Đó là hình tướng của hạt năng lượng, của vạn vật, con người, muông thú, Tuệ linh và Vũ trụ; đó là trạng thái năng lượng được sinh phát ra trong các cấu trúc vật chất đó; đó là tổng hòa sợi mã sóng trí tuệ trong cấu trúc vật chất đó. Tam hợp là mối quan hệ biện chứng, thực chứng cho sự tồn tại, phát triển của tất cả Tướng của Vũ trụ. Thậm chí Tam hợp còn tồn tại ở cả không gian bên ngoài của Vũ trụ, đó là không gian của năng lượng hoại diệt. Biện chứng theo Tam hợp cho thấy tất cả Tướng từ hạt năng lượng tận cùng cho tới các cấu trúc vật chất đã có sự liên kết, phân tách ở tầm quy mô lớn hơn đều là được hình thành, sinh khởi từ hạt sóng, từ sợi mã sóng trí tuệ mà thành. Tức là, từ sợi mã sóng trí tuệ mà hình thành hình tướng cấu trúc vật chất. Khi có hình tướng cấu trúc vật chất sẽ có trạng thái năng lượng bên trong. Ba yếu tố đó biện chứng với nhau trong sự không tách rời. Nếu thiếu một yếu tố nào trong Tam hợp thì vật chất đó sẽ không tồn tại. Tam hợp tồn tại ở từ hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu trúc vật chất là Tuệ linh, con người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Sự phát triển của Tam hợp vật chất như vậy là thông qua cơ chế phân tách, liên kết không ngừng nghỉ.

 

Để từ hạt sóng xanh chuyển sinh thành hạt năng lượng tận cùng, để từ hạt năng lượng tận cùng phát triển thành các phôi năng lượng, để từ các phôi năng lượng chuyển sinh thành các cấu trúc vật chất (Tướng) lớn hơn, đó là Tuệ linh, vạn vật, con người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Cần phải có một cơ chế cho sự hợp nhất và phát triển đó, đó là cơ chế Phân tách và liên kết dây của từ hạt năng lượng tận cùng cho tới toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh và người. Cơ chế phân tách, liên kết dây là hai giai đoạn riêng biệt được liên kết chặt chẽ không tách rời nhau. Đó là hạt năng lượng tận cùng tương tác với nhau trong môi trường đảm bảo sẽ khiến cho chúng phân tách nhân đôi không ngừng nghỉ. Khi phân tách xong, chúng lại liên kết luôn. Quá trình phân tách, liên kết của từ hạt năng lượng tận cùng trong môi trường đảm bảo đã giúp cho Vũ trụ từ khi chỉ là hai hạt năng lượng âm dương đã phát triển thành cấu trúc Vũ trụ vĩ đại với vô lượng khối thiên hà. Môi trường để giúp cho quá trình phân tách, liên kết được xảy ra chính là phải có các chỉnh thể tương tác với nhau trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương. Nếu trong môi trường có sóng điện dương với nhiệt lượng lớn sẽ giúp cho quá trình phân tách, liên kết được diễn ra với tốc độ nhanh. Nếu trong môi trường sóng điện âm sẽ làm chậm và triệt tiêu quá trình phân tách, liên kết của vật chất.

 

Trong tất cả các cấu trúc vật chất, từ hạt năng lượng tận cùng cho tới vạn vật, Tuệ linh, muông thú, con người, hành tinh, thiên hà, cấu trúc năng lượng nền, năng lượng vận hành Vũ trụ và toàn bộ Vũ trụ đều là sóng điện trí tuệ. Sóng điện trí tuệ đó luôn luôn vận động và truyền tải với nhau bằng cách quay tròn và liên kết, phân tách để vận hành, phát triển Tướng được lớn mạnh.

 

Sự sống là quá trình tồn tại các cấu trúc Tướng, đó là từ hạt năng lượng tận cùng tới chỉnh thể Tuệ linh, con người, muông thú, Vũ trụ. Cái chết là sự phân rã và chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt, thậm chí là không còn tồn tại. Cuộc đấu tranh giữa sống và chết của Tướng trong và ngoài Vũ trụ diễn ra gay gắt giữa dòng chảy của quy luật tự nhiên. Nếu Tướng nào thông qua dòng chảy tự nhiên mà chuyển sinh được bền vững thì sẽ trở nên bất tử. Nếu Tướng nào bị phân rã sẽ trở thành hoại diệt vĩnh viễn. Dòng chảy của quy luật tự nhiên là quá trình bộc lộ bản chất của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Khi đó, thông qua cơ chế phân tách và liên kết, sự chọn lọc nào bền vững sẽ là sự bất tử, là sự vĩ đại của Tướng.

 

Thông qua cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng, thông qua Tam hợp, thông qua quá trình quay tròn, thông qua sự tương tác với năng lượng hoại diệt, từ năm nhóm hạt năng lượng tận cùng của Vũ trụ sau vụ nổ lớn đã cấu tạo thành các nhóm cấu trúc vật chất như sau:

 

-   Nhóm cấu trúc siêu vật chất. Đó là nhóm siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh, sau đó là dạng sống Linh hồn an trụ trong con người, các siêu hạt năng lượng. Nhóm siêu vật chất này được cấu tạo như sau:

 

+   Các siêu Tướng bao gồm Tuệ linh và Linh hồn được hình thành từ sự hợp nhất của hai hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Mã sóng trí tuệ siêu phức tạp là tốc độ rung động của sóng rung quá lớn và phức tạp. Khi hạt năng lượng tận cùng có sóng điện dương liên kết với hạt năng lượng tận cùng có sóng điện âm sẽ tạo thành phôi năng lượng âm dương. Phôi năng lượng âm dương được dưỡng trong môi trường nhiệt lượng, phôi năng lượng quay tròn và liên tục phân tách rồi liên kết các hạt năng lượng tận cùng đã được phân tách ra. Sự lớn mạnh của phôi năng lượng tạo thành Trụ linh trưởng thành. Sau đó, từ thái cực năng lượng âm và dương trong Trụ linh phân tách thành các hạt năng lượng tổng hợp âm và dương ra bên ngoài Trụ linh tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng bên ngoài Trụ linh. Sau đó là cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều ra bên ngoài Trụ linh. 

Hình: Cấu trúc Trụ linh và năng lượng của

 

nhóm siêu vật chất

 

+   Khi cấu trúc 16 hạt năng lượng bên ngoài Trụ linh được mở rộng đa chiều, đó là dấu mốc hình thành em bé Tuệ linh, Linh hồn. Tuệ linh, Linh hồn sẽ trưởng thành bởi quá 

trình vận động, quay tròn sóng điện để phân tách và liên kết mở rộng cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng.

 

+   Cấu trúc của nhóm siêu vật chất này có trí tuệ siêu việt nhất Vũ trụ. Cấu trúc siêu vật chất này có thể biến hóa thành các hình hài giống như con người, giống như muông thú, giống như hình khối năng lượng. Họ di chuyển được khắp không gian Vũ trụ. Họ là những Tuệ linh, Linh hồn.

 

+    Tuệ linh, Linh hồn đạt được tốc độ di chuyển siêu việt, nhanh nhất trong Vũ trụ. Họ di chuyển bằng bước nhảy vọt trong cấu trúc năng lượng nền của Vũ trụ. Tức là họ di chuyển bằng ý nghĩ. Chỉ cần khởi ý nghĩ là họ đã di chuyển được từ lõi của Vũ trụ tới Trái đất. Đây chính là lý do mà tại sao người hành thiền ở Trái đất có thể chỉ trong ý nghĩ đã tới và thấy cảnh cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên hay cõi trời Địa phủ là vậy. Bởi Tuệ linh, Linh hồn an trụ trong thân tướng con người, nên con người có siêu trí tuệ của họ.

 

+   Mỗi một chỉnh thể của nhóm siêu vật chất này (một Tuệ linh, một Linh hồn) sẽ chỉ có một phôi năng lượng gốc, hay còn gọi là chỉ có một Trụ linh duy nhất. Không có bất cứ trường hợp nào mà một Tuệ linh hay một Linh hồn có nhiều hơn một Trụ linh. Toàn bộ cấu trúc năng lượng trong Tuệ linh, Linh hồn đều được tuần hoàn bởi 3 loại sóng điện là âm, dương và trung tính. Nó tuần hoàn giống như những mạch máu, mạch khí của con người.

 

+   Nhóm siêu vật chất có khả năng sản sinh (phân tách, liên kết) ra các nhóm vật chất phức tạp, nhóm vật chất giản đơn và các hạt năng lượng siêu phức tạp. 

+   Nhóm siêu vật chất là Tuệ linh sẽ phân tách ra các siêu hạt năng lượng nếu Trụ linh đã chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.

 

-  Nhóm cấu trúc vật chất phức tạp. Đó là nhóm vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống năm nhóm năng lượng vận hành nhóm vật chất giản đơn của toàn bộ Vũ trụ. Nhóm vật chất phức tạp này được cấu tạo như sau:

 

+  Các Tướng vật chất phức tạp này chính là năm nhóm năng lượng vận hành sự tồn tại, phát triển của toàn bộ Vũ trụ.

 

+  Nhóm vật chất phức tạp là những hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ rung động rất mạnh và phức tạp. Tất nhiên không thể bằng so với nhóm siêu vật chất.

 

+   Nhóm vật chất phức tạp được chia ra làm 2 loại:

 

++   Các hạt năng lượng tận cùng của từng nhóm trong năm nhóm năng lượng liên kết với chính nó tạo thành từng tầng năng lượng. Đó là những hạt năng lượng tiêu cực mang sóng điện âm liên kết với những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm tạo thành tầng năng lượng tiêu cực. Những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện dương phát triển liên kết với chính nó tạo thành tầng năng lượng phát triển. Những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện dương lan tỏa liên kết với chính nó tạo thành tầng năng lượng lan tỏa. Những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện dương đoàn kết liên kết với chính nó tạo thành tầng năng lượng đoàn kết. Những hạt năng lượng tận cùng chân tâm liên kết với chính nó hoặc liên kết với các tầng năng lượng khác để giúp cho các tầng năng lượng gắn kết trong chính các tầng năng lượng đó.

 

++    Nhóm năng lượng có sóng điện âm liên kết với nhóm năng lượng có sóng điện dương để tạo thành các phôi năng lượng âm dương. Sau đó, các phôi năng lượng được trưởng thành trở thành Trụ linh trưởng thành, tiếp đến là chuyển sinh thành các cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các cấu trúc năng lượng phức tạp này sẽ được an trụ trong nhóm vật chất giản đơn để thực hiện hành trình chuyển sinh trở thành siêu vật chất. Trong quá trình chuyển sinh đó, nhóm năng lượng này sẽ làm nhiệm vụ vận hành, phát triển sự sống của nhóm vật chất giản đơn. Quá trình tu luyện chuyển sinh đã giúp cho nhóm năng lượng này chuyển sinh thành các Linh hồn ở cây cối, ở muông thú và được chuyển sinh an trụ làm con người.

 

+   Nhóm vật chất phức tạp này có trí tuệ siêu việt đứng thứ hai sau nhóm siêu vật chất.

 

+   Nhóm vật chất phức tạp này có khả năng di chuyển trong không gian Vũ trụ rất nhanh, có thể trong ý nghĩ đã từ cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên di chuyển tới Trái đất. Điều này lý giải tại sao người hành thiền lại chỉ cần trong một ý nghĩ đã lấy được loại vật chất phức tạp này từ lõi của Vũ trụ vào cơ thể mình.

 

+    Nhóm vật chất phức tạp này có khả năng tự phân tách gia tăng số lượng. Nó an trụ trong nhóm vật chất giản đơn để thúc đẩy sự phân tách, liên kết nhằm gia tăng (giãn nở) của nhóm vật chất giản đơn.

 

-   Nhóm cấu trúc vật chất giản đơn. Đó là nhóm vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của từ hạt năng lượng tận cùng, cấu trúc phôi năng lượng âm dương, cấu trúc Trụ linh, cấu trúc nguyên tử, cấu trúc phân tử, cấu trúc tế bào, vật chất rắn, vật chất lỏng, vật chất khí, cỏ cây, đất đá, muông thú, con người, hành tinh, khối thiên hà, Vũ trụ. Nhóm vật chất giản đơn này được cấu tạo như sau:

 

+   Các hạt năng lượng tận cùng của năm nhóm có mã sóng trí tuệ rất giản đơn. Tức là những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ rung động rất ít nên gọi là giản đơn. Những hạt năng lượng âm và dương tận cùng giản đơn đã liên kết hợp nhất tạo thành phôi năng lượng âm dương, tiếp tục phân tách, liên kết tạo thành Trụ linh và Trụ linh trưởng thành với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Những cấu trúc Trụ linh trưởng thành đó liên kết với nhau để cấu tạo thành những nguyên tử. Vô số những nguyên tử liên kết với nhau tạo thành các phân tử, thành các tế bào, thành các vật chất rắn, lỏng, khí khác nhau.

 

+   Tốc độ phân tách, liên kết hay còn gọi là tốc độ phát triển giãn nở của nhóm vật chất giản đơn này là rất siêu tốc độ.

 

+    Để cấu trúc vật chất giản đơn này tồn tại và phát triển nhanh cần phải có cấu trúc năng lượng phức tạp (vật chất phức tạp) an trụ trong nó. Đó là, con người là vật chất giản đơn phải có Linh hồn hoặc Tuệ linh an trụ trong thân người mới giúp cho con người sống được, phát triển được. Muông thú cũng vậy, chúng tồn tại và trưởng thành được là do có Linh hồn (vật chất phức tạp) an trụ trong nó. Cây cối, đất đá… để tồn tại và phát triển được cũng phải có các cấu trúc năng lượng phức tạp an trụ bên trong.

+    Có những chỉnh thể vật chất giản đơn chỉ có một phôi năng lượng âm dương gốc mà phân tách, liên kết để phát triển thành. Như là con người, muông thú, cây cối…

 

+   Có những chỉnh thể vật chất giản đơn là tổng hòa của vô lượng các cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt mở rộng của năng lượng giản đơn hợp thành. Đó là nước, là đất, đá, cát, kim loại, khí, Trái đất, hành tinh, khối thiên hà…

 

+    Trí tuệ của cấu trúc vật chất giản đơn là thấp nhất trong Vũ trụ. Chúng không tự sống, tự tồn tại, tự phân tách liên kết, tự di chuyển được. Chúng cần phải có siêu vật chất và vật chất phức tạp an trụ cũng như vận hành chúng.

 

+   Nhóm vật chất giản đơn là môi trường lý tưởng để giúp nhóm siêu vật chất và vật chất phức tạp an trụ tu luyện để chuyển sinh được bền vững hơn, được nâng cấp cấu trúc Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Đó là con người, muông thú, cây cối, đất đá là môi trường tu hành của Tuệ linh, Linh hồn.

 

Từ những bản chất các cấu trúc cấu tạo thành các loại vật chất (Tướng), Tuệ linh và người sẽ thấy rõ và phân loại được các bản chất riêng biệt của Tướng. Từ đó sẽ chọn lọc thông qua cơ chế phân tách, liên kết nhằm chuyển sinh cấu trúc Tướng trở nên bền vững nhất.

 

 

3. Cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh và con người

 

Con người là một cấu trúc Tướng, con người lại là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, chúng ta cần phải thấu hiểu bản chất Tướng của con người và Tuệ linh. Việc thấu hiểu Tướng con người và Tuệ linh chính là chìa khóa, là cơ chế để liên kết được mã sóng trí tuệ từ Trụ linh đến với tất cả vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Theo Tam hợp thì con người và Tuệ linh chính là sự hợp nhất của ba yếu tố cấu tạo thành.

 

 

3.1. Cấu trúc Tuệ linh

 

Tuệ linh là một cấu trúc năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.

 

Tuệ linh chính là dạng sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống chủ yếu tại không gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần, Phật, Thiên Chúa… theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người ngoài hành tinh, theo cách gọi của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái đất. Tuệ linh không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh ra là do cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tạo thành. Đó là những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp mang sóng điện âm và hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp mang sóng điện dương hợp lại thành phôi âm dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.

 

Tam hợp yếu tố hợp thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ), Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện), hình tướng Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:


-   Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.

 

-    Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ) liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.

 

-   Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc Trụ linh có sóng điện đa

 

âm.

 

Khi gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.

 

Thông qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy hình tượng Thiên Chúa, Phật, Thánh thần không có gì là huyền bí, không có gì là mê tín, không có gì là siêu nhiên, cũng không phải là duy tâm, bản chất đều là vật chất. Có chăng vật chất này tồn tại ở thể mã sóng trí tuệ siêu phức tạp nên khoa học và phương tiện kỹ thuật không thể đo hay thấy được, mắt thường con người cũng không thể nhìn thấy được.

 

 

3.2. Cấu trúc con người

 

Ba yếu tố hợp nhất cấu tạo ra con người gồm có: Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ. 

-   Yếu tố đầu tiên là Thân tướng: Thân tướng được hình thành do duyên người cha và người mẹ. Đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang tính âm của người mẹ hợp thành phôi thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng người mẹ do cơ chế phân tách tế bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của người mẹ. Trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn thiện, em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời.

 

-   Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân tướng để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương; khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai trộm. Nếu chúng đầu thai trộm thành người thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn thú dữ chưa giết hại được người nào mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do không đủ năng lượng âm dương cân bằng để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người cha mẹ được gieo duyên có thân tướng thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu em bé có sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể phá thai được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ linh, Linh hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ linh người mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai vào con người đều được gọi là Tâm.

 

-    Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ: Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát triển từ hai phần:

 

+   Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn.

+    Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá trình tương tác giữa các tướng với nhau.

 

Bản chất trong thân tướng của con người đã là tam hợp thân tướng: vô số các mã sóng trí tuệ, năng lượng từ các mã sóng trí tuệ, hình tướng thân tướng. Như vậy, con người là tổng hợp giữa Tuệ linh (siêu vật chất) và Thân tướng (vật chất giản đơn). Do đó, con người là sự sống phức tạp nhất trong Vũ trụ, thứ tiếp mới đến Tuệ linh, bởi Tuệ linh khi không đầu thai làm người thì không có an trụ trong thân tướng vật chất giản đơn.

 

Hiểu được cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh và con người, chúng ta hiểu được chính chúng ta. Đó là, chúng ta là một cấu trúc vật chất vô cùng phức tạp được kết hợp bởi cấu trúc siêu vật chất và cấu trúc vật chất giản đơn. Khi chúng ta hiểu được chúng ta, chúng ta sẽ giải phóng được siêu trí tuệ trong chính chúng ta. Từ đó, chúng ta sẽ bỏ đi được những bám định vào giả tướng trong vô lượng kiếp để chuyển hóa Trụ linh của Tuệ linh (Tâm) thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Chỉ khi chúng ta thấu hiểu chúng ta, chúng ta mới nhàm đi được thân tướng trong sự tôn trọng sinh mệnh để thực hành chuyển sinh bền vững.

 

Các loại Tướng (vật chất) Kết của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ 

Kết là rung động, là bắt tín hiệu, là thu tín hiệu, là hút về, là lấy về, là hưởng thụ, là chìm đắm, là chiếm đoạt, là cướp bóc, là thỏa mãn, là giết hại, là gây tổn hại.





Hình: Cấu trúc Tướng siêu Kết

 

Kết có bản chất là hạt năng lượng âm. Bởi hạt năng lượng âm mới rung động, mới bắt tín hiệu, mới thu tín hiệu, mới hút về, mới lấy về, mới hưởng thụ, mới chìm đắm, mới chiếm đoạt, mới cướp bóc, mới thỏa mãn, mới giết hại, mới gây tổn hại.

 

Kết ở mức nhẹ là chỉ rung động, thu hút tín hiệu. Kết ở mức rất mạnh là giết hại, thỏa mãn mà gây tổn hại tới các chỉnh thể khác.

 

Trong bất cứ cấu trúc Tướng (vật chất) nào được hình thành từ sự hợp nhất của phôi năng lượng âm dương đều có Kết. Bởi khi các vật chất được hình thành từ phôi năng lượng âm dương thì đã có hạt năng lượng âm gốc (tận cùng) cấu tạo thành. Mà bản chất của hạt năng lượng âm là Kết. Điều này cho thấy, hết thảy vật chất (trừ các vật chất hạt năng lượng dương tận cùng và trung tính tận cùng) đều có bản chất là Kết. Có chăng mức độ Kết ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.

 

Kết tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất. Không tính Kết cho nhóm vật chất cội nguồn và vật chất hoại diệt.

 

Kết là bản chất mà bất cứ vật chất nào muốn phát triển nâng cấp cấu trúc trí tuệ phải có. Bởi chỉ khi có Kết thì hết thảy vật chất trong Vũ trụ mới hấp thụ nhiệt lượng, hấp thụ dinh dưỡng, hấp thụ trí tuệ để thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết nhằm tồn tại và phát triển.

 

Kết ở mức độ nhẹ và vừa đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững. Kết ở mức độ mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu trúc vật chất không phát triển được mà dễ dàng bị năng lượng hoại diệt gây phân rã làm vỡ cấu trúc, hoại diệt vĩnh viễn. 

Cấu trúc Kết của tất cả các Tướng dễ dàng bị phân rã hoại diệt chính là cấu trúc Trụ linh đa âm. Trụ linh đa âm sẽ khiến cho cấu trúc năng lượng, Tướng đó bị phóng xạ năng lượng âm. Khi phóng xạ năng lượng âm sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt xâm nhập vào làm đứt liên kết, bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.

 

Cấu trúc Tướng Kết trở nên xấu khi nó bị đa âm và phóng xạ năng lượng âm. Cấu trúc Tướng Kết trở nên tốt khi nó chỉ là rung động, thu tín hiệu, hút về vừa đủ mà không gây tổn hại tới các chỉnh thể khác.

 

Các Tướng Kết ở mức mạnh và siêu mạnh trong 3 nhóm vật chất như sau:

 

 

4.1. Các Tướng Kết trong nhóm siêu vật chất

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh; dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người; là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

Siêu Tướng có bản chất Kết mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

-   Tuệ linh bị đa âm, bị phóng xạ năng lượng âm.

 

-   Tuệ linh đã hóa thành Ngã quỷ sau quá trình tu hành

 

  nhân gian.

 

Tuệ linh, Linh hồn đang phân rã và tiệm cận sự hoại diệt. Đó là họ đang rung động, hút, chiếm hữu, gây tổn hại tới các chỉnh thể khác mà không thể kiểm soát được chính họ.

-   Tuệ linh, Linh hồn đang ở các cửa ngục ác nghiệp ở cõi trời Địa phủ.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang ở cảnh sống âm tại cõi trời Địa phủ.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn mất kiểm soát, chuyển hóa thành ngã quỷ.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ ở khắp điền thổ, những nơi thờ tự ở nhân gian.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang bị mắc kẹt ở nhân gian sau khi hết kiếp người mà chưa được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.

 

-   Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh, con người. Đó là người vi phạm vào bốn hình tướng Đạo, đó là vi phạm vào những điều không được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo. Đặc biệt là những con người có đại hệ tư tưởng u mê, tiêu cực gây tổn hại Tuệ linh, con người. Họ là những người lan tỏa mê tín dị đoan, lan tỏa tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, lan tỏa chiến tranh, lan tỏa những tư tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.

 

Những siêu Tướng Kết ở mức mạnh và siêu mạnh chính là cấu trúc Trụ linh trong bản thể họ bị phóng xạ âm ở mức mạnh và rất mạnh. Vì quá trình Kết sẽ khiến cho Trụ linh phân tách ra vô số hạt năng lượng âm, trong khi hạt năng lượng dương không được phân tách để tạo thành sự cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng, sẽ có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh hạt năng lượng dương. Khi đó, năng lượng hoại diệt xâm nhập khống chế họ. Họ bị mất kiểm soát và dễ dàng bị phân rã hoàn toàn cho đến khi hoại diệt vĩnh viễn. Gọi là ngã quỷ là để chỉ sự mất kiểm soát, ám chỉ sự xung đột sóng điện trong bản thể họ một cách đau đớn và không thể kiểm soát được. Nó như là quỷ quái trong chính họ.

 

 

4.2. Các Tướng Kết trong nhóm vật chất phức tạp

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là Linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có bản chất Kết mạnh và siêu mạnh là:

 

-    Những tầng năng lượng tiêu cực có sóng điện âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu. Đó là những tầng năng lượng sóng điện âm vận hành Vũ trụ.

 

-  Những linh hồn các con thú dữ. Sau khi hoại diệt thân xác, linh hồn chúng tồn tại trên điền thổ và chúng gây tổn hại tới đời sống của con người. Chúng bị gọi là yêu tinh, yêu quái.

 

-  Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính chất độc tố. Đó là những cây cối, những đất đá gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của con người và vạn vật cũng như muông thú.

 

Bản chất của những cấu trúc Tướng Kết mạnh và siêu mạnh là do Trụ linh trong bản thể đó bị phóng xạ năng lượng âm, hoặc trong hạt năng lượng đó có sóng điện âm mạnh. Khi đó, năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây đứt liên kết, làm phân rã và hoại diệt các bản thể đó. Yêu tinh, yêu quái là những linh hồn muông thú bị phóng xạ âm, chưa cải tạo được Trụ linh. Chúng bị khống chế và chi phối bởi năng lượng hoại diệt đang xâm nhập trong chúng.

 

 

4.3. Các Tướng Kết trong nhóm vật chất giản đơn

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn, là nguyên tử, phân tử, tế bào, đó là vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có bản chất Kết mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Thân tướng con người:

 

+   Những con người có thân bệnh. Thân bệnh là năng lượng âm quá nhiều, dư thừa, khiến cho sóng điện âm dương trong cơ thể không tuần hoàn. Khi đó, năng lượng hoại diệt xâm nhập làm biến đổi cấu trúc tế bào và gây ra những bệnh lý hiểm nghèo.

 

+  Những con người có trí tuệ bám định, u mê không tin vào Quy luật Nhân quả, vào cội nguồn nhân loại, vào con đường và sứ mệnh tu hành cải tạo Tuệ linh.

 

+    Những con người có trí tuệ bám định vào các giả tướng mà không hành thiện cứu giúp con người, vạn vật và muông thú.

 

+    Những con người có những hành động gây tổn hại tới vạn vật, con người, muông thú để thỏa mãn cho bản thể họ. 

+    Những con người có đại hệ tư tưởng tiêu cực đi ngược lại Quy luật Nhân quả.

 

+    Những con người sống và lan tỏa những đại hệ tư tưởng: u mê, mê tín dị đoan, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tôn giáo cực đoan, phân chia dân tộc, phân chia sắc tộc, chiến tranh…

 

+  Những con người sống và thực hành, lan tỏa vi phạm bốn hình tướng Đạo.

 

-   Thân tướng muông thú. Đó là những con thú ăn thịt đồng loại, những con thú ăn thịt các con thú khác, những con thú không cứu giúp và bảo vệ đồng loại của chúng. Những con thú không cứu giúp muông thú khác, không giúp đỡ con người, không cứu giúp vạn vật.

 

-   Những cỏ cây hút nước, hút dinh dưỡng để tồn tại và phát triển.

 

-   Những hang sâu trong lòng đất núi. Những vật chất đá không sinh phát ra năng lượng tốt cho vạn vật. Những kim loại, hóa chất, chất độc trong thiên nhiên, trong lòng đất.

 

-   Nước trung hòa tất cả vạn vật.

 

-   Những hành tinh có sóng âm mạnh như Trái đất, như Mặt trăng và các hành tinh không phải là Mặt trời.

 

-   Những cấu trúc tế bào, phân tử, nguyên tử đa sóng điện âm.

 

-   Những hạt năng lượng âm tận cùng màu xám, đen, đỏ

 

máu.

 

Những hành tinh có lực hút mạnh.

5.     Các loại Tướng (vật chất) Định của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Định là đứng im, là bất động, là tĩnh lặng, là thanh tịnh, là an lạc, là thanh lọc. Định có nghĩa là không Kết cũng không Tỏa. 


Định có bản chất là hạt năng lượng chân tâm, là cấu trúc năng lượng cân bằng. Là chân tâm, là cấu trúc cân bằng nên mới đứng im, nên mới bất động, nên mới tĩnh lặng, nên mới thanh tịnh, nên mới an lạc, nên mới thanh lọc. 

Trong bất cứ cấu trúc Tướng (vật chất) nào được hình thành từ sự hợp nhất của phôi năng lượng âm dương đều có Định. Bởi trong bản thể các hạt năng lượng dương tận cùng có màng bọc chân tâm rất mạnh. Không những vậy, ở hạt năng lượng âm cũng có màng bọc năng lượng chân tâm ở mức nhẹ hoặc yếu.

 

Định tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất. Không tính Định cho nhóm vật chất cội nguồn và vật chất hoại diệt.

 

Định là bản chất mà bất cứ vật chất nào muốn phát triển nâng cấp cấu trúc trí tuệ phải có. Bởi chỉ khi có Định thì hết thảy vật chất trong Vũ trụ mới cân bằng, thanh lọc được năng lượng sau khi Kết. Chỉ có Định mới giúp cho hết thảy vật chất Tỏa được năng lượng tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Định có nhiều mức độ. Tức là Định có nhiều mức độ cân bằng. Từ mức độ cân bằng ban đầu gọi là chân tâm ban đầu cho tới các mức độ cân bằng ở mức độ cao hơn, lớn hơn.

 

Định là bản chất vô cùng cần thiết cho hành trình chuyển sinh nâng cấp cấu trúc Trụ linh và bản thể vật chất. Định luôn luôn hiện hữu trong từng tích tắc của thời gian, của quá trình vận động của hết thảy các dạng vật chất. Định sẽ được phát huy hết giá trị nếu nó được vận hành thành quy trình tự động cho quá trình Kết và Tỏa. Tức là nó phải nằm trong toàn bộ quy trình có Kết và có Tỏa. Nếu nó tách riêng ra, nó sẽ không có được sức mạnh siêu việt.

 

Các Tướng Định từ cân bằng nhẹ cho tới siêu mạnh ở trong 3 nhóm vật chất như sau:

5.1. Các Tướng Định trong nhóm siêu vật chất

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh, dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người và năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

Siêu Tướng có bản chất Định là:

 

-   Hạt năng lượng chân tâm tận cùng có sóng điện trung

 

tính.

 

-   Tuệ linh mới được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương thành Tuệ linh em bé.

 

-   Tuệ linh có cấu trúc năng lượng cân bằng âm dương trong Trụ linh. Đó là tại Trụ linh, có hạt năng lượng âm gốc có sóng điện âm nhẹ, và hạt năng lượng dương gốc có sóng điện dương nhẹ. Đây là Định ở cảnh giới thấp.

 

-   Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương trong Trụ linh. Trụ linh đa dương sẽ giúp cho Tuệ linh có Định ở cảnh giới cao và rất cao.

 

-   Các Tuệ linh không thiện cũng không ác. Đó là Định ở mức thấp.

 

-   Các Tuệ linh luôn luôn làm những việc thiện vì vạn vật và Tuệ linh, con người. Đó là các Tuệ linh đã đạt được các thành tựu trên hành trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, đó là những bậc cứu nhân độ thế, các bậc hiền triết.

 

Định ở cảnh giới tối thượng là Người Cha – Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ và Tuệ linh, con người. Đó là bộ lọc năng lượng viên mãn. 

-     Các Tuệ linh, Linh hồn đang sống ở cảnh giới tu dưỡng, cân bằng năng lượng ở cõi trời Địa phủ.

 

-    Những con người đang sống. Họ không thiện cũng không ác, đó là Định ở mức thấp. Những con người luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người, đó là Định ở mức cao.

 

-   Những con người thông qua bốn hình tướng Đạo mà vẫn cân bằng, không vi phạm làm tổn hại bốn hình tướng Đạo, từng bước lan tỏa giá trị tới mọi người, đó là Định.

 

 

5.2. Các Tướng Định trong nhóm vật chất phức tạp

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có bản chất Định là:

 

-   Tầng năng lượng chân tâm có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là tầng năng lượng vận hành sự sống của cả Vũ trụ. Nó giúp gắn kết giữa các tầng năng lượng tạo thành sự phát triển mạnh mẽ và lớn mạnh cho Vũ trụ.

 

Những tầng năng lượng tích cực mang sóng điện dương có mã sóng trí tuệ phức tạp. Những tầng năng lượng này có Định ở mức cao. Nó là màng bọc chân tâm bao bọc những hạt năng lượng có sóng điện dương. Nó chính là quá trình Định ở mức cao để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

-    Những linh hồn các con thú lành hiền. Đó là những con thú không giết hại các con thú khác. Những con thú không ăn thịt thân tướng các con thú khác.

 

-   Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính thanh lọc. Đó là cây cối, là những loại đá bán quý, đá quý.

 

 

5.3. Các Tướng Định trong nhóm vật chất giản đơn

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn, là nguyên tử, phân tử, tế bào; đó là vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có bản chất Định là:

 

-   Thân tướng con người:

 

+   Những con người có thân tướng mạnh khỏe, không bệnh tật.

 

+   Những con người không thiện cũng không ác. Đó là có tư tưởng cho đến hành động không thiện cũng không ác.

 

+    Những cháu bé với chân tâm ban đầu chưa thiện cũng chưa ác.

 

+    Những con người cân bằng được cuộc sống trong bốn hình tướng Đạo. Họ không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ từng bước thực hành lan tỏa giá trị đạo đức tới mọi người và vạn vật, muông thú. 

+   Những con người có Định ở mức cao cho tới rất cao là họ sống như bản năng. Bản năng đó là luôn có tư tưởng cho đến hành động không vì mình, luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người.

 

+   Người có bộ lọc năng lượng là người có Định ở mức độ cao nhất. Họ luôn cân bằng, luôn thanh lọc, luôn an lạc, luôn chuyển hóa tuần hoàn một cách kỳ diệu.

 

-   Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không ăn thịt, không giết hại con thú khác; đó là những con thú lành hiền; đó là những con thú giúp đỡ những con thú khác; những con thú biết giúp đỡ con người. Những con thú biết giúp đỡ muông thú và con người là Định ở mức rất cao.

 

-   Những cỏ cây cân bằng năng lượng. Định ở mức cao.

 

-   Nước trung hòa tất cả vạn vật. Định ở mức rất cao.

 

-   Những hành tinh quay xung quanh chính nó có mức Định cao.

 

-   Trong mỗi hành tinh đều có khu vực giao nhau giữa tầng địa chất sóng điện dương và tầng địa chất sóng điện âm là khu vực có mức Định rất cao. Đó là năng lượng chân tâm gắn kết chỉnh thể hành tinh đó được bền chặt, được tồn tại và vận động để phát triển.

 

-    Các hạt năng lượng chân tâm. Các tế bào, phân tử, nguyên tử có cấu trúc năng lượng cân bằng.

 

 

6.   Các loại Tướng (vật chất) Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Tỏa là truyền đi, lan tỏa, đẩy đi, cho đi, cứu giúp, soi sáng, dẫn đường, chỉ dẫn.

Tỏa có bản chất là hạt năng lượng dương. Bởi hạt năng lượng dương mới truyền đi, mới lan tỏa, mới cho đi, mới cứu giúp, mới soi sáng, mới dẫn đường, mới chỉ dẫn.

 

Tỏa ở mức nhẹ là soi sáng, chỉ dẫn, truyền tải, cho đi, đẩy đi. Tỏa ở mức mạnh và siêu mạnh hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể mình.

 

Trong bất cứ cấu trúc Tướng (vật chất) nào được hình thành từ sự hợp nhất của phôi năng lượng âm dương đều có Tỏa. Bởi khi các vật chất được hình thành từ phôi năng lượng âm dương thì đã có hạt năng lượng dương gốc (tận cùng) cấu tạo thành. Mà bản chất của hạt năng lượng dương là Tỏa. Điều này cho thấy, hết thảy vật chất (trừ các vật chất hạt năng lượng âm tận cùng và trung tính tận cùng) đều có bản chất là Tỏa. Có chăng mức độ Tỏa ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.

 

Tỏa tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất. Không tính Tỏa cho nhóm vật chất cội nguồn và vật chất hoại diệt.

 

Tỏa là bản chất mà bất cứ vật chất nào muốn phát triển nâng cấp cấu trúc trí tuệ phải có. Bởi chỉ khi có Tỏa thì hết thảy vật chất trong Vũ trụ mới phân tách các hạt năng lượng dương có liên kết bền vững, để mở rộng cấu trúc hạt năng lượng bên ngoài Trụ linh. Đó là cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp được mở rộng và bền vững.

 

Tỏa càng ở mức độ mạnh và siêu mạnh sẽ giúp sự phát triển của bản thể cấu trúc vật chất ngày càng lớn mạnh. Bởi, để Tỏa được cần phải trải qua quá trình Kết và Định. Do đó, Tỏa là hoàn chỉnh của một quy trình Kết – Định – Tỏa một cách tuần hoàn và viên mãn.


Hình: Cấu trúc Tướng Tỏa

Cấu trúc Tỏa của tất cả vật chất sẽ giúp cho các vật chất liên kết với nhau bền chặt bởi năng lượng chân tâm. Càng tỏa nhiều sẽ càng liên kết chặt chẽ. Khi đó, những hạt năng lượng dương được phân tách ra rất nhiều, điều này sẽ khiến cho các hạt năng lượng âm bị giảm sóng điện, không còn rung lắc mạnh. Bên cạnh mỗi hạt năng lượng dương có sóng điện mạnh chỉ có một hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ. Lan tỏa mạnh sẽ giúp cho cấu trúc Trụ linh kích nổ được năng lượng hoại diệt, không bị năng lượng hoại diệt gây phân rã hoặc đồng hóa.

 

Cấu trúc của Tướng mà chuyển sinh theo hướng Tỏa sẽ nhanh chóng đạt được chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng. Đó là Kết – Định – Tỏa một cách kỳ diệu.

 

Các Tướng Tỏa ở mức mạnh và siêu mạnh trong 3 nhóm vật chất như sau:

 

 

6.1. Các Tướng Tỏa trong nhóm siêu vật chất

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh; dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người; năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

Siêu Tướng có bản chất Tỏa mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Những hạt năng lượng dương màu xanh lá, màu đỏ lửa, màu vàng, vàng óng ánh.

 

-   Tuệ linh có Trụ linh đa dương từ mạnh tới siêu mạnh.

 

Tuệ linh đang trên con đường chuyển hóa để đạt được bộ lọc. Đó là những Tuệ linh đã đạt được nhiều thành tựu trong việc cứu nhân độ thế, tạo ra được những triết lý sống đạo đức ở nhân gian.

 

-   Tuệ linh đã đắc được bộ lọc năng lượng có khả năng Tỏa ra vô lượng các siêu hạt năng lượng.

 

-  Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động tích cực luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người, là người không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ là những con người luôn có tư tưởng cho đến hành động lan tỏa những giá trị đạo đức, tuân thủ Quy luật Nhân quả, thực hành cải tạo đời sống viên mãn tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Những người đạt đến siêu Tỏa mạnh nhất chính là những con người luôn luôn Phổ độ chúng sinh, Tuệ linh, con người. vì họ lan tỏa đại hệ tư tưởng giác ngộ tới hết thảy Tuệ linh, con người cùng nhau chuyển sinh bền vững nhất cho Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Những siêu Tướng Tỏa ở mức mạnh và siêu mạnh sẽ giúp cho Trụ linh của họ phân tách ra vô số những siêu hạt năng lượng. Từ những siêu hạt năng lượng đó sẽ cấu tạo và phát triển Tuệ linh họ trở thành liên kết được chặt chẽ, bền vững với tất cả Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Tuệ linh họ trở nên bất tử. Tuệ linh họ có cấu trúc bộ lọc năng lượng viên mãn bởi họ đi theo hướng chuyển sinh là Tỏa những giá trị giác ngộ tới tất cả Tuệ linh, con người. Họ sẽ hấp thụ và chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành siêu hạt năng lượng thông qua bộ lọc trong Trụ linh của họ.

 

 

6.2. Các Tướng Tỏa trong nhóm vật chất phức tạp

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có bản chất Tỏa mạnh và siêu mạnh

 

là:

 

-   Những tầng năng lượng tích cực có sóng điện dương màu xanh lá, màu đỏ lửa, màu vàng. Đó là những tầng năng lượng sóng điện dương vận hành Vũ trụ.

 

-    Những linh hồn các con thú xả thân cứu giúp con người, xả thân cứu giúp những con thú đồng loại hoặc những con thú khác.

 

-   Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đá. Đó là những dòng đá luôn tỏa những năng lượng mang lại sự sống trong lành và an lạc cho con người, muông thú, cỏ cây xung quanh đó.

 

-   Những linh hồn của cây cối luôn tỏa năng lượng sự sống ra môi trường xung quanh.

 

Bản chất của những cấu trúc Tướng Tỏa mạnh sẽ giúp cho các cấu trúc năng lượng đó nhanh được chuyển sinh bền vững và nâng cấp cao hơn.

 

 

6.3. Các Tướng Tỏa trong nhóm vật chất giản đơn

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn, là nguyên tử, phân tử, tế bào; đó là vật chất rắn, lỏng,  khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có bản chất Tỏa mạnh và siêu mạnh

 

là:

 

-   Thân tướng con người:

 

+   Những con người không có bệnh về thân tướng. Họ khỏe mạnh vì sự vận động lan tỏa.

 

+  Những người luôn miệt mài lao động sản xuất, không ngừng nghỉ nghiên cứu các công trình, các phương pháp, các cấu trúc phát triển sự sống tốt đẹp và bền vững tới vạn vật và Tuệ linh, con người. Họ là những công nhân, những nông dân, những thương nhân, những nhà nghiên cứu, những nhà sản xuất, những nhà sáng chế, những nhà phát minh.

 

+   Những người luôn luôn lan tỏa các giá trị thúc đẩy phát triển bền vững và an lạc cho con người và vạn vật. Họ là những nhà giáo, là những người lan truyền tri thức tới Tuệ linh, con người.

 

+   Những người luôn luôn đoàn kết tất cả Tuệ linh, con người, vạn vật, muông thú trong sự cảm thông, sẻ chia, giúp đỡ cùng nhau lan tỏa những giá trị, công trình phát triển bền vững tới Tuệ linh, con người.

 

+  Những người có hệ tư tưởng cho đến hành động luôn vì lợi ích mọi người, vạn vật và muông thú mà không màng tới bản thân họ.

 

+     Những người hành thiện cứu giúp Tuệ linh, con người, vạn vật và muông thú.

 

+    Những người thực hành phổ độ lan tỏa giá trị của giáo lý giác ngộ tới hết thảy Tuệ linh, con người. 

-   Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không giết hại hay làm tổn hại những con thú khác. Nó xả thân cứu giúp các con thú khác, nó bảo vệ và cứu giúp đồng loại của nó trong sự không gây tổn hại tới con người và muông thú khác.

 

-   Những cỏ cây luôn tỏa oxy làm trong lành và an lạc môi trường sống xung quanh.

 

-   Nước lan tỏa giá trị làm mát và nuôi dưỡng vạn vật thế gian. Nó bốc hơi để tạo thành mưa rồi tưới mát cho vạn vật cùng phát triển. Nó là sự sống luôn cho đi để ngày càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh bởi nó có trong tất cả vạn vật thế gian.

 

-    Những loại đá quý, bán quý có giá trị tỏa ra những năng lượng tốt nhằm tạo ra môi trường sống trong lành và an lạc.

 

-   Lửa, ánh sáng để soi sáng và làm ấm các dạng sống ở thế gian.

 

-    Những hành tinh có tính tỏa mạnh là các mặt trời trong Vũ trụ.

 

-   Là những cấu trúc địa chất nóng chảy, là nham thạch trong các hành tinh. Nhiệt lượng được tỏa ra để soi sáng, tạo ra sự phân tách liên kết cho vạn vật, Vũ trụ được phát triển.

 

-   Là những hạt năng lượng dương màu xanh lá, đỏ lửa, vàng. Là nguyên tử, phân tử, tế bào đa sóng điện dương.

 

 

III.     Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Tướng

 

Chân lý Vạn vật trong Tướng sẽ là: Tướng không tự sinh ra, Tướng không tự mất đi, khổ đau của Tướng không tự đến và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển sinh của Tướng chính là cơ chế “Phân tách và liên kết dây”.

 

Chân lý Vạn vật chính là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng không là không bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó, Chân lý Vạn vật, Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là tướng không. Thấu hiểu chữ Duyên thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

Để thấu hiểu được quá khứ thì ta phải truy tìm Duyên trong Duyên. Muốn tìm được Duyên trong Duyên tức là ta phải thấu hiểu bản chất, cấu tạo, cơ chế phân tách liên kết của Duyên hiện tại. Tiếp đến ta lại tìm hiểu những duyên nào liên kết thành duyên đó. Cứ tiếp tục, liên tục như vậy sẽ giúp ta truy tìm được tận cùng của quá khứ. Để truy tìm được Duyên trong Duyên cần phải thông qua cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng và môi trường có điều kiện.

 

Để thấu hiểu được tương lai thì ta phải truy tìm Duyên ngoại Duyên. Muốn thấu hiểu, biết được Duyên nào sẽ hình thành trong tương lai thì ta phải thấu hiểu bản chất và sự hợp của các Duyên hiện tại. Đó là thông qua cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng và môi trường có điều kiện hiện tại sẽ cho ta thấy được kết quả trong tương lai.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật của Tướng chính là cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định, môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Tất cả các nhóm vật chất từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất để xảy ra phân tách và liên kết thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.

 

Con người tồn tại, hiện hữu ở kiếp người này cần phải trả lời được 3 câu hỏi: 1- Ta là ai? Hoặc: Ai là ta? Trả lời được câu hỏi này sẽ giúp ta thấu hiểu quá khứ trong vô lượng kiếp, ta đến từ đâu, thành tựu đã đạt được là những gì, thiệt hại đã gây ra là những gì. 2- Sứ mệnh của ta ở kiếp này là gì? Khi thấu hiểu được ta là ai, các kiếp tu hành trong quá khứ và thành tựu hay thiệt hại đã có thì ta sẽ biết sứ mệnh của ta tại kiếp này, đó là hiện tại. 3- Chết xong ta đi về đâu? Làm được sứ mệnh hay không làm được sứ mệnh thì ta đã trả lời được tương lai của ta sẽ phải luân hồi đảo kiếp hay đọa thành súc sinh, ngã quỷ, địa ngục hay được trở về quê hương. Ta không những phải trả lời được và làm tốt nhiệm vụ ở 3 câu hỏi trên cho ta, mà còn phải trả lời được 3 câu hỏi đó cho tất cả các nhóm vật chất: Vạn vật là gì? Sứ mệnh của vạn vật? Chết xong vạn vật đi về đâu? Để trả lời được 3 câu hỏi trên chúng ta phải thấu hiểu cơ chế vận hành của Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ. Đó là cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng. Để thấu hiểu cơ chế vận hành của hai Chân lý thì chúng ta phải thấu hiểu cơ chế quay tròn, tam hợp, thông tin, hạt năng lượng tận cùng.

 

Khi chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta sẽ thấu hiểu và giải mã được vạn vật (Tướng) được sinh ra như thế nào, vạn vật mất đi do nguyên nhân nào, khổ đau của vạn vật như thế nào, vạn vật hết khổ đau khi nào, các con đường chuyển sinh của vạn vật. Thấu hiểu và giải mã được vạn vật, chúng ta sẽ trả lời được 3 câu hỏi cho chính con người và vạn vật. Từ đó, con người và vạn vật sẽ lựa chọn được con đường chuyển sinh bền vững.

 

 

1. Tướng không tự sinh ra

 

Tướng bao gồm có 5 nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Bên ngoài tinh cầu Vũ trụ có 2 nhóm vật chất. Bên trong và bao trùm toàn bộ Vũ trụ có 3 nhóm vật chất. Con người là dạng sống hóa thân của Tuệ linh, do đó chúng ta phải thấu hiểu được con người và Tuệ linh được sinh ra như thế nào.

 

Để thấu hiểu và giải mã được Tướng (5 nhóm vật chất) sinh ra như thế nào, chúng ta phải thấu hiểu “Duyên trong Duyên" của Chân lý Vạn vật. Để thấu hiểu Duyên trong Duyên của Chân lý Vạn vật thì phải thông qua bản chất, cấu tạo, cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng trong môi trường có điều kiện. Như vậy, thông qua bản chất, cấu tạo, cơ chế phân tách và liên kết, chúng ta sẽ thấu hiểu Tướng được sinh ra như thế nào. Thấu hiểu Tướng được sinh ra như thế nào chính là chúng ta thấu hiểu bản chất của Tướng ở hiện tại và thấu hiểu tận cùng quá khứ của Tướng. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta sẽ trả lời được 2 câu hỏi cho chúng ta và tất cả vạn vật: 1- Ta là ai? Và 2- Sứ mệnh của ta là gì?

 

Tất cả 5 nhóm vật chất được sinh ra đều do cơ chế “Phân tách và liên kết". Tuy nhiên, tùy từng nhóm vật chất mà có thêm các cơ chế, bản chất khác cho quá trình sinh ra Tướng.

 

Năm nhóm vật chất được sinh ra như sau: 

1.1. Nhóm vật chất cội nguồn

 

Nhóm vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh. Đây là nhóm vật chất tồn tại bên ngoài không gian tinh cầu Vũ trụ.

 

Bản chất của hạt sóng xanh chỉ là hạt sóng chưa sinh phát ra trạng thái năng lượng. Tuy nhiên hạt sóng xanh chứa đựng lượng nhiệt vô cùng lớn.

 

Cấu tạo của hạt sóng xanh không phải là tam hợp yếu tố tạo thành. Hạt sóng xanh chỉ là một yếu tố cấu tạo thành.

 

Hạt sóng xanh di chuyển thẳng và theo quỹ đạo hình xoắn ốc. Khi di chuyển sẽ phân tách thành hai cho tới nhiều hơn hạt sóng xanh khác.

 

Hạt sóng xanh được sinh ra từ những điểm kỳ dị trong không gian. Những điểm đó giống như những cái hang vô hình sinh ra các hạt sóng xanh.

 

Hạt sóng xanh di chuyển và chuyển sinh thành những hạt hoại diệt trong môi trường trung tính. Sau đó những hạt sóng xanh di chuyển và chuyển sinh thành hạt năng lượng âm và dương trong môi trường có sóng điện âm, dương. Từ hai hạt năng lượng âm dương liên kết lại mà tạo thành phôi năng lượng, tinh cầu năng lượng khổng lồ để rồi có vụ nổ lớn và kiến tạo thành Vũ trụ như ngày nay.

 

Như vậy, hạt sóng xanh (vật chất cội nguồn) được sinh ra từ những điểm kỳ dị, được hình thành và chuyển sinh thông qua cơ chế phân tách, di chuyển không quay tròn, thông qua môi trường trung tính để chuyển sinh thành năng lượng hoại diệt, thông qua môi trường sóng điện âm dương để chuyển sinh thành hạt năng lượng âm, dương. Do đó, hạt sóng xanh là Duyên (Tướng) hiện tại; Duyên trong Duyên là những yếu tố quá khứ cấu tạo, phân tách liên kết tạo ra hạt sóng xanh hiện tại; quá khứ chính là những điểm kỳ dị sinh ra với môi trường trung tính cấu tạo thành hạt sóng xanh hiện tại.

 

Từ những bản chất, cơ chế, cội nguồn, sự chuyển sinh của hạt sóng xanh, chúng ta đã trả lời được 2 câu hỏi cho nhóm vật chất này. Đó là:

 

-   Hạt sóng xanh là gì? – Nó là vật chất cội nguồn. Nó là chỉnh thể một yếu tố chưa sinh phát ra trạng thái năng lượng.

 

-    Sứ mệnh của hạt sóng xanh? – Sứ mệnh là chuyển sinh ra nhóm vật chất hoại diệt và 3 dạng vật chất trong Vũ trụ. Như vậy, sứ mệnh của nó là sinh ra Vũ trụ và nguồn vật chất (vật chất hoại diệt) để duy trì sự tồn tại và phát triển Vũ trụ.

 

 

1.2. Nhóm vật chất hoại diệt

 

Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại diệt.

 

Nhóm vật chất hoại diệt xuất hiện trước cả sự xuất hiện của

 

Vũ trụ. Hiện tại nó tồn tại cả trong và ngoài Vũ trụ.

 

Bản chất của hạt năng lượng hoại diệt là hạt sóng xanh chuyển sinh thành hạt năng lượng chưa giải phóng hết nhiệt lượng ra ngoài. Do đó, hạt năng lượng hoại diệt còn một lượng lớn nhiệt lượng chưa sinh phát ra ngoài. Hạt năng lượng hoại diệt được chuyển sinh, hình thành trong môi trường trung tính nên không có cơ chế liên kết với nhau để truyền tải sóng điện. Vì vậy, hạt năng lượng hoại diệt dễ bị sinh nhiệt dư thừa trong hạt và dễ bị kích nổ khi bị năng lượng dương tác động. Năng lượng hoại diệt sẽ giảm tải sóng điện và an toàn khi xả được sóng điện dư thừa trong hạt sang hạt năng lượng âm. Khi xả sóng điện sang hạt năng lượng âm sẽ khiến cho những hạt năng lượng âm chuyển hóa thành hạt năng lượng hoại diệt. Khi hạt năng lượng hoại diệt bị kích nổ sẽ cung cấp nhiệt lượng lớn cho các vật chất trong Vũ trụ xảy ra quá trình phân tách liên kết bền vững.

 

Hạt năng lượng hoại diệt được cấu tạo hợp thành từ 3 yếu tố: sợi mã sóng trí tuệ được chuyển sinh từ hạt sóng xanh, hình tướng hạt (hình elip), trạng thái năng lượng được sinh phát trong hạt.

 

Hạt năng lượng hoại diệt di chuyển thẳng, nó không quay tròn xung quanh chính nó, lại không liên kết để truyền tải sóng điện dư thừa. Chính vì điều này làm cho hạt năng lượng hoại diệt bị sinh nhiệt dư thừa nhanh và dễ bị kích nổ.

 

Hạt năng lượng hoại diệt được hình thành từ quá trình chuyển sinh của hạt sóng xanh trong môi trường trung tính. Do đó, cội nguồn của năng lượng hoại diệt là hạt sóng xanh và môi trường trung tính.

 

Hạt năng lượng hoại diệt chỉ tồn tại cơ chế phân tách và xả sóng điện dư thừa. Tức là năng lượng hoại diệt không có cơ chế liên kết.

 

Như vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế tồn tại của năng lượng hoại diệt, chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi cho năng lượng hoại diệt. Cụ thể:

 

-   Duyên trong Duyên của năng lượng hoại diệt:

 

+   Hạt năng lượng hoại diệt là Tướng được hình thành trước Vũ trụ. Năng lượng hoại diệt là hạt năng lượng được cấu tạo thành từ tam hợp yếu tố. 

+    Duyên trong Duyên là các yếu tố quá khứ cấu tạo thành hạt năng lượng hoại diệt. Các yếu tố quá khứ cấu tạo thành hạt năng lượng hoại diệt là hạt sóng xanh và môi trường trung tính.

 

+  Cơ chế để tạo thành Duyên trong Duyên của hạt năng lượng hoại diệt là cơ chế phân tách trong môi trường trung tính.

 

-  Hạt năng lượng hoại diệt là gì? – Hạt năng lượng hoại diệt là nhóm Tướng hoại diệt. Thông qua bản chất biểu hiện và cơ chế vận hành của hạt năng lượng hoại diệt, chúng ta thấy rằng năng lượng hoại diệt là vật chất làm phân rã các cấu trúc vật chất có đa sóng âm.

 

-   Sứ mệnh của năng lượng hoại diệt? – Hạt năng lượng hoại diệt có sứ mệnh cung cấp nhiệt lượng và dinh dưỡng cho các nhóm vật chất trong Vũ trụ chuyển sinh bền vững. Để kích hoạt được sứ mệnh của năng lượng hoại diệt, dạng sống Tuệ linh (siêu vật chất) cần phải vận hành nhóm vật chất giản đơn và phức tạp kích nổ được năng lượng hoại diệt.

 

 

1.3. Nhóm siêu vật chất

 

Nhóm siêu vật chất gồm có: năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp; Tuệ linh và linh hồn muông thú đã được an trụ trong thân tướng con người; những siêu hạt năng lượng.

 

Cội nguồn của nhóm siêu vật chất là đều được hình thành sau vụ nổ lớn cấu tạo thành Vũ trụ. Đó là từ hai hạt sóng xanh chuyển sinh thành hai hạt âm dương trong môi trường sóng điện âm và dương. Hai hạt năng lượng liên kết

lại tạo thành phôi năng lượng. Từ phôi năng lượng chuyển sinh thành Trụ linh và tinh cầu năng lượng khổng lồ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Khi đó, tinh cầu năng lượng khổng lồ phát nổ và bắt đầu cho quá trình chuyển sinh từ năm nhóm hạt siêu phức tạp thành các Tuệ linh. Từ Tuệ linh tu luyện Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng.

 

Bản chất của nhóm siêu vật chất được coi là trí tuệ của Vũ trụ. Nhóm siêu vật chất sẽ vận hành và thúc đẩy cả Vũ trụ phát triển bền vững.

 

Cấu tạo của nhóm siêu vật chất là tam hợp yếu tố mà hình thành. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp đều được hình thành từ sợi mã sóng trí tuệ, hình tướng của hạt, trạng thái năng lượng trong hạt. Tuệ linh được cấu tạo từ 3 yếu tố, đó là Trụ – Trí (tổng mã sóng trí tuệ), Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng), hình tướng Tuệ linh. Các siêu hạt năng lượng cũng được hình thành từ 3 yếu tố là siêu sợi mã sóng trí tuệ, hình tướng của hạt siêu năng lượng, siêu trạng thái năng lượng.

 

Nhóm siêu vật chất có cơ chế vận động là quay tròn. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng quay tròn xung quanh chính nó theo đặc tính sóng điện, hạt năng lượng âm quay ngược chiều kim đồng hồ, hạt năng lượng dương quay thuận chiều kim đồng hồ, hạt trung tính quay thuận hay ngược tùy theo việc nó liên kết với hạt năng lượng nào. Tuệ linh sẽ có sự tuần hoàn sóng điện âm, dương, trung tính trong bản thể của họ. Siêu hạt năng lượng cũng quay tròn xung quanh chính siêu hạt, siêu hạt vàng óng ánh quay thuận, siêu hạt xanh lưu ly quay ngược, siêu hạt chân tâm liên kết và quay tròn theo siêu hạt vàng óng ánh. 

Nhóm siêu vật chất được hình thành và chuyển sinh bởi cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng. Cụ thể nhóm vật chất này được phân tách ra từ phôi năng lượng âm dương gốc của tinh cầu Vũ trụ. Khi có năm nhóm năng lượng với mã sóng siêu phức tạp, lại được dưỡng trong môi trường có nhiệt lượng sóng điện đảm bảo, các hạt năng lượng siêu phức tạp này liên kết với nhau để tạo thành phôi âm dương. Tiếp tục quá trình phân tách và liên kết liên tục đã tạo thành Trụ linh và Tuệ linh. Từ Tuệ linh, cũng thông qua cơ chế phân tách liên kết mà cải tạo Trụ linh thành bộ lọc để sản sinh (phân tách) ra các siêu hạt năng lượng.

 

Như vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế quay tròn, cơ chế hình thành và chuyển sinh của nhóm siêu vật chất, chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi cho nhóm siêu vật chất. Cụ thể:

 

-   Duyên trong Duyên của nhóm siêu vật chất:

 

+  Duyên (Tướng) hiện tại của nhóm siêu vật chất chính là bản chất đang bộc phát: nhóm siêu vật chất là nhóm vật chất tinh hoa nhất trong và ngoài Vũ trụ; nhóm siêu vật chất có sự tuần hoàn sóng điện âm, dương, trung tính bởi cơ chế liên kết dây; nhóm siêu vật chất có khả năng di chuyển và cải tạo Vũ trụ.

 

+  Duyên trong Duyên của nhóm siêu vật chất là các yếu tố cấu tạo, chuyển sinh thành. Đó là tìm hiểu quá khứ của nhóm siêu vật chất. Đó là: các siêu hạt năng lượng có 3 yếu tố cấu tạo thành và được phân tách từ Trụ linh của Tuệ linh; Tuệ linh được cấu tạo từ 3 yếu tố và được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp thông qua cơ chế phân tách và liên kết; phôi năng lượng âm dương được liên kết từ những hạt năng lượng âm dương tận cùng bởi phôi âm dương gốc của Vũ trụ phân tách ra.

 

-    Nhóm siêu vật chất là gì? – Là dạng sống siêu việt nhất của trong và ngoài Vũ trụ. Bởi họ là dạng năng lượng siêu phức tạp.

 

-   Sứ mệnh của nhóm siêu vật chất? – Sứ mệnh là duy trì tự tồn tại, phát triển bền vững của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Dạng sống Tuệ linh là dạng sống thực hiện sứ mệnh đó.

 

 

1.4. Nhóm vật chất phức tạp

 

Nhóm vật chất phức tạp gồm có năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ phức tạp và những cấu trúc năng lượng linh hồn an trụ trong cỏ cây, đất đá, muông thú.

 

Cội nguồn của nhóm vật chất phức tạp là đều được hình thành sau vụ nổ lớn cấu tạo thành Vũ trụ. Đó là từ hai hạt sóng xanh chuyển sinh thành hai hạt âm dương trong môi trường sóng điện âm và dương. Hai hạt năng lượng liên kết lại tạo thành phôi năng lượng. Từ phôi năng lượng chuyển sinh thành Trụ linh và tinh cầu năng lượng khổng lồ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Khi đó, tinh cầu năng lượng khổng lồ phát nổ và bắt đầu cho quá trình chuyển sinh từ năm nhóm hạt năng lượng phức tạp thành các trường năng lượng, thành linh hồn cỏ cây, linh hồn đất đá, linh hồn muông thú.

 

Bản chất của nhóm vật chất phức tạp là được nhóm siêu vật chất vận hành để an trụ trong nhóm vật chất giản đơn, để vận hành nhóm vật chất giản đơn. Sự vận hành này giúp cho cả 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ nương tựa nhau để xảy ra các cơ chế và quá trình phân tách liên kết mang tính phát triển bền vững.

 

Cấu tạo của nhóm vật chất phức tạp đều được hình thành từ 3 yếu tố, gọi là tam hợp. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng gồm có sợi mã sóng trí tuệ, hình tướng hạt năng lượng, trạng thái năng lượng sinh phát. Linh hồn của cỏ cây, đất đá, muông thú gồm có Trụ – Trí, Trụ – Tâm, hình tướng linh hồn.

 

Nhóm vật chất phức tạp có cơ chế quay tròn và tuần hoàn sóng điện giống như cấu trúc của siêu vật chất. Đó là các hạt năng lượng tận cùng quay tròn xung quanh chính nó theo đặc tính sóng điện âm, dương. Sóng điện âm, dương sẽ tuần hoàn trong cấu trúc linh hồn.

 

Nhóm vật chất phức tạp có cơ chế phân tách, liên kết để hình thành và chuyển sinh nâng cấp cấu trúc cũng giống như nhóm siêu vật chất. Đó là thông qua môi trường có sóng điện âm, dương, trung tính sẽ xảy ra quá trình phân tách và liên kết.

 

Như vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế quay tròn, cơ chế hình thành và chuyển sinh của nhóm vật chất phức tạp, chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi cho nhóm vật chất phức tạp. Cụ thể:

 

-   Duyên trong Duyên của nhóm vật chất phức tạp:

 

+   Duyên (Tướng) hiện tại là những trường năng lượng âm dương khác nhau để vận hành Vũ trụ quay tròn; là các cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, cỏ cây ở khắp các hành tinh để thúc đẩy quá trình phân tách của vật chất giản đơn. +   Duyên trong Duyên là những cấu trúc quá khứ cấu tạo thành Duyên hiện tại. Đó là thông qua cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng trong môi trường sóng điện âm hoặc dương mà tạo thành trường năng lượng vận hành Vũ trụ, và tạo thành các cấu trúc linh hồn. Đó là từ các hạt năng lượng âm dương tận cùng mà liên kết và phân tách để cấu tạo thành.

 

-   Nhóm vật chất phức tạp là gì? – Là nhóm năng lượng vận hành Vũ trụ (các khối thiên hà) quay tròn; là các cấu trúc linh hồn an trụ trong vật chất giản đơn để giúp vật chất giản đơn xảy ra quá trình phân tách liên kết.

 

-   Sứ mệnh của nhóm vật chất phức tạp? – Là nhóm vật chất (năng lượng) duy trì và phát triển sự sống của nhóm vật chất giản đơn (tinh cầu Vũ trụ với vô số các khối thiên hà).

 

 

1.5. Nhóm vật chất giản đơn

 

Nhóm vật chất giản đơn gồm có các khối thiên hà, các hành tinh, trái đất, cỏ, cây, đất, đá, kim loại, nước, khí, phân tử, nguyên tử, tế bào, muông thú, con người… Trong đó, đặc biệt nhất là con người và muông thú. Con người và muông thú không đơn thuần là nhóm vật chất giản đơn. Con người được coi là siêu phức tạp, tiếp đến là muông thú.

 

Cội nguồn của nhóm vật chất giản đơn là đều được hình thành sau vụ nổ lớn cấu tạo thành Vũ trụ. Đó là từ hai hạt sóng xanh chuyển sinh thành hai hạt âm dương trong môi trường sóng điện âm và dương. Hai hạt năng lượng liên kết lại tạo thành phôi năng lượng. Từ phôi năng lượng chuyển sinh thành Trụ linh và tinh cầu năng lượng khổng lồ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Khi đó, tinh cầu năng lượng khổng lồ phát nổ và bắt đầu cho quá trình chuyển sinh từ năm nhóm hạt năng lượng giản đơn thành các cấu trúc vật chất giản đơn.

 

Bản chất của nhóm vật chất giản đơn là được nhóm vật chất phức tạp an trụ bên trong để xảy ra quá trình phân tách liên kết. Đặc biệt con người được Tuệ linh an trụ để tu tập và sản sinh ra các siêu hạt năng lượng phục vụ cho việc phát triển Vũ trụ bền vững.

 

Cấu tạo của nhóm vật chất giản đơn đều được hình thành từ 3 yếu tố, gọi là tam hợp. Có mã sóng trí tuệ, hình tướng và trạng thái năng lượng trong mỗi cấu trúc vật chất giản đơn từ hạt năng lượng tận cùng cho tới cả Vũ trụ.

 

Nhóm vật chất giản đơn có cơ chế quay tròn để tuần hoàn sóng điện trong bản thể cấu trúc vật chất giản đơn. Việc quay tròn sẽ sinh nhiệt ấm để cấu trúc giản đơn xảy ra quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng.

 

Nhóm vật chất giản đơn có cơ chế phân tách, liên kết dây. Cơ chế này giúp cho nhóm vật chất giản đơn được vận động và không ngừng nghỉ phát triển. Thông qua cơ chế này sẽ giúp cho nhóm vật chất phức tạp an trụ bên trong được chuyển sinh nâng cấp. Cũng thông qua cơ chế này sẽ giúp cho Tuệ linh an trụ trong con người để chuyển sinh nâng cấp.

 

Như vậy, thông qua cội nguồn, bản chất, cấu tạo, cơ chế quay tròn, cơ chế hình thành và chuyển sinh của nhóm vật chất giản đơn, chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi cho nhóm vật chất giản đơn. Cụ thể:

 

-   Duyên trong Duyên của nhóm vật chất giản đơn:

 

+  Những cấu trúc vật chất giản đơn hiện tại là hạt năng lượng tận cùng, Trụ linh, nguyên tử, phân tử, tế bào, kim loại, khí, nước, cỏ cây, đất đá, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Duyên trong Duyên là các cấu trúc, yếu tố cấu tạo thành vật chất hiện tại. Đó là do tam hợp, do có nhóm siêu vật chất vận hành, do có nhóm vật chất phức tạp an trụ. Những yếu tố cấu tạo và vận hành nhóm vật chất giản đơn là để tất cả cùng nương tựa nhau để quá trình phân tách liên kết bền vững được xảy ra. Ví dụ Trái đất là cấu tạo của vô số các kim loại, đất đá, chất lỏng, nước, cỏ cây, con người, muông thú. Cỏ cây lại được cấu tạo bởi vô số tế bào gỗ với quá trình phân tách liên kết hạt năng lượng giản đơn. Đất đá, kim loại cũng là được cấu tạo bởi vô số các phân tử, các phân tử lại được liên kết bởi vô số các nguyên tử, các nguyên tử lại được liên kết bởi vô số Trụ linh của năng lượng giản đơn, Trụ linh của năng lượng giản đơn được liên kết bởi vô số hạt năng lượng âm, dương, trung tính tận cùng. Thấu hiểu cấu tạo và cơ chế phân tách liên kết sẽ thấu hiểu Duyên trong Duyên của vạn vật.

 

Duyên trong Duyên của con người: Con người là hiện tại. Quá khứ của hiện tại là con người được hình thành từ tam hợp, đó là thân tướng do cha mẹ sinh ra, trí tuệ do trau dồi mà có, Tâm là Tuệ linh/ linh hồn an trụ. Tuệ linh, linh hồn lại là quá khứ của con người hiện tại ở kiếp này. Tuệ linh, linh hồn lại là tam hợp cấu tạo mà thành. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết trong môi trường đảm bảo, chúng ta sẽ thấu hiểu và giải mã được Tuệ linh được hình thành từ phôi âm dương. Từ phôi âm dương tương tác trong môi trường có sóng điện âm dương khác nhau mà chuyển sinh thành Trụ linh và Tuệ linh có bản chất đa âm hay đa dương. Từ Tuệ linh có bản chất đa âm hay đa dương mà tạo ra bản chất, tính cách con người trong nhiều kiếp. Thông qua những biểu hiện của con người hiện tại, chúng ta sẽ thấu hiểu bản chất Tuệ linh. Thông qua bản chất Tuệ linh, chúng ta sẽ thấu hiểu những hành động, biểu hiện của kiếp quá khứ. Cứ như vậy, chúng ta sẽ thấu tận cùng về bản chất của hạt âm dương cấu tạo thành Tuệ linh và con người ta ở hiện kiếp. Ví dụ có một người có nhiều hành động gây tổn hại tới mọi người. Như thế trong Tuệ linh của họ có đa năng lượng âm. Việc đa năng lượng âm là bản chất tiền kiếp và nhiều kiếp về trước họ cũng có những hành động tạo ra những tổn thương tới mọi người. Bản chất đó là do phôi âm dương gốc của họ đa âm sẵn.

 

-   Nhóm vật chất giản đơn là gì?

 

+   Những cấu trúc vật chất giản đơn là hình tướng của

 

Vũ trụ.

 

+    Con người là môi trường, hóa thân của dạng sống Tuệ linh tu hành.

 

- Sứ mệnh của nhóm vật chất giản đơn là gì?

 

+    Những cấu trúc vật chất giản đơn tạo thành môi trường tương tác và chuyển sinh cho vật chất phức tạp và siêu vật chất.

 

+   Con người chuyển sinh Trụ linh của Tuệ linh an trụ trong mình thành bộ lọc năng lượng. Việc chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng sẽ giúp Trụ linh sản sinh ra các siêu hạt để duy trì và phát triển bền vững trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

Tướng không tự mất đi 

Các nhóm vật chất mất đi được hiểu theo hai nghĩa: 1-Mất đi tướng hiện tại để chuyển sinh nâng cấp thành tướng mới; 2- Mất đi là sự phân rã hoại diệt vĩnh viễn tướng hiện tại trong tương lai. Nếu tướng hiện tại mất đi để chuyển sinh thành tướng mới trong tương lai là do cơ chế phân tách liên kết theo hướng bền vững. Nếu tướng hiện tại bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn trong tương lai là do cơ chế chuyển sinh bị phân rã, đứt liên kết mà hoại diệt.

 

Các nhóm vật chất mất đi là do có cơ chế vận hành. Cụ thể như sau:

 

-    Nhóm vật chất cội nguồn: Hạt sóng xanh bị mất đi hình tướng ban đầu và chuyển sinh thành hạt năng lượng hoại diệt hoặc hạt năng lượng có sóng điện âm, dương, trung tính. Sự mất đi của hạt sóng xanh là do cơ chế phân tách. Hạt sóng xanh không phải là mất đi vĩnh viễn hay bị kích nổ mà hoại diệt. Hạt sóng xanh do cơ chế phân tách mà chuyển sinh thành các loại hạt năng lượng. Đặc biệt quá trình chuyển sinh thành hạt năng lượng, hạt sóng xanh đã cấu tạo thành sợi mã sóng trí tuệ có có lưu giữ thông tin trong sợi. Đây là sự chuyển sinh mang tính phát triển bền vững các cấu trúc vật chất mới.

 

-    Nhóm vật chất hoại diệt: Hạt năng lượng hoại diệt được hình thành bởi cơ chế phân tách từ hạt sóng xanh. Nó không liên kết để duy trì sự tồn tại bền vững hoặc chuyển sinh nâng cấp cấu trúc. Hạt năng lượng hoại diệt duy trì sự tồn tại bằng cơ chế xả sóng điện dư thừa (thối hóa) trong hạt đến các cấu trúc vật chất có sóng điện âm. Khi năng lượng hoại diệt bị mất chính là bị kích nổ bởi năng lượng dương hoặc dư thừa nhiệt lượng lớn trong nó. Khi bị kích nổ, nó không còn tồn tại ở thể hạt nào nữa. Đây là sự hoại diệt vĩnhviễn. Sự hoại diệt vĩnh viễn này lại là nguồn cung ứng nhiệt lượng cho các cấu trúc vật chất trong Vũ trụ hấp thụ và phân tách liên kết mang tính bền vững.

 

-    Nhóm siêu vật chất: Những hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp, những Tuệ linh, những siêu hạt năng lượng bị mất theo hai nghĩa:

 

+   Mất theo nghĩa chuyển sinh nâng cấp cấu trúc chính là thực hành đời sống phân tách liên kết bền vững. Đó là các hạt năng lượng âm dương liên kết với nhau tạo thành phôi năng lượng âm dương, từ đó phân tách, liên kết liên tục để trở thành Trụ linh và trở thành Tuệ linh. Tuệ linh thông qua cơ chế phân tách liên kết bền vững để trưởng thành và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Từ bộ lọc năng lượng phân tách ra các siêu hạt, các siêu hạt lại liên kết đến vạn vật để duy trì sự phát triển bền vững của vạn vật.

 

+   Mất theo nghĩa bị phân rã và hoại diệt là do siêu vật chất thực hành đời sống phân tách liên kết theo hướng phân rã. Đó là sản sinh ra nhiều hạt năng lượng âm. Điều này khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu và di chuyển ồ ạt vào để đồng hóa, làm đứt liên kết, phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.

 

-    Nhóm vật chất phức tạp: Năng lượng vận hành vật chất giản đơn, các cấu trúc linh hồn mất theo hai nghĩa:

 

+   Mất theo nghĩa chuyển sinh nâng cấp cấu trúc chính là thực hành đời sống phân tách liên kết bền vững. Các trường năng lượng sẽ an trụ trong vật chất giản đơn và nâng cấp thành các linh hồn cỏ cây, đất đá, sau đó chuyển sinh thành linh hồn muông thú, sau đó chuyển sinh thành linh hồn con người. 

+    Mất theo nghĩa phân rã và hoại diệt chính là thực hành đời sống phân tách và liên kết phân rã. Đó là sản sinh ra nhiều hạt năng lượng âm trong cấu trúc. Khi đó năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu của sóng điện âm sẽ di chuyển ồ ạt vào để đồng hóa, làm đứt liên kết, phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.

 

-   Nhóm vật chất giản đơn: Những hạt năng lượng tận cùng giản đơn, những Trụ linh, nguyên tử, phân tử, tế bào, cỏ cây, đất đá, kim loại, khí, nước, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ mất theo hai nghĩa:

 

+   Mất theo nghĩa chuyển sinh nâng cấp thành các cấu trúc mới. Đó là do thực hành đời sống phân tách và liên kết bền vững. Từ hạt năng lượng thành Trụ linh, nhiều Trụ linh thành nguyên tử, nhiều nguyên tử thành phân tử, nhiều phân tử thành tế bào, nhiều tế bào thành cỏ cây, đất đá… Vũ trụ.

 

+    Mất theo nghĩa phân rã và hoại diệt chính là thực hành đời sống phân tách và liên kết phân rã. Đó là sản sinh ra nhiều hạt năng lượng âm trong cấu trúc. Khi đó năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu của sóng điện âm sẽ di chuyển ồ ạt vào để đồng hóa, làm đứt liên kết, phân rã và hoại diệt vĩnh viễn. Đó chính là quá trình năng lượng hoại diệt đồng hóa toàn bộ cấu trúc vật chất do cấu trúc vật chất đa âm. Điển hình là những cơn bão năng lượng hoại diệt đã làm phân rã rất nhiều cấu trúc hành tinh.

 

-    Con người: Con người là trường hợp đặc biệt duy nhất trong Vũ trụ bởi con người là hóa thân của Tuệ linh. Khi con người mất gắn liền với sự mất của Tuệ linh. Cụ thể:

 

Mất theo nghĩa hoại diệt thân tướng. Khi thân tướng hoại diệt thì đó là sự hoại diệt vĩnh viễn của thân tướng. Sự hoại diệt vĩnh viễn này là sự đứt liên kết của các tế bào trong cơ thể và sự tách ra hoàn toàn của bản thể Tuệ linh trong thân tướng con người.

 

+  Mất theo nghĩa hoại diệt vĩnh viễn của Tuệ linh. Đó là khi Tuệ linh đó nhiều đời thực hành đời sống phân tách liên kết theo hướng phân rã và hoại diệt, trong Tuệ linh sẽ đa năng lượng âm, năng lượng hoại diệt sẽ di chuyển ồ ạt vào đồng hóa, làm đứt liên kết năng lượng và phân rã hoàn toàn Tuệ linh. Trường hợp Tuệ linh hoại diệt vĩnh viễn cũng là thời điểm hoại diệt của thân tướng.

 

+  Mất theo nghĩa chuyển sinh nâng cấp Trụ linh và Tuệ linh. Đó là Tuệ linh nhiều đời thực hành đời sống phân tách và liên kết bền vững. Khi đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh sẽ được nâng cấp và đạt đến bộ lọc năng lượng để sản sinh ra siêu hạt năng lượng. Các Tuệ linh trên hành trình chuyển sinh bền vững sẽ tỏa ra sóng điện với những hào quang ngũ sắc hoặc hào quang của các siêu năng lượng.

 

Thấu hiểu được cơ chế của việc các Tướng mất đi, chúng ta đều trả lời được câu hỏi thứ 3 – Chết xong sẽ đi về đâu. Việc từng nhóm vật chất có thực hành được sứ mệnh của mình hay không sẽ trả lời được câu hỏi đó. Nếu không thực hành được sứ mệnh sẽ hoại diệt vĩnh viễn. Nếu thực hành được sứ mệnh sẽ chuyển sinh nâng cấp và bền vững.

 

Con người là hóa thân của Tuệ linh. Việc con người hoàn thành được sứ mệnh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng sẽ giúp cho Tuệ linh được trở về cội nguồn (không gian lõi của Vũ trụ). Tuệ linh khi đó sẽ hòa nhập với toàn bộ Vũ trụ, sẽ bất tử và duy trì được sự phát triển bền vững cho tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Nếu con người không hoàn thành sứ mệnh, sau khi hoại diệt thân tướng, Tuệ linh sẽ đọa địa ngục, ngã quỷ hay cô hồn, tiếp tục phải luân hồi. Đặc biệt nếu thực hành đời sống phân tách liên kết hạt năng lượng âm sẽ nhanh dẫn tới phân rã và hoại diệt Tuệ linh.

 

 

3. Khổ đau của Tướng

 

Để thấu hiểu được tận cùng về khổ đau của tất cả các Tướng, chúng ta phải thấu hiểu được tận cùng các Tướng. Đó là thấu hiểu việc các Tướng được cấu tạo từ hạt năng lượng tận cùng, trong mỗi hạt năng lượng lại có mã sóng trí tuệ. Các cấu trúc Tướng được hình thành và phát triển nâng cấp hay phân rã là do cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng. Cơ chế phân tách và liên kết xảy ra trong môi trường có sóng điện và cơ chế quay tròn của từ hạt năng lượng tận cùng cho tới các Tướng có cấu trúc lớn hơn và cả Vũ trụ. Vậy, bản chất xuyên suốt của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ là hạt năng lượng tận cùng. Khi trí tuệ ta thấu hiểu được điều này, ta sẽ giải mã và thấu hiểu được bản chất tận cùng về khổ đau của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là khổ đau của con người và Tuệ linh. Từ đó sẽ tìm ra con đường chấm dứt khổ đau.

 

Bản chất tận cùng về khổ đau của tất cả các Tướng là gì? – Đó là sự biến đổi mã sóng trí tuệ theo hướng phân rã và hoại diệt trong cấu trúc Tướng. Cụ thể:

 

-    Tất cả các hạt năng lượng tận cùng của tất cả các nhóm vật chất đều phải đấu tranh, duy trì sự tồn tại của chính mình. Khi đó, mã sóng trí tuệ trong hạt sẽ phải kiểm soát chính nó để không bị chi phối bởi những cấu trúc Tướng khác.

 

-    Các cấu trúc Tướng từ phôi năng lượng âm dương cho tới tất cả các nhóm vật chất đều diễn ra quá trình đấu tranh để duy trì sự cân bằng hoặc sự kiểm soát mã sóng trí tuệ giữa các hạt năng lượng âm dương với nhau.

 

-   Các cấu trúc Tướng của tất cả các nhóm vật chất sẽ xảy ra quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ bởi quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng. Tức là khi cấu trúc Tướng phân tách một hạt năng lượng và sau đó là liên kết hạt năng lượng đó vào chính cấu trúc Tướng. Quá trình này diễn ra sự biến đổi từ đặc tính sóng điện có sẵn của Tướng với sóng điện của hạt năng lượng mới được phân tách ra.

 

Bản chất khổ đau của con người và Tuệ linh: Tuệ linh hóa thân làm con người và trải nghiệm đời sống tu hành ở nhân gian với vô số kiếp. Mỗi kiếp là một thân tướng khác nhau, có khi là người bệnh, có khi là người nghèo, người giàu, có tri thức, không có tri thức, bị chết trẻ, người thân chết trẻ, gia đình ly tán, chiến tranh… Mục đích của việc trải nghiệm trong các thân tướng khác nhau là để trải nghiệm quá trình phân tách liên kết hạt năng lượng sẽ theo hướng nào trong những hoàn cảnh và điều kiện môi trường khác nhau. Khi đó, từng hoàn cảnh khác nhau, từng thân tướng khác nhau, từng môi trường sóng điện khác nhau, từng bản thể con người khác nhau, Trụ linh của Tuệ linh sẽ phân tách liên kết hạt năng lượng theo hướng bền vững hay phân rã hoại diệt. Sự trải nghiệm của tất cả các Tuệ linh khi tu hành ở nhân gian là để phôi năng lượng âm dương gốc bộc phát được hết độc của hạt âm và thiện của hạt dương. Quá trình này sẽ được hội đồng Tuệ linh tổng hợp và tìm ra phương pháp chuyển sinh bền vững cho tất cả Tuệ linh áp dụng theo. Khi phân tách, liên kết bất cứ hạt năng lượng theo hướng chuyển sinh nào thì nó đều diễn ra quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ từ khi phân tách cho đến khi liên kết lại.

 

Khi bản chất của khổ đau tận cùng là biến đổi mã sóng trí tuệ! Khi mà chuyển sinh theo hướng phân rã hay bền vững cũng đều xảy ra quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ! Vậy làm thế nào để hết khổ đau? Hay nói cách khác là cơ chế nào để chấm dứt khổ đau của tất cả các Tướng?

 

Để trả lời được cơ chế nào chấm dứt khổ đau, chúng ta sẽ phân tích các con đường chuyển sinh. Khi đó, chúng ta sẽ thấu hiểu và thực hành đời sống chuyển sinh để chấm dứt khổ đau. Cụ thể:

 

+    Khi thực hiện con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt: đó là cấu trúc Tướng phân tách ra các hạt năng lượng âm. Khi phân tách ra các hạt năng lượng âm, các hạt năng lượng âm sẽ tạo ra sự kích động, thu tín hiệu mạnh khiến cho năng lượng hoại diệt di chuyển ồ ạt vào Tướng. Khi đó, Tướng sẽ bị đồng hóa, đứt liên kết và phân rã. Nếu phân tách ra nhiều hạt âm, sóng điện âm lại mạnh, sẽ làm cho quá trình phân rã và hoại diệt diễn ra nhanh. Quá trình chuyển sinh theo con đường phân rã sẽ làm cho quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ diễn ra vô cùng khốc liệt, đau đớn cho đến khi hoại diệt. Đây không phải là con đường cũng như đíchlà điều đặc biệt. Năng lượng chân tâm sẽ làm chất kết dính để kết nối các hạt năng lượng dương với nhau trong cấu trúc Tướng. Quá trình phân tách hạt năng lượng dương sẽ khiến cho cấu trúc Tướng có khả năng kiểm soát việc phân tách ra những hạt năng lượng âm với sóng điện âm rất nhẹ. Điều này sẽ giúp cho hệ thống hạt năng lượng âm của cấu trúc Tướng không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển vào ồ ạt. Vì có nhiều năng lượng dương và chân tâm nên cấu trúc Tướng đủ sức mạnh kích nổ một lượng ít năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Lượng nhiệt từ những vụ kích nổ đó sẽ giúp cho cấu trúc Tướng chuyển sinh bền vững hơn, phân tách ra các hạt năng lượng dương và chân tâm nhiều hơn. Khi cấu trúc Tướng ban đầu phân tách ra các hạt năng lượng dương trên con đường chuyển sinh bền vững, quá trình liên kết sẽ xuất hiện sự biến đổi mã sóng trí tuệ. Quá trình phân tách và liên kết liên tục theo hướng bền vững sẽ chấm dứt hiện tượng biến đổi mã sóng trí tuệ. Có thể nói, bước đầu tiên trên con đường chuyển sinh bền vững sẽ xuất hiện sự biến đổi do chưa thích nghi. Tuy nhiên, càng thực hành đời sống chuyển sinh bền vững sẽ chấm dứt sự biến đổi do đã thích nghi. Con đường chuyển sinh bền vững của Tướng đạt đến đỉnh cao nhất là cấu trúc Trụ linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng. Chỉ có bộ lọc năng lượng mới hấp thụ và kích nổ được vô số năng lượng hoại diệt trong sự an toàn, mới phân tách được ra vô số các siêu hạt năng lượng.

 

Đối với con người và Tuệ linh, để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, để chấm dứt khổ đau, chỉ có con đường duy nhất là chuyển sinh theo hướng bền vững. Tuy nhiên, con đường chuyển sinh bền vững này sẽ không có sự hưởng thụ giả tướng, thay vào đó là sự vất vả và gian truân. đến của việc chấm dứt khổ đau.

 

+   Khi thực hành con đường chuyển sinh bền vững: đó là cấu trúc Tướng thực hành đời sống sản sinh ra các hạt năng lượng dương. Khi sản sinh ra các hạt năng lượng dương sẽ đồng thời sản sinh thêm các hạt năng lượng chân tâm, đó là điều đặc biệt. Năng lượng chân tâm sẽ làm chất kết dính để kết nối các hạt năng lượng dương với nhau trong cấu trúc Tướng. Quá trình phân tách hạt năng lượng dương sẽ khiến cho cấu trúc Tướng có khả năng kiểm soát việc phân tách ra những hạt năng lượng âm với sóng điện âm rất nhẹ. Điều này sẽ giúp cho hệ thống hạt năng lượng âm của cấu trúc Tướng không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển vào ồ ạt. Vì có nhiều năng lượng dương và chân tâm nên cấu trúc Tướng đủ sức mạnh kích nổ một lượng ít năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Lượng nhiệt từ những vụ kích nổ đó sẽ giúp cho cấu trúc Tướng chuyển sinh bền vững hơn, phân tách ra các hạt năng lượng dương và chân tâm nhiều hơn. Khi cấu trúc Tướng ban đầu phân tách ra các hạt năng lượng dương trên con đường chuyển sinh bền vững, quá trình liên kết sẽ xuất hiện sự biến đổi mã sóng trí tuệ. Quá trình phân tách và liên kết liên tục theo hướng bền vững sẽ chấm dứt hiện tượng biến đổi mã sóng trí tuệ. Có thể nói, bước đầu tiên trên con đường chuyển sinh bền vững sẽ xuất hiện sự biến đổi do chưa thích nghi. Tuy nhiên, càng thực hành đời sống chuyển sinh bền vững sẽ chấm dứt sự biến đổi do đã thích nghi. Con đường chuyển sinh bền vững của Tướng đạt đến đỉnh cao nhất là cấu trúc Trụ linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng. Chỉ có bộ lọc năng lượng mới hấp thụ và kích nổ được vô số năng lượng hoại diệt trong sự an toàn, mới phân tách được ra vô số các siêu hạt năng lượng.

 

Đối với con người và Tuệ linh, để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, để chấm dứt khổ đau, chỉ có con đường duy nhất là chuyển sinh theo hướng bền vững. Tuy nhiên, con đường chuyển sinh bền vững này sẽ không có sự hưởng thụ giả tướng, thay vào đó là sự vất vả và gian truân. Nhưng, khi thành công, Tuệ linh sẽ bất tử, sẽ hòa nhập với Vũ trụ, sẽ sản sinh ra các siêu hạt năng lượng để duy trì sự tồn tại và phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

4. Các con đường chuyển sinh của Tướng

 

Con đường chuyển sinh của các Tướng gồm có Kết, Định, Tỏa. Con đường chuyển sinh của các Tướng là Kết, được gọi là Tướng Kết. Con đường chuyển sinh của các Tướng là Định, được gọi là Tướng Định. Con đường chuyển sinh của các Tướng là Tỏa, được gọi là Tướng Tỏa.

 

Con đường chuyển sinh của các Tướng chỉ bao gồm 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.

 

 

4.1. Tướng Kết đối với con đường chuyển sinh

 

Tướng Kết là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không vì lợi ích của hết thảy Tướng khác, thậm chí là gây tổn hại tới các Tướng khác.

 

Khi các Tướng thực hiện phân tách liên kết trong bản chất là Kết, năng lượng âm sẽ được phân tách ra vô số hạt từ Trụ linh. Chúng sẽ liên kết lại tạo thành những hạt năng lượng âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện đời sống là Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là hạt năng lượng dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ liên kết mở rộng. Trong khi đó các hạt năng lượng âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương ít ỏi có cùng nội dung thông tin tương ứng. Các hạt năng lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng đó bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.

 

Như vậy, các Tướng mà thực hiện cơ chế phân tách, liên kết với bản chất Kết chính là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.

 

Nguyên nhân hoại diệt của Tướng Kết là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn công vào, Tướng Kết không có hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.

 

Khổ đau chính là sự phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ. Nguyên nhân của khổ đau là do các Tướng thực hiện cơ chế phân tách liên kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn công gây đứt liên kết mà hoại diệt.

 

Như vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy Tướng thực hiện đời sống Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.

 

 

4.2. Tướng Định đối với con đường chuyển sinh

Tướng Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Kết cũng không Tỏa. Tướng Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của Tướng đó.

 

Tướng thực hiện bản chất Định, tức là họ phân tách liên kết hạt năng lượng rất chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt tấn công.

 

Vì bản chất Tướng thực hành đời sống Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh mà không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi có năng lượng hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó duy trì Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.

 

Nếu Tướng Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Tỏa thì nó có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy Tướng của Vũ trụ.

 

 

4.3. Tướng Tỏa đối với con đường chuyển sinh

 

Tướng Tỏa là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản thể Tướng mình. Đó là vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.

 

Khi các Tướng thực hiện đời sống với bản chất là Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số các hạt năng lượng sóng điện dương. Trước khi phân tách ra được các hạt năng lượng sóng điện dương thì cũng là quá trình phân tách ra các hạt năng lượng sóng điện âm ở mức rất nhẹ. Các hạt năng lượng dương được phân tách ra nhiều sẽ giúp cho cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa, các hạt năng lượng dương đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế liên kết 3 vùng: từ Trụ linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống Tỏa, các Tướng sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ, phát triển bền vững hơn. Các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển ít cho tới vừa đủ.

 

Việc các Tướng thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững cho Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.

 

Trong 3 Tướng trên, Tướng Tỏa có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất. Tướng Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt. Tướng Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tướng. Tuy nhiên, nếu các Tướng trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống riêng biệt theo 1 trong 3 Tướng trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh bền vững nhất. Bởi, để Tướng Tỏa được phải có Kết vừa đủ. Tướng Kết để không hoại diệt phải biết Tỏa. Tướng Định để phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện Kết trước, sau đó thực hiện Tỏa.

 

Như vậy, Chân lý Vạn vật với cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng, quay tròn, tam hợp cho thấy: Tướng để tồn tại, phát triển bền vững thì cần phải thấu hiểu cả Kết, Định, Tỏa của tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, từ đó thực hành đời sống hài hòa cả Kết – Định – Tỏa mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của Tướng

 

Chân lý Giác ngộ trong Tướng là: Tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ đều là khổ. Các Tướng phải dùng Định (chân tâm) trong Trụ linh để thấu hiểu, chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa và phát triển bền vững cho tất cả các Tướng. Tiên phong là Tuệ linh và con người.

 

Cơ chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết hạt năng lượng. Cơ chế phân tách, liên kết hạt năng lượng cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết. Đó là:

 

Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.-   Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương, đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân tách, liên kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm. Sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.

 

Từ bản chất của Tướng, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết, hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người đều khổ. Không tướng nào là không khổ khi chưa đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh. Đồng thời cũng cho thấy rằng: con đường duy nhất để vượt qua khổ đau (biến đổi mã sóng trí tuệ và hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, chính là con đường Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, Tướng phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.

 

Thực hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng? Đó là:

 

Các Tướng phải đứng ở vị trí Định. Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô lượng. Khi các Tướng đứng ở vị trí Định sẽ biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Tướng mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia. Để đứng được ở vị trí Định (chân tâm), các Tướng phải thấu hiểu bản chất, cội nguồn, cấu tạo, cơ chế vận hành của tất cả nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Việc càng thấu hiểu về tri thức của hai Chân lý sẽ giúp cho con người, Tuệ linh và các Tướng nâng cao được chân tâm để Định được kỳ diệu nhất.

 

-   Tiếp theo các Tướng phải biết Kết. Kết ở đây không phải là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định bởi sự trí tuệ của hai Chân lý. Tức là đứng

 

    vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau, hạnh phúc, an vui được sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng khổ đau, đa âm, tiêu cực, u mê chia sẻ tới ta, những chia sẻ đó sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng. Đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Tướng ta đứng ở vị trí Định để dùng Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của Tướng ta hấp thụ. Do ta đứng ở vị trí Định nên Trụ linh tỏa chân tâm trắng sáng và sóng điện dương ở màng chân tâm của Trụ linh. Trắng sáng của chân tâm và năng lượng dương sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của Tướng đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ (nhiệt âm nhẹ). Như vậy, Tướng ta đã Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt. Năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Tướng ta an lạc để chuyển hóa thành Tỏa. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Cũng như vậy, Trụ linh của ta sẽ kết được những hạt năng lượng chân tâm, năng lượng dương từ những Tướng tích cực, đa dương, giác ngộ để hấp thụ nhiệt dương của các hạt năng lượng đó. Những nhiệt dương được hấp thụ sẽ giúp cho Trụ linh có sức mạnh để kích nổ hạt năng lượng hoại diệt nhằm sinh nhiệt lớn cho việc sản sinh ra các hạt năng lượng dương.

 

-   Tiếp đến Tướng ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận những sẻ chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực về màng chân tâm của Trụ linh, Tướng ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là thấu hiểu tận cùng khổ đau, hạnh phúc, an vui, giác ngộ, u mê, tích cực, tiêu cực của hết thảy các Tướng, trong khi Trụ linh và Tướng ta vẫn an lạc, vẫn thanh tịnh và cân bằng. Bởi chỉ khi có được thanh tịnh, an lạc, không dao động bởi trí tuệ của hai Chân lý thì Tướng ta mới chuyển hóa thành hành động tích cực để Tỏa ra vô lượng hạt năng lượng dương và chân tâm.

 

-   Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Tướng ta sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Tướng ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh của Tướng ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của Tướng ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc năng lượng của Tướng ta sẽ trở nên phát triển bền vững. Khi Tướng ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng, thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ linh của Tướng ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.

 

Nếu Tướng lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Tướng lựa chọn con đường chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Tướng chỉ lựa chọn con đường Tỏa thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

Như vậy, để Tướng, Tuệ linh, con người chấm dứt được khổ đau thì là phải chuyển sinh được Trụ linh của Tướng thành bộ lọc năng lượng. Để làm được điều đó, các Tướng, Tuệ linh, con người phải đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa. Để làm được điều này thì cần phải thấu hiểu trí tuệ của hai Chân lý. Đây là con đường duy nhất, là bài thuốc duy nhất để giúp Tướng ta cứu lại chính Tướng ta không bị phân rã hoại diệt do năng lượng hoại diệt tác động. Ngược lại, Tướng ta sẽ nhanh chóng chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Tướng ta sẽ cứu giúp và thúc đẩy các Tướng trong và ngoài Vũ trụ cũng được chuyển sinh bền vững. Việc cứu giúp các Tướng khác được chuyển sinh bền vững sẽ giúp cho Tướng ta chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng. Và ngược lại, để chuyển sinh Trụ linh của Tướng ta thành bộ lọc năng lượng thì phải cứu giúp các Tướng khác chuyển sinh bền vững. Tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người đều nương tựa, tương tác với nhau để thấu hiểu bản chất Kết – Định – Tỏa của các Tướng và chính mình. Đó là nương tựa, tương tác để bộc phát độc và thiện của hạt năng lượng âm dương gốc trong các môi trường khác nhau, từ đó tìm ra các bản chất, cơ chế chuyển sinh bền vững. Chính vì điều này, Tuệ linh và con người phải thấu hiểu tất cả các Tướng. Thấu hiểu để phổ độ, cứu độ, giúp đỡ các Tướng theo bản năng mà không cần phải cảm thọ hay cần sự kêu cầu từ các Tướng. Tất cả các Tướng là bình đẳng trong sự tương trợ nhau phát triển bền vững. Do đó, con người không được tước đi mạng sống hay gây tổn hại tới con người, muông thú và các Tướng khác. 

Bài 2:

 

Bài Trụ – Trí

˜²™

 

 

 

Bài Trụ – Trí được hiểu là Trí Vô Trí. Trí Vô Trí được kết cấu thành 3 phần. Chữ Trí đầu tiên là khái niệm và bản chất của các cấu trúc Trí tuệ. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của các cấu trúc Trí tuệ. Chữ Trí cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho các cấu trúc Trí tuệ.

 

Trong bài Trụ – Trí này, trí tuệ của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ sẽ được phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật về trí tuệ của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho con người và Tuệ linh có được trí tuệ giác ngộ và phương pháp tuyệt vời nhất để chuyển sinh Trụ linh của mình thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Trụ linh gồm có Trụ – Trí và Trụ – Tâm.

 

 

I. Khái niệm về Trụ – Trí (Trí tuệ)

 

TrụTrí là trí tuệ. TrụTrí là sợi mã sóng trí tuệ được phân tách và liên kết trong hạt năng lượng tận cùng và Trụ linh. TrụTrí được hình thành, nâng cấp thông qua quá trình tương tác với Vũ trụ quan của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.

Trụ – Trí có trong Tướng của tất cả các nhóm vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Nó được tính tới đơn vị nhỏ nhất là 1 sợi mã sóng trí tuệ của 1 hạt năng lượng tận cùng.

 

Vũ trụ quan xung quanh của Tướng chính là môi trường sống và các Tướng xung quanh Tướng đang đề cập. Vũ trụ quan xung quanh các Tướng bao gồm từ chính Tướng đó cho tới môi trường sống và tất cả các Tướng bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Cụ thể như sau:

 

-   Vũ trụ quan xung quanh của chính cấu trúc Tướng là những yếu tố cấu tạo thành Tướng đó. Đối với một hạt năng lượng tận cùng thì đó là sợi mã sóng trí tuệ trong hạt, đó là trạng thái năng lượng trong hạt, đó là sự vận động của chính hạt năng lượng tận cùng đó. Đối với một con người thì đó là năng lượng trong thân tướng, là sự vận động của thân tướng, là Tuệ linh an trụ bên trong thân tướng. Đối với một Tuệ linh thì đó chính là sóng điện tuần hoàn trong Tuệ linh, là Trụ linh gồm có Trụ – Trí và Trụ – Tâm, là sự vận động của Tuệ linh đó. Các Tướng khác cũng như vậy để xác định Vũ trụ quan xung quanh chính Tướng đó.

 

-    Vũ trụ quan xung quanh liên quan tới môi trường sống và sự tương tác của các Tướng đối với Tướng cần xác định. Vũ trụ quan xung quanh của một học sinh là sách vở, trường lớp, thầy cô, bài tập, kỳ thi, tri thức. Vũ trụ quan xung quanh một người nông dân là thời tiết khí hậu, là sâu bệnh, là cây giống, là đất nước, là thuốc sâu, là vụ mùa, là thu hoạch, là tiêu thụ, là giống cây. Vũ trụ quan xung quanh một người kỹ sư là bản vẽ, là công trình, là kỹ thuật, là số liệu tính toán, là thi công. Vũ trụ quan xung quanh một bác sĩ là bệnh nhân, bệnh viện, thiết bị điều trị, thuốc, vi khuẩn, vi rút, các loại bệnh, người khỏi bệnh, người không khỏi bệnh. Vũ trụ quan xung quanh một bệnh nhân là ốm đau, thuốc thang, bệnh tật, bệnh viện, sự sống và cái chết. Vũ trụ quan xung quanh một em bé mới sinh là sữa, là ba mẹ, là ông bà. Vũ trụ quan xung quanh một người thầy giáo là giảng đường, là giáo án, là học sinh, là nhà trường, là thi cử. Vũ trụ quan xung quanh một người mới chết là hoại diệt thân xác, là linh hồn/ Tuệ linh đi về đâu, là đau khổ của người sống và người chết. Vũ trụ quan xung quanh muông thú là bầy đàn, là săn mồi, là trốn chạy, là bảo vệ, là cái chết, là sự sống. Vạn vật trong và ngoài Vũ trụ cũng như vậy.

 

-   Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người được bao trùm trong và ngoài Vũ trụ là: năng lượng hoại diệt làm Tuệ linh hoại diệt, con người là hóa thân của Tuệ linh, là tu hành trong khổ đau, là truy tìm phương thuốc chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, là nhóm vật chất giản đơn, là các khối thiên hà, là năng lượng vận hành Vũ trụ, là cấu trúc nền, là các Tuệ linh với nhau, là môi trường sóng điện âm hay dương hay trung tính, là Vũ trụ quay tròn, là quá trình phân rã hay hoại diệt của các Tuệ linh, là sau khi chết sẽ như thế nào, là siêu hạt năng lượng, là tiền kiếp quá khứ, là nghiệp báo,…

 

Quá trình tương tác giữa Tướng với các Tướng của Vũ trụ quan xung quanh từ chính bản thể Tướng cho tới toàn bộ các Tướng trong và ngoài Vũ trụ chính là quá trình hình thành trí tuệ. Trí tuệ được hình thành là do cơ chế phân tách, liên kết trong môi trường sóng điện đảm bảo mà tạo ra sợi mã sóng trí tuệ.II. Bản chất của Trụ – Trí (Trí tuệ)

 

Phân tích về bản chất của Trụ – Trí chính là phân tích về bản chất trí tuệ của tất cả vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ. Đặc biệt là phân tích về trí tuệ của dạng sống Tuệ linh và con người.

 

Bản chất của Trụ – Trí (Trí tuệ) gồm có: cấu trúc trí tuệ của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ; cấu trúc trí tuệ của Tuệ linh và con người; trí tuệ là sự mã hóa thông tin; cơ chế hình thành trí tuệ; bản chất trí tuệ của dạng sống Tuệ linh; bản chất trí tuệ của con người; bản chất trí tuệ Kết – Định – Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ.

 

 

1.    Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ

 

Trụ là gì? – Trụ là gốc. Gốc bao gồm: hạt năng lượng tận cùng là gốc, phôi năng lượng âm dương được liên kết bởi hai hạt năng lượng tận cùng là Trụ linh gốc (phôi âm dương gốc), Trụ linh gốc là gốc của tất cả các Tướng.

 

Trí là gì? – Trí là trí tuệ, trí tuệ là sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ trong hạt năng lượng.

 

Trụ – Trí là gì?:

 

-  Trụ – Trí của hạt năng lượng tận cùng chính là sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ trong hạt đó.

 

-    Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc) chính là hai sợi mã sóng trí tuệ ban đầu của hai hạt năng lượng âm dương đó.

 

-  Trụ – Trí của các cấu trúc lớn hơn phôi âm dương gốc là tổng các sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ trong hai hạt năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc). Cụ thể như sau: phôi năng lượng âm dương với hai hạt năng lượng ban đầu thông qua cơ chế phân tách liên kết ra nhiều cho tới vô số hạt năng lượng để nâng cấp thành các cấu trúc Trụ linh trưởng thành, Tuệ linh, con người, các cấu trúc Tướng lớn hơn. Khi đó, các sợi mã sóng trí tuệ đều được lưu giữ tại phôi năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc). Do đó, tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc được gọi là Trụ – Trí.

 

Cấu trúc Trụ – Trí của năm nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ:

 

 

1.1. Nhóm vật chất cội nguồn

 

Nhóm vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Hạt sóng xanh là chỉ có một yếu tố cấu tạo thành hạt sóng xanh.

 

Hạt sóng xanh là nguồn gốc, là cấu trúc chưa được chuyển sinh, mã hóa thành sợi mã sóng trí tuệ. Tuy nhiên, hạt sóng xanh lại chứa đựng nhiệt lượng lớn vô cùng để chuyển sinh, mã hóa, nâng cấp thành mã sóng trí tuệ của từ hạt năng lượng tận cùng cho tới toàn bộ vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

Có thể nói, cấu trúc Trí tuệ của hạt sóng xanh chưa được mã hóa thông tin và chưa được hình thành.

 

 

1.2. Nhóm vật chất hoại diệt

 

Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại diệt.

 

Nhóm năng lượng hoại diệt là nhóm vật chất có trí tuệ sơ khai được nâng cấp, chuyển sinh từ nhóm hạt sóng xanh. Hạt năng lượng hoại diệt được cấu tạo thành bởi 3 yếu tố: sợi mã sóng trí tuệ màu xanh nõn chuối, trạng thái năng lượng màu nâu bị thối hóa, hình tướng hạt năng lượng hoại diệt là hình elip.

 

Trụ – Trí của hạt năng lượng hoại diệt chính là sợi mã sóng trí tuệ màu xanh nõn chuối trong hạt năng lượng hoại diệt.

 

Hạt sóng xanh di chuyển, biến đổi, mã hóa thông tin xung quanh và biến đổi thành sợi mã sóng trí tuệ. Khi sợi mã sóng trí tuệ biến đổi xong đã cấu tạo hoàn thành hạt năng lượng hoại diệt. Vì di chuyển trong môi trường trung tính nên nhiệt lượng của hạt sóng chưa được giải phóng hết cũng như chưa được mã hóa hoàn chỉnh thông tin của quá trình tương tác khi di chuyển.

 

Có thể nói, cấu trúc Trí tuệ của hạt năng lượng hoại diệt chưa được mã hóa thông tin hoàn chỉnh và trong nó còn nhiệt lượng lớn chưa được sinh phát để trở thành trí tuệ hoàn chỉnh. Vì chưa hoàn chỉnh trí tuệ nên nó không thể nâng cấp thành các cấu trúc vật chất cao hơn.

 

 

1.3. Nhóm siêu vật chất

 

Nhóm siêu vật chất gồm có năm nhóm hạt năng lượng siêu phức tạp, Tuệ linh, các siêu hạt năng lượng.

 

Hạt năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Trí của hạt năng lượng tận cùng này là trí tuệ siêu phức tạp được mã hóa thông tin, chuyển sinh thành một cách siêu việt nhất Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp và trở thành cấu trúc Tuệ linh.

 

Siêu hạt năng lượng tận cùng được hình thành từ bộ lọc năng lượng của Tuệ linh đã chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Siêu hạt năng lượng được hình thành bởi 3 yếu tố cấu tạo thành: siêu sợi mã sóng trí tuệ, siêu trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Trí của siêu hạt năng lượng tận cùng là sợi mã sóng trí tuệ đã mã hóa được thông tin siêu việt hơn so với hạt năng lượng cấu tạo thành Tuệ linh. Như vậy siêu hạt năng lượng có trí tuệ siêu việt hơn năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

Trụ – Trí của nhóm siêu vật chất có trí tuệ được nâng cấp cao nhất, là tinh hoa trí tuệ nhất của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

1.4. Nhóm vật chất phức tạp

 

Nhóm vật chất phức tạp gồm có năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp và cấu trúc linh hồn an trụ trong cỏ cây, đất đá, muông thú.

 

Hạt năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Trí của hạt năng lượng tận cùng này là trí tuệ phức tạp được mã hóa thông tin, chuyển sinh thành để vận hành các thiên hà của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp và trở thành cấu trúc Linh hồn.

 

Cấu trúc Linh hồn an trụ trong thân cây, trong đất đá, trong muông thú là cấu trúc năng lượng được liên kết giữa vô số hạt năng lượng dương, hạt năng lượng âm, hạt năng lượng trung tính. Linh hồn được cấu tạo bởi 3 yếu tố là Trụ – Trí (tổng mã sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái, sóng điện trong Trụ linh và linh hồn), hình tướng linh hồn. Trụ linh là trung tâm vận hành trí tuệ, sinh phát sóng điện và phân tách ra toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong cấu trúc linh hồn. Trụ – Trí của cấu trúc linh hồn có trí tuệ được nâng cấp cao hơn, được mã hóa thông tin lớn hơn so với năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ phức tạp.

 

Trụ – Trí của nhóm vật chất phức tạp có trí tuệ được nâng cấp cao thứ hai, là tinh hoa trí tuệ thứ hai của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

1.5. Nhóm vật chất giản đơn

 

Nhóm vật chất giản đơn là từ năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ giản đơn cho tới các phôi năng lượng âm dương, Trụ linh, nguyên tử, phân tử, tế bào, cỏ cây, đất đá, kim loại, nước, khí, chất lỏng, con người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ.

 

Hạt năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Trí của hạt năng lượng tận cùng này là trí tuệ giản đơn được mã hóa thông tin, chuyển sinh thành vật chất giản đơn của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp và trở thành cấu trúc với vô số các khối thiên hà của Vũ trụ.

 

Từ phôi năng lượng âm dương cho tới vô số các khối thiên hà cấu tạo thành tinh cầu Vũ trụ, có vô số vật chất có một Trụ linh như cỏ, cây, thân tướng con người, thân tướng muông thú, côn trùng, sinh vật, vi khuẩn…, có vô số vật chất còn lại là sự liên kết của vô số các cấu trúc Trụ linh để cấu tạo thành các nguyên tử, phân tử, tế bào… khối thiên hà và tinh cầu Vũ trụ. Tuy nhiên, tất cả đều được cấu tạo bởi 3 yếu tố là tổng sợi mã sóng trí tuệ (Trụ – Trí), tổng trạng thái năng lượng (Trụ – Tâm), hình tướng cấu trúc vật chất. Trụ – Trí của những vật chất giản đơn này được nâng cấp, mã hóa thông tin giản đơn hơn nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất. Tuy nhiên đây lại là trí tuệ được nâng cấp và mã hóa thông tin cao hơn nhóm năng lượng hoại diệt.

 

Trụ – Trí của nhóm vật chất giản đơn có trí tuệ được nâng cấp cao thứ ba, là tinh hoa trí tuệ thứ ba của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

2.     Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của Tuệ linh và con người

 

Con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, chúng ta cần phải thấu hiểu cấu trúc trí tuệ của con người và Tuệ linh. Việc thấu hiểu cấu trúc trí tuệ của con người và Tuệ linh chính là chìa khóa, là cơ chế để liên kết được mã sóng trí tuệ từ Trụ linh đến với tất cả vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của Tuệ linh và con người như sau:

 

 

2.1. Cấu trúc Trụ Trí (trí tuệ) của Tuệ linh

 

Tuệ linh là một cấu trúc năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.

 

Tuệ linh chính là dạng sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống chủ yếu tại không gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần, Phật, Thiên Chúa… theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người ngoài hành tinh, theo cách gọi của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái đất. Tuệ linh không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh ra là do cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tạo thành. Đó là những hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương hợp lại thành phôi âm dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.

 

Tam hợp yếu tố hợp thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh), hình tướng Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và Tuệ linh trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:


Hình: Cấu tạo tam hợp Tuệ linh

 

-   Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.


- Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ) liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.


- Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc Trụ linh có sóng điện đa


âm.


Khi gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.


Thông qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy trí tuệ của dạng sống Tuệ linh là siêu việt nhất, tinh hoa nhất của tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ. Chính vì vậy,

sứ mệnh cải tạo bộ lọc trong Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng là sứ mệnh tiên phong của họ.

 

 

2.2. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) của con người

 

Ba yếu tố hợp nhất cấu tạo ra con người gồm có: Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ: 

Hình: Cấu tạo tam hợp con người

-   Yếu tố đầu tiên là Thân tướng: Thân tướng được hình thành do duyên người cha và người mẹ. Đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang tính âm của người mẹ hợp thành phôi thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng người mẹ do cơ chế phân tách tế bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của người mẹ. Trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn thiện, em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời.

 

-   Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân tướng để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương; khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai trộm; nếu chúng đầu thai trộm thành người thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn thú dữ chưa giết hại được người nào mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do không đủ năng lượng âm dương cân bằng để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người cha mẹ được gieo duyên có thân tướng thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu em bé có sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể phá thai được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ linh, Linh hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ linh người mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai vào con người đều được gọi là Tâm.

 

-    Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ: Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát triển từ hai phần:

 

+   Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn. +    Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá trình tương tác giữa các tướng với nhau.

 

Như vậy, trí tuệ của Tuệ linh là siêu trí tuệ, lại an trụ và hợp nhất với trí tuệ giản đơn của con người. Điều này giúp cho con người có được siêu trí tuệ an trụ trong cơ thể. Siêu trí tuệ sẽ liên kết để truyền và trau dồi trí tuệ ở não bộ thông qua môi trường tu hành ở nhân gian.

 

Mục đích của việc con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh là để thông qua thân tướng với trí tuệ giản đơn, siêu trí tuệ của Tuệ linh sẽ bị tương tác, bí bách, sinh nhiệt mà tạo ra tận cùng vô số các trường hợp phân tách, liên kết mã sóng trí tuệ trong Trụ linh của Tuệ linh. Đây được gọi là thông qua môi trường tu hành nhân gian để bộc phát được hết tất cả độc của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và thiện của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương trong Trụ linh của Tuệ linh. Chỉ khi bộc phát hết mới tìm ra được phương pháp để cấu tạo lại Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn cho Tuệ linh.

 

 

3. Trụ – Trí (trí tuệ) là sự mã hóa thông tin

 

Trụ – Trí là sự mã hóa thông tin. Đây là điều kỳ diệu, là bí mật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người.Thông tin được mã hóa trong sợi mã sóng trí tuệ của từ hạt năng lượng tận cùng tới các cấu trúc lớn hơn được vận hành bởi Trụ linh, bao gồm nhóm vật chất hoại diệt, nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.

 

Những thông tin được mã hóa trong Trụ – Trí là nhiệt lượng, môi trường xung quanh, sóng điện, hình ảnh của các Tướng, âm thanh, rung động, hành động, ngôn ngữ, cảm xúc, mùi vị, ý thức.

 

Dựa trên đặc tính của các nhóm vật chất mà độ phức tạp trong mã hóa thông tin, lượng thông tin được mã hóa và lưu giữ trong sợi mã sóng trí tuệ cũng sẽ khác nhau. Nhóm vật chất hoại diệt mã hóa thông tin còn dang dở và chưa hoàn chỉnh. Nhóm vật chất giản đơn mã hóa thông tin thô sơ, lượng thông tin không nhiều và không có độ phức tạp. Nhóm vật chất phức tạp mã hóa được nhiều thông tin hơn, lượng thông tin được mã hóa trong sợi mã sóng trí tuệ có độ phức tạp hơn. Nhóm siêu vật chất mã hóa được lượng thông tin vô cùng lớn, lượng thông tin được mã hóa trong sợi mã sóng trí tuệ đạt đến siêu phức tạp.

 

Quá trình mã hóa thông tin hoàn chỉnh tạo ra sợi mã sóng trí tuệ bao gồm: các cấu trúc Tướng tương tác với nhau trong môi trường có sóng điện, có nhiệt lượng, có cường độ, có độ nén; quá trình tương tác tạo ra độ phức tạp của sóng rung động bởi môi trường sóng điện; quá trình hành động và kết thúc hành động của các Tướng. Khi kết thúc hành động hoặc chuyển tiếp hành động của cấu trúc Tướng thì quá trình mã hóa thông tin tạo ra sợi mã sóng trí tuệ đã hoàn thành. Những yếu tố quyết định đến lượng và chất của quá trình mã hóa thông tin trong Trụ – Trí:

 

-   Cơ chế quay tròn của vạn vật, Tuệ linh, con người sẽ mã hóa được lượng thông tin lớn hơn, chất lượng thông tin chân thật hơn so với cơ chế di chuyển thẳng.

 

-   Tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau sẽ giúp cho vạn vật, Tuệ linh, con người mã hóa được lượng thông tin lớn hơn, chất lượng thông tin chân thật hơn so với việc tương tác hạn chế trong một vài môi trường.

 

-   Trong nội tại cấu trúc Trụ – Trí: nếu sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương đạt tới siêu mạnh sẽ giúp cho việc mã hóa thông tin đạt đến số lượng và chất lượng lớn nhất so với sóng điện dương nhẹ; nếu sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm đạt tới siêu nhẹ sẽ giúp cho việc mã hóa thông tin đạt đến số lượng và chất lượng lớn nhất so với sóng điện âm siêu mạnh. Đỉnh cao của Trụ – Trí trong việc mã hóa thông tin là phải kiểm soát và vận hành được cả hai sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Trụ linh của bộ lọc năng lượng sẽ kiểm soát và vận hành được một cách kỳ diệu.

 

Thông tin được mã hóa, lưu giữ trong sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng tận cùng:

 

-   Trong hạt năng lượng tận cùng của tất cả các nhóm vật chất, chỉ có một sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ thông tin của quá trình các Tướng (vật chủ) tương tác, rung động, hành động tạo ra hạt năng lượng tận cùng đó.

 

Thông tin lưu giữ trong hạt năng lượng tận cùng có sự liên kết với thông tin của hạt năng lượng được phân tách trước hay sau khi hạt năng lượng đó được hình thành, gọi là liên kết dây.

Thông tin được mã hóa, lưu giữ trong Trụ linh gốc (phôi năng lượng âm dương gốc) của các cấu trúc Tướng lớn hơn phôi năng lượng âm dương:

 

-   Phôi năng lượng được hình thành từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng, gọi là Trụ linh gốc. Trong Trụ linh gốc lưu giữ hai sợi mã sóng trí tuệ với hai lượng thông tin được liên kết với nhau.

 

-   Phôi âm dương gốc trải qua quá trình phân tách liên kết để trưởng thành, nâng cấp thành các cấu trúc lớn hơn. Khi đó, tất cả các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ toàn bộ thông tin tại hai hạt năng lượng âm dương gốc (phôi âm dương gốc có sự giãn nở to hơn).

Hình: Thông tin được mã hóa trong Trụ linh gốc

Tất cả các sợi mã sóng trí tuệ có lưu giữ thông tin trong Trụ – Trí đều có sự liên kết về nội dung thông tin. Đó là thông tin của hạt năng lượng âm liên kết với thông tin của hạt năng lượng dương để tạo thành cấu trúc liên kết một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Đó là thông tin của các hạt năng lượng dương có liên kết với nhau bằng các hạt năng lượng chân tâm để phát triển cấu trúc năng lượng của Tướng được mở rộng và lớn mạnh Như vậy, tất cả các cấu trúc vật chất trong và ngoài Vũ trụ đều là hạt năng lượng tận cùng. Và, tất cả đều là thông tin được lưu giữ, mã hóa vào sợi mã sóng trí tuệ ở trong hạt.

 

Vì là thông tin được lưu giữ, mã hóa trong hạt nên có những thông tin độc và những thông tin tốt. Những thông tin độc là bản chất của hạt năng lượng âm, những thông tin tốt là bản chất của hạt năng lượng dương. Các cấu trúc phát triển bền vững là bởi được cấu tạo chặt chẽ bởi thông tin tốt, các cấu trúc phân rã hoại diệt là bởi được cấu tạo bởi thông tin độc.

 

 

4. Cơ chế hình thành Trụ – Trí (trí tuệ)

 

Cơ chế hình thành Trụ – Trí chính là cơ chế hình thành sợi mã sóng trí tuệ của từ hạt năng lượng tận cùng đến các cấu trúc Tướng có Trụ linh trở lên. Cơ chế hình thành sợi mã sóng trí tuệ này có sự khác nhau giữa các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

4.1. Cơ chế hình thành Trụ – Trí của nhóm vật chất hoại diệt từ nhóm vật chất cội nguồn

 

Nhóm vật chất cội nguồn là hạt sóng xanh. Từ nhóm hạt sóng xanh, thông qua cơ chế mà hình thành sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng hoại diệt, đó là cơ chế phân tách trong môi trường đảm bảo điều kiện:

 

-  Cơ chế hình thành sợi mã sóng trí tuệ của từ hạt sóng xanh thành năng lượng hoại diệt là cơ chế phân tách.

 

Để phân tách được thành sợi mã sóng trí tuệ thì hạt sóng xanh di chuyển thẳng và diễn ra quá trình giải mã, mã hóa thông tin môi trường xung quanh. Vì hạt sóng xanh không quay tròn xung quanh chính nó nên sự mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh và đầy đủ trong quá trình di chuyển tương tác.

 

-   Môi trường sóng điện cho quá trình phân tách từ hạt sóng xanh thành năng lượng hoại diệt là môi trường sóng điện trung tính.

 

Như vậy, cơ chế hình thành cấu trúc Trụ – Trí của nhóm vật chất hoại diệt từ nhóm vật chất cội nguồn là cơ chế phân tách. Vì chưa có cơ chế liên kết nên trí tuệ của năng lượng hoại diệt chưa mã hóa được thông tin hoàn chỉnh trong quá trình tương tác. Do đó cấu trúc trí tuệ của nhóm vật chất hoại diệt chưa được nâng cấp và tinh hoa như 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ.

 

 

4.2. Cơ chế hình thành Trụ – Trí của phôi năng lượng khởi đầu cho sự hình thành 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ

 

Nhóm vật chất cội nguồn là hạt sóng xanh. Từ nhóm hạt sóng xanh, thông qua cơ chế mà hình thành sợi mã sóng trí tuệ của phôi năng lượng khởi đầu cho sự hình thành 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ.

 

Cơ chế hình thành sợi mã sóng trí tuệ của phôi năng lượng âm dương khởi đầu cho sự hình thành Vũ trụ là cơ chế phân tách và liên kết trong môi trường đảm bảo điều kiện:

 

-   Đầu tiên là thông qua cơ chế phân tách để tạo ra sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng âm, dương tận cùng từ hạt sóng xanh. Cơ chế này có những điều kiện sau: +    Hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường có nhiệt lượng sóng điện dương (những khu vực không gian này được hình thành từ vụ nổ của năng lượng hoại diệt). Khi di chuyển vào môi trường có sóng điện dương, hạt sóng xanh sẽ quay tròn (quay thuận) xung quanh chính nó để mã hóa thông tin đầy đủ trong quá trình tương tác di chuyển và quay tròn. Vì vậy, sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng dương tận cùng được mã hóa đầy đủ thông tin của quá trình hình thành và di chuyển tương tác. Do quay tròn nên trong hạt năng lượng dương tận cùng này lại có thêm cơ chế liên kết.

 

+    Hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường có nhiệt lượng sóng điện âm (được hình thành xung quanh những khu vực có nhiệt lượng sóng điện dương). Khi di chuyển vào môi trường có sóng điện âm, hạt sóng xanh sẽ quay tròn (quay ngược) xung quanh chính nó để mã hóa thông tin đầy đủ trong quá trình tương tác di chuyển và quay tròn. Vì vậy, sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng âm tận cùng được mã hóa đầy đủ thông tin của quá trình hình thành. Do quay tròn nên trong hạt năng lượng âm tận cùng này lại có thêm cơ chế liên kết.

 

-   Tiếp đến là cơ chế liên kết để hình thành cấu trúc Trụ

 

– Trí của phôi năng lượng âm dương khởi đầu cho sự hình thành Vũ trụ. Cơ chế này có những điều kiện sau:

 

+    Hạt năng lượng âm và dương phải quay tròn. Hạt năng lượng âm phải kết, hạt năng lượng dương phải tỏa.

 

+   Sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng âm và dương phải có nội dung thông tin khớp nhau để kết nối.

 

Nhiệt lượng môi trường sẽ duy trì sự tồn tại cấu trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương. Như vậy, cấu trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương là cấu trúc trí tuệ đã mã hóa được đầy đủ thông tin trong quá trình tương tác để hình thành. Đặc biệt, cấu trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương là bước chuyển sinh kỳ diệu để hình thành 3 nhóm vật chất của Vũ trụ từ cơ chế phân tách và liên kết.

 

 

4.3. Cơ chế hình thành Trụ – Trí của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ từ phôi năng lượng âm dương

 

Phôi năng lượng âm dương được hình thành từ những hạt sóng xanh thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế này đã giúp cho từ phôi năng lượng âm dương phân tách ra vô lượng năm nhóm hạt năng lượng mang sóng điện âm, dương, trung tính trong tinh cầu năng lượng khổng lồ. Sau khi tinh cầu năng lượng khổng lồ bị kích nổ, năm nhóm năng lượng đã thông qua cơ chế phân tách, liên kết để hình thành 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất.

 

Cơ chế hình thành Trụ – Trí của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ là cơ chế phân tách và liên kết trong môi trường đảm bảo điều kiện:

 

-    Quá trình phân tách phải đảm bảo có nhiệt lượng sóng điện. Các hạt năng lượng phải quay tròn theo đặc tính sóng điện: hạt âm là quay ngược chiều kim đồng hồ, hạt dương là quay thuận.

 

-   Quá trình liên kết phải đảm bảo hạt năng lượng âm và dương phải quay tròn theo đặc tính sóng điện của từng loại hạt. Sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng âm và dương phải có nội dung thông tin khớp nhau để kết nối. Nhiệt lượng môi trường sẽ duy trì sự tồn tại cấu trúc Trụ – Trí của phôi năng lượng âm dương.

 

Cơ chế phân tách và liên kết phải diễn ra liên tục không ngừng nghỉ trong môi trường đảm bảo cho quá trình phân tách và liên kết, để nâng cấp cấu trúc Trụ – Trí của cả 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ.

 

Như vậy, thông qua cơ chế phân tách và liên kết liên tục trong điều kiện đảm bảo, đã tạo ra 3 nhóm vật chất mã hóa được thông tin đầy đủ trong quá trình tương tác khi di chuyển, là tinh hoa nhất trong và ngoài Vũ trụ. Trong đó, dạng sống Tuệ linh cùng nhóm siêu vật chất là siêu cấu trúc Trụ – Trí.

 

 

5.   Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) của dạng sống Tuệ linh

 

Trí tuệ của dạng sống Tuệ linh là siêu việt nhất trong tất cả các dạng sống, các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Dạng sống Tuệ linh được hình thành đầu tiên sau vụ nổ của tinh cầu năng lượng khổng lồ. Họ được hình thành và trưởng thành. Họ xây dựng, kiến tạo, phát triển cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ hoàn chỉnh như ngày nay từ năm nhóm năng lượng hỗn độn sau vụ nổ.

 

Vũ trụ phát triển và không ngừng giãn nở. Đó là do dạng sống Tuệ linh lao động, kiến tạo và vận hành. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển lớn mạnh của Vũ trụ, năng lượng hoại diệt cũng ngày càng lớn mạnh. Năng lượng hoại diệt với bản chất là đi tìm những cấu trúc năng lượng, vật chất đa âm để xả sóng điện dư thừa nhằm tồn tại. Trong khi đó, Vũ trụ lại có những cấu trúc vật chất, năng lượng đa âm. Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt đã di chuyển vào Vũ trụ thành những cơn bão để đi truy tìm sự sống cho chính nó. Có quá nhiều Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt đồng hóa mà hoại diệt vĩnh viễn, có quá nhiều cấu trúc vật chất bị đồng hóa và hoại diệt. Tuy nhiên, cũng vì có năng lượng hoại diệt trong Vũ trụ, nên khi chúng bị kích nổ bởi năng lượng dương đã giúp tạo ra nhiệt lượng cho quá trình Vũ trụ phân tách liên kết theo hướng bền vững và lớn mạnh.

 

Dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt nhiều, chưa tìm ra được phương pháp đối phó với năng lượng hoại diệt chính là vấn đề bản chất của Trụ – Trí. Vấn đề đó là quá trình hình thành 3 dạng vật chất sau vụ nổ lớn, các phôi năng lượng âm dương của các Tuệ linh cho tới khi trưởng thành chưa mã hóa được đầy đủ triệt để thông tin của năng lượng hoại diệt. Đặc biệt hạt năng lượng âm gốc chưa bộc phát hết các kịch bản phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ, hạt năng lượng dương gốc cũng chưa bộc phát hết các kịch bản phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ. Tức là độc của hạt năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương chưa bộc phát hết. Do chưa bộc phát hết nên chưa tìm ra hết bản chất của Trụ – Trí ở dạng sống Tuệ linh. Chính vì thế mà chưa tìm ra bài thuốc, phương pháp, cơ chế để sử dụng được năng lượng hoại diệt cho việc chuyển sinh bền vững. Điều mà sau này tìm được cơ chế, đó là cơ chế chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là hấp thụ ồ ạt, kích nổ được năng lượng hoại diệt mà vẫn an toàn để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng phát triển bền vững cho mình và các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

Bản chất Trụ – Trí của dạng sống Tuệ linh khi chưa chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng: -  Trụ – Trí có bản chất Kết: Đó là thu hút, hấp thụ nhiệt từ mạnh cho tới siêu mạnh. Nguyên nhân là do hạt âm của phôi âm dương gốc có sóng điện âm từ mạnh cho tới siêu mạnh. Do đó, những Tuệ linh đó có khuynh hướng truy tìm môi trường, cấu trúc sóng điện có khớp nội dung giống với hạt âm để kết, hút về. Họ sẽ không thực hành được đời sống Tỏa là cho đi, lan tỏa, giúp đỡ, cống hiến, hy sinh. Nguyên nhân vì hạt năng lượng dương quá yếu nên bị hạt năng lượng âm chi phối theo đặc tính của hạt năng lượng âm. Những Tuệ linh có cấu trúc Trụ – Trí kết như vậy sẽ dễ dàng bị năng lượng hoại diệt xâm nhập để đồng hóa và hoại diệt.

 

-   Trụ – Trí có bản chất Tỏa: Đó là tỏa đi, cho đi, truyền tải, giúp đỡ, cống hiến, hy sinh vì vạn vật. Nguyên nhân là do hạt dương trong Trụ linh gốc có sóng điện dương từ mạnh cho tới siêu mạnh, trong khi đó hạt âm gốc chỉ có sóng điện chớm âm. Chính vì điều này mà hạt năng lượng dương liên kết được với tất cả các nhóm vật chất khác bởi hạt năng lượng âm chỉ là chớm sóng điện âm. Tuy nhiên, nếu cơn bão năng lượng hoại diệt di chuyển vào hoặc các Tuệ linh này di chuyển gặp phải cơn bão năng lượng hoại diệt cũng sẽ bị phân rã mà hoại diệt.

 

Bản chất Trụ – Trí của dạng sống Tuệ linh chưa được bộc phát hết. Chưa bộc phát hết tức là sợi mã sóng trí tuệ của hạt âm và dương gốc trong Trụ linh chưa phân tách ra các loại sợi trí tuệ trong tất cả các kịch bản cũng như môi trường tương tác. Chính vì điều này mà vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra môi trường tu hành cho dạng sống Tuệ linh ở Trái đất thông qua thân tướng là con người. Quá trình tu hành trong thân tướng giản đơn sẽ giúp cho Trụ linh phân tách ra hết tất cả các sợi mã sóng trí tuệ trong tất cả các kịch bản và môi trường tương tác. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ tìm ra được cơ chế, phương pháp để Tuệ linh hấp thụ và kích nổ được năng lượng hoại diệt. Đó là con đường chuyển sinh bền vững để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh.

 

 

6. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) của con người

 

Con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh, là môi trường tu hành của dạng sống Tuệ linh. Dạng sống Tuệ linh thông qua thân tướng con người để tu hành ở nhân gian nhằm tạo ra sự bí bách, độ nén, đau khổ, an vui, hạnh phúc… trong cuộc sống nhân gian để bộc phát hết độc của hạt âm và thiện của hạt dương trong Trụ linh. Cũng thông qua quá trình bộc phát độc và thiện trong Trụ linh, sẽ thấy rõ quá trình năng lượng hoại diệt tấn công đồng hóa cũng như khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt của Tuệ linh trong từng trường hợp tương tác với các hoàn cảnh môi trường khác nhau. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên mới tìm ra được phương pháp siêu việt áp dụng chung cho tất cả các Tuệ linh để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Chỉ khi chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới có khả năng hấp thụ và kích nổ được ồ ạt năng lượng hoại diệt để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng mà vẫn an toàn.

 

Vô số Tuệ linh hóa thân tu hành ở nhân gian với vô số các kịch bản tương tác trong các điều kiện môi trường khác nhau đã tạo ra bản chất Trụ – Trí của con người.

 

Con người là tam hợp yếu tố cấu tạo thành. Thân tướng được coi như ngôi nhà giam cầm Tâm (Tuệ linh), Tâm là Tuệ linh an trụ trong ngôi nhà thân tướng, Trụ – Trí (Trí tuệ) là cánh cửa trí tuệ để Trụ linh tương tác với tất cả các Tướng trong môi trường khác nhau. Chính vì điều này đã tạo ra sự kỳ diệu cho con đường tu hành của Tuệ linh ở nhân gian. Thông qua vô số kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian đã giúp cho mục đích tu hành đã đạt được thành công.

 

Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) của con người gồm có Trí tuệ u mê (độc được bộc phát hết), trí tuệ giác ngộ (thiện được bộc phát hết) và căn cơ trí tuệ (hành trình để chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh) của Tuệ linh:

 

 

6.1. Trí tuệ u mê

 

Trí tuệ u mê là trí tuệ bị bám định vào các hình tướng hay còn gọi là các giả tướng. Trí tuệ bám định ở đây cũng được hiểu là cánh cửa ngôi nhà đóng chặt lại không chịu mở ra để Tâm hướng đến và mang lại sự thấu hiểu Vũ trụ quan bên ngoài về cho trí tuệ. Trí tuệ bám định cũng được hiểu trí tuệ như con trâu hoặc con bò bị buộc vào một gốc cây nên nó chỉ quanh quẩn biết mỗi gốc cây đó mà không hiểu biết xung quanh. Trí tuệ bám định cũng được hiểu là sự bám chặt vào, dính vào giả tướng để hưởng thụ, thỏa mãn mà không cống hiến cho vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

Hình tướng vạn vật gọi là giả tướng vì nó do duyên sinh và nó hoại diệt cũng do duyên. Sự sinh diệt chính là quá trình chuyển hóa của hình tướng, vì có sinh và có hoại diệt nên nó là giả tướng, tức là sự tồn tại tạm thời, sự tồn tại không vĩnh cửu hay không bất tử. Vạn vật, Vũ trụ, Tuệ linh, con người, sẽ được phân ra làm 10 giả tướng, và 10 giả tướng chính là 5 cặp phạm trù của hình tướng: giả tướng có và không có; giả tướng yêu thương, sở thích và thù ghét, không thích; giả tướng cầu được và cầu không được; giả tướng có trí tuệ và không có trí tuệ; giả tướng hành động và không hành động. Trí tuệ u mê chính là trí tuệ bám định vào 10 giả tướng này mà không hiểu bản chất, không hiểu sự thật về các giả tướng để cố tình bám lấy, vơ lấy, hưởng thụ các giả tướng về thân tướng mình mà không vì vạn vật, Tuệ linh, con người. Đó gọi là trí tuệ u mê.

 

Mười giả tướng được ví như màn đêm tối mịt mù của sự giả dối, màn đêm tối của ác nghiệp, màn đêm tối của ngã quỷ. Khi trí tuệ bám định và sống trong màn đêm tối sẽ không thể thấu hiểu được Vũ trụ quan xung quanh, nó như người mù chỉ thấy mỗi nơi thân tướng mình. Do đó, khi trí tuệ bám định vào bất cứ một giả tướng nào thì nó tượng trưng cho trí tuệ đang sống và bám định trong màn đêm giả dối của sự u mê.

 

Những biểu hiện của Trí tuệ u mê:

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng có:

 

Con người bám định vào cái ta có, như là mắt, tai, mũi, miệng, chân tay, có thân tướng đẹp hay xấu xí, có ngôi nhà to, có tiền tài giàu sang phú quý, có địa vị, có chức cao trọng vọng, có xe cộ, có nhiều đất đai, có sức khỏe, có nhiều mối quan hệ… Trí tuệ của những người lãnh đạo các quốc gia thì bám định vào việc có sức mạnh quân sự, có nhiều tài nguyên thiên nhiên, có sức mạnh kinh tế, có lãnh thổ rộng lớn, có dân số đông, hùng mạnh hơn quốc gia khác…

 

Một người bám định vào thân tướng ta đẹp nên họ chỉ biết rằng ta mới là xinh đẹp mà khinh khi những người không đẹp bằng ta, thậm chí còn dùng thân tướng xinh đẹp đó để vi phạm vào đạo đức xã hội, hành nghề mại dâm, dùng thân tướng đó để ngoại tình với những người giàu có để hưởng lợi ích cho mình và vi phạm luật Nhân quả về thông dâm tà dâm.

 

-    Có người bám định vào việc giàu có mà khinh khi người không giàu có, thậm chí có người còn ăn chơi trụy lạc đến nỗi không còn gì.

 

-   Có người có địa vị chính trị, họ có chức sắc cao, họ nghĩ và cho rằng mình là cao sang, họ khinh khi những người không thuộc tầng lớp như họ. Họ sẵn sàng lợi dụng chức vụ của họ để tham ô tham nhũng, chạy chức chạy quyền. Họ chỉ giúp đỡ những người bất tài nhưng có nhiều tiền cho họ, họ không biết sử dụng nhân tài cho Đất nước. Họ ảo tưởng vào chức vụ và sức mạnh của họ mà sẵn sàng bán nước hại dân, tham quyền cố vị để trục lợi về họ, về gia đình và dòng họ của họ…

 

-  Những người lãnh đạo quốc gia thì bám định vào việc quốc gia họ có binh hùng tướng mạnh, kinh tế lớn mạnh mà coi thường nhân quả. Họ đem binh đi xâm chiếm quốc gia khác, kích động tạo ra các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia để trục lợi cho quốc gia họ, khiến cho dân chúng lầm than khổ đau, tang thương chết chóc trên mọi mảnh đất khắp Trái đất này.

 

Những người lãnh đạo của các quốc gia bám định vào việc quốc gia họ có nhiều nguồn tài nguyên, sẵn sàng khai thác cạn kiệt để trục lợi mang về cho nhóm người lãnh đạo, khiến cho thiên tai xảy ra, cho con cháu đời sau cạn kiệt tài nguyên, thiếu tiềm lực phát triển quốc gia. Họ bám định vào việc sẵn có tài nguyên mà không thúc đẩy phát triển các nguồn lực khác để vẫn đảm bảo được nguồn lực tài nguyên cho quốc gia.

 

-    Những người lãnh đạo quốc gia bám định vào sức mạnh làm thay đổi kinh tế Thế giới hoặc kinh tế của quốc gia khác. Họ sẵn sàng làm lũng đoạn nền kinh tế Thế giới hoặc can thiệp vào kinh tế Quốc gia khác để trục lợi về quốc gia họ. Điều này làm cho nhiều quốc gia điêu đứng và chìm sâu trong nghèo đói bởi ảnh hưởng của sự lũng đoạn kinh tế. Sự can thiệp của họ dẫn đến kinh tế nhiều quốc gia bị suy thoái và khủng hoảng.

 

 

Như vậy, trí tuệ của mỗi cá nhân cho đến nhóm người, vì bám định vào giả tướng mà chỉ biết vơ vét về mình, bám chặt vào nó mà không biết chia sẻ, chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người và nhân loại. Đó là trí tuệ u mê, u mê vì không thấu hiểu nhân quả, không thấu hiểu chân tướng của vạn vật là do duyên sinh và do duyên diệt, nếu chỉ biết lợi mình mà hại người thì sẽ sớm phải nhận quả báo do ác nghiệp tạo ra.

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng không có:

 

Cái không có từ mỗi một con người cho đến những nhóm người là sự đối lập với giả tướng có.

 

-    Có người con gái có thân tướng xinh đẹp thì bám định vào việc không có nhiều tiền mà sẵn sàng quan hệ bất chính với những người giàu có để thỏa mãn việc được hưởng lạc tiền tài từ người giàu có.

 

Người giàu có vì bám định vào việc mình giàu có mà không có người đẹp bên cạnh nên sẵn sàng quan hệ bất chính để thỏa mãn nhu cầu dục vọng. -   Có người bám định vào việc nghèo khó, họ sẵn sàng buôn bán trẻ em, sẵn sàng môi giới mại dâm, thậm chí hành nghề mại dâm để thỏa mãn việc giàu có.

 

-   Có người bám định vào việc không có nhiều tiền và giàu sang như người khác, họ tìm mọi phương pháp làm giàu. Họ bất chấp thủ đoạn vi phạm pháp luật để làm giàu như buôn bán ma túy, đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buôn bán những thứ gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của mọi người để nhanh chóng giàu có và trục lợi về mình.

 

-    Có người bám định vào việc mình chưa đủ giàu có bằng những người giàu có khác, chưa dư thừa tiền của để giúp người nghèo khó hơn, nên họ luôn coi mình không có điều kiện giúp người.

 

-   Có người bám định vào việc mình có chức có quyền. Họ coi người cấp dưới và những người khác không có được địa vị như họ mà sẵn sàng khinh khi, coi thường, thậm chí xúc phạm và chà đạp người không có địa vị như họ.

 

-  Có người bám định vào việc họ có chức quyền nên họ không giúp đỡ những người có tài thật sự mà không có tiền hối lộ cho họ để thăng quan tiến chức.

 

-   Những người lãnh đạo của nhiều quốc gia bám định vào việc quốc gia họ không có nhiều nguồn tài nguyên nên họ kích động chiến tranh xâm lược để vơ vét tài nguyên thiên nhiên của quốc gia khác.

 

-   Có nhiều lãnh đạo quốc gia bám định vào việc lãnh thổ quốc gia họ nhỏ bé mà mang binh đi xâm lược để mở rộng lãnh thổ. Sự tham lam, sự u mê từ mỗi con người cho đến những nhóm người, do bám định vào cái không có khiến cho vô số người chịu khổ đau, vô số người ngã xuống vùi thân tướng của mình nơi chiến trận, khiến cho mỗi bước chân trên mặt đất là nơi có người gửi thân xác nằm xuống do chiến tranh. Nhiều gia đình, người già và trẻ nhỏ vô tội phải sinh ly tử biệt, nỗi đau của sự mất mát khiến cho những người chết tạo thành oán khí khắp nhân gian, khiến cho người sống không thể nguôi ngoai đau khổ.

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng yêu thương, sở thích:

 

Đó là do mắt ta nhìn thấy và đôi tai ta nghe thấy bởi giả tướng ta đang có hoặc ta không có, mà khiến cho trí tuệ ta bám định vào, bám vào để hưởng lợi ích về mình, gây tổn hại người khác.

 

-   Có người bám định vào việc yêu thương gia đình của mình, mải miết chăm chút cho gia đình, họ chỉ nhất nhất làm mọi thứ vì gia đình của họ mà không màng đến việc giúp đỡ và quan tâm đến mọi người xung quanh. Họ chỉ ích kỷ cho gia đình họ và coi những việc khác là của xã hội, là việc chung không cần phải quan tâm và giúp đỡ.

 

-    Có người đàn ông đã có gia đình, vì bám định vào người phụ nữ khác xinh đẹp hơn vợ mình, dù người phụ nữ đó có gia đình hay chưa có gia đình. Họ yêu thương mù quáng, dẫn đến ngoại tình để rồi vi phạm giá trị đạo đức, phạm vào tội thông dâm tà dâm.

 

-    Có người phụ nữ dù có gia đình rồi nhưng lại bám định vào người đàn ông đã có gia đình hay chưa có gia đình, vì thấy ở người đàn ông đó hơn người chồng của mình mà yêu thương mù quáng dẫn đến vi phạm giá trị đạo đức, phạm vào tội thông dâm tà dâm.

 

-   Có người phụ nữ chưa lập gia đình, vì bám định vào người đàn ông có gia đình mà yêu thương mù quáng dẫn đến

 

vi   phạm giá trị đạo đức là ngoại tình.

 

-   Có người vợ hay chồng vì bám định vào việc vợ hay chồng mình đã ngoại tình mà cũng ngoại tình để trả thù.

 

-    Có người bám định vào sở thích dùng những hình tướng, giả tướng, là sản phẩm hàng hiệu, sẵn sàng vay mượn để thỏa mãn sở thích đó mà không màng đến sự khó khăn hay lợi ích của vợ chồng con cái.

 

-    Có người bám định vào sở thích chơi bời, cờ bạc, rượu chè, dẫn đến ngạo mạn để rồi chìm đắm trong những sở thích đó mà không màng đến lợi ích của gia đình và mọi người xung quanh.

 

 

Như vậy, việc trí tuệ bám định vào yêu thương mù quáng dẫn đến hành động ngoại tình, thông dâm, tà dâm để thỏa mãn dục vọng ích kỷ của cá nhân mà gây khổ đau cho nhiều người thân và xã hội. Sở thích để thỏa mãn lợi ích ích kỷ cá nhân mà gây tổn thương hay không đem lại lợi ích cho người thân và xã hội cũng là trí tuệ u mê.

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng thù ghét:

 

Đó là do mắt ta nhìn thấy, đôi tai ta nghe thấy bởi giả tướng nào đó, nó khiến cho trí tuệ của ta bám định vào giả tướng mà ta không thích, ta thù ghét. Trí tuệ của ta không thấy được chân tướng của sự thật, của giả tướng mà chìm đắm trong u mê để rồi vì cái ích kỷ của ta mà gây tổn thương cho mọi người. -   Có người bám định vào việc không thích người khác

 

  tính cách hay điều gì đó mà nói xấu họ.

 

-     Có người bám định vào việc không thích những người cùng đẳng cấp mà khinh khi họ.

 

-    Có người bám định vào việc ai đó không thỏa mãn được sự mong mỏi và kỳ vọng của mình mà không thích hay ghét họ.

 

-   Có người bám định vào việc ai đó mắng mình mà sân hận rồi thù ghét họ.

 

-   Có người bám định vào việc ai đó ngăn cản mình làm việc gì mà sân hận rồi thù ghét họ.

 

-   Có người bám định vào việc bị ai đó lừa hại mình mà coi họ là kẻ thù và tìm mọi cách để trả thù họ.

 

-   Có người bám định vào việc ai đó đánh hay mưu hại mình hoặc người thân của mình để rồi đánh lại hay mưu hại lại nhằm thỏa mãn sự trả thù nơi thân ta.

 

-   Có người vì bám định vào sở ghét điều gì đó, có khi là mưa, có khi là nắng, có khi là sự bẩn thỉu, có khi là điều gì đó mà dẫn đến khó chịu, sân hận để rồi dẫn đến hành động thỏa mãn sở ghét đó mà gây tổn thương cho người khác.

 

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được:

 

Khi ta không thỏa mãn hay không có các giả tướng để thỏa mãn thì sẽ dẫn đến sinh khởi của trí tuệ mong muốn, cầu thị, nhờ vả ai đó hay thậm chí là cầu xin Thánh thần, Thượng đế để có được các giả tướng. Việc cầu để thỏa mãn giả tướng có vô số giả tướng như: cầu giàu sang, cầu có nhà cửa, cầu có xe cộ tốt hơn, cầu bình an, cầu có con trai hay cầu có con, cầu thăng quan tiến chức, cầu nên duyên vợ chồng, cầu thành công việc gì đó, người tu hành cầu pháp để có thần thông cao hơn người khác, thậm chí cầu cho người khác gặp họa để mình đạt được giả tướng mình cầu…

 

-   Khi ta cầu từ việc nhờ vả ai đó, làm lễ cầu xin Thần thánh, Thượng đế mà khi kết quả không được sẽ khiến cho ta thất vọng, chán nản, thậm chí sân hận và phỉ báng cả Thần thánh, Thượng đế đã không trợ giúp cho ta đạt được điều ta đang cầu. Khi đó trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được và vì sự ích kỷ sẽ sẵn sàng gây tổn thương đến nhiều người và xã hội.

 

-    Có người bám định vào việc bỏ nhiều tiền để chạy chức chạy quyền, và khi tiền mất mà không đạt được mong cầu đó dẫn đến thù ghét người mà không giúp mình.

 

-   Có người bám định vào việc cầu sinh được con trai mà không có dẫn đến chán nản mà đi ngoại tình để tìm người có thể sinh con trai cho người đó.

 

-   Có người bám định vào việc làm bao nhiêu lễ cầu xin Thần thánh, Thượng đế phù hộ cho mình giàu sang, làm ăn thành công. Khi kết quả ngày càng khiến cho nợ nần chồng chất thì người đó quay sang phỉ báng Thánh thần và Thượng đế, họ lại bám định vào việc thù ghét.

 

-   Người tu hành, đệ tử vì bám định vào giả tướng thần thông, pháp lực, khi cầu không được từ người thầy, họ sẵn sàng khi sư diệt tổ, hãm hại đồng môn.

 

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng cầu được: 

Khi con người cầu và đạt được sẽ khiến cho trí tuệ bám định vào giả tướng là ta đã cầu được. Khi cầu được rồi sẽ chuyển sang trí tuệ bám định vào giả tướng ta đã có, và lại tiếp tục bám định vào giả tướng mình không có để lại bám định vào giả tướng cầu. Khi con người bám định vào giả tướng cầu được rồi sẽ khiến cho trí tuệ con người dễ ngạo mạn vào khả năng của trí tuệ, vào khả năng may mắn, vào sự mê muội trong mê tín dị đoan bởi lễ bái, dễ dàng ngạo mạn với những người cầu không được. Khi con người cầu vào các giả tướng và đạt được sự cầu đó sẽ lại khiến cho trí tuệ tiếp tục bám định vào các giả tướng để tham lam, vơ vét các giả tướng khác về cho thân tướng của họ được thỏa mãn.

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng có trí tuệ:

 

Khi con người có bằng cấp, được sắc phong, được phong tặng, có địa vị trong xã hội, có sự giàu sang, có danh tiếng, có đức cao trọng vọng trong tôn giáo, người tu hành có thần thông pháp lực…, họ sẽ rất dễ bám định vào việc họ có trí tuệ. Họ nghĩ họ hơn người khác bởi cái giả tướng đó mà u mê khinh khi những người không có được giả tướng như họ.

 

-    Có người bám định vào việc mình có bằng cấp cao trong xã hội mà coi mình là tầng lớp thượng lưu có trí tuệ hơn người, khinh khi coi thường những người không có bằng cấp như mình.

 

-   Có người bám định vào việc mình đọc nhiều kinh văn hơn người khác mà cho rằng mình là bậc trí tuệ. Họ đọc nhiều mà không phân biệt được lý luận đó có đúng với quy luật tự nhiên không, có mang lại được lợi ích cho mọi người không, họ bám định vào mà u mê. -   Có người bám định vào việc mình giàu sang mà coi mình có trí tuệ hơn người, dẫn đến khinh khi coi thường những người không giàu có như họ.

 

-  Có người bám định vào việc mình có thần thông pháp lực, có khả năng về tâm linh. Họ coi họ là bậc trí tuệ hơn người, sẵn sàng dẫn dụ lừa mọi người để trục lợi, họ tạo ra sự huyền bí và biến thành mê tín dị đoan khiến cho nhiều người khổ đau.

 

-    Có người bám định vào việc có chức có quyền, mà miệt thị hay khinh khi người nông dân và các tầng lớp xã hội thấp khác.

 

 

Họ u mê khi trí tuệ của họ bám định vào bằng cấp, bám định vào giàu sang phú quý, bám định vào địa vị, bám định vào chức vụ trong tôn giáo mà không hiểu rằng sự hiểu biết của họ cũng chỉ giới hạn trong phạm vi lĩnh vực và công việc chuyên môn. Họ không hiểu bậc trí tuệ giác ngộ là phải thấu hiểu hết tất cả Vũ trụ quan trong và ngoài Vũ trụ. Vì họ bám định nên họ u mê mà coi họ là bậc trí tuệ, họ sẵn sàng vì lợi ích của họ mà gây tổn hại lợi ích của mọi người và xã hội.

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng không có trí

 

tuệ:

 

Những người không được học hành nhiều, không có bằng cấp, không có địa vị, không giàu sang, không có chức sắc gì trong tôn giáo, họ là những người lao động ít học. Trí tuệ của họ luôn bám định vào việc họ không có trí tuệ bằng người khác.

 

Có người bám định vào việc trí tuệ họ không có học hành và không có bằng cấp nên họ tự ti và sợ hãi khi giao tiếp với những người có bằng cấp, với những người giàu sang và có địa vị.

 

-    Có người bám định vào việc mình không có trí tuệ thấu hiểu tâm linh nên dễ dàng bị những người dùng tâm linh để lừa hại và chiếm đoạt tiền của dựa trên tín ngưỡng tâm linh và niềm tin tôn giáo.

 

 

Dù bám định vào có trí tuệ hay không có trí tuệ thì đều là trí tuệ u mê. U mê ở sự bám định vào mà không hiểu rằng con người có sự bình đẳng, không có sự phân chia giai cấp, mỗi con người tồn tại hiện kiếp đều có sự hiểu biết ở các lĩnh vực khác nhau, mỗi kiếp người đều sẽ trải qua các thân tướng khác nhau. Do đó không thể đem sự hiểu biết ở lĩnh vực này đi nói là ta có trí tuệ hơn người hiểu biết ở lĩnh vực khác, không thể so sánh giữa mọi người, sự so sánh khập khiễng như vậy sẽ dẫn đến sự u mê của sự ngạo mạn hay tự ti.

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng hành động:

 

Khi chúng ta đã bám định vào các giả tướng như có, không có, yêu thương, thù ghét, cầu được, cầu không được, có trí tuệ, không có trí tuệ, thì sẽ dẫn đến việc trí tuệ của chúng ta lại bám định vào giả tướng hành động. Vì trí tuệ đã u mê bám định vào các giả tướng để thỏa mãn lợi ích của mình nên họ sẽ sẵn sàng hành động tạo ác nghiệp hại người và vạn vật.

 

-    Có người bám định vào việc yêu thương người con gái khác khi đã có vợ con, họ sẽ hành động quan hệ ngoại tình với người con gái đó, như thế là ác nghiệp đã tạo.

-    Có người bám định vào có chức có quyền, họ bám định vào người hối lộ nhiều tiền thì mới giúp, và tiếp đến họ hành động giúp thăng quan tiến chức cho người đó, như thế nghiệp ác đã tạo.

 

-   Có người bám định vào việc không có nhiều tiền mà dẫn đến hành động buôn bán, làm ăn vi phạm pháp luật, nghiệp ác đã tạo.

 

-   Có người bám định vào việc mình có chức sắc trong tôn giáo hoặc được gọi là thầy tâm linh mà dẫn đến hành động lợi dụng tâm linh, tôn giáo để trục lợi hại người, nghiệp ác đã tạo.

 

 

Như vậy trí tuệ bám định vào hành động là hành động tạo ra nghiệp ác để thỏa mãn và đạt được lợi ích về mình mà gây tổn thương cho người khác và xã hội.

 

Trí tuệ bám định vào giả tướng không hành động:

 

Khi chúng ta đã bám định vào các giả tướng như có, không có, yêu thương, thù ghét, cầu được, cầu không được, có trí tuệ, không có trí tuệ, thì sẽ dẫn đến việc trí tuệ của chúng ta lại bám định vào giả tướng không hành động. Đó là vì lợi ích ích kỷ của mình mà không hành động giúp đỡ mọi người, xã hội.

 

Có người bám định vào trí tuệ mà coi mình là cao sang và thượng lưu, khi gặp người nghèo khó nhờ giúp, họ bám định vào mà không giúp đỡ. 

-   Có người bám định vào có và yêu thương gia đình, họ chỉ chăm chăm lo toan cho gia đình họ mà không hành động giúp đỡ người khác.

 

-    Có người bám định vào chức sắc trong tôn giáo, vị thế trong tâm linh, họ bám định vào cao sang và trí tuệ nên họ không giúp đỡ những người nghèo khó đến nhờ.

 

-    Có người bám định vào việc mình chưa đủ trí tuệ giác ngộ, chưa đủ sức lực nên không hành động giúp người gặp nạn hay gặp khó khăn khổ đau.

 

 

Vì 10 giả tướng đều là màn đêm tối mịt mù nên khi con người chúng ta bám định vào một giả tướng nào thì hình ảnh như ta đang sống giữa đêm tối mịt mù đó. Khi đó ta sẽ không phân biệt được thật giả trong đêm tối, ta sẽ không biết đâu là đúng và đâu là sai, ta không nhận biết được hiểm nguy trong màn đêm tối đó. Từ việc bám định vào một giả tướng sẽ dẫn đến bám định vào hết tất cả các giả tướng khác mà hành động hay không hành động, đó là vì sự ích kỷ cá nhân mà gây tổn thương cho người khác.

 

 

6.2. Trí Tuệ giác ngộ

 

Trí tuệ giác ngộ là trí tuệ không bị bám định vào giả tướng, đó là trí tuệ thấu hiểu và biết chuyển hóa giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh và con người. Để có được trí tuệ giác ngộ thì mỗi con người phải thấu hiểu và luôn luôn dùng hai Chân lý (Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ) để tham chiếu, soi thấu, thấy chân tướng của tất cả các giả tướng là do duyên sinh và do duyên diệt, là Nhân quả, để rồi chuyển hóa các giả tướng đó thành lợi ích cho Tuệ linh, con người mà không màng gì đến lợi ích cá nhân ta.

 

Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ như là mặt trời tỏa ánh sáng hào quang rực rỡ, khi chiếu vào màn đêm tối mịt mù của giả tướng nào thì sẽ xua tan sự giả dối của u mê của giả tướng đó. Hai Chân lý sẽ phơi bày sự thật cho Vũ trụ, Tuệ linh và con người thấu hiểu sự thật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Mặt trời của hai Chân lý chiếu đến tất cả các giả tướng thì tất cả màn đêm giả dối của giả tướng đó sẽ bị xua tan và sự thật sẽ hiện hữu. Khi thấu hiểu hết sự thật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người thì đó là trí tuệ giác ngộ.

 

 

Những biểu hiện của Trí tuệ giác ngộ:

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng có:

 

Khi trí tuệ thấu hiểu Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, đó chính là ánh sáng mặt trời soi thấu vào trong giả tướng có. Do đó sẽ thấy sự thật của giả tướng có. Ta tham chiếu vào giả tướng có để chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người và cho chúng sinh, đó chính là trí tuệ giác ngộ ở giả tướng có.

 

-  Có người giàu có, họ không bám định vào việc họ giàu có mà coi thường người không giàu có. Khi họ thấu hiểu Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, họ không ích kỷ cho bản thân họ. Họ tham chiếu vào điều kiện mà họ có để chuyển hóa thành lợi ích cho cộng đồng xã hội, cứu giúp dân chúng vùng nghèo đói, vùng thiên tai dịch bệnh. Đó là trí tuệ giác ngộ đã có để lan tỏa tình yêu thương nhân loại.

 

Có người có địa vị, có chức có quyền, họ thấu hiểu được Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ. Họ không bám định vào đó mà phân biệt cao sang hay địa vị, họ không lạm dụng quyền lực để tham ô tham nhũng. Họ tham chiếu vào địa vị quyền lực họ đang có mà giúp đỡ những nhân tài vào các vị trí đúng với năng lực của họ và mang lại nhiều lợi ích cho Đất nước, đó là trí tuệ giác ngộ.

 

-   Có người có địa vị chức sắc trong tôn giáo, họ không bám định vào đó mà khinh khi không tiếp những người nghèo. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ sẽ thương yêu và giúp đỡ tất cả mọi người mà không phân biệt người đến nhờ là người giàu hay nghèo, đó là trí tuệ giác ngộ.

 

-   Có người có gia đình với cuộc sống hạnh phúc. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào sự chăm chăm chỉ lo cho gia đình mình. Họ tham chiếu vào cuộc sống mình đang có để đi chia sẻ, giúp đỡ những người khác vượt qua khó khăn khổ đau, đó là trí tuệ giác ngộ.

 

-   Có người giàu có, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào việc thỏa mãn sự giàu có đó để hưởng lợi ích. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ tham chiếu vào điều kiện họ có để kinh doanh hay tạo ra sản phẩm có lợi ích cho người dân mà không màng gì đến lợi ích cá nhân mình, đó là trí tuệ giác ngộ.

 

-   Có người có cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ tham chiếu vào cuộc sống của mình mà không bám định vào giả tướng bên ngoài để dẫn đến gia đình ly tán. Họ vun vén và xây dựng cuộc sống gia đình tốt đẹp hơn, đó là giác ngộ.

 

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng không có: Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu bản chất của giả tướng không có, tham chiếu vào nó mà chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người và chúng sinh. Đó là trí tuệ giác ngộ giả tướng không có.

 

-   Có người không giàu có, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào việc phải giàu có bằng mọi cách mà gây tổn hại cho mọi người. Họ lao động chân chính, cố gắng cải tạo cuộc sống tốt đẹp hơn và mang lại được nhiều lợi ích cho mọi người, đó là giác ngộ.

 

-   Có người không có địa vị cao, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào việc không có địa vị cao mà chạy chức chạy quyền hay tham ô tham nhũng. Họ cố gắng cống hiến hết mình cho Đất nước bằng trí tuệ không ngừng học tập trau dồi, đó là giác ngộ.

 

-  Có người không bám định vào việc không có chức sắc trong tôn giáo, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ luôn luôn giúp đỡ tất cả mọi người mà không màng đến địa vị chức sắc, đó là giác ngộ.

 

-   Có người không bám định vào việc hơn thua với bạn đồng môn hay thầy dạy. Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không màng đến sự cao thấp hơn thua mà luôn sống đúng đạo thầy trò, không ngừng hành thiện giúp đỡ mọi người, đó là giác ngộ.

 

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng yêu thương, sở thích:

 

Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng yêu thương, sở thích, từ đó tham chiếu và chuyển hóa giả tướng đó thành lợi ích cho mọi người và chúng sinh. Đó là trí tuệ giác ngộ vào giả tướng yêu thương, sở thích.

 

-   Có người con gái xinh đẹp, họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không dùng sắc đẹp đó để đi yêu thương người có gia đình hoặc tà dâm mà vi phạm luật Nhân quả. Họ tham chiếu vào thân tướng họ mà chuyển hóa thành lao động chân chính, yêu thương chân chính, tuân thủ luật pháp quốc gia và luật Nhân quả để đem lại hạnh phúc cho chính mình và mọi người khác. Đó là giác ngộ.

 

-    Có người khi đã có gia đình, cuộc sống vợ chồng không được viên mãn. Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào đó mà đi yêu thương ngoại tình, thông dâm. Họ cùng vợ chồng vun vén và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn và không ảnh hưởng đến hạnh phúc của người khác, đó là giác ngộ.

 

-   Có người thích cờ bạc, ăn chơi, mua sắm phung phí. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ sẽ không bám định vào sở thích đó. Họ chuyển hóa thành lao động chân chính, lo lắng cho mọi người xung quanh, cải tạo cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là giác ngộ.

 

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng thù ghét:

 

Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng thù ghét, tham chiếu và chuyển hóa nó thành lợi ích cho mọi người, đó là trí tuệ giác ngộ ở giả tướng thù ghét.

 

-   Có người sân hận người nào đó đã làm cho mình tổn thương, khi thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào thù ghét người đó nữa. Họ an vui và mang lại lợi ích cho mọi người và chính người mà họ đã thù ghét, đó là giác ngộ.

 

-    Có người nào đó khi không thỏa mãn được các giả tướng nên thù ghét và sân hận với người mà không cho mình được thỏa mãn. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không còn bám định vào giả tướng đó. Họ tham chiếu và chuyển hóa để mang lại lợi ích cho mọi người và chính người mà mình đang thù hận, đó là giác ngộ.

 

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng cầu được hay cầu không được:

 

Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng cầu là không có, để mọi người không còn bám định vào cầu. Khi đó mọi người hăng say lao động sản xuất, lao động chân chính, tu tập chân chính, cố gắng cải tạo cuộc sống tốt đẹp hơn và mang lại lợi ích cho mọi người khác. Đó là giác ngộ vào giả tướng cầu.

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng có trí

 

tuệ:

 

Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng có trí tuệ, tham chiếu vào nó để chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người. Đó là trí tuệ giác ngộ vào giả tướng có trí tuệ.

 

-  Có người có chức có quyền, có học hàm học vị cao. Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào việc họ có bằng cấp hay địa vị. Họ luôn luôn giúp đỡ mọi người, giúp đỡ những người nghèo, họ quan tâm đến lợi ích của chúng sinh, đó là giác ngộ. -   Có người có chức sắc trong tôn giáo, thấu hiểu về tâm linh. Khi thấu hiểu hai Chân lý, họ không bám định vào đó, họ không lừa người để trục lợi. Họ quan tâm và giúp đỡ mọi người mà không phân biệt, đó là giác ngộ.

 

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng không có trí tuệ:

 

Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng không có trí tuệ, tham chiếu vào nó để cố gắng không ngừng cải tạo trau dồi trí tuệ và chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, đó là trí tuệ giác ngộ.

 

-   Có người nông dân, họ không có bằng cấp, không có địa vị. Khi họ thấu hiểu hai Chân lý, họ tham chiếu và thuyết giảng hai Chân lý cho mọi người khác cùng thấu hiểu. Họ không ngại ngùng hay tự ti mà đi thuyết giảng, họ chuyển hóa thành lợi ích cho nhiều người, đó là giác ngộ.

 

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng hành động:

 

Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng hành động, tham chiếu vào hành động để mang lại lợi ích cho mọi người. Đó là giác ngộ vào hành động.

 

-    Có người do thấu hiểu hai Chân lý nên tham chiếu vào các giả tướng mình giàu có để chuyển hóa thành hành động là làm từ thiện giúp đỡ người nghèo và dân chúng vùng thiên tai lũ lụt. Đó là trí tuệ giác ngộ.

 

-   Có người có chức có quyền, do thấu hiểu hai Chân lý, họ tham chiếu vào giả tướng mình có chức có quyền mà chuyển hóa thành hành động để giúp đỡ các nhân tài vào các vị trí phù hợp, giúp đỡ dân tộc Đất nước cường thịnh, đó là giác ngộ.

 

 

Người thấu hiểu hai Chân lý, họ luôn luôn gieo duyên để chuyển hóa thành hành động giúp đỡ mọi người thấu hiểu hai Chân lý và vượt qua u mê để có trí tuệ giác ngộ.

 

Trí tuệ không bám định vào giả tướng không hành động:

 

Đó là dùng ánh sáng mặt trời của hai Chân lý để soi thấu giả tướng không hành động. Đó là không hành động tạo nghiệp gây tổn thương đến mọi người, không hành động vi phạm pháp luật quốc gia nơi mình sinh sống, không hành động vi phạm luật Nhân quả, đó là giác ngộ vào giả tướng không hành động.

 

-     Có người không bám định vào việc mình nghèo, không bám định vào việc cầu dẫn đến không hành động làm giàu bằng mọi cách mà vi phạm pháp luật hay vi phạm đạo đức con người. Do họ thấu hiểu hai Chân lý nên họ lao động chân chính để cải tạo cuộc sống và mang lại lợi ích cho mọi người và xã hội, đó là giác ngộ.

 

-   Có người có địa vị quyền chức, họ thấu hiểu hai Chân lý nên họ không hành động giúp đỡ những người nhiều tiền không có tài, không có đức, chạy chức chạy quyền. Họ không hành động để mang lại lợi ích cho dân tộc, cho Đất nước, đó là giác ngộ.

 

-   Có người có chức sắc trong tôn giáo, họ không bám định vào việc có địa vị, họ không bám định vào việc không có nhiều tiền. Họ thấu hiểu hai Chân lý, họ chuyển hóa thành không hành động tạo ra mê tín dị đoan, không hành động lừa hại mọi người. Họ chuyển hóa thành hành động giúp đỡ mọi người bài trừ mê tín dị đoan, đó là giác ngộ.

 

 

6.3. Căn cơ Trí tuệ

 

Bản chất của trí tuệ là u mê là do bám định vào giả tướng và có được trí tuệ giác ngộ khi thấu hiểu hai Chân lý và chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người và chúng sinh, Tuệ linh, con người. Để từ cảnh giới của trí tuệ u mê tiến đến cảnh giới của trí tuệ giác ngộ viên mãn cũng là khoảng cách, khoảng cách này có thể chia ra làm 4 nấc thang để đo căn cơ của mỗi người, Tuệ linh có nghị lực vượt qua từng nấc thang. Thông qua 4 căn cơ này để cho con người dễ dàng nhận thấy mình hay ai đó đang ở căn cơ nào mà dễ dàng vận dụng hai Chân lý tiếp tục chuyển hóa mình và mọi người đạt được trí tuệ giác ngộ viên mãn.

 

Bản chất của thang đo căn cơ trí tuệ chính là việc trí tuệ của mỗi Tuệ linh, con người giải mã, mã hóa được lượng mã sóng trí tuệ của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ ở mức từ đơn giản tới siêu trí tuệ, từ nhỏ nhất cho tới bao trùm trong và ngoài Vũ trụ. Muốn gia tăng được khả năng giải mã, mã hóa các mã sóng trí tuệ của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người, thì cần sự trải nghiệm khổ đau, kiếp nạn đủ lớn và cực đại, thậm chí là phải tột cùng trong nhiều kiếp tu hành ở nhân gian.

 

Căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp:

 

-   Người có căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp là người không thấu hiểu và không tin về sự thật cội nguồn nhân loại, về sứ mệnh tu hành ở nhân gian, không thấu hiểu vạn vật và hai Chân lý, không tin Quy luật Nhân quả. Họ mải mê và đắm chìm trong việc bám định và vơ vét các giả tướng về nơi thân họ để hưởng thụ. Người có căn cơ thấp thường là chưa trải qua khổ đau nên chưa tin vào nhân quả nghiệp báo. Họ chỉ tin vào trí tuệ mà họ bám định, tin và đắm chìm trong giả tướng họ có, họ đắm chìm trong mưu cầu, đắm chìm trong tất cả các giả tướng.

 

-  Hình ảnh người có căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp là hình ảnh một người lặn ngụp dưới đáy dòng sông. Vì dưới đáy dòng sông có nhiều cát bụi nên họ nhắm mắt để hưởng thụ sự mát mẻ của phù du giả tướng, họ không nhận biết được sự nguy hiểm dưới đáy dòng sông. Họ tự hào vào việc họ thấy và cảm thấy thỏa mãn hay chưa thỏa mãn vào các phù du giả tướng mà vẫn đắm chìm trong các giả tướng. Họ không màng đến ánh sáng của hai Chân lý.

 

-   Họ sẽ chuyển hóa căn cơ trí tuệ lên cao hơn khi có thủy quái tấn công họ. Khi đó, họ chợt nhận ra, họ hoảng hốt vì bị tổn thương và lo sợ sẽ chết dưới đáy dòng sông nên họ phải ngoi mình lên mặt nước và đầu họ không còn dưới đáy sông nữa.

 

-   Những người căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp sẽ phải tiếp tục trải qua vô số kiếp nạn khổ đau và sẽ cải tạo Trụ linh thành công vào nhiều đời sau. Tức là những người có căn cơ trí tuệ giác ngộ thấp phải gặp nhiều khổ đau kiếp nạn đến và nhận ra khổ đau thì họ mới chuyển hóa căn cơ lên căn cơ trí tuệ giác ngộ trung bình và các căn cơ cao hơn.

 

Căn cơ trí tuệ giác ngộ trung bình:

 

-    Những người này họ bán tín bán nghi, nửa tin nửa nghi ngờ về cội nguồn nhân loại, về sứ mệnh tu hành ở nhân gian, về Quy luật Nhân quả, về quả báo, về hai Chân lý. Họ đã trải qua ít nhiều khổ đau rồi, họ vẫn mải mê chìm đắm trong phù du giả tướng, vẫn muốn vơ vét và bám định vào các giả tướng.

 

-    Hình ảnh tượng trưng cho người có căn cơ trí tuệ giác ngộ trung bình là một người đằm mình dưới dòng sông, đầu và mặt người đó đã ngoi lên trên mặt nước, mặt họ đã nhìn thấy Mặt trời và ánh sáng mặt trời của hai Chân lý. Tuy nhiên, họ vẫn còn đắm chìm hay chưa thỏa mãn bởi phù du giả tướng như dòng nước mát mà không đi lên bờ. Họ không sợ vi phạm Quy luật Nhân quả nên họ chưa đi theo ánh sáng của hai Chân lý. Họ chỉ hoảng sợ và sợ chết khi có con thủy quái cắn vào thân họ đang chìm trong dòng nước mà chạy lên bờ.

 

-   Họ cũng từng trải qua khổ đau, nhưng phải đến khi chịu nhiều khổ đau kiếp nạn đến, họ mới tin là việc đằm mình trong u mê của giả tướng sẽ khiến họ chịu quả báo và cái chết. Lúc đó họ sẽ tin nhân quả và sự an toàn nơi ánh sáng mặt trời của hai Chân lý mà đi theo lên bờ sông. Những người căn cơ trí tuệ giác ngộ trung bình sẽ phải luân hồi trong nhiều kiếp và sớm cải tạo Trụ linh thành công trong các đời sau khi khổ đau kiếp nạn đến nhiều với họ. Hình ảnh họ đang đi lên bờ sông là hình ảnh chuyển hóa thành căn cơ trí tuệ giác ngộ khá.

 

Căn cơ trí tuệ giác ngộ khá:

 

-   Những người này họ hoàn toàn tin nhân quả, tin cội nguồn nhân loại, tin sứ mệnh tu hành ở nhân gian, họ đã trải qua nhiều khổ đau rồi. Họ đang từng bước rời bỏ sự bám định vào các giả tướng và từng bước chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh để hướng đến ánh sáng mặt trời của hai Chân lý.

 

-   Hình ảnh người có căn cơ trí tuệ giác ngộ khá là một người đang đi từ dưới dòng sông sâu lên bờ, họ đang đi và hướng về ánh sáng mặt trời của hai Chân lý. Khi lên bờ gặp hai Chân lý thì họ sẽ cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn tại hiện kiếp. Tuy nhiên vì họ vẫn còn nuối tiếc phù du giả tướng như dòng nước mát nên họ còn chậm chạp trong việc bước đến với ánh sáng chân lý.

 

-   Để họ chuyển hóa lên căn cơ trí tuệ giác ngộ nhanh, chỉ cần có thêm vài khổ đau hiện hữu với họ thì họ sẽ đẩy nhanh tốc độ rời xa khỏi u mê mà chuyển hóa thành căn cơ trí tuệ giác ngộ cao để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Căn cơ trí tuệ giác ngộ cao:

 

-    Là những người đã có niềm tin tuyệt đối vào cội nguồn của nhân loại, tin vào nhân quả, tin vào sứ mệnh tu hành ở nhân gian. Họ đã trải qua hết các kiếp nạn khổ đau trong nhiều đời nhiều kiếp. Họ không còn u mê chìm đắm trong sự bám định về các giả tướng. Họ biết chuyển hóa các giả tướng đó thành lợi ích cho mọi người, họ có tình yêu thương bao la cho nhân loại và muôn loài.

 

-   Hình ảnh người có căn cơ trí tuệ giác ngộ cao là hình ảnh một người đã đứng trên bờ sông, đứng dưới ánh sáng mặt trời của hai Chân lý. Họ quan sát được thế giới quan xung quanh, thấy sự thật của tất cả các giả tướng, họ an lạc tự tại nơi thân tâm. -   Những người này chỉ cần gặp ánh sáng của hai Chân lý và thực hành cải tạo Trụ linh sẽ chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng ngay.

 

Các Tuệ linh đã trải nghiệm vô số kiếp tu hành ở nhân gian với vô số các kiếp nạn khổ đau, an vui hạnh phúc trong tất cả các kịch bản và môi trường tương tác. Điều này đã giúp cho dạng sống Tuệ linh bộc phát được hết bản chất Trụ – Trí trong Trụ linh của họ. Hai Chân lý chính là tri thức để phân tích tất cả bản chất Trụ – Trí của Tuệ linh và con người. Thông qua hai Chân lý sẽ xây dựng được phương pháp tuyệt vời nhất để Tuệ linh và con người chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Đó là đi trên con đường giác ngộ để đạt được Kết – Định – Tỏa trong Trụ linh.

 

 

7.    Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Việc giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ – Trí Kết của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng mã hóa thông tin sự thật của vạn vật vào trong Trụ linh. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

7.1. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của 3 nhóm vật chất

 

 

 

 

 

 

Hai Chân lý với Bát Không Hoàn Đạo

259

Hoàng Văn Trường (Nhật Sư Hoàn Đạo)

 

 

 


ÏBÁT KHÔNG HOÀN ĐẠO (CON ĐƯỜNG CHUYỂN SINH BỀN VỮNG)

 

Kết là rung động, là bắt tín hiệu, là thu tín hiệu, là hút về, là lấy về, là hưởng thụ, là chìm đắm, là chiếm đoạt, là cướp bóc, là thỏa mãn, là giết hại, là gây tổn hại tới vạn vật.

 

Kết có bản chất là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Bởi sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm mới rung động, mới bắt tín hiệu, mới thu tín hiệu, mới hút về, mới lấy về, mới hưởng thụ, mới chìm đắm, mới chiếm đoạt, mới cướp bóc, mới thỏa mãn, mới giết hại, mới gây tổn hại.

 

Kết ở mức nhẹ là chỉ rung động, thu hút tín hiệu. Kết ở mức rất mạnh là giết hại, thỏa mãn mà gây tổn hại tới các chỉnh thể khác.

 

Trong bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào được hình thành từ sự hợp nhất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương đều có Kết. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình thành từ hai sợi mã sóng trí tuệ đã có một sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Mà bản chất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm là Kết. Điều này cho thấy, hết thảy các cấu trúc Trí tuệ (trừ các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương và sóng điện trung tính) đều có bản chất là Kết. Có chăng mức độ Kết ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.

 

Kết tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ. Ba nhóm cấu trúc Trí tuệ tương ứng với 3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc trí tuệ giản đơn, nhóm cấu trúc Trí tuệ phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trí tuệ.

 

Kết là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào muốn phát triển và nâng cấp phải có. Bởi chỉ khi có Kết thì hết thảy các cấu trúc Trí tuệ trong Vũ trụ mới hấp thụ nhiệt lượng, hấp thụ dinh dưỡng, hấp thụ sóng điện để thực hiện được cơ chế phân tách và liên kết nhằm tồn tại, phát triển bền vững hơn.

 

Kết ở mức độ nhẹ và vừa đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững của cấu trúc Trí tuệ và mang lại lợi ích tới hết thảy các Tướng khác trong Vũ trụ. Kết ở mức độ mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ không phát triển được mà dễ dàng bị năng lượng hoại diệt gây phân rã làm vỡ cấu trúc, hoại diệt vĩnh viễn và gây tổn hại tới hết thảy các Tướng trong Vũ trụ.

 

Có 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết dễ bị phân rã và hoại diệt. Đó là 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:

 

-   Nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm màu xám với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương bất kỳ, gọi là Trụ linh đa âm mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm rung lắc mạnh, quay ngược mạnh, hút sóng điện bên ngoài về mạnh nên cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh.

 

-   Nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết rất mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm màu đen với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương bất kỳ, gọi là Trụ linh đa âm rất mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm rung lắc rất mạnh, quay ngược rất mạnh, hút sóng điện bên ngoài về rất mạnh nên cấu trúc Trí tuệ Kết rất mạnh.

 

Nhóm cấu trúc Trí tuệ Kết siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm màu đỏ máu với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương bất kỳ, gọi là Trụ linh đa âm siêu mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm rung lắc siêu mạnh, quay ngược siêu mạnh, hút sóng điện bên ngoài về siêu mạnh nên cấu trúc Trí tuệ Kết siêu mạnh.

 

Các cấu trúc Trí tuệ có bản chất Kết từ cấu trúc hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu trúc Trụ linh, cho tới cấu trúc Tướng (Tuệ linh, con người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ) ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trí tuệ đa âm. Khi đa âm, tức là lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm được phân tách ra vô số mà không cấu tạo được thành liên kết vững chắc như những sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương. Việc không tạo được sự liên kết chặt chẽ trong cấu trúc tổng hòa các sợi mã sóng trí tuệ sẽ làm cho cấu trúc Trí tuệ không có khả năng phòng thủ trước sự tấn công của năng lượng hoại diệt. Khi năng lượng hoại diệt tấn công sẽ làm cho cấu trúc Trí tuệ đó bị đứt liên kết, bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.

 

Khi các cấu trúc Trí tuệ Kết tương tác với nhau sẽ dễ dàng tạo thành hiệu ứng Kết liên kết với Kết. Đây chính là hội chứng liên kết phóng xạ âm của các cấu trúc Trí tuệ có bản chất Kết. Khi hội chứng liên kết phóng xạ âm xảy ra giữa các cấu trúc Trí tuệ, các cấu trúc Trí tuệ sẽ rung lắc mạnh, thu hút mạnh, quay ngược mạnh. Điều đó khiến cho năng lượng hoại diệt sẽ tấn công vào rất mạnh. Khi đó, các cấu trúc Kết này nhanh chóng bị phân rã và hoại diệt. Có thể nói, khi các cấu trúc Trí tuệ Kết tương tác với nhau sẽ gây tổn hại lớn cho chính cấu trúc Trí tuệ của chính nó và các cấu trúc Trí tuệ khác. 7.2. Các cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của 3 nhóm vật chất

 

Các cấu trúc Trí tuệ Kết ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất là:

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Kết trong nhóm siêu vật chất:

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.

 

Siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Hạt năng lượng âm tận cùng màu xám, màu đen, màu đỏ máu có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

-   Tuệ linh bị đa âm, bị phóng xạ năng lượng âm.

 

-   Tuệ linh đã hóa thành ngã quỷ sau quá trình tu hành

 

  nhân gian.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang phân rã và tiệm cận sự hoại diệt. Đó là họ đang rung động, hút, chiếm hữu, gây tổn hại tới các chỉnh thể khác mà không thể kiểm soát được chính họ.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang ở các cửa ngục ác nghiệp ở cõi trời Địa phủ.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang ở cảnh sống âm tại cõi trời Địa phủ.

 

-    Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ trong không gian Vũ trụ. -   Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ ở khắp điền thổ, những nơi thờ tự ở nhân gian.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang bị mắc kẹt ở nhân gian sau khi hết kiếp người mà chưa được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.

 

-  Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh và người. Là người vi phạm vào bốn hình tướng Đạo, đó là vi phạm vào những điều không được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo. Đặc biệt là những con người có đại hệ tư tưởng u mê, tiêu cực gây tổn hại Tuệ linh, con người. Họ là những người lan tỏa mê tín dị đoan, lan tỏa tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, lan tỏa chiến tranh, lan tỏa những tư tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.

 

Các siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng được phân tách ra bên ngoài Trụ linh bị mất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ được phân tách ra quá nhiều, trong khi các hạt năng lượng dương lại quá ít. Khi mất cân bằng sẽ khiến tốc độ rung lắc trong các sợi mã sóng trí tuệ của các hạt năng lượng âm rất lớn. Năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu, chúng di chuyển vào làm đồng hóa, phân rã và hoại diệt cấu trúc Trí tuệ đó. Cấu trúc Trí tuệ chính là cấu trúc năng lượng, cũng chính là cấu trúc Tướng.

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Kết trong nhóm vật chất phức tạp:

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-    Những tầng năng lượng tiêu cực có sóng điện âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu. Đó là những tầng năng lượng sóng điện âm vận hành Vũ trụ.

 

-   Những linh hồn các con thú dữ. Sau khi hoại diệt thân xác, linh hồn chúng tồn tại trên điền thổ và chúng gây tổn hại tới đời sống của con người. Chúng được gọi là yêu tinh, yêu quái.

 

-   Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính chất độc tố. Đó là những cây cối, những đất đá gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của con người và vạn vật cũng như muông thú.

 

Các Tướng phức tạp có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu. Chúng di chuyển ồ ạt vào làm đồng hóa, phân rã và hoại diệt các cấu trúc Trí tuệ. Cấu trúc Trí tuệ chính là cấu trúc năng lượng, cũng chính là cấu trúc Tướng.

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Kết trong nhóm vật chất giản đơn:

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là: -   Thân tướng con người:

 

+   Những con người có thân bệnh. Thân bệnh là năng lượng âm quá nhiều, dư thừa, khiến cho sóng điện âm dương trong cơ thể không tuần hoàn. Khi đó, năng lượng hoại diệt xâm nhập làm biến đổi cấu trúc tế bào và gây ra những bệnh lý hiểm nghèo.

 

+  Những con người có trí tuệ bám định, u mê không tin vào Quy luật Nhân quả, vào cội nguồn nhân loại, vào con đường và sứ mệnh tu hành cải tạo Trụ linh.

 

+    Những con người có trí tuệ bám định vào các giả tướng mà không hành thiện cứu giúp con người, vạn vật và muông thú.

 

+   Những con người có những hành động gây tổn hại tới vạn vật, con người, muông thú để thỏa mãn cho bản thể họ.

 

+    Những con người có đại hệ tư tưởng tiêu cực đi ngược lại Quy luật Nhân quả.

 

+    Những con người sống và lan tỏa những đại hệ tư tưởng: u mê, mê tín dị đoan, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tôn giáo cực đoan, phân chia dân tộc, phân chia sắc tộc, chiến tranh…

 

+  Những con người sống và thực hành, lan tỏa vi phạm bốn hình tướng Đạo.

 

-   Thân tướng muông thú: Đó là những con thú ăn thịt đồng loại, những con thú ăn thịt các con thú khác, những con thú không cứu giúp và bảo vệ đồng loại của chúng. Những con thú không cứu giúp muông thú khác, không giúp đỡ con người, không cứu giúp vạn vật. -   Những cỏ cây hút nước, hút dinh dưỡng để tồn tại và phát triển.

 

-   Những hang sâu trong lòng đất núi. Những vật chất đá không sinh phát ra năng lượng tốt cho vạn vật. Những kim loại, hóa chất, chất độc trong thiên nhiên, trong lòng đất.

 

-   Nước trung hòa tất cả vạn vật.

 

-   Những hành tinh có đa sóng điện âm mạnh.

 

 

8.    Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Định của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Việc giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ – Trí Định của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng mã hóa thông tin sự thật của vạn vật vào trong Trụ linh. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được điều đó sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

8.1. Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Định của 3 nhóm vật chất

 

Định là đứng im, là bất động, là tĩnh lặng, là thanh tịnh, là an lạc, là thanh lọc. Định có nghĩa là không Kết cũng không Tỏa.

 

Định có bản chất là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện chân tâm; là cấu trúc Trí tuệ cân bằng. Là chân tâm, là cấu trúc cân bằng nên mới đứng im, nên mới bất động, nên mới tĩnh lặng, nên mới thanh tịnh, nên mới an lạc, nên mới thanh lọc. Cấu trúc Trí tuệ Định chính là Trụ linh của Tướng được cấu tạo thành bởi một sợi mã sóng trí tuệ âm có sóng điện nhẹ màu trắng xám với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương nhẹ màu trắng đục. Đây là cấu trúc Trí tuệ Định

 

  mức nhẹ và thấp nhất. Định ở mức độ mạnh, rất mạnh, siêu mạnh thì đó chính là cấu trúc Trí tuệ Tỏa. Tức là khi cấu trúc Trí tuệ Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh, siêu mạnh, đó là Định ở các mức cao. Định ở mức cao là do quá trình tuần hoàn sóng điện trong Trụ linh đạt đến sự bền vững. Sự bền vững đó là do sự liên kết vững chắc giữa sóng điện âm và dương trong Trụ linh.

 

Cấu trúc Trí tuệ Định tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.

 

Cấu trúc Trí tuệ Định là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào muốn phát triển nâng cấp đều phải có. Bởi chỉ khi có Định thì hết thảy cấu trúc Trí tuệ trong Vũ trụ mới cân bằng, thanh lọc được năng lượng sau khi Kết. Chỉ có Định mới giúp cho hết thảy cấu trúc Trí tuệ Tỏa được năng lượng tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Cấu trúc Trí tuệ Định là bản chất vô cùng cần thiết cho hành trình chuyển sinh nâng cấp cấu trúc Trụ linh và bản thể vật chất. Định luôn luôn hiện hữu trong từng tích tắc của thời gian, của quá trình vận động của tất cả các dạng cấu trúc Trí tuệ (vật chất). Định sẽ được phát huy hết giá trị nếu nó được vận hành thành quy trình tự động cho quá trình Kết và Tỏa. Tức là nó phải nằm trong toàn bộ quy trình có Kết và có Tỏa. Nếu tách riêng ra, nó sẽ không có được sức mạnh siêu việt. 8.2. Các cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Định của 3 nhóm vật chất

 

Các cấu trúc Trí tuệ Định có trong 3 nhóm vật chất là:

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Định trong nhóm siêu vật chất:

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.

 

Siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Định là:

 

-    Hạt năng lượng chân tâm có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

-   Tuệ linh mới được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương thành Tuệ linh em bé.

 

-   Tuệ linh có cấu trúc năng lượng cân bằng âm dương trong Trụ linh. Đó là tại Trụ linh, có hạt năng lượng âm gốc có sóng điện âm nhẹ, và hạt năng lượng dương gốc có sóng điện dương nhẹ. Đây là Định ở cảnh giới thấp.

 

-   Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương trong Trụ linh. Trụ linh đa dương sẽ giúp cho Tuệ linh có Định ở cảnh giới cao và rất cao.

 

-   Các Tuệ linh không thiện cũng không ác. Đó là Định ở mức thấp.

 

-   Các Tuệ linh luôn luôn làm những việc thiện vì vạn vật và Tuệ linh, con người. Đó là các Tuệ linh đã đạt được thành tựu trên hành trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng như những bậc hiền triết, thánh hiền. -    Định ở cảnh giới tối thượng là Người Cha – Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Đó là bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

-     Các Tuệ linh, Linh hồn đang sống ở cảnh giới tu dưỡng, cân bằng năng lượng ở cõi trời Địa phủ.

 

-    Những con người đang sống. Họ không thiện cũng không ác, đó là Định ở mức thấp. Những con người luôn vì mọi người và vạn vật, Tuệ linh, con người, đó là Định ở mức cao.

 

-   Những con người thông qua bốn hình tướng Đạo mà vẫn cân bằng, không vi phạm làm tổn hại bốn hình tướng Đạo, từng bước lan tỏa giá trị tới mọi người, đó là Định.

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Định trong nhóm vật chất phức tạp:

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có cấu trúc Trí tuệ Định là:

 

-   Tầng năng lượng chân tâm có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là tầng năng lượng vận hành sự sống của cả Vũ trụ. Nó giúp gắn kết giữa các tầng năng lượng tạo thành sự phát triển mạnh mẽ và lớn mạnh cho Vũ trụ.

 

-     Những tầng năng lượng tích cực mang sóng điện dương có mã sóng trí tuệ phức tạp. Những tầng năng lượng này có Định ở mức cao. Nó là màng bọc chân tâm bao bọc những hạt năng lượng có sóng điện dương. Nó chính là quá trình Định ở mức cao để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

 

-   Linh hồn các con thú lành hiền. Đó là những con thú không giết hại các con thú khác, những con thú không ăn thịt thân tướng các con thú khác.

 

-   Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính thanh lọc. Đó là cây cối, là những loại đá bán quý, đá quý.

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Định trong nhóm vật chất giản đơn:

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có cấu trúc Trí tuệ Định là:

 

-   Thân tướng con người:

 

+   Những con người có thân tướng mạnh khỏe, không bệnh tật.

 

+   Những con người không thiện cũng không ác, đó là có tư tưởng cho đến hành động không thiện cũng không ác.

 

+    Những cháu bé với chân tâm ban đầu chưa thiện cũng chưa ác.

 

+    Những con người cân bằng được cuộc sống trong bốn hình tướng Đạo. Họ không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ từng bước thực hành lan tỏa giá trị đạo đức tới mọi người và vạn vật, muông thú.

 

+   Những con người có Định ở mức cao cho tới rất cao là họ sống như bản năng. Bản năng đó là luôn có tư tưởng cho đến hành động không vì mình, luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người.

 

+   Người có bộ lọc năng lượng là người có Định ở mức độ cao nhất. Họ luôn cân bằng, luôn thanh lọc, luôn an lạc, luôn chuyển hóa tuần hoàn một cách kỳ diệu.

 

-   Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không ăn thịt, không giết hại con thú khác. Đó là những con thú lành hiền. Đó là những con thú giúp đỡ những con thú khác, những con thú biết giúp đỡ con người. Những con thú biết giúp đỡ muông thú và con người là Định ở mức rất cao.

 

-   Những cỏ cây cân bằng năng lượng. Định ở mức cao.

 

-   Nước trung hòa tất cả vạn vật. Định ở mức rất cao.

 

-   Những hành tinh quay tròn xung quanh chính mình là có mức Định cao.

 

-   Trong mỗi hành tinh đều có khu vực giao nhau giữa tầng địa chất sóng điện dương và tầng địa chất sóng điện âm là khu vực có mức Định rất cao. Đó là năng lượng chân tâm gắn kết chỉnh thể hành tinh đó được bền chặt, được tồn tại và vận động để phát triển.

 

 

9.    Bản chất Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Việc giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ – Trí Tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng mã hóa thông tin sự thật của vạn vật vào trong Trụ linh. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

9.1. Bản chất Trụ – Trí Tỏa của 3 nhóm vật chất

 

Tỏa là truyền đi, lan tỏa, đẩy đi, cho đi, cứu giúp, soi sáng, dẫn đường, chỉ dẫn.

 

Tỏa có bản chất là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Bởi sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương mới truyền đi, mới lan tỏa, mới cho đi, mới cứu giúp, mới soi sáng, mới dẫn đường, mới chỉ dẫn.

 

Tỏa ở mức nhẹ là soi sáng, chỉ dẫn, truyền tải. Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể mình.

 

Trong bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào được hình thành từ sự hợp nhất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương đều có Tỏa. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình thành từ hai sợi mã sóng trí tuệ, có một sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Mà bản chất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương là Tỏa. Điều này cho thấy, hết thảy các cấu trúc Trí tuệ (trừ các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và sóng điện trung tính) đều có bản chất là Tỏa. Có chăng mức độ Tỏa ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.

 

Tỏa tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ. Ba nhóm cấu trúc Trí tuệ tương ứng với 3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc trí tuệ giản đơn, nhóm cấu trúc Trí tuệ phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trí tuệ.

 

Tỏa là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trí tuệ nào muốn phát triển nâng cấp phải có. Tỏa càng ở mức độ mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ giúp sự phát triển của cấu trúc trí tuệ ngày càng lớn mạnh. Bởi, để Tỏa được cần phải trải qua quá trình Kết và Định. Do đó, Tỏa là hoàn chỉnh của một quy trình Kết – Định – Tỏa một cách tuần hoàn và viên mãn.

 

Có 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ dễ dàng chuyển sinh thành

 

Trụ linh có bộ lọc năng lượng. Đó là 3 nhóm cấu trúc Trí tuệ

 

Tỏa từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:

 

-  Nhóm cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương phát triển màu xanh lá, gọi là Trụ linh đa dương mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trí tuệ phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh.

 

-  Nhóm cấu trúc Trí tuệ Tỏa rất mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương lan tỏa màu đỏ lửa, gọi là Trụ linh đa dương rất mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương rất mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ rất mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trí tuệ phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trí tuệ Tỏa rất mạnh. -    Nhóm cấu trúc Trí tuệ Tỏa siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trí tuệ được hợp nhất bởi một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương đoàn kết màu vàng, gọi là Trụ linh đa dương siêu mạnh. Do sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ siêu mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trí tuệ phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trí tuệ Tỏa siêu mạnh.

 

Các cấu trúc Trí tuệ có bản chất Tỏa từ cấu trúc hạt năng lượng tận cùng cho tới cấu trúc Trụ linh, cho tới cấu trúc Tướng (Tuệ linh, con người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ) ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trí tuệ đa dương. Khi đa dương, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương để cấu tạo thành các hạt năng lượng dương có liên kết dây chặt chẽ. Đồng thời những sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm được phân tách ra có sóng điện âm rất nhẹ. Sau đó phân tách, liên kết cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh tạo thành sức mạnh chuyển hóa năng lượng hoại diệt một cách kỳ diệu. Những cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh này sẽ có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt do năng lượng hoại diệt di chuyển vào ít bởi sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm rung lắc nhẹ.

 

Cấu trúc Trí tuệ mà chuyển sinh theo hướng Tỏa sẽ nhanh chóng đạt được chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng. Đó là Kết – Định – Tỏa một cách kỳ diệu. 9.2. Các cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa của 3 nhóm vật chất

 

Các cấu trúc Trí tuệ Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất là:

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Tỏa trong nhóm siêu vật chất:

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.

 

Siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, màu đỏ lửa, màu vàng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp.

 

-   Tuệ linh có Trụ linh đa dương từ mạnh tới siêu mạnh.

 

-    Tuệ linh đã đạt được những thành tựu trên hành trình chuyển sinh như các bậc hiền triết, các bậc thánh hiền.

 

-   Tuệ linh đã đắc được bộ lọc năng lượng có khả năng Tỏa ra vô lượng các siêu hạt năng lượng.

 

-  Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động tích cực luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người, là người không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ là những con người luôn có tư tưởng cho đến hành động lan tỏa những giá trị đạo đức, tuân thủ Quy luật Nhân quả, thực hành cải tạo đời sống viên mãn tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Những người đạt đến siêu Tỏa mạnh nhất chính là những con người luôn luôn Phổ độ chúng sinh, Tuệ linh, con người, vì họ lan tỏa đại hệ tư tưởng giác ngộ tới hết thảy Tuệ linh, con người cùng nhau chuyển sinh bền vững nhất cho Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Những siêu Tướng có cấu trúc Trí tuệ Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ giúp cho Trụ linh của họ phân tách ra vô số những siêu sợi mã sóng trí tuệ tạo thành vô số siêu hạt năng lượng. Từ những siêu hạt năng lượng đó sẽ cấu tạo và phát triển Tuệ linh họ trở thành liên kết được chặt chẽ, bền vững với tất cả Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Tuệ linh họ trở nên bất tử. Tuệ linh họ có cấu trúc bộ lọc năng lượng viên mãn bởi họ đi theo hướng chuyển sinh là Tỏa những giá trị giác ngộ tới tất cả Tuệ linh, con người. Họ sẽ hấp thụ và chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành siêu hạt năng lượng thông qua bộ lọc trong Trụ linh của họ.

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Tỏa trong nhóm vật chất phức tạp:

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Những tầng năng lượng tích cực có sóng điện dương màu xanh lá, màu đỏ lửa, màu vàng. Đó là những tầng năng lượng sóng điện dương vận hành Vũ trụ.

 

-    Những linh hồn các con thú xả thân cứu giúp con người, xả thân cứu giúp những con thú đồng loại hoặc những con thú khác. -   Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đá. Đó là những dòng đá luôn tỏa những năng lượng mang lại sự sống trong lành và an lạc cho con người, muông thú, cỏ cây xung quanh đó.

 

-   Những linh hồn của cây cối luôn tỏa năng lượng sự sống ra môi trường xung quanh.

 

Tướng có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh sẽ giúp cho các cấu trúc năng lượng đó nhanh được chuyển sinh bền vững và nâng cấp cao hơn.

 

Các cấu trúc Trụ – Trí Tỏa trong nhóm vật chất giản đơn:

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Thân tướng con người:

 

+   Những con người không có bệnh về thân tướng. Họ khỏe mạnh vì sự vận động lan tỏa.

 

+  Những người luôn miệt mài lao động sản xuất, không ngừng nghỉ nghiên cứu các công trình, các phương pháp, các cấu trúc phát triển sự sống tốt đẹp và bền vững tới vạn vật và Tuệ linh, con người. Họ là những công nhân, những nông dân, những thương nhân, những nhà nghiên cứu, những nhà sản xuất, những nhà sáng chế, những nhà phát minh.

 

Những người luôn luôn lan tỏa các giá trị thúc đẩy phát triển bền vững và an lạc cho con người và vạn vật. Họ là những nhà giáo, là những người lan truyền tri thức tới Tuệ linh, con người.

 

+   Những người luôn luôn đoàn kết tất cả Tuệ linh, con người, vạn vật, muông thú trong sự cảm thông, sẻ chia, giúp đỡ cùng nhau lan tỏa những giá trị, công trình phát triển bền vững tới Tuệ linh, con người.

 

+  Những người có hệ tư tưởng cho đến hành động luôn vì lợi ích mọi người, vạn vật và muông thú mà không màng tới bản thân họ.

 

+     Những người hành thiện cứu giúp Tuệ linh, con người, vạn vật và muông thú.

 

+    Những người thực hành phổ độ lan tỏa giá trị của giáo lý giác ngộ tới tất cả Tuệ linh, con người.

 

-   Thân tướng muông thú. Đó là những con thú không giết hại hay làm tổn hại những con thú khác. Nó xả thân cứu giúp các con thú khác, nó bảo vệ và cứu giúp đồng loại của nó trong sự không gây tổn hại tới con người và muông thú khác.

 

-   Những cỏ cây luôn tỏa oxy làm trong lành và an lạc môi trường sống xung quanh.

 

-   Nước lan tỏa giá trị làm mát và nuôi dưỡng vạn vật thế gian. Nó bốc hơi để tạo thành mưa rồi tưới mát cho vạn vật cùng phát triển. Nó là sự sống luôn cho đi để ngày càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh bởi nó có trong tất cả vạn vật thế gian.

 

-    Những loại đá quý, bán quý có giá trị tỏa ra những năng lượng tốt nhằm tạo ra môi trường sống trong lành và an lạc.

 

-   Lửa, ánh sáng để soi sáng và làm ấm các dạng sống ở thế gian. -    Những hành tinh có tính tỏa mạnh là các mặt trời trong Vũ trụ.

 

-   Là những cấu trúc địa chất nóng chảy, là nham thạch trong các hành tinh. Nhiệt lượng được tỏa ra để soi sáng, tạo ra sự phân tách liên kết cho vạn vật, Vũ trụ được phát triển.

 

 

III.     Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Trụ – Trí (trí tuệ)

 

Chân lý Vạn vật trong Trụ – Trí (trí tuệ) sẽ là: Trí tuệ không tự sinh ra, Trí tuệ không tự mất đi, khổ đau của Trí tuệ không tự đến và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển sinh của Trí tuệ chính là cơ chế “Phân tách và liên kết dây”.

 

Chân lý Vạn vật chính là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng không là không bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó, Chân lý Vạn vật, Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là tướng không. Thấu hiểu chữ Duyên thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật của Trí tuệ chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định, môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Trụ – Trí của tất cả các nhóm vật chất từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất để xảy ra phân tách và liên kết thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.

 

Khi chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta sẽ thấu hiểu và giải mã được cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) sinh ra và mất đi khi nào; khổ đau của Trụ – Trí; nguyên nhân Trụ – Trí u mê và giác ngộ của Tuệ linh, con người; nguyên nhân Trụ – Trí Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất; các con đường chuyển sinh của Trụ – Trí.

 

 

1.    Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) được sinh ra và mất đi

 

Nguyên nhân Trụ – Trí được sinh ra:

 

-   Đối với sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng hoại diệt: sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng hoại diệt được sinh ra là bởi hạt sóng xanh phân tách, di chuyển thẳng trong môi trường trung tính.

 

-   Đối với 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ, Tuệ linh, con người: Trụ – Trí được sinh ra là do cơ chế phân tách, liên kết trong môi trường có nhiệt lượng, di chuyển tương tác với nhau và quay tròn.

 

Nguyên nhân Trụ – Trí bị mất đi:

 

-   Đối với năng lượng hoại diệt: sợi mã sóng trí tuệ bị kích nổ và hoại diệt vĩnh viễn bởi nhiệt lượng dương.

 

-   Đối với 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ, Tuệ linh, con

 

người:

 

Trụ – Trí chuyển sinh nâng cấp thành cấu trúc mới bởi cơ chế phân tách liên kết bền vững. Bền vững là nhờ có nhiệt lượng lớn từ năng lượng hoại diệt bị kích nổ với quá trình quay tròn khi tương tác với tất cả các nhóm vật chất để mã hóa thông tin. Đó là chuyển sinh nâng cấp thành cấu trúc Trụ – Trí mới và mất đi cấu trúc Trụ – Trí cũ.

 

+   Trụ – Trí bị đứt liên kết, bị đồng hóa, bị phân rã và hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt. Năng lượng hoại diệt phân rã được Trụ – Trí là bởi cấu trúc Trụ – Trí có đa sóng điện âm.

 

 

2.   Khổ đau của Trụ – Trí (trí tuệ)

 

Khổ đau của cấu trúc Trụ – Trí là sự biến đổi mã sóng trí tuệ trong cấu trúc theo hướng phân rã và hoại diệt. Đó là cấu trúc Trụ – Trí thực hành cơ chế phân tách liên kết ra nhiều năng lượng âm. Khi sản sinh ra nhiều hạt năng lượng âm nên nhanh chóng bị năng lượng hoại diệt di chuyển vào phân rã và hoại diệt.

 

Để chấm dứt khổ đau, cấu trúc Trụ – Trí phải thực hành cơ chế phân tách liên kết theo hướng bền vững. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng để thực hiện được Kết – Định – Tỏa. Chỉ khi chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mới chấm dứt được khổ đau của cấu trúc Trụ

 

– Trí.

 

 

3.    Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) u mê và giác ngộ của Tuệ linh, con người

 

Thông qua quá trình tu hành của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian với vô số các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo, với những khổ đau, kiếp nạn, an vui, hạnh phúc, Tuệ linh và con người đã bộc phát được tất cả các độc của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng âm và thiện của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng dương của Trụ linh.

 

Chính vì vậy, vị Tuệ linh đầu tiên đã đúc kết, tìm ra được nguyên nhân của trí tuệ u mê (các kịch bản bộc phát độc của hạt năng lượng âm) và trí tuệ giác ngộ (các kịch bản bộc phát thiện của hạt năng lượng dương) của Tuệ linh và con người:

 

 

3.1. Nguyên nhân Trụ – Trí u mê của Tuệ linh và con người

 

Nguyên nhân Trụ – Trí u mê là độc của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng âm của Trụ linh đã được bộc phát hết trong các kịch bản tương tác.

 

Nguyên nhân cội nguồn của trí tuệ u mê là do trong Trụ linh của Tuệ linh khi hợp thành bởi hạt năng lượng có sóng điện âm với hạt năng lượng sóng điện dương, sóng điện âm mạnh hơn sóng điện dương. Cụ thể hạt sóng điện âm có trạng thái năng lượng màu đỏ máu, màu đen, màu xám. Sóng điện âm mạnh sẽ khiến cho Tuệ linh và chân tu có thiên hướng vơ về, hút về, lấy về mà u mê.

 

Nguyên nhân tiếp theo là do trí tuệ bám định, tham lam, vơ vét các giả tướng về nơi thân tướng ta để hưởng thụ, để thỏa mãn hay vẫn chưa thỏa mãn. Đó là bám định vào giả tướng, không thấu hiểu được sự thật và chân tướng của các giả tướng có hay không có, yêu thương hay thù ghét, cầu được hay cầu không được, có trí tuệ hay không có trí tuệ, hành hay không hành. Khi bám định vào các giả tướng, ta sẽ luẩn quẩn sống trong màn đêm tối mịt mù mà không nhận thấy sự thật của các giả tướng, dẫn đến hành động hay không hành động để thỏa mãn lợi ích ích kỷ của mình, của gia đình và dòng họ mình mà gây tổn hại đến lợi ích của người khác, của xã hội và nhân loại cũng như Tuệ linh, con người. Khi đó nhân quả báo ứng sẽ hiện hữu tại hiện kiếp hoặc trong các kiếp sau do nghiệp lực đã tạo ra bởi trí tuệ u mê. Như vậy trí tuệ u mê không tự nhiên sinh ra, nó sinh ra do duyên hợp bởi các giả tướng mà nhân loại không thấu hiểu chân tướng của vạn vật.

 

 

3.2. Nguyên nhân Trụ – Trí giác ngộ của Tuệ linh và con người

 

Nguyên nhân Trụ – Trí giác ngộ là thiện của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng dương của Trụ linh đã được bộc phát hết trong các kịch bản tương tác.

 

Nguyên nhân cội nguồn của trí tuệ giác ngộ là do trong Trụ linh của Tuệ linh khi hợp thành bởi hạt năng lượng có sóng điện âm với hạt năng lượng sóng điện dương, sóng điện dương mạnh hơn sóng điện âm thì chân tu sẽ dễ dàng giác ngộ. Cụ thể hạt năng lượng dương có trạng thái năng lượng siêu mạnh là màu vàng, rất mạnh màu đỏ lửa, mạnh màu xanh lá, còn hạt năng lượng âm nhẹ có trạng thái năng lượng màu trắng xám. Sóng điện dương mạnh sẽ giúp cho Tuệ linh và chân tu có thiên hướng hành thiện, cho đi, lan tỏa và phát triển cho vạn vật, chúng sinh, nên sẽ giác ngộ hơn.

 

Nguyên nhân thứ hai là sự thấu hiểu Chân lý Vạn vật, thông qua Chân lý Vạn vật để soi thấu chân tướng, căn nguyên của các giả tướng, dùng ánh sáng mặt trời của Chân lý Vạn vật để xua tan màn đêm tối u mê của trí tuệ. Khi ta mang ánh sáng mặt trời chiếu vào màn đêm u mê của từng giả tướng thì chân tướng của sự thật sẽ được soi sáng, màn đêm sẽ tiêu tan, trí tuệ giác ngộ sẽ hiện hữu ở từng giả tướng cho đến khi ta soi thấu hết tất cả các giả tướng và sau đó dùng Chân lý Giác ngộ để chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, cho chúng sinh thì sẽ đạt được trí tuệ giác ngộ viên mãn.

 

Soi thấu giả tướng có:

 

Khi dùng Chân lý Vạn vật để soi chiếu vào người có địa vị thì thấy địa vị đó không thuộc về người đó, địa vị đó không thuộc về ai, và chính địa vị đó nó chẳng thuộc về nó, nó do duyên mà hợp thành. Do phước báo từ kiếp trước để kiếp này người đó tạm thời có nó, nó cũng sẽ do duyên mà hoại diệt. Do đó không nên ích kỷ về mình mà gây tổn thương cho người khác, hãy tranh thủ thời gian ta đang tạm thời nắm giữ mà chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người.

 

Khi dùng Chân lý Vạn vật soi thấu vào tài sản người giàu có, thấy rằng tiền tài mà họ đang nắm giữ cũng chẳng phải của họ, chẳng phải của ai, chẳng phải của chính nó. Nó do duyên mà hợp thành, nó do phước báo từ kiếp trước mang tiền cứu người hành thiện nên kiếp này được tạm thời nắm giữ, nó cũng sẽ do duyên mà hoại diệt, nó chỉ tạm thời được người đó nắm giữ. Do đó nên tranh thủ thời gian nắm giữ nó mà chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh, không nên ích kỷ về mình.

 

Khi dùng Chân lý Vạn vật soi thấu người có cơ thể khỏe mạnh là do duyên tạo nhiều phước giúp đỡ người kiếp trước nên kiếp này được luân hồi trong thân hình khỏe mạnh. Do đó nên tranh thủ thời gian khỏe mạnh để giúp người thì kiếp sau sẽ được khỏe mạnh và tốt đẹp hơn, bởi thân tướng khỏe mạnh đó cũng do duyên mà hoại diệt.

 

Khi dùng Chân lý Vạn vật soi thấu người con gái có thân hình xinh đẹp thì kiếp trước tạo nhiều phước báo, hành thiện giúp người nên kiếp này được luân hồi trong một thân hình xinh đẹp. Nó là do duyên sinh ra, và cũng do duyên mà hoại diệt. Do đó nên làm điều có lợi ích cho mọi người, tránh dùng thân hình tạo tội tà dâm để tránh kiếp sau bị đọa thành thân hình xấu xí và bệnh tật…

 

Soi thấu giả tướng không có:

 

Khi dùng Chân lý Vạn vật soi thấu người nghèo, thấy kiếp trước lười lao động, lừa hại người nên kiếp này chịu trong thân tướng và hoàn cảnh nghèo, cái nghèo này cũng chẳng của ai, chẳng phải của họ. Do duyên mà nghèo thì cũng do duyên mà hết nghèo, và chỉ có lao động chân chính và mang lại lợi ích cho mọi người thì ta mới thay đổi cuộc sống tích cực hơn.

 

Khi dùng Chân lý Vạn vật soi thấu người không có địa vị là do duyên kiếp trước tham ô tham nhũng, kiếp này không thể có địa vị. Do đó có chạy chức chạy quyền cũng không có được. Chỉ còn cách duy nhất là chuyển hóa lợi thế mình đang có để giúp đỡ mọi người và người dân thì sẽ chuyển hóa được cuộc sống tốt đẹp hơn…

 

Soi thấu vào các giả tướng yêu thương, thù ghét, có trí tuệ, không có trí tuệ, cầu được, cầu không được, hành hay không hành:

 

Khi dùng Chân lý Vạn vật soi thấu thì thấy rằng để thân tướng kiếp này đang an trụ hoặc sống trong giả tướng nào thì do kiếp trước gieo duyên mà kiếp này được hưởng phước báo hay nhận quả nghiệp. Bản chất các giả tướng đều không bất tử, nó không của ai, và nó không của chính nó. Nên khi thấu hiểu Chân lý Vạn vật thì chúng ta không nên bám định vào nó mà gây tổn thương cho người khác. Vì khi ta gây tổn thương cho người khác, kiếp sau ta chính là người bị gây tổn thương. Do đó hãy chuyển hóa nó thành lợi ích phục vụ cho mọi người, cho chúng sinh để tạo cho ta năng lượng tốt cho kiếp sau. Như người nào đó kiếp này có trí tuệ uyên bác, họ không định vào giả tướng có trí tuệ mà khinh khi nhân loại, ngược lại họ nghiên cứu ra nhiều công trình mang lại lợi ích cho nhân loại. Khi thấu hiểu Chân lý Vạn vật và kế hoạch tu hành dưới nhân gian của các Tuệ linh, các Tuệ linh phải trải qua hết các kiếp nạn khổ đau, trải qua hết các thân tướng giả tướng khác nhau. Do đó hãy dùng Chân lý Giác ngộ để chuyển hóa các giả tướng thành lợi ích cho chúng sinh dù trong hoàn cảnh thân tướng nào đi chăng nữa. Đó là trí tuệ giác ngộ.

 

 

Chân lý Vạn vật cũng cho chúng ta thấy rằng trí tuệ u mê cũng không bất tử, không trường tồn và mãi mãi là u mê. Do đó chỉ có gieo duyên bằng chân tâm sẽ giúp chuyển hóa trí tuệ u mê thành trí tuệ giác ngộ. Chân lý Vạn vật cũng cho thấy trí tuệ giác ngộ cũng không bất tử, nó có thể từ giác ngộ mà trở lại thành u mê. Do đó chúng ta phải gieo duyên bằng chân tâm để duy trì trí tuệ giác ngộ và chuyển hóa từ trí tuệ giác ngộ thành hành động cải tạo Vũ trụ quan được tốt đẹp hơn. Cũng thông qua Chân lý Vạn vật và bản chất của trí tuệ để chúng ta thấy rằng bất cứ ai cũng có thể giác ngộ, tất cả chúng sinh, Tuệ linh, con người đều giác ngộ được, đều chuyển hóa thành trí tuệ giác ngộ nếu chúng ta dùng hai Chân lý để soi thấu các giả tướng và từng bước chuyển hóa căn cơ giác ngộ cho chúng sinh, Tuệ linh, con người.

 

Nhận diện được tất cả các kịch bản để Trụ linh bộc phát độc và thiện là một thành tựu vô cùng lớn trên hành trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Bước tiếp theo cần làm là thực hành theo con đường chuyển sinh bền vững (giác ngộ) là sẽ thành công.

 

 

4.   Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất

 

Nhận diện được nguyên nhân Trụ – Trí kết, định, tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Trụ linh của Tuệ linh và con người mã hóa được đầy đủ thông tin của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người. Khi đó, sẽ dễ dàng thực hành chuyển sinh theo hướng giác ngộ để có được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh và con người.

 

 

4.1. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Kết của 3 nhóm vật chất

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:

 

-    Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng có đa sóng điện âm. Trụ linh chính là hai hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Khi hai hạt năng lượng liên kết hợp nhất lại tạo thành Trụ linh, sóng điện của hai sợi mã sóng trí tuệ âm và dương sẽ tuần hoàn. Bất kỳ Trụ linh nào được hợp thành bởi hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu đều cấu tạo thành Trụ linh đa âm. Không cần biết sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương mạnh hay nhẹ, chỉ cần có các nhóm sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm trên sẽ khiến cho Trụ linh trở thành một cấu trúc Trí tuệ Kết từ mạnh cho đến rất mạnh và siêu mạnh. Kết mạnh là bởi do sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng âm gốc có tốc độ rung, tốc độ quay ngược mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Chính những tốc độ mạnh, rất mạnh, siêu mạnh đó đã khiến cho bản chất của cấu trúc Trí tuệ là hút về. Khi hút về với tốc độ mạnh sẽ khiến cho quá trình phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm, các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương không được sản sinh. Điều này làm mất sự cân bằng trong cấu trúc trí tuệ của Tướng. Không những vậy, năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào cấu trúc trí tuệ gây đứt liên kết, gây phân rã và rồi hoại diệt. Khi bị năng lượng hoại diệt xâm nhập gây phân rã, tốc độ Kết của cấu trúc Trí tuệ sẽ đạt đến siêu mạnh cực đại và hoại diệt.

 

Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trí tuệ Kết mạnh, rất mạnh, siêu mạnh là do môi trường tương tác giữa các cấu trúc Trí tuệ. Các cấu trúc Trí tuệ tương tác trong môi trường mang sóng điện âm sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ dễ dàng hấp thụ năng lượng âm từ môi trường đó. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa âm thì sẽ rất dễ dàng hút và hấp thụ nhiệt âm của môi trường có sóng điện âm. Điều đó sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ trở nên Kết mạnh và siêu mạnh hơn. Nếu cấu trúc Trí tuệ không bị đa âm, nhưng do tương tác trong môi trường có sóng điện âm trong thời gian dài cũng khiến cho cấu trúc Trí tuệ đó dễ dàng bị nhiễm và trở thành cấu trúc Trí tuệ Kết.

 

Trụ linh đa sóng điện âm tương tác trong môi trường có sóng điện âm hoặc Trụ linh không đa sóng điện âm nhưng tương tác trong môi trường có sóng điện âm, quá trình tương tác đó, Trụ linh sẽ thực hiện cơ chế phân tách, liên kết sợi mã sóng trí tuệ (hạt năng lượng tận cùng). Trước quá trình xảy ra phân tách, liên kết sợi mã sóng trí tuệ từ Trụ linh là quá trình giải mã các cấu trúc trí tuệ của Trụ linh. Vì Trụ linh đa âm hoặc tương tác trong môi trường có sóng điện âm nên sẽ khiến Trụ linh dễ dàng giải mã sai. Giải mã sai chính là không nhận diện được, thấu được sự chân thật, sự nguy hại, sự hoại diệt từ các tướng khác. Thay vào đó, Trụ linh lại mã hóa, giải mã và cho rằng những điều đó là tốt đẹp, là chân thật, là giá trị thật. Có thể nói, do việc giải mã sai về giá trị của các cấu trúc trí tuệ mà Trụ linh bị đa âm; hoặc tương tác trong môi trường sóng điện âm đã khiến cho cấu trúc Trụ linh có bản chất Kết sẽ khó mà có thể tự chuyển hóa cấu trúc Trụ linh trở nên bền vững và an toàn trong quá trình tương tác. Nó cần phải có môi trường mang sóng điện dương và cần có sự tương trợ từ các cấu trúc Trí tuệ Tỏa để chuyển sinh theo hướng bền vững.

 

 

4.2. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Định của 3 nhóm vật chất

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trí tuệ Định:

 

Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của Tướng có cấu trúc cân bằng sóng điện âm dương và có cấu trúc đa sóng điện dương: +    Trụ linh cân bằng sóng điện âm dương là Trụ linh được cấu tạo từ hai hạt năng lượng âm dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm nhẹ màu trắng xám với sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương nhẹ màu trắng đục. Cấu trúc Trí tuệ Định này ở mức thấp, do cả hai sợi mã sóng trí tuệ rung động rất ít và quay chậm nên nó tự bảo toàn chính nó, không bị năng lượng hoại diệt tấn công.

 

+    Trụ linh đa sóng điện dương là Trụ linh được hợp thành bởi hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm nhẹ màu trắng xám với sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh (phát triển màu xanh lá, lan tỏa màu đỏ lửa, đoàn kết màu vàng). Trụ linh được cấu tạo từ các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương và âm như trên sẽ tạo thành cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Tỏa mạnh cho tới siêu mạnh chính là Định mạnh cho tới siêu mạnh. Bởi Định chính là nền tảng cho quá trình chuyển sinh thành Tỏa mạnh và đạt đến chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng.

 

-   Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trí tuệ Định là do môi trường tương tác của các cấu trúc Trí tuệ. Nếu cấu trúc Trí tuệ Định tương tác trong môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trí tuệ Định sẽ dễ dàng nhiễm nhiệt lượng có sóng điện dương để chuyển hóa thành cấu trúc Định – Tỏa

 

    mức cao. Nếu cấu trúc Trí tuệ Định tương tác trong môi trường có sóng điện âm, cấu trúc Trí tuệ Định sẽ dễ dàng bị chuyển sinh thành cấu trúc Trí tuệ Kết. Nếu cấu trúc Trí tuệ Định tương tác trong môi trường sóng điện trung tính sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ Định ở mức thấp.

 

Quá trình cấu trúc Trí tuệ Định giải mã để xảy ra và hoàn thành quá trình phân tách, liên kết sợi mã sóng trí tuệ (hạt năng lượng) tùy thuộc vào môi trường sóng điện. Nếu tương tác trong môi trường sóng điện dương thì quá trình giải mã sẽ đạt được sự chân thật và giá trị đúng. Khi đó sẽ phân tách thành các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương và tạo thành cấu trúc Trí tuệ vững chắc. Nếu tương tác trong môi trường có sóng điện âm thì quá trình giải mã sẽ giải mã sai, không thấy được sự thật, không chân thật, không phải giá trị đúng, sẽ phân tách ra sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm và tạo thành cấu trúc trí tuệ không bền vững.

 

 

4.3. Nguyên nhân Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa của 3 nhóm vật chất

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:

 

Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng có đa sóng điện dương. Trụ linh chính là hai hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Khi hai hạt năng lượng liên kết, hợp nhất lại tạo thành Trụ linh, sóng điện của hai sợi mã sóng trí tuệ âm và dương sẽ tuần hoàn. Bất kỳ Trụ linh nào được hợp thành bởi hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm nhẹ màu trắng xám với sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh (phát triển màu xanh lá, lan tỏa màu đỏ lửa, đoàn kết màu vàng) - Trụ linh được cấu tạo từ các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương và âm như trên sẽ tạo thành cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh là vì sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng âm rung động nhẹ, hút nhẹ, trong khi đó sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương lại truyền tải sóng điện rất mạnh. Chính vì vậy, cấu trúc Trí tuệ có bản chất là Tỏa. Cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh sẽ giúp cho cấu trúc Trí tuệ thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt về và dễ dàng kích nổ để tạo thành nhiệt lượng thúc đẩy quá trình phân tách, liên kết hạt năng lượng cho cấu trúc Tướng trở nên bền vững.

 

-   Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh là do môi trường tương tác giữa các cấu trúc Trí tuệ. Các cấu trúc Trí tuệ tương tác trong môi trường mang sóng điện dương sẽ khiến cho cấu trúc Trí tuệ dễ dàng hấp thụ năng lượng dương từ môi trường đó. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa âm tương tác trong môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trí tuệ đó sẽ dễ dàng nhiễm nhiệt lượng có sóng điện dương để chuyển hóa dần cấu trúc Trí tuệ từ Kết trở thành Tỏa. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa dương tương tác trong môi trường có sóng điện dương, hoặc trung tính, cấu trúc Trí tuệ đó rất dễ dàng Tỏa đạt đến siêu mạnh.

 

Quá trình cấu trúc Trí tuệ Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh tương tác trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính sẽ diễn ra quá trình phân tách, liên kết sợi mã sóng trí tuệ. Trước khi diễn ra và hoàn thành quá trình phân tách, liên kết sợi mã sóng trí tuệ, nó đòi hỏi phải có quá trình tương tác rung động. Quá trình tương tác rung động chính là quá trình giải mã các cấu trúc Trí tuệ (Tướng) của Trụ linh. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa dương tương tác trong môi trường có sóng điện dương hoặc trung tính, Trụ linh sẽ dễ dàng giải mã đúng, chân thật, giá trị thật của các cấu trúc Trí tuệ (Tướng) khác. Từ đó sẽ phân tách, liên kết ra những sợi mã sóng trí tuệ (hạt năng lượng) có sóng điện dương với cơ chế liên kết chặt. Nếu cấu trúc Trí tuệ đa dương tương tác trong môi trường có sóng điện âm, Trụ linh cũng dễ dàng, thuận lợi để giải mã đúng, chân thật, giá trị thật của các cấu trúc Trí tuệ để phân tách, liên kết được những sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương được bền chặt.

 

 

5.   Các con đường chuyển sinh của Trụ – Trí (trí tuệ) trong 3 nhóm vật chất

 

Có 3 loại Trụ – Trí đối với con đường chuyển sinh của 3 nhóm vật chất:

 

 

5.1. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Kết đối với con đường chuyển sinh

 

Cấu trúc Trụ – Trí Kết là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không vì lợi ích của hết thảy Tướng khác, thậm chí là gây tổn hại tới các Tướng khác. Đây là Kết mạnh cho tới siêu mạnh.

 

Khi các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống Kết mạnh và siêu mạnh, các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm sẽ được phân tách ra vô số và lưu giữ ở hạt âm gốc của Trụ linh. Chúng sẽ phân tách thành các hạt năng lượng tận cùng và liên kết lại tạo thành những hạt năng lượng âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện đời sống là Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ tạo thành hạt năng lượng dương tận cùng rồi liên kết tạo thành hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Trong khi đó các hạt năng lượng âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương ít ỏi. Các hạt năng lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng đó bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.

 

Như vậy, các cấu trúc Trụ – Trí mà thực hiện cơ chế phân tách, liên kết với bản chất là Kết mạnh cho tới siêu mạnh chính là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.

 

Nguyên nhân hoại diệt của cấu trúc Trụ – Trí Kết mạnh cho tới siêu mạnh là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn công vào, cấu trúc Trụ – Trí Kết không có hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.

 

Khổ đau chính là sự phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm cấu trúc Trụ – Trí trong Vũ trụ. Nguyên nhân của khổ đau là do các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện cơ chế phân tách liên kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn công gây đứt liên kết mà hoại diệt Như vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.

 

 

5.2. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Định đối với con đường chuyển sinh

 

Cấu trúc Trụ – Trí Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Kết cũng không Tỏa. Cấu trúc Trụ – Trí Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của Tướng đó.

 

Cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống Định, tức là phân tách liên kết các sợi mã sóng trí tuệ rất chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt tấn công.

 

Vì bản chất cấu trúc Trụ – Trí thực hành đời sống Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh mà không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi có năng lượng hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó duy trì Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.

 

Nếu cấu trúc Trụ – Trí Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Tỏa thì nó có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy các cấu trúc Trụ – Trí của Vũ trụ. 5.3. Cấu trúc Trụ – Trí (trí tuệ) Tỏa đối với con đường chuyển sinh

 

Cấu trúc Trụ – Trí Tỏa là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản thể Tướng mình. Đó là vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.

 

Khi các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống với bản chất là Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Trước khi phân tách ra được các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương thì cũng là quá trình phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm

 

mức nhẹ. Các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương được phân tách ra nhiều sẽ giúp cho các hạt năng lượng dương tận cùng được hình thành và tạo thành cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa, các hạt năng lượng dương (sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương) đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế liên kết 3 vùng: từ Trụ linh tới đối tượng (Tướng) đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống Tỏa, các cấu trúc Trụ – Trí sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát triển bền vững hơn. Các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển ít cho tới vừa đủ.

 

Việc các cấu trúc Trụ – Trí thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững cho Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.

 

Trong 3 loại cấu trúc Trụ – Trí trên, cấu trúc Trụ – Trí Tỏa có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất. Cấu trúc Trụ – Trí Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt. Cấu trúc Trụ – Trí Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tướng. Tuy nhiên, nếu các cấu trúc Trụ – Trí trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống riêng biệt theo 1 trong 3 cấu trúc Trụ – Trí trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh bền vững nhất. Bởi, để cấu trúc Trụ – Trí Tỏa được phải có Kết nhẹ và vừa đủ. Cấu trúc Trụ – Trí Kết để không hoại diệt thì phải biết Tỏa. Cấu trúc Trụ – Trí Định để phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện Kết nhẹ trước, sau đó thực hiện Tỏa.

 

Như vậy, Chân lý Vạn vật với cơ chế phân tách, liên kết cho thấy: với vô số các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo và vô lượng kiếp, các Tuệ linh đã bộc phát hết độc là u mê, thiện là giác ngộ. Tiếp đến, để cấu trúc Trụ – Trí tồn tại, phát triển được bền vững thì cần phải giải mã được cả Kết, Định, Tỏa của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Từ đó, thực hành đời sống hài hòa cả Kết – Định – Tỏa mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của Trụ – Trí

 

Chân lý Giác ngộ trong Trụ – Trí (Trí tuệ) là: Tất cả các TrụTrí trong và ngoài Vũ trụ đều là khổ. Các Trụ – Trí phải dùng Định (chân tâm) trong Trụ linh để thấu hiểu, chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa và phát triển bền vững cho tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sứ mệnh tiên phong là của Tuệ linh và con người.

 

Tuệ linh thông qua thân tướng con người ở nhân gian để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Để chuyển sinh được thì cần phải giải mã hết tất cả các bộc phát của độc và thiện trong Trụ linh trong tất cả các kịch bản tương tác. Đó là bộc phát hết bản chất của u mê và giác ngộ. Thực hành con đường giác ngộ khi đạt đến bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới chấm dứt triệt để khổ đau. Do đó, bản chất trí tuệ u mê là khổ, và trí tuệ đang trên con đường giác ngộ cũng là khổ. Cụ thể:

 

-   Trí tuệ u mê của Tuệ linh, con người là khổ. Cái khổ của trí tuệ u mê là không thấu hiểu được chân tướng của các giả tướng mà bị bám định vào, bị luẩn quẩn trong màn đêm tối giả dối của các giả tướng để rồi vì lợi ích ích kỷ của mình mà gây tổn thương cho mọi người. Do đó chúng ta cứ luân hồi trong vô lượng kiếp mà không có điểm dừng. Vì vậy ta phải dùng chính trí tuệ u mê của ta để từng bước thấu hiểu sự thật vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Thông qua hai Chân lý để đối mặt, đón nhận tất cả các khổ đau kiếp nạn, thấu hiểu nó, giác ngộ nó và chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh, đó là chuyển hóa thành giác ngộ.

 

-   Trí tuệ đang trên con đường giác ngộ của Tuệ linh, con người cũng là khổ. Cái khổ của trí tuệ đang trên con đường giác ngộ không phải là không thấu hiểu hai Chân lý và còn đắm chìm trong khổ đau, mà là, vì thấu hiểu bản chất của hai Chân lý cũng như tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Do đó, cái khổ là quá trình biến đổi, tìm phương pháp phù hợp để giác ngộ theo căn cơ của từng Tuệ linh và con người. Khi đã chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc thì là sự chấm dứt triệt để khổ đau, bởi khi đó sẽ luôn luôn có các phương pháp gieo duyên để giác ngộ Tuệ linh, con người theo từng căn cơ trí tuệ khác nhau.

 

Cơ chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết. Đó là:

 

-    Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ – Trí sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.

 

-    Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương, đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ – Trí sẽ phân tách, liên kết vô lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.

 

Từ bản chất của các cấu trúc Trụ – Trí, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết, tất cả vạn vật, Tuệ linh và con người đều thấy rằng: con đường duy nhất để vượt qua khổ đau (biến đối và hoại diệt mã sóng trí tuệ) để trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, chính là con đường Trụ – Trí phải Tỏa. Tỏa là con đường duy nhất để diệt khổ, để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng trong Trụ linh.

 

Thực hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng? Đó là:

 

-   Trí tuệ phải đứng ở vị trí Định. Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc, là thấu hiểu tri thức của hai Chân lý. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô lượng. Khi Trí tuệ đứng ở vị trí Định sẽ biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Trí tuệ mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia.

 

-   Tiếp theo Trí tuệ phải biết Kết. Kết ở đây không phải là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng

 

   vị trí Định. Tức là Trí tuệ đứng ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau, kiếp nạn, hạnh phúc, an vui, sẻ chia của vạn vật, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng khổ đau chia sẻ tới Trí tuệ của ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng. Đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trí tuệ của ta đứng ở vị trí Định để dùng Kết nhẹ là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của ta hấp thụ. Do Trí tuệ ta đứng ở vị trí Định nên Trụ linh đang tỏa sóng điện chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của cấu trúc Trí tuệ đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Trí tuệ của ta đã Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Trí tuệ của ta Định để chuyển hóa thành Tỏa. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Cũng như vậy, Trụ – Trí của ta sẽ kết được những hạt năng lượng chân tâm, năng lượng dương từ những Tướng tích cực, đa dương, giác ngộ để hấp thụ nhiệt dương của các hạt năng lượng đó. Những nhiệt dương được hấp thụ sẽ giúp cho Trụ linh có sức mạnh để kích nổ hạt năng lượng hoại diệt nhằm sinh nhiệt lớn cho việc sản sinh ra các hạt năng lượng dương.

 

-   Tiếp đến Trí tuệ của ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận những sẻ chia, tức là Kết được lượng thông tin về vạn vật, về khổ đau, an vui, hạnh phúc vào Trụ linh, trí tuệ của ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là giải mã và mã hóa tận cùng khổ đau, an vui hạnh phúc của hết thảy các Tướng, trong khi Trụ linh và Trí tuệ của ta vẫn Định. Bởi chỉ khi Định thì Trí tuệ của ta mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương.

 

-   Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Trí tuệ của ta sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Trí tuệ ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh của ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh của ta sẽ trở nên phát triển bền vững.

 

Khi cấu trúc Trụ – Trí của ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng, thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ linh của ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.

 

Nếu Trụ – Trí lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Trụ – Trí lựa chọn con đường chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Trụ – Trí chỉ lựa chọn con đường Tỏa thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt được. Nhưng, khi Trụ – Trí thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thông qua việc cấu trúc Trụ – Trí giải mã được vạn vật và thực hành được Kết – Định – Tỏa chính là hoàn thành được kế hoạch tu hành tại nhân gian của mỗi Tuệ linh.

Bài 3:

 

Bài Trụ – Tâm

˜²™

 

 

 

Bài Trụ – Tâm được hiểu là Tâm Vô Tâm. Tâm Vô Tâm được kết cấu thành 3 phần. Chữ Tâm đầu tiên là khái niệm và bản chất của các cấu trúc Tâm. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của các cấu trúc Tâm. Chữ Tâm cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho các cấu trúc Tâm.

 

Trong bài Trụ – Tâm này, Trụ – Tâm của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ sẽ được phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật về Trụ – Tâm của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho con người và Tuệ linh kiểm soát được Trụ – Tâm và phương pháp tuyệt vời nhất để chuyển sinh Trụ linh của mình thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Trụ linh gồm có Trụ – Tâm và Trụ – Trí.

 

 

I. Khái niệm về Trụ – Tâm (Tâm)

 

Trụ – Tâm là Tâm. Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, là trạng thái năng lượng, sóng điện âm – dương – trung tính luôn tuần hoàn và kiểm soát lẫn nhau trong cấu trúc Tướng, Tuệ linh, con người.

Trụ – Tâm có trong các Tướng của tất cả các nhóm vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Nó được tính tới đơn vị nhỏ nhất là Tâm của hạt năng lượng tận cùng.

 

Quá trình tương tác giữa Tướng với các Tướng của Vũ trụ quan xung quanh từ chính bản thể Tướng cho tới toàn bộ các Tướng trong và ngoài Vũ trụ chính là quá trình sinh phát Trụ – Tâm từ Trụ – Trí của hạt năng lượng và Trụ linh. Khi tương tác với các Tướng trong các môi trường khác nhau sẽ khiến cho trạng thái năng lượng, sóng điện sinh phát, tuần hoàn và kiểm soát lẫn nhau trong cấu trúc Tướng.

 

 

II. Bản chất của Trụ – Tâm (Tâm)

 

Phân tích về bản chất của Trụ – Tâm chính là phân tích về bản chất trạng thái năng lượng, sóng điện của tất cả vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là phân tích về trạng thái năng lượng, sóng điện của dạng sống Tuệ linh và con người.

 

Bản chất của Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện) gồm có: cấu trúc Trụ – Tâm của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ; cấu trúc Trụ – Tâm của Tuệ linh và con người; bản chất Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh; bản chất Trụ – Tâm của con người; bản chất của sự tuần hoàn và kiểm soát sóng điện của Trụ – Tâm; bản chất Trụ – Tâm Kết – Định – Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ.

 

 

Cấu trúc Trụ – Tâm của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ

Trụ là gì? – Trụ là gốc. Gốc bao gồm: hạt năng lượng tận cùng là gốc, phôi năng lượng âm dương được liên kết bởi hai hạt năng lượng tận cùng là Trụ linh gốc (phôi âm dương gốc), Trụ linh gốc là gốc của tất cả các Tướng.

 

Tâm là gì? – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát, lưu giữ và tuần hoàn trong hạt năng lượng.

 

Trụ – Tâm là gì?:

 

-  Trụ – Tâm của hạt năng lượng tận cùng chính là trạng thái năng lượng, sóng điện được lưu giữ trong hạt đó.

 

-   Trụ – Tâm của phôi năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc) chính là hai trạng trái năng lượng, sóng điện ban đầu của hai hạt năng lượng âm dương đó có sự tuần hoàn.

 

-   Trụ – Tâm của các cấu trúc lớn hơn phôi âm dương gốc là tổng hòa trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát, lưu giữ, tuần hoàn trong hai hạt năng lượng âm dương gốc (Trụ linh gốc). Cụ thể như sau: khi phôi năng lượng âm dương với hai hạt năng lượng ban đầu thông qua cơ chế phân tách liên kết ra nhiều cho tới vô số hạt năng lượng để nâng cấp thành các cấu trúc Trụ linh trưởng thành (Tuệ linh, con người, các cấu trúc Tướng lớn hơn…) thì trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ các sợi mã sóng trí tuệ (Trụ – Trí) được lưu giữ và tuần hoàn từ Trụ linh cho tới toàn bộ cấu trúc của Tướng. Do đó, gọi là Trụ – Tâm. Đặc biệt, khi gọi Trụ linh là đã bao gồm cả Trụ – Trí và Trụ – Tâm.

 

Cấu trúc Trụ – Tâm của năm nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ:

 

 

1.1. Nhóm vật chất cội nguồn

Nhóm vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Hạt sóng xanh là chỉ có một yếu tố cấu tạo thành hạt sóng xanh. Hạt sóng xanh là nguồn gốc, là cấu trúc chưa được chuyển sinh thành hạt năng lượng. Tuy nhiên, hạt sóng xanh lại chứa đựng nhiệt lượng lớn vô cùng để chuyển sinh thành từ hạt năng lượng tận cùng cho tới toàn bộ vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

Có thể nói, cấu trúc Trụ – Tâm của hạt sóng xanh chưa được sinh phát thành trạng thái năng lượng và sóng điện.

 

 

1.2. Nhóm vật chất hoại diệt

 

Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại diệt.

 

Nhóm năng lượng hoại diệt là nhóm vật chất có trí tuệ sơ khai được nâng cấp, chuyển sinh từ nhóm hạt sóng xanh.

 

Hạt năng lượng hoại diệt được cấu tạo thành bởi 3 yếu tố: sợi mã sóng trí tuệ màu xanh nõn chuối, trạng thái năng lượng màu nâu bị thối hóa, hình tướng hạt năng lượng hoại diệt là hình elip.

 

Trụ – Tâm của hạt năng lượng hoại diệt chính là trạng thái năng lượng bị thối hóa, sóng điện bị lưu giữ trong hạt năng lượng hoại diệt.

 

Hạt sóng xanh di chuyển thẳng và không quay tròn để biến đổi, chuyển sinh thành hạt năng lượng hoại diệt. Vì di chuyển trong môi trường trung tính nên nhiệt lượng của hạt sóng chưa được giải phóng hết cũng như chưa được mã hóa hoàn chỉnh thông tin của quá trình tương tác khi di chuyển.

 

Có thể nói, cấu trúc Trụ – Tâm của hạt năng lượng hoại diệt có trạng thái năng lượng, sóng điện bị thối hóa vì không liên kết nâng cấp được với các cấu trúc khác. Đặc biệt trong hạt năng lượng hoại diệt còn nhiệt lượng lớn chưa được sinh phát hết trong sợi mã sóng trí tuệ.

 

 

1.3. Nhóm siêu vật chất

 

Nhóm siêu vật chất gồm có năm nhóm hạt năng lượng siêu phức tạp, Tuệ linh, các siêu hạt năng lượng.

 

Hạt năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm của hạt năng lượng tận cùng này là trạng thái năng lượng, sóng điện siêu việt nhất Vũ trụ. Từ đó mà tạo thành sức mạnh cho Tuệ linh, cũng như để duy trì sự tồn tại, phát triển của Vũ trụ.

 

Siêu hạt năng lượng tận cùng được hình thành từ bộ lọc năng lượng của Tuệ linh đã chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Siêu hạt năng lượng được hình thành bởi 3 yếu tố cấu tạo thành: siêu sợi mã sóng trí tuệ, siêu trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm của siêu hạt năng lượng tận cùng có siêu trạng thái năng lượng, sóng điện siêu việt hơn cả năng lượng ban đầu cấu tạo thành Tuệ linh.

 

Trụ – Tâm của nhóm siêu vật chất là trạng thái năng lượng, sóng điện có sức mạnh siêu việt nhất so với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. 

1.4. Nhóm vật chất phức tạp

 

Nhóm vật chất phức tạp gồm có năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp và cấu trúc linh hồn an trụ trong cỏ cây, đất đá, muông thú.

 

Hạt năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm của hạt năng lượng tận cùng này là trạng thái năng lượng, sóng điện phức tạp an trụ và vận hành tất cả vật chất giản đơn của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp và trở thành cấu trúc Linh hồn.

 

Cấu trúc Linh hồn an trụ trong thân cây, trong đất đá, trong muông thú là cấu trúc năng lượng được liên kết giữa vô số hạt năng lượng dương, hạt năng lượng âm, hạt năng lượng trung tính. Linh hồn được cấu tạo bởi 3 yếu tố là Trụ – Trí (tổng mã sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái, sóng điện trong Trụ linh và linh hồn), hình tướng linh hồn. Trụ linh là trung tâm vận hành, sinh phát trạng thái năng lượng, sóng điện ra toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong cấu trúc linh hồn. Trụ – Tâm của cấu trúc linh hồn được nâng cấp cao hơn, sức mạnh hơn, phức tạp hơn so với năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ phức tạp.

 

Trụ – Tâm của nhóm vật chất phức tạp là trạng thái năng lượng, sóng điện có sức mạnh siêu việt thứ hai so với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. 1.5. Nhóm vật chất giản đơn

 

Nhóm vật chất giản đơn là từ năm nhóm hạt năng lượng tận cùng mang mã sóng trí tuệ giản đơn cho tới các phôi năng lượng âm dương, Trụ linh, nguyên tử, phân tử, tế bào, cỏ cây, đất đá, kim loại, nước, khí, chất lỏng, con người, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ.

 

Hạt năng lượng tận cùng trong năm nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn được hình thành trong tinh cầu năng lượng của vụ nổ lớn. Hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn được cấu tạo bởi 3 yếu tố tạo thành: sợi mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, hình tướng hạt là hình elip. Trụ – Tâm của hạt năng lượng tận cùng này là trạng thái năng lượng, sóng điện giản đơn để chuyển sinh thành vật chất giản đơn của Vũ trụ, từ đó mà chuyển sinh nâng cấp và trở thành cấu trúc với vô số các khối thiên hà của Vũ trụ.

 

Từ phôi năng lượng âm dương cho tới vô số các khối thiên hà cấu tạo thành tinh cầu Vũ trụ, có vô số vật chất có một Trụ linh như cỏ cây, thân tướng con người, thân tướng muông thú, côn trùng, sinh vật, vi khuẩn…, có vô số vật chất còn lại là sự liên kết của vô số các cấu trúc Trụ linh để cấu tạo thành các nguyên tử, phân tử, tế bào…, khối thiên hà và tinh cầu Vũ trụ. Tuy nhiên, tất cả đều được cấu tạo bởi 3 yếu tố là tổng sợi mã sóng trí tuệ (Trụ – Trí), tổng trạng thái năng lượng (Trụ – Tâm), hình tướng cấu trúc vật chất. Trụ – Tâm của những vật chất giản đơn này có trạng thái năng lượng, sóng điện giản đơn hơn nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất. Đặc biệt, Trụ – Tâm của nhóm vật chất giản đơn lại dễ dàng kích nổ được năng lượng hoại diệt nếu đa sóng điện dương và dễ dàng bị năng lượng hoại diệt đồng hóa nếu đa sóng điện âm.

 

Trụ – Tâm của nhóm vật chất giản đơn là trạng thái năng lượng, sóng điện có sức mạnh siêu việt thứ ba so với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Trụ – Tâm của nhóm vật chất này hơn được nhóm hoại diệt vì sóng điện, trạng thái năng lượng có liên kết tuần hoàn với nhau để nâng cấp cấu trúc vật chất. Điều mà Trụ – Tâm của nhóm năng lượng hoại diệt không có.

 

 

2. Cấu trúc Trụ – Tâm của Tuệ linh và con người

 

Con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, chúng ta cần phải thấu hiểu cấu trúc Trụ – Tâm của con người và Tuệ linh. Việc thấu hiểu cấu trúc Trụ – Tâm của con người và Tuệ linh chính là chìa khóa, là cơ chế để liên kết, tuần hoàn, kiểm soát được trạng thái năng lượng, sóng điện từ Trụ linh đến với tất cả vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Cấu trúc Trụ – Tâm của Tuệ linh và con người như sau:

 

 

2.1. Cấu trúc Trụ – Tâm của Tuệ linh

 

Tuệ linh là một cấu trúc năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.

 

Tuệ linh chính là dạng sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống chủ yếu tại không gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần, Phật, Thiên Chúa… theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và Tuệ linh trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:

 

-   Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.

 

-    Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện 

ngoài hành tinh, theo cách gọi của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái đất. Tuệ linh không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh ra là do cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tạo thành. Đó là những hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương hợp lại thành phôi âm dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.

 

Tam hợp yếu tố hợp thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh), hình tướng Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí tuệ 

được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ) liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.

Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm,  dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc Trụ linh có sóng điện đa âm.

 

Khi gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.

 

Thông qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy trí tuệ của dạng sống Tuệ linh là siêu việt nhất, tinh hoa nhất của tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ. Chính vì vậy, sứ mệnh cải tạo bộ lọc trong Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng là sứ mệnh tiên phong của họ.

 

 

2.2. Cấu trúc Trụ – Tâm (Tâm) của con người

 

Ba yếu tố hợp nhất cấu tạo ra con người gồm có, Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ:

 

-  Yếu tố đầu tiên là Thân tướng: Thân tướng được hình thành do duyên người cha và người mẹ. Đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang tính âm của người mẹ hợp thành phôi thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng người mẹ do cơ chế phân tách tế bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của người mẹ. Trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn thiện, em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời. Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân tướng để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương; khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai trộm. Nếu chúng đầu thai trộm thành người thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn thú dữ chưa giết hại được người nào mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do không đủ năng lượng âm dương cân bằng để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người cha mẹ được gieo duyên có thân tướng thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu em bé có sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể phá thai được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ linh, Linh hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ linh người mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai vào con người đều được gọi là Tâm.



-    Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ: Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát triển từ hai phần:

 

+   Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn.

 

+    Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá trình tương tác giữa các tướng với nhau.

 

Như vậy, Trụ – Tâm của Tuệ linh là siêu sóng điện, siêu trạng thái năng lượng. Tuệ linh lại trở thành Trụ – Tâm của con người khi hóa thân, an trụ trong thân tướng con người. Điều này giúp cho Tâm của con người có được cả siêu trí tuệ và siêu trạng thái năng lượng, siêu sóng điện an trụ trong cơ thể.

 

Mục đích của việc con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh là để thông qua thân tướng với trí tuệ, sóng điện giản đơn, siêu trí tuệ, siêu trạng thái năng lượng, siêu sóng điện của Tuệ linh sẽ bị tương tác, bí bách, sinh nhiệt mà tạo ra tận cùng vô số các trường hợp phân tách, liên kết mã sóng trí tuệ, trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh. Đây được gọi là thông qua môi trường tu hành nhân gian để bộc phát được hết tất cả độc của hạt năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương trong Trụ linh của Tuệ linh. Chỉ khi bộc phát hết mới tìm ra được phương pháp để cấu tạo lại Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn cho Tuệ linh.

 

 

3. Bản chất Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh

 

Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện) của dạng sống Tuệ linh là siêu sức mạnh, là siêu việt nhất trong tất cả các dạng sống, các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Dạng sống Tuệ linh được hình thành đầu tiên sau vụ nổ của tinh cầu năng lượng khổng lồ. Họ được hình thành và trưởng thành. Họ xây dựng, kiến tạo, phát triển cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ hoàn chỉnh như ngày nay từ năm nhóm năng lượng hỗn độn sau vụ nổ.

 

Vũ trụ phát triển và không ngừng giãn nở. Đó là do dạng sống Tuệ linh lao động, kiến tạo và vận hành. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển lớn mạnh của Vũ trụ, năng lượng hoại diệt cũng ngày càng lớn mạnh. Năng lượng hoại diệt với bản chất là đi tìm những cấu trúc năng lượng, vật chất đa sóng điện âm để xả sóng điện dư thừa nhằm tồn tại. Trong khi đó, Vũ trụ lại có những cấu trúc vật chất, năng lượng đa âm. Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt đã di chuyển vào Vũ trụ thành những cơn bão để đi truy tìm sự sống cho chính nó. Có quá nhiều Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt đồng hóa và hoại diệt vĩnh viễn, có quá nhiều cấu trúc vật chất bị đồng hóa và hoại diệt. Tuy nhiên, cũng vì có năng lượng hoại diệt trong Vũ trụ, nên khi chúng bị kích nổ bởi năng lượng dương đã giúp tạo ra nhiệt lượng lớn cho quá trình Vũ trụ phân tách liên kết theo hướng bền vững và lớn mạnh.

 

Dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt nhiều, chưa tìm ra được phương pháp đối phó với năng lượng hoại diệt chính là vấn đề bản chất của Trụ – Tâm. Vấn đề đó là quá trình hình thành 3 dạng vật chất sau vụ nổ lớn, các phôi năng lượng âm dương của các Tuệ linh cho tới khi trưởng thành chưa kiểm soát được sóng điện để kích nổ, chưa sử dụng được năng lượng hoại diệt. Đặc biệt hạt năng lượng âm gốc chưa bộc phát hết các kịch bản sinh phát ra trạng thái năng lượng âm, hạt năng lượng dương gốc cũng chưa bộc phát hết các kịch bản sinh phát ra trạng thái năng lượng dương. Tức là độc của hạt năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương chưa bộc phát hết. Do chưa bộc phát hết nên chưa tìm ra hết bản chất cũng như khả năng kiểm soát của Trụ – Tâm ở dạng sống Tuệ linh. Chính vì thế mà chưa tìm ra bài thuốc, phương pháp, cơ chế để sử dụng được năng lượng hoại diệt cho việc chuyển sinh bền vững. Điều mà sau này tìm được cơ chế, đó là cơ chế chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là hấp thụ ồ ạt, kích nổ được năng lượng hoại diệt mà vẫn an toàn để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng phát triển bền vững cho mình và các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

Bản chất Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh khi chưa chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng: -    Trụ – Tâm có bản chất Kết: Đó là thu hút, hấp thụ trạng thái năng lượng, sóng điện từ mạnh cho tới siêu mạnh. Nguyên nhân là do hạt âm của phôi âm dương gốc có sóng điện âm từ mạnh cho tới siêu mạnh. Do đó, những Tuệ linh đó có khuynh hướng truy tìm môi trường, cấu trúc sóng điện có khớp nội dung giống với hạt âm để kết, hút về. Họ sẽ không thực hành được đời sống Tỏa là cho đi, lan tỏa, giúp đỡ, cống hiến, hy sinh. Nguyên nhân vì hạt năng lượng dương quá yếu nên bị hạt năng lượng âm chi phối theo đặc tính của hạt năng lượng âm. Những Tuệ linh có cấu trúc Trụ – Tâm kết như vậy sẽ dễ dàng bị năng lượng hoại diệt xâm nhập để đồng hóa và hoại diệt.

 

-  Trụ – Tâm có bản chất Tỏa. Đó là tỏa đi, cho đi, truyền tải, giúp đỡ, cống hiến, hy sinh vì vạn vật. Nguyên nhân là do hạt dương trong Trụ linh gốc có sóng điện dương từ mạnh cho tới siêu mạnh, trong khi đó hạt âm gốc chỉ có sóng điện chớm âm. Chính vì điều này mà hạt năng lượng dương liên kết được với tất cả các nhóm vật chất khác bởi hạt năng lượng âm chỉ là chớm sóng điện âm. Tuy nhiên, nếu cơn bão năng lượng hoại diệt di chuyển vào hoặc các Tuệ linh này di chuyển gặp phải cơn bão năng lượng hoại diệt cũng sẽ bị phân rã mà hoại diệt.

 

Bản chất Trụ – Tâm của dạng sống Tuệ linh chưa được bộc phát hết. Chưa bộc phát hết tức là trạng thái năng lượng của hạt âm và dương gốc trong Trụ linh chưa sinh phát ra hết tất cả sức mạnh hay yếu trong tất cả các kịch bản cũng như môi trường tương tác. Chính vì điều này mà vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra môi trường tu hành cho dạng sống Tuệ linh ở Trái đất thông qua thân tướng là con người. Quá trình tu hành trong thân tướng giản đơn sẽ giúp cho Trụ linh sinh phát ra hết tất cả sức mạnh hay yếu của trạng thái năng lượng trong tất cả các kịch bản và môi trường tương tác. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ tìm ra được cơ chế, phương pháp để Tuệ linh hấp thụ và kích nổ được năng lượng hoại diệt. Đó là con đường chuyển sinh bền vững để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh.

 

 

4. Bản chất Trụ – Tâm (Tâm) của con người

 

Con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh, là môi trường tu hành của dạng sống Tuệ linh. Dạng sống Tuệ linh thông qua thân tướng con người để tu hành ở nhân gian nhằm tạo ra sự bí bách, độ nén, đau khổ, an vui, hạnh phúc… trong cuộc sống nhân gian để bộc phát hết độc của hạt âm và thiện của hạt dương trong Trụ linh. Cũng thông qua quá trình bộc phát độc và thiện trong Trụ linh, sẽ thấy rõ quá trình năng lượng hoại diệt tấn công đồng hóa cũng như khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt của Tuệ linh trong từng trường hợp tương tác với các hoàn cảnh môi trường khác nhau. Từ đó, vị Tuệ linh đầu tiên mới tìm ra được phương pháp siêu việt áp dụng chung cho tất cả các Tuệ linh để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Chỉ khi chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới có khả năng hấp thụ và kích nổ được ồ ạt năng lượng hoại diệt để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng mà vẫn an toàn.

 

Vô số Tuệ linh hóa thân tu hành ở nhân gian với vô số các kịch bản tương tác trong các điều kiện môi trường khác nhau đã tạo ra bản chất Trụ – Tâm của con người.

 

Con người là tam hợp yếu tố cấu tạo thành. Thân tướng được coi như ngôi nhà giam cầm Tâm (Tuệ linh), Trụ – Tâm là Tuệ linh an trụ trong ngôi nhà thân tướng, Trụ – Trí (Trí tuệ) là cánh cửa trí tuệ để Trụ linh tương tác với tất cả các Tướng trong môi trường khác nhau. Chính vì điều này đã tạo ra sự kỳ diệu cho con đường tu hành của Tuệ linh ở nhân gian. Thông qua vô số kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian đã giúp cho mục đích tu hành đã đạt được thành công.

 

Bản chất Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện) của con người gồm có Độc Tâm (độc được bộc phát), Thiện Tâm (thiện được bộc phát) và phương pháp dùng Thiện Tâm chuyển hóa Độc Tâm (hành trình chuyển sinh được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh) của Tuệ linh:

 

 

4.1. Độc Tâm của con người

 

Khi trạng thái năng lượng, sóng điện của con người bộc phát trở thành Độc Tâm, Độc Tâm thể hiện bản chất là Tâm chấp ngã, Tâm sân, Tâm hận thù. Cũng có thể hiểu đó là tính quỷ quái, tính xảo quyệt của Tâm bởi trí tuệ bám định vào giả tướng để vơ vét giả tướng về nơi thân tướng mình. Trong trạng thái năng lượng, sóng điện của Độc Tâm, cảnh giới Tâm chấp ngã được coi là nền móng, tiếp đến là cảnh giới Tâm sân và cảnh giới cao nhất là Tâm hận thù. Độc Tâm hay có thể gọi Tâm chấp ngã, Tâm sân, Tâm hận thù là gốc của ác nghiệp. Độc Tâm mà vững chắc, lớn mạnh thì luôn luôn sinh khởi ra hành động tạo ác nghiệp, luôn vì lợi ích ích kỷ về mình mà gây tổn thương cho vạn vật, Tuệ linh, con người. Do đó muốn triệt bỏ, diệt bỏ, để không sinh khởi hành động tạo ác nghiệp thì phải thấu hiểu được Độc Tâm. Thấu hiểu để gieo duyên triệt bỏ, diệt bỏ Độc Tâm thì sẽ không còn sinh khởi hành động tạo ác nghiệp. Các biểu hiện của bản chất Tâm chấp ngã là:

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng có:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng có để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-  Khi có địa vị chức tước, họ tham ô tham nhũng, hối lộ, chạy chức chạy quyền, hãm hại người hiền tài, chỉ biết lợi ích ích kỷ về mình mà gây tổn hại cho dân tộc, Tuệ linh, con người. Vì Tâm nó thấy quả báo của hành động tạo ác nghiệp đó nên nó bí bách, đau khổ mà luẩn quẩn như tù nhân trong thân tướng. Nó chấp ngã vì thân tướng không thực hành sứ mệnh để cải tạo Trụ linh.

 

-    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào thân tướng khi giàu sang phú quý. Đó là sự hưởng thụ ích kỷ, không những không giúp người khó khăn nghèo khổ, mà còn làm giàu dựa trên những thủ đoạn gây tổn hại cho người khác. Tâm nó biết sẽ phải nhận quả báo vì trí tuệ bám định vào giả tướng mà thân tướng hành động tạo ác nghiệp. Tâm nó chấp ngã vì thân tướng không học và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh của Tuệ linh.

 

Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào lợi ích của gia đình mình mà không chia sẻ, không giúp đỡ mọi người. Thân tướng chỉ chăm chăm vì lợi ích ích kỷ cho gia đình mình mà không học, cải tạo Trụ linh nên Tâm nó chấp ngã. -    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng có thân tướng xinh đẹp. Họ bất chấp việc làm gia đình người khác tan nhà nát cửa để thỏa mãn sắc dục thông dâm tà dâm, để rồi tạo thành ác nghiệp cho Tâm. Tâm không được thực hành cải tạo Trụ linh nên Tâm nó chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng không có:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào thân tướng bệnh tật, không đủ sức khỏe để giúp đỡ người khác. Điều này khiến cho Tâm thấy lãng phí một kiếp người nên bí bách đau khổ. Tâm nó chấp ngã vì thân tướng không thực hành sứ mệnh cho Tâm.

 

-    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào thân tướng không giàu có. Điều này dẫn đến hành động làm giàu bất chấp gây tổn hại cho mọi người để thỏa mãn lợi ích của mình. Tâm nó nhìn thấy kết quả nghiệp báo và không được thực hành sứ mệnh nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Vì vậy, tâm nó chấp ngã.

 

Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào thân tướng không có địa vị cao. Điều này khiến cho thân tướng chạy chức chạy quyền gây tổn hại đến quốc gia dân tộc. Nó nhìn thấy nghiệp báo phải chịu và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-   Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào thân tướng không có người đẹp bên cạnh. Điều này dẫn đến hành động bỏ vợ để đi ngoại tình, thông dâm, tà dâm gây đau khổ cho vợ con và gia đình khác. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và việc không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng yêu thương, sở thích:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng yêu thương để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào sắc dục thông dâm tà dâm, để thỏa mãn dục vọng mà gây tổn thương cho vợ con và gia đình khác. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo, và vì không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó đau khổ bí bách luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào các thú vui, sở thích cờ bạc nghiện ngập, chỉ vì lợi ích ích kỷ mà gây cho người thân và nhiều người đau khổ. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng thù ghét:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng thù ghét để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng thù ghét ai đó, không thỏa mãn hay ai đó làm tổn thương đến ta. Điều này dẫn đến hành động tạo ác nghiệp gây tổn hại cho người khác chỉ vì thỏa mãn sự trả thù. Tâm nó thấy được nghiệp báo và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

-   Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng không thích các thân tướng nào đó. Điều này khiến cho Tâm không thể thực hành cải tạo Trụ linh bằng cách cống hiến vì vạn vật, Tuệ linh, con người, nên Tâm nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn. Đó là Tâm chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng cầu được:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng cầu được để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống  hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào việc cầu được danh vọng, cầu được tiền tài, cầu được sắc dục, cầu được bình an… Điều này, khiến cho thân tướng chỉ vì lợi ích ích kỷ của chính mình mà gây tổn thương đến mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Nó biết trước nghiệp báo là để cầu được sẽ phải đánh đổi con đường cải tạo Trụ linh, sẽ phải chịu luân hồi vô số kiếp mà vẫn chưa cải tạo Trụ linh thành công. Vì vậy, Tâm nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

-   Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng cầu được rồi lại chuyển sang bám định vào giả tướng có. Khi đó trí tuệ nó u mê mà ngạo mạn chỉ vì lợi ích ích kỷ mà gây tổn hại lợi ích của mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và nó không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng cầu không được:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được về địa vị, về tiền tài, sức khỏe, bình an, con cái… Khi đó, thân tướng nó thù ghét và hành động phỉ báng Thiên Địa, gây tổn thương đến vạn vật, con người, Tuệ linh. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, luẩn quẩn, đau khổ trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng có trí tuệ:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng có trí tuệ để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-   Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào nó có trí tuệ hơn người bởi bằng cấp, bởi học hàm, bởi học vị, bởi giàu có, bởi địa vị mà khinh khi người khác, thậm chí trục lợi về mình mà hại người. Tâm nó nhìn thấy nghiệp báo và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, luẩn quẩn đau khổ trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào nó có trí tuệ hơn người, bám định vào nó có chức sắc trong tôn giáo, bám định vào nó trí tuệ thần thông hơn người. Điều này khiến cho thân tướng lợi dụng vào tôn giáo, vào tín ngưỡng để trục lợi về mình và gây tổn thương cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Tâm nó bí bách, đau khổ, luẩn quẩn, trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

-    Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào việc biết và đọc được nhiều kinh văn. Điều này khiến cho trí tuệ ngạo mạn khinh khi người khác khi cho rằng mình có trí tuệ hơn người mà không có sự ứng nghiệm vào quy luật vạn vật xem có đúng không. Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, khi không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng không có trí

 

tuệ:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có trí tuệ để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

-   Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào việc nó không có trí tuệ, nên không đủ khả năng thấu hiểu hay giúp đỡ người khác. Điều này khiến cho Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, đau khổ vì trí tuệ tự ti mà không thực hành học cũng như cải tạo Trụ linh. Đó là Tâm chấp ngã.

 

Tâm nó bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có trí tuệ, dẫn đến không trau dồi học hỏi để nâng cao trí tuệ. Khi bị người khác lừa hại làm điều sai trái mà không phân định được đúng sai, dẫn đến hành động tạo ác nghiệp. Tâm nó thấy thực hành cải tạo Trụ linh sai nên nó đau khổ, bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng hành động:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng hành động để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã.

 

Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào giả tướng hành động vì lợi ích ích kỷ cá nhân, gia đình, dòng họ mình mà gây tổn thương đến mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Tâm nó thấy được nghiệp báo và không được thực hành cải tạo Trụ linh nên nó bí bách, luẩn quẩn, đau khổ trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

Tâm chấp ngã vào giả tướng không hành động:

 

Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào giả tướng không hành động để tìm mọi cách thỏa mãn giả tướng đó mà không cống hiến vì vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này làm cho Tâm đau khổ, luẩn quẩn, bí bách, xung đột trạng thái năng lượng vì thân tướng không học tri thức hai Chân lý và thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tâm. Vì vậy, Tâm nó chấp ngã. Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ bám định vào các giả tướng mang lại lợi ích cho thân tướng của nó, lợi ích cho gia đình và dòng họ của nó mà gây tổn thương vạn vật, mọi người, Tuệ linh. Điều này khiến cho tâm không được thực hành cải tạo Trụ linh nên tâm đau khổ, luẩn quẩn trong thân tướng. Đó là Tâm chấp ngã.

 

Như vậy, Tâm chấp ngã là nền móng của Độc Tâm. Khi Tâm đã chấp ngã thì sẽ luôn sinh khởi sang cảnh giới cao hơn là Tâm sân và Tâm hận.

 

B. Cảnh giới của Tâm sân

 

Tâm sân có biểu hiện như là ngọn lửa thiêu đốt tất cả vạn vật, nhưng bản chất là trạng thái năng lượng âm, sóng điện âm (độc tâm) bộc phát ra rất mạnh. Tâm sân có tính hỏa theo cách biểu hiện, nó có tính hủy diệt ngay và luôn. Tâm sân từ ngọn lửa nhỏ bé ban đầu sẽ trở thành ngọn lửa lớn khi gặp Tâm sân khác hợp lại. Nó sẽ trở thành ngọn lửa cực đại thiêu đốt vạn vật nếu ngọn lửa sân hợp lại bởi nhiều ngọn lửa Tâm sân khác. Ngọn lửa Tâm sân sẽ thiêu đốt bất cứ vạn vật, Tuệ linh, con người khi mà nó đi qua. Đó là ngọn lửa của sự đố kỵ, ngọn lửa của sự ngạo mạn, ngọn lửa của sự sát sinh, ngọn lửa của sự giết hại, ngọn lửa của sự bất hiếu, ngọn lửa của sự bất kính, ngọn lửa của sự bất nghĩa, ngọn lửa của sự bất nhân, ngọn lửa của chiến tranh, ngọn lửa của sự hủy hoại Vũ trụ.

 

Tâm sân như ngọn lửa, nó bùng phát ngay và luôn nên khi bất kỳ con người nào mang ngọn lửa của Tâm sân thì ta dễ dàng nhìn thấy. Tuy là ngọn lửa mang tính hủy diệt, nhưng vì là ngọn lửa Tâm sân nên nó dễ dàng bị dòng nước mát của Thiện Tâm dập tắt.

 

Nguyên nhân của sự sinh khởi cảnh giới Tâm sân:

 

-   Do Tâm chấp ngã vì trí tuệ u mê không mở cánh cửa trí tuệ hướng ra Vũ trụ quan xung quanh để học hỏi tri thức hai Chân lý và thực hành cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh. Khi đó Tâm nó như tù nhân luẩn quẩn trong nhà tù thân tướng, nó suy nhược năng lượng dương và phân rã dần, nó thấy phí hoài một kiếp người, nó thấy nghiệp báo và vòng sinh tử luân hồi vô lượng không có điểm dừng với nó nếu trí tuệ vẫn u mê.

 

-  Do năng lượng dương trong cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh (Tâm) không đủ mạnh để chi phối, dẫn dắt trí tuệ và thân tướng học tri thức hai Chân lý cũng như thực hành cải tạo Trụ linh. Đây là nguyên nhân nội lực không có sức mạnh.

 

Chính vì hai nguyên nhân trên. Khi Tâm nó chấp ngã vì trí tuệ không diệt được u mê, Tâm cũng không đủ sức mạnh chỉ dẫn trí tuệ nghe theo, nên Tâm nó phải phản kháng. Sự phản kháng bằng cách sinh khởi thành ngọn lửa thiêu đốt để cho trí tuệ nhìn nhận lại sự u mê mà mở cánh cửa trí tuệ, để học và thực hành cải tạo Trụ linh. Sự phản kháng với chấp nhận tạo ác nghiệp để hoại diệt đi thân tướng ngục tù, để được chuyển sinh sang kiếp mới với mong muốn được thực hành cải tạo Trụ linh. Như vậy từ cảnh giới của ngọn lửa Tâm sân sẽ dẫn đến hành động tạo nghiệp ác nếu năng lượng của Tâm sân đủ mạnh. Khi năng lượng của Tâm sân đủ mạnh nó sẽ thiêu đốt vạn vật thế gian và Tuệ linh, con người trên đường nó đi qua. Nếu năng lượng ngọn lửa Tâm sân không đủ mạnh để phản kháng hay tạo nghiệp ác thì nó sẽ bị dập tắt mà chuyển hóa sang cảnh giới tối thượng của Độc Tâm là Tâm hận thù.

 

C. Cảnh giới của Tâm hận thù

 

Cảnh giới của Tâm hận thù chính là cảnh giới của băng giá, của sự đóng băng, của sự ẩn trong sâu thẳm, nó mang tính âm siêu mạnh, nó luôn kết lại và được che đậy bởi sự yên bình như mặt nước, mặt băng.

 

Nguyên của cảnh giới Tâm hận thù được sinh khởi từ việc Tâm chấp ngã vì trí tuệ bám định vào các giả tướng và vì năng lượng trong Tuệ linh không đủ mạnh để chỉ dẫn trí tuệ nghe theo. Chính vì 2 nguyên nhân này mà từ Tâm chấp ngã chuyển hóa thành Tâm hận thù; hoặc từ Tâm chấp ngã rồi chuyển hóa thành Tâm sân, khi Tâm sân không đủ mạnh nó chuyển hóa thành Tâm hận thù.

 

Tâm hận thù là cảnh giới tối cao của Độc Tâm con người và Tuệ linh.

 

Tâm hận thù nó ẩn sâu bên trong như những tảng băng, nó truyền từ đời này sang đời khác, từ kiếp này cho đến nhiều kiếp khác. Nó chỉ chờ cơ hội là sẽ bùng phát thành sự hủy diệt cả nhân loại, Tuệ linh, vạn vật bằng cách nó lan truyền hận thù từ người này sang người khác như con vi rút lây nhiễm. Đó là sự hận thù mà hãm hại nhau, sự hận thù mà giết người, sự hận thù mà vi phạm giá trị đạo đức, sự hận thù mà tạo thành mê tín dị đoan, sự hận thù mà phân biệt sắc tộc, sự hận thù mà tạo thành chiến tranh hủy diệt. Sự hận như vô số con vi rút làm cho con người tự hoại diệt chính mình, tự tạo ra chiến tranh hủy diệt, nó làm cho con người mê lầm lạc lối và mê tín dị đoan để rồi chính tự con người hoại diệt lẫn nhau. Cảnh giới Tâm hận thù trong Tâm là tảng băng chìm, do đó nếu ta có dùng dòng nước mát của Thiện Tâm cũng chỉ làm cho tảng băng đó dày hơn và thêm hận thù. Tảng băng hận thù chỉ bị tan khi gặp ánh sáng mặt trời của hai Chân lý, bởi hai Chân lý chính là sự thật của Vũ trụ, Tuệ linh, con người, là nhân quả, là giác ngộ. Hai Chân lý sẽ thiêu đốt sự giả dối che đậy của tảng băng hận thù trong nhiều đời nhiều kiếp, sẽ đánh tan nghiệp ác, nhân quả trong tảng băng hận thù.

 

Bản chất của Độc Tâm còn thể hiện ở bản tính tự ái, đố kỵ, sợ bị nói sự thật về nhân quả. Người có Độc Tâm luôn luôn có tính tự ái, đố kỵ và sợ bị nói sự thật về nhân quả. Do đó để phơi bày Độc Tâm là Tâm chấp ngã, Tâm sân, Tâm hận thù thì chỉ cần dùng ánh sáng của hai Chân lý và sự thật về nhân quả sẽ khiến cho người có Độc Tâm phơi bày ra. Tiếp đến là tiếp tục dùng tri thức của hai Chân lý để người có Độc Tâm học và thực hành kiểm soát cũng như triệt bỏ Độc Tâm và chuyển hóa thành Thiện Tâm.

 

 

4.2. Thiện Tâm của con người

 

Khi trạng thái năng lượng, sóng điện của con người được bộc phát hết và chuyển sinh thành Thiện Tâm, Thiện Tâm thể hiện bản chất là Tâm cống hiến, Tâm an lạc, Tâm buông xả. Điều này cho thấy rằng Tâm đã có sức mạnh của tri thức hai Chân lý để thực hiện đời sống cống hiến tới vạn vật, Tuệ linh và con người nhằm cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Trong trạng thái năng lượng, sóng điện của Thiện Tâm, cảnh giới Tâm cống hiến được coi là nền móng, tiếp đến là cảnh giới Tâm an lạc và cảnh giới cao nhất là Tâm buông xả. Thiện Tâm là gốc của thiện nghiệp, của phước báo. Thiện Tâm mà vững chắc, lớn mạnh thì luôn luôn sinh khởi thành hành động tạo thiện nghiệp, luôn vì lợi ích của vạn vật, Tuệ linh, con người. Do đó cần phải duy trì, phát triển Thiện Tâm để đi tới đích của con đường cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt, trên hành trình đi trên con đường Thiện Tâm cần dẫn dắt, giúp đỡ Tuệ linh, con người, vạn vật chuyển hóa Độc Tâm thành Thiện Tâm.

 

Để có được Thiện Tâm, để duy trì và phát triển bền vững Thiện Tâm, Trí tuệ của thân tướng phải hợp nhất với Tâm tại Trụ linh để thấu hiểu tri thức của hai Chân lý và không ngừng nghỉ việc thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Điều này gọi là Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu và cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Thiện Tâm có 3 cảnh giới:

 

A. Cảnh giới của Tâm cống hiến

 

Cảnh giới của Tâm cống hiến được coi là nền móng vững chắc cho Thiện Tâm. Khi xây dựng được nền móng của Tâm cống hiến, Tâm luôn luôn sinh khởi thành Tâm an lạc và Tâm buông xả hết chấp ngã để hành động tạo thiện phước mang lại lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh và con người. Cảnh giới của Tâm cống hiến là cảnh giới mà Tâm không còn chấp ngã vì trí tuệ không còn bám định vào bất kỳ giả tướng nào. Trí tuệ đã chủ động mở cánh cửa trí tuệ để học và thấu hiểu tri thức hai Chân lý cũng như đã và đang thực hiện sứ mệnh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Do đó, đây là cảnh giới mà Tâm mang tình yêu thương vì lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng đến lợi ích cá nhân của mình. Các biểu hiện của bản chất Tâm cống hiến là:

 

Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng có:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng có. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng giàu có, không ích kỷ hưởng thụ và hưởng lạc trên giả tướng giàu có nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa giả tướng giàu có thành lợi ích để cống hiến, giúp đỡ vạn vật, Tuệ linh, con người. Đó là Tâm cống hiến.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng có địa vị, không ích kỷ tham ô tham nhũng và lợi ích về mình nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa giả tướng có địa vị thành cống hiến lợi ích cho dân tộc quốc gia và giúp đỡ nhân tài phục vụ Đất nước. Đó là Tâm cống hiến.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng có gia đình, không còn ích kỷ cho gia đình mình nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành cống hiến vì lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào thân tướng xinh đẹp, không còn ích kỷ cho mình nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lan tỏa những giá trị lợi ích tới mọi người, vạn vật mà không vi phạm chuẩn mực đạo đức. Đó là Tâm cống hiến.

 

 

Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng không có:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng không có. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng không có địa vị nữa, không còn ích kỷ về mình nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành cống hiến những giá trị đang có cho vạn vật, Tuệ linh, con người, không vì địa vị mà gây tổn hại tới mọi người. Đó là Tâm cống hiến.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng không giàu có nữa, không còn ích kỷ về mình mà gây tổn hại người khác. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh, con người. Đó là Tâm cống hiến.

 

Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào thân tướng không có đủ sức khỏe để giúp người, không có ích kỷ cho mình. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh, con người.

 

 

Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng yêu thương:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng yêu thương. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng yêu thương thông dâm tà dâm nữa, không vì lợi ích ích kỷ cá nhân mà gây tổn thương mọi người. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng sở thích cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập nữa, không còn ích kỷ cho mình mà gây tổn thương mọi người. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

 

Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng thù ghét:

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng thù ghét. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng thù ghét ai đó, không ích kỷ thỏa mãn sự trả thù nữa. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

 

Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng cầu:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng cầu. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng cầu, không còn ích kỷ vì lợi ích của mình mà đi ngược quy luật cũng như gây tổn thương tới mọi người. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến. Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng có trí tuệ:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng có trí tuệ. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng có trí tuệ, không còn ích kỷ ngạo mạn vì lợi ích cá nhân nữa. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích vì mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào mình có chức sắc trong tôn giáo hay trong tâm linh, không còn trục lợi về mình. Tâm đã dẫn dắt được trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

 

Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng không có trí tuệ:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng không có trí tuệ. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng không có trí tuệ nữa, không còn tự ti và ích kỷ cho mình nữa, thay vào đó là trau dồi học hỏi tri thức. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

-    Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào trí tuệ u mê, không tự ti nữa mà chịu khó học tập trau dồi trí tuệ để không bị lừa hại. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa giúp đỡ mọi người và chúng sinh không bị lừa hại. Đó là Tâm cống hiến.

 

 

Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng hành động:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng hành động. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng hành động gây tổn hại cho mọi người và vạn vật, không vì lợi ích ích kỷ cá nhân nữa. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành hành động vì lợi ích cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến. Tâm cống hiến vì không chấp ngã vào giả tướng không hành động:

 

Vì Thân – Tâm – Trí hợp nhất để thấu hiểu được tri thức của hai Chân lý, chính vì điều này, Tâm đã không chấp ngã vào giả tướng không hành động. Thay vào đó, Tâm đã được thân tướng và trí tuệ hợp nhất để thực hiện đời sống cống hiến, mang giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Đó là đời sống Tâm được cống hiến để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Tâm không bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ không bám định vào giả tướng không hành động giúp đỡ mọi người, không còn ích kỷ vì lợi ích cá nhân. Tâm đã dẫn dắt trí tuệ chuyển hóa thành không hành động tạo nghiệp và hành động giúp đỡ mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Đó là Tâm cống hiến.

 

Như vậy cảnh giới của Tâm cống hiến là cảnh giới của trí tuệ không bám định vào giả tướng, là cảnh giới mà trí tuệ đã thấu hiểu cội nguồn nhân loại, thấu hiểu sứ mệnh tu hành

 

   nhân gian, thấu hiểu nhân quả, thấu hiểu hai Chân lý, từ đó chuyển hóa thành tình yêu thương cho mọi người, vạn vật, Tuệ linh. Khi chúng ta đã xây dựng được nền móng của Tâm cống hiến thì sẽ sinh khởi chuyển thành cảnh giới của Tâm an lạc và Tâm buông xả.

 

B. Cảnh giới của Tâm an lạc

 

Tâm an lạc là sự an vui tự tại của Tâm, đây là cảnh giới an lạc, an vui, hạnh phúc của Tâm.

 

Nguyên nhân của cảnh giới Tâm an lạc là Tâm có đủ sức mạnh để dẫn dắt trí tuệ diệt đi sự bám định vào giả tướng, để trong Tâm không còn sự chấp ngã, không còn sự sân, không còn sự hận thù. Khi tâm đã diệt đi gốc của Độc Tâm thì sẽ sinh khởi được cảnh giới Tâm cống hiến. Vì cảnh giới Tâm cống hiến là nền móng của Thiện Tâm, như là dòng nước mát mà sinh khởi thành cảnh giới Tâm an lạc. Cảnh giới an vui tự tại của Tâm cũng chính là dòng nước mát tưới mát cho vạn vật, Tuệ linh, con người, gột rửa đi những đắng cay bụi trần và Độc Tâm. Như vậy, Tâm an lạc là vì Tâm cống hiến, vì cống hiến nên mới an lạc.

 

Khi Tâm đã an lạc thì sự an vui sẽ thể hiện ra thân tướng an vui: đó là sự an vui trong ánh mắt, ánh mắt nhẹ nhàng và đầy vị tha, ánh mắt tỏa ra niềm vui như nụ cười. Đó là sự an vui trong cử chỉ hành động của chân tay, đó là sự nhẹ nhàng và điềm đạm bởi dòng năng lượng an vui lan tỏa ra thân tướng. Đó là sự an vui trong nụ cười, nụ cười của tình yêu thương chúng sinh bao la, nụ cười của sự không bám định vào bất cứ giả tướng, nụ cười diệt đi Tâm sân hận của người đối diện. Đó là đôi tai an vui, sự an vui thể hiện ra đôi tai dù phải nghe những thứ mà đối với người chấp ngã không hề thích chút nào, dù phải nghe ai đó chửi rủa xúc phạm thân tướng mình. Đó là an vui ở mũi ta, sự an vui ở mũi khiến cho ta ngửi được hương vị ngọt bùi đắng cay cuộc đời kiếp người tu hành, nó an vui dù phải ngửi những mùi không hề thú vị chút nào. Đó là an vui nơi trí tuệ, sự an vui ở trí tuệ khi dù đối mặt với bất cứ hoàn cảnh nào, kiếp nạn khổ đau nào thì trí tuệ luôn thấy an vui để thấu hiểu và cùng tâm hợp nhất vượt qua tất cả các khó khăn chướng ngại, nó giúp cho Tuệ linh, con người không còn phiền não và vọng tưởng. Tâm an lạc đã lan tỏa ra trí tuệ, lan tỏa ra khắp thân tướng để khắc chế và hoại diệt đi Độc Tâm trong chính ta, trong anh, trong bạn, trong mọi người. Tâm an lạc tại kiếp người, bất chấp mọi hoàn cảnh chướng ngại và đầy rẫy chông gai trên con đường tu hành ở nhân gian thì đó chính là niết bàn, niết bàn tự tại nhất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người.

 

Khi tâm an lạc như dòng nước mát, tưới mát và sinh khởi sự sống cho vạn vật, nó không những giúp cho Thân, Tâm, Trí ta an vui mà còn chuyển hóa sự an vui đó cho chúng sinh an vui, cho Tuệ linh, mọi người đều an vui, cho vạn vật an vui. Nó không những đem lại lợi ích cho ta mà còn đem lại lợi ích cho vạn vật và chúng sinh, Tuệ linh, con người. Từ nền móng Tâm cống hiến mà sinh khởi thành Tâm an lạc, từ Tâm an lạc lại sinh khởi lên cảnh giới Tâm buông xả.

 

C. Cảnh giới của Tâm buông xả

 

Cảnh giới của Tâm buông xả gồm có Tâm buông và

 

Tâm xả:

 

-   Tâm buông là cả ba tướng trong tam hợp nhân đều buông: trí tuệ không bám định vào, không bám lấy, không vơ vét các giả tướng về thân tướng ta; Tâm ta không bị chấp ngã, Tâm không bị sân, bị hận; thân tướng không hành động tạo ác nghiệp, không ích kỷ về thân tướng mình mà hại người, vạn vật, Tuệ linh. Như vậy cần cả sự hợp nhất của tam hợp nhân để buông những giả tướng, Độc Tâm, nghiệp ác mà chưa phải của ta, buông đi sự ích kỷ lợi ích của ta mà sẽ gây họa cho chúng sinh. Đó là buông đi cái không phải của ta, buông đi cái ta đang định lấy.

 

-   Tâm Xả là cả ba tướng trong tam hợp nhân đều xả: trí tuệ xả đi những giả tướng mà trí tuệ đã bám định vào; Tâm xả đi sự chấp ngã, sân, hận đã có trong Tâm; thân tướng xả đi nghiệp ác đã tạo bằng cách hành thiện cứu giúp người và chúng sinh. Như vậy cần cả sự hợp nhất của tam hợp nhân để xả đi những giả tướng, Độc Tâm, nghiệp lực đã là của ta, xả đi những ích kỷ lợi ích của ta mà đã gây họa cho chúng sinh và Tuệ linh, con người.

 

Nguyên nhân của Tâm buông, xả là do Tâm đã xây dựng được nền móng cảnh giới Tâm cống hiến vững chắc mà sinh khởi lên cảnh giới của Tâm an lạc, từ Tâm an lạc chuyển thành Tâm buông xả. Cảnh giới Tâm buông xả trong Tâm là cảnh giới tối thượng của Thiện Tâm. Nó là cảnh giới tối thượng vì nó có sự hợp nhất toàn bộ của trí tuệ với Thân tướng và Tâm (Tuệ linh) để thấu hiểu và thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng, để duy trì sự sống tồn tại và phát triển của toàn bộ các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người.

 

Khi đạt được cảnh giới Tâm buông xả trong Thiện Tâm thì Độc Tâm sẽ không còn làm ta phiền não mà sống trong Độc Tâm với những cảnh chấp ngã, sân, hận và tạo ác nghiệp. Bởi khi đó chúng ta luôn phát ra năng lượng Thiện Tâm với các tầng hào quang màu vàng như ánh sáng mặt trời để tiêu tan màn đêm giả dối như đêm tối của nghiệp lực, của Độc Tâm. Độc Tâm sẽ không còn an trụ trong ta nữa.

 

Cảnh giới Tâm buông xả sẽ khiến cho chúng ta luôn luôn không vì lợi ích ích kỷ của bản thân, của gia đình, của dòng họ mà gây tổn thương lợi ích của chúng sinh và lợi ích của Tuệ linh, con người. Mỗi người dù sống trong mọi hoàn cảnh giả tướng nào thì vẫn luôn luôn chuyển hóa được thành lợi ích cho chúng sinh mà không màng đến lợi ích cho mình.

 

Như vậy bản chất của Thiện Tâm chính là đã thấu hiểu và sống trong sự thật của ánh sáng mặt trời, sống trong sự tuân thủ nhân quả, trong sự thấu hiểu vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người bằng Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, sống trong sự yêu thương chúng sinh, Tuệ linh, con người. Chỉ cần cải tạo và lan tỏa phương pháp cải tạo Trụ linh tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Chúng ta sẽ nhanh chóng chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

4.3. Phương pháp dùng Thiện Tâm hóa giải Độc Tâm

 

Trong bản chất của Độc Tâm, Tâm chấp ngã là nền móng vững chắc, nó ăn sâu vào Tuệ linh, con người, nó mang tính âm mạnh. Cảnh giới Tâm sân là cảnh giới được sinh khởi từ nền móng chấp ngã, nó mang đặc tính như ngọn lửa thiêu đốt, nó mang tính âm rất mạnh. Cảnh giới Tâm hận là cảnh giới tối thượng được xây dựng từ nền móng chấp ngã và sân, nó là thành trì băng giá, nó mang tính âm siêu mạnh. Ngoài ra bản chất của Độc Tâm còn thể hiện ở sự tự ái, đố kỵ, sợ nói về nhân quả, nó là cảnh sống trong màn đêm tối giả dối.

 

Trong bản chất của Thiện Tâm có 2 điểm chính: là dòng nước mát của sự cống hiến, an lạc, buông xả; là ánh sáng rực rỡ như mặt trời của sự thật của hai Chân lý, của nhân quả, là cảnh sống hiên ngang giữa ánh sáng mặt trời.

 

Phương pháp dùng Thiện Tâm hóa giải Độc Tâm:

 

Khi gặp Độc Tâm thể hiện tính chấp ngã:

 

Vì Tâm chấp ngã là nền móng của sự giả dối, của sự bám định vào giả tướng để lợi mình và hại người nên ta phải dùng Thiện Tâm là nhẹ nhàng dùng ánh sáng mặt trời của sự thật hai Chân lý, của nhân quả để xua tan và diệt được nền móng chấp ngã. Khi gặp Độc Tâm thể hiện tính sân:

Độc Tâm có 3 cảnh giới:

 

A. Cảnh giới của Tâm chấp ngã

 

Chấp là sự bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng của Tâm trong thân tướng con người. Mà Tâm chính là Tuệ linh hoặc Linh hồn, luân hồi đầu thai vào con người ở nhân gian trong nhiều đời nhiều kiếp nhằm cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Tuy nhiên do trí tuệ thân tướng không biết hay không nhớ được sứ mệnh của Tuệ linh, thay vào đó lại bám định, ham muốn và vơ vét giả tướng về thân tướng mình mà không thực hiện sứ mệnh nên Tuệ linh bí bách, luẩn quẩn trong thân tướng. Tuệ linh không hoặc chưa có cách nào khiến cho trí tuệ thân tướng thấu hiểu nên gọi là Tâm bí bách.

 

Ngã là giả tướng, là 10 giả tướng.

 

Tâm chấp ngã chính là Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng vì trí tuệ thân tướng bám định vào giả tướng, vơ vét giả tướng về thân tướng mà không sống đời sống cống hiến. Tâm bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng trong thân tướng vì trí tuệ không chịu mở cánh cửa ra để học tập tri thức của hai Chân lý, phương pháp cải tạo và chuyển hóa Trụ linh cho Tuệ linh.

 

Như vậy, nguyên nhân đầu tiên của Tâm chấp ngã là trí tuệ u mê bám định vào các giả tướng để thỏa mãn và hưởng thụ giả tướng. Nguyên nhân thứ hai là Tâm không đủ trạng thái năng lượng của Thiện Tâm để chi phối trí tuệ thân tướng học tri thức hai Chân lý và thực hiện sứ mệnh cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh. Điều này khiến cho Tâm bị bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng, đau khổ vì không có cơ hội học tập hai Chân lý cũng như cải tạo Trụ linh của mình.

 

Vì Tâm sân là ngọn lửa thiêu đốt nên ta phải dùng dòng nước mát của Thiện Tâm là cống hiến, an lạc, buông xả để nhẹ nhàng gột rửa và làm mát chúng sinh đang bị Tâm sân. Tuyệt đối không dùng Tâm sân để đấu chọi với Tâm sân, vì nếu vậy sẽ làm thành ngọn lửa hủy diệt.

 

Khi gặp Độc Tâm thể hiện tính hận thù:

 

Vì Tâm hận thù là tảng băng và mang tính âm siêu mạnh nên không thể đơn thuần dùng dòng nước mát của Thiện Tâm để hóa giải được. Ta phải dùng ánh sáng mặt trời của sự thật hai Chân lý, của nhân quả để tiêu tan màn đêm băng giá của sự giả dối. Bởi cảnh giới băng giá hận thù này chỉ bị tan chảy bởi ánh sáng mặt trời chói chang.

 

Như vậy tùy từng cảnh giới nào của Độc Tâm mà ta dùng dòng nước mát hay ánh sáng mặt trời để mà hóa giải cho chúng sinh. Khi dùng ánh sáng mặt trời thì đó là dùng sự thật của hai Chân lý và nhân quả để làm cho cảnh giới hận và chấp ngã bị tiêu diệt. Khi dùng ánh sáng mặt trời sẽ khiến cho chúng sinh lầm tưởng ta mắng hay thù ghét họ, do đó khi vận hành Thiện Tâm hóa giải Độc Tâm thì chúng ta cần vận dụng tinh tế để phân tích căn cơ trí tuệ của chúng sinh ra sao để lựa mà hóa độ cho chúng sinh.

 

Việc thấu hiểu bản chất Trụ – Tâm của con người, mà con người là hóa thân của Tuệ linh tu hành ở nhân gian, do đó, với việc thấu hiểu được Độc Tâm và Thiện Tâm, chúng ta phải thấu hiểu tri thức hai Chân lý để thực hành kiểm soát độc tâm và phát triển thiện tâm. Làm được điều này, chúng ta sẽ nhanh tiến tới đích của con đường cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. 

5.    Bản chất của sự tuần hoàn và kiểm soát sóng điện, trạng thái năng lượng của Trụ – Tâm

 

Bản chất của sự tuần hoàn và kiểm soát trạng thái năng lượng, sóng điện của Trụ – Tâm được tính cho 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất. Đặc biệt, bản chất này sẽ giúp cho Tuệ linh, con người giải mã, thấu hiểu và biết cách liên kết tuần hoàn, kiểm soát trạng thái năng lượng từ Trụ linh tới toàn bộ cấu trúc năng lượng trong bản thể mình và vạn vật Vũ trụ.



Để giải mã, thấu hiểu bản chất của sự tuần hoàn, kiểm soát trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu cấu trúc liên kết giữa các hạt năng lượng tổng hợp bên ngoài Trụ linh của cấu trúc Tướng.

 

Các hạt năng lượng dương tổng hợp kết nối gần nhau, bên cạnh nhau là bởi có sự kết nối thông tin gần giống nhau hoặc tiếp nối thông tin với nhau.

 

Các hạt năng lượng âm tổng hợp và dương tổng hợp được kết nối với nhau bởi cùng khớp nội dung thông tin. Chính vì điều này mà hạt năng lượng âm tổng hợp rung lắc xung quanh hạt năng lượng dương tổng hợp.

 

Bản chất tuần hoàn trạng thái năng lượng, sóng điện của Trụ – Tâm:

 

Trong Trụ – Tâm con người, Tuệ linh và vạn vật, luôn luôn có 3 nhóm hạt năng lượng với 3 đặc tính sóng điện khác nhau. Đó là nhóm hạt năng lượng âm với sóng điện âm, nhóm hạt năng lượng dương với sóng điện dương, nhóm hạt năng lượng trung tính (chân tâm) với sóng điện trung tính. Tuần hoàn sóng điện chính là tuần hoàn trạng thái năng lượng của 3 nhóm năng lượng trong toàn bộ cấu trúc Tướng.

 

Nhiệm vụ của từng nhóm hạt năng lượng:

 

Hạt năng lượng trung tính (chân tâm) là chất dính và được làm đường truyền kết nối các hạt năng lượng dương với nhau. Hạt năng lượng trung tính không có sóng điện dương để đẩy và cũng không có sóng điện âm để thu hút. Hạt năng lượng trung tính chỉ làm nhiệm vụ là đường truyền của sóng điện thông tin được chạy từ Trụ linh đến toàn bộ các cụm hạt năng lượng trong toàn bộ cấu trúc năng lượng (Tướng). -   Hạt năng lượng dương là các vị trí, là điểm kết nối để tạo thành cấu trúc lập phương với 8 hạt năng lượng dương và được các hạt năng lượng chân tâm kết nối để làm đường truyền. Các hạt năng lượng dương được liên kết với nhau bởi cấu trúc vô số hình lập phương được gắn kết với nhau. Hạt năng lượng dương có nhiệt lượng dương, có sóng điện dương. Hạt năng lượng dương làm nhiệm vụ tỏa nhiệt và đẩy thông tin chuyển tiếp đến các hạt năng lượng dương khác.

 

-    Hạt năng lượng âm là hạt năng lượng có nhiệm vụ rung lắc để thu tín hiệu, để hấp thụ nhiệt xung quanh về. Hạt năng lượng âm sẽ rung lắc bên cạnh hạt năng lượng dương. Hạt năng lượng âm không kết dính với hạt năng lượng dương. Hạt năng lượng âm có liên kết với hạt năng lượng dương bởi cùng nội dung thông tin nên hạt năng lượng âm quay xung quanh hạt năng lượng dương. Có thể nói, hạt năng lượng âm là hạt thu sóng tín hiệu thông tin.

 

Quy trình tuần hoàn sóng điện âm, dương, trung tính trong cấu trúc Trụ – Tâm được bắt đầu từ Trụ linh. Từ Trụ linh, sóng điện thông tin mang đặc tính sóng điện dương sẽ được đẩy đi tới từng cụm hạt năng lượng âm – dương trong toàn bộ cấu trúc năng lượng thông qua đường truyền trung tính. Các hạt năng lượng âm bên cạnh các hạt năng lượng dương có nhiệm vụ thu tín hiệu, hấp thụ nhiệt nên chúng luôn rung lắc. Khi sóng điện thông tin để đi tới được điểm tiếp theo là hạt năng lượng dương thì cần phải có hạt năng lượng âm ở điểm đó thu tín hiệu và lực đẩy từ Trụ linh. Sóng điện thông tin đến được điểm hạt dương đầu tiên sẽ được sóng điện dương của điểm đầu tiên đẩy sóng điện thông tin đi tới điểm tiếp theo. Hạt năng lượng âm ở điểm tiếp theo sẽ tiếp tục rung lắc để thu tín hiệu. Sóng điện dương ở điểm hạt  dương đẩy sóng điện thông tin và được hạt năng lượng âm thu tín hiệu nên sóng thông tin được di chuyển tới điểm hạt dương tiếp theo. Cứ như vậy, sóng điện thông tin sẽ di chuyển trong toàn bộ trong cấu trúc năng lượng thành vòng tròn và trở về Trụ linh.

 

Sóng điện tuần hoàn với những nhiệm vụ, sứ mệnh riêng biệt của từng nhóm hạt năng lượng. Những nhiệm vụ đó sẽ giúp sóng điện thông tin từ Trụ linh tuần hoàn liên tục trong toàn bộ cấu trúc năng lượng để hấp thụ thông tin của Vũ trụ quan xung quanh trong quá trình tương tác về Trụ linh. Sóng điện thông tin càng tuần hoàn tự động như một cơ chế sẽ giúp cho cấu trúc năng lượng đó mã hóa, hấp thụ được vô số thông tin chân thật về Trụ linh để Trụ linh thực hiện quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng. Cũng được hiểu là, quá trình tuần hoàn sóng điện thông tin sẽ sinh ra nhiệt ấm để xảy ra quá trình phân tách liên kết hạt năng lượng tại Trụ linh theo hướng bền vững.

 

Nếu cấu trúc vật chất, Tuệ linh, con người mà không xảy ra quá trình tuần hoàn sóng điện thì sẽ không tồn tại sự sống. Nếu quá trình tuần hoàn bị tắc nghẽn ở những cụm hạt năng lượng nào thì tại những điểm đó có nhiều hạt năng lượng âm và đường truyền bị đứt. Những Tướng như vậy sẽ nguy cơ phân rã và dẫn tới hoại diệt cấu trúc nếu năng lượng hoại diệt tấn công nhiều vào.

 

Bản chất kiểm soát trạng thái năng lượng lượng, sóng điện của Trụ – Tâm:

 

Bản chất việc kiểm soát sóng điện, trạng thái năng lượng trong Trụ – Tâm là vấn đề của hạt năng lượng dương và hạt năng lượng âm. Bởi, để sóng điện tuần hoàn được thông suốt trong toàn bộ cấu trúc Tướng thì hạt năng lượng dương có sóng điện phải mạnh và hạt năng lượng âm có sóng điện phải yếu. Bởi hạt năng lượng âm có nhiệm vụ là thu tín hiệu và hạt năng lượng dương là đẩy chuyển tiếp thông tin.

 

Khi hạt năng lượng dương mạnh sẽ tỏa nhiệt dương lớn ra xung quanh nó. Khi đó, hạt năng lượng âm sẽ hấp thụ nhiệt dương và chính nhiệt dương sẽ kiểm soát và giảm tốc độ quay của hạt năng lượng âm. Khi đó hạt năng lượng âm sẽ chỉ là thu tín hiệu thông tin và không có khả năng cản trở sóng thông tin di chuyển qua cụm hạt năng lượng âm – dương đó.

 

Khi hạt năng lượng âm có sóng điện mạnh, hạt năng lượng dương có sóng điện yếu, trường hợp này sẽ khiến cho năng lượng dương bị mất nhiệt dương nhanh bởi lực hút của hạt năng lượng âm và do hạt năng lượng dương không quay mạnh. Khi đó, hạt năng lượng dương sẽ không có đủ nhiệt lượng để đẩy thông tin chuyển tiếp đến cụm hạt năng lượng dương khác, đồng thời lại bị lực hút của hạt năng lượng âm mạnh cản trở quá trình chuyển tiếp thông tin. Khi đó, sóng điện thông tin không tuần hoàn được.

 

Mỗi một cụm hạt năng lượng trong cấu trúc Tướng gồm có 1 hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh hạt năng lượng dương bởi cùng nội dung thông tin. Hạt năng lượng nào mạnh sẽ kiểm soát và suy yếu được hạt năng lượng kia.

 

Bản chất trong cấu trúc Tướng mà có nhiều cụm hạt năng lượng âm – dương với cấu trúc có nhiều hạt năng lượng âm tại mỗi điểm của hạt năng lượng dương sẽ tạo thành cấu trúc đa âm trong Tướng. Đây là nguyên nhân sóng điện không tuần hoàn và các chứng bệnh sẽ xảy ra. Tuệ linh thì bị phân rã cấu trúc mà nguy cơ hoại diệt. Con người thì bệnh tật. Vạn vật cũng vì thế mà không liên kết bền vững.

 

 

6.    Bản chất Trụ – Tâm Kết của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật. Do đó, để thấu hiểu được bản chất của Trụ – Tâm, chúng ta phải giải mã, thấu hiểu bản chất của Trụ linh.

 

Việc giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ linh Kết của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng liên kết, kiểm soát được trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ – Tâm của mình. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

6.1. Bản chất cấu trúc Trụ linh Kết của 3 nhóm vật chất

 

Kết là rung động, là bắt tín hiệu, là thu tín hiệu, là hút về, là lấy về, là hưởng thụ, là chìm đắm, là chiếm đoạt, là cướp bóc, là thỏa mãn, là giết hại, là gây tổn hại.

 

Kết có bản chất là hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Bởi hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm mới rung động, mới bắt tín hiệu, mới thu tín hiệu, mới hút về, mới lấy về, mới hưởng thụ, mới chìm đắm, mới chiếm đoạt, mới cướp bóc, mới thỏa mãn, mới giết hại, mới gây tổn hại. Đã là Trụ linh thì phải có hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm.

 

Kết ở mức nhẹ là chỉ rung động, thu hút tín hiệu. Kết ở mức rất mạnh là giết hại, thỏa mãn mà gây tổn hại tới các chỉnh thể khác. Trong bất cứ cấu trúc Trụ linh nào được hình thành từ sự hợp nhất của hai hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương đều có Kết. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình thành từ hai hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ đã có một sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Mà bản chất của sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm là Kết. Điều này cho thấy, hết thảy các cấu trúc Trụ linh đều có bản chất là Kết. Có chăng mức độ Kết ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.

 

Kết tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trụ linh. Ba nhóm cấu trúc Trụ linh tương ứng với 3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc Trụ linh giản đơn, nhóm cấu trúc Trụ linh phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trụ linh.

 

Kết là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trụ linh nào muốn phát triển và nâng cấp phải có. Bởi chỉ khi có Kết thì hết thảy các cấu trúc Trụ linh trong Vũ trụ mới hấp thụ nhiệt lượng, hấp thụ dinh dưỡng, hấp thụ sóng điện để thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết nhằm tồn tại và phát triển bền vững hơn.

 

Kết ở mức độ nhẹ và vừa đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững của cấu trúc Trụ linh và mang lại lợi ích tới hết thảy các Tướng khác trong Vũ trụ. Kết ở mức độ mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh không phát triển được mà dễ dàng bị năng lượng hoại diệt gây phân rã làm vỡ cấu trúc, hoại diệt vĩnh viễn và gây tổn hại tới hết thảy các Tướng trong Vũ trụ.

 

Có 3 nhóm cấu trúc Trụ linh dễ bị phân rã và hoại diệt. Đó là 3 nhóm cấu trúc Trụ linh Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:

 

-   Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu xám với một hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng đục. Trụ linh đa âm mạnh được gọi là Trụ linh Kết mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc mạnh, quay ngược mạnh, hút sóng điện bên ngoài về mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết mạnh.



-    Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết rất mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đen với một hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm rất mạnh được gọi là Trụ linh Kết rất mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc rất mạnh, quay ngược rất mạnh, hút sóng điện bên ngoài về rất mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết rất mạnh.

-   Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đỏ máu với một hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm siêu mạnh được gọi là Trụ linh Kết siêu mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc siêu mạnh, quay ngược siêu mạnh, hút sóng điện bên ngoài về siêu mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết siêu mạnh.

Cấu trúc Trụ linh của hết thảy các Tướng trong Vũ trụ Kết ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trụ linh đa âm mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Khi đa âm, tức là lượng hạt năng lượng âm được phân tách ra vô số mà không cấu tạo được thành liên kết vững chắc như những hạt năng lượng dương. Việc không tạo được sự liên kết chặt chẽ sẽ làm cho cấu trúc Trụ linh không có khả năng phòng thủ trước sự tấn công của năng lượng hoại diệt. Khi năng lượng hoại diệt tấn công sẽ làm cho cấu trúc Trụ linh đó bị đứt liên kết, bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.

 

Khi các cấu trúc Trụ linh Kết tương tác với nhau sẽ dễ dàng tạo thành hiệu ứng Kết liên kết với Kết. Đây chính là hội chứng liên kết phóng xạ âm của các cấu trúc Trụ linh có bản chất Kết. Khi hội chứng liên kết phóng xạ âm xảy ra giữa các  cấu trúc Trụ linh, các cấu trúc Trụ linh sẽ rung lắc mạnh, thu hút mạnh, quay ngược mạnh. Điều đó khiến cho năng lượng hoại diệt sẽ tấn công vào rất mạnh. Khi đó, các cấu trúc Kết này nhanh chóng bị phân rã và hoại diệt. Có thể nói, khi các cấu trúc Trụ linh Kết tương tác với nhau sẽ gây tổn hại lớn cho chính cấu trúc Trụ linh của chính nó và các cấu trúc Trụ linh khác.

 

 

6.2. Các cấu trúc Trụ linh Kết của 3 nhóm vật chất

 

Các cấu trúc Trụ linh Kết ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất là:

 

Các cấu trúc Trụ linh Kết trong nhóm siêu vật chất:

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.

 

Siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Tuệ linh bị đa âm, bị phóng xạ năng lượng âm.

 

-   Tuệ linh đã hóa thành ngã quỷ sau quá trình tu hành

 

  nhân gian.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang phân rã và tiệm cận sự hoại diệt. Đó là họ đang rung động, hút, chiếm hữu, gây tổn hại tới các chỉnh thể khác mà không thể kiểm soát được chính họ.

 

Tuệ linh, Linh hồn đang ở các cửa ngục ác nghiệp ở cõi trời Địa phủ. -   Tuệ linh, Linh hồn đang ở cảnh sống âm tại cõi trời Địa phủ.

 

-    Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ trong không gian Vũ trụ.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn hóa ngã quỷ đang an trụ ở khắp điền thổ, những nơi thờ tự ở nhân gian.

 

-   Tuệ linh, Linh hồn đang bị mắc kẹt ở nhân gian sau khi hết kiếp người mà chưa được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.

 

-   Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động tiêu cực gây tổn hại vạn vật, Tuệ linh, con người. Là người vi phạm vào bốn hình tướng Đạo, đó là vi phạm vào những điều không được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo. Đặc biệt là những con người có đại hệ tư tưởng u mê, tiêu cực gây tổn hại Tuệ linh, con người. Họ là những người lan tỏa mê tín dị đoan, lan tỏa tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, lan tỏa chiến tranh, lan tỏa những tư tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.

 

Các siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng được phân tách ra bên ngoài Trụ linh bị mất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ được phân tách ra quá nhiều, trong khi các hạt năng lượng dương lại quá ít. Khi mất cân bằng sẽ khiến tốc độ rung lắc trong các hạt năng lượng âm rất lớn. Năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu, chúng di chuyển vào làm đồng hóa, phân rã và hoại diệt cấu trúc Trụ linh đó. Cấu trúc Trụ linh chính là cấu trúc năng lượng, cũng chính là cấu trúc Tướng. Các cấu trúc Trụ linh Kết trong nhóm vật chất phức tạp:

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Những tầng hạt năng lượng âm liên kết với tầng hạt năng lượng chớm dương đang vận hành Vũ trụ.

 

-  Những linh hồn các con thú dữ. Sau khi hoại diệt thân xác, linh hồn chúng tồn tại trên điền thổ và chúng gây tổn hại tới đời sống của con người. Chúng được gọi là yêu tinh, yêu quái.

 

-  Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính chất độc tố. Đó là những cây cối, những đất đá gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của con người và vạn vật cũng như muông thú.

 

Các Tướng phức tạp có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu. Chúng di chuyển ồ ạt vào làm đồng hóa, phân rã và hoại diệt các cấu trúc Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh chính là cấu trúc năng lượng, cũng chính là cấu trúc Tướng.

 

Các cấu trúc Trụ linh Kết trong nhóm vật chất giản đơn:

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, kim loại, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Thân tướng con người:

 

+   Những con người có thân bệnh. Thân bệnh là năng lượng âm quá nhiều, dư thừa, khiến cho sóng điện âm dương trong cơ thể không tuần hoàn. Khi đó, năng lượng hoại diệt xâm nhập làm biến đổi cấu trúc tế bào và gây ra những bệnh lý hiểm nghèo.

 

+  Những con người có trí tuệ bám định, u mê không tin vào Quy luật Nhân quả, vào cội nguồn nhân loại, vào con đường và sứ mệnh tu hành cải tạo Tuệ linh.

 

+    Những con người có trí tuệ bám định vào các giả tướng mà không hành thiện cứu giúp con người, vạn vật và muông thú.

 

+    Những con người có những hành động gây tổn hại tới vạn vật, con người, muông thú để thỏa mãn cho bản thể họ.

 

+    Những con người có đại hệ tư tưởng tiêu cực đi ngược lại Quy luật Nhân quả.

 

+    Những con người sống và lan tỏa những đại hệ tư tưởng: u mê, mê tín dị đoan, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tôn giáo cực đoan, phân chia dân tộc, phân chia sắc tộc, chiến tranh…

 

+   Những con người sống và thực hành, lan tỏa vi phạm bốn hình tướng Đạo. -   Thân tướng muông thú: Đó là những con thú ăn thịt đồng loại, những con thú ăn thịt các con thú khác, những con thú không cứu giúp và bảo vệ đồng loại của chúng. Những con thú không cứu giúp muông thú khác, không giúp đỡ con người, không cứu giúp vạn vật.

 

-   Những cỏ cây hút nước, hút dinh dưỡng để tồn tại và phát triển.

 

-   Những hang sâu trong lòng đất núi. Những vật chất đá không sinh phát ra năng lượng tốt cho vạn vật. Những kim loại, hóa chất, chất độc trong thiên nhiên, trong lòng đất.

 

-   Nước trung hòa tất cả vạn vật.

 

-   Những hành tinh có sóng âm mạnh như Trái đất, như Mặt trăng và các hành tinh không phải là Mặt trời.

 

 

7.   Bản chất Trụ – Tâm Định của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Vì Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật. Do đó, để thấu hiểu được bản chất của Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu bản chất của Trụ linh.

 

Việc giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ linh Định của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng liên kết, kiểm soát được trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ – Tâm của mình. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

7.1. Bản chất cấu trúc Trụ linh Định của 3 nhóm vật chất

 

Định là đứng im, là bất động, là tĩnh lặng, là thanh tịnh, là an lạc, là thanh lọc. Định có nghĩa là không Kết cũng không Tỏa.

 

Định có bản chất là hạt năng lượng có sóng điện chân tâm (trung tính), là cấu trúc Trụ linh cân bằng. Là chân tâm, là cấu trúc cân bằng nên mới đứng im, nên mới bất động, nên mới tĩnh lặng, nên mới thanh tịnh, nên mới an lạc, nên mới thanh lọc. 

Cấu trúc Trụ linh Định chính là Trụ linh của Tướng được cấu tạo thành bởi một hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ màu trắng xám với một hạt năng lượng dương có sóng điện nhẹ màu trắng đục. Đây là cấu trúc Trụ linh Định ở mức nhẹ và thấp nhất. Định ở mức độ mạnh, rất mạnh, siêu mạnh thì đó chính là cấu trúc Trụ linh Tỏa. Tức là khi cấu trúc Trụ linh Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh, siêu mạnh, đó là Định ở các mức cao. Định ở mức cao là do quá trình tuần hoàn sóng điện trong Trụ linh đạt đến sự bền vững. Sự bền vững đó là do sự liên kết vững chắc giữa sóng điện âm và dương trong Trụ linh.

 

Cấu trúc Trụ linh Định tồn tại trong cả 3 nhóm vật chất. Đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.

 

Cấu trúc Trụ linh Định là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trụ linh nào muốn phát triển nâng cấp phải có. Bởi chỉ khi có Định thì hết thảy cấu trúc Trụ linh trong Vũ trụ mới cân bằng, thanh lọc được năng lượng sau khi Kết. Chỉ có Định mới giúp cho hết thảy cấu trúc Trụ linh Tỏa được năng lượng tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Cấu trúc Trụ linh Định là bản chất vô cùng cần thiết cho hành trình chuyển sinh nâng cấp cấu trúc Trụ linh và bản thể vật chất. Định luôn luôn hiện hữu trong từng tích tắc của thời gian, của quá trình vận động của hết thảy các dạng cấu trúc Trụ linh của vạn vật. Định sẽ được phát huy hết giá trị nếu nó được vận hành thành quy trình tự động cho quá trình Kết và Tỏa. Tức là nó phải nằm trong toàn bộ quy trình có Kết và có Tỏa. Nếu nó tách riêng, nó sẽ không có được sức mạnh siêu việt. 7.2. Các cấu trúc Trụ linh Định của 3 nhóm vật chất

 

Các cấu trúc Trụ linh Định có trong 3 nhóm vật chất là:

 

Các cấu trúc Trụ linh Định trong nhóm siêu vật chất:

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.

 

Siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Định là:

 

-   Tuệ linh mới được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương thành Tuệ linh em bé.

 

-   Tuệ linh có cấu trúc năng lượng cân bằng âm dương trong Trụ linh. Đó là tại Trụ linh, có hạt năng lượng âm gốc có sóng điện âm nhẹ, và hạt năng lượng dương gốc có sóng điện dương nhẹ. Đây là Định ở cảnh giới thấp.

 

-   Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương trong Trụ linh. Trụ linh đa dương sẽ giúp cho Tuệ linh có Định ở cảnh giới cao và rất cao.

 

-   Các Tuệ linh không thiện cũng không ác. Đó là Định ở mức thấp.

 

-   Các Tuệ linh luôn luôn làm những việc thiện vì vạn vật và Tuệ linh, con người. Đó là các Tuệ linh đã đạt được những thành tựu trên hành trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng như các bậc thánh hiền, các bậc hiền triết.

 

-    Định ở cảnh giới tối thượng là Người Cha – Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ và Tuệ linh, con người. Đó là bộ lọc năng lượng viên mãn. -     Các Tuệ linh, Linh hồn đang sống ở cảnh giới tu dưỡng, cân bằng năng lượng ở cõi trời Địa phủ.

 

-    Những con người đang sống. Họ không thiện cũng không ác, đó là Định ở mức thấp. Những con người luôn vì mọi người và vạn vật, Tuệ linh, con người, đó là Định ở mức cao.

 

-   Những con người thông qua bốn hình tướng Đạo mà vẫn cân bằng, không vi phạm làm tổn hại bốn hình tướng Đạo, từng bước lan tỏa giá trị tới mọi người, đó là Định.

 

Các cấu trúc Trụ linh Định trong nhóm vật chất phức tạp:

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ.

 

Tướng phức tạp có cấu trúc Trụ linh Định là:

 

-   Những tầng năng lượng dương liên kết với tầng năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ vận hành Vũ trụ.

 

-   Những linh hồn các con thú lành hiền. Đó là những con thú không giết hại các con thú khác, những con thú không ăn thịt thân tướng các con thú khác.

 

-  Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá, trong những cây có tính thanh lọc. Đó là cây cối, là những loại đá bán quý, đá quý.

 

Các cấu trúc Trụ linh Định trong nhóm vật chất giản đơn:

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, kim loại, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có cấu trúc Trụ linh Định là:

 

-   Thân tướng con người:

 

+   Những con người có thân tướng mạnh khỏe, không bệnh tật.

 

+   Những con người không thiện cũng không ác, đó là có tư tưởng cho đến hành động không thiện cũng không ác.

 

+    Những cháu bé với chân tâm ban đầu chưa thiện cũng chưa ác.

 

+    Những con người cân bằng được cuộc sống trong bốn hình tướng Đạo. Họ không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ từng bước thực hành lan tỏa giá trị đạo đức tới mọi người và vạn vật, muông thú.

 

+   Những con người có Định ở mức cao cho tới rất cao là họ sống như bản năng. Bản năng đó là luôn có tư tưởng cho đến hành động không vì mình, luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người.

 

+   Người có bộ lọc năng lượng là người có Định ở mức độ cao nhất. Họ luôn cân bằng, luôn thanh lọc, luôn an lạc, luôn chuyển hóa tuần hoàn một cách kỳ diệu.

 

-   Thân tướng muông thú: Đó là những con thú không ăn thịt, không giết hại con thú khác. Đó là những con thú lành hiền. Đó là những con thú giúp đỡ những con thú khác, những con thú biết giúp đỡ con người. Những con thú biết giúp đỡ muông thú và con người là Định ở mức rất cao. -   Những cỏ cây cân bằng năng lượng. Định ở mức cao.

 

-   Nước trung hòa tất cả vạn vật. Định ở mức rất cao.

 

-   Những hành tinh quay xung quanh chính nó có mức Định cao.

 

-   Trong mỗi hành tinh đều có khu vực giao nhau giữa tầng địa chất sóng điện dương và tầng địa chất sóng điện âm là khu vực có mức Định rất cao. Đó là năng lượng chân tâm gắn kết chỉnh thể hành tinh đó được bền chặt, được tồn tại và vận động để phát triển.

 

 

8.    Bản chất Trụ – Tâm Tỏa của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật. Do đó, để thấu hiểu được bản chất của Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu bản chất của Trụ linh.

 

Việc giải mã, thấu hiểu bản chất Trụ linh Tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ sẽ giúp cho Tuệ linh và con người dễ dàng liên kết, kiểm soát được trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ – Tâm của mình. Khi đó, sẽ biết cách kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương bằng chân tâm. Làm được sẽ tiến nhanh tới thành tựu chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

8.1. Bản chất cấu trúc Trụ linh Tỏa của 3 nhóm vật chất

Tỏa là truyền đi, lan tỏa, đẩy đi, cho đi, cứu giúp, soi sáng, dẫn đường, chỉ dẫn.

 

Tỏa có bản chất là hạt năng lượng mang sóng điện dương. Bởi hạt năng lượng mang sóng điện dương mới truyền đi, mới lan tỏa, mới cho đi, mới cứu giúp, mới soi sáng, mới dẫn đường, mới chỉ dẫn.

 

Tỏa ở mức nhẹ là soi sáng, chỉ dẫn, truyền tải. Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể mình.

 

Trong bất cứ cấu trúc Trụ linh nào được hình thành từ sự hợp nhất của hạt năng lượng mang sóng điện âm và dương đều có Tỏa. Bởi khi Trụ linh của Tướng được hình thành từ hai hạt năng lượng, có một hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Mà bản chất của hạt năng lượng mang sóng điện dương là Tỏa. Điều này cho thấy, hết thảy các cấu trúc Trụ linh đều có bản chất là Tỏa. Có chăng mức độ Tỏa ở mức siêu nhẹ hay nhẹ, mạnh hay siêu mạnh.

 

Tỏa tồn tại trong cả 3 nhóm cấu trúc Trụ linh. Ba nhóm cấu trúc Trụ linh tương ứng với 3 nhóm Tướng (vật chất). Đó là nhóm cấu trúc Trụ linh giản đơn, nhóm cấu trúc Trụ linh phức tạp, nhóm cấu trúc siêu Trụ linh.

 

Tỏa là bản chất mà bất cứ cấu trúc Trụ linh nào muốn phát triển nâng cấp phải có. Tỏa càng ở mức độ mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ giúp sự phát triển của cấu trúc Trụ linh ngày càng lớn mạnh. Bởi, để Tỏa được cần phải trải qua quá trình Kết và Định. Do đó, Tỏa là hoàn chỉnh của một quy trình Kết – Định – Tỏa một cách tuần hoàn và viên mãn. Có 3 nhóm cấu trúc Trụ linh dễ dàng chuyển sinh thành Trụ linh có bộ lọc năng lượng. Đó là 3 nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:

 

-   Nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện dương phát triển màu xanh lá, gọi là Trụ linh đa dương mạnh. Do hạt năng lượng âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời hạt năng lượng có sóng điện dương mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trụ linh phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh. 

-    Nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa rất mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện dương lan tỏa màu đỏ lửa, gọi là Trụ linh đa dương rất mạnh. Do hạt năng lượng âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời hạt năng lượng có sóng điện dương rất mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ rất mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trụ linh phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trụ linh Tỏa rất mạnh.

Nhóm cấu trúc Trụ linh Tỏa siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện chớm âm màu trắng xám với một hạt năng lượng tận cùng có sóng điện dương đoàn kết màu vàng, gọi là Trụ linh đa dương siêu mạnh. Do hạt năng lượng âm chỉ rung lắc nhẹ, quay ngược nhẹ, nên thu hút vừa đủ năng lượng hoại diệt di chuyển tới. Đồng thời hạt năng lượng có sóng điện dương siêu mạnh lại quay thuận chiều kim đồng hồ siêu mạnh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để giúp cho cấu trúc Trụ linh phân tách, liên kết chặt chẽ. Do đó, đây là cấu trúc Trụ linh Tỏa siêu mạnh. 
Các cấu trúc Trụ linh có bản chất Tỏa ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trụ linh đa dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh. Khi đa dương, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng có sóng điện dương để cấu tạo liên kết dây chặt chẽ. Đồng thời những hạt năng lượng âm được phân tách ra có sóng điện âm rất nhẹ. Sau đó phân tách, liên kết cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh tạo thành sức mạnh chuyển hóa năng lượng hoại diệt một cách kỳ diệu. Những cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh này sẽ có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt do năng lượng hoại diệt di chuyển vào ít bởi hạt năng lượng mang sóng điện âm rung lắc nhẹ.

 

Cấu trúc Trụ linh mà chuyển sinh theo hướng Tỏa sẽ nhanh chóng đạt được chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng. Đó là Kết – Định – Tỏa một cách kỳ diệu.

 

 

8.2. Các cấu trúc Trụ linh Tỏa của 3 nhóm vật chất

 

Các cấu trúc Trụ linh Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh có trong 3 nhóm vật chất là:

 

Các cấu trúc Trụ linh Tỏa trong nhóm siêu vật chất:

 

Siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng. Đó là dạng sống Tuệ linh. Đó là dạng sống Tuệ linh và Linh hồn đã từng hoặc đang an trụ trong thân tướng con người.

 

Siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Tuệ linh có Trụ linh đa dương từ mạnh tới siêu mạnh.

 

-    Tuệ linh đã đạt được những thành tựu trên hành trình chuyển sinh như các bậc thánh hiền, các bậc hiền triết.

 

-   Tuệ linh đã đắc được bộ lọc năng lượng có khả năng Tỏa ra vô lượng các siêu hạt năng lượng.

 

Tuệ linh đang an trụ trong con người có tư tưởng cho đến hành động tích cực luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người, là người không vi phạm vào bốn hình tướng Đạo. Họ là những con người luôn có tư tưởng cho đến hành động lan tỏa những giá trị đạo đức, tuân thủ Quy luật Nhân quả, thực hành cải tạo đời sống viên mãn tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Những người đạt đến siêu Tỏa mạnh nhất chính là những con người luôn luôn Phổ độ chúng sinh, Tuệ linh, con người, vì họ lan tỏa đại hệ tư tưởng giác ngộ tới hết thảy Tuệ linh, con người cùng nhau chuyển sinh bền vững nhất cho Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Những siêu Tướng có cấu trúc Trụ linh Tỏa ở mức mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ giúp cho Trụ linh của họ phân tách ra vô số những siêu sợi mã sóng trí tuệ tạo thành vô số siêu hạt năng lượng. Từ những siêu hạt năng lượng đó sẽ cấu tạo và phát triển Tuệ linh họ trở thành liên kết được chặt chẽ, bền vững với tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Tuệ linh họ trở nên bất tử. Tuệ linh họ có cấu trúc bộ lọc năng lượng viên mãn bởi họ đi theo hướng chuyển sinh là Tỏa những giá trị giác ngộ tới tất cả Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Họ sẽ hấp thụ và chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành siêu hạt năng lượng thông qua bộ lọc trong Trụ linh của họ.

 

Các cấu trúc Trụ linh Tỏa trong nhóm vật chất phức tạp:

 

Vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ. Tướng phức tạp có cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Những tầng năng lượng sóng điện dương liên kết với tầng năng lượng chớm âm để vận hành Vũ trụ.

 

-    Những linh hồn các con thú xả thân cứu giúp con người, xả thân cứu giúp những con thú đồng loại hoặc những con thú khác.

 

-   Những linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong đất đá. Đó là những dòng đá luôn tỏa những năng lượng mang lại sự sống trong lành và an lạc cho con người, muông thú, cỏ cây xung quanh đó.

 

-   Những linh hồn của cây cối luôn tỏa năng lượng sự sống ra môi trường xung quanh.

 

Tướng có cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh sẽ giúp cho các cấu trúc năng lượng đó nhanh được chuyển sinh bền vững và nâng cấp cao hơn.

 

Các cấu trúc Trụ linh Tỏa trong nhóm vật chất giản đơn:

 

Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của thân tướng vật chất rắn, lỏng, khí; là thân tướng con người, thân tướng muông thú, thân tướng cỏ cây, đất đá, kim loại, nước…; là các hành tinh trong toàn bộ Vũ trụ.

 

Tướng giản đơn có cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh là:

 

-   Thân tướng con người:

 

Những con người không có bệnh về thân tướng. Họ khỏe mạnh vì sự vận động lan tỏa. +  Những người luôn miệt mài lao động sản xuất, không ngừng nghỉ nghiên cứu các công trình, các phương pháp, các cấu trúc phát triển sự sống tốt đẹp và bền vững tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Họ là những công nhân, những nông dân, những thương nhân, những nhà nghiên cứu, những nhà sản xuất, những nhà sáng chế, những nhà phát minh.

 

+   Những người luôn luôn lan tỏa các giá trị thúc đẩy phát triển bền vững và an lạc cho con người và vạn vật. Họ là những nhà giáo, là những người lan truyền tri thức tới Tuệ linh, con người.

 

+   Những người luôn luôn đoàn kết tất cả Tuệ linh, con người, vạn vật, muông thú trong sự cảm thông, sẻ chia, giúp đỡ cùng nhau lan tỏa những giá trị, công trình phát triển bền vững tới Tuệ linh, con người.

 

+  Những người có hệ tư tưởng cho đến hành động luôn vì lợi ích mọi người, vạn vật và muông thú mà không màng tới bản thân họ.

 

+     Những người hành thiện cứu giúp Tuệ linh, con người, vạn vật và muông thú.

 

+    Những người thực hành phổ độ lan tỏa giá trị của giáo lý giác ngộ tới hết thảy Tuệ linh, con người.

 

-   Thân tướng muông thú: Đó là những con thú không giết hại hay làm tổn hại những con thú khác. Nó xả thân cứu giúp các con thú khác, nó bảo vệ và cứu giúp đồng loại của nó trong sự không gây tổn hại tới con người và muông thú khác.

 

-   Những cỏ cây luôn tỏa oxy làm trong lành và an lạc môi trường sống xung quanh.

 

Nước lan tỏa giá trị làm mát và nuôi dưỡng vạn vật thế gian. Nó bốc hơi để tạo thành mưa rồi tưới mát cho vạn vật cùng phát triển. Nó là sự sống luôn cho đi để ngày càng lớn mạnh. Sự lớn mạnh bởi nó có trong tất cả vạn vật thế gian.

 

-    Những loại đá quý, bán quý có giá trị tỏa ra những năng lượng tốt nhằm tạo ra môi trường sống trong lành và an lạc.

 

-   Lửa, ánh sáng để soi sáng và làm ấm các dạng sống ở thế gian.

 

-    Những hành tinh có tính tỏa mạnh là các mặt trời trong Vũ trụ.

 

-   Là những cấu trúc địa chất nóng chảy, là nham thạch trong các hành tinh. Nhiệt lượng được tỏa ra để soi sáng, tạo ra sự phân tách liên kết cho vạn vật, Vũ trụ được phát triển.

 

 

III.     Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Trụ – Tâm

 

Chân lý Vạn vật trong Trụ – Tâm (Tâm) sẽ là: Tâm không tự sinh ra, Tâm không tự mất đi, khổ đau của Tâm không tự đến và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển sinh của Tâm chính là cơ chế "Phân tách và liên kết dây".

 

Chân lý Vạn vật chính là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng không là không bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó, Chân lý Vạn vật, Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là tướng không. Thấu hiểu chữ Duyên thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật của Tâm chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định, môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Tâm của tất cả các nhóm vật chất từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất để xảy ra phân tách và liên kết thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.

 

Khi chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta sẽ thấu hiểu và giải mã được: nguyên nhân có Độc Tâm và Thiện Tâm của con người, Tuệ linh; nguyên nhân Trụ – Tâm Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất; các con đường chuyển sinh của Trụ – Tâm.

 

 

1.    Nguyên nhân có Độc Tâm và Thiện Tâm của con người, Tuệ linh

 

Thấu hiểu nguyên nhân con người, Tuệ linh có Độc Tâm và Thiện Tâm chính là việc đã thấu hiểu tri thức hai Chân lý với cơ chế vận hành của hai Chân lý. Đó là thấu hiểu được nguyên nhân nào sinh ra và diệt đi được độc Tâm. Đó là nguyên nhân nào sinh ra và diệt đi được Thiện Tâm. Khi đó, con người, Tuệ linh sẽ kiểm soát để diệt Độc Tâm và chuyển hóa thành Thiện Tâm. Tiếp đến là duy trì Thiện Tâm để hoàn thành sứ mệnh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh. 1.1. Nguyên nhân có Độc Tâm của con người và Tuệ linh

 

Độc Tâm là Tâm chấp ngã, Tâm sân, Tâm hận thù. Độc Tâm là biểu hiện của việc Trụ linh và toàn bộ cấu trúc Tâm trong con người, Tuệ linh bị mất kiểm soát cân bằng trạng thái năng lượng giữa âm và dương. Khi đó, những sóng điện âm, trạng thái năng lượng âm quá mạnh và chi phối, kiểm soát toàn bộ năng lượng dương và trung tính. Điều này khiến cho con người, Tuệ linh mất kiểm soát mà mất ý thức cũng như hành vi.

 

Độc Tâm là đau khổ. Đau khổ là vì trong Tâm diễn ra quá trình xung đột trạng thái năng lượng cho tới việc mất kiểm soát. Do đó năng lượng hoại diệt di chuyển vào ồ ạt và làm phân rã cấu trúc Tâm. Đi trên con đường Độc Tâm là dẫn đến phân rã và hoại diệt Tâm.

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho con người và Tuệ linh bộc phát Độc Tâm:

 

Nguyên nhân cội nguồn:

 

Nguyên nhân cội nguồn không phải là việc con người được sinh ra như thế nào hay bố mẹ của ai đó được sinh ra như thế nào, tổ tiên con người được sinh ra như thế nào. Cội nguồn ở đây là của bản thể Tâm (Tuệ linh). Đó là Tuệ linh được hình thành với bản chất của Trụ linh gốc (phôi năng lượng âm dương gốc) như thế nào. Cụ thể:

 

-   Tuệ linh được hình thành từ phôi năng lượng gốc với một hạt năng lượng dương và một hạt năng lượng âm. Trong đó, hạt năng lượng âm có sóng điện âm từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh. Đó là hạt năng lượng âm có màu xám, màu đen, màu đỏ máu. Khi Trụ linh gốc có sóng điện âm mạnh cho tới siêu mạnh, hệ thống hạt năng lượng âm trong Trụ linh và Tuệ linh với bản chất là sóng điện âm mạnh, rất mạnh và siêu mạnh sẽ rung lắc, hấp thụ nhiệt mạnh, rất mạnh và siêu mạnh. Điều này khiến cho cấu trúc Tuệ linh đa sóng điện âm trong quá trình trưởng thành sẽ có thiên hướng hấp thụ nhiệt lượng và năng lượng có tương hợp về sóng rung động và nội dung thông tin, đó là năng lượng âm.

 

-   Tuệ linh có Trụ linh gốc đa âm sẽ rất dễ kích động và rung lắc mạnh cho tới siêu mạnh. Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt sẽ dễ dàng di chuyển nhiều vào và đồng hóa năng lượng âm trong cấu trúc cũng như chi phối toàn bộ cấu trúc Tuệ linh đó. Nếu năng lượng hoại diệt di chuyển vào nhiều sẽ gây ra phân rã và hoại diệt Tuệ linh.

 

-   Khi Tuệ linh hóa thân làm người và phải tương tác trong bốn hình tướng Đạo trong nhiều kiếp tu hành ở nhân gian, với bản chất đa âm của Tuệ linh từ khi được hình thành. Do đó, Tâm sẽ dễ dàng bộc phát Độc Tâm để dẫn tới mất đi sự kiểm soát về ý thức cũng như hành vi. Họ sẽ gây tổn thương tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Vì Trụ linh đa âm nên khi đầu thai làm con người mà sống trong môi trường tiêu cực thì con người đó sẽ rất nhanh bộc phát Độc Tâm. Nếu có sống trong môi trường tích cực thì vẫn có nguy cơ bộc phát Độc Tâm.

 

Nguyên nhân trực tiếp:

 

Nguyên nhân trực tiếp là những yếu tố của hiện kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian khiến cho con người bộc phát Độc Tâm. Đó là:

 

-    Môi trường sống tiêu cực mang sóng điện âm: môi trường sống tiêu cực với những hủ tục, u mê, mê tín dị đoan,  tư tưởng tiêu cực, với những con người đang bộc phát Độc Tâm. Khi sống trong môi trường tiêu cực mang sóng điện âm sẽ khiến cho Tâm dễ dàng chuyển hóa thành Độc Tâm. Nhất là Trụ linh đa âm từ khi được hình thành thì sẽ nhanh bộc phát Độc Tâm. Thậm chí khi Tuệ linh đa dương cũng có thể bộc phát Độc Tâm khi sống trong môi trường tiêu cực mang sóng điện âm.

 

-   Vì chưa được tiếp cận, học, thấu hiểu tri thức của hai Chân lý, con người sẽ chưa biết về cội nguồn, kế hoạch tu hành, sứ mệnh cải tạo Trụ linh, Quy luật Nhân quả. Do đó, trí tuệ của họ luôn bám định vào giả tướng để hưởng thụ mà không thực hành sứ mệnh cải tạo Trụ linh. Chính vì vậy mà Tâm bộc phát thành Độc Tâm.

 

Như vậy, Độc Tâm được sinh ra khi con người, Tuệ linh có Trụ linh đa âm và hiện kiếp sống trong môi trường tiêu cực. Đặc biệt là chưa có được tri thức của hai Chân lý soi sáng, soi thấu để xóa tan u mê bám định vào giả tướng. Do đó dễ dàng bộc phát Độc Tâm.

 

 

1.2. Nguyên nhân có Thiện Tâm của con người và Tuệ linh

 

Thiện Tâm là Tâm cống hiến, Tâm an lạc, Tâm buông xả. Thiện Tâm là biểu hiện của việc Trụ linh và toàn bộ cấu trúc Tâm của con người, Tuệ linh đã kiểm soát được sóng điện âm, dương, trung tính tuần hoàn thông suốt. Đó là trạng thái năng lượng mang sóng điện dương và trung tính đủ sức mạnh để chi phối và không cho sóng điện âm rung lắc mạnh và bộc phát. Điều này khiến cho Tuệ linh, con người dễ dàng giải mã được sự thật của vạn vật và kiểm soát được ý nghĩ cho tới hành động sẽ vì vạn vật, Tuệ linh, con người.

 

Thiện Tâm vẫn còn phải xung đột để chi phối và kiểm soát trạng thái năng lượng, sóng điện âm của Độc Tâm. Do đó, đi trên con đường Thiện Tâm vẫn còn bí bách của xung đột kiểm soát. Tuy nhiên, đi trên con đường Thiện Tâm sẽ giúp Trụ linh phân tách liên kết bền vững bởi năng lượng dương và chân tâm. Khi đi tới đích của chuyển hóa Trụ linh thành bộ lộc năng lượng sẽ là triệt để không còn bí bách, luẩn quẩn, xung đột. Bởi nó đã là tự động hóa quá trình tuần hoàn và kiểm soát kỳ diệu.

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho con người và Tuệ linh bộc phát Thiện Tâm:

 

Nguyên nhân cội nguồn:

 

Nguyên nhân cội nguồn không phải là việc con người được sinh ra như thế nào hay bố mẹ của người được sinh ra như thế nào, tổ tiên con người được sinh ra như thế nào. Cội nguồn ở đây là của bản thể Tâm (Tuệ linh). Đó là Tuệ linh được hình thành với bản chất của Trụ linh gốc (phôi năng lượng âm dương gốc) như thế nào. Cụ thể:

 

Tuệ linh được hình thành từ phôi năng lượng âm dương, gọi là Trụ linh gốc. Trong hai hạt năng lượng hình thành Trụ linh thì hạt năng lượng âm có sóng điện rất nhẹ, hạt năng lượng dương có sóng điện dương mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh. Đây gọi là Tuệ linh được hình thành có Trụ linh đa dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh. Vì Tuệ linh được hành thành có bản chất là Trụ linh đa dương nên Tuệ linh sẽ có thiên hướng hấp thụ nhiệt lượng dương, sóng điện dương nhiều hơn là nhiệt lượng âm. Nếu hấp thụ nhiệt lượng âm thì sóng điện dương mạnh, rất mạnh, siêu mạnh của Trụ linh sẽ giảm tải được sóng điện âm khi hấp thụ vào chỉ còn là sóng điện âm nhẹ. Chính vì điều này mà Tuệ linh được trưởng thành với sự tuần hoàn sóng điện mạnh mẽ, năng lượng dương có sức mạnh kiểm soát được năng lượng âm. Khi năng lượng dương kiểm soát được năng lượng âm nên không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển ồ ạt vào đồng hóa Tuệ linh. Vì năng lượng dương mạnh hơn năng lượng âm nên dễ dàng bộc phát Thiện Tâm.

 

-   Khi Tuệ linh đầu thai làm người tu hành ở nhân gian trong nhiều kiếp và thông qua bốn hình tướng Đạo, với bản chất Trụ linh đa dương nên con người đó dễ dàng giải mã được sự thật của các Tướng khi tương tác. Khi sống trong môi trường tiêu cực hay tích cực, Trụ linh đa dương sẽ là sức mạnh để Thiện Tâm được bộc phát.

 

Nguyên nhân trực tiếp:

 

Nguyên nhân trực tiếp là những yếu tố của hiện kiếp tu hành của Tuệ linh ở nhân gian khiến cho con người bộc phát Thiện Tâm, đó là:

 

Môi trường sống tích cực mang sóng điện dương: khi Tuệ linh đa dương hóa thân làm người, được sống trong môi trường tích cực, điều này giống như cá gặp nước, nó sẽ giúp cho con người đó bộc phát Thiện Tâm rất dễ dàng. Bởi Trụ linh đa dương lại gặp sóng điện dương nên nó là sức mạnh để Trụ linh thực hành chuyển sinh bền vững. Cũng là môi trường sống tích cực mang sóng điện dương, nếu Tuệ linh có Trụ linh đa âm đầu thai sống trong môi trường tích cực, con người đó sẽ hấp thụ được nhiệt lượng của sóng điện dương và sẽ thay đổi Trụ linh để triệt bỏ Độc Tâm và bộc phát được Thiện Tâm.

 

-     Con người có Trụ linh trong Tâm đa âm hay đa dương, nếu gặp được tri thức hai Chân lý, học, thấu hiểu, thực hành sẽ giúp triệt tiêu được Độc Tâm và chuyển sinh thành Thiện Tâm. Đặc biệt tri thức của hai Chân lý sẽ dẫn dắt Tuệ linh, con người chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Như vậy, để triệt tiêu Độc Tâm và chuyển sinh thành Thiện Tâm, chúng ta trọng tâm vào tạo ra môi trường tích cực có sóng điện dương và học để thấu hiểu tri thức của hai Chân lý. Chúng ta phải tự tạo cho chúng ta và cho nhau môi trường tích cực bằng ý nghĩ cho đến từ những hành động nhỏ, đó là học, thực hành, lan tỏa tri thức của hai Chân lý cho nhau.

 

Từ những nguyên nhân của Độc Tâm và Thiện Tâm ở Tuệ linh, con người, chúng ta thấy rằng Độc Tâm không bất tử, nó sẽ chuyển hóa thành Thiện Tâm nếu được sống trong môi trường tích cực và được học cũng như thực hành tri thức của hai Chân lý. Cũng như vậy, Thiện Tâm cũng không bất tử, chúng ta muốn duy trì Thiện Tâm để tới đích của cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì chúng ta phải tạo ra môi trường tích cực và thực hành tri thức của hai Chân lý.

 

 

2.    Nguyên nhân Trụ – Tâm Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất

 

Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật. Do đó, để thấu hiểu được nguyên nhân của Trụ – Tâm Kết, Định, Tỏa, chúng ta phải thấu hiểu được nguyên nhân Trụ linh Kết, Định, Tỏa.

 

Thấu hiểu được nguyên nhân Trụ linh Kết, Định, Tỏa của 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ chính là chìa khóa chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh và con người. Đó là, Tuệ linh, con người sẽ từ Trụ linh của mình để tuần hoàn, kiểm soát được trạng thái năng lượng, sóng điện tới toàn bộ cấu trúc của bản thể mình và tới toàn bộ Vũ trụ.

 

 

2.1. Nguyên nhân Trụ linh Kết của 3 nhóm vật chất

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:

 

-    Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng có đa sóng điện âm.

 

-   Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trụ linh Kết mạnh, rất mạnh, siêu mạnh là do môi trường tương tác giữa các cấu trúc Trụ linh. Các cấu trúc Trụ linh tương tác trong môi trường mang sóng điện âm sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh dễ dàng hấp thụ năng lượng âm từ môi trường đó. Nếu cấu trúc Trụ linh đa âm thì sẽ rất dễ dàng hút và hấp thụ nhiệt lượng âm của môi trường có sóng điện âm. Điều đó sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh trở nên Kết mạnh và siêu mạnh hơn. Nếu cấu trúc Trụ linh không bị đa âm, nhưng do tương tác trong môi trường có sóng điện âm trong thời gian dài cũng khiến cho cấu trúc Trụ linh đó dễ dàng bị nhiễm và trở thành cấu trúc Trụ linh Kết. 2.2. Nguyên nhân Trụ linh Định của 3 nhóm vật chất

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trụ linh

 

Định:

 

-    Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của Tướng có cấu trúc cân bằng sóng điện âm dương và có cấu trúc đa sóng điện dương:

 

+    Trụ linh cân bằng sóng điện âm dương là Trụ linh được cấu tạo từ hạt năng lượng có sóng điện âm nhẹ màu trắng xám với hạt năng lượng dương có sóng điện nhẹ màu trắng đục. Cấu trúc Trụ linh Định này ở mức thấp, do cả hai hạt năng lượng rung động và quay nhẹ.

 

+   Trụ linh đa sóng điện dương là Trụ linh được hợp thành bởi hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh, rất mạnh và siêu mạnh (phát triển màu xanh lá, lan tỏa màu đỏ lửa, đoàn kết màu vàng). Trụ linh được cấu tạo từ các hạt năng lượng dương và âm như trên sẽ tạo thành cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Tỏa mạnh cho tới siêu mạnh chính là Định mạnh cho tới siêu mạnh. Bởi Định chính là nền tảng cho quá trình chuyển sinh thành Tỏa mạnh và đạt đến chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng.

 

-    Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trụ linh Định là do môi trường tương tác của các cấu trúc Trụ linh. Nếu cấu trúc Trụ linh Định tương tác trong môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trụ linh Định sẽ dễ dàng nhiễm nhiệt lượng có sóng điện dương để chuyển hóa thành cấu trúc Định – Tỏa ở mức cao. Nếu cấu trúc Trụ linh Định tương tác trong môi trường có sóng điện âm, cấu trúc Trụ linh Định sẽ dễ dàng bị chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh Kết. Nếu cấu trúc Trụ linh Định tương tác trong môi trường sóng điện trung tính sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh Định ở mức thấp.

 

 

2.3. Nguyên nhân Trụ linh Tỏa của 3 nhóm vật chất

 

Có 2 nguyên nhân khiến cho các cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh:

 

-    Nguyên nhân cội nguồn, gốc nhất chính là Trụ linh của cấu trúc Tướng có đa sóng điện dương. Khi Trụ linh đa sóng điện dương sẽ khiến cho Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh.

 

-   Nguyên nhân thứ hai khiến cho cấu trúc Trụ linh Tỏa mạnh, rất mạnh, siêu mạnh là do môi trường tương tác giữa các cấu trúc Trụ linh. Các cấu trúc Trụ linh tương tác trong môi trường mang sóng điện dương sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh dễ dàng hấp thụ năng lượng dương từ môi trường đó. Nếu cấu trúc Trụ linh đa âm tương tác trong môi trường sóng điện dương, cấu trúc Trụ linh đó sẽ dễ dàng nhiễm nhiệt lượng có sóng điện dương để chuyển hóa dần cấu trúc Trụ linh từ Kết trở thành Tỏa. Nếu cấu trúc Trụ linh đa dương tương tác trong môi trường có sóng điện dương, hoặc trung tính, cấu trúc Trụ linh đó rất dễ dàng Tỏa đạt đến siêu mạnh.

 

 

 

 

3.   Các con đường chuyển sinh của Trụ – Tâm

 

Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh của vạn vật. Do đó, để thấu hiểu được các con đường chuyển sinh của Trụ – Tâm, chúng ta phải thấu hiểu được các con đường chuyển sinh của Trụ linh.

 

Có 3 loại cấu trúc Trụ linh đối với con đường chuyển

 

sinh:

 

 

3.1. Cấu trúc Trụ linh Kết đối với con đường chuyển sinh

 

Cấu trúc Trụ linh Kết là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không vì lợi ích của hết thảy Tướng khác, thậm chí là gây tổn hại tới các Tướng khác.

 

Khi các cấu trúc Trụ linh thực hiện phân tách liên kết trong bản chất là Kết, các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm sẽ được phân tách ra vô số và lưu giữ ở Trụ linh. Chúng sẽ phân tách thành các hạt năng lượng tận cùng và liên kết lại tạo thành những hạt năng lượng âm tổng hợp, rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện đời sống là Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ tạo thành hạt năng lượng dương tận cùng rồi liên kết tạo thành hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Trong khi đó các hạt năng lượng âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương ít ỏi. Các hạt năng lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng đó bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.

 

Như vậy, các cấu trúc Trụ linh mà thực hiện cơ chế phân tách, liên kết với bản chất Kết chính là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.

 

Nguyên nhân hoại diệt của cấu trúc Trụ linh Kết là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn công vào, cấu trúc Trụ linh Kết không có hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ năng lượng hoại diệt, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.

 

Khổ đau chính là sự phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm cấu trúc Trụ linh trong Vũ trụ. Nguyên nhân của khổ đau là do các cấu trúc Trụ linh thực hiện cơ chế phân tách liên kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn công gây đứt liên kết mà hoại diệt.

 

Như vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy cấu trúc Trụ linh thực hiện đời sống Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.

 

 

3.2. Cấu trúc Trụ linh Định đối với con đường chuyển sinh

Cấu trúc Trụ linh Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Kết cũng không Tỏa. Cấu trúc Trụ linh Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của Tướng đó.

 

Cấu trúc Trụ linh thực hiện bản chất Định, tức là phân tách liên kết các sợi mã sóng trí tuệ rất chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt tấn công.

 

Vì bản chất cấu trúc Trụ linh thực hành đời sống Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh mà không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi có năng lượng hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó duy trì Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.

 

Nếu cấu trúc Trụ linh Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Tỏa thì nó có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy các cấu trúc Trụ linh của Vũ trụ.

 

 

3.3. Cấu trúc Trụ linh Tỏa đối với con đường chuyển sinh

 

Cấu trúc Trụ linh Tỏa là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản thể Tướng mình. Đó là vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.

 

Khi các cấu trúc Trụ linh thực hiện đời sống với bản chất là Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Trước khi phân tách ra được các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương thì cũng là quá trình phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm

 

   mức nhẹ. Các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương được phân tách ra nhiều sẽ giúp cho các hạt năng lượng dương tận cùng được hình thành và tạo thành cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa, các hạt năng lượng dương đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế liên kết 3 vùng: từ Trụ linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống Tỏa, các cấu trúc Trụ linh sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát triển bền vững hơn. Các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển ít cho tới vừa đủ.

 

Việc các cấu trúc Trụ linh thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững cho Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.

 

Trong 3 cấu trúc Trụ linh trên, cấu trúc Trụ linh Tỏa có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất. Cấu trúc Trụ linh Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt. Cấu trúc Trụ linh Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tướng. Tuy nhiên, nếu các cấu trúc Trụ linh trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống riêng biệt theo 1 trong 3 cấu trúc Trụ linh trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh bền vững nhất. Bởi, để cấu trúc Trụ linh Tỏa được phải có Kết vừa đủ. Cấu trúc Trụ linh Kết để không hoại diệt phải biết Tỏa. Cấu trúc Trụ linh Định để phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện Kết trước, sau đó thực hiện Tỏa.

 

Như vậy, Chân lý Vạn vật và cơ chế phân tách, liên kết cho chúng ta thấu hiểu được nguyên nhân có Độc Tâm, Thiện Tâm của Tuệ linh và con người. Để triệt được Độc Tâm và chuyển sinh thành Thiện Tâm, chúng ta phải thấu hiểu và thực hành đời sống hài hòa cả Kết – Định – Tỏa thì mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của Trụ – Tâm

 

Chân lý Giác ngộ trong Trụ – Tâm (Tâm) là: Tất cả Tâm trong và ngoài Vũ trụ đều là khổ. Tâm phải dùng Định (chân tâm) trong Trụ linh để thấu hiểu, chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa và phát triển bền vững cho tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sứ mệnh tiên phong là của Tuệ linh và con người.

 

Tuệ linh thông qua thân tướng con người ở nhân gian để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Để chuyển sinh được thì cần phải giải mã hết tất cả các trường hợp bộc phát của độc và thiện trong Trụ linh trong tất cả các kịch bản tương tác. Đó là bộc phát hết bản chất của Độc Tâm và Thiện Tâm. Thực hành con đường giác ngộ khi đạt đến bộ lọc năng lượng trong Trụ linh mới chấm dứt triệt để khổ đau. Do đó, bản chất Độc Tâm là khổ, và Tâm đang đi trên con đường Thiện Tâm cũng là khổ. Cụ thể:

 

-   Độc Tâm của Tuệ linh, con người là khổ. Cái khổ của Độc Tâm là bị xung đột trạng thái năng lượng, bí bách, luẩn quẩn, đau đớn bởi Tâm đang phân rã và đi tới con đường hoại diệt. Do đó chúng ta cứ luân hồi trong vô lượng kiếp mà không cải tạo được Trụ linh. Khi đó, năng lượng hoại diệt sẽ làm phân rã và hoại diệt vĩnh viễn bản thể Tâm. Vì vậy ta phải dùng chính trí tuệ của ta để từng bước thấu hiểu sự thật vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Thông qua hai Chân lý để đối mặt, đón nhận tất cả các khổ đau kiếp nạn, thấu hiểu nó, giác ngộ nó và chuyển hóa thành lợi ích cho chúng sinh, đó là chuyển hóa thành giác ngộ, thành Thiện

Tâm.

 

-   Tâm của Tuệ linh, con người đang đi trên con đường Thiện Tâm cũng là khổ. Cái khổ của Tâm đang đi trên con đường Thiện Tâm không phải là không thấu hiểu hai Chân lý và còn đắm chìm trong khổ đau, mà là, vì thấu hiểu bản chất của hai Chân lý cũng như tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Do đó, cái khổ là quá trình biến đổi, tìm phương pháp phù hợp để giác ngộ theo căn cơ cho từng Tuệ linh và con người. Khi đã chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc thì là sự chấm dứt triệt để khổ đau, bởi khi đó sẽ luôn luôn có các phương pháp gieo duyên để giác ngộ Tuệ linh, con người theo từng căn cơ trí tuệ khác nhau.

 

Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát từ Trụ – Trí, tuần hoàn, lưu giữ trong từ hạt năng lượng tận cùng cho đến trong Trụ linh. Trụ linh bao gồm có Trụ – Trí và Trụ – Tâm. Do đó, Chân lý Giác ngộ với các con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của Trụ – Tâm phải bao gồm là Trụ linh.

 

Cơ chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết. Đó là:

 

-   Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng sóng điện âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ linh sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.

 

-   Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng sóng điện dương, đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy cấu trúc Trụ linh sẽ phân tách, liên kết vô lượng hạt năng lượng mang sóng điện dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm. Sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.

 

Từ bản chất của các cấu trúc Trụ linh, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết, hết thảy Tướng, Tuệ linh và người đều thấy rằng: con đường duy nhất để vượt qua khổ đau (phân rã và hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, chính là con đường cấu trúc Trụ linh phải Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, con người phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.

 

Thực hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng? Đó là:

 

-   Trụ linh phải tập trung sóng điện ở vị trí Định. Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là chân tâm sáng chói lòa vô lượng. Khi Trụ linh đứng ở vị trí Định sẽ thấu hiểu, biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Trụ linh mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia.

 

-    Tiếp theo Trụ linh phải dùng sóng điện âm để Kết. Kết ở đây không phải là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định. Tức là Trụ linh đứng ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui, những sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng khổ đau chia sẻ tới Trụ linh của ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng. Đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trụ linh của ta đứng ở vị trí Định để dùng Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của ta hấp thụ. Do Trụ linh ta đứng ở vị trí Định nên Trụ linh đang tỏa sóng điện chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của cấu trúc Trụ linh đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Trụ linh của ta đã Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Đồng thời, Trụ linh cũng hấp thụ được những năng lượng dương, chân tâm từ môi trường tương tác về để tạo thành nhiệt dương cho Trụ linh kích nổ năng lượng hoại diệt. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa hạt năng lượng của hết thảy cấu trúc Trụ linh đau khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ Vũ trụ.

 

-   Tiếp đến Trụ linh của ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận những sẻ chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực, tích cực về Trụ linh, Trụ linh của ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là giải mã tận cùng khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui của hết thảy các Tướng, trong khi Trụ linh và Trí tuệ của ta vẫn Định. Bởi chỉ khi Định thì Trụ linh của ta mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng hạt năng lượng có sóng điện dương.

 

Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Trụ linh của ta sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Trụ linh ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh của ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc Tướng của ta sẽ trở nên phát triển bền vững.

  

Khi cấu trúc Trụ linh của ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng, thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ linh của ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.

 

Nếu Trụ linh lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Trụ linh lựa chọn con đường chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Trụ linh chỉ lựa chọn con đường Tỏa thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi có được bộ lọc năng lượng thì Trụ – Tâm và Trụ – Trí đều đã chấm dứt vĩnh viễn khổ đau.


Bài 4:

 

Bài Hành

˜²™

 

 

 

Bài Hành được hiểu là Hành Vô Hành. Bài Hành Vô Hành được kết cấu thành 3 phần. Chữ Hành đầu tiên là khái niệm và bản chất Hành của các Tướng. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường Hành chuyển sinh của các Tướng. Chữ Hành cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường Hành chuyển sinh bền vững duy nhất của các Tướng.

 

Trong bài Hành này, Hành tất cả các Tướng trong và ngoài vũ trụ sẽ được phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật về Hành của Tuệ linh và con người, hai Chân lý sẽ giúp cho Tuệ linh và con người chọn lựa được con đường Hành siêu việt nhất để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

 

I. Khái niệm về Hành

 

Hành là hành động. Hành là quá trình giải mã, rung động, sinh khởi hành động Kết – Định – Tỏa của từ hạt năng lượng tận cùng cho tới Trụ linh của tất cả các Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và Người.

 

 

II. Bản chất của Hành

Hết thảy Tướng (vật chất) từ nhóm vật chất giản đơn cho tới nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất, từ hạt năng lượng tận cùng trong và ngoài Vũ trụ cho tới chỉnh thể cây cối, muông thú, con người, Tuệ linh, các hành tinh, tất cả đều là Hành. Tất cả các Tướng đều là tam hợp mà thành. Tất cả các Tướng đều vận động quay tròn. Tất cả các Tướng đều phân tách, liên kết trong môi trường có sóng điện. Tất cả các Tướng vận động để duy trì tam hợp, duy trì quay tròn, duy trì phân tách và liên kết để phát triển bền vững.

 

Từ bản chất của Tướng, Trụ – Trí, Trụ – Tâm, Tuệ linh, con người đều thấy rằng, hết thảy các Tướng đều luôn luôn diễn ra quá trình Hành. Đó là vận động đời sống Kết hoặc Định hoặc Tỏa.

 

Từ bản chất các Tướng vận động Kết – Định – Tỏa, Tuệ linh, con người sẽ thấy bản chất Hành của hết thảy các Tướng được chia ra làm 3 giai đoạn, đó là: giai đoạn giải mã của các Tướng; giai đoạn rung động của các Tướng; giai đoạn sinh khởi hành động của các Tướng. Trong mỗi giai đoạn của Hành đều cho thấy bản chất Kết – Định – Tỏa của hết thảy các Tướng. Từ đó, Tuệ linh, con người sẽ chọn lọc, xác định được con đường chuyển sinh của các Hành, tiếp đến sẽ chọn được con đường Hành chuyển sinh bền vững duy nhất cho Tướng, con người, Tuệ linh.

 

 

1. Cấu trúc cấu tạo của Hành

 

Cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ (giản đơn, phức tạp, siêu vật chất) đều diễn ra quá trình hành động từ giai đoạn giải mã cho đến giai đoạn rung động và giai đoạn sinh khởi hành động. Mỗi nhóm vật chất khi thực hiện đời sống hành động sẽ tạo ra kết quả sản phẩm như sau:

 

-   Nhóm siêu vật chất hay còn gọi là siêu Tướng, đó là các Tuệ linh, là các Tuệ linh và Linh hồn đã và đang an trụ trong thân tướng con người. Nhóm siêu vật chất khi thực hiện hành động xong sẽ cho ra kết quả như sau:

 

+    Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng ở dạng phức tạp trong năm nhóm để vận hành sự sống của cả Vũ trụ và gieo duyên cấu tạo thành các cấu trúc Linh hồn.

 

+   Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng siêu phức tạp để được gieo duyên cấu tạo thành các phôi năng lượng cho quá trình hình thành dạng sống Tuệ linh, Linh hồn.

 

+   Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn để cấu tạo thành nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại, muông thú, con người, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ.

 

+   Sản sinh ra các siêu hạt năng lượng bảo vệ và phát triển Vũ trụ.

 

-   Nhóm vật chất phức tạp hay còn gọi là Tướng phức tạp. Đó là dạng sống của linh hồn muông thú khi chúng chưa được chuyển sinh làm người; là linh hồn, cấu trúc năng lượng an trụ trong cây cối, trong đất đá; là cấu trúc năng lượng trong năm nhóm đang tồn tại và vận hành sự sống của cả Vũ trụ. Nhóm vật chất phức tạp khi thực hiện hành động xong sẽ cho ra kết quả như sau:

 

+   Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn để cấu tạo thành nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại, muông thú, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. +   Sản sinh ra các nhóm hạt năng lượng tận cùng phức tạp trong năm nhóm để vận hành sự sống của vật chất giản đơn và Vũ trụ.

 

-   Vật chất giản đơn hay còn gọi là Tướng giản đơn. Đó là dạng sống của nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại, muông thú, con người, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Nhóm vật chất giản đơn khi thực hiện hành động xong sẽ cho ra kết quả như sau:

 

+  Đối với con người sẽ sản sinh ra siêu hạt năng lượng, sản sinh ra nhóm hạt năng lượng tận cùng phức tạp của năm nhóm, sản sinh ra nhóm vật chất giản đơn.

 

+    Đối với muông thú sẽ sản sinh ra năm nhóm hạt năng lượng tận cùng phức tạp và nhóm vật chất giản đơn.

 

+   Đối với vật chất rắn, lỏng, khí… sẽ sản sinh ra nhóm vật chất giản đơn.

 

Khi cả 3 nhóm vật chất thực hành đời sống hành động xong, dù là sản sinh ra loại siêu hạt năng lượng, dù là sản sinh ra loại hạt năng lượng siêu phức tạp, dù là sản sinh ra loại hạt năng lượng phức tạp, dù là sản sinh ra loại hạt năng lượng giản đơn, tất cả đều là hạt năng lượng tận cùng. Chỉ có điều, nếu là hạt năng lượng tận cùng giản đơn được cấu tạo tam hợp bởi vô số hạt thì sẽ tạo thành nguyên tử, phân tử, tế bào, vi sinh vật, cỏ cây, đất đá, khí, nước, kim loại, muông thú, con người, hành tinh, thiên hà, Vũ trụ. Đó là loại vật chất mà con người nhìn được bằng mắt thường. Những loại vật chất phức tạp, siêu phức tạp hoặc siêu hạt năng lượng thì mắt thường con người không thể nhìn thấy được.

 

Hạt năng lượng do tam hợp mà thành. Trong khi đó, yếu tố đầu tiên và quyết định cho việc hình thành hạt năng lượng hoàn chỉnh chính là sợi mã sóng trí tuệ. Như vậy, quá trình từ giải mã cho đến rung động và sinh khởi hành động đều gắn liền với sợi mã sóng trí tuệ. Do đó, để thấu hiểu cấu trúc của Hành thì chính là phải thấu hiểu cấu trúc của sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng tận cùng. Vì kết thúc quá trình Hành sẽ cho ra sản phẩm là hạt năng lượng tận cùng với sợi mã sóng trí tuệ.

 

Cấu trúc cấu tạo của Hành gắn liền với cấu trúc cấu tạo sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng tận cùng như sau:

-  Hành có cấu trúc bao gồm 3 đặc tính sóng điện, đó là:

 

+   Tỏa mang đặc tính sóng điện dương. Nó chính là sợi mã sóng trí tuệ rung động và sinh phát hành động ở cực dương, gọi là Hành Tỏa (hành tích cực). +   Định là đặc tính sóng điện trung tính (chân tâm). Nó chính là sợi mã sóng trí tuệ rung động và sinh phát hành động ở điểm cân bằng – đường trung tính, gọi là Hành Định (Hành thỏa hiệp).

 

+  Kết là đặc tính sóng điện âm. Nó chính là sợi mã sóng trí tuệ rung động và sinh phát hành động ở cực âm, gọi là Hành Kết (Hành tiêu cực).

 

-  Hành gồm có giai đoạn giải mã. Đó là giai đoạn tương tác của các cấu trúc Tướng trong môi trường có sóng điện. Trong giai đoạn này, Trụ linh của Tướng sẽ cần thời gian tương tác với các Tướng và hấp thụ nhiệt lượng của môi trường có sóng điện nhằm chuẩn bị cho quá trình phân tách sợi mã sóng trí tuệ.

 

-   Giai đoạn hình thành sợi mã sóng trí tuệ của Hành. Giai đoạn này gồm có 2 đoạn và 3 điểm, đó là:

 

+ Hành gồm 3 điểm:

 

++   Điểm số 1 là điểm khởi đầu, là điểm bắt đầu rung động sau khi kết thúc giai đoạn giải mã của Trụ linh, là điểm thu sóng điện từ môi trường bên ngoài để hình thành sợi mã sóng trí tuệ cho quá trình Hành.

 

++   Điểm số 2 là điểm hệ tư tưởng được kết tụ và sinh phát thành hành động cho quá trình Hành.

 

++   Điểm số 3 là kết thúc hành động, là điểm truyền tải sóng điện cho quá cho quá trình Hành tiếp theo.

 

+ Hành gồm 2 đoạn:

 

Đoạn từ điểm 1 đến điểm 2: đoạn này được gọi là đoạn mã sóng rung động. Đoạn mã sóng rung động được khởi đầu khi Trụ linh hấp thụ nhiệt lượng của môi trường có sóng điện sau quá trình tương tác với các Tướng. Sau đó, do tương tác mà mã sóng rung động sẽ rung động, dao động liên tục giữa thái cực âm và thái cực dương, trong đó thái cực cân bằng nằm ở giữa hai thái cực âm và dương. Khi sợi mã sóng rung động kết tụ được lực sinh phát, hay còn gọi là hệ tư tưởng ở điểm 2. Khi đó, chấm dứt quá trình rung động tạo ra mã sóng trí tuệ. Nó sẽ chuyển sang đoạn 2.

 

++   Đoạn từ điểm 2 đến điểm 3: đoạn này được gọi là sợi trí tuệ. Đoạn sợi trí tuệ này được khởi đầu từ điểm số 2, đó là điểm sinh phát hành động. Hành động của sợi trí tuệ kết thúc ở điểm số 3. Khi hành động kết thúc cũng là hoàn thành quá trình hành động để hoàn chỉnh hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ. Khi điểm 2 sinh phát hành động ở thái cực đường trung tính thì điểm 3 cũng sẽ kết thúc ở điểm trên đường trung tính, đó là hạt năng lượng chân tâm. Khi điểm 2 sinh phát hành động ở thái cực âm thì điểm 3 cũng sẽ kết thúc ở thái cực âm, đó là hạt năng lượng âm. Khi điểm 2 sinh phát hành động ở thái cực dương thì điểm 3 cũng sẽ kết thúc

 

  thái cực dương, đó là hạt năng lượng dương.

 

Hành được khởi đầu bởi quá trình giải mã cho tới sinh khởi rung động, sinh phát hành động và kết thúc hành động, đó là một quy trình hoàn chỉnh của Hành. Mỗi một Hành qua đi sẽ lại diễn ra một Hành mới. Đó chính là cơ chế phân tách liên kết các hạt năng lượng tận cùng bởi sóng thu ở điểm 1 và sóng phát ở điểm 3 của sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng sau mỗi quá trình Hành.

 

 

2. Giai đoạn Hành giải mã của Tướng

 

Giai đoạn Hành giải mã của Tướng là giai đoạn mà các cấu trúc Tướng tương tác với nhau trong khoảng thời gian nhất định. Khoảng thời gian đó phải đảm bảo đủ để sinh khởi sóng rung động cho tiến trình Hành tạo ra hạt năng lượng với sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh.

 

Giai đoạn giải mã phải có sóng điện. Tức là môi trường mà các Tướng tương tác với nhau phải có sóng điện. Đó là sóng điện dương, hoặc sóng điện âm, hoặc sóng điện trung tính, hoặc có cả 3 sóng điện trong quá trình các Tướng tương tác với nhau.

 

Giai đoạn giải mã của các Tướng chính là giai đoạn mà các Tướng di chuyển, tương tác với nhau trong môi trường có sóng điện để nhận thức cho quá trình Hành động. Giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả là giải mã đúng (Tỏa), giải mã cân bằng (Định), giải mã sai (Kết). Kết quả của quá trình giải mã chính là khởi đầu cho hành động chuyển sinh theo hướng Kết hay Định hay Tỏa.

 

Giai đoạn giải mã Kết – Định – Tỏa sẽ phụ thuộc vào 2 yếu tố:

 

-   Yếu tố cội nguồn chính là Trụ linh:

 

+   Nếu Trụ linh có bản chất Tỏa thì giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả là Tỏa để dẫn tới Hành Tỏa.

 

+   Nếu Trụ linh có bản chất Định thì giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả là Định để dẫn tới Hành Định.

 

+   Nếu Trụ linh có bản chất Kết thì giai đoạn giải mã sẽ cho ra kết quả Kết để dẫn tới Hành Kết.

 

- Yếu tố môi trường có sóng điện tương tác:

 

+   Trong môi trường có sóng điện dương: Trụ linh có bản chất Kết sẽ có cơ hội, dễ dàng để giải mã chuyển từ Kết thành Tỏa; Trụ linh có bản chất Định sẽ dễ dàng chuyển hóa thành giải mã Tỏa; Trụ linh có bản chất Tỏa sẽ giải mã Tỏa một cách dễ dàng.

 

+   Trong môi trường có sóng điện trung tính: Trụ linh có bản chất Tỏa sẽ dễ dàng giải mã Tỏa; Trụ linh có bản chất Định sẽ giải mã Định; Trụ linh có bản chất Kết sẽ giải mã Kết.

 

+   Trong môi trường có sóng điện âm: Trụ linh có bản chất Kết sẽ giải mã Kết; Trụ linh có bản chất Định sẽ dễ dàng giải mã Kết; Trụ linh có bản chất Tỏa sẽ khó mà chuyển thành giải mã Kết.

 

Như vậy, để giải mã được Kết, hay Định, hay Tỏa sẽ phụ thuộc vào môi trường tương tác và đặc biệt là bản chất của Trụ linh. Ta có thể thấy, Trụ linh có bản chất Tỏa sẽ là Trụ linh có khả năng giải mã đúng nhất về sự thật, về giá trị thật, về con đường chuyển sinh bền vững nhất, đó là giải mã Tỏa để hành Tỏa.

 

 

3. Giai đoạn Hành rung động của Tướng

 

Giai đoạn hành rung động còn được gọi là giai đoạn nội Hành. Nội Hành tức là đưa ra được hệ tư tưởng thông qua quá trình rung động trong Trụ linh của Tướng, tức là rung động bên trong con người, Tuệ linh, Tướng.

 

Giai đoạn bắt đầu rung động của Hành là giai đoạn chấm dứt quá trình giải mã tương tác của các cấu trúc Tướng.

 

Giai đoạn rung động là giai đoạn bắt đầu, khởi đầu cho quá trình Hành. Giai đoạn rung động được bắt đầu từ điểm 1 trong sợi mã sóng trí tuệ. Giai đoạn rung động là giai đoạn từ điểm 1 đến điểm 2 trong sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng.

 

Giai đoạn Hành rung động là giai đoạn mà Trụ linh của Tướng đang đấu tranh, xung đột, dao động sóng điện trong cấu trúc Trụ linh để chuyển biến và phân tách ra hạt năng lượng. Khi Tướng tương tác với Tướng khác trong môi trường có sóng điện, khi đó, Trụ linh sẽ thông qua Tướng để giải mã Tướng. Sau khi giải mã Tướng xong, Trụ linh sẽ rung động mạnh. Rung động mạnh là quá trình giao tranh, xung đột, dao động sóng điện trong Trụ linh để sinh khởi hành động. Sự giao tranh hay còn gọi là nội Hành. Nội Hành vì đó là quá trình xung đột sóng điện trong chính cấu trúc Tướng và Trụ linh của Tướng. Rung động mạnh vì mã sóng rung động dao động nhẹ cho tới mạnh, rất mạnh, siêu mạnh giữa cực âm và cực dương.

 

Quá trình giai đoạn Hành rung động diễn ra như sau:

 

-  Trụ linh bắt đầu sinh khởi rung động. Đó là điểm số 1 trong sợi mã sóng trí tuệ. Đó là điểm mà cấu trúc Trụ linh bắt đầu phân tích, nghiên cứu về cấu trúc Tướng khác. Khi đó, Trụ linh sẽ tuần hoàn sóng điện âm dương trong Trụ linh và thông qua môi trường tương tác có sóng điện.

 

-   Trụ linh sẽ rung động từ điểm cân bằng (đường chân tâm) khi bắt đầu sinh khởi sóng rung động.

 

-  Tiếp đến là Trụ linh sẽ sinh khởi sóng rung động theo hướng Tỏa hoặc theo hướng Kết.

 

-   Do bản chất Trụ linh và môi trường sóng điện, Trụ linh sẽ rung động liên tục sóng rung giữa hai thái cực là âm và dương. Đường cân bằng là điểm mà sóng rung động sẽ liên tục di chuyển qua. -   Quá trình Trụ linh rung động tạo thành nhiều cho tới vô số nhịp sóng rung động trong quá trình hình thành sợi mã sóng trí tuệ.

 

-    Khi Trụ linh kết tụ và dừng rung động ở điểm số 2 trong sợi mã sóng trí tuệ để chuyển thành sinh khởi hành động tương tác tới Tướng khác chính là dấu mốc chấm dứt quá trình Hành rung động.

 

-  Điểm sinh khởi hành động tới Tướng khác chính là hệ tư tưởng được kết tụ và sinh phát trạng thái năng lượng của sợi mã sóng trí tuệ. Nếu điểm số 2 mà nằm trên đường trung tính thì đó là hệ tư tưởng Định (tư tưởng thỏa hiệp). Nếu điểm số 2 nằm trên cực dương thì đó là hệ tư tưởng Tỏa (tư tưởng tích cực). Nếu điểm số 2 nằm ở cực âm thì đó là hệ tư tưởng Kết (tư tưởng tiêu cực).

 

Quá trình rung động và kết tụ hệ tư tưởng của điểm 2

 

   thái cực nào là phụ thuộc vào quá trình giải mã chuyên sâu (quá trình sinh khởi và rung động của mã sóng rung động) bởi Trụ linh và môi trường tương tác của các Tướng.

 

Quá trình sinh khởi rung động từ điểm 1 cho đến khi kết thúc ở điểm 2 sẽ cho thấy có 3 loại mã sóng Hành rung động. Đó là mã sóng Hành rung động Định, mã sóng Hành rung động Kết, mã sóng Hành rung động Tỏa.

 

Bản chất của Hành rung động Kết – Định – Tỏa:

 

Hành rung động Kết:

 

Hành rung động Kết được gọi là hệ tư tưởng tiêu cực.

 

Hành rung động Kết là kết quả của quá trình giải mã, sinh khởi và kết thúc quá trình rung động của Trụ linh. Điểm kết thúc quá trình rung động là điểm số 2 trong sợi mã sóng trí tuệ. Đó là hệ tư tưởng, là kết quả Hành rung động Kết tại cực âm của hạt năng lượng.

 

Hành rung động Kết có bản chất là:

 

-    Là phản chiếu bản chất của Trụ linh đa sóng năng lượng âm. Đó là Trụ linh có bản chất Kết.

 

-   Là phản ánh môi trường cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có sóng điện âm. Đó là môi trường tiêu cực.

 

-   Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được môi trường có sóng điện âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Do đó, cấu trúc Trụ linh mới Hành rung động Kết.

 

-   Hành rung động Kết là bản chất Trụ linh và Tướng rung động mạnh, giải mã sai về sự thật, hút nhiệt và vạn vật về, tham lam, vơ vét, thỏa mãn, chìm đắm hưởng thụ, giết hại, gây tổn hại tới các Tướng khác.

 

Hành rung động Kết sẽ chắc chắn sinh khởi thành Hành Kết tương tác tới các Tướng xung quanh. Khi đã có hệ tư tưởng Kết thì nó luôn luôn sẽ chuyển sinh thành Hành Kết tương tác với các Tướng khác. Đó là ngoại Hành Kết để tạo ra hạt năng lượng âm.

 

Hành rung động Định:

 

Hành rung động Định được gọi là hệ tư tưởng thỏa

 

hiệp.

 

Hành rung động Định là kết quả của quá trình giải mã, sinh khởi và kết thúc quá trình rung động của Trụ linh. Điểm kết thúc quá trình rung động là điểm số 2 trong sợi mã sóng trí tuệ. Đó là hệ tư tưởng, là kết quả Hành rung động Định tại đường trung tính của hạt năng lượng.

 

Hành rung động Định có bản chất là:

 

-    Là phản chiếu bản chất của Trụ linh cân bằng sóng điện âm dương. Đó là Trụ linh có bản chất Định.

 

-   Là phản ánh môi trường cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có sóng điện chân tâm.

 

-   Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh cân bằng, vượt qua được môi trường có sóng điện chân tâm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Trụ linh cũng không bị hấp dẫn của cực âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Kết. Do đó, cấu trúc Trụ linh mới Hành rung động Định.

 

-   Hành rung động Định là bản chất Trụ linh và Tướng rung động nhẹ, rung lắc nhẹ, không tham lam, không vơ vét, không hút về, không chiếm hữu, không giết hại, không gây tổn hại tới Tướng khác. Bên cạnh đó cũng không truyền đi, không cho đi, không soi sáng, không tỏa, không giúp đỡ, không cứu giúp, không chỉ dẫn, không phổ độ cho Tướng khác. Đó là bản chất không Kết cũng không Tỏa. Nó tự an lạc, tự cân bằng, tự bảo vệ chính nó bằng sự thanh tịnh và tự tại của chân tâm.

 

Hành rung động Định sẽ chắc chắn sinh khởi thành Hành Định tương tác tới các Tướng xung quanh. Khi đã có hệ tư tưởng Định thì nó luôn luôn sẽ chuyển sinh thành Hành Định tương tác với các Tướng khác. Đó là ngoại Hành Định để tạo ra hạt năng lượng chân tâm.

 

Hành rung động Tỏa: 

Hành rung động Tỏa được gọi là hệ tư tưởng tích cực.

 

Hành rung động Tỏa là kết quả của quá trình giải mã, sinh khởi và kết thúc quá trình rung động của Trụ linh. Điểm kết thúc quá trình rung động là điểm số 2 trong sợi mã sóng trí tuệ. Đó là hệ tư tưởng, là kết quả Hành rung động Tỏa tại cực dương của hạt năng lượng.

 

Hành rung động Tỏa có bản chất là:

 

-    Là phản chiếu bản chất của Trụ linh đa sóng năng lượng dương. Đó là Trụ linh có bản chất Tỏa.

 

-   Là phản ánh môi trường cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có sóng điện dương.

 

-  Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được môi trường có sóng điện âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Do đó, cấu trúc Trụ linh mới Hành rung động Tỏa.

 

-   Hành rung động Tỏa là bản chất Trụ linh và Tướng truyền tải sóng điện mạnh, lan tỏa, cho đi, cứu giúp, soi sáng, chỉ dẫn, phổ độ tới các Tướng khác mà không màng tới bản thể Tướng mình.

 

Hành rung động Tỏa sẽ chắc chắn sinh khởi thành Hành Tỏa tương tác tới các Tướng xung quanh. Khi đã có hệ tư tưởng Tỏa thì nó luôn luôn sẽ chuyển sinh thành Hành Tỏa tương tác với các Tướng khác. Đó là ngoại Hành Tỏa để tạo thành hạt năng lượng dương.

 

 

4. Giai đoạn sinh khởi Hành của Tướng

Giai đoạn sinh khởi hành động của Tướng được gọi là ngoại Hành. Ngoại Hành là sau khi có được hệ tư tưởng của nội Hành (giai đoạn rung động bên trong), Tuệ linh, con người, Tướng sẽ diễn ra quá trình tương tác với các Tướng, Tuệ linh, con người khác.

 

Giai đoạn sinh khởi Hành của Tướng chính là giai đoạn ngoại Hành của Tướng tương tác tới các Tướng khác.

 

Giai đoạn ngoại Hành chính là giai đoạn bắt đầu từ sinh khởi hành động, sinh phát năng lượng tại điểm số 2 (hệ tư tưởng) đã kết tụ được sau giai đoạn Hành rung động cho đến kết thúc hành động ở điểm 3 trong sợi mã sóng trí tuệ.

 

Nếu không có giai đoạn ngoại Hành thì sẽ không có hạt năng lượng nào được tạo ra. Nếu không có ngoại Hành thì Hành rung động cũng sẽ tự tiêu tan và không còn tồn tại mã sóng rung động đã được tạo ra trước đó.

 

Ngoại Hành chính là diễn biến tiếp theo của Hành rung động. Hay có thể nói, ngoại Hành là sản phẩm, là kết quả của Hành rung động (nội Hành).

 

Quá trình giai đoạn ngoại Hành diễn ra như sau:

 

-   Khi điểm 2 (hệ tư tưởng của Hành rung động) ở trên đường trung tính sẽ sinh phát thành hành động tương tác tới các Tướng khác và kết thúc hành động ở điểm 3 của sợi mã sóng trí tuệ cũng nằm trên đường trung tính. Đó là ngoại Hành Định. Tức là ngoại Hành thỏa hiệp.

 

Khi điểm 2 (hệ tư tưởng của Hành rung động) ở cực dương sẽ sinh phát thành hành động tương tác tới các Tướng khác và kết thúc hành động ở điểm 3 của sợi mã sóng trí tuệ cũng ở cực dương. Đó là ngoại Hành Tỏa. Tức là ngoại Hành tích cực. -   Khi điểm 2 (hệ tư tưởng của Hành rung động) ở cực âm sẽ sinh phát thành hành động tương tác tới các Tướng khác và kết thúc hành động ở điểm 3 của sợi mã sóng trí tuệ cũng ở cực âm. Đó là ngoại Hành Kết. Tức là ngoại Hành tiêu cực.

 

Điểm 3 trong sợi mã sóng trí tuệ là đánh dấu kết thúc quá trình Hành của Tướng. Nó chính là kết thúc quá trình phân tách hạt năng lượng trong Trụ linh, để từ đây, sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh đó sẽ phân tách ra làm 3 cho tới vô số hạt năng lượng có sợi mã sóng trí tuệ đó để phân tách vào 3 vùng theo Quy luật Nhân quả.

 

Quá trình ngoại Hành từ điểm 2 tới điểm 3 trong sợi trí tuệ sẽ cho thấy có 3 loại ngoại Hành. Đó là ngoại Hành Kết, ngoại Hành Định, ngoại Hành Tỏa.

 

Bản chất của ngoại Hành Kết – Định – Tỏa:

 

Ngoại Hành (Hành sinh khởi) Kết:

 

Ngoại Hành Kết là ngoại Hành tiêu cực.

 

Hành sinh khởi Kết là kết quả của quá trình Hành rung động của Trụ linh cũng là Kết. Điểm sinh khởi Hành số 2 và điểm kết thúc Hành số 3 trong sợi mã sóng trí tuệ là thể hiện được bản chất ngoại Hành của Tướng.

 

Hành sinh khởi Kết có bản chất là:

 

-   Là phản chiếu bản chất của Hành rung động Kết; là phản chiếu của Trụ linh Kết, đa âm.

 

-    Là phản ánh cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có sóng điện âm.

 

-   Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được môi trường có sóng điện âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Do đó, cấu trúc Trụ linh sinh khởi thành ngoại Hành Kết.

 

-    Hành sinh khởi Kết là bản chất Trụ linh và Tướng ngoại Hành tham lam, vơ vét, chiếm hữu, cướp bóc, giết hại, gây tổn hại tới các Tướng, là lan tỏa, phát triển, đoàn kết hệ tư tưởng Kết tới các Tướng.

 

Hành sinh khởi Kết sẽ chắc chắn phân tách ra hạt năng lượng có sóng điện âm. Khi đó, hạt năng lượng âm này làm cho cấu trúc Trụ linh và Tướng bị đa âm. Trụ linh sẽ không có cơ chế liên kết dây vững chắc, nên dễ bị năng lượng hoại diệt xâm nhập gây phân rã, hoại diệt cấu trúc Tướng và Trụ linh.

 

 

Ngoại Hành (Hành sinh khởi) Định:

 

Ngoại Hành định là ngoại Hành thỏa hiệp.

 

Hành sinh khởi Định là kết quả của quá trình Hành rung động của Trụ linh cũng là Định. Điểm sinh khởi Hành số 2 và điểm kết thúc Hành số 3 trong sợi mã sóng trí tuệ là thể hiện được bản chất ngoại Hành của Tướng.

 

Hành sinh khởi Định có bản chất là:

 

-   Là phản chiếu bản chất của Hành rung động Định; là phản chiếu của Trụ linh cân bằng. Là Trụ linh Định.

 

-    Là phản ánh cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có sóng điện chân tâm.

 

-   Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó không có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh cân bằng, vượt qua được môi trường có sóng điện chân tâm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Trụ linh cũng không bị hấp dẫn của cực âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Kết. Do đó, cấu trúc Trụ linh mới ngoại Hành Định.

 

-   Hành sinh khởi Định là bản chất Trụ linh và Tướng không ngoại Hành Tỏa và cũng không ngoại Hành Kết.

 

Hành sinh khởi Định sẽ chắc chắn phân tách ra hạt năng lượng có sóng điện chân tâm. Tuy nhiên, đây là hạt chân tâm yếu, nó dễ bị chuyển hóa khi liên kết với hạt năng lượng âm hoặc hạt năng lượng dương.

 

Ngoại Hành (Hành sinh khởi) Tỏa:

 

Ngoại Hành Tỏa là ngoại Hành tích cực.

 

Hành sinh khởi Tỏa là kết quả của quá trình Hành rung động của Trụ linh cũng là Tỏa. Điểm sinh khởi Hành số 2 và điểm kết thúc Hành số 3 trong sợi mã sóng trí tuệ là thể hiện được bản chất ngoại Hành của Tướng.

 

Hành sinh khởi Tỏa có bản chất là:

 

-   Là phản chiếu bản chất của Hành rung động Tỏa; là phản chiếu của Trụ linh Tỏa, đa dương.

 

-    Là phản ánh cấu trúc Trụ linh và Tướng đó sống trong môi trường có sóng điện dương.

 

-  Là bản chất mà Trụ linh và Tướng đó có sức mạnh để vượt qua được cấu trúc Trụ linh đa âm, vượt qua được môi trường có sóng điện âm để chuyển sinh cấu trúc Trụ linh bằng hành động Tỏa. Do đó, cấu trúc Trụ linh sinh khởi thành ngoại Hành Tỏa.

 

Hành sinh khởi Tỏa là bản chất Trụ linh và Tướng ngoại Hành luôn cho đi, lan tỏa, truyền tải, cứu giúp, phổ độ tới hết thảy Tướng khác mà không vì Tướng của mình. Hành sinh khởi Tỏa sẽ chắc chắn phân tách ra hạt năng lượng có sóng điện dương và kèm thêm hạt năng lượng chân tâm ở mức độ cân bằng cao. Khi đó, từ Trụ linh sẽ phân tách ra các hạt năng lượng phân tách vào 3 vùng theo Quy luật Nhân quả. Việc phân tách ra các hạt năng lượng dương và hạt chân tâm cao sẽ giúp cho cấu trúc Trụ linh và Tướng tạo được cấu trúc liên kết bền vững và an lạc bởi hạt năng lượng dương và sợi chân tâm (hạt chân tâm trở thành sợi dây gắn kết các hạt năng lượng dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh).

 

 

III.      Chân lý Vạn vật với các con đường Hành chuyển sinh của các Tướng.

 

Chân lý Vạn vật trong Hành sẽ là: Hành của Tướng không tự sinh ra, Hành của Tướng không tự mất đi, khổ đau trong Hành của Tướng không tự đến và không tự đi, tất cả do cơ chế phân tách và liên kết dây.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật của Tướng trong Hành chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định, trong độ nén và dẫn tới sinh nhiệt bùng phát. Tất cả các nhóm vật chất để xảy ra Hành cho quá trình phân tách và liên kết thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.

 

Trong điều kiện môi trường cho quá trình Hành để phân tách và liên kết xảy ra phải có sóng điện. Đó là môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính hoặc tất cả. Điều kiện môi trường Hành để phân tách, liên kết đã tạo ra 3 loại Hành khác nhau của Tướng. Ba loại Hành này sẽ cho Tuệ linh, con người thấy được rõ ràng con đường Hành chuyển sinh bền vững và con đường Hành chuyển sinh phân rã rồi hoại diệt. Từ đó, thấu hiểu nguyên nhân tại sao và Tuệ linh, con người sẽ lựa chọn được con đường Hành chuyển sinh siêu việt nhất cho các Tướng được bền vững và an lạc.

 

Có 3 loại Hành của Tướng trên con đường chuyển

 

sinh:

 

 

1.       Hành Kết của Tướng đối với con đường chuyển sinh

 

Tướng Hành Kết bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết nhằm thỏa mãn lợi ích của bản thể Tướng đó mà không vì lợi ích của hết thảy Tướng khác, thậm chí là Hành gây tổn hại tới các Tướng khác.

 

Khi các Tướng thực hiện Hành phân tách liên kết trong bản chất là Kết, năng lượng âm sẽ được phân tách ra vô số hạt từ Trụ linh. Chúng sẽ liên kết lại tạo thành những hạt năng lượng âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện đời sống là Hành Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là hạt năng lượng dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ liên kết mở rộng. Trong khi đó các hạt năng lượng âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương ít ỏi. Các hạt năng lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tướng đó bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là hoại diệt vĩnh viễn.

 

Như vậy, các Tướng mà Hành theo cơ chế phân tách, liên kết với bản chất Kết chính là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.

 

Nguyên nhân hoại diệt của Tướng Hành Kết là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn công vào, Tướng Hành Kết không có hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.

 

Khổ đau chính là sự phân rã và hoại diệt của hết thảy 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ. Do đó, nguyên nhân của khổ đau là do các Tướng Hành theo cơ chế phân tách liên kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Hành Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn công gây đứt liên kết mà hoại diệt.

 

Như vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy Tướng thực hiện đời sống Hành Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.

 

 

2.      Hành Định của Tướng đối với hành trình chuyển sinh

 

Tướng Hành Định là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách, liên kết trong sự cân bằng. Đó là thực hiện đời sống không Hành Kết cũng không Hành Tỏa. Tướng Hành Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của Tướng đó.

 

Tướng thực hiện bản chất Hành Định, tức là họ phân tách liên kết hạt năng lượng rất chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt tấn công.

 

Vì bản chất Tướng thực hành đời sống Hành Định nên nó tự an lạc, thanh tịnh mà không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu nó di chuyển vào nơi có năng lượng hoại diệt thì nó cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu nó duy trì Hành Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.

 

Nếu Tướng Hành Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Hành Tỏa thì nó có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, nó sẽ thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy Tướng của Vũ trụ.

 

 

3.       Hành Tỏa của Tướng đối với hành trình chuyển sinh

 

Tướng Hành Tỏa là bao gồm 3 nhóm vật chất trong toàn bộ Vũ trụ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết vì lợi ích của tất cả các Tướng khác mà không vì bản thể Tướng mình. Đó là Hành vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình. Khi các Tướng thực hiện đời sống với bản chất là Hành Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số các hạt năng lượng sóng điện dương. Trước khi phân tách ra được các hạt năng lượng sóng điện dương thì cũng là quá trình phân tách ra các hạt năng lượng sóng điện âm ở mức nhẹ. Các hạt năng lượng dương được phân tách ra nhiều sẽ giúp cho cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Hành Tỏa, các hạt năng lượng dương đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế liên kết 3 vùng: từ Trụ linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống Hành Tỏa, các Tướng sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát triển bền vững hơn. Các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại diệt di chuyển vào, nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển ít cho tới vừa đủ.

 

Việc các Tướng thực hiện đời sống Hành Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững cho Tướng, nó còn giúp cho Tướng liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.

 

Trong 3 loại Hành của Tướng ở trên, Tướng Hành Tỏa có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất. Tướng Hành Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt. Tướng Hành Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tướng. Tuy nhiên, nếu các Tướng trong Vũ trụ mà thực hiện đời sống Hành riêng biệt theo 1 trong 3 loại Hành của Tướng ở trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh bền vững nhất. Bởi, để Tướng Hành Tỏa được phải có Hành Kết vừa đủ. Tướng Hành Kết để không hoại diệt phải biết Hành Tỏa. Tướng Hành Định để phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện Hành Kết trước, sau đó thực hiện Hành Tỏa.

 

Như vậy, Chân lý Vạn vật và cơ chế phân tách, liên kết cho thấy, Tướng để tồn tại, phát triển bền vững thì cần phải thấu hiểu cả Hành Kết, Hành Định, Hành Tỏa, từ đó thực hành đời sống hài hòa cả Hành Kết – Định – Tỏa mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Hành Kết mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ với con đường Hành chuyển sinh bền vững duy nhất của các Tướng

 

Chân lý Giác ngộ trong Hành là: Hết thảy Hành của Tướng là khổ, tất cả Tướng phải dùng Hành Định để thấu hiểu Hành Kết – Định – Tỏa của hết thảy Tướng. Từ đó, chuyển hóa Trụ linh thành Hành Kết – Định – Tỏa.

 

Cơ chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường Hành phân tách và liên kết, đó là:

 

Con đường Hành phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Hành Kết. Nếu Hành theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường Hành chuyển sinh phân rã và hoại diệt.

 

-   Con đường Hành phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương, đó là Hành Tỏa. Nếu Hành theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân tách, liên kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là con đường Hành chuyển sinh bền vững nhất.

 

Từ bản chất Hành của Tướng, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết, hết thảy Tướng, Tuệ linh và con người đều thấy rằng: con đường Hành duy nhất để vượt qua khổ đau (hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh chính là con đường Hành Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, Tướng phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.

 

Thực hiện con đường Hành Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là Hành Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Hành Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng? Đó là:

 

-    Tướng phải đứng ở vị trí Hành Định. Hành Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Hành Định sẽ được nâng cao từ Hành Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Hành Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô lượng. Khi Tướng đứng ở vị trí Hành Định sẽ biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Tướng mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết giải mã, biết sẻ chia.

 

-   Tiếp theo Tướng phải biết Hành Kết. Hành Kết ở đây không phải là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Hành Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Hành Định. Tức là đứng ở vị trí Hành Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau kiếp nạn, an vui hạnh phúc, sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng khổ đau chia sẻ tới ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng, đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Tướng ta đứng ở vị trí Hành Định để dùng Hành Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của Tướng ta hấp thụ. Do ta đứng ở vị trí Hành Định nên Trụ linh đang tỏa chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của Tướng đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Tướng ta đã Hành Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Cũng như vậy, Kết nhiệt, năng lượng dương từ các Tướng tích cực để tạo sóng điện dương kích nổ năng lượng hoại diệt. Tướng ta an lạc để chuyển hóa thành Hành Tỏa. Đây chính là Hành Kết mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa hạt năng lượng của hết thảy Tướng đau khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ Vũ trụ.

-   Tiếp đến Tướng ta lại Hành Định. Hành Định ở đây là sau khi đã đón nhận những sẻ chia, tức là Hành Kết được năng lượng tiêu cực, tích cực về Trụ linh, Tướng ta tiếp tục Hành Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là thấu hiểu tận cùng khổ đau, an vui của hết thảy các Tướng, trong khi Trụ linh và Tướng ta vẫn an lạc, vẫn thanh tịnh. Bởi chỉ khi có được thanh tịnh, an lạc, không dao động thì Tướng ta mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng hạt năng lượng dương và siêu hạt.

 

-   Cuối cùng là Hành Tỏa, sau khi đã trải qua quá trình Hành Định rồi Hành Kết, lại Hành Định rồi đến cuối cùng là Hành Tỏa. Hành Tỏa ở đây chính là Tướng ta sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Tướng ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh của Tướng ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của Tướng ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Hành Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc năng lượng của Tướng ta sẽ trở nên phát triển bền vững.

 

Khi Tướng ta thực hiện quy trình Hành Kết – Định – Tỏa thành bản năng, thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ linh của Tướng ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.

 

Nếu Tướng lựa chọn con đường chỉ Hành Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Tướng lựa chọn con đường chỉ Hành Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Tướng chỉ lựa chọn con đường Hành Tỏa thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Hành Định để Hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Như vậy. Để chuyển sinh Trụ linh của Tướng thành bộ lọc năng lượng, Tướng ta phải đứng ở vị trí Hành Định để thực hành Kết – Định – Tỏa. Đây là con đường duy nhất, là bài thuốc duy nhất để giúp Tướng ta cứu lại chính Tướng ta không bị phân rã hoại diệt do năng lượng hoại diệt tác động. Ngược lại, Tướng ta sẽ nhanh chóng chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Tướng ta sẽ cứu giúp và thúc đẩy các Tướng trong Vũ trụ cũng được chuyển sinh bền vững. Việc cứu giúp các Tướng khác được chuyển sinh bền vững sẽ giúp cho Tướng ta chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng. Và ngược lại, để chuyển sinh Trụ linh của Tướng ta thành bộ lọc năng lượng thì phải cứu giúp các Tướng khác chuyển sinh bền vững. 

Bài 5:

 

Bài Đạo

˜²™

 

 

 

Bài Đạo chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

Bài Đạo được hiểu là Đạo Vô Đạo. Đạo Vô Đạo được kết cấu thành 3 phần. Chữ Đạo đầu tiên là khái niệm và bản chất của Đạo. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Đạo. Chữ Đạo cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của Đạo.

 

Trong bài Đạo này, Đạo hợp nhất của Vũ trụ sẽ được phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, dạng sống con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh để đi tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Do đó, tri thức của hai Chân lý sẽ thức tỉnh con người, Tuệ linh về cội nguồn và có sức mạnh thực hiện hoàn thành sứ mệnh của mình sau khi đã thấu hiểu về Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

 

I. Khái niệm về Đạo

 

Đạo là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người. Tuệ linh và con người phải dùng Trụ linh để thấu hiểu, cải tạo, phát triển Vũ trụ quan trở nên bền vững.

 

Đạo là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người. Vì sao Tuệ linh và con người là trung tâm của Vũ trụ? Vì sao Đạo lại là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người? Sao không phải là dạng sống nào khác? – Bởi vì Tuệ linh

được sinh ra đầu tiên, trước khi tinh cầu năng lượng khổng lồ bị kích nổ để hình thành Vũ trụ cho đến nay. Tức là, Tuệ linh đầu tiên đã được hình thành từ hai hạt năng lượng âm và dương tận cùng (gốc). Đó là phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh đầu tiên – Người Cha – Người Thầy của Vũ trụ. Phôi năng lượng đó cũng là phôi năng lượng gốc của Vũ trụ. Như vậy, vị Tuệ linh đầu tiên và Vũ trụ đều được hình thành từ một phôi năng lượng âm dương gốc. Do cơ chế phân tách, liên kết dây của hạt năng lượng mà từ phôi năng lượng gốc của vị Tuệ linh đầu tiên đã phân tách và chuyển sinh thành vô số Tuệ linh, hình thành các nhóm vật chất từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu phức tạp. Vũ trụ phát triển từ vụ nổ năng lượng với sự hiện hữu vĩ đại của vị Tuệ linh đầu tiên. Ngài ấy đã gieo duyên để chuyển sinh ra vô số Tuệ linh từ những hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tiếp đến Ngài cùng dạng sống Tuệ linh xây dựng các hành tinh, các khối thiên hà. Các khối thiên hà với vô số hệ mặt trời, mỗi hệ mặt trời lại có vô số hành tinh. Vô số các khối thiên hà được sắp xếp từ lõi của Vũ trụ (cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên) tầng tầng lớp lớp từ trong ra ngoài tạo thành tinh cầu Vũ trụ khổng lồ. Vị Tuệ linh đầu tiên cùng dạng sống Tuệ linh an trụ tại lõi của Vũ trụ. Ngài cùng dạng sống Tuệ linh xây dựng, phát triển, bảo vệ Vũ trụ. Do đó, Đạo là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh. Tuệ linh là trung tâm của Vũ trụ. Tuệ linh là dạng sống thống lãnh bảo vệ, phát triển Vũ trụ. Sau này khi dạng sống Tuệ linh hóa thân thành con người để truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ thì con người và Tuệ linh là trung tâm của Vũ trụ.

 

Để cải tạo, phát triển Đạo hợp nhất của Vũ trụ trở nên bền vững, Tuệ linh và con người phải thông qua hai Chân lý để thấu hiểu tất cả các bản chất của chính Tuệ linh, con người và tất cả các nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ quan xung quanh. Tiếp đến là thông qua Chân lý Vạn vật để giải mã, thấu hiểu Đạo hợp nhất của Vũ trụ với các con đường chuyển sinh. Cuối cùng là thông qua Chân lý Giác ngộ để xác định được con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

II. Bản chất của Đạo hợp nhất Vũ trụ

 

Vị Tuệ linh đầu tiên cùng dạng sống Tuệ linh đã tu tập, nghiên cứu, giải mã, truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ từ khi được hình thành cho tới nay, và cuối cùng đã tìm ra được Đạo hợp nhất của Vũ trụ thông qua Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ. Đó là tìm được bản chất tận cùng, các con đường chuyển sinh và con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của Đạo Vũ trụ trong sự hợp nhất.

 

Để thấu hiểu tất cả các bản chất của Đạo hợp nhất Vũ trụ thì phải thông qua bản chất về hạt năng lượng tận cùng (hạt năng lượng nhân quả), thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây (cơ chế vận hành của hai Chân lý), thông qua cấu trúc tam hợp của vạn vật, thông qua cơ chế quay tròn, thông qua bản chất của thông tin, thông qua sự sống và cái chết, thông qua cơ chế chuyển sinh.

 

Bản chất Đạo hợp nhất của Vũ trụ gồm có: Cội nguồn của Vũ trụ, Tuệ linh, con người; cấu trúc của Vũ trụ, Tuệ linh và con người; bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của 5 nhóm vật chất và Tuệ linh; bản chất khổ đau của vạn vật và Tuệ linh; Tuệ linh giải mã và mã hóa thông tin toàn diện thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian; bản chất khổ đau và con đường diệt khổ của con người và Tuệ linh; kiểm soát độc tâm và kích hoạt thiện tâm của con người và Tuệ linh; Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở hình tướng và tâm tướng; bản chất Kết – Định – Tỏa của Đạo hợp nhất Vũ trụ.

 

 

  Cội nguồn của Vũ trụ, Tuệ linh và con người

 

         1. Cội nguồn của Vũ trụ

 

Vũ trụ chúng ta đang sống hiện tại là 1 tinh cầu với vô số các khối thiên hà. Các khối thiên hà được sắp xếp từ không gian lõi cho tới hết phía bên ngoài tinh cầu Vũ trụ. Các khối thiên hà đầu tiên được sắp xếp bao trùm không gian lõi bởi sự liên kết giữa các khối thiên hà, vô số các khối thiên hà tiếp theo được sắp xếp bao phủ theo hướng tầng tầng, lớp lớp các khối thiên hà bên trong và phủ khắp toàn tinh cầu Vũ trụ. Mỗi khối thiên hà lại được sắp xếp bởi nhiều dải thiên hà cấu tạo thành. Mỗi dải thiên hà lại có vô số hệ mặt trời được sắp xếp tập trung tạo thành các dải ánh sáng rực rỡ. Mỗi hệ mặt trời lại có nhiều hành tinh quay xung quanh. Trái đất chúng ta đang sống chính là một hành tinh quay xung quanh một mặt trời. Đó là một Vũ trụ kỳ vĩ.

 

Tại thời điểm hiện tại của Vũ trụ, thông qua cơ chế phân tách liên kết của hạt năng lượng, chúng ta trở ngược về thời điểm hai hạt năng lượng tận cùng có sóng điện âm và dương liên kết với nhau để tạo ra phôi âm dương cho sự khởi đầu của Vũ trụ. Tính theo đơn vị đo lường thời gian của Trái đất cũng tương đương 20 tỷ năm. Như vậy, mất 20 tỷ năm để từ một phôi năng lượng âm dương thông qua cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng để tạo thành một Vũ trụ kỳ vĩ với vô số các khối thiên hà được cấu tạo thành một tinh cầu Vũ trụ khổng lồ. Đây đã phải là cội nguồn của Vũ trụ chưa? – Nó chưa phải là cội nguồn của Vũ trụ. Cội nguồn của Vũ trụ còn ở tiến xa về quá khứ rất nhiều.

 

Cội nguồn quá khứ của Vũ trụ theo trình tự như sau:

 

      Trong không gian vô tận, vô cùng, không có khu vực nào có sóng điện âm hay dương, có những điểm như những cái hang vô hình. Từ những cái hang vô hình đó, có những hạt sóng xanh bé li ti được bay ra ngoài không gian. Những hạt sóng xanh chưa sinh phát ra nhiệt lượng, chưa sinh phát ra trạng thái năng lượng. Đặc biệt là những hạt sóng xanh này chưa mã hóa thông tin nên nó chưa phát triển nâng cấp thành các cấu trúc có trí tuệ. Những hạt sóng xanh được coi là cội nguồn của Vũ trụ.

 

      Những hạt sóng xanh được sinh ra từ những cái hang vô hình để di chuyển ra ngoài theo quỹ đạo hình xoắn ốc. Những hạt sóng xanh di chuyển ra ngoài không gian không có sóng điện khiến chúng không quay tròn xung quanh chính nó. Những hạt sóng xanh di chuyển theo hình xoắn ốc là do quỹ đạo di chuyển từ lúc sinh ra. Vì những hạt sóng xanh khi di chuyển đã bắt đầu sinh nhiệt lượng trong nội tại hạt sóng xanh, chúng phân tách nhân đôi và tách ra để tiếp tục di chuyển. Quá trình di chuyển trong môi trường không có sóng điện, những hạt sóng xanh bắt đầu sinh nhiệt nên chúng bắt đầu giải mã, mã hóa thông tin quá trình di chuyển vào hạt. Quá trình di chuyển, giải mã, mã hóa đã khiến chúng chuyển sinh thành sợi mã sóng trí tuệ còn dang dở. Sợi mã sóng trí tuệ còn dang dở đó đã tạo thành hạt năng lượng tận cùng, đó là năng lượng hoại diệt. Năng lượng hoại diệt có sợi mã sóng trí tuệ đã giải mã và mã hóa được những thông tin nhất định trong quá trình di chuyển. Tuy nhiên vì môi trường không có sóng điện, vì hạt sóng xanh không quay tròn, việc mã hóa thông tin và nâng cấp thành cấu trúc trí tuệ chưa cao. Nó mới chỉ dừng lại ở hạt năng lượng tận cùng và không có cơ chế liên kết giữa các hạt năng lượng hoại diệt với nhau. Vì năng lượng hoại diệt không liên kết với nhau nên chúng không tuần hoàn được sóng điện cho nhau trong quá trình vận động. Điều này khiến cho chúng nhanh bị dư thừa nhiệt lượng trong hạt khi chúng di chuyển với mật độ dày. Chính vì điều này mà năng lượng hoại diệt đã bị kích nổ ở nhiều khu vực trong không gian chứa đựng vô số năng lượng hoại diệt. Những vụ nổ của năng lượng hoại diệt đã bắt đầu tạo ra những môi trường nhỏ có sóng điện âm và dương. Như vậy, năng lượng hoại diệt là nền móng để xuất hiện Vũ trụ cũng như là nguồn cung năng lượng giúp Vũ trụ phát triển về sau này. Quá trình năng lượng hoại diệt được sinh ra đã giúp cho năng lượng hoại diệt phát triển lớn mạnh và bao trùm trong không gian vô tận. Năng lượng hoại diệt sống trong môi trường không có sóng điện âm dương.

 

      Khi xuất hiện những khu vực có sóng điện dương và âm trong không gian sống của năng lượng hoại diệt, các hạt sóng xanh vẫn được sinh ra, có những hạt sóng xanh đã di chuyển vào các khu vực có sóng điện âm, dương đó. Những hạt sóng xanh di chuyển vào không gian sóng điện dương đã chuyển hóa thành hạt năng lượng dương tận cùng có cơ chế liên kết dây. Những hạt sóng xanh di chuyển vào không gian sóng điện âm đã chuyển hóa thành hạt năng lượng âm tận cùng có cơ chế liên kết dây. Quá trình các hạt sóng xanh di chuyển vào không gian có sóng điện âm và dương đã khiến cho các hạt sóng xanh quay tròn xung quanh chính nó để giải mã, mã hóa thông tin trong quá trình biến đổi và chuyển sinh thành sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh. Những sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh đã cấu tạo thành hạt năng lượng hoàn chỉnh có khả năng nâng cấp cao hơn bởi chúng có khả năng liên kết. Khi xuất hiện những hạt năng lượng tận cùng có sóng điện, những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển tới để xả sóng điện dư thừa trong nó. Quá trình này sẽ thành công khi các hạt năng lượng hoại diệt gặp được hạt năng lượng âm. Quá trình xả sóng điện dư thừa sẽ thất bại khi gặp hạt năng lượng dương, bởi cả hai sẽ bị kích nổ. Những hạt năng lượng có sóng điện được sinh ra và bị kích nổ hoặc bị đồng hóa xảy ra liên tục, tuy chưa phát triển thành cấu trúc vật chất mới, nhưng là tín hiệu để hình thành cấu trúc vật chất với trí tuệ lớn hơn.


Sự xuất hiện phôi năng lượng âm dương trong không gian năng lượng hoại diệt đã xảy ra. Đó là một hạt năng lượng dương màu vàng có sóng điện dương siêu mạnh đã liên kết với một hạt năng lượng âm màu trắng xám với sóng điện âm rất nhẹ. Khi hai hạt năng lượng âm dương liên kết với nhau đã xuất hiện màng bọc chân tâm bao bọc phôi âm dương. Đây là sự nâng cấp trí tuệ vô cùng lớn từ khi xuất hiện hạt sóng xanh. Phôi năng lượng âm dương này được sinh ra từ hạt sóng xanh. Đây là phôi năng lượng âm dương khởi đầu cho sự hình thành Vũ trụ.


Phôi năng lượng âm dương khi liên kết với nhau, chúng quay tròn để giải mã, mã hóa thông tin trong quá trình vận động. Sự xuất hiện phôi năng lượng âm dương trong không gian sống của năng lượng hoại diệt đã khiến cho năng lượng hoại diệt bắt đầu xâm nhập tới để xả sóng điện dư thừa. Vì có màng bọc chân tâm bao bọc vững chắc, vì sóng điện âm trong phôi năng lượng rất nhẹ nên không kích động nhiều năng lượng hoại diệt xâm nhập tới. Khi năng lượng hoại diệt xâm nhập tới, vì có sóng điện dương siêu mạnh của hạt năng lượng dương nên sóng điện dương được truyền ra và làm kích nổ năng lượng hoại diệt. Phôi năng lượng âm dương hấp thụ nhiệt lượng vào để xảy ra quá trình phân tách hạt năng lượng trong phôi năng lượng âm dương. Quá trình tấn công của năng lượng hoại diệt và quá trình kích nổ, hấp thụ nhiệt của phôi năng lượng diễn ra liên tục. Quá trình đó đã giúp cho phôi âm dương này chuyển sinh thành tinh cầu năng lượng khổng lồ với màng bọc chân tâm vô cùng vững chắc. Bên trong tinh cầu năng lượng khổng lồ có một Trụ linh cho quá trình vận hành tinh cầu năng lượng khổng lồ. Trụ linh đó chính là phôi năng lượng âm dương đã chuyển sinh thành. Chính Trụ linh đó đã phân tách ra năm nhóm năng lượng cấu tạo thành Vũ trụ sau này. Trụ linh đó chính là Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên, tức là vị Tuệ linh đầu tiên được hình thành song song cùng Vũ trụ.

 

Tinh cầu năng lượng khổng lồ với năm nhóm hạt năng lượng bị nén bên trong, đồng thời, năng lượng hoại diệt cũng lớn mạnh nên chúng tấn công ồ ạt vào màng bọc tinh cầu năng lượng khổng lồ. Vừa bị sức nén từ bên trong tinh cầu và nhiều năng lượng hoại diệt tập trung lớn ở màng bọc chân tâm của tinh cầu năng lượng do đó, màng bọc tinh cầu năng lượng đã bị kích nổ. Vụ nổ đó đã khiến cho không gian năng lượng hoại diệt vô cùng lớn xung quanh bên ngoài tinh cầu bị nổ theo. Năm nhóm năng lượng trong tinh cầu sau vụ nổ đã giải phóng ra bên ngoài tạo thành không gian rộng lớn của năm nhóm năng lượng khổng lồ. Không gian năm nhóm năng lượng khổng lồ do có cơ chế liên kết dây, do có quay tròn nên quay tròn xung quanh lõi của không gian năm nhóm năng lượng.        Vụ nổ đã làm cho năng lượng hoại diệt bị tiêu hao quá lớn. Vụ nổ cũng cung cấp nhiệt lượng vô cùng lớn và giá trị để giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên kiến thiết, xây dựng thành các dạng sống, thành Vũ trụ như ngày nay với vô số khối thiên hà.

 

Như vậy, cội nguồn của Vũ trụ là một hành trình dài vô tận để có được sự sống của Vũ trụ như ngày nay. Hạt sóng xanh được gọi là cội nguồn của Vũ trụ. Năng lượng hoại diệt bị kích nổ sẽ cung cấp năng lượng cho quá trình phát triển Vũ trụ trở nên bền vững và lớn mạnh. Năm nhóm năng lượng thông qua cơ chế quay tròn, tam hợp, phân tách liên kết dây để cấu tạo thành tinh cầu Vũ trụ với vô số các khối thiên hà. Vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh đã kiến thiết, xây dựng, phát triển, bảo vệ Vũ trụ phát triển bền vững.

 

 

1.2. Cội nguồn của Tuệ linh

 

Tuệ linh là một cấu trúc năng lượng với vô số hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Tuệ linh có siêu trí tuệ, có khả năng di chuyển và cải tạo trong không gian Vũ trụ.

 

Tuệ linh chính là dạng sống, cấu trúc Tướng giống với hình hài con người. Họ sống chủ yếu tại không gian lõi của Vũ trụ. Tuệ linh chính là Chư thần, Thánh thần, Phật, Thiên Chúa… theo quan điểm tôn giáo. Tuệ linh chính là người ngoài hành tinh, theo cách gọi của khoa học đang tìm kiếm sự sống giống con người ngoài Trái đất. Tuệ linh không phải do các Tuệ linh giao phối sinh ra. Tuệ linh được sinh ra là do cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương hợp lại thành phôi âm dương (Trụ linh) và hình thành Tuệ linh.

 

Vậy, cội nguồn của dạng sống Tuệ linh? – Cội nguồn của dạng sống Tuệ linh được chia làm hai hành trình:

 

Vị Tuệ linh đầu tiên được hình thành cùng lúc và song song với sự hình thành tinh cầu năng lượng của Vũ trụ. Đó là, khi phôi năng lượng âm dương của Vũ trụ được hình thành thì đó chính là phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh đầu tiên. Khi phôi năng lượng đó hình thành và phân tách liên kết trong môi trường có năng lượng hoại diệt bị kích nổ bên ngoài màng bọc chân tâm, phôi năng lượng đó giải mã, mã hóa thông tin toàn diện môi trường xung quanh để phân tách ra năm nhóm hạt năng lượng tận cùng để cấu tạo thành tinh cầu Vũ trụ. Quá trình phân tách đó đồng thời diễn ra quá trình liên kết những hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp nhất, tinh hoa nhất để cấu tạo thành Trụ linh trưởng thành và sau này là hình hài một vị Tuệ linh sống trong tinh cầu năng lượng đó. Khi vụ nổ xảy ra, vị Tuệ linh đầu tiên đứng giữa không gian lõi của không gian năm nhóm năng lượng khổng lồ. Như vậy, vị Tuệ linh đầu tiên được hình thành từ hai hạt sóng xanh chuyển sinh thành. Đó là hai hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường có sóng điện âm và dương để giải mã, mã hóa thông tin và nâng cấp cấu trúc trí tuệ thành hạt năng lượng tận cùng. Sau đó hai hạt năng lượng âm dương tận cùng này liên kết với nhau để cấu tạo thành phôi năng lượng âm dương của vị Tuệ linh đầu tiên và cũng là của Vũ trụ. Có thể nói, Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên này lưu giữ toàn bộ sợi mã sóng trí tuệ của cả tinh cầu năm nhóm năng lượng. Đây là điều đặc biệt và duy nhất chỉ có vị Tuệ linh đầu tiên có, điều mà dạng sống Tuệ linh được hình thành sau này không có được.

 

       Sau vụ nổ năng lượng, vị Tuệ linh đầu tiên bắt đầu kiến thiết, xây dựng các dạng sống trong toàn bộ Vũ trụ. Vị Tuệ linh đầu tiên đã phân năm nhóm năng lượng thành 3 nhóm để kiến thiết và xây dựng. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp được kết tụ tại lõi không gian năm nhóm hạt năng lượng Vũ trụ để tạo thành các phôi năng lượng âm dương để chuyển sinh thành vô số các Tuệ linh. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp được cấu tạo thành vật chất vận hành Vũ trụ. Năm nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn được cấu tạo thành vật chất giản đơn để tạo thành các khối thiên hà. Dạng sống Tuệ linh chính là siêu vật chất. Dạng sống Tuệ linh được hình thành từ những hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp và được dưỡng tại lõi của Vũ trụ, thông qua cơ chế phân tách liên kết, quay tròn, tam hợp, giải mã và mã hóa thông tin để chuyển sinh thành Trụ linh và thành các em bé Tuệ linh. Các Tuệ linh được sinh ra đều được vị Tuệ linh đầu tiên dẫn dắt, dạy dỗ và cùng nhau xây dựng Vũ trụ lớn mạnh như ngày nay. Như vậy, dạng sống Tuệ linh được sinh ra từ những hạt năng lượng tận cùng đã được phân tách từ Trụ linh của vị Tuệ linh đầu tiên. Đây là điều dễ hiểu khi các Tuệ linh không có được sức mạnh giải mã thông tin, xử lý thông tin, phát triển cũng như sức mạnh như vị Tuệ linh đầu tiên.

 

Có thể nói, cội nguồn của dạng sống Tuệ linh được bắt nguồn từ phôi năng lượng âm dương của Vũ trụ. Phôi năng lượng âm dương của Vũ trụ được hình thành từ hai hạt sóng xanh. Năng lượng hoại diệt là nguồn cung nhiệt lượng cho quá trình hình thành, phát triển của Vũ trụ và Tuệ linh.

 

1.3. Cội nguồn của con người

 

Con người là dạng sống vật chất giản đơn. Trong cơ thể con người là tổng hợp của vô số các nhóm cấu trúc tế bào chức năng được phân tách và liên kết tạo thành cơ thể hoàn chỉnh. Đó là da, tóc, xương, mỡ, thịt, máu, gân, mạch, tim, phổi, gan, mắt, tai, mũi, miệng, răng, đầu, thân, chân, tay… Những tế bào chức năng được mã hóa thông tin với sứ mệnh nhiệm vụ riêng để cấu tạo thành con người hoàn chỉnh. Có thể nói, con người là bản thu nhỏ của Vũ trụ. Mỗi tế bào trong cơ thể con người lại được cấu tạo bởi vô số phân tử nhỏ hơn, mỗi phân tử lại được cấu tạo bởi vô số nguyên tử nhỏ hơn, mỗi nguyên tử lại được cấu tạo bởi vô số hạt năng lượng tận cùng có sóng điện âm – dương – trung tính.

 

Để thấu hiểu hơn về cội nguồn con người, chúng ta cần tìm hiểu một chút về nước. Khi hiểu được điều này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khoa học và rõ ràng về cội nguồn cũng như sự hình thành của con người. Đó là, biển nước được hình thành từ vô lượng giọt nước, mỗi một giọt nước được hình thành từ vô số phân tử nước, mỗi một phân tử nước lại được hình thành từ hai nguyên tử hiđro và một nguyên tử oxy. Con người không thể nhìn được bằng mắt thường, không sờ thấy được các nguyên tử này bởi chúng quá nhỏ. Tiếp đến, mỗi một nguyên tử oxy hay hiđro lại được hình thành, cấu tạo từ vô số hạt năng lượng tận cùng để tạo ra các hạt năng lượng âm tổng hợp, dương tổng hợp, trung tính tổng hợp. Như vậy, nước được cấu tạo từ vô số các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn. Các cấu trúc liên kết của những hạt năng lượng tận cùng có sự mã hóa thông tin và có sứ mệnh khác nhau cũng như tế bào của con người vậy. Vậy, khi tế bào con người mổ xẻ tới hạt năng lượng tận cùng thì chúng ta cũng không thể nhìn thấy hay sờ thấy được. Chúng ta chỉ nhìn được những cấu trúc vật chất lớn và tốc độ rung động chậm.

 

Vậy cội nguồn con người được hành thành như sau:

 

       Quá trình dạng sống Tuệ linh được sinh ra, trưởng thành, họ xây dựng, kiến thiết phát triển các dạng sống trong Vũ trụ từ năm nhóm năng lượng sau vụ nổ, chính vì đó mà hình thành Vũ trụ với vô số khối thiên hà như ngày nay. Tuy nhiên, quá trình Vũ trụ phát triển thì dạng sống của năng lượng hoại diệt cũng lớn mạnh vượt bậc về số lượng. Năng lượng hoại diệt xâm nhập vào bên trong Vũ trụ để truy tìm các cấu trúc vật chất có sóng điện âm nhằm xả sóng điện dư thừa. Chính vì các cấu trúc năng lượng âm có bản chất là hút về nên đây là điều năng lượng hoại diệt cần để chúng tự cứu chính chúng. Nếu không xả bỏ sóng điện dư thừa thì chúng sẽ bị kích nổ mà hoại diệt. Trong Vũ trụ hình thành các cơn bão năng lượng hoại diệt. Những cơn bão năng lượng hoại diệt đã làm cho vô số Tuệ linh bị phân rã và hoại diệt khi gặp phải. Không những vậy, các hành tinh, các cấu trúc vật chất trong Vũ trụ cũng bị phân rã khi bị các cơn bão năng lượng hoại diệt càn quét qua. Nguyên nhân dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt nhiều là do khả năng giải mã, mã hóa thông tin trong quá trình hình thành và phát triển còn hạn chế nên không có khả năng miễn dịch cũng như chuyển hóa được năng lượng hoại diệt. Chính vì điều đó, dù dạng sống Tuệ linh đã tìm mọi phương pháp để giúp cho chính họ có khả năng miễn dịch cũng như chuyển hóa được năng lượng hoại diệt, nhưng tất cả đều chưa có kết quả. Dạng sống Tuệ linh tồn tại trong một trạng thái an lạc bên trong Vũ trụ nên chưa trải nghiệm đầy đủ các môi trường tương tác khác nhau. Trong khi đó, năng lượng hoại diệt lại tồn tại bên ngoài tinh cầu Vũ trụ. Chính vì điều này, dù dạng sống Tuệ linh có an lạc cũng không đủ khả năng miễn dịch và chuyển hóa năng lượng hoại diệt. Có thể nói, dạng sống Tuệ linh chưa bộc phát được khả năng phản vệ, triệt tiêu năng lượng hoại diệt nên dễ dàng bị phân rã bởi năng lượng hoại diệt.

 

      Vị Tuệ linh đầu tiên thấy rõ được những hạn chế của cả dạng sống Tuệ linh: Chưa tương tác trong đầy đủ các môi trường khác nhau, chưa giải mã, mã hóa được đầy đủ các thông tin của vạn vật và các môi trường hoàn chỉnh. Chính vì vậy, vị Tuệ linh đầu tiên cùng dạng sống Tuệ linh đã nghiên cứu và xây dựng môi trường tu hành cho dạng sống Tuệ linh. Môi trường đó phải đảm bảo quy tụ, mô phỏng được các môi trường sóng điện tương tác của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ để Tuệ linh tương tác và giải mã. Đặc biệt, dạng sống Tuệ linh sẽ phải an trụ và hòa nhập trong thân tướng giản đơn để đẩy nhanh tốc độ tương tác cũng như giải mã và mã hóa thông tin chân thật nhất. Tuệ linh sẽ hóa thân thành thân tướng con người để thực hiện hành trình đi tìm con đường tự cứu mình và Vũ trụ. Đó là hành trình đi tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ tại nhân gian.

 

      Thời cơ để đưa các Tuệ linh hóa thân làm con người đã chín muồi, sự chín muồi bởi dạng sống muông thú đã được thử nghiệm trước để xem quá trình chuyển sinh có đạt được điều mong muốn của các Tuệ linh không. Khi kết quả đã đạt được chính là thời điểm mà Tuệ linh được tập kết để hóa thân thành con người.       Các Tuệ linh hóa thân thành con người được bắt đầu tại các cuộc tập kết ở Trái đất. Vậy Tuệ linh làm thế nào để hóa thành con người? – Các Tuệ linh được tuyển chọn sẽ đều tới Trái đất trong ngày hội chuyển sinh này. Họ vận hành, di chuyển các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn của năm nhóm hạt năng lượng kết tụ vào cấu trúc Tuệ linh của họ. Những nhóm hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ khác nhau được cấu tạo và mã hóa thành những tế bào chức năng khác nhau trong cơ thể con người. Cơ thể con người đã được hợp nhất bởi cấu trúc năng lượng siêu phức tạp của Tuệ linh và cấu trúc năng lượng giản đơn trong Vũ trụ hợp lại. Để cấu tạo thành một con người hoàn chỉnh thì cần vô số năm nhóm hạt năng lượng tận cùng giản đơn kết tụ lại. Đây là lần duy nhất dùng phương pháp này. Sau lần tập kết nhân loại đó, các Tuệ linh luân hồi làm con người sẽ tuân thủ thông qua cơ chế sinh sản của con người.

 

       Các muông thú từ trước và sau khi xuất hiện con người đều được hình thành như con người cho từng giống loài. Tuy nhiên, muông thú thay vì Tuệ linh an trụ sẽ là linh hồn (cấu trúc năng lượng phức tạp) an trụ để hợp nhất với các năng lượng giản đơn cấu tạo thành. Sau đó, chúng cũng sẽ tuân thủ sinh sản giống con người để phát triển giống loài đó.

 

       Sau này, khi linh hồn các con thú đã phát triển đạt được khả năng làm người bởi quá trình giải mã và mã hóa thông tin, họ sẽ được hóa thân làm con người thông qua quá trình luân hồi và sinh sản.

 

Như vậy, cội nguồn con người có hai nguồn. Đó là từ dạng sống Tuệ linh và từ linh hồn muông thú hóa thành. Dạng sống Tuệ linh là xuống Trái đất để tu hành. Dạng sống linh hồn của muông thú được con người thuần hóa và giúp chuyển sinh thành con người. Cả hai đang sống cùng nhau mà không nhận biết về nhau.

 

 

  Cấu trúc của Vũ trụ, Tuệ linh và con người

 

  1. Các nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Không gian bên trong và bên ngoài Vũ trụ có 5 nhóm vật chất. Không gian bên ngoài Vũ trụ có 2 nhóm vật chất (nhóm vật chất cội nguồn, nhóm vật chất hoại diệt) và không gian bên trong Vũ trụ có 3 nhóm vật chất (nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất). Ba nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ từ năm nhóm hạt năng lượng tận cùng sau vụ nổ của tinh cầu năng lượng khổng lồ.

 

Năm nhóm vật chất bao trùm trong và ngoài Vũ trụ như sau:

 

Nhóm vật chất cội nguồn: Đây là nhóm hạt sóng xanh nõn chuối. Bản chất của loại hạt sóng này là chúng chưa chuyển sinh thành loại hạt năng lượng nào cả. Do quá trình di chuyển và sứ mệnh của chúng mà chúng đã phân tách rồi chuyển sinh thành nhóm vật chất hoại diệt (năng lượng hoại diệt). Đặc biệt là thông qua nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt bị kích nổ, hạt sóng xanh di chuyển vào môi trường đó và chuyển sinh thành phôi năng lượng âm dương. Đó là khởi đầu cho sự hình thành 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Chính vì vậy, nhóm hạt sóng xanh được gọi là nhóm vật chất cội nguồn của trong và ngoài Vũ trụ. Nhóm vật chất cội nguồn cùng nhóm vật chất hoại diệt tồn tại trong không gian vô tận bên ngoài tinh cầu Vũ trụ.        Nhóm vật chất hoại diệt: Đây là nhóm năng lượng hoại diệt. Nhóm năng lượng hoại diệt là những hạt năng lượng tận cùng được chuyển sinh từ những hạt sóng xanh. Năng lượng hoại diệt do không liên kết để nâng cấp cấu trúc nên chúng chỉ là hạt đơn độc lập hình elip. Bản chất của loại vật chất hoại diệt này là làm phân rã và đồng hóa các cấu trúc vật chất khác. Năng lượng hoại diệt khi bị kích nổ sẽ tạo ra nhiệt lượng lớn và giá trị vô cùng cho quá trình phát triển bền vững của Vũ trụ. Nhóm vật chất hoại diệt cùng nhóm vật chất cội nguồn tồn tại ở không gian vô tận bên ngoài tinh cầu Vũ trụ.

 

      Nhóm vật chất giản đơn: Đó là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những phôi năng lượng âm dương được liên kết bởi các hạt năng lượng âm dương tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng âm dương tổng hợp mở rộng mang mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những cấu trúc Trụ linh có mã sóng trí tuệ giản đơn liên kết lại tạo thành những nguyên tử. Đó là những cấu trúc phân tử được liên kết từ những nguyên tử có mã sóng trí tuệ giản đơn. Đó là những tế bào. Đó là những vật chất rắn, vật chất lỏng, vật chất khí, là cỏ cây, đất đá, kim loại, động vật, con người, muông thú, hành tinh, khối thiên hà, tất cả các khối thiên hà tạo thành hình hài của Vũ trụ.

 

      Nhóm vật chất phức tạp: Đó là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt năng lượng có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài có mã sóng trí tuệ phức tạp. Đó là những cấu trúc năng lượng phức tạp trưởng thành – linh hồn an trụ trong cây, trong đất đá, trong muông thú. Đó là những trường năng lượng vận hành sự vận động của Vũ trụ. Nhóm vật chất phức tạp là năng lượng vận hành nhóm vật chất giản đơn.

 

      Nhóm siêu vật chất: Đó là những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính của 5 nhóm hạt có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc phôi năng lượng âm dương có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc Trụ linh trưởng thành với 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Đó là những cấu trúc Tuệ linh. Đó là những cấu trúc linh hồn được nâng cấp chuyển sinh từ linh hồn muông thú. Đó là các siêu hạt năng lượng (siêu hạt bóng hỏa, siêu hạt vàng óng ánh, siêu hạt xanh ngọc lưu ly, siêu hạt chân tâm) được Tuệ linh phân tách ra nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

Trong 5 nhóm vật chất: Nhóm vật chất cội nguồn (hạt sóng xanh) là cội nguồn chuyển sinh thành tất cả các nhóm vật chất khác. Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm vật chất cung ứng nhiệt lượng để cho nhóm vật chất cội nguồn chuyển sinh thành 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ. Nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp, nhóm siêu vật chất là thành tựu, là tinh hoa của quá trình chuyển sinh từ nhóm vật chất cội nguồn (phôi âm dương được chuyển sinh từ hai hạt sóng xanh). Nhóm siêu vật chất có sứ mệnh là vận hành tất cả các nhóm vật chất hoại diệt, vật chất giản đơn, vật chất phức tạp cùng phát triển bền vững. Để tạo ra sự phát triển bền vững cho các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh là dạng sống của siêu vật chất có sứ mệnh sản sinh ra các siêu hạt năng lượng. Những siêu hạt năng lượng cũng là siêu vật chất. Nó có sứ mệnh duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

2.2. Cấu trúc nền vận hành Vũ trụ

 

Cấu trúc nền vận hành Vũ trụ chính là một dạng cấu trúc được liên kết giữa các hạt năng lượng tổng hợp với nhau và bao trùm trong toàn bộ không gian trong tinh cầu Vũ trụ.

 

Cấu trúc nền được liên kết đa chiều bởi vô lượng cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp như sau:

       Trong cấu trúc nền 16 hạt này gồm có 8 hạt năng lượng có sóng điện dương, có 8 hạt năng lượng có sóng điện âm. 


     Tám hạt năng lượng có sóng điện dương sẽ được liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành 8 đỉnh của hình lập phương. Hạt năng lượng chân tâm làm nhiệm vụ liên kết.

 

      Tám hạt năng lượng có sóng điện âm sẽ rung lắc tạo thành hạt năng lượng vệ tinh xung quanh 8 hạt năng lượng dương.

 

      Hạt năng lượng dương là hạt tổng hợp, được liên kết lại bởi nhiều hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện dương siêu nhẹ. Do các hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện dương siêu nhẹ, tốc độ quay thuận chiều kim đồng hồ nhẹ nên khi hợp lại thành hạt tổng hợp, sóng điện dương của hạt tổng hợp cũng là siêu nhẹ. Màu của trạng thái năng lượng hạt dương tổng hợp là màu trắng đục ngà.

 

      Hạt năng lượng âm là hạt tổng hợp, được liên kết lại bởi nhiều hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện âm siêu nhẹ. Do các hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện âm siêu nhẹ, tốc độ quay ngược chiều kim đồng hồ nhẹ nên khi hợp lại thành hạt tổng hợp, sóng điện âm của hạt tổng hợp cũng là siêu nhẹ. Màu của trạng thái năng lượng hạt âm tổng hợp là màu trắng xám.

 

Trong cấu trúc nền này, mỗi hạt năng lượng âm làm nhiệm vụ rung lắc để thu hút tín hiệu cho dạng vật chất phức tạp và siêu vật chất nhận diện được điểm đến, tức là nhận diện được đích tới. Mỗi hạt năng lượng dương làm địa điểm để tới và đồng thời làm nhiệm vụ đẩy, chuyển nối tiếp thông tin đi trong cấu trúc nền. Có thể hiểu rằng, cấu trúc nền có tác dụng: Hạt năng lượng dương là đẩy chuyển tiếp thông tin, hạt chân tâm là đường truyền, còn hạt năng lượng âm là tín hiệu thu hút để vật chất phức tạp và siêu vật chất di chuyển trong khắp không gian Vũ trụ.

 

Cấu trúc nền có trung tâm là ở lõi của Vũ trụ, đó là nơi dạng sống Tuệ linh (siêu vật chất) an trụ. Từ đó, cấu trúc 16 hạt sẽ được phân tách thành vô lượng cấu trúc 16 hạt như vậy từ trung tâm ra các chiều không gian. Sự phân tách và liên kết vô tận đó đã bao trùm toàn bộ tinh cầu Vũ trụ.

 

Tất cả dạng vật chất giản đơn, dạng vật chất phức tạp và dạng siêu vật chất đều tồn tại, sống trong cấu trúc nền này. Sự di chuyển thành quỹ đạo của các hành tinh, của các hệ mặt trời, của các dải thiên hà, của các khối thiên hà, của cả toàn bộ Vũ trụ đều dựa trên cấu trúc nền này. Năm nhóm năng lượng của vật chất phức tạp và các siêu hạt năng lượng sẽ di chuyển trong cấu trúc nền này để liên kết tới các hành tinh, vật chất, toàn bộ Vũ trụ để vận hành toàn bộ Vũ trụ vận động theo quỹ đạo nhất định, đó là quỹ đạo quay tròn. Dạng sống Tuệ linh (siêu vật chất) sẽ phân tách hạt năng lượng di chuyển trong cấu trúc nền, vận hành năng lượng trong cấu trúc nền này để xây dựng sự phát triển, tồn tại cho Vũ trụ.

 

Tuệ linh, Linh hồn cũng phải thông qua cấu trúc nền mới có thể di chuyển được trong Vũ trụ. Bởi cấu trúc nền sẽ giúp cho Tuệ linh, Linh hồn xác định được phản hồi tín hiệu dựa trên các hạt năng lượng âm trong cấu trúc. Di chuyển tới điểm đến được chính xác cũng như dễ dàng vì có các hạt năng lượng dương và liên kết của chúng.

 

Các hạt năng lượng trong cấu trúc nền có mã sóng trí tuệ phức tạp. Do đó, con người không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Cấu trúc nền được vị Tuệ linh đầu tiên và dạng sống Tuệ linh xây dựng để vận hành được tất cả các dạng sống trong tinh cầu Vũ trụ được dễ dàng. Để việc vận hành Vũ trụ dễ dàng, để việc truyền tải sóng điện, truyền tải năng lượng, truyền tải thông tin được dễ dàng thì đó chính là lý do mà vị Tuệ linh đầu tiên cùng dạng sống Tuệ linh kiến tạo cấu trúc nền chỉ là những hạt năng lượng chớm sóng điện âm và chớm sóng điện dương.

 

 

2.3. Cấu trúc Tam hợp của Vũ trụ

 

Tinh cầu Vũ trụ được cấu tạo bởi 3 nhóm vật chất, đó là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất. Ba nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ được gọi là cấu trúc tam hợp của Vũ trụ. Tức là ba cấu trúc này tồn tại hợp nhất với nhau mà không tách rời, tồn tại trong nhau, nương tựa nhau để cùng phát triển bền vững.

 

Tam hợp của Vũ trụ như sau:

 

      Nhóm vật chất giản đơn với vô số các khối thiên hà được sắp xếp tầng tầng lớp lớp từ không gian lõi bao trùm toàn bộ tinh cầu Vũ trụ khổng lồ. Đây là hình tướng của Vũ trụ.

 

       Năm nhóm năng lượng và các siêu hạt năng lượng được vận hành từ không gian lõi của Vũ trụ lan tỏa tạo thành những tia năng lượng được liên kết dây tới tất cả các hành tinh, các khối thiên hà của toàn bộ Vũ trụ. Nhiệm vụ của năm nhóm năng lượng và các siêu năng lượng là an trụ trong toàn bộ hình tướng của Vũ trụ để thúc đẩy hình tướng được phân tách và giãn nở theo hướng bền vững; tiếp theo là vận hành hình tướng Vũ trụ quay tròn để sinh nhiệt, kích nổ được năng lượng hoại diệt cũng như giúp cho hình tướng Vũ trụ phân tách liên kết bền vững.

 

      Trí tuệ của Vũ trụ chính là dạng sống Tuệ linh. Dạng sống Tuệ linh được gọi là trí tuệ của cả Vũ trụ. Dạng sống Tuệ linh vận hành nhóm vật chất phức tạp để giúp cho hình tướng Vũ trụ được hình thành và phát triển bền vững.

 

Ba nhóm vật chất này tồn tại trong nhau, nương tựa nhau để phát triển trong sự không thể tách rời. Nhóm siêu vật chất và Tuệ linh muốn tồn tại và phát triển phải nương tựa nhóm vật chất giản đơn. Nhóm vật chất giản đơn muốn tồn tại và phát triển được phải nhờ có nhóm siêu vật chất, Tuệ linh vận hành và được nhóm vật chất phức tạp an trụ. Nhóm vật chất phức tạp muốn tồn tại và phát triển được phải có nhóm siêu vật chất, Tuệ linh vận hành và được an trụ trong nhóm vật chất giản đơn.

 

2.4. Cấu trúc Vũ trụ quay tròn

 

Cả tinh cầu Vũ trụ đều vận động quay tròn. Cụ thể như

 

sau:

 

      Hạt năng lượng tận cùng của cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ (giản đơn, phức tạp và siêu phức tạp) đều vận động quay tròn xung quanh chính nó. Hạt năng lượng âm quay ngược chiều kim đồng hồ, hạt năng lượng dương quay thuận chiều kim đồng hồ. Mỗi hạt năng lượng tận cùng vận động quay tròn để tạo thành cơ chế liên kết dây. Có cơ chế liên kết dây mới cấu tạo thành các cấu trúc vật chất có trí tuệ và độ phức tạp cao hơn.

 

Phôi năng lượng âm dương của cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ đều vận động quay tròn. Đó là sóng điện âm dương trong phôi năng lượng tuần hoàn với nhau để thực hiện quá trình giải mã và mã hóa thông tin. Khi đủ lượng thông tin sẽ thực hiện cơ chế phân tách và liên kết các hạt năng lượng.

 

      Trụ linh và các cấu trúc như con người, muông thú, Tuệ linh, linh hồn, cây cối, đất đá… đều vận động quay tròn. Đó là trạng thái năng lượng, sóng điện dương tuần hoàn trong toàn bộ cấu trúc dựa trên đường truyền chân tâm. Quá trình quay tròn tuần hoàn sóng điện dương sẽ phải thông qua hệ thống hạt năng lượng âm rung lắc tại mỗi điểm cụm hạt năng lượng âm dương trong cấu trúc. Việc từ Trụ linh cho tới Tuệ linh, con người, muông thú, cỏ cây, linh hồn, đất đá… vận động tuần hoàn sóng điện âm dương sẽ giúp cho toàn bộ cấu trúc giải mã và mã hóa thông tin đầy đủ cho quá trình phân tách và liên kết hạt năng lượng. Bên cạnh đó, việc tuần hoàn sóng điện sẽ giúp cho cấu trúc đó có nhiệt lượng dương để phân tách liên kết theo hướng bền vững.

 

      Các hành tinh đều vận động quay tròn. Mỗi hành tinh đều có cấu trúc sóng điện âm, dương, trung tính, đặc biệt lại được sự vận hành từ dạng sống Tuệ linh và năng lượng phức tạp nên các hành tinh quay tròn xung quanh chính nó để làm nhiệm vụ chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành nhiệt lượng lớn cho quá trình phân tách giãn nở của các hành tinh.

 

      Hệ mặt trời đều vận động quay tròn. Đó là các hành tinh có đa sóng điện âm sẽ quay tròn xung quanh mặt trời. Mỗi hành tinh đều quay tròn xung quanh chính nó và quay tròn xung quanh hệ mặt trời là do dạng sống Tuệ linh vận hành năng lượng phức tạp tạo thành. Khi các hành tinh đa sóng điện âm quay tròn xung quanh hệ mặt trời sẽ tạo thành ngày đêm, ban đêm sẽ đa năng lượng âm để thu hút năng lượng hoại diệt, ban ngày sẽ đón được sóng điện dương của mặt trời để ngủ đông hoặc kích nổ năng lượng hoại diệt. Hệ mặt trời quay tròn nhằm nhiệm vụ chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành nhiệt lượng dương cho quá trình giãn nở và phát triển bền vững của Vũ trụ.

 

      Các dải thiên hà đều vận động quay tròn xung quanh nó trong mỗi khối chứa đựng các dải thiên hà. Cả tinh cầu khổng lồ với vô số khối thiên hà được sắp xếp tầng tầng lớp lớp từ trong lõi ra ngoài đều vận động quay tròn xung quanh lõi của Vũ trụ. Tinh cầu Vũ trụ quay tròn nhằm tạo ra nhiệt lượng cho quá trình duy trì sự tồn tại, sinh nhiệt để thực hiện được cơ chế phân tách và liên kết bền vững. Đặc biệt, việc vận động quay tròn sẽ tuần hoàn được năng lượng khắp Vũ trụ, sẽ giúp chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành nhiệt lượng giúp cho toàn bộ 3 dạng vật chất trong Vũ trụ đều phát triển bền vững. Hệ thống cấu trúc năng lượng âm, vật chất đa âm trong Vũ trụ sẽ làm nhiệm vụ rung lắc để thu hút năng lượng hoại diệt xâm nhập vào, tiếp đó là hệ thống năng lượng dương, cấu trúc vật chất đa dương sẽ tỏa sóng điện dương để kích nổ năng lượng hoại diệt.

 

Như vậy, cấu trúc Vũ trụ vận động quay tròn chính là nhà máy khổng lồ hấp thụ năng lượng hoại diệt để kích nổ và chuyển hóa nhiệt lượng cho quá trình tồn tại, phát triển bền vững. Trong nhà máy khổng lồ đó, mỗi con người, Tuệ linh, cỏ cây, linh hồn, đất đá, Trụ linh, phôi năng lượng âm dương đều là những nhà máy nhỏ để chuyển hóa năng lượng hoại diệt. Những cấu trúc, dạng sống nào chưa chuyển hóa, chưa vận hành được cơ chế chuyển hóa sẽ phải học cách để chuyển hóa, đó là học cách chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đây là điều mà dạng sống Tuệ linh đang tu hành trong thân tướng con người để học và chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, để chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành các siêu năng lượng tốt cho sự phát triển của cả Vũ trụ.

 

 

2.5. Cấu trúc Vũ trụ đều là thông tin

 

Vũ trụ có 3 nhóm vật chất là giản đơn, phức tạp và siêu vật chất. Ba nhóm vật chất này đều được cấu tạo từ hạt năng lượng tận cùng. Trong mỗi hạt năng lượng tận cùng lại có sợi mã sóng trí tuệ và nhiệt lượng được lưu giữ bên trong. Sợi mã sóng trí tuệ chính là sợi lưu giữ thông tin được giải mã và mã hóa trong quá trình vận động. Như vậy, cả Vũ trụ đều là thông tin. Vũ trụ chứa đựng lượng thông tin vô cùng vĩ đại. Tuệ linh, con người… đều là cấu trúc chứa đựng khối lượng thông tin vô cùng lớn.

 

Thông tin của Vũ trụ được phân chia theo cấp độ từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu phức tạp:

 

      Thông tin giản đơn chính là nhóm vật chất giản đơn. Thông tin giản đơn vì sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng tận cùng có nhịp rung động giản đơn và chậm. Chính vì nhịp sóng rung động giản đơn và chậm nên nó chỉ ghi, lưu giữ được lượng thông tin ít và giản đơn trong sợi. Vì thông tin giản đơn nên nhóm vật chất giản đơn không tự di chuyển được mà phải nhờ tới nhóm vật chất phức tạp và siêu phức tạp.

 

      Thông tin phức tạp chính là nhóm vật chất phức tạp. Thông tin phức tạp vì sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng tận cùng có nhịp rung động mạnh, nhiều nhịp và phức tạp. Chính vì thế, sợi mã sóng trí tuệ ghi, lưu giữ được lượng lớn thông tin và có độ phức tạp lớn trong sợi. Vì thông tin phức tạp nên nhóm vật chất phức tạp có khả năng vận hành và thúc đẩy Vũ trụ phát triển.

 

      Thông tin siêu phức tạp hay còn gọi là siêu thông tin. Thông tin siêu phức tạp là của dạng sống Tuệ linh và siêu vật chất. Thông tin siêu phức tạp vì sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng tận cùng đã ghi, lưu giữ được lượng thông tin khổng lồ và vô cùng phức tạp bởi nhịp rung động của mã sóng trí tuệ siêu nhanh và nhiều. Chính vì có siêu thông tin trong sợi mã sóng trí tuệ nên dạng sống Tuệ linh, siêu vật chất có siêu trí tuệ nhất Vũ trụ, có khả năng di chuyển và vận hành cả Vũ trụ.

 

Thông tin của Vũ trụ được chia theo đặc tính tốt và độc

 

hại:

 

      Thông tin có đặc tính tốt chính là thông tin được lưu giữ trong sợi mã sóng trí tuệ của các hạt năng lượng dương. Gọi là thông tin tốt bởi vì trong hạt chứa đựng nhiệt lượng, thông tin tích cực để giúp cho vạn vật trong Vũ trụ phát triển bền vững. Nguyên nhân là thông tin tốt vì sợi mã sóng trong hạt năng lượng dương rung động sinh nhiệt dương để kích nổ được năng lượng hoại diệt, để phát triển cấu trúc liên kết bền vững.

 

Thông tin có đặc tính độc hại là thông tin được lưu giữ trong sợi mã sóng trí tuệ của các hạt năng lượng âm. Gọi là thông tin độc hại bởi vì trong hạt chứa đựng nhiệt lượng, thông tin tiêu cực gây phân rã cấu trúc. Nguyên nhân là thông tin độc hại vì sợi mã sóng trong hạt năng lượng âm không kiểm soát được sóng rung động, sẽ dẫn tới việc năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu và di chuyển tới để gây phân rã cấu trúc. Thông tin của Vũ trụ được phân chia theo nhiệm vụ thu, phát và đường truyền tín hiệu:

 

      Hệ thống hạt năng lượng âm trong toàn bộ vật chất của Vũ trụ có nhiệm vụ thu tín hiệu, hút tín hiệu thông tin di chuyển tới cấu trúc.

 

       Hệ thống hạt năng lượng dương trong toàn bộ vật chất của Vũ trụ có nhiệm vụ đẩy chuyển tiếp thông tin di chuyển.

 

      Hệ thống hạt năng lượng chân tâm (trung tính) trong toàn bộ vật chất của Vũ trụ có nhiệm vụ làm đường truyền liên kết giữa các hạt năng lượng dương để thông tin được di chuyển.

 

Như vậy, toàn bộ Vũ trụ là thông tin. Thông tin có độ phức tạp khác nhau, có đặc tính tốt và độc hại khác nhau, có nhiệm vụ khác nhau. Vấn đề là vận hành cũng như kiểm soát thông tin làm sao để Vũ trụ, Tuệ linh, con người phát triển theo hướng bền vững.

 

2.6. Cấu trúc Tuệ linh

 

Cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh chính là cấu trúc tam hợp mà thành Tuệ linh.

 

Tam hợp yếu tố hợp thành Tuệ linh gồm có Trụ – Trí (tổng sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh), Trụ – Tâm (trạng thái năng lượng, sóng điện trong Trụ linh), hình tướng Tuệ linh. Để thấu hiểu 3 yếu tố cấu tạo thành Tuệ linh, chúng ta cần thấu hiểu quá trình hình thành, phát triển của Tuệ linh như sau: đầu tiên là phôi năng lượng âm dương được liên kết lại từ hạt năng lượng âm và dương tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi phôi năng lượng âm dương được hình thành, gọi là Trụ linh gốc. Trụ linh gốc có chứa đựng hai sợi mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây của hạt năng lượng, Trụ linh phân tách ra những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm và dương. Những sợi mã sóng trí tuệ đó được chứa đựng ở Trụ linh gốc. Tiếp đến, những sợi mã sóng trí tuệ đó phân tách thành những hạt năng lượng ra bên ngoài Trụ linh gốc và được cấu tạo thành thái cực chứa đựng hạt năng lượng âm và dương. Trụ linh gốc liên tục phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ lưu giữ trong Trụ linh gốc và thành hạt năng lượng ra thái cực bên ngoài Trụ linh gốc để tạo thành Trụ linh trưởng thành. Như vậy, Trụ linh trưởng thành gồm có Trụ linh gốc bên trong là nơi chứa đựng các sợi mã sóng trí tuệ, hai thái cực năng lượng âm và dương bên ngoài lưu giữ các hạt năng lượng tận cùng được sao chép từ các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc. Sau khi đã tạo ra được nhiều sợi mã sóng trí tuệ ở Trụ linh gốc và nhiều hạt năng lượng tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng, sẽ diễn ra quá trình liên kết và phân tách tiếp. Đó là các hạt năng lượng tận cùng trong thái cực âm, dương liên kết với chính nó để tạo thành những hạt dương tổng hợp và những hạt âm tổng hợp rồi di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc Trụ linh với 16 hạt năng lượng càng được mở rộng đa chiều ra bên ngoài chính là việc Tuệ linh hình thành (khi cấu trúc Trụ linh có 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài) Tuệ linh em bé và Tuệ linh trưởng thành. Trong cấu trúc Tuệ linh gồm có 3 loại hạt năng lượng là âm, dương, trung tính được liên kết với nhau tạo thành cấu trúc năng lượng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp tuần hoàn sóng điện. Vậy tam hợp cấu trúc Tuệ linh cụ thể là:

Yếu tố đầu tiên là Trụ – Trí: Trụ – Trí là tổng các sợi mã sóng trí tuệ được lưu giữ tại Trụ linh gốc (hạt âm và hạt dương gốc) cho tới toàn bộ cấu trúc Tuệ linh. Gọi là Trụ – Trí là để thể hiện được bản chất là trong Trụ linh gốc lưu giữ toàn bộ tổng các sợi mã sóng trí tuệ từ khi Tuệ linh đó được hình thành từ phôi năng lượng âm dương cho tới khi trưởng thành và tới thời điểm đề cập tới. Từ tổng các sợi mã sóng trong Trụ linh gốc sẽ sinh phát ra trạng thái năng lượng và tuần hoàn sóng điện năng lượng đó trong toàn bộ cấu trúc Tuệ linh thông qua các sợi mã sóng trí tuệ bên ngoài Trụ linh.

 

       Yếu tố thứ 2 là Trụ – Tâm: Trụ là tổng các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh gốc; Tâm là trạng thái năng lượng, là sóng điện được sinh phát, lưu giữ trong Trụ linh gốc và hạt năng lượng. Trụ – Tâm là trạng thái năng lượng, sóng điện được sinh phát ra từ Trụ linh gốc (nơi lưu giữ tổng các sợi mã sóng trí tuệ) liên kết, tuần hoàn tới thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm dương và tới toàn bộ cấu trúc hạt năng lượng trong toàn bộ Tuệ linh.

 

      Yếu tố thứ 3, là hình tướng Tuệ linh: Tuệ linh có hình tướng giống con người, hay nói cách khác thì con người là bản sao của các Tuệ linh. Tuệ linh là một cấu trúc liên kết của vô số những hạt năng lượng tận cùng mang sóng điện âm, dương, trung tính có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Do đó, Tuệ linh có thể biến hóa thay đổi hình tướng, thay đổi diện mạo. Cấu trúc hình tướng của Tuệ linh sẽ thay đổi do cấu trúc sóng điện trong Trụ linh của Tuệ linh thay đổi. Đặc tính sóng điện trong Trụ linh gồm có sóng điện dương, có sóng điện âm, có sóng điện trung tính để trung hòa sóng điện âm dương. Cấu trúc vững chắc của Trụ linh chính là Trụ linh trở thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Cấu trúc Trụ linh lỏng lẻo dễ bị hoại diệt Tuệ linh là cấu trúc Trụ linh có sóng điện đa

 

âm.

 

Khi gọi hay nhắc tới Trụ linh, chúng ta hiểu đó là bao gồm Trụ – Trí và Trụ – Tâm.

 

Thông qua cấu trúc cấu tạo thành Tuệ linh, ta thấy trí tuệ của dạng sống Tuệ linh là siêu việt nhất, tinh hoa nhất của tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ. Chính vì vậy, sứ mệnh cải tạo bộ lọc trong Trụ linh để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng là sứ mệnh tiên phong của họ.

 

 

2.7. Cấu trúc con người

 

Cấu trúc cấu tạo thành con người chính là tam hợp cấu tạo thành con người.

 

Ba yếu tố hợp nhất cấu tạo ra con người gồm có, Thân tướng, Tâm (Tuệ linh), Trí tuệ:

      Yếu tố đầu tiên là Thân tướng: Thân tướng được hình thành do duyên người cha và người mẹ. Đó là tinh trùng mang tính dương của người cha và trứng mang tính âm của người mẹ hợp thành phôi thai. Phôi thai nhi sẽ trưởng thành trong bụng người mẹ do cơ chế phân tách tế bào bởi năng lượng, dinh dưỡng và nhiệt độ của người mẹ. Trải qua quãng thời gian khoảng 9 tháng, khi thân tướng em bé đã hoàn thiện, em bé được sinh ra, cất tiếng khóc chào đời.

 

      Yếu tố thứ hai là Tâm: Tâm là trạng thái năng lượng an trụ trong thân tướng để tạo ra, duy trì sự sống cho con người. Khi người mẹ mang thai đến tháng thứ 7, theo luật luân hồi của Hội đồng Tuệ linh thì sẽ có một Tuệ linh được xuống luân hồi đầu thai hoặc Tuệ linh tiếp tục đầu thai sau khi trải qua các kiếp sẽ đi theo bảo vệ bà mẹ và em bé. Hoặc là Linh hồn của muông thú được thuần hóa sau nhiều kiếp là thú lành và giúp đỡ con người, họ sẽ được Hội đồng Tuệ linh giáo hóa và cho đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để thiết nhập đầu thai. Khi em bé chào đời và cất tiếng khóc thì đó là dấu hiệu Tuệ linh hay Linh hồn thiết nhập vào để duy trì sự sống cho thân tướng. Theo luật luân hồi, để Linh hồn của các con thú được phép đầu thai làm con người thì chúng phải được thuần hóa bởi con người; chúng phải giúp đỡ và làm được nhiều việc có lợi ích cho con người; những việc lợi ích đó tạo thành năng lượng dương có sự cân bằng sóng điện âm dương; khi có năng lượng dương và có sự cân bằng sóng điện âm dương mới được phép đầu thai làm người, và mới có đủ năng lượng duy trì sự sống một kiếp người. Tuy nhiên, nhiều linh hồn thú dữ không muốn tuân theo luật luân hồi, nên chúng đi tác động giết hại con người, hấp thụ năng lượng dương để đủ sức mạnh đầu thai trộm; nếu chúng đầu thai trộm thành người thành công, lớn lên chúng sẽ có thiên hướng giết hại, làm điều ác. Nếu linh hồn thú dữ chưa giết hại được người nào mà đầu thai trộm được thì dễ chết yểu do không đủ năng lượng âm dương cân bằng để duy trì sự sống. Khi Tuệ linh hay Linh hồn được đi đầu thai, họ sẽ được chọn quốc gia, dân tộc, dòng họ, cha mẹ để người cha mẹ được gieo duyên có thân tướng thai nhi. Phải đến tháng thứ 7 thì Tuệ linh, Linh hồn mới đi theo để chờ ngày sinh. Vì ở tháng thứ 7, nếu em bé có sinh non thì vẫn đảm bảo sống được, ở tháng thứ 7 người mẹ không thể phá thai được. Như vậy, tháng thứ 7 là đảm bảo điều kiện an toàn cho các Tuệ linh, Linh hồn đi đầu thai được thành công, còn em bé trong bụng mẹ sẽ được Tuệ linh người mẹ bảo vệ và nuôi dưỡng. Dù là Tuệ linh hay Linh hồn khi đầu thai vào con người đều được gọi là Tâm.

 

     Yếu tố thứ 3 là Trí tuệ. Sau khi Tuệ linh hoặc Linh hồn thiết nhập vào em bé vừa chào đời để tạo ra năng lượng duy trì sự sống cho em bé, em bé đó trải qua quá trình lớn lên, học tập, nghiên cứu, lao động, mưu sinh sẽ phát triển tư duy trí tuệ, đúc kết các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý và cải tạo thế giới quan được gọi là Trí tuệ. Bản chất trí tuệ hiện kiếp của con người được phát triển từ hai phần:

 

       Phần thứ nhất là trí tuệ từ tổ hợp mã sóng trí tuệ trong Trụ linh phát ra não bộ. Đây gọi là kinh nghiệm tiền kiếp, cội nguồn. Lượng sợi mã sóng trí tuệ sẽ phát ra tương ứng với sự trưởng thành của con người. Khi còn bé, Trụ linh sẽ phát ra ít lượng sợi trí tuệ. Khi trưởng thành, Trụ linh sẽ phát ra nhiều lượng sợi mã sóng trí tuệ để não bộ nhận diện và có khả năng trau dồi thêm trí tuệ hiện kiếp để cải tạo Trụ linh bền vững hơn.         Phần thứ hai là thông qua tương tác bởi tai, mắt, mũi, miệng, xúc giác với các Tướng. Những thông tin đó được mã hóa thành sóng điện ở não bộ và truyền vào Tuệ linh. Trụ linh sẽ giải mã và thông qua hành động của thân tướng để phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh. Từ Trụ linh, các sợi mã sóng trí tuệ đó lại phân tách ra não bộ. Phần này là do hiện kiếp có được bởi quá trình tương tác giữa các tướng với nhau.

 

Như vậy, trí tuệ của Tuệ linh là siêu trí tuệ lại an trụ, hợp nhất với trí tuệ giản đơn của con người. Điều này giúp cho con người có được siêu trí tuệ an trụ trong cơ thể. Siêu trí tuệ sẽ liên kết để truyền và trau dồi trí tuệ ở não bộ thông qua môi trường tu hành ở nhân gian.

 

 

            Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của 5 nhóm vật chất và Tuệ linh

 

Không chỉ có các nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ là thông tin. Các nhóm vật chất bên ngoài Vũ trụ cũng là thông tin.

 

Giải mã thông tin là quá trình phân tích về bản chất của các cấu trúc vật chất xung quanh, môi trường sóng điện xung quanh trong quá trình tương tác.

 

Mã hóa thông tin là quá trình hấp thụ sóng điện từ môi trường xung quanh, là quá trình ghi lại, là quá trình lưu giữ thông tin của quá trình tương tác vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng.

 

Trong thông tin lại có đặc tính độc và tốt khác nhau, có nhiệm vụ khác nhau, có độ phức tạp khác nhau. Tất cả những đặc tính, nhiệm vụ, độ phức tạp của thông tin đều được cấu tạo thành bởi quá trình giải mã và mã hóa thông tin của năm nhóm vật chất.

 

 

3.1. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của nhóm vật chất cội nguồn

 

Nhóm vật chất cội nguồn là nhóm hạt sóng xanh nõn

 

chuối.

 

Bản chất của hạt sóng xanh là chưa xảy ra quá trình giải mã và mã hóa thông tin.

 

Nguyên nhân:

 

       Hạt sóng xanh chưa vận động đủ để sinh nhiệt và biến đổi thành sợi mã sóng trí tuệ. Chưa có sợi mã sóng trí tuệ nên chưa giải mã và mã hóa được thông tin.

 

     Môi trường trung tính và di chuyển thẳng làm cho hạt sóng xanh chưa biến đổi thành sợi mã sóng trí tuệ để giải mã và mã hóa thông tin.

 

      Sứ mệnh của hạt sóng xanh là chuyển hóa thành các loại năng lượng nên nó chỉ giải mã và mã hóa thông tin khi nó chuyển hóa thành các loại năng lượng trong điều kiện đảm bảo.

 

 

3.2. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của nhóm vật chất hoại diệt

 

Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại diệt.

 

Bản chất nhóm năng lượng hoại diệt giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh.

 

Nguyên nhân:        Hạt sóng xanh di chuyển, vận động trong thời gian dài ở môi trường trung tính nên nó chưa biến đổi thành sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh. Tuy là đã biến đổi thành hạt năng lượng hoàn chỉnh nhưng nhiệt lượng chưa được giải phóng hết nên việc giải mã và mã hóa thông tin cũng không hoàn chỉnh.

 

       Hạt sóng xanh di chuyển thẳng và không quay tròn trong môi trường trung tính nên hạt năng lượng hoại diệt không giải mã cũng như mã hóa được đầy đủ thông tin.

 

Hạt năng lượng hoại diệt được hình thành trong môi trường trung tính và không quay tròn. Do đó, trong quá trình vận động đã không giải mã và mã hóa được đầy đủ thông tin. Đó là năng lượng hoại diệt không giải mã và mã hóa được thông tin của môi trường có sóng điện âm, dương.

 

 

3.3. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của nhóm vật chất giản đơn

 

Nhóm vật chất giản đơn là các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ giản đơn cho tới các nguyên tử, phân tử, tế bào, cỏ cây, đất đá, con người, muông thú, hành tinh, dải thiên hà, khối thiên hà, tinh cầu Vũ trụ.

 

Bản chất nhóm vật chất giản đơn đã giải mã và mã hóa được thông tin tốt hơn nhóm vật chất hoại diệt. Giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn vì đã biến đổi được thành sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh và có cơ chế liên kết dây. Tuy nhiên, xét trong toàn bộ trong và ngoài Vũ trụ thì việc giải mã và mã hóa thông tin vẫn chưa hoàn chỉnh.

 

Nguyên nhân:       Nhóm vật chất giản đơn giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất hoại diệt vì quá trình vận động có quay tròn trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương. Đây chính là điều mà năng lượng hoại diệt không có. Vì giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn năng lượng hoại diệt nên vật chất giản đơn mới liên kết để phát triển cấu trúc vật chất lớn hơn.

 

      Nhóm vật chất giản đơn giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh vì nhóm vật chất này tồn tại trong môi trường không có năng lượng hoại diệt nên không giải mã được năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy thông tin được giải mã và mã hóa chưa hoàn chỉnh khi xét trong và ngoài Vũ trụ.

 

      Nhóm vật chất giản đơn giải mã và mã hóa thông tin chưa được bằng nhóm vật chất phức tạp và siêu vật chất. Nguyên nhân bởi mã sóng rung động trong hạt năng lượng của chúng rất giản đơn. Vì giản đơn nên quá trình vận động để giải mã và mã hóa thông tin cần có siêu vật chất cũng như vật chất phức tạp vận hành, tức là bị phụ thuộc trong quá trình giải mã và mã hóa thông tin.

 

 

3.4. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của nhóm vật chất phức tạp

 

Nhóm vật chất phức tạp là các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ phức tạp cho tới những tầng năng lượng vận hành Vũ trụ, các linh hồn an trụ trong thân cây, trong muông thú và đất đá.

 

Bản chất nhóm vật chất phức tạp đã giải mã và mã hóa được thông tin tốt hơn nhóm vật chất hoại diệt và nhóm vật chất giản đơn. Giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn vì đã biến đổi được thành sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh ở mức độ phức tạp và có cơ chế liên kết dây. Tuy nhiên, xét trong toàn bộ trong và ngoài Vũ trụ thì việc giải mã và mã hóa thông tin vẫn chưa hoàn chỉnh.

 

Nguyên nhân:

 

      Nhóm vật chất phức tạp giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất hoại diệt vì quá trình vận động có quay tròn trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương. Đây chính là điều mà năng lượng hoại diệt không có. Vì giải mã thông tin tốt hơn năng lượng hoại diệt nên vật chất phức tạp mới liên kết để phát triển cấu trúc vật chất lớn hơn.

 

      Nhóm vật chất phức tạp giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh vì nhóm vật chất này tồn tại trong môi trường không có năng lượng hoại diệt nên không giải mã được năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy thông tin được giải mã và mã hóa chưa hoàn chỉnh khi xét trong và ngoài Vũ trụ.

 

      Nhóm vật chất phức tạp giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất giản đơn. Nguyên nhân vì sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng phức tạp có tốc độ, nhịp rung lớn và phức tạp hơn năng lượng giản đơn. Chính vì điều này mà nhóm vật chất phức tạp tự di chuyển để giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất giản đơn.

 

Nhóm vật chất phức tạp giải mã và mã hóa thông tin chưa được bằng nhóm siêu vật chất. Nguyên nhân bởi mã sóng rung động trong hạt năng lượng của chúng mới chỉ là phức tạp. Trong khi đó, nhóm siêu vật chất có mã sóng rung động, nhịp rung, tốc độ đạt siêu phức tạp. Chính vì điều này mà nhóm vật chất phức tạp mã hóa và giải mã thông tin chưa tốt bằng nhóm siêu vật chất. 3.5. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của nhóm siêu vật chất

 

Nhóm siêu vật chất là các hạt năng lượng tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp cho tới Tuệ linh và các siêu hạt năng lượng.

 

Bản chất nhóm siêu vật chất đã giải mã và mã hóa được thông tin tốt nhất trong 5 nhóm vật chất. Giải mã và mã hóa thông tin tốt nhất vì đã biến đổi được thành sợi mã sóng trí tuệ hoàn chỉnh ở mức độ siêu phức tạp và có cơ chế liên kết dây. Tuy nhiên, xét trong toàn bộ trong và ngoài Vũ trụ thì việc giải mã và mã hóa thông tin vẫn chưa hoàn chỉnh.

 

Nguyên nhân:

 

      Nhóm siêu vật chất giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất hoại diệt vì quá trình vận động có quay tròn trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương. Đây chính là điều mà năng lượng hoại diệt không có. Vì giải mã thông tin tốt hơn năng lượng hoại diệt nên nhóm siêu vật chất mới liên kết để phát triển cấu trúc siêu vật chất lớn hơn.

 

      Nhóm siêu vật chất giải mã và mã hóa thông tin chưa hoàn chỉnh vì nhóm vật chất này tồn tại trong môi trường không có năng lượng hoại diệt nên không giải mã được năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy thông tin được giải mã và mã hóa chưa hoàn chỉnh khi xét trong và ngoài Vũ trụ.

 

Nhóm siêu vật chất giải mã và mã hóa thông tin tốt hơn nhóm vật chất phức tạp và nhóm vật chất giản đơn. Nguyên nhân vì sợi mã sóng trí tuệ của năng lượng siêu phức tạp có tốc độ, nhịp rung lớn và siêu phức tạp hơn năng lượng phức tạp và giản đơn. Chính vì điều này mà nhóm siêu vật chất có khả năng di chuyển, vận hành được cả hai nhóm vật chất để giải mã và mã hóa thông tin siêu việt nhất.

 

 

3.6. Bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin của dạng sống Tuệ linh

 

Tuệ linh là dạng sống có trí tuệ siêu việt nhất Vũ trụ. Tuệ linh có sự tuần hoàn sóng điện âm – dương – trung tính và có khả năng di chuyển cũng như cải tạo, phát triển Vũ trụ.

 

Tuệ linh nằm trong nhóm siêu vật chất của Vũ trụ và có khả năng mã hóa cũng như giải mã thông tin tốt nhất. Tuy nhiên, khi đi sâu vào phân tích khả năng giải mã và mã hóa thông tin của dạng sống Tuệ linh sẽ thấy còn rất hạn chế. Những hạn chế đã làm cho dạng sống Tuệ linh bị hoại diệt vô số.

 

Nguyên nhân:

 

      Dạng sống Tuệ linh (không tính vị Tuệ linh đầu tiên) được hình thành và phát triển trong tinh cầu Vũ trụ, quá trình hình thành lại được dưỡng trong không gian lõi của Vũ trụ nên không được giải mã và mã hóa thông tin của năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy, dạng sống Tuệ linh không có thông tin để có khả năng miễn nhiễm loại năng lượng hoại diệt. Do đó, khi gặp năng lượng hoại diệt với số lượng lớn sẽ khiến dạng sống Tuệ linh dễ dàng bị phân rã và hoại diệt. Đây có thể gọi là chết vì thiếu thông tin.

 

      Vì dạng sống Tuệ linh không giải mã và mã hóa được thông tin của năng lượng hoại diệt nên không hiểu bản chất của chúng. Vì không hiểu được bản chất của chúng nên không kiểm soát được sóng điện trong bản thể mình. Đó là không kiểm soát được năng lượng âm rung lắc mạnh. Bởi khi năng lượng âm rung lắc mạnh chính là thời cơ năng lượng hoại diệt xâm nhập vào và hoại diệt dần Tuệ linh.

 

       Vì không hiểu bản chất của năng lượng hoại diệt tương tác với các nhóm vật chất trong Vũ trụ cũng như sự biến đổi cấu trúc vật chất của Vũ trụ, nên dạng sống Tuệ linh lại rơi vào trạng thái không giải mã cũng như mã hóa chính xác tất cả các nhóm vật chất bên trong Vũ trụ. Vì vậy tạo thành sự trở ngại vô cùng trong hành trình bảo vệ, phát triển Vũ trụ.

 

Như vậy, dạng sống Tuệ linh do không giải mã và mã hóa được thông tin của năng lượng hoại diệt, điều này đã dẫn tới việc không giải mã và mã hóa chính xác được thông tin của cả 3 nhóm vật chất trong Vũ trụ khi có sự tương tác với năng lượng hoại diệt. Đây là nguyên nhân dạng sống Tuệ linh bị phân rã và hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt. Điều này giống với việc các tế bào trong cơ thể con người vì không giải mã và mã hóa thông tin của các loại vi rút khi chúng xâm nhập vào cơ thể nên cơ thể không sản sinh ra những tế bào miễn dịch để tiêu diệt vi rút. Chính vì vậy mà con người bị vi rút lây lan và hoại diệt thân xác.

 

Như vậy, sự giải mã và mã hóa thông tin hoàn chỉnh là phải giải mã và mã hóa được đầy đủ thông tin của tất cả quá trình tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau. Nếu nhóm vật chất nào, dạng sống nào làm được điều này sẽ tạo thành cơ chế miễn nhiễm và nâng cấp cấu trúc đạt đến bộ lọc năng lượng viên mãn. Nếu nhóm vật chất nào, dạng sống nào không giải mã và mã hóa được đầy đủ thông tin của tất cả quá trình tương tác cũng như môi trường sóng điện khác nhau thì nguy cơ hoại diệt là vô cùng lớn. Chỉ khi giải mã và mã hóa được hết tất cả thông tin ở tất cả các môi trường sóng điện khác nhau, ở tất cả các tương tác khác nhau mới giúp cấu trúc đó tạo ra được cơ chế chuyển hóa để phát triển bền vững.

 

 

4. Bản chất khổ đau của vạn vật và Tuệ linh

 

Từ cấu trúc và cơ chế vận hành của từng nhóm vật chất, từ bản chất của sự giải mã và mã hóa thông tin trong năm nhóm vật chất và Tuệ linh, từ sự tương tác giữa các nhóm vật chất với nhau trong các môi trường sóng điện khác nhau, tất cả đã tạo thành bản chất khổ đau của vạn vật và dạng sống Tuệ linh.

 

Bản chất tận cùng về khổ đau của tất cả vạn vật là gì? – Đó là sự biến đổi mã sóng trí tuệ theo hướng phân rã và hoại diệt.

 

 

4.1. Bản chất khổ đau của nhóm vật chất hoại diệt

 

Nhóm vật chất hoại diệt là nhóm năng lượng hoại diệt.

 

Bản chất khổ đau của năng lượng hoại diệt là biến đổi mã sóng trí tuệ dẫn đến bị kích nổ và hoại diệt vĩnh viễn. Đó là sợi mã sóng trí tuệ bị sinh phát nhiệt lượng quá nhanh và bị kích nổ nếu những hạt năng lượng tập trung với mật độ lớn. Đó là năng lượng hoại diệt gặp phải năng lượng dương hoặc cấu trúc vật chất đa dương sẽ làm kích nổ năng lượng hoại diệt.

 

Nguyên nhân khổ đau của năng lượng hoại diệt:

 

        Năng lượng hoại diệt được hình thành trong môi trường trung tính và di chuyển thẳng nên sợi mã sóng trí tuệ chưa hoàn chỉnh. Vì sợi mã sóng trí tuệ biến đổi chưa hoàn chỉnh nên chưa có cơ chế liên kết dây với nhau để tuần hoàn sóng điện. Chính vì thế mà sợi mã sóng trí tuệ dễ bị sinh nhiệt nhanh và hoại diệt nếu không kiểm soát được quá trình di chuyển và khoảng cách giữa các hạt năng lượng hoại diệt.

 

      Năng lượng hoại diệt vì hình thành trong môi trường trung tính nên không thể giải mã và mã hóa được thông tin của các nhóm năng lượng, các cấu trúc vật chất được hình thành ở môi trường sóng điện âm dương khác nhau. Vì không thấu hiểu được năng lượng dương, các nhóm vật chất đa dương nên năng lượng hoại diệt dễ dàng bị kích nổ khi di chuyển vào môi trường và vật chất đa sóng điện dương.

 

 

4.2. Bản chất khổ đau của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ

 

Ba nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ là nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất.

 

Bản chất khổ đau của 3 nhóm vật chất này là biến đổi mã sóng trí tuệ của từ hạt năng lượng tận cùng dẫn tới sự phân rã và hoại diệt. Đó là sự mất kiểm soát sóng điện giữa hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương trong cấu trúc để rồi bị phân rã và hoại diệt. Đó là sóng điện âm, dương, trung tính không tuần hoàn nên dẫn tới bị phân rã và hoại diệt. Đó là bị năng lượng hoại diệt phân rã hoại diệt hoặc bị kích nổ mà hoại diệt.

 

Nguyên nhân khổ đau của 3 nhóm vật chất:

 

       Cả 3 nhóm vật chất hình thành và phát triển trong môi trường có sóng điện âm dương nên không có khả năng giải mã, mã hóa thông tin của năng lượng hoại diệt. Chính vì vậy mà không thấu hiểu năng lượng hoại diệt. Do đó, dễ dàng bị năng lượng hoại diệt đồng hóa cũng như kích nổ mà hoại diệt vĩnh viễn.

 

       Những hạt năng lượng âm được hình thành trong môi trường sóng điện âm, những hạt năng lượng dương được hình thành trong môi trường sóng điện dương. Tuy là cả hai đều có cơ chế liên kết dây, nhưng lại không thấu hiểu nhau vì chưa giải mã cũng như mã hóa được đầy đủ thông tin của nhau. Chính vì điều này dẫn tới việc đấu tranh để kiểm soát lẫn nhau của hai loại hạt năng lượng âm và dương.

 

      Khi một nhóm vật chất, một loại hạt có sóng điện nào đó bị nhiễm năng lượng hoại diệt, chúng sẽ bị biến đổi sóng điện và cấu trúc. Điều này làm cho cơ chế liên kết phân tách không có sự bền vững. Khi đó sóng điện không tuần hoàn và dẫn tới quá trình đứt, vỡ cấu trúc.

 

       Cả 3 nhóm vật chất không giải mã và mã hóa được thông tin hoàn chỉnh của nhau và cả nhóm năng lượng hoại diệt. Vì không giải mã và mã hóa được nên không có trí tuệ thấu hiểu đặc tính cũng như độc tố của nhau. Do đó, trong nội tại cấu trúc, nội tại của hạt năng lượng của cả 3 nhóm vật chất không có khả năng kiểm soát và chuyển hóa những độc của nhau và của năng lượng hoại diệt.

 

       Nguyên nhân khổ đau cuối cùng của cả 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ là do hết năng lượng vận hành Vũ trụ quay tròn. Khi Vũ trụ không quay tròn sẽ không tuần hoàn được sóng điện để chuyển hóa được năng lượng hoại diệt. Khi đó năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập ồ ạt và phân rã hoại diệt Vũ trụ vĩnh viễn. 4.3. Bản chất khổ đau của dạng sống Tuệ linh

 

Bản chất khổ đau của dạng sống Tuệ linh là biến đổi sợi mã sóng trí tuệ dẫn tới hoại diệt. Đó là sự mất kiểm soát sóng điện giữa hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương trong cấu trúc Tuệ linh để rồi bị phân rã và hoại diệt. Đó là sóng điện âm, dương, trung tính không tuần hoàn nên dẫn tới bị phân rã và hoại diệt. Đó là bị năng lượng hoại diệt phân rã hoại diệt hoặc bị kích nổ mà hoại diệt.

 

Những nguyên nhân tận cùng, triệt để về khổ đau của dạng sống Tuệ linh:

 

A. Bản chất khổ đau được hình thành từ phôi âm dương gốc của Tuệ linh

 

Các Tuệ linh được hình thành từ sự liên kết giữa hạt năng lượng dương tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp với hạt năng lượng âm tận cùng có mã sóng trí tuệ siêu phức tạp. Khi liên kết giữa hai hạt năng lượng tận cùng xảy ra được gọi là phôi âm dương. Từ phôi âm dương này thông qua cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng đã phát triển thành Trụ linh trưởng thành và Tuệ linh.

 

Bản chất của phôi năng lượng âm dương đều phải được cấu tạo bởi hạt năng lượng âm. Nếu không có hạt năng lượng âm thì không hình thành phôi năng lượng âm dương cũng như Tuệ linh. Hạt năng lượng âm được gọi là Kết.

 

Kết là bản chất mà Tuệ linh phải có để chuyển hóa năng lượng cũng như phát triển. Bởi Kết bao gồm có thu hút tín hiệu, rung lắc, hấp thụ, hút về, lấy về, sở hữu, chiếm hữu, cướp đoạt, giết hại để thỏa mãn. Kết ở mức độ nhẹ và vừa đủ sẽ thúc đẩy được sự phát triển bền vững của Tuệ linh. Tuy nhiên nếu Kết ở mức mạnh sẽ khiến cho Tuệ linh bị mất kiểm soát sóng điện, bị năng lượng hoại diệt chi phối dẫn tới phân rã và hoại diệt.

 

Có 3 nhóm cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh dễ bị phân rã và hoại diệt. Đó là 3 nhóm cấu trúc Trụ linh Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh:

 

      Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu xám với một hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng đục. Trụ linh đa âm mạnh được gọi là Trụ linh Kết mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc mạnh, quay ngược mạnh, hút sóng điện bên ngoài về mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết mạnh. Khi đó Tuệ linh sẽ mất khả năng kiểm soát sóng điện âm, dương, trung tính trong chính mình. Tiếp đến là phân tách mất kiểm soát các hạt năng lượng âm mà không phân tách được năng lượng dương. Cuối cùng năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào gây phân rã và hoại diệt Tuệ linh.

 

       Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết rất mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đen với một hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm rất mạnh được gọi là Trụ linh Kết rất mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc rất mạnh, quay ngược rất mạnh, hút sóng điện bên ngoài về rất mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết rất mạnh. Khi đó Tuệ linh sẽ mất khả năng kiểm soát sóng điện âm, dương, trung tính trong chính mình. Tiếp đến là phân tách mất kiểm soát các hạt năng lượng âm mà không phân tách được năng lượng dương. Cuối cùng năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào gây phân rã và hoại diệt Tuệ linh.

 

      Nhóm cấu trúc Trụ linh Kết siêu mạnh là nhóm cấu trúc Trụ linh được hợp nhất bởi một hạt năng lượng âm tận cùng màu đỏ máu với một hạt năng lượng dương tận cùng màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng đục. Trụ linh đa âm siêu mạnh được gọi là Trụ linh Kết siêu mạnh. Do hạt năng lượng âm rung lắc siêu mạnh, quay ngược siêu mạnh, hút sóng điện bên ngoài về siêu mạnh nên cấu trúc Trụ linh Kết siêu mạnh. Khi đó Tuệ linh sẽ mất khả năng kiểm soát sóng điện âm, dương, trung tính trong chính mình. Tiếp đến là phân tách mất kiểm soát các hạt năng lượng âm mà không phân tách được năng lượng dương. Cuối cùng năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào gây phân rã và hoại diệt Tuệ linh.

 

Cấu trúc Trụ linh của tất cả Tuệ linh trong Vũ trụ Kết ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, đó là các cấu trúc Trụ linh đa âm mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Khi đa âm, tức là lượng hạt năng lượng âm được phân tách ra vô số mà không cấu tạo được thành liên kết vững chắc như những hạt năng lượng dương. Việc không tạo được sự liên kết chặt chẽ sẽ làm cho cấu trúc Trụ linh không có khả năng phòng thủ trước sự tấn công của năng lượng hoại diệt cũng như tác động của các năng lượng âm. Khi năng lượng hoại diệt tấn công sẽ làm cho cấu trúc Trụ linh đó bị đứt liên kết, bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn.

 

B. Bản chất khổ đau do giải mã và mã hóa thông tin hạn chế của Tuệ linh

 

Tuệ linh giải mã và mã hóa thông tin chưa toàn diện và còn hạn chế. Đó là chưa thấu hiểu được bản chất của chính mình, chưa thấu hiểu được bản chất của 3 nhóm vật chất cấu tạo thành Vũ trụ, chưa thấu hiểu được bản chất của năng lượng hoại diệt.

 

Đầu tiên là dạng sống Tuệ linh chưa thấu hiểu chính bản chất của hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương trong phôi âm dương của mình. Tức là dạng sống Tuệ linh chưa giải mã được đầy đủ và chính xác về bản chất phôi năng lượng âm dương của mình. Đó là không thấu hiểu và không nhận diện được trong kịch bản tương tác với môi trường sóng điện như thế nào thì hạt năng lượng âm gốc sẽ phân tách ra hạt mới hay hạt năng lượng dương gốc phân tách ra hạt mới. Vì không thấu hiểu chính mình nên trong quá trình tương tác để hấp thụ nhiệt lượng cho quá trình phân tách liên kết và trưởng thành rất hạn chế. Vì không thấu hiểu chính mình nên khi tương tác trong môi trường sóng điện âm dễ dàng bị nhiễm quá nhiều nhiệt âm mà xảy ra quá trình phân tách nhiều hạt năng lượng âm và không thể phân tách được hạt năng lượng dương. Khi tương tác trong môi trường sóng điện dương mới phân tách ra các hạt năng lượng dương và chân tâm. Khi tương tác với môi trường có năng lượng hoại diệt thì dễ dàng bị năng lượng hoại diệt phân rã hoặc kích nổ trong khi chưa có khả năng phòng thủ cũng như chuyển hóa. Chính vì vậy gọi là không thấu hiểu được điểm yếu và điểm mạnh của chính mình. Tiếp đến là không biết kiểm soát điểm yếu và kích hoạt điểm mạnh của mình trong quá trình tương tác.

 

Tiếp theo dạng sống Tuệ linh không thấu hiểu được bản chất của năng lượng hoại diệt. Vì không giải mã và mã hóa được năng lượng hoại diệt nên không thấu hiểu được điểm mạnh, điểm yếu của năng lượng hoại diệt. Họ không thấu hiểu rằng trong các kịch bản nào của quá trình tương tác sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt xâm nhập và làm phân rã họ. Họ cũng không thấu hiểu trong các kịch bản nào năng lượng hoại diệt sẽ bị kích nổ để chuyển hóa thành nhiệt cho họ thực hiện được phân tách liên kết bền vững. Dạng sống Tuệ linh chưa thấu hiểu điểm mạnh và điểm yếu của mình, thêm nữa lại chưa thấu hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của năng lượng hoại diệt. Do đó, dạng sống Tuệ linh vô cùng sợ hãi năng lượng hoại diệt xâm nhập và làm họ hoại diệt. Sự sợ hãi khiến họ trong quá trình xây dựng và phát triển bản thể mình cùng Vũ trụ luôn trong trạng thái duy trì ở vùng an toàn. Tuy nhiên, khi gặp cơn bão năng lượng hoại diệt thì sẽ không còn vùng an toàn nào cho họ cả. Họ hoại diệt vô số. Sự hoại diệt giống như sự lây nhiễm của một loại vi rút hủy diệt mà chưa có vắc xin đặc trị.

 

Cuối cùng, dạng sống Tuệ linh cũng không thấu hiểu được hết bản chất và đặc tính của tất cả 3 nhóm vật chất, không thấu hiểu bản chất và đặc tính của các nhóm năng lượng âm, dương, trung tính. Đặc biệt hơn nữa, năng lượng hoại diệt xâm nhập vào các cấu trúc vật chất của cả 3 nhóm vật chất. Sự xâm nhập đó làm biến đổi cấu trúc vật chất mà dạng sống Tuệ linh không biết. Dạng sống Tuệ linh chỉ nhận diện được khi cấu trúc vật chất đó bị phân rã. Khi đó, quá trình dạng sống Tuệ linh tương tác với 3 nhóm vật chất trong các môi trường sóng điện khác nhau đã bị năng lượng âm và những cấu trúc vật chất biến đổi chi phối và làm cho cấu trúc Tuệ linh bị nhiễm sóng điện âm và năng lượng hoại diệt mà không biết cũng như không kiểm soát được.

 

Như vậy, từ không thấu hiểu bản chất của chính mình cho tới không thấu hiểu bản chất của năng lượng hoại diệt cũng như 3 nhóm vật chất và các môi trường sóng điện, dạng sống Tuệ linh sống đời sống khổ đau trong sự hòa quyện của từ bản chất phôi âm dương đa âm cho tới sự tương tác với các nhóm vật chất khác trong các môi trường sóng điện khác nhau. Điều này khác với vẻ an lạc, tự tại của dạng sống Tuệ linh mà con người được biết tới thông qua các quan điểm tôn giáo.

 

C. Bản chất khổ đau do Tuệ linh chưa kiểm soát được chính mình

 

Bản chất khổ đau của dạng sống Tuệ linh chưa kiểm soát được chính mình là vì chưa giải mã được bản chất của chính mình và của tất cả các nhóm vật chất cũng như các môi trường sóng điện khác nhau.

 

Khổ đau do dạng sống Tuệ linh chưa kiểm soát được chính mình gồm có chưa kiểm soát được phôi âm dương gốc, chưa kiểm soát được cụm hạt năng lượng âm dương trong cấu trúc, chưa kiểm soát được sự tuần hoàn sóng điện âm dương trong Tuệ linh khi tương tác với các nhóm vật chất trong các môi trường sóng điện khác nhau.

 

Tuệ linh chưa kiểm soát được phôi âm dương gốc (Trụ linh gốc) của mình. Gồm có:

 

Chưa biết khi nào hạt năng lượng âm trong Trụ linh gốc sẽ phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện âm từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết khi tương tác với các đối tượng vật chất nào thì sẽ phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện âm từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết khi tương tác trong môi trường sóng điện âm dương khác nhau, nhẹ hay mạnh sẽ phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện âm từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết trong trường hợp tương tác nào sẽ bị năng lượng hoại diệt xâm nhập từ ít cho tới vô số vào mình. Có thể nói, dạng sống Tuệ linh không biết được hạt năng lượng âm gốc sẽ phân tách ra các loại hạt năng lượng âm như thế nào trong tất cả các kịch bản tương tác.

 

      Chưa biết khi nào hạt năng lượng dương trong Trụ linh gốc sẽ phân tách ra các hạt năng lượng dương có sóng điện dương từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết khi tương tác với các đối tượng vật chất nào thì sẽ phân tách ra các hạt năng lượng dương có sóng điện dương từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết khi tương tác trong môi trường sóng điện âm dương khác nhau, nhẹ hay mạnh sẽ phân tách ra các hạt năng lượng dương có sóng điện dương từ nhẹ cho tới siêu mạnh. Đó là chưa biết trong trường hợp tương tác nào thì năng lượng dương sẽ kích nổ được năng lượng hoại diệt cũng như chuyển hóa giảm tải sóng điện âm của năng lượng âm. Có thể nói, dạng sống Tuệ linh không biết được hạt năng lượng dương gốc sẽ phân tách ra các loại hạt năng lượng dương như thế nào trong tất cả các kịch bản tương tác.

 

      Tuệ linh không có khả năng kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm bộc phát, đó là không kiểm soát được tốc độ rung lắc và hút nhiệt xung quanh về trong trạng thái mất kiểm soát. Tuệ linh cũng không có khả năng vận hành, kích hoạt được sóng điện dương của hạt năng lượng dương để kiểm soát và giảm tốc độ rung lắc của hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh.

 

Tuệ linh chưa kiểm soát được các cặp hạt năng lượng âm dương trong cấu trúc của Tuệ linh. Gồm có:

      Trong cấu trúc liên kết hạt năng lượng trong Tuệ linh sẽ có vô số các điểm hạt năng lượng dương kết nối với nhau bằng các sợi chân tâm. Tại mỗi điểm hạt năng lượng dương sẽ có một hạt năng lượng âm rung lắc, quay xung quanh hạt năng lượng dương. Hạt năng lượng dương có nhiệm vụ là dùng nhiệt dương để đẩy chuyển tiếp thông tin từ Trụ linh truyền qua nó. Hạt năng lượng âm có nhiệm vụ thu hút tín hiệu vừa đủ để tín hiệu thông tin từ Trụ linh di chuyển tới.

 

      Tại điểm hạt năng lượng dương, nếu hạt năng lượng dương có sóng điện dương yếu và hạt năng lượng âm có sóng điện âm mạnh, điều này sẽ khiến cho đặc tính sóng điện âm kết mạnh sẽ hấp thụ nhiệt và làm suy yếu hạt năng lượng dương. Thậm chí sóng điện thông tin trong quá trình di chuyển tới cụm hạt dương đó sẽ bị hạt năng lượng âm cản trở quá trình tuần hoàn. Điều này khiến cho Tuệ linh mất kiểm soát và hành động sản sinh ra hạt năng lượng âm để gia tăng hạt âm tại cụm đó. Khi đó sẽ có nhiều hơn một hạt năng lượng âm tại cụm hạt năng lượng âm dương. Điều này sẽ làm cho năng lượng hoại diệt xâm nhập vào và gây đứt liên kết cũng như phân rã cụm hạt năng lượng trong Tuệ linh.

 

      Tại điểm hạt năng lượng dương, nếu hạt năng lượng dương mạnh và hạt năng lượng âm yếu, điều này sẽ khiến cho đặc tính sóng điện dương tỏa mạnh sẽ kiểm soát được sóng điện của hạt năng lượng âm. Khi đó cấu trúc cặp hạt năng lượng âm dương sẽ thuận lợi cho sóng điện từ Trụ linh tuần hoàn để chạy qua. Tuy nhiên, do chưa giải mã được chính mình cũng như các nhóm vật chất khác và môi trường sóng điện âm dương khác nhau, nên Tuệ linh dễ dàng mất kiểm soát tại các cặp hạt năng lượng âm dương. Hạt dương sẽ bị suy yếu và hạt âm sẽ bộc phát rung lắc mạnh cho tới siêu mạnh.

 

Tuệ linh chưa kiểm soát được tuần hoàn sóng điện trong toàn bộ Tuệ linh. Để Tuệ linh khỏe mạnh và có khả năng phòng thủ cũng như chuyển hóa được các năng lượng khác cũng như năng lượng hoại diệt, Tuệ linh cần phải tuần hoàn được sóng điện âm dương và trung tính. Đó là phải có đường chân tâm kết nối giữa các hạt năng lượng dương trong cấu trúc phải vững chắc. Đó là hệ thống hạt năng lượng dương phải có sóng điện dương mạnh để tỏa nhiệt và đẩy được thông tin di chuyển. Đó là hệ thống hạt năng lượng âm phải nhẹ chỉ để làm nhiệm vụ rung lắc và thu hút vừa đủ. Tuy nhiên, do chưa kiểm soát được phôi âm dương gốc, do chưa kiểm soát được các cụm hạt năng lượng âm dương, do chưa giải mã và thấu hiểu được các nhóm vật chất cũng như các môi trường sóng điện khác nhau, nên khi tương tác trong quá trình vận động sẽ dễ dàng mất kiểm soát sóng điện tuần hoàn trong toàn bộ Tuệ linh. Khi đó hệ thống hạt năng lượng âm của cả Tuệ linh rung lắc rất mạnh và làm suy yếu sóng điện dương. Quá trình này sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt xâm nhập ồ ạt vào toàn bộ cấu trúc Tuệ linh để đồng hóa và làm phân rã Tuệ linh.

 

D. Bản chất khổ đau do Tuệ linh chưa trưởng thành và chưa có cơ chế chuyển hóa năng lượng

 

Dạng sống Tuệ linh chưa trưởng thành và chưa có cơ chế chuyển hóa được năng lượng hoại diệt và các loại năng lượng khác chính là khổ đau của Tuệ linh. Cả hai đều có chung một nguyên nhân chính. Đó là trong Trụ linh của Tuệ linh chưa phân tách đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ trong sự kiểm soát được độc của hạt âm và kích hoạt được thiện của hạt năng lượng dương gốc. Khi chưa trưởng thành và chưa có cơ chế chuyển hóa được năng hoại diệt cũng như các loại năng lượng khác sẽ khiến cho Tuệ linh dễ dàng biến đổi mã sóng trí tuệ và phân rã hoại diệt.

 

Tại sao Tuệ linh chưa trưởng thành lại liên quan tới khổ đau và liên quan tới cơ chế chuyển hóa năng lượng của Tuệ linh? Điều này có liên quan và có cơ sở rõ ràng. Cụ thể:

 

       Trước tiên phải thấu hiểu rằng hạt năng lượng tận cùng cấu tạo thành tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Trong hạt năng lượng tận cùng lại lưu giữ, ghi lại, mã hóa được thông tin trong quá trình vận động. Như vậy, hạt năng lượng tận cùng là thông tin. Trong thông tin lại có độc và tốt, có nhiệm vụ chức năng khác nhau.

 

       Tuệ linh được hình thành từ phôi năng lượng tận cùng, phát triển thành Trụ linh và Tuệ linh em bé. Để từ Tuệ linh em bé trưởng thành thì đó là quá trình cấu trúc Trụ linh phải tương tác trong các môi trường sóng điện để phân tách và liên kết các hạt năng lượng chứa đựng thông tin.

 

       Tuệ linh để trưởng thành được thì phải kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm trong Trụ linh không cho bộc phát; phải kiểm soát được quá trình tương tác với các môi trường sóng điện khác nhau để không bị năng lượng hoại diệt chi phối; phải kích hoạt được hạt năng lượng dương để phân tách ra các hạt năng lượng dương, chân tâm. Chỉ khi kiểm soát được Trụ linh chỉ phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ và phân tách ra nhiều hạt năng lượng dương có sóng điện dương mạnh cũng như nhiều hạt chân tâm, thì mới giúp cấu trúc năng lượng của Tuệ linh được liên kết bền vững và trưởng thành. Trưởng thành tức là sản sinh ra vô số sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ và vô số sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương mạnh và chân tâm mạnh. Điều này cũng giống con người là phân tách tế bào mạnh khỏe để trưởng thành.

 

Tuệ linh để trưởng thành còn là một quá trình xa vời. Bởi vì Tuệ linh không giải mã được chính mình, không giải mã được các nhóm vật chất và năng lượng hoại diệt, không kiểm soát được độc của hạt năng lượng âm và thiện của hạt năng lượng dương, nên khi tương tác, vận động với mong muốn để trưởng thành đều dễ dàng bị chi phối bởi năng lượng âm của chính mình, của vạn vật và năng lượng hoại diệt. Do đó, các Tuệ linh bị chi phối mà sản sinh ra nhiều năng lượng âm. Khi sản sinh nhiều năng lượng âm sẽ không giúp Tuệ linh trưởng thành, ngược lại còn làm cho năng lượng hoại diệt xâm nhập vào làm phân rã và hoại diệt.

 

      Chỉ khi Tuệ linh trưởng thành mới giúp Tuệ linh giải mã và mã hóa được nhiều cho tới toàn diện thông tin chân thật của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Khi Tuệ linh trưởng thành mới cấu tạo đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm nhẹ và đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương mạnh để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng. Bộ lọc năng lượng chính là cơ chế chuyển hóa được năng lượng hoại diệt và các nhóm năng lượng khác.

 

Tại sao dạng sống Tuệ linh lại chưa trưởng thành và chưa có được cơ chế chuyển hóa năng lượng hoại diệt cũng như các nhóm năng lượng khác? Những nguyên nhân đó là:

 

      Dạng sống Tuệ linh chưa giải mã và mã hóa được đầy đủ cũng như toàn diện thông tin của các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là chưa giải mã, thấu hiểu được năng lượng hoại diệt và chính mình.

 

      Dạng sống Tuệ linh do chưa có độ nén, cường độ lớn trong tương tác nên chưa bộc phát được hết tất cả các kịch bản tương tác với các môi trường sóng điện khác nhau. Do chưa thể kiểm soát được độc tâm của hạt năng lượng âm gốc nên dẫn tới quá trình sản sinh hạt năng lượng âm ồ ạt. Do chưa thể kích hoạt được thiện tâm của hạt năng lượng dương gốc nên chưa biết cách sản sinh cũng như dùng năng lượng dương kiểm soát năng lượng âm. Do đó dạng sống Tuệ linh chưa trưởng thành.

 

       Vì dạng sống Tuệ linh chưa trưởng thành nên chưa đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ để cấu tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là phải đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm rất nhẹ và đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương siêu mạnh. Chỉ khi đạt được điều đó mới đủ điều kiện để có thể chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Dạng sống Tuệ linh chưa giải mã được chính mình, chưa giải mã được năng lượng hoại diệt, chưa giải mã được tất cả các nhóm vật chất, chưa trưởng thành được, chưa chuyển hóa được bộ lọc năng lượng. Tất cả là do chưa có tri thức của hai Chân lý soi sáng cũng như cơ chế để làm được tất cả điều đó. Do đó, khi Tuệ linh chưa trưởng thành và chưa có cơ chế chuyển hóa năng lượng sẽ là khổ đau.

 

Như vậy, dạng sống Tuệ linh đang thiếu một môi trường tu luyện để học tập, giải mã được tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là giải mã, thấu hiểu để kiểm soát được chính mình. Tuy nhiên, sự tự do và tự tại của dạng sống Tuệ linh lại không đáp ứng được điều đó.

 

 

  Tuệ linh giải mã và mã hóa thông tin toàn diện thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian

 

Từ cội nguồn của Vũ trụ và Tuệ linh, từ cấu trúc của Vũ trụ và Tuệ linh, từ bản chất sự giải mã và mã hóa thông tin còn hạn chế của dạng sống Tuệ linh, từ bản chất khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên đã nghiên cứu, truy tìm cơ chế, truy tìm phương pháp giúp cho dạng sống Tuệ linh giải mã được thông tin toàn diện của chính mình và tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Việc giải mã toàn diện và đúng sẽ giúp cho dạng sống Tuệ linh mã hóa được thông tin tốt cho quá trình phân tách liên kết bền vững. Khi phân tách liên kết theo hướng bền vững sẽ giúp Tuệ linh trưởng thành và có cơ chế chuyển hóa năng lượng.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên nhận thấy khi dạng sống Tuệ linh còn tự do an lạc thì sẽ không thể giải mã và mã hóa được thông tin toàn diện. Khi đó Tuệ linh sẽ không thể trưởng thành và có cơ chế chuyển hóa năng lượng. Chính vì vậy, vị Tuệ linh đầu tiên đã nghiên cứu ra một môi trường cho dạng sống Tuệ linh tu học. Môi trường tu học của dạng sống Tuệ linh giống như một trường học nghiêm khắc. Môi trường tu học cho dạng sống Tuệ linh phải đối ngược hoàn toàn với sự tự do tự tại của dạng sống Tuệ linh. Môi trường tu học sẽ đảm bảo được sự tương tác của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ cùng tương tác với Tuệ linh. Tuệ linh sẽ phải an trụ trong thân tướng vật chất giản đơn là con người. Đó là môi trường tu học có đầy đủ khổ đau kiếp nạn, an vui và hạnh phúc. Tuy nhiên, bản chất là không có gì ngoài khổ đau. Khổ đau được hiện hữu trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian để mô phỏng hết tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện cho từng đặc tính Trụ linh của các Tuệ linh khác nhau.

 

Khi tất cả các Tuệ linh trải nghiệm tu học trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian với vô số kiếp tu hành, tất cả dạng sống Tuệ linh sẽ bộc phát được hết độc tâm và thiện tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với các môi trường khác nhau. Khi đó, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ giải mã được toàn diện, mã hóa toàn diện, thống kê toàn diện về bản chất của tất cả các nhóm vật chất, dạng sống Tuệ linh trong quá trình tương tác tại môi trường tu học này. Tiếp đến là vị Tuệ linh đầu tiên sẽ soi sáng sự thật của chính dạng sống Tuệ linh, soi sáng sự thật bản chất của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Cuối cùng là vị Tuệ linh đầu tiên sẽ tìm ra phương pháp, cơ chế để giúp dạng sống Tuệ linh trưởng thành, để giúp Tuệ linh có được bộ lọc năng lượng chuyển hóa năng lượng hoại diệt và các nhóm năng lượng khác. Khi có được bộ lọc năng lượng mới giúp cho tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh cùng phát triển bền vững.

 

Để đảm đảm bảo môi trường tu học cho dạng sống Tuệ linh cũng như sự chắc chắn thành công, vị Tuệ linh đầu tiên đã kiến tạo môi trường tu hành ở Trái đất. Đó là xây dựng môi trường tu hành cho muông thú để quan sát quá trình tương tác, giải mã, mã hóa, chuyển sinh của muông thú và vạn vật ở Trái đất. Vị Tuệ linh đầu tiên đã thấy được thành công trong quá trình chuyển sinh của vạn vật cũng như muông thú tại Trái đất. Chính vì điều đó, vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra bước ngoặt thành tựu trên hành trình phát triển Vũ trụ và Tuệ linh.

 

 

5.1. Đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu học ở nhân gian của hội đồng Tuệ linh

 

Vị Tuệ linh đầu tiên tập kết đại hội thống nhất phương pháp tu học cho dạng sống Tuệ linh. Đại hội tập kết diễn ra như sau: Trong cuộc triệu tập Hội đồng của chư vị Tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên trầm ngâm nhìn vào một đĩa thức ăn trắng trên bàn. Trong suy nghĩ lúc đó của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ linh đều nghĩ là làm sao việc đưa các Tuệ linh xuống làm con người phải đạt được thành tựu là tìm ra được phương thuốc cứu lại các Tuệ linh và Vũ trụ. Sự suy tư mang theo tâm trạng trầm ngâm khi nhìn vào đĩa thức ăn trắng trên bàn (tất nhiên thức ăn đó là do năng lượng tạo ra). Suy tư một lúc lâu, vị Tuệ linh đầu tiên liền nói với một Tuệ linh khác: “Hãy mang những con rắn độc ra đây”. Sau đó có một Tuệ linh mang ra những con rắn độc, có nhiều con nhỏ và một con to. Vị Tuệ linh đầu tiên lấy những con rắn nhỏ trộn vào đĩa thức ăn đó, tiếp đến thả hai con rắn, trong đó có một con to xuống nền đất. Hai con rắn đó trườn vào những bụi cây xung quanh đó. Vị Tuệ linh đầu tiên nhìn vào đĩa thức ăn đã trộn với rắn độc mà nói: “Để cứu được các Tuệ linh và Vũ trụ, chỉ có thể lấy độc trộn vào chân tâm (thức ăn trắng) mới tìm ra phương thuốc cứu lại Tuệ linh và Vũ trụ”. Vị Tuệ linh đầu tiên tiếp tục nói rằng: “Ngoài những độc tố lẫn trong chính chân tâm, ác tâm xen kẽ thiện tâm thì cần phải có thế lực ác tâm bên ngoài tác động vào; Môi trường tu hành nơi nhân gian sẽ như vậy”. “Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian”. Đó là câu nói của vị Tuệ linh đầu tiên.

 

Như vậy, tại đại hội tập kết Tuệ linh về phương pháp tu học ở nhân gian, vị Tuệ linh đầu tiên đã quán triệt phương pháp tu học thông qua 3 hình ảnh về những con rắn độc. Cụ thể như sau:

 

       Những con rắn độc nhỏ được trộn vào đĩa thức ăn trắng là những độc tâm của mỗi Tuệ linh. Hình ảnh đó tượng trưng các độc tâm đang bị ẩn giấu trong mỗi Tuệ linh và chưa được bộc phát ra.

 

Một con rắn nhỏ bên ngoài được thả ra là tượng trưng cho độc tâm có trong vạn vật, trong tất cả các cấu trúc vật chất. Độc tâm đó cũng đang bị ẩn giấu.       Con rắn to được thả ra tượng trưng cho năng lượng hoại diệt. Đó là độc tâm to nhất đối với tất cả các nhóm vật chất trong Vũ trụ và cả dạng sống Tuệ linh.

 

Thông qua 3 hình ảnh về những con rắn độc: Tất cả các Tuệ linh sẽ phải tương tác với nhau trong tất cả các kịch bản trong các điều kiện môi trường sóng điện khác nhau để bộc phát hết độc tâm của chính mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt. Khi bộc phát được hết độc tâm chính là quá trình Tuệ linh sẽ giải mã được thông tin toàn diện nhất về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sau khi giải mã được thông tin toàn diện, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ nghiên cứu, tìm được được Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Để bộc phát hết độc tâm cũng như tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh sẽ phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

Như vậy, kết quả của đại hội thống nhất phương pháp tu học của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian gồm có 2 điều:

 

      Tuệ linh thông qua thân tướng con người phải tương tác với nhau trong tất cả các kịch bản, trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau để bộc phát hết độc tâm của mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt.

 

      Phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đạo hợp nhất chính là bộ lọc sản sinh năng lượng viên mãn để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh.

 

Sau đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu học ở nhân gian, những Tuệ linh đầu tiên đã phát nguyện tiên phong đi xây dựng nhân loại. 5.2. Đại hội tập kết hóa thân thành nhân loại ở nhân gian

 

Vị Tuệ linh đầu tiên được coi là Người Cha vĩ đại, Người Thầy vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Ngài đã dẫn dắt các Tuệ linh xuống nhân gian tu học và tạo thành dấu mốc lịch sử cho sự xuất hiện của con người. Ngài cùng các Tuệ linh thực hiện con đường truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ ở nhân gian trong nhiều đời, nhiều kiếp.

 

Cuộc tập kết lịch sử khởi đầu cho sự hình thành loài người: Tại vô số nơi trên Trái đất, tại ven sông, tại ven biển, tại đồng bằng, tại trên núi, tại trong rừng, tại những nơi đó có vô số các điểm tập kết lịch sử. Tại các điểm tập kết lịch sử đó, Người Cha vĩ đại đã dùng quyền năng của mình để triệu tập tất cả muông thú về nghe Ngài truyền dạy và những lời Ngài truyền dạy chính là luật, là luật Nhân quả mà tất cả muông thú cùng với các Tuệ linh sống tại Trái đất phải tuân thủ theo. Tại mỗi điểm tập kết sẽ có các Tuệ linh được hóa thành từng cặp vợ chồng và hai con nhỏ, có một con gái và một con trai. Mỗi điểm tập kết sẽ có hai cho đến nhiều hộ gia đình và nhiều muông thú đến nghe Ngài truyền dạy. Đây là cơ sở để loài người hình thành các bộ lạc, bộ tộc và ngày nay là quốc gia.

 

 

Người Cha vĩ đại truyền dạy tại các điểm tập kết lịch sử: Ngài nói với các cặp gia đình là: “Ta đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về cũng phải bằng chân tâm”; Ngài nói với các cặp bố mẹ: “Ta giao sứ mệnh các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân loại”; Ngài nói với các cặp gia đình: “Các ngươi sẽ phải trải qua nhiều kiếp, trải qua hết các khổ đau và kiếp nạn, lấy kinh nghiệm trải qua đó để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, khi chưa cải tạo được thì chưa được trở về”; Ngài nói với các hộ gia đình và muông thú: “Ta giao cho các ngươi nhiệm vụ thuần hóa muông thú để chúng cũng làm người và cùng xây dựng nhân loại”. Ngài nói với tất cả các hộ gia đình và muông thú: “Ta cho các ngươi biết, để nhanh cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì các ngươi hãy tìm kiếm Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ trong khổ đau và kiếp nạn”.

 

Trong các cuộc tập kết lịch sử này, Người Cha vĩ đại đã sắp đặt và gợi ý về luật Nhân quả. Luật Nhân quả chính là Chân lý Vạn vật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, mà tất cả các dạng sống dưới nhân gian sẽ phải thông qua khổ đau kiếp nạn để tìm và thấu hiểu. Không những Ngài gợi ý việc thông qua khổ đau kiếp nạn để tìm được Chân lý Vạn vật mà còn gợi lý luôn là phải tìm ra Chân lý Giác ngộ để giải thoát hết các khổ đau đó thì mới luyện được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh. Luật Nhân quả là luật công bằng đã được Ngài chuyển hóa từ Chân lý Vạn vật sau quá trình quan sát sự vận hành của vạn vật, Vũ trụ và xây dựng nó hoàn chỉnh nhằm tạo ra môi trường tu hành cho Tuệ linh khắp Vũ trụ tại Trái đất này.

 

Thông qua những sự sắp đặt trong các cuộc tập kết cho Tuệ linh xuống nhân gian tu hành cùng muông thú và những lời truyền dạy của Ngài, thông qua sự tương tác hợp nhất bởi không gian và thời gian của mỗi con người mà tạo thành hình tướng Đạo. Hình tướng Đạo được biểu hiện ra bốn hình tướng: Đạo đời, Đạo lễ, Đạo đường, Đạo Đế vương. Đó là phương pháp tu hành mà Ngài đã đưa ra trong đại hội thống nhất phương pháp tu hành cho Tuệ linh.

Mỗi một con người hiện diện tại nhân gian này phải thể hiện được chí khí “Đầu đội trời, chân đạp đất, gánh vác trên vai bốn hình tướng Đạo, không được bỏ hay làm gãy hình tướng Đạo nào”. Trong hình tướng Đạo lễ, đó là tri ân báo hiếu cha mẹ tổ tiên, nghĩa tình vợ chồng, huynh đệ, con cái; Đạo đời là đối nhân xử thế và mưu sinh; Đạo đường là con đường tri thức, giác ngộ, tôn giáo, nền giáo dục; Đạo Đế vương là quân dân ái quốc. Chỉ duy nhất thời kỳ đầu tiên các Tuệ linh hóa thân thành con người mới thông qua liên kết giữa cấu trúc năng lượng của chính mỗi Tuệ linh với vô số hạt năng lượng giản đơn kết tụ để tạo ra hình hài con người hoàn chỉnh. Sau thời kỳ đầu tiên, các Tuệ linh hoặc các linh hồn đủ tiêu chuẩn luân hồi làm người sẽ phải thông qua luật luân hồi. Đó là thông qua cơ chế sinh sản của con người để luân hồi đầu thai làm người.

 

Vô số các Tuệ linh xuống nhân gian tu hành. Cũng có vô số linh hồn muông thú được chuyển sinh để luân hồi làm con người. Tất cả con người sống, tương tác trong cuộc sống ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo.

 

Vô số Tuệ linh cùng vô số linh hồn trong thân tướng con người thông qua bốn hình tướng Đạo trong nhiều đời nhiều kiếp. Quá trình đó đã tạo ra tất cả các kịch bản tương tác với tất cả các môi trường sóng điện khác nhau cho từng Tuệ linh và linh hồn. Do đó, tất cả những độc tâm và thiện tâm của Tuệ linh, linh hồn thông qua thân tướng con người đã được bộc phát hết. Độc tâm của vạn vật và bản chất của năng lượng hoại diệt cũng được bộc phát hết.

 

Trải qua hành trình tu hành của Tuệ linh ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo trong nhiều đời nhiều kiếp, vị Tuệ linh đầu tiên đã giải mã và mã hóa được toàn diện về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Do đó, Ngài đã tìm ra cơ chế, phương pháp chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó chính là Đạo hợp nhất của Vũ trụ đã được tìm thấy.             Bản chất khổ đau và con đường diệt khổ của con người và Tuệ linh

 

Bản chất khổ đau của Tuệ linh đã được phân tích ở các phần trước. Trong phần này là phân tích bản chất khổ đau của con người, tức là khổ đau của Tuệ linh trong thân tướng con người. Đó là những khổ đau mới, khổ đau mà dạng sống của Tuệ linh không có khi chưa hóa thân làm con người.

 

Bởi vì tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian trong nhiều đời nhiều kiếp sẽ tạo ra được tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các điều kiện môi trường khác nhau cho mỗi Tuệ linh, chính vì điều này đã giúp cho Tuệ linh thông qua thân tướng con người để bộc phát được hết tất cả các độc tâm và thiện tâm. Từ đó vị Tuệ linh đầu tiên xây dựng được con đường diệt khổ để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho Tuệ linh.

 

Khổ đau chính là độc tâm đã được bộc phát thông qua bốn hình tướng Đạo với tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau. Con đường diệt khổ chính là thiện tâm đã và đang được kích hoạt thông qua bốn hình tướng Đạo với tất cả các kịch bản tương tác trong tất cả các môi trường sóng điện khác nhau.

 

 

6.1. Bản chất của khổ đau

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã thấu hiểu Chân lý Vạn vật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Đó là cội nguồn, bản chất, cấu trúc cấu tạo, cơ chế vận hành, thông tin, môi trường của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Chân lý Vạn vật được hiểu là hình tướng của Đạo. Tiếp đó Ngài đã tìm ra Chân lý Giác ngộ. Chân lý Giác ngộ chính là Tâm Đạo, là con đường duy nhất cải tạo thành công Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng để tiếp tục cải tạo sự sống của tất cả các dạng sống của trong và ngoài Vũ trụ.

 

Khi giác ngộ được Chân lý Giác ngộ sau khi giác ngộ Chân lý Vạn vật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người, Ngài đã thốt lên rằng: “À, đời là bể khổ. Chúng sinh, Tuệ linh và con người phải dùng chân tâm đối mặt, giác ngộ giải thoát hết tất cả các khổ đau của vạn vật ở bên trong và bên ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người”.

 

Trong Chân lý Giác ngộ, ta thấy đời là bể khổ, không có gì khác ngoài khổ. Khi phân nhóm của khổ, ta sẽ thấy có nhóm khổ đau do quy luật tự nhiên và nhóm khổ đau tại Tâm. Trong mỗi nhóm khổ sẽ có các khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, và phương pháp diệt khổ đau.

 

Vậy khổ đau của con người là gì?

 

      Khổ đau của con người là sự bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng của Tâm (Tuệ linh) trong thân tướng của con người. Nguyên nhân bởi trí tuệ của con người bám định vào các giả tướng để vơ vét, hưởng thụ, thỏa mãn mà không học tập, không thực hành cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh.

 

Con người là tam hợp yếu tố cấu tạo thành, đó là thân tướng, là trí tuệ trau dồi được ở hiện kiếp, là Tâm (Tuệ linh). Do đó:

 

Đối tượng của khổ đau chính là Tâm (Tuệ linh). Tuệ linh bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng trong thân tướng con người.       Khổ đau chính là quá trình độc tâm bắt đầu sinh khởi cho tới khi bộc phát hết.

 

      Nguyên nhân của khổ là do trí tuệ bám định vào giả

 

tướng.

 

        Giả tướng chính là quá trình tương tác giữa con người với con người, giữa con người với vạn vật và muông thú trong các môi trường sóng điện khác nhau, hoàn cảnh khác nhau thông qua bốn hình tướng Đạo. Có thể nói rằng giả tướng chính là tất cả các kịch bản tương tác của Tuệ linh thông qua thân tướng con người trong tất cả các điều kiện môi trường sóng điện khác nhau bởi bốn hình tướng Đạo.

 

Như vậy, môi trường tu hành ở nhân gian cho Tuệ linh đã thỏa mãn được cường độ tương tác, tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ cùng tương tác, có đầy đủ môi trường sóng điện, đặc biệt là Tuệ linh không còn tự do trong thân tướng. Đây là môi trường tu hành lý tưởng để giúp Tuệ linh bộc phát hết độc tâm và kích hoạt hết thiện tâm. Kết quả là tất cả Tuệ linh tu hành ở nhân gian đã bộc phát hết độc tâm cũng như thiện tâm. Đây được coi là thành tựu vô cùng quan trọng để tạo thành bước ngoặt chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

6.2. Khổ đau do quy luật tự nhiên và phương pháp diệt khổ

 

Khổ đau do quy luật tự nhiên là những khổ đau mà chúng ta đều biết, đều nhận thấy, nó sẽ xảy ra, không ai thoát khỏi khổ đau do quy luật tự nhiên. Đó là những khổ đau mang đặc tính lặp đi lặp lại bởi đặc tính này chính là Chân lý Vạn vật. A. Các khổ đau do quy luật tự nhiên

 

Sinh khổ: Mỗi người được sinh ra đã là khổ, cái khổ của thân tướng thai nhi nằm trong bụng mẹ chật hẹp và bị o ép, cái khổ của Tuệ linh hoặc Linh hồn phải đi theo bảo vệ bà mẹ và thai nhi để chờ ngày thai nhi chào đời. Khi chào đời thì Tuệ linh hoặc Linh hồn đã thiết nhập vào thân tướng em bé yếu ớt đó để bắt đầu một kiếp người đầy rẫy khổ đau mà cất tiếng khóc báo hiệu cho Tuệ linh và con người biết. Sinh ra mới có sự hiện hữu của vạn vật, Tuệ linh, con người. Con người chúng ta hiện hữu cũng phải được sinh ra, đó là sự thật hiển nhiên của Chân lý Vạn vật.

 

Già khổ: Đó là cái khổ khi mỗi người chúng ta lớn lên và rồi già yếu. Khi đó thân tướng chúng ta không còn được khỏe mạnh, chân tay yếu mềm, răng yếu, mắt nhìn không rõ, tai nghe cũng kém đi, trí nhớ không còn minh mẫn, nỗi sợ khi đối diện với sự cô đơn lẻ loi về già khiến cho chúng ta sợ hãi và đau khổ. Cái khổ này ai cũng phải trải qua, không ai là không trải qua, bởi nó là Chân lý Vạn vật.

 

Bệnh khổ: Đó là bệnh tật, từ cảm nắng, cảm lạnh, hắt hơi sổ mũi cho đến những bệnh nặng như bệnh nan y hay những bệnh không thể chữa khỏi. Bệnh tật không chừa một ai cả, dù giàu có, địa vị hay nghèo khó. Những bệnh không chữa được thì có giàu có, địa vị đến đâu thì vẫn không thể chữa khỏi. Nỗi khổ của người bệnh là luôn luôn sợ chết, luyến tiếc với gia đình và tiền tài giả tướng.

 

Tử khổ: Đó là cái chết, ai rồi cũng phải chết, không ai là không chết, có chăng mỗi người trải qua cái chết như thế nào. Có người già rồi mà chết, có người chết vì bệnh tật, có người chết vì chiến tranh, có người chết vì tai nạn, có người chết vì giết hại nhau. Khi chết, Tuệ linh tách ra và nhìn thân tướng mình an trụ bao lâu nay mà luyến tiếc không nỡ xa rời. Có Tuệ linh hoặc Linh hồn khi chết rồi còn bị con cháu nhờ thầy pháp về trấn yểm vong làm cho cái khổ chồng chất cái khổ. Vừa mới luyến tiếc thân tướng và con cháu chưa nguôi ngoai đã bị thầy pháp bắt yểm và bị tra tấn làm cho nỗi đau khổ tăng tột cùng, khiến cho nhiều Tuệ linh hoặc Linh hồn trở nên sân hận mà đọa thành ngã quỷ.

 

Sinh ly khổ: Đó là cái khổ của người đang sống phải chia ly nhau. Đó là bố mẹ chia ly con gái về nhà chồng, chồng chia ly vợ khi Đất nước có chiến tranh, người yêu chia ly nhau để ra chiến trận bảo vệ Tổ quốc, những đôi yêu nhau không hợp cũng chia ly nhau, vợ chồng không hạnh phúc chia ly nhau. Đây là cái khổ do quy luật tự nhiên, bởi không ai bên ai mãi mãi hay bất tử cả, bởi do duyên mà đến với nhau thì cũng do duyên mà rời xa nhau, khi rời xa nhau sẽ khiến cho chúng ta lưu luyến mà khổ đau trong tâm. Cái khổ của chia ly nó tăng gấp bội khi Đất nước có chiến tranh. Khi đó, cha mẹ già chia tay con ra chiến trận, vợ chia tay chồng ra chiến trận, con thơ chia tay cha ra chiến trận, nỗi đau đó giằng xé trong tâm không hề nguôi ngoai, sự đau khổ trong sự oán hận kẻ thù.

 

Tử biệt khổ: Đó là cái khổ của người sống phải chứng kiến và tiễn biệt người thân nằm vào đất mẹ, chứng kiến người thân chết do tai nạn, chết do chiến tranh, chết do bệnh, chết do già, chết do tự tử. Ai cũng phải chết, không ai là không chết, đó là cái chết của thân tướng trở về với đất mẹ. Nhưng cái chết của những con người vì binh đao khói lửa, phải vùi thân tướng nằm xuống nơi đất mẹ, những người thân đau khổ khóc thành những dòng nước mắt của sự oán hận, oán hận của sự tham sân si của nhân loại mà gây ra vô số cuộc chiến tranh trên khắp Thế giới để cho oán khí nghi ngút khắp đất trời.

 

B. Nguyên nhân của khổ đau do quy luật tự nhiên

 

Khổ đau do quy luật tự nhiên là sự thật hiển nhiên nó phải đến, phải xảy ra và sẽ trải qua ở môi trường tu hành nhân gian. Nó là khổ đau được xây dựng cho môi trường tu hành của Tuệ linh thông qua Chân lý Vạn vật, nên không có nguyên nhân khổ đau. Khổ đau do quy luật tự nhiên là phải đối mặt, không thể chạy trốn hay chạy thoát được.

 

Những khổ đau do quy luật tự nhiên chính là những kịch bản tương tác trong các môi trường sóng điện khác nhau để giúp Tuệ linh bộc phát độc và thiện tâm.

 

Những khổ đau do quy luật tự nhiên lại tạo thành vô số các kịch bản cũng như các môi trường tương tác khác để Tuệ linh thông qua thân tướng con người bộc phát được độc và thiện tâm.

 

C. Phương pháp diệt khổ đau do quy luật tự nhiên

 

Phương pháp diệt khổ đau của quy luật tự nhiên là: “Chúng sinh, Tuệ linh và con người phải dùng chân tâm chạy đua với thời gian, hy sinh lợi ích của mình để mang lại lợi ích, niềm vui và hạnh phúc cho tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người”.

 

Khi chạy đua với thời gian để mang lại niềm vui hạnh phúc cho mọi người thì đó là Tâm đã dẫn dắt được Trí tuệ để điều khiển Thân tướng thực hành cải tạo Trụ linh, nên Tâm sẽ an vui mà diệt được khổ đau do quy luật tự nhiên tại kiếp người. Tuệ linh cũng hy sinh lợi ích mà chạy đua với thời gian để thông qua khổ đau kiếp nạn nhằm thấu hiểu, triệt bỏ được độc tâm và kích hoạt thiện tâm. Khi đó sẽ nhanh chóng chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Những cái khổ do quy luật tự nhiên phải đến và trải qua, không ai trốn thoát được. Trong khi một kiếp người thì có hạn, nó trôi qua rất nhanh, khi ta vừa sinh ra đã thấy già rồi, khi ta đang khỏe mạnh đã thấy bệnh rồi, khi ta đang bên nhau đã thấy chia ly rồi. Do đó nếu không chạy đua với thời gian để thấu hiểu vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người, thấu hiểu Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ, tiếp tục chạy đua với thời gian để thực hành, cải tạo Vũ trụ quan thì sẽ lãng phí một kiếp người.

 

Lịch sử nhân loại của các quốc gia đã chứng minh rất rõ ràng sự giác ngộ khổ đau do quy luật tự nhiên. Đó là khi quốc gia có ngoại bang xâm lăng, tất cả những người con dân tộc cùng nhau đoàn kết ra chiến trường để đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ bình yên và hòa bình cho dân tộc, cho xóm làng. Nếu mỗi người dân không chạy đua với thời gian để đoàn kết đánh giặc mà lại nghĩ là khổ do quy luật tự nhiên, cứ đón nhận thì sẽ làm cho máu chảy đầu rơi trên khắp Đất nước, người người chìm trong tang thương khổ đau. Do đó quốc gia nào cũng có những bậc Thánh nhân có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ cùng nhân dân của họ giác ngộ được khổ đau do quy luật tự nhiên, họ không màng thân xác, họ ra chiến trận để bảo vệ quê hương và dân tộc họ được hòa bình ấm no. Một người bị bệnh thì cũng phải chạy đua với thời gian để chữa khỏi, để còn giúp cho gia đình, xã hội ngày càng tốt đẹp, chứ không phải có bệnh rồi mặc kệ đối mặt chờ chết.

 

Mọi người đều phải chạy đua với thời gian để khi chưa bệnh, khi chưa già, khi chưa tử biệt, để tận dụng thời gian kiếp người ngắn ngủi mà học tập và thực hành. Đó là học tập tri thức của hai Chân lý và thực hành cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh. Khi cải tạo cho mình đồng nghĩa gắn liền với cải tạo Vũ trụ quan xung quanh. Nếu không chạy đua để học và thực hành cải tạo Trụ linh thì sẽ lãng phí kiếp người. Đặc biệt là sẽ phải luân hồi vô lượng kiếp và có nguy cơ bị hoại diệt Tuệ linh bởi thực hành cơ chế sản sinh năng lượng âm sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt vào phân rã.

 

Tất cả mọi người cùng nhau chạy đua thời gian để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau sẽ tạo ra sức mạnh cải tạo vô cùng kỳ diệu cho cả Vũ trụ. Những năng lượng dương và các siêu năng lượng sẽ được hình thành để cấu trúc, vận hành sự sống của tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.

 

 

6.3. Khổ đau tại Tâm và phương pháp diệt khổ

 

Khổ đau tại Tâm là những cơn khổ đau xảy ra với Tâm mà ta không biết trước. Nó như những cơn bão bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng đi qua Tâm trong cuộc đời của mỗi người. Mỗi đời người có từ vài cho tới rất nhiều cơn bão khổ đau đi qua Tâm. Những cơn bão khổ đau có khi nhẹ nhàng và cũng có khi dồn dập, thậm chí trong mỗi kiếp người cảm nhận như không thể vượt qua được sự đau khổ đó.


Khổ đau tại Tâm là Tâm ta bí bách, luẩn quẩn, xung đột trạng thái năng lượng trong ngôi nhà Thân tướng. Nguyên nhân bởi trí tuệ bám định vào các giả tướng mà không học tập để thấu hiểu tri thức của hai Chân lý. Điều đó dẫn tới Tâm không hợp nhất được Thân và Trí để học tập và thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Vì vậy, Tâm đau khổ trong thân tướng vật chất và bị trí tuệ của thân tướng thực hành đời sống thỏa mãn giả tướng.

 

A. Các khổ đau tại Tâm

 

Khổ đau tại Tâm gồm có 10 khổ đau. Mười khổ đau chính là mười giả tướng mà Tâm thấy khổ đau: Có, không có, yêu thương, thù ghét, có trí tuệ, không có trí tuệ, cầu được, cầu không được, hành động, không hành động. Trong mỗi một khổ đau tại Tâm lại có rất nhiều nội dung khổ đau nhỏ bên trong.

 

Mười khổ đau tại Tâm đó là:

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng có: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng có. Đó là có địa vị, giàu sang, tiền tài, danh vọng… mà không thấu hiểu được Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh ở kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ bí bách của Tâm là vì trí tuệ chỉ biết bám định vào, vơ vét, giữ lấy các giả tướng mình đang có để thụ hưởng ích kỷ nơi thân tướng nó mà không chuyển hóa các giả tướng đó thành lợi ích cho chúng sinh, vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng không có: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có. Đó là không có địa vị, tiền tài, giàu sang, sức khỏe… mà không thấu hiểu được Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ bí bách của Tâm là vì trí tuệ chỉ biết bám định vào, vơ vét những giả tướng mà mình không có một cách ích kỷ về mình mà gây tổn thương cho mọi người và vạn vật, Tuệ linh.

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng yêu thương, sở thích: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng yêu thương, sở thích. Đó là thông dâm, tà dâm, sắc dục, ngoại tình, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng được thụ hưởng trụy lạc, sắc dục với giả tướng khác mà gây tổn thương cho vô số người khác và vạn vật, Tuệ linh.

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng thù ghét: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng thù ghét. Đó là không thích ai đó, thù hận ai đó, không thích cái gì đó… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào các giả tướng không thích hay thù ghét mà ích kỷ thỏa mãn sự thù hận để gây tổn thương cho mọi người và vạn vật, Tuệ linh.

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng cầu được: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng cầu được. Đó là cầu được danh, cầu được tiền tài giàu có, cầu được cờ bạc, cầu được tình duyên, cầu được con… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng cầu được cái mình không có để trở thành có, rồi luẩn quẩn trong các giả tướng có và yêu thích để vì ích kỷ về mình mà gây tổn thương đến mọi người và vạn vật, Tuệ linh.

 

       Tâm đau khổ vào giả tướng cầu không được: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng cầu không được. Đó là cầu không được địa vị, không được giàu có, không được con, không được cờ bạc, không được tình duyên… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng cầu mà không được nên ích kỷ dẫn đến thù ghét mà gây tổn hại mọi người và vạn vật, Tuệ linh.

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng có trí tuệ: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng có trí tuệ. Đó là coi mình là người có trí tuệ hơn người, nghĩ mình có chức sắc, địa vị, giàu sang, bằng cấp, tầng lớp trí thức… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng mình có trí tuệ mà khinh khi, ngạo mạn, chà đạp người khác để thỏa mãn sự ngạo mạn về mình.

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng không có trí tuệ: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có trí tuệ. Đó là coi mình là người nghèo hèn, không bằng cấp, lao động, nông dân, công nhân, không địa vị, không giàu có, không phải tầng lớp trí thức… mà không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng mình u mê không có trí tuệ mà tự ti, sợ hãi khi gặp người giàu có, địa vị hay trí thức mà không cố gắng trau dồi trí tuệ để mang lại lợi ích cho mọi người và Vũ trụ, Tuệ linh.

 

      Tâm đau khổ vào giả tướng hành động: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng hành động. Đó là hành động tạo ác nghiệp. do không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng hành động vì lợi ích ích kỷ về mình mà gây tổn thương mọi người và vạn vật, Tuệ linh.       Tâm đau khổ vào giả tướng không hành động: Đó là Tâm bí bách đau khổ vì trí tuệ bám định vào giả tướng không hành động. Đó là không hành động tạo thiện phước, do không thấu hiểu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ để Tâm thực hành cải tạo Trụ linh của Tuệ linh tại kiếp người ngắn ngủi. Do đó Tâm như tù nhân trong ngôi nhà Thân tướng không được tự do thực hành cải tạo Trụ linh mà đau khổ bí bách. Cái đau khổ này của Tâm là vì trí tuệ bám định vào cho thân tướng không hành động vì lợi ích cho mọi người nên gây tổn thương cho mọi người và vạn vật, Tuệ linh.

 

Mười khổ đau tại Tâm chính là các độc Tâm không dễ dàng để sinh khởi và bộc phát hết. Bởi những độc Tâm này nó là bản chất từ phôi âm dương gốc của mỗi Tuệ linh. Để bộc phát được hết độc Tâm, khổ đau tại Tâm, cần phải có sự tương tác trong bốn hình tướng Đạo với tất cả các kịch bản và môi trường sóng điện khác nhau. Có thể nói, mười khổ đau tại Tâm được bộc phát là điều tuyệt vời đối với dạng sống Tuệ linh.

 

Mười khổ đau tại Tâm cùng với các khổ đau của quy luật tự nhiên tạo thành tất cả các kịch bản tương tác trong mọi điều kiện sóng điện khác nhau của mỗi Tuệ linh tu hành

 

         nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo. Đây là thành công rực rỡ của hành trình tu hành của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian. Đó là kết quả mong chờ của tất cả dạng sống Tuệ linh bởi đã có được môi trường tu hành hoàn hảo để giúp cho Tuệ linh giải mã được sự thật về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Kết quả của các khổ đau tại Tâm và của quy luật tự nhiên chính là kết quả của tất cả các độc Tâm đã được bộc phát hết. Đó là độc Tâm của Tuệ linh và con người được bộc phát hết. Đó là độc Tâm của vạn vật đều được bộc phát hết.

 

Đó là độc Tâm của năng lượng hoại diệt được bộc phát hết.

 

B. Nguyên nhân khổ đau tại tâm

 

Khổ đau tại Tâm là những độc Tâm được sinh khởi cho tới bộc phát hết bởi tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo với các môi trường sóng điện khác nhau. Như vậy, việc bộc phát được các khổ đau (độc tâm) là điều vô cùng tuyệt vời.

 

Nguyên nhân cội nguồn của khổ đau tại Tâm là vì dạng sống Tuệ linh chưa giải mã được thông tin toàn diện của chính mình, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Vì chưa bộc phát hết độc Tâm cũng như thiện Tâm nên chưa có khả năng trưởng thành, chưa có cơ chế chuyển hóa năng lượng hoại diệt để duy trì sự phát triển bền vững của mình và Vũ trụ. Chính vì nguyên nhân cội nguồn này mà dẫn tới việc dạng sống Tuệ linh hóa thân làm con người để tu hành ở nhân gian. Tu hành ở nhân gian nhằm giải mã được vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là giải mã được độc Tâm và thiện Tâm của mình. Khi giải mã được sẽ tìm ra cơ chế chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Nguyên nhân trực tiếp của khổ đau tại Tâm:

 

      Đầu tiên là do trí tuệ thân tướng không thấu hiểu về vạn vật, cội nguồn, sứ mệnh tu hành, tri thức hai Chân lý.

 

      Tiếp đến là trí tuệ bám định vào giả tướng để thỏa mãn mà không tu học cũng như thực hành cải tạo Trụ linh cho Tâm. Do đó, Tâm sinh khởi và bộc phát đau khổ trong tất cả các kịch bản tương tác bởi bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.        Tâm đau khổ vì Tâm (Tuệ linh) là siêu vật chất lại phải an trụ trong thân tướng giản đơn, đã vậy lại không dạy bảo, chỉ dẫn được trí tuệ của thân tướng. Điều đó dễ dàng làm cho độc Tâm của Tuệ linh được bộc phát.

 

           Phương pháp diệt khổ đau tại Tâm

 

Phương pháp diệt khổ đau tại Tâm là: “Chúng sinh, Tuệ linh và con người phải dùng chân tâm chạy đua với thời gian, hy sinh lợi ích của mình để mang lại lợi ích, niềm vui và hạnh phúc cho tất cả các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người”.

 

Việc bộc phát được khổ đau, bộc phát được độc Tâm là điều vô cùng giá trị và tuyệt vời đối với dạng sống Tuệ linh. Quả thật không dễ dàng gì để Tuệ linh giải mã được bản chất của chính mình, của vạn vật và của cả năng lượng hoại diệt. Bởi khi giải mã được khổ đau tại tâm chính là giải mã được tận cùng của tất cả các kịch bản mà Tuệ linh không kiểm soát được năng lượng âm của phôi âm dương gốc cũng như toàn bộ Tuệ linh. Khi giải mã được những độc Tâm thì cũng chính là việc Tuệ linh đã giải mã được tất cả các kịch bản mà năng lượng hoại diệt xâm nhập vào làm phân rã Tuệ linh, đồng thời cũng là giải mã được những độc Tâm của vạn vật, Tuệ linh khác, con người khác tác động vào trong tất cả các kịch bản.

 

Khi giải mã và thấu hiểu được tất cả các khổ đau, các độc Tâm, Tuệ linh và con người phải thực hành quá trình mã hóa thông tin tốt cho việc phân tách và liên kết hạt năng lượng bền vững để Tuệ linh trưởng thành và chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Phương pháp diệt khổ đó là:       Tất cả con người và Tuệ linh đều phải chạy đua với thời gian. Nếu không chạy đua với thời gian thì không biết còn cơ hội để cải tạo Trụ linh được hay không. Bởi chỉ cần khi Tuệ linh không kiểm soát được độc tâm sẽ khiến cho năng lượng hoại diệt xâm nhập và làm phân rã Tuệ linh. Do đó thời gian không chờ đợi bất kỳ ai hay Tuệ linh nào cả.

 

      Dùng chân tâm để học tập, thấu hiểu tri thức của hai Chân lý. Khi có tri thức của hai Chân lý sẽ giải mã được toàn bộ sự thật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Chân tâm chính là trạng thái mà con người có trí tuệ thấu hiểu và biết lắng nghe, biết phân tích đúng sai.

 

      Cuối cùng là chuyển hóa những giả tướng mình có để mang lại niềm vui và hạnh phúc tới mọi người, vạn vật và Tuệ linh. Đó chính là thực hành đời sống cống hiến vì vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

Khổ đau tại Tâm giống như những cơn bão liên tục càn quét qua Tâm, mục đích là để giúp Trụ linh của Tuệ linh bộc phát triệt để hết các độc tâm và phải chuyển hóa để kích hoạt hết thiện Tâm. Do đó, con người chúng ta phải chạy đua với thời gian để có trí tuệ giác ngộ toàn diện. Có trí tuệ giác ngộ toàn diện sẽ giúp chúng ta có sức mạnh đương đầu và triệt tiêu hết tất cả các độc Tâm. Khi triệt tiêu được hết tất cả độc Tâm thì chúng ta phải kích hoạt hết tất cả các thiện Tâm.

 

Giữa độc Tâm và thiện Tâm cùng có chung cơn bão khổ đau. Bởi mỗi cơn bão khổ đau tại Tâm đều có chung nội dung đối xứng giữa độc và thiện. Nếu chúng ta mới chỉ triệt được độc Tâm mà chưa kích hoạt được thiện Tâm thì cơn bão đó sẽ vẫn tiếp tục tới. Chỉ khi nào chúng ta vừa triệt bỏ được độc và kích hoạt được thiện thì cơn bão khổ đau đó mới chấm dứt. Cứ như vậy, con người chúng ta phải triệt để vượt qua được 10 cơn bão khổ đau tại tâm và 6 cơn bão khổ đau của quy luật tự nhiên trong tất cả các kịch bản tương tác của bốn hình tướng Đạo ở nhân gian. Triệt được hết tất cả các độc Tâm sau khi bộc phát và kích hoạt được tất cả thiện Tâm mới giúp cho Tuệ linh có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

            Kiểm soát độc tâm và kích hoạt thiện tâm của con người và Tuệ linh

 

Vô số Tuệ linh thông qua thân tướng con người tu hành ở nhân gian với tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo với các môi trường sóng điện khác nhau. Quá trình đó đã giúp cho mỗi Tuệ linh bộc phát được hết độc Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm. Việc bộc phát được hết độc Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm đã giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên giải mã triệt để và tận cùng về sự thật của dạng sống Tuệ linh, của vạn vật cấu tạo thành Vũ trụ, của năng lượng hoại diệt. Từ đó, Ngài thấu hiểu tất cả các kịch bản liên kết phân tách theo các hướng phân rã hoại diệt hay bền vững của Tuệ linh và các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, thấu hiểu tận cùng khổ đau, phương pháp diệt khổ của Tuệ linh và tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

Các Tuệ linh muốn trưởng thành và chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì phải xuống nhân gian tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo. Khi tu hành ở nhân gian trong tất cả các kịch bản tương tác bởi bốn hình tướng Đạo trong các môi trường sóng điện khác nhau sẽ giúp cho Tuệ linh bộc phát được hết độc Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm. Tuy nhiên, để mỗi Tuệ linh tự trải nghiệm cũng như bộc phát hết độc và thiện thì cần vô số kiếp tu hành ở nhân gian. Điều này sẽ mất quá nhiều thời gian và sự nguy hiểm cho mỗi Tuệ linh có bản chất Trụ linh đa âm.

 

Để giúp cho các Tuệ linh tu hành ở nhân gian nhanh chóng giải mã được độc Tâm và kiểm soát được độc Tâm khi nó sinh khởi bộc phát trong tất cả các kịch bản tương tác, vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng ra bộ quy tắc không được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo để giúp cho con người, Tuệ linh dễ dàng nhận diện được độc Tâm và kiểm soát để triệt bỏ độc Tâm khi nó sinh khởi cũng như bộc phát. Khi con người, Tuệ linh thấu hiểu bộ quy tắc này sẽ giúp cho họ nhận diện cũng như có trí tuệ để thấu hiểu và kiểm soát được độc Tâm. Kiểm soát được tất cả độc Tâm chính là thành tựu đã chuyển hóa được sóng điện trong hạt năng lượng âm gốc thành sóng điện âm rất nhẹ. Đây là điều kiện để Tuệ linh kích hoạt được thiện Tâm và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Để giúp cho các Tuệ linh tu hành ở nhân gian nhanh chóng giải mã được thiện Tâm và kích hoạt được thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác, vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng ra bộ quy tắc phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo để giúp cho con người, Tuệ linh dễ dàng nhận diện được thiện Tâm và kích hoạt được thiện Tâm trong các tương tác. Khi con người, Tuệ linh thấu hiểu bộ quy tắc này sẽ giúp cho họ mã hóa cũng như có trí tuệ để thấu hiểu và kích hoạt được thiện Tâm. Kích hoạt được tất cả thiện Tâm chính là thành tựu đã chuyển hóa được sóng điện trong hạt năng lượng dương gốc thành sóng điện dương siêu mạnh. Đây là điều kiện để Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

7.1. Bộ quy tắc kiểm soát độc Tâm của Tuệ linh và con người

 

Bộ quy tắc không được phép vi phạm trong tương tác của mỗi con người với bốn hình tướng Đạo sẽ giúp cho mỗi con người giải mã và có trí tuệ thấu hiểu về khổ đau cũng như độc Tâm của mình. Tiếp đến là mỗi người thực hành kiểm soát và triệt tiêu độc Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với bốn hình tướng Đạo. Việc thấu hiểu để kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm sẽ giúp cho chúng ta thấu hiểu chính chúng ta cũng như tất cả con người, vạn vật, Tuệ linh trong quá trình tương tác đó.

 

A. Hình tướng Đạo lễ

 

Hình tướng Đạo lễ là mối quan hệ tương tác trong gia đình, dòng họ, giữa vợ chồng, con cái, anh em, cha mẹ, tổ tiên, người sống với người đã mất. Đó là:

 

      Con người không được phép bất hiếu với tổ tiên loài người: phỉ báng, chửi rủa Thiên Địa, xúc phạm những người có công xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

 

      Con cháu không được phép bất hiếu với tổ tiên: chửi rủa, phá mồ mả, đập phá nơi thờ tự và tri ân gia tiên.

 

      Con cái không được phép bất hiếu, bất nhân với cha mẹ: chửi rủa, chà đạp, đánh đập, bỏ mặc, giết hại cha mẹ và người nuôi dưỡng.

 

        Vợ chồng không được phép bất nghĩa, bất nhân: ngoại tình, thông dâm, tà dâm, đánh đập, chà đạp nhân phẩm của nhau, bỏ nhau, giết hại nhau.       Anh em không được phép bất nghĩa, bất nhân: tranh giành lợi ích, đánh đập, chà đạp, giết hại nhau.

 

     Cha mẹ không được phép bất nghĩa, bất nhân với con cái: bỏ rơi con cái, giết hại con cái, chà đạp đánh đập con cái, dạy con cái làm điều ác hại người.

 

      Không được nạo phá thai nhi.

 

      Không được sống độc thân.

 

     Không được bỏ bố, bỏ mẹ, bỏ vợ, bỏ chồng, bỏ con cái để sống cuộc sống ích kỷ.

 

  Hình tướng Đạo đời

 

Hình tướng Đạo đời là đối nhân xử thế, mưu sinh, lao động sản xuất, tương tác với vạn vật. Cụ thể:

 

      Không được sát sinh: giết hại muông thú, hành nghề sát sinh.

 

      Không được thông dâm, tà dâm: khi đã lập gia đình và đang chung sống với nhau dưới sự bảo hộ của luật pháp quốc gia thì không được phản bội lại vợ chồng mà đi lấy thêm vợ, chồng hoặc thông dâm với người khác; không được hiếp dâm, không được lạm dụng tình cảm của người khác để thỏa mãn dục vọng.

 

        Không được chửi rủa, chà đạp nhân phẩm người khác, không được đánh đập người khác.

 

       Không được giết hại người khác và giết hại chính

 

mình.

 

      Không được buôn người: trẻ em, phụ nữ, nô lệ.

 

      Không được hành nghề mại dâm.

 

      Không được dối trên lừa dưới, không được lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác.       Không được trộm cắp, cướp của.

 

      Không được phép sản xuất buôn bán những thứ gây tổn hại cho con người và muông thú, không được buôn bán và sản xuất những thứ mà pháp luật quốc gia không cho phép.

 

      Không được lười lao động.

 

      Người chủ lao động không được bóc lột sức lao động của người lao động, không được chửi rủa, không được chà đạp nhân phẩm, không được đánh đập và giết hại người lao động.

 

           Hình tướng Đạo đường

 

Hình tướng Đạo đường là con đường truyền dạy tri thức, trí tuệ của người thầy đối với người trò. Cụ thể:

 

     Học trò không được phép bất kính, bất nhân với thầy: chửi rủa, chà đạp nhân phẩm, đánh đập, giết hại thầy.

 

      Các học trò, các môn sinh không được gây mất đoàn kết, không được hãm hại nhau, không được chia rẽ xung đột.

 

      Các môn sinh không được nói dối nhau, không được nói dối thầy.

 

       Thầy không được phép bất nhân, bất nghĩa với trò: chửi rủa, chà đạp nhân phẩm, đánh đập, giết hại trò, dạy trò làm những điều ác, truyền dạy cho học trò đi ngược nhân quả vạn vật.

 

      Thầy không được phép lợi dụng học trò để thỏa mãn ái dục và tà dâm.

 

      Không được dùng tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo để lừa đảo hại người, trục lợi về mình, phá hủy giá trị đạo đức nhân văn của dân tộc và nhân loại.      Không được hành nghề mê tín dị đoan, bói toán, cúng cầu đi ngược Quy luật Nhân quả.

 

        Không được tuyên truyền những mê tín dị đoan, những hệ tư tưởng tiêu cực, hệ tư tưởng cúng bái cầu xin, hệ tư tưởng đi ngược Quy luật Nhân quả.

 

        Không được kích động, xung đột tôn giáo, không được lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền giáo lý sai khiến cho con người đánh mất giá trị đạo đức nhân văn tốt, khiến cho nhân loại u mê mà lừa hại hoại diệt lẫn nhau.

 

  Hình tướng Đạo Đế vương

 

Hình tướng Đạo Đế vương là mối quan hệ giữa những người lãnh đạo quốc gia và dân chúng đối với quốc gia dân tộc. Trong đó, dân tộc, lãnh thổ là chủ; vua quan, lãnh đạo và nhân dân là bề tôi. Cụ thể:

 

      Vua, quan không được phép bất trung với quốc gia, dân tộc: kích động chiến tranh, đi chiến tranh xâm lược, tham ô tham nhũng, bán nước hại dân, đàn áp giết hại dân chúng, để người dân đói nghèo dịch bệnh.

 

      Người dân không được phép bất trung với quốc gia: lười lao động, hành nghề mê tín dị đoan, xúi giục kích động phản động chia rẽ dân tộc, phản bội Tổ quốc, chạy trốn khi quốc gia lâm nguy.

 

Những quy tắc không được phép vi phạm trong bốn biểu hiện hình tướng Đạo chính là luật Nhân quả. Luật Nhân quả là luật công bằng, là sự phản chiếu lại nghiệp lực của chúng sinh đã tạo ra, nếu chúng sinh nào vi phạm vào những quy tắc của bốn biểu hiện hình tướng Đạo thì sẽ phải chịu quả nghiệp ở nhiều kiếp sau, thậm chí sẽ phải chịu quả nghiệp nhãn tiền trước mắt, và sau khi thoát tục cõi trần nhân sinh sẽ phải đọa vào các cửa ngục ngã quỷ.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng bộ quy tắc không được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo, còn gọi là nhân quả là để giúp con người và Tuệ linh nhận diện và triệt bỏ được độc tâm, cũng như không thực hành con đường chuyển sinh phân rã hoại diệt. Nếu con người và Tuệ linh vi phạm vào tức là sản sinh năng lượng âm, đó là con đường chuyển sinh theo hướng hoại diệt Tuệ linh.

 

7.2. Bộ quy tắc kích hoạt thiện Tâm của Tuệ linh và con người

 

Bộ quy tắc phải làm được trong tương tác của mỗi con người với bốn hình tướng Đạo sẽ giúp cho mỗi con người mã hóa và có trí tuệ thấu hiểu về phương pháp diệt khổ cũng như thiện Tâm của mình. Tiếp đến là mỗi người thực hành kích hoạt thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với bốn hình tướng Đạo. Việc thấu hiểu để kích hoạt được thiện Tâm sẽ giúp cho chúng ta chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

A. Hình tướng Đạo lễ

 

Hình tướng Đạo lễ là mối quan hệ tương tác trong gia đình, dòng họ, giữa vợ chồng, con cái, anh em, cha mẹ, tổ tiên, người sống với người đã mất. Đó là:

 

      Con người phải thấu hiểu Thiên Địa, thấu hiểu về vị Tuệ linh đầu tiên là Người Cha vĩ đại của Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Do đó phải tri ân đối với Thiên Địa.

 

Con cháu phải tưởng nhớ, tri ân với những vị anh hùng dân tộc đã có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phải tưởng nhớ và tri ân với cha ông đã hy sinh thân xác để xây dựng và bảo vệ quốc gia mình đang sinh sống.

 

       Con cái phải báo hiếu cha mẹ: phụng dưỡng, chăm sóc, thậm chí hy sinh thân xác để bảo vệ cha mẹ.

 

        Vợ chồng phải chung thủy tuyệt đối: yêu thương nhau, hy sinh vì nhau.

 

      Anh em phải nghĩa tình viên mãn: đoàn kết, chia sẻ, giúp đỡ nhau.

 

       Cha mẹ phải trả nghĩa con cái: dạy con cái thành người tốt, thấu hiểu đạo lý làm người, hy sinh vì con cái.

 

      Phải kết hôn lập gia đình và chăm sóc gia đình hạnh phúc để duy trì phát triển nhân loại.

 

  Hình tướng Đạo đời

 

Hình tướng Đạo đời là đối nhân xử thế, mưu sinh, lao động sản xuất, tương tác với vạn vật. Cụ thể:

 

      Phải thương yêu muông thú, bảo vệ muông thú, cứu giúp muông thú và vạn vật, bảo vệ thiên nhiên.

 

       Phải tôn trọng những người khác giới, giữ các mỗi quan hệ khác giới trong sáng.

 

       Phải giúp đỡ người khó khăn, khổ đau, hoạn nạn, nghèo khó.

 

       Phải hy sinh lợi ích của mình để bảo vệ nhân loại, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhân loại.

 

      Phải sống có nghĩa tình, phải giữ chữ tín đối với nhau.

 

      Phải quan tâm chăm sóc người già, trẻ em, phụ nữ.

 

       Kinh doanh, sản xuất phải tuân thủ pháp luật quốc gia và phải mang lại được lợi ích cho mọi người.       Phải chăm chỉ lao động, hăng say lao động sản xuất.

 

       Người chủ lao động phải quan tâm, thương yêu và giúp đỡ người lao động.

 

           Hình tướng Đạo đường

 

Hình tướng Đạo đường là con đường truyền dạy tri thức, trí tuệ của người thầy đối với người trò. Cụ thể:

 

     Học trò phải kính trọng thầy dạy.

 

      Các học trò, các môn sinh phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau.

 

     Các môn sinh phải nói lời thật tâm, phải chia sẻ thật.

 

      Thầy phải yêu thương trò và phải truyền dạy cho trò thấu hiểu đạo lý làm người để cải tạo thế giới quan tốt đẹp hơn.

 

     Thầy phải tôn trọng phẩm hạnh của học trò, tôn trọng và giữ gìn mối quan hệ trong sáng.

 

      Phải tôn tạo và bảo tồn những giá trị trong sáng của tín ngưỡng văn hóa, của các dòng đạo.

 

      Phải bài trừ mê tín, u mê lạc lối trong các tín ngưỡng, trong các tôn giáo bởi sự cúng cầu trái Quy luật Nhân quả.

 

      Phải thấu hiểu Thiên – Địa – Nhân, thấu hiểu Người Cha vĩ đại của Tuệ linh, con người. Phải thấu hiểu các dòng đạo đều là con dân của Ngài, do đó nhân loại phải đoàn kết, đoàn kết tôn giáo để cùng nhau cải tạo thế giới quan tốt đẹp hơn.

 

      Thầy và trò phải phổ độ và truyền dạy những tri thức chuẩn mực của hai Chân lý để nhân loại cùng đón nhận và thực hành cải tạo Trụ linh cho Tuệ linh.

 

            Hình tướng Đạo Đế vương

Hình tướng Đạo Đế vương là mối quan hệ giữa những người lãnh đạo quốc gia và dân chúng đối với quốc gia dân tộc. Trong đó, dân tộc, lãnh thổ là chủ; vua quan lãnh đạo và nhân dân là bề tôi. Cụ thể:

 

      Vua, quan phải xây dựng được quốc thái dân an, đời sống nhân dân ấm no, hòa bình, hạnh phúc, phải hy sinh lợi ích của mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ lợi ích của dân tộc.

 

      Người dân phải đoàn kết dân tộc, hăng say lao động sản xuất, hy sinh trí tuệ và thân xác để bảo vệ dân tộc, phát triển quốc gia ngày càng cường thịnh.

 

       Phải đoàn kết nhân loại, phải bài trừ sự kích động dân tộc, bài trừ chiến tranh.

 

Những quy tắc phải làm được trong bốn biểu hiện hình tướng Đạo chính là luật giác ngộ. Thực hành được luật giác ngộ chính là thực hành được cơ chế phân tách và liên kết hạt năng lượng bền vững cho Tâm. Khi Trụ linh phân tách ra vô số những hạt năng lượng của sự hy sinh và cống hiến thì trong tương lai, trong các kiếp sau sẽ được liên kết lại để kế thừa thành tựu và tiếp tục hành trình chuyển sinh bền vững.

 

Những quy tắc phải làm được trong bốn hình tướng Đạo chính là để giúp con người và Tuệ linh mã hóa được thông tin chân thật và kích hoạt thiện Tâm. Bởi nếu vị Tuệ linh đầu tiên không xây dựng thành bộ quy tắc cũng như gọi là luật giác ngộ thì con người và Tuệ linh sẽ không thể tìm ra con đường siêu việt nhất để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Như vậy, bộ quy tắc không được phép vi phạm và bộ quy tắc phải thực hiện được của con người và Tuệ linh trong tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo chính là con đường chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Con đường này được bảo vệ bởi những quy tắc kiểm soát độc tâm và lực đẩy để nhanh tới đích là những quy tắc phải làm được. Có thể nói, hai bộ quy tắc này chính là sự cứu giúp Tuệ linh, con người, đó là động lực để Tuệ linh và con người nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ tu học ở nhân gian để trở về bảo vệ và phát triển bền vững trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

              Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở Hình tướng và

 

Tâm

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã từng nói: “Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian".

 

Đạo của Vũ trụ hợp nhất chính là Vũ trụ quan xung quanh Tuệ linh và con người. Tuệ linh và con người phải dùng Trụ linh để thấu hiểu, cải tạo, phát triển Vũ trụ quan trở nên bền vững.

 

Dạng sống Tuệ linh chưa giải mã được toàn diện chính bản chất trong Trụ linh của mình, chưa giải mã được tất cả sự thật của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Do đó, họ chưa thấu hiểu cũng như cải tạo, phát triển Vũ trụ quan xung quanh họ trở nên bền vững, họ bị hoại diệt vô số. Vạn vật cấu tạo thành Vũ trụ cũng hoại diệt và tổn hao lớn, nguy cơ tất cả dạng sống trong và ngoài Vũ trụ sẽ hoại diệt. Chính vì vậy mà dạng sống Tuệ linh dưới sự dẫn dắt của vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo ra môi trường tu hành ở nhân gian cho dạng sống Tuệ linh an trụ trong thân tướng con người giản đơn. Họ an trụ trong thân tướng con người giản đơn để tương tác với nhau, với tất cả các nhóm vật chất cùng lúc, trong tất cả các kịch bản và môi trường khác nhau thông qua bốn hình tướng Đạo. Điều này đã giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên giải mã được toàn diện về Vũ trụ quan xung quanh dạng sống Tuệ linh. Đó là giải mã và thấu hiểu về cội nguồn, cấu trúc, cơ chế vận hành của tất cả các nhóm vật chất. Đó là giải mã và thấu hiểu được độc Tâm và thiện Tâm của chính họ và tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là năng lượng hoại diệt. Tiếp đến, Ngài đã tìm ra cơ chế để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng cho tất cả dạng sống Tuệ linh. Để mỗi Tuệ linh thực hành được cơ chế chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thì tất cả các Tuệ linh phải hóa thân xuống nhân gian tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo. Khi tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo sẽ giúp cho tất cả Tuệ linh giải mã và thấu hiểu được toàn diện về Vũ trụ quan xung quanh họ. Cuối cùng là thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng để phát triển bền vững chính họ và Vũ trụ quan xung quanh họ.

 

Đạo của Vũ trụ là sự hợp nhất của hình tướng, là sự hợp nhất của Tâm, là sự hợp nhất giữa hình tướng và Tâm. Thấu hiểu và thực hành đúng sẽ giúp cho mỗi Tuệ linh và con người đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, đó là đắc được bộ lọc năng lượng.

 

 

8.1. Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở Hình tướng

 Hình tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất gồm có không gian hợp nhất, tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất, thời gian hợp nhất. Tất cả hợp nhất tại con người tạo thành bốn hình tướng Đạo.

 

Không gian hợp nhất gồm có không gian bên trong tinh cầu Vũ trụ và không gian bên ngoài tinh cầu Vũ trụ. Con người tồn tại bên trong không gian của Vũ trụ và chịu sự tương tác của tất cả các nhóm vật chất bên trong và bên ngoài Vũ trụ. Do đó, không gian trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất tại con người.

 

Tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất tại con người. Bên ngoài Vũ trụ có nhóm vật chất cội nguồn và nhóm vật chất hoại diệt. Bên trong Vũ trụ có nhóm vật chất giản đơn, nhóm vật chất phức tạp và nhóm siêu vật chất. Tất cả năm nhóm vật chất tương tác với nhau trong sự thúc đẩy sự phát triển của nhau. Con người là đại diện của nhóm vật chất giản đơn bởi thân tướng và được Tuệ linh là đại diện của nhóm siêu vật chất an trụ bên trong. Con người sống và tương tác với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ. Do đó, tất cả các nhóm vật chất tồn tại trong và ngoài Vũ trụ hợp nhất tại con người.

 

Thời gian hợp nhất tại con người. Thời gian gồm có quá khứ cội nguồn, hiện tại và tương lai. Thời gian quá khứ là từ hạt sóng xanh hình thành ra năng lượng hoại diệt cho tới khi hình thành tinh cầu năng lượng, tinh cầu năng lượng khổng lồ bị nổ và hình thành ra các dạng sống trong Vũ trụ, các Tuệ linh trải qua vô số kiếp tu hành ở nhân gian trong thân tướng con người. Thân tướng con người hiện tại là thời gian hiện tại, là kết quả của quá khứ từ cội nguồn trong sự vận động để có sự hiện hữu ở hiện tại. Những vận động, hành động chuyển sinh ở hiện tại của con người sẽ tạo thành kết quả ở tương lai. Từ quá khứ tới hiện tại được vận động, tồn tại, phát triển bởi cơ chế phân tách và liên kết dây. Từ hiện tại để kết tạo thành tương lai cũng phải được vận động thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây.

 

Hình tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất bởi không gian, thời gian, sự tương tác của tất cả các nhóm vật chất ở mỗi con người tại môi trường tu hành Trái đất thông qua bốn hình tướng Đạo. Bốn hình tướng Đạo mà mỗi con người phải sống và tương tác trong nhiều kiếp tu hành là để tạo ra tất cả các kịch bản tương tác trong môi trường sóng điện khác nhau với tất cả các nhóm vật chất. Mục đích là thông qua bốn hình tướng Đạo hợp nhất tại con người là để Tuệ linh không có được sự tự do khi đang ở bên trong thân tướng con người, để bộc phát được độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm. Đặc biệt là phải thấu hiểu tất cả sự thật của tất cả các nhóm vật chất, chính mình, năng lượng hoại diệt để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Bốn hình tướng Đạo gồm có: Đạo đời, Đạo đường, Đạo Đế vương, Đạo lễ. Thông qua tất cả các kịch bản tương tác của mỗi con người trong bốn hình tướng Đạo nhằm thấu hiểu bản chất của Tâm và tìm được con đường chuyển hóa Tâm thành bộ lọc năng lượng.

 

 

8.2. Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở Tâm tướng

 

Vì hình tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất ở thân tướng con người, do đó Đạo của Vũ trụ hợp nhất cũng là ở Tâm tướng con người. Tâm tướng chính là trạng thái năng lượng được sinh phát từ sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng tận cùng cho tới Trụ linh của Tuệ linh, của vạn vật, Tâm của con người.

 

Tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ đều được cấu tạo từ hạt năng lượng tận cùng. Trong hạt năng lượng tận cùng có sợi mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng. Sợi mã sóng trí tuệ và trạng thái năng lượng bên trong hạt được gọi là Tâm.

 

Vũ trụ là tam hợp yếu tố mà thành. Dạng sống Tuệ linh được coi là trí tuệ sinh phát trạng thái năng lượng để vận hành hình tướng Vũ trụ. Trong Tuệ linh, cấu trúc Trụ trí sinh phát ra trạng thái năng lượng (Trụ tâm) để vận hành tướng Tuệ linh. Trụ trí và Trụ tâm của Tuệ linh được gọi là Trụ linh. Dạng sống Tuệ linh là bộ não, là trung tâm điều hành của cả Vũ trụ. Khi Tuệ linh hóa thân tu hành trong cơ thể con người để truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ thì Tâm của Vũ trụ chính là Tâm của con người.

 

Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại Tâm tướng con người là

 

vì:

 

      Tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ đều khổ đau, dạng sống Tuệ linh cũng khổ đau. Khổ đau chính là biến đổi mã sóng trí tuệ và xung đột trạng thái năng lượng trong cấu trúc tướng theo hướng phân rã và hoại diệt. Nguyên nhân của khổ đau là do các nhóm vật chất, Tuệ linh giải mã sai và không hoàn chỉnh về chính mình và vạn vật. Khi giải mã sai sẽ dẫn tới mất kiểm soát trong quá trình tương tác và chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt.

 

      Dạng sống Tuệ linh hóa thân tu hành ở nhân gian để thông qua các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo nhằm giúp Tuệ linh bộc phát hết độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm. Khi triệt được hết độc Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác với tất cả vạn vật ở nhân gian sẽ giúp cho hóa thân của Tuệ linh là con người sẽ tìm được con đường diệt khổ đau. Con đường diệt khổ đau là hành trình để tới được đích của mục đích tu hành, đó là đắc được bộ lọc năng lượng.

 

Như vậy, Tâm của con người là Tuệ linh, Tuệ linh là tâm của Vũ trụ. Vì vậy, việc truy tìm được con đường giải thoát khổ đau và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng của Tuệ linh ở nhân gian chính là tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ tại Tâm tướng con người.

 

 

8.3. Đạo của Vũ trụ hợp nhất giữa Hình tướng và Tâm tướng

 

Vì Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại hình tướng và Tâm tướng của con người, mà giữa hình tướng và Tâm tướng là một chỉnh thể hợp nhất, nên Đạo của Vũ trụ hợp nhất giữa hình tướng và Tâm tướng của con người.

 

Đạo của Vũ trụ hợp nhất giữa hình tướng và Tâm tướng con người chính là việc thông qua bốn hình tướng Đạo

 

  nhân gian của mỗi con người để thấu hiểu độc tâm và thiện tâm của chính mình, của mọi người, của vạn vật, của năng lượng hoại diệt trong tất cả các kịch bản tương tác với các điều kiện môi trường sóng điện khác nhau, từ đó truy tìm được con đường triệt tiêu độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm của chính mình để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh sẽ sản sinh ra các siêu hạt năng lượng để cải tạo, phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên đã kiến tạo môi trường tu hành của Tuệ linh ở nhân gian một cách kỳ diệu. Đó là trói buộc Tuệ linh trong thân tướng giản đơn là con người để tương tác với nhóm vật chất giản đơn, với nhóm vật chất phức tạp, với nhóm siêu vật chất, với năng lượng hoại diệt, với con người. Sự trói buộc và tương tác với tất cả các nhóm vật chất thông qua bốn hình tướng Đạo sẽ giúp cho bản chất độc Tâm và thiện Tâm của Tuệ linh, của tất cả vật chất sẽ được bộc phát hết. Độc Tâm chính là khổ đau, là năng lượng âm. Thiện Tâm là giác ngộ, là năng lượng dương.

 

Độc Tâm và thiện Tâm chính là bản chất của Tâm. Tâm chính là Tâm Đạo của Vũ trụ. Độc Tâm và thiện Tâm được bộc phát triệt để thông qua tất cả các kịch bản tương tác của mỗi con người trong bốn hình tướng Đạo. Điều này sẽ giúp cho con người và Tuệ linh thấy được giá trị tuyệt vời của việc tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian để cải tạo Trụ linh thành được bộ lọc năng lượng.

 

A. Hình tướng Đạo lễ

 

Thấu hiểu được độc Tâm bộc phát khi nào, khi nào triệt được độc Tâm, khi nào kích hoạt được thiện Tâm trong các nội dung của hình tướng Đạo lễ, khi đó chúng ta sẽ thấu hiểu và có niềm tin tưởng tuyệt đối ở bộ quy tắc không được phép vi phạm và bộ quy tắc phải làm được trong hình tướng Đạo lễ. Bởi đó là những chỉ dẫn của vị Tuệ linh đầu tiên để giúp cho Tuệ linh và con người ở nhân gian thấu hiểu cũng như thực hành nhanh nhất, siêu việt nhất để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Độc Tâm là khổ đau, là hạt năng lượng âm của Tâm. Hạt năng lượng âm được sản sinh bởi hành động thỏa mãn lợi ích ích kỷ về mình mà không màng hoặc gây tổn thương tới vạn vật, Tuệ linh và con người. Thiện Tâm là giác ngộ, là hạt năng lượng dương của Tâm. Hạt năng lượng dương được sản sinh bởi hành động cống hiến vì vạn vật, Tuệ linh và con người mà không vì lợi ích ích kỷ của bản thân.

 

Hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương sẽ được sản sinh thông qua các nội dung trong hình tướng Đạo lễ như sau:

 

        Nội dung trong quyết định kết hôn: Hôn nhân là nhiệm vụ của mỗi một con người để duy trì nòi giống mà vị Tuệ linh đầu tiên đã đặt ra, đặc biệt là để có các kịch bản tương tác trong hình tướng Đạo lễ. Bởi các kịch bản tương tác trong hình tướng Đạo lễ không thể thiếu trong việc giúp Trụ linh của Tuệ linh bộc phát được độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm. Khi một người, dù trong thân tướng nam giới hay nữ giới, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, họ phải đứng trước sự quyết định của hôn nhân. Đó là từ bỏ cuộc hôn nhân để sống cuộc sống độc thân và an nhàn hoặc quyết định kết hôn để xây dựng cuộc sống gia đình dù cuộc sống hôn nhân có đầy sóng gió. Khi đó, những quyết định sẽ tạo ra hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

       Quyết định sống độc thân để thỏa mãn sự an nhàn và không phải phiền não về cuộc sống gia đình: Khi quyết định như vậy, độc Tâm trong Trụ linh bắt đầu bộc phát và sẽ phân tách ra những hạt năng lượng âm vì Tuệ linh đau khổ không được thực hành cải tạo Trụ linh trong khi kiếp người ngắn ngủi. Nguyên nhân phân tách ra các hạt năng lượng âm là vì

Dạng sống Tuệ linh hóa thân thành con người để truy tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Vì vậy hình tướng Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại hình tướng con người. trí tuệ không hợp nhất với Tâm để quyết tâm tu học và chuyển hóa Trụ linh.


       Quyết định kết hôn để sống cuộc sống gia đình và sẵn sàng đương đầu cũng như chuyển hóa những sóng gió trong đời sống hôn nhân: Khi quyết định như vậy là Trụ linh đã kiểm soát và triệt được độc Tâm không cho bộc phát ở nội dung hôn nhân. Đặc biệt Trụ linh bắt đầu kích hoạt thiện Tâm, đó là phân tách ra những hạt năng lượng dương của sự cống hiến và mang lại giá trị tốt đẹp cho mọi người trong cuộc sống hôn nhân.

 

Nội dung vợ chồng mới kết hôn: Cuộc sống hôn nhân tạo ra vô số các kịch bản tương tác để bộc phát độc Tâm cũng như kích hoạt được thiện Tâm. Trước khi kết hôn, những thói quen, những cái tôi ích kỷ cho bản thân vẫn chưa được bộc phát ở cả người nam và người nữ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn, sự hòa hợp, sự bất đồng trong quan điểm sống của vợ chồng mới kết hôn sẽ làm bộc phát tất cả những cái tôi ích kỷ, những sự bất hòa, những điểm chưa hòa hợp trong môi trường mới. Khi đó, những quyết định từ hai vợ chồng sẽ tạo ra hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

        Khi mỗi người giữ nguyên cái tôi ích kỷ, giữ nguyên những suy nghĩ cho đến hành động tiêu cực về nhau trong những bất đồng về cuộc sống, Trụ linh sẽ phân tách ra những hạt năng lượng âm. Nguyên nhân là kịch bản tương tác trong cuộc sống vợ chồng mới kết hôn đã khiến cho bộc phát độcTâm.


        Mỗi người quyết định bỏ cái tôi ích kỷ, bỏ những suy nghĩ và hành động tiêu cực để hòa hợp với nhau, để mang lại hạnh phúc cho nhau, khi đó, Trụ linh sẽ phân tách ra những hạt năng lượng dương của sự phát triển hạnh phúc gia đình. Những quyết định đã giúp Trụ linh kiểm soát, triệt tiêu được độc Tâm và đặc biệt là kích hoạt được thiện Tâm.

 

       Nội dung người vợ hoặc chồng không có khả năng sinh con: Đây là một kịch bản tương tác dễ dàng khiến cho con người bộc phát độc Tâm. Khi người vợ hoặc người chồng không có khả năng sinh con, trong nhiều hoàn cảnh cũng như áp lực từ những người thân trong gia đình, người vợ và người chồng sẽ có những quyết định đầy khó khăn. Những quyết định tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:





 



        Một trong hai người không vượt qua được những áp lực, những mong cầu có con từ chính bản thân và từ những người thân. Hai người đưa ra quyết định ly hôn để giải thoát cho nhau với mong muốn sẽ có con với người khác. Nếu quyết định theo hướng này, Trụ linh của cả hai sẽ sản sinh ra hạt năng lượng âm, đó là độc tâm đã bộc phát. Người không có khả năng có con sẽ đau khổ, oán hận mà sản sinh ra hạt năng lượng âm. Người mong muốn có con mà phá vỡ hạnh phúc gia đình sẽ sản sinh hạt năng lượng âm. Nguyên nhân là cả hai không vượt qua được giả tướng con cái trong hoàn cảnh áp lực dẫn tới độc tâm bộc phát và không kiểm soát được.

 

        Cả hai người cùng tìm giải pháp khác, có thể là nhận con nuôi hay can thiệp bằng y học để quyết tâm xây dựng hạnh phúc gia đình. Đây là quyết định khó khăn và cần nghị lực để vượt qua những áp lực từ những người thân. Vì thấu hiểu giá trị hạnh phúc vợ chồng cần phải trao cho nhau, vì đã hy sinh và cống hiến cho nhau, nên từ Trụ linh của cả hai đã kiểm soát và triệt bỏ được độc Tâm, đồng thời kích hoạt được thiện Tâm, đó là sản sinh ra các hạt năng lượng dương của tình yêu và đoàn kết.

 

       Nội dung người vợ mang thai: Khi người vợ mang thai, trong nhiều hoàn cảnh họ đấu tranh tư tưởng và đi đến quyết định là phá bỏ thai nhi hoặc giữ lại để sinh và nuôi con trưởng thành. Cuộc sống mỗi người có những tương tác và hoàn cảnh khác nhau, hoàn cảnh khác nhau tạo thành sóng điện chi phối quyết định của mỗi con người. Khi đứng trước việc có thai trong những hoàn cảnh không mong muốn sinh con, dù hoàn cảnh như thế nào thì việc quyết định theo hai hướng sẽ sản sinh ra những hạt năng lượng khác nhau: 

Người vợ, người chồng vì thấy hoàn cảnh khó khăn, vì thấy thai nhi bệnh tật mà quyết định phá thai để không phải vướng bận cũng như vất vả hơn trong cuộc sống cho chính mình và con cái. Nếu quyết định phá bỏ thai nhi thì đó là hành động của u mê không thấu hiểu việc được làm người là vô cùng quý trọng đối với bất kỳ Tuệ linh hay linh hồn nào. Bởi được làm người là để được tương tác trong tất cả các kịch bản để bộc phát độc Tâm và học cách triệt bỏ được độc Tâm cũng như kích hoạt thiện Tâm. Khi phá bỏ thai nhi, Trụ linh của người cha, người mẹ sẽ phân tách ra hạt năng lượng âm của sự giết người. Đó là độc Tâm bộc phát rất mạnh.

 

          Người vợ, người chồng quyết tâm vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn để giữ thai nhi, để sinh con và nuôi dưỡng con thành người. Đó là hạnh động giúp cho Trụ linh của người vợ và người chồng phân tách ra hạt năng lượng dương. Việc phân tách được hạt năng lượng dương chính là thiện Tâm được kích hoạt, đồng thời cũng triệt và kiểm soát không cho độc Tâm bộc phát.

 

      Nội dung quyết định có hay không ngoại tình: Cuộc sống sau hôn nhân sẽ khiến cho mỗi người cảm thấy nhàm chán, dần dần nó có cơ hội bộc phát những độc Tâm bởi các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo. Khi một người đã có gia đình, vì sự nhàm chán trong tình yêu, vì sự khuyết điểm của nhau, vì sự không hạnh phúc hay hòa hợp về nhau, thậm chí là thích sự mới mẻ trong cuộc sống tình yêu, chỉ cần tương tác với một người khác mà cảm thấy được sự ấm áp cũng như thỏa mãn được mong muốn, người vợ hoặc người chồng sẽ có hai hướng đưa ra quyết định cho việc sản sinh hạt năng lượng:

 

       Quyết định ngoại tình để thỏa mãn sự mong muốn về tình yêu hạnh phúc hơn vợ chồng đang có, để thỏa mãn sự đổi mới: Quyết định này khiến cho Trụ linh sản sinh ra hạt năng lượng âm. Đó là độc Tâm đã bị bộc phát. Nguyên nhân vì trí tuệ bám định vào giả tướng của kịch bản tương tác mà không thấu hiểu cũng như kiểm soát được độc Tâm để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

         Quyết định triệt bỏ từ suy nghĩ cho tới hành động ngoại tình: Người vợ, người chồng cư xử chuẩn mực với mọi người khác giới bên ngoài, quyết tâm xây dựng hạnh phúc gia đình trong sự triệt bỏ cái tôi ích kỷ để mang lại hạnh phúc cho nhau, cho gia đình. Trụ linh khi đó sẽ phân tách ra các hạt năng lượng dương của sự cống hiến và hy sinh vì gia đình. Hạt năng lượng dương chính là thiện Tâm được kích hoạt, đồng thời thiện tâm đã triệt và kiểm soát để không cho độc Tâm bộc phát.

 

       Nội dung đối mặt với người vợ hoặc người chồng ngoại tình: Đối mặt với người vợ hoặc người chồng ngoại tình sẽ khiến cho mỗi người rất khó kiểm soát được cảm xúc và quyết định. Tình yêu vi phạm chuẩn mực giá trị đạo đức là nội dung tương tác khiến cho vô số Tuệ linh gục ngã ở nhân gian tu hành này. Dù trong hoàn cảnh nào, sự đối mặt và đưa ra các quyết định khi người vợ hoặc người chồng ngoại tình sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

Người vợ hoặc người chồng quyết định không tha thứ và cảm hóa người chồng hoặc người vợ đã có hành vi ngoại tình. Biết rằng lỗi lầm là của người đã có hành vi ngoại tình, tuy nhiên việc không tha thứ cũng như không cảm hóa người có hành vi ngoại tình sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra hạt năng lượng âm của sự chấp ngã và oán hận vì hành vi ngoại tình của người chồng hoặc người vợ. Như vậy độc Tâm đã bộc phát nhưng không kiểm soát được.


        Người vợ hoặc người chồng đưa ra quyết định là tha thứ, đồng thời cảm hóa người ngoại tình để thay đổi và xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc. Khi đó Trụ linh sẽ phân tách ra các hạt năng lượng dương của sự vị tha và đoàn kết. Đó là thiện Tâm đã được kích hoạt, đồng thời thiện Tâm đã triệt và kiểm soát không cho độc Tâm bộc phát.

 

      Nội dung người chồng cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập: Người chồng nghiện ngập, rượu chè, cờ bạc là một kịch bản rất thú vị, thú vị cho những người thân xung quanh và người vợ. Tất nhiên việc người chồng nghiện ngập, cờ bạc, rượu chè là thực hiện sản sinh năng lượng âm. Tuy nhiên trong kịch bản nội dung tương tác này sẽ khiến cho người vợ và những người thân đưa ra những quyết định tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

       Người vợ không chịu đựng được người chồng nghiện ngập, cờ bạc, rượu chè mà đưa ra quyết định ly hôn, thậm chí trong nhiều hoàn cảnh là giết hại người chồng. Khi quyết định như vậy sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra hạt năng lượng âm. Đó là độc Tâm đã được bộc phát. Nguyên nhân là Quy luật Nhân quả có sự phản chiếu từ tiền kiếp, vì không thấu hiểu nên dẫn tới không kiểm soát được độc Tâm và đã để độc Tâm bộc phát. 

         Người vợ và những người thân có quyết định tha thứ, có giải pháp để cảm hóa người chồng không còn nghiện ngập, cờ bạc, rượu chè. Khi đó Trụ linh sẽ sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự cảm hóa giúp nhau triệt được độc Tâm. Đó là thiện Tâm đã được kích hoạt để kiểm soát, triệt bỏ được độc Tâm của chính mình và của người chồng.

 

      Nội dung vợ chồng bất nhân, bất nghĩa hay hy sinh vì nhau: Đúng là cuộc sống tương tác trong hình tướng Đạo lễ đã tạo ra vô số kịch bản để bộc phát độc Tâm cũng như kích hoạt được thiện Tâm. Mối quan hệ cuộc sống của vợ chồng là kịch bản biến hóa thành các kịch bản mới vô cùng phong phú. Khi vợ chồng sống với nhau, trải qua những biến cố cuộc sống, những cái tôi ích kỷ bộc phát, những so sánh thiệt hơn, những thỏa mãn hay không thỏa mãn đã đưa ra những quyết định của cả hai vợ chồng để tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

        Vợ chồng bất nhân, bất nghĩa với nhau: Đó là những quyết định đã tạo thành hành động chà đạp nhân phẩm nhau, xúc phạm nhau, đánh đập nhau, bỏ nhau, giết hại nhau. Những quyết định này khiến cho Trụ linh phân tách ra nhiều hạt năng lượng âm. Đó là độc Tâm đã bộc phát và không kiểm soát được. Nguyên nhân vì trí tuệ bám định vào các giả tướng để thỏa mãn ích kỷ cho bản thân mình mà gây tổn thương tới người vợ hoặc chồng.

 

        Vợ chồng tình nghĩa và hy sinh vì nhau: Đó là những suy nghĩ cho tới những hành động yêu thương nhau, giúp đỡ nhau, tôn trọng nhau, bảo vệ nhau, hy sinh vì nhau. Những hành động đó khiến cho Trụ linh phân tách ra những hạt năng lượng dương của tình thương và đoàn kết. Đó là những thiện Tâm đã được kích hoạt, đồng thời thiện Tâm đã kiểm soát và triệt được độc Tâm.

 

      Nội dung người vợ hoặc người chồng chết mà chưa có con: Đây là những kịch bản phải có trong hành trình tu hành của các Tuệ linh ở nhân gian. Khi người vợ hoặc người chồng chết mà hai vợ chồng chưa có con, kịch bản này tạo thành những quyết định của người còn lại trong cuộc sống. Những quyết định tạo thành hai hướng sản sinh ra hạt năng lượng: 

        Người vợ hoặc người chồng quyết định kết hôn tiếp. Đây là một canh bạc vì sẽ gây tổn thương tới đứa con, gây tổn thương tới người đã mất. Bởi kế hoạch cái chết là để giúp người ở lại bộc phát và kiểm soát được độc Tâm. Khi người ở lại ham muốn giả tướng mà quyết định kết hôn tiếp, Trụ linh sẽ phân tách ra các hạt năng lượng âm. Đó là độc Tâm đã bộc phát vì không có sự hy sinh cũng như cống hiến cho con, trả nghĩa vì người đã chết. Đặc biệt sẽ không có thời gian cải tạo Trụ linh vì mải mê trong mối tình mới.

       Người vợ hoặc người chồng ở vậy nuôi con thành tài. Đây là sự cống hiến hy sinh vì con cái. Khi con cái trưởng thành, cũng là thời gian quý báu để thực hành cải tạo Trụ linh thông qua con đường phổ độ tri thức giác ngộ tới mọi người. Trụ linh sẽ sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự hy sinh, cống hiến cho con cái và xã hội. Đó là thiện Tâm đã được kích hoạt để triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm.

 

      Nội dung người vợ hoặc chồng mắc bệnh: Nội dung kịch bản tương tác này sẽ tạo ra những quyết định của người vợ, người chồng đối với người mắc bệnh. Những quyết định tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

        Người vợ hoặc người chồng vì hoàn cảnh nào đó mà đưa ra quyết định bỏ mặc người chồng hoặc vợ đang bị bệnh. Khi có suy nghĩ cho tới hành động bỏ mặc sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra năng lượng âm. Người bị bỏ mặc cũng oán hận mà sản sinh ra năng lượng âm. Như vậy vừa bộc phát độc Tâm của mình và khiến người vợ hoặc chồng cũng bộc phát độc Tâm.

        Người vợ hoặc người chồng chạy đua với thời gian, hy sinh công sức, tiền của để cứu chữa người chồng hoặc vợ đang bị bệnh. Sự hy sinh và cứu giúp sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của tình yêu và sự hy sinh. Đó là thiện Tâm được kích hoạt cho cả vợ và chồng, từ đó sẽ triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm.

 

      Nội dung cha mẹ với con cái: Nội dung tương tác của cha mẹ với con cái có rất nhiều nội dung, nội dung sẽ là hành trình từ con còn bé cho tới khi cha mẹ hoại diệt thân tướng. Trong nội dung của cha mẹ với con cái chỉ đưa ra nội dung tổng hợp, trong từng nội dung nhỏ, chúng ta đều vận dụng trên trục tọa độ sản sinh hạt năng lượng. Những quyết định của cha mẹ đối với con cái tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

        Cha mẹ không cống hiến cho con cái từ chuyện học hành, nuôi dạy đúng đắn thành người, cha mẹ chửi bới con cái, đánh đập con cái, xúc phạm con cái, bỏ mặc con cái, giết hại con cái. Những hành động đó khiến cho Trụ linh của cha mẹ sản sinh ra các hạt năng lượng âm của bất nhân, bất nghĩa. Những hạt năng lượng âm là những độc Tâm đã bộc phát và không kiểm soát được.

         Cha mẹ có những quyết định hy sinh, cống hiến vì con cái, nuôi dạy con cái thành người tốt, bảo vệ con cái, thậm chí hy sinh cho con cái. Những quyết định này khiến cho Trụ linh của cha mẹ sản sinh ra những hạt năng lượng dương của tình nghĩa và sự hy sinh. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm được kích hoạt cả ở cha mẹ và của con cái.

 

      Nội dung con cái với cha mẹ: Nội dung tương tác của con cái với cha mẹ là các kịch bản tương tác của con cái trong sự báo hiếu, tri ân với cha mẹ. Nội dung này là tổng hợp của vô số các kịch bản tương tác giữa con cái với cha mẹ. Khi gặp từng nội dung nhỏ trong tương tác của con cái với cha mẹ, chúng ta áp dụng trục tọa độ sản sinh hạt năng lượng sẽ thấu hiểu và kiểm soát được độc Tâm cũng như kích hoạt được thiện Tâm. Những quyết định của con cái đối với cha mẹ sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:




        Con cái đưa ra những quyết định bất nhân, bất hiếu với cha mẹ: Bỏ mặc, xúc phạm, chà đạp nhân phẩm, giết hại cha mẹ. Khi đó Trụ linh sẽ phân tách ra những hạt năng lượng âm của sự u mê và dã tâm. Như vậy, độc Tâm bộc phát mà không kiểm soát được.

 

        Con cái đưa ra những quyết định báo hiếu và hy sinh vì cha mẹ. Đây là những quyết định khiến cho Trụ linh của con cái phân tách ra những hạt năng lượng dương của báo hiếu và hy sinh. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt bỏ độc Tâm trong tương tác với cha mẹ.

 

      Nội dung anh em trong gia đình: Nội dung tương tác trong anh em gia đình có nhiều kịch bản tương tác. Những quyết định đưa ra đều tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

        Anh em tranh giành quyền lợi, lợi ích, chà đạp nhân phẩm, xúc phạm, giết hại nhau. Những hành động đó sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.

        Anh em không tranh giành, nhường nhịn nhau, cho nhau, giúp nhau, bảo vệ nhau, hy sinh vì nhau. Những hành động đó sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt bỏ được độc Tâm.

 

      Nội dung con cháu với tổ tiên: Nội dung con cháu với tổ tiên có nhiều kịch bản tương tác, đó là sự tri ân và báo hiếu của con cháu với tổ tiên. Những quyết định trong nội dung con cháu với tổ tiên sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

       Con cháu phỉ báng tổ tiên, xúc phạm tổ tiên, phá hoại nơi thờ tự hay mồ mả của tổ tiên. Những hành động này sẽ khiến Trụ linh của con cháu phân tách ra những hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm là những độc Tâm đã bộc phát và không kiểm soát được.

        Con cháu tri ân, tôn kính, bảo vệ mồ mả, bảo vệ nơi thờ tự tổ tiên. Những hành động này khiến cho Trụ linh phân tách ra những hạt năng lượng dương của sự tri ân báo hiếu với tổ tiên. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm được kích hoạt và kiểm soát cũng như triệt bỏ được độc

 

Tâm.

 

      Nội dung con người đối với cội nguồn: Nội dung này có vô số các kịch bản, đó là phỉ báng Thiên Địa, hành nghề mê tín dị đoan, lợi dụng Thánh thần hay Thượng đế để lừa người và trục lợi về mình, bảo vệ sự tôn kính với Thiên Địa và tri ân cội nguồn của nhân loại. Những hành động sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

Những hành động phỉ báng cội nguồn Thiên Địa, lợi dụng Thánh thần để hành nghề mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo để mị dân: Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra vô số những hạt năng lượng âm. Đó là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.



        Những hành động bài trừ mê tín dị đoan, bảo vệ sự trong sáng của cội nguồn cũng như tôn kính Thiên Địa: Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra vô số hạt năng lượng dương. Đó là những thiện Tâm được kích hoạt, đồng thời kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm.

 

      … Còn vô số nội dung tương tác với các hoàn cảnh khác nhau trong hình tướng Đạo lễ. Mỗi nội dung tương tác trong hình tướng Đạo lễ, chỉ cần áp dụng trục tọa độ sản sinh hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương là chúng ta sẽ thấu hiểu độc Tâm bộc phát khi nào, độc Tâm được triệt khi nào và thiện tâm được kích hoạt khi nào.

 

  Hình tướng Đạo đời

 

Thấu hiểu được độc Tâm bộc phát khi nào, khi nào triệt được độc Tâm, khi nào kích hoạt được thiện Tâm trong các nội dung của hình tướng Đạo đời, khi đó chúng ta sẽ thấu hiểu và có niềm tin tưởng tuyệt đối ở bộ quy tắc không được phép vi phạm và bộ quy tắc phải làm được trong hình tướng Đạo đời. Bởi đó là những chỉ dẫn của vị Tuệ linh đầu tiên để giúp cho Tuệ linh và con người ở nhân gian thấu hiểu cũng như thực hành nhanh nhất, siêu việt nhất để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Độc Tâm là khổ đau, là hạt năng lượng âm của Tâm. Hạt năng lượng âm được sản sinh bởi hành động thỏa mãn lợi ích ích kỷ về mình mà không màng hoặc gây tổn thương tới vạn vật, Tuệ linh và con người. Thiện Tâm là giác ngộ, là hạt năng lượng dương của Tâm. Hạt năng lượng dương được sản sinh bởi hành động cống hiến vì vạn vật, Tuệ linh và con người mà không vì lợi ích ích kỷ của bản thân.

 

Hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương sẽ được sản sinh thông qua các nội dung trong hình tướng Đạo đời như sau:

 

      Nội dung con người bảo vệ hay giết hại muông thú: Tại các cuộc tập kết nhân loại, vị Tuệ linh đầu tiên đã giao nhiệm vụ cho con người là thuần hóa muông thú để chúng cũng trở thành người tu hành cùng. Thuần hóa là để linh hồn của chúng có đủ năng lượng và duy trì được sự sống khi đầu thai làm con người. Tuy nhiên, cuộc sống sinh tồn của con người, những thú vui bởi giết hại và ăn thịt muông thú đã diễn ra không lâu sau cuộc tập kết nhân loại. Những quyết định bảo vệ hay giết hại muông thú sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

        Con người giết hại muông thú để thỏa mãn thú vui hoặc thỏa mãn sở thích ăn uống. Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm của sự giết hại. Những hạt năng lượng âm chính là độc Tâm được bộc phát và mất kiểm soát.



          Con người không giết hại muông thú, cứu giúp muông thú được sống tự do. Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự cứu giúp và bảo vệ. Những hạt năng lượng dương là thiện Tâm được kích hoạt và kiểm soát được độc Tâm của chính con người và chính linh hồn của muông thú khi chúng được cứu giúp.

 

     Nội dung con người có hành nghề giết mổ hay không: Cuộc sống mưu sinh và những giá trị lợi ích của đồng tiền là những kịch bản để giúp bộc phát độc và thiện Tâm của Tuệ linh ở nhân gian. Những hành động quyết định hành nghề giết mổ hay không hành nghề giết mổ trong những hoàn cảnh của sự lựa chọn của các kịch bản này sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

Con người quyết định hành nghề giết mổ để mưu sinh, để làm giàu, để thỏa mãn cuộc sống tốt đẹp hơn. Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh vô số năng lượng âm và những linh hồn của muông thú cũng oán hận mà sản sinh vô số năng lượng âm. Như vậy, những hành động hành nghề giết mổ đã bộc phát vô số độc Tâm của con người và muông thú trong sự mất kiểm soát.




        Con người quyết định không hành nghề giết mổ, con người tìm kiếm công việc khác để mưu sinh thay thế cho làm nghề giết mổ. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự không sát sinh. Đó là thiện Tâm được bộc phát và đã kiểm soát, triệt tiêu được độc Tâm.

 

       Nội dung con người lười lao động hay chịu khó lao động: Sự vận động để sinh tồn, để phát triển trí tuệ, để phát triển cuộc sống, để cải tạo Trụ linh gắn liền với lao động sản xuất. Lười lao động hay chịu khó lao động là những quyết định tạo thành hai hướng sản sinh ra hạt năng lượng:

 

        Con người khi có những quyết định không chịu khó lao động sản xuất, lười lao động sản xuất. Những quyết định này khiến cho Trụ linh sản sinh hạt năng lượng âm. Nguyên nhân vì trí tuệ bám định vào giả tướng thích hưởng thụ và ghét lao động nên thân và Tâm không hợp nhất để cải tạo Trụ linh trong kiếp người ngắn ngủi. Khi đó, độc Tâm đã bị bộc phát và mất kiểm soát.


        Con người có những hành động chịu khó, chăm chỉ lao động sản xuất. Khi đó, Trụ linh sẽ phân tách ra những hạt năng lượng dương của sự cống hiến và phát triển cuộc sống. Những hạt năng lượng dương là những thiện Tâm đã được kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm.

 

      Nội dung của người lao động đối với chủ lao động: Mối quan hệ tương tác của người lao động với chủ lao động sẽ tạo thành những quyết định trong quá trình lao động. Những quyết định sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

Không chăm chỉ lao động, không cống hiến, phá hoại sản xuất cũng như công việc của chủ lao động: Những hành động này sẽ khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm là những độc Tâm đã bị bộc phát và mất kiểm soát.

 

        Chăm chỉ lao động, cống hiến và tận tình trong công việc: Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự cống hiến và tận tình. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát cũng như triệt tiêu được độc Tâm.

 

      Nội dung của người chủ lao động với người lao động: Tương tác giữa chủ lao động với người lao động tạo ra vô số các kịch bản để bộc phát độc Tâm và kích hoạt thiện Tâm của cả hai đối tượng. Những quyết định của người chủ lao động với người lao động tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

         Người chủ lao động có những hành động chà đạp nhân phẩm người lao động, bóc lột sức lao động, đàn áp, đánh đập, thậm chí là giết hại người lao động. Những hành động này khiến cho Trụ linh của người chủ lao động sản sinh ra các hạt năng lượng âm của u mê và hành động độc ác.


Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát.         Người chủ lao động có những hành động quan tâm, giúp đỡ, cưu mang, tận tâm với người lao động. Những hành động này khiến cho Trụ linh của người chủ lao động sản sinh ra những hạt năng lượng dương mang đặc tính bảo vệ, cứu giúp và cống hiến. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt được độc Tâm của người chủ và người lao động.

 

      Nội dung của việc kinh doanh vi phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật: Nội dung kinh doanh vi phạm pháp luật có vô số những nội dung nhỏ khác bởi nội dung này có vô số các kịch bản tương tác. Những quyết định trong kinh doanh có vi phạm hay tuân thủ pháp luật sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

         Con người kinh doanh sản xuất vi phạm pháp luật như sản xuất, buôn bán những mặt hàng, nội dung mà pháp luật quốc gia sở tại cấm. Khi con người cố tình thực hiện các hành vi sản xuất kinh doanh những mặt hàng cấm sẽ khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Đó là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân vì trí tuệ bám định vào giả tướng không có giàu sang mà vi phạm pháp luật để thỏa mãn sự giàu có.

        Con người tuân thủ pháp luật, thực hành kinh doanh, sản xuất những mặt hàng, những điều mà pháp luật của quốc gia sở tại cho phép. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự tuân thủ mà không vi phạm vào pháp luật. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm đã được kích hoạt để kiểm soát và triệt bỏ được độc Tâm.

 

      Nội dung của việc kinh doanh gây tổn hại hay có lợi ích cho con người và vạn vật: Nội dung này có nhiều kịch bản tương tác với vô số các lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh gây hại hay mang lại lợi ích cho con người. Những tham lam về sự giàu sang hay những nhận thực của việc làm giàu chân chính đã tạo thành những quyết định sản sinh hạt năng lượng theo hai hướng: 

          Kinh doanh những sản phẩm, những mặt hàng, những vấn đề gây tổn hại tới đời sống, tới sức khỏe của con người, đó là những sản phẩm không chất lượng, những sản phẩm giả, những thủ đoạn hại người: Những hành động kinh doanh như vậy sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm là những độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát.

        Kinh doanh những sản phẩm chất lượng, những sản phẩm mang lại lợi ích cho con người, những sản phẩm an toàn với con người: Những hành động như vậy sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự phát triển và cống hiến. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm.

 

       Nội dung có ăn chơi trụy lạc hay không: Trong các kịch bản tương tác của nội dung ăn chơi trụy lạc hay không ăn chơi trụy lạc có nhiều nội dung nhỏ. Đó là từ những thú vui hưởng thụ cho tới những tệ nạn gây nguy hiểm sức khỏe và tính mạng. Những quyết định lựa chọn lối sống sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

        Con người ăn chơi, trụy lạc, hưởng thụ mà không tu học cải tạo Trụ linh. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là vì trí tuệ bám định vào sự hưởng thụ giả tướng mà thỏa mãn các thú vui ăn chơi, gây tổn thương cho gia đình và chính mình. Trong khi một kiếp người thì ngắn ngủi, chỉ mải ăn chơi là sẽ không có cơ hội cải tạo Trụ linh.          Con người không ăn chơi trụy lạc, thay vào đó là chăm chỉ lao động, chăm chỉ học hành, thực hành đời sống cống hiến vì vạn vật và nhân loại. Những hành động này khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự cống hiến. Những năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm.

 

      Nội dung tình yêu nam nữ: Trong nội dung tình yêu nam nữ có nhiều nội dung nhỏ. Đó là từ những tình yêu ở tuổi còn trẻ cho tới tiền hôn nhân. Những quyết định trong tình yêu nam nữ sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

Tình yêu gắn liền với những lợi dụng thân xác để thỏa mãn sắc dục, lợi dụng và gây tổn thương cho nhau. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là trí tuệ u mê bám định vào sắc dục và tình yêu không trong sáng để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ của bản thân.

       Tình yêu gắn liền với những sự tôn trọng, trong sáng vì nhau, bảo vệ phẩm giá cho nhau, không lợi dụng gây tổn thương cho nhau. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của tình yêu và đoàn kết. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm đã được kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu được độc

 

Tâm.

 

      Nội dung có tà dâm hay không: Nội dung tà dâm có nhiều nội dung nhỏ khác nhau. Tà dâm là những hành vi pháp luật không cho phép, là những hành vi vi phạm đạo đức. Đó là những hành động ngoại tình, những hành vi hiếp dâm, những hành vi ấu dâm, những hành vi lợi dụng để thỏa mãn sắc dục. Những quyết định có hay không hành vi tà dâm sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

        Con người thực hiện những hành vi tà dâm sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm là độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là trí tuệ u mê bám định vào giả tướng sắc dục nên khiến cho độc Tâm bộc phát.

 

        Con người thực hiện những hành vi chuẩn mực, tôn trọng những người khác giới, bảo vệ cho nhau, không lợi dụng hay đáp ứng sự ham muốn sắc dục của người khác. Những hành động này khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự bảo vệ và đoàn kết. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát cũng như triệt tiêu được độc Tâm.

 

Nội dung giết người hay cứu người: Nội dung hành động giết người hay cứu người có rất nhiều kịch bản trong tương tác bởi bốn hình tướng Đạo. Đây có lẽ là các kịch bản tương tác vô cùng khốc liệt để bộc phát được độc Tâm và kích hoạt được thiện Tâm. Những hành động sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

        Những hành động giết người khác, hành động tự tử dù trong bất cứ hoàn cảnh nào đều khiến Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng âm của sự giết hại. Những hạt năng lượng âm chính là độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là bởi trí tuệ bám định vào thù ghét mà khiến độc Tâm bộc phát.

 

        Những hành động cứu người trong tất cả các hoàn cảnh khác nhau đều khiến Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương của sự cứu giúp và hy sinh để bảo vệ. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm.

 

      Nội dung giúp người hay hãm hại người: Trong nội dung này cũng có nhiều nội dung nhỏ. Giúp người hay hại người chưa tới mức là giết hại. Tuy nhiên những hành động trong nội dung tương tác này đều tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:



        Những hành động hãm hại người để thỏa mãn sự đố kỵ hay thù ghét đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là trí tuệ bám định vào giả tướng thù ghét hay đố kỵ mà bộc phát độc Tâm.

 

       Những hành động giúp người vượt qua khó khăn hay kiếp nạn đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm.

 

      Nội dung trong mối quan hệ khác giới khi đã có gia đình: Các kịch bản trong mối quan hệ khác giới sẽ sinh phát thành các kịch bản trong nội dung ngoại tình. Do đó, những hành động trong nội dung mối quan hệ khác giới sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:          Lợi dụng trong tương tác cuộc sống để có những hành động không chuẩn mực, hành động khiếm nhã với người khác giới đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là các độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát trong mối quan hệ với người khác giới.

       Trong tương tác với những người khác giới có những hành động tôn trọng, những hành động chuẩn mực sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu những độc Tâm.

 

      Nội dung hành nghề mại dâm hay không: Cuộc sống khó khăn, những lợi thế về sắc đẹp và thân hình của những người nam và người nữ đã tạo thành nhiều kịch bản tương tác trong cuộc sống phải đưa ra quyết định bởi những cám dỗ. Những quyết định có hành nghề mại dâm hay không sẽ tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:          Thực hiện hành nghề mại dâm để thỏa mãn nhu cầu ái dục, để thỏa mãn nhu cầu tiền của, dù là lý do nào khác đi nữa, tất cả đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát.

        Không vì bất kỳ lý do nào, người nam hay người nữ đều đưa ra những quyết định không hành nghề mại dâm. Điều này đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để triệt tiêu và kiểm soát được những độc Tâm trong các kịch bản tương tác trong cuộc sống.

 

      Nội dung buôn bán trẻ em phụ nữ hay cứu giúp họ: Có nhiều kịch bản cho nội dung này. Những quyết định cứu giúp hay buôn bán trẻ em và phụ nữ đều khiến cho Trụ linh có hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

        Thực hiện các hành vi buôn bán trẻ em và phụ nữ sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra những hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm đã bộc phát và mất kiểm soát. Nguyên nhân là do trí tuệ bám định vào giả tướng mong giàu sang nên khiến độc Tâm bộc phát.

       Thực hiện các hành vi cứu giúp và bảo vệ trẻ em, phụ nữ đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương của sự cứu giúp và bảo vệ. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu độc Tâm.

 

      Nội dung chà đạp nhân phẩm, đánh đập hay bảo vệ nhân phẩm và giúp đỡ: Nội dung này có vô số các kịch bản tương tác. Những quyết định đều tạo thành hai hướng sản sinh hạt năng lượng:

 

         Những hành động chà đạp nhân phẩm, đánh đập người khác đều khiến Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng âm. Những hạt năng lượng âm chính là những độc Tâm đã được bộc phát và mất kiểm soát.

 

        Những hành động bảo vệ nhân phẩm, giúp đỡ nhau đều khiến cho Trụ linh sản sinh ra các hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng dương chính là những thiện Tâm được kích hoạt để kiểm soát và triệt tiêu những độc Tâm.

8.4. Tuệ linh và con người đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ

 

Trước tiên chúng ta hãy hình dung cơ thể con người để trưởng thành thì cần phải ăn uống có dinh dưỡng, cần phải vận động để tế bào phân tách và trưởng thành. Một người có được sự thành công trong cuộc sống thì họ cần phải học tập và vận động ứng dụng tri thức trong công việc. Như vậy để một người trưởng thành và thành công trong cuộc sống cần phải vận động. Đó là vận động để giải mã sự thật của vạn vật, vận động để mã hóa tri thức thành hạt năng lượng, vận động để cơ thể trưởng thành, vận động để mã hóa và chuyển hóa thành sự thành công.

 

Xét về sự trưởng thành của cơ thể con người, ban đầu cơ thể con người chỉ là phôi thai nhi được hợp nhất bởi trứng mang tính âm và tinh trùng mang tính dương, thông qua cơ chế phân tách và liên kết tế bào mà cơ thể phôi thai nhi có được sự trưởng thành. Quá trình trưởng thành của thai nhi gắn liền với quá trình tất cả các tế bào được phân tách từ phôi thai nhi đã được mã hóa thành những tế bào chức năng. Đó là nhóm cấu trúc tế bào được mã hóa thông tin để cấu tạo thành xương, các nhóm cấu trúc tế bào được mã hóa thành tế bào cấu tạo thành gan, thận, tim, phổi, da, mặt, đầu, chân, tay… Từ những nhóm tế bào chức năng đã được mã hóa, chúng phân tách liên kết chặt để cấu tạo cơ thể trở nên to lớn và khỏe mạnh.

 

Vậy làm thế nào để Tuệ linh có được sự trưởng thành cũng như đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ?

 

Tất cả các Tuệ linh đều phải tu hành ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo mới giúp Tuệ linh trưởng thành và đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Vì tại môi trường tu hành này, vị Tuệ linh đầu tiên đã tạo thành một môi trường đảm bảo có đầy đủ tất cả các nhóm vật chất tương tác với Tuệ linh an trụ trong thân tướng vật chất giản đơn là con người. Đặc biệt là có sự tương tác vô cùng lớn từ năng lượng hoại diệt tới môi trường tu hành này.

 

      Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính là sự hợp nhất tất cả các nhóm vật chất, không gian, thời gian của Vũ trụ tại hình tướng và Tâm của con người, vì Tâm của con người chính là dạng sống Tuệ linh.

 

     Đạo của Vũ trụ hợp nhất tại Tâm của con người thông qua bốn hình tướng Đạo. Do đó, cơ sở để khẳng định Tuệ linh trưởng thành và đắc được bộ lọc năng lượng là phải triệt tiêu được tất cả các độc Tâm và kích hoạt được tất cả các thiện Tâm trong Trụ linh của Tuệ linh. Khi đó Tuệ linh thực hành đời sống phân tách ra vô số cho tới đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương siêu mạnh và lượng sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm siêu nhẹ để cấu tạo và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi thực hiện đời sống thiện Tâm, tức là đời sống phân tách liên kết các hạt năng lượng dương, cấu trúc năng lượng của Tuệ linh sẽ trở nên lớn mạnh và trưởng thành, cũng là cơ sở để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Nếu thực hiện đời sống độc Tâm, tức là đời sống phân tách liên kết các hạt năng lượng âm từ mạnh cho tới siêu mạnh sẽ khiến cấu trúc Tuệ linh không được liên kết trưởng thành, khi đó năng lượng hoại diệt sẽ xâm nhập vào làm phân rã và hoại diệt Tuệ linh. Đặc biệt Tuệ linh tu hành trong thân tướng con người với sự trói buộc trong thân tướng, để kích hoạt được thiện Tâm thì đó là kết quả của việc thấu hiểu và triệt được độc Tâm. Do đó việc Trụ linh sản sinh ra hạt năng lượng dương sẽ đồng loạt sản sinh ra cả hạt năng lượng chân tâm cùng hạt năng lượng âm có sóng điện âm vô cùng nhẹ. Chính vì vậy, thực hành sản sinh năng lượng dương chính là để giúp Tuệ linh trưởng thành và đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

Quá trình Tuệ linh trưởng thành và đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ diễn ra như thế nào thông qua bốn hình tướng Đạo?

 

      Thông qua hình tướng Đạo lễ với tất cả các kịch bản tương tác trong mọi hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc Tâm và thấu hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác của hình tướng Đạo lễ, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng âm có sóng điện âm siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt năng lượng đó đã được giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ thống hạt năng lượng sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo lễ sẽ liên kết với nhau để giúp Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc cấu tạo chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ thống hạt năng lượng của hình tướng Đạo lễ sau khi được liên kết bền vững với nhau sẽ tạo thành hệ thống hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng. Nó giúp cho Tuệ linh phát triển được tình yêu thương, quan tâm, giúp đỡ, tri ân cội nguồn, nghĩa tình với tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, điều mà nếu Tuệ linh chưa trưởng thành sẽ không có được.       Thông qua hình tướng Đạo đời với tất cả các kịch bản tương tác trong mọi hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc Tâm và thấu hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác của hình tướng Đạo đời, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng âm có sóng điện âm siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt năng lượng đó đã được giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ thống hạt năng lượng sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo đời sẽ liên kết với nhau để giúp Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc cấu tạo chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ thống hạt năng lượng của hình tướng Đạo đời sau khi được liên kết bền vững với nhau sẽ tạo thành hệ thống hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng. Nó giúp cho Tuệ linh phát triển và thực hiện được đời sống cống hiến, bảo vệ, phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững, điều mà nếu Tuệ linh chưa trưởng thành sẽ không có được.

 

      Thông qua hình tướng Đạo đường với tất cả các kịch bản tương tác trong mọi hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc Tâm và thấu hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác của hình tướng Đạo đường, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng âm có sóng điện âm siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt năng lượng đó đã được giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ thống hạt năng lượng sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo đường sẽ liên kết với nhau để giúp Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc cấu tạo chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ thống hạt năng lượng của hình tướng Đạo đường sau khi được liên kết bền vững với nhau sẽ tạo thành hệ thống hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng. Nó giúp cho Tuệ linh phát triển và có được trí tuệ của vạn vật, điều mà nếu Tuệ linh chưa trưởng thành sẽ không có được.

 

      Thông qua hình tướng Đạo Đế vương với tất cả các kịch bản tương tác trong mọi hoàn cảnh, khi con người thấu hiểu, kiểm soát, triệt bỏ được hết độc Tâm và thấu hiểu, kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác của hình tướng Đạo Đế vương, Trụ linh trong Tuệ linh sẽ phân tách ra vô số hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng âm có sóng điện âm siêu nhẹ, vô số hạt năng lượng chân tâm. Tất cả những hạt năng lượng đó đã được giải mã và mã hóa thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ vào sợi mã sóng trí tuệ trong hạt năng lượng. Hệ thống hạt năng lượng sau khi được sản sinh ra trong hình tướng Đạo Đế vương sẽ liên kết với nhau để giúp Tuệ linh trưởng thành và có đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc cấu tạo chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đặc biệt là hệ thống hạt năng lượng của hình tướng Đạo Đế vương sau khi được liên kết bền vững với nhau sẽ tạo thành hệ thống hạt năng lượng có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng. Nó giúp cho Tuệ linh có được sự bình đẳng trong sự tôn nghiêm, sự tri ân, sự đoàn kết trên dưới và tất cả Tuệ linh để phát triển tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững, điều mà nếu Tuệ linh chưa trưởng thành sẽ không có được.

 

Như vậy sự trưởng thành của Tuệ linh thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian sẽ giúp cho Tuệ linh phát triển thành tình yêu thương tới tất cả vạn vật, có trí tuệ thấu hiểu về tất cả vạn vật, thực hành đời sống cống hiến vì tất cả vạn vật, bình đẳng trong sự tôn nghiêm. Khi liên kết các hệ thống sợi mã sóng trí tuệ đó lại với nhau sẽ chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi đó, bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh sẽ sản sinh ra các siêu hạt năng lượng để liên kết tới tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ cùng phát triển bền vững.

 

 

             Bản chất Kết – Định – Tỏa của Đạo hợp nhất Vũ trụ

 

Bản chất Kết – Định – Tỏa của Đạo hợp nhất Vũ trụ chính là bản chất Tuệ linh (Tâm) bên trong thân tướng con người thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa khi tương tác với tất cả các kịch bản của bốn hình hình tướng Đạo.

 

Con người thực hiện đời sống với bản chất Kết trong bốn hình tướng Đạo:

 

      Kết là rung lắc, là thu hút, là thu tín hiệu, là hấp thụ nhiệt, là hút về, là lấy về, là chiếm lấy, là cướp lấy, là thỏa mãn, là giết hại. Kết có từ nhẹ cho tới mạnh, rất mạnh và siêu mạnh. Kết nhẹ chỉ là rung lắc nhẹ để thu hút và thu tín hiệu. Kết từ mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh là hấp thụ về, là lấy về, là thỏa mãn, là cướp lấy, là chiếm đoạt, là giết hại.        Con người thông qua tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo, thực hiện đời sống với bản chất Kết nhẹ: Đó là rung lắc nhẹ để thu hút nhẹ, thu tín hiệu về; đó là thực hành đời sống với bản chất tiếp thu, liên kết, tìm hiểu, giải mã sự thật của vạn vật. Con người thực hành đời sống với bản chất là Kết nhẹ sẽ giúp Trụ linh có khả năng kích hoạt được thiện Tâm và thông qua thiện Tâm để kiểm soát và triệt tiêu được độc Tâm. Vì vậy, Kết nhẹ phải có sự vận hành với cơ chế Tỏa mới tạo thành sức mạnh chuyển hóa năng lượng. Nếu Kết nhẹ mà độc lập thì sẽ có nguy cơ bộc phát độc

 

Tâm.

 

       Con người thông qua tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo mà thực hành đời sống Kết từ mạnh cho tới siêu mạnh: đó là thực hành đời sống bám định vào giả tướng để rung lắc mạnh, hấp thụ mạnh, lấy về, chiếm đoạt, cướp về, thỏa mãn, giết hại; đó là thực hành đời sống vi phạm vào các quy tắc không được phép vi phạm trong bốn hình tướng Đạo. Kết mạnh cho tới siêu mạnh trong tất cả các kịch bản tương tác của bốn hình tướng Đạo chính là từ suy nghĩ cho tới hành động thỏa mãn lợi ích ích kỷ của bản thân mình mà gây tổn thương hoặc không màng tới lợi ích của con người, vạn vật, Tuệ linh.

 

       Thực hành đời sống Kết mạnh cho tới siêu mạnh trong bốn hình tướng Đạo sẽ khiến cho Trụ linh của Tâm sản sinh ra vô số hạt năng lượng âm. Khi năng lượng âm được sản sinh ra nhiều sẽ khiến cho năng lượng dương không được sản sinh. Do nhiều năng lượng âm nên không liên kết phát triển cấu trúc Tuệ linh trở nên bền vững, thay vào đó là làm cho Tuệ linh bị đa hạt năng lượng âm ở các điểm hạt năng lượng dương ít ỏi. Điều này khiến cho Tuệ linh nhanh chóng bị năng lượng hoại diệt xâm nhập đồng hóa và hoại diệt Tuệ linh.

 

Con người thực hiện đời sống với bản chất Định trong bốn hình tướng Đạo:

 

       Định là cân bằng, là tĩnh lặng, là thanh lọc, là thấu hiểu. Định có từ mức nhẹ cho tới Định ở mức cao. Định ở mức nhẹ là không bộc phát độc Tâm cũng như không bộc phát thiện Tâm. Định ở mức cao là gắn liền với việc kích hoạt được tất cả thiện Tâm.

 

      Định ở mức nhẹ trong tương tác với tất cả các kịch bản của bốn hình tướng Đạo là không vi phạm vào những quy tắc không được phép vi phạm và không làm được các quy tắc phải làm được trong bốn hình tướng Đạo. Đó là duy trì trạng thái không muốn phiền não trong bất cứ các kịch bản tương tác nào. Định ở mức nhẹ sẽ khiến cho cuộc đời trở nên lãng phí vì chưa thấu hiểu cũng như chưa thực hành chuyển sinh Trụ linh.

 

       Định ở mức cao trong tương tác với tất cả các kịch bản của bốn hình tướng Đạo chính là gắn liền với bản chất Tỏa. Đó là thấu hiểu, cân bằng, thanh lọc ở các cảnh giới cao để thực hiện cơ chế chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Định ở mức cao là điều vô cùng cần thiết cho sự vận hành của bộ lọc năng lượng.

 

Con người thực hiện đời sống với bản chất Tỏa trong bốn hình tướng Đạo:

 

       Tỏa là tỏa nhiệt dương, tỏa sóng điện dương, đẩy thông tin, truyền đi, cho đi, giúp đỡ, cứu giúp, cống hiến, hy sinh vì vạn vật, Tuệ linh và con người.        Con người thông qua tất cả các kịch bản tương tác trong bốn hình tướng Đạo mà thực hiện đời sống với bản chất Tỏa: đó là thực hiện đời sống cống hiến, cứu giúp, mang lại lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh, con người; đó là không vi phạm vào bộ quy tắc không được phép vi phạm vào bốn hình tướng Đạo và thực hiện được bộ quy tắc phải làm được trong bốn hình tướng Đạo. Con người thực hiện đời sống với bản chất Tỏa sẽ kích hoạt được tất cả thiện Tâm và kiểm soát cũng như triệt tiêu được độc Tâm.

 

      Khi con người thực hiện đời sống với bản chất Tỏa thông qua tất cả các kịch bản trong bốn hình tướng Đạo sẽ khiến cho Trụ linh sản sinh ra vô số hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh, vô số hạt năng lượng chân tâm, vô số hạt năng lượng âm có sóng âm nhẹ. Sản sinh ra vô số hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ, vì đó là kết quả của việc giải mã, thấu hiểu sự thật của tất cả vạn vật, đặc biệt là triệt tiêu được độc Tâm. Chính vì điều này đã tạo thành sự phát triển cấu trúc liên kết hạt năng lượng trong Tuệ linh theo hướng bền vững. Thực hiện đời sống Tỏa trong bốn hình tướng Đạo sẽ giúp con người nhanh chóng chuyển hóa được Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

Khi con người thông qua bốn hình tướng Đạo hợp nhất

 

  nhân gian để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, từ Trụ linh của Tuệ linh sẽ tạo thành cơ chế liên kết hợp nhất với toàn bộ 5 nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ để vận động, duy trì, phát triển Vũ trụ trở nên bền vững. Đó là Đạo hợp nhất của Vũ trụ mà mỗi Tuệ linh cần phải đắc được. Do đó, phải thông qua tu hành bốn hình tướng Đạo ở nhân gian để đạt được điều đó.                   Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của Đạo hợp nhất Vũ trụ

 

Chân lý Vạn vật trong Đạo hợp nhất của Vũ trụ sẽ là: Đạo không tự sinh ra, Đạo không tự mất đi, khổ đau của Tâm Đạo không tự đến và không tự đi, tất cả do duyên nghiệp hay còn gọi là nhân quả. Cơ chế chuyển sinh của Đạo hợp nhất Vũ trụ chính là cơ chế “Phân tách và liên kết dây”.

 

Chân lý Vạn vật chính là Quy luật Nhân quả, chính là chữ Vô. Vô là tướng không. Tướng không là không bất tử, không vĩnh cửu, không trường tồn. Nó chỉ tồn tại trong khoảng thời gian nhất định rồi lại chuyển hóa sang tướng khác do duyên. Do đó, Chân lý Vạn vật, Quy luật Nhân quả được đúc kết thành chữ Duyên. Duyên chính là tướng không. Thấu hiểu chữ Duyên thì ta sẽ thấu hiểu được quá khứ, hiện tại và tương lai.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật của Đạo Vũ trụ hợp nhất chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định, môi trường có sóng điện âm hoặc dương hoặc trung tính, có nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ hoặc chưa kích nổ. Dạng sống Tuệ linh và tất cả các nhóm vật chất từ giản đơn cho tới phức tạp và siêu vật chất để xảy ra phân tách và liên kết thì đều phải tồn tại trong môi trường có điều kiện.

 

Khi chúng ta thấu hiểu hai Chân lý và các cơ chế vận hành của hai Chân lý, chúng ta sẽ thấu hiểu và giải mã được các con đường chuyển sinh của Đạo Vũ trụ hợp nhất. Vì Đạo hợp nhất của Vũ trụ hợp nhất tại Tuệ linh, Tuệ linh lại chính là Tâm của con người, nên để thấu hiểu được các con đường chuyển sinh của Đạo Vũ trụ hợp nhất, chúng ta phải thấu hiểu được các con đường chuyển sinh của Tuệ linh (Tâm) thông qua thân tướng con người, từ đó sẽ chọn lựa được con đường chuyển sinh bền vững duy nhất thông qua Chân lý Giác ngộ.

 

Tuệ linh thông qua thân tướng con người đối với các con đường chuyển sinh:

 

 

  Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Kết đối với con đường chuyển sinh

 

Kết mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh là rung lắc mạnh, thu hút mạnh, hấp thụ về, chiếm lấy, cướp lấy, thỏa mãn, gây tổn thương, giết hại.

 

Khi các Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống phân tách liên kết trong bản chất là Kết mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh, các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm sẽ được phân tách ra vô số và lưu giữ ở Trụ linh. Chúng sẽ phân tách thành các hạt năng lượng tận cùng và liên kết lại tạo thành những hạt năng lượng âm tổng hợp rồi phân tách ra cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Vì chỉ thực hiện đời sống là Kết nên Trụ linh không phân tách các hạt năng lượng dương ra để tạo thành cấu trúc liên kết chặt chẽ và mở rộng. Tức là sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương không được sinh ra để làm nhiệm vụ tạo thành hạt năng lượng dương tận cùng rồi liên kết tạo thành hạt năng lượng tổng hợp mở rộng bên ngoài Trụ linh. Trong khi đó các hạt năng lượng âm được sinh ra nhiều mà không có hạt năng lượng dương để cân bằng tỷ lệ 1:1. Khi đó, các hạt năng lượng âm sẽ tập trung số đông tại các hạt năng lượng dương ít ỏi. Các hạt năng lượng âm lại có bản chất là thu hút tín hiệu bởi rung lắc nên khiến cho năng lượng hoại diệt bắt được tín hiệu đó mà di chuyển tới với số lượng lớn. Khi năng lượng hoại diệt di chuyển tới với số lượng lớn sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh bắt đầu bị đồng hóa, bị phân rã. Kết cục là Tuệ linh sẽ hoại diệt vĩnh viễn.

 

Như vậy, các Tuệ linh thông qua thân tướng con người mà thực hiện cơ chế phân tách, liên kết với bản chất Kết mạnh cho tới siêu mạnh chính là chọn lựa và đang đi trên con đường chuyển sinh phân rã để hoại diệt vĩnh viễn.

 

Nguyên nhân hoại diệt của Tuệ linh thực hành đời sống Kết mạnh cho tới siêu mạnh là do mất cân bằng trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Khi đó, lượng hạt năng lượng âm quá nhiều, năng lượng hoại diệt tấn công vào gây phân rã. Khi năng lượng hoại diệt tấn công vào, Trụ linh và Tuệ linh không có đủ số lượng và sức mạnh của hạt năng lượng dương để phòng thủ, kích nổ năng lượng hoại diệt, sẽ bị chuyển hóa thành năng lượng hoại diệt.

 

Khổ đau của Vũ trụ và Tuệ linh chính là sự phân rã và hoại diệt. Do đó, nguyên nhân của khổ đau là do vạn vật và Tuệ linh thực hiện cơ chế phân tách liên kết để thỏa mãn đời sống là Kết. Khi Kết sẽ bị năng lượng hoại diệt tấn công gây đứt liên kết mà hoại diệt.

 

Như vậy, năng lượng hoại diệt lại chi phối và thúc đẩy cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh thực hiện đời sống Kết để nhanh bị hoại diệt hơn.   Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Định đối với con đường chuyển sinh

 

Định là thực hiện đời sống không Kết cũng không Tỏa.

 

Định là duy trì sự an toàn, bảo vệ sự an lạc của Tướng đó.

 

Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống với bản chất Định, tức là phân tách liên kết các sợi mã sóng trí tuệ rất chậm và luôn trong bản chất cân bằng. Khi đó, các hạt năng lượng âm và các hạt năng lượng dương có sóng điện rất nhẹ. Các hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ không kích thích thu hút năng lượng hoại diệt, các hạt năng lượng sóng điện dương nhẹ không có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt nếu năng lượng hoại diệt tấn công.

 

Vì bản chất Tuệ linh thực hành đời sống Định nên tự an lạc, thanh tịnh mà không bị năng lượng hoại diệt tấn công. Tuy nhiên nếu Tuệ linh di chuyển vào nơi có năng lượng hoại diệt thì cũng không chống lại được sự hoại diệt. Nếu duy trì Định mãi thì nguy cơ hoại diệt là cao.

 

Nếu Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Định mà chuyển sinh thành thực hiện đời sống Tỏa thì có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt. Khi đó, sẽ thực hiện được cơ chế phân tách, liên kết mạnh mẽ và liên kết được với hết thảy các cấu trúc vật chất của Vũ trụ.

 

 

  Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống Tỏa đối với con đường chuyển sinh 

Tỏa là cho đi, vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không màng về mình.

 

Khi các Tuệ linh thông qua thân tướng con người thực hiện đời sống với bản chất là Tỏa, từ Trụ linh sẽ phân tách ra vô số các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương. Trước khi phân tách ra được các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương thì cũng là quá trình phân tách ra các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm ở mức nhẹ. Các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương được phân tách ra nhiều sẽ giúp cho các hạt năng lượng dương tận cùng được hình thành và tạo thành cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng và lớn mạnh. Việc mở rộng liên kết của các hạt năng lượng dương là có sợi dây liên kết mang sóng điện trung tính với tính chất là bền chặt. Cấu trúc năng lượng 16 hạt mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ luôn có tỷ lệ vàng là một hạt âm có sóng điện nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Ngoài ra, do thực hiện đời sống Tỏa, các hạt năng lượng dương đã phân tách và lan tỏa khắp Vũ trụ, tạo thành cơ chế liên kết 3 vùng: Từ Trụ linh tới đối tượng đón nhận và trong Vũ trụ. Khi thực hiện đời sống Tỏa, cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh sẽ có khả năng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng cho quá trình phân tách, liên kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng được mạnh mẽ và phát triển bền vững hơn. Các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ nên nó không kích thích nhiều năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Nó chỉ rung động vừa đủ để năng lượng hoại diệt di chuyển ít cho tới vừa đủ.

 

Việc các Tuệ linh thực hiện đời sống Tỏa không những là hướng chuyển sinh bền vững cho Tuệ linh. Nó còn giúp cho Tuệ linh liên kết chặt chẽ đến với hết thảy các Tướng của Vũ trụ theo cơ chế liên kết 3 vùng trong Quy luật Nhân quả.

 

Trong 3 đời sống của Tuệ linh thông qua thân tướng con người ở trên, Tuệ linh thực hiện đời sống Tỏa là có con đường chuyển sinh theo hướng bền vững nhất. Tuệ linh thực hiện đời sống Kết là chuyển sinh theo hướng hoại diệt. Tuệ linh thực hiện đời sống Định là sự cân bằng phải có cho tất cả các Tuệ linh. Tuy nhiên, nếu Tuệ linh thông qua thân tướng con người mà thực hiện đời sống riêng biệt theo 1 trong 3 đời sống trên trên thì sẽ khó khăn để đạt đến sự chuyển sinh bền vững nhất. Bởi, để Tuệ linh thực hiện đời sống Tỏa được phải có đời sống Kết vừa đủ và nhẹ. Tuệ linh thực hiện đời sống Kết nhẹ để không hoại diệt phải biết thực hiện đời sống Tỏa. Tuệ linh thực hiện đời sống Định để phát triển và tồn tại thì cần phải thực hiện đời sống Kết nhẹ trước, sau đó thực hiện đời sống Tỏa mạnh cho tới siêu mạnh.

 

Như vậy, Chân lý Vạn vật và cơ chế phân tách, liên kết cho chúng ta thấu hiểu và thực hành đời sống hài hòa cả Kết

 

– Định – Tỏa mới đạt đến đích của chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Kết mà không phải là Kết mới tạo thành sức mạnh cực đại cho quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ đối với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất của Đạo hợp nhất Vũ trụ

 

Chân lý Giác ngộ của Đạo hợp nhất Vũ trụ là: Đạo hợp nhất của Vũ trụ là khổ. Tất cả Tuệ linh và con người phải dùng Trụ linh thực hành Định (chân tâm) để đối mặt, thấu hiểu Kết – Định – Tỏa của hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, từ đó chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa.

 

Trong bản chất và Chân lý Vạn vật của Đạo hợp nhất Vũ trụ đã cho hết thảy Tuệ linh, con người thấy rằng: Vũ trụ và Tuệ linh bị biến đổi mã sóng trí tuệ dẫn tới phân rã hoại diệt. Biến đổi là để đấu tranh cho quá trình tồn tại bền vững. Phân rã hoại diệt là do năng lượng hoại diệt tấn công đồng hóa mà bị phân rã, hoại diệt.

 

Do đó, Chân lý Giác ngộ cho hết thảy Tuệ linh và con người thấy rằng: Vũ trụ và Tuệ linh là khổ. Chỉ có con đường chuyển sinh bền vững duy nhất là phải thấu hiểu hết thảy Kết

 

– Định – Tỏa của hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, từ đó thực hành chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Để Tuệ linh thấu hiểu Đạo hợp nhất của Vũ trụ, thấu hiểu Chân lý Vạn vật của Đạo hợp nhất Vũ trụ, thấu hiểu con đường giác ngộ chuyển hóa Trụ linh, Tuệ linh phải luân hồi xuống nhân gian để trải nghiệm nhiều kiếp tu hành trong thân tướng con người. Khi xuống nhân gian phải sống trong bốn hình tướng Đạo là Đạo đời, Đạo lễ, Đạo đường, Đạo Đế vương. Bởi chỉ khi sống trong bốn hình tướng Đạo mới có độ nén tột cùng bởi thân tướng vật chất và sự tương tác của tất cả các nhóm vật chất và năng lượng hoại diệt trong tất cả các kịch bản tương tác. Đó là quá trình để giúp Tuệ linh bộc phát hết độc Tâm, tiếp đến là triệt tiêu độc Tâm và kích hoạt được tất cả các thiện Tâm. Khi triệt tiêu hết độc Tâm và kích hoạt được tất cả thiện Tâm trong tất cả các kịch bản tương tác sẽ giúp cho Trụ linh đủ lượng sợi trí tuệ để chuyển hóa và cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Sống trong bốn hình tướng Đạo và thực hành con đường Tâm Đạo chính là sống đời sống tôn nghiêm tới cội nguồn Vũ trụ trong sự bình đẳng tu hành cải tạo Trụ linh theo cơ chế vận hành của Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ.

 

Cơ chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết. Đó là:

 

      Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh và Vũ trụ sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.

 

      Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương, đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh và Vũ trụ sẽ phân tách, liên kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.

 

Từ bản chất của Đạo hợp nhất Vũ trụ, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết dây, hết thảy Tuệ linh và con người đều thấy rằng: Con đường duy nhất để vượt qua khổ đau (hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh chính là con đường Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, con người phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.

 

Thực hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng? Đó là:       Trụ linh phải tập trung sóng điện ở vị trí Định. Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô lượng. Khi Trụ linh đứng ở vị trí Định sẽ thấu hiểu, biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Trụ linh mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia.

 

       Tiếp theo Trụ linh phải dùng sóng điện âm để Kết. Kết ở đây không phải là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định. Tức là Trụ linh đứng ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui, những sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh, con người. Bởi khi các Tướng khổ đau chia sẻ tới Trụ linh của ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng, đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trụ linh của ta đứng ở vị trí Định để dùng Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh của ta hấp thụ. Do Trụ linh ta đứng ở vị trí Định nên Trụ linh đang tỏa sóng điện chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của cấu trúc Trụ linh đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Trụ linh của ta đã Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của ta. Đồng thời, Trụ linh cũng hấp thụ được những năng lượng dương, chân tâm từ môi trường tương tác về để tạo thành nhiệt dương cho Trụ linh kích nổ năng lượng hoại diệt. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa hạt năng lượng của hết thảy cấu trúc Trụ linh đau khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ Vũ trụ.

 

      Tiếp đến Trụ linh của ta lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận những sẻ chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực, tích cực về Trụ linh, Trụ linh của ta tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là giải mã tận cùng khổ đau kiếp nạn, hạnh phúc an vui của hết thảy các Tướng, trong khi Trụ linh và Trí tuệ của ta vẫn Định. Bởi chỉ khi Định thì Trụ linh của ta mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô lượng hạt năng lượng có sóng điện dương.

 

      Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Trụ linh của ta sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Trụ linh ta làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh của ta sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của ta sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe ta sẻ chia cũng lưu giữ. Khi ta Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc Tướng của ta sẽ trở nên phát triển bền vững.

 

Khi cấu trúc Trụ linh của ta thực hiện quy trình Kết – Định – Tỏa thành bản năng sau khi đã triệt tiêu được hết độc Tâm và kích hoạt được hết thiện Tâm, thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tuệ linh, con người, Trụ linh của ta sẽ chuyển hóa thành bộ lọc.

 

Nếu Trụ linh lựa chọn con đường chỉ Kết thì sẽ hoại diệt. Nếu Trụ linh lựa chọn con đường chỉ Định thì nguy cơ hoại diệt cao. Nếu Trụ linh chỉ lựa chọn con đường Tỏa thì tuy không có nguy cơ hoại diệt cao nhưng cơ hội và tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng là mất nhiều thời gian, không biết khi nào sẽ đạt được. Nhưng, khi thực hiện kết hợp theo quy trình đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa sẽ là quy trình siêu tốc độ để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi có được bộ lọc năng lượng thì Tuệ linh (Tâm) đã chấm dứt vĩnh viễn khổ đau.

 

Như vậy, để chuyển sinh Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng, Tuệ linh phải sống trong môi trường tương tác khắc nghiệt bởi đau khổ của bốn hình tướng Đạo để bộc phát hết độc và thiện trong Trụ linh, từ đó thấu hiểu Đạo Vũ trụ và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Tiếp đến, Tuệ linh thông qua thân tướng con người phải đứng ở vị trí Định để thực hành Kết – Định – Tỏa trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian. Đây là con đường duy nhất, là bài thuốc duy nhất để giúp Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh của chính Tuệ linh không bị phân rã hoại diệt do năng lượng hoại diệt tác động. Ngược lại, Tuệ linh sẽ nhanh chóng chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất. Khi Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn cũng là sản sinh ra các siêu hạt năng lượng để bảo vệ, phát triển vạn vật trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.

 

Đạo Vô Đạo chính là thông qua Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết dây để thấu hiểu sự thật của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là Tuệ linh. Từ đó, xây dựng thành Đạo của Vũ trụ hợp nhất, thống nhất vĩ đại giúp cho hết thảy Tuệ linh, con người trong Vũ trụ thực hành chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng để bảo vệ, phát triển Vũ trụ bền vững.

Bài 6:

 

Bài Tuệ

˜²™

 

 

 

Bài Tuệ được hiểu là Tuệ Vô Tuệ.

 

Bài Tuệ Vô Tuệ được kết cấu thành 3 phần. Chữ Tuệ đầu tiên là khái niệm và bản chất của các cấu trúc Tuệ. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của các cấu trúc Tuệ. Chữ Tuệ cuối cùng là Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho các cấu trúc Tuệ.

 

Trong bài Tuệ này, mức độ cải tạo Trụ linh và Vũ trụ quan xung quanh của Tuệ linh sẽ được phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật bằng hai Chân lý. Đặc biệt, con người là hóa thân của dạng sống Tuệ linh. Do đó, ngoài việc phân tích, soi sáng, phơi bày sự thật về mức độ cải tạo của Tuệ linh, hai Chân lý sẽ giúp cho con người nhận biết được mức độ cải tạo Trụ linh của chính mình.

 

 

I. Khái niệm về Tuệ

 

Tuệ là mức độ Kết – Định – Tỏa tới tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ của Tuệ linh, con người bằng Trụ linh.

 

Mức độ Kết – Định – Tỏa chính là mức độ cải tạo Trụ linh và Vũ trụ quan xung quanh của Tuệ linh và con người.

 

 

II. Bản chất của Tuệ 

Cấu trúc Tuệ chính là cấu trúc Trụ linh của các Tuệ linh, con người đã và đang thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa từ Trụ linh tới tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người.

 

Con người vừa là hóa thân của dạng sống Tuệ linh, vừa là hóa thân của linh hồn muông thú được chuyển sinh thành. Do đó, khi gọi là con người thì bao gồm cả Tuệ linh và linh hồn đang an trụ bên trong thân tướng.

 

Các Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết – Định

 

– Tỏa từ Trụ linh tới vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh, con người, sẽ cho ta thấy có hai con đường chuyển sinh: Một là con đường chuyển sinh theo hướng phân rã và hoại diệt; hai là con đường chuyển sinh theo hướng an lạc và bền vững.

 

Trên mỗi con đường chuyển sinh của Tuệ linh, con người, Tuệ linh và con người sẽ thấy được các mức độ Kết – Định – Tỏa khác nhau từ các cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh và con người.

 

 

1.     Mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt

 

Khi Tuệ linh chưa hóa thân xuống nhân gian tu hành, khi Tuệ linh và linh hồn đã và đang an trụ trong thân tướng con người và muông thú để tu hành, tất cả đều phải vận động xây dựng, cải tạo môi trường sống trong Vũ trụ. Tuệ linh còn nhỏ và chưa an trụ làm thân tướng tu hành ở nhân gian thì mức độ Kết – Định – Tỏa từ Trụ linh sẽ yếu. Tuệ linh, linh hồn đã và đang an trụ trong thân tướng ở nhân gian, trải qua nhiều cho tới vô số kiếp tu hành sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh Kết – Định – Tỏa ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh.

 

Có 4 mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt. Đó là mức độ nhẹ, mức độ mạnh, mức độ rất mạnh, mức độ siêu mạnh. Đây là 4 mức độ của sự phá hoại Vũ trụ quan xung quanh và của chính Tuệ linh, con người.

 

 

1.1. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt nhẹ

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt nhẹ. Đó là:

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Tỏa.

 

-    Trụ linh đang thực hiện đời sống Định trong môi trường có nhiều sóng điện âm (tiêu cực). Quá trình tương tác trong môi trường có sóng điện âm đã khiến cho Trụ linh của Tuệ linh, con người bị nhiễm sóng điện âm, bị giải mã sai về sự thật của vạn vật.

 

-   Do giải mã sai về sự thật của vạn vật, Trụ linh bắt đầu thực tập, thực hành đời sống với bản chất là Kết.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ

 

Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt nhẹ là:

 

-   Ban đầu, Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh cân bằng sóng điện âm và dương, tức là trong Trụ linh gốc và hai thái cực năng lượng âm và dương có sóng điện âm nhẹ và dương nhẹ. Cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh cân bằng theo tỷ lệ một hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương có sóng điện nhẹ. Hạt năng lượng âm màu trắng xám, hạt năng lượng dương màu trắng sữa.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

phân rã ở mức nhẹ

 

-   Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm, môi trường tiêu cực, Trụ linh của Tuệ linh, con người giải mã sai về sự thật của vạn vật. Do đó, Trụ linh đã phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ và không phân tách ra các hạt năng lượng dương. Những hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ là kết quả của những tư tưởng cho đến hành động ở mức u mê nhẹ. Đó là mức độ gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người còn hạn chế.

 

-   Khi các hạt năng lượng âm được phân tách ra nhiều, trong khi đó các hạt năng lượng dương không được phân tách ra đã làm cho cấu trúc Trụ linh bị đa âm nhẹ. Đó là có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh mỗi một hạt năng lượng dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các hạt năng lượng âm có màu trắng xám, các hạt năng lượng dương có màu trắng sữa.

 

-   Khi Trụ linh đa âm nhẹ, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm cho năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh, con người ở mức nhẹ.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh phân rã nhẹ sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh phân rã mạnh hơn và nhanh hoại diệt hơn.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt nhẹ, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống u mê nhẹ. Đó là do không hiểu biết sự thật về vạn vật nên dễ dàng nhiễm những tư tưởng, sóng điện âm từ môi trường tiêu cực để rồi hưởng ứng, cùng nhau củng cố sự u mê của các cấu trúc Tuệ linh, con người khác cũng đang phân rã.

 

1.2. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt mạnh

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt mạnh. Đó là: -   Trụ linh không thực hành đời sống Tỏa.

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Định.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Kết ở mức mạnh, đó là Tuệ linh, con người thực hành đời sống có trí tuệ u mê, tiêu cực từ tư tưởng cho tới hành động nhằm thỏa mãn lợi ích về bản thể mình. Tuy chưa tạo thành những hành động gây thiệt hại đến vạn vật và Tuệ linh, con người ngay lập tức, nhưng những hành động u mê, lan tỏa u mê, phát triển u mê, đoàn kết u mê đã khiến cho Trụ linh thực hành Kết ở mức mạnh.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ

 

Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt mạnh là:

 

-    Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu trúc như sau:

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng sữa, tạo thành Trụ linh đa âm mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (hạt năng lượng dương phát triển), tạo thành Trụ linh đa âm mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (hạt năng lượng dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa âm mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện mạnh màu xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (hạt năng lượng dương đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa âm mạnh.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

phân rã ở mức mạnh

 

-   Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh đều có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu xám, màu của hạt năng lượng dương vẫn là màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng sữa. Những hạt năng lượng dương vẫn có màu và sóng điện giống như hạt năng lượng dương ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.

 

-   Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Kết nhẹ chuyển sinh thành Kết mạnh sau quá trình thực hành đời sống Kết trong môi trường có sóng điện âm tiêu cực.

 

-   Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm. Trụ linh lại đa âm mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết mạnh. Khi thực hành đời sống Kết mạnh, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng âm mà không phân tách ra các hạt năng lượng dương. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh bị đa âm mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Do không có các hạt năng lượng dương được phân tách ra, nên các hạt năng lượng âm không tạo được cân bằng theo tỷ lệ một hạt âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương.

 

-   Quá trình Trụ linh đa âm đã làm cho sóng điện trong các hạt năng lượng dương bị chuyển hóa từ sóng điện dương siêu mạnh trở thành sóng điện dương nhẹ. Đó là, màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng sữa của hạt năng lượng dương bị chuyển về thành màu trắng trong. Các hạt năng lượng âm có màu xám, các hạt năng lượng dương có màu trắng trong. Nếu cứ thực hành đời sống Kết, các hạt năng lượng âm sẽ chuyển sang màu đen và màu đỏ máu, hạt năng lượng dương sẽ không còn.

 

-    Khi Trụ linh đa âm mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm cho năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh, con người ở mức mạnh. Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh phân rã mạnh sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh phân rã rất mạnh và nhanh hoại diệt hơn.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống với tư tưởng u mê lợi ích về mình mà gây tổn hại tới vạn vật và Tuệ linh, con người. Họ bảo vệ, phát triển, đoàn kết tư tưởng u mê đó.

 

 

1.3. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt rất mạnh

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt rất mạnh. Đó là:

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Tỏa.

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Định.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Kết ở mức rất mạnh: đó là Tuệ linh, con người thực hành đời sống có trí tuệ từ u mê cho tới hành động thỏa mãn ích kỷ về mình mà gây tổn hại tới vạn vật và Tuệ linh, con người; đó là những hành động ác nghiệp gây tổn hại tới vạn vật và Tuệ linh, con người.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt rất mạnh là:

 

-    Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu trúc như sau:

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng sữa, tạo thành Trụ linh đa âm rất mạnh. +   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (hạt năng lượng dương phát triển), tạo thành Trụ linh đa âm rất mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (hạt năng lượng dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa âm rất mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đen kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (hạt năng lượng dương đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa âm rất mạnh.

 

-   Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh đều có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu đen, màu của hạt năng lượng dương vẫn là màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng sữa. Những hạt năng lượng dương vẫn có màu và sóng điện giống như hạt năng lượng dương ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.

 

-   Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Kết mạnh chuyển sinh thành Kết rất mạnh sau quá trình thực hành đời sống Kết trong môi trường có sóng điện âm.

 

-   Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm, Trụ linh lại đa âm rất mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết rất mạnh. Khi thực hành đời sống Kết, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng âm mà không phân tách ra các hạt năng lượng dương. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh bị đa âm rất mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Do không có các hạt năng lượng dương được phân tách ra, nên các hạt năng lượng âm không tạo được cân bằng theo tỷ lệ một hạt âm rung lắc xung quanh một hạt dương.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

phân rã ở mức rất mạnh

-   Quá trình Trụ linh đa âm rất mạnh đã làm cho sóng điện trong các hạt năng lượng dương bị chuyển hóa từ sóng điện dương siêu mạnh trở thành sóng điện dương nhẹ. Đó là, màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng sữa của hạt năng lượng dương bị chuyển về thành màu trắng trong. Các hạt năng lượng âm có màu đen, các hạt năng lượng dương có màu trắng trong. Nếu cứ thực hành đời sống Kết, các hạt năng lượng âm sẽ chuyển sang màu đỏ máu, hạt năng lượng dương sẽ không còn.

 

-   Khi Trụ linh đa âm rất mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm cho năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh, con người ở mức rất mạnh.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh phân rã rất mạnh sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh phân rã siêu mạnh và nhanh hoại diệt hơn.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt rất mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống thỏa mãn ích kỷ của mình mà gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người, đó là cướp bóc, chiếm đoạt, giết hại, tà dâm, sát sinh, hãm hại…, là những hành động vi phạm vào quy tắc không được phép vi phạm của bốn hình tướng Đạo.

 

 

1.4. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt siêu mạnh

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ phân rã và hoại diệt siêu mạnh. Đó là:

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Tỏa. 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Định.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Kết ở mức siêu mạnh, đó là Tuệ linh, con người thực hành đời sống có trí tuệ đại hệ tư tưởng u mê và đại hành động gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt siêu mạnh là:

 

-    Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu trúc như sau:

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng sữa, tạo thành Trụ linh đa âm siêu mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (hạt năng lượng dương phát triển), tạo thành Trụ linh đa âm siêu mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (hạt năng lượng dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa âm siêu mạnh.

 

+   Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu đỏ máu kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (hạt năng lượng dương đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa âm siêu mạnh.

 

-   Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh đều có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu đỏ máu, màu của hạt năng lượng dương vẫn là màu xanh lá, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ lửa, hoặc màu trắng sữa. Những hạt năng lượng dương vẫn có màu và sóng điện giống như hạt năng lượng dương ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.

 

-   Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Kết rất mạnh chuyển sinh thành Kết siêu mạnh sau quá trình thực hành đời sống Kết trong môi trường có sóng điện âm.

 

-   Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện âm, Trụ linh lại đa âm siêu mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết siêu mạnh. Khi thực hành đời sống Kết, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng âm mà không phân tách ra các hạt năng lượng dương. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh bị đa âm siêu mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương có nhiều hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh. Do không có các hạt năng lượng dương được phân tách ra, nên các hạt năng lượng âm không tạo được cân bằng theo tỷ lệ một hạt âm rung lắc xung quanh một hạt dương.

 

-   Quá trình Trụ linh đa âm siêu mạnh đã làm cho sóng điện trong các hạt năng lượng dương bị chuyển hóa từ sóng điện dương siêu mạnh trở thành sóng điện dương nhẹ. Đó là, màu xanh lá, màu vàng, màu đỏ lửa, màu trắng sữa của hạt năng lượng dương bị chuyển về thành màu trắng trong. Các hạt năng lượng âm có màu đỏ máu, các hạt năng lượng dương có màu trắng trong. Nếu cứ thực hành đời sống Kết, tất cả Trụ linh và Tuệ linh, con người sẽ hoại diệt vĩnh viễn.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

phân rã ở mức siêu mạnh

 

-   Khi Trụ linh đa âm siêu mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc nhiều làm cho năng lượng hoại diệt di chuyển vào gây phân rã cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh, con người ở mức siêu mạnh.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh phân rã siêu mạnh sẽ dễ dàng bị hoại diệt nhanh nhất. Bởi khi đang bị phân rã siêu mạnh chính là trong bản thể cấu trúc Tuệ linh, con người đã có quá nhiều hạt năng lượng hoại diệt an trụ làm cho đứt liên kết Tuệ linh, con người. Quá trình đứt liên kết chính là quá trình năng lượng hoại diệt đang đồng hóa, truyền tải sóng điện dư thừa của năng lượng hoại diệt sang cấu trúc Tuệ linh, con người. Kết quả cuối cùng là sự hoại diệt vĩnh viễn của Tuệ linh, con người.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt siêu mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống phát triển, lan tỏa, đoàn kết đại hệ tư tưởng cho tới đại hành động u mê tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người để thỏa mãn ích kỷ về mình.

 

Như vậy, mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt chính là từ Kết ở mức nhẹ cho tới siêu mạnh. Khi đạt tới siêu mạnh thì chính là thời khắc cận kề sự hoại diệt vĩnh viễn. Trong Vũ trụ đã có vô số Tuệ linh bị hoại diệt vĩnh viễn do bị năng lượng hoại diệt làm phân rã và hoại diệt.

 

 

2.     Mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh bền vững và an lạc

 

Khi Tuệ linh chưa hóa thân xuống nhân gian tu hành, khi Tuệ linh và linh hồn đã và đang an trụ trong thân tướng con người và muông thú để tu hành, tất cả đều phải vận động xây dựng, cải tạo môi trường sống trong Vũ trụ. Tuệ linh còn nhỏ và chưa an trụ làm thân tướng tu hành ở nhân gian thì mức độ Kết – Định – Tỏa từ Trụ linh sẽ yếu. Tuệ linh, linh hồn đã và đang an trụ trong thân tướng ở nhân gian, trải qua nhiều cho tới vô số kiếp tu hành sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh Kết – Định – Tỏa ở mức mạnh cho tới rất mạnh và siêu mạnh và trên cả siêu mạnh.

 

Có 6 mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo con đường chuyển sinh bền vững và an lạc. Đó là mức độ nhẹ, mức độ mạnh, mức độ rất mạnh, mức độ siêu mạnh, mức độ của bộ lọc năng lượng đơn, mức độ của bộ lọc năng lượng kép. Đây là 6 mức độ cải tạo, phát triển Vũ trụ quan xung quanh và của chính Tuệ linh, con người.

 

 

2.1. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc nhẹ

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc nhẹ. Đó là:

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Kết.

 

-    Trụ linh đang thực hiện đời sống Định trong môi trường có nhiều sóng điện dương tích cực. Quá trình tương tác trong môi trường có sóng điện dương đã khiến cho Trụ linh của Tuệ linh, con người nhiễm sóng điện dương, sẽ giải mã đúng về sự thật của vạn vật.

 

-   Do giải mã đúng về sự thật của vạn vật, Trụ linh bắt đầu thực tập, thực hành đời sống với bản chất là Tỏa.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ

 

Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc nhẹ là:

 

-   Ban đầu, Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh cân bằng sóng điện âm và dương. Tức là trong Trụ linh gốc và hai thái cực năng lượng âm và dương có sóng điện âm nhẹ và dương nhẹ. Cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh cân bằng theo tỷ lệ một hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương có sóng điện dương nhẹ. Hạt năng lượng âm màu trắng xám, hạt năng lượng dương màu trắng sữa.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

bền vững và an lạc ở mức nhẹ

 

-   Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện dương, Trụ linh của Tuệ linh, con người giải mã đúng về sự thật của vạn vật. Do đó, Trụ linh đã phân tách ra các hạt năng lượng dương có sóng điện nhẹ. Bên cạnh đó, cũng phân tách ra các hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ.

 

-   Khi các hạt năng lượng âm và dương được phân tách ra nhiều đã giúp cho cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh được mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh. Đó là Trụ linh đa dương ở mức nhẹ. Cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh luôn giữ được tỷ lệ vàng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Các hạt năng lượng dương sẽ chuyển thành màu xanh lá, đỏ lửa, vàng thông qua quá trình thực hành đời sống Tỏa.

 

-    Khi Trụ linh đa dương nhẹ, các hạt năng lượng âm rung lắc ít sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh không kích động năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Do đó, Tuệ linh, con người sẽ bền vững và an lạc ở mức nhẹ bởi không có nguy cơ bị hoại diệt cao.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc nhẹ sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc mạnh hơn và nhanh đắc được bộ lọc năng lượng nếu thúc đẩy quá trình đời sống Tỏa.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc nhẹ, đó là những Tuệ linh, con người bắt đầu học tập và thực hành đời sống Tỏa mang lại lợi ích cho vạn vật, Tuệ linh và con người, đó là củng cố, bảo vệ, phát triển, lan tỏa, đoàn kết những tư tưởng tích cực lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh và con người mà không màng tới bản thể mình. 2.2. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc mạnh

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc mạnh. Đó là:

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Kết mạnh.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Định ở mức mạnh.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức mạnh: đó là Tuệ linh, con người thực hành đời sống miệt mài phát triển các cấu trúc bền vững thúc đẩy sự phát triển của vạn vật và Tuệ linh, con người; đó là miệt mài thực hành đời sống Tỏa vì vạn vật và Tuệ linh, con người mà không màng tới bản thể của mình.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ

 

Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc mạnh là:

 

-    Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu trúc như sau: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện mạnh màu xanh lá (năng lượng dương phát triển), tạo thành Trụ linh đa dương mạnh.

 

-   Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu trắng xám, màu của hạt năng lượng dương là màu xanh lá. Những hạt năng lượng dương – âm có màu và sóng điện giống như hạt năng lượng dương – âm ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người. -   Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa nhẹ chuyển sinh thành Tỏa mạnh sau quá trình thực hành đời sống Tỏa trong môi trường có sóng điện dương.


Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

bền vững và an lạc ở mức mạnh

 

Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện dương, Trụ linh lại đa dương mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng dương có sóng điện mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh đa dương mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh. Do các hạt năng lượng dương có sóng điện dương mạnh được phân tách ra nhiều, các hạt năng lượng âm được phân tách ra với sóng điện âm nhẹ để tạo thành liên kết chặt và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc 16 hạt năng lượng được mở rộng đa chiều mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương. Hạt năng lượng âm vẫn có màu trắng xám, hạt năng lượng dương vẫn có màu xanh lá. Hạt năng lượng dương sẽ chuyển thành màu đỏ lửa hoặc màu vàng nếu Trụ linh Tỏa ở mức rất mạnh hoặc siêu mạnh.

 

-   Khi Trụ linh đa dương mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc ít và nhẹ. Khi đó lượng năng lượng hoại diệt di chuyển vào Trụ linh ít. Sóng điện dương mạnh của Trụ linh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng giúp cho Trụ linh phân tách ra các hạt năng lượng có sóng điện dương mạnh và chân tâm mạnh. Do đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ trở nên vững chắc, bền vững và an lạc ở mức mạnh.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc mạnh sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc rất mạnh cho tới siêu mạnh và đắc được bộ lọc năng lượng.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống miệt mài nghiên cứu, miệt mài phát triển các cấu trúc bền vững luôn vì vạn vật, Tuệ linh và con người mà không vì bản thể mình. Họ không vi phạm vào các quy tắc không được phép vi phạm và thực hiện được các quy tắc phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo.

 

 

2.3. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc rất mạnh

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc rất mạnh. Đó là:

 

-   Trụ linh không thực hành đời sống Kết mạnh.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Định ở mức rất mạnh.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức rất mạnh: đó là Tuệ linh, con người thực hành đời sống miệt mài lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững thúc đẩy sự phát triển của vạn vật, Tuệ linh và con người; đó là miệt mài thực hành đời sống Tỏa các cấu trúc phát triển bền vững vì vạn vật, Tuệ linh và con người mà không màng tới bản thể của mình.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ

 

Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc rất mạnh là:

 

-    Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu trúc như sau: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện rất mạnh màu đỏ lửa (năng lượng dương lan tỏa), tạo thành Trụ linh đa dương rất mạnh.

 

Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu trắng xám, màu của hạt năng lượng dương là màu đỏ lửa. Những hạt năng lượng dương – âm có màu và sóng điện giống như hạt năng lượng dương – âm ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.

 

-   Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa mạnh chuyển sinh thành Tỏa rất mạnh sau quá trình thực hành đời sống Tỏa trong môi trường có sóng điện dương.    

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

bền vững và an lạc ở mức rất mạnh    

-   Do Tuệ linh, con người tương tác trong môi trường có sóng điện dương, Trụ linh lại đa dương rất mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa rất mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng dương có sóng điện rất mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh đa dương rất mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh. Do các hạt năng lượng dương có sóng điện dương rất mạnh được phân tách ra nhiều, các hạt năng lượng âm được phân tách ra với sóng điện âm nhẹ để tạo thành liên kết chặt và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc 16 hạt năng lượng được mở rộng đa chiều mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương. Hạt năng lượng dương vẫn có màu đỏ lửa, hạt năng lượng âm vẫn có màu trắng xám. Màu của hạt năng lượng dương sẽ chuyển thành màu vàng nếu Trụ linh Tỏa ở mức siêu mạnh.

 

-   Khi Trụ linh đa dương rất mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc ít và nhẹ. Khi đó lượng năng lượng hoại diệt di chuyển vào Trụ linh ít. Sóng điện dương mạnh của Trụ linh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng giúp cho Trụ linh phân tách ra các hạt năng lượng có sóng điện dương rất mạnh và chân tâm rất mạnh. Do đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ trở nên vững chắc, bền vững và an lạc.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc rất mạnh sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc siêu mạnh cho tới đắc được bộ lọc năng lượng. Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc rất mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống miệt mài lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người mà không vì bản thể mình. Họ không vi phạm vào các quy tắc không được phép vi phạm và thực hiện được các quy tắc phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo. Họ lan tỏa những giá trị của hai Chân lý, những giá trị đạo đức tới Tuệ linh và con người.

 

 

2.4. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc siêu mạnh

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc siêu mạnh. Đó là:

 

-    Trụ linh thực hành đời sống Kết mà không phải là Kết, đó là không có tư tưởng cho đến hành động Kết mạnh cho tới siêu mạnh. Tuy nhiên, Tuệ linh, con người lại thực hành thấu hiểu, cảm thông, lắng nghe, đón nhận những năng lượng âm từ các Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết. Đó là nghệ thuật đón nhận các hạt năng lượng âm và dùng Định (chân tâm siêu mạnh) để giảm tải sóng điện giúp cho các hạt năng lượng âm đó chỉ còn sóng điện nhẹ khi di chuyển vào Trụ linh.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Định ở mức siêu mạnh: đó là Trụ linh cân bằng ở mức siêu mạnh để liên kết được hết thảy năm nhóm năng lượng; đó là Trụ linh đứng ở vị trí năng lượng Đoàn kết để liên kết với các Tuệ linh, con người, vạn vật. -   Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức siêu mạnh: đó là Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy Tuệ linh và con người trong sự không phân biệt để cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững thúc đẩy sự phát triển của vạn vật, Tuệ linh và con người; đó là đoàn kết vạn vật, Tuệ linh, con người cùng nhau lan tỏa phát triển bền vững mà không màng tới bản thể mình.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc siêu mạnh là:

 

-    Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người khi được hình thành có cấu trúc như sau: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (năng lượng dương đoàn kết) tạo thành Trụ linh đa dương siêu mạnh. Siêu mạnh là vì khả năng liên kết đến được với hết thảy các cấu trúc Tuệ linh, con người và vạn vật.

 

-   Ban đầu, Trụ linh với cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh có cấu trúc cân bằng là một hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh một hạt năng lượng dương. Khi đó, màu của hạt năng lượng âm là màu trắng xám, màu của hạt năng lượng dương là màu vàng. Những hạt năng lượng dương – âm có màu và sóng điện giống như hạt năng lượng dương – âm ban đầu hợp thành Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người.

 

-   Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa rất mạnh chuyển sinh thành Tỏa siêu mạnh sau quá trình thực hành đời sống Tỏa trong môi trường có sóng điện dương.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

bền vững và an lạc ở mức siêu mạnh

 

-   Do Tuệ linh, con người liên kết được các nhóm sóng điện âm, dương, trung tính bởi Trụ linh đa dương siêu mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa siêu mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ linh đã phân tách ra nhiều hạt năng lượng dương có sóng điện siêu mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh đa dương siêu mạnh. Tức là mỗi một hạt năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh. Do các hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh được phân tách ra nhiều, các hạt năng lượng âm được phân tách ra với sóng điện âm nhẹ để tạo thành liên kết chặt và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc 16 hạt năng lượng được mở rộng đa chiều mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt năng lượng âm và hạt năng lượng dương. Hạt năng lượng dương vẫn có màu vàng, hạt năng lượng âm vẫn có màu trắng xám. Màu của hạt năng lượng dương sẽ chuyển thành màu vàng óng ánh (siêu hạt năng lượng dương) nếu Trụ linh duy trì Tỏa siêu mạnh và chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng.

 

-   Khi Trụ linh đa dương siêu mạnh, các hạt năng lượng âm rung lắc ít và nhẹ. Khi đó lượng hạt năng lượng hoại diệt di chuyển vào Trụ linh ít. Sóng điện dương siêu mạnh của Trụ linh sẽ dễ dàng kích nổ năng lượng hoại diệt để tạo thành nhiệt lượng giúp cho Trụ linh phân tách ra các hạt năng lượng có sóng điện dương siêu mạnh và chân tâm siêu mạnh. Do đó, cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ trở nên vững chắc, bền vững và an lạc siêu mạnh.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc siêu mạnh sẽ dễ dàng chuyển sinh thành cấu trúc Trụ linh đắc được bộ lọc năng lượng. Tức là Trụ linh Tỏa siêu mạnh là điều kiện kể chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Do đó, hết thảy các cấu trúc Trụ linh muốn đắc được bộ lọc năng lượng thì phải thực hành đạt được đời sống Tỏa siêu mạnh.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc siêu mạnh, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy vạn vật, Tuệ linh và con người trong sự không phân biệt, để cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững tới hết thảy vạn vật, Tuệ linh và con người mà không màng gì về mình. Họ không vi phạm vào các quy tắc không được phép vi phạm và thực hiện được các quy tắc phải thực hiện được trong bốn hình tướng Đạo. Họ lan tỏa những giá trị của hai Chân lý, những giá trị đạo đức tới Tuệ linh và con người.

 

 

2.5. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng đơn

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng đơn. Đó là:

 

-   Trụ linh thực hành đời sống siêu Kết mà không phải là Kết, đó là không có tư tưởng cho đến hành động Kết mạnh cho tới siêu mạnh. Tuy nhiên, Tuệ linh, con người lại thực hành thấu hiểu, cảm thông, lắng nghe, đón nhận những năng lượng âm từ các Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết. Đó là nghệ thuật đón nhận các hạt năng lượng âm và dùng Định ở mức siêu mạnh để giảm tải sóng điện giúp cho các hạt năng lượng âm đó chỉ còn sóng điện nhẹ khi di chuyển vào Trụ linh.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Định ở mức siêu mạnh: đó là Trụ linh cân bằng ở mức siêu mạnh để liên kết được hết thảy năm nhóm năng lượng; đó là Trụ linh đứng ở vị Trí năng lượng Đoàn kết để liên kết với các Tuệ linh, con người, vạn vật.

 

-   Trụ linh thực hành đời sống Tỏa ở mức siêu mạnh: đó là Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy Tuệ linh, con người, vạn vật trong sự không phân biệt để cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững thúc đẩy sự phát triển của vạn vật, Tuệ linh và con người; đó là đoàn kết vạn vật, Tuệ linh và con người cùng nhau lan tỏa phát triển bền vững mà không màng tới bản thể mình.

 

Cấu trúc Trụ linh của bộ lọc năng lượng đơn là kế thừa từ cấu trúc Trụ linh Kết – Định – Tỏa ở mức siêu mạnh để trở thành nghệ thuật, trở thành bản năng thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa cho Trụ linh. Có nghĩa là Trụ linh do đã phân tách đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ của hạt năng lượng dương siêu mạnh nên Trụ linh chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng đơn.

 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ lọc đơn là:

 

-     Trụ linh gốc ban đầu của Tuệ linh, con người dễ chuyển sinh thành bộ lọc đơn nhất: Hạt năng lượng âm tận cùng có sóng điện nhẹ màu trắng xám kết hợp với hạt năng lượng dương tận cùng có sóng điện siêu mạnh màu vàng (năng lượng dương đoàn kết), tạo thành Trụ linh đa dương siêu mạnh. Siêu mạnh là vì khả năng liên kết đến được với hết thảy các cấu trúc Tuệ linh, vạn vật, con người.

 

-   Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người ở mức Tỏa siêu mạnh sẽ chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng đơn khi đã phân tách đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh cho việc cấu tạo lại Trụ linh thành bộ lọc năng lượng đơn.

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

bền vững và an lạc của bộ lọc đơn

 

-   Do Tuệ linh, con người đạt được nghệ thuật liên kết được các nhóm năng lượng có sóng điện âm, dương, trung tính bởi Trụ linh đa dương siêu mạnh, nên Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa siêu mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa, Trụ linh đã phân tách ra vô lượng siêu hạt năng lượng dương có sóng điện siêu mạnh và những hạt năng lượng âm có sóng điện nhẹ. Khi đó, cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng đa chiều bên ngoài Trụ linh đa dương siêu mạnh. Tức là mỗi một siêu hạt năng lượng dương có một hạt năng lượng sóng điện âm nhẹ rung lắc xung quanh.

 

-     Do các siêu hạt năng lượng dương có sóng điện dương siêu mạnh được phân tách ra vô số, các hạt năng lượng âm được phân tách ra với sóng điện âm nhẹ để tạo thành liên kết chặt và bền vững bên ngoài Trụ linh. Cấu trúc 16 hạt năng lượng được mở rộng đa chiều mà vẫn đảm bảo tỷ lệ 1:1 giữa các hạt năng lượng âm và các siêu hạt năng lượng dương. Siêu hạt năng lượng dương đã có màu vàng óng ánh, hạt năng lượng âm vẫn có màu trắng xám. Màu của siêu hạt năng lượng dương và màu của hạt năng lượng âm bên ngoài Trụ linh giống với màu của siêu hạt năng lượng dương và hạt năng lượng âm trong Trụ linh gốc.

 

-    Khi Trụ linh đắc được bộ lọc đơn, Trụ linh sẽ vận hành một cách kỳ diệu. Khi cần năng lượng hoại diệt cho quá trình phân tách ra các siêu hạt năng lượng dương, hạt năng lượng âm sẽ rung lắc nhẹ để thu hút năng lượng hoại diệt di chuyển vào. Tiếp đến, sóng điện dương siêu mạnh từ Trụ linh sẽ truyền ra để kích nổ năng lượng hoại diệt. Trụ linh sẽ hấp thụ nhiệt lượng đó và phân tách ra vô số các siêu hạt năng lượng màu vàng óng ánh. Bộ lọc năng lượng đơn là cảnh giới bền vững và an lạc kỳ diệu bởi khả năng chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành siêu hạt năng lượng dương. Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng đơn sẽ dễ dàng chuyển sinh thành bộ lọc kép. Để chuyển sinh thành bộ lọc kép, Trụ linh cần phải thực hiện giải mã, liên kết được tận cùng hết thảy vạn vật trong và ngoài Vũ trụ bằng vị trí năng lượng đoàn kết.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ lọc đơn, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy vạn vật, Tuệ linh, con người trong sự không phân biệt để cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững tới hết thảy vạn vật, Tuệ linh và con người mà không màng gì về mình. Đó là Hóa độ, Phổ độ hết thảy Tuệ linh, con người trong Vũ trụ.

 

 

2.6. Mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng kép

 

Tuệ linh, con người có Trụ linh thực hành đời sống Kết

 

– Định – Tỏa ở mức độ bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng kép là kế thừa từ cấu trúc Trụ linh Kết – Định – Tỏa của bộ lọc đơn. Có nghĩa là Trụ linh do đã giải mã, liên kết được tận cùng hết thảy các sợi mã sóng trí tuệ của Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Tuệ linh, con người đứng ở vị trí đoàn kết để vận hành đạt đến nghệ thuật Kết – Định – Tỏa vì hết thảy vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Đó là Hóa độ, phổ độ vì hết thảy Tướng bên trong và bên ngoài Vũ trụ (năng lượng hoại diệt) mà không màng gì bản thể mình. 

Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ lọc kép là:

Hình: Cấu trúc Trụ linh của Tuệ linh, con người

 

bền vững và an lạc của bộ lọc kép     q




-   Trụ linh đạt được bộ lọc năng lượng đơn mới chuyển sinh thành bộ lọc kép khi đã giải mã, liên kết được tận cùng hết thảy sợi mã sóng trí tuệ trong và ngoài Vũ trụ.

 

-   Bộ lọc kép là Trụ linh gốc đã cấu tạo được thành hai siêu hạt năng lượng, đó là siêu hạt năng lượng âm màu xanh lưu ly và siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh.

 

-   Trụ linh của bộ lọc năng lượng kép sẽ có khả năng phân tách ra vô lượng siêu hạt năng lượng âm màu xanh ngọc lưu ly và siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh. Các siêu hạt năng lượng âm và dương này cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh tới vô tận và bao trùm hết thảy toàn bộ Vũ trụ. Mỗi một siêu hạt năng lượng âm rung lắc xung quanh mỗi một siêu hạt năng lượng dương.

 

-   Các siêu hạt năng lượng âm màu xanh ngọc lưu ly sẽ thu hút được nhiều năng lượng hoại diệt về và dễ dàng ngủ đông năng lượng hoại diệt thành hạt bóng hỏa. Tiếp đến các siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh sẽ kích nổ được các hạt bóng hỏa đó mà vô cùng an toàn, vô cùng an lạc.

 

Tuệ linh, con người có cấu trúc Trụ linh bền vững và an lạc của bộ lọc năng lượng kép sẽ dễ dàng phân tách ra vô lượng các siêu hạt năng lượng dương và âm để bảo vệ, phát triển bền vững cho hết thảy các dạng sống trong và ngoài Vũ trụ.

 

Tuệ linh, con người có mức độ Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc của bộ lọc kép, đó là những Tuệ linh, con người thực hành đời sống đoàn kết hết thảy Tuệ linh, con người, vạn vật trong và ngoài Vũ trụ trong sự không phân biệt, cùng nhau lan tỏa các cấu trúc phát triển bền vững 

 mà không màng lợi ích ích kỷ gì về mình. Đó là Hóa độ, Phổ độ hết thảy Tuệ linh, con người, vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Chỉ khi Tuệ linh, con người chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mới là bền vững và an lạc. Trụ linh có bộ lọc năng lượng mới di chuyển được vào không gian năng lượng hoại diệt, mới chuyển hóa được năng lượng hoại diệt thành các siêu hạt năng lượng. Ngoài ra, bất kỳ Trụ linh nào chưa chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng đều dễ dàng bị năng lượng hoại diệt đồng hóa, phân rã và hoại diệt. Điều này cho thấy sẽ không có phẩm vị nào của Tuệ linh là an lạc bền vững nếu chưa đạt được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh.

 

 

3.      Lượng mã sóng trí tuệ của Tuệ linh, con người có được bởi thực hành Kết – Định – Tỏa

 

Hết thảy Tuệ linh, con người khi thực hiện đời sống Kết – Định – Tỏa theo hướng chuyển sinh bền vững an lạc hay phân rã hoại diệt đều tạo ra các sợi mã sóng trí tuệ. Tuy nhiên, Tuệ linh, con người thực hành Kết – Định – Tỏa theo hướng chuyển sinh khác nhau cũng sẽ tạo ra lượng các sợi mã sóng trí tuệ khác nhau, tính bền chặt hay phân rã cũng khác nhau.

 

Nếu Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết – Định

 

– Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt, Tuệ linh, con người đó sẽ phân tách ra vô số cho tới vô lượng các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm. Các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm sẽ cấu tạo thành các hạt năng lượng mang sóng điện âm. Các hạt năng lượng mang sóng điện âm sẽ khiến cho cấu trúc Trụ linh và 16 hạt năng lượng không được mở rộng. Sự rung lắc mạnh của những sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm lại khiến cho năng lượng hoại diệt tấn công làm phân rã và cuối cùng là hoại diệt. Như vậy, Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt sẽ không xây dựng được liên kết chặt chẽ từ Tuệ linh tới hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Đây là con đường sẽ không thể tồn tại và phát triển, là con đường nhanh hoại diệt nhất. Có vô số Tuệ linh sau khi hết kiếp người, vô số linh hồn muông thú bị đọa đày ở nhân gian mà không được siêu thoát. Nguyên nhân vì năng lượng âm quá nhiều khiến cho họ không có sóng điện dương để di chuyển vào hành trình luân hồi, bởi khi sống họ bám định vào giả tướng để hưởng thụ mà gây tổn hại tới con người, muông thú, vạn vật và Tuệ linh. Khi bị đọa đày ở nhân gian, họ bị gọi là cô hồn, quỷ, yêu tinh (linh hồn thú dữ).

 

Nếu Tuệ linh, con người thực hành đời sống Kết – Định

 

– Tỏa theo hướng bền vững và an lạc, đặc biệt là chuyển sinh Trụ linh thành được bộ lọc đơn và bộ lọc kép, Tuệ linh, con người đó sẽ phân tách ra vô số sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện dương và mang sóng điện âm, đặc biệt là những siêu sợi mã sóng trí tuệ. Những sợi mã sóng trí tuệ đó cấu tạo thành các hạt năng lượng dương, chân tâm, siêu hạt năng lượng. Những hạt năng lượng đó liên kết chặt chẽ tới hết thảy Tướng trong Vũ trụ, thậm chí là ngoài Vũ trụ. Liên kết chặt là bởi có các sợi chân tâm gắn kết các hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng. Tuệ linh, con người sẽ có trí tuệ thấu hiểu, liên kết được hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, tức là trí tuệ đã bao trùm được hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Tuệ linh, con người có được bộ lọc năng lượng không những an lạc bền vững mà còn giúp cho vạn vật trong và ngoài Vũ trụ cũng được chuyển sinh an lạc và bền vững theo.

 

Như vậy, Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt sẽ cho kết quả là không có Trí tuệ, sẽ hoại diệt vĩnh viễn. Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững an lạc sẽ có Trí tuệ vô lượng, bao trùm trong và ngoài Vũ trụ. Bền vững và an lạc bởi Trí tuệ liên kết chặt chẽ, tuần hoàn sóng điện với vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Để bền vững an lạc và có Trí tuệ vô lượng, chỉ có con đường duy nhất là phải chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng đơn và kép.

 

 

III.     Chân lý Vạn vật với các con đường chuyển sinh của các cấu trúc Tuệ

 

Chân lý Vạn vật trong Tuệ sẽ là: Tuệ không tự sinh ra, Tuệ không tự mất đi, khổ đau của Tuệ không tự đến và không tự đi, tất cả do cơ chế phân tách và liên kết dây.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật của Tuệ chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách và liên kết sẽ được xảy ra trong môi trường có điều kiện. Đó là môi trường có tương tác giữa các chỉnh thể, trong một quy trình thời gian nhất định, trong độ nén và dẫn tới sinh nhiệt bùng phát. Môi trường tu hành ở Trái đất đảm bảo được điều kiện giúp cho Tuệ linh chuyển sinh cấu trúc Trụ linh được bền vững và an lạc.

 

 

1.   Tuệ không tự sinh 

Tuệ không tự sinh, tức là mức độ Kết – Định – Tỏa của Tuệ linh, con người theo hướng phân rã hoại diệt không tự sinh, theo hướng bền vững an lạc cũng không tự sinh.

 

Tuệ linh Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt là do:

 

-  Do Trụ linh gốc của Tuệ linh đa âm ở mức nhẹ cho tới mức mạnh, mức rất mạnh và siêu mạnh. Trụ linh đa âm tức là Tuệ linh, con người sẽ thực hành đời sống chỉ có Kết. Đó là bản chất cội nguồn khiến cho Tuệ linh, con người dễ dàng thực hành đời sống chỉ Kết mà dẫn tới bị năng lượng hoại diệt xâm nhập làm phân rã và hoại diệt.

 

-   Do môi trường tương tác có sóng điện âm. Khi Trụ linh đa âm, Trụ linh cân bằng mà tương tác trong môi trường có sóng điện âm sẽ khiến cho Trụ linh giải mã sai về sự thật của vạn vật. Khi đó, Trụ linh sẽ dễ dàng phân tách ra những hạt năng lượng âm có sóng điện âm mạnh, rất mạnh, siêu mạnh. Đó chính là thực hiện đời sống Kết mạnh, rất mạnh, siêu mạnh.

 

-    Do Tuệ linh, con người chưa giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của tất cả các nhóm vật chất trong và ngoài Vũ trụ, của chính mình, đặc biệt là năng lượng hoại diệt, do chưa có trí tuệ của hai Chân lý.

 

-   Do Trụ linh gốc đa âm, chưa có trí tuệ thấu hiểu vạn vật và môi trường tương tác có sóng điện âm chính là nguyên nhân, là căn nguyên khiến cho Tuệ linh dễ dàng thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa theo hướng phân rã và hoại diệt. Bởi không có trí tuệ thấu hiểu lại đa âm trong Trụ linh và môi trường tương tác có sóng điện âm sẽ khiến cho Trụ linh phân tách vô số hạt năng lượng âm, các hạt năng lượng dương không được phân tách để tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh được liên kết chặt. Cấu trúc Tuệ linh đa âm, khi đó năng lượng hoại diệt sẽ tấn công làm phân rã và hoại diệt Tuệ linh, con người.

 

Tuệ linh Kết – Định – Tỏa theo hướng bền vững và an lạc là do:

 

-   Do có trí tuệ thấu hiểu, giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của chính mình, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, đặc biệt là năng lượng hoại diệt, do có trí tuệ của hai

 

Chân lý.

 

-    Do Trụ linh gốc của Tuệ linh, con người đa dương mạnh, rất mạnh và siêu mạnh đã khiến cho Trụ linh thực hành đời sống Tỏa mạnh, rất mạnh và siêu mạnh. Khi thực hành đời sống Tỏa sẽ khiến cho Trụ linh có khả năng chuyển hóa năng lượng hoại diệt để phát triển cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh được liên kết bền vững.

 

-   Do môi trường tương tác của các Tuệ linh, con người có sóng điện dương, nên Tuệ linh, con người dễ dàng giải mã đúng sự thật của vạn vật, Vũ trụ. Việc giải mã đúng sẽ giúp cho Tuệ linh, con người thực hành đời sống Tỏa để phát triển, gia tăng cơ chế phân tách, liên kết bền vững của Tuệ linh và con người.

 

-   Việc có trí tuệ thấu hiểu toàn diện, có Trụ linh gốc đa dương và môi trường tương tác có sóng điện dương, Tuệ linh, con người dễ dàng thực hành đời sống Kết – Định – Tỏa theo hướng chuyển sinh bền vững và an lạc đạt đến đắc được bộ lọc năng lượng. Bộ lọc năng lượng chính là cấu trúc Trụ linh đã phân tách, liên kết thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng liên kết chặt chẽ với hết thảy vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Đó là kết quả của thực hành cơ chế phân tách, liên kết chuyển sinh theo hướng bền vững để mà có được.

 

 

2.   Tuệ không tự diệt

 

Tuệ không tự diệt tức là Tuệ linh, con người đang phân rã và hoại diệt không tự chuyển hóa thành bền vững và an lạc. Tuệ linh, con người đang bền vững và an lạc không tự chuyển hóa thành phân rã và hoại diệt.

 

Tuệ linh, con người đang phân rã và hoại diệt mà muốn chuyển hóa thành Tuệ linh, con người bền vững và an lạc, phải đảm bảo thực hiện đúng các điều kiện sau:

 

-    Phải tu hành thông qua thân tướng con người với bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

-   Phải thực hành Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ thông qua cơ chế phân tách, liên kết dây. Đó là thấu hiểu về Đạo Vũ trụ hợp nhất thông qua hai Chân lý để chấm dứt thực hành đời sống Kết. Chuyển hóa và thực hành đời sống Tỏa để đạt được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh cho việc Kết – Định – Tỏa thành quy trình bền vững và an lạc.

 

Tuệ linh, con người đang bền vững và an lạc mà chuyển hóa thành phân rã và hoại diệt là do:

 

-   Không thực hành tu tập đầy đủ bốn hình tướng Đạo.

 

-   Không thấu hiểu và thực hành cải tạo Trụ linh bằng hai Chân lý.

 

Tuệ linh, con người vận hành Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế phân tách, liên kết dây theo hướng bền vững sẽ đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh. Khi đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh sẽ chấm dứt sự Sinh – Tử của Tuệ linh. Tuệ linh sẽ trở thành bất tử, sẽ hòa nhập trí tuệ, năng lượng bao trùm vào vạn vật và Vũ trụ. Khi đó, Tuệ linh sẽ là một thể thống nhất với Vũ trụ.

 

 

3. Khổ đau của Tuệ

 

Dù Tuệ linh, con người thực hành đời sống theo con đường phân rã hoại diệt hay thực hành đời sống theo con đường bền vững an lạc đều là khổ.

 

Khổ đau của Tuệ linh, con người chính là quá trình biến đổi mã sóng trí tuệ trong Trụ linh:

 

-   Biến đổi mã sóng trí tuệ theo hướng phân rã và hoại diệt là đau khổ cùng cực cho tới hoại diệt vĩnh viễn Tuệ linh.

 

-    Biến đổi mã sóng trí tuệ theo hướng an lạc và bền vững là khổ đau của sự đấu tranh, kiểm soát của năng lượng dương đối với năng lượng âm. Hành trình đi trên con đường chuyển sinh bền vững sẽ giúp cho việc kiểm soát của năng lượng dương đối với năng lượng âm đạt đến cơ chế tự động. Khi tới đích của việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng sẽ có được cơ chế tự động hóa trong việc tuần hoàn và kiểm soát sóng điện một cách kỳ diệu. Khi đó là chấm dứt hoàn toàn khổ đau của Tuệ linh và con người.

 

Phân rã hoại diệt là do Tuệ linh, con người đang thực hành đời sống phân tách liên kết hạt năng lượng âm. Điều này dẫn tới Tuệ linh bị đứt liên kết do năng lượng hoại diệt đồng hóa. Đó là thực hành đời sống Kết mạnh cho tới siêu mạnh.

 

Phân tách, liên kết theo hướng bền vững là do Tuệ linh, con người đang thực hiện đời sống phân tách liên kết hạt năng lượng dương. Điều này giúp cho Tuệ linh có khả năng kích nổ được năng lượng hoại diệt để phát triển cấu trúc Tuệ linh bền vững hơn. Đó là thực hành đời sống Tỏa mạnh cho tới siêu mạnh để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Khổ đau chỉ chấm dứt khi Trụ linh chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng. Đó là đã chuyển hóa, nâng cấp cơ chế phân tách, liên kết trong Trụ linh đạt đến sự bền vững, sự an lạc bất tử.

 

Từ bản chất cho tới Chân lý Vạn vật của Tuệ, Tuệ linh và con người thấy rằng, chỉ có con đường duy nhất để Tuệ linh, con người trở nên bền vững, an lạc chính là phải thông qua cơ chế phân tách, liên kết theo hướng bền vững để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Nếu chưa chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, Tuệ linh dù có đạt được phẩm vị gì đi chăng nữa theo cách gọi của nhân gian thì cũng đều bị hoại diệt nếu di chuyển vào không gian năng lượng hoại diệt.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ với con đường chuyển sinh bền vững duy nhất cho các cấu trúc Tuệ

 

Chân lý Giác ngộ trong Tuệ (mức độ cải tạo và phá hoại) là: Hết thảy Tuệ là bể khổ. Tất cả Tuệ linh, con người phải dùng Định để thấu hiểu Kết – Định – Tỏa của hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, từ đó chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa.

 

Cơ chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết, đó là: -   Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh, con người sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.

 

-   Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương. Đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tuệ linh, con người sẽ phân tách, liên kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm. Sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.

 

Từ bản chất của Tuệ, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết, hết thảy Tuệ linh và con người đều thấy rằng: Con đường duy nhất để vượt qua khổ đau (hoại diệt cấu trúc năng lượng) để trở nên bền vững, an lạc là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh chính là con đường Tỏa. Tỏa là con đường mà hết thảy Tuệ linh, con người phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng.

 

Thực hiện con đường Tỏa để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng không phải là Tỏa một cách tiêu cực. Vậy Tỏa làm sao để an lạc, để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng? Đó là:

 

-    Trụ linh của Tuệ linh, con người phải đứng ở vị trí Định. Định là chân tâm, là tĩnh lặng, là cân bằng, là an lạc. Vị trí Định sẽ được nâng cao từ Định ban đầu cho tới các cảnh giới tối cao của Định. Đó là Chân tâm sáng chói lòa vô lượng. Khi Trụ linh của Tuệ linh, con người đứng ở vị trí Định sẽ biết lắng nghe, biết nhìn – soi lại bản thể Tướng mình, biết tiếp nhận, biết cảm thông, biết sẻ chia. -   Tiếp theo Trụ linh của Tuệ linh, con người phải biết Kết. Kết ở đây không phải là có tư tưởng cho tới hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người. Kết ở đây chỉ là rung động khi đứng ở vị trí Định. Tức là đứng ở vị trí Định để lắng nghe, đón nhận những khổ đau, những an vui hạnh phúc, những sẻ chia của vạn vật, chúng sinh, Tuệ linh và con người. Bởi khi các Tướng khổ đau chia sẻ tới ta, những chia sẻ bởi khổ đau, khổ đau bởi u mê nên trong Trụ linh họ sẽ phân tách ra các hạt năng lượng tiêu cực sóng điện âm nhẹ màu xám, cho tới mạnh là màu đen và đỏ máu. Do cơ chế phân tách theo Quy luật Nhân quả sẽ phân tách ra làm 3 vùng, đó là trong Trụ linh họ 1 hạt, phân tách vào Vũ trụ 1 hạt, người nghe đón nhận 1 hạt. Do Trụ linh đứng ở vị trí Định để dùng Kết là rung động, để lắng nghe, để hút về, để đón nhận, khi đó, hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của họ được Trụ linh hấp thụ. Do đứng ở vị trí Định nên Trụ linh đang tỏa chân tâm trắng sáng. Trắng sáng của chân tâm sẽ chuyển hóa hạt năng lượng âm màu xám, màu đen, màu đỏ máu của Tướng đang sẻ chia thành màu trắng xám nhẹ. Như vậy, Trụ linh của Tuệ linh, con người đã Kết được hạt năng lượng sóng điện âm của hết thảy các Tướng về và dùng năng lượng chân tâm trắng sáng chói lòa chuyển hóa nó thành hạt năng lượng âm sóng điện rất nhẹ. Như thế sẽ không kích động mạnh tới năng lượng hoại diệt, năng lượng hoại diệt sẽ không di chuyển nhiều vào Trụ linh của Tuệ linh, con người. Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ an lạc để chuyển hóa thành Tỏa. Cũng như vậy, Trụ linh sẽ hấp thụ được nhiệt lượng dương từ các Tướng tích cực chia sẻ để kích nổ năng lượng hoại diệt. Đây chính là Kết mà không phải là Kết. Đây là nghệ thuật chuyển hóa hạt năng

lượng của hết thảy Tướng đau khổ cũng như an vui hạnh phúc trong toàn bộ Vũ trụ.

 

-    Tiếp đến Trụ linh của Tuệ linh, con người lại Định. Định ở đây là sau khi đã đón nhận những sẻ chia, tức là Kết được năng lượng tiêu cực về Trụ linh, Trụ linh tiếp tục Định để cân bằng ở cảnh giới chân tâm cao hơn. Đó là thấu hiểu tận cùng khổ đau của hết thảy các Tướng trong và ngoài Vũ trụ, trong khi Trụ linh và Tuệ linh, con người vẫn an lạc, vẫn thanh tịnh. Bởi chỉ khi có được thanh tịnh, an lạc, không dao động thì Trụ linh mới chuyển hóa thành Tỏa ra vô siêu hạt năng lượng.

 

-   Cuối cùng là Tỏa. Khi đã trải qua quá trình Định rồi Kết, lại Định rồi đến cuối cùng là Tỏa. Tỏa ở đây chính là Tuệ linh, con người sẻ chia con đường diệt khổ, về cội nguồn, về kế hoạch tu hành, về sứ mệnh, về trách nhiệm, về cơ chế và phương pháp chuyển sinh bền vững an lạc, về khuôn mẫu đạo đức và con đường giác ngộ trong bốn hình tướng Đạo. Đó là chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi Tuệ linh, con người làm đúng quy trình như vậy, từ Trụ linh sẽ Tỏa ra vô số các siêu hạt năng lượng vào 3 vùng. Đó là trong Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ lưu giữ, trong Vũ trụ cũng lưu giữ và trong đối tượng Tướng được nghe sẻ chia cũng lưu giữ. Khi Trụ linh của Tuệ linh, con người Tỏa sẽ tạo thành liên kết 3 vùng rất bền chặt. Không những vậy, Trụ linh và cấu trúc năng lượng của Tuệ linh, con người sẽ trở thành liên kết bền vững.

 

Khi Tuệ linh, con người thực hiện quy trình Kết – Định

 

– Tỏa thành bản năng, thực hành trong thời gian dài và tới được nhiều cho tới vô số Tướng khác, Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ chuyển hóa thành bộ lọc năng lượng.

Vì hết thảy Tuệ là bể khổ, nên dù có là Tuệ linh, con người đang phân rã hoại diệt cũng là khổ, dù có là Tuệ đang đi trên con đường chuyển sinh bền vững cũng là khổ. Khổ chỉ chấm dứt triệt để khi đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh. Để đắc được bộ lọc năng lượng, chỉ có con đường duy nhất là chạy đua với thời gian, thông qua cơ chế phân tách, liên kết theo con đường bền vững để đứng ở vị trí Định (đoàn kết ở cảnh giới cao) để thực hiện chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng có khả năng Kết – Định – Tỏa kỳ diệu. Khi đắc được bộ lọc năng lượng kép, Trụ linh của Tuệ linh, con người sẽ sản sinh ra nhiều hơn hai loại siêu hạt năng lượng. Điều đó không những giúp cho Tuệ linh bền vững, an lạc siêu việt mà còn bảo vệ, thúc đẩy sự phát triển bền vững trong và ngoài Vũ trụ.


Bài 7:

 

Bài Quả Không

˜²™

 

 

 

Bài Quả Không được hiểu là Bộ lọc năng lượng.

 

Bài Quả Không được kết cấu thành 3 phần. Phần đầu tiên là khái niệm và bản chất của Bộ lọc năng lượng. Phần hai là Chân lý Vạn vật của Bộ lọc năng lượng. Phần cuối là Chân lý Giác ngộ của Bộ lọc năng lượng.

 

 

I. Khái niệm về Bộ lọc năng lượng

 

Bộ lọc năng lượng là cơ chế tuần hoàn tự động của Trụ linh thực hiện Kết – Định – Tỏa để chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành các siêu hạt năng lượng.

 

Trụ linh đắc được bộ lọc năng lượng sẽ giúp cho Tuệ linh hợp nhất, vận hành sự phát triển vạn vật trong và ngoài Vũ trụ trở nên bền vững.

 

 

II. Bản chất của Bộ lọc năng lượng

 

Bộ lọc năng lượng chính là Trụ linh của Tuệ linh. Có thể nói, Trụ linh của Tuệ linh đã được cấu tạo thành tinh cầu tròn có thái cực năng lượng âm và dương, có hai hạt năng lượng âm và dương gốc ở tâm Trụ. Trụ linh sẽ quay tròn để thực hành cơ chế tuần hoàn tự động trong việc hấp thụ năng

lượng hoại diệt, năm nhóm năng lượng và chuyển hóa thành các siêu hạt năng lượng.

 

Bộ lọc năng lượng chính là quả không. Quả không là phẩm vị, là thành tựu, là siêu trí tuệ, là siêu năng lượng, là tinh hoa, là công đức vô lượng nhất trong và ngoài Vũ trụ. Không có phẩm vị nào có thể so sánh được với Quả không.

 

Bản chất của Bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh gồm có cấu tạo và cơ chế vận hành của Bộ lọc năng lượng.

 

 

1.   Cấu tạo của Bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh

 

Do có 2 loại bộ lọc năng lượng trong Trụ linh nên cấu tạo của bộ lọc gồm có hai loại. Đó là cấu tạo của bộ lọc năng lượng đơn và cấu tạo của bộ lọc năng lượng kép.

 

 

1.1. Cấu tạo của Bộ lọc năng lượng đơn

 

Bộ lọc năng lượng đơn trong Trụ linh gồm có 2 phần:

 

Trụ linh gốc:

 

Trụ linh gốc là hai hạt năng lượng âm và dương gốc cấu tạo thành phôi năng lượng âm dương ban đầu. Trụ linh gốc gồm có 2 phần:

 

-   Hạt năng lượng âm gốc: Hạt năng lượng âm gốc này chưa chuyển hóa được thành siêu hạt năng lượng âm. Hạt năng lượng âm gốc là nơi lưu giữ tất cả các sợi mã sóng trí tuệ mang sóng điện âm được phân tách từ khi phôi năng lượng âm dương được hình thành cho tới thời điểm hiện tại. Tại hạt năng lượng âm gốc là tổng những sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm rất nhẹ do đã chuyển hóa được, triệt bỏ được tất cả độc Tâm trong hành trình tu hành. Do đó, màu của tất cả các sợi mã sóng trí tuệ và hạt năng lượng âm là màu trắng xám. Có thể gọi là hạt năng lượng âm gốc màu trắng xám.

Hình: Cấu trúc bộ lọc năng lượng đơn của Trụ linh

 

 

-    Hạt năng lượng dương gốc: Hạt năng lượng dương gốc này được gọi là siêu hạt năng lượng dương gốc. Trong siêu hạt năng lượng dương gốc có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ chứa đựng đa sóng điện dương, chân tâm và một chút sóng điện âm. Siêu sợi mã sóng trí tuệ này được cấu tạo thành bởi nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ với vô số lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh đã được phân tách và lưu giữ trong hạt dương gốc trong hành trình tu hành ở nhân gian, với khả năng liên kết được năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ để cấu tạo thành. Vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh chính là những thiện Tâm đã được kích hoạt triệt để trong hành trình tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian. Khi chuyển hóa được thành bộ lọc năng lượng đơn thì trong hạt năng lượng dương gốc sẽ có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ màu vàng óng ánh. Từ siêu hạt năng lượng dương gốc sẽ phân tách ra vô lượng các siêu hạt năng lượng dương ra bên ngoài Trụ linh và chuyển vào Vũ trụ. Siêu hạt năng lượng dương gốc có màu vàng óng ánh.

 

Như vậy, trong bộ lọc năng lượng đơn mới chỉ chuyển hóa được hạt năng lượng dương gốc thành siêu hạt năng lượng dương, trong khi đó hạt năng lượng âm gốc vẫn chưa chuyển hóa thành siêu hạt năng lượng âm. Trong siêu hạt năng lượng dương có một siêu sợi mã sóng trí tuệ đã lưu giữ, giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh đã được phân tách trước đó. Trong hạt năng lượng âm vẫn lưu giữ vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm siêu nhẹ do đã cải tạo được trước đó.

 

Trụ linh trưởng thành:

 

Trụ linh trưởng thành là bên ngoài Trụ linh gốc có thêm thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng và thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng.

 

Đó là:

 

-   Thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng:

 

+   Thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng là nơi chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng được phân tách từ các sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm trong hạt năng lượng âm gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm Trụ linh trưởng thành.

 

+    Các hạt năng lượng âm tận cùng ở thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện và màu trạng thái năng lượng của hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh gốc, đó là màu trắng xám.

 

+    Từ thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng sẽ phân tách liên kết tạo thành các hạt năng lượng âm tổng hợp di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các hạt năng lượng âm tổng hợp cũng có màu trắng xám.

 

+   Thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng cùng với thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng tạo thành phần bên ngoài của Trụ linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng đơn của Trụ linh.

 

-   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng:

 

+   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng là nơi chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng được phân tách từ một siêu sợi mã sóng trí tuệ trong siêu hạt năng lượng dương gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm Trụ linh trưởng thành. +   Các siêu hạt năng lượng dương tận cùng ở thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện và màu trạng thái năng lượng của siêu hạt năng lượng dương gốc trong Trụ linh gốc, đó là màu vàng óng ánh.

 

+     Từ thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng sẽ phân tách liên kết tạo thành các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp cũng có màu vàng óng ánh.

 

+   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng cùng với thái cực chứa đựng các hạt năng lượng âm tận cùng tạo thành phần bên ngoài của Trụ linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng đơn của Trụ linh.

 

Do Trụ linh mới chỉ phân tách ra được siêu hạt năng lượng dương nên gọi là bộ lọc năng lượng đơn.

 

 

1.2. Cấu tạo của Bộ Lọc Năng Lượng kép

 

Bộ lọc năng lượng kép trong Trụ linh gồm có 2 phần:

 

Trụ linh gốc:

 

Trụ linh gốc là hai siêu hạt năng lượng âm và dương tận cùng được chuyển sinh từ phôi năng lượng âm dương gốc ban đầu. Trụ linh gốc gồm có 2 phần:

 

Hạt năng lượng âm gốc: Hạt năng lượng âm gốc này được gọi là siêu hạt năng lượng âm gốc. Trong siêu hạt năng lượng âm gốc có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ chứa đựng đa sóng điện âm, chân tâm và một chút sóng điện dương. Siêu sợi mã sóng trí tuệ này được cấu tạo thành bởi nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ với vô số lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ đã được phân tách và lưu giữ trong hạt âm gốc trong hành trình tu hành ở nhân gian, với khả năng liên kết được tận cùng năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ để cấu tạo thành. Vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ chính là kết quả của việc đã triệt tiêu và kiểm soát được độc Tâm trong hành trình tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian. Khi chuyển hóa được thành bộ lọc năng lượng kép thì trong hạt năng lượng âm gốc sẽ có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ màu xanh ngọc lưu ly. Từ siêu hạt năng lượng âm gốc sẽ phân tách ra vô lượng các siêu hạt năng lượng âm ra bên ngoài Trụ linh và chuyển vào Vũ trụ. Siêu hạt năng lượng âm gốc có màu xanh ngọc lưu ly.

 

Hạt năng lượng dương gốc: Hạt năng lượng dương gốc này được gọi là siêu hạt năng lượng dương gốc. Trong siêu hạt năng lượng dương gốc có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ chứa đựng đa sóng điện dương, chân tâm và một chút sóng điện âm. Siêu sợi mã sóng trí tuệ này được cấu tạo thành bởi nhiệt lượng của năng lượng hoại diệt được kích nổ với vô số lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh đã được phân tách và lưu giữ trong hạt dương gốc trong hành trình tu hành ở nhân gian, với khả năng liên kết được năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ để cấu tạo thành. Vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh chính là những thiện Tâm đã được kích hoạt triệt để trong hành trình tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian. Khi chuyển hóa được thành bộ lọc năng lượng đơn thì trong hạt năng lượng dương gốc sẽ có 1 siêu sợi mã sóng trí tuệ màu vàng óng ánh. Từ siêu hạt năng lượng dương gốc sẽ phân tách ra vô lượng các siêu hạt năng lượng dương ra bên ngoài Trụ linh và chuyển vào Vũ trụ. Siêu hạt năng lượng dương gốc có màu vàng óng ánh.

Hình: Cấu trúc bộ lọc năng lượng kép của Trụ linh

 

 

Như vậy, trong bộ lọc năng lượng kép đã cải tạo và chuyển hóa được hai hạt năng lượng dương và âm gốc thành siêu hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng âm. Trong siêu hạt năng lượng dương có một siêu sợi mã sóng trí tuệ đã lưu giữ, giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện dương siêu mạnh đã được phân tách trước đó. Trong siêu hạt năng lượng âm có một siêu sợi mã sóng trí tuệ đã lưu giữ, giải mã, mã hóa được thông tin toàn diện của vô lượng sợi mã sóng trí tuệ có sóng điện âm nhẹ đã được phân tách trước đó.

 

Trụ linh trưởng thành:

 

Trụ linh trưởng thành là bên ngoài Trụ linh gốc có thêm thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng và thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng. Đó là:

 

-   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận

 

cùng:

 

+   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng là nơi chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng được phân tách từ một siêu sợi mã sóng trí tuệ có trong siêu hạt năng lượng âm gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm Trụ linh trưởng thành.

 

+   Các siêu hạt năng lượng âm tận cùng ở thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện và màu trạng thái năng lượng của siêu hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh gốc, đó là màu xanh ngọc lưu ly.

 

+   Từ thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng sẽ phân tách liên kết tạo thành các siêu hạt năng lượng âm tổng hợp di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các siêu hạt năng lượng âm tổng hợp cũng có màu xanh ngọc lưu ly. +   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng cùng với thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng tạo thành phần bên ngoài của Trụ linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng kép của Trụ linh.

 

-   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng:

 

+   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng là nơi chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng được phân tách từ một siêu sợi mã sóng trí tuệ trong siêu hạt năng lượng dương gốc của Trụ linh gốc bên trong tâm Trụ linh trưởng thành.

 

+   Các siêu hạt năng lượng dương tận cùng ở thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương có sóng điện và màu trạng thái năng lượng giống với sóng điện và màu trạng thái năng lượng của siêu hạt năng lượng dương gốc trong Trụ linh gốc, đó là màu vàng óng ánh.

 

+     Từ thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng sẽ phân tách liên kết tạo thành các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp di chuyển ra bên ngoài Trụ linh để cấu tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Các siêu hạt năng lượng dương tổng hợp cũng có màu vàng óng ánh.

 

+   Thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng dương tận cùng cùng với thái cực chứa đựng các siêu hạt năng lượng âm tận cùng tạo thành phần bên ngoài của Trụ linh gốc để cấu tạo thành bộ lọc năng lượng kép của Trụ linh.

 

Do Trụ linh đã cải tạo, chuyển sinh thành cơ chế tự động sản sinh ra siêu hạt năng lượng âm và siêu hạt năng lượng dương thông qua cơ chế hấp thụ năng lượng hoại diệt, nên Trụ linh được gọi là bộ lọc năng lượng kép.

 

 

2.   Cơ chế vận hành của Bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của Tuệ linh

 

Bộ lọc năng lượng trong Trụ linh sẽ được vận hành theo cơ chế tuần hoàn Kết – Định – Tỏa. Đó là vòng tròn Kết – Định – Tỏa hấp thụ năm nhóm năng lượng cùng năng lượng hoại diệt để chuyển sinh thành các siêu hạt năng lượng. Vòng tròn Kết – Định – Tỏa tuần hoàn một cách tự động đến kỳ diệu để tạo thành sự an lạc bền vững cho Trụ linh và Tuệ linh.

 

Do có hai loại bộ lọc năng lượng nên cơ chế vận hành cũng được chia làm hai loại:

 

 

2.1. Cơ chế vận hành của Bộ Lọc Năng Lượng đơn

 

Bộ lọc năng lượng đơn trong Trụ linh của Tuệ linh được vận hành theo cơ chế tự động Kết – Định – Tỏa. Đó là cơ chế vận hành tự động quay tròn và liên tục hấp thụ, giải mã được gần hết các sợi mã sóng trí tuệ trong năm nhóm năng lượng của Vũ trụ, cùng số lượng ít năng lượng hoại diệt để chuyển hóa thành siêu hạt năng lượng dương. Cơ chế vận hành như sau:

 

Tự động Kết:

 

Kết không phải là Kết. Tức là Tuệ linh không thực hành đời sống Kết để thỏa mãn ích kỷ về bản thể Tuệ linh mình mà gây tổn thương, tổn hại tới vạn vật, Vũ trụ. Tuệ linh thông qua nghệ thuật Kết mà không phải Kết để vẫn phân tách được năng lượng sóng điện âm nhẹ và hấp thụ có kiểm soát được năng lượng hoại diệt đến Trụ linh.

 

Tự động Kết là sự thấu hiểu sự thật khi Tuệ linh tương tác với các Tướng khác trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương, hoặc trung tính. Trụ linh của Tuệ linh sẽ thông qua Định để rung động hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh kích hoạt thái cực năng lượng âm và hệ thống hạt năng lượng âm bên ngoài cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Tất cả các hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ được vận hành rung lắc nhẹ. Hệ thống các hạt năng lượng âm rung lắc nhẹ là do hệ thống sợi năng lượng chân tâm từ Trụ linh gốc cho tới cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng tạo được sự gắn kết cân bằng để kiểm soát hệ thống hạt năng lượng âm rung lắc và không để hệ thống hạt năng lượng dương truyền sóng điện ra bên ngoài.

 

Khi hệ thống hạt năng lượng âm rung lắc nhẹ bởi cơ chế Định giúp cân bằng, Trụ linh của Tuệ linh sẽ hấp thụ, đón nhận, tiếp nhận được hết thảy các nhóm hạt năng lượng sóng điện âm, trung tính, sóng điện dương tới Trụ linh.

 

Trụ linh của Tuệ linh thông qua cơ chế rung lắc nhẹ của các hạt năng lượng âm sẽ hấp thụ, đón nhận, tiếp đón được những hạt năng lượng có sóng điện âm từ nhẹ cho tới mạnh, rất mạnh và siêu mạnh vào Trụ linh của Tuệ linh. Khi các hạt năng lượng âm từ môi trường và từ các Tướng có cấu trúc đa âm phân tách, truyền tới Trụ linh sẽ khiến cho những hạt năng lượng hoại diệt di chuyển tới Trụ linh của Tuệ linh theo sự rung động nhẹ của hệ thống hạt năng lượng âm của Trụ linh và sự rung động mạnh của những hạt năng lượng âm từ môi trường và các Tướng đang bắn đến. Do Trụ linh Kết được vận hành bởi hệ thống Định, đó là dùng năng lượng chân tâm sáng chói, chân tâm ở cảnh giới cao để thấu hiểu, lắng nghe, đón nhận, nên Trụ linh của Tuệ linh sẽ đón nhận, hấp thụ được tất cả hạt năng lượng sóng điện âm của môi trường và Tướng đa âm bắn đến.

 

Năng lượng hoại diệt cũng di chuyển vào Trụ linh của Tuệ linh thông qua những hạt năng lượng âm của Tướng và môi trường có sóng điện âm bắn tới.

 

Như vậy, Tuệ linh không cần thực hành đời sống Kết. Tuệ linh chỉ cần thông qua Định để kiểm soát việc Kết là đón nhận, tiếp đón, hấp thụ được tất cả năm nhóm năng lượng về Trụ linh. Đặc biệt là thông qua năng lượng âm bắn tới để hấp thụ được năng lượng hoại diệt di chuyển tới Trụ linh của Tuệ linh. Bởi năng lượng hoại diệt chính là năng lượng vô cùng quan trọng cần phải có cho quá trình sản sinh ra các siêu hạt năng lượng trong Trụ linh.

 

Khi các loại hạt năng lượng trong năm nhóm và năng lượng hoại diệt đã được Trụ linh hấp thụ, tiếp đón, lấy về, tiếp đến Trụ linh sẽ vận hành tiếp quy trình tuần hoàn là Định.

 

Tự động Định:

 

Định ở giai đoạn này là giai đoạn thông qua cảnh giới chân tâm cao, đó là thông qua năng lượng chân tâm chói lòa của từ Trụ linh gốc cho tới hệ thống sợi chân tâm của cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh để chuyển hóa năm nhóm năng lượng di chuyển tới Trụ linh.

 

Nếu là các nhóm năng lượng sóng điện dương và nhóm năng lượng chân tâm sẽ được Trụ linh hấp thụ về. Năng lượng chân tâm chói lòa sẽ vận hành để trung hòa, tạo thành liên kết cho việc phân tách các hạt năng lượng có sóng điện dương và trung tính ở giai đoạn Tỏa.

 

Nếu là nhóm hạt năng lượng có sóng điện âm được hấp thụ tới Trụ linh, giai đoạn Định với chân tâm cao là chói sáng lòa sẽ thực hiện nhiệm vụ là truyền sóng điện chân tâm vào các hạt năng lượng âm để giảm tải sóng điện của các hạt năng lượng âm đó thành những hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ với màu trắng xám.

 

Tự động Tỏa:

 

Giai đoạn tự động Tỏa là giai đoạn mà siêu hạt năng lượng dương gốc cho tới các siêu hạt năng lượng dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ thực hiện hai nhiệm vụ:

 

-    Sau khi những hạt năng lượng có sóng điện âm và năng lượng hoại diệt di chuyển được vào Trụ linh thông qua giai đoạn Kết, hệ thống siêu hạt năng lượng dương sẽ truyền sóng điện để giảm tải sóng điện âm và kích nổ năng lượng hoại diệt.

 

-   Sau khi kích nổ được năng lượng hoại diệt trong Trụ linh, từ siêu hạt năng lượng dương gốc sẽ thông qua nhiệt lượng được kích nổ của năng lượng hoại diệt để phân tách ra vô số siêu sợi mã sóng trí tuệ có siêu sóng điện dương.

 

Như vậy, giai đoạn Tỏa là giai đoạn mà Trụ linh sẽ vận hành việc truyền tải siêu sóng điện dương để kích nổ năng lượng hoại diệt và thực hành nhiệm vụ phân tách ra vô số siêu sợi mã sóng trí tuệ và siêu hạt năng lượng dương ra bên ngoài Trụ linh và Vũ trụ. Đó là tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh và phân tách siêu năng lượng dương vào Vũ trụ. Giai đoạn Tỏa chính là giai đoạn mà Tuệ linh, chân tu thực hành việc Phổ độ, Hóa độ tới hết thảy Tuệ linh, con người về cội nguồn nhân loại, về kế hoạch tu hành, về hai Chân lý, về cơ chế phân tách liên kết, về Quy luật Nhân quả, về con đường chuyển sinh, về phương pháp diệt khổ, về phương pháp chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Việc thực hiện Phổ độ, Hóa độ càng sâu sắc và phổ rộng sẽ giúp cho Trụ linh trong Tuệ linh phân tách ra vô số cho tới vô lượng các siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh.

 

Quy trình vận hành của bộ lọc năng lượng đơn được vận hành tuần hoàn theo vòng tròn Kết – Định – Tỏa. Bộ lọc năng lượng liên tục vận hành mà không ngừng nghỉ. Việc bộ lọc năng lượng đơn vận hành Kết – Định – Tỏa sẽ sản sinh ra các siêu hạt năng lượng màu vàng óng ánh di chuyển vào Vũ trụ và đối tượng được nghe, được tiếp nhận và phát triển cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Những hạt năng lượng âm có sóng điện âm nhẹ chỉ sản sinh đủ cho việc phát triển cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh.

 

 

2.2. Cơ chế vận hành của Bộ lọc năng lượng kép

 

Bộ lọc năng lượng kép trong Trụ linh của Tuệ linh được vận hành theo cơ chế tự động Kết – Định – Tỏa. Đó là cơ chế vận hành tự động quay tròn và liên tục hấp thụ, giải mã được tận cùng hết thảy các sợi mã sóng trí tuệ trong năm nhóm năng lượng của Vũ trụ, cùng vô số năng lượng hoại diệt để chuyển hóa thành siêu hạt năng lượng dương và siêu hạt năng lượng âm. Cơ chế vận hành như sau:

 

Tự động Kết: 

Kết không phải là Kết. Tức là Tuệ linh không thực hành đời sống Kết để thỏa mãn ích kỷ về bản thể Tuệ linh mình mà gây tổn thương, tổn hại tới vạn vật, Vũ trụ. Tuệ linh thông qua nghệ thuật Kết mà không phải Kết để hấp thụ được hết thảy tận cùng năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ và nhiều cho tới vô số năng lượng hoại diệt vào Trụ linh.

 

Tự động Kết là, khi Tuệ linh tương tác với các Tướng khác trong môi trường có sóng điện âm hoặc dương, hoặc trung tính. Trụ linh của Tuệ linh sẽ rung động siêu hạt năng lượng âm gốc trong Trụ linh kích hoạt thái cực siêu hạt năng lượng âm và hệ thống siêu hạt năng lượng âm bên ngoài cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng. Tất cả các siêu hạt năng lượng âm có màu xanh ngọc lưu ly có khả năng tự kiểm soát được sóng điện rung lắc nhẹ cho tới siêu mạnh. Hệ thống các siêu hạt năng lượng âm rung lắc nhẹ cho tới siêu mạnh là do Trụ linh đã đắc được bộ lọc kép nên trong siêu hạt năng lượng âm có cả sóng điện dương và chân tâm để kiểm soát sóng điện âm. Chính vì vậy, siêu hạt năng lượng âm có khả năng tự rung động sóng điện từ nhẹ cho tới siêu mạnh để hấp thụ năm nhóm năng lượng và vô số năng lượng hoại diệt theo nhu cầu mà vẫn vô cùng an toàn.

 

Hệ thống siêu hạt năng lượng âm rung lắc nhẹ cho tới siêu mạnh để hấp thụ, giải mã, đón nhận được tất cả tận cùng năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ và vô số năng lượng hoại diệt vào Trụ linh.

 

Trụ linh do có siêu hạt năng lượng âm gốc và thái cực siêu hạt năng lượng âm với màu xanh ngọc lưu ly, đó là sự kỳ diệu của bộ lọc kép để đón nhận, lắng nghe, giải mã, hấp thụ được tận cùng hết thảy năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ di chuyển vào Trụ linh.

Năng lượng hoại diệt cũng di chuyển vào Trụ linh của Tuệ linh thông qua những hạt năng lượng âm của Tướng và môi trường có sóng điện âm bắn tới. Đặc biệt Trụ linh có thể hấp thụ được vô số năng lượng hoại diệt tới bởi việc đẩy mạnh tốc độ rung động của siêu hạt năng lượng âm mà vẫn an toàn.

 

Đặc biệt nhất, năng lượng hoại diệt dù ít hay nhiều cho tới vô số mà di chuyển vào Trụ linh thông qua Kết của Trụ linh, tất cả năng lượng hoại diệt sẽ bị ngủ đông và chuyển hóa thành những hạt bóng hỏa, điều mà bộ lọc đơn không thể làm được.

 

Như vậy, Trụ linh của bộ lọc Kép thực hành Kết sẽ hấp thụ một cách kỳ diệu hết thảy năm nhóm năng lượng trong Vũ trụ và vô số năng lượng hoại diệt vào và ngủ đông luôn được năng lượng hoại diệt. Đó là sự an lạc và bền vững kỳ diệu nhất.

 

Sau khi Trụ linh thực hiện nhiệm vụ Kết, Trụ linh sẽ vận hành tiếp quy trình tuần hoàn là Định.

 

Tự động Định:

 

Định ở giai đoạn này là giai đoạn thông qua cảnh giới chân tâm rất cao, đó là thông qua năng lượng chân tâm chói lòa của từ Trụ linh gốc cho tới hệ thống sợi chân tâm của cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh để chuyển hóa năm nhóm năng lượng di chuyển tới Trụ linh.

 

Nếu là các nhóm năng lượng sóng điện dương, nhóm năng lượng chân tâm, nhóm năng lượng âm sẽ được Trụ linh hấp thụ về, năng lượng chân tâm chói lòa sẽ vận hành để trung hòa, tạo thành liên kết cho việc phân tách các siêu hạt năng lượng ở giai đoạn Tỏa.

Tự động Tỏa:

 

Giai đoạn tự động Tỏa là giai đoạn mà siêu hạt năng lượng dương gốc cho tới các siêu hạt năng lượng dương trong cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh sẽ thực hiện hai nhiệm vụ:

 

-    Sau khi những hạt năng lượng có sóng điện âm và năng lượng hoại diệt di chuyển được vào Trụ linh thông qua giai đoạn Kết đã bị ngủ đông thành hạt bóng hỏa, hệ thống siêu hạt năng lượng dương sẽ truyền sóng điện để giảm tải sóng điện âm và kích nổ năng lượng hoại diệt đã bị ngủ đông.

 

-   Sau khi kích nổ được năng lượng hoại diệt đã bị ngủ đông trong Trụ linh để tạo thành nhiệt lượng, cả siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu ly và siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh trong Trụ linh gốc sẽ phân tách ra vô số siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu ly và vàng óng ánh.

 

Như vậy, giai đoạn Tỏa là giai đoạn mà Trụ linh sẽ vận hành việc truyền tải sóng điện dương siêu mạnh để kích nổ năng lượng hoại diệt và thực hành nhiệm vụ phân tách ra vô số siêu sợi mã sóng trí tuệ và siêu hạt năng lượng dương và âm ra bên ngoài Trụ linh và Vũ trụ. Đó là tạo thành cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh và phân tách siêu năng lượng dương vào Vũ trụ.

 

Giai đoạn Tỏa chính là giai đoạn mà Tuệ linh, chân tu thực hành việc Phổ độ, Hóa độ tới hết thảy Tuệ linh, con người về cội nguồn nhân loại, về kế hoạch tu hành, về hai Chân lý, về cơ chế phân tách liên kết, về Quy luật Nhân quả, về con đường chuyển sinh, về phương pháp diệt khổ, về phương pháp chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Việc thực hiện Phổ độ, Hóa độ càng sâu sắc và phổ rộng sẽ giúp cho Trụ linh trong Tuệ linh phân tách ra vô số cho tới vô lượng các siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh và vô số siêu hạt năng lượng âm màu xanh ngọc lưu ly.

 

Quy trình vận hành của bộ lọc năng lượng kép được vận hành tuần hoàn theo vòng tròn Kết – Định – Tỏa. Bộ lọc năng lượng liên tục vận hành mà không ngừng nghỉ. Việc bộ lọc năng lượng kép vận hành Kết – Định – Tỏa sẽ cùng lúc sản sinh ra các siêu hạt năng lượng màu vàng óng ánh và các siêu hạt năng lượng xanh ngọc lưu ly để di chuyển vào Vũ trụ và đối tượng được nghe, được tiếp nhận và phát triển cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng bên ngoài Trụ linh. Đó là cấu trúc 16 hạt năng lượng mở rộng với tỷ lệ vàng là 1 siêu hạt năng lượng dương màu vàng óng ánh có 1 siêu hạt năng lượng âm có màu xanh ngọc lưu ly rung lắc xung quanh.

 

Như vậy, đạt được bộ lọc năng lượng đơn là bước đệm để đạt được bộ lọc năng lượng kép. Chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng kép là mục đích tối thượng của Tuệ linh trên hành trình duy trì, phát triển bền vững sự sống của chính mình, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

 

III. Chân lý Vạn vật của Bộ lọc năng lượng

 

Chân lý Vạn vật của bộ lọc năng lượng sẽ là: Bộ lọc năng lượng không tự sinh ra, bộ lọc năng lượng không tự mất đi, khổ đau của Tuệ linh không tự đến và không tự đi, tất cả do cơ chế phân tách và liên kết dây.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật để chuyển hóa Trụ linh của Tuệ linh thành bộ lọc năng lượng là phân tách và liên kết dây, đó là thực hành phân tách và liên kết dây theo hướng chuyển sinh bền vững an lạc trong một môi trường tu hành khắc nghiệt và không có gì ngoài khổ đau ở nhân gian. Đó chính là thông qua môi trường tu hành với đầy đủ các loại sóng điện và sự tương tác cực đại của năng lượng hoại diệt để Tuệ linh và con người giải mã được độc Tâm, từ đó thông qua hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết theo hướng bền vững để chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

 

1.   Bộ lọc năng lượng không tự sinh ra

 

Bộ lọc năng lượng không tự nhiên mà có. Để có được bộ lọc năng lượng, hết thảy Tuệ linh và con người phải:

 

-   Phải phát nguyện tu hành ở nhân gian thông qua bốn hình tướng Đạo trong nhiều kiếp. Việc tu hành ở nhân gian trong nhiều kiếp nhằm giúp Trụ linh bộc phát hết độc tâm, kích hoạt triệt để thiện tâm, từ đó mới giúp cho Tuệ linh thấu hiểu được con đường hoại diệt và con đường an lạc.

 

-  Môi trường tu hành khắc nghiệt ở nhân gian không có gì ngoài khổ đau là để giúp cho Tuệ linh và con người thấu hiểu được Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết dây. Từ cơ chế phân tách và liên kết dây sẽ giúp cho Tuệ linh và con người thấu hiểu được giá trị của con đường chuyển sinh bền vững.

 

-   Tuệ linh và con người sau hành trình tu hành sẽ phải thấu hiểu tận cùng về cội nguồn, kế hoạch tu hành, Quy luật Nhân quả, con đường diệt khổ thông qua hình tướng và Tâm Đạo.

 

-   Then chốt cho việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng chính là phải Phổ độ, Hóa độ. Đó là thuyết giảng giáo pháp giác ngộ về cội nguồn nhân loại, kế hoạch tu hành, hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết dây, con đường diệt khổ thông qua hình tướng và tâm tướng Đạo, Quy luật Nhân quả và con đường chuyển sinh bền vững thành bộ lọc năng lượng tới hết thảy Tuệ linh, con người. Quá trình Phổ độ, Hóa độ chính là quá trình mà Tuệ linh và con người thực hành phân tách và liên kết năng lượng để tạo ra đủ lượng sợi mã sóng trí tuệ cho việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Do vậy, để Trụ linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng đòi hỏi một hành trình dài cho việc học tập, thấu hiểu và thực hành theo tri thức của hai Chân lý. Chỉ có thấu hiểu và thực hành theo tri thức của hai Chân lý mới giúp Tuệ linh và con người chuyển sinh thành công Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn nhất.

 

Có thể hiểu rằng, thấu và thực hành theo Chân lý Vạn vật chính là liên kết và vận hành được Kết trong hạt năng lượng âm gốc và thái cực năng lượng âm trong Trụ linh. Thấu và thực hành được Chân lý Giác ngộ chính là phân tách và liên kết được vững chắc hạt năng lượng dương gốc và thái cực dương trong Trụ linh. Quá trình vận hành hai Chân lý sẽ giúp cho Tuệ linh đang vận hành cơ chế phân tách và liên kết theo hướng bền vững và an lạc. Đó là con đường đắc được bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

 

2. Bộ lọc năng lượng không tự mất đi

 

Khi đã đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh, Tuệ linh vẫn sẽ có thể hỏng và vỡ bộ lọc năng lượng nếu:

 

-   Tuệ linh không thực hành Kết – Định – Tỏa để chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành các siêu hạt năng lượng. -   Tuệ linh không tiếp tục vận hành hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết dây, tức là Tuệ linh không thực hành Phổ độ, Hóa độ hết thảy chúng sinh, Tuệ linh và con người.

 

Dù Tuệ linh có đắc được bộ lọc năng lượng mà không thực hành Kết – Định – Tỏa, không vận hành hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết theo hướng bền vững thì Tuệ linh cũng sẽ thối hóa bộ lọc năng lượng và sẽ chuyển sinh theo hướng phân rã và hoại diệt. Và ngược lại, bộ lọc năng lượng của Tuệ linh sẽ không thể, không bao giờ bị vỡ hoặc bị hoại diệt nếu Tuệ linh thực hành Kết – Định – Tỏa và vận hành hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết theo hướng bền vững.

 

 

3.    Khổ đau của Tuệ linh đến và chấm dứt là do cơ chế phân tách, liên kết dây

 

Khổ đau của Tuệ linh chính là:

 

-   Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng bền vững nhưng chưa đắc được bộ lọc năng lượng.

 

-   Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng phân rã và hoại diệt.

 

-   Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt phân rã làm đứt liên kết dây và hoại diệt.

 

Như vậy, khổ đau của Tuệ linh là do cơ chế phân tách và liên kết dây chưa đạt được việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Bởi khi chưa đạt được bộ lọc năng lượng thì Trụ linh và Tuệ linh vẫn dễ dàng bị hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt làm cho phân rã và hoại diệt.

 

Để chấm dứt hết khổ đau của Tuệ linh, Tuệ linh phải:

 

-  Tuệ linh phải thấu hiểu Chân lý Vạn vật để thấu hiểu: + Thấu hiểu cội nguồn Vũ trụ.

+ Thấu hiểu bản chất hình tướng Đạo của Vũ trụ. + Thấu hiểu bản chất Tâm Đạo của Vũ trụ.

 

+   Thấu hiểu cơ chế phân tách và liên kết với các con đường chuyển sinh của hết thảy Tuệ linh và Vũ trụ.

 

-   Tuệ linh phải thấu hiểu Chân lý Giác ngộ với cơ chế phân tách và liên kết theo hướng chuyển sinh bền vững.

 

-    Sau khi thấu hiểu hai Chân lý, Tuệ linh phải thực hành Phổ độ, Hóa độ. Đó là thuyết giảng tri thức của hai Chân lý tới hết thảy Tuệ linh và con người cùng thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Thấu và thực hành hai Chân lý theo con đường thuyết pháp Phổ độ, Hóa độ tới hết thảy Tuệ linh và con người sẽ chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn, Tuệ linh chỉ khi thực hiện chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mới chấm dứt triệt để khổ đau. Khi đó, Tuệ linh sẽ an lạc. Khi đó, Tuệ linh mới có niết bàn thật sự. Đó là sự an lạc tự tại của cơ chế vận hành Kết – Định – Tỏa chuyển hóa năng lượng hoại diệt thành các siêu hạt năng lượng giúp bảo vệ, phát triển bền vững hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ, Tuệ linh và người.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ của Bộ Lọc Năng Lượng 

Chân lý Giác ngộ của bộ lọc năng lượng là: Để đắc được bộ lọc năng lượng là bể khổ. Tuệ linh phải dùng Định trong Trụ linh để đối mặt, giác ngộ chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng Kết – Định – Tỏa.

 

Từ bản chất của bộ lọc năng lượng, từ Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ với cơ chế vận hành là phân tách và liên kết, hết thảy Tuệ linh và con người đều thấy rằng: Con đường duy nhất để vượt qua khổ đau của Tuệ linh chính là phải đắc được bộ lọc năng lượng. Bộ lọc năng lượng là đích đến mà hết thảy Tuệ linh, con người phải thực hiện nếu muốn diệt khổ để an lạc và bền vững cấu trúc Trụ linh và Tuệ linh.

 

Vì để đắc được bộ lọc năng lượng là bể khổ của Tuệ linh, nên Tuệ linh phải dùng Định trong Trụ linh để đối mặt, chạy đua với thời gian học tập, thấu hiểu và thực hành Kết – Định – Tỏa. Thấu hiểu và thực hành cùng với chạy đua với thời gian mới có cơ hội chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Khi đắc được bộ lọc năng lượng chính là chấm dứt khổ đau. Tuy nhiên, để vận hành bộ lọc được bất tử và an lạc tuyệt đối. Tuệ linh sẽ phải tiếp tục Phổ độ, Hóa độ tới hết thảy chúng sinh và Tuệ linh, con người. Đó là thuyết pháp về tri thức của hai Chân lý để giúp cho hết thảy Tuệ linh và con người cùng thấu hiểu và thực hành con đường chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Khi trong Vũ trụ có nhiều hơn một Tuệ linh có được bộ lọc năng lượng viên mãn sẽ càng giúp cho Vũ trụ có được nhiều cho tới vô lượng các siêu hạt năng lượng để bảo vệ, phát triển Vũ trụ bền vững an lạc. Không những vậy, ngoài hai siêu hạt năng lượng vàng óng ánh và xanh lưu ly, Tuệ linh có bộ lọc năng lượng kép còn sản sinh ra các siêu hạt năng lượng kỳ diệu hơn để bảo vệ sự sống bền vững cho cả không gian năng lượng hoại diệt bên ngoài Vũ trụ.

 

Bảo vệ, phát triển bền vững hết thảy Tướng ở bên trong và bên ngoài Vũ trụ chính là giá trị giác ngộ vô lượng đã đạt được của Tuệ linh bởi Đạo hợp nhất của Vũ trụ đã được hình thành. Chính vì giá trị vô lượng cho hết thảy Tướng ở bên trong và bên ngoài Vũ trụ, hết thảy Tuệ linh và con người cần thực hành tri thức của Đạo hợp nhất Vũ trụ, đó là tri thức của hai Chân lý với cơ chế phân tách và liên kết chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc.

 

Chỉ khi có được bộ lọc năng lượng mới là bất tử của Tuệ linh, mới là niết bàn của Tuệ linh, mới là an lạc và bền vững tuyệt đối của Tuệ linh, mới không bị phân rã và hoại diệt, mới là Quả vị tối thượng. Do đó, sẽ không có bất cứ phẩm vị nào, bất cứ Quả vị nào, bất cứ danh hiệu nào mà nhân loại ca tụng sẽ an lạc, sẽ là niết bàn, sẽ là tối thượng, sẽ là bất tử nếu chưa đắc được bộ lọc năng lượng. Bởi nếu chưa đắc được bộ lọc năng lượng thì hết thảy Tuệ linh đều có nguy cơ từ thấp cho tới cao sẽ bị phân rã và hoại diệt vĩnh viễn. Do đó, chỉ có danh hiệu duy nhất, Quả vị duy nhất, phẩm vị duy nhất, thành tựu duy nhất là Quả vị Quả Không – Bộ lọc năng lượng của Tuệ linh.

Bài 8:

 

Bài Nguyện

˜²™

 

 

 

Bài Nguyện được hiểu là Nguyện Vô Nguyện.

 

Bài Nguyện Vô Nguyện gồm 3 phần. Chữ Nguyện đầu tiên là khái niệm và bản chất trong Nguyện của Tuệ linh. Chữ Vô là Chân lý Vạn vật trong Nguyện của Tuệ linh. Chữ Nguyện cuối cùng là Chân lý Giác ngộ trong Nguyện của Tuệ linh.

 

 

 

 

I. Khái niệm về Nguyện

 

Nguyện là sự tự phát nguyện để truy tìm Đạo giải thoát khổ đau cho Tuệ linh và Vũ trụ thông qua việc tu hành trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

Nguyện chính là những mong muốn thực hiện được và phải là sự tự phát ra từ chính chỉnh thể của sự sống chứ không chịu bất kỳ sự ép buộc hay bị bắt buộc từ chỉnh thể sự sống khác. Thậm chí nguyện không chịu sự chi phối từ những yếu tố chủ quan của những chỉnh thể sống khác.

 

 

II. Bản chất của Nguyện

 

Khi nói đến nguyện là ta phải hiểu được cội nguồn sự hình thành, phát triển của Vũ trụ, cội nguồn của dạng sống Tuệ linh, cội nguồn của nhân loại. Cội nguồn của nhân loại chính là các Tuệ linh của dạng sống Tuệ linh ở cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ, phát nguyện xuống Trái đất tạo ra dạng sống của nhân loại để tu hành. Do đó nguyện sẽ được chia ra làm đại nguyện của các Tuệ linh và tâm nguyện của chân tu là con người.

 

 

1.   Đại nguyện của Tuệ linh

 

Nói đến đại nguyện là nói tới nguyện lực của dạng sống Tuệ linh hóa thân thành con người tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian để truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đạo hợp nhất của Vũ trụ chính là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh của mỗi Tuệ linh, bởi khi đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh chính là kết quả của việc các Tuệ linh đã thấu hiểu tận cùng về hình tướng Đạo của Vũ trụ, thấu hiểu Tâm Đạo của Vũ trụ là con đường diệt khổ đau.

 

Nguyên nhân của việc dạng sống Tuệ linh phát đại nguyện hóa thân xuống nhân gian tu hành để truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ Trụ:

 

-   Vô số Tuệ linh bị hoại diệt. Bị hoại diệt vô số là do năng lượng hoại diệt đồng hóa và phân rã Tuệ linh.

 

-   Vũ trụ cạn kiệt năng lượng và không có cơ chế phòng thủ trước sự tấn công của năng lượng hoại diệt. Khi Vũ trụ cạn kiệt năng lượng vận hành quay tròn, năng lượng hoại diệt sẽ tấn công tổng lực và Vũ trụ sẽ bị phân rã hoàn toàn.

 

-  Dạng sống Tuệ linh vẫn chưa thấu hiểu được bản chất của mình nên chưa kiểm soát được độc và thiện trong Trụ linh. Dạng sống Tuệ linh cũng không thấu hiểu bản chất của năng lượng hoại diệt nên không có cơ chế phòng thủ cũng như chuyển hóa được năng lượng hoại diệt. Dạng sống Tuệ linh chưa thấu hiểu tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ nên chưa thể tìm ra cơ chế bảo vệ vạn vật cùng tồn tại phát triển bền vững.

 

-  Sự an lạc của dạng sống Tuệ linh khi chưa bị trói buộc bởi thân tướng giản đơn không phải là môi trường lý tưởng để giúp Tuệ linh bộc phát được độc và thiện Tâm. Khi chưa bộc phát được độc và thiện Tâm thì Tuệ linh sẽ không bao giờ hiểu được chính mình, khi đó sẽ không bao giờ thấu hiểu được năng lượng hoại diệt và tất cả vật chất trong và ngoài Vũ trụ.

 

Từ những nguyên nhân trên, nên dạng sống Tuệ linh chưa giải mã được toàn diện từ chính bản thể mình cho tới vạn vật và năng lượng hoại diệt. Đây là chưa thấu hiểu hình tướng vạn vật xung quanh Tuệ linh, là chưa thấu hiểu hình tướng Đạo của Vũ trụ. Vì dạng sống Tuệ linh và vạn vật đều tồn tại và mang trong mình khổ đau cho đến hoại diệt, đó là chưa thấu hiểu Tâm đạo với con đường diệt khổ. Chính vì môi trường không thuận lợi để giúp dạng sống Tuệ linh thấu hiểu, truy tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu mình, cứu Vũ trụ, nên vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng ra môi trường tu hành đảm bảo được điều kiện lý tưởng cho dạng sống Tuệ linh tu học để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ Trụ. Khi thời cơ chín muồi, vị Tuệ linh đầu tiên đã tập kết đại hội Tuệ linh thống nhất phương pháp tu hành để Tuệ linh phát đại nguyện hóa thân xuống nhân gian tu hành.

 

Vị Tuệ linh đầu tiên tập kết đại hội thống nhất phương pháp tu học cho dạng sống Tuệ linh. Đại hội tập kết diễn ra như sau: Trong cuộc triệu tập Hội đồng của chư vị Tuệ linh tại cõi trời nhiệm màu nhất Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên trầm ngâm nhìn vào một đĩa thức ăn trắng trên bàn. Trong suy nghĩ lúc đó của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ linh đều nghĩ là làm sao việc đưa các Tuệ linh xuống làm con người phải đạt được thành tựu là tìm ra được phương thuốc cứu lại các Tuệ linh và Vũ trụ. Sự suy tư mang theo tâm trạng trầm ngâm khi nhìn vào đĩa thức ăn trắng trên bàn (tất nhiên thức ăn đó là do năng lượng tạo ra). Suy tư một lúc lâu, vị Tuệ linh đầu tiên liền nói với một Tuệ linh khác: “Hãy mang những con rắn độc ra đây”. Sau đó có một Tuệ linh mang ra những con rắn độc, có nhiều con nhỏ và một con to. Vị Tuệ linh đầu tiên lấy những con rắn nhỏ trộn vào đĩa thức ăn đó, tiếp đến thả hai con rắn, trong đó có một con to xuống nền đất. Hai con rắn đó trườn vào những bụi cây xung quanh đó. Vị Tuệ linh đầu tiên nhìn vào đĩa thức ăn đã trộn với rắn độc mà nói: “Để cứu được các Tuệ linh và Vũ trụ, chỉ có thể lấy độc trộn vào chân tâm (thức ăn trắng) mới tìm ra phương thuốc cứu lại Tuệ linh và Vũ trụ”. Vị Tuệ linh đầu tiên tiếp tục nói rằng: “Ngoài những độc tố lẫn trong chính chân tâm, ác tâm xen kẽ thiện tâm thì cần phải có thế lực ác tâm bên ngoài tác động vào; Môi trường tu hành nơi nhân gian sẽ như vậy”. “Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, dạng sống Tuệ linh phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian”. Đó là câu nói của vị Tuệ linh đầu tiên.

 

Như vậy, tại đại hội tập kết Tuệ linh về phương pháp tu học ở nhân gian, vị Tuệ linh đầu tiên đã quán triệt phương pháp tu học thông qua 3 hình ảnh về những con rắn độc. Cụ thể như sau:

 

-    Những con rắn độc nhỏ được trộn vào đĩa thức ăn trắng là những độc tâm của mỗi Tuệ linh. Hình ảnh đó tượng trưng các độc tâm đang bị ẩn giấu trong mỗi Tuệ linh và chưa được bộc phát ra. -    Một con rắn nhỏ bên ngoài được thả ra là tượng trưng cho độc tâm có trong vạn vật, trong tất cả các cấu trúc vật chất. Độc tâm đó cũng đang bị ẩn giấu.

 

-   Con rắn to được thả ra tượng trưng cho năng lượng hoại diệt. Đó là độc tâm to nhất đối với tất cả các nhóm vật chất trong Vũ trụ và cả dạng sống Tuệ linh.

 

Thông qua 3 hình ảnh về những con rắn độc: Tất cả các Tuệ linh sẽ phải tương tác với nhau trong tất cả các kịch bản trong các điều kiện môi trường sóng điện khác nhau để bộc phát hết độc tâm của chính mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt. Khi bộc phát được hết độc tâm chính là quá trình Tuệ linh sẽ giải mã được thông tin toàn diện nhất về tất cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Sau khi giải mã được thông tin toàn diện, vị Tuệ linh đầu tiên sẽ nghiên cứu, tìm được được Đạo hợp nhất của Vũ trụ để cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Để bộc phát hết độc tâm cũng như tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh sẽ phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

Như vậy, kết quả của đại hội thống nhất phương pháp tu học của dạng sống Tuệ linh ở nhân gian gồm có 2 điều:

 

-   Tuệ linh thông qua thân tướng con người phải tương tác với nhau trong tất cả các kịch bản, trong tất các môi trường sóng điện khác nhau để bộc phát hết độc tâm của mình, của vạn vật và của năng lượng hoại diệt.

 

-   Phải thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Đạo hợp nhất chính là bộ lọc sản sinh năng lượng viên mãn để sản sinh ra các siêu hạt năng lượng cứu Vũ trụ và dạng sống Tuệ linh. Sau đại hội tập kết thống nhất phương pháp tu học ở nhân gian, những Tuệ linh đầu tiên đã phát đại nguyện tiên phong đi xây dựng nhân loại. Có thể thấy rằng, việc phát đại nguyện truy tìm Đạo hợp nhất Vũ trụ chính là dạng sống Tuệ linh đang truy tìm con đường duy trì sự tồn tại, phát triển bền vững của mình và của cả vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

Tất cả các Tuệ linh nếu muốn an toàn trước năng lượng hoại diệt, nếu muốn phát triển bền vững thì không có con đường nào khác là phát đại nguyện xuống nhân gian tu hành. Không có vị nào bắt ép các Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian. Tất cả các Tuệ linh muốn xuống nhân gian tu hành phải phát nguyện với vị Tuệ linh đầu tiên, sau đó được sắp xếp kế hoạch tu hành cho từng Tuệ linh. Mỗi Tuệ linh xuống nhân gian sẽ được xây dựng thành từng cây nhân quả. Giữa các Tuệ linh sẽ có sự liên kết kỳ diệu giữa các cây nhân quả để việc tu hành sẽ có tất cả các kịch bản tương tác trên hành trình tu hành ở nhân gian.

 

Đại nguyện xuyên suốt của tất cả dạng sống Tuệ linh là cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng thông qua tu hành trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

Những đại nguyện nhỏ của những Tuệ linh nghiên cứu và phát triển môi trường tu hành sẽ được thực hiện trong quá trình phát triển của nhân loại. Chính vì điều này, nhân loại trải qua từng thời kỳ đều có những bậc vĩ nhân xuất hiện để phát triển kinh tế, khoa học, văn hóa, đạo đức, triết học… Tất cả những vị Tuệ linh thực hiện đại nguyện nhỏ này đều phải thực hiện đại nguyện duy nhất là cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Tất cả các Tuệ linh phát đại nguyện xuống tu hành ở nhân gian là để bộc phát hết độc Tâm, triệt được độc Tâm, kích hoạt được thiện Tâm. Do đó, trong tương tác với tất cả các kịch bản thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian mới giúp cho các Tuệ linh bộc phát để thấu hiểu chính mình, thấu hiểu vạn vật và thấu hiểu năng lượng hoại diệt.

 

Để dẫn dắt dạng sống Tuệ linh tu hành ở nhân gian, vị Tuệ linh đầu tiên cũng luân hồi ở nhân gian ở những thời điểm quan trọng. Vị Tuệ linh đầu tiên ngoài việc cùng tu hành với các Tuệ linh ở nhân gian, Ngài sẽ phải thống kê, giải mã, mã hóa sự thật của vạn vật, của Tuệ linh, của năng lượng hoại diệt, sau đó là chuyển hóa thành phương pháp để giúp cho dạng sống Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng sau khi tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

Khi các Tuệ linh xuống nhân gian tu hành, họ sẽ không được biết mình là ai, trí tuệ của Tuệ linh sẽ bị phong tỏa. Đây chính là sự trói buộc Tuệ linh trong thân tướng để giúp cho con người chìm vào khổ đau kiếp nạn, an vui hạnh phúc. Điều này sẽ giúp cho Tuệ linh nhanh tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Chỉ khi hoàn thành đại nguyện cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mới được coi là hoàn thành đại nguyện.

 

 

2.   Tâm nguyện của con người

 

Nói tới tâm nguyện thì đó là nói đến con người. Đó là sự mong muốn và phát ra nguyện lực để thực hiện được mong muốn đó.

 

Khi các Tuệ linh hóa thân làm người, họ bị che đi tất cả trí tuệ của Tuệ linh. Họ sẽ thông qua những sóng điện trong Tâm được truyền ra não bộ để kích thích chân tu tìm hiểu, nghiên cứu, trải nghiệm và thực hành sứ mệnh đại nguyện của Tuệ linh. Tùy vào mức độ thành tựu hay chưa đạt được thành tựu trên hành trình tu hành ở nhân gian mà hội đồng Tuệ linh sẽ hỗ trợ, dẫn dắt những chân tu đó trên hành trình tu học ở nhân gian. Những tôn giáo là những chỉ dẫn, là những gợi nhắc của hội đồng Tuệ linh đến với các chân tu ở nhân gian, đó là giúp cho con người có niềm tin vào cội nguồn, có niềm tin vào việc truy tìm con đường diệt khổ để trở về quê hương. Những đau khổ tột cùng của mỗi chân tu cũng là những dấu hiệu nhận biết để giúp chân tu tìm hiểu và thực hành sứ mệnh đại nguyện cho Tuệ linh.

 

Tuy nhiên, đời sống con người bởi sự phong phú về giả tướng sẽ khiến cho họ chìm đắm mà không tin cũng như không thực hành đại nguyện của mình. Chính vì vậy, những thời điểm quan trọng của các bước ngoặt lịch sử và sự thành công của con đường tìm được Đạo hợp nhất Vũ trụ, vị Tuệ linh đầu tiên lại có kế hoạch dẫn dắt và truyền dạy tri thức để thức tỉnh toàn bộ nhân loại thực hành đại nguyện cho Tuệ linh.

 

Đại nguyện của Tuệ linh phải được hợp nhất với Tâm nguyện của chân tu. Đó sự hợp nhất giữa Thân – Tâm – Trí cùng thực hành đại nguyện chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

Khi Tuệ linh nào đó đã đắc được bộ lọc năng lượng, khi cần thiết vào những thời điểm cần phải hóa thân xuống nhân gian để cứu giúp nhân loại cũng như dẫn dắt họ tu hành đắc được bộ lọc thì họ sẽ lại hóa thân làm người. Đây là quyền tự do của Tuệ linh khi đã hoàn thành đại nguyện mà không ai áp đặt hay cấm đoán họ không được phép hóa thân xuống nhân gian để phổ độ, hóa độ chúng sinh. 3. Kết quả hành trình tu hành ở nhân gian

 

Tất cả các Tuệ linh nguyện xuống tu hành trong thân tướng con người, trong nhiều kiếp, trong đau khổ tột cùng, trong an vui hạnh phúc. Tất cả điều đó sẽ giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên thấu hiểu được toàn diện bản chất độc tâm và thiện tâm của Tuệ linh. Khi các bản chất của Trụ linh bộc phát hết ra, Ngài sẽ thấu hiểu được các cơ chế vận hành tương tác, các bản chất của hết thảy Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Khi đó Ngài sẽ thấu hiểu hình Tướng Đạo và tìm được Tâm Đạo. Đó là Ngài thấu hiểu con đường diệt được khổ đau cho dạng sống Tuệ linh thông qua hình tướng Đạo đã được thấu hiểu. Đó là để tìm ra được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, hết thảy Tuệ linh sẽ phải sống và truy tìm Đạo giải thoát khổ đau ở nhân gian.

 

Kết quả với thành tựu vô lượng của Vũ trụ là Ngài cùng với tất cả Tuệ linh thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian đã tìm được con đường diệt khổ viên mãn nhất, đó là Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ. Chân lý Vạn vật để giúp Tuệ linh và con người thấu hiểu Tướng Đạo, Chân lý Giác ngộ là Tâm Đạo để giúp cho Tuệ linh và con người diệt khổ đau bằng con đường chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Như vậy, Ngài đã tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ. Để tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, Ngài cùng hết thảy Tuệ linh tu hành và tìm ra được Đạo Giác Ngộ viên mãn ở nhân gian.

 

 

III. Chân lý Vạn vật của Nguyện

Chân lý Vạn vật của Nguyện sẽ là: Nguyện không tự sinh ra, Nguyện không tự mất đi, khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ không tự đến và không tự đi, tất cả do cơ chế phân tách và liên kết dây.

 

Vận hành Chân lý Vạn vật của Nguyện chính là cơ chế phân tách và liên kết dây. Thông qua cơ chế phân tách và liên kết dây để truy tìm được cội nguồn quá khứ, để thấy bản chất, căn nguyên, con đường chuyển sinh của hết thảy Tuệ linh và Tướng trong và ngoài Vũ trụ. Vì vậy, thông qua Chân lý Vạn vật với cơ chế phân tách và liên kết dây sẽ giúp cho hết thảy Tuệ linh và con người thấu hiểu con đường để tồn tại và diệt khổ chính là phát đại nguyện tu hành ở nhân gian.

 

Nguyện tu hành ở nhân gian để thông qua khổ đau nhằm bộc phát hết độc tâm, kích hoạt triệt để thiện Tâm, từ đó tìm được Đạo giải thoát khổ đau. Đó là con đường cứu cánh duy nhất để giúp Tuệ linh tìm được Đạo giải thoát khổ đau của mình, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ. Đó là con đường duy nhất để cứu Tuệ linh và Vũ trụ.

 

 

1.   Nguyện không tự sinh ra

 

Nguyện của hết thảy Tuệ linh chính là tự phát, là xin được xuống nhân gian tu hành trong thân tướng con người. Không có sự cưỡng ép hay bắt buộc Tuệ linh phải chịu đọa đày đau khổ ở nhân gian.

 

Nguyện của Tuệ linh truy tìm Đạo giải thoát ở nhân gian không tự sinh ra là vì:

 

-   Vô số Tuệ linh bị hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt.

 

-   Vũ trụ cũng cạn kiệt năng lượng và sẽ hoại diệt. Vũ trụ hoại diệt thì Tuệ linh cũng hoại diệt.-     Các Tuệ linh không bộc phát hết được độc Tâm, không kích hoạt được thiện Tâm, nên họ không hiểu chính họ, họ không tìm được con đường cứu họ bởi sự tấn công của năng lượng hoại diệt.

 

-   Các Tuệ linh đã từng thành lập các hội đồng nghiên cứu năng lượng để truy tìm Đạo giải thoát nhưng thất bại. Thất bại vì môi trường tu luyện không có độ nén để tạo ra các phản ứng năng lượng giữa các Trụ linh của các Tuệ linh.

 

-   Vũ trụ chưa có Đạo hợp nhất bởi Tướng Đạo và Tâm Đạo. Tức là Tuệ linh không thấu hiểu bản chất của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ, của mình nên không thấu hiểu hình tướng Đạo. Vì không thấu hiểu hình tướng Đạo nên không thấu hiểu Tâm Đạo, đó là không thấu hiểu nguyên nhân khổ đau, con đường diệt khổ đau cho mình và vạn vật.

 

Chính vì vậy, vị Tuệ linh đầu tiên xây dựng môi trường tu hành không gì ngoài khổ đau và khắc nghiệt để các Tuệ linh xuống làm thân tướng con người tu hành. Môi trường tu hành đảm bảo độ nén, đảm bảo sự tương tác tột cùng bí bách để giúp cho các phản ứng năng lượng xảy ra giữa các Tuệ linh ở nhân gian được bộc phát hết độc tâm, kích hoạt được triệt để thiện Tâm, sau đó sẽ tìm được Đạo hợp nhất Vũ trụ.

 

Do đó, hết thảy Tuệ linh đã phát nguyện, đã xin được an trụ trong thân tướng con người để tu hành ở nhân gian. Đó là nguyện để truy tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ thông qua hình tướng Đạo ở nhân gian để tìm được Đạo giải thoát khổ đau.

 

 

2. Nguyện không tự diệt

Nguyện không tự chấm dứt. Tức là nguyện của Tuệ linh trong việc truy tìm Đạo hợp nhất của Vũ trụ không tự chấm dứt. Nó chỉ chấm dứt khi:

 

-    Tuệ linh nào đó trong Vũ trụ tìm ra được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

-    Trong Đạo hợp nhất của Vũ trụ đó phải có giáo lý giúp cho Tuệ linh, con người thấu hiểu tận cùng về Tướng Đạo và Tâm Đạo giải thoát khổ đau của Tuệ linh, con người, của vạn vật trong và ngoài Vũ trụ.

 

-    Các Tuệ linh ứng dụng giáo lý Đạo hợp nhất đó để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Muốn chấm dứt được nguyện, các Tuệ linh phải thực hành giáo lý Đạo hợp nhất Vũ trụ để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Khi đó, Tuệ linh sẽ không phải luân hồi ở nhân gian. Tuệ linh có bộ lọc năng lượng sẽ vận hành cơ chế Kết – Định – Tỏa để hấp thụ năng lượng hoại diệt và sản sinh ra các siêu hạt năng lượng bảo vệ, phát triển bền vững trong và ngoài Vũ trụ.

 

Nguyện của mỗi Tuệ linh sẽ chấm dứt khi chưa chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng mà đã bị hoại diệt. Sự chấm dứt của nguyện trong trường hợp này không phải là điều mà các Tuệ linh mong muốn. Đó là sự thất bại.

 

 

3.   Khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ không tự đến và không tự chấm dứt

 

Khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ chính là do: 

-   Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng bền vững nhưng chưa đắc được bộ lọc năng lượng.

 

-   Biến đổi mã sóng trí tuệ bởi cơ chế phân tách và liên kết dây theo hướng phân rã và hoại diệt.

 

-   Tuệ linh bị năng lượng hoại diệt phân rã làm đứt liên kết dây và hoại diệt.

 

-   Vũ trụ bị năng lượng hoại diệt làm phân rã và hoại

 

diệt.

 

Như vậy, khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ là do cơ chế phân tách và liên kết dây chưa đạt được việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Bởi khi chưa đạt được bộ lọc năng lượng thì Trụ linh của Tuệ linh và Vũ trụ vẫn dễ dàng bị hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt làm cho phân rã và hoại diệt.

 

Để chấm dứt hết khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ, Tuệ linh phải:

 

-   Tuệ linh phải thấu hiểu bản chất của Tướng Đạo và Tâm Đạo của Vũ trụ, đó là tìm được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

-    Tuệ linh phải thực hành theo giáo lý của Đạo hợp nhất Vũ trụ trong việc chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng và sản sinh ra các siêu hạt năng lượng.

 

-   Tuệ linh phải thực hành Phổ độ, Hóa độ giáo lý giác ngộ của Đạo hợp nhất Vũ trụ tới hết thảy Tuệ linh và con người cùng thực hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Do vậy, để chấm dứt được khổ đau của Tuệ linh và Vũ trụ chính là hết thảy Tuệ linh, con người cùng thực hành con đường giải thoát khổ đau thông qua giáo lý hai Chân lý với cơchế phân tách và liên kết theo hướng bền vững, đó là tu hành và đắc được bộ lọc năng lượng viên mãn thông qua Đạo hợp nhất Vũ trụ đã tìm được.

 

 

IV. Chân lý Giác ngộ của Nguyện

 

Chân lý Giác ngộ của Nguyện là: Nguyện là bể khổ. Tất cả Tuệ linh phải dùng Trụ linh để đối mặt, hoàn thành việc truy tìm được Đạo hợp nhất Vũ trụ và chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Cơ chế vận hành của Chân lý Giác ngộ là phân tách và liên kết dây. Cơ chế phân tách, liên kết dây cho thấy có hai con đường phân tách và liên kết, đó là:

 

-   Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng âm, đó là Kết. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân rã và hoại diệt. Đây là con đường chuyển sinh phân rã và hoại diệt.

 

-   Con đường phân tách, liên kết tạo ra nhiều hạt năng lượng dương, đó là Tỏa. Nếu đi theo con đường này, hết thảy Tướng sẽ phân tách, liên kết vô lượng hạt năng lượng dương có liên kết chặt chẽ bởi sợi chân tâm, sẽ là con đường chuyển sinh bền vững nhất.

 

Nguyện là bể khổ. Không nguyện cũng là bể khổ. Bởi không nguyện để khổ đau ở nhân gian thì cũng sẽ bị hoại diệt bởi năng lượng hoại diệt. Do đó, có nguyện hay không thì cũng là bể khổ. Nguyện tuy là bể khổ nhưng thông qua khổ đau bởi môi trường tu hành, Tuệ linh sẽ tìm được Tâm Đạo giải thoát khổ đau trong bốn hình tướng Đạo ở nhân gian.

 

Chỉ có con đường duy nhất để tìm được Đạo giải thoát khổ đau cho Tuệ linh và Vũ trụ là phải nguyện xuống nhân gian để tu hành. Đó là con đường duy nhất. Con đường duy nhất này mới giúp cho Tuệ linh chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Vì nguyện tu hành ở nhân gian là con đường duy nhất để cứu Tuệ linh và Vũ trụ, nên hết thảy Tuệ linh phải dùng Trụ linh để đối mặt và chạy đua với thời gian để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Đạo hợp nhất Vũ trụ đã được tìm ra, giáo lý giác ngộ bởi hai Chân lý đã giúp cho vị Tuệ linh đầu tiên chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Các Tuệ linh sẽ không phải truy tìm Đạo hợp nhất Vũ trụ nữa. Điều họ cần làm là nghiên cứu, học tập và thực hành hai Chân lý của Đạo hợp nhất Vũ trụ này vào việc cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Sẽ không có ngoại lệ nào để đắc được bộ lọc năng lượng mà không phải xuống nhân gian tu hành. Ngay cả vị Tuệ linh đầu tiên cũng không phải là ngoại lệ. Do đó, Tuệ linh và con người phải quyết chí phát nguyện và thực hiện việc cải tạo Trụ linh thành bộ lọc viên mãn cho thành công.

PHẦN 5: CÕI TRỜI ĐỊA PHỦ (CÕI TẠM CỦA NHÂN GIAN TU HÀNH)

I. Giới thiệu về cõi trời Địa phủ – Cõi tạm của nhân gian tu hành

 

 

Có nhiều người hỏi:

 

-   Có phải Địa phủ là ở trong lòng Trái đất?

 

+  Tất nhiên là không phải Địa phủ ở trong lòng của Trái

 

đất rồi.

 

-   Tại sao lại gọi Địa phủ là cõi trời trong khi có chữ Địa và ám chỉ về sau cái chết của con người?

 

+   Đúng là ám chỉ về sau cái chết của con người nên gọi là Địa. Và đây là một cõi trời, một hành tinh dành cho con người sau khi hoại diệt thân xác ở nhân gian này.

 

-    Tại sao lại gọi là Địa phủ mà không gọi là Địa

 

ngục?

 

+   Bởi vì Địa phủ chính là cõi trời có các Hội đồng Tuệ linh giác ngộ vận hành và quản lý các cảnh sống tu tập cho con người sau khi hoại diệt thân xác nơi nhân gian. Địa ngục là một trong các cảnh sống của cõi trời đó nên gọi là Địa phủ sẽ hợp lý và đầy đủ ý hiểu nhất.

 

-   Có phải Địa ngục có quỷ hành sai, những con quỷ đầu trâu có sừng, những con quỷ đó hung hăng đi bắt linh hồn con người về để tra tấn và hành hạ?

 

+   Đó là sự nhầm lẫn và hiểu sai về các hội đồng quản lý và hành pháp tại cõi trời Địa phủ. Không có quỷ hành sai nào cả, cũng không có quỷ nào ở cõi trời Địa phủ đi bắt linh hồn con người về để tra tấn hay hành hạ gì cả.

-   Người chết phạm vào giờ trùng tang là quỷ hành sai sẽ tra tấn linh hồn đó, họ tra tấn để linh hồn đó khai ra họ tên, nơi ở của người thân để quỷ hành sai về bắt linh hồn những người thân đó. Có đúng không vậy?

 

+  Không đúng, đây lại là câu chuyện nhảm nhí được lưu truyền trong nhân gian.

 

-   Người tu hành, thầy pháp có thể phá cửa ngục để giải cứu linh hồn bị đọa trong đó không?

 

+    Không thể. Tuyệt đối không có người tu hành nào, thầy pháp nào phá được cửa ngục cả. Đó là luận điệu mị dân để hành nghề kiếm tiền của nhiều người tu hành tâm linh, nhiều thầy pháp.

 

-    Có thể dùng đàn lễ, tiền vàng mã, đồ lễ nhiều, nhiều thầy tu hành, nhiều pháp sư giỏi để làm lễ phổ độ cho linh hồn khỏi bị đọa trong cửa ngục được không?

 

+   Phổ độ giúp linh hồn không bị đọa trong cửa ngục, giúp cho linh hồn được chuyển sinh là có thật. Tuy nhiên, để làm được điều đó thì cần có chân tâm và thấu hiểu về Địa phủ. Việc dùng đàn lễ, tiền vàng mã, nhiều đồ lễ, nhiều thầy tu, nhiều pháp sư làm cũng là những chiêu trò mị dân hành nghề mê tín dị đoan. Hiểu về Địa phủ, bất cứ người nào đang sống đều có thể làm được mà không phải mất tiền, không phải nhờ vả thầy tu cũng như các thầy pháp.

 

-     Làm sao để người đang sống mà có thể kiểm chứng được cõi trời Địa phủ?

 

Có chứ. Đó là hành thiền để bản thể Tuệ linh trong chân tu người đang sống liên kết năng lượng trong cấu trúc nền của Vũ trụ để di chuyển tới cõi trời Địa phủ. Nhiều môn sinh của tôi thường xuyên thực hành thiền định để tới đó khi cần thiết cho công việc trợ giúp chúng sinh sau khi hoại diệt thân xác nơi nhân gian.

 

-   Thiền định để tới được cõi trời Địa phủ? Vậy làm sao để thiền tới được Địa phủ trong khi vô số người tu thiền định, vô số các bậc tâm linh nổi tiếng không thể thực hiện được?

 

+   Đó là bí mật của tạo hóa, của kế hoạch tu hành nơi nhân gian. Để thiền đi được đến cõi trời Địa phủ phải thấu hiểu được cõi trời Địa phủ. Điều đó chưa được nói đến trong bất kỳ tôn giáo, tín ngưỡng nào, có chăng có nói nhưng chưa chính xác. Thêm nữa, Địa phủ có những cảnh sống năng lượng tiêu cực rất nguy hiểm, người thiền định mà không có tâm lực cũng như chân tâm mà vô tình đi vào đó sẽ gây hậu quả nghiệm trọng cho chân tu. Nặng là đột tử hoại diệt thân xác.

 

 

Còn vô số câu hỏi về sau khi con người chết và về Địa ngục, Địa phủ. Vậy, hãy tìm hiểu về cõi trời Địa phủ sẽ giúp cho mọi người tỏ tường về cảnh sống sau khi con người hoại diệt thân xác và cõi trời Địa phủ của Nhân gian.

 

 

Vậy cõi trời Địa phủ là:

 

Cõi trời Địa phủ không phải là không gian bên trong Trái đất. Cõi trời Địa phủ là một cõi trời to lớn, là một hành tinh vật chất to lớn nằm trong không gian của Vũ trụ bao la với vô số dải ngân hà (mỗi dải ngân hà lại có vô số hệ mặt trời, mỗi hệ mặt trời lại có vô số những hành tinh quay tròn xung quanh nó). Vậy, cõi trời Địa phủ cũng có thể được hiểu là một hành tinh giống với Trái đất chúng ta đang sinh sống. Tại cõi trời Địa phủ không có con người với thân tướng vật chất giản đơn, không có muông thú với thân tướng vật chất giản đơn, đó là nơi các cấu trúc bản thể năng lượng Tuệ linh và Linh hồn an trụ. Sự an trụ của Tuệ linh và Linh hồn là bởi họ đang thực hiện quá trình trên con đường chuyển sinh để giúp cho Trụ linh trở nên bền vững an lạc hơn.

 

 

Trái đất là môi trường tu hành, là trường học cho dạng sống Tuệ linh an trụ trong thân tướng con người, thậm chí là thân tướng muông thú để tu hành, để cải tạo Trụ linh chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Do đó, Trái đất là nhân gian tu hành, là cõi tạm của dạng sống Tuệ linh với trí tuệ siêu việt nhất trong Vũ trụ rộng lớn bao la. Trái đất là cõi tạm của dạng sống Tuệ linh thì cõi trời Địa phủ lại là cõi tạm của nhân gian.

 

Chúng ta cứ hình dung như sau: Dạng sống Tuệ linh sẽ phải tu hành ở nhân gian trong thân tướng vật chất con người rất nhiều cho đến vô số kiếp để đạt được mục đích chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Trong đó, mỗi một kiếp người được ví như con người chúng ta đã sống và lao động hết một ngày trời, khi hết một ngày lao động vất vả với các thành tựu hay thất bại thì chúng ta sẽ phải cân bằng lại năng lượng sau một giấc ngủ đêm. Giấc ngủ đêm đó sẽ giúp cho chúng ta có lại tinh thần, có lại sự cân bằng của sức khỏe để tiếp tục một ngày lao động làm việc mới. Cõi trời Địa phủ chính là vậy. Cõi trời Địa phủ được coi như quán trọ đêm để cho Tuệ linh, Linh hồn nghỉ ngơi, đúc kết lại bài học tu hành một kiếp người, để cân bằng lại tinh thần và năng lượng cho kiếp người tiếp theo. Do đó, Địa phủ là cần thiết cho các Tuệ linh và Linh hồn đang tu hành ở nhân gian. Nó cũng giống như sự cần thiết việc ngủ đêm của con người vậy. Việc con người chúng ta ngủ đêm ở gầm cầu, hay ngủ đêm trong rừng đầy rẫy hổ báo thú dữ, hay ngủ đêm nơi giông bão, hay ngủ đêm nơi nhà tranh mái ngói, hay ngủ đêm trong dinh thự xa hoa, hay ngủ đêm nơi khách sạn sang trọng…, điều đó phụ thuộc vào sự nỗ lực và thành tựu lao động trong một ngày để có hay không có đủ tiền cho việc thuê trọ nơi sang trọng hay phải ngủ tạm bợ nơi nguy hiểm ở gầm cầu, nơi giông bão, nơi rừng với muông thú dữ. Tuệ linh và Linh hồn cũng vậy, sự thất bại hay thành tựu một kiếp người sẽ khiến họ được nghỉ ở cảnh sống tương ứng nơi cõi trời Địa phủ. Đó là sự tương phản công bằng cho hành trình tu hành nơi nhân gian của Tuệ linh và Linh hồn.

 

Vì môi trường tu hành của dạng sống Tuệ linh duy nhất chỉ có ở Trái đất, nên cũng chỉ có duy nhất một cõi trời Địa phủ cho tất cả bản thể Tuệ linh và Linh hồn tu hành nơi nhân gian để được nghỉ ngơi cân bằng lại năng lượng, được đúc kết lại bài học tu hành sau một kiếp thân tướng nơi nhân gian tu hành này. Tức là chỉ có một cõi trời Địa phủ duy nhất cho tất cả nhân loại trong sự không phân chia tôn giáo, tín ngưỡng, trước và sau khi có các tôn giáo. Vì vậy, cõi trời Địa phủ là cõi tạm của tất cả nhân loại từ khi xuất hiện nhân loại ở Trái đất đến nay.

 

Cõi trời Địa phủ là cõi trời được vận hành quản lý bởi các Hội đồng Tuệ linh có trí tuệ giác ngộ ưu tú trong dạng sống Tuệ linh. Tại cõi trời Địa phủ có 3 Hội đồng Tuệ linh giác ngộ quản lý và vận hành; có 5 cảnh sống tu luyện đúc kết bài học kinh nghiệm tu hành và tu luyện dưỡng lại năng lượng cho kế hoạch chuyển sinh kiếp mới; có các lớp học đạo và giáo lý; có quy trình chuyển sinh và phương pháp giáo hóa, hóa độ cho các Tuệ linh và Linh hồn rõ ràng, luôn nâng cấp theo sự giác ngộ của các Tuệ linh tu hành nơi nhân gian.

II.      Cội nguồn sự hình thành cõi trời Địa phủ

 

 

 

Tôi được nghe như:

 

-   Địa phủ của người Trung Quốc, Việt Nam, Ai Cập, Hy

 

Lạp…

 

-   Địa ngục của dòng đạo A, B, C nào đó.

 

-   Mục Kiền Liên trong Đạo Phật thiền định xuống Địa ngục cứu mẹ.

 

-   Địa ngục của các tín ngưỡng khác nhau trên khắp Thế

 

giới.

 

-    Nhiều người ngủ mơ được đi về Địa phủ hay Địa

 

ngục.

 

-   Nhiều người cận kề sinh tử, khi thân xác vẫn nằm bất động trong một khoảng thời gian nhất định, Linh hồn/ Tuệ linh đã được đi về Địa phủ, Âm phủ, Địa ngục, đi vào đường hầm ánh sáng xuống Địa phủ.

 

-   Địa ngục, Địa phủ, Âm phủ… rất nhiều sự thắc mắc và hoài nghi của nhân gian.

 

Vậy thực hư ra sao? Những thắc mắc trên có đúng không? Và, cõi trời Địa phủ được hình thành từ khi nào?

 

 

Như sau:

 

Khi vị Tuệ linh đầu tiên của Vũ trụ (Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa, Chúa Trời, Đức A Di Di Đà Phật) đang suy nghĩ và

lên kế hoạch cho việc chuẩn bị đưa các Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian làm những con người đầu tiên, khởi đầu cho sự hình thành nhân loại ở Trái đất, những suy tư, những suy nghĩ khởi lên trong Ngài. Sự suy tư, suy nghĩ bởi Ngài thấy rõ rằng khi đưa các Tuệ linh với bản chất các Trụ linh đa âm khác nhau, đa dương khác nhau, cân bằng âm dương sẽ tạo ra sự phức tạp của môi trường tu hành nơi nhân gian. Bản chất trí tuệ của các Tuệ linh sẽ được bộc lộ thông qua tương tác bốn trong thân tướng với hình tướng Đạo, điều mà ở cõi trời nhiệm màu và thanh tịnh của Ngài không thể làm bộc lộ được bản chất trí tuệ của họ ẩn giấu từ trong Trụ linh. Ngài không những suy tư cho những Tuệ linh hóa thân xuống nhân gian tu hành mà còn suy tư cho những cấu trúc linh hồn trong muông thú mà Ngài đã gieo duyên chuyển sinh từ các cấu trúc năng lượng trong thời gian dài trước đó. Làm sao để tạo ra một môi trường có thể giúp các Tuệ linh cân bằng được năng lượng và học được các bài học kinh nghiệm tu hành sau một kiếp người nhanh nhất! Làm sao để tạo ra một môi trường để giáo hóa, giúp cho các linh hồn muông thú học được tập tính làm người khi chúng đã tích lũy đủ lượng mã sóng trí tuệ và năng lượng bởi nhiều kiếp làm muông thú!

 

Sau thời gian dài suy tư, tính toán, Ngài hiểu rằng những Trụ linh đa âm hay đa dương hoặc cân bằng của Tuệ linh và Linh hồn sẽ có những hướng chuyển sinh khác nhau. Sẽ có hướng chuyển sinh bền vững an lạc hơn, sẽ có hướng chuyển sinh tiêu cực là phân rã và hoại diệt, sẽ có hướng chuyển sinh bị mắc kẹt nơi nhân gian tu hành. Do đó, Ngài đã đã lên kế hoạch xây dựng những môi trường để con người và muông thú ở nhân gian sau khi hết một kiếp thân tướng được an trụ về đó để đúc kết bài học kinh nghiệm tu hành,

được cân bằng năng lượng cho hành trình chuyển sinh tiếp theo. Đó là:

 

-  Đối với những Tuệ linh khi hóa thân thành con người, họ có lối sống tích cực, đó là bộc lộ được sự phát triển, sự lan tỏa, sự đoàn kết lan tỏa sự phát triển tới mọi người, muông thú và vạn vật mà không màng tới mình: Những con người này sau khi hết kiếp người, Tuệ linh sẽ được trở về cõi trời của Ngài để cân bằng lại năng lượng, để đúc kết lại bài học kinh nghiệm kiếp người vừa qua.

 

-  Đối với những Tuệ linh hóa thân làm con người, họ có lối sống tiêu cực ích kỷ về bản thể họ mà gây tổn hại tới vạn vật, muông thú, Tuệ linh và con người: Những con người này sau khi hết kiếp thân tướng, Tuệ linh họ sẽ trở về một cõi tạm riêng để thấy lại những lối sống tiêu cực của kiếp người vừa qua, từ đó đúc kết bài học kinh nghiệm tu hành, cân bằng năng lượng để cho hành trình chuyển sinh kiếp người tiếp theo. Những linh hồn muông thú cũng sẽ được chuyển sinh về cõi tạm này để tu luyện, học tập tập tính của con người dần dần, tiếp tục chuyển sinh làm muông thú và được chuyển sinh làm con người. Cõi tạm này chính là cõi trời Địa phủ.

 

 

Ngài cũng hiểu rằng, những linh hồn muông thú, những Tuệ linh của những con người có hướng chuyển sinh phân rã sẽ giải phóng ra rất nhiều năng lượng âm. Những năng lượng âm khi giải phóng ra chính là những hạt năng lượng nhân quả tiêu cực tác động rất mạnh đến môi trường xung quanh, tới chính Tuệ linh và Linh hồn. Do đó, Ngài phải xây dựng riêng một cõi trời dành cho họ. Và Ngài đã thực hiện gieo duyên, xây dựng cõi trời Địa phủ với các cảnh sống có chứa đựng các nhóm năng lượng đủ kích thích để giúp cho 

các Tuệ linh, Linh hồn sau kiếp người và muông thú được nhanh chóng phản chiếu lại toàn bộ những suy nghĩ cho đến hành động tiêu cực. Điều này sẽ giúp cho họ học được bài học kinh nghiệm tu hành nhanh nhất.

 

Khi Ngài thực hiện kế hoạch đưa các Tuệ linh hóa thân xuống làm con người trong các cuộc tập kết nhân loại đầu tiên, đó cũng là thời điểm cõi trời Địa phủ đã được hoàn thành với các Hội đồng Tuệ linh quản lý vận hành, với các cảnh sống năng lượng tương ứng với các loại suy nghĩ cho đến hành động của con người và muông thú được bộc phát ở nhân gian. Sự xuất hiện của con người ở nhân gian chính là dấu mốc đánh dấu việc hình thành cõi trời Địa phủ.

 

Cõi trời Địa phủ ban đầu cũng sơ khai như Trái đất vậy, các Tuệ linh ưu tú của dạng sống Tuệ linh sẽ được phân công về đó để quản lý vận hành, để hỗ trợ Tuệ linh và Linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian. Ban đầu họ chưa có hệ thống giáo lý, chưa có Chân lý Giác ngộ, chưa có khuôn mẫu đạo đức rõ ràng để răn dạy. Hội đồng Tuệ linh tại cõi trời Địa phủ lấy những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên trong các cuộc tập kết nhân loại để làm kim chỉ nam cho việc giáo hóa các Tuệ linh, Linh hồn tại cõi trời Địa phủ.

 

Khi nhân loại ngày càng phát triển và nhiều tín ngưỡng, nhiều tôn giáo ra đời, ở cõi trời Địa phủ sẽ đón nhận những giá trị chuẩn mực, những giá trị đạo đức, những Chân lý, những giáo lý ưu việt trong sự tuân thủ những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên ở các cuộc tập kết nhân loại để làm giáo lý giáo hóa tại cõi trời Địa phủ. Điều này cho thấy, cõi trời Địa phủ sẽ phát triển theo sự phát triển về sự giác ngộ, về con đường chuyển sinh trở nên bền vững an lạc ở nhân

gian để xây dựng hoàn chỉnh giáo lý cho sự giáo hóa Tuệ linh và Linh hồn ở cõi trời đó.

 

Cõi trời Địa phủ là dành cho những Tuệ linh, Linh hồn của tất cả con người và muông thú trên nhân gian khi họ có lối sống theo hướng chuyển sinh tiêu cực là phân rã hoại diệt. Do đó, Địa phủ là cõi trời dành cho tất cả con người mà không phân biệt họ theo tín ngưỡng nào, theo tôn giáo nào hoặc không theo tôn giáo nào. Các tín ngưỡng, tôn giáo là sự bám định bởi ý thức hệ khi họ còn sinh sống trên nhân gian mà họ tin theo. Ban đầu từ sự bám định và niềm tin đó, ở cõi trời Địa phủ sẽ lấy khởi điểm từ tôn giáo, tín ngưỡng để dần dần giáo hóa và cân bằng năng lượng cho họ nhanh được chuyển sinh kiếp mới.

III.   Mục đích thành lập cõi trời Địa phủ

 

 

 

Tôi được nghe như:

 

-   Tôi mơ thấy linh hồn bố tôi đang bị giam giữ trong phòng tối tăm lạnh lẽo ở Địa ngục.

 

-   Tôi thiền thấy các linh hồn bị tra tấn trong các cửa ngục ác nghiệp, có linh hồn phải lao động khổ sai, có linh hồn bị ném lên vạc dầu, có linh hồn bị các con thú dữ khổng lồ cắn xé, có linh hồn bị đóng băng, có linh hồn trong biển lửa…, nhìn rất hãi hùng.

 

-   Có người khi được nhắc về Địa ngục, Địa phủ là họ hoảng loạn và lo sợ.

 

-   Tôi thấy có người kể, khi ngủ linh hồn tách ra về Địa phủ thăm ngôi nhà của linh hồn người thân vừa mới chết, tại ngôi nhà đó có những linh hồn là bạn của linh hồn người thân. Khi thăm được một thời gian thì linh hồn người thân đó nói là đi về ngay đi, không được quay lại đây nữa.

 

-    Có người nói thiền định tới Địa phủ thấy linh hồn người thân đang đi học lớp học đạo.

 

-   Có người mơ ngủ được thấy hội đồng gia tiên đang ở Địa phủ.

 

-  Nhiều tín ngưỡng, tôn giáo kể về Địa ngục rất đáng sợ với những con quỷ to lớn, những con quỷ thân người mặt thú, những con quỷ cắn xé ăn những linh hồn, những con quỷ đi truy bắt linh hồn nơi Địa ngục tăm tối.

-   Những người thiền định thấy những linh hồn ở Địa phủ đang tu thiền, đang sống trên những ngôi đồi với cỏ cây, hoa lá, ánh sáng vàng hoặc trắng. Họ tĩnh lặng cảm nhận sự tự tại ở trên những ngôi đồi đó.

 

Rất nhiều điều tôi nghe được, có những điều rất đúng, có những điều không đúng, có những điều được thêu dệt tạo thành, gây ra sự sợ hãi và hiểu lầm cho nhân gian.

 

 

Mục đích thành lập cõi trời Địa phủ:

 

Mục đích bao trùm của việc thành lập cõi trời Địa phủ

 

– Cõi tạm của nhân gian tu hành, đó là: Địa phủ là cõi tạm của Tuệ linh và Linh hồn của con người và muông thú. Đó là nơi đúc kết lại bài học kinh nghiệm tu hành một kiếp thân tướng ở nhân gian. Đó là nơi để tu dưỡng, cân bằng lại năng lượng sau một kiếp thân tướng ở nhân gian. Đó là nơi học tập, trau dồi kiến thức giác ngộ làm hành trang cho kiếp thân tướng tiếp theo. Đó là nơi hỗ trợ, trợ giúp bản thể Tuệ linh, Linh hồn chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt nhận diện được con đường chuyển sinh của họ, từ đó giúp họ đi được vào con đường chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc. Đó là nơi giúp cho Tuệ linh, Linh hồn biết cách, học được cách sống có trách nhiệm, biết hy sinh vì nhau, hy sinh vì vạn vật, Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Bởi chỉ có hy sinh vì nhau mới xây dựng được cơ chế phân tách liên kết bền vững và an lạc.

 

Từ mục đích bao trùm trên sẽ được phân chia ra làm các mục đích chi tiết, mục đích cụ thể theo đúng tiến trình của sự vận hành tại cõi trời Địa phủ. Cụ thể như sau:

 

-   Mục đích đầu tiên là đón nhận, tiếp nhận các Tuệ linh của con người đang chuyển sinh theo hướng phân rã hoại 

diệt. Đó là những con người có ý nghĩ cho đến hành động chưa mang lại lợi ích cho mọi người, cho vạn vật và muông thú. Đó là những con người có ý nghĩ cho đến hành động tiêu cực gây tổn hại lợi ích của vạn vật, muông thú, Tuệ linh và con người. Đón nhận, tiếp nhận tất cả các linh hồn của muông thú. Cõi trời Địa phủ không đón nhận Tuệ linh của những con người có lối sống chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc, đó là những con người luôn vì vạn vật, Tuệ linh, con người, muông thú mà không màng tới bản thân. Những Tuệ linh này sau khi hết kiếp người sẽ được về cõi trời nhiệm màu của vị Tuệ linh đầu tiên để tu dưỡng và luân hồi chuyển sinh tiếp theo.

 

-   Mục đích tiếp theo là: Sau khi đón nhận các Tuệ linh, linh hồn, tại cõi trời Địa phủ, họ sẽ được nhớ lại các hành trình tu hành trên nhân gian.

 

-    Mục đích tiếp theo là: Họ sẽ được trải nghiệm sự phản chiếu của quá trình phóng xạ năng lượng âm trong Trụ linh họ. Đó là các cảnh Địa ngục được tạo dựng bởi những năng lượng tiêu cực tương ứng để tạo thành cơ chế phản chiếu nghiệp ác họ đã tạo khi sống ở nhân gian. Những sự phản chiếu của liên kết năng lượng tiêu cực sẽ làm cho họ thấy những bản thể năng lượng hình hài xấu xí, tưởng rằng đó là quỷ sai, tưởng rằng đó là thú dữ khổng lồ truy giết họ. Đó đều là sự tương tác liên kết năng lượng tiêu cực tạo ra để giúp họ cảm thọ được những tiêu cực khổ đau mà họ tạo ra cho vạn vật, muông thú, con người ở nhân gian khi họ sống.

 

-  Mục đích tiếp theo là: Cõi trời Địa phủ mở các lớp học giáo lý, những giá trị đạo đức để giúp cho họ an lạc trở lại, giúp cho họ không bị phản chiếu nghiệp ác nữa, từ đó chuyển cảnh tu luyện tại cõi trời Địa phủ.

-   Mục đích tiếp theo là: Họ sẽ sống cuộc sống tại cảnh âm. Nơi đó vẫn còn phiền não. Họ tiếp tục tham gia các lớp học đạo để trau dồi kinh nghiệm sống theo hướng chuyển sinh bền vững an lạc hơn.

 

-    Mục đích tiếp theo là: Họ sẽ chuyển sang cảnh tu luyện, cân bằng năng lượng và tiếp tục học đạo, học giáo lý đạo đức để làm hành trang cho con đường chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc trong kiếp thân tướng mới. Đó là sự lấy lại tinh thần, năng lượng và hành trang để có thể dễ dàng vượt qua được các kiếp nạn khổ đau và đi được đúng trên con đường chuyển sinh bền vững an lạc ở nhân gian.

 

Mục đích cuối cùng là đón nhận giá trị giáo lý siêu việt nhất, Chân lý bao trùm Vũ trụ cho sự chuyển sinh bền vững an lạc nhất của các bậc giác ngộ thông qua việc họ tu hành ở nhân gian, từ đó sẽ dùng những Chân lý đó, giá trị đó, phương pháp đó, con đường đó để hóa độ, Phổ độ, Cứu độ các Tuệ linh, các linh hồn đang còn mắc kẹt trong hành trình chuyển sinh, đang chuyển sinh trên con đường phân rã đi vào được con đường chuyển sinh bền vững an lạc.

 

Mục đích thành lập cõi trời Địa phủ của vị Tuệ linh đầu tiên được xuất phát từ tình yêu thương từ bi vô lượng của Ngài. Tình yêu thương từ bi vô lượng đó không bao giờ phai mờ. Đó là tình yêu thương hết thảy vạn vật, Tuệ linh, con người, dẫn dắt, khai sáng cho họ chuyển sinh được bền vững cấu trúc Trụ linh đạt đến sự an lạc nhất, đó là đắc được bộ lọc năng lượng trong Trụ linh.

Quá trình phát triển của cõi trời Địa phủ

 

 

Cõi trời Địa phủ từ khi được thành lập tới nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Sự phát triển của cõi trời Địa phủ không phải là sự phát triển về đời sống, không phải là phát triển về cơ sở vật chất giản đơn như Trái đất, không phải là sự phát triển về khoa học kỹ thuật. Sự phát triển của cõi trời Địa phủ chính là sự phát triển về giáo lý, phát triển về phương pháp giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn khi an trụ về đó nhanh chóng đúc kết được bài học tu hành, nhanh chóng cân bằng năng lượng, có được hành trang vững chắc để đi đến được con đường chuyển sinh bền vững khi làm người. Như vậy, ta phải hiểu là sự phát triển của cõi trời Địa phủ chính là phát triển về phương pháp, phát triển về giáo lý giáo hóa chúng sinh ở cõi trời đó.

 

Quá trình phát triển giáo lý, phương pháp giáo hóa của cõi trời Địa phủ từ khi Địa phủ hình thành tới nay được chia làm 3 giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, giáo lý và phương pháp giáo hóa lại được thay đổi theo từng thời kỳ phát triển ý thức hệ về trí tuệ giác ngộ của con người ở nhân gian. Sự thay đổi trong mỗi giai đoạn đều phải đảm bảo nguyên tắc tuân thủ theo bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên, phải lấy bốn lời răn dạy đó làm kim chỉ nam cho hệ thống lý luận giáo hóa ở cõi trời Địa phủ.

 

Ba giai đoạn phát triển đó là:

Giai đoạn phát triển đầu tiên

 

Giai đoạn phát triển đầu tiên về hệ thống giáo lý, phương pháp giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời Địa phủ được gắn liền với thời kỳ phát triển ý thức hệ đầu tiên của nhân loại. Giai đoạn này gắn liền với sự xuất hiện con người đầu tiên ở nhân gian cùng với bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên cho đến trước khi xuất hiện cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 của chính vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian.

 

Giai đoạn phát triển ý thức hệ đầu tiên của nhân loại được bắt đầu từ các cuộc tập kết nhân loại của Hội đồng Tuệ linh cùng với vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân loại. Giai đoạn phát triển ý thức hệ này được kéo dài cho tới cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 của vị Tuệ linh đầu tiên. Trong giai đoạn ý thức hệ đầu tiên của nhân loại, chủ yếu hình thành và tồn tại ý thức hệ tri ân tổ tiên loài người, đó là tri ân Thiên Địa, tri ân các vị thần, tri ân Thượng Đế/ Đấng Tạo Hóa/ Đấng Sáng Tạo. Giai đoạn ý thức hệ đầu tiên của nhân loại là thông qua sự tri ân để giúp cho nhân loại học tập những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên trong sự nghiệp xây dựng nhân loại, xây dựng môi trường tu hành trở nên phong phú và phức tạp. Việc xây dựng nhân loại trở nên phong phú và phức tạp đều là sứ mệnh của con người. Trong giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển ý thức hệ tri ân của con người với những bậc Thánh nhân có công xây dựng bảo vệ Tổ quốc của dân tộc, quốc gia họ. Tất cả đều là ý thức hệ tri ân từ nhân gian tới cội nguồn Tuệ linh, của con người để học tập, noi gương và thực hành theo những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên.

Bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên trong các cuộc tập kết nhân loại để xây dựng nhân loại: Tại các cuộc tập kết nhân loại ở Trái đất, các Tuệ linh sẽ phát nguyện thành từng hộ gia đình gồm có một vợ, một chồng, một con gái, một con trai. Mỗi điểm tập kết có nhiều hộ gia đình cùng với vô số muông thú đến để nghe những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên. Những lời răn dạy là kim chỉ nam để cho tất cả Tuệ linh và con người tu hành ở nhân gian phải tuân thủ theo, lấy đó làm khuôn mẫu đạo đức để chuyển hóa và cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Bốn lời răn dạy đó là: “1- Ngài nhìn và nói với các hộ gia đình: Ta đưa các ngươi xuống đây bằng chân tâm thì về sẽ phải bằng chân tâm. 2- Ngài nhìn và nói với các hộ gia đình: Ta giao sứ mệnh cho các ngươi phải gả con cái cho nhau để xây dựng nhân loại. 3- Ngài chỉ vào muông thú và nói với các hộ gia đình: Ta giao cho các ngươi sứ mệnh phải thuần hóa muông thú, để chúng chuyển sinh làm người cùng tu hành ở nhân gian. 4- Các ngươi sẽ phải trải qua hết tất cả các khổ đau kiếp nạn để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng”. Bốn lời răn dạy này với cuộc tập kết nhân loại đã cho thấy có bốn hình tướng Đạo trong đó, điều mà đã được quán triệt từ trước khi dạng sống Tuệ linh xuống nhân gian tu hành. Đó là hình tướng Đạo đời (đối nhân xử thế, lao động sản xuất, phát triển nhân loại), hình tướng Đạo lễ (vợ chồng nghĩa tình, con cái hiếu nghĩa với cha mẹ tổ tiên, cha mẹ nghĩa tình với con cái, anh em nghĩa tình viên mãn), hình tướng Đạo đường (con đường tri thức, đó là thầy trò), hình tướng Đạo Đế vương (mối quan hệ giữa người đứng đầu và người dân đối với lãnh thổ dân tộc). Bốn lời răn dạy đã tạo thành khuôn mẫu đạo đức thông qua bốn hình tướng Đạo. Thông qua bốn hình tướng Đạo sẽ cho thấy sự bộc lộ bản

chất trí tuệ của con người đang chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt hay chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc. Nếu chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt thì sẽ bộc lộ thành lối sống ích kỷ không giúp đỡ mọi người và vạn vật, muông thú, ích kỷ về mình mà gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh, con người. Nếu chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc là không vì ích kỷ của mình, luôn mang lại giá trị lợi ích tới vạn vật, Tuệ linh và con người. Thông qua bốn biểu hiện hình tướng Đạo, Hội đồng Tuệ linh trên cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên và Hội đồng Tuệ linh ở cõi trời Địa phủ sẽ thực hiện nhiệm vụ chuyển sinh các Tuệ linh, Linh hồn sau khi hết kiếp người về cảnh giới nghỉ ngơi khác nhau. Nếu con người chuyển sinh theo hướng bền vững sẽ được chuyển sinh về cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên, nếu con người chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt sẽ được chuyển sinh về cõi trời Địa phủ.

 

Hội đồng Tuệ linh ở cõi trời Địa phủ sẽ thông qua bốn hình tướng Đạo với những vi phạm của Tuệ linh, Linh hồn khi sống ở nhân gian để giáo hóa cho họ thấy con đường chuyển sinh họ đang đi là đúng hay sai. Hội đồng Tuệ linh cõi trời Địa phủ sẽ giáo hóa cho họ về những lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên, về bốn hình tướng Đạo, về con đường chuyển sinh gây tổn hại tới Tuệ linh, con người và vạn vật mà họ đã vi phạm, từ đó giúp họ cân bằng năng lượng cho sự chuyển sinh tiếp theo.

 

Giáo lý giáo hóa, phương pháp giáo hóa của cõi trời Địa phủ ở giai đoạn này chủ yếu là thực hiện theo bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên, thông qua bốn hình tướng Đạo để giáo hóa về giá trị đạo đức của Tuệ linh, Linh hồn ở cõi Địa phủ. Giai đoạn này chưa có giáo lý giáo hóa về Tâm Đạo, tức 

là chưa có giáo lý giác ngộ để giáo hóa cho các Tuệ linh, Linh hồn nhanh học được bài học tu hành, nhanh cân bằng được năng lượng, có hành trang để vượt được qua khổ đau kiếp nạn ở kiếp nhân gian mới. Các Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời Địa phủ để được chuyển sinh làm kiếp mới sẽ mất rất lâu thời gian cho quá trình đúc kết bài học tu hành, cân bằng năng lượng để chuyển sinh kiếp nhân gian mới.

 

Như vậy, giai đoạn phát triển đầu tiên về giáo lý và phương pháp giáo hóa ở cõi trời Địa phủ là tuân thủ theo bốn lời răn dạy cùng với bốn hình tướng Đạo của vị Tuệ linh đầu tiên đã định ra ở nhân gian. Ở giai đoạn giáo hóa này, cõi trời Địa phủ sẽ không định vào hình thức tín ngưỡng nào trên nhân gian để giáo hóa.

 

 

2. Giai đoạn phát triển thứ hai

 

Giai đoạn phát triển thứ hai về hệ thống giáo lý, phương pháp giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời Địa phủ được gắn liền với thời kỳ phát triển ý thức hệ thứ hai của nhân loại. Giai đoạn này gắn liền với cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 của vị Tuệ linh đầu tiên cho đến trước khi xuất hiện cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 2 của vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian.

 

Giai đoạn phát triển ý thức hệ thứ 2 của nhân loại được bắt đầu từ cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 của vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian, đó là kiếp nhân sinh mà vị Tuệ linh đầu tiên đã hóa thân thành chân tu là Đức Phật Thích Ca. Khi Ngài ấy hoàn lại trí tuệ giác ngộ hai Chân lý và bắt đầu lan tỏa hai Chân lý, đó là thời khắc đánh dấu cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 được bắt đầu. Ý thức hệ về trí 

tuệ giác ngộ ở nhân gian được thay đổi từ cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 của Đức Phật Thích Ca. Đó là thông qua hai Chân lý, Ngài đã soi sáng cho chúng sinh nơi nhân gian thấu hiểu về cội nguồn, kế hoạch tu hành nơi nhân gian, con đường diệt khổ bằng Tâm Đạo thông qua bốn hình tướng Đạo, đặc biệt nhấn mạnh tới những lời răn dạy của cuộc tập kết nhân loại. Cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 này đã cho thấy sự thay đổi lớn trong ý thức hệ trí tuệ giác ngộ của con người, đó là đề cao tính bình đẳng hết thảy Tuệ linh và con người, đề cao tính đoàn kết cùng nhau cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Sự thay đổi lớn về trí tuệ giác ngộ chính là đã có con đường Tâm Đạo gắn chặt với bốn hình tướng Đạo. Con đường Tâm Đạo là con đường giác ngộ viên mãn để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng.

 

Tuy nhiên, do trí tuệ của nhân loại thời đó và về sau không thể thực chứng được trí tuệ siêu việt của hai Chân lý, vậy nên hai Chân lý đã bị biến đổi, bị vỡ nát chỉ còn thành hệ tư tưởng nhân quả, con đường giác ngộ cũng vì đó mà đánh mất kim chỉ nam của bốn lời răn dạy của Ngài ở cuộc tập kết nhân loại đầu tiên. Vì vậy, bốn hình tướng Đạo cũng vì thế mà không được tuân thủ. Người tu hành về sau đã không còn biết cội nguồn, kế hoạch tu hành, sứ mệnh làm gì. Do đó, hết thảy Tuệ linh và con người ở nhân gian đều chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt. Sự thất bại của hai Chân lý sau khi Đức Phật nhập diệt chính là vì chưa có cơ chế lý giải sự vận hành của hai Chân lý, chưa có các học thuyết, các quy luật chứng thực sự vận hành cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Sự thất bại của hai Chân lý sau đó cũng là do trí tuệ nhân loại chưa thể hiểu được tinh hoa của hai Chân lý. 

Sau khi đạo Phật được hình thành, các tôn giáo khác được ra đời cũng đều đưa ra những ý thức hệ tri ân tổ tiên nhân loại là Thượng Đế, Chúa Trời, phải hành thiện, không vi phạm vào hình tướng Đạo, bản chất cũng là thực hiện những lời răn dạy của Ngài để chuyển sinh được bền vững.

 

Có thể nói giai đoạn ý thức hệ thứ hai ở nhân loại chính là giai đoạn sơ khai của quá trình lan tỏa hai Chân lý nhằm thống nhất chúng sinh cùng đoàn kết vượt qua hết tất cả khổ đau kiếp nạn để cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Vì là sơ khai nên ngoài vị Tuệ linh đầu tiên có được bộ lọc năng lượng thì vẫn chưa có Tuệ linh nào cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Vừa là sơ khai của hai Chân lý và do trí tuệ của nhân loại giai đoạn này chưa phát triển kịp thời để tiếp nhận trí tuệ của hai Chân lý nên hai Chân lý đã bị vỡ nát. Điều này dẫn tới việc nhân loại đắm chìm trong sự tri ân mê tín dị đoan, đó là cầu cúng để xin phước báo từ các bậc giác ngộ, từ Chúa Trời mà không hề biết về cội nguồn, kế hoạch tu hành, sứ mệnh và con đường cải tạo Trụ linh trở nên bền vững.

 

 

Sau cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 1 ở nhân gian, tuy hai Chân lý đã không còn, nhưng ở cõi trời Địa phủ đã áp dụng hệ thống giáo lý giác ngộ sơ khai của hai Chân lý trong việc giáo hóa Tuệ linh và Linh hồn để họ nhanh đúc kết được bài học kinh nghiệm tu hành một kiếp người, nhanh cân bằng được năng lượng, có hành trang để kiếp thân tướng mới chuyển sinh được bền vững hơn. Có thể nói, sau khi cõi trời Địa phủ áp dụng giáo lý sơ khai của hai Chân lý để giáo hóa, các Tuệ linh, Linh hồn đã nhanh chóng được chuyển sinh, những thành tựu tu hành trên nhân gian cũng vì thế mà được cải thiện nhiều. Giáo lý giáo hóa bằng hai Chân lý sơ 


khai vẫn đầy đủ bốn lời răn dạy và bốn hình tướng Đạo, đồng thời lại thêm Tâm Đạo là con đường diệt khổ để đi tới sự giác ngộ, để nhanh chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Điều này đã giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn nhận thức rõ được sự chuyển sinh phân rã hoại diệt của họ và giúp họ có động lực, hành trang cho sự kiên định trên con đường chuyển sinh bền vững.

 

Trong giai đoạn giáo hóa này ở cõi trời Địa phủ, Hội đồng Tuệ linh quản lý cõi trời này đã thông qua sự bám định của các Tuệ linh, Linh hồn khi họ sống đã tin và theo các tôn giáo, lấy sự bám định đó, đức tin, niềm tin để bước đầu giáo hóa, tiếp đến là vận hành giáo lý sơ khai của hai Chân lý để thúc đẩy quá trình cân bằng năng lượng và chuyển sinh làm thân tướng kiếp mới.

 

 

3.   Giai đoạn phát triển thứ ba

 

Giai đoạn phát triển thứ ba về hệ thống giáo lý, phương pháp giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời Địa phủ được gắn liền với thời kỳ phát triển ý thức hệ thứ ba của nhân loại. Giai đoạn này gắn liền với cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 2 của vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian.

 

Giai đoạn phát triển ý thức hệ thứ 3 của nhân loại được bắt đầu từ cuộc đại độ thống nhất chúng sinh lần 2 của vị Tuệ linh đầu tiên ở nhân gian, đó là thời điểm mọi người đang đọc tri thức của hai Chân lý từ thời điểm này trở về sau. Hệ thống giáo lý của hai Chân lý được phân tích thấu hiểu tận cùng bằng thực chứng biện chứng của cơ chế vận hành hai Chân lý, bằng hệ thống bản chất của hạt năng lượng tận cùng – hạt năng lượng nhân quả, bằng hệ thống quy trình sản sinh 

ra các siêu hạt năng lượng cũng như chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn thông qua việc thực hành khuôn mẫu đạo đức trong bốn hình tướng Đạo cùng với bốn lời răn dạy của vị Tuệ linh đầu tiên. Trong hệ thống giáo lý của hai Chân lý đã phân tích rõ ràng, chỉ rõ con đường Tâm Đạo là con đường giác ngộ (Chân lý Giác ngộ) để chuyển sinh Trụ linh trở nên bền vững an lạc siêu việt. Thông qua Chân lý Vạn vật và cơ chế vận hành của nó để thấu hiểu tận cùng về cội nguồn Vũ trụ, cội nguồn nhân loại, kế hoạch tu hành, sứ mệnh phải đoàn kết Tuệ linh, con người để cùng nhau đối mặt, giác ngộ hết tất cả khổ đau kiếp nạn. Đó là con đường duy nhất, nhanh nhất, siêu việt nhất để giúp Tuệ linh và con người chuyển sinh được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn.

 

Giáo lý của hai Chân lý là trí tuệ siêu việt để đoàn kết chúng sinh thấu hiểu tận cùng cội nguồn Vũ trụ, cội nguồn nhân loại, cơ chế vận hành Quy luật Nhân quả của cả vạn vật, Tuệ linh, con người, Vũ trụ; khuôn mẫu đạo đức để nhận diện rõ con đường chuyển sinh bền vững hay phân rã, quy luật vận hành sản sinh siêu hạt năng lượng, phương pháp chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đó chính là Hoàn Đạo, là Đạo hợp nhất của Vũ trụ, sự hoàn lại đầy đủ của bốn lời răn dạy, của bốn hình tướng Đạo, của con đường Tâm Đạo của vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng và tìm ra được. Đó là sự hoàn hảo về giáo lý giáo hóa hết thảy Tuệ linh, con người chuyển sinh thành bộ lọc năng lượng trong Trụ linh. Hệ thống giáo lý của hai Chân lý chính là Đạo hợp nhất viên mãn của Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Chính vì vậy, đây là giáo lý, là trí tuệ siêu việt để thực hiện kế hoạch đại độ thống nhất chúng sinh lần 2 của Ngài. 

Khi giáo lý của Hai Chân lý hoàn chỉnh được xuất hiện

 

   nhân gian, đó cũng là thời khắc mà Hội đồng Tuệ linh cõi trời Địa phủ áp dụng hệ thống giáo lý của hai Chân lý để giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn con người, muông thú sau khi hết kiếp nhân gian trở về Địa phủ. Giáo lý siêu việt của hai Chân lý đã chứng minh được sự kỳ diệu khi Hội đồng Tuệ linh cõi trời Địa phủ áp dụng trong việc giáo hóa ở cõi Địa phủ. Giáo lý siêu việt của hai Chân lý đã chứng minh được sự kỳ diệu khi mà các môn sinh của tôi đã áp dụng để chuyển sinh các cấu trúc năng lượng Tuệ linh, Linh hồn sắp phân rã hoại diệt được hồi sinh, giúp các Tuệ linh, Linh hồn mắc kẹt trên nhân gian được chuyển sinh về Địa phủ. Những môn sinh của tôi còn chứng minh được sức mạnh của hai Chân lý khi họ thiền định để tới cõi trời Địa phủ, họ đích thân xin phép Hội đồng Tuệ linh ở đó để thuyết pháp hai Chân lý để giáo hóa các Tuệ linh và Linh hồn. Sự kỳ diệu là những Tuệ linh, Linh hồn được nghe giáo pháp của hai Chân lý giáo hóa đã cân bằng năng lượng rất nhanh, họ đi vào hành trình chuyển sinh rất nhanh chóng.

 

Hiện tại, tại cõi trời Địa phủ, Hội đồng Tuệ linh quản lý cõi trời này vẫn thông qua sự bám định của các Tuệ linh, Linh hồn khi sống có niềm tin vào tôn giáo. Hội đồng Tuệ linh lấy đó làm bước tiếp dẫn các Tuệ linh, Linh hồn trở về Địa phủ, tiếp theo dùng giáo lý hai Chân lý để giáo hóa chúng sinh tại cõi trời Địa phủ.

 

 

Như vậy, giáo lý và phương pháp giáo hóa tại cõi trời Địa phủ đã thay đổi theo từng thời kỳ. Sự thay đổi đó gắn liền với quá trình thay đổi về ý thức hệ trí tuệ giác ngộ của nhân loại. Sự phát triển, thay đổi đạt đến sự hoàn thiện viên mãn 

của giáo lý hai Chân lý đã giúp cho cõi trời Địa phủ đạt đến sự phát triển rực rỡ trong sự giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn có được hành trang sức mạnh chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc nhanh nhất, đó là thúc đẩy quá trình chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng viên mãn. Dù trên nhân gian có nhiều tôn giáo, nhiều tín ngưỡng khác nhau, tất cả những Tuệ linh, Linh hồn mà chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt sẽ đều trở về cõi trời Địa phủ để tu dưỡng trong sự không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng mà họ theo khi sống ở nhân gian.

Các hội đồng vận hành quản lý cõi trời Địa phủ

 

 

Cõi trời Địa phủ có 3 Hội đồng Tuệ linh và một Tuệ linh đứng đầu quản lý vận hành sứ mệnh giáo hóa chúng sinh cõi trời này. Đó là Hội đồng Hoàn Đạo, Hội đồng Hành pháp, Hội đồng Quản lý Hành chính. Mỗi Hội đồng Tuệ linh có sứ mệnh, nhiệm vụ khác nhau trong toàn bộ quy trình từ tiếp nhận các Tuệ linh, Linh hồn cho đến giáo hóa và chuyển sinh luân hồi kiếp mới.

 

Các Hội đồng Tuệ linh đều là những Tuệ linh ưu tú, có trí tuệ giác ngộ nhất trong Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Họ được vị Tuệ linh đầu tiên chọn lựa và phân công nhiệm vụ, sứ mệnh cho họ tại cõi trời Địa phủ. Họ sẽ đảm nhiệm sứ mệnh với các vị trí khác nhau, sau đó họ lại tiếp tục chuyển sinh làm người để tu luyện cải tạo Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Khi họ chuyển sinh làm người thì sẽ có những Tuệ linh khác đảm nhiệm thay thế vào vị trí của họ. Vì họ là những Tuệ linh ưu tú làm nhiệm vụ giáo hóa nên khi chuyển sinh làm người, họ sẽ có ý nghĩ cho đến hành động là đa dương mạnh, tức là họ luôn luôn suy nghĩ và hành động đoàn kết, lan tỏa phát triển bền vững tới vạn vật, Tuệ linh và con người mà không màng tới bản thân họ. Sau khi cải tạo được Trụ linh trở nên bền vững hơn, họ có thể tiếp tục về cõi trời Địa phủ làm sứ mệnh giáo hóa hoặc đến các cõi trời khác trong Vũ trụ để thực hiện sứ mệnh khác.

Tuệ linh đứng đầu và 3 hội đồng quản lý, vận hành, giáo hóa chúng sinh cõi trời Địa phủ là:

 

 

1. Tuệ linh đứng đầu cõi trời Địa phủ

 

Vị Tuệ linh đầu tiên chính là Đức A Di Di Đà (danh hiệu gốc) hay còn có các danh xưng khác là Đấng Sáng Tạo, Đấng Tạo Hóa, Đức Chúa Trời… Ngài là vị Tuệ linh đã gieo duyên, thành lập cõi trời Địa phủ để làm cõi tạm cho các Tuệ linh, Linh hồn tu hành ở nhân gian được về đó tu dưỡng sau khi hết một kiếp thân tướng ở nhân gian. Ngài chính là Tuệ linh đứng đầu và quản lý cũng như vận hành toàn bộ cõi trời Địa phủ. Ngài cũng đã tạo ra những danh hiệu khác của Ngài ở cõi trời Địa phủ để giáo hóa chúng sinh cõi trời này. Tuy nhiên, chúng ta chỉ cần hiểu Ngài là vị đứng đầu cõi trời Địa phủ.

 

Tuệ linh đầu tiên của Vũ trụ, chính Ngài là Tuệ linh đứng đầu quản lý và vận hành cõi trời Địa phủ làm nhiệm vụ giáo hóa, hỗ trợ các Tuệ linh, Linh hồn tu hành ở nhân gian. Đó là các Tuệ linh, Linh hồn khi tu hành ở nhân gian trong thân tướng con người và muông thú đã đi ngược bốn lời răn dạy của Ngài đã truyền dạy ở các cuộc tập kết xây dựng nhân loại, đi ngược và vi phạm vào giá trị đạo đức trong bốn hình tướng Đạo. Việc không thực hiện các lời răn dạy, việc vi phạm vào giá trị đạo đức của bốn hình tướng Đạo là biểu hiện của việc các Tuệ linh, Linh hồn đang chuyển sinh theo hướng phân rã và hoại diệt. Do đó, Ngài, với tình thương yêu bao la đến hết thảy Tuệ linh, con người nên đã thành lập cũng như đứng đầu để quản lý, vận hành sứ mệnh giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn đang đi theo hướng chuyển sinh phân rã

hoại diệt. Ngài thông qua những lời răn dạy và hình tướng Đạo đã được Ngài truyền dạy và xây dựng cho nhân loại để giáo hóa các Tuệ linh, Linh hồn nhận thức rõ được con đường họ đang chuyển sinh là phân rã hoại diệt, từ đó giảng dạy, chỉ dẫn cho họ con đường chuyển sinh bền vững. Thông qua những thành tựu về trí tuệ giác ngộ bởi chân tu của Ngài

 

    nhân gian trong việc tìm ra phương pháp ưu việt giúp chuyển sinh Trụ linh thành bộ lọc năng lượng, Ngài sẽ lấy giáo lý, chân lý, phương pháp đó để áp dụng giáo hóa các Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời Địa phủ.

 

Ngài là bậc trí tuệ vô lượng nhất của Vũ trụ, Ngài di chuyển khắp trong và ngoài Vũ trụ. Nhiệm vụ chính của Ngài là ở không gian lõi Vũ trụ, từ cõi trời này (lõi Vũ trụ), Ngài vận hành sự sống của toàn bộ Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Ngài vận hành thông qua cấu trúc nền của Vũ trụ, thông qua các mã sóng trí tuệ trong tất cả các dạng vật chất của Vũ trụ, bởi các dạng vật chất đó được cấu tạo từ năm nhóm năng lượng đã được phân tách từ Trụ linh của Ngài. Sự di chuyển của Ngài trong Vũ trụ chỉ cần bằng một ý nghĩ. Do đó, việc Ngài đứng đầu quản lý, vận hành, giáo hóa cõi trời Địa phủ là chuyện giản đơn. Đặc biệt, Ngài đã xây dựng các hội đồng trợ giúp công việc cho Ngài tại cõi trời này.

 

 

2. Hội đồng Hoàn Đạo

 

Hội đồng Hoàn Đạo là hội đồng quản lý cao nhất tại cõi trời Địa phủ. Đây là hội đồng của các Tuệ linh có trí tuệ giác ngộ cao nhất tại cõi trời Địa phủ. Hội đồng Hoàn Đạo là hội đồng được quản lý trực tiếp bởi vị Tuệ linh đứng đầu.

Hội đồng Hoàn Đạo với ý nghĩa là hội đồng trí tuệ giác ngộ nhất tại cõi trời Địa phủ, là hội đồng giáo hóa, chỉ dẫn con đường, chỉ dẫn phương pháp giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn ở cõi trời này có hành trang tri thức chuyển sinh bền vững. Từ đó, khi luân hồi thân tướng kiếp mới, họ sẽ tu tập để đi đến sự thành tựu viên mãn của tu Đạo, đó là tu hành tới đích của sự giác ngộ thông qua hình tướng Đạo và Tâm Đạo với kim chỉ nam là bốn lời răn dạy của Ngài. Đó là Hoàn Đạo.

 

 

Nhiệm vụ của Hội đồng Hoàn Đạo:

 

-   Hội đồng Hoàn Đạo trực tiếp quản lý Hội đồng Hành pháp, Hội đồng Quản lý Hành chính và các cảnh sống tại cõi trời Địa phủ.

 

-   Hội đồng Hoàn Đạo tiếp nhận giáo lý, phương pháp giáo hóa chúng sinh tại cõi trời Địa phủ từ vị Tuệ linh đứng đầu.

 

-   Hội đồng Hoàn Đạo lưu giữ, quản lý hồ sơ của Tuệ linh và Linh hồn tu hành ở nhân gian. Đó là quản lý, lưu giữ sổ sinh và sổ tử.

 

-   Hội đồng Hoàn Đạo thực hiện tra xét, phán xử, luận thiện nghiệp, ác nghiệp của Tuệ linh, Linh hồn khi mới được về Địa phủ sau một kiếp thân tướng. Từ đó, dựa trên thiện nghiệp và ác nghiệp để sắp xếp cho họ an trụ vào các cảnh sống tương ứng.

 

-   Hội đồng Hoàn Đạo xây dựng, sắp xếp, triển khai các lớp học đạo để giáo hóa cho các Tuệ linh, Linh hồn từ khi được trở về Địa phủ cho tới khi được luân hồi xuống nhân gian.

-     Hội đồng Hoàn Đạo trực tiếp giảng dạy, giáo hóa chúng sinh tại cõi trời Địa phủ theo kế hoạch của hội đồng.

 

-   Hội đồng Hoàn Đạo sẽ triển khai, mở lớp, thực hiện giảng dạy giáo hóa cấp tốc Tuệ linh, Linh hồn khi nhân được chỉ thị từ Tuệ linh đứng đầu. Những trường hợp này là do ở nhân gian, người tu đạo thấu hiểu về cõi trời Địa phủ, về sứ mệnh nhiệm vụ của các hội đồng. Khi thấu hiểu, họ tấu lễ nương tựa Tuệ linh đứng đầu và Hội đồng Giác ngộ giảng dạy, giáo hóa cho các Tuệ linh, Linh hồn vừa trở về Địa phủ hoặc đang trong các cảnh sống Địa ngục, cảnh âm. Đó chính là nghi lễ phổ độ của người tu đạo tại nhân gian.

 

-   Hội đồng Hoàn Đạo hỗ trợ, tạo điều kiện cho người tu hành thiền định tới cõi trời Địa phủ giáo hóa Tuệ linh, Linh hồn là người thân của họ. Để nhiệm vụ này được thực hiện thì người tu hành ở nhân gian phải thấu hiểu bốn lời răn dạy, thấu hiểu giá trị đạo đức của bốn hình tướng Đạo, thấu hiểu hai Chân lý, thấu hiểu con đường chuyển sinh bền vững an lạc. Khi đó, Tuệ linh của người thiền định sẽ được giám sát quá trình giảng giáo lý giáo hóa bởi Hội đồng Hoàn Đạo.

 

-    Hội đồng Hoàn Đạo lên kế hoạch và giao việc thực hiện cho Hội đồng Hành pháp và Hội đồng Quản lý Hành chính trong việc đón nhận Tuệ linh, Linh hồn sau khi hoại diệt thân tướng ở nhân gian được trở về Địa phủ, tu tập, học tập ở các cảnh sống và chuyển sinh kiếp thân tướng mới ở nhân gian.

 

 

Hội đồng Hành pháp

Hội đồng Hành pháp là hội đồng thực thi các quy tắc, các pháp chế tại cõi trời Địa phủ. Đây là hội đồng được vận hành bởi các Tuệ linh có trí tuệ giác ngộ cao.

 

Hội đồng Hành pháp được quản lý trực tiếp từ Hội đồng Hoàn Đạo và từ Tuệ linh đứng đầu.

 

 

Nhiệm vụ của Hội đồng Hành pháp:

 

-   Thực thi nhiệm vụ từ Tuệ linh đứng đầu.

 

-   Thực thi nhiệm vụ từ Hội đồng Hoàn Đạo.

 

-   Thực thi nhiệm vụ trong sổ sinh và sổ tử, đó là đi bắt về các Tuệ linh, Linh hồn đang an trụ trong thân tướng con người vì không tu tập cải tạo Tuệ linh trong khi ác nghiệp đã tạo quá nhiều từ nhiều kiếp. Chính vì chân tu không chịu tu tập cải tạo nên Hội đồng Hành pháp sẽ dựa trên nghiệp ác quá nhiều mà bắt Tuệ linh, Linh hồn đó bỏ lại thân xác để về Địa phủ, để được giáo hóa lại rồi cho luân hồi kiếp mới. Điều này là giúp cho Tuệ linh, Linh hồn đó nhận thức được sứ mệnh tu hành và có hành trang cho kiếp mới biết tu tập để cải tạo chính họ trở nên bền vững an lạc.

 

-    Tiếp dẫn, đưa các Tuệ linh, Linh hồn tới nhân gian đầu thai sau quá trình tu dưỡng ở cõi trời Địa phủ.

 

-  Tiếp dẫn, đón các Tuệ linh, Linh hồn sau khi hoại diệt thân xác kiếp thân tướng ở nhân gian để trở về Địa phủ.

 

-  Dẫn các Tuệ linh, Linh hồn bị đọa ở nhân gian do chết vì tai nạn, chết vì tự tử, chết do chiến trận, chết do đâm chém… được trở về Địa phủ sau khi đã trải nghiệm việc bị đọa ở nhân gian.  

-   Dẫn giải, đón nhận các Tuệ linh, Linh hồn mắc kẹt ở nhân gian trở về Địa phủ khi họ được người tu hành siêu độ cho họ.

 

 

4.   Hội đồng Quản lý Hành chính

 

Hội đồng Quản lý Hành chính là hội đồng quản lý các cảnh sống, quản lý bộ máy và các thủ tục tại cõi trời Địa phủ. Đây là hội đồng được vận hành bởi các Tuệ linh có trí tuệ giác ngộ cao.

 

Hội đồng Quản lý Hành chính được quản lý trực tiếp từ Hội đồng Hoàn Đạo và từ Tuệ linh đứng đầu.

 

 

Nhiệm vụ của Hội đồng Quản lý Hành chính:

 

-   Thực thi nhiệm vụ từ Tuệ linh đứng đầu.

 

-   Thực thi nhiệm vụ từ Hội đồng Hoàn Đạo.

 

-   Quản lý cửa khẩu âm dương. Cửa khẩu âm dương là nơi mà các Tuệ linh, Linh hồn sau khi hoại diệt thân xác được đi qua để về Địa phủ, đồng thời cũng là nơi mà các Tuệ linh, Linh hồn đi qua để tới nhân gian luân hồi kiếp mới. Đây cũng là nơi đi vào cõi trời Địa phủ của các chân tu thiền định đi tới.

 

-   Quản lý vận hành cảnh sống tiếp nhận Tuệ linh, Linh hồn về Địa phủ, đó là cảnh các phòng tạm chờ phân xử thiện nghiệp, ác nghiệp của các Tuệ linh, Linh hồn khi mới tới Địa phủ trước khi phân vào các cảnh sống khác.

 

-   Quản lý vận hành các cửa ngục trong cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ.

 

-   Quản lý vận hành cảnh sống Địa âm, quản lý Tuệ linh, Linh hồn gia tiên của các dòng họ (các Tuệ linh, Linh hồn có 

cùng dòng họ khi sống ở nhân gian), quản lý cảnh sống lao động tự do, buôn bán, mưu sinh ở cảnh âm. Quản lý việc cung cấp, phát chẩn nhà cửa, phương tiện phục vụ cuộc sống cho Tuệ linh, Linh hồn ở cảnh Địa âm.

 

-   Quản lý vận hành cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng của các Tuệ linh và Linh hồn, đó là quản lý cảnh sống của các ngôi đồi âm đức của từng gia tiên dòng họ.

 

-   Quản lý vận hành các lớp học đạo, học giáo lý của các Tuệ linh, Linh hồn.

 

-   Quản lý các thủ tục tại cõi trời Địa phủ.

 

Như vậy, cõi trời Địa phủ với 3 hội đồng dưới sự điều hành, quản lý của Tuệ linh đứng đầu đã vận hành quản lý cũng như giáo hóa chúng sinh tại cõi này một cách khoa học, chặt chẽ. Điều này đã tạo ra sức mạnh lớn giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn sau một kiếp thân tướng có được kinh nghiệm, hành trang tri thức để chuyển sinh được trở nên bền vững hơn ở nhân gian.

Các cảnh sống tại cõi trời Địa phủ

 

 

Cõi trời Địa phủ có 5 cảnh sống, bao gồm: Cảnh sống chờ phân xử, cảnh sống Địa âm, cảnh sống Địa ngục Ngã quỷ, cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng, cảnh tu dưỡng học tập giáo lý. Năm cảnh sống này là 5 bức tranh thể hiện được đầy đủ về đời sống của các Tuệ linh, Linh hồn ở Địa phủ sau một kiếp thân tướng ở nhân gian. Đó là một hành trình từ khi được trở về Địa phủ, được đúc kết bài học kinh nghiệm tu hành, được học tập giáo lý, được giáo hóa, được tu dưỡng cân bằng năng lượng và tiếp tục luân hồi kiếp mới ở nhân gian.

 

Sự vận hành tuần tự theo 5 cảnh sống là quá trình thúc đẩy nhanh chóng việc các Tuệ linh, Linh hồn sau một kiếp người học được các bài học tu hành, được giáo hóa, được trang bị tri thức chuyển sinh bền vững, được cân bằng năng lượng cho kiếp chuyển sinh mới. Điều này giúp cho quá trình chuyển sinh luân hồi ở nhân gian được nhanh chóng và nhanh chuyển hóa được Trụ linh thành bộ lọc năng lượng hơn.

 

Cõi trời Địa phủ không có ngày và đêm. Các cảnh sống được Tuệ linh đứng đầu tạo dựng thành các tầng năng lượng tiêu cực khác nhau, chân tâm, tích cực khác nhau để tạo thành môi trường thuận lợi nhất giúp các Tuệ linh học tập bài học tu hành cũng như cân bằng được năng lượng nhanh. Các tầng năng lượng của các cảnh sống được tạo thành dựa trên sự u mê bám chấp, sân, hận, tạo ác nghiệp khác nhau của Tuệ linh, con người khi sống đã tạo. Điều này tạo thành liên chết vì tai nạn, chết do tự tử, chết do đột tử, chết do linh hồn thú dữ truy giết, chết do vi phạm pháp luật nhân gian mà bị xử tử hình, chết do thiên tai, chết do dịch bệnh, chết do tu tập tà pháp thần thông mà đột tử. Vì chưa đến cung số theo sổ sinh tử, nên họ sẽ phải bị giam giữ trong các phòng tối để chờ đến đúng ngày giờ chết đã được ấn định trong sổ sinh tử thì mới được phân xử luận thiện – ác nghiệp. Khi phân xử, Hội đồng Hoàn Đạo sẽ giảng giải những ác nghiệp, những thiện nghiệp, con đường phân rã Tuệ linh, Linh hồn tới đâu. Tiếp đó, sẽ chuyển các Tuệ linh, Linh hồn đó vào các cảnh sống tương ứng với năng lượng ác nghiệp để đúc kết lại bài học tu hành trên nhân gian.

 

Sau khi các Tuệ linh, Linh hồn sống trong cảnh chờ phân xử, họ sẽ được chuyển tới các cảnh sống khác nhau dựa trên sự phân rã cấu trúc năng lượng trong Trụ linh mạnh hay yếu, tức là dựa trên thiện hay ác nghiệp đã tạo ra.

 

 

Nguyên tắc phân xử để chuyển cảnh sống:

 

-     Nếu sống mà bám chấp, không hành thiện cũng không hành ác, sau khi phân xử sẽ được sang cảnh sống Địa

 

âm.

 

-   Nếu sống mà không bám chấp, chưa hành thiện cũng không hành ác sẽ được sống cảnh tu dưỡng năng lượng âm dương.

 

-   Nếu sống có tạo ác nghiệp và thiện nghiệp, họ sẽ sống trong cảnh Địa ngục – Ngã quỷ để học bài học của ác nghiệp đã tạo. Sau đó, họ sẽ sống cảnh sống Địa âm. -   Nếu sống mà chỉ tạo ác nghiệp mà không tạo thiện nghiệp. Họ sẽ sống cảnh Địa ngục – Ngã quỷ, sau đó mới được chuyển sang cảnh âm.

 

 

2.   Cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ

 

Cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ là cảnh sống dành cho các Linh hồn, Tuệ linh khi còn sống trên nhân gian tạo nghiệp ác gây tổn hại vạn vật, muông thú và Tuệ linh, con người. Khi hoại diệt thân tướng ở nhân gian, sau khi phân xử luận công tội, họ sẽ phải sống trong cảnh sống Địa ngục Ngã quỷ, đó là sống trong 7 đại cửa ngục ác nghiệp trong cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ.

 

Cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ là cảnh sống của những Tuệ linh, Linh hồn khi sống tạo ác nghiệp trên nhân gian. Mà nguồn gốc của hành động tạo ác nghiệp là Ngã quỷ, là độc Tâm, đó là gốc của chấp ngã, sân và hận. Cho nên, năng lượng trong cảnh sống Địa ngục và Ngã quỷ bao trùm là màu xám tối, đen tối và màu đỏ máu. Tầng năng lượng xám tối, màu đen, đỏ máu của Ngã quỷ là tầng năng lượng xấu, do đó những người tu thiền du linh xuống cảnh sống này nếu không có năng lượng tốt của màu trắng và màu vàng sẽ dễ bị nhiễm mà sinh khởi bệnh tật. Thậm chí có những người tu thiền du linh vào cảnh Ngã quỷ dưới Địa phủ đã bị các Tuệ linh ngã quỷ bắt lại, khi đó con cháu hoặc người thân tưởng người đó đột tử chết mà làm ma chay. Để thiền du linh xuống các cửa ngục và các cửa Ngã quỷ thì người tu hành phải có tầng năng lượng tốt trong tâm mới có thể an toàn đi tham quan các cảnh sống nơi Địa phủ. Trong 7 đại cửa ngục ác nghiệp sẽ chia ra làm 6 đại cửa ngục dành riêng cho các linh hồn và một đại cửa ngục dành riêng cho các Tuệ linh. Tổng có 72 cửa ngục nhỏ từ 7 đại cửa ngục lớn. Cửa ngục của các Linh hồn gọi là cửa Địa ngục với 6 đại cửa lớn và tổng là 54 cửa ngục nhỏ. Cửa ngục của các Tuệ linh là cửa Ngã quỷ với một đại cửa Ngã quỷ lớn và tổng là 18 cửa Ngã quỷ nhỏ.

 

 

2.1. Sáu đại cửa Địa ngục cho các Linh hồn

 

Linh hồn là cấu trúc năng lượng có trí tuệ di chuyển, cải tạo cuộc sống trên Trái đất. Họ đã từng bước xây dựng được tập tính, lối sống của con người là hóa thân của Tuệ linh (người Thiên ấn) tương tác cũng như dạy dỗ. Họ chính là Linh hồn của các con thú, Linh hồn của con người (người Nhân mệnh) được chuyển sinh từ Linh hồn an trụ trong thân tướng muông thú được an trụ trong thân tướng con người.

 

Sáu đại cửa Địa ngục giam giữ Linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian, trải qua 49 ngày lưu trú cảnh sống chờ phân xử. Vào ngày 49, khi phân xử, giáo hóa, các Linh hồn khi sống ở nhân gian mà phạm vào các ác nghiệp nhóm tội tương ứng sẽ phải đọa vào sống ở các cửa ngục khác nhau. Nếu Linh hồn phạm nhiều ác nghiệp thì sẽ phải trải qua hết tất cả các cửa ngục cho đến khi nào Linh hồn nhận thức được bài học ác nghiệp và sám tâm được ác nghiệp mình đã tạo ra thì mới được chuyển sang cảnh học giáo lý và sống cảnh sống Địa âm. Các cửa Địa ngục được sắp xếp từ nhẹ đến nặng như sau:

 

1- Cửa Địa ngục lao động khổ sai:

+   Trong cửa lao động khổ sai được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.

 

+   Cảnh sống trong cửa ngục lao động khổ sai là hình ảnh các Linh hồn phải lao động khổ sai, khuân vác, đập đá, lao động cật lực không được ăn uống gì khi mà chân tay bị xiềng xích và bị hình ảnh các con quỷ đánh đập.

 

+   Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải đọa vào cửa Địa ngục lao động khổ sai: Lười lao động; chửi rủa đánh đập người lao động, chà đạp nhân phẩm người lao động; bóc lột, chiếm đoạt sức lao động của người khác.

 

2- Cửa Địa ngục hành xác:

 

+   Trong cửa Địa ngục hành xác được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.

 

+   Cảnh sống trong cửa ngục hành xác là một khu vực gồm các con mãng xà, con trăn, con rắn, các loài thú khổng lồ. Những Linh hồn bị ném hay vứt vào trong đó. Những con ác thú đó trườn, truy đuổi cắn xé thân hình của các Linh hồn (họ cảm nhận thân hình họ giống với thân tướng khi sống trên nhân gian). Cảnh tượng này không ngừng nghỉ và diễn ra liên tục trong thời gian rất dài.

 

+   Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải đọa vào cửa Địa ngục hành xác: Nói dối gây thiệt hại về của cải, sức khỏe và tính mạng người khác; tội lừa đảo; tội trộm cướp; tội chiếm đoạt tài sản người khác; tội đánh đập muông thú; tội đánh đập hãm hại người khác.

 

3- Cửa Địa ngục lao tối lạnh giá:

+   Trong cửa Địa ngục lao tối lạnh giá được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.

 

+   Cảnh sống trong cửa ngục lao tối lạnh giá là hình ảnh đêm tối lạnh giá, có mưa, có tuyết rơi, những Linh hồn bị những mũi tên băng bay xuyên vào tim, những Linh hồn hoảng loạn chạy trong đêm tối mưa rơi lạnh giá và bị các con thú khổng lồ truy đuổi để cắn xé ăn thịt, những Linh hồn không mặc quần áo bị treo trên cột và bị những con thú nhảy lên ăn thịt. Khi các Linh hồn chết (họ đang nghĩ đó là thân tướng như khi còn sống ở nhân gian) rồi lại tỉnh lại và lại bị truy giết đến chết rồi lại tỉnh lại, quá trình này lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian rất dài.

 

+   Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải đọa vào cửa Địa ngục lao tối lạnh giá: Hành nghề sát sinh; giết hại muông thú làm thú vui; giết hại muông thú khác để thỏa mãn thú vui ăn uống, thông dâm, tà dâm, hiếp dâm; chửi rủa, đánh đập người khác; chà đạp nhân phẩm người khác.

 

4- Cửa Địa ngục hành hình:

 

+    Trong cửa Địa ngục hành hình được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.

 

+   Cảnh sống trong cửa ngục hành hình là hình ảnh ngũ quỷ phanh thây, cảnh Linh hồn bị truy đuổi và giết chết, cảnh bị đẩy xuống vực sâu mà chết, cảnh bị đập vào đầu mà chết, cảnh bị giết chết và phanh xác… Cảnh Linh hồn bị giết lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian rất dài.

+   Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải đọa vào cửa Địa ngục hành hình: Giết hại người khác; giết hại chính mình; phá, giết hại thai nhi.

 

5- Cửa Địa ngục hỏa thiêu:

 

+  Trong cửa Địa ngục hỏa thiêu được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.

 

+  Cảnh sống trong cửa ngục hỏa thiêu là cảnh Linh hồn sẽ thấy bị các con quỷ đuổi bắt và ném vào vạc dầu mà chết cháy, bị các con quỷ ném vào núi lửa mà chết cháy, bị đốt chết, bị mũi tên lửa bắn vào mà chết, bị phóng hỏa mà chết cháy. Linh hồn bị hỏa thiêu chết đi sống lại trong thời gian rất dài.

 

+   Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải đọa vào cửa Địa ngục hỏa thiêu: Đánh đập, chà đạp, giết hại cha mẹ; đánh đập, chà đạp, giết hại thầy dạy; phóng hỏa giết hại người.

 

6- Cửa Địa ngục băng giá:

 

+    Trong cửa Địa ngục băng giá được chia ra làm 9 cửa nhỏ, mỗi cửa tương ứng với nhóm ác nghiệp mà khi sống Linh hồn đã gây ra.

 

+  Cảnh trong cửa ngục băng giá dài vô tận. Những Linh hồn bị đóng băng, bị chôn vùi trong dòng sông băng, trong núi băng. Họ không động đậy được thân hình, họ lạnh buốt không thể diễn tả được. Sự lạnh buốt không thể diễn tả là bài học cho bản chất tạo ra quá nhiều ác nghiệp gây tổn hại lớn cho Tuệ linh, con người, vạn vật, muông thú. Họ sẽ phải mất thời gian dài vô tận, lâu nhất so với các cửa Địa ngục bài học ác nghiệp khác mới được chuyển sang cảnh sống âm. +   Khi sống trên nhân gian mà tạo các ác nghiệp sau thì Linh hồn sẽ phải đọa vào cửa Địa ngục băng giá: Bán nước hại dân, tham ô tham nhũng, kích động chiến tranh; kích động xung đột dân tộc, tiết lộ bí mật quốc gia, phản bội Tổ quốc.

 

Những người Nhân mệnh nếu vi phạm vào chửi rủa Thiên Địa, chửi rủa Thánh thần, Phật, Chúa Trời, Thượng Đế, phá đình chùa, phá mồ mả gia tiên thì sẽ phải đọa hết tất cả lần lượt 6 đại cửa Địa ngục rồi mới được chuyển sang sống cảnh âm.

 

 

2.2. Một đại cửa Ngã quỷ dành cho các Tuệ linh

 

Trong cửa Ngã quỷ dành cho các Tuệ linh (khi sống làm người họ được gọi là dòng người Thiên ấn) trên các cõi trời xuống nhân gian tu hành, nhưng vì tạo ác nghiệp nên sẽ bị đọa vào trong cửa ngục đặc biệt này. Cửa Ngã quỷ được cõi trời Địa phủ quản lý và dùng các tầng năng lượng của sự giác ngộ để giúp cho họ nhanh chóng thấu hiểu và học được bài học ác nghiệp đã tạo ra ở nhân gian khi sống trong thân tướng.

 

Cửa Ngã quỷ bao gồm 18 cửa nhỏ: Cửa lao động khổ sai có 3 cửa nhỏ; cửa hành xác có 3 cửa nhỏ; cửa lao tối lạnh giá có 3 cửa nhỏ; cửa hành hình có 3 cửa nhỏ; cửa hỏa thiêu có 3 cửa nhỏ; cửa băng giá có 3 cửa nhỏ. Cảnh sống ở các cửa ngục của Tuệ linh đều giống như cảnh sống các cửa ngục của Linh hồn. Cửa Ngã quỷ chỉ khác so với cửa Địa ngục là mức độ chịu hình phạt nặng hơn, sự giam giữ nghiêm ngặt hơn vì họ là Tuệ linh nên cấu trúc phóng xạ năng lượng âm rất mạnh và rất nguy hiểm đối với con người cũng như các Linh hồn khi tới gần họ. Khi các Tuệ linh bị đọa trong các cửa ngục này thì họ sẽ hóa thành quỷ và ăn thịt, giết hại nhau đến chết thân hình của họ. Khi sống lại họ lại lặp đi lặp lại hành động tạo nghiệp như khi còn sống trên nhân gian. Hành động giết hại nhau đến chết và rồi sống lại cứ lặp đi lặp lại trong thời gian rất dài.

 

Cửa ngục băng giá của các Tuệ linh cũng dài vô tận, họ cần rất nhiều thời gian, nhiều hơn bất cứ cửa ngục nào để trải nghiệm lại những bài học ác nghiệp đã tạo khi sống ở nhân gian. Tuệ linh được về Địa phủ, được vào cửa ngục băng giá là điều đáng mừng đối với họ. Bởi với ác nghiệp tạo ra vô số như vậy thì họ chưa bị hoại diệt bởi sự phân rã hoàn toàn Tuệ linh là điều rất mừng. Được về Địa phủ, sống trong cảnh cửa ngục băng giá là vẫn còn cơ hội để cải tạo và chuyển sinh lại Trụ linh. Đáng mừng là vì vậy.

 

Những người Thiên ấn nếu vi phạm vào chửi rủa Thiên Địa, chửi rủa Thánh thần, Phật, Thượng Đế, Chúa Trời, phá đình chùa, phá mồ mả gia tiên thì sẽ phải đọa hết tất cả lần lượt 18 cửa ngục trong Ngã quỷ rồi mới được chuyển sang sống cảnh âm.

 

Tất cả các cửa ngục mà có hình ảnh con quỷ đuổi giết Linh hồn hay Tuệ linh, hình ảnh các con thú dữ giết hại Linh hồn hay Tuệ linh, hình ảnh có người đánh đập tra tấn Linh hồn hay Tuệ linh đều không phải là các Ngài ở Địa phủ, và cũng không phải có con quỷ hay dã thú nào hết. Đây là do ác nghiệp khi sống trên nhân gian mà họ đã tạo ra. Bởi những suy nghĩ từ bám chấp, tiêu cực cho đến hành động tiêu cực gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người đều được lưu giữ thành các hạt năng lượng trong Trụ linh và Tuệ linh, Linh hồn họ, đó là bởi cơ chế phân tách liên kết hạt năng lượng. Chính vì cơ chế phân tách, liên kết như vậy nên vị Tuệ linh đầu tiên đã xây dựng các cảnh sống, các cửa Địa ngục có các tầng năng lượng ác nghiệp với vô số hạt năng lượng tiêu cực tương ứng để khi các Tuệ linh, Linh hồn tạo ác nghiệp khi sống ở nhân gian bị đưa vào đó sẽ tạo thành liên kết giữa các hạt năng lượng ác nghiệp mà tạo ra ảo ảnh, ảo thanh, ảo giác. Họ sẽ đắm chìm trong sự phản chiếu của ác nghiệp đã tạo ra

 

    nhân gian bởi cơ chế liên kết kỳ diệu này. Điều này đã khiến cho những bậc tu hành ở nhân gian không thể hiểu được và vẫn lầm tưởng là Địa ngục, Địa phủ có ác quỷ, có quỷ sai giết hại Linh hồn, Tuệ linh cũng như đi giết hại con người.

 

Tất cả các cảnh tra tấn, truy giết sẽ bị tiêu tan, Tuệ linh, Linh hồn sẽ thoát ra được các cảnh Địa ngục ngã quỷ nếu họ tĩnh tâm, buông xả được những bám chấp, tiêu cực và các hành động ác nghiệp. Khi đó, họ tin vào con đường họ đã và thực hành ác nghiệp ở nhân gian là sai trái, là con đường hoại diệt chính họ. Họ có niềm tin vào hai Chân lý, nguyện đi theo hai Chân lý. Khi đó, họ sẽ được đưa ra khỏi cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ để tham gia cảnh sống học giáo lý và chuyển sang cảnh sống Địa âm.

 

Khi các Linh hồn và Tuệ linh đang bị đọa trong Địa ngục – Ngã quỷ thì họ tuyệt đối không thể nhận bất cứ lễ vật gì do con cháu ở nhân gian cúng lễ dâng tiến. Họ chỉ nhận được năng lượng hành thiện hoặc năng lượng ác nghiệp từ con cháu và người thân ở nhân gian. Nếu con cháu và người thân hành thiện nghiệp thì họ nhanh ngộ được bài học ác nghiệp của họ. Nếu con cháu, người thân ở nhân gian hành ác nghiệp thì họ sẽ mất nhiều thời gian hơn để ngộ được bài học ác nghiệp của họ, họ chỉ ngộ được khi thấy con cháu, người thân trả giá cho những ác nghiệp đã tạo. Khi mỗi dòng họ hay gia đình mà có Linh hồn, Tuệ linh bị đọa trong các cửa ngục thì gọi là động âm, tức là Linh hồn, Tuệ linh bị động tâm, chưa định thần nên con cháu sẽ không được yên theo do năng lượng của gia tiên tác động vào mong con cháu phổ độ gia tiên siêu thoát khỏi cảnh Địa ngục – Ngã quỷ. Khi mỗi dòng họ mà có nhiều Linh hồn, Tuệ linh bị đọa trong các cửa Địa ngục – Ngã quỷ thì trên dương gian con cháu sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cuộc sống, thậm chí có nhiều người chết trẻ, đây là nghiệp cửu trùng của cả người sống và người đã chết trong dòng họ đó tích tụ lại mà nhận quả báo.

 

 

3. Cảnh sống Địa âm

 

Cảnh sống Địa âm là cảnh sống của những năng lượng âm có sóng điện âm ở mức nhẹ. Năng lượng âm nhẹ được vị Tuệ linh đầu tiên tạo dựng cho cảnh sống này. Cảnh sống Địa âm là cảnh sống được chi phối bởi năng lượng tiêu cực nhẹ của sự bám định, ý nghĩ, tư tưởng tiêu cực. Đó là tư tưởng tiêu cực mong muốn, mơ mộng, khát khao được thỏa mãn giả tướng về mình một cách ích kỷ mà không vì lợi ích của Tuệ linh, con người và vạn vật. Cảnh sống Địa âm tượng trưng cho trí tuệ u mê bám víu, hút lấy giả tướng về mình mà chưa hành động gây tổn hại tới vạn vật, Tuệ linh và con người. Cảnh sống này không có năng lượng của ý nghĩ, suy nghĩ, tư tưởng tích cực.

 

Tầng năng lượng của cảnh sống Địa âm là màu xám sáng như chiều tối mà Mặt trời đã lặn. Năng lượng và không gian ảm đạm, yên tĩnh của sự suy tư âu sầu. Sự ảm đạm và không gian tỏa năng lượng màu xám sáng là do các Linh hồn, Tuệ linh vẫn còn bám định, chấp ngã, sân, hận nên mới tỏa ra năng lượng âm màu xám hòa quyện tầng năng lượng đã được kiến tạo của cảnh sống Địa âm. Điều này sẽ làm bài học rất giá trị để giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn học tập được cách thay đổi hệ tư tưởng để chuyển sinh theo hướng bền vững an lạc.

 

 

Đối tượng Tuệ linh, Linh hồn được sống cảnh Địa âm:

 

+    Cảnh sống Địa âm là cảnh sống dành cho các Linh hồn, Tuệ linh khi sống ở nhân gian có tư tưởng cho đến hành động không thiện cũng không ác.

 

+    Là cảnh sống dành cho các Tuệ linh, Linh hồn khi sống dù có tạo được những thiện nghiệp, nhưng vẫn có tư tưởng, ý nghĩ u mê tiêu cực, vẫn chấp ngã, sân và hận.

 

+   Tuệ linh, Linh hồn khi sống ở nhân gian tuy không tạo ác nghiệp những vẫn còn u mê, chấp ngã, sân, hận, nên phải sống trong cảnh sống Địa âm để nhận diện lại tư tưởng tiêu cực đó có lợi hay có hại cho con đường chuyển sinh.

 

+   Các Tuệ linh, Linh hồn sau khi được siêu thoát khỏi các cửa ngục và được học đạo thì sẽ được chuyển sang sống cảnh Địa âm để được lao động tự do và tiếp tục tu học cân bằng năng lượng cũng như tham gia các lớp học đạo để chuyển hóa trí tuệ và chuyển hóa cảnh sống sang cảnh sống cân bằng năng lượng.

 

 

Cảnh sống Địa âm có:

+   Nhà tranh mái ngói, nhà tranh mái lá, nhà gỗ, mỗi ngôi nhà chỉ vài mét vuông. Không có nhà tầng, nhà lầu, xe hơi, xe máy, xe đạp hay bất kỳ phương tiện khoa học kỹ thuật nào ở cõi trời Địa phủ.

 

+  Có chợ quê, có cánh đồng lúa, có cảnh lao động tự do buôn bán và sản xuất nông nghiệp, có thầy đồ dạy học, có thầy bốc thuốc… có đồi núi và ao hồ. Cuộc sống đơn sơ là để giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn nhanh chóng buông đi những bám định vào giả tướng ở nhân gian.

 

+    Có ngân hàng hay còn gọi là kho khố Địa phủ. Các Tuệ linh ở Hội đồng Quản lý Hành chính sẽ phát chẩn cho các Tuệ linh, Linh hồn được chuyển từ Địa ngục – Ngã quỷ ra sống cảnh Địa âm. Các Tuệ linh, Linh hồn sau khi sống cảnh chờ phân xử, sau khi phân xử ở ngày 49 mà không có ác nghiệp, nhưng vẫn u mê bám định, vẫn chấp ngã, sân, hận thì sẽ được nhận phát chẩn và sống ở cảnh Địa âm. Họ được cấp phát nhà cửa và công cụ lao động, tư trang quần áo và những đồ dùng cần thiết cho cuộc sống ở cảnh Địa âm. Các Tuệ linh, Linh hồn khi sống cảnh sống Địa âm sẽ không nhận được bất cứ đồ lễ gì từ con cháu ở nhân gian cúng lễ như tiền vàng, nhà lầu, xe cộ… Những vật chất ở nhân gian đều không thể gửi được đến cõi trời Địa phủ. Khi con cháu dâng lễ hay tri ân thì Tuệ linh, Linh hồn cũng chỉ nhận dòng năng lượng hành thiện hay tạo ác nghiệp hoặc năng lượng chấp ngã của con cháu chứ không ăn hay thụ hưởng được đồ lễ.

 

Cảnh sống Địa âm là dành cho các Tuệ linh, Linh hồn khi sống trên nhân gian có trí tuệ u mê mà chấp ngã, sân hận, nhưng chưa tạo nghiệp ác. Đó là cảnh sống mà các Tuệ linh, Linh hồn đã trải nghiệm ở cảnh sống Địa ngục chuyển sang. Do đó, họ vẫn còn u mê và bám chấp để thỏa mãn các giả tướng. Các Tuệ linh, Linh hồn ở cảnh sống này vẫn đòi hỏi con cháu cúng lễ nhiều, vẫn hay chấp nhặt người thân ở nhân gian. Sự chấp ngã dài lâu hay nhanh giác ngộ của Tuệ linh, Linh hồn vừa phụ thuộc vào việc tu hành của con cháu và người thân trên dương gian, vừa phụ thuộc vào quá trình tu học giáo lý của chính họ ở Địa phủ.

 

 

Để các Tuệ linh, Linh hồn nhanh giác ngộ để chuyển sang cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng thì con cháu ở nhân gian và Tuệ linh, Linh hồn ở cảnh Địa âm phải thực hiện như sau:

 

+   Tuệ linh, Linh hồn ngoài việc lao động, sinh hoạt ở cảnh sống Địa âm sẽ phải tham gia các lớp học đạo, học giáo lý do Hội đồng Hoàn Đạo giảng dạy.

 

+    Con cháu, người thân ở nhân gian phải hành thiện giúp đỡ chúng sinh; làm lễ phổ độ gia tiên để nhờ Hội đồng hoàn đạo thuyết pháp giảng giải cho cả gia tiên dưới Địa phủ; con cháu có khả năng thiền định xuống dưới Địa phủ nhờ Hội đồng Hoàn đạo triệu tập gia tiên mà thuyết giảng Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ để giúp gia tiên giác ngộ và chuyển được sang cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng; con cháu không đốt tiền vàng, các đồ giả tướng như nhà cửa, xe cộ, vì họ không thể nhận được thứ gì cả; không nên lễ bái cầu xin công danh hay tiền tài từ gia tiên, bởi họ đang cầu xin con cháu hành thiện để họ được nhận dòng năng lượng hành thiện đó mà giúp họ được siêu thoát sang cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng.

 

+    Khi con cháu, người thân ở nhân gian hành thiện, giúp đỡ chúng sinh thì năng lượng hành thiện đó sẽ được chuyển cho gia tiên khi ta tưởng nhớ, khi ta thắp hương tri ân gia tiên. Khi ta tri ân và thắp hương tưởng nhớ bằng tâm đức hành thiện có được sẽ giúp cho gia tiên dưới Địa phủ nhận được năng lượng đó mà gột rửa được chấp ngã. Khi đó các Ngài ở Hội đồng Quản lý Hành chính sẽ phát chẩn nhiều cho gia tiên, nhưng vì gia tiên đã giác ngộ nên không nhận những đồ phát chẩn, họ sẽ được chuyển sang cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng. Nhưng khi con cháu trên nhân gian làm nhiều việc ác, tạo ra nhiều ác nghiệp thì gia tiên dưới Địa phủ sẽ chấp vào đó mà không thể giác ngộ được, họ sẽ luẩn quẩn theo Tâm ngã quỷ của con cháu, luẩn quẩn theo nghiệp của con cháu. Cho dù con cháu ở nhân gian có đốt nhiều vàng mã, cúng lễ to đến mấy thì gia tiên cũng không nhận được một thứ gì hết.

 

Tuệ linh và Linh hồn tồn tại và phát triển dựa trên sự phân tách và liên kết hạt năng lượng bền vững ở họ chứ không phải là thụ hưởng vật chất. Do đó nếu gia tiên nhận được các tầng năng lượng hành thiện tích đức từ con cháu thì họ sẽ nhanh giác ngộ mà chuyển sinh kiếp người mới, nếu gia tiên nhận được các tầng năng lượng ác nghiệp từ con cháu thì họ sẽ đọa trong cửa ngục và cảnh âm lâu dài mà khó được giác ngộ để siêu thoát.

 

 

4. Cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng

 

Cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng là cảnh sống có năng lượng tốt nhất ở cõi trời Địa phủ. Đây là cảnh sống cuối cùng mà các Tuệ linh, Linh hồn chuyển sinh về Địa phủ sau kiếp người sẽ phải sống trước khi luân hồi kiếp thân tướng mới ở nhân gian. Cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng được vị Tuệ linh đầu tiên kiến tạo ra các tầng năng lượng tích cực có sóng điện dương. Nó tượng trưng cho sự cân bằng, sự giác ngộ ra lối sống tiêu cực ở kiếp người vừa qua, nó tượng trưng cho quá trình định hình tư tưởng tích cực cũng như tương tác năng lượng từ con cháu và người thân ở nhân gian. Đó là sự tích lũy của cả hội đồng gia tiên ở Địa phủ và con cháu ở nhân gian để tạo thành cơ chế liên kết năng lượng. Đó là cơ chế mà Tuệ linh, Linh hồn cần phải học và xây dựng để bản thể Tuệ linh, Linh hồn học tập được sự liên kết của tình yêu thương, giúp đỡ nhau, sống vì nhau, vì vạn vật, Vũ trụ, Tuệ linh và con người. Do đó, không những cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng, mà tất cả các cảnh sống ở Địa phủ là nhằm giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn đang chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt từng bước học được ý thức hệ trong việc có trách nhiệm, biết hy sinh vì nhau, hy sinh vì Trời và người cùng toàn bộ Vũ trụ.

 


Đối tượng Tuệ linh, Linh hồn được sống ở cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng:

 

+    Các Tuệ linh, Linh hồn được chuyển đến từ cảnh sống Địa âm sau khi học đạo và được giác ngộ không còn chấp ngã, sân, hận nữa.

 

+  Các Tuệ linh, Linh hồn khi sống ở nhân gian không có chấp ngã, sân, hận, không tạo nghiệp, đã bắt đầu và giúp đỡ được vạn vật, Tuệ linh, con người, muông thú, sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian và sống cảnh sống 49 ngày chờ phân xử sẽ được chuyển luôn sang cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng để cân bằng năng lượng và tu học giáo lý. Cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng có các ngọn đồi thấp, thoai thoải, có nhiều cây xanh trùng trùng điệp điệp như bất tận. Mỗi một gia tiên dòng họ sẽ được sinh sống và tu luyện trên một ngọn đồi, được gọi là ngọn đồi âm đức của mỗi gia tiên dòng họ. Trong mỗi ngọn đồi âm đức thì mỗi một Tuệ linh, Linh hồn sẽ có các nấm đất rộng khoảng 1 mét vuông để ngồi hành thiền và nghe các vị Tuệ linh giác ngộ thuyết pháp và tu dưỡng cân bằng năng lượng chờ ngày đầu thai kiếp mới ở nhân gian.

 

Tầng năng lượng bao trùm cho cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng là năng lượng màu vàng nhạt. Đó là năng lượng định hướng cho các Tuệ linh, Linh hồn hướng tới tư tưởng và hành động giống với năng lượng đoàn kết. Bởi chỉ có tư tưởng và hành động theo năng lượng đoàn kết màu vàng mới xây dựng được cơ chế phân tách liên kết bền vững. Đó là con đường để chuyển sinh bền vững. Tuy nhiên, mỗi một ngôi đồi của gia tiên dòng họ lại có tầng năng lượng khác nhau, có gia tiên dòng họ thì có năng lượng màu vàng rực rỡ và cỏ cây xanh tốt, có gia tiên dòng họ thì chỉ có năng lượng màu trắng và cỏ cây tươi tốt, có gia tiên thì có năng lượng màu xám đen và đồi núi bị sạt lở, có gia tiên thì không có cỏ cây và năng lượng thì màu đen và đỏ máu.

 

Âm đức dòng họ gia tiên được thể hiện thông qua màu sắc năng lượng và sự tươi tốt hay không của cây cối tại mỗi ngôi đồi âm đức. Dòng họ nào có âm đức tốt là ngôi đồi âm đức có năng lượng màu vàng, trắng vàng, trắng, có cỏ cây xanh tốt, có nhiều cây cổ thụ. Dòng họ nào mà âm đức kém thì ngôi đồi âm đức bị sạt lở, năng lượng màu xám, đen, đỏ máu, cỏ cây không xanh tốt và không có cây cổ thụ. Dòng họ sắp đi đến diệt vong thì ngôi đồi âm đức có năng lượng màu 

đỏ máu, đen nhiều, đồi âm đức bị sụt, cỏ cây bị cháy hoặc chết. Ngôi đồi nào có nhiều năng lượng màu vàng thì dòng họ đó có các vị Tuệ linh giác ngộ rất cao hóa thân xuống và đang hành đạo rất tốt. Ngôi đồi nào có năng lượng màu trắng và phớt vàng thì dòng họ đó có các vị Tuệ linh giác ngộ cao hóa thân xuống đang hành đạo tốt. Ngôi đồi nào có năng lượng màu tím, màu hồng, màu xanh thì dòng họ đó có các bậc Thánh nhân hóa thân xuống cứu giúp dân tộc. Ngôi đồi nào có năng lượng màu đỏ máu thì con cháu có người tâm hóa quỷ đang hại người, hại dân tộc, hại chúng sinh. Ngôi đồi nào có năng lượng màu đen thì con cháu đang tạo nhiều nghiệp lực. Ngôi đồi nào có năng lượng màu xám thì con cháu ở nhân gian đang rất u mê.

 

Thông qua ngôi đồi âm đức của gia tiên dòng họ mà biết được con cháu dòng họ đang hành thiện nghiệp hay tạo ác nghiệp. Con cháu muốn giúp cho âm đức dòng họ được nâng cao và gia tiên nhanh được siêu thoát chuyển sinh kiếp mới thì con cháu phải hành thiện giúp vạn vật, Tuệ linh, con người hoặc thiền định xuống Địa phủ giảng Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ để truyền sự giác ngộ đó gia hộ cho gia tiên nhanh siêu thoát chuyển sinh.

 

 

5. Cảnh sống tu học giáo lý

 

Cảnh sống tu học giáo lý là cảnh sống mà tất cả các Tuệ linh, Linh hồn tới Địa phủ sau một kiếp thân tướng sẽ phải tham gia. Nếu các Tuệ linh, Linh hồn mà không học hay chống đối việc học giáo lý, họ sẽ không được luân hồi kiếp mới. Do đó, việc tham gia tu học giáo lý là điều bắt buộc với tất cả chúng sinh cõi trời Địa phủ. 

Việc lên kế hoạch mở các lớp học giáo lý thường xuyên theo định kỳ và đột xuất là do Hội đồng Hoàn Đạo thực hiện.

 

Việc giảng dạy giáo lý là do các Tuệ linh của Hội đồng Hoàn Đạo thực hiện. Đôi khi Tuệ linh đứng đầu sẽ giảng dạy.

 

Đối tượng được tham gia tu học giáo lý là tất cả Tuệ linh, Linh hồn sống ở Địa phủ. Khi sống ở nhân gian, họ đang chuyển sinh theo hướng phân rã hoại diệt, tức là họ có tư tưởng cho đến hành động ích kỷ về họ mà không mang lại lợi ích hoặc gây tổn hại lợi ích của vạn vật, muông thú, Tuệ linh, con người.

 

 

Cảnh sống tu học giáo lý gồm có các lớp học sau:

 

+   Lớp học đặc biệt dành cho những Tuệ linh, Linh hồn bị hoại diệt thân tướng ở nhân gian khi chưa tới cung số tuổi thọ ấn định theo sổ sinh tử, tức là những Tuệ linh, Linh hồn này đã tạo nhiều ác nghiệp ở kiếp quá khứ mà kiếp này họ không cải tạo, dẫn tới hoại diệt thân tướng. Họ tạo nhiều ác nghiệp dẫn tới vi phạm pháp luật nhân gian mà bị tử hình. Họ chết do tai nạn, chết do đột tử bởi linh hồn thú dữ giết hại, chết do chiến tranh, chết do đâm chém, chết do tự tử, chết do thiên tai lũ lụt, chết do dịch bệnh. Vì chưa tới cung số phải chết, lại được những người tu hành siêu độ cho về Địa phủ, nên họ sẽ phải học lớp học giáo lý đặc biệt này. Lớp học này là giúp họ nhớ lại toàn bộ diễn biến kiếp thân tướng ở nhân gian. Sau khi học xong lớp giáo lý này mới được phân xử để phân sang các cảnh sống Địa ngục. Nếu con cháu ở nhân gian mà thấu hiểu hai Chân lý, thực hiện nghi lễ phổ độ cho họ, họ sẽ không phải đọa vào cảnh sống Địa ngục – Ngã 

quỷ nữa. Họ sẽ được sống cảnh sống lớp học giáo lý thay thế cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ.

 

+   Lớp học thay thế cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ: Đó là các Tuệ linh, Linh hồn sau khi trải qua cảnh sống chờ ngày 49 để phân xử sau khi hoại diệt thân tướng, đáng lẽ ra do ác nghiệp mà họ sẽ phải bị phân vào sống cảnh Địa ngục – Ngã quỷ. Tuy nhiên, vì được con cháu thấu hiểu hai Chân lý, đã thực hành nghi thức phổ độ cho gia tiên, cho vong linh (Tuệ linh, Linh hồn), nên họ sẽ được đặc cách không phải đúc kết bài học ác nghiệp trong cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ. Họ sẽ được tham gia lớp học giáo lý đúc kết bài học ác nghiệp đã tạo ở kiếp thân tướng vừa qua. Vì sự giác ngộ của con cháu, người thân, vì họ nương tựa vào hai Chân lý nên được Hội đồng Giác ngộ ở Địa phủ cho tham gia khóa học thay thế cho cảnh sống Địa ngục – Ngã quỷ. Khi hoàn thành khóa học, họ sẽ chuyển sang sống cảnh Địa âm.

 

+   Lớp học giáo lý dành cho những Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh Địa âm: Các Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh Địa âm phải tham gia lớp học này để học cách thay đổi tư tưởng, thay đổi suy nghĩ để không còn bám định u mê về giả tướng nữa. Khi hoàn thành họ sẽ được chuyển sang cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng.

 

+   Lớp học giáo lý dành cho những Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng: Các Tuệ linh, Linh hồn sống cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng sẽ phải tham gia khóa học này, họ học thiền định để cân bằng năng lượng, học những hành trang về tư tưởng hành động tích cực và chuyển sinh bền vững. Khi họ học xong, họ sẽ được chuyển sinh luân hồi kiếp thân tướng mới. 

Như vậy, cảnh sống tu học giáo lý gắn liền với 4 cảnh sống trên để thông qua đó giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn nhanh chóng học được các bài học ác nghiệp, thiện nghiệp, từng bước thay đổi tư tưởng tiêu cực chuyển sang tư tưởng tích cực. Việc thay đổi đó sẽ giúp cho họ dễ thực hiện được chuyển sinh theo hướng bền vững và an lạc khi luân hồi kiếp mới.

Hành trình chuyển sinh qua cõi trời Địa phủ sau kiếp thân tướng ở nhân gian

 

 

Hành trình một vòng chuyển sinh luân hồi của con người và muông thú từ khi hoại diệt thân tướng cho tới khi trở về Địa phủ, sống trong các cảnh sống và chuyển sinh luân hồi tới nhân gian đầu thai kiếp mới sẽ trải qua quy trình như sau:

 

Hành trình 1: Con người, muông thú hoại diệt thân tướng sẽ chia ra làm hai trường hợp:

 

+    Trường hợp 1: Hoại diệt thân tướng ở nhân gian đúng với tuổi thọ ấn định theo sổ sinh tử. Chết do tuổi già, chết do bệnh tật dù tuổi thọ nhiều hay ít.

 

+   Trường hợp 2: Hoại diệt thân tướng ở nhân gian khi chưa tới tuổi thọ ấn định theo sổ sinh tử. Tức là những Tuệ linh, Linh hồn này đã tạo nhiều ác nghiệp ở kiếp quá khứ mà kiếp này họ không cải tạo, dẫn tới hoại diệt thân tướng. Họ tạo nhiều ác nghiệp dẫn tới vi phạm pháp luật nhân gian mà bị tử hình. Họ chết do tai nạn, chết do đột tử bởi linh hồn thú dữ giết hại, chết do chiến tranh, chết do đâm chém, chết do tự tử, chết do thiên tai lũ lụt, chết do dịch bệnh.

 

Hành trình 2: Hội đồng Hành pháp sẽ đón, tiếp dẫn, đưa các Tuệ linh, Linh hồn ở trường hợp 1 của hành trình 1 trở về Địa phủ.

 

Đối với trường hợp 2 của hành trình 1, cõi trời Địa phủ sẽ không đón về. Cõi trời Địa phủ để cho Tuệ linh, Linh hồn của họ quẩn quanh nơi họ hoại diệt thân tướng. Đó là kế

hoạch để cho họ trải nghiệm bài học không trân trọng thân tướng tu hành, không trân trọng thân tướng mà tu tập cải tạo Tuệ linh. Kế hoạch để họ đọa ở nhân gian sẽ hoàn thành nếu những con người sống trên những mảnh đất mà họ bị đọa giác ngộ, được những con người đó siêu độ cho về Địa phủ thì họ được về Địa phủ. Hoặc được những người tu hành siêu độ cho họ về Địa phủ thì họ mới được về Địa phủ. Khi có con người giác ngộ để siêu độ cho họ về Địa phủ là hoàn thành kế hoạch bài học trải nghiệm của họ ở nhân gian. Hoàn thành là vì thông qua việc họ bị đọa như thế để con người biết được việc chết do ác nghiệp sẽ bị đọa mà không được siêu thoát, để con người có niềm tin vào Thế giới Tuệ linh, Linh hồn.

 

Hành trình 3: Tuệ linh, Linh hồn sẽ được lưu trú trong cảnh sống chờ phân xử. Họ chờ đến ngày thứ 49 sau khi thân tướng hoại diệt ở nhân gian để được phân xử công tội đã tạo ra khi sống ở nhân gian. Trong thời gian 49 ngày, Tuệ linh, Linh hồn vẫn được Hội đồng Hành pháp dẫn về nhân gian để thăm người thân, thăm những dấu mốc ký ức quan trọng của kiếp đó.

 

Hành trình 4: Phân xử Tuệ linh, Linh hồn ở ngày thứ 49 sau khi hoại diệt thân tướng ở nhân gian. Nếu Tuệ linh, Linh hồn tạo ác nghiệp đều phải đọa vào cảnh sống Địa ngục

 

– Ngã quỷ. Nếu Tuệ linh, Linh hồn không tạo ác nghiệp nhưng còn chấp ngã thì sẽ được sống cảnh sống Địa âm. Nếu Tuệ linh, Linh hồn không tạo ác nghiệp, không chấp ngã, có sự giác ngộ và hành thiện thì sẽ được sống cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng.

 

Hành trình 5: Chuyển cảnh sống Tuệ linh, Linh hồn vào các cảnh sống tương ứng với ác nghiệp hay thiện nghiệp khi còn sống trên nhân gian.

Tuệ linh, Linh hồn sẽ phải đọa vào các cửa ngục Ngã quỷ do đã tạo ác nghiệp khi còn sống trên nhân gian.

 

Tuệ linh, Linh hồn sẽ được sống cảnh âm sau khi vượt qua thời gian đọa trong cửa ngục hoặc sau 49 ngày kể từ khi hoại diệt thân tướng, hoặc được con cháu phổ độ mà không phải sống cảnh Địa ngục – Ngã quỷ, họ được học đạo và sống cảnh Địa âm.

 

Tuệ linh, Linh hồn sẽ được sống cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng chờ ngày đầu thai do được chuyển từ cảnh sống Địa âm sang, hoặc sau 49 ngày hoại diệt thân tướng do phước báo mà được sống luôn cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng.

 

Hành trình 6: Tuệ linh, Linh hồn được luân hồi kiếp mới ở nhân gian. Sau thời gian tu luyện trong cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng đạt được sự cân bằng, lĩnh hội, học tập được tư tưởng sống tích cực, có đủ năng lượng tích cực cho sự an trụ vào thân tướng mới ở nhân gian, tùy theo ác nghiệp khi sống mà vẫn phải đọa thành súc sinh, tùy theo thiện nghiệp khi sống mà được chuyển sinh làm người ở kiếp mới.

 

 

Do năng lượng của chúng sinh khi sống ở nhân gian có chấp ngã, sân hận, tạo ác nghiệp, mà thiện nghiệp thì chưa nhiều, nên sau khi hết kiếp thân tướng, Tuệ linh, Linh hồn chưa thể định thần, không đủ năng lượng để đi về các cõi cũng như Địa phủ. Do đó, cõi trời Địa phủ đã có Hội đồng Hành pháp thực thi nhiệm vụ hỗ trợ các vong linh nhanh chóng đi được vào quy trình của vòng luân hồi chuyển sinh. Tuy nhiên, cõi trời Địa phủ vẫn đảm bảo kế hoạch của vị Tuệ linh đầu tiên là để cho các Tuệ linh, Linh hồn được trải

nghiệm đủ khi bị đọa ở nhân gian sau khi hết kiếp thân tướng. Đó là kế hoạch để giúp cho con người đang sống nhận diện được khổ đau mà truy tìm con đường giác ngộ cũng như giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn mắc kẹt ở nhân gian được siêu độ về Địa phủ.

 

Sau một vòng chuyển sinh, dù có đọa thành súc sinh hay làm người ở kiếp mới thì đó là quy trình tuần hoàn các Tuệ linh và Linh hồn cần phải nhanh chóng trải qua. Bởi thông qua các khổ đau và kiếp nạn thì các Tuệ linh và Linh hồn mới có cơ hội cải tạo Trụ linh của họ thành bộ lọc năng lượng. Do đó sau khi hoại diệt thân tướng ở nhân gian, Tuệ linh, Linh hồn không được trở về Địa phủ để đúng quy trình luân hồi thì con đường tu hành của họ trong vô lượng kiếp còn dài. Có những Tuệ linh sau khi hết kiếp thân tướng vì ác nghiệp là tự tử, khi thiền định gặp họ đang đọa trong điền thổ đất đã trải qua gần 1000 năm. Như vậy việc luân hồi của họ bị gián đoạn quá lâu. Việc các thầy pháp, thầy tu, hành giả dùng pháp thuật trấn giữ vong hồn (Tuệ linh, Linh hồn sau khi hoại diệt thân tướng) để thực hiện mục đích riêng là đang tạo ác nghiệp cho chính họ và khiến cho các Tuệ linh, Linh hồn không được đi đúng theo quy trình chuyển sinh luân hồi.

 

 

Khi các Tuệ linh có cấu trúc năng lượng đa dương siêu mạnh, những bậc giác ngộ hóa thân xuống nhân gian làm nhiệm vụ, sau khi hoại diệt thân tướng, họ sẽ trở về cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên mà không phải trở về Địa phủ. Khi họ hoại diệt thân tướng, sẽ có các chư vị Tuệ linh từ cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên tới đón về.

Phương pháp siêu độ cho Tuệ linh, Linh hồn sau kiếp thân tướng ở nhân gian

 

Siêu độ chính là một phần trong hóa độ để siêu thoát cho Tuệ linh, Linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian để nhanh chóng được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.

 

 

1. Siêu độ sẽ có 4 mức độ như sau

 

Mức độ 1: Siêu độ về Địa phủ sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian. Ở mức độ này chỉ cần Tuệ linh, Linh hồn được trở về Địa phủ, dù là trong cửa ngục Ngã quỷ thì cũng đã là được siêu thoát về Địa phủ. Bởi có nhiều Tuệ linh, Linh hồn bị đọa ở nhân gian vì nhiều nguyên nhân nên không được trở về Địa phủ, họ không thể bước được vào vòng chuyển sinh luân hồi để tiếp tục tu hành cải tạo Tuệ linh. Dù là vào Địa ngục – Ngã quỷ thì cũng là đã được vào quy trình chuyển sinh luân hồi, nên cũng coi là điều rất tốt.

 

Mức độ 2: Siêu độ khỏi cảnh Địa ngục – Ngã quỷ sang cảnh sống Địa âm ở cõi trời Địa phủ. Đó là đẩy nhanh tốc độ giúp Tuệ linh, Linh hồn thấu hiểu ác nghiệp đã tạo ra ở nhân gian khi sống, giúp họ nhanh chóng định thần để Tâm không còn bấn loạn mà bị phản chiếu những hình ảnh truy giết, tra tấn hành hình nữa.

 

Mức độ 3: Siêu độ khỏi cảnh sống Địa âm để sang cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng. Đó là đẩy nhanh quá trình diệt chấp ngã của Tuệ linh, Linh hồn để chuyển sang cảnh tu dưỡng cân bằng năng lượng, chờ ngày chuyển sinh luân hồi đầu thai kiếp mới.

Mức độ 4: Siêu độ khỏi cõi trời Địa phủ để chuyển sinh luân hồi kiếp mới ở nhân gian. Dù có đầu thai thành súc sinh hay tiếp làm người thì vẫn là rất tốt và đáng mừng, vì họ đang được bước những bước dài trên con đường tu hành, phải trải qua nhiều kiếp để cải tạo được bộ lọc năng lượng viên mãn cho Tuệ linh, Linh hồn.

 

 

2.    Phương pháp siêu độ cho Tuệ linh, Linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian

 

Việc siêu độ cho Tuệ linh, linh hồn sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian là để nhanh được chuyển sinh luân hồi kiếp mới.

 

+  Mỗi chúng sinh khi còn sống nên học tập, nghiên cứu Chân lý Vạn vật, Chân lý Giác ngộ, rời xa ác nghiệp và hành thiện giúp người, giúp vạn vật, giúp muông thú. Sau khi hết kiếp thân tướng ở nhân gian sẽ được trở về cảnh sống tu dưỡng cân bằng năng lượng ở cõi trời Địa phủ, hoặc trở về cõi trời của vị Tuệ linh đầu tiên. Cứ vận hành hai Chân lý trong việc cải tạo Trụ linh ở nhân gian sẽ giúp cho các Tuệ linh, Linh hồn nhanh chóng cải tạo thành bộ lọc năng lượng chỉ trong vài kiếp tu hành nơi nhân gian.

 

+   Mỗi con người là bậc con cháu, nên học tập nghiên cứu Chân lý Vạn vật và Chân lý Giác ngộ để thiền định đến cõi trời Địa phủ thuyết pháp hai Chân lý cho gia tiên trong tất cả các cảnh giới để gia tiên nhanh được siêu thoát từng cảnh giới. Nếu không có khả năng thiền định thuyết pháp thì dùng Chân tâm tấu Thiên Địa và nhờ Hội đồng Hoàn Đạo ở cõi trời Địa phủ giảng giáo lý hai Chân lý cho gia tiên.

+   Con cháu ở nhân gian phải hành thiện nghiệp, không hành nghề tạo ác nghiệp. Việc đó sẽ thúc đẩy cho gia tiên nhanh định thần và giác ngộ để siêu thoát các cảnh giới.

 

Đó là phương pháp siêu độ mà mỗi người đang sống ở nhân gian cần học tập, nghiên cứu, thực hành giúp đỡ các vong linh gia tiên (Tuệ linh, Linh hồn đã hết kiếp thân tướng

 

   nhân gian) nhanh chóng được các bậc giác ngộ ở cõi trời Địa phủ giáo hóa. Đó cũng là động lực, là sự nương tựa của gia tiên vào những người con cháu, người thân còn đang sinh sống ở nhân gian mà đã có sự giác ngộ.

 

 

Cõi trời Địa phủ có liên kết chặt chẽ với cõi nhân gian, và các cõi trời trong Vũ trụ cũng đều liên kết chặt chẽ với cõi nhân gian này. Việc liên kết chặt chẽ là để cho các Tuệ linh, Linh hồn thông qua môi trường tu hành ở nhân gian từng bước xây dựng được tình yêu thương, trách nhiệm, sự lan tỏa, sự giúp đỡ nhau. Quá trình này sẽ tạo thành cơ chế liên kết dây bởi những năng lượng dương và năng lượng chân tâm giữa các Tuệ linh, Linh hồn trong khắp Vũ trụ. Đó là con đường chuyển sinh bền vững an lạc để chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng duy nhất. Tức là chỉ có con đường duy nhất là đứng ở vị trí đoàn kết để thấu hiểu hết tất cả các nhóm năng lượng như tiêu cực, tích cực phát triển, tích cực lan tỏa, tích cực chân tâm, tích cực đoàn kết để cùng nhau thấu hiểu, phát triển sự bền vững của cả Vũ trụ, Tuệ linh, con người. Hiểu được điều này, mỗi người, mỗi muông thú, mỗi Tuệ linh, mỗi Linh hồn sẽ sống vì nhau, không ích kỷ cho bản thể mình. Như vậy, con đường thành Đạo viên mãn sẽ nhanh đạt tới đích cuối cùng.

Phần kết:

 

 

Những tri thức siêu việt trong cuốn “Hai Chân Lý Với Bát Không Hoàn Đạo" đã giải mã tận cùng: cội nguồn của Vũ trụ; cội nguồn của nhân loại; bản chất của tất cả Trụ linh của Tuệ linh; bản chất của tất cả vạn vật trong Vũ trụ; bản chất của năng lượng hoại diệt; nguyên nhân khổ đau của Tuệ linh, con người và vạn vật trong Vũ trụ; các con đường chuyển sinh của Tuệ linh, con người và vạn vật Vũ trụ. Đặc biệt, tri thức siêu việt của hai Chân lý đã đưa ra được con đường, phương pháp siêu việt nhất để tất cả Tuệ linh, con người cùng nhau thực hành chuyển hóa Trụ linh thành bộ lọc năng lượng. Đắc được bộ lọc năng lượng chính là đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ.

 

Để đắc được Đạo hợp nhất của Vũ trụ, tất cả Tuệ linh phải tu hành thông qua bốn hình tướng Đạo ở nhân gian. Thông qua hình tướng Đạo để tìm được Tâm Đạo, đó là tìm được con đường giải thoát khổ đau của dạng sống Tuệ linh, con người và vạn vật bên trong và bên ngoài Vũ trụ.

 

Đặc biệt, tri thức siêu việt của Hai Chân lý đã hợp nhất, thống nhất được giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Điều này cho thấy rằng, tất cả đều là vật chất, đó là các nhóm vật chất khác nhau bởi sự hợp thành từ những loại hạt năng lượng tận cùng có mã sóng rung động từ giản đơn cho tới siêu phức tạp.


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS